Tâm Thức của Hạt Nguyên Tử

THE
CONSCIOUSNESS
OF THE ATOM
BY
ALICE A. BAILEY
THE GREAT INVOCATION
|
From the point of Light within the Mind of God |
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế |
|
Let light stream forth into the minds of men. |
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người |
|
Let Light descend on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian |
|
From the point of Love within the Heart of God |
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế |
|
Let love stream forth into the hearts of men. |
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người |
|
May Christ return to Earth. |
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian |
|
From the centre where the Will of God is known |
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế |
|
Let purpose guide the little wills of men— |
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người |
|
The purpose which the Masters know and serve. |
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự |
|
From the centre which we call the race of men |
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người |
|
Let the Plan of Love and Light work out. |
Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi |
|
And may it seal the door where evil dwells. |
Cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác |
|
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth |
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian |
|
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.” |
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ ngoài, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.” |
|
ALICE A. BAILEY |
FOREWORD—LỜI MỞ ĐẦU
LECTURE I—BÀI THUYẾT TRÌNH I
THE FIELD OF EVOLUTION—LĨNH VỰC TIẾN HÓA
|
[11] |
[11] |
|
There has probably never been a period in the history of thought entirely resembling the present. Thinkers everywhere are conscious of two things, first, that the region of mystery has never before been so clearly defined, and secondly, that that region can be entered more easily than has hitherto been the case; it may, therefore, perhaps be induced to render up some of its secrets if investigators of all schools pursue their search with determination. The problems with which we are faced, as we study the known facts of life and existence, are susceptible of clearer definition than heretofore, and though we do not know the answers to our questions, though we have not as yet discovered the solutions to our problems, though no panacea lies ready to our hand whereby we can remedy the world’s ills, yet the very fact that we can define them, that we can point in the direction in which mystery lies, and that the light of science, of religions, and of philosophy, has been shed upon vast tracts which were earlier [12] considered lands of darkness, is a guarantee of success in the future. We know so much more than was the case five hundred years ago, save in a few circles of wise men and mystics; we have discovered so many laws of nature, even though as yet we cannot apply them; and the knowledge of “things as they are” (and I choose these words very deliberately) has made immense strides. |
Có lẽ chưa bao giờ có một thời kỳ nào trong lịch sử tư tưởng hoàn toàn giống như hiện nay. Các nhà tư tưởng ở khắp mọi nơi đều nhận thức được hai điều, thứ nhất, rằng vùng bí ẩn chưa bao giờ được xác định rõ ràng như thế, và thứ hai, rằng vùng đó có thể được thâm nhập dễ dàng hơn so với trước đây; do đó, nó có lẽ có thể bị thuyết phục để tiết lộ một số bí mật của mình nếu các nhà điều tra thuộc mọi trường phái theo đuổi cuộc tìm kiếm của họ với lòng quyết tâm. Các vấn đề mà chúng ta phải đối mặt, khi nghiên cứu các sự kiện đã biết của sự sống và sự hiện tồn, đều dễ xác định rõ ràng hơn trước đây, và mặc dù chúng ta không biết câu trả lời cho các câu hỏi của mình, mặc dù chúng ta vẫn chưa khám phá ra giải pháp cho các vấn đề của mình, mặc dù không có thuốc bách bệnh nào nằm sẵn trong tay để chúng ta có thể chữa trị những căn bệnh của thế giới, tuy nhiên chính sự việc rằng chúng ta có thể xác định chúng, rằng chúng ta có thể chỉ ra hướng mà bí ẩn nằm ở đó, và rằng ánh sáng của khoa học, của các tôn giáo, và của triết học, đã được chiếu rọi lên những vùng rộng lớn mà trước đây [12] được coi là những vùng đất của bóng tối, là một sự đảm bảo cho thành công trong tương lai. Chúng ta biết nhiều hơn so với năm trăm năm trước, ngoại trừ trong một vài nhóm của các bậc hiền triết và các nhà thần bí; chúng ta đã khám phá ra rất nhiều quy luật của tự nhiên, mặc dù cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể áp dụng chúng; và kiến thức về “mọi vật như chúng là” (và tôi chọn những từ này rất thận trọng) đã có những bước tiến to lớn. |
|
Nevertheless, the mystery land still remains to be opened up, and our problems are still numerous. There is the problem of our own particular life, whatever that may be; there is the problem of that which is largely termed the “Not-Self,” and which concerns our physical body, our environment, our circumstances, and our life conditions; if we are of an introspective turn of mind, there is the problem of our particular set of emotions, and of the thoughts, desires, and instincts by which we control action. Group problems are many; why should there be suffering, starvation, and pain? Why should the world as a whole be in the thrall of direst poverty, of sickness, of discomfort? What is the purpose underlying all that we see around us, and what will be the outcome of world affairs viewing them as a whole? What is the destiny of the human race, what is its origin, and what is the key to its present condition? Is there more than this one life, and is the sole interest to be found in that which [13] is apparent and material? Such queries pass through all our minds at various times, and have passed through the minds of thinkers right down through the centuries. |
Tuy nhiên, vùng đất bí ẩn vẫn còn chờ được mở ra, và các vấn đề của chúng ta vẫn còn rất nhiều. Có vấn đề về đời sống riêng biệt của chính chúng ta, bất kể đó là gì; có vấn đề về cái được gọi một cách rộng rãi là “Phi-Ngã”, và liên quan đến thể xác, môi trường, hoàn cảnh và các điều kiện sống của chúng ta; nếu chúng ta có khuynh hướng nội tâm, thì có vấn đề về tập hợp cảm xúc cụ thể của chúng ta, và về các tư tưởng, ham muốn, và bản năng mà qua đó chúng ta kiểm soát hành động. Các vấn đề của nhóm thì rất nhiều; tại sao phải có đau khổ, chết đói và đau đớn? Tại sao thế giới nói chung lại phải chịu cảnh nô lệ của sự nghèo đói cùng cực, của bệnh tật, của sự khó chịu? Mục đích nằm bên dưới tất cả những gì chúng ta thấy xung quanh mình là gì, và kết quả của các công việc thế giới khi nhìn nhận chúng một cách tổng thể sẽ là gì? Định mệnh của chủng tộc nhân loại là gì, nguồn gốc của nó là gì, và đâu là chìa khóa cho tình trạng hiện tại của nó? Có phải chăng có nhiều hơn là chỉ một đời sống này, và mối quan tâm duy nhất được tìm thấy trong cái [13] hiển nhiên và vật chất hay không? Những câu hỏi như vậy lướt qua tâm trí của tất cả chúng ta vào những thời điểm khác nhau, và đã lướt qua tâm trí của các nhà tư tưởng suốt nhiều thế kỷ. |
|
There have been many attempts to reply to these questions, and as we study them we find that the answers given fall into three main groups, and that three principal solutions are held out for the consideration of men. These three solutions are: |
Đã có nhiều nỗ lực để trả lời những câu hỏi này, và khi nghiên cứu chúng, chúng ta thấy rằng các câu trả lời được đưa ra rơi vào ba nhóm chính, và ba giải pháp chủ yếu được đưa ra cho sự xem xét của con người. Ba giải pháp này là: |
|
First, Realism. Another name for this school is that of Materialism. It teaches that “the presentation which we have in consciousness of an external world is true”; that things are what they seem; that matter and force, as we know them, are the only reality, and that it is not possible for man to get beyond the tangible. He should be satisfied with facts as he knows them, or as science tells him they are. This is a perfectly legitimate method of solution, but for some of us it fails in that it does not go far enough. In refusing to concern itself with anything except that which can be proven and demonstrated it stops short at the very point where the enquirer says, “That is so, but why?” It leaves out of its calculation much that is known and realised as truth by the average man, even though he may be unable to explain why he knows it to be true. Men everywhere are recognising the accuracy of [14] the facts of the realistic school, and of material science, yet at the same time they feel innately that there is, underlying the proven objective manifestation, some vitalising force, and some coherent purpose which cannot be accounted for in terms of matter alone. |
Thứ nhất, Thuyết Hiện thực. Một tên gọi khác cho trường phái này là Thuyết Duy vật. Nó dạy rằng “sự trình hiện mà chúng ta có trong tâm thức về một thế giới bên ngoài là đúng”; rằng sự vật là như những gì chúng có vẻ là; rằng vật chất và lực, như chúng ta biết, là thực tại duy nhất, và con người không thể vượt ra ngoài cái hữu hình. Y nên hài lòng với các sự kiện như y biết, hoặc như khoa học nói với y. Đây là một phương pháp giải quyết hoàn toàn hợp lý, nhưng đối với một số người trong chúng ta, nó thất bại ở chỗ nó không đi đủ xa. Khi từ chối quan tâm đến bất cứ điều gì ngoại trừ cái có thể được chứng minh và làm sáng tỏ, nó dừng lại ngay tại điểm mà người tìm hỏi nói: “Đúng là như vậy, nhưng tại sao?” Nó loại bỏ khỏi sự tính toán của mình nhiều điều được biết và được chứng nghiệm là chân lý bởi người bình thường, ngay cả khi y có thể không giải thích được tại sao y biết điều đó là đúng. Con người ở khắp mọi nơi đang công nhận sự chính xác của [14] các sự kiện thuộc trường phái hiện thực, và của khoa học vật chất, tuy nhiên đồng thời họ cảm thấy một cách bẩm sinh rằng, nằm bên dưới sự biểu hiện khách quan đã được chứng minh, có một mãnh lực tiếp sinh lực nào đó, và một mục đích mạch lạc nào đó không thể giải thích được chỉ bằng phương diện vật chất. |
|
Secondly, there is the point of view which we can best, perhaps, call supernaturalism. Man becomes conscious that perhaps, after all, things are not exactly what they seem to be, and that there remains much which is inexplicable; he awakens to the realisation that he himself is not simply an accumulation of physical atoms, a material something, and a tangible body, but that latent within him is a consciousness, a power, and a psychic nature which link him to all other members of the human family, and to a power outside himself which he must perforce explain. This it is which has led, for instance, to the evolution of the Christian and Jewish point of view, which posits a God outside the solar system, Who created it, but was Himself extraneous to it. These systems of thought teach that the world has been evolved by a Power or Being Who has built the solar system, and Who guides the worlds aright, keeping our little human life in the hollow of His hand, and “sweetly ordering” all things according to some hidden purpose which it is not possible for us, with our finite minds, to glimpse, [15] still less to understand. This is the religious and supernatural point of view, and is based on the growing self-consciousness of the individual, and in a recognition of his own divinity. Like the point of view of the realistic school, it embodies only a partial truth, and needs to be complemented. |
Thứ hai, có quan điểm mà chúng ta có lẽ gọi tốt nhất là thuyết siêu nhiên. Con người trở nên ý thức rằng có lẽ, xét cho cùng, mọi thứ không chính xác như vẻ ngoài của chúng, và vẫn còn nhiều điều không thể giải thích được; y thức tỉnh với sự chứng nghiệm rằng bản thân y không đơn giản là một sự tích tụ của các nguyên tử vật lý, một cái gì đó thuộc vật chất, và một cơ thể hữu hình, mà tiềm tàng bên trong y là một tâm thức, một quyền năng, và một bản chất thông linh liên kết y với tất cả các thành viên khác của gia đình nhân loại, và với một quyền năng bên ngoài bản thân y mà y buộc phải giải thích. Chính điều này đã dẫn đến, ví dụ, sự tiến hóa của quan điểm Kitô giáo và Do Thái giáo, vốn ấn định một Thượng đế bên ngoài hệ mặt trời, Đấng đã tạo ra nó, nhưng bản thân Ngài lại nằm ngoài nó. Các hệ thống tư tưởng này dạy rằng thế giới đã được tiến hóa bởi một Quyền Năng hay một Đấng đã xây dựng nên hệ mặt trời, và Đấng dẫn dắt các thế giới đi đúng hướng, giữ gìn cuộc sống nhân loại nhỏ bé của chúng ta trong lòng bàn tay Ngài, và “sắp đặt một cách êm ái” mọi thứ theo một mục đích ẩn giấu nào đó mà chúng ta, với trí tuệ hữu hạn của mình, không thể thoáng thấy, [15] chứ chưa nói đến việc thấu hiểu. Đây là quan điểm tôn giáo và siêu nhiên, và dựa trên sự tự ý thức ngày càng tăng của cá nhân, và trong sự nhận biết về thiên tính của chính mình. Giống như quan điểm của trường phái hiện thực, nó chỉ thể hiện một phần sự thật, và cần được bổ sung. |
|
Dòng tư tưởng thứ ba chúng ta có thể gọi là Duy tâm. Nó ấn định một quá trình tiến hóa bên trong tất cả các biểu hiện và đồng nhất sự sống với quá trình vũ trụ. Nó hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy vật, và đưa vị thần siêu nhiên, được các nhà tôn giáo khẳng định, vào vị trí của một Thực thể hay Sự sống vĩ đại, Đấng đang tiến hóa xuyên qua, và bằng phương tiện của, vũ trụ, cũng giống như con người đang tiến hóa tâm thức thông qua trung gian của một thể xác khách quan. |
|
|
In these three standpoints—the frankly materialistic, the purely supernatural, and the idealistic—you have the three main lines of thought which have been put forward as explanatory of the cosmic process; all of them are partial truths, yet none of them is complete without the others; all of them, when followed alone, lead into byways and into darkness, and leave the central mystery still unsolved. When synthesised, when brought together and blended, and when unified, they embody, perhaps (I offer this simply as a suggestion) just as much of the evolutionary truth [16] as it is possible for the human mind to grasp at the present stage of evolution. |
Trong ba lập trường này—chủ nghĩa duy vật thẳng thắn, thuyết siêu nhiên thuần túy, và chủ nghĩa duy tâm—bạn có ba dòng tư tưởng chính đã được đưa ra để giải thích cho quá trình vũ trụ; tất cả chúng đều là những chân lý một phần, nhưng không cái nào trong số chúng là hoàn chỉnh nếu thiếu những cái khác; tất cả chúng, khi được theo đuổi một mình, đều dẫn vào những ngõ ngách và vào bóng tối, và để lại bí ẩn trung tâm vẫn chưa được giải quyết. Khi được tổng hợp, khi được kết hợp và hòa quyện, và khi được thống nhất, chúng thể hiện, có lẽ (tôi đưa ra điều này đơn giản như một gợi ý) vừa đủ chân lý tiến hóa [16] mà trí tuệ con người có thể nắm bắt được ở giai đoạn tiến hóa hiện tại. |
|
We are dealing with large problems, and tampering, perhaps, with high and lofty things; we are trespassing into regions which are the recognised domain of metaphysics; and we are endeavouring to sum up in a few brief talks what all the libraries of the world are embodying; we are therefore attempting the impossible. All that we can do is to take up briefly and cursorily first one aspect of the truth and then another. All we can possibly accomplish is an outline of the basic lines of evolution, a study of their relationship to each other and to ourselves as conscious entities, and then an endeavour to blend and synthesise the little we can know until some general idea of the process as a whole becomes clearer. |
Chúng ta đang đề cập đến những vấn đề lớn, và có lẽ đang can thiệp vào những điều cao siêu và vĩ đại; chúng ta đang xâm phạm vào những vùng được công nhận là lãnh địa của siêu hình học; và chúng ta đang nỗ lực tóm tắt trong một vài bài nói chuyện ngắn gọn những gì mà tất cả các thư viện trên thế giới đang chứa đựng; vì vậy chúng ta đang cố gắng thực hiện điều không thể. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là xem xét ngắn gọn và lướt qua khía cạnh này của sự thật rồi đến khía cạnh khác. Tất cả những gì chúng ta có thể thực hiện là một phác thảo về các dòng tiến hóa cơ bản, một nghiên cứu về mối quan hệ của chúng với nhau và với chính chúng ta như những thực thể có tâm thức, và sau đó là một nỗ lực để hòa quyện và tổng hợp những điều ít ỏi mà chúng ta có thể biết cho đến khi một ý tưởng chung về quá trình này như một tổng thể trở nên rõ ràng hơn. |
|
We have to remember in connection with every statement of truth that each is made from a particular point of view. Until we have further developed our mental processes, and until we are able to think in abstract terms as well as in concrete, it will not be possible for us fully to answer the question, What is the truth? nor to express any aspect of that truth in a perfectly unbiased way. Some people have a wider horizon than others, and some can see the unity underlying the different aspects. Others are prone to think that their outlook and interpretation is the only one. [17] I hope in these talks to broaden somewhat our point of view. I hope we shall come to the realisation that the man who is only interested in the scientific aspect, and who confines himself to the study of those manifestations which are purely material, is just as much occupied with the study of the divine as is his frankly religious brother who only concerns himself with the spiritual side; and that the philosopher is, after all, occupied in emphasising for us the very necessary aspect of the intelligence which links the matter aspect and the spiritual, and blends them into one coherent whole. Perhaps by the union of these three lines of science, religion, and philosophy we may get a working knowledge of the truth as it is, remembering at the same time that “truth lies within ourselves.” No one man’s expression of the truth is the whole expression, and the sole purpose of thought is to enable us to build constructively for ourselves, and to work in mental matter. |
Chúng ta phải nhớ liên quan đến mọi tuyên bố về sự thật rằng mỗi tuyên bố đều được đưa ra từ một quan điểm cụ thể. Cho đến khi chúng ta phát triển hơn nữa các quá trình tư duy của mình, và cho đến khi chúng ta có thể suy nghĩ bằng các thuật ngữ trừu tượng cũng như cụ thể, chúng ta sẽ không thể trả lời đầy đủ câu hỏi, Sự thật là gì? cũng như không thể diễn đạt bất kỳ khía cạnh nào của sự thật đó một cách hoàn toàn không thiên vị. Một số người có chân trời rộng hơn những người khác, và một số có thể thấy sự thống nhất nằm bên dưới các khía cạnh khác nhau. Những người khác có xu hướng nghĩ rằng cách nhìn và sự diễn giải của họ là duy nhất. [17] Tôi hy vọng trong những buổi nói chuyện này sẽ mở rộng phần nào quan điểm của chúng ta. Tôi hy vọng chúng ta sẽ đi đến sự chứng nghiệm rằng người chỉ quan tâm đến khía cạnh khoa học, và tự giới hạn mình trong việc nghiên cứu những biểu hiện hoàn toàn là vật chất, cũng bận rộn với việc nghiên cứu cái thiêng liêng giống như người anh em hoàn toàn sùng đạo của mình, người chỉ quan tâm đến phương diện tinh thần; và rằng nhà triết học, xét cho cùng, cũng đang bận rộn nhấn mạnh cho chúng ta khía cạnh rất cần thiết của trí tuệ liên kết khía cạnh vật chất và tinh thần, và hòa quyện chúng thành một tổng thể mạch lạc. Có lẽ bằng sự hợp nhất của ba dòng khoa học, tôn giáo và triết học này, chúng ta có thể có được một kiến thức thực tiễn về sự thật như nó là, đồng thời nhớ rằng “chân lý nằm bên trong chính chúng ta.” Không một cách diễn đạt chân lý nào của một người là sự diễn đạt toàn bộ, và mục đích duy nhất của tư tưởng là cho phép chúng ta xây dựng một cách xây dựng cho chính mình, và làm việc trong chất liệu trí tuệ. |
|
I should like to outline my plan this evening, to lay the groundwork for our future talks, and to touch upon the main lines of evolution. The line that is most apparent is necessarily that which deals with the evolution of substance, with the study of the atom, and the nature of atomic matter. Next week we will touch upon that. Science has much to tell us about the evolution of the atom, [18] and has wandered a long way during the past fifty years from the standpoint of the last century. Then the atom was regarded as an indivisible unit of substance; now it is looked upon as a centre of energy, or electric force. From the evolution of substance we are led very naturally to the evolution of forms, or of congeries of atoms, and there will then open up to us the interesting consideration of forms other than the purely material,—forms existing in subtler substance, such as forms of thought, and the racial forms, and the forms of organisations. In this dual study, one of the aspects of deity will be emphasised, should you choose to use the term “deity,” or one of the manifestations of nature, should you prefer that less sectarian expression. |
Tôi muốn phác thảo kế hoạch của mình vào tối nay, để đặt nền tảng cho các cuộc nói chuyện trong tương lai của chúng ta, và chạm đến các dòng tiến hóa chính. Dòng rõ ràng nhất nhất thiết là dòng đề cập đến sự tiến hóa của chất liệu, với việc nghiên cứu nguyên tử, và bản chất của vật chất nguyên tử. Tuần tới chúng ta sẽ đề cập đến điều đó. Khoa học có nhiều điều để nói với chúng ta về sự tiến hóa của nguyên tử, [18] và đã đi một chặng đường dài trong suốt năm mươi năm qua từ quan điểm của thế kỷ trước. Khi đó, nguyên tử được coi là một đơn vị chất liệu không thể chia cắt; giờ đây nó được xem như một trung tâm năng lượng, hoặc mãnh lực điện. Từ sự tiến hóa của chất liệu, chúng ta được dẫn dắt rất tự nhiên đến sự tiến hóa của các hình tướng, hay của các khối kết tập nguyên tử, và sau đó sẽ mở ra cho chúng ta sự xem xét thú vị về các hình tướng khác ngoài những hình tướng thuần túy vật chất,—các hình tướng tồn tại trong chất liệu vi tế hơn, chẳng hạn như các hình tư tưởng, và các hình thể chủng tộc, và các hình thức tổ chức. Trong nghiên cứu kép này, một trong các phương diện của thượng đế sẽ được nhấn mạnh, nếu bạn chọn sử dụng thuật ngữ “thượng đế”, hoặc một trong các biểu hiện của tự nhiên, nếu bạn thích cách diễn đạt ít mang tính giáo phái đó hơn. |
|
We shall then be led to the consideration of the evolution of intelligence, or of the factor of mind which is working out as ordered purpose in all that we see around us. This will reveal to us a world which is not blindly going on its way, but which has back of it some plan, some co-ordinated scheme, some organised concept which is working itself out by means of the material form. One reason why things appear to us so difficult of comprehension is involved in the fact that we are in the midst of a transition period, and the plan is as yet imperfect; we are too close to the machinery, being ourselves an integral part of the whole. [19] We see a little bit of it here, and another little bit there, but the whole grandeur of the idea is not apparent to us. We may have a vision, we may have a high moment of revelation, but when we contact the reality on every side, we question the possibility of the ideal materialising, for the intelligent relationship between the form and that which utilises it seems so far from adjustment. |
Sau đó, chúng ta sẽ được dẫn đến việc xem xét sự tiến hóa của trí tuệ, hay của yếu tố trí đang hoạt động như một mục đích có trật tự trong tất cả những gì chúng ta thấy xung quanh mình. Điều này sẽ tiết lộ cho chúng ta một thế giới không đi trên con đường của nó một cách mù quáng, mà có đằng sau nó một kế hoạch nào đó, một lược đồ được phối hợp nào đó, một khái niệm được tổ chức nào đó đang tự thực hiện bằng phương tiện của hình tướng vật chất. Một lý do tại sao mọi thứ có vẻ khó hiểu đối với chúng ta nằm ở thực tế là chúng ta đang ở giữa một giai đoạn chuyển tiếp, và kế hoạch vẫn chưa hoàn hảo; chúng ta quá gần với bộ máy, vì bản thân chúng ta là một phần không thể thiếu của tổng thể. [19] Chúng ta thấy một chút ở đây, và một chút khác ở kia, nhưng toàn bộ sự vĩ đại của ý tưởng không hiển hiện đối với chúng ta. Chúng ta có thể có một tầm nhìn, chúng ta có thể có một khoảnh khắc mặc khải cao độ, nhưng khi chúng ta tiếp chạm thực tại ở mọi phía, chúng ta nghi ngờ khả năng hiện thực hóa của lý tưởng, vì mối quan hệ thông tuệ giữa hình tướng và cái sử dụng nó dường như quá xa vời với sự điều chỉnh. |
|
The recognition of the factor of the intelligence will inevitably lead us to the contemplation of the evolution of consciousness in its many forms, ranging all the way from those types of consciousness which we consider sub-human, through the human, up to what may be logically posited (even if it may not be demonstrated) to be superhuman consciousness. The next question which will face us will be, What lies back of all these factors? Is there, behind the objective form and its animating intelligence, an evolution which corresponds to the “I” faculty, to the Ego in man? Is there in nature, and in all that we see around us, the working out of the purpose of an individualised self-conscious Being? If there is such a Being, and such a fundamental existence, we should be able to see somewhat His intelligent activities, and to watch His plans working towards fruition. Even if we cannot prove that God is, and that the Deity exists, it may be possible to say, at least, that the hypothesis that He exists is a reasonable one, a [20] rational suggestion, and a possible solution of all the mysteries we see around us. But to do that it has to be demonstrated that there is an intelligent purpose working through forms of every kind, through races and nations, and through all that we see manifesting in modern civilisation; the steps that that purpose has taken, and the gradual growth of the plan, will have to be demonstrated, and from that demonstration we shall perhaps be able to see what lies ahead for us in the coming stages. |
Sự công nhận yếu tố trí tuệ chắc chắn sẽ dẫn chúng ta đến việc chiêm ngưỡng sự tiến hóa của tâm thức dưới nhiều hình thức của nó, trải dài từ những loại tâm thức mà chúng ta coi là dưới nhân loại, qua nhân loại, lên đến cái có thể được khẳng định một cách hợp lý (ngay cả khi nó có thể không được chứng minh) là tâm thức siêu nhân loại. Câu hỏi tiếp theo sẽ đối mặt với chúng ta là, Cái gì nằm sau tất cả các yếu tố này? Phải chăng, đằng sau hình tướng khách quan và trí tuệ làm linh hoạt nó, có một sự tiến hóa tương ứng với khả năng “Tôi”, với Chân ngã ở con người? Phải chăng trong tự nhiên, và trong tất cả những gì chúng ta thấy xung quanh mình, có sự thực hiện mục đích của một Đấng tự ý thức đã biệt ngã hóa? Nếu có một Đấng như vậy, và một sự tồn tại cơ bản như vậy, chúng ta đáng lẽ phải thấy được phần nào các hoạt động thông tuệ của Ngài, và theo dõi các kế hoạch của Ngài đang hướng tới sự đơm hoa kết trái. Ngay cả khi chúng ta không thể chứng minh rằng Thượng đế hiện hữu, và rằng Ngài tồn tại, ít nhất cũng có thể nói rằng giả thuyết Ngài tồn tại là một giả thuyết hợp lý, một [20] gợi ý hợp lý, và là một giải pháp khả thi cho tất cả những bí ẩn chúng ta thấy xung quanh mình. Nhưng để làm được điều đó, cần phải chứng minh rằng có một mục đích thông tuệ đang hoạt động qua các hình tướng thuộc mọi loại, qua các chủng tộc và quốc gia, và qua tất cả những gì chúng ta thấy đang biểu hiện trong nền văn minh hiện đại; các bước mà mục đích đó đã thực hiện, và sự tăng trưởng dần dần của kế hoạch, sẽ phải được chứng minh, và từ sự chứng minh đó, chúng ta có lẽ sẽ có thể thấy những gì nằm phía trước chúng ta trong các giai đoạn sắp tới. |
|
Let us for the minute consider what we mean by the words “evolutionary process.” They are constantly being used, and the average man well knows that the word “evolution” suggests an unfolding from within outwards, and the unrolling from an inner centre, but we need to define the idea more clearly, and thus get a better concept. One of the best definitions which I have come across is that which defines evolution as “the unfolding of a continually increasing power to respond.” Here we have a definition that is very illuminating as we consider the matter aspect of manifestation. It involves the conception of vibration, and of response to vibration, and though we may in time have to discard the term “matter,” and employ some such suggestion as “force centre,” the concept still holds good, and the response of the centre to stimulation is even more accurately [21] to be seen. In considering human consciousness this same definition is of real value. It involves the idea of a gradually increasing realisation, of the developing response of the subjective life to its environment, and it leads us eventually on and up to the ideal of a unified Existence which will be the synthesis of all the lines of evolution, and to a conception of a central Life, or force, which blends and holds together all the evolving units, whether they are units of matter, such as the atom of the chemist and physicist, or units of consciousness, such as human beings. This is evolution, the process which unfolds the life within all units, the developing urge which eventually merges all units and all groups, until you have that sumtotal of manifestation which can be called Nature, or God, and which is the aggregate of all the states of consciousness. This is the God to Whom the Christian refers when he says “in Him we live, and move, and have our being”; this is the force, or energy, which the scientist recognises; and this is the universal mind, or the Oversoul of the philosopher. This, again, is the intelligent Will which controls, formulates, binds, constructs, develops, and brings all to an ultimate perfection. This is that Perfection which is inherent in matter itself, and the tendency which is latent in the atom, in man, and in all that is. This interpretation [22] of the evolutionary process does not look upon it as the result of an outside Deity pouring His energy and wisdom upon a waiting world, but rather as something which is latent within that world itself, that lies hidden at the heart of the atom of chemistry, within the heart of man himself, within the planet, and within the solar system. It is that something which drives all on toward the goal, and is the force which is gradually bringing order out of chaos; ultimate perfection out of temporary imperfection; good out of seeming evil; and out of darkness and disaster that which we shall some day recognise as beautiful, right, and true. It is all that we have visioned and conceived of in our highest and best moments. |
Chúng ta hãy dành một phút để xem xét chúng ta muốn nói gì qua các từ “quá trình tiến hóa”. Chúng liên tục được sử dụng, và người bình thường biết rõ rằng từ “tiến hóa” gợi ý một sự mở ra từ trong ra ngoài, và sự trải ra từ một trung tâm bên trong, nhưng chúng ta cần định nghĩa ý tưởng rõ ràng hơn, và do đó có được một khái niệm tốt hơn. Một trong những định nghĩa hay nhất mà tôi từng gặp là định nghĩa xác định tiến hóa là “sự mở ra của một khả năng đáp ứng không ngừng gia tăng”. Ở đây chúng ta có một định nghĩa rất sáng tỏ khi chúng ta xem xét phương diện vật chất của sự biểu hiện. Nó bao hàm khái niệm về rung động, và về sự đáp ứng với rung động, và mặc dù theo thời gian chúng ta có thể phải loại bỏ thuật ngữ “vật chất”, và sử dụng một gợi ý nào đó như “trung tâm lực”, khái niệm này vẫn giữ nguyên giá trị, và sự đáp ứng của trung tâm đối với sự kích thích thậm chí còn [21] được thấy chính xác hơn. Khi xem xét tâm thức con người, định nghĩa tương tự này có giá trị thực sự. Nó bao hàm ý tưởng về một sự chứng nghiệm tăng dần, về sự đáp ứng đang phát triển của đời sống chủ quan đối với môi trường của nó, và cuối cùng nó dẫn chúng ta lên tới lý tưởng về một Sự Hiện Tồn thống nhất vốn sẽ là sự tổng hợp của tất cả các dòng tiến hóa, và tới một quan niệm về một Sự sống trung tâm, hay lực, hòa quyện và giữ tất cả các đơn vị đang tiến hóa lại với nhau, cho dù chúng là các đơn vị vật chất, chẳng hạn như nguyên tử của nhà hóa học và nhà vật lý, hay các đơn vị tâm thức, chẳng hạn như con người. Đây là tiến hóa, quá trình mở ra sự sống bên trong tất cả các đơn vị, sự thúc đẩy đang phát triển cuối cùng sáp nhập tất cả các đơn vị và tất cả các nhóm, cho đến khi bạn có tổng thể của sự biểu hiện có thể được gọi là Tự nhiên, hay Thượng đế, và là tập hợp của tất cả các trạng thái tâm thức. Đây là Thượng đế mà người Kitô hữu ám chỉ khi nói “trong Ngài, chúng ta sống, hoạt động, và hiện hữu”; đây là lực, hay năng lượng, mà nhà khoa học công nhận; và đây là trí tuệ vũ trụ, hay Đại hồn của nhà triết học. Đây, một lần nữa, là Ý Chí thông tuệ kiểm soát, hình thành, ràng buộc, xây dựng, phát triển và đưa tất cả đến một sự hoàn hảo tối hậu. Đây là sự Hoàn hảo vốn hữu hạn trong chính vật chất, và là khuynh hướng tiềm tàng trong nguyên tử, trong con người, và trong tất cả những gì đang hiện hữu. Cách giải thích này [22] về quá trình tiến hóa không xem nó như kết quả của một Thượng đế bên ngoài tuôn đổ năng lượng và minh triết của Ngài lên một thế giới đang chờ đợi, mà đúng hơn là một cái gì đó tiềm tàng trong chính thế giới đó, nằm ẩn giấu nơi tâm của nguyên tử hóa học, bên trong tâm của chính con người, bên trong hành tinh, và bên trong hệ mặt trời. Đó là cái gì đó thúc đẩy tất cả hướng về mục tiêu, và là mãnh lực đang dần dần mang lại trật tự từ sự hỗn loạn; sự hoàn hảo tối hậu từ sự không hoàn hảo tạm thời; cái thiện từ cái có vẻ là ác; và từ bóng tối và thảm họa ra cái mà một ngày nào đó chúng ta sẽ công nhận là đẹp đẽ, đúng đắn, và chân thực. Đó là tất cả những gì chúng ta đã thấy trong tầm nhìn và quan niệm trong những khoảnh khắc cao cả nhất và tốt đẹp nhất của mình. |
|
Evolution has also been defined as “cyclic development” and this definition brings me to a thought which I am very anxious that we should thoroughly grasp. Nature repeats continuously until certain definite ends have been reached, certain concrete results have been brought about, and certain responses made to vibration. It is by the recognition of this accomplishment that the intelligent purpose of indwelling Existence can be demonstrated. The method whereby this is achieved is that of discrimination, or of intelligent choice. There are, in the textbooks of different schools, many words which are used to [23] convey the same general idea, such as “natural selection,” or “attraction and repulsion.” I would like, if possible, to avoid technical terms, because they are used by one school of thought to mean one thing, and by another for something different. If we can find a word similar in intent, yet not tied to any particular line of thought, we may find fresh light thrown upon our problem. Attraction and repulsion in the solar system is but the discriminating faculty of the atom or of man demonstrating in the planets and the sun. It will be found in atoms of all kinds; we can call it adaptation, if we so choose, or the power to grow and to adapt the unit to its environment through the rejection of certain factors and the acceptance of others. It shows itself in man as free will, or the power to choose, and in the spiritual man it can be seen as the tendency to sacrifice, for a man then chooses a particular line of action in order to benefit the group to which he belongs, and rejects that which is purely selfish. |
Tiến hóa cũng đã được định nghĩa là “sự phát triển theo chu kỳ” và định nghĩa này đưa tôi đến một ý tưởng mà tôi rất mong chúng ta nắm bắt thấu đáo. Tự nhiên lặp lại liên tục cho đến khi đạt được những mục đích xác định nhất định, những kết quả cụ thể nhất định đã được mang lại, và những đáp ứng nhất định được thực hiện đối với rung động. Chính nhờ sự công nhận thành tựu này mà mục đích thông tuệ của Sự Hiện Tồn nội tại có thể được chứng minh. Phương pháp nhờ đó điều này đạt được là phương pháp phân biện, hay sự lựa chọn thông tuệ. Có rất nhiều từ trong sách giáo khoa của các trường phái khác nhau được sử dụng để [23] truyền tải cùng một ý tưởng chung, chẳng hạn như “chọn lọc tự nhiên”, hay “thu hút và đẩy lùi”. Nếu có thể, tôi muốn tránh các thuật ngữ kỹ thuật, bởi vì chúng được một trường phái tư tưởng sử dụng để chỉ một điều, và một trường phái khác sử dụng cho một điều gì đó khác. Nếu chúng ta có thể tìm thấy một từ tương tự về ý nghĩa, nhưng không bị ràng buộc với bất kỳ dòng tư tưởng cụ thể nào, chúng ta có thể tìm thấy ánh sáng mới rọi vào vấn đề của chúng ta. Thu hút và đẩy lùi trong hệ mặt trời chỉ là khả năng phân biện của nguyên tử hay của con người biểu hiện trong các hành tinh và mặt trời. Nó sẽ được tìm thấy trong các nguyên tử thuộc mọi loại; chúng ta có thể gọi nó là sự thích nghi, nếu chúng ta chọn như vậy, hoặc khả năng phát triển và thích nghi đơn vị với môi trường của nó thông qua việc từ chối các yếu tố nhất định và chấp nhận các yếu tố khác. Nó thể hiện ở con người như ý chí tự do, hay khả năng lựa chọn, và ở con người tinh thần, nó có thể được xem như khuynh hướng hy sinh, vì khi đó một người chọn một đường lối hành động cụ thể để mang lại lợi ích cho nhóm mà y thuộc về, và từ chối cái hoàn toàn ích kỷ. |
|
Cuối cùng, chúng ta có thể định nghĩa tiến hóa là sự thay đổi có trật tự và sự biến chuyển liên tục. Nó thể hiện trong hoạt động không ngừng của đơn vị hay nguyên tử, sự tương tác giữa các nhóm, và sự tác động vô tận của một lực hay loại năng lượng này lên một lực hay loại năng lượng khác. |
|
|
We have seen that evolution, whether it is of matter, of intelligence, of consciousness, or of spirit, consists in an ever-increasing power to [24] respond to vibration, that it progresses through constant change, by the practice of a selective policy or the use of the discriminative faculty, and by the method of cyclic development or repetition. The stages which distinguish the evolutionary process might be broadly divided into three, corresponding to the stages in the life of a human being: childhood, adolescence, and maturity. Where man is concerned these stages can be traced in the human unit or in the race, and as the civilisations pass on and increase, it should surely become possible to trace the same threefold idea in the human family as a whole, and thus ascertain the divine objective through the study of his image, or reflection, MAN. We might express these three stages in more scientific terms, and link them with the three schools of thought earlier referred to, studying them as |
Chúng ta đã thấy rằng tiến hóa, cho dù là của vật chất, của trí tuệ, của tâm thức, hay của tinh thần, bao gồm một khả năng ngày càng tăng để [24] đáp ứng với rung động, rằng nó tiến triển thông qua sự thay đổi liên tục, bằng việc thực hành một chính sách chọn lọc hay sử dụng khả năng phân biện, và bằng phương pháp phát triển theo chu kỳ hay sự lặp lại. Các giai đoạn phân biệt quá trình tiến hóa có thể được chia rộng rãi thành ba, tương ứng với các giai đoạn trong cuộc đời của một con người: thơ ấu, thanh thiếu niên, và trưởng thành. Nơi con người liên quan, các giai đoạn này có thể được truy nguyên trong đơn vị con người hoặc trong chủng tộc, và khi các nền văn minh trôi qua và gia tăng, chắc chắn sẽ trở nên khả thi để truy nguyên cùng một ý tưởng tam phân trong gia đình nhân loại như một tổng thể, và do đó xác định mục tiêu thiêng liêng thông qua việc nghiên cứu hình ảnh, hay sự phản chiếu của ngài, là CON NGƯỜI. Chúng ta có thể diễn đạt ba giai đoạn này bằng các thuật ngữ khoa học hơn, và liên kết chúng với ba trường phái tư tưởng đã đề cập trước đó, nghiên cứu chúng như là |
|
a. The stage of atomic energy. |
Giai đoạn năng lượng nguyên tử. |
|
b. The stage of group coherency. |
Giai đoạn gắn kết nhóm. |
|
c. The stage of unified or synthetic existence. |
Giai đoạn hiện tồn thống nhất hoặc tổng hợp. |
|
Let me see if I can make my meaning clear. The stage of atomic energy is largely that which concerns the material side of life, and corresponds to the childhood period in the life of a man or a race. It is the time of realism, of intense activity, of development by action above all else, or pure self-centredness and self-interest. It produces the [25] materialistic point of view, and leads inevitably to selfishness. It involves the recognition of the atom as being entirely self-contained, and similarly of the human units as having a separate life apart from all other units, and with no relationship to others. Such a stage can be seen in the little evolved races of the world, in small children, and in those who are little developed. They are normally self-centred; their energies are concerned with their own life; they are occupied with the objective and with that which is tangible; they are characterised by a necessary and protective selfishness. It is a most necessary stage in the development and perpetuation of the race. |
Hãy để tôi xem liệu tôi có thể làm rõ ý nghĩa của mình không. Giai đoạn năng lượng nguyên tử chủ yếu là giai đoạn liên quan đến khía cạnh vật chất của cuộc sống, và tương ứng với thời kỳ thơ ấu trong cuộc đời của một người hay một chủng tộc. Đó là thời gian của chủ nghĩa hiện thực, của hoạt động mãnh liệt, của sự phát triển bằng hành động trên hết thảy, hay sự tập trung vào bản thân và tư lợi thuần túy. Nó tạo ra [25] quan điểm duy vật, và dẫn đến sự ích kỷ một cách tất yếu. Nó bao hàm sự công nhận nguyên tử là hoàn toàn tự chứa đựng, và tương tự như vậy đối với các đơn vị con người là có một đời sống tách biệt với tất cả các đơn vị khác, và không có mối quan hệ với những người khác. Một giai đoạn như vậy có thể được thấy ở các chủng tộc ít tiến hóa trên thế giới, ở trẻ nhỏ, và ở những người ít phát triển. Họ thường tập trung vào bản thân; năng lượng của họ liên quan đến cuộc sống riêng của họ; họ bận rộn với cái khách quan và với cái hữu hình; họ được đặc trưng bởi một sự ích kỷ cần thiết và mang tính bảo vệ. Đó là một giai đoạn cần thiết nhất trong sự phát triển và duy trì nòi giống. |
|
Out of this selfish atomic period grows another stage, that of group coherency. This involves the building up of forms and species until you have something coherent and individualised in itself as a whole, yet which is composed of many lesser individualities and forms. In connection with the human being it corresponds to his awakening realisation of responsibility, and to his recognition of his place within the group. It necessitates an ability on his part to recognise a life greater than himself, whether that life is called God, or whether it is simply regarded as the life of the group to which a man, as a unit, belongs, that great Identity of which we are each a part. This corresponds to the school of thought which we [26] called the supernatural, and it must be succeeded in time by a truer and a wider concept. As we have already seen, the first or atomic stage developed by means of selfishness, or the self-centred life of the atom (whether the atom of substance or the human atom); the second stage grows to perfection by the sacrifice of the unit to the good of the many, and of the atom to the group in which it has place. This stage is something which we, as yet, know practically little about, and is what we often vision and hope for. |
Từ giai đoạn nguyên tử ích kỷ này phát triển một giai đoạn khác, đó là giai đoạn gắn kết nhóm. Điều này bao hàm việc xây dựng các hình tướng và giống loài cho đến khi bạn có một cái gì đó mạch lạc và cá thể hóa trong chính nó như một tổng thể, nhưng lại được cấu thành từ nhiều cá thể tính và hình tướng nhỏ hơn. Liên quan đến con người, nó tương ứng với sự chứng nghiệm thức tỉnh của y về trách nhiệm, và sự công nhận của y về vị trí của mình trong nhóm. Nó đòi hỏi một khả năng về phía y để công nhận một sự sống lớn hơn bản thân mình, cho dù sự sống đó được gọi là Thượng đế, hay liệu nó chỉ đơn giản được coi là sự sống của nhóm mà con người, như một đơn vị, thuộc về, Thực Thể vĩ đại mà mỗi chúng ta là một phần. Điều này tương ứng với trường phái tư tưởng mà chúng ta [26] gọi là siêu nhiên, và theo thời gian nó phải được kế tục bởi một khái niệm đúng đắn hơn và rộng lớn hơn. Như chúng ta đã thấy, giai đoạn đầu tiên hay giai đoạn nguyên tử phát triển bằng phương tiện của sự ích kỷ, hay đời sống tập trung vào bản thân của nguyên tử (dù là nguyên tử chất liệu hay nguyên tử con người); giai đoạn thứ hai phát triển đến sự hoàn hảo bằng sự hy sinh của đơn vị cho lợi ích của số đông, và của nguyên tử cho nhóm mà nó có vị trí. Giai đoạn này là điều mà chúng ta, cho đến nay, thực tế biết rất ít về nó, và là những gì chúng ta thường thấy trong tầm nhìn và hy vọng. |
|
The third stage lies a long way ahead, and may be considered by many a vain chimera. But some of us have a vision. which, even if unattainable at present, is logically possible if our premises are correct, and our foundation is rightly laid. It is that of unified existence. Not only will there be the separate units of consciousness, not only the differentiated atoms within the form, not only will there be the group made up of a multiplicity of identities, but we shall have the aggregate of all forms, of all groups, and of all states of consciousness blended, unified, and synthesised into a perfected whole. This whole you may call the solar system, you may call it nature, or you may call it God. Names matter not. It corresponds to the adult stage in the human being; it is analogous to the period of maturity, and to that stage wherein a man is supposed to have a definite purpose [27] and life work, and a clear-cut plan in view, which he is working out by the aid of his intelligence. In these talks I should like if I can, to show that something like this is going on in the solar system, in the planet, in the human family, and in the atom. I trust that we can prove that there is an intelligence underlying all; and that from separation will come union, produced through blending and merging into group formation, and that eventually from the many groups will be seen emerging the one perfect, fully conscious whole, composed of myriads of separate identities animated by one purpose and one will. If this is so, what is the next practical step ahead for those who come to this realisation? How can we make practical application of this ideal to our own lives, and ascertain our immediate duty so that we may participate in, and consciously further the plan? In the cosmic process we have our tiny share, and each day of activity should see us playing our part with intelligent understanding. |
Giai đoạn thứ ba nằm một chặng đường dài phía trước, và có thể được nhiều người coi là một ảo tưởng hão huyền. Nhưng một số người trong chúng ta có một tầm nhìn, mà ngay cả khi không thể đạt được vào lúc này, vẫn khả thi về mặt logic nếu các tiền đề của chúng ta là chính xác, và nền tảng của chúng ta được đặt đúng đắn. Đó là sự hiện tồn thống nhất. Sẽ không chỉ có các đơn vị tâm thức tách biệt, không chỉ có các nguyên tử được biến phân bên trong hình tướng, không chỉ sẽ có nhóm được tạo thành từ vô số bản sắc, mà chúng ta sẽ có tập hợp của tất cả các hình tướng, của tất cả các nhóm, và của tất cả các trạng thái tâm thức được hòa quyện, thống nhất và tổng hợp thành một tổng thể hoàn hảo. Tổng thể này bạn có thể gọi là hệ mặt trời, bạn có thể gọi nó là tự nhiên, hoặc bạn có thể gọi nó là Thượng đế. Tên gọi không quan trọng. Nó tương ứng với giai đoạn trưởng thành ở con người; nó tương tự như thời kỳ chín chắn, và giai đoạn mà một người được cho là có một mục đích xác định [27] và công việc đời sống, và một kế hoạch rõ ràng trong tầm nhìn, mà y đang thực hiện nhờ sự trợ giúp của trí tuệ mình. Trong những buổi nói chuyện này, nếu có thể, tôi muốn chỉ ra rằng một điều gì đó giống như thế này đang diễn ra trong hệ mặt trời, trong hành tinh, trong gia đình nhân loại, và trong nguyên tử. Tôi tin rằng chúng ta có thể chứng minh rằng có một trí tuệ nằm bên dưới tất cả; và rằng từ sự chia rẽ sẽ đến sự hợp nhất, được tạo ra thông qua sự hòa quyện và sáp nhập vào sự hình thành nhóm, và rằng cuối cùng từ nhiều nhóm sẽ thấy nổi lên một tổng thể hoàn hảo, hoàn toàn có ý thức, bao gồm vô số bản sắc tách biệt được làm sinh động bởi một mục đích và một ý chí. Nếu điều này là như vậy, bước thực tế tiếp theo phía trước cho những người đi đến sự chứng nghiệm này là gì? Làm thế nào chúng ta có thể áp dụng thực tế lý tưởng này vào cuộc sống của chính mình, và xác định nhiệm vụ trước mắt của mình để chúng ta có thể tham gia vào, và thúc đẩy kế hoạch một cách có ý thức? Trong quá trình vũ trụ, chúng ta có phần nhỏ bé của mình, và mỗi ngày hoạt động nên thấy chúng ta đóng vai trò của mình với sự thấu hiểu thông tuệ. |
|
Our first aim should surely be self-realisation through the practice of discrimination; we must learn to think clearly for ourselves, to formulate our own thoughts and to manipulate our own mental processes; we must learn to know what we think and why we think it, to find out the meaning of group consciousness through the study of the law of sacrifice. Not only must we find [28] ourselves through the primary childhood stage of selfishness (and surely that should lie behind us), not only should we learn to distinguish between the real and the unreal, through the practice of discrimination, but we should endeavour to pass on from that to something very much better. For us the immediate goal should be to find the group to which we may belong. We do not belong to all groups, nor can we consciously realise our place in the one great Body, but we can find some group in which we have our place, some body of people with whom we can cooperate and work, some brother or brothers whom we can succour and assist. It really involves the conscious contacting of the ideal of brotherhood, and—until we have evolved to the stage where our concept is universal—it means finding the particular set of brothers whom we can love and help by means of the law of sacrifice and by the transmutation of selfishness into loving service. Thus we can co-operate in the general purpose, and participate in the mission of the group. |
Mục tiêu đầu tiên của chúng ta chắc chắn phải là sự tự chứng nghiệm thông qua việc thực hành phân biện; chúng ta phải học cách suy nghĩ rõ ràng cho chính mình, hình thành tư tưởng của riêng mình và vận dụng các quá trình tư duy của riêng mình; chúng ta phải học cách biết những gì chúng ta nghĩ và tại sao chúng ta nghĩ như vậy, để tìm ra ý nghĩa của tâm thức nhóm thông qua việc nghiên cứu định luật hy sinh. Không chỉ chúng ta phải tìm thấy [28] chính mình qua giai đoạn thơ ấu sơ khai của sự ích kỷ (và chắc chắn điều đó nên nằm lại phía sau chúng ta), không chỉ chúng ta nên học cách phân biệt giữa cái thực và cái ảo, thông qua việc thực hành phân biện, mà chúng ta nên nỗ lực để chuyển từ đó sang một điều gì đó tốt đẹp hơn nhiều. Đối với chúng ta, mục tiêu trước mắt nên là tìm ra nhóm mà chúng ta có thể thuộc về. Chúng ta không thuộc về tất cả các nhóm, cũng như chúng ta không thể chứng nghiệm một cách có ý thức vị trí của mình trong một Cơ Thể vĩ đại, nhưng chúng ta có thể tìm thấy một nhóm nào đó mà chúng ta có vị trí của mình, một tập thể những người mà chúng ta có thể hợp tác và làm việc cùng, một người anh em hay những người anh em mà chúng ta có thể cứu giúp và hỗ trợ. Nó thực sự bao hàm việc tiếp chạm một cách có ý thức lý tưởng về tình huynh đệ, và—cho đến khi chúng ta đã tiến hóa đến giai đoạn mà khái niệm của chúng ta là phổ quát—nó có nghĩa là tìm ra tập hợp các anh em cụ thể mà chúng ta có thể yêu thương và giúp đỡ bằng phương tiện của định luật hy sinh và bằng sự chuyển hóa sự ích kỷ thành sự phụng sự yêu thương. Do đó, chúng ta có thể hợp tác trong mục đích chung, và tham gia vào sứ mệnh của nhóm. |
LECTURE II—BÀI THUYẾT TRÌNH II
THE EVOLUTION OF SUBSTANCE—SỰ TIẾN HÓA CỦA CHẤT LIỆU
|
[31] |
[31] |
|
It is obvious that in such a series of lectures as this it would be impossible to deal adequately in any way with this stupendous subject, even were I equipped to lecture on such a fundamentally scientific matter. Again, if the conclusions of science were definite upon the evolution of matter, the topic would be, even then, too vast to handle, but they are not, and hence the further complicating of the subject. Therefore I want to preface my remarks to-night by stating that my aim is to speak particularly for those who have no scientific training of any kind, and to give them a general concept of the usually accepted ideas; I seek, then, to make some suggestions which we may find helpful in adjusting our minds to this great problem of matter. Usually when the substance aspect of manifestation has been considered, it has been as a thing apart, and it is only lately that what I might call the “psychology of matter” is beginning to come before the mind of the public through the investigations and conclusions of the broader-minded scientists. |
Rõ ràng là trong một loạt bài thuyết trình như thế này, sẽ không thể đề cập đầy đủ theo bất kỳ cách nào đến chủ đề to lớn này, ngay cả khi tôi được trang bị để thuyết trình về một vấn đề khoa học cơ bản như vậy. Một lần nữa, nếu các kết luận của khoa học là xác định về sự tiến hóa của vật chất, thì chủ đề này, ngay cả khi đó, cũng quá rộng lớn để xử lý, nhưng chúng không xác định, và do đó làm phức tạp thêm chủ đề. Vì vậy, tôi muốn mở đầu những nhận xét của mình tối nay bằng cách nói rằng mục tiêu của tôi là nói cụ thể cho những người không có sự đào tạo khoa học nào, và cung cấp cho họ một khái niệm chung về những ý tưởng thường được chấp nhận; sau đó tôi tìm cách đưa ra một số gợi ý mà chúng ta có thể thấy hữu ích trong việc điều chỉnh tâm trí của mình đối với vấn đề lớn lao này của vật chất. Thông thường khi phương diện chất liệu của sự biểu hiện được xem xét, nó được coi như một thứ tách biệt, và chỉ gần đây cái mà tôi có thể gọi là “tâm lý học của vật chất” mới bắt đầu xuất hiện trước tâm trí công chúng thông qua các cuộc điều tra và kết luận của các nhà khoa học có tư tưởng rộng mở hơn. |
|
[32] |
[32] |
|
You will remember that last week I endeavoured, in a broad and general way, to point out to you that there were three lines of approach to the study of the material universe. There is the line which considers only the materialistic aspect, and is occupied only with that which can be seen, which is tangible, and which can be proven. A second line is that of supernaturalism, which recognises not so much the material side of things as that which is called divine; it deals with the life side, and with the spirit aspect, viewing that Life as a power extraneous to the solar system and to man, and positing that power as a great creative Agent, Who creates and guides the objective universe and yet is outside of it. These two lines of thought can be seen upheld by the frankly materialistic scientist, the orthodox Christian, and the deist of every faith. |
Các bạn sẽ nhớ rằng tuần trước tôi đã nỗ lực, theo một cách rộng và chung, chỉ ra cho các bạn rằng có ba con đường tiếp cận việc nghiên cứu vũ trụ vật chất. Có con đường chỉ xem xét khía cạnh duy vật, và chỉ bận rộn với cái có thể nhìn thấy, cái hữu hình, và cái có thể được chứng minh. Con đường thứ hai là con đường của thuyết siêu nhiên, vốn công nhận không quá nhiều về phương diện vật chất của sự vật mà về cái được gọi là thiêng liêng; nó đề cập đến phương diện sự sống, và phương diện tinh thần, xem Sự sống đó như một quyền năng bên ngoài hệ mặt trời và con người, và ấn định quyền năng đó như một Tác nhân sáng tạo vĩ đại, Đấng tạo ra và dẫn dắt vũ trụ khách quan nhưng lại nằm ngoài nó. Hai dòng tư tưởng này có thể được thấy là được ủng hộ bởi nhà khoa học duy vật thẳng thắn, người Kitô hữu chính thống, và người theo thần giáo tự nhiên của mọi đức tin. |
|
I indicated next a third line of approach to the problem, and we called it the idealistic concept. It recognises the material form, but sees also the life within it, and it posits a Consciousness or Intelligence which is evolving by means of that outer form. You will find, I think, that that is the line which I shall emphasise and stress in these lectures. No speaker is able, after all, to dissociate himself entirely from his own point of view, and in these talks I have set myself the task of working along this third line, for to me it [33] synthesises the other two, and adds certain concepts which produce a coherent whole when merged with the other two. It is for you to decide if this third standpoint is logical, reasonable, and clear. |
Tiếp theo, tôi đã chỉ ra một con đường tiếp cận thứ ba đối với vấn đề, và chúng ta gọi nó là khái niệm duy tâm. Nó công nhận hình tướng vật chất, nhưng cũng nhìn thấy sự sống bên trong nó, và nó ấn định một Tâm thức hay Trí tuệ đang tiến hóa bằng phương tiện của hình tướng bên ngoài đó. Các bạn sẽ thấy, tôi nghĩ vậy, rằng đó là dòng mà tôi sẽ nhấn mạnh và chú trọng trong các bài thuyết trình này. Xét cho cùng, không diễn giả nào có thể tách mình hoàn toàn khỏi quan điểm của chính mình, và trong những buổi nói chuyện này, tôi đã tự đặt cho mình nhiệm vụ làm việc theo dòng thứ ba này, vì đối với tôi nó [33] tổng hợp hai dòng kia, và thêm vào những khái niệm nhất định tạo ra một tổng thể mạch lạc khi được hợp nhất với hai dòng kia. Tùy các bạn quyết định xem liệu quan điểm thứ ba này có logic, hợp lý và rõ ràng hay không. |
|
The most common fact in life for all of us is that of the material world,—that world which we can see and contact by means of the five senses, and which is called by the metaphysical thinkers the “not-self,” or that which is objective to each one of us. As we all know, the work of the chemist is to reduce all known substances to their very simplest elements, and it was thought not long ago that this had been satisfactorily accomplished. The conclusions of the chemist placed the number of the known elements between seventy and eighty. About twenty years ago, however (in 1898), a new element was discovered which was called Radium, and this discovery entirely revolutionised the world’s thought about matter and substance. If you will go to the textbooks of the last century, or search the old dictionaries, seeking for the definition of the atom, for instance, you will usually find Newton quoted. He defined the atom as “a hard, indivisible, ultimate particle,” a something which was incapable of further subdivision. This was considered to be the ultimate atom in the universe, and was called by the scientist of the Victorian era “the foundation stone of the universe”; [34] they considered they had gone as far back as it was possible to go, and that they had discovered what lay back of all manifestation and of objectivity itself. But when radium, and the other radio-active substances, had been discovered, an entirely new aspect of the situation had to be faced. It became apparent that what was considered the ultimate particle was not so at all. As you now have the definition of the atom (I am quoting from the Standard Dictionary) it is: |
Sự kiện phổ biến nhất trong cuộc sống đối với tất cả chúng ta là thế giới vật chất,—thế giới mà chúng ta có thể nhìn thấy và tiếp chạm bằng năm giác quan, và được các nhà tư tưởng siêu hình gọi là “phi-ngã”, hay cái khách quan đối với mỗi chúng ta. Như tất cả chúng ta đều biết, công việc của nhà hóa học là quy giản tất cả các chất đã biết về các nguyên tố đơn giản nhất của chúng, và cách đây không lâu người ta nghĩ rằng điều này đã được thực hiện một cách thỏa đáng. Các kết luận của nhà hóa học đặt số lượng các nguyên tố đã biết vào khoảng giữa bảy mươi và tám mươi. Tuy nhiên, khoảng hai mươi năm trước (vào năm 1898), một nguyên tố mới đã được phát hiện gọi là Radium, và khám phá này đã cách mạng hóa hoàn toàn tư tưởng của thế giới về vật chất và chất liệu. Nếu bạn tìm đến các sách giáo khoa của thế kỷ trước, hoặc tìm kiếm trong các từ điển cũ, để tìm định nghĩa về nguyên tử, chẳng hạn, bạn thường sẽ thấy Newton được trích dẫn. Ông định nghĩa nguyên tử là “một hạt cứng, không thể chia cắt, tối hậu”, một cái gì đó không có khả năng phân chia thêm nữa. Đây được coi là nguyên tử tối hậu trong vũ trụ, và được các nhà khoa học của thời đại Victoria gọi là “viên đá nền tảng của vũ trụ”; [34] họ cho rằng họ đã đi xa hết mức có thể, và rằng họ đã khám phá ra những gì nằm sau mọi biểu hiện và chính sự khách quan. Nhưng khi radium, và các chất phóng xạ khác, được phát hiện, một khía cạnh hoàn toàn mới của tình hình đã phải được đối mặt. Rõ ràng là cái được coi là hạt tối hậu hoàn toàn không phải như vậy. Như định nghĩa về nguyên tử mà các bạn hiện có (tôi đang trích dẫn từ Từ điển Standard) thì nó là: |
|
“An atom is a centre of force, a phase of electrical phenomena, a centre of energy, active through its own internal make-up, and giving off energy or heat or radiation.” |
“Một nguyên tử là một trung tâm lực, một pha của các hiện tượng điện, một trung tâm năng lượng, hoạt động thông qua cấu tạo nội tại của chính nó, và phát ra năng lượng hoặc nhiệt hoặc bức xạ.” |
|
Therefore, an atom is (as Lord Kelvin in 1867 thought it would ultimately turn out to be) a “vortex ring,” or centre of force, and not a particle of what we understand as tangible substance. This ultimate particle of matter is now demonstrated to be composed of a positive nucleus of energy, surrounded—just as is the sun by the planets—with many electrons or negative corpuscles, thus subdividing the atom of earlier science into numerous lesser bodies. The elements differ according to the number and arrangement of these negative electrons around their positive nucleus, and they rotate or move around this central charge of electricity as our planetary system rotates around the sun. Professor Soddy, [35] in one of his latest books, has pointed out that in the atom is to be seen an entire solar system,—the central sun can be recognised, with the planets pursuing their orbital paths around it. |
Vì vậy, một nguyên tử là (như Lord Kelvin vào năm 1867 đã nghĩ rằng cuối cùng nó sẽ trở thành) một “vòng xoáy”, hay trung tâm lực, chứ không phải một hạt của cái mà chúng ta hiểu là chất liệu hữu hình. Hạt vật chất tối hậu này hiện được chứng minh là bao gồm một hạt nhân năng lượng dương, được bao quanh—giống như mặt trời được bao quanh bởi các hành tinh—với nhiều điện tử hoặc tiểu thể âm, do đó chia nhỏ nguyên tử của khoa học trước đây thành nhiều thể nhỏ hơn. Các nguyên tố khác nhau tùy theo số lượng và sự sắp xếp của các điện tử âm này xung quanh hạt nhân dương của chúng, và chúng xoay hoặc di chuyển xung quanh điện tích trung tâm này như hệ hành tinh của chúng ta xoay quanh mặt trời. Giáo sư Soddy, [35] trong một trong những cuốn sách mới nhất của ông, đã chỉ ra rằng trong nguyên tử có thể thấy toàn bộ một hệ mặt trời,—mặt trời trung tâm có thể được nhận ra, với các hành tinh theo đuổi quỹ đạo của chúng xung quanh nó. |
|
It would be apparent to each of us that when this definition of the atom is contemplated and studied an entirely new concept of substance comes before us. Dogmatic assertions are therefore out of order, for it is realised that perhaps the next discovery may reveal to us the fact that the electrons themselves may be worlds within worlds. An interesting speculation along these lines is to be found in a book by one of our scientific thinkers in which he suggests that we might be able to divide and subdivide the electron itself into what he calls “psychons,” and thus be led into realms which are not now considered physical. That may be only a dream, but the thing that I am seeking to impress upon my mind and yours is that we scarcely know where we stand in scientific thought, any more than we know where we stand in the religious and economic world. Everything is passing through a period of transition; the old order changeth; the old way of looking at things is proving false or inadequate; the old expressions of thought seem futile. All that the wise man can do just now is to reserve his opinion, ascertain for himself what appeals to him as truth, and endeavour then to synthesise [36] that particular aspect of universal truth with that aspect which has been accepted by his brother. |
Sẽ rõ ràng đối với mỗi chúng ta rằng khi định nghĩa này về nguyên tử được chiêm ngưỡng và nghiên cứu, một khái niệm hoàn toàn mới về chất liệu sẽ xuất hiện trước chúng ta. Do đó, những khẳng định giáo điều là không phù hợp, vì người ta nhận ra rằng có lẽ khám phá tiếp theo có thể tiết lộ cho chúng ta sự thật rằng chính các điện tử có thể là những thế giới bên trong những thế giới. Một suy đoán thú vị dọc theo những dòng này được tìm thấy trong một cuốn sách của một trong những nhà tư tưởng khoa học của chúng ta, trong đó ông gợi ý rằng chúng ta có thể chia và chia nhỏ chính điện tử thành cái mà ông gọi là “psychon”, và do đó được dẫn vào những lĩnh vực hiện không được coi là vật lý. Đó có thể chỉ là một giấc mơ, nhưng điều mà tôi đang tìm cách khắc sâu vào tâm trí tôi và các bạn là chúng ta hiếm khi biết mình đang đứng ở đâu trong tư tưởng khoa học, cũng giống như chúng ta không biết mình đang đứng ở đâu trong thế giới tôn giáo và kinh tế. Mọi thứ đang trải qua một giai đoạn chuyển tiếp; trật tự cũ thay đổi; cách nhìn cũ về mọi thứ đang chứng tỏ là sai lầm hoặc không đầy đủ; những cách diễn đạt tư tưởng cũ có vẻ vô ích. Tất cả những gì người khôn ngoan có thể làm lúc này là bảo lưu ý kiến của mình, xác định cho bản thân những gì hấp dẫn y như là sự thật, và sau đó nỗ lực để tổng hợp [36] khía cạnh cụ thể đó của chân lý phổ quát với khía cạnh đã được người anh em của y chấp nhận. |
|
The atom, then can be predicated as resolving itself into electrons, and can be expressed in terms of force or energy. When you have a centre of energy or activity you are involved in a dual concept; you have that which is the cause of movement or energy, and that which it energises or actuates. This brings us directly into the field of psychology, because energy or force is ever regarded as a quality, and where you have a quality you are really considering the field of psychic phenomena. |
Vậy thì, nguyên tử có thể được khẳng định là tự phân giải thành các điện tử, và có thể được diễn đạt bằng các thuật ngữ của lực hay năng lượng. Khi bạn có một trung tâm năng lượng hay hoạt động, bạn đang tham gia vào một khái niệm kép; bạn có cái là nguyên nhân của chuyển động hay năng lượng, và cái mà nó làm cho năng hoạt hay kích hoạt. Điều này đưa chúng ta trực tiếp vào lĩnh vực tâm lý học, bởi vì năng lượng hay lực luôn được coi là một phẩm tính, và nơi nào bạn có một phẩm tính, bạn thực sự đang xem xét lĩnh vực của các hiện tượng tâm linh. |
|
There are certain terms in use when considering substance which are continuously appearing, and about which there is a wide diversity of definition. In looking over one scientific book last week it was discouraging to find the author pointing out that the atom of the chemist, of the physicist, of the mathematician, and of the metaphysician were four totally different things. That is another reason why it is not possible to be dogmatic in dealing with these questions. Nevertheless, rightly or wrongly, I have a very definite hypothesis to put before you. When we talk about radium. we are, in all probability, venturing into the realm of etheric substance, the region of ether, or of protyle. Protyle was a word coined by Sir William Crookes, and is defined by him as follows:— |
Có những thuật ngữ nhất định được sử dụng khi xem xét chất liệu liên tục xuất hiện, và về chúng có sự đa dạng lớn về định nghĩa. Khi xem qua một cuốn sách khoa học tuần trước, thật nản lòng khi thấy tác giả chỉ ra rằng nguyên tử của nhà hóa học, của nhà vật lý, của nhà toán học, và của nhà siêu hình học là bốn thứ hoàn toàn khác nhau. Đó là một lý do khác tại sao không thể giáo điều khi giải quyết các câu hỏi này. Tuy nhiên, dù đúng hay sai, tôi có một giả thuyết rất xác định để đưa ra trước các bạn. Khi chúng ta nói về radium, rất có thể chúng ta đang mạo hiểm đi vào lĩnh vực của chất liệu dĩ thái, vùng của dĩ thái, hay của nguyên sinh chất (protyle). Protyle là một từ do Sir William Crookes đặt ra, và được ông định nghĩa như sau:— |
|
[37] |
[37] |
|
“Protyle is a word analogous to protoplasm, to express the idea of the original primal matter before the evolution of the chemical elements. The word I have ventured to use for this purpose is compounded of a Greek word `earlier than’ and `the stuff of which things are made.'” |
“Protyle là một từ tương tự như chất nguyên sinh (protoplasm), để diễn đạt ý tưởng về vật chất nguyên thủy ban đầu trước sự tiến hóa của các nguyên tố hóa học. Từ mà tôi mạo muội sử dụng cho mục đích này được ghép từ một từ Hy Lạp là ‘sớm hơn’ và ‘vật liệu mà từ đó mọi vật được tạo ra’.” |
|
We are, therefore, throwing the concept of matter back to where the Oriental school has always put it, to primordial stuff, to that which the Orientalist calls “primordial ether,” though we must ever remember that the ether of science is many, many removes from the primordial ether of the Oriental occultist. We are led back to that intangible something which is the basis of the objective thing which you and I can see and touch and handle. The word “substance” itself means that which “stands under,” or which lies back of things. All, therefore, that we can predicate in connection with the ether of space is that it is the medium in which energy or force functions, or makes itself felt. When we are talking in these lectures of energy and force, and of matter and substance, we can separate them in our minds thus: When we speak about energy and substance we are considering that which is as yet intangible, and we use force in connection with matter when dealing with that aspect of the objective which our scientists are definitely studying. Substance is the ether in one of its many grades, and is that which lies back of matter itself. |
Do đó, chúng ta đang ném khái niệm về vật chất trở lại nơi mà trường phái Phương Đông luôn đặt nó, về vật liệu nguyên thủy, về cái mà nhà Phương Đông học gọi là “dĩ thái nguyên thủy”, mặc dù chúng ta phải luôn nhớ rằng dĩ thái của khoa học còn cách xa rất nhiều bậc so với dĩ thái nguyên thủy của nhà huyền bí học Phương Đông. Chúng ta được dẫn trở lại cái gì đó vô hình vốn là cơ sở của vật hữu hình mà bạn và tôi có thể nhìn thấy, chạm vào và cầm nắm. Bản thân từ “chất liệu” (substance) có nghĩa là cái “đứng dưới”, hoặc cái nằm phía sau sự vật. Do đó, tất cả những gì chúng ta có thể khẳng định liên quan đến dĩ thái của không gian là nó là môi trường trong đó năng lượng hay lực hoạt động, hoặc làm cho chính nó được cảm thấy. Khi chúng ta nói trong các bài thuyết trình này về năng lượng và lực, và về vật chất và chất liệu, chúng ta có thể tách chúng trong tâm trí mình như sau: Khi chúng ta nói về năng lượng và chất liệu, chúng ta đang xem xét cái vẫn còn vô hình, và chúng ta sử dụng lực liên quan đến vật chất khi đề cập đến phương diện của cái khách quan mà các nhà khoa học của chúng ta đang nghiên cứu một cách xác định. Chất liệu là dĩ thái ở một trong nhiều cấp độ của nó, và là cái nằm phía sau chính vật chất. |
|
[38] |
[38] |
|
When we speak of energy there must be that which energises, that which is the source of energy and the origin of that force which demonstrates in matter. It is here that I seek to lay the emphasis. Whence comes this energy, and what is it? |
Khi chúng ta nói về năng lượng, phải có cái tác động năng lượng, cái là nguồn gốc của năng lượng và nguồn gốc của lực đó vốn biểu hiện trong vật chất. Chính tại đây tôi tìm cách đặt trọng tâm. Năng lượng này đến từ đâu, và nó là gì? |
|
Scientists are recognising ever more clearly that atoms possess qualities, and it would be interesting if one were to take the different scientific books dealing with the subject of atomic matter, and note which of the many and varying terms applied to them could be applied to a human being also. On a small scale I have attempted this, and found it very illuminating. |
Các nhà khoa học ngày càng nhận ra rõ ràng hơn rằng các nguyên tử sở hữu các phẩm tính, và sẽ rất thú vị nếu người ta lấy các cuốn sách khoa học khác nhau đề cập đến chủ đề vật chất nguyên tử, và lưu ý xem thuật ngữ nào trong số rất nhiều và khác nhau được áp dụng cho chúng có thể được áp dụng cho một con người cũng như vậy. Ở quy mô nhỏ, tôi đã thử làm điều này, và thấy nó rất soi sáng. |
|
First of all, as we know, the atom is spoken of as possessing energy, and the power to change from one mode of activity to another. One writer has remarked that “absolute intelligence thrills through every atom in the world.” In this connection I want to point out to you what Edison is reported by an interviewer as having said in Harper’s Magazine for February 1890, and which is enlarged upon in the Scientific American for October 1920. In the earlier instance he is quoted as follows:— |
Trước hết, như chúng ta biết, nguyên tử được nói đến như sở hữu năng lượng, và khả năng thay đổi từ một phương thức hoạt động này sang một phương thức hoạt động khác. Một tác giả đã nhận xét rằng “trí thông minh tuyệt đối rung động qua mọi nguyên tử trên thế giới”. Về vấn đề này, tôi muốn chỉ ra cho các bạn những gì Edison được một người phỏng vấn báo cáo là đã nói trên Tạp chí Harper số tháng 2 năm 1890, và được mở rộng trên tờ Scientific American số tháng 10 năm 1920. Trong trường hợp trước đó, ông được trích dẫn như sau:— |
|
“I do not believe that matter is inert, acted upon by an outside force. To me it seems that every atom is possessed by a certain amount of primitive intelligence. Look at the thousands of ways in which atoms of hydrogen combine [39] with those of other elements, forming the most diverse substances. Do you mean to say that they do this without intelligence? Atoms in harmonious and useful relation assume beautiful or interesting shapes and colours, or give forth a pleasant perfume, as if expressing their satisfaction…gathered together in certain forms, the atoms constitute animals of the lower order. Finally they combine in man, who represents the total intelligence of all the atoms.” |
“Tôi không tin rằng vật chất là trơ, bị tác động bởi một lực bên ngoài. Đối với tôi, dường như mọi nguyên tử đều sở hữu một lượng trí thông minh nguyên thủy nhất định. Hãy nhìn vào hàng ngàn cách mà các nguyên tử hydro kết hợp [39] với các nguyên tử của các nguyên tố khác, tạo thành những chất đa dạng nhất. Bạn có ý nói rằng chúng làm điều này mà không có trí thông minh sao? Các nguyên tử trong mối quan hệ hài hòa và hữu ích đảm nhận những hình dáng và màu sắc đẹp đẽ hoặc thú vị, hoặc tỏa ra một mùi hương dễ chịu, như thể đang biểu lộ sự hài lòng của chúng… được tập hợp lại trong những hình thức nhất định, các nguyên tử cấu thành các loài động vật bậc thấp. Cuối cùng, chúng kết hợp trong con người, người đại diện cho tổng trí thông minh của tất cả các nguyên tử.” |
|
“But where does this intelligence come from originally?” asked the interviewer. |
“Nhưng trí thông minh này bắt nguồn từ đâu?” người phỏng vấn hỏi. |
|
“From some power greater than ourselves,” Edison answered. |
“Từ một quyền năng nào đó lớn hơn chính chúng ta,” Edison trả lời. |
|
“Do you believe, then, in an intelligent Creator, a personal God?” |
“Vậy ông có tin vào một Đấng Tạo Hóa thông tuệ, một Thượng đế cá thể không?” |
|
“Certainly. The existence of such a God can, to my mind, be proved from chemistry.” |
“Chắc chắn rồi. Sự tồn tại của một Thượng đế như vậy, theo tâm trí tôi, có thể được chứng minh từ hóa học.” |
|
In the long interview quoted in the Scientific American, Edison laid down a number of most interesting surmises from which I have culled the following:— |
Trong cuộc phỏng vấn dài được trích dẫn trên tờ Scientific American, Edison đã đưa ra một số phỏng đoán thú vị nhất mà từ đó tôi đã chọn lọc những điều sau:— |
|
1. Life, like matter, is indestructible. |
Sự sống, giống như vật chất, là không thể hủy diệt. |
|
2. Our bodies are composed of myriads of infinitesimal entities, each in itself a unit of life; just as the atom is composed of myriads of electrons. |
Cơ thể chúng ta bao gồm vô số thực thể vô cùng nhỏ, mỗi thực thể tự nó là một đơn vị của sự sống; cũng giống như nguyên tử bao gồm vô số điện tử. |
|
Con người hành động như một tập hợp hơn là một đơn vị; cơ thể và tâm trí thể hiện lá phiếu hay tiếng nói của các thực thể sự sống. |
|
|
4. The life entities build according to a plan. [40] If a part of the life organism be mutilated, they rebuild exactly as before…. |
Các thực thể sự sống xây dựng theo một kế hoạch. [40] Nếu một phần của cơ thể sống bị cắt xẻo, chúng sẽ xây dựng lại chính xác như trước…. |
|
5. Science admits the difficulty of drawing the line between the inanimate and the animate; perhaps the life entities extend their activities to crystals and chemicals…. |
Khoa học thừa nhận khó khăn trong việc vạch ra ranh giới giữa vô tri và hữu tri; có lẽ các thực thể sự sống mở rộng hoạt động của chúng đến các tinh thể và hóa chất…. |
|
6. The life entities live for ever; so that to this extent at least the eternal life which many of us hope for is a reality. |
Các thực thể sự sống sống mãi mãi; vì vậy, ít nhất ở mức độ này, cuộc sống vĩnh cửu mà nhiều người trong chúng ta hy vọng là một thực tế. |
|
In an address given by Sir Clifford Allbut, President of the British Medical Association, as reported in the Literary Digest of February 26th, 1921, he speaks of the ability of the microbe to select and reject, and in the course of his remarks he says: |
Trong một bài phát biểu của Sir Clifford Allbut, Chủ tịch Hiệp hội Y khoa Anh quốc, như được báo cáo trong tờ Literary Digest ngày 26 tháng 2 năm 1921, ông nói về khả năng của vi trùng trong việc lựa chọn và từ chối, và trong quá trình phát biểu của mình, ông nói: |
|
“When the microbe finds itself in the host’s body it may be wholly out of tune, or wholly in tune, with any or all cells that it approaches; in either case presumably nothing morbid would happen…morbid happenings would lie between this microbe and body-cells within its range but not in tune with it. Now there seems to be reason to suppose that a microbe, on its approach to a body-cell only just out of its range, may try this way and that to get a hitch on. If so, the microbe, at first innocuous, would become noxious. So, on the other hand, body-cells may educate themselves to vibrate in harmony with a microbe before dissonant; or there may be mutual interchange and co-adaptation…. |
“Khi vi trùng thấy mình trong cơ thể vật chủ, nó có thể hoàn toàn lạc điệu, hoặc hoàn toàn hòa điệu, với bất kỳ hoặc tất cả các tế bào mà nó tiếp cận; trong cả hai trường hợp, có lẽ sẽ không có gì bệnh hoạn xảy ra… những diễn biến bệnh hoạn sẽ nằm giữa vi trùng này và các tế bào cơ thể trong phạm vi của nó nhưng không hòa điệu với nó. Giờ đây, dường như có lý do để cho rằng một vi trùng, khi tiếp cận một tế bào cơ thể chỉ vừa nằm ngoài phạm vi của nó, có thể thử cách này hay cách khác để bám vào. Nếu vậy, vi trùng, ban đầu vô hại, sẽ trở nên độc hại. Vì vậy, mặt khác, các tế bào cơ thể có thể tự giáo dục để rung động hài hòa với một vi trùng trước đó không hòa hợp; hoặc có thể có sự trao đổi lẫn nhau và đồng thích nghi…. |
|
[41] “But, if things be so, surely we are face to face with a marvellous and far-reaching faculty, the faculty of choice, and this rising from the utter bottom of biology to the summit—formative faculty—’auto-determination,’ or, if you please, ‘mind.'” |
[41] “Nhưng, nếu mọi việc là như vậy, chắc chắn chúng ta đang đối mặt với một khả năng kỳ diệu và sâu rộng, khả năng lựa chọn, và điều này vươn lên từ tận đáy của sinh học đến đỉnh cao—khả năng tạo hình—’tự quyết’, hay, nếu bạn muốn, ‘tâm trí’.” |
|
In the year 1895, Sir William Crookes, one of our greatest scientists, gave an interesting lecture before a body of chemists in Great Britain, in which he dealt with the ability of the atom to choose its own path, to reject and to select, and showed that natural selection can be traced in all forms of life, from the then ultimate atom up through all forms of being. |
Vào năm 1895, Sir William Crookes, một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất của chúng ta, đã có một bài thuyết trình thú vị trước một nhóm các nhà hóa học ở Anh, trong đó ông đề cập đến khả năng của nguyên tử trong việc chọn con đường riêng của nó, để từ chối và lựa chọn, và chỉ ra rằng chọn lọc tự nhiên có thể được truy nguyên trong tất cả các hình thức của sự sống, từ nguyên tử tối hậu lúc bấy giờ lên qua tất cả các hình thức hiện tồn. |
|
In another scientific article, the atom is further considered as having sensation as well: |
Trong một bài báo khoa học khác, nguyên tử được xem xét thêm là có cảm giác nữa: |
|
“The recent contest as to the nature of atoms, which we must regard as in some form or other the ultimate factors in all physical or chemical processes, seems to be capable of easiest solution by the conception that these very minute masses possess—as centres of force—a persistent soul, that every atom has sensation and power of movement.” |
“Cuộc tranh luận gần đây về bản chất của các nguyên tử, mà chúng ta phải coi dưới hình thức này hay hình thức khác là những yếu tố tối hậu trong mọi quá trình vật lý hoặc hóa học, dường như có khả năng giải quyết dễ dàng nhất bằng quan niệm rằng những khối lượng rất nhỏ này sở hữu—như những trung tâm lực—một linh hồn bền bỉ, rằng mọi nguyên tử đều có cảm giác và khả năng chuyển động.” |
|
Tyndall has likewise pointed out that even the very atoms themselves seem to be “instinct with the desire for life.” |
Tyndall cũng đã chỉ ra tương tự rằng ngay cả chính các nguyên tử dường như cũng “đầy bản năng khát khao sự sống”. |
|
If you take these different qualities of the atom—energy, intelligence, ability to select and reject, to attract and repel, sensation, movement, and [42] desire—you have something which is very much like the psychology of a human being, only within a more limited radius and of a more circumscribed degree. Have we not, therefore, really got back to what might be termed the “psyche of the atom”? We have found that the atom is a living entity, a little vibrant world, and that within its sphere of influence other little lives are to be found, and this very much in the same sense that each of us is an entity, or positive nucleus of force or life, holding within our sphere of influence other lesser lives, i.e. the cells of our body. What can be said of us can be said, in degree, of the atom. |
Nếu bạn lấy những phẩm tính khác nhau này của nguyên tử—năng lượng, trí thông minh, khả năng lựa chọn và từ chối, thu hút và đẩy lùi, cảm giác, chuyển động, và [42] ham muốn—bạn có một cái gì đó rất giống với tâm lý của một con người, chỉ là trong một phạm vi giới hạn hơn và ở một mức độ hạn chế hơn. Vậy thì, chẳng phải chúng ta thực sự đã quay trở lại với cái có thể được gọi là “tâm hồn của nguyên tử” sao? Chúng ta đã thấy rằng nguyên tử là một thực thể sống, một thế giới rung động nhỏ bé, và rằng trong phạm vi ảnh hưởng của nó, các sự sống nhỏ hơn khác được tìm thấy, và điều này rất giống theo cùng một nghĩa mà mỗi chúng ta là một thực thể, hay hạt nhân lực hoặc sự sống dương, giữ trong phạm vi ảnh hưởng của mình các sự sống nhỏ hơn khác, tức là các tế bào của cơ thể chúng ta. Những gì có thể nói về chúng ta cũng có thể được nói, ở một mức độ nào đó, về nguyên tử. |
|
Let us extend our idea of the atom a little further, and touch upon what may be fundamentally the cause, and may hold the solution of the world problems. This concept of the atom as a positive demonstration of energy, holding within its range of activity its polar opposite, can be extended not only to every type of atom, but also to a human being. We can view each unit of the human family as a human atom, for in man you have simply a larger atom. He is a centre of positive force, holding within the periphery of his sphere of influence the cells of his body; he shows discrimination, intelligence, and energy. The difference lies but in degree. He is possessed of a wider consciousness, and vibrates to a larger measure than the little atom of the chemist. |
Chúng ta hãy mở rộng ý tưởng về nguyên tử thêm một chút, và chạm đến cái có thể về cơ bản là nguyên nhân, và có thể nắm giữ giải pháp cho các vấn đề thế giới. Khái niệm này về nguyên tử như một sự biểu hiện dương của năng lượng, giữ bên trong phạm vi hoạt động của nó cực đối lập của mình, có thể được mở rộng không chỉ cho mọi loại nguyên tử, mà còn cho cả một con người. Chúng ta có thể xem mỗi đơn vị của gia đình nhân loại như một nguyên tử con người. Y là một trung tâm của lực dương, giữ bên trong chu vi phạm vi ảnh hưởng của mình các tế bào của cơ thể y; y thể hiện sự phân biện, trí thông minh và năng lượng. Sự khác biệt chỉ nằm ở mức độ. Y sở hữu một tâm thức rộng hơn, và rung động ở một mức độ lớn hơn so với nguyên tử nhỏ bé của nhà hóa học. |
|
[43] We might extend the idea still further and consider a planet as an atom. Perhaps there is a life within the planet that holds the substance of the sphere and all forms of life upon it to itself as a coherent whole, and that has a specific extent of influence. This may sound like a wild speculation, yet, judging from analogy, there may perhaps be within the planetary sphere an Entity Whose consciousness is as far removed from that of man as the consciousness of man is from that of the atom of chemistry. |
[43] Chúng ta có thể mở rộng ý tưởng xa hơn nữa và coi một hành tinh như một nguyên tử. Có lẽ có một sự sống bên trong hành tinh nắm giữ chất liệu của khối cầu và mọi hình thức sự sống trên đó với chính nó như một tổng thể mạch lạc, và có một phạm vi ảnh hưởng cụ thể. Điều này nghe có vẻ như một suy đoán hoang đường, tuy nhiên, xét theo sự tương đồng, có lẽ bên trong khối cầu hành tinh có một Thực Thể mà tâm thức của Ngài cách xa tâm thức của con người cũng như tâm thức của con người cách xa tâm thức của nguyên tử hóa học vậy. |
|
This thought can again be carried still further, till it includes the atom of the solar system. There, at the heart of the solar system, the sun, you have the positive centre of energy, holding the planets within its sphere of influence. If you have within the atom, intelligence; if you have within the human being, intelligence; if you have within the planet, an Intelligence controlling all its functions, may it not be logical to extend the idea and predicate a still greater Intelligence back of that larger atom, the solar system? |
Tư tưởng này lại có thể được đưa xa hơn nữa, cho đến khi nó bao gồm nguyên tử của hệ mặt trời. Ở đó, tại trung tâm của hệ mặt trời, mặt trời, bạn có trung tâm năng lượng dương, giữ các hành tinh trong phạm vi ảnh hưởng của nó. Nếu bạn có bên trong nguyên tử, trí thông minh; nếu bạn có bên trong con người, trí thông minh; nếu bạn có bên trong hành tinh, một Trí Thông Minh kiểm soát tất cả các chức năng của nó, liệu có hợp lý không khi mở rộng ý tưởng và ấn định một Trí Thông Minh vĩ đại hơn nữa đằng sau nguyên tử lớn hơn đó, hệ mặt trời? |
|
This brings us ultimately to the standpoint which the religious world has always held, that of there being a God, or Divine Being. Where the orthodox Christian would say with reverence, God, the scientist with equal reverence would say, Energy; yet they would both mean the same. Where the idealistic teacher would speak of “God [44] within” the human form, others with equal accuracy would speak of the “energising faculty” of man, which drives him into activity of a physical, emotional, or mental nature. Everywhere are to be found centres of force, and the idea can be extended from such a force centre as a chemical atom, on and up through varying grades and groups of such intelligent centres, to man, and thence to the Life which is manifesting through the system. Thus is demonstrated a marvellous and synthesised Whole. St. Paul may have had something of this sort in mind when he spoke about the Heavenly Man. By the “body of Christ” he surely means all those units of the human family who are held within His sphere of influence, and who go to the constitution of His body, as the aggregate of the physical cells form the physical body of the man. What is needed in these days of religious upheaval is that these fundamental truths of Christianity should be demonstrated to be scientific truths. We need to make religion scientific. |
Điều này cuối cùng đưa chúng ta đến lập trường mà thế giới tôn giáo luôn nắm giữ, đó là có một Thượng đế, hay Đấng Thiêng Liêng. Nơi người Kitô hữu chính thống sẽ nói với sự tôn kính, Thượng đế, thì nhà khoa học với sự tôn kính ngang bằng sẽ nói, Năng lượng; tuy nhiên cả hai đều có ý nghĩa giống nhau. Nơi người thầy duy tâm sẽ nói về “Thượng đế [44] bên trong” hình hài con người, những người khác với sự chính xác ngang bằng sẽ nói về “khả năng tiếp năng lượng” của con người, cái thúc đẩy y vào hoạt động thuộc bản chất vật lý, cảm xúc, hay trí tuệ. Ở khắp mọi nơi đều tìm thấy các trung tâm lực, và ý tưởng có thể được mở rộng từ một trung tâm lực như vậy như một nguyên tử hóa học, lên và qua các cấp độ và nhóm khác nhau của các trung tâm thông tuệ như vậy, đến con người, và từ đó đến Sự sống đang biểu hiện qua hệ thống. Do đó, một Tổng thể tuyệt diệu và được tổng hợp được chứng minh. Thánh Paul có thể đã có một điều gì đó thuộc loại này trong tâm trí khi ngài nói về Đấng Thiên Nhân. Qua “thể của Đức Christ”, ngài chắc chắn có ý nói đến tất cả các đơn vị của gia đình nhân loại được giữ trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài, và những người đi đến sự cấu tạo cơ thể Ngài, như tập hợp các tế bào vật lý tạo thành cơ thể vật lý của con người. Điều cần thiết trong những ngày biến động tôn giáo này là những chân lý cơ bản này của Kitô giáo nên được chứng minh là những chân lý khoa học. Chúng ta cần làm cho tôn giáo trở nên khoa học. |
|
There is a very interesting Sanskrit writing, many thousands of years old, which I am venturing to quote here. It says: |
Có một văn bản tiếng Phạn rất thú vị, hàng ngàn năm tuổi, mà tôi mạo muội trích dẫn ở đây. Nó nói: |
|
“Every form on earth, and every speck (atom) in space, strives in its efforts towards self-formation, and to follow the model placed for it in the Heavenly Man. The involution [45] and the evolution of the atom…have all one and the same object: man.” |
“Mọi hình tướng trên trái đất, và mọi hạt (nguyên tử) trong không gian, đều phấn đấu trong nỗ lực của mình hướng tới sự tự hình thành, và noi theo mô hình được đặt ra cho nó trong Đấng Thiên Nhân. Sự giáng hạ tiến hóa [45] và sự tiến hóa của nguyên tử… tất cả đều có một và cùng một đối tượng: con người.” |
|
Do you note what a large hope this concept opens out before us? Not one atom of matter, showing latent intelligence, discrimination, and selective power, but will, in the course of aeons, reach that more advanced stage of consciousness which we call human. Surely, then, the human atom may equally be supposed to progress to something still more widely conscious, and eventually reach the stage of development of those great Entities whose bodies are planetary atoms; and for Them, as well, what is there? Attainment of that all-including state of consciousness which we call God, or the solar Logos. Surely this teaching is logical and practical. The old occult injunction which said to a man “Know thyself, for in thyself is to be found all that there is to be known,” is still the rule for the wise student. If each one of us would scientifically regard ourselves as centres of force, holding the matter of our bodies within our radius of control, and thus working through and in them, we should have a hypothesis whereby the entire cosmic scheme could be interpreted. If, as Einstein hints, our entire solar system is but a sphere, colouring is given to the deduction that it, in its turn, may be but a cosmic atom; thus we would have a place within a still larger scheme, and have a centre around which our system rotates, and in which it is as the electron [46] to the atom. We have been told by astronomers that our entire system is probably revolving around a central point in the heavens. |
Bạn có lưu ý niềm hy vọng lớn lao nào mà khái niệm này mở ra trước mắt chúng ta không? Không một nguyên tử vật chất nào, thể hiện trí thông minh tiềm tàng, sự phân biện và khả năng chọn lọc, mà sẽ không, trong quá trình của vô lượng kiếp, đạt đến giai đoạn tâm thức tiến bộ hơn mà chúng ta gọi là nhân loại. Vậy thì, chắc chắn nguyên tử con người cũng có thể được cho là sẽ tiến bộ đến một cái gì đó có ý thức rộng lớn hơn nữa, và cuối cùng đạt đến giai đoạn phát triển của những Thực thể vĩ đại mà cơ thể của Các Ngài là các nguyên tử hành tinh; và đối với Các Ngài cũng vậy, có điều gì? Sự đạt được trạng thái tâm thức bao trùm tất cả mà chúng ta gọi là Thượng đế, hay Thái dương Thượng đế. Chắc chắn giáo lý này là hợp lý và thực tế. Lời răn dạy huyền bí cổ xưa nói với con người “Hãy tự biết mình, vì trong chính mình sẽ tìm thấy tất cả những gì cần biết,” vẫn là quy luật cho người học trò khôn ngoan. Nếu mỗi người trong chúng ta xem xét bản thân một cách khoa học như những trung tâm lực, giữ vật chất của cơ thể chúng ta trong phạm vi kiểm soát của mình, và do đó làm việc xuyên qua và trong chúng, chúng ta sẽ có một giả thuyết mà nhờ đó toàn bộ lược đồ vũ trụ có thể được diễn giải. Nếu, như Einstein gợi ý, toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một hình cầu, thì màu sắc được tô điểm cho sự suy luận rằng nó, đến lượt mình, có thể chỉ là một nguyên tử vũ trụ; do đó chúng ta sẽ có một vị trí trong một lược đồ lớn hơn nữa, và có một trung tâm mà hệ thống của chúng ta xoay quanh, và trong đó nó giống như điện tử [46] đối với nguyên tử. Chúng ta đã được các nhà thiên văn học cho biết rằng toàn bộ hệ thống của chúng ta có lẽ đang quay quanh một điểm trung tâm trên bầu trời. |
|
Thus the basic idea which I have sought to emphasise can be traced all the way up, through the atom of the chemist and physicist, through man, through the energising Life of a planet, up to the Logos, the deity of our solar system, the Intelligence or Life which lies back of all manifestation or of nature, and on to some greater scheme in which even our God has to play His part and to find His place. It is a wonderful picture if true. |
Do đó, ý tưởng cơ bản mà tôi đã tìm cách nhấn mạnh có thể được truy nguyên suốt chặng đường đi lên, qua nguyên tử của nhà hóa học và vật lý học, qua con người, qua Sự sống tiếp sinh lực của một hành tinh, lên đến Logos, Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta, Trí tuệ hay Sự sống nằm đằng sau mọi biểu hiện hoặc tự nhiên, và đi tiếp đến một hệ thống vĩ đại hơn nào đó mà trong đó ngay cả Thượng đế của chúng ta cũng phải đóng vai trò của Ngài và tìm vị trí của Ngài. Đó là một bức tranh tuyệt vời nếu đúng sự thật. |
|
I cannot deal to-night with the different developments of this intelligence animating all atoms, but I should like for a moment to take up what is perhaps the method of their evolution, and this from the human standpoint (which concerns us the most intimately) remembering ever that what is true of any one atom should be true in greater or less degree of all. |
Đêm nay tôi không thể bàn đến những sự phát triển khác nhau của trí tuệ này đang làm sinh động mọi nguyên tử, nhưng tôi muốn dành một chút thời gian để bàn về cái có lẽ là phương pháp tiến hóa của chúng, và điều này từ quan điểm nhân loại (vốn liên quan đến chúng ta mật thiết nhất), luôn nhớ rằng điều gì đúng với bất kỳ nguyên tử nào cũng phải đúng ở mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn đối với tất cả. |
|
In considering broadly the atoms of the solar system, including the system itself, there are two things noticeable: the first is the intense life and activity of the atom itself, and its internal atomic energy; and the second is its interaction with other atoms—repelling some and attracting others. Perhaps, then, we may deduce from these facts, that the method of evolution for every atom is due to two causes: the internal life of the [47] atom itself, and its interaction or intercourse with other atoms. These two stages are apparent in the evolution of the human atom. The first was emphasised by the Christ when He said: “The kingdom of God is within you,” thus pointing all human atoms to the centre of life or energy within themselves, and teaching them that from and through that centre they must expand and grow. Each one of us is conscious of being centred within himself; he considers everything from his own standpoint, and the outer happenings, are mostly interesting just in so far as they concern himself. We deal with things as they affect us personally, and all that occurs to others at a certain stage of our evolution is important only as it concerns ourselves. That is the present stage of many and is characteristic of the majority; it is the period of intense individualism, and that in which the “I” concept is of paramount importance. It involves much internal activity. |
Khi xem xét khái quát các nguyên tử của hệ mặt trời, bao gồm cả chính hệ thống đó, có hai điều đáng chú ý: thứ nhất là sự sống và hoạt động mãnh liệt của chính nguyên tử, và năng lượng nguyên tử nội tại của nó; và thứ hai là sự tương tác của nó với các nguyên tử khác—đẩy một số và hút một số khác. Vậy thì, có lẽ chúng ta có thể suy luận từ những thực tế này, rằng phương pháp tiến hóa cho mỗi nguyên tử là do hai nguyên nhân: sự sống nội tại của [47] chính nguyên tử, và sự tương tác hay giao thiệp của nó với các nguyên tử khác. Hai giai đoạn này thể hiện rõ ràng trong sự tiến hóa của nguyên tử nhân loại. Giai đoạn đầu tiên đã được Đức Christ nhấn mạnh khi Ngài nói: “Nước Trời ở trong các ngươi”, do đó hướng tất cả các nguyên tử nhân loại vào trung tâm sự sống hay năng lượng bên trong chính họ, và dạy họ rằng từ và thông qua trung tâm đó, họ phải mở rộng và phát triển. Mỗi người chúng ta đều ý thức về việc được định tâm bên trong chính mình; y xem xét mọi thứ từ quan điểm của riêng mình, và những sự kiện bên ngoài hầu như chỉ thú vị chừng nào chúng liên quan đến chính y. Chúng ta xử lý sự việc khi chúng ảnh hưởng đến cá nhân chúng ta, và tất cả những gì xảy ra cho người khác ở một giai đoạn tiến hóa nhất định của chúng ta chỉ quan trọng khi nó liên quan đến chính chúng ta. Đó là giai đoạn hiện tại của nhiều người và là đặc điểm của đa số; đó là thời kỳ của chủ nghĩa cá nhân mãnh liệt, và là thời kỳ mà khái niệm “Tôi” có tầm quan trọng tối thượng. Nó bao hàm nhiều hoạt động nội tại. |
|
The second way the human atom grows is through its interaction with all other atoms, and this is something which is only just beginning to dawn upon the human intelligence, and to assume its just importance. We are only beginning to realise the relative significance of competition and of co-operation, and are on the verge of realising that we cannot live our life selfishly and apart from the group in which we find a place; we are commencing to learn that if our brother is held [48] back, and is not making progress, and if the other human atoms are not vibrating as they should, every atom in the body corporate is affected. None of us will be complete until all other units have achieved their fullest and most complete development. |
Cách thứ hai mà nguyên tử nhân loại phát triển là thông qua sự tương tác của nó với tất cả các nguyên tử khác, và đây là điều chỉ mới bắt đầu hé lộ đối với trí tuệ nhân loại, và bắt đầu đảm nhận tầm quan trọng đúng đắn của nó. Chúng ta chỉ mới bắt đầu chứng nghiệm ý nghĩa tương đối của cạnh tranh và của hợp tác, và đang trên bờ vực của việc chứng nghiệm rằng chúng ta không thể sống cuộc sống của mình một cách ích kỷ và tách biệt khỏi nhóm mà trong đó chúng ta tìm thấy một vị trí; chúng ta đang bắt đầu học được rằng nếu huynh đệ của chúng ta bị giữ [48] lại, và không tiến bộ, và nếu các nguyên tử nhân loại khác không rung động như chúng phải thế, thì mọi nguyên tử trong tập thể đều bị ảnh hưởng. Không ai trong chúng ta sẽ trọn vẹn cho đến khi tất cả các đơn vị khác đạt được sự phát triển đầy đủ và trọn vẹn nhất của họ. |
|
Next week I shall enlarge a little upon this, when I take up the question of form building. I only seek to-night, in bringing this lecture to a conclusion, to bring to your consciousness an appreciation of the place we each hold in the general scheme, and to enable us to realise the importance of the interaction which goes on between all atoms. I seek to point out the necessity of finding for ourselves our place in the group to which we naturally belong (in which we are as the electrons to the positive charge), and of our then proceeding to do our work within that larger atom, the group. |
Tuần tới tôi sẽ mở rộng thêm một chút về điều này, khi tôi bàn đến vấn đề xây dựng hình tướng. Đêm nay, khi kết thúc bài giảng này, tôi chỉ tìm cách mang đến cho tâm thức các bạn một sự đánh giá về vị trí mà mỗi chúng ta nắm giữ trong hệ thống chung, và giúp chúng ta chứng nghiệm tầm quan trọng của sự tương tác diễn ra giữa tất cả các nguyên tử. Tôi tìm cách chỉ ra sự cần thiết phải tìm cho chính mình vị trí của chúng ta trong nhóm mà chúng ta thuộc về một cách tự nhiên (trong đó chúng ta giống như các điện tử đối với điện tích dương), và sau đó tiến hành thực hiện công việc của chúng ta bên trong nguyên tử lớn hơn đó, tức là nhóm. |
|
This makes the entire hypothesis not merely a wild dream, but a practically useful ideal. If it is true that all the cells of our bodies, for instance, are the electrons which we hold coherently together, and if we are the energising factor within the material form, it is of prime importance that we recognise that fact, and deal rightly and scientifically with those forms and their atoms. This involves the practical care of the physical body and the wise adaptation of all our energy to the work to be done, and to the [49] nature of our objective; it necessitates the judicious utilisation of that aggregate of cells which is our instrument, or tool, and our sphere of manifestation. This is something of which we, as yet, know little. When this thought is developed, and the human being is recognised as a force centre, the attitude of people towards their work and mode of living will be fundamentally altered. The point of view of the medical world, for instance, will be changed, and people will study the right methods of utilising energy. Disease through ignorance will no longer exist, and the methods of transmitting force will be studied and followed. We shall then be truly intelligent atoms—a thing we, as yet, are not. |
Điều này làm cho toàn bộ giả thuyết không chỉ là một giấc mơ hoang đường, mà là một lý tưởng hữu ích thực tế. Ví dụ, nếu đúng là tất cả các tế bào trong cơ thể chúng ta là các điện tử mà chúng ta giữ kết dính lại với nhau, và nếu chúng ta là nhân tố tiếp sinh lực bên trong hình tướng vật chất, thì điều quan trọng hàng đầu là chúng ta nhận ra sự thật đó, và xử lý một cách đúng đắn và khoa học với các hình tướng đó và các nguyên tử của chúng. Điều này bao hàm sự chăm sóc thực tế đối với thể xác và sự thích ứng khôn ngoan của tất cả năng lượng của chúng ta đối với công việc phải làm, và đối với [49] bản chất của mục tiêu của chúng ta; nó đòi hỏi sự sử dụng sáng suốt tổng hợp các tế bào vốn là dụng cụ, hay công cụ, và là phạm vi biểu hiện của chúng ta. Đây là điều mà chúng ta, cho đến nay, biết rất ít. Khi tư tưởng này được phát triển, và con người được công nhận là một trung tâm lực, thái độ của mọi người đối với công việc và lối sống của họ sẽ thay đổi một cách cơ bản. Ví dụ, quan điểm của giới y khoa sẽ thay đổi, và mọi người sẽ nghiên cứu các phương pháp đúng đắn để sử dụng năng lượng. Bệnh tật do vô minh sẽ không còn tồn tại, và các phương pháp truyền dẫn mãnh lực sẽ được nghiên cứu và tuân theo. Khi đó, chúng ta sẽ thực sự là những nguyên tử thông tuệ—một điều mà chúng ta, cho đến nay, chưa phải là. |
|
Again, we shall not only be practical in the handling of our material bodies, because we understand their constitution, but we shall consciously find our place within the group, and direct our energy to the benefiting of the group, and not, as now, to the furthering of our own ends. Many atoms have not only an internal life of their own, but also radiate, and as radio-activity is gradually understood, so the study of man as a centre of active radiation will also come into being. We are standing these days on the verge of wonderful discoveries: we are nearing a marvellous synthesis of the thought of the world; we are advancing towards that period when science and religion will come to the help of each other, and [50] when philosophy will add its quota to the understanding of the truth. |
Một lần nữa, chúng ta sẽ không chỉ thực tế trong việc xử lý các thể vật chất của mình, bởi vì chúng ta hiểu cấu tạo của chúng, mà chúng ta sẽ tìm thấy vị trí của mình bên trong nhóm một cách có ý thức, và hướng năng lượng của chúng ta vào việc làm lợi cho nhóm, chứ không phải, như hiện nay, vào việc thúc đẩy các mục đích riêng của chúng ta. Nhiều nguyên tử không chỉ có một đời sống nội tại của riêng chúng, mà còn bức xạ, và khi tính phóng xạ dần dần được thấu hiểu, thì việc nghiên cứu con người như một trung tâm bức xạ chủ động cũng sẽ hình thành. Ngày nay chúng ta đang đứng trên bờ vực của những khám phá tuyệt vời: chúng ta đang đến gần một sự tổng hợp kỳ diệu về tư tưởng của thế giới; chúng ta đang tiến tới thời kỳ đó khi khoa học và tôn giáo sẽ đi đến sự trợ giúp lẫn nhau, và [50] khi triết học sẽ thêm phần đóng góp của nó vào sự thấu hiểu chân lý. |
|
The use of the imagination will frequently open up a wonderful vision, and if this imagination is based on essentials, and starts with a logical hypothesis, perhaps it will lead us to the solution of some of the mysteries and problems which are distressing the world now. If things are to us mysterious and inexplicable, may it not be because of that great Entity Who is manifesting through our planet, and Who is working out a definite purpose and plan, just as you and I may be doing in our lives. At times we carry our physical vehicle into situations, and bring about difficulties in connection with it which are both painful and distressing; granted the hypothesis upon which we are working, it may, therefore, be logical to surmise that the great Intelligence of our planet is similarly carrying His entire body of manifestation (which includes the human family) into situations which are distressing to the atoms. Surely it may be logical to suppose that the mystery of all we see around us may be hidden in the will and intelligent purpose of that greater Life, Who works through our planet as man works through the medium of his physical body, and yet Who is Himself but an atom within a still larger sphere, which is indwelt by the solar Logos, the Intelligence Who is the sumtotal of all the lesser lives. |
Việc sử dụng sự tưởng tượng thường sẽ mở ra một tầm nhìn tuyệt vời, và nếu sự tưởng tượng này dựa trên những điều cốt yếu, và bắt đầu với một giả thuyết hợp lý, có lẽ nó sẽ dẫn chúng ta đến giải pháp cho một số bí nhiệm và vấn đề đang làm thế giới đau buồn hiện nay. Nếu mọi thứ đối với chúng ta là bí ẩn và không thể giải thích được, liệu có thể không phải là do Thực Thể vĩ đại Đó, Đấng đang biểu hiện qua hành tinh của chúng ta, và là Đấng đang thực hiện một mục đích và Thiên Cơ xác định, giống như bạn và tôi có thể đang làm trong cuộc sống của mình. Đôi khi chúng ta đưa hiện thể hồng trần của mình vào những tình huống, và gây ra những khó khăn liên quan đến nó vốn vừa đau đớn vừa khổ sở; chấp nhận giả thuyết mà chúng ta đang dựa vào để làm việc, do đó, có thể hợp lý khi phỏng đoán rằng Trí tuệ vĩ đại của hành tinh chúng ta cũng tương tự đang đưa toàn bộ thể biểu hiện của Ngài (bao gồm gia đình nhân loại) vào những tình huống gây đau khổ cho các nguyên tử. Chắc chắn có thể hợp lý khi cho rằng bí nhiệm của tất cả những gì chúng ta thấy xung quanh mình có thể được ẩn giấu trong ý chí và mục đích thông tuệ của Sự sống vĩ đại hơn đó, Đấng hoạt động qua hành tinh của chúng ta như con người hoạt động qua trung gian thể xác của mình, và tuy nhiên Chính Ngài chỉ là một nguyên tử bên trong một khối cầu lớn hơn nữa, vốn được ngự trị bởi Thái dương Thượng đế, Trí tuệ Vốn là tổng thể của tất cả các sự sống nhỏ hơn. |
LECTURE III—BÀI GIẢNG III
THE EVOLUTION OF FORM, OR GROUP EVOLUTION—SỰ TIẾN HÓA CỦA HÌNH TƯỚNG, HAY SỰ TIẾN HÓA CỦA NHÓM
|
[53] |
[53] |
|
I WANT to enlarge to-night upon the basic idea of the unity of consciousness, or of intelligence, as developed somewhat in the lecture last week, and to extend the concept still further. It has been said that all evolution proceeds from the homogeneous, through heterogeneity, back again to homogeneity, and it has been pointed out that: |
Tối nay TÔI MUỐN mở rộng về ý tưởng cơ bản của sự thống nhất của tâm thức, hay của trí tuệ, như đã được phát triển phần nào trong bài giảng tuần trước, và mở rộng khái niệm này xa hơn nữa. Người ta đã nói rằng tất cả sự tiến hóa đều tiến từ cái đồng nhất, qua cái dị biệt, trở lại với cái đồng nhất, và đã được chỉ ra rằng: |
|
“Evolution is a continually accelerating march of all the particles of the universe which leads them simultaneously, by a path sown with destruction, but uninterrupted and unpausing, from the material atom to that universal consciousness in which omnipotence and omniscience are realised: in a word, to the full realisation of the Absolute of God.” |
“Sự tiến hóa là một cuộc hành quân tăng tốc liên tục của tất cả các hạt của vũ trụ, dẫn dắt chúng đồng thời, bằng một con đường gieo rắc sự hủy diệt, nhưng không gián đoạn và không ngừng nghỉ, từ nguyên tử vật chất đến tâm thức phổ quát đó trong đó sự toàn năng và toàn tri được chứng nghiệm: tóm lại, đến sự chứng nghiệm trọn vẹn về Tuyệt đối của Thượng đế.” |
|
This proceeds from those minute diversifications which we call molecules and atoms up to their aggregate as they are built into forms; and continues on through the building of those forms into greater forms, until you have a solar system in its entirety. All has proceeded under law, and the same basic laws govern the evolution of the [54] atom as the evolution of a solar system. The macrocosm repeats itself in man, the microcosm, and the microcosm is again reflected in all lesser atoms. |
Điều này tiến hành từ những sự đa dạng hóa vi mô mà chúng ta gọi là các phân tử và nguyên tử lên đến tập hợp của chúng khi chúng được xây dựng thành các hình tướng; và tiếp tục qua việc xây dựng các hình tướng đó thành những hình tướng lớn hơn, cho đến khi bạn có một hệ mặt trời trong sự toàn vẹn của nó. Tất cả đã tiến hành theo định luật, và cùng những định luật cơ bản đó cai quản sự tiến hóa của [54] nguyên tử cũng như sự tiến hóa của một hệ mặt trời. Đại thiên địa lặp lại chính nó trong con người, tiểu thiên địa, và tiểu thiên địa lại được phản ánh trong tất cả các nguyên tử nhỏ hơn. |
|
These remarks and the previous lecture concern themselves primarily with the material manifestation of a solar system, but I shall seek to lay the emphasis in our future talks principally upon what we might call the psychical evolution, or the gradual demonstration and evolutionary unfoldment of that subjective intelligence or consciousness which lies behind the objective manifestation. |
Những nhận xét này và bài giảng trước chủ yếu đề cập đến biểu hiện vật chất của một hệ mặt trời, nhưng tôi sẽ tìm cách đặt trọng tâm trong các cuộc nói chuyện tương lai của chúng ta chủ yếu vào cái mà chúng ta có thể gọi là sự tiến hóa tâm linh, hay sự thể hiện dần dần và sự khai mở tiến hóa của trí tuệ hay tâm thức chủ quan nằm đằng sau biểu hiện khách quan. |
|
As usual, we will handle this lecture in four divisions: First, we will take the subject of the evolutionary process, which, in this particular case is the evolution of the form, or the group; then the method of group development; next we will consider the stages that are followed during the cycle of evolution, and finally we will conclude with an attempt to be practical, and to gather out of our conclusions some lesson to apply to the daily life. |
Như thường lệ, chúng ta sẽ xử lý bài giảng này theo bốn phần: Đầu tiên, chúng ta sẽ lấy chủ đề về quy trình tiến hóa, mà trong trường hợp cụ thể này là sự tiến hóa của hình tướng, hay nhóm; sau đó là phương pháp phát triển nhóm; tiếp theo chúng ta sẽ xem xét các giai đoạn được tuân theo trong chu kỳ tiến hóa, và cuối cùng chúng ta sẽ kết luận với một nỗ lực để trở nên thực tế, và thu thập từ các kết luận của chúng ta một bài học nào đó để áp dụng vào cuộc sống hàng ngày. |
|
The first thing necessary for us to do is to consider somewhat the question of what a form really is. If we turn to a dictionary we will find the word defined as follows: “The external shape or configuration of a body.” In this definition the emphasis is laid upon its externality, upon its [55] tangibility and exoteric manifestation. This thought is also brought out if the root meaning of the word ‘manifestation’ is carefully studied. It comes from two Latin words, meaning “to touch or handle by the hand” (manus, the hand, and fendere, to touch), and the idea then brought to our minds is the triple thought that that which is manifested is that which can be felt, contacted, and realised as tangible. Yet in both these interpretations the most vital part of the concept is lost sight of, and we must look elsewhere for a truer definition. To my mind, Plutarch conveys the idea of the manifestation of the subjective through the medium of the objective form in a much more illuminating way than does the dictionary. He says: |
Điều đầu tiên cần thiết cho chúng ta làm là xem xét đôi chút vấn đề hình tướng thực sự là gì. Nếu tra từ điển, chúng ta sẽ thấy từ này được định nghĩa như sau: “Hình dáng bên ngoài hoặc cấu hình của một vật thể.” Trong định nghĩa này, trọng tâm được đặt vào tính bên ngoài của nó, vào [55] tính hữu hình và biểu hiện ngoại môn của nó. Tư tưởng này cũng được đưa ra nếu nghĩa gốc của từ ‘manifestation’ (biểu hiện) được nghiên cứu kỹ lưỡng. Nó xuất phát từ hai từ tiếng Latin, có nghĩa là “chạm hoặc cầm bằng tay” (manus, bàn tay, và fendere, chạm vào), và ý tưởng được mang đến cho tâm trí chúng ta khi đó là tư tưởng tam phân rằng cái được biểu hiện là cái có thể được cảm thấy, được tiếp xúc, và được chứng nghiệm là hữu hình. Tuy nhiên, trong cả hai cách giải thích này, phần quan trọng nhất của khái niệm đã bị bỏ sót, và chúng ta phải tìm ở nơi khác một định nghĩa xác thực hơn. Theo tôi, Plutarch truyền tải ý tưởng về sự biểu hiện của cái chủ quan thông qua trung gian của hình tướng khách quan theo một cách soi sáng hơn nhiều so với từ điển. Ông nói: |
|
“Một ý tưởng là một thực thể phi vật thể, không có sự tồn tại độc lập tự thân, nhưng mang lại hình dáng và hình tướng cho vật chất vô hình, và trở thành nguyên nhân của sự biểu hiện.” |
|
|
Here you have a most interesting sentence, and one of real occult significance. It is a sentence which will repay careful study and consideration, for it embodies a concept that concerns itself not only with that little manifestation, the atom of the chemist and the physicist, but of all forms that are constituted by their means, including the manifestation of a human being and of the Deity of a solar system, that great Life, that all-embracing, [56] universal Mind, that vibrant centre of energy, and that great enfolding consciousness Whom we call God, or Force, or the Logos, the Existence Who is expressing Himself through the medium of the solar system. |
Ở đây các bạn có một câu thú vị nhất, và là một câu có thâm nghĩa huyền bí thực sự. Đó là một câu sẽ đền đáp sự nghiên cứu và xem xét kỹ lưỡng, vì nó biểu hiện một khái niệm không chỉ liên quan đến biểu hiện nhỏ bé đó, nguyên tử của nhà hóa học và nhà vật lý, mà còn của tất cả các hình tướng được cấu tạo bởi các phương tiện của chúng, bao gồm sự biểu hiện của một con người và của Thượng đế của một hệ mặt trời, Sự Sống vĩ đại đó, Trí Tuệ bao trùm tất cả, [56] Vũ Trụ đó, trung tâm năng lượng rung động đó, và tâm thức bao bọc vĩ đại đó, Đấng mà chúng ta gọi là Thượng đế, hay Mãnh lực, hay Logos, Sự Hiện Tồn đang diễn tả Chính Ngài thông qua trung gian của hệ mặt trời. |
|
In the Christian Bible the same thought is borne out by St. Paul in a letter to the Church at Ephesus. In the second chapter of the Epistle to the Ephesians he says: “We are his workmanship.” Literally, the correct translation from the Greek is: “We are his poem, or idea,” and the thought in the mind of the apostle is that through the medium of every human life, or in the aggregate of lives which compose a solar system, God is, through the form, whatever it may be, working out an idea, a specific concept, or detailed poem. A man is an embodied thought, and this is also the concept latent in the definition of Plutarch. You have therein first the idea of a self-conscious entity, you have then to recognise the thought or purpose which that entity is seeking to express, and finally, you have the body or form which is the sequential result. |
Trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo, cùng một tư tưởng đó được Thánh Paul đưa ra trong một bức thư gửi Hội thánh tại Ephesus. Trong chương thứ hai của Thư gửi tín hữu Ephesus, ông nói: “Chúng ta là tác phẩm của ngài.” Theo nghĩa đen, bản dịch chính xác từ tiếng Hy Lạp là: “Chúng ta là bài thơ, hay ý tưởng của ngài,” và tư tưởng trong tâm trí của tông đồ là thông qua trung gian của mọi đời sống con người, hay trong tổng hợp các sự sống cấu thành nên một hệ mặt trời, Thượng đế đang, thông qua hình tướng, bất kể nó có thể là gì, thực hiện một ý tưởng, một khái niệm cụ thể, hay một bài thơ chi tiết. Một con người là một tư tưởng hiện thân, và đây cũng là khái niệm tiềm tàng trong định nghĩa của Plutarch. Ở đó, trước hết bạn có ý tưởng về một thực thể tự ý thức, sau đó bạn phải nhận ra tư tưởng hay mục đích mà thực thể đó đang tìm cách diễn tả, và cuối cùng, bạn có cơ thể hay hình tướng vốn là kết quả tiếp theo. |
|
The term Logos, translated as the Word, is frequently used in the New Testament, in speaking of the Deity. The outstanding passage in which this is the case is the first chapter of St. John’s Gospel, where the words occur: “In the beginning was the Word, and the word was with [57] God, and the word was God.” Let us consider for a minute the meaning of the expression. Its literal translation is ‘the Word,’ and it has been defined as “the rendering in objective expression of a concealed thought.” If you take any noun, or similar word, for instance, and study its objective significance, you will find that always a definite thought is conveyed to the mind, involving purpose, intent, or perhaps some abstract concept. If this same method of study can be extended to include the idea of the Deity or the Logos, much light may be gained upon this abstruse question of the manifestation of God, the central Intelligence, by the means of the material form, whether we see Him manifested through the tiny form of a chemical atom, or that gigantic physical body of His we call a solar system. |
Thuật ngữ Logos, được dịch là Ngôi Lời, thường được sử dụng trong Tân Ước, khi nói về Thượng đế. Đoạn văn nổi bật trong trường hợp này là chương đầu tiên của Phúc âm Thánh John, nơi xuất hiện những từ: “Ban đầu có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở cùng [57] Thượng đế, và Ngôi Lời là Thượng đế.” Chúng ta hãy xem xét trong một phút ý nghĩa của diễn đạt này. Bản dịch nghĩa đen của nó là ‘Ngôi Lời’, và nó đã được định nghĩa là “sự diễn tả thành biểu hiện khách quan của một tư tưởng ẩn giấu.” Ví dụ, nếu bạn lấy bất kỳ danh từ nào, hoặc từ tương tự, và nghiên cứu ý nghĩa khách quan của nó, bạn sẽ thấy rằng một tư tưởng xác định luôn được truyền tải đến tâm trí, bao hàm mục đích, ý định, hoặc có lẽ một khái niệm trừu tượng nào đó. Nếu cùng phương pháp nghiên cứu này có thể được mở rộng để bao gồm ý tưởng về Thượng đế hay Logos, thì nhiều ánh sáng có thể đạt được về vấn đề trừu tượng này về sự biểu hiện của Thượng đế, Trí tuệ trung tâm, bằng các phương tiện của hình tướng vật chất, cho dù chúng ta thấy Ngài biểu hiện qua hình tướng nhỏ bé của một nguyên tử hóa học, hay cơ thể vật lý khổng lồ đó của Ngài mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời. |
|
We found in our lecture last week that there was one thing that could be predicated of all atoms, and that scientists everywhere were coming to recognise one distinguishing characteristic. They have been shown to possess symptoms of mind and a rudimentary form of intelligence. The atom demonstrates the quality of discrimination, of selective power, and of ability to attract or repel. It may seem curious to use the word intelligence in connection with an atom of chemistry, for instance, but nevertheless the root meaning of the word embodies this idea perfectly. [58] It comes from two Latin words: inter, between, and legere to choose. Intelligence, therefore, is the capacity to think or choose, to select, and to discriminate. It is, in reality, that abstract, inexplicable something which lies back of the great law of attraction and repulsion, one of the basic laws of manifestation. This fundamental faculty of intelligence characterises all atomic matter, and also governs the building up of forms, or the aggregation of atoms. |
Chúng ta đã thấy trong bài giảng tuần trước rằng có một điều có thể được khẳng định về tất cả các nguyên tử, và các nhà khoa học ở khắp mọi nơi đang đi đến việc công nhận một đặc điểm phân biệt. Chúng đã được chứng minh là sở hữu các triệu chứng của tâm trí và một hình thức sơ khai của trí tuệ. Nguyên tử thể hiện phẩm tính phân biện, quyền năng chọn lựa, và khả năng thu hút hoặc đẩy lùi. Có vẻ tò mò khi sử dụng từ trí tuệ liên quan đến một nguyên tử hóa học, chẳng hạn, nhưng tuy nhiên ý nghĩa gốc của từ này thể hiện ý tưởng này một cách hoàn hảo. [58] Nó xuất phát từ hai từ tiếng Latin: *inter*, ở giữa, và *legere*, chọn lựa. Do đó, trí tuệ là khả năng suy nghĩ hoặc chọn lựa, tuyển chọn và phân biện. Trong thực tế, nó là cái gì đó trừu tượng, không thể giải thích được nằm đằng sau định luật hấp dẫn và đẩy lùi vĩ đại, một trong những định luật cơ bản của sự biểu hiện. Khả năng trí tuệ cơ bản này đặc trưng cho tất cả vật chất nguyên tử, và cũng chi phối việc xây dựng các hình tướng, hay sự tập hợp của các nguyên tử. |
|
We have earlier dealt with the atom per se, but have in no way considered its building into form, or into that totality of forms which we call a kingdom in nature. We have considered somewhat the essential nature of the atom, and its prime characteristic of intelligence, and have laid our emphasis upon that out of which all the different forms as we know them are built—all forms in the mineral kingdom, in the vegetable kingdom, in the animal kingdom, and in the human kingdom. In the sumtotal of all forms you have the totality of nature as generally understood. |
Trước đó chúng ta đã đề cập đến chính nguyên tử, nhưng hoàn toàn chưa xem xét việc xây dựng nó thành hình tướng, hay thành tổng thể các hình tướng mà chúng ta gọi là một giới trong tự nhiên. Chúng ta đã xem xét đôi chút về bản chất cốt yếu của nguyên tử, và đặc điểm chính yếu của nó là trí tuệ, và đã đặt trọng tâm của chúng ta vào cái mà từ đó tất cả các hình tướng khác nhau như chúng ta biết được xây dựng nên—tất cả các hình tướng trong giới kim thạch, trong giới thực vật, trong giới động vật, và trong giới nhân loại. Trong tổng thể của tất cả các hình tướng, bạn có tổng thể của tự nhiên như thường được hiểu. |
|
Let us now extend our idea from the individual forms that go to the constitution of any of these four kingdoms of nature, and view them as providing that still greater form which we call the kingdom itself, and thus view that kingdom as a conscious unit, forming a homogeneous whole. Thus each kingdom in nature may be considered [59] as providing a form through which a consciousness of some kind or grade can manifest. Thus, also, the aggregate of animal forms composes that greater form which we designate the kingdom itself, and this animal kingdom likewise has its place within a still greater body. Through that kingdom a conscious life may be seeking expression, and through the aggregate of kingdoms a still greater subjective Life may be seeking manifestation. |
Bây giờ chúng ta hãy mở rộng ý tưởng của mình từ các hình tướng riêng lẻ đi đến sự cấu tạo của bất kỳ giới nào trong bốn giới tự nhiên này, và xem chúng như là cung cấp cái hình tướng vĩ đại hơn mà chúng ta gọi là chính giới đó, và do đó xem giới đó như một đơn vị có ý thức, hình thành nên một thể thống nhất đồng nhất. Như thế, mỗi giới trong tự nhiên có thể được coi [59] như đang cung cấp một hình tướng mà qua đó một tâm thức thuộc loại hay cấp độ nào đó có thể biểu hiện. Như thế, tập hợp các hình tướng động vật cũng cấu thành nên hình tướng lớn hơn đó mà chúng ta gọi là chính giới đó, và giới động vật này cũng có vị trí của nó bên trong một cơ thể lớn hơn nữa. Thông qua giới đó, một sự sống có ý thức có thể đang tìm kiếm sự diễn tả, và thông qua tập hợp các giới, một Sự Sống chủ quan vĩ đại hơn nữa có thể đang tìm kiếm sự biểu hiện. |
|
In all these kingdoms which we are considering—mineral, vegetable, animal and human—we have three factors again present, provided, of course, that the basis of our reasoning is correct: first, that the original atom is itself a life; secondly, that all forms are built up of a multiplicity of lives, and thus a coherent whole is provided through which a subjective entity is working out a purpose; thirdly, that the central life within the form is its directing impulse, the source of its energy, the origin of its activity, and that which holds the form together as a unity. |
Trong tất cả các giới mà chúng ta đang xem xét—kim thạch, thực vật, động vật và nhân loại—chúng ta lại có ba yếu tố hiện diện, dĩ nhiên với điều kiện là cơ sở lý luận của chúng ta đúng: thứ nhất, rằng chính nguyên tử ban đầu là một sự sống; thứ hai, rằng tất cả các hình tướng được xây dựng từ vô số các sự sống, và do đó một thể thống nhất gắn kết được cung cấp, qua đó một thực thể chủ quan đang thực hiện một mục đích; thứ ba, rằng sự sống trung tâm bên trong hình tướng là xung lực chỉ đạo của nó, nguồn năng lượng của nó, nguồn gốc hoạt động của nó, và là cái giữ hình tướng lại với nhau như một sự thống nhất. |
|
This thought can well be worked out in connection with man, for instance. For the purpose of our lecture, man can be defined as that central energy, life, or intelligence, who works through a material manifestation or form, this form being built up of myriads of lesser lives. In this connection a curious phenomenon has been frequently [60] noticed at the time of death; it was brought very specially to my notice some years ago by one of the ablest surgical nurses of India. She had for a long time been an atheist, but had begun to question the ground of her unbelief after several times witnessing this phenomenon. She stated to me that, at the moment of death, in several cases, a flash of light had been seen by her issuing from the top of the head, and that in one particular case (that of a girl of apparently very advanced spiritual development and great purity and holiness of life) the room had appeared to be lit up momentarily by electricity. Again, not long ago, several of the leading members of the medical profession in a large Middle West city were approached by an interested investigator, by letter, and asked if they would be willing to state if they had noted any peculiar phenomena at the moment of death. Several replied by saying that they had observed a bluish light issuing from the top of the head, and one or two added that they had heard a snap in the region of the head. In this last instance we have a corroboration of the statement in Ecclesiastes, where the loosing of the silver cord is mentioned, or the breaking of that magnetic link which unites the indwelling entity or thinker to his vehicle of expression. In both the types of cases above mentioned can apparently be seen an ocular demonstration of the withdrawal [61] of the central light or life, and the consequent disintegration of the form, and the scattering of the myriad lesser lives. |
Tư tưởng này có thể được thực hiện tốt khi liên hệ với con người, chẳng hạn. Vì mục đích của bài giảng này, con người có thể được định nghĩa là năng lượng, sự sống, hay trí tuệ trung tâm đó, kẻ hoạt động thông qua một biểu hiện vật chất hay hình tướng, hình tướng này được xây dựng từ vô số các sự sống nhỏ hơn. Trong mối liên hệ này, một hiện tượng kỳ lạ đã thường xuyên [60] được nhận thấy vào thời điểm cái chết; nó đã được một trong những y tá phẫu thuật giỏi nhất Ấn Độ lưu ý tôi một cách rất đặc biệt cách đây vài năm. Bà đã là một người vô thần trong một thời gian dài, nhưng đã bắt đầu đặt câu hỏi về cơ sở cho sự vô tín của mình sau vài lần chứng kiến hiện tượng này. Bà kể với tôi rằng, vào lúc chết, trong vài trường hợp, bà đã nhìn thấy một tia sáng phát ra từ đỉnh đầu, và trong một trường hợp cụ thể (của một cô gái có sự phát triển tinh thần dường như rất cao và đời sống vô cùng tinh khiết và thánh thiện), căn phòng dường như được thắp sáng nhất thời bằng điện. Một lần nữa, cách đây không lâu, một số thành viên hàng đầu của giới y khoa tại một thành phố lớn ở Trung Tây đã được một nhà điều tra quan tâm tiếp cận, bằng thư, và hỏi liệu họ có sẵn lòng cho biết nếu họ đã ghi nhận bất kỳ hiện tượng kỳ lạ nào vào thời điểm cái chết hay không. Một số người đã trả lời bằng cách nói rằng họ đã quan sát thấy một ánh sáng xanh nhạt phát ra từ đỉnh đầu, và một hoặc hai người nói thêm rằng họ đã nghe thấy một tiếng tách ở vùng đầu. Trong trường hợp cuối cùng này, chúng ta có một sự xác nhận cho tuyên bố trong sách Truyền đạo, nơi việc nới lỏng sợi dây bạc được đề cập đến, hay sự đứt gãy của liên kết từ tính vốn hợp nhất thực thể hay người suy tư nội tại với hiện thể biểu đạt của y. Trong cả hai loại trường hợp được đề cập ở trên, dường như có thể thấy một sự chứng minh bằng mắt về sự rút lui [61] của ánh sáng hay sự sống trung tâm, và sự tan rã sau đó của hình tướng, và sự phân tán của vô số các sự sống nhỏ hơn. |
|
It may therefore seem to some of us a logical hypothesis that just as the atom of chemistry is a tiny sphere, or form, with a positive nucleus, which holds rotating around it the negative electrons, so all forms in all the kingdoms of nature are of a similar structure, differing only in degree of consciousness or intelligence. We can therefore regard the kingdoms themselves as the physical expression of some great subjective life, and can by logical steps come to the recognition that every unit in the human family is an atom in the body of that greater unit who has been called in some of the Scriptures the “Heavenly Man.” Thus we arrive finally at the concept that the solar system is but the aggregate of all kingdoms and all forms, and the Body of a Being Who is expressing Himself through it, and utilising it in order to work out a definite purpose and central idea. In all these extensions of our final hypothesis, the same triplicity can be seen; an informing Life or Entity manifesting through a form, or a multiplicity of forms, and demonstrating discriminative intelligence. |
Do đó, đối với một số người trong chúng ta, dường như là một giả thuyết hợp lý rằng cũng như nguyên tử hóa học là một khối cầu, hay hình tướng nhỏ bé, với một hạt nhân dương, giữ các điện tử âm quay xung quanh nó, thì tất cả các hình tướng trong tất cả các giới của tự nhiên đều có cấu trúc tương tự, chỉ khác nhau về mức độ tâm thức hay trí tuệ. Do đó, chúng ta có thể coi chính các giới là biểu hiện vật lý của một sự sống chủ quan vĩ đại nào đó, và bằng các bước hợp lý có thể đi đến sự công nhận rằng mọi đơn vị trong gia đình nhân loại là một nguyên tử trong cơ thể của đơn vị lớn hơn đó, người đã được gọi trong một số Kinh điển là “Đấng Thiên Nhân”. Như thế, cuối cùng chúng ta đi đến khái niệm rằng hệ mặt trời chỉ là tập hợp của tất cả các giới và tất cả các hình tướng, và là Cơ Thể của một Đấng Đang diễn tả Chính Ngài qua nó, và sử dụng nó để thực hiện một mục đích xác định và ý tưởng trung tâm. Trong tất cả các sự mở rộng này của giả thuyết cuối cùng của chúng ta, cùng một bộ ba có thể được nhìn thấy; một Sự Sống hay Thực Thể phú linh đang biểu hiện qua một hình tướng, hay vô số hình tướng, và thể hiện trí tuệ phân biện. |
|
It is not possible to deal with the method whereby the forms are built up, or to enlarge upon the evolutionary process by means of which atoms [62] are combined into forms, and the forms themselves collected into that greater unity which we call a kingdom in nature. This method might be briefly summed up in three terms—involution, or the involving of the subjective life in matter, the method whereby the indwelling Entity takes to itself its vehicle of expression; evolution, or the utilisation of the form by the subjective life, its gradual perfecting, and the final liberating of the imprisoned life; and the law of attraction and repulsion, whereby matter and spirit are co-ordinated whereby the central life gains experience, expands its consciousness, and, through the use of that particular form attains self-knowledge and self-control. All is carried forward under this basic law. In every form you have a central life, or idea, coming into manifestation, involving itself more and more in substance, clothing itself in a form and shape adequate to its need and requirement, utilising that form as a means of expression, and then—in due course of time—liberating itself from the environing form in order to acquire one more suited to its need. Thus through every grade of form, spirit or life progresses, until the path of return has been traversed and the point of origin achieved. This is the meaning of evolution and here lies the secret of the cosmic incarnation. Eventually spirit frees itself from form, and attains liberation plus developed [63] psychical quality and graded expansions of consciousness. |
Không thể bàn đến phương pháp nhờ đó các hình tướng được xây dựng nên, hoặc mở rộng về quy trình tiến hóa mà nhờ đó các nguyên tử [62] được kết hợp thành các hình tướng, và chính các hình tướng được tập hợp thành sự thống nhất lớn hơn đó mà chúng ta gọi là một giới trong tự nhiên. Phương pháp này có thể được tóm tắt ngắn gọn trong ba thuật ngữ—giáng hạ tiến hóa, hay sự tham nhập của sự sống chủ quan vào vật chất, phương pháp nhờ đó Thực Thể nội tại lấy cho mình hiện thể biểu đạt; tiến hóa, hay sự sử dụng hình tướng bởi sự sống chủ quan, sự hoàn thiện dần dần của nó, và sự giải phóng cuối cùng của sự sống bị giam cầm; và định luật hấp dẫn và đẩy lùi, nhờ đó vật chất và tinh thần được phối hợp, nhờ đó sự sống trung tâm thu được kinh nghiệm, mở rộng tâm thức của nó, và, thông qua việc sử dụng hình tướng cụ thể đó đạt được sự tự biết mình và sự tự chủ. Tất cả được tiến hành dưới định luật cơ bản này. Trong mọi hình tướng, bạn có một sự sống, hay ý tưởng trung tâm, đang đi vào biểu hiện, tự tham nhập ngày càng nhiều vào chất liệu, khoác lấy một hình tướng và hình dáng thích hợp với nhu cầu và yêu cầu của nó, sử dụng hình tướng đó như một phương tiện diễn đạt, và sau đó—trong đúng thời gian—tự giải phóng khỏi hình tướng bao quanh để đạt được một hình tướng phù hợp hơn với nhu cầu của nó. Như thế, qua mọi cấp độ hình tướng, tinh thần hay sự sống tiến bộ, cho đến khi con đường trở về đã được đi qua và điểm xuất phát đạt được. Đây là ý nghĩa của tiến hóa và ở đây nằm bí mật của sự lâm phàm vũ trụ. Cuối cùng tinh thần giải thoát chính nó khỏi hình tướng, và đạt được sự giải phóng cộng với [63] phẩm tính tâm linh đã phát triển và các sự mở rộng tâm thức được phân cấp. |
|
We might look at these definite stages, and study them very cursorily. We have in the first case the process of involution. This is the period in which the limiting of the life within the form or sheath proceeds, and it is a long slow process, covering millions upon millions of years. This great cycle is participated in by every type of life. It concerns the life of the Solar Logos manifesting through a solar system. It is part of the life cycle of the planetary Spirit manifesting through such a sphere as our Earth planet; it includes that life which we call human, and sweeps into the path of its energy the tiny life which functions through an atom of chemistry. It is the great process of becoming, and that which makes existence and being itself possible. This period of limitation, of a gradually increasing imprisonment, and of an ever deeper descent into matter, is succeeded by one of adaptation, in which the life and the form become intimately inter-related, and subsequent to this is the period wherein that inner relation becomes perfected. The form is then adequate to the needs of the life, and can be utilised. Then, as the life within grows and expands, it is paralleled by the crystallisation of the form, which no longer suffices as a means of expression. Following upon crystallisation, we [64] have the period of disintegration. Limitation, adaptation, utilisation, crystallisation, and disintegration,—these are the stages which cover the life of an entity, or embodied idea of greater or less degree, which seeks expression through matter. |
Chúng ta có thể nhìn vào các giai đoạn xác định này, và nghiên cứu chúng một cách rất sơ lược. Trong trường hợp đầu tiên, chúng ta có quy trình giáng hạ tiến hóa. Đây là thời kỳ mà sự giới hạn của sự sống bên trong hình tướng hay vỏ bọc diễn ra, và đó là một quá trình chậm chạp lâu dài, bao trùm hàng triệu triệu năm. Chu kỳ vĩ đại này được tham gia bởi mọi loại sự sống. Nó liên quan đến chu kỳ sự sống của Thái dương Thượng đế biểu hiện qua một hệ mặt trời. Nó là một phần của chu kỳ sự sống của Tinh thần hành tinh biểu hiện qua một khối cầu như hành tinh Trái Đất của chúng ta; nó bao gồm sự sống mà chúng ta gọi là con người, và cuốn vào con đường năng lượng của nó sự sống nhỏ bé hoạt động qua một nguyên tử hóa học. Đó là quy trình vĩ đại của sự trở thành, và là cái làm cho sự tồn tại và bản thể trở nên khả thi. Thời kỳ giới hạn này, của sự giam cầm tăng dần, và của sự đi xuống ngày càng sâu vào vật chất, được nối tiếp bởi một thời kỳ thích nghi, trong đó sự sống và hình tướng trở nên tương quan mật thiết, và sau đó là thời kỳ mà mối quan hệ bên trong đó trở nên hoàn hảo. Khi đó, hình tướng thích hợp với các nhu cầu của sự sống, và có thể được sử dụng. Sau đó, khi sự sống bên trong phát triển và mở rộng, nó được song hành bởi sự kết tinh của hình tướng, vốn không còn đủ như một phương tiện diễn đạt. Tiếp theo sự kết tinh, chúng [64] ta có thời kỳ tan rã. Giới hạn, thích nghi, sử dụng, kết tinh, và tan rã,—đây là các giai đoạn bao trùm cuộc đời của một thực thể, hay ý tưởng hiện thân ở mức độ lớn hơn hay nhỏ hơn, vốn tìm kiếm sự biểu hiện qua vật chất. |
|
Let us carry out this thought in connection with the human being. The process of limitation can be seen in the taking of a physical form, and in those early rebellious days, when a man is full of desires, aspirations, longings and ideals, which he seems unable to express or to satisfy. Then comes the period of adaptation, wherein the man begins to utilise what he has, and to express himself as best he may through the medium of those myriads of lesser lives and intelligences which constitute his physical, his emotional, and his mental bodies. He energises his threefold form, forcing it to carry out his behests and fulfil his purposes, and thus carry out his plan, whether for good or evil. This is succeeded by the stage in which he utilises the form as far as in him lies, and comes to what we call maturity. Finally, in the later stages of life, we have the crystallisation of the form, and the man’s realisation of its inadequacy. Then comes the happy release which we call death, that great moment in which the “spirit in prison” escapes from the confining walls of its physical form. Our ideas about death [65] have been erroneous; we have looked upon it as the great and ultimate terror, whereas in reality it is the great escape, the entrance into a fuller measure of activity, and the release of the life from the crystallised vehicle and an inadequate form. |
Chúng ta hãy thực hiện tư tưởng này trong mối liên hệ với con người. Quy trình giới hạn có thể được nhìn thấy trong việc lấy một hình tướng vật lý, và trong những ngày nổi loạn ban đầu đó, khi một người đầy những dục vọng, khát vọng, mong mỏi và lý tưởng, mà y dường như không thể diễn đạt hay thỏa mãn. Sau đó đến thời kỳ thích nghi, trong đó con người bắt đầu sử dụng những gì y có, và thể hiện bản thân tốt nhất có thể thông qua trung gian của vô số sự sống và trí tuệ nhỏ hơn cấu thành nên các thể xác, thể cảm dục và thể trí của y. Y tiếp sinh lực cho hình tướng tam phân của mình, buộc nó thực hiện các mệnh lệnh của y và hoàn thành các mục đích của y, và do đó thực hiện kế hoạch của y, dù là thiện hay ác. Điều này được nối tiếp bởi giai đoạn trong đó y sử dụng hình tướng đến mức khả năng của y cho phép, và đi đến cái mà chúng ta gọi là sự trưởng thành. Cuối cùng, trong các giai đoạn sau của cuộc đời, chúng ta có sự kết tinh của hình tướng, và sự nhận thức của con người về sự không thỏa đáng của nó. Sau đó đến sự giải thoát hạnh phúc mà chúng ta gọi là cái chết, khoảnh khắc vĩ đại đó trong đó “tinh thần trong ngục tù” thoát khỏi những bức tường giam hãm của hình tướng vật lý của nó. Những ý tưởng của chúng ta về cái chết [65] đã sai lầm; chúng ta đã coi nó như nỗi kinh hoàng tột cùng và lớn nhất, trong khi thực tế nó là sự trốn thoát vĩ đại, sự đi vào một mức độ hoạt động trọn vẹn hơn, và sự giải phóng của sự sống khỏi hiện thể đã kết tinh và một hình tướng không thỏa đáng. |
|
Thoughts similar to these can be worked out in connection with all forms, and not only with those in connection with the physical body of a human being. These ideas can be applied to forms of government, forms of religions, and forms of scientific or philosophical thought. It can be seen working out in a peculiarly interesting manner in this cycle in which we live. Everything is in a state of flux; the old order changeth, and a period of transition is in progress; the old forms, in every department of thought, are disintegrating, but only in order that the life which gave them being may escape, and build for itself that which will be more satisfactory and adequate. Take, for instance, the old religious form of the Christian faith. Here I must warn you not to misunderstand me. I am not trying to prove that the spirit of Christianity is inadequate, and I am not seeking to demonstrate that its well-tried and well-proven truths are erroneous. I am only trying to point out that the form through which that spirit seeks to express itself has somewhat served its purpose, and is proving a limitation. [66] Those same great truths, and those same basic ideas, require a more adequate vehicle through which to function. Christian thinkers at this time need to distinguish very carefully between the vital truths of Christianity and the crystallised form of theology. The living impulse was given by the Christ. He enunciated these great and eternal truths, and sent them forth to take form and meet the need of a suffering world. They were limited by the form, and there came a long period wherein that form (religious dogmas and doctrines) gradually grew and took shape. Centuries ensued wherein the form and the life seemed adapted to each other, and the Christian ideals expressed themselves through the medium of that form. Now the period of crystallisation has set in, and the expanding Christian consciousness is finding the limitations of the theologians inadequate and restricting. The great fabric of dogmas and doctrines, as built up by the churchmen and theologians of the ages, must inevitably disintegrate, but only in order that the life within may escape, build for itself a better and more satisfactory means of expression, and thus measure up to the mission upon which it was sent. |
Những tư tưởng tương tự như thế này có thể được thực hiện trong mối liên hệ với tất cả các hình tướng, và không chỉ với những hình tướng liên quan đến cơ thể vật lý của một con người. Những ý tưởng này có thể được áp dụng cho các hình thức chính phủ, các hình thức tôn giáo, và các hình thức tư tưởng khoa học hay triết học. Nó có thể được thấy đang diễn ra theo một cách thú vị đặc biệt trong chu kỳ mà chúng ta đang sống này. Mọi thứ đang trong trạng thái biến động; trật tự cũ thay đổi, và một thời kỳ chuyển tiếp đang diễn ra; các hình tướng cũ, trong mọi lĩnh vực tư tưởng, đang tan rã, nhưng chỉ để cho sự sống đã mang lại sự hiện hữu cho chúng có thể trốn thoát, và xây dựng cho chính nó cái sẽ thỏa đáng và thích hợp hơn. Ví dụ, hãy lấy hình thức tôn giáo cũ của đức tin Cơ Đốc. Ở đây tôi phải cảnh báo các bạn đừng hiểu lầm tôi. Tôi không cố gắng chứng minh rằng tinh thần của Cơ Đốc giáo là không thỏa đáng, và tôi không tìm cách chứng minh rằng những chân lý đã được thử thách và chứng minh kỹ lưỡng của nó là sai lầm. Tôi chỉ đang cố gắng chỉ ra rằng hình tướng mà qua đó tinh thần đó tìm cách thể hiện chính nó đã phần nào phục vụ mục đích của nó, và đang chứng tỏ là một giới hạn. [66] Cùng những chân lý vĩ đại đó, và cùng những ý tưởng cơ bản đó, đòi hỏi một hiện thể thích hợp hơn để hoạt động qua đó. Các nhà tư tưởng Cơ Đốc giáo vào lúc này cần phân biệt rất cẩn thận giữa những chân lý thiết yếu của Cơ Đốc giáo và hình thức thần học đã kết tinh. Xung lực sống động đã được Đức Christ đưa ra. Ngài đã công bố những chân lý vĩ đại và vĩnh cửu này, và gửi chúng đi để lấy hình tướng và đáp ứng nhu cầu của một thế giới đau khổ. Chúng đã bị giới hạn bởi hình tướng, và đã đến một thời kỳ dài trong đó hình tướng đó (các giáo điều và học thuyết tôn giáo) dần dần phát triển và thành hình. Nhiều thế kỷ tiếp theo trong đó hình tướng và sự sống dường như thích ứng với nhau, và các lý tưởng Cơ Đốc giáo đã thể hiện chính chúng qua trung gian của hình tướng đó. Nay thời kỳ kết tinh đã bắt đầu, và tâm thức Cơ Đốc giáo đang mở rộng đang nhận thấy những giới hạn của các nhà thần học là không thỏa đáng và hạn chế. Cấu trúc vĩ đại của các giáo điều và học thuyết, như được xây dựng bởi các giáo sĩ và nhà thần học của các thời đại, chắc chắn phải tan rã, nhưng chỉ để cho sự sống bên trong có thể thoát ra, xây dựng cho chính nó một phương tiện diễn đạt tốt hơn và thỏa đáng hơn, và do đó đáp ứng được sứ mệnh mà nó đã được phái đi. |
|
In the different schools of thought everywhere the same thing can be seen. All of them are expressing some idea by means of a particular [67] form, or set of forms, and it is very necessary for us to remember that the triple life back of all forms is nevertheless but One, though the vehicles of expression are diverse, and ever prove inadequate as times elapses. |
Trong các trường phái tư tưởng khác nhau ở khắp mọi nơi, điều tương tự có thể được nhìn thấy. Tất cả chúng đang diễn tả một ý tưởng nào đó bằng phương tiện của một [67] hình tướng, hay tập hợp các hình tướng cụ thể, và rất cần thiết cho chúng ta nhớ rằng sự sống tam phân đằng sau tất cả các hình tướng tuy nhiên chỉ là Một, mặc dù các hiện thể biểu đạt là đa dạng, và luôn tỏ ra không thỏa đáng khi thời gian trôi qua. |
|
What, then, is the purpose back of this endless process of form building, and this combining of the lesser forms? What is the reason of it all, and what will prove to be the goal? Surely it is the development of quality, the expansion of the consciousness, the development of the faculty of realisation, the production of the powers of the psyche, or the soul, the evolution of intelligence. Surely it is the gradual demonstration of the basic idea or purpose which that great Entity Whom we call the Logos, or God, is working out through the solar system. It is the demonstration of His psychic quality, for God is intelligent Love, and the fulfilment of His determined purpose, for God is intelligent loving Will. |
Vậy thì, mục đích đằng sau quy trình xây dựng hình tướng bất tận này, và sự kết hợp này của các hình tướng nhỏ hơn là gì? Lý do của tất cả điều đó là gì, và cái gì sẽ chứng tỏ là mục tiêu? Chắc chắn đó là sự phát triển phẩm tính, sự mở rộng của tâm thức, sự phát triển của khả năng chứng nghiệm, sự sản sinh các quyền năng của linh hồn, hay chân ngã, sự tiến hóa của trí tuệ. Chắc chắn đó là sự thể hiện dần dần của ý tưởng hay mục đích cơ bản mà Thực Thể vĩ đại Đó, Đấng mà chúng ta gọi là Logos, hay Thượng đế, đang thực hiện thông qua hệ mặt trời. Đó là sự thể hiện phẩm tính tâm linh của Ngài, vì Thượng đế là Tình thương thông tuệ, và là sự hoàn thành mục đích đã định của Ngài, vì Thượng đế là Ý chí yêu thương thông tuệ. |
|
For all the different grades and types of atoms there is a goal and a purpose also. There is a goal for the atom of chemistry; there is a point of achievement for the human atom, man; the planetary atom will also some day demonstrate its basic purpose, and the great Idea which lies back of the solar system will some day be revealed. Is it possible for us in a few brief moments of study to get a sound conception of what [68] that purpose may be? Perhaps we can get some broad, general idea if we approach the subject with sufficient reverence and sensitiveness of outlook, bearing carefully in mind always that only the ignorant dogmatise, and only the unwise deal in detail when considering these stupendous topics. |
Đối với tất cả các cấp độ và loại nguyên tử khác nhau cũng có một mục tiêu và một mục đích. Có một mục tiêu cho nguyên tử hóa học; có một điểm thành tựu cho nguyên tử nhân loại, con người; nguyên tử hành tinh một ngày nào đó cũng sẽ thể hiện mục đích cơ bản của nó, và Ý tưởng vĩ đại nằm đằng sau hệ mặt trời một ngày nào đó sẽ được mặc khải. Liệu chúng ta có thể trong một vài khoảnh khắc nghiên cứu ngắn ngủi có được một quan niệm đúng đắn về [68] mục đích đó có thể là gì không? Có lẽ chúng ta có thể có được một ý tưởng khái quát, rộng lớn nếu chúng ta tiếp cận chủ đề với sự tôn kính và sự nhạy cảm đầy đủ về quan điểm, luôn ghi nhớ cẩn thận rằng chỉ có kẻ vô minh mới giáo điều, và chỉ có kẻ thiếu khôn ngoan mới đi vào chi tiết khi xem xét những chủ đề vĩ đại này. |
|
We have seen that the atom of chemistry, for instance, demonstrates the quality of intelligence; it shows symptoms of discriminative mind, and the rudiments of selective capacity. Thus the tiny life within the atomic form is demonstrating psychic quality. The atom is then built into all the different forms at varying times and stages, and each time it gains somewhat according to the force and life of the entity who ensouls that form, and preserves its homogeneity. Take, for instance, the atom that goes to the building of a form in the mineral kingdom; it shows not only discriminative selective mind, but elasticity. Then in the vegetable kingdom these two qualities appear, but a third is also found, which we might call sensation of a rudimentary kind. The initial intelligence of the atom has acquired something during the transition from form to form and from kingdom to kingdom. Its responsiveness to contact, and its general awareness have increased. When we come to the study of the evolution of consciousness we can take this up in greater detail; [69] all I am endeavouring to do to-night is to show that in the vegetable kingdom forms built up of atoms show not only discriminative intelligence and elasticity, but also are capable of sensation, or of that which, in the vegetable kingdom, corresponds to emotion or feeling, emotion being but rudimentary love. Next we have the animal kingdom, in which the animal forms show not only all the above qualities, but to them is added instinct, or that which will some day blossom into mentality. Finally, we come to the human being, who shows all these qualities in a far greater degree, for the fourth kingdom is but the macrocosm for the three lower. Man demonstrates intelligent activity, he is capable of emotion or love, and has added yet another factor, that of intelligent will. He is the deity of his own little system; he is not only conscious, but he is self-conscious. He builds his own body of manifestation, just as does the Logos, only on a tiny scale; he controls his little system by the great law of attraction and repulsion, as does the Logos, and he energises it and synthesises his threefold nature into a coherent unit. He is the three in one, and the one in three, just as is the Logos. |
Chúng ta đã thấy rằng nguyên tử hóa học, chẳng hạn, thể hiện phẩm tính trí tuệ; nó cho thấy các triệu chứng của trí tuệ phân biện, và những bước đầu của khả năng chọn lọc. Như vậy, sự sống nhỏ bé bên trong hình tướng nguyên tử đang thể hiện phẩm tính tâm linh. Nguyên tử sau đó được xây dựng vào tất cả các hình tướng khác nhau ở những thời điểm và giai đoạn khác nhau, và mỗi lần nó thu được đôi chút tùy theo mãnh lực và sự sống của thực thể phú linh cho hình tướng đó, và bảo tồn tính đồng nhất của nó. Ví dụ, hãy lấy nguyên tử đi vào việc xây dựng một hình tướng trong giới kim thạch; nó không chỉ cho thấy trí tuệ chọn lọc phân biện, mà còn cả tính đàn hồi. Sau đó trong giới thực vật, hai phẩm tính này xuất hiện, nhưng một phẩm tính thứ ba cũng được tìm thấy, mà chúng ta có thể gọi là cảm giác thuộc loại sơ khai. Trí tuệ ban đầu của nguyên tử đã thu được điều gì đó trong quá trình chuyển tiếp từ hình tướng này sang hình tướng khác và từ giới này sang giới khác. Sự đáp ứng của nó với tiếp xúc, và sự nhận biết chung của nó đã gia tăng. Khi chúng ta đi đến việc nghiên cứu sự tiến hóa của tâm thức, chúng ta có thể đề cập điều này chi tiết hơn; [69] tất cả những gì tôi đang nỗ lực làm tối nay là chỉ ra rằng trong giới thực vật, các hình tướng được xây dựng từ các nguyên tử không chỉ cho thấy trí tuệ phân biện và tính đàn hồi, mà còn có khả năng cảm giác, hay cái mà, trong giới thực vật, tương ứng với xúc cảm hay cảm xúc, xúc cảm chỉ là tình thương sơ khai. Tiếp theo chúng ta có giới động vật, trong đó các hình tướng động vật không chỉ cho thấy tất cả các phẩm tính trên, mà còn được thêm vào bản năng, hay cái một ngày nào đó sẽ nở rộ thành trí năng. Cuối cùng, chúng ta đến với con người, kẻ cho thấy tất cả các phẩm tính này ở mức độ lớn hơn nhiều, vì giới thứ tư chỉ là đại thiên địa cho ba giới thấp hơn. Con người thể hiện hoạt động thông tuệ, y có khả năng xúc cảm hay tình thương, và đã thêm vào một yếu tố khác nữa, đó là ý chí thông tuệ. Y là thượng đế của hệ thống nhỏ bé của riêng y; y không chỉ có ý thức, mà y còn tự ý thức. Y xây dựng cơ thể biểu hiện của riêng mình, giống như Thượng đế làm, chỉ khác là trên quy mô nhỏ bé; y kiểm soát hệ thống nhỏ của mình bằng định luật hấp dẫn và đẩy lùi vĩ đại, giống như Thượng đế, và y tiếp sinh lực cho nó và tổng hợp bản chất tam phân của mình thành một đơn vị gắn kết. Y là ba trong một, và một trong ba, giống như Thượng đế. |
|
There is a future for every atom in the solar system. Before the ultimate atom there lies a tremendous goal, and as the aeons slip away the [70] life that animates that atom will pass through all the varying kingdoms of nature until it finds its goal in the human kingdom. |
Có một tương lai cho mỗi nguyên tử trong hệ mặt trời. Trước nguyên tử tối hậu nằm một mục tiêu to lớn, và khi các thời đại trôi qua, [70] sự sống làm sinh động nguyên tử đó sẽ trải qua tất cả các giới khác nhau của tự nhiên cho đến khi nó tìm thấy mục tiêu của mình trong giới nhân loại. |
|
The idea might now be extended somewhat, and we might consider that great Entity Who is the informing life of the planet, and Who holds all the different kingdoms of nature within His consciousness. May it not be possible that His intelligence, as it informs the totality of all groups and kingdoms, is the goal for man, the human atom? Perhaps as time progresses the scope of his present realisation may also be ours, and for His, as for all those great Lives Who inform the planets of the solar system, there may be the attainment of that tremendous reach of consciousness which characterises that great Existence Who is the ensouling Life of the solar system. May it not be true that among the different grades of consciousness, extending, for instance, from the atom of the chemist and physicist, up to the Logos of the solar system, there are no gaps, and no abrupt transitions, but there is ever a gradual expansion and a gradual evolution from one form of intelligent manifestation to another, and always the life within the form gains in quality by means of the experience. |
Ý tưởng bây giờ có thể được mở rộng đôi chút, và chúng ta có thể xem xét Thực Thể vĩ đại Đó, Đấng là sự sống thấm nhuần của hành tinh, và Đấng nắm giữ tất cả các giới khác nhau của tự nhiên bên trong tâm thức của Ngài. Liệu có thể không khả thi rằng trí tuệ của Ngài, khi nó thấm nhuần tổng thể của tất cả các nhóm và các giới, là mục tiêu cho con người, nguyên tử nhân loại? Có lẽ khi thời gian tiến triển, phạm vi chứng nghiệm hiện tại của ngài cũng có thể là của chúng ta, và đối với Ngài, cũng như đối với tất cả các Sự Sống vĩ đại Đó, Những Đấng thấm nhuần các hành tinh của hệ mặt trời, có thể có sự đạt được tầm vươn tới to lớn đó của tâm thức vốn đặc trưng cho Sự Hiện Tồn vĩ đại Đó, Đấng là Sự Sống phú linh của hệ mặt trời. Liệu có thể không đúng rằng giữa các cấp độ tâm thức khác nhau, trải dài, chẳng hạn, từ nguyên tử của nhà hóa học và vật lý học, lên đến Logos của hệ mặt trời, không có khoảng cách, và không có những sự chuyển tiếp đột ngột, mà luôn có một sự mở rộng dần dần và một sự tiến hóa dần dần từ một hình thức biểu hiện thông tuệ sang hình thức khác, và sự sống bên trong hình tướng luôn đạt được phẩm tính nhờ vào kinh nghiệm. |
|
When we have built this idea into our consciousness, when it is apparent to us that there is purpose and direction underlying everything, [71] when we realise that not a single thing occurs that is not the outcome of the conscious will of some entity, and that all that happens has a definite aim and goal, then we have the clue to ourselves, and to all that we see happening around us in the world. If, for instance, we realise that we have the building up and care of our physical bodies, that we have the control of our emotional nature, and the responsibility for the development of our mentality, if we realise that we are the energising factors within our bodies, and that when we withdraw from those bodies they disintegrate and fall to pieces; then perhaps we have the clue to what the informing Life of the planet may be doing, as he works through forms of every kind (continents, civilisations, religions, and organisations) upon this earth; to what has gone on in the moon, which is now a disintegrating form, to what is going on in the solar system, and to what will happen in the solar system when the Logos withdraws from that which is, for Him, but a temporary manifestation. |
Khi chúng ta đã xây dựng ý tưởng này vào tâm thức của mình, khi chúng ta thấy rõ rằng có mục đích và sự định hướng nằm dưới mọi thứ, [71] khi chúng ta nhận ra rằng không một điều gì xảy ra mà không phải là kết quả của ý chí có ý thức của một thực thể nào đó, và rằng tất cả những gì xảy ra đều có một mục đích và mục tiêu xác định, thì chúng ta có manh mối về chính mình, và về tất cả những gì chúng ta thấy đang xảy ra xung quanh mình trên thế giới. Ví dụ, nếu chúng ta nhận ra rằng chúng ta có việc xây dựng và chăm sóc cơ thể vật lý của mình, rằng chúng ta có sự kiểm soát bản chất cảm xúc của mình, và trách nhiệm đối với sự phát triển trí năng của mình, nếu chúng ta nhận ra rằng chúng ta là các nhân tố tiếp sinh lực bên trong cơ thể mình, và rằng khi chúng ta rút lui khỏi các cơ thể đó, chúng tan rã và sụp đổ; thì có lẽ chúng ta có manh mối về những gì Sự Sống thấm nhuần của hành tinh có thể đang làm, khi ngài hoạt động qua các hình tướng thuộc mọi loại (các lục địa, các nền văn minh, các tôn giáo, và các tổ chức) trên trái đất này; về những gì đã diễn ra trên mặt trăng, vốn hiện là một hình tướng đang tan rã, về những gì đang diễn ra trong hệ mặt trời, và về những gì sẽ xảy ra trong hệ mặt trời khi Logos rút lui khỏi cái, đối với Ngài, chỉ là một biểu hiện tạm thời. |
|
Let us now make practical application of these thoughts. We are living at this time in a period in which all the forms of thought seem breaking up, in which the religious life of the peoples is no longer what it was, in which dogma and doctrine of every kind come under criticism. Many of the [72] old forms of scientific thought are likewise disintegrating, and the foundations of the old philosophies seem to be shaken. Our lot is cast in one of the most difficult periods of the world’s history, a period which is characterised by the breaking up of nations, the smashing of old relationships and ties, and the apparently imminent disruption of civilisation. We need to encourage ourselves by remembering that all this is occurring just because the life within those forms is becoming so strong that it finds them a prison and a limitation; and we must recollect that this transition period is the time of the greatest promise that the world has ever seen. There is no room for pessimism and despair, but only for the profoundest optimism. Many to-day are upset and distraught because the foundations seem to be shaken, the carefully reared and deeply cherished structures of religious thought and belief, and of philosophical finding seem in danger of falling, yet our anxiety exists simply because we have been too much engrossed with the form, and too much occupied with our prison, and if disruption has set in, it is only in order that the life may build for itself new forms and thereby evolve. The work of the destroyer is as much the work of God as that of the constructor, and the great god of destruction has to smash and rend the forms in order that the work of the builder may [73] become possible, and the spirit able more adequately to express itself. |
Bây giờ chúng ta hãy áp dụng thực tế những tư tưởng này. Chúng ta đang sống vào lúc này trong một thời kỳ mà tất cả các hình tướng tư tưởng dường như đang tan vỡ, trong đó đời sống tôn giáo của các dân tộc không còn như trước nữa, trong đó giáo điều và học thuyết thuộc mọi loại đều bị chỉ trích. Nhiều [72] hình thức tư tưởng khoa học cũ cũng đang tan rã tương tự, và nền tảng của các triết học cũ dường như bị lung lay. Số phận của chúng ta được đặt vào một trong những thời kỳ khó khăn nhất của lịch sử thế giới, một thời kỳ được đặc trưng bởi sự tan vỡ của các quốc gia, sự đập tan các mối quan hệ và ràng buộc cũ, và sự gián đoạn dường như sắp xảy ra của nền văn minh. Chúng ta cần tự khuyến khích mình bằng cách nhớ rằng tất cả điều này đang xảy ra chỉ vì sự sống bên trong các hình tướng đó đang trở nên mạnh mẽ đến mức nó thấy chúng là một nhà tù và một giới hạn; và chúng ta phải nhớ lại rằng thời kỳ chuyển tiếp này là thời gian của hứa hẹn lớn nhất mà thế giới từng thấy. Không có chỗ cho sự bi quan và tuyệt vọng, mà chỉ cho sự lạc quan sâu sắc nhất. Nhiều người ngày nay đang buồn bã và quẫn trí vì các nền tảng dường như bị lung lay, các cấu trúc tư tưởng và niềm tin tôn giáo, và của sự tìm kiếm triết học được dựng lên cẩn thận và được trân trọng sâu sắc dường như có nguy cơ sụp đổ, tuy nhiên sự lo lắng của chúng ta tồn tại đơn giản vì chúng ta đã quá mải mê với hình tướng, và quá bận tâm với nhà tù của mình, và nếu sự gián đoạn đã bắt đầu, thì chỉ là để cho sự sống có thể xây dựng cho chính nó những hình tướng mới và do đó tiến hóa. Công việc của kẻ hủy diệt cũng là công việc của Thượng đế nhiều như công việc của người xây dựng, và vị thần hủy diệt vĩ đại phải đập tan và xé nát các hình tướng để công việc của đấng kiến tạo có thể [73] trở nên khả thi, và tinh thần có thể tự diễn tả một cách thích hợp hơn. |
|
To many of us these ideas may seem novel, fantastic, and untenable. Yet even if they are only hypotheses, they may prove interesting and give us a possible clue to the mystery. We see civilisations disrupted, we see the religious fabrics tottering, we see philosophies successfully attacked, we see the foundations of material science shaken. Yet, after all, what are civilisations? What are the religions? What are the great races? Simply the forms through which the great threefold central Life, Who informs our planet, seeks to express Himself. Just as we express ourselves through the medium of a physical, an emotional, and a mental nature, so He expresses Himself through the totality of the kingdoms of nature, and through the nations, races, religions, sciences, and philosophies, in existence at this time. As His life pulsates through every department of His being, we as cells and atoms within that greater manifestation follow each transition, and are swept along from one stage to another. As time progresses, and our consciousness expands, we shall enter more and more into a knowledge of His plan as He is working it out, and shall eventually be in a position to collaborate with Him in His essential purpose. |
Đối với nhiều người trong chúng ta, những ý tưởng này có thể có vẻ mới lạ, kỳ quái, và không thể bảo vệ được. Tuy nhiên, ngay cả khi chúng chỉ là giả thuyết, chúng có thể chứng tỏ là thú vị và cho chúng ta một manh mối khả dĩ về bí nhiệm. Chúng ta thấy các nền văn minh bị gián đoạn, chúng ta thấy các cấu trúc tôn giáo đang lung lay, chúng ta thấy các triết học bị tấn công thành công, chúng ta thấy nền tảng của khoa học vật chất bị chấn động. Tuy nhiên, rốt cuộc, các nền văn minh là gì? Các tôn giáo là gì? Các giống dân lớn là gì? Đơn giản là các hình tướng mà qua đó Sự Sống trung tâm tam phân vĩ đại, Đấng thấm nhuần hành tinh chúng ta, tìm cách diễn tả Chính Ngài. Cũng như chúng ta diễn tả chính mình qua trung gian của một bản chất vật lý, cảm xúc và trí tuệ, thì Ngài cũng diễn tả Chính Ngài qua tổng thể của các giới trong tự nhiên, và qua các quốc gia, giống dân, tôn giáo, khoa học và triết học, đang tồn tại vào lúc này. Khi sự sống của Ngài đập qua mọi bộ phận trong bản thể của Ngài, chúng ta như những tế bào và nguyên tử bên trong biểu hiện lớn hơn đó tuân theo từng sự chuyển tiếp, và bị cuốn theo từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Khi thời gian tiến triển, và tâm thức của chúng ta mở rộng, chúng ta sẽ ngày càng đi vào một sự hiểu biết về kế hoạch của Ngài khi Ngài đang thực hiện nó, và cuối cùng sẽ ở vào vị thế để cộng tác với Ngài trong mục đích cốt yếu của Ngài. |
|
[74] |
[74] |
|
To sum up the central thought of this lecture: Let us endeavour to realise that there is no such thing as inorganic matter, but that every atom is a life. Let us realise that all forms are living forms, and that each is but the vehicle of expression for some indwelling entity. Let us seek to comprehend that this is likewise true of the aggregate of all forms. Thus we have the clue to ourselves, and perhaps the clue to the mystery of the solar system. |
Để tóm tắt tư tưởng trung tâm của bài giảng này: Chúng ta hãy nỗ lực nhận ra rằng không có cái gọi là vật chất vô cơ, mà mọi nguyên tử là một sự sống. Chúng ta hãy nhận ra rằng tất cả các hình tướng là những hình tướng sống, và mỗi hình tướng chỉ là hiện thể biểu đạt cho một thực thể nội tại nào đó. Chúng ta hãy tìm cách thấu hiểu rằng điều này cũng đúng với tập hợp của tất cả các hình tướng. Như vậy chúng ta có manh mối về chính mình, và có lẽ manh mối về bí nhiệm của hệ mặt trời. |
LECTURE IV—BÀI GIẢNG IV
THE EVOLUTION OF MAN, THE THINKER—SỰ TIẾN HÓA CỦA CON NGƯỜI, NGƯỜI SUY TƯ
|
[77] |
[77] |
|
THIS is the fourth in the series of talks which we have had the past month, and perhaps by means of them we have been able to get an idea of one of the fundamental principles which underlie evolution, and which can be seen working out in the solar system. |
ĐÂY là bài thứ tư trong loạt các cuộc nói chuyện mà chúng ta đã có trong tháng qua, và có lẽ nhờ chúng mà chúng ta đã có thể có được một ý tưởng về một trong những nguyên lý cơ bản làm nền tảng cho sự tiến hóa, và có thể được nhìn thấy đang hoạt động trong hệ mặt trời. |
|
Let us first briefly recapitulate, in order that we may approach our subject to-night with certain ideas clearly formulated. We have seen that our interpretation of the processes of nature necessitates a threefold concept, which concerns itself with the life aspect, with the substance aspect, and with their close interrelation through the faculty of intelligence manifesting as consciousness of some kind or other. This interrelation will produce, finally, the perfected expression (through the medium of matter) of the conscious purpose of some indwelling entity. I seek to emphasise the fact that the goal of my endeavour is to put before you a hypothesis and a suggestion which may have within it the germ of a possible [78] truth, and which seems to some of us the clearest way of explaining the mystery of the universe. We have seen that the three parts of the one great whole are Spirit, or Life, manifesting through a second factor which we call substance or matter, and utilising a third factor, which we call the intelligence. In the gradual synthesis of these three component aspects of deity can be seen the evolution of consciousness. |
Trước tiên, chúng ta hãy tóm tắt ngắn gọn, để chúng ta có thể tiếp cận chủ đề của mình tối nay với những ý tưởng nhất định được hình thành rõ ràng. Chúng ta đã thấy rằng sự diễn giải của chúng ta về các quá trình của tự nhiên đòi hỏi một khái niệm tam phân, vốn liên quan đến phương diện sự sống, phương diện chất liệu, và mối tương quan chặt chẽ của chúng thông qua khả năng trí tuệ biểu hiện dưới dạng tâm thức thuộc loại này hay loại khác. Mối tương quan này cuối cùng sẽ tạo ra sự biểu hiện hoàn hảo (thông qua trung gian của vật chất) của mục đích có ý thức của một thực thể nội tại nào đó. Tôi tìm cách nhấn mạnh thực tế rằng mục tiêu của nỗ lực của tôi là đặt trước các bạn một giả thuyết và một gợi ý vốn có thể có bên trong nó mầm mống của một [78] chân lý khả dĩ, và dường như đối với một số người trong chúng ta là cách rõ ràng nhất để giải thích bí nhiệm của vũ trụ. Chúng ta đã thấy rằng ba phần của một tổng thể vĩ đại là Tinh thần, hay Sự Sống, biểu hiện qua một yếu tố thứ hai mà chúng ta gọi là chất liệu hay vật chất, và sử dụng một yếu tố thứ ba, mà chúng ta gọi là trí tuệ. Trong sự tổng hợp dần dần của ba phương diện cấu thành này của thượng đế, có thể thấy sự tiến hóa của tâm thức. |
|
We next arrived at a more technical discussion of the subject of substance itself, dealing not with the differentiated substances or elements, but with the concept of a primordial substance, and endeavouring to get back as far as possible toward that which has been called by Sir William Crookes “protyle,” or that which lies back of the tangible, or objective. We considered the atom, and found that its latest definition was that it was in reality a unit of force or energy consisting of a positive charge of electricity energising a number of negative particles. It became apparent to us that the tiny atom of the chemist and the physicist was within itself a solar system, with the same general conformation as the greater system, demonstrating a similar activity and governed by analogous laws. We found that it had a central sun, and that around this central sun, pursuing their definite orbits, might be seen the electrons. We noted, also, the fact that the elements differ [79] only according to the number and the arrangement of these electrons around the central positive charge. From this we passed on to the consideration of the soul, or the psyche, of the atom, and found that scientists recognise the truth that atoms themselves possess quality, show symptoms of mind or intelligence, and can discriminate, select, and choose. |
Tiếp theo chúng ta đã đi đến một cuộc thảo luận chuyên môn hơn về chủ đề của chính chất liệu, không đề cập đến các chất liệu hay nguyên tố đã biệt phân, mà với khái niệm về một chất liệu nguyên thủy, và nỗ lực quay trở lại càng xa càng tốt về phía cái đã được Sir William Crookes gọi là “protyle”, hay cái nằm đằng sau cái hữu hình, hay khách quan. Chúng ta đã xem xét nguyên tử, và thấy rằng định nghĩa mới nhất của nó là nó thực tế là một đơn vị lực hay năng lượng bao gồm một điện tích dương làm sinh động một số hạt âm. Đã trở nên rõ ràng với chúng ta rằng nguyên tử nhỏ bé của nhà hóa học và nhà vật lý tự bên trong nó là một hệ mặt trời, với cùng cấu tạo chung như hệ thống lớn hơn, thể hiện một hoạt động tương tự và bị chi phối bởi các quy luật tương tự. Chúng ta thấy rằng nó có một mặt trời trung tâm, và xung quanh mặt trời trung tâm này, theo đuổi các quỹ đạo xác định của chúng, có thể thấy các điện tử. Chúng ta cũng lưu ý thực tế rằng các nguyên tố chỉ khác nhau [79] tùy theo số lượng và sự sắp xếp của các điện tử này xung quanh điện tích dương trung tâm. Từ đây, chúng ta chuyển sang việc xem xét linh hồn, hay tâm hồn của nguyên tử, và thấy rằng các nhà khoa học công nhận chân lý rằng chính các nguyên tử sở hữu phẩm tính, cho thấy các triệu chứng của tâm trí hay trí tuệ, và có thể phân biện, chọn lọc, và lựa chọn. |
|
We then proceeded to weave what appeared to be a fairy tale. We pictured the human being as an atom, and traced the resemblance of man to an atom; we found that he attracted and held within his sphere of influence the matter of his various bodies, mental, emotional, and physical, in exactly the same way as the electrons were held revolving around their central focal point. The idea proved capable of still further expansion, and we turned our attention to the planet, picturing it as similar in its nature to the human atom, and to the ultimate atom of substance, being but the expression of a life manifesting through a spheroidal form and working out an intelligent purpose. Then we reached our consummation, and viewed the solar system as a cosmic atom, energised by the life of the Logos. |
Sau đó chúng ta đã tiến hành dệt nên cái có vẻ là một câu chuyện cổ tích. Chúng ta hình dung con người như một nguyên tử, và truy nguyên sự tương đồng của con người với một nguyên tử; chúng ta thấy rằng y thu hút và giữ trong phạm vi ảnh hưởng của mình vật chất của các thể khác nhau của y, thể trí, thể cảm dục, và thể xác, theo cách chính xác như các điện tử được giữ quay quanh tiêu điểm trung tâm của chúng. Ý tưởng đã chứng tỏ có khả năng mở rộng xa hơn nữa, và chúng ta đã chuyển sự chú ý sang hành tinh, hình dung nó tương tự trong bản chất của nó với nguyên tử nhân loại, và với nguyên tử vật chất tối hậu, chỉ là sự biểu hiện của một sự sống đang biểu hiện qua một hình thể khối cầu và thực hiện một mục đích thông tuệ. Sau đó, chúng ta đạt đến sự viên mãn của mình, và xem hệ mặt trời như một nguyên tử vũ trụ, được tiếp sinh lực bởi sự sống của Logos. |
|
We have, therefore, under consideration, four kinds of atoms: |
Do đó, chúng ta đang xem xét bốn loại nguyên tử: |
|
First, the atom of the chemist and physicist. |
Thứ nhất, nguyên tử của nhà hóa học và vật lý học. |
|
Secondly, the human atom, or man. |
Thứ hai, nguyên tử nhân loại, hay con người. |
|
[80] Thirdly, the planetary atom, energised by a planetary Logos, or the Heavenly Man. |
[80] Thứ ba, nguyên tử hành tinh, được tiếp sinh lực bởi một Hành Tinh Thượng đế, hay Đấng Thiên Nhân. |
|
Fourthly, the solar atom, indwelt by the solar Logos, or the Deity. |
Thứ tư, nguyên tử thái dương, được ngự bởi Thái dương Thượng đế, hay Thượng đế. |
|
If we are right in our fundamental concept, if there is a grain of reality in our hypothesis, and if there is a substratum of truth in our idea of the atom from which the elements are compounded, it is to be recognised as a life working intelligently through the medium of a form. Then it can perhaps be proven that man is equally a life or centre of energy, manifesting through his bodies; then it can perhaps be demonstrated that a planet is also the medium of expression of a still greater centre of energy, and further, under the law of analogy, it may perhaps be proven at some distant time that there is a God or central life back of material nature, and an Entity Who functions consciously through the solar system. |
Nếu chúng ta đúng trong khái niệm nền tảng của mình, nếu có một hạt thực tế trong giả thuyết của chúng ta, và nếu có một cơ sở chân lý trong ý tưởng của chúng ta về nguyên tử mà từ đó các nguyên tố được cấu thành, nó phải được công nhận là một sự sống đang hoạt động một cách thông tuệ thông qua trung gian của một hình tướng. Thế thì có lẽ có thể được chứng minh rằng con người cũng là một sự sống hay trung tâm năng lượng, đang biểu hiện qua các cơ thể của y; thế thì có lẽ có thể được chứng minh rằng một hành tinh cũng là phương tiện biểu đạt của một trung tâm năng lượng lớn hơn nữa, và xa hơn, theo định luật tương đồng, có lẽ có thể được chứng minh vào một thời điểm xa xôi nào đó rằng có một Thượng đế hay sự sống trung tâm đằng sau tự nhiên vật chất, và một Thực Thể hoạt động một cách có ý thức thông qua hệ mặt trời. |
|
At our last lecture we took up another phase of manifestation. We studied the atom itself, and considered it as it entered into relationship with other atoms, and through their mutual coherence formed groups or congeries of atoms. In other words, we considered the atom as it was built into the different forms in the various kingdoms of nature, and found that, in the process of evolution atoms themselves gravitate towards other and greater central points, becoming in their turn [81] electrons. Thus, every form is but an aggregate of smaller lives. |
Tại bài giảng trước, chúng ta đã đề cập một giai đoạn biểu hiện khác. Chúng ta đã nghiên cứu chính nguyên tử, và xem xét nó khi nó đi vào mối quan hệ với các nguyên tử khác, và thông qua sự kết dính lẫn nhau của chúng đã hình thành nên các nhóm hay khối kết tập các nguyên tử. Nói cách khác, chúng ta đã xem xét nguyên tử khi nó được xây dựng vào các hình tướng khác nhau trong các giới khác nhau của tự nhiên, và thấy rằng, trong quá trình tiến hóa, chính các nguyên tử hướng về các điểm trung tâm khác và lớn hơn, đến lượt chúng trở thành [81] các điện tử. Do đó, mọi hình tướng chỉ là một tập hợp của các sự sống nhỏ hơn. |
|
Very briefly then we touched upon the different kingdoms of nature, and traced the development of the soul or the psyche in all of them. Of the atom we have already predicated intelligence, or discriminative power, and we found that in the building up of forms in the mineral, vegetable, and animal kingdoms what we understand as sensation begins to appear, and we then have the rudiments of embryonic emotion, or feeling—the physical plane reflection of love. Thus we have one aspect of the threefold nature of God, intelligence demonstrating through the atom; and through the form we have the love, or attractive quality manifesting. This can also be expressed in the recognition that in these two aspects of the central divine life you have the third person of the Logoic Trinity co-operating with the second; you have the intelligent activity of divinity, or the Holy Spirit aspect, working in connection with the second aspect, or the Son, Who is the builder of forms. This is brought out in an interesting manner in Proverbs viii. where Wisdom cries aloud (Wisdom in the Old Testament representing the Christ aspect), and after pointing out that He was with God before ever there was creation, goes on to say that when “He appointed the foundations of the earth, then I [82] was by Him as the master worker or builder.” Students would do well to study this chapter in connection with the ideas that we are here formulating, being careful to ascertain the exact translation. |
Sau đó, rất ngắn gọn, chúng ta đã chạm đến các giới khác nhau của tự nhiên, và truy nguyên sự phát triển của linh hồn hay tâm hồn trong tất cả chúng. Về nguyên tử, chúng ta đã khẳng định trí tuệ, hay quyền năng phân biện, và chúng ta thấy rằng trong việc xây dựng các hình tướng trong giới kim thạch, thực vật và động vật, cái mà chúng ta hiểu là cảm giác bắt đầu xuất hiện, và sau đó chúng ta có những bước đầu của cảm xúc phôi thai, hay cảm giác—sự phản chiếu trên cõi hồng trần của tình thương. Do đó chúng ta có một phương diện của bản chất tam phân của Thượng đế, trí tuệ thể hiện qua nguyên tử; và qua hình tướng chúng ta có tình thương, hay phẩm tính thu hút đang biểu hiện. Điều này cũng có thể được diễn đạt trong sự công nhận rằng trong hai phương diện này của sự sống thiêng liêng trung tâm, bạn có ngôi thứ ba của Tam Vị Thượng Đế đang hợp tác với ngôi thứ hai; bạn có trí tuệ hoạt động của thiên tính, hay phương diện Chúa Thánh Thần, đang làm việc liên quan với phương diện thứ hai, hay Con, Đấng là người xây dựng các hình tướng. Điều này được đưa ra theo một cách thú vị trong Châm ngôn chương 8, nơi Minh triết kêu lớn (Minh triết trong Cựu Ước đại diện cho phương diện Christ), và sau khi chỉ ra rằng Ngài đã ở cùng Thượng đế trước khi có sự sáng tạo, tiếp tục nói rằng khi “Ngài lập nền móng của trái đất, thì ta [82] đã ở bên Ngài như thợ cả hay người xây dựng.” Các đạo sinh nên nghiên cứu kỹ chương này liên quan đến các ý tưởng mà chúng ta đang hình thành ở đây, cẩn thận xác định bản dịch chính xác. |
|
We now come to the consideration of our subject for to-night, that of the evolution of man, the thinker. We shall see that in man comes in another aspect of divinity. Browning, in “Paracelsus,” covers the subject that we have been considering in a most interesting manner, summing it up as follows:— |
Bây giờ chúng ta đi đến việc xem xét chủ đề của chúng ta tối nay, chủ đề về sự tiến hóa của con người, người suy tư. Chúng ta sẽ thấy rằng ở con người xuất hiện một phương diện khác của thiên tính. Browning, trong tác phẩm “Paracelsus”, bao quát chủ đề mà chúng ta đang xem xét theo một cách thú vị nhất, tóm tắt nó như sau:— |
|
“Thus He (God) dwells in all, |
“Như thế Ngài (Thượng đế) ngự trong tất cả, |
|
From life’s minute beginnings up at last |
Từ những khởi đầu nhỏ bé của sự sống lên đến cuối cùng |
|
To man—the consummation of this scheme |
Là con người—sự viên mãn của hệ thống này |
|
Of being, the completion of this sphere |
Của bản thể, sự hoàn thành của khối cầu này |
|
Of life: whose attributes had here and there |
Của sự sống: mà các thuộc tính đã rải rác đây đó |
|
Been scattered o’er the visible world before, |
Trên khắp thế giới hữu hình trước kia, |
|
Asking to be combined, dim fragments meant |
Đòi hỏi được kết hợp, những mảnh mờ nhạt có nghĩa |
|
To be united in some wondrous whole, |
Được hợp nhất trong một tổng thể kỳ diệu nào đó, |
|
Imperfect qualities throughout creation, |
Những phẩm chất không hoàn hảo trong khắp tạo vật, |
|
Suggesting some one creature yet to make, |
Gợi ý về một sinh vật nào đó chưa được tạo ra, |
|
Some point where all those scattered rays should meet |
Một điểm nào đó nơi tất cả các tia rải rác đó nên gặp gỡ |
|
Convergent in the faculties of man.” |
Hội tụ trong các năng khiếu của con người.” |
|
Having, therefore, discovered two aspects of divinity in the atom and in the form, we shall find the triplicity perfected in man. We have been told that man is made in the image of God, and we would therefore expect to see him reflecting [83] the threefold nature of the Logos. He must demonstrate intelligence, he must show forth love, and he must manifest will. Let us consider some of the definitions of man as found in the dictionary and elsewhere. The definition found in the Standard Dictionary is a profoundly uninteresting one, and is as follows: Man is “an individual of the human race,” and then follows a long list of suggestive derivations of the word man, running through every known tongue, and concluding with the statement that many of them are improbable. That derivation which ascribes the definition of man to the Sanskrit root ‘man,’ the one who thinks, is to my mind the most satisfying. Mrs. Besant, in one of her books, gives an exceptionally clear definition as follows: “Man is that being in whom highest spirit and lowest matter are linked together by intelligence.” Man is here pictured as the meeting place for all the three lines of evolution, spirit, matter, and linking intellect; he is shown to be the one who unifies the self, the not-self, and the relation between them, and he is seen to be the knower, that which is known, and knowledge. What is the purpose of the intellect, or of knowledge? Surely its purpose is to adapt the material form to the need and requirements of the indwelling spirit, surely it is to enable the thinker within the body to utilise it intelligently, and for some definite purpose; and surely it exists [84] in order that the central energising unit may constructively control its negative aspect. We are all of us entities, ensouling a form, and through the intelligence endeavouring to utilise that form for a specific purpose which exists within the conscious will of the true self. |
Do đó, sau khi đã khám phá hai phương diện của thiên tính trong nguyên tử và trong hình tướng, chúng ta sẽ thấy bộ ba được hoàn thiện trong con người. Chúng ta đã được bảo rằng con người được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế, và do đó chúng ta mong đợi thấy y phản chiếu [83] bản chất tam phân của Logos. Y phải thể hiện trí tuệ, y phải cho thấy tình thương, và y phải biểu lộ ý chí. Chúng ta hãy xem xét một số định nghĩa về con người như được tìm thấy trong từ điển và những nơi khác. Định nghĩa tìm thấy trong Từ điển Standard là một định nghĩa vô cùng tẻ nhạt, và như sau: Con người là “một cá thể của chủng tộc loài người,” và sau đó là một danh sách dài các nguồn gốc gợi ý của từ man, chạy qua mọi ngôn ngữ đã biết, và kết luận với tuyên bố rằng nhiều trong số đó là không chắc chắn. Nguồn gốc gán định nghĩa về con người cho gốc từ Phạn ngữ ‘man’, người suy nghĩ, đối với tôi là thỏa đáng nhất. Bà Besant, trong một cuốn sách của mình, đưa ra một định nghĩa đặc biệt rõ ràng như sau: “Con người là sinh vật đó trong đó tinh thần cao nhất và vật chất thấp nhất được liên kết với nhau bởi trí tuệ.” Ở đây, con người được mô tả như nơi gặp gỡ của cả ba dòng tiến hóa, tinh thần, vật chất, và trí năng liên kết; y được cho thấy là người hợp nhất cái ngã, cái phi ngã, và mối quan hệ giữa chúng, và y được xem là người biết, cái được biết, và kiến thức. Mục đích của trí năng, hay của kiến thức là gì? Chắc chắn mục đích của nó là làm cho hình tướng vật chất thích nghi với nhu cầu và yêu cầu của tinh thần nội tại, chắc chắn là để cho phép người suy tư bên trong cơ thể sử dụng nó một cách thông tuệ, và cho một mục đích xác định nào đó; và chắc chắn nó tồn tại [84] để đơn vị tiếp sinh lực trung tâm có thể kiểm soát một cách xây dựng phương diện tiêu cực của nó. Tất cả chúng ta là các thực thể, đang phú linh cho một hình tướng, và thông qua trí tuệ đang nỗ lực sử dụng hình tướng đó cho một mục đích cụ thể vốn tồn tại bên trong ý chí có ý thức của chân ngã thực sự. |
|
In a very old occult book—so old that the date of it cannot be ascertained—can be found a definition of man which is very illuminating, and in line with the thought that we are seeking to develop to-night. Man is there defined as “the Life and the lives.” We have seen that the atom is a life, manifesting by means of the little sphere of which it is the centre. We have seen that all forms are an aggregate of lives, built up into the mineral, vegetable, and animal kingdoms. Now we can pass to the next stage on this great ladder of evolution, and we will then find that the human being is the logical sequence that grows out of all these earlier developments. First, the primordial stuff, essentially intelligent energy; next, atomic matter, in all its varying activity forming the elemental combination; then the form, the aggregate of these atoms, up to the dweller within the form, who is not only active intelligence, not only inherent attraction and love, but is also a purposeful will. This “dweller within” took possession of the form when it had reached a certain stage of preparedness, and when the component [85] lives had reached a certain vibratory capacity; he is now utilising it, and repeating, within his own sphere of influence, the work of the atom of matter; he demonstrates, nevertheless, not in one way, nor in two, but in three. In man, therefore, in deed and in truth, you have what the Christian would term the “image of God.” For, as must be apparent to all thinkers, the only way in which we can know God is through the study of His nature, or His psychic quality. We know that God is intelligence, we know that He is love, or the great attractive force of the solar system, and we know that He is the great will or purpose back of all manifestation. In every Scripture in the world the Deity is pictured under these three aspects, and manifests through nature in this triple manner. |
Trong một cuốn sách huyền bí rất cổ—cổ đến nỗi ngày tháng của nó không thể xác định được—có thể tìm thấy một định nghĩa về con người rất soi sáng, và phù hợp với tư tưởng mà chúng ta đang tìm cách phát triển tối nay. Ở đó, con người được định nghĩa là “Sự Sống và các sự sống”. Chúng ta đã thấy rằng nguyên tử là một sự sống, biểu hiện bằng các phương tiện của khối cầu nhỏ mà nó là trung tâm. Chúng ta đã thấy rằng tất cả các hình tướng là một tập hợp của các sự sống, được xây dựng thành các giới kim thạch, thực vật và động vật. Bây giờ chúng ta có thể chuyển sang giai đoạn tiếp theo trên chiếc thang tiến hóa vĩ đại này, và chúng ta sẽ thấy rằng con người là kết quả hợp lý phát triển từ tất cả các sự phát triển trước đó. Đầu tiên, chất liệu nguyên thủy, về cơ bản là năng lượng thông tuệ; tiếp theo, vật chất nguyên tử, trong tất cả hoạt động biến đổi của nó hình thành nên sự kết hợp hành khí; sau đó là hình tướng, tập hợp của các nguyên tử này, lên đến người ngự bên trong hình tướng, kẻ không chỉ là trí tuệ hoạt động, không chỉ là sự thu hút và tình thương vốn có, mà còn là một ý chí có mục đích. “Người ngự bên trong” này đã chiếm hữu hình tướng khi nó đạt đến một giai đoạn sẵn sàng nhất định, và khi các sự sống [85] cấu thành đã đạt đến một khả năng rung động nhất định; y hiện đang sử dụng nó, và lặp lại, bên trong phạm vi ảnh hưởng của riêng mình, công việc của nguyên tử vật chất; tuy nhiên, y thể hiện không phải theo một cách, hay hai, mà là ba. Do đó, trong con người, trong hành động và trong sự thật, bạn có cái mà người Cơ Đốc giáo sẽ gọi là “hình ảnh của Thượng đế”. Vì, như hẳn phải rõ ràng với tất cả các nhà tư tưởng, cách duy nhất mà chúng ta có thể biết Thượng đế là thông qua việc nghiên cứu bản chất của Ngài, hay phẩm tính tâm linh của Ngài. Chúng ta biết rằng Thượng đế là trí tuệ, chúng ta biết rằng Ngài là tình thương, hay mãnh lực thu hút vĩ đại của hệ mặt trời, và chúng ta biết rằng Ngài là ý chí hay mục đích vĩ đại đằng sau tất cả biểu hiện. Trong mọi Kinh điển trên thế giới, Thượng đế được mô tả dưới ba phương diện này, và biểu hiện qua tự nhiên theo cách tam phân này. |
|
The evolution of substance is a thing of gradual growth; it is in time supplemented by the slow working out of the inner subjective quality of the life of God, and thus His essential nature is demonstrated. First, you have one aspect demonstrating, then another slowly appears, and finally the third can be seen, and you have the stupendous combination and consummation, the human being. He synthesises and blends the three aspects, uniting them in himself. He is the totality of the divine attributes, though as yet they are largely embryonic, and he has to repeat within his cycle [86] of evolution the identical processes that the atom itself has followed. Just as the atom pursues its own internal course, and just as it also has later to be drawn into and to merge and blend with other atoms in the formation of a group, so the human atom equally has to find his place within a greater form. |
Sự tiến hóa của chất liệu là một sự việc phát triển dần dần; theo thời gian, nó được bổ sung bởi sự hoạt động chậm chạp của phẩm tính chủ quan bên trong của sự sống của Thượng đế, và do đó bản chất cốt yếu của Ngài được chứng minh. Đầu tiên, bạn có một phương diện đang thể hiện, sau đó phương diện khác từ từ xuất hiện, và cuối cùng phương diện thứ ba có thể được nhìn thấy, và bạn có sự kết hợp và viên mãn to lớn, con người. Y tổng hợp và hòa quyện ba phương diện, hợp nhất chúng trong chính mình. Y là tổng thể của các thuộc tính thiêng liêng, mặc dù cho đến nay chúng phần lớn là phôi thai, và y phải lặp lại bên trong chu kỳ [86] tiến hóa của mình những quy trình giống hệt mà chính nguyên tử đã tuân theo. Cũng như nguyên tử theo đuổi lộ trình nội tại của riêng nó, và cũng như nó sau đó cũng phải được hút vào và sáp nhập và hòa quyện với các nguyên tử khác trong sự hình thành một nhóm, thì nguyên tử nhân loại cũng phải tìm vị trí của mình bên trong một hình tướng lớn hơn. |
|
Let us, therefore, consider for a little what is the method of the evolutionary process for a human being. We have seen that in him the three lines converge, and that he is a point of synthesis, with one aspect as yet predominant, that of the intelligence, with the second aspect of love-wisdom just beginning to make its presence felt, and with the highest aspect of spiritual will as yet purely embryonic. |
Do đó, chúng ta hãy xem xét một chút phương pháp của quy trình tiến hóa đối với một con người là gì. Chúng ta đã thấy rằng ở y, ba dòng hội tụ, và rằng y là một điểm tổng hợp, với một phương diện cho đến nay đang chiếm ưu thế, đó là trí tuệ, với phương diện thứ hai là bác ái-minh triết chỉ mới bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy, và với phương diện cao nhất là ý chí tinh thần cho đến nay hoàn toàn là phôi thai. |
|
We have, nearly all of us, been brought up in the belief in what is called “the fall of man.” There are few these days who believe the story of the fall as it is given in the third chapter of Genesis, and we most of us credit it as having an allegorical interpretation. What is the occult truth underlying this curious story? Simply that the truth about the fall of the spirit into matter is conveyed by means of a picture to the infant mentality of man. The process of the converging of these lines is a twofold one. You have the descent into matter of the entity, of the central life, and the incarnation of spirit, and then you [87] have the working up, out of matter, of that life or spirit, plus all that has been gained through the utilisation of form. By experimenting with matter, by dwelling within the form, by the energising of substance, by the going out of the Garden of Eden (the place where there is no scope for necessary development), and by the wandering of the Prodigal Son in the far country, you have the various stages which are pictured in the Christian Bible where man makes the discovery that he is not the form, but that he is the one who utilises it. He is intelligence, and therefore he is made in the image of the third Person of the Trinity; he is love, and through him the love aspect of the Deity will some day perfectly manifest, and he will be able to say with his elder Brother, the Christ, in reply to the demand “Lord, show us the Father,” that “he that hath seen me, hath seen the Father,” for God is Love; and finally, through him the highest aspect, the will of God will become manifest, and he will be perfect, even as his Father in heaven is perfect. |
Hầu hết chúng ta đều được nuôi dạy với niềm tin vào cái gọi là “sự sa ngã của con người”. Ngày nay, ít ai tin vào câu chuyện về sự sa ngã như được kể trong chương ba của sách Sáng Thế Ký, và phần lớn chúng ta đều coi đó là một cách giải thích mang tính ẩn dụ. Sự thật huyền bí ẩn giấu bên dưới câu chuyện kỳ lạ này là gì? Đơn giản là sự thật về sự sa ngã của tinh thần vào vật chất được truyền tải bằng một bức tranh cho tâm trí non nớt của con người. Quá trình hội tụ của các dòng này là một quá trình kép. Các bạn có sự giáng hạ vào vật chất của thực thể, của sự sống trung tâm, và sự lâm phàm của tinh thần, và sau đó các bạn [87] có sự nỗ lực vươn lên, thoát khỏi vật chất, của sự sống hay tinh thần đó, cộng với tất cả những gì đã thu được qua việc sử dụng hình tướng. Bằng cách thử nghiệm với vật chất, bằng cách trú ngụ trong hình tướng, bằng cách tiếp năng lượng cho chất liệu, bằng việc đi ra khỏi Vườn Địa Đàng (nơi không có phạm vi cho sự phát triển cần thiết), và bằng cuộc lang thang của Đứa Con Hoang Đàng ở miền đất xa xôi, các bạn có các giai đoạn khác nhau được mô tả trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo, nơi con người khám phá ra rằng y không phải là hình tướng, mà y là người sử dụng nó. Y là trí tuệ, và do đó y được tạo ra theo hình ảnh của Ngôi Ba của Tam Vị; y là tình thương, và thông qua y, phương diện tình thương của Thượng đế một ngày nào đó sẽ biểu lộ hoàn hảo, và y sẽ có thể nói cùng với Huynh Trưởng của mình, Đức Christ, để trả lời cho yêu cầu “Lạy Chúa, xin chỉ cho chúng con thấy Cha,” rằng “ai đã thấy ta là đã thấy Cha,” vì Thượng đế là Tình thương; và cuối cùng, thông qua y, phương diện cao nhất, Ý Chí của Thượng đế sẽ trở nên biểu lộ, và y sẽ trở nên hoàn hảo, cũng như Cha của y ở trên trời là hoàn hảo. |
|
Just as in the evolution of substance three stages could be seen —that of atomic energy, of group coherence, and of eventual synthesis—so in the, evolution of man will the same appear. You will have, in the early stages of human evolution, that which we might call the atomic stage, in which man comes to a gradual recognition that he is a [88] self-conscious unit, with an individuality all his own. Anyone who has brought up children knows that stage well. It can be seen in that constant utterance of “my, my, my,” the stage of appropriation for himself, with no thought of any other self. Children are naturally, advisedly, and wisely selfish. It is the stage of the gradual recognition of separative existence, and of the utilisation ever more potently by the human atom of its own internal atomic force. The infant human being rebels against the enforced guardianship of those who seek to protect it, and considers itself sufficient unto itself. This can be seen in the individual and the race. |
Cũng giống như trong quá trình tiến hóa của chất liệu, ba giai đoạn có thể được nhìn thấy — giai đoạn năng lượng nguyên tử, giai đoạn gắn kết nhóm, và giai đoạn tổng hợp cuối cùng — thì trong sự tiến hóa của con người, điều tương tự cũng sẽ xuất hiện. Trong các giai đoạn đầu của sự tiến hóa nhân loại, các bạn sẽ có cái mà chúng ta có thể gọi là giai đoạn nguyên tử, trong đó con người dần dần nhận ra rằng y là một [88] đơn vị có ngã thức, với một cá tính hoàn toàn của riêng mình. Bất cứ ai đã từng nuôi dạy trẻ em đều biết rõ giai đoạn đó. Nó có thể được nhìn thấy trong câu nói lặp đi lặp lại “của tôi, của tôi, của tôi”, giai đoạn chiếm hữu cho bản thân mình, không nghĩ đến bất kỳ cái ngã nào khác. Trẻ em ích kỷ một cách tự nhiên, thận trọng và khôn ngoan. Đó là giai đoạn của sự nhận biết dần dần về sự tồn tại tách biệt, và về việc nguyên tử con người sử dụng ngày càng mạnh mẽ hơn mãnh lực nguyên tử nội tại của chính nó. Con người non nớt nổi loạn chống lại sự giám hộ bắt buộc của những người tìm cách bảo vệ nó, và coi mình là tự đầy đủ đối với chính mình. Điều này có thể được nhìn thấy ở cá nhân và ở chủng tộc. |
|
Then, as life goes on, the man passes out of the atomic stage to a higher and a better one, when he becomes cognisant of his group relationships, when he becomes aware that he has group responsibilities, and that he has functions to work out with other separate atoms. The group consciousness begins to make itself felt. Thus the human atom finds its place within the group, the larger unit to which it belongs, and the love aspect begins to show itself. The man has passed out of the atomic stage into that of group coherence. |
Sau đó, khi cuộc sống tiếp diễn, con người bước ra khỏi giai đoạn nguyên tử để đến một giai đoạn cao hơn và tốt hơn, khi y trở nên nhận thức được các mối quan hệ nhóm của mình, khi y trở nên ý thức rằng y có các trách nhiệm nhóm, và rằng y có các chức năng để thực hiện với các nguyên tử tách biệt khác. Tâm thức nhóm bắt đầu làm cho chính nó được cảm thấy. Do đó, nguyên tử con người tìm thấy vị trí của mình trong nhóm, đơn vị lớn hơn mà nó thuộc về, và phương diện tình thương bắt đầu tự thể hiện. Con người đã bước ra khỏi giai đoạn nguyên tử để vào giai đoạn gắn kết nhóm. |
|
Later comes the stage when the man begins to realise that he has not only responsibilities to the group, but that there is something greater still. [89] He realises that he is a part of a great universal life which underlies all groups, that he is not just a universal atom, that he is not just part of a group, but that, after merging his identity with the group—although never losing it—the group itself has to be blended again with the consciousness of that great Identity Who is the synthesis of them all. Thus he arrives at the final stage of intelligent appreciation of divine unity. |
Sau đó đến giai đoạn khi con người bắt đầu nhận ra rằng y không chỉ có trách nhiệm với nhóm, mà còn có một điều gì đó vĩ đại hơn nữa. [89] Y nhận ra rằng y là một phần của một sự sống vũ trụ vĩ đại vốn nằm bên dưới tất cả các nhóm, rằng y không chỉ là một nguyên tử vũ trụ, rằng y không chỉ là một phần của một nhóm, mà sau khi sáp nhập bản sắc của mình với nhóm — mặc dù không bao giờ đánh mất nó — chính nhóm đó phải được hòa trộn một lần nữa với tâm thức của Bản Sắc vĩ đại đó, Đấng là sự tổng hợp của tất cả chúng. Vì vậy, y đi đến giai đoạn cuối cùng của sự đánh giá thông minh về sự hợp nhất thiêng liêng. |
|
This triple idea can be found summed up in the Bible in a rather interesting phrase, where Jehovah says to Moses, the representative man, “I am that I am.” If you split this verse into its three parts you have what I have been seeking to bring out to-night: First, the atomic consciousness, I AM; then the group, I AM THAT; a consciousness that he is not just a separated individual, not only a self-centred unit, not only a self-conscious entity, but that he is something still greater. Man then reaches the recognition which will lead him to sacrifice his identity in the service of the group, and to merge his consciousness in that of the group. Of such a conscious union we know practically nothing as yet. This is succeeded by the still greater stage, when I AM THAT I AM will be for us not an impossible ideal, and a visionary concept, but a fundamental reality, when man in the aggregate will recognise himself as an expression of the universal life, [90] and the group consciousness itself will be merged in that of the Aggregate of all groups. |
Ý tưởng tam phân này có thể được tìm thấy tóm tắt trong Kinh Thánh bằng một cụm từ khá thú vị, nơi Jehovah nói với Moses, người đại diện, “TA LÀ CÁI ĐÓ TA LÀ.” Nếu các bạn chia câu này thành ba phần của nó, các bạn có những gì tôi đã tìm cách làm nổi bật tối nay: Đầu tiên, tâm thức nguyên tử, TA LÀ; sau đó là nhóm, TA LÀ CÁI ĐÓ; một tâm thức rằng y không chỉ là một cá nhân tách biệt, không chỉ là một đơn vị tập trung vào bản thân, không chỉ là một thực thể tự ý thức, mà y còn là một cái gì đó vĩ đại hơn nữa. Khi đó con người đạt đến sự nhận biết sẽ dẫn y đến việc hy sinh bản sắc của mình trong sự phụng sự nhóm, và sáp nhập tâm thức của mình vào tâm thức của nhóm. Về một sự hợp nhất có ý thức như vậy, chúng ta thực tế chưa biết gì cả. Điều này được tiếp nối bởi giai đoạn vĩ đại hơn nữa, khi TA LÀ CÁI ĐÓ TA LÀ sẽ đối với chúng ta không phải là một lý tưởng bất khả thi, và một khái niệm đầy ảo ảnh, mà là một thực tại cơ bản, khi con người trong tổng thể sẽ nhận ra mình là một biểu hiện của sự sống vũ trụ, [90] và chính tâm thức nhóm sẽ được sáp nhập vào tâm thức của Tổng thể của tất cả các nhóm. |
|
We suppose, and we hope, that we are passing rapidly out of the atomic stage, and that our sphere of influence and interest is not bounded by our atomic wall, but that we are becoming (to use a now familiar term) radio-active. When this is the case we shall not be circumscribed and limited within our own shell, and the narrow confines of our own individual life, but we shall begin to radiate, and to contact other atoms, thus reaching the second stage, the attractive. |
Chúng ta cho rằng, và chúng ta hy vọng, rằng chúng ta đang nhanh chóng bước ra khỏi giai đoạn nguyên tử, và rằng phạm vi ảnh hưởng và quan tâm của chúng ta không bị giới hạn bởi bức tường nguyên tử của chúng ta, mà rằng chúng ta đang trở nên (để sử dụng một thuật ngữ quen thuộc hiện nay) phóng xạ. Khi điều này xảy ra, chúng ta sẽ không bị giới hạn và hạn chế trong cái vỏ của chính mình, và những giới hạn hẹp hòi của đời sống cá nhân của chính mình, mà chúng ta sẽ bắt đầu lan tỏa, và tiếp xúc với các nguyên tử khác, do đó đạt đến giai đoạn thứ hai, giai đoạn hấp dẫn. |
|
What, therefore, is the goal ahead for each one of us? What is the goal for these different atoms with which we are concerning ourselves? We are told in some of the old Eastern Scriptures, that the goal for the atom of substance is self-consciousness. What is, therefore, the goal for the human atom, who is already self-conscious, who is already individualised, and guiding himself by means of his will? What lies ahead for man? Simply the expansion of his consciousness to include the consciousness of the great life, or being, in whose body he is himself a cell. Our physical body is, for instance, made up of innumerable lesser lives, or atoms, each one of them separated from its neighbour, each one of them distinguished by its own inherent activity, and [91] each one forming a sphere which holds within its periphery other lesser spheres or electrons. |
Do đó, mục tiêu phía trước cho mỗi người chúng ta là gì? Mục tiêu cho những nguyên tử khác nhau này mà chúng ta đang quan tâm đến là gì? Chúng ta được bảo trong một số Kinh điển phương Đông cổ xưa, rằng mục tiêu cho nguyên tử chất liệu là ngã thức. Do đó, mục tiêu cho nguyên tử con người, kẻ đã tự ý thức, kẻ đã được biệt ngã hóa, và đang tự hướng dẫn mình bằng ý chí của mình là gì? Điều gì nằm ở phía trước đối với con người? Đơn giản là sự mở rộng tâm thức của y để bao gồm tâm thức của sự sống vĩ đại, hay đấng, mà trong cơ thể của Đấng đó y chính là một tế bào. Chẳng hạn, thể xác của chúng ta được tạo thành từ vô số sự sống nhỏ hơn, hay các nguyên tử, mỗi nguyên tử tách biệt với láng giềng của nó, mỗi nguyên tử được phân biệt bởi hoạt động cố hữu của riêng nó, và [91] mỗi nguyên tử tạo thành một khối cầu chứa bên trong chu vi của nó các khối cầu nhỏ hơn hay các điện tử. |
|
We have seen that man is the positive charge, and holds his multiplicity of atoms, or lesser lives, energised and bound together into coherent forms. At death, when the spirit aspect withdraws itself, the form disintegrates, and is dissolved, and these little conscious lives, having fulfilled their function, dissipate. The consciousness of the atom within the body is a very different thing to the consciousness of a man, and this we can realise with very little thought. If we concede that man is a cell in a greater sphere, may it not be possible that there is a consciousness which is to the man what his consciousness is to the cell in his body? Is it not possible that we may have ahead of us the achievement of that consciousness in the same sense as the atom of substance may some day achieve the consciousness of a human being? May it not be that this is what Browning had in his mind when he said: “Mankind, made up of all the single men; in such a synthesis the story ends.” Here he holds up before us a concept of a greater Man, who is the synthesis or sumtotal of all the lesser units. Perhaps that synthesis may be the great Life or the planetary Entity Who lies back, of our planetary manifestation, and Who is the sumtotal of the group consciousness. I suggest that just as self-consciousness is the goal for all [92] the sub-human forms of life, and as group consciousness, or the consciousness of the Heavenly Man, is the goal for the human being, so for him, also, there may be a goal, and for him the achievement may be the development of God consciousness. So for him comes the struggle to evolve the realisation which is that of the solar Logos. |
Chúng ta đã thấy rằng con người là điện tích dương, và giữ tính đa dạng của các nguyên tử, hay các sự sống nhỏ hơn của mình, được tiếp năng lượng và liên kết với nhau thành các hình tướng gắn kết. Khi chết, khi phương diện tinh thần tự rút lui, hình tướng tan rã, và bị giải thể, và những sự sống có ý thức nhỏ bé này, sau khi đã hoàn thành chức năng của chúng, sẽ tiêu tan. Tâm thức của nguyên tử bên trong cơ thể là một điều rất khác so với tâm thức của một con người, và điều này chúng ta có thể nhận ra với rất ít suy nghĩ. Nếu chúng ta thừa nhận rằng con người là một tế bào trong một khối cầu lớn hơn, liệu có thể nào có một tâm thức đối với con người giống như tâm thức của y đối với tế bào trong cơ thể y không? Liệu có thể nào chúng ta có ở phía trước sự thành tựu của tâm thức đó theo cùng một ý nghĩa như nguyên tử chất liệu một ngày nào đó có thể đạt được tâm thức của một con người không? Phải chăng đây là điều Browning đã nghĩ trong đầu khi ông nói: “Nhân loại, được tạo thành từ tất cả những con người đơn lẻ; trong một sự tổng hợp như vậy, câu chuyện kết thúc.” Ở đây ông đưa ra trước chúng ta một khái niệm về một Con Người vĩ đại hơn, là sự tổng hợp hay tổng số của tất cả các đơn vị nhỏ hơn. Có lẽ sự tổng hợp đó có thể là Sự sống vĩ đại hay Thực Thể hành tinh, Đấng nằm phía sau sự biểu hiện hành tinh của chúng ta, và là tổng số của tâm thức nhóm. Tôi gợi ý rằng cũng như ngã thức là mục tiêu cho tất cả [92] các hình tướng sự sống dưới nhân loại, và cũng như tâm thức nhóm, hay tâm thức của Đấng Thiên Nhân, là mục tiêu cho con người, thì đối với Ngài, cũng có thể có một mục tiêu, và đối với Ngài sự thành tựu có thể là sự phát triển của tâm thức Thượng đế. Vì vậy, đối với Ngài diễn ra cuộc đấu tranh để phát triển sự chứng nghiệm vốn là sự chứng nghiệm của Thái dương Thượng đế. |
|
Thus can be seen the unity of consciousness from the most minute atom up to the Deity Himself. Thus opens up before us a wonderful picture, and a vista of possibility. Thus may the life of God be seen in its essential triple manifestation, working out in an ever-expanding consciousness; demonstrating in the atom of substance, and expanding through the medium of form, until it finds one point of culmination in man, then proceeding on its course till it demonstrates as the planetary consciousness, which is the sumtotal of all the states of consciousness upon our planet, the earth, until we arrive at the fundamental basic Life, Who holds all the planetary evolutions synthesised within His greater sphere, the solar system. Thus, in summing up, we have four states of intelligent activity, which we might term consciousness, self-consciousness, group consciousness, and God consciousness. These demonstrate through four types of atoms: first, the chemical atom and all atomic forms; secondly, the human atom; then, the planetary atom; and [93] finally, the all encompassing solar atom. Ensouling these atomic forms can be seen manifesting all sub-human types of life, from the life of the atom of substance to the informing life of the higher animals, then that life which we call human, that of man, the thinker; next, the Heavenly Man, and then the great Life of the solar system, Whom the Christian calls God, or the Logos. |
Do đó có thể thấy sự thống nhất của tâm thức từ nguyên tử nhỏ nhất cho đến Chính Thượng đế. Do đó mở ra trước chúng ta một bức tranh tuyệt vời, và một viễn cảnh về khả năng. Do đó sự sống của Thượng đế có thể được nhìn thấy trong sự biểu hiện tam phân cốt yếu của nó, đang hoạt động trong một tâm thức ngày càng mở rộng; thể hiện trong nguyên tử chất liệu, và mở rộng thông qua trung gian của hình tướng, cho đến khi nó tìm thấy một điểm cực thịnh ở con người, rồi tiếp tục lộ trình của nó cho đến khi nó thể hiện như là tâm thức hành tinh, vốn là tổng số của tất cả các trạng thái tâm thức trên hành tinh chúng ta, trái đất, cho đến khi chúng ta đạt tới Sự sống cơ bản nền tảng, Đấng nắm giữ tất cả các cuộc tiến hóa hành tinh được tổng hợp bên trong khối cầu vĩ đại hơn của Ngài, hệ mặt trời. Như vậy, tóm lại, chúng ta có bốn trạng thái hoạt động thông minh, mà chúng ta có thể gọi là tâm thức, ngã thức, tâm thức nhóm, và tâm thức Thượng đế. Những điều này thể hiện thông qua bốn loại nguyên tử: thứ nhất, nguyên tử hóa học và tất cả các hình tướng nguyên tử; thứ hai, nguyên tử con người; sau đó, nguyên tử hành tinh; và [93] cuối cùng, nguyên tử thái dương bao trùm tất cả. Phú linh cho các hình tướng nguyên tử này có thể được thấy đang biểu lộ tất cả các loại sự sống dưới nhân loại, từ sự sống của nguyên tử chất liệu đến sự sống thấm nhuần của các loài động vật cao cấp, sau đó là sự sống mà chúng ta gọi là nhân loại, sự sống của con người, người tư duy; tiếp theo, Đấng Thiên Nhân, và sau đó là Sự sống vĩ đại của hệ mặt trời, Đấng mà người Cơ Đốc giáo gọi là Thượng đế, hay Logos. |
|
Browning diễn tả ý tưởng này về sự mở rộng dần dần của tâm thức con người vào một cái gì đó vĩ đại hơn và bao la hơn trong những lời sau:— |
|
|
“When all the race is perfected alike |
“Khi toàn thể chủng tộc đều hoàn thiện như nhau |
|
As man, that is; all tended to mankind, |
Là con người, nghĩa là; tất cả đều hướng đến nhân loại, |
|
And, man produced, all has its end thus far; |
Và, con người được tạo ra, mọi sự đều có mục đích của nó đến đây; |
|
But in completed man begins anew |
Nhưng trong con người hoàn chỉnh lại bắt đầu mới |
|
A tendency to God. Prognostics told |
Một khuynh hướng hướng về Thượng đế. Những điềm báo đã kể |
|
Man’s near approach; so in man’s self arise |
Sự tiếp cận gần kề của Con người; vì vậy trong chính con người nảy sinh |
|
August anticipations, symbols, types |
Những dự cảm uy nghi, những biểu tượng, những loại hình |
|
Of a dim splendour ever on before |
Của một vẻ huy hoàng mờ ảo luôn ở phía trước |
|
In that eternal circle life pursues. |
Trong vòng tròn vĩnh cửu mà sự sống theo đuổi. |
|
For men begin to pass their nature’s bound, |
Vì con người bắt đầu vượt qua giới hạn bản chất của họ, |
|
And find new hopes and cares which fast supplant |
Và tìm thấy những hy vọng và lo toan mới nhanh chóng thay thế |
|
Their proper joys and griefs; they grow too great |
Những niềm vui và nỗi buồn riêng của họ; họ trở nên quá lớn |
|
For narrow creeds of right and wrong, which fade |
Cho những tín điều hẹp hòi về đúng và sai, vốn phai mờ |
|
Before the unmeasured thirst for good: while peace |
Trước cơn khát khao điều thiện vô bờ bến: trong khi sự an bình |
|
Rises within them ever more and more. |
Dâng lên trong họ ngày càng nhiều hơn. |
|
[94] Such men are even now upon the earth |
[94] Những con người như thế ngay cả bây giờ đang ở trên trái đất |
|
Serene amid the half-formed creatures round |
Thanh thản giữa những sinh vật nửa vời xung quanh |
|
Who should be saved by them and joined with them.” |
Những kẻ nên được cứu bởi họ và kết hợp với họ.” |