Chapter 8
It must have been about 11 o’clock, and for the last ten minutes I had been sitting at my desk reading over the notes I had made of last night’s happenings, when suddenly the pleasant voice that I know so well broke into my reverie.
Chắc lúc đó vào khoảng 11 giờ, và trong mười phút cuối tôi đã ngồi ở bàn đọc lại những ghi chép mình đã viết về các sự việc xảy ra đêm qua, thì đột nhiên giọng nói dễ chịu mà tôi biết rất rõ cắt ngang dòng mơ màng của tôi.
“Well, Henry, my friend, so you have accomplished something worthwhile at last. Now perhaps you will admit that you have been able to prove for yourself those things which I told you in my early talks were facts to me.” It was Acharya who had entered my room in his usual unobtrusive manner.
“Nào, Henry, bạn tôi, vậy là cuối cùng anh cũng đã làm được một điều đáng giá. Giờ đây có lẽ anh sẽ thừa nhận rằng anh đã có thể tự mình chứng minh những điều mà trong các cuộc nói chuyện đầu tiên tôi đã bảo anh là những sự kiện đối với tôi.” Đó là Acharya, người đã bước vào phòng tôi theo cách kín đáo thường lệ của ông.
“Yes, Acharya, I am bound to admit that I am beginning to realise that even the things you have told me about in past talks and which I have not yet been able to prove conclusively are undoubtedly provable with more experience. I suppose you are well aware of what happened last night and it is not necessary for me to hand you my report, but I would like you to read it, so that you may check up and see if I have forgotten anything of importance.”
“Vâng, Acharya, tôi buộc phải thừa nhận rằng tôi đang bắt đầu chứng nghiệm rằng ngay cả những điều ông đã kể cho tôi trong các cuộc nói chuyện trước đây mà tôi vẫn chưa thể chứng minh dứt khoát, thì chắc chắn cũng có thể được chứng minh với nhiều kinh nghiệm hơn. Tôi cho rằng hẳn ông đã biết rõ điều gì đã xảy ra đêm qua và tôi không cần phải đưa ông bản tường trình của mình, nhưng tôi muốn ông đọc nó, để ông có thể kiểm tra và xem liệu tôi có quên điều gì quan trọng không.”
Acharya replied that he was only too willing to read my report, and that he wished also to see the record of the second astral journey which we took together. He added he would talk about them for a little while, before passing on to more tuition. After finishing these records, his face showed his appreciation of my efforts—he was obviously extremely pleased that I had been able to put into actual practice some of the tuition he had so patiently given me during the past week or two. I told him how much I was in his debt for his unselfish and much needed help, but he assured me that I need not feel in any way indebted to him, for cases like mine were his particular job in life and that he was well rewarded if those he taught benefitted from that teaching in a real and practical way.
Acharya đáp rằng ông rất sẵn lòng đọc bản tường trình của tôi, và ông cũng muốn xem ghi chép về chuyến du hành cảm dục thứ hai mà chúng tôi đã cùng thực hiện. Ông nói thêm rằng ông sẽ bàn về chúng một lúc trước khi chuyển sang phần huấn luyện khác. Sau khi đọc xong những ghi chép ấy, nét mặt ông cho thấy sự đánh giá cao đối với nỗ lực của tôi—rõ ràng ông hết sức hài lòng vì tôi đã có thể đem vào thực hành thực tế một số điều huấn luyện mà ông đã kiên nhẫn truyền dạy cho tôi trong một hai tuần qua. Tôi nói với ông rằng tôi mang ơn ông biết bao vì sự giúp đỡ vô tư và rất cần thiết ấy, nhưng ông bảo đảm với tôi rằng tôi không cần cảm thấy mắc nợ ông theo bất cứ cách nào, vì những trường hợp như tôi là công việc riêng của ông trong đời, và ông đã được đền đáp xứng đáng nếu những người ông dạy thật sự và thực tiễn được lợi ích từ sự dạy dỗ ấy.
He then started to comment on the past two nights and I listened most attentively. This is what he said: “I must first explain why I took you to the third sphere of the astral world via London; as you know this was quite unnecessary. My reason for it was to make you realise that any town in the world which you might go to in your astral body, looks the same as the physical town you are familiar with, though what you see is not physical, but the astral counterpart of the physical places as they exist on the first sphere of the astral world. In future it will be better to start your journeying from Colombo. You will find it just as easy to get up to spheres higher than the third, which is where you made contact with Daphne, as the same machinery operates, but to do that it is necessary to have a particular place on each sphere, which you visualise in thought and to which your astral body will be transported in the course of a few seconds of time as you know it here.
Sau đó ông bắt đầu bình luận về hai đêm vừa qua và tôi lắng nghe hết sức chăm chú. Đây là điều ông nói: “Trước hết tôi phải giải thích vì sao tôi đã đưa anh đến khối cầu thứ ba của cõi cảm dục qua ngả Luân Đôn; như anh biết, điều đó hoàn toàn không cần thiết. Lý do của tôi là để khiến anh nhận ra rằng bất cứ thành phố nào trên thế giới mà anh có thể đến trong thể cảm dục của mình đều trông giống như thành phố hồng trần mà anh quen thuộc, mặc dù điều anh thấy không phải là hồng trần, mà là đối phần cảm dục của những nơi chốn hồng trần như chúng hiện hữu trên khối cầu thứ nhất của cõi cảm dục. Trong tương lai, tốt hơn anh nên bắt đầu những chuyến du hành của mình từ Colombo. Anh sẽ thấy việc đi lên những khối cầu cao hơn khối cầu thứ ba, là nơi anh đã tiếp xúc với Daphne, cũng dễ dàng như vậy, vì cùng một bộ máy vận hành; nhưng để làm được điều đó, cần phải có một nơi chốn đặc biệt trên mỗi khối cầu, nơi mà anh hình dung trong tư tưởng và thể cảm dục của anh sẽ được chuyển đến đó chỉ trong vài giây theo cách anh biết về thời gian ở đây.
“I expected that you might possibly become a little afraid when your surroundings became blurred and you felt a sense of movement; I must congratulate you on not having experienced an initial failure, which I have noticed sometimes happens to my pupils. They become frightened, and almost simultaneously awaken in their physical bodies, with beating hearts produced by their fear. Actually you have experienced this, for last night you returned to your physical body for a time without having any intention of doing so, when your excitement got the better of you whilst making your attempt to reach Daphne without any assistance from me.
“Tôi đã nghĩ rằng có thể anh sẽ hơi sợ khi khung cảnh chung quanh trở nên mờ nhòe và anh cảm thấy một cảm giác chuyển động; tôi phải chúc mừng anh vì đã không trải qua một thất bại ban đầu, điều mà đôi khi tôi thấy xảy ra với các học trò của mình. Họ trở nên sợ hãi, và gần như đồng thời tỉnh dậy trong thể xác hồng trần, tim đập mạnh vì nỗi sợ ấy. Thật ra anh đã trải qua điều này, vì đêm qua anh đã trở về thể xác hồng trần một lúc mà không hề có ý định làm vậy, khi sự xúc động lấn át anh trong lúc anh cố gắng đến với Daphne mà không có sự trợ giúp của tôi.
“It is unnecessary for me to say anything much concerning the second sphere of the astral world, for it is very like the first, only less crowded and less noisy. In the two spheres nearest to the physical world, the permanent inhabitants live more or less the type of life that has always appealed to them in the physical world. In most cases such people do not remain there for the whole of their astral existence. There are exceptions who are so attached to the material existence, that they have no desire to progress to the higher spheres of the astral world—but they are forced to do so after a period that might run into two or even three hundred years, at which time the ego urges the vehicle he is occupying to pass through the ‘second death’ to the mental world. This method of progress is not the usual one and it would not be yours when the time comes for you to pass into the astral world. You have already realised from seeing the activities of but a few people who live on the third sphere that the life there would appeal to you considerably more than a round of visits to restaurants, theatres, or cinemas.
“Tôi không cần nói nhiều về khối cầu thứ hai của cõi cảm dục, vì nó rất giống khối cầu thứ nhất, chỉ ít đông đúc và ít ồn ào hơn. Trong hai khối cầu gần thế giới hồng trần nhất, những cư dân thường trú sống ít nhiều kiểu đời sống vốn luôn hấp dẫn họ trong thế giới hồng trần. Trong phần lớn trường hợp, những người như thế không ở đó suốt toàn bộ đời sống cảm dục của họ. Có những ngoại lệ quá gắn bó với đời sống vật chất đến nỗi họ không muốn tiến lên các khối cầu cao hơn của cõi cảm dục—nhưng họ bị buộc phải làm như vậy sau một thời kỳ có thể kéo dài đến hai trăm hay thậm chí ba trăm năm, vào lúc đó chân ngã thúc đẩy vận cụ mà y đang chiếm dụng đi qua ‘cái chết thứ hai’ để sang cõi trí. Phương pháp tiến bộ này không phải là thông thường và sẽ không phải là cách của anh khi đến lúc anh bước vào cõi cảm dục. Anh đã nhận ra, chỉ từ việc thấy hoạt động của một số ít người sống trên khối cầu thứ ba, rằng đời sống ở đó sẽ hấp dẫn anh hơn nhiều so với một vòng thăm viếng các nhà hàng, nhà hát hay rạp chiếu bóng.
“I was able to show you both artists and musicians at work in the third sphere, but you must realise that this sphere is not limited to artists or musicians and it would have been quite easy for me to show you great engineers, craftsmen devoted to some particular trade, in fact every type of individual whose consuming interest in life is not bound up with purely material amusements or pursuits.
“Tôi đã có thể cho anh thấy cả các nghệ sĩ lẫn nhạc sĩ đang làm việc trên khối cầu thứ ba, nhưng anh phải hiểu rằng khối cầu này không chỉ giới hạn ở nghệ sĩ hay nhạc sĩ, và tôi hoàn toàn có thể cho anh thấy những kỹ sư lớn, những người thợ thủ công tận tụy với một nghề riêng biệt, thật ra là mọi loại cá nhân mà mối quan tâm cháy bỏng trong đời không gắn chặt với những thú vui hay theo đuổi thuần túy vật chất.
“When you were listening to the music played by the group under Johann Strauss, you saw a few members of that parallel evolution called the deva kingdom. When you have had experience of spheres higher than the third, you will find that not only are they much more numerous there but that they cooperate more and more with members of the human evolution the further we get away from the material life. You may think that their existence is preferable to ours; that you would prefer to evolve from fish, butterflies and birds into the stage of elemental, nature spirits and eventually to a stage of deva such as you saw comprised the orchestra that performed in the wood. We cannot change our evolution, except in very exceptional circumstances.
“Khi anh lắng nghe âm nhạc do nhóm dưới sự dẫn dắt của Johann Strauss trình diễn, anh đã thấy một vài thành viên của đường tiến hoá song song ấy gọi là giới thiên thần. Khi anh có kinh nghiệm về những khối cầu cao hơn khối cầu thứ ba, anh sẽ thấy không những họ đông hơn nhiều ở đó mà họ còn hợp tác ngày càng nhiều với các thành viên của tiến hoá nhân loại khi chúng ta càng rời xa đời sống vật chất. Anh có thể nghĩ rằng sự hiện hữu của họ đáng ưa thích hơn của chúng ta; rằng anh muốn tiến hoá từ cá, bướm và chim đến giai đoạn hành khí, tinh linh tự nhiên và cuối cùng đến một giai đoạn thiên thần như những vị mà anh thấy hợp thành dàn nhạc biểu diễn trong khu rừng. Chúng ta không thể thay đổi đường tiến hoá của mình, trừ trong những hoàn cảnh rất ngoại lệ.
“You probably wondered why I spent so much time at the Academy showing you the work that goes on in buildings of this kind. I did so for two reasons; the first reason was that you should realise that this was but one of the many schools which exist in the astral world, where people can get tuition in the particular art in which they are interested—tuition which enables them to be born in their next life with a desire to continue to study along these lines, so that a few of them at least can become great Masters of their art and help the physical world to progress in both culture and learning. My second reason you must have guessed for yourself. Through your having a clear picture of that Academy in your mind after you had returned to your physical body in Colombo, you were able to get back to that spot quite easily and without any stupendous effort; from there you were able to contact Daphne and continue your astral plane experiences. Do not forget this for the future. Pinpoint a certain building or view in your mind and you can then use that pinpointed picture as a thought-form on which to concentrate, when you desire to go to that particular sphere of consciousness.
“Có lẽ anh đã tự hỏi vì sao tôi dành nhiều thời gian ở Học viện để cho anh thấy công việc diễn ra trong những tòa nhà loại này. Tôi làm vậy vì hai lý do; lý do thứ nhất là để anh nhận ra rằng đây chỉ là một trong nhiều trường học tồn tại trong cõi cảm dục, nơi người ta có thể được huấn luyện về nghệ thuật riêng mà họ quan tâm—sự huấn luyện giúp họ được sinh ra trong kiếp sau với một khát vọng tiếp tục học hỏi theo những đường hướng ấy, để ít nhất một số người trong họ có thể trở thành những bậc đại Chân sư trong nghệ thuật của mình và giúp thế giới hồng trần tiến bộ cả về văn hóa lẫn học thuật. Lý do thứ hai hẳn anh đã tự đoán ra. Nhờ anh có một hình ảnh rõ ràng về Học viện ấy trong tâm trí sau khi anh trở về thể xác hồng trần ở Colombo, anh đã có thể quay lại chỗ đó khá dễ dàng và không cần một nỗ lực phi thường nào; từ đó anh đã có thể tiếp xúc với Daphne và tiếp tục những kinh nghiệm cõi cảm dục của mình. Đừng quên điều này trong tương lai. Hãy ghim chặt một tòa nhà hay một quang cảnh nhất định trong tâm trí anh, rồi anh có thể dùng hình ảnh đã được ghim chặt ấy như một hình tư tưởng để tập trung vào, khi anh muốn đi đến khối cầu tâm thức đặc biệt đó.
“I hope that you have realized very pertinently the necessity of knowing the way in which time affects your sojourn at the astral level. I went into detail over this important point, so that you should understand how to investigate, should the occasion arise.
“Tôi hy vọng anh đã nhận ra rất rõ sự cần thiết phải biết cách thời gian tác động đến thời gian lưu trú của anh ở cấp độ cảm dục. Tôi đã đi vào chi tiết về điểm quan trọng này để anh hiểu cách khảo sát, nếu có dịp phát sinh.
“Our journey to the part of the astral world where the ceremony was being held requires no comment. You will remember that after we arrived there and seated ourselves on the roots of one of the trees at the edge of the open space, I warned you to be as quiet as possible. The reason was that although the members of the deva kingdom do not really object to any human seeing them at their work, they do not like interruptions of any sort.You will have noticed the intensity of purpose that prevailed throughout the whole cere-mony. The little men or gnomes, who came out of the forest in the early stages and started the proceedings with their chanting and beating of drums, are on a much lower level of evolution than both you and the members of the orchestra. One thing though must have been apparent, that all of them seemed to be concentrating with their whole strength on the work in hand. There was no levity or chatter such as one is used to at a concert in the world, immediately prior to the performance. It is this remarkable difference that I wish to impress upon you, for if you are to understand the members of the deva evolution and, I trust, in due time work in conjunction with them, you must realise that life is a very serious business to them and levity does not usually enter into the proceedings. Not that they are unable to laugh; they are indeed extremely happy people who seem to enjoy the simple pleasures of nature but they do not allow outside influences in any way to disturb the perfection of the work to which they set their hands.
“Chuyến đi của chúng ta đến phần cõi cảm dục nơi buổi lễ đang được cử hành không cần bình luận gì. Anh sẽ nhớ rằng sau khi chúng ta đến đó và ngồi trên rễ của một trong những cây ở rìa khoảng đất trống, tôi đã cảnh báo anh phải yên lặng hết mức có thể. Lý do là vì tuy các thành viên của giới thiên thần thật ra không phản đối việc con người nhìn thấy họ đang làm việc, nhưng họ không thích bất cứ sự gián đoạn nào. Hẳn anh đã nhận thấy cường độ mục đích bao trùm toàn bộ buổi lễ. Những người nhỏ bé hay thần lùn, xuất hiện từ khu rừng trong giai đoạn đầu và bắt đầu nghi thức bằng tiếng tụng niệm và tiếng trống, ở một cấp độ tiến hoá thấp hơn rất nhiều so với cả anh lẫn các thành viên của dàn nhạc. Tuy nhiên, có một điều hẳn phải rõ ràng, đó là tất cả họ dường như đều đang tập trung toàn bộ sức lực vào công việc trước mắt. Không có sự bông đùa hay chuyện trò như người ta thường thấy ở một buổi hòa nhạc trong thế gian ngay trước khi biểu diễn. Chính sự khác biệt đáng chú ý này tôi muốn gây ấn tượng nơi anh, vì nếu anh muốn hiểu các thành viên của tiến hoá thiên thần và, tôi hy vọng, đến lúc thích hợp sẽ làm việc phối hợp với họ, thì anh phải nhận ra rằng đối với họ đời sống là một công việc rất nghiêm túc và sự bông đùa thường không xen vào các hoạt động ấy. Không phải là họ không thể cười; thật ra họ là những con người vô cùng hạnh phúc, dường như rất vui với những thú vui đơn sơ của thiên nhiên, nhưng họ không để cho những ảnh hưởng bên ngoài làm xáo trộn theo bất cứ cách nào sự hoàn hảo của công việc mà họ đã đặt tay vào.
“In order that you may understand what follows, I must digress for a few moments. You have probably heard of initiates, masters and adepts in our evolution. These terms occur in occult books, but little has been written about them. Briefly I can tell you this much for the moment. As man evolves along the road that is set before him, he is actually under the control and guidance of a group of adepts, who are perfected man, but who were as you are, countless thousands of years ago. These men have finished the course of lives to be lived at the physical level, for they have learnt all the lessons that the physical world has to teach. Because of their developed love for humanity as a whole, they have elected to remain (at some sacrifice to themselves, as you may understand later on) in connection with this planet, to help it on and to assist in its development. These adepts are sometimes referred to as masters, because some of them take pupils, men living in the world and not yet perfect in any sense of the word, to help them with the work that has to be done. These pupils are given many opportunities of development which are not open to mankind in general, but you may be sure that they have earned these opportunities, and it is not in any way a question of favouritism that they have been picked out from the bulk of humanity for this special work. It is hard work and usually means that such men have to give up many of the things they would do in the world, in order to devote themselves exclusively to learning how they can help humanity, without receiving any material benefit in return for that work. It is selfless service that they offer, and their only reward is that they are allowed to contact personally, in sleep when using their astral bodies, these perfected men whom they have agreed to serve.
“Để anh có thể hiểu điều tiếp theo, tôi phải tạm lạc đề trong vài phút. Có lẽ anh đã nghe nói đến các điểm đạo đồ, các chân sư và các adept trong tiến hoá của chúng ta. Những thuật ngữ này xuất hiện trong các sách huyền bí học, nhưng rất ít được viết về chúng. Tóm lược, lúc này tôi có thể nói với anh chừng này. Khi con người tiến hoá trên con đường đặt ra trước mặt mình, thật ra y đang ở dưới sự kiểm soát và hướng dẫn của một nhóm các chân sư, là những con người đã hoàn thiện, nhưng vô số ngàn năm trước họ cũng từng như anh bây giờ. Những người này đã hoàn tất chuỗi đời sống phải sống ở cấp độ hồng trần, vì họ đã học xong mọi bài học mà thế giới hồng trần phải dạy. Do tình thương đã phát triển của họ đối với toàn thể nhân loại, họ đã chọn ở lại (với một sự hi sinh nào đó cho chính họ, như sau này anh có thể hiểu) trong liên hệ với hành tinh này, để giúp nó tiến lên và hỗ trợ sự phát triển của nó. Những chân sư này đôi khi được gọi là các chân sư, vì một số trong họ nhận học trò, những người đang sống trong thế gian và chưa hoàn thiện theo bất cứ nghĩa nào, để giúp họ trong công việc phải làm. Những học trò này được trao nhiều cơ hội phát triển mà nhân loại nói chung không có, nhưng anh có thể chắc rằng họ đã xứng đáng với những cơ hội ấy, và việc họ được chọn ra khỏi khối đông nhân loại cho công việc đặc biệt này tuyệt nhiên không phải là chuyện thiên vị. Đó là công việc nặng nhọc và thường có nghĩa là những người như thế phải từ bỏ nhiều điều họ vốn sẽ làm trong thế gian, để chuyên tâm học cách họ có thể giúp nhân loại mà không nhận bất cứ lợi ích vật chất nào đổi lại cho công việc ấy. Điều họ dâng hiến là sự phụng sự vô ngã, và phần thưởng duy nhất của họ là được phép tiếp xúc đích thân, trong giấc ngủ khi dùng thể cảm dục, với những con người hoàn thiện mà họ đã đồng ý phụng sự.
“Such pupils, after many lives of work and special training, are prepared for the Initiation ceremonies. These ceremonies give them powers that make them different from the ordinary run of human beings. They teach a man how to read other men’s minds, for by the time that such a man has developed to this state, he will never use that power for anything other than to help a fellow human being. He is taught how to have continuity of consciousness at all levels—as I am teaching you to have continuity of consciousness at the astral and physical levels only; that is something which is difficult for you to understand as yet. Such men can, if necessary, work what the world calls miracles, but this is never done, except on the instructions of one of the adepts who help to govern the planet. There are five stages of initiation and only when the fifth is reached is a man perfect and free from the necessity of being born again into the physical world. Sometimes the lives of initiates are extended, so that a man lives long beyond the normal span, but this is only done for special purposes or because that man is needed in a particular country in the world, to wield an influence which may make a difference to future generations.
“Những học trò như thế, sau nhiều kiếp sống làm việc và được huấn luyện đặc biệt, được chuẩn bị cho các lễ điểm đạo. Những nghi lễ này ban cho họ những quyền năng khiến họ khác với số đông người bình thường. Chúng dạy một người cách đọc tâm trí của người khác, vì đến lúc một người đã phát triển đến trạng thái ấy, y sẽ không bao giờ dùng quyền năng đó cho bất cứ điều gì ngoài việc giúp một đồng loại. Y được dạy cách có sự liên tục của tâm thức ở mọi cấp độ—cũng như tôi đang dạy anh có sự liên tục của tâm thức chỉ ở các cấp độ cảm dục và hồng trần; đó là điều hiện giờ anh còn khó hiểu. Những người như thế, nếu cần, có thể làm điều mà thế gian gọi là phép lạ, nhưng điều này không bao giờ được thực hiện, trừ theo chỉ thị của một trong các chân sư giúp cai quản hành tinh. Có năm giai đoạn điểm đạo, và chỉ khi đạt đến giai đoạn thứ năm thì một người mới hoàn thiện và thoát khỏi sự cần thiết phải tái sinh vào thế giới hồng trần. Đôi khi đời sống của các điểm đạo đồ được kéo dài, để một người sống lâu hơn nhiều so với tuổi thọ bình thường, nhưng điều này chỉ được làm vì những mục đích đặc biệt hoặc vì người ấy cần thiết ở một quốc gia nào đó trên thế giới, để vận dụng một ảnh hưởng có thể tạo nên khác biệt cho các thế hệ tương lai.
“During the deva ceremony at which you were present, you noticed that the young girl who took the solo part in the symphony remained at the top of one of the tall trees on the edge of the glade and did not at any time approach the members of the orchestra or come down to the ground. There is a reason for this. These girls are trained especially for the work they do; they live apart from the main body of the deva people and are in fact dedicated to their particular work. For this they have to develop extremely sensitive bodies, and minds that can attune themselves to the particular object which is being carried out. This girl, for instance, is a highly evolved being; she is an initiate in her evolution and so has knowledge and powers, far greater than the average type of deva whom you will meet from time to time.
“Trong buổi lễ thiên thần mà anh hiện diện, anh nhận thấy cô gái trẻ đảm nhận phần độc tấu trong bản giao hưởng vẫn ở trên ngọn một cây cao nơi rìa khoảng trống và không lúc nào đến gần các thành viên của dàn nhạc hay xuống mặt đất. Có một lý do cho điều này. Những cô gái ấy được huấn luyện đặc biệt cho công việc họ làm; họ sống tách biệt khỏi khối chính của dân thiên thần và thật ra được hiến dâng cho công việc riêng của mình. Vì thế họ phải phát triển những thể cực kỳ nhạy cảm, và những trí tuệ có thể chỉnh hợp với mục tiêu đặc biệt đang được thực hiện. Chẳng hạn cô gái này là một hữu thể tiến hoá rất cao; cô là một điểm đạo đồ trong đường tiến hoá của mình và do đó có tri thức và quyền năng lớn hơn rất nhiều so với loại thiên thần trung bình mà thỉnh thoảng anh sẽ gặp.
“Then there was the priest who completed the ceremony and invoked the Beings who control the universe, to help the work that was being done. He too was a highly evolved being, but nothing near an initiate and probably not even a pupil of one of the perfected men. His calling was that of a priest, who has been taught to gather up the force that has been generated by the concentrated music and the concentrated thoughts of those present and to transmit it through the power of thought to the meeting being held in the physical world. You may perhaps not believe that such things are possible and there is no necessity for you to do so, but to say ‘such things cannot be’ is just as foolish as believing only because someone else has assured you that such and such a thing is true.
“Rồi còn vị tư tế đã hoàn tất buổi lễ và khẩn cầu các Hữu thể cai quản vũ trụ giúp cho công việc đang được thực hiện. Ông ấy cũng là một hữu thể tiến hoá cao, nhưng chưa hề gần mức một điểm đạo đồ và có lẽ thậm chí chưa phải là học trò của một trong những con người hoàn thiện. Thiên chức của ông là một tư tế, người đã được dạy cách thu gom mãnh lực được tạo ra bởi âm nhạc tập trung và tư tưởng tập trung của những người hiện diện, rồi truyền nó bằng quyền năng của tư tưởng đến cuộc họp đang diễn ra trong thế giới hồng trần. Có lẽ anh sẽ không tin rằng những điều như thế là có thể, và anh không cần phải tin, nhưng nói rằng ‘những điều như thế không thể có’ thì cũng ngu xuẩn chẳng kém gì tin chỉ vì có người khác bảo đảm với anh rằng điều này điều kia là thật.
“I welcomed the opportunity Daphne gave us of seeing her little cottage for I knew that at certain times she would not be occupying her room at the Academy. Also I was glad for you to see that there were many people living in the valley where Daphne’s cottage is, for I want you to meet and talk to some of those people. Your story, and the efforts you are making to live a life apart from your body whilst still living in the world, will not only be interesting to some of them, but it will help them also. Some are not as evolved as you are and have not had, in past lives, the opportunities for progress which you had, and which have led to your being given special tuition in this life. Because you have been privileged to be taught, you too must be willing and anxious to pass on any knowledge that you have to others. Your intention of publishing the gist of my talks with you and your wanderings out of your body as a book is a good thing, but that will only help others who are still living in the world. What I tell you now, and in future talks, is not for your ears alone, but for the ears of anyone who is interested enough to want to understand. When you are told things that have to be kept secret, it is usually because the possession of such knowledge would enable men to do harm to others, if such knowledge were used for selfish purposes, but I can assure you that you are never left in doubt about such matters at the stage in development when that type of knowledge may be given to you.
“Tôi hoan nghênh cơ hội mà Daphne đã cho chúng ta để thấy ngôi nhà nhỏ của nàng, vì tôi biết rằng vào những lúc nhất định nàng sẽ không ở trong phòng tại Học viện. Tôi cũng vui vì anh được thấy rằng có nhiều người sống trong thung lũng nơi ngôi nhà nhỏ của Daphne tọa lạc, vì tôi muốn anh gặp và nói chuyện với một số người trong họ. Câu chuyện của anh, và những nỗ lực anh đang thực hiện để sống một đời sống tách khỏi thể xác trong khi vẫn còn sống trong thế gian, sẽ không chỉ làm một số người trong họ quan tâm mà còn giúp họ nữa. Một số người không tiến hoá bằng anh và trong các kiếp trước đã không có những cơ hội tiến bộ mà anh đã có, những cơ hội đã dẫn đến việc anh được trao sự huấn luyện đặc biệt trong kiếp này. Bởi vì anh đã có đặc ân được dạy dỗ, anh cũng phải sẵn lòng và tha thiết truyền lại cho người khác bất cứ tri thức nào anh có. Ý định của anh là xuất bản phần cốt yếu của những cuộc nói chuyện giữa tôi với anh và những chuyến du hành ra khỏi thể xác của anh thành một cuốn sách là điều tốt, nhưng điều đó sẽ chỉ giúp những người vẫn còn sống trong thế gian. Điều tôi nói với anh bây giờ, và trong các cuộc nói chuyện tương lai, không chỉ dành cho tai anh, mà cho tai của bất cứ ai đủ quan tâm để muốn thấu hiểu. Khi người ta được cho biết những điều phải giữ bí mật, thường là vì việc sở hữu tri thức như thế sẽ cho phép con người làm hại người khác nếu tri thức ấy bị dùng cho những mục đích ích kỷ, nhưng tôi có thể bảo đảm với anh rằng anh sẽ không bao giờ bị để trong nghi ngờ về những vấn đề như thế ở giai đoạn phát triển khi loại tri thức đó có thể được trao cho anh.
“This brings me to the end of your record covering the second astral journey, and I must congratulate you on the details you were able to bring through. Your determination to remember was the reason for your success and if you will only realise that will power is, to a great extent, the open-sesame to most of your difficulties, you will continue to have success in the future.
“Điều này đưa tôi đến chỗ kết thúc bản ghi chép của anh về chuyến du hành cảm dục thứ hai, và tôi phải chúc mừng anh về những chi tiết mà anh đã có thể mang về. Quyết tâm ghi nhớ của anh là lý do thành công của anh, và nếu anh chỉ cần nhận ra rằng ý chí, ở một mức độ lớn, là câu thần chú mở cửa cho phần lớn những khó khăn của anh, thì anh sẽ tiếp tục thành công trong tương lai.
“The only important detail that you did not seem to remember, and which you probably did not realise at the time, was that during the ceremony in the open glade, there were several hundred members of the deva kingdom floating gently—more or less hovering—immediately above the open clearing and perhaps some fifteen to twenty feet above the tops of the trees surrounding the glade. They were not merely spectators or a congregation, such as we see in a big church in the world, but they were most certainly active participants in the ceremony through whose efforts, mainly, the necessary force, of which I have spoken, was generated. It would have been interesting if you had seen them, for you would have noticed that at the end of the invocation made by the bearded priest, they seemed to gather up the force for good that had been generated and immediately afterwards moved off in a compact body, presumably to ensure its achieving the desired results. Do not let this lapse on your part worry you in the least, for I can assure you that you have done very well indeed.
“Chi tiết quan trọng duy nhất mà dường như anh không nhớ, và có lẽ lúc đó anh không nhận ra, là trong buổi lễ ở khoảng trống ngoài trời, có vài trăm thành viên của giới thiên thần đang nhẹ nhàng trôi nổi—ít nhiều lơ lửng—ngay phía trên khoảng đất trống và có lẽ cao hơn ngọn những cây bao quanh khoảng trống chừng mười lăm đến hai mươi bộ. Họ không chỉ là khán giả hay một hội chúng, như chúng ta thấy trong một nhà thờ lớn ở thế gian, mà chắc chắn là những người tham dự tích cực trong buổi lễ, nhờ nỗ lực của họ là chính mà mãnh lực cần thiết, điều tôi đã nói đến, được tạo ra. Sẽ rất thú vị nếu anh thấy họ, vì anh hẳn đã nhận ra rằng vào cuối lời khẩn cầu do vị tư tế râu dài thực hiện, họ dường như thu gom mãnh lực thiện đã được tạo ra và ngay sau đó di chuyển đi thành một khối chặt chẽ, có lẽ để bảo đảm cho nó đạt được những kết quả mong muốn. Đừng để sự thiếu sót này về phần anh làm anh bận tâm chút nào, vì tôi có thể bảo đảm với anh rằng anh đã làm rất tốt.
“The urge you felt to try things out for yourself, the following night, was quite a natural one, and whenever similar urges impress you in the future, always act upon them immediately. The urge comes from the ego, which is you, and the ego is only too willing for you to progress in knowledge of this kind. Activities on higher levels than the physical are much more interesting to an ego than the artificial amusements and the normal routine activities that we have to go through in the physical world. The ego of course realises that our physical plane lives are necessary for his progress in evolution; but the goal of this ambition is always the same—for man to emancipate himself and to learn as quickly as possible the lessons that our countless lives are meant to teach us. By doing so he will all the sooner be free from the necessity of being reborn again, and be able to take up a different and much more interesting existence, such as is only possible for someone who has learnt all the lessons that have to be learnt through the medium of physical existence.
“Thúc đẩy mà anh cảm thấy muốn tự mình thử nghiệm vào đêm hôm sau là điều hoàn toàn tự nhiên, và bất cứ khi nào những thúc đẩy tương tự gây ấn tượng nơi anh trong tương lai, hãy luôn hành động theo chúng ngay lập tức. Thúc đẩy ấy đến từ chân ngã, tức là chính anh, và chân ngã rất sẵn lòng để anh tiến bộ trong loại tri thức này. Những hoạt động ở các cấp độ cao hơn hồng trần thú vị đối với chân ngã hơn nhiều so với những trò giải trí nhân tạo và những hoạt động thường nhật bình thường mà chúng ta phải trải qua trong thế giới hồng trần. Dĩ nhiên chân ngã nhận ra rằng những đời sống cõi hồng trần của chúng ta là cần thiết cho sự tiến hoá của y; nhưng mục tiêu của khát vọng này luôn luôn như nhau—để con người tự giải phóng mình và học càng nhanh càng tốt những bài học mà vô số kiếp sống của chúng ta nhằm dạy cho chúng ta. Làm như vậy, y sẽ sớm thoát khỏi sự cần thiết phải tái sinh lần nữa, và có thể đảm nhận một sự hiện hữu khác và thú vị hơn nhiều, điều chỉ có thể đối với người đã học xong mọi bài học phải học qua trung gian của sự hiện hữu hồng trần.
“You can see for yourself how much easier it is for me to explain things now, as you have a fairly good idea of the life that people live on the first, second and third spheres of the world next to this. The third sphere, as you have seen, provides most of the schools for training students in the different arts, and very soon I shall show you the fourth sphere which is really a continuation of the third. The first and second spheres form one stage, the third and fourth the second stage, the fifth and sixth the third stage, and the seventh sphere is the frontier between the astral and the mental worlds.
“Anh có thể tự thấy việc giải thích mọi điều giờ đây đối với tôi dễ hơn biết bao, vì anh đã có một ý niệm khá tốt về đời sống mà người ta sống trên các khối cầu thứ nhất, thứ hai và thứ ba của thế giới kế cận thế giới này. Khối cầu thứ ba, như anh đã thấy, cung cấp phần lớn các trường học để huấn luyện đạo sinh trong các nghệ thuật khác nhau, và rất sớm tôi sẽ cho anh thấy khối cầu thứ tư, thật ra là sự tiếp nối của khối cầu thứ ba. Khối cầu thứ nhất và thứ hai tạo thành một giai đoạn, khối cầu thứ ba và thứ tư là giai đoạn thứ hai, khối cầu thứ năm và thứ sáu là giai đoạn thứ ba, còn khối cầu thứ bảy là biên giới giữa cõi cảm dục và cõi trí.
“On the fourth sphere we find many musicians and artists, who work alone and do not wish to teach or perhaps have finished teaching for the time being. We find doctors doing research work. A number of new remedies to fight sickness and disease are discovered at the astral level. Many groups of research students get together and exchange ideas; although they do not have any physical guinea pigs to work upon, their theories are in due time perfected and impregnated upon the minds and brain cells of doctors doing similar work in the physical world. If you were to ask any medical man engaged in research in this world, whether he had at any time awakened in the morning with the germ of an idea—which possibly would take him months to perfect and put into practice, but which eventually became one of the new advances in medical science—he would probably admit that such was the case. There are buildings, both large and small, which seem to be what we would describe as mental hospitals. Although astral life makes it possible for any normal human being to be completely happy, there are still large numbers of people who cry for the moon and want the impossible. They worry, as they worried in life, and a form of mental neurosis is the usual result. The astral body not only includes a counterpart of the human brain, but it also includes within itself a mental vehicle, commonly referred to as the mind. A man can be troubled by his mind after death; remorse for hasty actions and words in his past life, which he now realises can never be entirely obliterated, cause him a certain amount of suffering, intense or otherwise, according to the sensitivity of the individual. Such cases are often treated by doctors who specialise in mental troubles, with great benefit to both doctor and patient.
“Trên khối cầu thứ tư chúng ta thấy nhiều nhạc sĩ và nghệ sĩ làm việc một mình và không muốn dạy, hoặc có lẽ tạm thời đã ngừng dạy. Chúng ta thấy các bác sĩ làm công việc nghiên cứu. Một số phương thuốc mới để chống bệnh tật được khám phá ở cấp độ cảm dục. Nhiều nhóm đạo sinh nghiên cứu tụ họp lại và trao đổi ý tưởng; tuy họ không có những con chuột bạch hồng trần để làm việc, nhưng các lý thuyết của họ đến lúc thích hợp được hoàn thiện và in dấu lên trí tuệ và tế bào não của các bác sĩ đang làm công việc tương tự trong thế giới hồng trần. Nếu anh hỏi bất cứ thầy thuốc nào đang làm nghiên cứu trong thế giới này xem có khi nào ông thức dậy vào buổi sáng với mầm mống của một ý tưởng—một ý tưởng có thể phải mất nhiều tháng để hoàn thiện và đem vào thực hành, nhưng cuối cùng lại trở thành một trong những bước tiến mới của khoa học y học—thì có lẽ ông sẽ thừa nhận rằng đúng là như vậy. Có những tòa nhà, cả lớn lẫn nhỏ, dường như là điều chúng ta sẽ mô tả như bệnh viện tâm thần. Tuy đời sống cảm dục khiến bất cứ người bình thường nào cũng có thể hoàn toàn hạnh phúc, vẫn còn rất nhiều người đòi trăng trên trời và muốn điều không thể. Họ lo lắng như họ đã lo lắng khi còn sống, và một dạng rối loạn thần kinh trí tuệ thường là kết quả. Thể cảm dục không chỉ bao gồm một đối phần của bộ não con người, mà còn bao gồm trong chính nó một vận cụ trí tuệ, thường được gọi là trí tuệ. Một người có thể bị trí tuệ của mình làm khổ sau khi chết; sự hối hận về những hành động và lời nói hấp tấp trong đời sống trước của ông, mà giờ đây ông nhận ra không bao giờ có thể hoàn toàn xóa bỏ, gây cho ông một mức độ đau khổ nào đó, mãnh liệt hay không, tùy theo độ nhạy cảm của cá nhân. Những trường hợp như thế thường được điều trị bởi các bác sĩ chuyên về các rối loạn trí tuệ, đem lại lợi ích lớn cho cả bác sĩ lẫn bệnh nhân.
“On the fifth and sixth spheres, you will find still more research workers, such as psychoanalysts and brain, heart and other specialists.
“Trên khối cầu thứ năm và thứ sáu, anh sẽ thấy còn nhiều người làm nghiên cứu hơn nữa, như các nhà phân tâm học và các chuyên gia về não, tim và những ngành khác.
“It is quite usual for doctors and specialists in different branches of science to live many consecutive lives in which they carry on with the same type of work; you can imagine how invaluable it is to such men to meet their confreres at the astral level, where all knowledge is pooled in the interests of humanity. There are groups of philosophers who wish to help the world in their particular way; they feel that if the trend of thought in the world were changed to more progressive lines than wars and national domination, life would be considerably more comfortable and more desirable. There are mystics who believe that mankind can best be helped by meditation along such lines as the ‘Unity of Life.’ There are other deeply religious beings who feel that man can advance only if he is attached to some religious belief or dogma; such men endeavour to produce a perfect religion by taking points of doctrine from all the great religions of the past and present and blending them into a new philosophy. The devas concern themselves deeply with all this work—as you will see for yourself in due time.
“Việc các bác sĩ và chuyên gia trong những ngành khoa học khác nhau sống nhiều kiếp liên tiếp để tiếp tục cùng một loại công việc là điều khá thông thường; anh có thể hình dung điều đó vô giá biết bao đối với những người như thế khi được gặp các đồng nghiệp của mình ở cấp độ cảm dục, nơi mọi tri thức được gom chung vì lợi ích của nhân loại. Có những nhóm triết gia muốn giúp thế giới theo cách riêng của họ; họ cảm thấy rằng nếu xu hướng tư tưởng trong thế giới được chuyển đổi theo những đường hướng tiến bộ hơn chiến tranh và sự thống trị quốc gia, thì đời sống sẽ dễ chịu và đáng sống hơn nhiều. Có những nhà thần bí tin rằng nhân loại có thể được giúp tốt nhất bằng tham thiền theo những đường hướng như ‘Sự Hợp Nhất của Sự Sống’. Có những hữu thể sùng đạo sâu sắc khác cảm thấy rằng con người chỉ có thể tiến bộ nếu gắn bó với một tín ngưỡng hay giáo điều tôn giáo nào đó; những người như thế cố gắng tạo ra một tôn giáo hoàn hảo bằng cách lấy các điểm giáo lý từ mọi tôn giáo lớn trong quá khứ và hiện tại rồi hòa trộn chúng thành một triết lý mới. Các thiên thần quan tâm sâu sắc đến toàn bộ công việc này—như đến lúc thích hợp anh sẽ tự thấy.
“On these levels world economic problems are discussed and worked upon for months and years. When certain conclusions are arrived at by these specialists, remedies are tried out by means of impressing these conclusions upon the minds of human beings living in the world who are in positions where their advice will be acted upon by nations or powerful groups of reformers, for mankind must be helped when crises in the world are too great and too serious for them to solve by their own endeavours. In periods of crisis great world leaders seem to stand on a pinnacle and shine—often a man who previously was but a humble politician or leader of a party arises and becomes a prominent figure in world politics; wisdom and leadership far above what would normally be expected of him is the result, which all can observe. When the crisis is over and his great work is finished, such a man seems to go back into his former obscurity. Such men are chosen and they are helped by one or other of the great Beings who brood over this universe for the benefit of mankind. Whilst the period of overshadowing lasts, they are indeed supermen; but when the crisis is over, this overshadow has to be withdrawn for each man has free will by right and may only be helped so far and no further.
“Ở các cấp độ này, những vấn đề kinh tế thế giới được thảo luận và nghiên cứu trong nhiều tháng và nhiều năm. Khi các chuyên gia này đi đến những kết luận nhất định, các biện pháp khắc phục được thử nghiệm bằng cách in dấu những kết luận ấy lên trí tuệ của những người đang sống trong thế gian, những người ở vào vị trí mà lời khuyên của họ sẽ được các quốc gia hay những nhóm cải cách có thế lực thực hiện, vì nhân loại phải được giúp đỡ khi những cuộc khủng hoảng trong thế giới quá lớn và quá nghiêm trọng để họ có thể tự giải quyết bằng nỗ lực riêng. Trong những thời kỳ khủng hoảng, các nhà lãnh đạo lớn của thế giới dường như đứng trên một đỉnh cao và tỏa sáng—thường là một người trước đó chỉ là một chính trị gia khiêm tốn hay lãnh tụ của một đảng phái bỗng nổi lên và trở thành một nhân vật nổi bật trong chính trị thế giới; minh triết và khả năng lãnh đạo vượt xa điều người ta thường mong đợi nơi ông là kết quả mà ai cũng có thể quan sát. Khi khủng hoảng qua đi và công việc lớn lao của ông hoàn tất, người ấy dường như lại trở về với sự mờ nhạt trước kia. Những người như thế được chọn và họ được giúp đỡ bởi một hay một vị khác trong các Hữu thể vĩ đại đang phủ bóng lên vũ trụ này vì lợi ích của nhân loại. Trong khi thời kỳ phủ bóng còn kéo dài, họ thật sự là những siêu nhân; nhưng khi khủng hoảng qua đi, sự phủ bóng này phải được rút lại vì mỗi người có tự do ý chí theo quyền của mình và chỉ có thể được giúp đến một mức nào đó, không hơn.
“On these levels there are men who are interested in the growing shortage of food for a humanity that is increasing by millions each year. Devas help with their problems by suggesting new methods of cultivation; these suggestions are put into the minds of those living in the world who are responsible for such problems in their particular regions. In this way new ideas and methods come to light and are gradually adopted by mankind.
“Ở các cấp độ này có những người quan tâm đến tình trạng thiếu lương thực ngày càng tăng cho một nhân loại đang tăng thêm hàng triệu người mỗi năm. Các thiên thần giúp giải quyết vấn đề của họ bằng cách gợi ý những phương pháp canh tác mới; những gợi ý này được đưa vào trí tuệ của những người đang sống trong thế gian, những người chịu trách nhiệm về những vấn đề ấy trong khu vực riêng của họ. Bằng cách này, những ý tưởng và phương pháp mới được đưa ra ánh sáng và dần dần được nhân loại chấp nhận.
“You will be able to attend some of the conferences which take place in these spheres and prove for yourself that what I am telling you is indeed true, but it is not likely that you will be able to remain at such conferences until conclusions are reached, for they often go on for weeks or months, calculated by your idea of time, and naturally you will have to return to your body after a few hours away from it. Great progress is often made at such conferences and suggestions are made to people living in the world, which enable humanity to advance in all its different ways.
“Anh sẽ có thể tham dự một số hội nghị diễn ra trong các khối cầu này và tự mình chứng minh rằng điều tôi đang nói với anh quả thật là đúng, nhưng không chắc anh có thể ở lại những hội nghị ấy cho đến khi đi đến kết luận, vì chúng thường kéo dài nhiều tuần hay nhiều tháng, tính theo quan niệm thời gian của anh, và dĩ nhiên anh sẽ phải trở về thể xác sau vài giờ rời khỏi nó. Những hội nghị như thế thường đạt được tiến bộ lớn và những gợi ý được đưa ra cho những người đang sống trong thế gian, nhờ đó nhân loại có thể tiến bộ theo mọi cách khác nhau.
“You probably have wondered why the world progresses much more quickly one century than another. It is not only that distances have been obliterated by air travel and such things as wireless, but simply because mankind in general is slowly but surely becoming more interested in solving existing problems, and by such solution the masses benefit. In other words, the more evolved men are becoming more and more unselfish, which proves that they, at least, have learnt some of the lessons that lives in the physical world are meant to teach us all.
“Có lẽ anh đã tự hỏi vì sao thế giới tiến bộ nhanh hơn nhiều trong thế kỷ này so với thế kỷ khác. Không chỉ vì khoảng cách đã bị xóa bỏ bởi hàng không và những thứ như vô tuyến, mà đơn giản vì nhân loại nói chung đang chậm mà chắc ngày càng quan tâm hơn đến việc giải quyết những vấn đề hiện hữu, và nhờ sự giải quyết ấy mà quần chúng được hưởng lợi. Nói cách khác, những người tiến hoá hơn đang ngày càng trở nên vô tư hơn, điều đó chứng tỏ rằng ít nhất họ đã học được một số bài học mà những đời sống trong thế giới hồng trần nhằm dạy cho tất cả chúng ta.
“It is difficult to explain the work of the deva kingdom, for the methods used are so very different from those to which you are accustomed. To understand it all, you have to remember that the deva kingdom controls to a large extent the part of life we call Nature; the seas, the winds, the use of the sun in cultivation and such things as the correct times of the year for planting different seeds, are all part of the particular domain of the devas. They join in discussions with members of our evolution, when their specific knowledge and experience can be utilised. Usually they transmit their thoughts through a mental process and not through words—but they can use the medium of speech when it is necessary for them to do so. From time to time you hear in the world of a tornado, a cyclone or an earthquake that leaves in its wake much loss of human life, devastation and thousands of homeless. You may have wondered why a beneficent Providence could allow such things to happen, but have you looked for the possible reason of such tragedies? Is it not true, that previous to such devastation, men and women have been living in those places under conditions which breed crime instead of progress? A tragedy such as I visualise could easily be the means of awakening a slothful government to its responsibilities, and often a rebuilding scheme is at once commenced, so that those who remain alive may be housed under conditions considerably more favourable than before. The devas control these cyclones and earthquakes and I know from personal experience that their pity for a humanity which, through its blindness, make such disasters necessary, is great indeed. They allocate large numbers of their people to meet those unfortunates who lose their lives through these disasters, as they pass from the physical to the astral world, do all in their power to minister to their fear and help them acclimatise themselves to their new conditions. It is the same when world wars take place and innumerable souls are slung out of their bodies by modern weapons. There are insufficient astral helpers belonging to our evolution to deal with the rate of killing that accompanies an army advancing against heavy opposition, so members of the deva evolution take their places side by side with men, to do what they can to help the many who are terrified at the moment of their passing. It is indeed true that there are times when men and angels (devas) walk in unison, each serving God to the utmost of his being.
“Thật khó giải thích công việc của giới thiên thần, vì những phương pháp được dùng quá khác với những gì anh quen thuộc. Để hiểu toàn bộ điều đó, anh phải nhớ rằng giới thiên thần kiểm soát ở một mức độ lớn phần đời sống mà chúng ta gọi là Thiên nhiên; biển cả, gió, việc sử dụng mặt trời trong canh tác và những điều như thời điểm đúng trong năm để gieo các loại hạt khác nhau, tất cả đều thuộc lãnh vực riêng của các thiên thần. Họ tham gia thảo luận với các thành viên của tiến hoá chúng ta khi tri thức và kinh nghiệm chuyên biệt của họ có thể được sử dụng. Thông thường họ truyền đạt tư tưởng của mình qua một tiến trình trí tuệ chứ không bằng lời—nhưng họ có thể dùng phương tiện ngôn ngữ khi cần thiết. Thỉnh thoảng anh nghe trong thế gian nói đến một cơn lốc xoáy, một trận cuồng phong hay một trận động đất để lại phía sau nhiều sinh mạng con người bị mất, sự tàn phá và hàng ngàn người không nhà. Có thể anh đã tự hỏi vì sao một Thiên Ý nhân từ lại có thể cho phép những điều như thế xảy ra, nhưng anh đã tìm nguyên nhân khả dĩ của những bi kịch ấy chưa? Có phải là đúng không, rằng trước những sự tàn phá như thế, những người nam và nữ đã sống ở những nơi ấy trong những điều kiện nuôi dưỡng tội ác thay vì tiến bộ? Một bi kịch như tôi hình dung hoàn toàn có thể là phương tiện đánh thức một chính quyền trì trệ trước trách nhiệm của mình, và thường thì một kế hoạch tái thiết được khởi sự ngay, để những người còn sống có thể được cư trú trong những điều kiện thuận lợi hơn đáng kể so với trước. Các thiên thần kiểm soát những cơn cuồng phong và động đất này, và tôi biết từ kinh nghiệm cá nhân rằng lòng thương xót của họ đối với một nhân loại mà do sự mù quáng của mình đã khiến những tai họa như thế trở nên cần thiết, quả thật rất lớn. Họ phân bổ rất nhiều người của họ để đón những kẻ bất hạnh mất mạng trong các tai họa ấy khi họ đi từ thế giới hồng trần sang cõi cảm dục, làm mọi điều trong khả năng để xoa dịu nỗi sợ của họ và giúp họ thích nghi với hoàn cảnh mới. Cũng như vậy khi các cuộc chiến tranh thế giới diễn ra và vô số linh hồn bị văng ra khỏi thể xác bởi vũ khí hiện đại. Không có đủ những người trợ giúp cảm dục thuộc tiến hoá của chúng ta để đối phó với tốc độ giết chóc đi kèm một đạo quân tiến công trước sự kháng cự mạnh, nên các thành viên của tiến hoá thiên thần đứng vai kề vai với con người để làm những gì họ có thể nhằm giúp đỡ nhiều người đang kinh hoàng vào lúc lìa đời. Quả thật có những lúc con người và thiên thần bước đi đồng điệu, mỗi bên phụng sự Thượng đế bằng tất cả hữu thể của mình.
“I must now tell you a little about life as it is lived on the seventh and last sphere of the astral world. The first thing that will strike you, when you visit that part, is the complete absence of buildings of any sort. There are no signs of human habitation at all, but you will find that there are permanent residents living at this level, although they do everything in their power to discourage contact when other humans approach. Such men are of the opinion that their progress in evolution can only be accomplished by resorting to complete seclusion and a life of silence. In the physical world there are holy men who live apart from humanity in out-of-the-way places at the foot of, or at the top of lonely mountains where humans seldom penetrate. These men spend their lives in meditation, fasting and living what the world would describe as an ascetic life. Such men are the same after death and in due time they make their way to the seventh sphere of the astral world, and continue their lives of meditation there. You will find men who during their earthly lives as monks or friars were members of brotherhoods which enjoyed absolute silence and a life apart from other normal human beings. These men have become so used to living within themselves, praying for long periods for the helping of mankind that after death they derive solace in continuation of the same existence that they lived for so many years on earth. There is no necessity at the astral level for any such persons to seek for a cave or build themselves houses to live in. Neither food nor accommodation is necessary to their existence, so they usually live in the open, in woods and out-of-the-way places, where they are most likely to be left alone and undisturbed.
“Giờ đây tôi phải nói với anh đôi chút về đời sống như nó được sống trên khối cầu thứ bảy và cuối cùng của cõi cảm dục. Điều đầu tiên sẽ gây ấn tượng nơi anh khi anh viếng thăm phần đó là sự vắng mặt hoàn toàn của mọi loại công trình kiến trúc. Không hề có dấu hiệu nào của nơi cư trú con người, nhưng anh sẽ thấy rằng có những cư dân thường trú sống ở cấp độ này, dù họ làm mọi điều trong khả năng để ngăn cản sự tiếp xúc khi những con người khác đến gần. Những người như thế cho rằng sự tiến bộ trong tiến hoá của họ chỉ có thể đạt được bằng cách hoàn toàn ẩn cư và sống đời im lặng. Trong thế giới hồng trần có những thánh nhân sống tách khỏi nhân loại ở những nơi hẻo lánh dưới chân hoặc trên đỉnh những ngọn núi cô tịch mà con người hiếm khi đặt chân tới. Những người này dành đời mình cho tham thiền, nhịn ăn và sống điều mà thế gian sẽ mô tả là một đời sống khổ hạnh. Sau khi chết, những người như thế vẫn vậy và đến lúc thích hợp họ tìm đường đến khối cầu thứ bảy của cõi cảm dục, rồi tiếp tục đời sống tham thiền ở đó. Anh sẽ thấy những người mà trong đời sống trần thế, với tư cách tu sĩ hay giáo sĩ, đã là thành viên của những huynh đệ đoàn thực hành sự im lặng tuyệt đối và một đời sống tách biệt khỏi những con người bình thường khác. Những người này đã quá quen với việc sống trong nội tâm mình, cầu nguyện lâu dài cho sự trợ giúp nhân loại, đến nỗi sau khi chết họ tìm được sự an ủi trong việc tiếp tục cùng một sự hiện hữu mà họ đã sống suốt bao năm trên trái đất. Ở cấp độ cảm dục, những người như thế không cần phải tìm hang động hay xây nhà để ở. Thức ăn lẫn chỗ ở đều không cần thiết cho sự hiện hữu của họ, nên họ thường sống ngoài trời, trong rừng và những nơi hẻo lánh, nơi họ có nhiều khả năng được để yên và không bị quấy rầy.
“In addition to the humans who live at this level, you will find countless numbers of highly evolved members of the deva kingdom that carry on work but have no contact whatever with the members of our evolution.
“Ngoài những con người sống ở cấp độ này, anh sẽ thấy vô số thành viên tiến hoá rất cao của giới thiên thần đang tiếp tục công việc nhưng hoàn toàn không tiếp xúc với các thành viên của tiến hoá chúng ta.
“You will also find those human beings whose sojourn at the astral level is over and who have to pass through this seventh sphere in order to reach the mental world through which they must pass on their journey back to the higher part of themselves, the ego, who has his natural habitat on the higher spheres of the mental world—called the casual level. These humans are usually accompanied to the seventh sphere by guides, who are men like themselves but more evolved and older souls; the particular work of these guides is to explain, in detail, what is meant by the second death. The journey from the astral world to the mental world is entirely painless and is merely the dropping of another sheath. The guides make it their business to eradicate any fear that might arise in the minds of these people, for although we have all travelled the same journey many times before, after each physical incarnation has been completed, yet we do not remember those previous journeys, because for each new physical incarnation we have entirely new mental, astral and physical bodies, which do not carry with them detailed memories of past lives. The passing from the astral to the mental world is something outside the control of the average individual and, when his time comes, he is forced to drop his astral body for the simple reason that he has no further experience to gain at the astral level; he must then pass to the mental world in order to consolidate the mental work that he has accomplished during his physical existence and add it to the reservoir of knowledge, contained within the permanent atom, representing all his previous lives. Having received all the necessary information that can be given to him on the subject of his passing, the man gradually falls asleep and awakes almost immediately in the mental world, having during that brief moment of sleep dropped his astral body forever. Friends meet him in the mental world in exactly the same way as friends met him when he passed from the physical to the astral world. He commences an entirely new type of life; in the case of the average man this is usually much shorter than his life in the astral world, though the duration is longer for evolved men.
“Anh cũng sẽ thấy những con người mà thời gian lưu trú của họ ở cấp độ cảm dục đã chấm dứt và họ phải đi qua khối cầu thứ bảy này để đến cõi trí, nơi họ phải đi qua trên hành trình trở về phần cao hơn của chính mình, chân ngã, vốn có nơi cư trú tự nhiên trên các khối cầu cao của cõi trí—được gọi là cấp độ nguyên nhân. Những con người này thường được các vị hướng dẫn đưa đến khối cầu thứ bảy; đó là những người giống như họ nhưng tiến hoá hơn và là những linh hồn già dặn hơn; công việc riêng của các vị hướng dẫn này là giải thích chi tiết ý nghĩa của cái chết thứ hai. Cuộc hành trình từ cõi cảm dục sang cõi trí hoàn toàn không đau đớn và chỉ đơn thuần là việc buông bỏ thêm một lớp vỏ nữa. Các vị hướng dẫn lấy việc xóa bỏ bất cứ nỗi sợ nào có thể nảy sinh trong trí tuệ của những người này làm nhiệm vụ của mình, vì tuy tất cả chúng ta đã đi cùng một hành trình ấy nhiều lần trước đây, sau mỗi lần nhập thể hồng trần hoàn tất, nhưng chúng ta không nhớ những hành trình trước đó, bởi vì với mỗi lần nhập thể hồng trần mới, chúng ta có những thể trí, thể cảm dục và thể xác hoàn toàn mới, những thể này không mang theo những ký ức chi tiết về các kiếp trước. Việc chuyển từ cõi cảm dục sang cõi trí là điều nằm ngoài sự kiểm soát của cá nhân trung bình, và khi thời điểm của ông đến, ông bị buộc phải buông bỏ thể cảm dục của mình vì lý do đơn giản là ông không còn kinh nghiệm nào để thu nhận ở cấp độ cảm dục nữa; khi đó ông phải sang cõi trí để củng cố công việc trí tuệ mà ông đã hoàn thành trong đời sống hồng trần và thêm nó vào kho tri thức chứa trong Nguyên tử trường tồn, đại diện cho tất cả các kiếp trước của ông. Sau khi nhận được mọi thông tin cần thiết có thể được trao cho ông về việc chuyển tiếp của mình, người ấy dần dần chìm vào giấc ngủ và gần như lập tức tỉnh dậy trong cõi trí, trong khoảnh khắc ngủ ngắn ngủi ấy đã buông bỏ thể cảm dục của mình mãi mãi. Bạn bè đón ông trong cõi trí đúng như cách bạn bè đã đón ông khi ông chuyển từ thế giới hồng trần sang cõi cảm dục. Ông bắt đầu một loại đời sống hoàn toàn mới; trong trường hợp người trung bình, đời sống này thường ngắn hơn nhiều so với đời sống của ông trong cõi cảm dục, dù thời gian kéo dài hơn đối với những người tiến hoá.”
“The astral body which has been left behind by the individual who has passed on takes some little time to disintegrate and return to the main mass of astral matter. During the period of disintegration, the body retains a likeness to the individual who previously occupied it. You must understand that it is only a shell, yet owing to the fluidic nature of astral matter, it can move about and to an inexperienced person seems to retain a semblance of life. I have seen people who have visited this seventh sphere during their physical plane existence, nonplussed at finding that they are unable to get into conversation with some of these shells which they find floating about. A shell is not a corpse in the sense that the physical body after death is a corpse because, although it has no connection whatsoever with the real man, the ego who has dropped it, yet it still contains a little life. Indeed, until the disintegration is complete, the shell must think of itself as a man, for it is a fragment, a shadow of the man who is gone. At spiritualistic séances we sometimes see manifestations of various sorts when, instead of the sitters getting into touch with the man himself, they only contact the shell—this can happen when the man has been dead a long time—a friend of a sitter seems to come back and talks to them, yet in various ways he does not appear to be as intellectual as he used to be; he seems to have deteriorated. That is impossible; a man does not deteriorate, he progresses on the other side of death, so whenever one comes in contact with such a case, one may be sure that it is not the real man at all but only this fragment, this shell he has left behind. Although a shell is inanimate, it is quite possible for other creatures to enter it, to take it on as a temporary body and play the part of the original man. This is often done by astral human beings who enjoy playing practical jokes, and by playful nature spirits who may take hold of one of these shells, put it on as one would an overcoat, and masquerade in it. The man masquerading inside the shell will very likely give ‘proof’ of his identity, for whatever entered the brain of the original occupant during his lifetime will have passed into the astral counterpart, and it will remain there for the use of any entity masquerading in that body. In many cases a certainty may be acquired by an investigator who is sufficiently clairvoyant to see what is behind the shell, but whoever is investigating needs to take great care, for even the shell from which the fragment of the man has disappeared can be galvanised into activity within the aura of a medium. You may come into contact with shells some time in the future; one thing you can be quite sure about is that they are in no way dangerous and can do you no harm.
“Thể cảm dục bị cá nhân đã qua đời bỏ lại cần một thời gian ngắn để tan rã và trở về với khối vật chất cảm dục chung. Trong thời kỳ tan rã ấy, thể này vẫn giữ một sự giống nhau với cá nhân trước kia đã cư ngụ trong nó. Anh phải hiểu rằng đó chỉ là một cái vỏ, tuy nhiên do bản chất linh động của vật chất cảm dục, nó có thể di chuyển đây đó và đối với người thiếu kinh nghiệm thì dường như vẫn còn giữ một dáng vẻ của sự sống. Tôi đã thấy những người đã viếng thăm khối cầu thứ bảy này trong khi còn tồn tại ở cõi hồng trần, bối rối khi thấy mình không thể trò chuyện với một số vỏ này mà họ bắt gặp đang trôi nổi quanh đó. Một cái vỏ không phải là một tử thi theo nghĩa thể xác sau khi chết là một tử thi, bởi vì tuy nó hoàn toàn không còn liên hệ gì với con người thực sự, với chân ngã đã bỏ nó lại, nhưng nó vẫn còn chứa một ít sự sống. Thật vậy, cho đến khi sự tan rã hoàn tất, cái vỏ phải nghĩ về chính nó như một con người, vì nó là một mảnh vụn, một cái bóng của con người đã ra đi. Trong các Buổi gọi hồn của giới thần linh học, đôi khi chúng ta thấy những biểu hiện đủ loại khi, thay vì những người tham dự tiếp xúc được với chính con người ấy, họ chỉ tiếp xúc với cái vỏ—điều này có thể xảy ra khi người ấy đã chết từ lâu—một người bạn của ai đó trong nhóm dường như quay trở lại và nói chuyện với họ, tuy nhiên theo nhiều cách y không có vẻ trí tuệ như trước; y dường như đã sa sút. Điều đó là không thể; con người không sa sút, y tiến bộ ở phía bên kia của cái chết, vì thế bất cứ khi nào người ta gặp một trường hợp như vậy, người ta có thể chắc chắn rằng đó hoàn toàn không phải là con người thực sự mà chỉ là mảnh vụn này, cái vỏ này mà y đã bỏ lại. Mặc dù một cái vỏ là vô sinh khí, hoàn toàn có thể có những sinh vật khác đi vào nó, dùng nó như một thể tạm thời và đóng vai con người nguyên thủy. Điều này thường được thực hiện bởi những con người cảm dục thích đùa nghịch, và bởi những tinh linh tự nhiên tinh nghịch có thể chộp lấy một trong những cái vỏ này, khoác nó vào như người ta khoác áo choàng ngoài, rồi giả dạng trong đó. Con người giả dạng bên trong cái vỏ rất có thể sẽ đưa ra ‘bằng chứng’ về căn tính của mình, vì bất cứ điều gì đã đi vào bộ não của người cư ngụ nguyên thủy trong suốt đời sống của y đều đã chuyển sang đối phần cảm dục, và nó sẽ còn ở đó để cho bất kỳ thực thể nào giả dạng trong thể ấy sử dụng. Trong nhiều trường hợp, một nhà khảo cứu đủ thông nhãn để thấy điều gì ở phía sau cái vỏ có thể đạt được sự chắc chắn, nhưng bất cứ ai đang khảo cứu đều cần hết sức cẩn trọng, vì ngay cả cái vỏ mà mảnh vụn của con người đã rời khỏi cũng có thể bị kích hoạt thành hoạt động trong hào quang của một đồng tử. Có thể trong tương lai anh sẽ tiếp xúc với các vỏ; có một điều anh có thể hoàn toàn chắc chắn là chúng tuyệt nhiên không nguy hiểm và không thể làm hại anh.
“This concludes my talk for today. You have un-doubtedly realised that it completes my very brief survey of life on the different spheres of the world next to this. I want you to prepare a list of questions for me to answer tomorrow morning. After that, when you have had several days of experimenting on your own, I shall visit you again and tell you something about life as it is lived in the mental world. I shall not be able to give you as much detail of this world as I have been able to give you about the astral world, because it is much more difficult to provide analogies of what takes place in the mental world and compare them with similar things that take place in the physical world. Life there is so very different from here, for everything has to do with thought. Here you have tables and chairs and buildings. In the astral world thoughts are the tables, chairs and buildings—in fact there is nothing there but thought—so you can well understand my difficulty. I shall probably take you on a short visit to the mental plane also, in the hope that you will be able to remember something of what you sensed rather than saw there, but I shall tell you more about this in future.
“Đến đây kết thúc câu chuyện hôm nay của tôi. Hẳn anh đã nhận ra rằng nó hoàn tất cuộc khảo sát rất ngắn gọn của tôi về sự sống trên các khối cầu khác nhau của thế giới kế cận thế giới này. Tôi muốn anh chuẩn bị một danh sách câu hỏi để tôi trả lời vào sáng mai. Sau đó, khi anh đã có vài ngày tự mình thử nghiệm, tôi sẽ lại đến thăm anh và nói cho anh biết đôi điều về sự sống như nó được sống trong cõi trí. Tôi sẽ không thể cho anh nhiều chi tiết về thế giới này như tôi đã có thể cho anh về thế giới cảm dục, vì khó hơn nhiều để đưa ra những tương đồng về những gì diễn ra trong cõi trí và so sánh chúng với những điều tương tự diễn ra trong cõi hồng trần. Sự sống ở đó rất khác nơi đây, vì mọi sự đều liên quan đến tư tưởng. Ở đây anh có bàn ghế và nhà cửa. Trong thế giới cảm dục, các tư tưởng chính là bàn ghế và nhà cửa—thật ra ở đó không có gì ngoài tư tưởng—nên anh có thể hiểu rõ sự khó khăn của tôi. Có lẽ tôi cũng sẽ đưa anh đi thăm ngắn cõi trí, với hy vọng rằng anh sẽ có thể nhớ được phần nào những gì anh cảm nhận hơn là nhìn thấy ở đó, nhưng sau này tôi sẽ nói thêm với anh về điều này.
“I shall come again tomorrow at the usual time when I hope your list of questions will be ready.”
“Ngày mai tôi sẽ lại đến vào giờ thường lệ, khi ấy tôi hy vọng danh sách câu hỏi của anh sẽ sẵn sàng.”
Chapter 9
I had a wonderful night’s sleep; I awoke this morning at the usual hour much refreshed, but without recollection of anything having happened during the night. My list of questions is ready, and I hope Acharya will not consider it too lengthy.
Tôi đã có một giấc ngủ đêm tuyệt vời; sáng nay tôi thức dậy vào giờ thường lệ, rất sảng khoái, nhưng không nhớ gì về bất cứ điều gì đã xảy ra trong đêm. Danh sách câu hỏi của tôi đã sẵn sàng, và tôi hy vọng Acharya sẽ không cho là nó quá dài.
I was rereading my questions when the door opened and Acharya greeted me with: “There is no need to apologise for the number of your questions; I have discouraged your asking questions regularly because I knew much would become clear to you with personal experiences at the astral level, and too many interruptions do not help either the speaker or the listener. I shall do my best to answer your question in language which should clarify your difficulties.”
Tôi đang đọc lại các câu hỏi của mình thì cửa mở ra và Acharya chào tôi bằng lời: “Không cần phải xin lỗi về số lượng câu hỏi của anh; tôi đã ngăn anh đặt câu hỏi thường xuyên vì tôi biết nhiều điều sẽ trở nên sáng tỏ với anh qua những kinh nghiệm cá nhân ở cấp độ cảm dục, và quá nhiều gián đoạn cũng không giúp ích cho cả người nói lẫn người nghe. Tôi sẽ cố gắng hết sức để trả lời câu hỏi của anh bằng ngôn ngữ có thể làm sáng tỏ những khó khăn của anh.”
Q. “In your talks you have never mentioned anything about the conventional Heaven, to which the bulk of Christians are taught to aspire. Is there such a place or does it only exists in the imagination of the priests and ministers of religion who insist on its existence?”
H. “Trong các buổi nói chuyện của ông, ông chưa bao giờ nhắc đến Thiên Đàng theo quan niệm thông thường, nơi mà phần lớn tín đồ Cơ Đốc được dạy phải khát vọng hướng tới. Có nơi như vậy thật không, hay nó chỉ tồn tại trong sự tưởng tượng của các linh mục và giáo sĩ luôn khăng khăng về sự hiện hữu của nó?”
A. “There is certainly no such place as Heaven, but there is a state of consciousness which is often referred to as heaven by the people living under those conditions. Some people argue that the state of consciousness is found in the higher stages of the astral world, whereas others insist that it is found in the mental world only. Some people argue that there is a difference between that which is called Paradise and that which is called Heaven. You will remember that the Christ, speaking to the penitent thief, is reported to have said: ‘This day shalt thou be with me in Paradise.’ Paradise was the name given by the Greeks to the upper regions of the astral plane and they taught that Heaven was found in the mental world, after man had left the astral world on his journey back to the home of the soul or ego. At these higher levels some men surround themselves with the thought-forms of Seraphim and Cherubim, in strict accordance with the ancient Hebrew scriptures. It is perfectly real to them and it harms no one if they are content to think it all real, so why worry them? Many of them even make thought-forms of God or St. Peter, and nothing that you could say would convince them that they are living in a state of illusion. There will come a day when they have developed their intellect a little more, when they will begin to try to ascertain what is fact and what is illusion.
Đ. “Chắc chắn không có nơi nào như Thiên Đàng, nhưng có một trạng thái tâm thức thường được những người sống trong các điều kiện ấy gọi là thiên đàng. Có người cho rằng trạng thái tâm thức ấy được tìm thấy trong các giai đoạn cao hơn của thế giới cảm dục, trong khi những người khác khăng khăng rằng nó chỉ được tìm thấy trong cõi trí. Có người lại cho rằng có sự khác biệt giữa điều được gọi là Cực Lạc và điều được gọi là Thiên Đàng. anh sẽ nhớ rằng Đức Christ, khi nói với tên trộm biết ăn năn, được thuật lại là đã nói: ‘Hôm nay ngươi sẽ ở với ta trong Cực Lạc.’ Cực Lạc là tên mà người Hy Lạp đặt cho các vùng cao của cõi cảm dục và họ dạy rằng Thiên Đàng được tìm thấy trong cõi trí, sau khi con người đã rời thế giới cảm dục trên hành trình trở về ngôi nhà của linh hồn hay chân ngã. Ở các cấp độ cao hơn này, một số người tự bao quanh mình bằng các hình tư tưởng của Seraphim và Cherubim, hoàn toàn phù hợp với các kinh thư cổ xưa của người Hebrew. Đối với họ điều đó hoàn toàn thực, và nó không làm hại ai nếu họ bằng lòng nghĩ rằng tất cả đều là thật, vậy thì tại sao phải làm phiền họ? Nhiều người trong số họ thậm chí còn tạo ra các hình tư tưởng về Thượng đế hay Thánh Peter, và không điều gì anh có thể nói sẽ thuyết phục được họ rằng họ đang sống trong một trạng thái ảo tưởng. Sẽ đến một ngày khi họ đã phát triển trí tuệ thêm đôi chút, khi họ sẽ bắt đầu cố gắng xác định điều gì là sự kiện và điều gì là ảo tưởng.
“I notice that although you ask about the conventional heaven, you have not mentioned the conventional Hell. That of course no more exists than Heaven exists, but usually one does not find people in the astral world making thought-forms of a conventional Hell and living under such conditions, for no one is ever so self-critical as to be quite sure that Hell is the right place for him. Most of the people who live surrounded by the thought-forms of their idea of a conventional Heaven are only too happy to exist in such circumstances, as they feel they have either earned the right to be there, or have been extremely lucky to find themselves in a place for which they were not quite sure they had qualified. A conventional heaven created by people living at the mental level is quite different—though it serves the same purpose for the people concerned.”
“Tôi nhận thấy rằng tuy anh hỏi về thiên đàng theo quan niệm thông thường, anh lại không nhắc đến địa ngục theo quan niệm thông thường. Dĩ nhiên điều đó cũng không tồn tại hơn gì Thiên Đàng tồn tại, nhưng thường người ta không thấy những người trong thế giới cảm dục tạo ra các hình tư tưởng về một địa ngục thông thường rồi sống trong những điều kiện như thế, vì không ai lại tự phê phán mình đến mức hoàn toàn chắc chắn rằng địa ngục là nơi thích hợp cho mình. Phần lớn những người sống được bao quanh bởi các hình tư tưởng về ý niệm của họ đối với một thiên đàng thông thường đều quá đỗi vui vẻ khi tồn tại trong hoàn cảnh như vậy, vì họ cảm thấy hoặc là mình đã xứng đáng có quyền ở đó, hoặc là đã cực kỳ may mắn khi thấy mình ở một nơi mà họ không hoàn toàn chắc chắn là mình đủ tư cách. Một thiên đàng thông thường do những người sống ở cấp độ trí tuệ tạo ra thì hoàn toàn khác—dù nó phục vụ cùng một mục đích cho những người liên hệ.”
Q. “You said in your third talk that you would explain the difference between an animal’s life in the astral world and the life lived there by a human being. What is the difference?”
H. “Ông đã nói trong buổi nói chuyện thứ ba rằng ông sẽ giải thích sự khác biệt giữa đời sống của một con vật trong thế giới cảm dục và đời sống ở đó của một con người. Sự khác biệt là gì?”
A. “There is a considerable difference between the life of an animal in the astral world and that of a human being. In the case of the former, it seldom inhabits spheres of that world higher than the third, for the life that a man lives on the higher spheres has little interest for an animal, and only in exceptional cases does a human being take a favourite animal with him when he passes to the higher spheres. An animal certainly has a short sojourn at the astral level after each physical life has been lived, but it does not usually last for more than ten to fifteen years at the most. When the time comes for the group soul, of which the animal is a part, to reincarnate in new animal bodies, the animal entities which have been living separate existences at the astral level are again drawn back into the group soul and their separate identities at once cease to be. The group soul, when its various parts return to it, is coloured by the experiences of those several parts, and the life-force of which the group soul is made up then splits itself into sections again, each section inhabiting a new animal entity, and further experiences are gained in these new bodies. As I have explained to you previously, this goes on until the group soul is ready to individualise as a human being.
Đ. “Có một sự khác biệt đáng kể giữa đời sống của con vật trong thế giới cảm dục và đời sống của con người. Trong trường hợp thứ nhất, nó hiếm khi cư ngụ ở các khối cầu cao hơn khối cầu thứ ba của thế giới ấy, vì đời sống mà con người sống trên các khối cầu cao hơn ít có gì hấp dẫn đối với con vật, và chỉ trong những trường hợp ngoại lệ con người mới mang theo một con vật yêu thích khi y chuyển sang các khối cầu cao hơn. Chắc chắn con vật có một thời gian lưu lại ngắn ở cấp độ cảm dục sau mỗi đời sống hồng trần, nhưng thường không kéo dài quá mười đến mười lăm năm là cùng. Khi đến lúc hồn nhóm mà con vật là một phần của nó tái sinh vào những thể động vật mới, các thực thể động vật đã sống những đời sống riêng biệt ở cấp độ cảm dục lại bị hút trở về hồn nhóm và các căn tính riêng biệt của chúng lập tức chấm dứt. Hồn nhóm, khi các phần khác nhau của nó trở về, được nhuốm màu bởi những kinh nghiệm của các phần ấy, và sinh lực tạo thành hồn nhóm lại tự phân chia thành các phần, mỗi phần cư ngụ trong một thực thể động vật mới, và những kinh nghiệm mới lại được thu nhận trong các thể mới này. Như tôi đã giải thích với anh trước đây, điều này tiếp diễn cho đến khi hồn nhóm sẵn sàng biệt ngã hóa thành một con người.
“Those few years that an animal spends in the astral world are always happy—even in the very rare cases where a dog dies from a broken heart, because its master gave it away or left it with strangers when he was forced to go on a long journey; such an animal quickly finds a new home. In the astral world you never see a dog ask for food whereas you have seen for yourself many humans continue to eat and drink after death, merely because they have formed the habit of so doing. A dog or a cat only eats when it is hungry and seldom from greed. At the astral level it doesn’t get hungry, so it never asks for food. A dog of the hunting species has during its life been trained to hunt; after death it continues to do so. Its instinct is to look for its quarry and that very looking is in itself a thought, so a quarry immediately appears and the dog at once chases it. Whether it catches it or not is of little importance, for the quarry which is only a thought-form cannot be killed in the ordinary sense of the word, but the dog enjoys the chase and its life continues to be a happy one.
“Những năm ít ỏi mà một con vật trải qua trong thế giới cảm dục luôn luôn hạnh phúc—ngay cả trong những trường hợp rất hiếm khi một con chó chết vì đau lòng, bởi chủ của nó đem cho nó hoặc để nó lại với người lạ khi ông ta buộc phải đi xa lâu ngày; một con vật như thế nhanh chóng tìm được một mái nhà mới. Trong thế giới cảm dục anh không bao giờ thấy một con chó xin thức ăn, trong khi chính anh đã thấy nhiều con người tiếp tục ăn uống sau khi chết, chỉ vì họ đã hình thành thói quen làm như vậy. Chó hay mèo chỉ ăn khi đói và hiếm khi vì tham ăn. Ở cấp độ cảm dục nó không thấy đói, nên nó không bao giờ xin thức ăn. Một con chó săn trong suốt đời sống của nó đã được huấn luyện để săn; sau khi chết nó vẫn tiếp tục làm như vậy. Bản năng của nó là tìm con mồi, và chính sự tìm kiếm ấy tự nó đã là một tư tưởng, nên một con mồi lập tức xuất hiện và con chó ngay tức khắc đuổi theo. Việc nó có bắt được hay không thì ít quan trọng, vì con mồi vốn chỉ là một hình tư tưởng không thể bị giết theo nghĩa thông thường của từ ấy, nhưng con chó thích cuộc rượt đuổi và đời sống của nó tiếp tục là một đời sống hạnh phúc.
“A horse which during its lifetime has been a favourite hack of a natural lover of horses soon finds another owner with a similar love of his kind and the same routine goes on with benefit and pleasure to both horse and rider. In some cases, after a favourite animal has died, its owner in the world thinks strongly about it when he goes to sleep at night. The animal feels the ‘call’ and sometimes is able to contact its late owner and share a few hours of his company. Unfortunately this is not a desirable thing, for the horse or dog feels the loss of its late master when such a person has to return to his physical body after the sleep period is completed; therefore it is kinder that they should be allowed to attach themselves to new masters or mistresses. There are rare cases where the affection between a human being and his pets is so strong that the group soul, of which the animal is a part, is in its way linked with that human being. This can only happen towards the end of the group soul period, when it is divided into only two parts, awaiting the time for its individualisation as a human being. Because the human being has done so much for that group soul, by helping to eradicate the last vestige of fear from animals attached to him, the entire group soul, consisting of two dogs or two cats for example, has two or three consecutive lives in the same household. In this way the time when individualisation can take place is often considerably shortened. I could tell you of the authentic instances of this happening, but my time is limited.
“Một con ngựa mà trong suốt đời sống của nó là con ngựa cưỡi ưa thích của một người yêu ngựa chân thành thì sớm tìm được một người chủ khác cũng có tình yêu tương tự đối với giống loài của nó, và cùng một nếp sinh hoạt lại tiếp diễn, đem lợi ích và niềm vui cho cả ngựa lẫn người cưỡi. Trong một số trường hợp, sau khi một con vật yêu thích đã chết, chủ của nó ở thế gian nghĩ mạnh về nó khi đi ngủ vào ban đêm. Con vật cảm nhận được ‘tiếng gọi’ và đôi khi có thể tiếp xúc với người chủ cũ của nó và cùng chia sẻ vài giờ bên cạnh ông ta. Tiếc thay, điều này không phải là điều đáng mong muốn, vì ngựa hay chó sẽ cảm thấy mất mát người chủ cũ khi người ấy phải trở về thể xác sau khi thời kỳ ngủ kết thúc; vì thế sẽ nhân từ hơn nếu để chúng được gắn bó với những người chủ hay bà chủ mới. Có những trường hợp hiếm hoi mà tình cảm giữa con người và thú nuôi của y mạnh đến mức hồn nhóm mà con vật là một phần của nó, theo cách riêng của nó, được liên kết với con người ấy. Điều này chỉ có thể xảy ra vào cuối thời kỳ hồn nhóm, khi nó chỉ còn phân chia thành hai phần, chờ thời điểm biệt ngã hóa thành một con người. Bởi vì con người ấy đã làm rất nhiều cho hồn nhóm đó, bằng cách giúp xóa bỏ dấu vết cuối cùng của nỗi sợ nơi những con vật gắn bó với mình, toàn bộ hồn nhóm, chẳng hạn gồm hai con chó hay hai con mèo, sẽ có hai hoặc ba đời sống liên tiếp trong cùng một gia đình. Bằng cách này, thời điểm biệt ngã hóa có thể diễn ra thường được rút ngắn đáng kể. Tôi có thể kể cho anh những trường hợp xác thực về điều này, nhưng thời gian của tôi có hạn.
“The period that an animal spends in the astral world is too short for the conditions ruling there to influence deeply the evolution of the group soul, so when that period is over, the animals disappear from the homes to which they have attached themselves, to return to their group souls for new incarnations in the physical world, where further experience is gained.”
“Thời kỳ mà một con vật trải qua trong thế giới cảm dục quá ngắn để các điều kiện chi phối ở đó ảnh hưởng sâu sắc đến sự tiến hoá của hồn nhóm, vì vậy khi thời kỳ ấy chấm dứt, các con vật biến mất khỏi những ngôi nhà mà chúng đã gắn bó, để trở về hồn nhóm của mình cho những lần lâm phàm mới trong thế giới hồng trần, nơi kinh nghiệm mới lại được thu nhận.”
Q. “Why is it that Charles did not contact us on the second astral journey? Is it that he is no longer interested in me, owing to his new life being so very different and more thrilling than the physical one, or can he not join up with us without your assistance?”
H. “Tại sao Charles đã không tiếp xúc với chúng tôi trong chuyến đi cảm dục thứ hai? Có phải nó không còn quan tâm đến tôi nữa, vì đời sống mới của nó quá khác biệt và ly kỳ hơn đời sống hồng trần, hay là nó không thể nhập bọn với chúng tôi nếu không có sự trợ giúp của ông?”
A. “I am very pleased that you have raised these queries, for though it will take me some time to explain what you want to know, it is most necessary that you should be clear as to why opportunities of movement at the astral level vary for temporary visitors and permanent residents. Whilst physical life continues, the astral body is an auxiliary body, but it is used by you during sleeping hours for activities in the astral world. That body, composed of astral matter, has particles in it relative to all the different spheres of the astral world, and so long as you have a physical body, these particles are intermingled one with the other. You are able to travel to any sphere of the astral world up or down merely by exercising your will power, and, in accordance with the sphere to which you go, these particles of your astral body become active and make such journeys possible. To make it perfectly clear, when you are sojourning on the first sphere, the particles relative to that sphere are at that time active, but when you pass from the first sphere, for example, to the fourth, it means that the fourth sphere particles become active, whilst the particles relating to the other spheres remain dormant, so long as your activities are at that fourth sphere level.”
Đ. “Tôi rất vui vì anh đã nêu ra những thắc mắc này, vì tuy tôi sẽ mất một ít thời gian để giải thích điều anh muốn biết, nhưng điều tối cần là anh phải hiểu rõ tại sao các cơ hội di chuyển ở cấp độ cảm dục lại khác nhau giữa những người viếng thăm tạm thời và những cư dân thường trú. Chừng nào đời sống hồng trần còn tiếp diễn, thể cảm dục là một thể phụ trợ, nhưng nó được anh sử dụng trong những giờ ngủ để hoạt động trong thế giới cảm dục. Thể ấy, được cấu tạo bằng vật chất cảm dục, có trong nó những hạt tương ứng với tất cả các khối cầu khác nhau của thế giới cảm dục, và chừng nào anh còn có một thể xác, những hạt này còn xen lẫn với nhau. anh có thể đi đến bất kỳ khối cầu nào của thế giới cảm dục, lên hay xuống, chỉ bằng cách vận dụng ý chí của mình, và tùy theo khối cầu anh đến, những hạt của thể cảm dục của anh trở nên hoạt động và làm cho những chuyến đi như thế trở thành khả hữu. Để nói cho thật rõ, khi anh đang lưu lại ở khối cầu thứ nhất, những hạt tương ứng với khối cầu ấy lúc đó hoạt động, nhưng khi anh chuyển từ khối cầu thứ nhất, chẳng hạn, sang khối cầu thứ tư, điều đó có nghĩa là những hạt của khối cầu thứ tư trở nên hoạt động, trong khi những hạt liên hệ đến các khối cầu khác vẫn ở trạng thái ngủ yên, chừng nào hoạt động của anh còn ở cấp độ khối cầu thứ tư ấy.
“As long as you have a physical body, this process goes on, but when the physical body is dropped at the moment of death, the astral body, which before was a mass of revolving particles all intermingling, rearranges itself into an entirely different form. In order that you should understand this perfectly, try and visualise the astral body after death as an ovoid, like an orange, with a core and with seven separate and distinct skins surrounding that core. The core represents the permanent atom relating to all the different spheres of both the astral and the mental worlds. The seven skins are composed of matter relative to the seven different spheres that exist at the astral level, of which you now know something, and, at the moment of death, the astral body so rearranges the matter of which it is composed that the outside or densest skin is made up of atoms similar to those which you require to function on the first or densest sphere of that world. When, after a period of time, you leave the first sphere and pass to the second, you drop that outer skin, leaving the atoms relative to the second sphere of that world, which now become active, on the outside of your body. The same thing applies when you pass to higher levels. In passing, each outer skin drops away and leaves the skin beneath it, which at once becomes active and enables you to be fully conscious in the sphere to which you have passed. Now if you wish to pass down again from, let us say the fourth to the first sphere, it is necessary for a permanent resident to call upon the atoms contained within the core of the orange—the permanent atom—in order to effect that change. This requires a much greater effort of will than in the case of the temporary sojourner, for he must draw round his astral body yet again a new skin relative to the astral matter of this sphere in which he wishes to function.
“Chừng nào anh còn có một thể xác, tiến trình này vẫn tiếp diễn, nhưng khi thể xác bị bỏ lại vào lúc chết, thể cảm dục, trước đó là một khối các hạt quay tròn xen lẫn nhau, sẽ tự sắp xếp lại thành một hình thức hoàn toàn khác. Để anh có thể hiểu điều này thật trọn vẹn, hãy cố hình dung thể cảm dục sau khi chết như một hình trứng, giống quả cam, có một lõi và bảy lớp vỏ riêng biệt bao quanh lõi ấy. Lõi tượng trưng cho nguyên tử trường tồn liên hệ đến mọi khối cầu khác nhau của cả thế giới cảm dục lẫn cõi trí. Bảy lớp vỏ được cấu tạo bằng vật chất tương ứng với bảy khối cầu khác nhau hiện hữu ở cấp độ cảm dục, mà nay anh đã biết đôi chút, và vào lúc chết, thể cảm dục sắp xếp lại vật chất cấu thành nó sao cho lớp vỏ ngoài cùng hay đậm đặc nhất được tạo nên bởi những nguyên tử tương tự như những nguyên tử anh cần để hoạt động trên khối cầu thứ nhất hay đậm đặc nhất của thế giới ấy. Khi, sau một thời gian, anh rời khối cầu thứ nhất và chuyển sang khối cầu thứ hai, anh bỏ lớp vỏ ngoài ấy lại, để cho các nguyên tử tương ứng với khối cầu thứ hai của thế giới ấy, nay trở nên hoạt động, ở phía ngoài cơ thể của anh. Điều tương tự cũng áp dụng khi anh chuyển sang các cấp độ cao hơn. Mỗi khi chuyển lên, mỗi lớp vỏ ngoài lại rơi đi và để lộ lớp vỏ bên dưới, lớp này lập tức trở nên hoạt động và giúp anh hoàn toàn có tâm thức trong khối cầu mà anh đã chuyển đến. Giờ đây nếu anh muốn đi xuống trở lại, giả sử từ khối cầu thứ tư xuống khối cầu thứ nhất, thì một cư dân thường trú cần phải gọi đến những nguyên tử chứa trong lõi của quả cam—nguyên tử trường tồn—để thực hiện sự thay đổi ấy. Điều này đòi hỏi một nỗ lực ý chí lớn hơn nhiều so với trường hợp của người lưu lại tạm thời, vì y phải lại một lần nữa kéo quanh thể cảm dục của mình một lớp vỏ mới tương ứng với vật chất cảm dục của khối cầu mà y muốn hoạt động trong đó.
“Charles did not accompany us on our second astral journey because I did not invite him to do so, therefore he did not know that such a journey was contemplated. You can now realise that, had we taken Charles with us on that journey, it would have been necessary for me to explain to him in detail the machinery that would have had to be employed to enable him to get back to the first sphere where he is still living. It is not because Charles is finding life at the astral level so full that you have not seen him during the past few days, but simply that the average individual who lives in the astral world does not hanker after contacts with people living in our world, in the same way that you wished to make contact with Charles immediately after his death. You ask if Charles could join up with us without any assistance—most certainly he could, providing he thought about us sufficiently strongly to make that desire known to us. He could for example wait in your bedroom every night if he wished, for the moment when you pass out of your physical body; then he could make known to you his wish to accompany you, wherever you go. He has not shown this strong inclination, so you have not had any contact with him lately. In case you are worried, let me assure you that Charles, at the moment, is busy with a temporary attraction which he has for a member of the opposite sex, who has recently died; he is very happy showing her around and proving to her how much more he knows about conditions than she does at present. My suggestion to you is to leave him alone for the time being, as I think that later you will link up with him again for your mutual benefit.”
“Charles đã không đi cùng chúng ta trong chuyến đi cảm dục thứ hai vì tôi đã không mời nó làm như vậy, nên nó không biết rằng một chuyến đi như thế đã được dự tính. Giờ đây anh có thể nhận ra rằng, nếu chúng ta mang Charles theo trong chuyến đi ấy, tôi đã cần phải giải thích cho nó thật chi tiết bộ máy phải được sử dụng để giúp nó trở lại khối cầu thứ nhất nơi nó vẫn đang sống. Không phải vì Charles thấy đời sống ở cấp độ cảm dục quá phong phú nên anh không gặp nó trong mấy ngày qua, mà đơn giản là cá nhân trung bình sống trong thế giới cảm dục không khao khát tiếp xúc với những người đang sống trong thế giới của chúng ta, theo cùng cách mà anh đã mong muốn tiếp xúc với Charles ngay sau khi nó chết. anh hỏi liệu Charles có thể nhập bọn với chúng ta mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào không—chắc chắn là có, miễn là nó nghĩ về chúng ta đủ mạnh để làm cho mong muốn ấy được chúng ta biết đến. Chẳng hạn, nếu muốn, nó có thể chờ trong phòng ngủ của anh mỗi đêm vào lúc anh rời thể xác hồng trần; rồi nó có thể cho anh biết mong muốn được đi cùng anh, bất cứ nơi nào anh đi. Nó đã không biểu lộ khuynh hướng mạnh mẽ ấy, nên gần đây anh không có tiếp xúc nào với nó. Trong trường hợp anh lo lắng, hãy để tôi bảo đảm với anh rằng hiện giờ Charles đang bận với một sự hấp dẫn tạm thời mà nó dành cho một người thuộc phái đối lập vừa mới qua đời; nó rất hạnh phúc khi dẫn cô ấy đi quanh và chứng tỏ cho cô thấy nó biết về các điều kiện ở đó nhiều hơn cô hiện nay. Gợi ý của tôi với anh là hãy để nó yên trong lúc này, vì tôi nghĩ rằng sau này anh sẽ lại liên kết với nó vì lợi ích chung của cả hai.”
Q. “You have not mentioned why some people are born cripples and others blind. Others again deaf and dumb. Is there a reason?”
H. “Ông chưa nói tại sao có người sinh ra bị tàn tật còn người khác thì mù. Lại có người điếc và câm. Có lý do nào không?”
A. “There certainly is a reason, and my few remarks relating to the law of karma, or cause and effect, should have answered the question for you. It is essential for you to impress quite clearly on your mind that all such tragedies are produced entirely by the individuals concerned by their actions in previous lives, and are not due to an evil Creator who likes to see humans suffer. A child is sometimes born a cripple because in a previous life he was the cause of extreme suffering to another human being or to an animal. A man may, in a drunken rage, beat a child so cruelly that the beating produces a physical deformity, which medical science is unable to cure; this would undoubtedly cause such a man to be born a cripple in his next life and so be forced to suffer in something of the same way. People are sometimes born deaf and dumb for the reason that, in a previous life, they had been unfortunate enough to be a parent of a deaf and dumb child when, instead of making family conditions happy for such a person, the parent showed his disappointment at having a child which was abnormal by taking it out on the poor creature, who could not defend itself, thereby making life much worse for it than it need have been. Even evolved beings who know the reason for children being born cripples or abnormal in any way sometimes fail to realise that having an abnormal child is an exceedingly fine opportunity for them to make good karma, by treating it with much sympathy and understanding. You may argue that justice today is very different from justice in the past, but the unthinking actions of our past lives must be paid for, even though in those past incarnations man was less sensitive to pain than he is today and used to much more ruthless treatment. Do not forget that it is the intention which decides the amount of suffering.
Đ. “Chắc chắn là có lý do, và vài nhận xét ngắn của tôi liên quan đến định luật nghiệp quả, hay nhân và quả, lẽ ra đã trả lời câu hỏi ấy cho anh. Điều cốt yếu là anh phải khắc sâu thật rõ trong trí mình rằng mọi bi kịch như thế đều hoàn toàn do chính các cá nhân liên hệ tạo ra bởi hành động của họ trong những đời trước, chứ không phải do một Đấng Sáng Tạo ác độc thích nhìn con người đau khổ. Một đứa trẻ đôi khi sinh ra bị tàn tật vì trong một đời trước nó đã là nguyên nhân gây đau khổ tột độ cho một con người khác hay cho một con vật. Một người đàn ông có thể trong cơn say giận đánh một đứa trẻ tàn nhẫn đến mức trận đòn gây ra một dị dạng thể xác mà y học không thể chữa được; điều này chắc chắn sẽ khiến người ấy sinh ra tàn tật trong đời sau và như thế bị buộc phải chịu đau khổ theo phần nào cùng một cách. Người ta đôi khi sinh ra điếc và câm vì trong một đời trước họ đã bất hạnh là cha mẹ của một đứa trẻ điếc câm, và thay vì làm cho hoàn cảnh gia đình trở nên hạnh phúc đối với người ấy, cha mẹ lại biểu lộ sự thất vọng vì có một đứa con bất thường bằng cách trút lên sinh vật đáng thương không thể tự vệ ấy, khiến đời sống của nó tệ hơn nhiều so với mức lẽ ra phải thế. Ngay cả những hữu thể tiến hóa biết lý do tại sao trẻ em sinh ra tàn tật hay bất thường theo bất kỳ cách nào đôi khi cũng không nhận ra rằng có một đứa con bất thường là một cơ hội cực kỳ tốt đẹp để tạo nghiệp lành, bằng cách đối xử với nó bằng nhiều cảm thông và thấu hiểu. anh có thể lập luận rằng công lý ngày nay rất khác công lý trong quá khứ, nhưng những hành động thiếu suy nghĩ trong các đời quá khứ của chúng ta phải được trả giá, dù rằng trong những lần lâm phàm quá khứ ấy con người ít nhạy cảm với đau đớn hơn ngày nay và quen với sự đối xử tàn nhẫn hơn nhiều. Đừng quên rằng chính ý định quyết định mức độ đau khổ.
“Similar karmic consequences follow on emotional and mental cruelty. Quite often one sees a mother, who is a widow, putting obstacles in the way of a son marrying, merely because she selfishly wishes to keep the boy within the family circle. The parent argues that the marriage would cause inconvenience or less revenue to the family household, or that she is too delicate to be left alone, so the boy, through a sense of duty, gives up the chance of a happy marriage and selflessly devotes his life to looking after the selfish parent. He does not always realise that the parent is selfish, though it is a fact for anyone to see. The karmic result of such selfishness is that it must be considered as only fair, if in a future life this woman would fall in love with someone, only for that person to die, or be killed, before the marriage could take place. After many years recovering from this loss, this same woman finds that another individual has fallen in love with her. There appear to be no reasons why things should not work out right on this occasion, but Fate may again take a hand in the game of life, with the result that one of the contracting parties develops an incurable disease, which puts marriage out of the question. As people do not know the reason behind such happenings, they are inclined to think that the person concerned is a plaything of an unkind Creator—but such is not the case, for you cannot suffer in any way unless you yourself have produced the cause for that suffering.”
“Những hậu quả nghiệp quả tương tự cũng theo sau sự tàn nhẫn về cảm xúc và trí tuệ. Khá thường xuyên người ta thấy một người mẹ góa chồng đặt chướng ngại trên đường hôn nhân của con trai, chỉ vì bà ích kỷ muốn giữ cậu con trai trong vòng gia đình. Người mẹ viện rằng cuộc hôn nhân sẽ gây bất tiện hoặc làm giảm thu nhập của gia đình, hoặc rằng bà quá yếu đuối để bị bỏ lại một mình, nên người con trai, vì ý thức bổn phận, từ bỏ cơ hội có một cuộc hôn nhân hạnh phúc và vị tha hiến đời mình để chăm sóc người mẹ ích kỷ. Không phải lúc nào anh ta cũng nhận ra rằng cha mẹ mình ích kỷ, dù đó là một sự thật ai cũng có thể thấy. Kết quả nghiệp quả của sự ích kỷ như thế là, trong một đời tương lai, điều đó phải được xem là công bằng nếu người phụ nữ này yêu một ai đó, chỉ để rồi người ấy chết, hoặc bị giết, trước khi cuộc hôn nhân có thể diễn ra. Sau nhiều năm hồi phục từ mất mát ấy, chính người phụ nữ này lại thấy một người khác đã yêu mình. Dường như không có lý do gì khiến lần này mọi việc không thể diễn ra tốt đẹp, nhưng Số Mệnh có thể lại can dự vào trò chơi của đời sống, với kết quả là một trong hai người dự định kết hôn mắc một căn bệnh không thể chữa, khiến hôn nhân không còn là điều có thể nghĩ đến. Vì người ta không biết lý do đằng sau những sự việc như thế, họ có khuynh hướng nghĩ rằng người liên hệ là món đồ chơi của một Đấng Sáng Tạo không nhân từ—nhưng không phải vậy, vì anh không thể chịu đau khổ theo bất kỳ cách nào nếu chính anh không tạo ra nguyên nhân cho đau khổ ấy.”
Q. “Why are some people born under ‘a lucky star’ with plenty of money, good health and every seeming advantage, whereas others are born in the slums, with no natural advantages, and often with diseases inherited from their parents?”
H. “Tại sao có người sinh ra dưới ‘một ngôi sao may mắn’ với nhiều tiền bạc, sức khỏe tốt và mọi lợi thế bề ngoài, trong khi những người khác sinh ra trong khu ổ chuột, không có lợi thế tự nhiên nào, và thường còn mang bệnh di truyền từ cha mẹ?”
A. “The environment into which every man is born is made by himself in a previous incarnation, also in accordance with the law of karma. When a man is born under what you call a ‘lucky star’ with lots of money and perfect health, the world naturally feels that he has indeed been blessed by a Divine Providence—but this opportunity of an easy life is only accorded to one who deserves it. The man who is born in the slums, with many limitations and perhaps hereditary disease is considered unfortunate, but I can assure you that he too has earned what he receives. To find an instance of a man who has earned the right to be born with a ‘silver spoon in his mouth’ you have only to look amongst the poor people of the world to find examples of this kind. How often have you seen generosity displayed by an individual who is not blessed with many of this world’s goods, but nevertheless goes out of his way to assist others less fortunate than himself?’ Such a person is only too often taken advantage of by unscrupulous people. Generous actions such as these people perform earn for them the right to be born in very different circumstances in a future existence and they very seldom lose the opportunities which great wealth provides, for they continue to help their fellowmen as they did in the past, with benefit to themselves and the world. If these opportunities are wasted, then the man makes bad karma instead of good, and it would have been better for him had he been born into circumstances less favourable from a worldly point of view.
Đ. “Môi trường mà mỗi con người sinh vào là do chính y tạo ra trong một lần lâm phàm trước, cũng theo định luật nghiệp quả. Khi một người sinh ra dưới điều mà anh gọi là ‘một ngôi sao may mắn’ với nhiều tiền bạc và sức khỏe hoàn hảo, thế gian tự nhiên cảm thấy rằng y quả thật đã được một Thiên Nhiên Thiêng Liêng ban phúc—nhưng cơ hội có một đời sống dễ dàng như thế chỉ được dành cho người xứng đáng với nó. Người sinh ra trong khu ổ chuột, với nhiều hạn chế và có lẽ bệnh di truyền, được xem là bất hạnh, nhưng tôi có thể bảo đảm với anh rằng y cũng đã tự kiếm lấy điều mình nhận được. Để tìm một ví dụ về người đã xứng đáng được sinh ra ‘ngậm thìa bạc trong miệng’, anh chỉ cần nhìn vào những người nghèo trên thế giới là sẽ thấy những ví dụ như thế. Biết bao lần anh đã thấy lòng quảng đại được biểu lộ bởi một cá nhân không được ban cho nhiều của cải thế gian, nhưng vẫn sẵn lòng đi xa hơn mức bình thường để giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình? Quá thường khi những người như thế lại bị những kẻ vô lương lợi dụng. Những hành động quảng đại như những người này thực hiện giúp họ có quyền được sinh ra trong những hoàn cảnh rất khác trong một đời sống tương lai và họ rất hiếm khi đánh mất những cơ hội mà sự giàu có lớn lao mang lại, vì họ tiếp tục giúp đồng loại như đã làm trong quá khứ, đem lợi ích cho chính mình và cho thế giới. Nếu những cơ hội ấy bị phung phí, thì người ấy tạo nghiệp xấu thay vì nghiệp tốt, và đối với y sẽ tốt hơn nếu được sinh ra trong những hoàn cảnh kém thuận lợi hơn theo quan điểm thế gian.
“It is not necessarily a great misfortune for a man to be born in humble circumstances. In such cases he has the opportunity to overcome the limitations of his environment through his own efforts. We often see such men surmount the obstacles of their birth and emerge successful, even leaders of their generations. It takes courage to do this, yet the efforts made not only improve a man’s character, but enable him to make much good karma in that incarnation. His efforts and his refusal to be deterred by those natural limitations will usually ensure that, in the life to follow, his environment will be much more favourable.”
“Không nhất thiết là một bất hạnh lớn khi một người sinh ra trong hoàn cảnh khiêm tốn. Trong những trường hợp như thế y có cơ hội vượt qua những hạn chế của môi trường bằng nỗ lực của chính mình. Chúng ta thường thấy những người như vậy vượt qua các chướng ngại của xuất thân và vươn lên thành công, thậm chí thành những nhà lãnh đạo của thế hệ mình. Làm được điều này cần có can đảm, nhưng những nỗ lực ấy không những cải thiện tính cách của con người mà còn giúp y tạo nhiều nghiệp lành trong lần lâm phàm ấy. Những nỗ lực của y và sự từ chối không để mình bị ngăn trở bởi những hạn chế tự nhiên ấy thường sẽ bảo đảm rằng trong đời sống tiếp theo, môi trường của y sẽ thuận lợi hơn nhiều.”
Q. “Can you explain why some races are born with coloured skins and others with white skins? Is a man with a white skin always more evolved than a man with a coloured skin? Is it a good thing for individuals of different races to marry? Is a white man ever reborn into a coloured race once he has inhabited a white body?”
H. “Ông có thể giải thích tại sao có những nhân loại sinh ra với da màu còn những nhân loại khác với da trắng không? Một người da trắng có luôn luôn tiến hóa hơn một người da màu không? Việc những cá nhân thuộc các nhân loại khác nhau kết hôn có phải là điều tốt không? Một người da trắng có bao giờ tái sinh vào một nhân loại da màu sau khi đã cư ngụ trong một thể da trắng không?”
A. “From a spiritual point of view there is no reason to suppose that a white skin is necessarily better than a coloured skin. The colour of a man’s skin does not denote his standing in evolution; it is usually due to the climate prevailing in the country in which he is born. The question of which nation a man will be born into is usually decided for him, though the ego is given a certain amount of choice. Before his return to physical life begins, the ego is shown the particular characteristics which he lacks and, because each nation has special characteristics of its own, expressed by practically all the members of that nation, an ego is usually born as a child of a family forming part of a nation whose predominant virtues and characteristics that ego lacks, in order that these may be built into his future structure.
Đ. “Từ quan điểm tinh thần, không có lý do gì để cho rằng da trắng nhất thiết tốt hơn da màu. Màu da của một người không biểu thị vị trí của y trong tiến hoá; nó thường là do khí hậu thịnh hành ở quốc gia nơi y sinh ra. Vấn đề một người sẽ sinh vào quốc gia nào thường được quyết định cho y, dù chân ngã được cho một mức độ lựa chọn nhất định. Trước khi sự trở lại đời sống hồng trần của y bắt đầu, chân ngã được cho thấy những đặc tính riêng mà y còn thiếu, và bởi vì mỗi quốc gia có những đặc tính đặc biệt của riêng nó, được biểu lộ bởi hầu như tất cả các thành viên của quốc gia ấy, nên một chân ngã thường sinh làm con trong một gia đình thuộc về một quốc gia mà các đức tính và đặc tính nổi trội của quốc gia đó chính là những điều chân ngã ấy còn thiếu, để những điều này có thể được xây dựng vào cấu trúc tương lai của y.
“Many thousands of years ago the parts of this planet which were principally inhabited by men were the countries where you now find the indigenous people having coloured skins. Although Australia is today a white man’s country, the aborigines of Australia were black men. In South Africa the original inhabi-tants were dark skinned people and although there are large numbers of these still living, South Africa today is controlled by the white man. All of us have in our early incarnations occupied dark skinned bodies. As civilisation advanced, the countries now known as the West became inhabited, and in order that these countries should be developed as quickly as possible, the perfected men who supervise the rise and fall of nations arranged for some of the more advanced egos in the world to be born as children of the pioneers who inhabited Western countries. Because the climate in these countries was generally much colder than the climate in the Eastern countries, the sun had less effect on the skin of all these individuals, with the result that white races came into being. Progress today emanates mostly from Western nations and, because of that, it is desirable that the most experienced men in the world, the older souls, should be born in Western bodies. Great Britain has been the strong nation for the past century or more and has therefore received her due quota of advanced egos, but now America is taking over the responsibilities of that difficult position. It is certainly not chance which decides whether a man is born an Englishman, an American, a German or a Chinese.
“Nhiều ngàn năm trước, những phần của hành tinh này chủ yếu có người cư ngụ là những quốc gia mà ngày nay anh thấy người bản địa có da màu. Mặc dù ngày nay Úc là một quốc gia của người da trắng, thổ dân Úc vốn là người da đen. Ở Nam Phi, những cư dân nguyên thủy là người da sẫm màu và mặc dù hiện vẫn còn số lượng lớn những người này sinh sống, ngày nay Nam Phi lại do người da trắng kiểm soát. Tất cả chúng ta trong những lần lâm phàm đầu tiên đều đã cư ngụ trong những thể da sẫm màu. Khi văn minh tiến bộ, những quốc gia ngày nay được gọi là phương Tây bắt đầu có người cư ngụ, và để những quốc gia này được phát triển nhanh nhất có thể, những con người hoàn thiện giám sát sự hưng suy của các quốc gia đã sắp đặt để một số chân ngã tiến bộ hơn trên thế giới được sinh làm con của những người tiên phong cư ngụ ở các quốc gia phương Tây. Bởi vì khí hậu ở những quốc gia này nói chung lạnh hơn nhiều so với khí hậu ở các quốc gia phương Đông, mặt trời ít tác động lên da của tất cả những cá nhân ấy hơn, với kết quả là các nhân loại da trắng đã hình thành. Ngày nay tiến bộ phần lớn phát xuất từ các quốc gia phương Tây và vì lý do đó, điều mong muốn là những con người giàu kinh nghiệm nhất trên thế giới, những linh hồn lâu đời hơn, nên được sinh trong các thể phương Tây. Đại Anh đã là quốc gia hùng mạnh trong hơn một thế kỷ qua và vì thế đã nhận phần chỉ tiêu xứng đáng của mình về các chân ngã tiến bộ, nhưng nay nước Mỹ đang tiếp nhận trách nhiệm của vị trí khó khăn ấy. Chắc chắn không phải ngẫu nhiên quyết định một người sinh làm người Anh, người Mỹ, người Đức hay người Trung Hoa.
“It must be obvious to you that all men with white skins are not more evolved than all men with coloured skins. Every nation in the world requires a certain number of experienced and evolved egos to lead it and help with its progress in evolution, so a certain number of old souls are always born into every nation. By this I do not mean that old souls would ever be born into bodies which we know of as Australian aborigines; it would be impossible for this to be so because they are not a nation, they are a dying race; thus the only entities which inhabit these bodies are those who were originally members of that race, but who have not advanced as quickly or progressed as far as the other original members of the race who have passed on to other races long since. Contrast India with this; in that country you find millions of unevolved beings, but you also find a large number of intellectual, advanced beings and many extremely spiritually minded men.India has always been a country whose inhabitants thought a great deal about spiritual development. Believe me, it has an ancient culture and it will also play a great part in the progress of the world in centuries to come. Obviously it is necessary for such a country to have egos born into it who can guide the destiny of its countless millions so that in future years it can play the part allotted to it.
“Hẳn anh phải thấy rõ rằng không phải mọi người da trắng đều tiến hóa hơn mọi người da màu. Mỗi quốc gia trên thế giới đều cần một số chân ngã giàu kinh nghiệm và tiến hóa để lãnh đạo và giúp đỡ sự tiến bộ trong tiến hoá của mình, vì thế một số linh hồn lâu đời luôn luôn được sinh vào mọi quốc gia. Bởi điều này tôi không có ý nói rằng các linh hồn lâu đời sẽ bao giờ sinh vào những thể mà chúng ta biết là thổ dân Úc; điều đó là không thể, vì họ không phải là một quốc gia, họ là một nhân loại đang tàn lụi; do đó những thực thể duy nhất cư ngụ trong các thể ấy là những kẻ vốn nguyên thủy là thành viên của nhân loại đó, nhưng đã không tiến bộ nhanh hay tiến xa bằng những thành viên nguyên thủy khác của nhân loại ấy, những người từ lâu đã chuyển sang các nhân loại khác. Hãy đối chiếu điều này với Ấn Độ; ở quốc gia ấy anh thấy hàng triệu hữu thể chưa tiến hóa, nhưng anh cũng thấy một số lượng lớn những hữu thể trí tuệ, tiến bộ và nhiều người cực kỳ có khuynh hướng tinh thần. Ấn Độ luôn luôn là một quốc gia mà cư dân của nó suy nghĩ rất nhiều về sự phát triển tinh thần. Hãy tin tôi, đó là một nền văn hóa cổ xưa và nó cũng sẽ đóng một vai trò lớn trong sự tiến bộ của thế giới trong những thế kỷ sắp tới. Hiển nhiên một quốc gia như thế cần có những chân ngã sinh vào đó để có thể hướng dẫn vận mệnh của vô số triệu dân của mình, để trong những năm tương lai nó có thể đóng vai trò được phân cho nó.
“Whether individuals of different races should marry is a difficult question to decide. It may sometimes happen that individuals who are born into different nations have been linked in past lives, through marriage for example. When these people meet in this life, as members of different nations, the attraction which drew them together in the past may still be as strong as before. In some cases it might be advantageous for such people to marry again; only by investigating the individual past experiences of both parties could one give an opinion that would be of value. I feel though that usually it is most undesirable for white men to marry coloured women, or the reverse, for the habits and culture of the different races do not mix well; therefore such a marriage does not work out to the advantage of either person. The result may also be that half-caste children are brought into the world and it is apparent to everyone that these suffer from the accident of their birth.
“Việc các cá nhân thuộc những nhân loại khác nhau có nên kết hôn hay không là một câu hỏi khó quyết định. Đôi khi có thể xảy ra rằng những cá nhân sinh vào các quốc gia khác nhau đã từng liên kết với nhau trong các đời trước, chẳng hạn qua hôn nhân. Khi những người này gặp nhau trong đời này, với tư cách thành viên của các quốc gia khác nhau, sức hút đã kéo họ đến với nhau trong quá khứ có thể vẫn mạnh như trước. Trong một số trường hợp, có thể có lợi cho những người như thế kết hôn lần nữa; chỉ bằng cách khảo cứu những kinh nghiệm quá khứ cá nhân của cả hai bên người ta mới có thể đưa ra một ý kiến có giá trị. Tuy nhiên tôi cảm thấy rằng thông thường điều rất không đáng mong muốn là đàn ông da trắng kết hôn với phụ nữ da màu, hay ngược lại, vì tập quán và văn hóa của các nhân loại khác nhau không hòa hợp tốt với nhau; vì thế một cuộc hôn nhân như vậy không đem lại lợi ích cho cả hai người. Kết quả cũng có thể là những đứa trẻ lai được đưa vào thế giới, và ai cũng thấy rõ rằng chúng phải chịu khổ vì tai nạn của sự sinh ra ấy.
“A man who is born in a white body does not necessarily return to earth as a member of a white population in his next incarnation. This again is a matter of karma and of many circumstances so that no general reply can be given to a question of this sort. In the case of a white man who, through a feeling of superiority, exploited other members of the human race, merely because they had coloured skins, the law of cause and effect would come into action. He would probably be forced to be born into a coloured race in his next incarnation, so that he might learn the lessons of tolerance and understanding, which he obviously lacked in his former existence.
“Một người sinh trong một thể da trắng không nhất thiết sẽ trở lại Trái Đất như một thành viên của một cộng đồng da trắng trong lần lâm phàm kế tiếp. Điều này lại là vấn đề của nghiệp quả và của nhiều hoàn cảnh, nên không thể đưa ra một câu trả lời chung cho loại câu hỏi như thế. Trong trường hợp một người da trắng, do cảm giác ưu việt, đã bóc lột những thành viên khác của nhân loại chỉ vì họ có da màu, thì định luật nhân quả sẽ đi vào hoạt động. Có lẽ y sẽ bị buộc phải sinh vào một nhân loại da màu trong lần lâm phàm kế tiếp, để y có thể học những bài học về khoan dung và thấu hiểu mà rõ ràng y đã thiếu trong đời sống trước.”
Q. “You have not said what happens to a man who commits suicide. Is such an act a great crime?”
H. “Ông chưa nói điều gì xảy ra với một người tự tử. Hành động như vậy có phải là một tội lớn không?”
A. “The taking of one’s own life is not only a crime, but is also an extremely foolish act. You do not solve your difficulties by running away from them, but merely postpone their solution for a future life. A man would argue that the circumstances which he has to face are the cause of his getting out of life, whereas they are the circumstances which have been judged necessary for his progress in evolution and he must go through them sooner or later. In exactly the same way that a child who plays truant from school will be kept back in the lower form for another term, and until he has realised that in order to qualify for a higher form he must obtain at least a minimum number of marks in all subjects, so when the man who commits suicide returns to the world in his next life, a group of circumstances will again arise, forming exactly the same obstacles and difficulties from which he now runs away. He must then face them and overcome them, for if he runs away once more, he is merely delaying his own evolution, and until he has faced and overcome these obstacles and thus learned the lessons they were meant to teach him, he cannot advance any further on the journey towards perfection. Extreme remorse usually follows an act of suicide, and within a very short time of their arrival in the astral world, the majority of suicides would give anything to undo their action. Unfortunately they cannot go back, but must wait until the time arrives for their next incarnation, and they are left in no doubt whatever that in their next life they will have to face the same difficulties again.
Đ. “Việc tự lấy đi mạng sống của mình không những là một tội lỗi mà còn là một hành động cực kỳ ngu xuẩn. anh không giải quyết những khó khăn của mình bằng cách chạy trốn khỏi chúng, mà chỉ đơn thuần hoãn việc giải quyết chúng sang một đời sống tương lai. Một người sẽ lập luận rằng những hoàn cảnh mà y phải đối diện là nguyên nhân khiến y rời bỏ cuộc đời, trong khi chính những hoàn cảnh ấy đã được xét là cần thiết cho sự tiến bộ trong tiến hoá của y và y phải đi qua chúng sớm hay muộn. Hoàn toàn giống như một đứa trẻ trốn học sẽ bị lưu lại lớp thấp thêm một học kỳ nữa, và cho đến khi nó nhận ra rằng để đủ điều kiện lên lớp cao hơn nó phải đạt ít nhất một số điểm tối thiểu ở mọi môn học, thì cũng vậy, khi người tự tử trở lại thế giới trong đời sống kế tiếp, một nhóm hoàn cảnh sẽ lại phát sinh, tạo thành đúng những chướng ngại và khó khăn mà hiện nay y đang chạy trốn. Khi ấy y phải đối diện và vượt qua chúng, vì nếu y lại chạy trốn một lần nữa, y chỉ đơn thuần trì hoãn sự tiến hoá của chính mình, và cho đến khi y đã đối diện và vượt qua những chướng ngại ấy và nhờ đó học được những bài học mà chúng nhằm dạy cho y, y không thể tiến xa hơn nữa trên hành trình hướng tới sự hoàn thiện. Sự hối hận cực độ thường theo sau hành động tự tử, và chỉ trong một thời gian rất ngắn sau khi đến thế giới cảm dục, phần lớn những người tự tử sẽ đánh đổi bất cứ điều gì để đảo ngược hành động của mình. Tiếc thay họ không thể quay lại, mà phải chờ cho đến khi thời điểm của lần lâm phàm kế tiếp đến, và họ hoàn toàn không còn nghi ngờ gì rằng trong đời sau họ sẽ phải đối diện lại cùng những khó khăn ấy.
“Because the man suffers so much from remorse and because he would give anything to get back into his physical body, even though it would mean facing up to the consequences, he often refuses to make the effort of will necessary for him to get rid of his etheric vehicle, which you will remember winds itself round the astral body at the moment of death. On account of this clinging, etheric vehicle, he is what is known as ‘earthbound’ just so long as he remains obstinate and refuses to get rid of it. Being a suicide he does not get the same sympathetic help from the astral helpers as you have seen is selflessly given to all who pass to the next world in the normal way; thus he may remain ‘earthbound’ through ignorance, being unable to function properly either in the physical or in the astral world, feeling the extreme loneliness that exists under these circumstances. After a period which seems like an eternity, he will, through a changed state of mind, draw towards him a helping hand, after which he can commence his life under astral conditions.
“Bởi vì người ấy đau khổ quá nhiều vì hối hận và bởi vì y sẽ đánh đổi bất cứ điều gì để trở lại thể xác hồng trần của mình, dù điều đó có nghĩa là phải đối diện với hậu quả, nên y thường từ chối thực hiện nỗ lực ý chí cần thiết để loại bỏ vận cụ dĩ thái của mình, mà anh sẽ nhớ là nó tự quấn quanh thể cảm dục vào lúc chết. Vì sự bám víu này vào vận cụ dĩ thái, y trở thành điều được gọi là ‘bị trói buộc vào đất’ chừng nào y còn ngoan cố và từ chối loại bỏ nó. Vì là người tự tử, y không nhận được cùng sự trợ giúp đầy cảm thông từ các trợ tá cảm dục như anh đã thấy được vị tha ban cho tất cả những ai sang thế giới bên kia theo cách bình thường; do đó y có thể vẫn ‘bị trói buộc vào đất’ vì vô minh, không thể hoạt động đúng đắn trong cả thế giới hồng trần lẫn thế giới cảm dục, cảm thấy sự cô đơn tột độ tồn tại trong những hoàn cảnh ấy. Sau một thời gian tưởng như vĩnh cửu, nhờ một trạng thái tâm thức thay đổi, y sẽ hút về phía mình một bàn tay trợ giúp, sau đó y có thể bắt đầu đời sống của mình trong các điều kiện cảm dục.
“The exceedingly unpleasant conditions ruling in that ‘no man’s land’ sometimes make a man bitter against his Creator and mankind in general, that he wanders about the place where he took his life, trying to influence other people to do the same thing. The reason for this is the awful loneliness of his present condition, and he feels that if he can persuade others to do what he has done, he will not be entirely alone in his misery. On very rare occasions he succeeds in his efforts and the karmic result of such a deed means that he must suffer greatly in the life that is to come. Suicide is never a release, only a postponement, and no circumstances in the world are so bad that a man should resort to such methods of evading them.”
“Những điều kiện cực kỳ khó chịu chi phối trong ‘vùng đất không người’ ấy đôi khi khiến một người cay đắng chống lại Đấng Sáng Tạo của mình và chống lại nhân loại nói chung, đến nỗi y lang thang quanh nơi mình đã tự kết liễu đời mình, cố ảnh hưởng những người khác làm điều tương tự. Lý do của điều này là sự cô đơn khủng khiếp trong tình trạng hiện tại của y, và y cảm thấy rằng nếu có thể thuyết phục người khác làm điều y đã làm, y sẽ không hoàn toàn cô độc trong nỗi khốn khổ của mình. Trong những dịp rất hiếm, y thành công trong nỗ lực ấy và kết quả nghiệp quả của hành vi như vậy có nghĩa là y sẽ phải chịu đau khổ lớn lao trong đời sống sắp tới. Tự tử không bao giờ là sự giải thoát, chỉ là sự trì hoãn, và không có hoàn cảnh nào trên thế giới tồi tệ đến mức con người nên dùng những phương pháp như thế để trốn tránh chúng.”
Q. “If there is a god or deity controlling our lives, why does he allow wars, particularly as the majority of mankind desire peace?”
H. “Nếu có một vị thần hay thượng đế kiểm soát đời sống của chúng ta, tại sao Ngài lại cho phép chiến tranh, nhất là khi phần lớn nhân loại mong muốn hòa bình?”
A. “Why do you suggest that wars are made, or allowed to be, by a Creator? Wars are quite definitely the result of man’s actions and his aggressive tendencies. There will be wars so long as there are separate nations in the world and while some nations wish to rule and exploit other nations. There is national karma as well as individual karma, and the groups of people who have banded themselves together as a specific nation and have interfered with the life of another nation must always bear the consequences of such actions, whether good or bad. In many cases a nation will argue that it meant well for the peoples whom it conquered, but history has usually proved that a conquered nation never quite settles down under the heel of a conqueror, nor can it evolve as quickly as when it is left alone to work out its own salvation.
Đ. “Tại sao anh lại gợi ý rằng chiến tranh được tạo ra, hay được cho phép xảy ra, bởi một Đấng Sáng Tạo? Chiến tranh hoàn toàn rõ ràng là kết quả của hành động của con người và những khuynh hướng hiếu chiến của y. Sẽ còn chiến tranh chừng nào trên thế giới còn có những quốc gia riêng biệt và chừng nào một số quốc gia còn muốn cai quản và bóc lột những quốc gia khác. Có nghiệp quả quốc gia cũng như nghiệp quả cá nhân, và những nhóm người đã liên kết với nhau thành một quốc gia cụ thể rồi can thiệp vào đời sống của một quốc gia khác thì luôn luôn phải gánh chịu hậu quả của những hành động như thế, dù tốt hay xấu. Trong nhiều trường hợp một quốc gia sẽ lập luận rằng mình có ý tốt đối với những dân tộc mà mình chinh phục, nhưng lịch sử thường đã chứng minh rằng một quốc gia bị chinh phục không bao giờ thực sự yên ổn dưới gót chân của kẻ chinh phục, cũng không thể tiến hoá nhanh bằng khi được để yên tự mình tìm lấy sự cứu rỗi.
“Wars beget wars and so it will be, until mankind realises that all members of the human race are members of the same human family, who should be treated with sympathy and understanding and be given help as a matter of course. In due time there will be no separate nations, for all men will live in harmony together, each group exchanging with others the things which the part of the world in which they live can most easily produce, together with the manufactured articles which their training has enabled them to perfect. Separate nations will then become merely states in a world nation and wise men, drawn from each group, will govern and legislate for the good of all. It is quite true that the majority of men desire peace, but unfortunately peace or war is usually decided by those who happen to be in power at the moment. The responsibility of any nation or any group of men for launching a war such as we are passing through at the moment is great indeed and it is seldom, if ever, that such a war can be justified, whatever the arguments may be that are put forward in an endeavour to prove that there was no other way out. The world will soon realise that even the nations which win modern wars lose in the end, and after a war the conditions ruling in the world are so difficult, that any advantages they seem to gain are outweighed by the post-war problems they must face. Never think that wars are desired by the powers that control Creation. These perfected men do everything in their power to lead humanity along the paths of peace and progress, but their efforts are limited, because man has been granted free will. That is his peculiar heritage as a member of the human kingdom.”
“Chiến tranh sinh ra chiến tranh và sẽ còn như vậy cho đến khi nhân loại nhận ra rằng mọi thành viên của nhân loại đều là thành viên của cùng một gia đình nhân loại, những người phải được đối xử bằng cảm thông và thấu hiểu và được giúp đỡ như một điều đương nhiên. Đến đúng lúc sẽ không còn những quốc gia riêng biệt nữa, vì mọi người sẽ cùng sống hòa hợp, mỗi nhóm trao đổi với các nhóm khác những thứ mà phần thế giới nơi họ sống có thể sản xuất dễ dàng nhất, cùng với những sản phẩm chế tạo mà sự huấn luyện của họ đã giúp họ hoàn thiện. Khi ấy các quốc gia riêng biệt sẽ chỉ còn là những bang trong một quốc gia thế giới và những người minh triết, được chọn từ mỗi nhóm, sẽ cai quản và lập pháp vì lợi ích của tất cả. Quả thật là phần lớn con người mong muốn hòa bình, nhưng tiếc thay hòa bình hay chiến tranh thường lại do những người tình cờ đang nắm quyền vào lúc đó quyết định. Trách nhiệm của bất kỳ quốc gia nào hay bất kỳ nhóm người nào trong việc phát động một cuộc chiến như cuộc chiến mà hiện nay chúng ta đang trải qua quả thật là rất lớn, và hiếm khi, nếu từng có, một cuộc chiến như vậy có thể được biện minh, bất kể những lý lẽ nào được đưa ra nhằm cố chứng minh rằng không còn lối thoát nào khác. Thế giới sẽ sớm nhận ra rằng ngay cả những quốc gia thắng trong các cuộc chiến hiện đại cuối cùng cũng thua, và sau chiến tranh những điều kiện chi phối trong thế giới khó khăn đến mức bất kỳ lợi thế nào họ dường như đạt được đều bị lấn át bởi những vấn đề hậu chiến mà họ phải đối diện. Đừng bao giờ nghĩ rằng chiến tranh là điều được mong muốn bởi những quyền lực kiểm soát Sáng Tạo. Những con người hoàn thiện này làm mọi điều trong quyền năng của mình để dẫn dắt nhân loại trên những con đường hòa bình và tiến bộ, nhưng nỗ lực của họ bị giới hạn, vì con người đã được ban cho ý chí tự do. Đó là di sản đặc thù của y với tư cách là một thành viên của giới nhân loại.”
Q. “When people are very evolved, do they automatically achieve the continuity of consciousness which enables them to remember what they must do whilst out of their bodies during sleep?”
H. “Khi con người rất tiến hóa, họ có tự động đạt được sự liên tục của tâm thức giúp họ nhớ điều mình phải làm trong khi ra ngoài thể xác lúc ngủ không?”
A. “My answer depends on what you conceive to be an evolved man. The average man has from five to six hundred incarnations in different bodies, during the time that elapses between his first to his last life as a human being, having then passed the fifth initiation and become an adept. Although about six hundred lives are usually necessary to learn all the lessons that this world has to teach, it is only during the last fifty lives or so that a man develops occultly and learns to use the faculties latent in all men, such as intuition, clairvoyance and the power consciously to get out of his body, whenever the necessity arises. For all general purposes you can assume that an evolved man has developed these faculties. But it is possible for one not so evolved to be given the opportunity of developing along this particular line, and your own case should serve to illustrate my point. You probably have more than fifty incarnations in front of you, before you reach the stage of a perfect man, but because your need was great, you have been granted special tuition and in return I hope that you will show your gratitude by passing on this knowledge to others less fortunate than yourself. If you continue to work as you are working now, you will find that your memory of what happens to you when you are out of your body becomes clearer and clearer, and your knowledge of the life beyond the grave will enable you to progress much more quickly than is usual. At the same time it will bring you much peace and contentment of mind. Do not imagine that, having been able to develop this faculty, you are different from, or superior to, many others who probably would have welcomed a similar opportunity to yours.
Đ. “Câu trả lời của tôi tùy thuộc vào điều anh quan niệm là một con người tiến hóa. Con người trung bình có từ năm trăm đến sáu trăm lần lâm phàm trong những thể khác nhau, trong khoảng thời gian trôi qua từ đời đầu tiên đến đời cuối cùng của y với tư cách một con người, khi ấy y đã vượt qua lần điểm đạo thứ năm và trở thành một chân sư. Mặc dù khoảng sáu trăm đời sống thường là cần thiết để học tất cả những bài học mà thế giới này phải dạy, chỉ trong khoảng năm mươi đời cuối cùng hay gần đó con người mới phát triển theo huyền bí học và học cách sử dụng những năng lực tiềm tàng trong mọi người, như trực giác, thông nhãn và quyền năng ra khỏi thể xác một cách có ý thức bất cứ khi nào cần thiết. Với mọi mục đích tổng quát, anh có thể giả định rằng một con người tiến hóa đã phát triển những năng lực này. Nhưng cũng có thể một người chưa tiến hóa đến thế lại được trao cơ hội phát triển theo đường lối đặc biệt này, và chính trường hợp của anh hẳn đủ để minh họa điều tôi muốn nói. Có lẽ anh còn hơn năm mươi lần lâm phàm ở phía trước trước khi đạt đến giai đoạn của một con người hoàn thiện, nhưng bởi vì nhu cầu của anh rất lớn, anh đã được ban cho sự chỉ dạy đặc biệt và đổi lại tôi hy vọng anh sẽ tỏ lòng biết ơn bằng cách truyền lại tri thức này cho những người kém may mắn hơn mình. Nếu anh tiếp tục làm việc như hiện nay, anh sẽ thấy ký ức của mình về những gì xảy ra với anh khi ra ngoài thể xác trở nên ngày càng rõ ràng hơn, và tri thức của anh về đời sống bên kia nấm mồ sẽ giúp anh tiến bộ nhanh hơn nhiều so với thông thường. Đồng thời điều đó sẽ đem lại cho anh nhiều bình an và sự mãn nguyện trong tâm trí. Đừng tưởng rằng vì đã có thể phát triển năng lực này mà anh khác biệt hay cao hơn nhiều người khác, những người có lẽ cũng sẽ hoan nghênh một cơ hội tương tự như của anh.
“Pride is always a danger, for it is often responsible for help being withdrawn from an individual with the result that such a man falls back into the Slough of Despondence.”
“Kiêu hãnh luôn luôn là một nguy cơ, vì nó thường là nguyên nhân khiến sự trợ giúp bị rút lại khỏi một cá nhân, với kết quả là người ấy lại rơi trở vào Vũng Lầy Tuyệt Vọng.”
Q. “Are we born an equal number of times as men and women or is sex just chance?”
H. “Chúng ta có sinh ra số lần bằng nhau trong thân nam và thân nữ không, hay giới tính chỉ là ngẫu nhiên?”
A. “Your last question is an easy one. No, sex is not just chance and we are not born an equal number of times as men and women. It is only possible to develop certain characteristics in female bodies and others in male bodies. By the time we reach perfection, we shall all have developed to a minimum extent all the virtues that add up to the ideal of a perfect man, and much more than a minimum in some of them. A man who develops through action naturally is a different character from one who develops through leading a saintly life and through a capacity to meditate for long periods in an endeavour to help his fellowmen. All types of perfected beings are necessary, and many are the ways taken by us to fulfill our destiny. If an individual should lack courage and the capacity to make sound decisions and to rule faithfully over his fellowmen, it would probably mean that such a person might have to be born in a male body for two or three consecutive lives, so that he would have ample opportunity for the development he needed. If on the other hand an individual lacked the instinct called maternal (or even paternal) and also was incapable of that selfless devotion and capacity to love a person, even when that love was spurned, it would probably mean that a life or two in a female body would be desirable, so that these lessons might be learned. In theory one should inhabit the same number of male and female bodies in the total number of lives which we live, but in practice it does not work out that way, for some people develop more easily in one type of body than they do in the other. In due time, when a man reaches perfection, he should have all the outstanding qualities of both sexes reasonably well developed. When you have an opportunity of meeting some of these perfected men, you will find that what I have told you is indeed true.”
Đ. “Câu hỏi cuối cùng của anh là một câu dễ. Không, giới tính không chỉ là ngẫu nhiên và chúng ta không sinh ra số lần bằng nhau trong thân nam và thân nữ. Chỉ có thể phát triển một số đặc tính nhất định trong thể nữ và những đặc tính khác trong thể nam. Vào lúc chúng ta đạt đến sự hoàn thiện, tất cả chúng ta sẽ đều đã phát triển ở mức tối thiểu mọi đức tính cộng lại thành lý tưởng của một con người hoàn hảo, và hơn mức tối thiểu ở một số đức tính trong đó. Một người phát triển qua hành động tự nhiên là một tính cách khác với người phát triển qua việc sống một đời thánh thiện và qua khả năng tham thiền lâu dài trong nỗ lực giúp đỡ đồng loại. Mọi loại hữu thể hoàn thiện đều cần thiết, và có nhiều con đường chúng ta đi để hoàn thành định mệnh của mình. Nếu một cá nhân thiếu can đảm và khả năng đưa ra những quyết định đúng đắn cũng như cai quản đồng loại của mình một cách trung tín, điều đó có lẽ sẽ có nghĩa là người ấy có thể phải sinh trong một thể nam trong hai hay ba đời liên tiếp, để có cơ hội đầy đủ cho sự phát triển mà mình cần. Mặt khác, nếu một cá nhân thiếu bản năng gọi là mẫu tính (hay thậm chí phụ tính) và cũng không có khả năng tận tụy vị tha cùng khả năng yêu thương một người ngay cả khi tình yêu ấy bị khước từ, điều đó có lẽ sẽ có nghĩa là một hay hai đời trong thể nữ là điều đáng mong muốn, để những bài học ấy có thể được học. Về lý thuyết, người ta nên cư ngụ trong số lượng thể nam và thể nữ bằng nhau trong tổng số các đời sống mà chúng ta sống, nhưng trên thực tế điều đó không diễn ra như vậy, vì có người phát triển dễ dàng hơn trong một loại thể này so với loại kia. Đến đúng lúc, khi con người đạt đến sự hoàn thiện, y phải có tất cả những phẩm tính nổi bật của cả hai giới được phát triển khá đầy đủ. Khi anh có cơ hội gặp một số con người hoàn thiện này, anh sẽ thấy rằng điều tôi đã nói với anh quả thật là đúng.”
Acharya continued: “This brings me to the end of your questions and after you have transcribed your shorthand notes and read them through, I hope you will find that the answers I have given clarify the points you have raised. If I were you I should have an early night for you must be tired, and I would not bother about concentrating before going to sleep on remembering in the morning what you did tonight. I shall not visit you again for at least a week, so you will have plenty of opportunity to experiment on your own and as I told you yesterday, if you get into any difficulty, I shall be near, to help you. Peace be with you, my son. I will leave you now.”
Acharya tiếp tục: “Điều này đưa tôi đến chỗ kết thúc các câu hỏi của anh và sau khi anh đã chép lại các ghi chú tốc ký của mình và đọc lại chúng, tôi hy vọng anh sẽ thấy rằng những câu trả lời tôi đã đưa ra làm sáng tỏ những điểm anh đã nêu lên. Nếu là anh, tôi sẽ đi ngủ sớm vì hẳn anh đã mệt, và tôi sẽ không bận tâm đến việc tập trung trước khi ngủ để sáng mai nhớ lại điều anh đã làm tối nay. Tôi sẽ không lại đến thăm anh trong ít nhất một tuần, nên anh sẽ có nhiều cơ hội để tự mình thử nghiệm và như tôi đã nói với anh hôm qua, nếu anh gặp bất kỳ khó khăn nào, tôi sẽ ở gần để giúp anh. Bình an ở cùng con, con trai của ta. Giờ tôi xin rời con.”
I could give a long description of the many incidents which took place the following week, but instead I shall summarise the highlights.
Tôi có thể kể dài dòng về nhiều sự việc đã xảy ra trong tuần kế tiếp, nhưng thay vào đó tôi sẽ tóm lược những điểm nổi bật.
On the very first night I managed to make my way to Daphne’s cottage, where I found her entertaining friends. I was introduced to and had interesting conversations with several of them on current events in the world—on which topics I found them to be very well informed. Several movie films were shown for my benefit, depicting the gardens attached to the bungalows in this valley. These gardens were much more beautiful than any I had seen before. When gardens were shown which were not laid out in any way, I saw nature spirits, tiny people who couldn’t be much more than five to six inches high judging by comparison with the flowers I knew, dancing in and out of the pictures. When they lighted on a flower, the stem gave a slight tremor as it would have if a large butterfly or bumble bee did the same thing. They are indeed perfect replicas of the fairies described in the books beloved by children of all ages—with one important difference, the complete absence of wings, and this can be understood, for logically wings are quite unnecessary at the level where these nature-spirits exist.
Ngay trong đêm đầu tiên, tôi đã xoay xở tìm đường đến ngôi nhà nhỏ của Daphne, nơi tôi thấy cô đang tiếp anh bè. Tôi được giới thiệu với vài người trong số họ và đã có những cuộc trò chuyện thú vị về các biến cố hiện thời trên thế giới—những đề tài mà tôi thấy họ đều rất am hiểu. Một số phim điện ảnh được chiếu riêng cho tôi xem, mô tả các khu vườn gắn liền với những ngôi nhà nhỏ trong thung lũng này. Những khu vườn ấy đẹp hơn rất nhiều so với bất cứ khu vườn nào tôi từng thấy trước đây. Khi những khu vườn không được bố trí theo bất kỳ cách thức nào được chiếu lên, tôi thấy các tinh linh tự nhiên, những người tí hon mà nếu so với các loài hoa tôi biết thì hẳn không cao quá năm đến sáu inch, đang nhảy múa ra vào trong các hình ảnh. Khi họ đậu lên một bông hoa, cuống hoa rung nhẹ như thể một con bướm lớn hay một con ong nghệ vừa đậu xuống đó. Quả thật họ là những bản sao hoàn hảo của các nàng tiên được mô tả trong những cuốn sách được trẻ em mọi lứa tuổi yêu thích—chỉ có một khác biệt quan trọng là hoàn toàn không có cánh, và điều này có thể hiểu được, vì xét theo lô-gic thì cánh hoàn toàn không cần thiết ở cấp độ mà các tinh linh tự nhiên này hiện hữu.
On the second night I got out of my body, meaning to visit the third sphere once more, but, when I found myself hovering immediately above the bed on which my body was lying, the first thing I heard was the voice of Charles speaking to me in characteristic army dialect. He said: “It’s about time you looked me up. I’ve been here at least three times since the night when you and your Indian friend came to London with me; each time your old body was here, but you had gone. I didn’t know where you had pushed off to, so I couldn’t follow you. This time I decided to come early so as to be sure to catch you.”
Vào đêm thứ hai, tôi ra khỏi thể mình, định đến thăm lại khối cầu thứ ba, nhưng khi thấy mình đang lơ lửng ngay phía trên chiếc giường nơi thể xác tôi đang nằm, điều đầu tiên tôi nghe thấy là giọng Charles nói với tôi bằng thứ tiếng lóng quân đội rất đặc trưng của nó. Nó nói: “Đến lúc anh phải tìm tôi rồi đấy. Tôi đã đến đây ít nhất ba lần kể từ đêm anh và người anh Ấn Độ của anh cùng tôi đến Luân Đôn; lần nào cái thân xác già cỗi của anh cũng ở đây, nhưng anh thì đi mất. Tôi không biết anh đã chuồn đi đâu, nên không thể theo anh được. Lần này tôi quyết định đến sớm để chắc chắn gặp được anh.”
“My dear Charles,” I said, “I’m terribly sorry. I didn’t know you had been looking for me, for I have been exceedingly busy and very interested indeed in all that I have seen.”
“Charles thân mến của tôi,” tôi nói, “tôi thật vô cùng xin lỗi. Tôi không biết em đã tìm tôi, vì tôi bận vô cùng và thực sự rất say mê với tất cả những gì tôi đã thấy.”
“What about going up to your little turret room which I remember used to be a favourite of yours,” said Charles, “then we can have a long talk, just like old times.”
“Hay là lên căn phòng tháp nhỏ của anh, nơi tôi nhớ là trước kia anh rất thích,” Charles nói, “rồi chúng ta có thể nói chuyện lâu, như những ngày xưa.”
“Good idea, old chap, let’s go.” So we went up to my sanctum where we chatted over old days and I told him more or less everything that had happened to me up to date.
“Ý hay đấy, anh anh già, đi thôi.” Thế là chúng tôi lên chốn riêng của tôi, nơi chúng tôi chuyện trò về những ngày cũ và tôi kể cho nó nghe đại khái mọi điều đã xảy ra với tôi cho đến lúc ấy.
Charles said, “I’m damned glad you’ve been so lucky as to meet Acharya, for it worried me after I died to see how extremely depressed and miserable you were. I tried my damnedest to speak to you, but couldn’t make you hear—we had been jolly good pals in the old days, even though I always looked on you as donkey’s years older than me. I appreciate all you’ve done for me ever since the days when you started to teach me football, and gave me my first lesson in how to hold a bat. What a funny thing life is! My idea used to be more or less to have a good time and get the best out of life that I could, and possibly later to marry some nice girl and have a family. When I first met Acharya he impressed me with the fact that a man doesn’t change after death; it is the conditions under which he lives that are different, and I have found that quite true.”
Charles nói, “Tôi mừng chết đi được vì anh đã may mắn gặp Acharya, vì sau khi tôi chết, thấy anh suy sụp và khổ sở đến thế làm tôi lo lắm. Tôi đã cố hết sức để nói với anh, nhưng không làm sao khiến anh nghe được—hồi trước chúng ta thân nhau lắm, dù tôi vẫn luôn thấy anh già hơn tôi cả một quãng dài. Tôi biết ơn tất cả những gì anh đã làm cho tôi từ những ngày anh bắt đầu dạy tôi đá bóng và cho tôi bài học đầu tiên về cách cầm gậy đánh bóng. Cuộc đời thật buồn cười! Ý nghĩ của tôi trước đây đại khái là cứ vui sống và tận hưởng cuộc đời hết mức có thể, rồi có lẽ sau này cưới một cô gái tử tế nào đó và có gia đình. Khi lần đầu gặp Acharya, ông ấy làm tôi nhận ra rằng con người không thay đổi sau khi chết; chỉ có những điều kiện mà y sống trong đó là khác đi, và tôi thấy điều ấy hoàn toàn đúng.”
“Yes,” I replied, “I gathered from Acharya that you had not been exactly miserable. He said you had linked up with some girl who had recently left the world. Is that so?”
“Đúng vậy,” tôi đáp, “tôi hiểu từ Acharya rằng em không hẳn là khổ sở. Ông ấy nói em đã kết giao với một cô gái mới rời thế gian gần đây. Có đúng thế không?”
Did he blush or was I imagining it?
Nó có đỏ mặt không hay là tôi tưởng tượng?
“Yes, that’s true enough,” said Charles, “I think it passes the time to have a girl pal to wander round with. In her case I’m afraid it tickles my vanity, for she thinks I’m a hell of a fellow, just because I know a little more than she does. She didn’t have a very good time in the world so I suppose this moving around, seeing shows and going to restaurants is thrilling for a time.”
“Vâng, đúng thế,” Charles nói, “tôi thấy có một cô anh gái để đi lang thang cùng thì cũng đỡ buồn. Trong trường hợp của cô ấy, tôi e là điều đó còn vuốt ve lòng tự phụ của tôi, vì cô ấy nghĩ tôi là một tay cừ lắm, chỉ vì tôi biết nhiều hơn cô ấy một chút. Cô ấy đã không có một cuộc sống tốt đẹp ở trần gian nên tôi đoán việc đi đây đi đó, xem các buổi diễn và đến nhà hàng cũng làm cô ấy thấy thích thú trong một thời gian.”
“Oh, Charles,” I said, “there’s one thing I want to ask you. Is there any sex relationship at your level after you’ve dropped the physical body?”
“Ôi, Charles,” tôi nói, “có một điều tôi muốn hỏi em. Ở cấp độ của em, sau khi đã bỏ thể xác, có còn quan hệ giới tính không?”
This time I’m quite sure he blushed but he went on, “Well yes, there is of a kind, and I think most people indulge in it, but it’s not quite the same thing as on the physical plane. One leads up to things in the same way, and although I would probably have felt just as shy about talking of my secret love affairs had you asked me the same question before I died, I suppose I feel just a wee bit shy of talking about these things now.”
Lần này thì tôi hoàn toàn chắc chắn nó đỏ mặt, nhưng nó vẫn nói tiếp, “À, có chứ, theo một cách nào đó, và tôi nghĩ phần lớn mọi người đều có, nhưng nó không hoàn toàn giống như ở cõi hồng trần. Mọi sự cũng dẫn đến đó theo cùng một cách, và dù có lẽ tôi cũng sẽ ngượng y như thế nếu anh hỏi tôi câu này trước khi tôi chết về những chuyện tình bí mật của tôi, nhưng tôi đoán bây giờ tôi vẫn hơi ngượng một chút khi nói về những chuyện ấy.”
I said, “I didn’t mean to be personal, I’m just interested in getting as much information as I can about the differences between conditions in the physical and the astral worlds and at various levels of the latter. I told you about my coming up against Daphne on one of the higher levels, where she is already studying music. I was very much in love with Daphne when she was alive and would have asked her to marry me as soon as I was able to support a wife. Although we never experienced the physical relationship of marriage, I feel that the platonic association we shall carry on now at these higher levels will not only last through our astral existence but will be of great benefit to us in our next incarnation. What about coming along with me one night and letting me introduce you to Daphne?”
Tôi nói, “Tôi không có ý hỏi chuyện riêng tư, tôi chỉ muốn có được càng nhiều thông tin càng tốt về những khác biệt giữa các điều kiện trong thế giới hồng trần và cảm dục, cũng như ở các cấp độ khác nhau của thế giới sau. Tôi đã kể cho em nghe việc tôi gặp Daphne ở một trong những cấp độ cao hơn, nơi cô ấy hiện đang học âm nhạc. Khi còn sống, tôi đã rất yêu Daphne và hẳn đã cầu hôn cô ấy ngay khi tôi có thể nuôi nổi một người vợ. Dù chúng tôi chưa từng trải qua mối quan hệ hồng trần của hôn nhân, tôi cảm thấy rằng mối liên hệ thuần khiết mà chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì ở các cấp độ cao hơn này không những sẽ kéo dài suốt thời kỳ tồn tại cảm dục của chúng tôi mà còn sẽ rất có ích cho chúng tôi trong lần lâm phàm kế tiếp. Em có muốn một đêm nào đó đi cùng tôi để tôi giới thiệu em với Daphne không?”
“Yes, I’d like to,” said Charles. I suggested a date for Thursday night, to which he agreed.
“Có, tôi muốn lắm,” Charles nói. Tôi đề nghị tối thứ Năm, và nó đồng ý.
Charles said he had recently made contact with our father, who had died some years previously. From his description I gathered that father was living at the second sphere. Charles described how he had found him surrounded by rose bushes—this was as I had known him in my boyhood days—he said that the last time he had seen him, father was distressed because a Scotch terrier which had attached itself to him had suddenly disappeared and he felt it had been lost. I explained to Charles what had really happened, but he showed little interest. We talked on till a peculiar feeling of restlessness came over me. I had just time to say to Charles not to forget Thursday when I woke in my bed with no remembrance of how I got there.
Charles nói rằng gần đây nó đã liên lạc được với cha chúng tôi, người đã qua đời vài năm trước. Qua lời mô tả của nó, tôi hiểu rằng cha đang sống ở khối cầu thứ hai. Charles kể rằng nó đã thấy cha giữa những bụi hồng—đó đúng là hình ảnh tôi từng biết về cha trong thời niên thiếu—nó nói lần cuối gặp cha, cha đang buồn phiền vì một con chó sục Scotch đã gắn bó với cha bỗng nhiên biến mất và cha cảm thấy nó đã bị lạc mất. Tôi giải thích cho Charles điều gì thực sự đã xảy ra, nhưng nó tỏ ra ít quan tâm. Chúng tôi tiếp tục nói chuyện cho đến khi một cảm giác bồn chồn kỳ lạ tràn đến với tôi. Tôi chỉ kịp dặn Charles đừng quên tối thứ Năm thì đã tỉnh dậy trên giường mà không nhớ mình đã về đó bằng cách nào.
It was on Wednesday night. I had a most disturbing experience—a nightmare in which Daphne took part. It seemed that Daphne and I were in a dark cave. For some reason we could not escape from a loathsome gorilla-like creature who was seated on the floor close to us, glowering at Daphne who obviously attracted it in some horrible way. I know that in my dream I wanted to protect Daphne, but the gorilla was of such a size and strength that I knew I would have no chance against it. It seemed highly amused at our efforts to escape, for it emitted wild yells and hoarse laughter as we ran hither and thither around the cave, trying to find an exit. Even in my dreams, sweat poured from my brow and I tried to think of Acharya in the hope he would come to our assistance—but nothing happened and we seemed left to our fate. After a little time the gorilla rose to its feet and advanced towards Daphne, whom it grasped with its horrible long hairy arms and commenced to drag her to the other end of the cave.
Đó là tối thứ Tư. Tôi đã có một trải nghiệm vô cùng xáo trộn—một cơn ác mộng có Daphne tham dự. Dường như Daphne và tôi đang ở trong một hang động tối tăm. Vì một lý do nào đó, chúng tôi không thể thoát khỏi một sinh vật ghê tởm giống khỉ đột đang ngồi trên nền hang gần chúng tôi, trừng trừng nhìn Daphne, người rõ ràng đã hấp dẫn nó theo một cách kinh khủng nào đó. Tôi biết rằng trong giấc mơ, tôi muốn bảo vệ Daphne, nhưng con khỉ đột quá to lớn và mạnh mẽ đến nỗi tôi biết mình không có cơ may nào chống lại nó. Nó dường như rất khoái chí trước những nỗ lực trốn thoát của chúng tôi, vì nó phát ra những tiếng tru man dại và những tràng cười khàn khàn khi chúng tôi chạy ngược chạy xuôi trong hang, cố tìm lối ra. Ngay cả trong mơ, mồ hôi cũng tuôn trên trán tôi và tôi cố nghĩ đến Acharya với hy vọng ông sẽ đến cứu giúp chúng tôi—nhưng không có gì xảy ra và dường như chúng tôi bị bỏ mặc cho số phận. Sau một lúc, con khỉ đột đứng dậy và tiến về phía Daphne, chộp lấy cô bằng đôi tay dài đầy lông ghê rợn rồi bắt đầu kéo cô về phía bên kia hang.
Daphne screamed and resisted to the best of her ability, and in desperation I hurled myself at the horrible creature and, although I had no weapon, I endeavoured to get my hands on its throat, in the hope that it would turn its attentions to me. Even now, I can still smell the fetid breath of the brute, for in the middle of the fight I awoke in my bed, sweating profusely and with the bedclothes all tangled about me. I haven’t the slightest idea what it all means. I shall check up with Daphne as soon as possible in the hope she knows something about it.
Daphne thét lên và chống cự hết sức mình, còn tôi trong tuyệt vọng lao vào sinh vật kinh khủng ấy, và dù không có vũ khí, tôi vẫn cố chụp lấy cổ nó, hy vọng nó sẽ quay sự chú ý sang tôi. Ngay cả bây giờ, tôi vẫn còn ngửi thấy hơi thở hôi thối của con quái vật, vì giữa lúc vật lộn tôi đã tỉnh dậy trên giường, mồ hôi đầm đìa và chăn màn quấn rối quanh người. Tôi không hề biết chút nào tất cả chuyện ấy có nghĩa gì. Tôi sẽ kiểm tra với Daphne sớm nhất có thể với hy vọng cô ấy biết điều gì đó về việc này.
Thursday was the night I began my career as an astral helper. This was the night on which I had arranged to take Charles to the third sphere. Charles was late, and when he arrived he was in an agitated condition because, he said, a pal of his, Bill Fletcher, had just crashed and been killed in a raid over London. He asked me to come with him and help, so we set out at once for London. Charles knew where to look for Bill, and our assistance was welcomed by three inexperienced but eager astral helpers. After about two hours hard work on the part of all of us, Bill was persuaded to make the effort of will to free himself from his etheric body, and at once became quite a different person. Charles and I took charge of him; we went with him to his home where we did what we could to prepare his young wife for the news she would receive the following morning.
Thứ Năm là đêm tôi bắt đầu sự nghiệp làm người trợ giúp cảm dục. Đó là đêm tôi đã hẹn đưa Charles đến khối cầu thứ ba. Charles đến muộn, và khi đến nơi nó đang trong trạng thái kích động vì, như nó nói, một người anh của nó là Bill Fletcher vừa bị rơi máy bay và thiệt mạng trong một cuộc không kích trên bầu trời Luân Đôn. Nó nhờ tôi đi cùng và giúp đỡ, nên chúng tôi lập tức lên đường đến Luân Đôn. Charles biết tìm Bill ở đâu, và sự giúp đỡ của chúng tôi được ba người trợ giúp cảm dục còn non kinh nghiệm nhưng đầy nhiệt tâm hoan nghênh. Sau khoảng hai giờ làm việc vất vả của tất cả chúng tôi, Bill được thuyết phục cố gắng dùng ý chí để giải thoát mình khỏi thể dĩ thái, và ngay lập tức trở thành một con người hoàn toàn khác. Charles và tôi nhận trách nhiệm với anh ta; chúng tôi đi cùng anh ta về nhà, nơi chúng tôi làm hết sức có thể để chuẩn bị cho người vợ trẻ của anh ta đón nhận tin dữ vào sáng hôm sau.
As Charles then undertook to remain with Bill, saying he knew only too well what the poor devil was suffering, I went back to the scene of the raid to see if I could be of any further assistance. An ambulance passed me, so I decided to follow it. It was driven to one of the big London hospitals and a stretcher, on which a young girl was lying, was carefully carried into the building. The same girl in her astral body was walking, in a very agitated condition, close behind the stretcher. After examination, the body of the girl was carried into one of the wards, already filled with recent casualties. Without any fuss or hurry and an efficiency at which I greatly marveled, the girl was put to bed and arrangements were made for giving her a blood transfusion. She was frantically trying to communicate with the doctors and nurses attending to her unconscious body, but after a short time she listened to what I had to say. I told her she would be all right, for intuitively I knew this was so. I told her that it would help if she became calm and watched the proceedings, at the same time using her will power to aid the efforts of the doctors and nurses. I don’t know now why I suggested this to her. I hadn’t the slightest idea whether it would help or not, but it came to me to say this, and so I did.
Vì sau đó Charles nhận ở lại với Bill, nói rằng nó quá hiểu nỗi đau mà gã tội nghiệp ấy đang chịu đựng, nên tôi quay lại nơi xảy ra cuộc không kích để xem mình còn có thể giúp gì thêm không. Một chiếc xe cứu thương đi ngang qua tôi, nên tôi quyết định đi theo. Nó chạy đến một trong những bệnh viện lớn ở Luân Đôn và một chiếc cáng, trên đó có một cô gái trẻ đang nằm, được cẩn thận khiêng vào trong tòa nhà. Chính cô gái ấy trong thể cảm dục đang đi, trong trạng thái vô cùng kích động, ngay phía sau chiếc cáng. Sau khi khám xét, thể xác của cô được đưa vào một phòng bệnh vốn đã đầy những nạn nhân mới bị thương. Không hề ồn ào hay vội vã, và với một hiệu quả khiến tôi vô cùng kinh ngạc, cô gái được đặt lên giường và việc truyền máu cho cô được sắp xếp. Cô đang cuống cuồng cố giao tiếp với các bác sĩ và y tá đang chăm sóc thể xác bất tỉnh của mình, nhưng chỉ sau một lúc ngắn cô đã lắng nghe những gì tôi nói. Tôi bảo cô rằng cô sẽ ổn thôi, vì trực giác cho tôi biết điều đó là đúng. Tôi nói với cô rằng sẽ có ích nếu cô bình tĩnh lại và quan sát mọi việc đang diễn ra, đồng thời dùng ý chí của mình để hỗ trợ những nỗ lực của các bác sĩ và y tá. Bây giờ tôi không biết vì sao mình lại gợi ý điều đó với cô. Tôi không hề biết chút nào liệu nó có giúp ích hay không, nhưng ý nghĩ ấy đến với tôi để nói ra, và tôi đã nói như vậy.
I could see quite clearly that there was a thin line of etheric matter stretched between her astral body and physical form lying on the hospital bed, so I knew that she was not dead—and was sure she could not die. I stayed talking with her for the rest of my night, and after she had told me that the house in which she lived was next door to the one that had received a direct hit and that she was very worried indeed as to the fate of her old mother, began to give her a little of the knowledge which had recently been given to me.
Tôi có thể thấy rất rõ rằng có một đường mảnh bằng vật chất dĩ thái kéo dài giữa thể cảm dục của cô và hình thể hồng trần đang nằm trên giường bệnh, nên tôi biết cô chưa chết—và chắc chắn rằng cô không thể chết. Tôi ở lại nói chuyện với cô suốt phần còn lại của đêm mình, và sau khi cô kể với tôi rằng căn nhà cô sống ở ngay cạnh căn nhà bị trúng bom trực tiếp và rằng cô vô cùng lo lắng cho số phận của người mẹ già, tôi bắt đầu truyền cho cô một ít kiến thức vừa mới được trao cho tôi.
There were other astral helpers moving about the ward and one of them whom I had not seen before, but who said his name was Jim, congratulated me on my efforts, saying that he wished there were more people with the necessary knowledge who would help in similar emergencies.
Có những người trợ giúp cảm dục khác đi lại trong phòng bệnh và một người trong số họ mà tôi chưa từng gặp trước đây, nhưng nói tên mình là Jim, đã chúc mừng tôi về những nỗ lực của tôi, nói rằng anh mong có nhiều người hơn nữa có kiến thức cần thiết để giúp đỡ trong những trường hợp khẩn cấp tương tự.
I had an experience so unique during Friday night that I must describe the night’s activities in some detail. I found Daphne in her room at the Academy. One of the first things I asked her about was her part in my nightmare—but she assured me she was not present. We decided we would try to get to the next sphere—the fourth—on our own, but were faced with the problem that neither of us had a landmark to visualise. We sat down outside and concentrated; I tried to see a mental hospital, such as Acharya had mentioned, but nothing happened. I wished we had Acharya to help us and must have made a thought-form of him because, after our next attempt had failed, I heard a chuckle behind me—and there he was. He said he would help us and give us landmarks on each sphere which we must memorise. We linked hands with him and when I opened my eyes, the scene that met them cannot adequately be described, for it was the most beautiful valley I have ever seen. It was partly wooded and the ground was covered with thick heather of the varied colours which one sees to perfection in South Africa, but soft to the touch; intermingled with this, wild flowers bloomed in profusion. Side by side I saw primroses, blue-bells, daffodils, forget-me-nots, tulips, wild roses and the most vivid red poppies that could be imagined; I’m sure no variety of wild flower was missing for the ground near and far was a veritable carpet of colours of breathtaking beauty.
Tôi đã có một trải nghiệm độc nhất vô nhị trong đêm thứ Sáu đến nỗi tôi phải mô tả các hoạt động của đêm ấy khá chi tiết. Tôi gặp Daphne trong phòng của cô tại Học viện. Một trong những điều đầu tiên tôi hỏi cô là về phần cô trong cơn ác mộng của tôi—nhưng cô quả quyết rằng cô không hề có mặt. Chúng tôi quyết định sẽ tự mình cố đến khối cầu kế tiếp—khối cầu thứ tư—nhưng vấp phải vấn đề là cả hai chúng tôi đều không có một mốc chuẩn nào để hình dung. Chúng tôi ngồi xuống bên ngoài và tập trung; tôi cố thấy một bệnh viện tâm thần, như Acharya đã nhắc đến, nhưng không có gì xảy ra. Tôi ước gì có Acharya giúp chúng tôi và hẳn đã tạo ra một Hình tư tưởng về ông, vì sau khi lần thử kế tiếp của chúng tôi thất bại, tôi nghe thấy một tiếng cười khúc khích phía sau—và ông đang ở đó. Ông nói sẽ giúp chúng tôi và cho chúng tôi những mốc chuẩn ở mỗi khối cầu mà chúng tôi phải ghi nhớ. Chúng tôi nắm tay ông và khi tôi mở mắt ra, cảnh tượng hiện ra trước mắt không thể nào mô tả cho đầy đủ được, vì đó là thung lũng đẹp nhất tôi từng thấy. Một phần có rừng cây và mặt đất phủ đầy thạch nam dày với những màu sắc đa dạng mà người ta thấy đẹp nhất ở Nam Phi, nhưng lại mềm mại khi chạm vào; xen lẫn trong đó là vô số hoa dại nở rộ. Tôi thấy sát bên nhau những bông anh thảo, chuông xanh, thủy tiên vàng, lưu ly, tulip, hồng dại và những bông anh túc đỏ rực rỡ nhất có thể tưởng tượng; tôi chắc rằng không thiếu một loại hoa dại nào vì mặt đất gần xa quả thật là một tấm thảm màu sắc đẹp đến nghẹt thở.
“I thought you would be pleased with this landmark,” said Acharya, “for it is called ‘The Fairy Glen.’ It could be described as the cradle of the deva kingdom for it is the valley to which the members of this evolution return after they have finished the particular work allotted to them. I suggest you both investigate the valley on some future occasion—quietly and unobtrusively, for the devas have their own methods of keeping away philistines amongst men. They build a thick wall of astral matter which makes it impossible for any human being to see beyond, even if they knew this place existed. Such walls serve the same purpose at this level as do brick walls in the physical world.”
“Tôi nghĩ các anh sẽ hài lòng với mốc chuẩn này,” Acharya nói, “vì nơi đây được gọi là ‘Thung Lũng Tiên.’ Có thể mô tả nó như chiếc nôi của giới thiên thần vì đây là thung lũng mà các thành viên của dòng tiến hoá này trở về sau khi hoàn tất công việc đặc thù được giao cho họ. Tôi gợi ý cả hai anh nên khảo sát thung lũng này vào một dịp nào đó trong tương lai—một cách yên lặng và kín đáo, vì các thiên thần có những phương pháp riêng để ngăn những kẻ phàm tục trong loài người tránh xa. Họ dựng nên một bức tường dày bằng vật chất cảm dục khiến bất cứ con người nào cũng không thể nhìn xuyên qua, ngay cả khi họ biết nơi này tồn tại. Những bức tường như thế ở cấp độ này phục vụ cùng một mục đích như tường gạch trong thế giới hồng trần.”
Once more we joined hands and willed ourselves to the next level—the fifth. On opening my eyes it seemed uncanny to find that we were standing on an open plain like a desert, except that there was grass in the place of sand. In the distance was a huge city, with many spires and towers, surrounded by an immense town. Above the city shone something in the nature of a sun, for it spread a glow over all the buildings which made them shine like gold. “That, my friends, is the Golden City,” said our guide, “and I advise you to visit and study it. You will find within everything that has ever been thought of or imagined as likely to be found in orthodox Heaven, so much talked of by priests and ministers attached to the Christian creed. The whole city is a huge thought-form and you will find therein thought-forms of God the Father, of Christ and his twelve disciples, and the many saints who have figured in the teachings of the Church.”
Một lần nữa chúng tôi nắm tay nhau và dùng ý chí đưa mình đến cấp độ kế tiếp—cấp độ thứ năm. Khi mở mắt ra, thật kỳ lạ khi thấy chúng tôi đang đứng trên một đồng bằng trống trải như sa mạc, ngoại trừ chỗ cát là cỏ. Ở đằng xa là một thành phố khổng lồ, với nhiều ngọn tháp và tháp nhọn, bao quanh bởi một thị trấn mênh mông. Phía trên thành phố tỏa sáng một thứ gì đó giống như mặt trời, vì nó phủ một vầng sáng lên tất cả các công trình khiến chúng lấp lánh như vàng. “Đó, các anh của tôi, là Thành Phố Vàng,” vị hướng dẫn của chúng tôi nói, “và tôi khuyên các anh nên đến thăm và nghiên cứu nó. Các anh sẽ thấy trong đó mọi thứ từng được nghĩ đến hay tưởng tượng là có thể tìm thấy trong Thiên Đàng chính thống, điều mà các linh mục và mục sư thuộc tín điều Cơ Đốc thường nói đến rất nhiều. Toàn bộ thành phố là một Hình tư tưởng khổng lồ và các anh sẽ thấy trong đó những Hình tư tưởng về Thượng đế Cha, về Đức Christ và mười hai đệ tử của Ngài, cùng nhiều vị thánh từng xuất hiện trong giáo huấn của Giáo hội.”
Again we linked hands, and willed ourselves to the sixth level. Within a second we were standing on the edge of a lake, which was surrounded by a high wall of rock. In the distance on our left was to be seen a very small opening—I wondered where it led. “Make a clear picture of this scene,” advised Acharya. “This lake is used principally by members of the human race who desire absolute silence for their particular work. There is one sect in the world which evolves entirely through meditation exercises. They are taught during their lifetime that there is this place, in rather the same way that Christians are taught that there is a place called Heaven. The small boats you see are used by the men who come here, for when they are afloat, it is impossible for one boat to be overtaken by another. This is due to some under water currents which cause the boats to drift round the entire lake; it takes twenty four hours (earth time) for a boat to return to its starting place, and the meditation exercises carried out by these people take exactly that time to complete. I saw you noticed the small opening on the left; that leads to another similar but smaller lake, also surrounded by high cliffs. This lake was produced by an individual who sojourned here. One day he was interrupted in his meditations by other human beings using the lake at the same time as himself. The thought-form he made was so strong that he produced a lake all for himself.
Một lần nữa chúng tôi nắm tay nhau và dùng ý chí đưa mình đến cấp độ thứ sáu. Chỉ trong một giây, chúng tôi đã đứng bên bờ một hồ nước được bao quanh bởi một bức tường đá cao. Ở phía xa bên trái có thể thấy một lối mở rất nhỏ—tôi tự hỏi nó dẫn đến đâu. “Hãy tạo một hình ảnh rõ ràng về cảnh này,” Acharya khuyên. “Hồ này chủ yếu được dùng bởi các thành viên của nhân loại mong muốn sự im lặng tuyệt đối cho công việc đặc thù của họ. Có một giáo phái trên thế giới tiến hoá hoàn toàn qua các bài tập tham thiền. Trong suốt đời sống của họ, họ được dạy rằng có nơi này, cũng gần giống như các tín đồ Cơ Đốc được dạy rằng có một nơi gọi là Thiên Đàng. Những chiếc thuyền nhỏ các anh thấy được dùng bởi những người đến đây, vì khi đã ở trên mặt nước, không chiếc thuyền nào có thể vượt qua chiếc khác. Điều này là do một số dòng chảy ngầm dưới nước khiến các con thuyền trôi vòng quanh toàn bộ hồ; phải mất hai mươi bốn giờ (theo thời gian Trái Đất) để một chiếc thuyền trở lại điểm xuất phát, và các bài tập tham thiền do những người này thực hiện mất đúng chừng ấy thời gian để hoàn tất. Tôi thấy các anh đã chú ý đến lối mở nhỏ bên trái; nó dẫn đến một hồ khác tương tự nhưng nhỏ hơn, cũng được bao quanh bởi những vách đá cao. Hồ này do một cá nhân từng lưu lại đây tạo ra. Một ngày nọ, y bị những người khác dùng hồ cùng lúc quấy rầy trong khi đang tham thiền. Hình tư tưởng mà y tạo ra mạnh đến nỗi y đã tạo nên một hồ riêng hoàn toàn cho mình.
“I have spoken to you here in a voice which is hardly above a whisper. Had I spoken in my usual voice you would have heard it reverberating round the lake like thunder. The people in the vicinity know about this unusual feature, and take good care never to make sound. Because of this peculiarity the lake is called ‘The Waters of Perpetual Silence.’
“Tôi đã nói với anh ở đây bằng một giọng hầu như chỉ lớn hơn tiếng thì thầm. Nếu tôi nói bằng giọng bình thường, anh hẳn đã nghe nó vang dội quanh hồ như sấm. Những người ở vùng lân cận biết đặc điểm khác thường này, và hết sức cẩn thận không bao giờ tạo ra âm thanh. Vì đặc tính ấy mà hồ được gọi là ‘Mặt Nước của Sự Im Lặng Vĩnh Cửu.’
“Now I must leave you. You should have no difficulty in returning without my assistance.”
“Bây giờ tôi phải rời các anh. Các anh sẽ không gặp khó khăn gì khi trở về mà không cần tôi trợ giúp.”
As he had surmised, Daphne and I found no difficulty in retracing our steps, but when we reached the fourth sphere and once more saw the Fairy Glen, we decided to remain there for a short time. We noticed there were signs of great activity in the valley as if some sort of ceremony were about to take place. There seemed to be thousands of inhabitants gathering in the valley. We sat down to watch; our presence was noticed by some “officials,” and when one of them moved towards us, we rather expected to be asked to go away—particularly as Acharya had warned us that members of our evolution were not always welcome here. The man who, slowly and in a dignified manner, floated towards us had a very fine intellectual head and a spiritual dignity which made us rise to our feet instinctively as he reached us. His costume was strange to us; it resembled that of a Chinese Mandarin. The colours of the long coat were exquisite, whilst the embroidery clearly portrayed many of the wild flowers that bloomed in the valley. The expression on his face did not seem to auger trouble for us, so we smiled in return, hoping that our attitude would reassure him. What followed was a little uncanny for it was a conversation conducted without a word being uttered; question and answer followed one upon the other, far more quickly than would have been possible had words been our medium of expression.
Đúng như ông đã đoán, Daphne và tôi không gặp khó khăn gì trong việc quay lại theo lối cũ, nhưng khi đến khối cầu thứ tư và lại thấy Thung Lũng Tiên, chúng tôi quyết định ở lại đó một lát. Chúng tôi nhận thấy có những dấu hiệu hoạt động lớn trong thung lũng như thể một loại nghi lễ nào đó sắp diễn ra. Dường như có hàng ngàn cư dân đang tụ tập trong thung lũng. Chúng tôi ngồi xuống quan sát; sự hiện diện của chúng tôi được một số “quan chức” chú ý, và khi một người trong số họ tiến về phía chúng tôi, chúng tôi khá ngỡ rằng sẽ bị yêu cầu rời đi—đặc biệt vì Acharya đã cảnh báo rằng các thành viên của dòng tiến hoá chúng tôi không phải lúc nào cũng được chào đón ở đây. Người đàn ông từ từ và trang nghiêm lướt về phía chúng tôi có một cái đầu trí tuệ rất đẹp và một phẩm cách tinh thần khiến chúng tôi bản năng đứng dậy khi ông đến gần. Trang phục của ông thật lạ đối với chúng tôi; nó giống như của một vị quan Mãn Thanh Trung Hoa. Màu sắc của chiếc áo dài thật tinh mỹ, còn những đường thêu rõ ràng mô tả nhiều loài hoa dại đang nở trong thung lũng. Nét mặt ông không có vẻ báo trước điều gì bất lợi cho chúng tôi, nên chúng tôi mỉm cười đáp lại, hy vọng thái độ của mình sẽ làm ông yên tâm. Điều xảy ra sau đó có phần kỳ lạ vì đó là một cuộc trò chuyện diễn ra mà không một lời nào được thốt ra; câu hỏi và câu trả lời nối tiếp nhau nhanh hơn rất nhiều so với nếu lời nói là phương tiện biểu đạt của chúng tôi.
I felt he had asked me whether he could do anything for us. I told him, merely by allowing the thought to express itself in my mind, that Daphne was a permanent inhabitant of the astral world, whereas I was still living in a physical body in the world and was here during the period when my body was sleeping. He seemed to understand perfectly, and said he had been instructed by his “Chief” to bring us to him. We intimated that we were only too willing to accompany him and at once moved towards the central arena. As we approached, I saw that the people were standing and sitting around a large open circle. Wild flowers had been strung together to keep back the crowds and I could not help comparing the beauty of that “fence” with those we see in the world. Just within the circle a dais had been erected, made entirely of great clumps of green moss with pillars at each corner, formed of intertwined flowers of every size and colour, even the awning above the dais was made of a very delicate fern, not unlike our maidenhair variety. The whole formed a most beautiful picture. The moss on the floor of the dais had been laid in such a way that there appeared to be numerous seats with shaped backs, which looked so comfortable that one immediately wished to sit down. At the front there were two large seats, almost like thrones, and, although these too were composed of moss, they were more ornate than the others.
Tôi cảm thấy ông đã hỏi liệu ông có thể làm gì cho chúng tôi không. Tôi nói với ông, chỉ bằng cách để ý nghĩ tự biểu lộ trong trí tôi, rằng Daphne là một cư dân thường trú của thế giới cảm dục, còn tôi thì vẫn đang sống trong một thể xác hồng trần ở thế gian và hiện diện ở đây trong thời gian thể xác tôi đang ngủ. Ông dường như hiểu hoàn toàn, và nói rằng ông đã được “Vị Thủ Lãnh” của mình chỉ thị đưa chúng tôi đến gặp ngài. Chúng tôi cho biết rằng mình rất sẵn lòng đi theo ông và lập tức di chuyển về phía đấu trường trung tâm. Khi đến gần, tôi thấy mọi người đang đứng và ngồi quanh một vòng tròn lớn để trống. Hoa dại được kết lại với nhau để ngăn đám đông và tôi không thể không so sánh vẻ đẹp của “hàng rào” ấy với những hàng rào chúng ta thấy ở thế gian. Ngay bên trong vòng tròn, một bục cao đã được dựng lên, hoàn toàn bằng những cụm rêu xanh lớn với các cột ở mỗi góc, được tạo thành từ những bông hoa đan xen đủ mọi kích cỡ và màu sắc, ngay cả mái che phía trên bục cũng được làm bằng một loại dương xỉ rất mảnh, không khác mấy loại tóc tiên của chúng ta. Toàn bộ tạo thành một bức tranh vô cùng đẹp. Lớp rêu trên sàn bục được xếp theo cách khiến trông như có nhiều ghế ngồi với lưng ghế uốn hình, nom êm ái đến mức người ta lập tức muốn ngồi xuống. Phía trước có hai ghế lớn, gần như ngai vàng, và dù chúng cũng được làm bằng rêu, chúng vẫn cầu kỳ hơn những ghế khác.
Whilst we waited for the “Chief” to appear, our guide told us something of what was about to take place. The gist of what he said was that the crowd had gathered together to witness a graduation ceremony. He explained that when the time came for a group of nature-spirits to pass to the next stage in their evolution, which was to become devas, they had to give proof of their proficiency at one of these gatherings. Providing they satisfied a “Council of Examiners,” they were changed from nature-spirits into devas, with more responsible duties. He said that the younger egos evolved along one of three special lines of work: (1) the Power line, working through Music and Colour; (2) the guidance of the Vegetable Kingdom, which derived its change and progress from experiments made at the astral level by members of the deva evolution, and (3) work in connection with the Human Kingdom. He explained that the nature-spirits mixed quite frequently with human beings, particularly children. They often played with those who came to the astral world at an early age and taught them how to make use of the plastic astral matter, so to live their fairy stories in very truth, by changing at will so as to represent any figure of fiction for so long as required and so long as the thoughts of those taking part lasted. It was impressed on me that this sphere of the astral world is for the deva kingdom what the physical world is for the human kingdom. Between lives, birds return to this fourth sphere—the same way that animals inhabit the sixth and seventh spheres, when they are awaiting their return to the world. Birds, as well as fish, butterflies and many other winged creatures, eventually change into nature-spirits and are part of the deva evolution. They never become part of the human evolution. At this stage a group emerged from a nearby coppice. If ever I had imagined the fairy story of the “Magic Carpet” come to life, surely this was it! The group consisted of two central figures, both seated crosslegged on what can only be described as a ceremonial carpet, floating about a yard above the ground. From each front corner, strands of flowers were held in the beaks of numerous birds of every colour imaginable, and whilst these flew ahead, seemingly pulling the carpet along, the other devas taking part in the procession floated majestically on either side of it. More little birds flew backwards and forwards, dropping rose petals in the path of the procession, each bird swooping down to the ground, picking a petal with its beak from the rose bushes that grew everywhere, and at once returning to its position ahead of the procession, from where the petal was dropped. Whilst the procession slowly wended its way, the air was filled with the notes issuing from the throats of thousands of birds of all types.
Trong khi chờ “Vị Thủ Lãnh” xuất hiện, người hướng dẫn của chúng tôi kể cho chúng tôi nghe đôi điều về điều sắp diễn ra. Đại ý lời ông là đám đông đã tụ tập để chứng kiến một nghi thức tốt nghiệp. Ông giải thích rằng khi đến lúc một nhóm tinh linh tự nhiên chuyển sang giai đoạn kế tiếp trong tiến hoá của họ, tức trở thành thiên thần, họ phải chứng minh năng lực của mình tại một trong những buổi tụ họp như thế này. Nếu làm hài lòng một “Hội Đồng Khảo Thí,” họ sẽ được chuyển từ tinh linh tự nhiên thành thiên thần, với những nhiệm vụ có trách nhiệm hơn. Ông nói rằng các chân ngã trẻ hơn tiến hoá theo một trong ba đường công việc đặc biệt: (1) đường Quyền năng, hoạt động qua Âm nhạc và Màu sắc; (2) sự hướng dẫn giới thực vật, vốn nhận được sự thay đổi và tiến bộ từ các thí nghiệm do các thành viên của dòng tiến hoá thiên thần thực hiện ở cấp độ cảm dục, và (3) công việc liên hệ với giới nhân loại. Ông giải thích rằng các tinh linh tự nhiên khá thường xuyên giao tiếp với con người, đặc biệt là trẻ em. Họ thường chơi với những em đến thế giới cảm dục từ khi còn nhỏ và dạy các em cách sử dụng vật chất cảm dục dẻo để thực sự sống trong các truyện thần tiên của mình, bằng cách tùy ý biến đổi để đại diện cho bất kỳ nhân vật hư cấu nào trong chừng mực cần thiết và chừng nào tư tưởng của những người tham gia còn kéo dài. Điều được gây ấn tượng nơi tôi là khối cầu này của thế giới cảm dục đối với giới thiên thần cũng giống như thế giới hồng trần đối với giới nhân loại. Giữa các kiếp sống, chim chóc trở về khối cầu thứ tư này—cũng như loài vật cư ngụ ở các khối cầu thứ sáu và thứ bảy khi chúng đang chờ trở lại thế gian. Chim chóc, cũng như cá, bướm và nhiều sinh vật có cánh khác, cuối cùng biến đổi thành tinh linh tự nhiên và là một phần của dòng tiến hoá thiên thần. Chúng không bao giờ trở thành một phần của dòng tiến hoá nhân loại. Đến lúc này, một nhóm xuất hiện từ một lùm cây gần đó. Nếu tôi từng tưởng tượng câu chuyện thần tiên về “Tấm Thảm Thần” sống dậy, thì hẳn chính là đây! Nhóm ấy gồm hai nhân vật trung tâm, cả hai đều ngồi xếp bằng trên thứ chỉ có thể mô tả là một tấm thảm nghi lễ, lơ lửng cách mặt đất chừng một thước. Từ mỗi góc trước, những dải hoa được nhiều con chim đủ mọi màu sắc có thể tưởng tượng ngậm trong mỏ, và trong khi chúng bay phía trước, dường như kéo tấm thảm đi, thì các thiên thần khác tham gia đoàn rước lướt đi uy nghiêm ở hai bên. Nhiều chú chim nhỏ khác bay qua bay lại, thả những cánh hồng trên đường đoàn rước đi qua, mỗi con sà xuống đất, dùng mỏ nhặt một cánh hoa từ những bụi hồng mọc khắp nơi, rồi lập tức trở lại vị trí phía trước đoàn rước, từ đó cánh hoa được thả xuống. Trong khi đoàn rước chậm rãi tiến đi, không khí tràn ngập những âm điệu phát ra từ cổ họng của hàng ngàn loài chim đủ loại.
The procession reached its destination and the two central figures were escorted to the special thrones prepared for them on the dais. The first of the two figures was the “Chief” and the second was the High Priest, judging from the ceremonial robes that he wore. As the other officials took their place on the dais, our guide presented Daphne and me to the Chief who intimated that we were to seat ourselves on the platform. Daphne was offered a seat on his right hand and, I was given a seat to the immediate left of the High Priest. Before the ceremony proper commenced, some music was played by a large orchestra, composed entirely of devas; it was of an extremely cheerful and melodious character. After the orchestra had finished playing, there was silence again; even the myriads of birds uttered no sound whatever.
Đoàn rước đến nơi và hai nhân vật trung tâm được hộ tống đến những ngai đặc biệt đã chuẩn bị cho họ trên bục. Nhân vật thứ nhất trong hai người là “Vị Thủ Lãnh” và người thứ hai là Vị Thượng Tế, xét theo lễ phục mà ông mặc. Khi các quan chức khác vào vị trí trên bục, người hướng dẫn của chúng tôi giới thiệu Daphne và tôi với Vị Thủ Lãnh, ngài ra hiệu rằng chúng tôi sẽ ngồi trên bục. Daphne được mời một chỗ bên tay phải ngài và tôi được dành cho một chỗ ngay bên trái Vị Thượng Tế. Trước khi nghi lễ chính thức bắt đầu, một dàn nhạc lớn hoàn toàn gồm các thiên thần đã trình tấu một bản nhạc; tính chất của nó vô cùng vui tươi và du dương. Sau khi dàn nhạc chơi xong, lại có sự im lặng; ngay cả vô số chim chóc cũng không phát ra bất kỳ âm thanh nào.
A herald then entered the inner circle and with a small silver trumpet proclaimed the first part of the ceremony. A small group of nature-spirits came into the arena. Although no words were spoken, a question passed from the principal examiner to this group. It related to the expressions of sounds, as representing a slowly moving river, lazily passing through wooded country with tall trees on either side of the river bank. At once the group produced wind instruments and a curious sort of guitar. They commenced to play and I saw the thought-form slowly take shape, showing exactly what they were endeavouring to illustrate through sound. This was immediately followed by another order to produce music that expressed the elements. At once the instruments were changed; several drums, one set of cymbals and two other larger and quite unusual wind instruments, rather like oboes, were introduced. Again they played and it was not difficult to realise, even without looking at the thought-form so clearly outlined before us, that a storm at sea was the subject of the theme then played. One could almost hear the creaking of the stays and halyards, strained to their utmost by the force of the gale. Thunder and lightning played their part and as this group finished, the crowd stood up as a body, raising their hands to the sky, instead of clapping and cheering as we would do. That was all the first group was asked to do and I was sure the members had successfully passed their test.
Sau đó một người truyền lệnh bước vào vòng tròn bên trong và với một chiếc kèn bạc nhỏ tuyên bố phần đầu của nghi lễ. Một nhóm nhỏ tinh linh tự nhiên tiến vào đấu trường. Dù không có lời nào được nói ra, một câu hỏi được truyền từ vị giám khảo chính đến nhóm này. Nó liên quan đến sự biểu đạt bằng âm thanh, tượng trưng cho một dòng sông chảy chậm, lững lờ đi qua miền rừng cây với những hàng cây cao ở hai bên bờ. Lập tức nhóm ấy lấy ra các nhạc cụ hơi và một loại đàn ghi-ta kỳ lạ. Họ bắt đầu chơi và tôi thấy Hình tư tưởng từ từ thành hình, cho thấy chính xác điều họ đang cố minh họa qua âm thanh. Ngay sau đó là một mệnh lệnh khác yêu cầu tạo ra âm nhạc biểu đạt các nguyên tố. Lập tức các nhạc cụ được thay đổi; vài chiếc trống, một bộ chũm chọe và hai nhạc cụ hơi lớn hơn, rất khác thường, khá giống kèn oboe, được đưa vào. Họ lại chơi và không khó để nhận ra, ngay cả khi không nhìn vào Hình tư tưởng được phác họa rõ ràng trước mắt chúng tôi, rằng một cơn bão trên biển là chủ đề của bản nhạc lúc ấy. Người ta gần như có thể nghe thấy tiếng răng rắc của dây chằng và dây buồm bị sức gió giật căng đến cực độ. Sấm chớp cũng góp phần của chúng và khi nhóm này kết thúc, đám đông đồng loạt đứng dậy, giơ tay lên trời, thay vì vỗ tay reo hò như chúng ta vẫn làm. Đó là tất cả những gì nhóm đầu tiên được yêu cầu làm và tôi chắc rằng các thành viên của nhóm đã vượt qua bài thử một cách thành công.
The second group was now heralded into the circle—there were only five of them. They were asked to demonstrate the result of certain graftings, as related to both flowers and shrubs and to different kinds of fruit. The answers appeared immediately as thought-form pictures—showing very clearly the changes in size and colour. They were also asked what kinds of flowers could be grown together in one bed and which kinds meant death to one or more of the species. Then questions concerning crop rotation and why it was necessary. This second group also seemed to satisfy both examiners and crowd.
Nhóm thứ hai lúc này được truyền lệnh vào vòng tròn—chỉ có năm người. Họ được yêu cầu trình bày kết quả của một số phép ghép, liên quan đến cả hoa lẫn bụi cây và các loại trái cây khác nhau. Các câu trả lời hiện ra ngay lập tức dưới dạng những bức tranh Hình tư tưởng—cho thấy rất rõ những thay đổi về kích thước và màu sắc. Họ cũng được hỏi những loại hoa nào có thể trồng chung trong một luống và những loại nào sẽ gây chết cho một hay nhiều loài khác. Rồi đến những câu hỏi liên quan đến luân canh cây trồng và vì sao điều đó là cần thiết. Nhóm thứ hai này cũng dường như làm hài lòng cả các giám khảo lẫn đám đông.
The silver trumpet sounded again and the third group of very small nature-spirits then entered the circle and thought-forms of three human children were created by the examiners. They were typical fair-haired English children of an age between five and seven. They discussed the fairy story of Cinderella. At once they were joined by the nature-spirits who entered into the spirit of the game. They argued as to who should take the principal part and when this was settled I noticed that the nature-spirits took over the parts that children usually object to play—they became the ugly sisters, and the unpleasant father, leaving the parts of Cinderella, the Fairy Godmother and the Prince for the children. A short version of the play was enacted, but the transformation scenes covering the fairy carriage and the change of Cinderella’s clothes were much more realistic than anything that has ever been produced under physical plane conditions. I imagine the unselfishness shown by the little nature-spirits made the difference between passing or failing the test.
Chiếc kèn bạc lại vang lên và nhóm thứ ba gồm những tinh linh tự nhiên rất nhỏ bước vào vòng tròn, rồi các giám khảo tạo ra những Hình tư tưởng của ba đứa trẻ loài người. Chúng là những đứa trẻ Anh tóc vàng điển hình trong độ tuổi từ năm đến bảy. Chúng thảo luận câu chuyện thần tiên về Cô Bé Lọ Lem. Lập tức chúng được các tinh linh tự nhiên nhập cuộc cùng theo đúng tinh thần của trò chơi. Chúng tranh luận xem ai sẽ đóng vai chính và khi việc ấy được giải quyết, tôi nhận thấy các tinh linh tự nhiên nhận những vai mà trẻ em thường không thích đóng—chúng trở thành những cô chị xấu xí và người cha khó chịu, để lại vai Lọ Lem, Bà Tiên Đỡ Đầu và Hoàng tử cho bọn trẻ. Một phiên bản ngắn của vở diễn được trình bày, nhưng các cảnh biến hóa liên quan đến cỗ xe thần tiên và sự thay đổi y phục của Lọ Lem thì chân thực hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì từng được tạo ra trong các điều kiện của cõi hồng trần. Tôi hình dung rằng chính tính vô tư của các tinh linh tự nhiên nhỏ bé ấy đã tạo nên sự khác biệt giữa việc vượt qua hay thất bại trong bài thử.
After a short interval, with cheerful music, all the members of the three groups who had been examined were called back into the arena. The herald sounded the entrance on his silver trumpet. The examiners grouped round the Chief and High Priest then drew together, as if to confer on what they had seen, and after a few moments the chief examiner stood before the Chief and obtained his consent for the nature-spirits to be promoted to deva rank.
Sau một quãng ngắn, với âm nhạc vui tươi, tất cả các thành viên của ba nhóm đã được khảo hạch được gọi trở lại đấu trường. Người truyền lệnh thổi chiếc kèn bạc báo hiệu họ tiến vào. Các giám khảo tụ lại quanh Vị Thủ Lãnh và Vị Thượng Tế, như thể để bàn bạc về những gì họ đã thấy, và sau vài phút vị giám khảo chính đứng trước Vị Thủ Lãnh và nhận được sự đồng ý của ngài cho phép các tinh linh tự nhiên được thăng lên hàng thiên thần.
The High Priest then rose to his feet, bowed to the Chief and solemnly walked into the area where the nature-spirits were standing. For the first time words were used. The High Priest, raising his hands above his head, intoned an invocation in the same unknown language I had heard in the glade on the third sphere. The herald then handed him a large sword, the blade of which shone brightly in the clear astral light. Raising it towards the sky, he uttered more words and slowly walked towards the first of the nature-spirits, who stood in one long line in front of him. He placed the sword on the head of the first and said two words which seemed to mean “God go with thee” (though why I thought this, I do not know) and as I watched, the form of the nature spirit which had appeared to be that of a little old man, changed to that of a young girl. The same thing happened to all the graduates. Some male nature-spirits became male devas, whereas others changed their sex. All the newly created bodies were young in appearance.
Vị Thượng Tế sau đó đứng dậy, cúi chào Vị Thủ Lãnh và trang nghiêm bước vào khu vực nơi các tinh linh tự nhiên đang đứng. Lần đầu tiên lời nói được sử dụng. Vị Thượng Tế, giơ hai tay lên trên đầu, xướng một lời khẩn cầu bằng chính thứ ngôn ngữ xa lạ mà tôi đã nghe trong khoảng rừng trống ở khối cầu thứ ba. Người truyền lệnh sau đó trao cho ông một thanh kiếm lớn, lưỡi kiếm sáng rực trong ánh sáng cảm dục trong trẻo. Giơ nó lên trời, ông thốt thêm những lời khác rồi chậm rãi bước đến tinh linh tự nhiên đầu tiên, đang đứng trong một hàng dài trước mặt ông. Ông đặt thanh kiếm lên đầu người đầu tiên và nói hai từ dường như có nghĩa là “Cầu Thượng đế đi cùng ngươi” (dù vì sao tôi lại nghĩ thế thì tôi không biết), và khi tôi quan sát, hình thể của tinh linh tự nhiên vốn trông như một ông già bé nhỏ đã biến thành hình thể của một thiếu nữ trẻ. Điều tương tự xảy ra với tất cả những người tốt nghiệp. Một số tinh linh tự nhiên nam trở thành thiên thần nam, trong khi những người khác đổi giới tính. Tất cả những hình thể mới được tạo ra đều có vẻ trẻ trung.
I was about to thank the Chief for the wonderful opportunity, offered to us when, without any warning, I felt my body calling me and I found myself awake in bed in Colombo.
Tôi đang định cảm tạ Vị Thủ Lãnh vì cơ hội tuyệt vời đã được ban cho chúng tôi thì, không hề có báo trước, tôi cảm thấy thể xác mình đang gọi tôi và thấy mình tỉnh dậy trên giường ở Colombo.
On the following Saturday night when I got out of my body, I found Jim, the astral helper I had met in the London hospital, waiting for me. He had come to ask for my help. He stated that he had been very impressed by the way I had handled the case of the girl—whose name was Mary—on Thursday night, and felt I could give further help. This girl had learned from a thoughtless visitor that her mother had been killed in the raid and was so upset that no one could do anything with her. As there was a young sister, Irene, aged seven, it would be a tragedy if Mary died too. I was only too glad to have this opportunity of putting into practice what I had recently learned. When we reached the ward, I saw Mary’s fever-racked body tossing on the bed, whilst the girl herself was pacing the ward, metaphorically tearing her hair. She welcomed my arrival, and as I talked soothingly to her, quieted down. I made a thought-form of a comfortable settee and whilst we sat there I gave her what help I could from the knowledge which had been given me by Acharya. I brought the conversation round to Irene and pointed out how she would suffer if both her mother and sister died. I assured Mary—with an authority I did not possess—that she could live, if she made the effort, and if she elected to do so she would still be able to contact her mother during sleep. She asked me if I would help her. I promised to do so and thus took on myself a measure of responsibility. I said I would return the following night.
Vào tối thứ Bảy tiếp theo, khi tôi ra khỏi thể mình, tôi thấy Jim, người trợ giúp cảm dục mà tôi đã gặp ở bệnh viện Luân Đôn, đang chờ tôi. Anh đến để xin tôi giúp đỡ. Anh nói rằng anh rất ấn tượng với cách tôi xử lý trường hợp cô gái—tên là Mary—vào tối thứ Năm, và cảm thấy tôi có thể giúp thêm. Cô gái này đã biết từ một vị khách vô tâm rằng mẹ cô đã thiệt mạng trong cuộc không kích và quá suy sụp đến nỗi không ai có thể làm gì được với cô. Vì còn một em gái nhỏ là Irene, bảy tuổi, nên nếu Mary cũng chết thì sẽ là một bi kịch. Tôi vô cùng vui mừng có cơ hội đem vào thực hành điều mình vừa mới học được. Khi chúng tôi đến phòng bệnh, tôi thấy thể xác bị cơn sốt hành hạ của Mary đang quằn quại trên giường, trong khi chính cô thì đi đi lại lại trong phòng, theo nghĩa bóng là vò đầu bứt tóc. Cô hoan nghênh sự xuất hiện của tôi, và khi tôi dịu dàng nói chuyện với cô, cô đã bình tĩnh lại. Tôi tạo ra một Hình tư tưởng về một chiếc ghế dài êm ái và trong khi chúng tôi ngồi đó, tôi đã giúp cô trong khả năng của mình bằng kiến thức mà Acharya đã trao cho tôi. Tôi lái câu chuyện sang Irene và chỉ ra rằng em sẽ đau khổ thế nào nếu cả mẹ lẫn chị đều chết. Tôi quả quyết với Mary—bằng một uy quyền mà tôi không hề có—rằng cô có thể sống, nếu cô cố gắng, và nếu cô chọn làm như vậy thì cô vẫn có thể tiếp xúc với mẹ mình trong lúc ngủ. Cô hỏi tôi liệu tôi có giúp cô không. Tôi hứa sẽ giúp và như thế đã tự nhận lấy một phần trách nhiệm. Tôi nói rằng tôi sẽ trở lại vào đêm hôm sau.
On the Sunday night Mary was waiting for me and was quite calm. I suggested we look for her mother. I showed her how easy it was to travel under astral conditions and soon this method of progress both interested and intrigued her. She took me to the block of flats where they lived. We found Irene in a neighbour’s flat, and by her bedside her mother was sitting, endeavouring to comfort the weeping child who could not see her. At first the mother thought Mary was dead too, but when she realized this was not the case and that she would be able to care for Irene, she calmed down. I left the three of them to chat and, after arranging to meet them there later, returned to the hospital. I watched Jim and his colleagues working, and made notes of their methods. When Mary, her mother and Irene came in, I spent the rest of my night trying to help them in the way Acharya had helped me. The mother was not a very highly evolved person—I had learned from an astral helper that it had taken two days to persuade her to make the effort of will to disconnect herself from her etheric body. At last she seemed to grasp that the link with her family was not broken and that she would still see them at night. This made her much happier. I fancy she will be quite content with first sphere conditions for some time. My last act before returning to my body was to use what will power I possessed to impress upon Irene that when she awakened she must remember something of what she had been told during her sleep.
Vào tối Chủ nhật, Mary chờ tôi và hoàn toàn bình tĩnh. Tôi gợi ý rằng chúng tôi hãy đi tìm mẹ cô. Tôi chỉ cho cô thấy việc di chuyển trong các điều kiện cảm dục dễ dàng đến thế nào và chẳng bao lâu phương thức tiến hành này vừa làm cô thích thú vừa khiến cô tò mò. Cô đưa tôi đến khu chung cư nơi họ sống. Chúng tôi thấy Irene trong căn hộ của một người hàng xóm, và bên giường em, mẹ em đang ngồi, cố an ủi đứa trẻ đang khóc mà không thể thấy bà. Lúc đầu người mẹ nghĩ rằng Mary cũng đã chết, nhưng khi bà nhận ra không phải vậy và rằng Mary sẽ có thể chăm sóc Irene, bà đã bình tĩnh lại. Tôi để ba người họ trò chuyện với nhau và, sau khi hẹn sẽ gặp lại họ ở đó sau, quay về bệnh viện. Tôi quan sát Jim và các đồng sự của anh làm việc, và ghi nhớ các phương pháp của họ. Khi Mary, mẹ cô và Irene đến, tôi dành phần còn lại của đêm mình để cố giúp họ theo cách Acharya đã giúp tôi. Người mẹ không phải là một người tiến hoá cao lắm—tôi được một người trợ giúp cảm dục cho biết rằng đã mất hai ngày mới thuyết phục được bà cố gắng dùng ý chí để tách mình khỏi thể dĩ thái. Cuối cùng bà dường như hiểu rằng mối liên hệ với gia đình mình không hề bị cắt đứt và rằng bà vẫn sẽ gặp họ vào ban đêm. Điều này làm bà vui hơn nhiều. Tôi nghĩ rằng trong một thời gian, bà sẽ hoàn toàn hài lòng với các điều kiện của khối cầu thứ nhất. Hành động cuối cùng của tôi trước khi trở về thể xác là dùng chút ý chí mình có để gây ấn tượng lên Irene rằng khi thức dậy em phải nhớ được điều gì đó trong những gì đã được nói với em trong lúc ngủ.