Bình Giảng Lửa Vũ Trụ – S9S9 Part I (TCF 1155-1160)

📘 Sách: Bình Giảng Luận về Lửa Vũ Trụ – S9 – Tác giả: Michael D. Robbins

S9S9 Part I (TCF 1155-1160)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Ngài Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Lời bình xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, In đậm và Tô sáng bởi MDR)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị đọc kèm với TCF bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó mới học Lời bình

4.  Relation between the Throat, Alta Major and Mental Centres.

4. Mối liên hệ giữa các trung tâm Hầu họng, Alta Major và các trung tâm Trí tuệ.

1. DK now takes up a subject of great practical interest.

1. Giờ đây DK đề cập một chủ đề có ý nghĩa thực hành lớn lao.

2. We note that he will be speaking of the “mental centers” about which practically nothing is said in His voluminous Teaching. They are, however, illustrated in TCF, Chart VIII, p. 817.

2. Chúng ta ghi nhận rằng Ngài sẽ nói về “các trung tâm trí tuệ” mà gần như chẳng có gì được nói đến trong Giáo Huấn đồ sộ của Ngài. Tuy nhiên, chúng được minh họa trong TCF, Biểu đồ VIII, tr. 817.

3. We can judge by their association that the alta major center is related to the mental centers. There are four mental centers (on the lower mental plane) and the alta major center is the synthesizers of four head centers.

3. Qua mối liên hệ của chúng, chúng ta có thể xét đoán rằng trung tâm alta major liên hệ với các trung tâm trí tuệ. Có bốn trung tâm trí tuệ (trên cõi hạ trí) và trung tâm alta major là điểm tổng hợp của bốn trung tâm đầu.

4. We already know that the throat center is related to the mental body and to mentality in general, and, thus, it would be related to the mental centers.

4. Chúng ta đã biết rằng trung tâm hầu họng liên hệ với thể trí và với trí năng nói chung, do đó, nó sẽ liên hệ với các trung tâm trí tuệ.

The question of the centres has always had a great deal of interest for men, and much harm has been done through the directing of attention upon the physical centres.

Vấn đề về các trung tâm luôn rất hấp dẫn đối với con người, và đã gây nhiều tai hại do việc hướng sự chú ý vào các trung tâm “thể chất”.

5. Human beings are still very concrete in their thinking and can relate to concretions (such as the centers, especially the physical centers) much more easily.

5. Con người vẫn còn rất cụ thể trong tư duy và có thể liên hệ với các vật kết khối (như các trung tâm, đặc biệt là các trung tâm “thể chất”) dễ dàng hơn nhiều.

6. By “physical centers” DK could mean one of two things: either the precipitations of the etheric centers, i.e., the glands; or the etheric centers, themselves, since that which is etheric is really physical.

6. Với “các trung tâm thể chất” DK có thể ám chỉ một trong hai điều: hoặc là các sự kết giáng của các trung tâm dĩ thái, nghĩa là các tuyến nội tiết; hoặc  chính các trung tâm dĩ thái, vì cái gì dĩ thái  thật ra cũng hồng trần.

Unfortunately, names have been given to the centres which have their counterparts in the physical form, and with the usual aptitude of man to identify himself with that which is tangible and physical,

Thật đáng tiếc, các tên đã được gán cho những trung tâm có các đối phần trong thể xác hồng trần, và với khuynh hướng thường thấy của con người là đồng hoá mình với cái gì hữu hình và hồng trần,

7. Here, DK names the problem exactly. He seems to refer to centers (glands) in dense physical matter. Later, His use of the term “physical” is related to the etheric body.

7. Ở đây, DK nêu ra đúng vấn đề. Có vẻ Ngài ám chỉ các trung tâm (các tuyến) trong chất liệu hồng trần đậm đặc. Về sau, cách Ngài dùng thuật ngữ “thể chất” được liên hệ với thể dĩ thái.

a mass of data has accumulated which is based (not on spiritual knowledge) but on a study of the effects produced through meditation on the physical centres.

một khối lượng dữ kiện đã tích lũy dựa (không phải trên tri thức tinh thần) mà trên sự khảo sát các hiệu ứng được tạo ra qua việc tham thiền trên các trung tâm “thể chất”.

8. DK is attempting to help man remove his attention from the dense and physical, i.e., from a materialistic consciousness.

8. DK đang cố giúp con người rút sự chú ý khỏi cõi hồng trần đậm đặc, tức thoát khỏi tâm thức duy vật.

9. We are attempting to learn to live in the world of causes and not the world of effects. The dense physical plane is strictly a world of effects.

9. Chúng ta đang nỗ lực học sống trong thế giới của nguyên nhân chứ không phải trong thế giới của hiệu quả. Cõi hồng trần đậm đặc nghiêm ngặt là một thế giới của hiệu quả.

Such meditation is only safely undertaken when a man is no longer polarised in the lower personal self but views all things from the standpoint of the Ego with whom he is completely identified.

Sự tham thiền như vậy chỉ an toàn khi con người không còn phân cực trong bản ngã thấp mà nhìn mọi sự từ quan điểm của Chân ngã, với Đấng mà y hoàn toàn đồng nhất.

10. We see our objective and the attainments which are necessary if we are to safely work with the centers.

10. Chúng ta thấy mục tiêu và những thành tựu cần thiết nếu muốn làm việc an toàn với các trung tâm.

11. This type of identification is much discussed but rarely achieved among the ranks of the disciples.

11. Kiểu đồng nhất này được bàn luận nhiều nhưng hiếm khi đạt tới trong hàng ngũ các đệ tử.

12. Imagine— complete identification with the Ego!

12. Hãy hình dung—  hoàn toàn  đồng nhất với Chân ngã!

When this is the case, the centres in physical matter are recognised as being simply focal points of energy located in the etheric body, and having a definite use.

Khi đó, các trung tâm trong chất liệu “thể chất” được nhìn nhận chỉ như những tiêu điểm năng lượng đặt trong thể dĩ thái, và có công dụng xác định.

13. Here DK specifies that by “physical centres” He does mean etheric centers. As we have studied the last few sections of text, we have found two indications: one in which the centers are considered to be densely physical; the other in which the centers have been considered as etheric focal points.

13. Ở đây DK xác định rằng khi nói “các trung tâm thể chất” Ngài thực sự muốn nói các trung tâm dĩ thái. Khi học các đoạn văn gần đây, chúng ta bắt gặp hai ám chỉ: một ám chỉ các trung tâm được xem là hồng trần đậm đặc; một ám chỉ các trung tâm được xem là những tiêu điểm dĩ thái.

14. Attention will be given to the etheric body during the New Age and it will be considered the true physical body. Yet, overall, the Lemurians focused their consciousnesses on the etheric-physical plane and the type of yoga they were taught focused on the uniting of these two aspects (dense and etheric) of their physical nature. Our consciousness is to be focussed much higher—preferably, before long, on the higher mental plane, and the centers in the etheric body are meant to become merely distributors of the higher energies. Our consciousness is not meant to be fixated on the physical plane—whether dense physical or etheric though there will soon arise far greater awareness of the etheric plane and its centers.

14. Trong Kỷ Nguyên Mới, sự chú ý sẽ hướng về thể dĩ thái và nó sẽ được xem là thể chất chân chính. Tuy nhiên, nhìn chung, người Lemuria tập trung tâm thức trên cõi dĩ thái–hồng trần và loại yoga họ được dạy chú trọng hợp nhất hai phương diện này (đậm đặc và dĩ thái) của bản chất hồng trần họ. Tâm thức của chúng ta cần được tập trung cao hơn—ưu tiên, chẳng bao lâu nữa, trên cõi thượng trí, và các trung tâm trong thể dĩ thái được định để trở thành những bộ phận phân phối các năng lượng cao hơn. Tâm thức của chúng ta không nhằm cố định trên cõi hồng trần—dù đậm đặc hay dĩ thái—dù rồi đây ý thức về cõi dĩ thái và các trung tâm của nó sẽ tăng lên rất nhiều.

This use is to act as transmitters of certain forms of energy consciously directed by the Ego or Self, with the intent of driving the physical body (which is not a principle) to fulfil egoic purpose.

Công dụng này là làm các trạm truyền các dạng năng lượng nhất định được Chân ngã hay Tự ngã chủ ý dẫn dắt, nhằm thúc đẩy thể hồng trần (vốn không phải là một nguyên khí) hoàn thành mục đích của chân ngã.

15. Here the intended process is clearly described. We are to regard the centers in the etheric body merely as transmitters of higher energies. Our consciousness, as souls in incarnation, is to be with the energies transmitted and with the source of those energies and not with the vehicle of transmission.

15. Ở đây tiến trình dự định được mô tả rõ ràng. Chúng ta phải xem các trung tâm trong thể dĩ thái đơn thuần là những bộ phận truyền dẫn các năng lượng cao hơn. Tâm thức của chúng ta, như những linh hồn nhập thể, phải ở với các năng lượng được truyền và với cội nguồn của các năng lượng ấy chứ không ở với khí cụ truyền dẫn.

16. In other words, we, fully identified with or as the Ego on the higher mental plane, are to use the etheric centers as means of transmission of the energies which we direct.

16. Nói cách khác, chúng ta, hoàn toàn đồng nhất với hay là Chân ngã trên cõi thượng trí, phải dùng các trung tâm dĩ thái như những phương tiện truyền dẫn các năng lượng mà chúng ta  điều khiển.

To do this the Ego has to follow certain rules, to conform to law, and to have attained not only conscious control of the physical body, but a knowledge of the laws of energy, and of the constitution of the etheric body, and its relation to the physical.

Để làm được điều này, Chân ngã phải tuân theo các quy luật nhất định, phù hợp với định luật, và không chỉ đạt được sự làm chủ có ý thức đối với thể hồng trần, mà còn nắm được các định luật của năng lượng, và sự cấu thành của thể dĩ thái, cùng mối liên hệ của nó với thể hồng trần.

17. In this instance, the Ego is the ‘higher man’. We could not be speaking of necessity of the Solar Angel to follow certain rules and to conform to law, etc. The Solar Angel long ago accomplished these things.

17. Trong ngữ cảnh này, Chân ngã là ‘con người cao hơn’. Chúng ta khó có thể đang nói về nhu cầu Thái dương Thiên Thần phải theo các quy luật và tuân theo định luật, v.v. Thái dương Thiên Thần đã hoàn tất các điều ấy từ lâu.

18. In this context, the term “Ego” can mean two things. The soul-in-incarnation is the Ego within the fields of the personality. This is an important realization.

18. Ở đây, thuật ngữ “Chân ngã” có thể mang hai nghĩa. Linh hồn-đang-nhập-thể là Chân ngã trong các trường của phàm ngã. Đây là một nhận thức quan trọng.

19. The Ego on its own plane is the man (the ‘extension’ of the Monad) on the higher mental plane.

19. Chân ngã trên chính cõi của nó  là con người (sự mở rộng của Chân Thần) trên cõi thượng trí.

20. We, the man, must learn to identify as the Ego and not as the personality. First we recognize ourselves as the soul-in-incarnation and, eventually, as that soul-in-incarnation disidentifies with the personality fields in which it is immersed, we, the soul-in-incarnation, learn to identify as the Ego on its own plane.

20. Chúng ta—con người—phải học đồng nhất là Chân ngã  chứ không phải là phàm ngã. Trước hết chúng ta nhận mình là linh hồn-đang-nhập-thể và, rốt cuộc, khi linh hồn-đang-nhập-thể ấy rút đồng nhất khỏi các trường phàm ngã nó thấm nhập, chúng ta—linh hồn-đang-nhập-thể—học đồng nhất  Chân ngã trên chính cõi của nó.

The attention of students must be called to certain fundamental facts anent the centres and thus supplement, correlate, and summarise that already given in this Treatise.

Sự chú ý của các môn sinh phải được hướng tới những sự kiện căn bản liên quan đến các trung tâm và như vậy bổ sung, liên hệ, và tóm lược điều đã được nêu trong Luận văn  này.

21. This is the requirement so that we, the man-as-Ego, can learn to control and express through our energy system.

21. Đây là yêu cầu để chúng ta—con người-như-Chân ngã—có thể học kiểm soát và biểu lộ qua hệ năng lượng của mình.

That a certain amount of repetition will be necessary is of value, and the information here given and the correspondences indicated, should provide all followers of raja yoga with a basis for sane consideration, wise meditation and a fuller comprehension of the truths involved.

Rằng một mức độ lặp lại nào đó sẽ là cần thiết là điều hữu ích, và thông tin ở đây được cung cấp cùng các tương ứng được chỉ ra, sẽ đem lại cho mọi người theo raja yoga một nền tảng để suy xét lành mạnh, tham thiền khôn ngoan và thấu lĩnh đầy đủ hơn các chân lý liên hệ.

22. Certain additional details can be given to the practitioners of Raja Yoga to facilitate their practice.

22. Những chi tiết bổ sung nào đó có thể được cung cấp cho những người thực hành Raja Yoga để hỗ trợ thực hành của họ.

23. DK does not here mention Agni Yoga. Later in His Teaching He does. The information here imparted on the centers will also be of value in that still more advanced and inclusive form of yoga.

23. Ở đây DK không nhắc đến Agni Yoga. Sau này trong Giáo Huấn của Ngài, Ngài có nhắc. Thông tin ở đây truyền đạt về các trung tâm cũng sẽ hữu ích trong hình thức yoga còn tiến bộ và bao gồm hơn ấy.

Owing to the rapid development of the race, and the future [1156] quick unfoldment of etheric vision,

Do sự phát triển mau lẹ của nhân loại, và sự khai mở [] nhanh chóng của thiên nhãn dĩ thái trong tương lai,

24. DK predicted that etheric vision would unfold significantly by the end of the twentieth century and into the twenty-first.

24. DK đã tiên tri rằng thiên nhãn dĩ thái sẽ khai mở đáng kể vào cuối thế kỷ hai mươi và sang thế kỷ hai mươi mốt.

the gain will be very real if occult students have at least a theoretical concept of the nature of that which will be seen relatively so soon.

sự lợi lạc sẽ là rất thực nếu các đạo sinh huyền môn ít nhất có một khái niệm lý thuyết về bản chất của điều sẽ tương đối sớm được nhìn thấy.

25. This book was written in the early to middle 1920’s. A theoretical basis for understanding newly emerging energies is always of value if those energies are to be handled wisely.

25. Cuốn sách này được viết vào đầu đến giữa những năm 1920. Một nền tảng lý thuyết để hiểu các năng lượng mới nổi lên luôn có giá trị nếu các năng lượng ấy được xử lý một cách khôn ngoan.

26. Of course, by the time He had reached the final pages of TCF, DK had already said a great deal about the centers, so we may assume that what He is about to say here is not entirely repetition.

26. Tất nhiên, vào lúc Ngài đi đến những trang cuối của TCF, DK đã nói khá nhiều về các trung tâm, nên chúng ta có thể giả định rằng điều Ngài sắp nói ở đây không hoàn toàn  là lặp lại.

The centres, as we know, are seven in number and are formed in matter of the etheric subplanes of the physical plane.

Các trung tâm, như chúng ta biết, là bảy về số lượng và được tạo thành từ chất liệu của các cõi phụ dĩ thái thuộc cõi hồng trần.

27. DK is now speaking of the “physical centers”—really the etheric centers.

27. Giờ đây DK đang nói về “các trung tâm thể chất”—thực ra là các trung tâm dĩ thái.

As we have been told, there are literally ten, but the lower three are not considered as subjects for the direction of egoic energy.

Như chúng ta đã được cho biết, thực ra có mười, nhưng ba trung tâm thấp không được xem là đối tượng để hướng dẫn năng lượng của chân ngã.

28. Here DK tells us of ten centers, just as He tells us of ten planetary schemes, and ten chains. The tens probably extend far more widely through cosmos than this.

28. Ở đây DK cho chúng ta biết có mười  trung tâm, cũng như Ngài nói có mười  hệ hành tinh, và mười  dãy. Con số mười có lẽ lan rộng hơn nhiều xuyên suốt vũ trụ.

29. We may presume that the seven centers are found above the diaphragm. Perhaps the solar plexus is included, and the base of the spine center, the sacral center and the spleen dis-included. However, can we really ever dis-include the base of the spine center when it plays so prominent a place in the fifth initiation of man and presumably, in the fifth initiation of far greater beings?

29. Chúng ta có thể suy rằng bảy trung tâm được tìm thấy ở trên cơ hoành. Có lẽ tùng thái dương được bao gồm, và trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và lá lách thì không bao gồm. Tuy nhiên, chúng ta có thể thực sự loại trừ trung tâm đáy cột sống chăng khi nó giữ một vị trí nổi bật trong lần điểm đạo thứ năm của con người và, suy ra, trong lần điểm đạo thứ năm của những Đấng lớn lao hơn?

30. There are a number of lesser centers, some found in the lower area of the etheric body, but is Master DK including such rarely mentioned centers? The likelihood is that He is not.

30. Có một số trung tâm nhỏ hơn, một số nằm ở vùng thấp của thể dĩ thái, nhưng liệu Chân sư DK có bao gồm những trung tâm ít được nhắc đến ấy không? Khả năng cao là không.

31. We cannot be certain how to enumerate the higher seven. There are many centers in and surrounding the head and we cannot be sure if DK is counting these centers or, if so, the manner in which He is counting.

31. Chúng ta không thể chắc chắn cách liệt kê bảy trung tâm cao. Có nhiều trung tâm ở trong và bao quanh đầu và chúng ta không thể chắc DK có đang tính các trung tâm ấy hay không, và nếu có, cách Ngài tính ra sao.

32. If we number from the solar plexus upwards, we could have: the solar plexus, the heart, the throat center, the alta major center, the ajna center, the head center, the heart-in-the-head center.

32. Nếu chúng ta đánh số kể từ tùng thái dương trở lên, chúng ta có thể có: tùng thái dương, tim, hầu họng, alta major, ajna, đầu, tim-trong-đầu.

33. There is also the possibility that a very occult and rarely mentioned ‘mental center’ or “manasic center” in the vicinity of the lungs could be included, in which case the two aspects of the highest head center would be considered as one.

33. Cũng có khả năng rằng một ‘trung tâm trí tuệ’ rất huyền bí và hiếm khi được nhắc đến hay “trung tâm manas” ở vùng gần phổi có thể được bao gồm, trong trường hợp đó hai phương diện của trung tâm đầu cao nhất sẽ được xem như một.

34. Perhaps we shall learn more immediately ahead.

34. Có lẽ chúng ta sẽ biết thêm ngay phía trước.

They relate to the perpetuation of the physical form

Chúng liên hệ đến sự duy trì thể hồng trần

35. Without the presence and activation of the centers, the physical plane will not be vitalized; it will not live.

35. Không có sự hiện diện và kích hoạt của các trung tâm, cõi hồng trần sẽ không được tiếp sinh lực; nó sẽ không sống.

36. Here we are speaking specifically of the lower three centers mentioned above. These three are the most active in the perpetuation of the physical form. From this perspective, the base of the spine center must certainly be involved, as must the sacral center and spleen.

36. Ở đây chúng ta đang nói riêng về ba trung tâm thấp nói trên. Ba trung tâm này là hoạt động nhất trong sự duy trì thể hồng trần. Từ quan điểm này, chắc chắn trung tâm đáy cột sống phải được tham dự, cũng như trung tâm xương cùng và lá lách.

and have a close connection with:

và có mối liên hệ mật thiết với:

a.  The three lower kingdoms in nature.

a. Ba giới thấp trong thiên nhiên.

37. These are the sub-human kingdoms; mineral, vegetable and animal.

37. Đây là các giới tiền nhân loại; kim thạch, thực vật và động vật.

b.  The three lower subplanes of the physical plane.

b. Ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần.

38. By this we man the dense physical subplane, the liquid subplane and the gaseous subplane.

38. Với điều này, chúng ta muốn nói tầng phụ hồng trần đậm đặc, tầng phụ lỏng và tầng phụ khí.

c.  The third solar system, from the logoic standpoint.

c. Hệ mặt trời thứ ba, xét theo quan điểm của Thượng đế.

39. This is a curious statement. Does DK actually mean the solar system which is to come? Or does He mean the solar system preceding this one? From the correspondential angle, one would think He is referring to the rather material solar system which preceded ours.

39. Đây là một phát biểu lạ. Liệu Chân sư DK thực sự muốn nói đến hệ mặt trời sẽ đến? Hay Ngài muốn nói đến hệ mặt trời có trước hệ này? Xét theo góc độ tương ứng, người ta sẽ nghĩ Ngài đang ám chỉ hệ mặt trời khá vật chất vốn có trước hệ của chúng ta.

It must be borne in mind that though the three solar systems (the past, the present and that which is to come) are differentiated in time and space where the consciousness of man is concerned, from the point of view of the Logos they represent more accurately, highest, intermediate and lowest, and the three form but one expression.

Cần ghi nhớ rằng tuy ba hệ mặt trời (quá khứ, hiện tại và hệ sẽ đến) được biệt phân theo thời-không khi xét liên hệ đến tâm thức của con người, nhưng từ quan điểm của Thượng đế, chúng biểu trưng đúng hơn cho thượng, trung và hạ, và cả ba chỉ là một biểu lộ.

40. The consciousness of the Solar Logos is not subject to the time-space limitations afflicting our consciousness.

40. Tâm thức của Thái dương Thượng đế không bị chi phối bởi những giới hạn thời-không vốn gây khổ não cho tâm thức của chúng ta.

41. DK seems to be telling us that the three solar systems are both consecutive and simultaneous—depending on the nature of the perceiving consciousness.

41. Có vẻ Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng ba hệ mặt trời vừa liên tiếp vừa đồng thời—tùy theo bản chất của tâm thức tri nhận.

42. Another way of saying this is that the consciousness of the previous solar system is still very much with us within the second solar system; during the next or coming solar system, the consciousness of the first and second solar systems may be evident even though the emphasis will be on the first aspect of divinity, the will.

42. Nói cách khác, tâm thức của hệ mặt trời trước vẫn còn rất hiện hữu với chúng ta trong hệ mặt trời thứ hai; trong hệ mặt trời kế tiếp hay sắp tới, tâm thức của hệ thứ nhất hệ thứ hai vẫn có thể hiển lộ cho dù nhấn mạnh sẽ đặt vào Phương diện thứ nhất của Thiêng liêng, tức Ý Chí.

The past system, therefore, is deemed esoterically the third, being the lowest and being related to the dense and negative matter.

Do đó, hệ quá khứ được xem theo huyền môn là hệ thứ ba, vì là thấp nhất và tương quan với chất liệu đậm đặc và mang tính âm.

43. Thus, DK answer the question which I posed. The first (or previous) solar system is qualitatively the third because it is related to the third aspect of divinity.

43. Như vậy, Chân sư DK đã trả lời câu hỏi mà tôi nêu. Hệ mặt trời thứ nhất (hay trước đó) về phẩm tính là hệ thứ ba vì nó liên hệ với Phương diện thứ ba của Thiêng liêng.

It will be apparent that the past solar system has consequently a close relation to the third or animal kingdom, and this, man has presumably transcended.

Sẽ thấy rõ rằng hệ mặt trời quá khứ do đó có liên hệ mật thiết với giới thứ ba hay giới động vật, và điều này, con người giả định là đã vượt qua.

44. This is because the animal kingdom is the third kingdom and the human kingdom is the fourth.

44. Bởi vì giới động vật là giới thứ ba và giới nhân loại là giới thứ tư.

45. It is intended that man must and will transcend the influence of the previous solar system, which here, DK deems the “third”.

45. Ý đồ là con người phải và sẽ vượt khỏi ảnh hưởng của hệ mặt trời trước, mà ở đây, Chân sư DK xem như “hệ thứ ba”.

The seven centres with which man is concerned are themselves found to exist in two groups:

Bảy trung tâm mà con người có liên hệ tự thân đã được nhận ra là tồn tại trong hai nhóm:

46. It does seem that man is concerned with all the seven centers as usually enumerated. This would include the base of the spine center, the sacral center and the solar plexus. The splenic center is also of considerable importance to him.

46. Dường như con người có liên hệ với cả bảy luân xa như thường liệt kê. Điều này bao gồm luân xa đáy cột sống, luân xa xương cùng và tùng thái dương. Luân xa lá lách cũng hết sức quan trọng đối với y.

a lower four, which are related to the four Rays of Attributes, or the four minor rays, and are, therefore, closely connected with the quaternary, both microcosmic and macrocosmic, and a higher three which are transmitters for the three rays of aspect.

một bộ bốn thấp, liên hệ với bốn Cung Thuộc Tính, hay bốn cung phụ, và vì vậy, gắn kết chặt chẽ với bộ bốn, cả ở tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa; và một bộ ba cao hơn vốn là các kênh truyền cho ba Cung Trạng Thái.

47. If we keep the number ten too firmly in mind we shall have trouble with this enumeration.

47. Nếu chúng ta giữ quá chặt con số mười trong tâm trí, chúng ta sẽ gặp khó với bảng liệt kê này.

48. Which, really, are the lower four centers? Is the spleen to be included, along with the solar plexus, the sacral center and the base of the spine center?

48. Vậy, thực ra, bốn luân xa thấp là những luân xa nào? Có nên kể cả luân xa lá lách, cùng với tùng thái dương, xương cùng và đáy cột sống?

49. And if so, there are then four higher centers remaining and not just three: heart center, throat center, ajna center and head center.

49. Nếu vậy, thì còn lại bốn luân xa cao hơn chứ không chỉ ba: luân xa tim, luân xa cổ họng, luân xa ajna và luân xa đầu.

50. The three higher centers are usually considered throat center, heart center, and head center and these three are the transmitters of the three Rays of Aspect.

50. Ba luân xa cao thường được xem là luân xa cổ họng, luân xa tim và luân xa đầu, và chính ba luân xa này các kênh truyền của ba Cung Trạng Thái.

51. There persistently arises the question of whether the heart center is to be included in the lower quaternary. It can be reasoned in both the affirmative and in the negative. It is interesting that even when man is controlled from the astral plane, the heart center is one point in the controlling triangle of centers.

51. Luôn nảy sinh câu hỏi liệu luân xa tim có nên đưa vào bộ bốn thấp hay không. Có thể lập luận cả thuận lẫn nghịch. Điều thú vị là ngay cả khi con người bị chi phối bởi cõi cảm dục, luân xa tim vẫn là một điểm trong tam giác luân xa điều khiển.

These energy centres are transmitters of energy from [1157] many and varied sources which might be briefly enumerated as follows:

Những trung tâm năng lượng này là các kênh truyền dẫn năng lượng từ [] nhiều nguồn phong phú và đa dạng có thể tóm lược như sau:

52. These and other sources are sources of transmission through the centers.

52. Những nguồn này và các nguồn khác là các nguồn truyền dẫn thông qua các luân xa.

a.  From the seven Rays, via the seven subrays of any specific monadic ray.

a. Từ bảy Cung, qua bảy cung phụ của bất kỳ cung chân thần đặc thù nào.

53. The sources of the seven rays are usually thought to be the seven major stars of the Great Bear.

53. Nguồn của bảy Cung thường được cho là bảy ngôi sao chính của Đại Hùng Tinh.

54. What, exactly, are the seven subrays of any “specific monadic ray”. There are several options:

54. Chính xác thì “bảy cung phụ của bất kỳ cung chân thần đặc thù nào” là gì? Có vài khả năng:

a. The seven types of soul rays considered as subrays of any particular monadic ray.

a. Bảy loại cung linh hồn được xem như các cung phụ của bất cứ cung chân thần nào.

b. The seven sub -monadic rays found on the monadic plane (cf. TCF 176)

b. Bảy cung phụ chân thần được tìm thấy trên cõi chân thần (x. TCF 176)

c. The seven ray types of Monads on the monadic plane, considering these seven monadic types actually to be subtypes of the three types of ‘true Monad’, which three types are found on the logoic plane. (cf. TCF Chart V, 344)

c. Bảy loại cung của các Chân thần trên cõi chân thần, xét rằng bảy loại chân thần này thật ra là các phân loại phụ của ba loại ‘Chân Thần đích thực’, mà ba loại này ở trên cõi Thượng đế. (x. TCF Biểu đồ V, 344)

55. In any case there are higher septenates on egoic and monadic levels, the energies of which pour through the seven types of chakras here being discussed.

55. Dù thế nào thì có những bộ thất phân cao hơn trên các cấp độ chân ngã và chân thần, năng lượng của chúng tuôn qua bảy loại luân xa đang được bàn.

b.  From the triple aspects of the planetary Logos as He manifests through a scheme.

b. Từ các phương diện tam phân của Hành Tinh Thượng đế khi Ngài ngoại hiện qua một hệ hành tinh.

56. Presumably we have the Rays of Aspect connected with our Planetary Logos manifesting through the chakras keyed to them, and through those other chakras which are in resonance with these keyed three. The three aspects of the Planetary Logos demonstrate both above and below the diaphragm.

56. Ở đây, có lẽ chúng ta có các Cung Trạng Thái liên hệ với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, biểu hiện qua những luân xa được “khóa” với chúng, và qua những luân xa khác cộng hưởng với ba luân xa được khóa ấy. Ba phương diện của Hành Tinh Thượng đế biểu hiện cả trên lẫn dưới hoành cách mô.

57. We note that the source given in point “b.” is a higher source than that given in point “a.”

57. Chúng ta ghi nhận nguồn nêu ở điểm “b.” cao hơn nguồn nêu ở điểm “a.”.

c.  From what are called “the sevenfold divisions of the logoic Heart,” or the sun in its sevenfold essential nature, as it is seen lying esoterically behind the outer physical solar form.

c. Từ cái được gọi là “bảy phân phân chia của Trái Tim của Thượng đế”, hay mặt trời trong bản tánh thất phân tinh yếu của nó, như nó được thấy nằm sau hình tướng hồng trần bên ngoài của Thái dương, xét theo nội môn.

58. This is a still higher source.

58. Đây là một nguồn còn cao hơn nữa.

59. Here we are not so much speaking of the Heart of the Sun on the higher levels of the cosmic mental plane, but of the logoic etheric heart center presumably to be found upon the cosmic etheric planes—perhaps on its second level (correlated with the origin of the human Monads).

59. Ở đây, chúng ta không nói nhiều về Trái Tim của Mặt Trời trên các cấp cao của cõi trí vũ trụ, mà là về luân xa tim dĩ thái của Thượng đế, giả định là ở trên các cõi dĩ thái vũ trụ—có lẽ ở cấp thứ hai (tương ứng với nguồn gốc của các Chân thần nhân loại).

60. It is the etheric aspect of the Solar Logos which lies “behind the outer physical solar form”.

60. Chính phương diện dĩ thái của Thái dương Thượng đế nằm “đằng sau hình tướng hồng trần bên ngoài của Thái dương”.

61. The Heart of the Sun substands not only the vehicles of the Logos on the cosmic physical plane but also on the cosmic astral plane and lower cosmic mental plane.

61. Trái Tim của Mặt Trời làm nền không chỉ cho các hiện thể của Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ mà còn trên cõi cảm dục vũ trụ và phần thấp của cõi trí vũ trụ.

62. Heart centers are usually considered twelvefold, but there is a way of deriving the twelve from the seven. This way is given in a footnote in A Treatise on Cosmic Fire.

62. Các luân xa tim thường được xem là thập nhị phân, nhưng có một cách rút ra số mười hai từ số bảy. Cách này được nêu trong một chú thích của Luận về Lửa Vũ Trụ.

31: The Twelve Creative Hierarchies.  Students are often puzzled in trying to account for the “twelves” in the cosmos.  A correspondent sends the following suggestion:  In a Study in Consciousness, the three, by an arrangement of internal groupings, show seven groups; these may be represented as ABC, ACB, BCA BAC, CAB, CBA, and a seventh, a synthesis in which the three are equal.  A second six would be represented by (AB) C, C (AB), A (BC), (BC) A, (CA) B, B (AC), the two bracketed being equal and the third stronger or weaker.  The two groups of six, and the group in which the three are equal, would make thirteen.  “This thirteen may be arranged as a circle of twelve, with one in the centre.  The central one will be synthetic, and will be that class in which all three are equal.  The physical correspondence of this will be the twelve signs of the Zodiac with the Sun at the centre, synthesising all of them.  The spiritual correspondence will be the twelve Creative Orders with the Logos at the centre, synthesising all.”  The arrangement is quite legitimate.—The Theosophist, Vol. XXIX, p. 100. (TCF 1195)

31: Mười Hai Huyền Giai Sáng Tạo. Các đạo sinh thường hoang mang khi cố lý giải những “con số mười hai” trong vũ trụ. Một vị cộng tác gửi gợi ý sau: Trong A Study in Consciousness, bộ ba, bằng một sắp xếp nhóm nội tại, hiển lộ bảy nhóm; có thể biểu diễn như ABC, ACB, BCA BAC, CAB, CBA, và nhóm thứ bảy là một tổng hợp trong đó cả ba bằng nhau. Bộ sáu thứ hai sẽ được biểu diễn bởi (AB) C, C (AB), A (BC), (BC) A, (CA) B, B (AC), hai yếu tố trong ngoặc bằng nhau và yếu tố thứ ba mạnh hơn hay yếu hơn. Hai nhóm sáu, và nhóm trong đó ba yếu tố bằng nhau, sẽ thành mười ba. “Con số mười ba này có thể sắp thành một vòng tròn mười hai, với một ở trung tâm. Yếu tố trung tâm sẽ là tổng hợp, và sẽ là loại mà trong đó cả ba bằng nhau. Tương ứng trên bình diện hồng trần sẽ là mười hai dấu hiệu Hoàng đạo với Mặt Trời ở giữa, tổng hợp tất cả. Tương ứng tinh thần sẽ là mười hai Trật tự Sáng Tạo với Logos ở trung tâm, tổng hợp tất cả.” Cách sắp xếp này hoàn toàn chính đáng.—The Theosophist, Tập XXIX, tr. 100. (TCF 1195)

63. The egoic lotus of the Solar Logos is also considered twenty-one-fold (twenty-one being the number of its petals). It is possible that these petals may appear in seven groups of three each.

63. Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế cũng được xem là nhị thập nhất phân (hai mươi mốt là số cánh của nó). Có thể các cánh này xuất hiện trong bảy nhóm, mỗi nhóm ba cánh.

d.  From the seven Rishis of the Great Bear; this pours in via the Monad and is transmitted downward, merging on the higher levels of the mental plane with seven streams of energy from the Pleiades which come in as the psychical force demonstrating through the solar Angel.

d. Từ bảy Rishi của Đại Hùng Tinh; năng lượng này tuôn vào qua Chân thần và được truyền xuống, hòa nhập ở các cấp cao của cõi trí với bảy dòng năng lượng từ Pleiades vốn đi vào như mãnh lực tâm linh biểu hiện qua Thái dương Thiên Thần.

64. We continue the sources of energies which pour through the seven chakras.

64. Chúng ta tiếp tục liệt kê các nguồn năng lượng tuôn qua bảy luân xa.

65. This is a most occult statement for several reason.

65. Đây là một phát biểu rất huyền bí vì vài lý do.

a. The link between the Rishis of the Great Bear and the human Monad. We would assume that the seven monadic demonstrations on the monadic plane are linked by the intra -planetary Lords of the Seven Rays with the seven types of Monads. The planetary Ray Lords may also be part of this linking as the Planetary Logoi are all connected with the Seven Rishis.

a. Mối liên kết giữa các Rishi của Đại Hùng Tinh và Chân thần con người. Chúng ta có thể giả định rằng bảy biểu lộ chân thần trên cõi chân thần được các Vị Chúa Tể của Bảy Cung nội- hành tinh liên kết với bảy loại Chân thần. Các Đấng Chúa Tể Cung hành tinh cũng có thể tham gia sự liên kết này vì các Hành Tinh Thượng đế đều liên hệ với Bảy Rishi.

b. The link between the Pleiades and the higher mental plane.

b. Mối liên kết giữa Pleiades và cõi thượng trí.

c. The unusual linking of the Pleiades with the Solar Angels! This is an important reference. We see from this linking that that which is transmitted via the Pleiades is more than manasic force. It is also related to soul and consciousness and is thus called “psychical force” and must be considered sentient in nature. The Pleiades are qualified by the third ray, yes, but also by the second and some have suggested the first ray as well as the Pleiades may be reasoned to represent the “Hub of the Wheel” of the “One About Whom Naught May Be Said”.

c. Sự liên kết khác thường giữa Pleiades và các Thái dương Thiên Thần! Đây là một tham chiếu quan trọng. Từ mối liên kết này, chúng ta thấy rằng cái được truyền qua Pleiades là nhiều hơn mãnh lực manas. Nó cũng liên hệ với linh hồn và tâm thức và vì thế được gọi là “mãnh lực tâm linh” và phải được xem là cảm tri theo bản chất. Pleiades được định tính bởi cung ba, đúng vậy, nhưng cũng bởi cung hai và có người còn gợi ý cả cung một vì Pleiades có thể được lý giải như biểu trưng cho “Tâm của Bánh Xe” của “Đấng Bất Khả Tư Nghị”.

All these various streams of energy are passed through certain groups or centres, becoming more active and demonstrating with a freer flow as the course of evolution is pursued.

Tất cả những dòng năng lượng khác nhau này được truyền qua các nhóm hay trung tâm nhất định, trở nên năng động hơn và biểu lộ bằng một lưu lượng tự do hơn khi tiến trình tiến hoá được theo đuổi.

66. Some of the highest sources send their energies through chakras which are super-human altogether. Each Sun is a chakra. Each planet is a chakra.

66. Một số nguồn rất cao gửi năng lượng của chúng qua những luân xa hoàn toàn siêu nhân loại. Mỗi Mặt Trời là một luân xa. Mỗi hành tinh là một luân xa.

67. We have a large number of sources. Some of the higher sources are probably passed through groupings on triadal levels and also through egoic groupings on the higher mental plane before reaching the human chakric system.

67. Chúng ta có một số lượng lớn các nguồn. Một số nguồn cao hơn có lẽ được truyền qua các nhóm ở cấp tam nguyên tinh thần và cũng qua các nhóm chân ngã trên cõi thượng trí trước khi đến hệ luân xa nhân loại.

68. We realize that the transmission is not now flowing as freely as later it will when humanity is more highly evolved.

68. Chúng ta nhận ra rằng hiện nay sự truyền dẫn chưa lưu thông tự do như sẽ có khi nhân loại tiến hoá cao hơn.

As far as man is concerned at present, this energy all converges, and seeks to energise his physical body, and direct his action via the seven etheric centres.

Xét trong phạm vi con người hiện tại, toàn bộ năng lượng này hội tụ, và tìm cách tiếp sinh lực cho thể hồng trần của y, và điều hướng hành động của y qua bảy luân xa dĩ thái.

69. DK may be speaking of average man. We know that for more highly evolved human beings, the centers in the astral body and those on the lower mental plane are also stimulated

69. Chân sư DK có thể đang nói về con người trung bình. Chúng ta biết rằng với những con người tiến hoá cao hơn, các luân xa trong thể cảm dục và những luân xa trên cõi hạ trí cũng được kích thích.

70. When we look for structures in the human energy system which these energy flows may stimulate, we should also include the stimulation of the tiers and petals of the egoic lotus.

70. Khi tìm kiếm những cấu trúc trong hệ năng lượng con người mà các dòng năng lượng này có thể kích thích, chúng ta cũng nên tính đến sự kích thích các tầng và cánh của Hoa Sen Chân Ngã.

71. Finally, however, even if the energies do pass through the tiers and petals of the egoic lotus and through the mental and astral chakras, they do energize the etheric chakras and finally the dense physical body.

71. Tuy nhiên, sau cùng, cho dù các năng lượng có đi qua các tầng và cánh của Hoa Sen Chân Ngã và qua các luân xa trí và cảm, rốt cuộc chúng cũng tiếp sinh lực cho các luân xa dĩ thái và cuối cùng là thể hồng trần đậm đặc.

72. We are probably not yet at the stage where we can detect the flow of these various type of energies through our etheric chakras through we do note the stimulation.

72. Có lẽ chúng ta chưa ở giai đoạn có thể nhận biết dòng chảy của các loại năng lượng khác nhau này qua các luân xa dĩ thái của mình, dù chúng ta có ghi nhận sự kích thích.

These centres receive the force in a threefold manner:

Các trung tâm này tiếp nhận mãnh lực theo ba cách:

73. Now we are becoming quite specific. We are speaking of the receptivity of the seven etheric chakras.

73. Giờ đây chúng ta đi vào phần khá cụ thể. Chúng ta đang nói về tính thụ cảm của bảy luân xa dĩ thái.

a.  Force from the Heavenly Man and, therefore, from the seven Rishis of the Great Bear via the Monad.

a. Mãnh lực từ Đấng Thiên Nhân và, vì vậy, từ bảy Rishi của Đại Hùng Tinh qua trung gian Chân thần.

74. There is an alignment between the seven Rishis of the Great Bear, the Heavenly Man, the Monad (which is a cell within the Heavenly Man) and (via various descending septenates) to the seven etheric chakras.

74. Có một sự chỉnh hợp giữa bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, Đấng Thiên Nhân, Chân thần (vốn là một tế bào trong Đấng Thiên Nhân) và (qua những bộ thất phân giáng hạ khác nhau) đến bảy luân xa dĩ thái.

b.  Force from the Pleiades, via the solar Angel or Ego.

b. Mãnh lực từ Pleiades, qua Thái dương Thiên Thần hay Chân ngã.

75. There is an alignment from the Pleiades to the Solar Angel or Ego and thence to the chakric system, including, one supposes, the lower mental and astral chakras.

75. Có một sự chỉnh hợp từ Pleiades đến Thái dương Thiên Thần hay Chân ngã và từ đó đến hệ luân xa, bao gồm, có thể suy, cả các luân xa hạ trí và cảm dục.

76. We also are aware of the alignment from the Pleiades to the Heavenly Men—a largely manasic alignment.

76. Chúng ta cũng biết về sự chỉnh hợp từ Pleiades đến các Đấng Thiên Nhân—một chỉnh hợp chủ yếu mang tính manas.

77. We can wonder, given the implications of alignment “b.”, whether the Pleiades have a connection with the Heart of the Sun to which the Solar Angels are so closely related. We usually think of Sirius as having such an alignment.

77. Chúng ta có thể tự hỏi, xét theo hàm ý của chỉnh hợp “b.”, liệu Pleiades có liên hệ với Trái Tim của Mặt Trời mà các Thái dương Thiên Thần gắn bó khăng khít chăng. Thông thường, chúng ta nghĩ Sirius có một chỉnh hợp như vậy.

c.  Force from the planes, from the Raja Devas of a plane, or fohatic energy, via the spirillae of a permanent atom.

c. Mãnh lực từ các cõi, từ các Thiên thần Raja của một cõi, hay năng lượng fohat, qua các vòng xoắn của một nguyên tử trường tồn.

78. This is an alignment from solar planes and Solar Plane Lords (considered in their broader solar systemic context) to the Raja Deva Lords of whom the planetary planes are an embodiment, through to the planes and via these spirillae (for planes are spirillae) to the various etheric chakras. We might ask, “To what extent to the systemic planes and subplanes (considered as spirillae) feed the chakras of the human energy system?”

78. Đây là một chỉnh hợp từ các cõi thái dương và các Vị Chúa Tể Cõi Thái Dương (xét trong bối cảnh toàn hệ thái dương) đến các Vị Thiên thần Raja mà các cõi hành tinh là một hiện thân của họ, rồi xuyên qua các cõi và qua những vòng xoắn này (vì các cõi chính là những vòng xoắn) đến các luân xa dĩ thái khác nhau. Chúng ta có thể hỏi: “Ở mức độ nào các cõi và cõi phụ của hệ thái dương (xem như những vòng xoắn) nuôi dưỡng các luân xa của hệ năng lượng con người?”

The permanent atom of a human being sustains an entire vehicle in which the seven chakras make their appearance. Without the permanent atom, the seven chakras would have no medium in which to appear.

Nguyên tử trường tồn của một con người nâng đỡ cả một hiện thể trong đó bảy luân xa xuất hiện. Nếu không có nguyên tử trường tồn, bảy luân xa sẽ không có môi trường để xuất hiện.

79. We wonder what might be the stellar source of this third type of energy. At first one might think it to be the Pleiades, but the Pleiades in this context have been assigned to the second aspect of divinity.

79. Chúng ta tự hỏi nguồn tinh tú nào có thể là nguồn của loại năng lượng thứ ba này. Ban đầu người ta có thể nghĩ là Pleiades, nhưng trong ngữ cảnh này, Pleiades đã được gán cho Phương diện thứ hai của Thiêng liêng.

80. Both Sirius and the Pleiades demonstrate both the second and third aspects and it behooves us to notice the contexts in which one or the other aspect is being discussed in relation to either one.

80. Cả Sirius lẫn Pleiades đều biểu lộ cả Phương diện thứ hai và thứ ba, và điều hợp lẽ là chúng ta phải lưu ý đến ngữ cảnh trong đó một phương diện hay phương diện kia đang được bàn trong liên hệ với mỗi bên.

It is this fact which accounts for the gradual growth and development of a man.

Chính sự kiện này giải thích sự tăng trưởng và phát triển dần dần của con người.

81. All these energies pouring through the various chakras account for the gradual growth and development of a man. The energies do not flow in a manner completed unimpeded or with full force. Thus the growth and development of man is “gradual”.

81. Tất cả những năng lượng tuôn qua các luân xa khác nhau giải thích cho sự tăng trưởng và phát triển dần dần của con người. Các năng lượng không lưu thông theo cách hoàn toàn không bị ngăn trở hay với toàn lực. Vì thế sự tăng trưởng và phát triển của con người là “dần dần”.

At first it is the force of the plane substance, which directs him, causing him to identify [1158] himself with the grosser substance and to consider himself a man, a member of the fourth Kingdom, and to be convinced, therefore, that he is the Not-Self.

Thoạt đầu, ấy là mãnh lực của chất liệu cõi điều hướng y, khiến y đồng hoá [] mình với chất liệu thô trọc và xem mình là con người, một thành viên của giới thứ tư, và vì thế tin chắc rằng mình là Phi-Ngã.

82. When the man is solidly a member of the fourth kingdom of nature, he is entirely identified with planar substance. There are four divisions to be considered:

82. Khi con người vững vàng là một thành viên của giới tự nhiên thứ tư, y hoàn toàn đồng hoá với chất liệu các cõi. Có bốn phân hệ cần xét:

a.  The dense physical level

a. Tầng hồng trần đậm đặc

b.  The etheric level

b. Tầng dĩ thái

c.  The astral level

c. Tầng cảm dục

d.  The lower mental level

d. Tầng hạ trí

83. At this stage, he does not consider himself to be a soul. He has no experience to reveal to him what it would mean to be a soul.

83. Ở giai đoạn này, y không xem mình là một linh hồn. Y chưa có kinh nghiệm để hé mở cho y biết trở thành một linh hồn nghĩa là gì.

84. He is under the sway of the Raja Deva Lords and their many subsidiary representatives—conscious and unconscious. The permanent atoms are more important than the chakras.

84. Y chịu sự chi phối của các Vị Thiên thần Raja và nhiều đại diện phụ thuộc của họ—có ý thức và vô thức. Các nguyên tử trường tồn quan trọng hơn các luân xa.

Later as force from the Ego pours in, his psychical evolution proceeds (I use the word “psychical” here in its higher connotation)

Về sau, khi mãnh lực từ Chân ngã tuôn vào, sự tiến hoá tâm linh của y tiếp diễn (tôi dùng từ “tâm linh” ở đây theo hàm nghĩa cao)

85. When considering the term “psychical” as it is used in relation to the Pleiades, we must consider that it does not have to do with lower psychism but with soul consciousness.

85. Khi cân nhắc thuật ngữ “tâm linh” như được dùng liên hệ với Pleiades, chúng ta phải xét rằng nó không liên quan đến thông linh thấp mà là với tâm thức linh hồn.

86. This section of text confirms that DK is speaking of the second aspect of divinity when referencing “psychical force” and the Pleiades.

86. Đoạn văn này xác nhận rằng Chân sư DK đang nói về Phương diện thứ hai của Thiêng liêng khi đề cập “mãnh lực tâm linh” và Pleiades.

and he begins to consider himself as the Ego, the Thinker, the One who uses the form.

và y bắt đầu xem mình là Chân ngã, Đấng Tư duy, Đấng sử dụng hình thể.

87. From the sections of text above we have learned that the Pleiades (the source of a certain type of “psychical” energy) are involved in helping the man to consider himself as the Ego, the Thinker, the One who uses the form. This should be remembered alongside the many references which refer the Pleiades as bestowers of manas.

87. Từ các đoạn trên, chúng ta học rằng Pleiades (nguồn của một loại năng lượng “tâm linh”) có liên hệ trong việc giúp con người xem mình là Chân ngã, Đấng Tư duy, Đấng sử dụng hình thể. Điều này nên được ghi nhớ song hành với nhiều tham chiếu xem Pleiades là đấng ban manas.

88. Under the influence, the man, the man dissociates himself from devic influence and identification, and becomes increasingly the ‘Spiritual Observer’. He no longer thinks of himself as devic matter and form.

88. Dưới ảnh hưởng này, con người tách mình khỏi ảnh hưởng và đồng nhất hóa mang tính thiên thần, và ngày càng trở thành ‘Nhà Quan Sát Tinh Thần’. Y không còn nghĩ mình là chất liệu thiên thần và hình tướng nữa.

Finally, energy from the Monad begins to be responded to and he knows himself to be neither the man nor the angel, but a divine essence or Spirit.

Sau cùng, năng lượng từ Chân thần bắt đầu được đáp ứng và y biết mình không phải là người cũng chẳng phải là thiên thần, mà là một tinh chất thiêng liêng hay Chân thần.

89. This is the third step and is the objective of all those who approach the third and later initiations. Man must find himself as a Monad, as Spirit, and Essence, a Being.

89. Đây là bước thứ ba và là mục tiêu của tất cả những ai tiến gần lần điểm đạo thứ ba và các lần sau đó. Con người phải tự tìm thấy mình là một Chân thần, là Tinh hoa, là một Hiện Hữu.

These three types of energy demonstrate during manifestation as Spirit, Soul, and Body,

Ba loại năng lượng này biểu hiện trong thời kỳ ngoại hiện như Tinh thần, Linh hồn và Thể,

90. How do they demonstrate outside of manifestation? Obviously the three source energies which manifest as “Spirit, Soul and Body” exist even when body and soul no longer exist.

90. Chúng biểu hiện thế nào bên ngoài thời kỳ ngoại hiện? Hiển nhiên ba nguồn năng lượng vốn biểu hiện như “Tinh thần, Linh hồn và Thể” vẫn tồn tại ngay cả khi thân và linh hồn không còn.

and through them the three aspects of the Godhead meet and converge in man, and lie latent in every atom.

và qua chúng, ba Phương diện của Thượng đế hội tụ và gặp nhau nơi con người, và nằm tiềm ẩn trong mọi nguyên tử.

91. Man is a reflection of the “Godhead”. We notice that the word “head” is incorporated in the word “Godhead”, suggesting that the “head” is the occult, first ray source of energy. Shamballa is the “Head Center” of our Planetary Logos as He manifests on the cosmic physical plane.

91. Con người là phản ảnh của “Bản Thể Thượng đế”. Chúng ta lưu ý rằng từ “đầu” (head) nằm trong từ “Godhead”, gợi rằng “đầu” là nguồn năng lượng huyền bí, cung một. Shamballa là “Luân xa Đầu” của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta khi Ngài biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ.

92. The usual constellational sources corresponding to the three aspects of the Godhead are the Great Bear, Sirius/Little Bear and the Pleiades, but in the sections of text under discussion, the Pleiades are given the place usually occupied by Sirius.

92. Những nguồn chòm sao thường tương ứng với ba Phương diện của Bản Thể Thượng đế là Đại Hùng Tinh, Sirius/Tiểu Hùng Tinh và Pleiades, nhưng trong các đoạn đang bàn, Pleiades được đặt vào vị trí thường do Sirius đảm nhận.

The sevenfold energy of the planes, and therefore of substance, finds its consummation when the four lower centres are fully active.

Năng lượng thất phân của các cõi, và vì vậy của chất liệu, đạt viên mãn khi bốn trung tâm thấp hoàn toàn linh hoạt.

93. Presumably, we must include the splenic center which is sub-diaphragmatic and, so, related to the third aspect of divinity.

93. Hiển nhiên, chúng ta phải kể cả luân xa lá lách vốn ở dưới hoành cách mô, do đó liên hệ với Phương diện thứ ba của Thiêng liêng.

94. The planar energy, the devic energy is, thus, related to the lower quaternary.

94. Năng lượng của các cõi, năng lượng thiên thần, như vậy liên hệ với bộ bốn thấp.

95. We remember that personality cycles manifest in fours and in sevens. The numbers, at least, are linked.

95. Chúng ta nhớ rằng các chu kỳ phàm ngã biểu hiện theo bộ bốn và bộ bảy. Ít nhất, các con số ấy có liên hệ.

96. The devas create the “square”.

96. Các thiên thần kiến tạo “hình vuông”.

The sevenfold energy of the psyche, the consciousness aspect, demonstrates when the three higher in the three worlds are vibrating with accuracy.

Năng lượng thất phân của tâm hồn, tức phương diện tâm thức, biểu hiện khi ba trung tâm cao trong ba cõi rung động chính xác.

97. The psyche has a sevenfold energy.

97. Tâm hồn mang một năng lượng thất phân.

98. We remember that soul cycles manifest in sevens and in threes. The numbers are linked.

98. Chúng ta nhớ rằng các chu kỳ linh hồn biểu hiện theo bộ bảy và bộ ba. Các con số có liên hệ.

99. By the “three higher” is probably meant the three higher centers as they appear on the three planes—the etheric plane, the ‘etheric’ levels of the astral body and the higher mental plane (which are, except for the fourth subplane) the ‘etheric’ levels of the mental plane.

99. “Ba trung tâm cao” có lẽ là ba luân xa cao như chúng xuất hiện trên ba cõi—cõi dĩ thái, các tầng ‘dĩ thái’ của thể cảm dục và cõi thượng trí (các tầng này—trừ cõi phụ thứ tư—là những tầng ‘dĩ thái’ của cõi trí).

100.  The psyche is the consciousness aspect which is related to the Seven Ways of Light. Rayology is related to the second ray just as astrology is related to the third.

100. Ở bình diện linh hồn, bảy cung biểu trưng bảy phương diện của tâm thức.

101.  On the soul level the seven rays represent seven aspects of consciousness.

101. Khoa Cung học liên quan đến cung hai cũng như chiêm tinh học liên quan đến cung ba.

102.  DK seems to be talking about an alignment between the head, heart and throat centers as found on the etheric plane and the astral plane, and the three tiers of petals as found on the higher mental plane. (Note that only four chakras, the lower ones, are found on the lower four subplanes of the mental plane.)

102. Có vẻ Chân sư DK đang nói về một sự chỉnh hợp giữa các luân xa đầu, tim và cổ họng như được tìm thấy trên cõi dĩ thái và cõi cảm dục, và ba tầng cánh hoa như được thấy trên cõi thượng trí. (Lưu ý rằng chỉ có bốn luân xa—những luân xa thấp—hiện diện trên bốn cõi phụ thấp của cõi trí.)

103.  We can wonder whether the ajna center is to be included as a separate center or whether it is to be considered as an aspect of the head center—as if all the many centers in and above the head are really one center.

103. Chúng ta có thể tự hỏi liệu luân xa ajna có được xem như một luân xa riêng hay được xem như một phương diện của luân xa đầu—tựa như tất cả nhiều luân xa trong và trên đầu thực sự là một luân xa.

The sevenfold activity of spirit

Hoạt động thất phân của Chân thần

104.  It is interesting and important that Spirit is considered not only threefold but sevenfold. There are “Seven Spirits of Darkness” and seven types of Monads.

104. Điều này vừa thú vị vừa quan trọng vì Chân thần không chỉ tam phân mà còn thất phân. Có “Bảy Linh Thần của Bóng Tối” và bảy loại Chân thần.

makes itself felt when each of these seven centres is not only fully active but is rotating as “wheels turning upon themselves,” when they are fourth dimensional

biểu lộ khi mỗi trong bảy trung tâm này không chỉ hoàn toàn linh hoạt mà còn xoay như “những bánh xe tự xoay trên chính mình”, khi chúng mang tính bốn chiều

105.  This happens sequentially at each of the initiations—the fourth dimensionality of the etheric centers occurring at the first initiation; the fourth dimensionality of the astral centers occurring at the second and, for the mental centers, at the third.

105. Điều này xảy ra tuần tự ở mỗi lần điểm đạo—tính bốn chiều của các luân xa dĩ thái xuất hiện ở lần điểm đạo thứ nhất; tính bốn chiều của các luân xa cảm dục xuất hiện ở lần thứ hai và, với các luân xa trí, ở lần thứ ba.

106.  What is here said suggests that the sevenfold Spirit is involved even in the earlier phases of the initiatory process. We do know that from the time of the first initiation, the Monad makes a contact with the soul on the higher mental plane though the personality does not register this contact.

106. Điều được nói ở đây gợi rằng bảy phân của Chân thần can dự ngay cả trong các giai đoạn đầu của tiến trình điểm đạo. Chúng ta biết rằng từ lần điểm đạo thứ nhất, Chân thần có tiếp xúc với linh hồn trên cõi thượng trí dù phàm ngã không ghi nhận tiếp xúc ấy.

107.  The manner in which the Spirit is sevenfold must be pondered just as the sevenfold psyche must be pondered.

107. Cách thức Chân thần mang tính thất phân cần được suy tư, cũng như tính thất phân của tâm hồn.

108.  In one sense, Spirit is sevenfold because it expresses through seven principles.

108. Ở một nghĩa, Chân thần là thất phân vì Ngài biểu lộ qua bảy nguyên khí.

and are not only individually alive but are all linked up with the sevenfold head centre.  

và không chỉ sống động như những đơn vị riêng rẽ mà còn đều liên kết với luân xa đầu thất phân.

109.  Which of the head centers is sevenfold, or is DK speaking of what are called the “greater seven”—the higher correspondences to most of the normal chakric system.

109. Luân xa nào trong số các luân xa đầu là thất phân, hay Chân sư DK đang nói về cái gọi là “bộ bảy lớn”—các tương ứng cao của phần lớn hệ luân xa thông thường?

110.  We are given a picture in which each of the chakras in the etheric body is turning on itself, rotating fourth dimensionally and is linked up with one aspect of the sevenfold head center, presumably with one of the “greater seven”.

110. Chúng ta được cho một hình ảnh trong đó mỗi luân xa trong thể dĩ thái đều tự xoay, quay theo tính bốn chiều và được kết nối với một phương diện của luân xa đầu thất phân, có lẽ với một trong “bộ bảy lớn”.

111.  We know that there are seven superior head centers which stand as the “greater seven” to the “lesser seven”. What is not clear at this point is whether these seven are to be considered as within the head or above the head.

111. Chúng ta biết rằng có bảy luân xa đầu thượng thặng vốn đóng vai “bộ bảy lớn” đối với “bộ bảy nhỏ”. Điều chưa rõ ở đây là bảy luân xa này được xem là bên trong đầu hay phía trên đầu.

112.  This leads to the question of whether the entire crown chakra can, in some sense, be considered sevenfold?

112. Điều này dẫn đến câu hỏi liệu toàn bộ luân xa vương miện có thể, theo một nghĩa nào đó, được xem là thất phân chăng?

A man is then seen as he is truly—a network of fire with flaming focal points, transmitting and circulating fiery energy.

Khi ấy, con người được thấy như y thực sự là— một mạng lưới lửa với những điểm tiêu tụ bừng cháy, truyền dẫn và lưu thông hỏa năng.

113.  Some modern spiritual artists have given us this image in a very compelling way.

113. Một số nghệ sĩ tinh thần hiện đại đã cho chúng ta hình ảnh này theo cách rất thuyết phục.

114.  Our usual conception of the human form recedes into the background and man is seen as a dynamic pattern of energy-flows or streams.

114. Quan niệm quen thuộc của chúng ta về hình tướng con người lùi về hậu cảnh và con người được thấy như một mô thức năng động của những dòng hay những luồng năng lượng.

115.  It behooves us to think of man in these terms. This would help to dispel the habitual materialism of our consciousness.

115. Điều hợp lẽ là chúng ta nghĩ về con người theo những thuật ngữ này. Điều đó sẽ giúp xua tan thói quen duy vật trong tâm thức của chúng ta.

These centres not only receive the energy through the top of the head, orthrough a point slightly above the top of the head, to be more accurate, but pass it out through the head centre likewise, that which is being passed out being seen as differing in colour, being brighter and vibrating more rapidly than that which is being received.

Những trung tâm này không chỉ tiếp nhận năng lượng qua đỉnh đầu, hoặc qua một điểm hơi phía trên đỉnh đầu, cho chính xác, mà còn truyền nó ra cũng qua luân xa đầu, với phần được truyền ra được thấy là khác màu, sáng hơn và rung động nhanh hơn phần được tiếp nhận.

116.  Here again we have an important piece of occultism. DK is identifying a point which some call the “soul star”. It is a point of energy reception and transmission.

116. Một lần nữa, đây là một mấu chốt huyền môn quan trọng. Chân sư DK đang xác định một điểm mà có người gọi là “ngôi sao linh hồn”. Nó là một điểm tiếp nhận truyền dẫn năng lượng.

117.  We see that circulation through the centers of man intensifies the energy received from the point slightly above the top of the head.

117. Chúng ta thấy rằng sự lưu thông qua các luân xa nơi con người làm gia tăng cường độ năng lượng được tiếp nhận từ điểm hơi trên đỉnh đầu.

118.  What will be this color difference. Will the color passed out carry the color of the ray of the personality? Will the color received reflect the color of the Spirit or that of the soul or both? We are in a section of text which is dealing with the sevenfold activity of Spirit.

118. Sự khác màu này sẽ ra sao? Màu được truyền ra sẽ mang màu của cung phàm ngã chăng? Màu được tiếp nhận sẽ phản ánh màu của Chân thần hay của linh hồn hoặc cả hai? Chúng ta đang ở một đoạn bàn về hoạt động thất phân của Chân thần.

The etheric body is formed of a negative aspect of fire, and is the recipient of a positive fire.

Thể dĩ thái được cấu tạo từ một phương diện âm của lửa, và là kẻ thụ nhận một hỏa lực dương.

119.  The etheric body is a receptacle. We can consider that prana, per se, is positive to the aspect of fire of which the etheric body is constructed.

119. Thể dĩ thái là một bình chứa. Chúng ta có thể xem prana, tự thân, là dương đối với phương diện lửa mà từ đó thể dĩ thái được kiến tạo.

As the various types of fire blend, merge, and circulate, they gain therebyand produce definite effects in the fires of the microcosmic system. [Page1159]

Khi các loại lửa khác nhau hoà trộn, dung hợp và lưu thông, chúng tăng lực nhờ đó và tạo ra những hiệu quả xác định nơi các ngọn lửa của hệ thống tiểu thiên địa. [Page1159]

120.  Various kinds of fire circulate through the vessel of the etheric body formed of a negative aspect of fire.

120. Nhiều loại lửa khác nhau lưu thông qua bình chứa là thể dĩ thái vốn cấu tạo từ một phương diện âm của lửa.

The centre at the base of the spine (the lowest with which man has consciously to deal)

Luân xa ở đáy cột sống (luân xa thấp nhất mà con người có ý thức phải đối diện)

121.  So there may be still lower centers with which man is in touch only unconsciously?

121. Vậy có thể còn những luân xa thấp hơn nữa mà con người chỉ tiếp xúc một cách vô thức?

is one of a peculiar interest, owing to its being the originating centre for three long streams of energy which pass up and down the spinal column.

là một trung tâm đặc biệt đáng chú ý, do bởi nó là điểm phát nguyên cho ba dòng năng lượng dài chạy lên xuống cột sống.

122.  We are given a further piece of information about the kundalini energy. One wonders whether these three streams of energy can be long before the purification process has occurred.

122. Chúng ta được cung cấp thêm thông tin về năng lượng kundalini. Người ta tự hỏi liệu ba dòng năng lượng này có thể “dài” trước khi tiến trình thanh luyện xảy ra hay không.

This triple stream of force has most interesting correspondences which can be worked out by the intuitive student.

Dòng tam phân mãnh lực này có những tương ứng hết sức thú vị mà đạo sinh trực giác có thể triển khai.

123.  Presumably those correspondences involve the three energy threads which traverse the mental plane and unite the lower triad to the higher triad.

123. Ắt hẳn các tương ứng ấy liên hệ với ba sợi dây năng lượng băng qua cõi trí và nối tam phân thấp với tam nguyên tinh thần.

124.  We note that DK calls it a “triple stream of force” and not a triple stream of energy.

124. Lưu ý rằng Chân sư DK gọi đó là “dòng tam phân mãnh lực” chứ không phải dòng tam phân năng lượng.

Some hints may here be given.  This channel of threefold energy has itself three points of supreme interest, which (to word it so as to convey sense to the interested) may be regarded as:

Một vài gợi ý có thể được đưa ra ở đây. Kênh dẫn tam phân năng lượng này tự nó có ba điểm đặc biệt đáng chú ý, (để diễn đạt sao cho người quan tâm dễ lĩnh hội) có thể được xem là:

1.  The basic centre at the extreme lowest point of the spine.

1. Luân xa căn để ở điểm thấp tột của cột sống.

2.  The alta major centre at the top of the spine.

2. Luân xa alta major ở đỉnh cột sống.

3.  The supreme head centre.

3. Luân xa đầu tối thượng.

125.  DK seems to be telling us that the triple stream either originates from, passes through or terminates in one or other of these three centers.

125. Có vẻ Chân sư DK muốn nói rằng dòng tam phân này hoặc phát nguyên từ, hoặc đi qua, hoặc kết thúc tại một hay những trung tâm này.

126.  We note that DK says of the alta major center that it is at the “top of the spine” and not at the ‘bottom of the skull’. Yet for all that, it can be considered as a center found in relation to the head.

126. Lưu ý rằng Chân sư DK nói luân xa alta major ở “đỉnh cột sống” chứ không phải ở ‘đáy sọ’. Tuy vậy, nó vẫn có thể được xem như một luân xa thuộc vùng đầu.

127.  When DK uses the term supreme head center He is hinting that there are centers other than the alta major center which are not supreme. Perhaps there are many. The head is the macrocosm of the remainder of the body and can be expected to have one center found within it or in its vicinity correlated with each of the other centers.

127. Khi Chân sư DK dùng từ tối thượng cho luân xa đầu, Ngài gợi rằng có những luân xa khác hơn alta major không tối thượng. Có lẽ là nhiều. Cái đầu là đại thiên địa của phần thân còn lại và có thể kỳ vọng sẽ có một luân xa trong hay quanh vùng đầu tương ứng với mỗi luân xa khác.

128.  One wonders if there is a hint in the word “supreme” indicating the acme of the highest of all centers. We note that the word “supreme” is used twice in the section of text above.

128. Người ta tự hỏi liệu có hàm ý trong từ “tối thượng” gợi mức tột đỉnh của luân xa cao nhất. Ta thấy từ “tối thượng” được dùng hai lần ở đoạn trên.

129.  One further wonders why the terms “extreme” and “supreme” are featured in this paragraph.

129. Người ta lại thắc mắc vì sao ở đây hai từ “cực” (extreme) và “tối thượng” (supreme) được nhấn mạnh.

It is, therefore, a miniature picture of the whole evolution of spirit and matter for,

Do đó, nó là một bức tranh thu nhỏ của toàn bộ tiến trình tiến hoá của tinh thần và vật chất, vì:

1.  The lowest centre corresponds to the personality,

1. Trung tâm thấp nhất tương ứng với phàm ngã,

2.  The middle centre to the Ego, or the Thinker,

2. Trung tâm giữa tương ứng với Chân ngã, tức Đấng Tư duy,

3.  The supreme head centre to the Monad.

3. Luân xa đầu tối thượng tương ứng với Chân thần.

130.  So the base of the spine center with its four petals corresponds to the fourfold personality. The alta major center (and this is interesting) corresponds to the Ego or Thinker. Usually, it has a third aspect association. The “supreme head centre” predictably corresponds to the Monad.

130. Vậy luân xa đáy cột sống với bốn cánh của nó tương ứng với phàm ngã bốn phần. Luân xa alta major (điều này thú vị) tương ứng với Chân ngã hay Đấng Tư duy. Thông thường, nó liên hệ phương diện thứ ba. Luân xa đầu “tối thượng” một cách hữu lý tương ứng với Chân thần.

131.  We have noticed that the ajna center has, at various points of evolution, a correspondence with the first, second and third rays. We now note that the alta major center has a correspondence with at least the third and second aspects.

131. Chúng ta đã chú ý rằng luân xa ajna, ở những điểm khác nhau của tiến hóa, có tương ứng với cung một, hai và ba. Giờ chúng ta ghi nhận luân xa alta major có tương ứng với ít nhất phương diện thứ ba và thứ hai.

In the evolution of the fires of the spine, we have a correspondence to the sutratma with its three points of interest, the monadic auric egg, its emitting point, the egoic auric egg, the medial point, and the body or gross form, its lowest point.

Trong sự tiến hoá của các hỏa lực nơi cột sống, chúng ta có một tương ứng với sinh mệnh tuyến với ba điểm đáng lưu ý: noãn hào quang chân thần, điểm phát xạ của nó; noãn hào quang chân ngã, điểm ở giữa; và thể hay hình tướng thô trược, điểm thấp nhất.

132. Here is another fitting correspondence—three fires of the spine are a correspondence to the sutratma (or life thread, which could be conceived as containing the two other threads—the creative thread and the consciousness thread).

132. Đây là một tương ứng rất thích đáng—ba hỏa lực của cột sống là một tương ứng với sinh mệnh tuyến (hay sợi dây sự sống, có thể được quan niệm là bao gồm hai sợi dây khác—sợi dây sáng tạo và sợi dây tâm thức).

133. We learn, that for practical purposes, the monadic auric egg is considered the “emitting point” of the sutratma. The sutratma passes through the egoic auric egg as a medial point and, fittingly, the body or gross form is the lowest point.

133. Chúng ta biết rằng, về phương diện thực hành, noãn hào quang chân thần được xem là “điểm phát xạ” của sinh mệnh tuyến. Sinh mệnh tuyến đi qua noãn hào quang chân ngã như là điểm ở giữa, và thích đáng thay, thể hay hình tướng thô trược là điểm thấp nhất.

134. Of course, from a superhuman perspective, there is much more to the sutratma than its origin within the monadic auric egg; the Universal Sutratma connects all living B/beings in cosmos.

134. Dĩ nhiên, từ một phối cảnh siêu nhân loại, sinh mệnh tuyến còn nhiều hơn phát nguyên trong noãn hào quang chân thần; Sinh mệnh Tuyến Vũ trụ nối kết mọi H/hiện Hữu trong vũ trụ.

Another hint of interest lies in the fact that there exist between these spinal centres, certain gaps (if I may so express it) which have (in the course of evolution) to be bridged by the energetic action of the rapidly growing vibration of the force unit.

Một gợi ý khác đáng quan tâm là tồn tại giữa các trung tâm của cột sống những khoảng cách (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) mà trong (tiến trình tiến hóa) phải được bắc cầu bằng tác động năng động của nhịp rung đang tăng trưởng nhanh của đơn vị mãnh lực.

135.  These “gaps” are an example of hermetic sealing. They prevent the premature mixing and blending of energies.

135. Những “khoảng cách” này là một ví dụ của sự niêm phong huyền thuật. Chúng ngăn ngừa sự pha trộn và hòa hợp sớm của các năng lượng.

136.  The entire integrative process, humanly considered, is intended to overcome various gaps between energies and gaps between aspects of consciousness. Premature mixing will lead to confusion, disorganization and disintegration.

136. Toàn bộ tiến trình tích hợp, xét theo con người, nhằm vượt qua các khoảng cách giữa các năng lượng và các khoảng cách giữa các phương diện của tâm thức. Sự hòa lẫn sớm sẽ dẫn tới hỗn loạn, rối loạn và phân rã.

Between the triple energy of the spinal column and the alta major centre, there is a hiatus,

Giữa năng lượng tam phân của cột sống và luân xa alta major có một khoảng cách,

137.  The alta major center may be at the top of the spinal column, but this reference seems to locate it at the base of the skull towards which the energy rising in the spinal column must reach.

137. Luân xa alta major có thể ở đỉnh cột sống, nhưng tham chiếu này dường như định vị nó ở đáy sọ, nơi mà năng lượng đang vươn lên trong cột sống phải chạm tới.

just as there exists that which must be bridged between the triple lower man and the egoic body,

cũng giống như tồn tại cái cần được bắc cầu giữa phàm nhân tam phân và thể nguyên nhân,

138.  This is a hiatus which is not so often considered as the one existing between the mental unit and the manasic permanent atom.

138. Đây là một khoảng cách không thường được xét đến bằng khoảng cách tồn tại giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas.

139.  This hiatus (between the lower man and the egoic body) is represented on charts by the dotted line separating the lower and higher mental planes.

139. Khoảng cách này (giữa phàm nhân và thể nguyên nhân) được biểu diễn trên các biểu đồ bằng một đường đứt đoạn phân cách giữa cõi hạ trí và cõi thượng trí.

140.  The presence of this hiatus accounts for the fact that the aspiring man cannot (immediately) achieve soul consciousness by desiring and willing to do so.

140. Sự hiện diện của khoảng cách này giải thích vì sao người chí nguyện không thể (ngay lập tức) đạt tâm thức linh hồn chỉ bằng ước muốn và ý chí làm như vậy.

or between the mental unit on the fourth subplane of the mental plane and the solar Angel on the third subplane.

hay giữa đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí và Thái dương Thiên Thần trên cõi phụ thứ ba.

141.  This is another way of expressing the same “gap”. The mental unit is part of man’s personality and is the center around which he integrates his personality. The Solar Angel focuses either on the third subplane or the second and these two spheres of activity (lower mental and higher mental) are, at first, not interpenetrating. At least we should say that the lower man cannot with facility embrace the sphere of activity of the Solar Angel, though the Solar Angel has already, long ago, stimulated the mental unit and can be aware of the content of mind of the lower man.

141. Đây là một cách khác để diễn tả cùng một “khoảng cách”. Đơn vị hạ trí là một phần của phàm ngã của con người và là tâm điểm quanh đó y tích hợp phàm ngã. Thái dương Thiên Thần tập trung hoặc trên cõi phụ thứ ba hoặc thứ hai và hai lĩnh vực hoạt động này (hạ trí và thượng trí) lúc đầu không tương thông. Ta nên nói rằng người thấp không thể dễ dàng ôm trọn lĩnh vực hoạt động của Thái dương Thiên Thần, dù Thái dương Thiên Thần đã từ lâu kích thích đơn vị hạ trí và có thể hay biết nội dung tâm trí của người thấp.

Though we are told that the permanent atomic triad is enclosed in the [1160] causal periphery, nevertheless, from the standpoint of consciousness there is that which must be bridged.

Mặc dù chúng ta được cho biết rằng tam nguyên tử trường tồn được bao chứa trong [] chu vi nhân thể, tuy nhiên, xét từ quan điểm tâm thức, vẫn có cái cần được bắc cầu.

142.  It is important to realize that the “permanent atomic triad” is, indeed, enclosed within the causal periphery. This is an energic fact— though it is not initially a fact in consciousness for the man focussed in his personality consciousness.

142. Điều quan trọng là nhận ra rằng “tam nguyên tử trường tồn” thực sự được bao chứa trong chu vi nhân thể. Đây là một sự kiện năng lượng— cho dù ban đầu không phải là một sự kiện trong tâm thức đối với người còn tập trung vào tâm thức phàm ngã.

143.  Thus we see that the fact of enclosure does not guarantee facile communication between that which is enclosed and that which has enclosed it.

143. Vì vậy chúng ta thấy rằng sự kiện “được bao chứa” không bảo đảm giao tiếp dễ dàng giữa cái bị bao chứa và cái bao chứa nó.

Again, between the alta major centre and the supreme head centre, exists another gulf—a correspondence to the gulf found between the plane of the Ego and the lowest point of the Triad, the manasic permanent atom.

Một lần nữa, giữa luân xa alta major và luân xa đầu tối thượng tồn tại một vực sâu—một tương ứng với vực sâu tìm thấy giữa cõi của Chân ngã và điểm thấp nhất của Tam nguyên tinh thần, tức nguyên tử trường tồn manas.

144.  This is a most important statement. We now see why the circulation between the three major centers related to the head is not readily accomplished. The gap between the alta major center and the supreme head center is like the gap existing between humanity and Shamballa.

144. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng. Giờ chúng ta thấy tại sao sự lưu thông giữa ba luân xa chính liên quan đến vùng đầu không dễ được hoàn tất. Khoảng cách giữa luân xa alta major và luân xa đầu tối thượng giống như khoảng cách tồn tại giữa nhân loại và Shamballa.

145.  One wonders then—if the alta major center is to be associated with the Ego (as here and heretofore stated), then is the fourfold ajna center to be associated with the fourfold mental unit? The numbering is correct. Usually within this triangle associated with the head, the ajna center represents the second aspect of divinity and the alta major center the third aspect, but there seems to be a reversal in this presentation.

145. Vậy thì—nếu luân xa alta major được liên hệ với Chân ngã (như đã và đang được nói), liệu luân xa ajna bốn phần sẽ được liên hệ với đơn vị hạ trí bốn phần? Sự đếm số là phù hợp. Thông thường, trong tam giác liên kết với vùng đầu này, luân xa ajna biểu trưng Phương diện thứ hai của Thiêng liêng và luân xa alta major biểu trưng Phương diện thứ ba, nhưng ở trình bày này dường như có một sự đảo ngược.

146.  In TCF, Chart IX, 823, we see that the antahkarana is threefold. There is a relationship existing between the mental unit and the egoic lotus; there is a relationship existing between the mental unit and the manasic permanent atom; there is also another relationship existing between the egoic lotus and the manasic permanent atom. This last relationship is the one we are discussing in the section of text immediately above.

146. Trong TCF, Biểu đồ IX, 823, chúng ta thấy antahkarana là tam phân. Có một mối liên hệ tồn tại giữa đơn vị hạ trí và Hoa Sen Chân Ngã; có một mối liên hệ tồn tại giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas; cũng có một mối liên hệ nữa giữa Hoa Sen Chân Ngã và nguyên tử trường tồn manas. Chính mối liên hệ sau cùng này là điều chúng ta đang bàn ở đoạn ngay trên đây.

147.  There is no question but that the gulf between the Ego and the manasic permanent atom must be bridged and when it is, the gulf, in the head, between the alta major center and the supreme head center will also be bridged. To bridge the gulf between the Ego and the manasic permanent atom is to bridge the gulf between the Ego on the higher mental plane and the spiritual triad.

147. Không có gì nghi ngờ rằng hố ngăn giữa Chân ngã và Nguyên tử trường tồn thể trí phải được bắc cầu, và khi điều đó xảy ra, thì hố ngăn, ở trong đầu, giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối thượng cũng sẽ được bắc cầu. Bắc cầu hố ngăn giữa Chân ngã và Nguyên tử trường tồn thể trí tức là bắc cầu hố ngăn giữa Chân ngã trên cõi thượng trí và Tam Nguyên Tinh Thần.

148.  The threefold antahkarana as shown on TCF, 823, will be completed in satisfactory measure at the third initiation.

148. Antahkarana tam phân như được trình bày ở TCF, 823, sẽ được hoàn tất ở mức độ thỏa đáng vào lần điểm đạo thứ ba.

149.  Note this piece of information because it is indispensable for understanding the circulation of energy within the major triangle associated with the head.

149. Hãy ghi nhớ mẩu thông tin này vì nó không thể thiếu để thấu hiểu sự lưu thông năng lượng trong tam giác chính liên hệ với vùng đầu.

When man has constructed the antaskarana (which he does during the final stages of his evolution in the three worlds) that gulf is bridged and the Monad and the Ego are closely linked.

Khi con người đã kiến tạo antaskarana (việc mà y thực hiện trong các giai đoạn sau cùng của tiến hoá trong ba cõi), thì hố ngăn đó được bắc cầu và Chân thần với Chân ngã được liên kết mật thiết.

150.  The Monad is linked to the Ego via the spiritual triad but also directly from the “Monadic Jewel” to the “Jewel in the Lotus” within the Ego.

150. Chân thần được nối với Chân ngã qua Tam Nguyên Tinh Thần nhưng cũng liên hệ trực tiếp từ “Bảo châu Chân Thần” đến “Bảo châu trong Hoa Sen” bên trong Chân ngã.

151.  From one point of view the alta major center is the symbol of the personality and the relationship between the supreme head center and the alta major center is like the relationship in astrology between the Sun-sign (alta major center) and the point opposite the Sun-sign—the supreme head center.

151. Xét từ một quan điểm, trung tâm alta major là biểu tượng của phàm ngã và mối liên hệ giữa trung tâm đầu tối thượng và trung tâm alta major giống như mối liên hệ trong chiêm tinh giữa dấu hiệu Mặt Trời (trung tâm alta major) và điểm đối xứng với dấu hiệu Mặt Trời—tức trung tâm đầu tối thượng.

152.  All this tells us that as we work to link the mental unit via the antahkarana to the manasic permanent atom, thus relating the lower and higher triads, we are linking the Monad with the personality and are facilitating the linkage not only of the mental unit with the spiritual triad, but of the Ego with the manasic permanent atom (and, hence, with the lower point of the spiritual triad)!

152. Tất cả điều này cho chúng ta biết rằng khi chúng ta làm việc để nối đơn vị hạ trí qua antahkarana với Nguyên tử trường tồn thể trí, như vậy liên hệ tam nguyên thấp và tam nguyên cao, thì chúng ta đang nối Chân thần với phàm ngã và đồng thời tạo điều kiện cho sự liên kết không chỉ của đơn vị hạ trí với Tam Nguyên Tinh Thần, mà còn của Chân ngã với Nguyên tử trường tồn thể trí (và, do đó, với điểm thấp của Tam Nguyên Tinh Thần)!

153.  DK is also hinting that at the third initiation when the antahkarana is completed (in its first phase, that is) the Monad, the Ego and personality are also linked.

153. Chân sư DK cũng ám chỉ rằng vào lần điểm đạo thứ ba khi antahkarana được hoàn tất (tức là trong giai đoạn thứ nhất của nó) thì Chân thần, Chân ngã và phàm ngã cũng được liên kết.

When man is polarised in his mental body, he begins to bridge the antaskarana.

Khi con người được phân cực trong thể trí của mình, y bắt đầu bắc cầu antaskarana.

154.  Is the achievement of “mental polarization” the same as becoming “polarised in his mental body”? If so, this means that the bridging process known as building the antahkarana can only occur truly after the second initiation, because mental polarization only occurs midway between the second and third initiations.

154. Thành tựu “phân cực trí tuệ” có giống như trở nên “được phân cực trong thể trí của mình” không? Nếu đúng, điều này có nghĩa là tiến trình bắc cầu được gọi là xây dựng antahkarana chỉ có thể thực sự xảy ra sau lần điểm đạo thứ hai, vì phân cực trí tuệ chỉ diễn ra vào khoảng giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba.

155.  Perhaps that moment which occurs between the second and third initiation should be called full or complete mental polarization.

155. Có lẽ khoảnh khắc diễn ra giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba ấy nên được gọi là sự phân cực trí tuệ đầy đủ  hay trọn vẹn.

When the centre between the shoulder blades, referred to earlier in thisTreatise as the manasic centre,

Khi trung tâm giữa hai bả vai, được đề cập trước đó trong Luận này như là trung tâm manas,

156.  We must note that the form of words “manasic centre” is only used once— at this point in the text. (I am trying to find the previous reference which does not include the words “manasic centre”)

156. Chúng ta phải lưu ý rằng dạng ngôn từ “trung tâm manas” chỉ được dùng một lần—  ngay tại điểm này trong văn bản. (Tôi đang cố gắng tìm tham chiếu trước đó vốn không bao gồm các từ “trung tâm manas”)

157.  This “manasic centre” is clearly not the heart center. We could also wonder whether the “manasic center” is the same as the highest point in the pranic triangle located in the lower region between the shoulder blades. Whether or not it is the same as this highest point in the pranic triangle, we realize that it, too, is between the shoulder blades.

157. “Trung tâm manas” này rõ ràng không phải  là trung tâm tim. Chúng ta cũng có thể tự hỏi liệu “trung tâm manas” có phải là cùng một điểm với điểm cao nhất trong tam giác prana, vốn nằm ở vùng thấp hơn  giữa hai bả vai. Dù có hay không trùng với điểm cao nhất của tam giác prana, chúng ta nhận ra rằng nó cũng ở giữa hai bả vai.

158.  If we think about this carefully, we realize that there is a possibility of three centers between the shoulder blades:

158. Nếu suy xét kỹ, chúng ta nhận thấy có khả năng có ba  trung tâm giữa hai bả vai:

a. The highest pranic center, at the lowest possible position between the shoulder blades

a. Trung tâm prana cao nhất, ở vị trí thấp nhất có thể giữa hai bả vai

b. The heart center at the midway point between the shoulder blades

b. Trung tâm tim ở điểm giữa đường giữa hai bả vai

c. A “manasic center” which may be inferred to be still between the shoulder blades but in a position higher than the heart center.

c. Một “trung tâm manas” có thể suy ra là vẫn nằm giữa hai bả vai nhưng ở vị trí cao hơn trung tâm tim.

is vibrating forcefully, then the alta major centre and the head centre, via the throat centre can be united.

đang rung động mạnh mẽ, thì trung tâm alta major và trung tâm đầu, thông qua trung tâm cổ họng có thể được hợp nhất.

159.  It should be noted that the alta major center is placed in a higher position than the throat center. This is significant.

159. Cần lưu ý rằng trung tâm alta major được đặt ở vị trí cao hơn trung tâm cổ họng. Điều này có ý nghĩa.

160.  In the Fifth Ray Formula for uniting the man with the “Angel of the Presence”, we have what may be another hint concerning this “manasic centre”:

160. Trong Công thức Cung năm để hợp nhất con người với “Thiên Thần của Hiện Diện”, chúng ta có thể nhận được một gợi ý khác liên quan đến “trung tâm manas” này:

“The light that radiates from the heart, the throat, and from the centre which stands midway meet and merge.” (EP II 47)

“Ánh sáng phát xạ từ tim, cổ họng, và từ trung tâm đứng ở giữa gặp gỡ và hoà nhập. ” (EP II 47)

161.  The fifth ray is a highly manasic ray and we are dealing with a “manasic centre” which may be found between the throat center and the heart center.

161. Cung năm là một cung rất manasic và chúng ta đang bàn về một “trung tâm manas” có thể được tìm thấy giữa trung tâm cổ họng và trung tâm tim.

162.  The following reference (very obscure) will have to be correlated:

162. Tham chiếu sau đây (rất tối nghĩa) sẽ cần được đối chiếu:

The significance of the four circles in the egoic lotus, and the eight circles of twelve petals each in the etheric lotuses on the mental plane is of great importance. (TCF 861)

Ý nghĩa của bốn vòng tròn trong Hoa Sen Chân Ngã, và tám vòng tròn mỗi vòng mười hai cánh trong các hoa sen dĩ thái trên cõi trí là điều vô cùng quan trọng. (TCF 861)

163.  In some systems of Laya Yoga, the alta major center is said to have 96 petals. 8 x 12 = 96. There may be a correlation between the alta major center and the eight circles of twelve petals each to be found on the mental plane.

163. Trong một số hệ thống Laya Yoga, trung tâm alta major được nói là có 96 cánh. 8 x 12 = 96. Có thể có một sự tương liên giữa trung tâm alta major và tám vòng tròn mỗi vòng mười hai cánh được tìm thấy trên cõi trí.

164.  We have still more hints.

164. Chúng ta còn có thêm những gợi ý nữa.

165.  The “center between the shoulder blades” is not the heart center. Our question: is it the highest point in the pranic triangle or a center still higher than the heart center and associated with the lungs. And does it have eight petals, suggesting the influence of Mercury?

165. “Trung tâm giữa hai bả vai” không phải là trung tâm tim. Câu hỏi của chúng ta: đó có phải là điểm cao nhất trong tam giác prana hay là một trung tâm vẫn cao hơn trung tâm tim và liên hệ với phổi. Và liệu nó có tám cánh, gợi ý ảnh hưởng của Sao Thủy?

166.  We have an alignment between the center between the shoulder blades, the throat center, the alta major center and the supreme head center.

166. Chúng ta có một sự chỉnh hợp giữa trung tâm giữa hai bả vai, trung tâm cổ họng, trung tâm alta major và trung tâm đầu tối thượng.

167.  We have a series of dependencies:

167. Chúng ta có một chuỗi các điều kiện phụ thuộc:

a. The link between the Ego and the manasic permanent atom is dependent upon

a. Mối liên kết giữa Chân ngã và Nguyên tử trường tồn thể trí phụ thuộc vào

b. The link between the alta major center and the supreme head center, which is dependent upon…

b. Mối liên kết giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối thượng, vốn phụ thuộc vào…

c. A link of a certain intensity between the throat center and the alta major center, which is dependent upon…

c. Một mối liên kết với cường độ nhất định giữa trung tâm cổ họng và trung tâm alta major, vốn phụ thuộc vào…

d. The forceful vibration of the center between the shoulder blades—here called the “manasic centre”.

d. Sự rung động mạnh mẽ của trung tâm giữa hai bả vai—ở đây được gọi là “trung tâm manas”.

Man, when he reaches this stage, is a creator in mental matter of a calibre different from the unconsciously working average man.

Khi đạt đến giai đoạn này, con người là một nhà tạo tác trong chất liệu trí tuệ với tầm cỡ khác hẳn người trung bình làm việc một cách vô thức.

168.  Here we have the chakric formula for a mental creator

168. Ở đây chúng ta có công thức luân xa dành cho một nhà tạo tác trí tuệ

He constructs in unison with the plan

Y kiến tạo hoà hợp với Thiên Cơ

169.  The man obeys the following injunction: “The energy of thought is for the good of all and the furtherance of thee Plan of God. Use it not, therefore, for they selfish ends.” (TWM 473)

169. Con người tuân theo lời huấn thị sau: “Năng lượng của tư tưởng là vì lợi ích của tất cả và để thúc đẩy Thiên Cơ của Thượng Đế. Vậy chớ dùng nó cho những mục đích ích kỷ của ngươi.” (TWM 473)

170.  We remember that the Divine Plan is formulated on the atmic plane.

170. Chúng ta nhớ rằng Thiên Cơ được hoạch định trên cõi atma.

and the divine Manasaputra, the Son of Mind, will turn his attention from being a Son of Power in the three worlds

và Đấng Manasaputra Thiêng liêng, Con của Trí Tuệ, sẽ chuyển sự chú tâm khỏi vị thế là một Con của Quyền năng trong ba cõi

171.  Is DK speaking of the human being as an Ego (a Divine Manasaputra or Son of Mind) or is He speaking of a Solar Angel?

171. Chân sư DK đang nói về con người như là một Chân ngã (một Manasaputra Thiêng liêng hay Con của Trí Tuệ) hay Ngài đang nói về một Thái dương Thiên Thần?

172.  The “Son of Mind” is a great power in the lower worlds. This power is meant to dominate all that transpires in the lower worlds.

172. “Con của Trí Tuệ” là một năng quyền  vĩ đại trong các cõi thấp. Quyền năng này được định là chế ngự  mọi diễn biến trong các cõi thấp.

and centre his attention in the Spiritual Triad, thus recapitulating on a higher turn of the spiral, the work he earlier did as man.

và dồn sự chú tâm vào Tam Nguyên Tinh Thần, như thế tái diễn—trên một vòng xoắn cao hơn—công việc y từng làm khi còn là người.

173.  If one thinks carefully about this, we have a very strange statement. We could be speaking of the reorientation of the Solar Angel, but then the Solar Angel already is polarized, minimally, within the spiritual triad and has no need to turn his attention thither. Perhaps, however, we are speaking of the time when the service-mission of the Solar Angel is completed, and it can refocus entirely upon the cosmic etheric planes without attending to the affairs of the human being in the three lower worlds which it has had under supervision.

173. Nếu suy ngẫm cẩn thận về điều này, chúng ta có một mệnh đề rất lạ. Chúng ta có thể đang nói về sự tái định hướng của Thái dương Thiên Thần, nhưng rồi Thái dương Thiên Thần vốn đã  phân cực, tối thiểu là, trong Tam Nguyên Tinh Thần và không cần phải chuyển chú tâm về đó nữa. Tuy nhiên, có lẽ chúng ta đang nói về thời điểm sứ mạng phụng sự của Thái dương Thiên Thần đã hoàn tất, và Ngài có thể tái tập trung hoàn toàn vào các cõi dĩ thái vũ trụ mà không còn lưu tâm đến những sự vụ của con người trong ba cõi thấp vốn lâu nay Ngài giám trông.

174.  This refocusing is followed at the point of the fourth initiation by the return of the Solar Angel to the Heart of the Sun or the Central Spiritual Sun.

174. Sự tái tập trung này được tiếp nối vào thời điểm lần điểm đạo thứ tư bằng việc Thái dương Thiên Thần trở về Trái Tim của Thái Dương hay Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

175.  So the question is: is the Divine Manasaputra or Son of Mind a man or a Solar Angel?

175. Vậy câu hỏi đặt ra là: Đấng Manasaputra Thiêng liêng hay Con của Trí Tuệ là một con người  hay là một Thái dương Thiên Thần?

176.  If a man, then we are speaking about a reorientation of the man from the fourth kingdom of nature into the fifth, which is accomplished by learning to build the antahkarana and center consciousness within the spiritual triad. A higher initiate can do this—an initiate of the third, fourth or fifth degree.

176. Nếu là con người, thì chúng ta đang nói về sự tái định hướng của con người từ giới thứ tư của thiên nhiên sang giới thứ năm, điều này được thực hiện bằng cách học xây dựng antahkarana và an trụ tâm thức trong Tam Nguyên Tinh Thần. Một điểm đạo đồ cấp cao có thể làm điều này—một điểm đạo đồ bậc ba, bốn hoặc năm.

177.  We see that if the earlier state was the state of “man”, then the “Son of Mind” or “Divine Manasaputra” cannot be considered to be ‘man-as-man’, but rather the Jiva, who is the extension-into-matter of the Monad. This Jiva is that which, on the higher mental plane, can be considered the “Ego” in distinction from the Solar Angel or “returning Nirvani”.

177. Chúng ta thấy rằng nếu trạng thái trước đây là trạng thái “con người”, thì “Con của Trí Tuệ” hay “Manasaputra Thiêng liêng” không thể được xem là ‘con người như-người’, mà đúng hơn là Jiva, tức là sự-phóng-chiếu-vào-vật-chất của Chân thần. Jiva này là cái mà, trên cõi thượng trí, có thể được xem là “Chân ngã” phân biệt với Thái dương Thiên Thần hay “vị nirvani quay trở lại”.

178.  The true man is “mind-born” which is the meaning of Manasaputra. The Solar Angel is also “mind-born” but the Monad that sends it forth is more highly ‘positioned’ than is the Monad of man.

178. Con người đích thực  “được sinh bởi trí tuệ”—đó là ý nghĩa của Manasaputra. Thái dương Thiên Thần cũng  “sinh bởi trí tuệ” nhưng Chân thần phóng Ngài ra có ‘địa vị’ cao hơn Chân thần của con người.

179.  There is quite a distinction between ‘man-as-Ego’ and the ‘Solar Angel-as-Ego’. Both are needed to make the Ego as it appears on the higher mental plane, but the Solar Angel is no longer needed to participate in the Ego when that Ego appears as the spiritual triad and, later, as the Monad.

179. Có một khác biệt đáng kể giữa ‘con-người-như-Chân-ngã’ và ‘Thái-dương-Thiên-Thần-như-Chân-ngã’. Cả hai đều cần thiết để tạo nên Chân ngã như nó biểu hiện trên cõi thượng trí, nhưng Thái dương Thiên Thần không còn cần phải tham dự vào Chân ngã khi Chân ngã ấy xuất hiện như Tam Nguyên Tinh Thần và, về sau, như Chân thần.

This becomes possible when the growth of the triangle just above dealt with (base of spine, alta major centre and throat, as they unify in the head) is paralleled by another triplicity, the solar plexus, the heart and the third eye; the energy merging through them is similarly unified in the same head centre.

Điều này trở nên khả hữu khi sự tăng trưởng của tam giác vừa được đề cập ở trên ( đáy cột sống, trung tâm alta major và cổ họng, khi chúng hợp nhất trong vùng đầu) được song hành bởi một bộ ba khác, là tùng thái dương, tim và con mắt thứ ba; năng lượng hợp lưu qua chúng cũng được hợp nhất tương tự trong cùng trung tâm đầu ấy.

180.  We are speaking of two unifications in the supreme head center:

180. Chúng ta đang nói về hai sự hợp nhất trong trung tâm đầu tối thượng:

a. The base of the spine, alta major center and throat center are unified in the supreme head center

a. Đáy cột sống, trung tâm alta major và trung tâm cổ họng được hợp nhất trong trung tâm đầu tối thượng

b. The solar plexus, the heart center and third eye are also unified in the supreme head center.

b. Tùng thái dương, trung tâm tim và con mắt thứ ba cũng được hợp nhất trong trung tâm đầu tối thượng.

c. We seem to be dealing with the merging of two ‘lines’—a ‘hard line’ and a ‘soft line’.

c. Có vẻ như chúng ta đang xử lý sự hoà nhập của hai ‘tuyến’—một ‘tuyến cứng’ và một ‘tuyến mềm’.

d. Let us tabulate the centers involved: base of the spine; solar plexus, heart center, throat center, alta major center, third cosmic ether, supreme head center. We note that the third eye is, in this enumeration, considered an etheric center: it is a magnetized area in the center of the etheric brain.

d. Hãy liệt kê các trung tâm liên hệ: đáy cột sống; tùng thái dương, trung tâm tim, trung tâm cổ họng, trung tâm alta major, dĩ thái vũ trụ thứ ba, trung tâm đầu tối thượng. Chúng ta lưu ý rằng con mắt thứ ba, trong phép liệt kê này, được xem như một trung tâm dĩ thái: đó là một vùng được từ hoá ở giữa não dĩ thái.

e. To be complete we must also include the “manasic centre”, in which case eight centers will be involved in the alignment uniting the base of the spine center with the supreme head center.

e. Để trọn vẹn, chúng ta cũng phải bao gồm cả “trung tâm manas”, trong trường hợp ấy có tám trung tâm sẽ tham dự vào sự chỉnh hợp hợp nhất trung tâm đáy cột sống với trung tâm đầu tối thượng.

f. If we included the “manasic centre” we would have seven merging into one making eight altogether.

f. Nếu chúng ta bao gồm “trung tâm manas” thì sẽ có bảy hợp vào một, tổng cộng thành tám.

181.  I think we can begin to sense the depth of the occultism here under discussion.

181. Tôi nghĩ chúng ta có thể bắt đầu cảm nhận bề sâu của huyền bí học đang được thảo luận ở đây.

Scroll to Top