← A Treatise on Cosmic Fire

chapter 003 02

Trích nội dung chương

b. An atom contains within itself differentiated molecules, which in their totality form the atom itself. For instance, we are told that the physical atom contains within its periphery fourteen thousand millions of the archetypal atoms, yet these myriads demonstrate as one. b. Một nguyên tử chứa trong chính nó các phân tử đã biến phân, mà trong tổng thể của chúng tạo thành chính nguyên tử ấy. Chẳng hạn, chúng ta được cho biết rằng nguyên tử hồng trần chứa trong chu vi của nó mười bốn ngàn triệu nguyên tử nguyên mẫu, tuy nhiên vô số ấy lại biểu lộ như một.


b. An atom contains within itself differentiated molecules, which in their totality form the atom itself. For instance, we are told that the physical atom contains within its periphery fourteen thousand millions of the archetypal atoms, yet these myriads demonstrate as one.

b. Một nguyên tử chứa trong chính nó các phân tử đã biến phân, mà trong tổng thể của chúng tạo thành chính nguyên tử ấy. Chẳng hạn, chúng ta được cho biết rằng nguyên tử hồng trần chứa trong chu vi của nó mười bốn ngàn triệu nguyên tử nguyên mẫu, tuy nhiên vô số ấy lại biểu lộ như một.

c. An atom is distinguished by activity, and shows forth the qualities of:

c. Một nguyên tử được phân biệt bởi hoạt động, và biểu lộ các phẩm tính của:

a. Rotary motion.

a. Chuyển động quay.

b. Discriminative power.

b. Năng lực phân biện.

c. Ability to develop.

c. Khả năng phát triển.

d. An atom, we are told, contains within itself three major spirals and seven lesser (102). which ten are in process [Page 247] of vitalisation, but have not yet attained full activity. Only four are functioning at this stage, and the fifth is in process of development.

d. Một nguyên tử, như chúng ta được cho biết, chứa trong chính nó ba loa tuyến lớn và bảy (102). loa tuyến nhỏ, mà mười loa tuyến ấy đang trong tiến trình [Page 247] được tiếp sinh lực, nhưng chưa đạt đến hoạt động đầy đủ. Chỉ bốn loa tuyến đang hoạt động ở giai đoạn này, và loa tuyến thứ năm đang trong tiến trình phát triển.

(102) Inner Life: Vol. II, 177-179. Occult Chemistry, p. 22. Occult Chemistry, Appendix II and III. Babbitt’s “Light and Colour,” pp. 97-101. (back)

(102) Inner Life: Vol. II, 177-179. Occult Chemistry, p. 22. Occult Chemistry, Appendix II and III. Babbitt’s “Light and Colour,” pp. 97-101. (back)

e. An atom is governed by the Law of Economy, is coming slowly under the Law of Attraction, and will eventually come under the Law of Synthesis.

e. Một nguyên tử được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm, đang chậm rãi đi vào dưới Định luật Hấp Dẫn, và cuối cùng sẽ đi vào dưới Định luật Tổng Hợp.

f. An atom finds its place within all forms; it is the aggregation of atoms that produces form.

f. Một nguyên tử tìm thấy vị trí của nó trong mọi hình tướng; chính sự tập hợp các nguyên tử tạo ra hình tướng.

g. Its responsiveness to outer stimulation:

g. Tính đáp ứng của nó đối với kích thích bên ngoài:

Electrical stimulation, affecting its objective form.

Kích thích điện, tác động đến hình tướng khách quan của nó.

Magnetic stimulation, acting upon its subjective life.

Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của nó.

The united effect of the two stimulations, producing consequent internal growth and development.

Hiệu quả hợp nhất của hai loại kích thích, tạo ra sự tăng trưởng và phát triển nội tại tiếp theo.

An atom therefore is distinguished by:

Vì vậy một nguyên tử được phân biệt bởi:

1. Its spheroidal shape. Its ring-pass-not is definite and seen.

1. Hình cầu của nó. Vòng-giới-hạn của nó xác định và có thể thấy được.

2. Its internal arrangement, which comprises the sphere of influence of any particular atom.

2. Sự sắp xếp nội tại của nó, bao gồm khối cầu ảnh hưởng của bất kỳ nguyên tử đặc thù nào.

3. Its life-activity, or the extent to which the life at the centre animates the atom, a relative thing at this stage.

3. Hoạt động sự sống của nó, hay mức độ mà sự sống ở trung tâm làm sinh động nguyên tử, một điều tương đối ở giai đoạn này.

4. Its sevenfold inner economy in process of evolution.

4. Cơ cấu nội tại thất phân của nó đang trong tiến trình tiến hoá.

5. Its eventual synthesis internally from the seven into the three.

5. Sự tổng hợp nội tại cuối cùng của nó từ bảy vào ba.

6. Its group relation.

6. Mối liên hệ nhóm của nó.

7. Its development of consciousness, or responsiveness.

7. Sự phát triển tâm thức của nó, hay tính đáp ứng.

Having predicated the above facts of the atom, we can extend the idea now to man, following the same general outline:

Sau khi đã khẳng định các sự kiện trên về nguyên tử, giờ đây chúng ta có thể mở rộng ý tưởng ấy đến con người, theo cùng đại cương tổng quát:

A Man.

Một Con Người.

a. A man is spheroidal in form, he can be seen as a circular ring-pass-not, a sphere of matter with a nucleus [Page 248] of life at the centre. In predicating this we are considering the true man in his fundamental position as the Ego, with his sphere of manifestation, the causal body,—that body which forms the middle point between Spirit and matter.

a. Con người có hình cầu, y có thể được thấy như một vòng-giới-hạn hình tròn, một khối cầu vật chất với một hạt nhân [Page 248] sự sống ở trung tâm. Khi khẳng định điều này, chúng ta đang xét con người đích thực trong vị trí căn bản của y là chân ngã, với khối cầu biểu hiện của y, thể nguyên nhân,—thể tạo thành điểm giữa giữa Tinh thần và vật chất.

b. A man contains within himself differentiated atoms, which in their totality make up the objective form of the man on the planes of his manifestation. All are animated by his life, by his persistent will-to-be; all vibrate according to the point reached by the man in evolution. As seen from the higher planes man demonstrates as a sphere (or spheres) of differentiated matter, vibrating to a certain measure, tinctured by a certain color, and rotating to a fixed key—the key of his life cycle.

b. Con người chứa trong chính mình các nguyên tử đã biến phân, mà trong tổng thể của chúng tạo thành hình tướng khách quan của con người trên các cõi biểu hiện của y. Tất cả đều được làm sinh động bởi sự sống của y, bởi ý chí muốn hiện hữu bền bỉ của y; tất cả đều rung động tùy theo điểm mà con người đã đạt đến trong tiến hoá. Khi được nhìn từ các cõi cao hơn, con người biểu lộ như một khối cầu (hay các khối cầu) của vật chất đã biến phân, rung động theo một mức độ nhất định, nhuốm một màu sắc nhất định, và quay theo một chủ âm cố định—chủ âm của chu kỳ sự sống của y.

c. A man is distinguished by activity on one or more planes in the three worlds, and shows forth the qualities of:

c. Con người được phân biệt bởi hoạt động trên một hay nhiều cõi trong ba cõi giới, và biểu lộ các phẩm tính của:

1. Rotary motion, or his particular cycling on the wheel of life, around his egoic pole.

1. Chuyển động quay, hay chu kỳ riêng của y trên bánh xe sự sống, quanh cực chân ngã của y.

2. Discriminative capacity, or the power to choose and gain experience.

2. Năng lực phân biện, hay quyền năng chọn lựa và thu nhận kinh nghiệm.

3. Ability to evolve, to increase vibration and to make contact.

3. Khả năng tiến hoá, gia tăng rung động và tạo tiếp xúc.

d. A man contains within himself three major principles,—will, love-wisdom, active intelligence or adaptability—and their differentiation into the seven principles. These, making the eventual ten of perfected manifestation, are in process of vitalisation, but have not yet attained full expression. Only four principles in man are active, and he is in process of developing the fifth, or manasic principle. Note how perfect is the analogy between man, viewed as the lower quaternary developing the principle of mind, and the atom with its four spirillae active; and the fifth in process of stimulation.

d. Con người chứa trong chính mình ba nguyên khí lớn,—ý chí, bác ái-minh triết, trí tuệ hoạt động hay khả năng thích ứng—và sự biến phân của chúng thành bảy nguyên khí. Những nguyên khí này, tạo nên mười nguyên khí cuối cùng của biểu hiện toàn hảo, đang trong tiến trình được tiếp sinh lực, nhưng chưa đạt đến biểu lộ đầy đủ. Chỉ có bốn nguyên khí trong con người là hoạt động, và y đang trong tiến trình phát triển nguyên khí thứ năm, hay nguyên khí manas. Hãy lưu ý sự tương đồng hoàn hảo giữa con người, được nhìn như bộ tứ thấp đang phát triển nguyên khí trí tuệ, và nguyên tử với bốn loa tuyến của nó đang hoạt động; còn loa tuyến thứ năm thì đang trong tiến trình được kích thích.

e. A man is governed by the Law of Attraction, is [Page 249] evolved through the Law of Economy, and is coming under the Law of Synthesis. Economy governs the material process with which he is not so much consciously concerned; attraction governs his connection with other units or groups, and synthesis is the law of his inner Self, of the life within the form.

e. Con người được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, được [Page 249] tiến hoá qua Định luật Tiết Kiệm, và đang đi vào dưới Định luật Tổng Hợp. Tiết kiệm chi phối tiến trình vật chất mà y không hữu thức quan tâm nhiều đến thế; hấp dẫn chi phối mối liên hệ của y với các đơn vị hay nhóm khác, và tổng hợp là định luật của Ngã bên trong của y, của sự sống bên trong hình tướng.

f. Man finds his place within the group form. Egoic groups and the Heavenly Men are formed by the aggregate of human and of deva units.

f. Con người tìm thấy vị trí của mình trong hình tướng nhóm. Các nhóm chân ngã và các Đấng Thiên Nhân được hình thành bởi sự tập hợp của các đơn vị con người và thiên thần.

g. His responsiveness to outer stimulation:

g. Tính đáp ứng của y đối với kích thích bên ngoài:

a. Electrical stimulation, affecting the outer form, or pranic response.

a. Kích thích điện, tác động đến hình tướng bên ngoài, hay đáp ứng prana.

b. Magnetic stimulation, acting upon his subjective life. This emanates from his egoic group, and later from the Heavenly Man, in Whose body he is a cell.

b. Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của y. Điều này phát ra từ nhóm chân ngã của y, và về sau từ Đấng Thiên Nhân, trong thân thể của Ngài y là một tế bào.

c The united effect of these two stimulations, inducing steady growth and development.

c Hiệu quả hợp nhất của hai loại kích thích này, tạo ra sự tăng trưởng và phát triển đều đặn.

A man is distinguished therefore by:

Vì vậy con người được phân biệt bởi:

1. His spheroidal shape. His ring-pass-not is definite and seen.

1. Hình cầu của y. Vòng-giới-hạn của y xác định và có thể thấy được.

2. His internal arrangement; his entire sphere of influence is in process of development. At present that sphere is limited and his range of activity is small. As the body egoic is developed, the nucleus of life at the centre increases its radius of control until the whole is brought under rule and government.

2. Sự sắp xếp nội tại của y; toàn bộ khối cầu ảnh hưởng của y đang trong tiến trình phát triển. Hiện nay khối cầu ấy còn hạn chế và phạm vi hoạt động của y còn nhỏ. Khi thể chân ngã được phát triển, hạt nhân sự sống ở trung tâm gia tăng bán kính kiểm soát của nó cho đến khi toàn bộ được đưa vào dưới sự cai quản và điều hành.

3. His life activity or the extent to which at any given time he demonstrates self-consciousness, or controls his threefold lower nature.

3. Hoạt động sự sống của y hay mức độ mà vào bất kỳ thời điểm nào y biểu lộ ngã thức, hay kiểm soát bản chất thấp tam phân của mình.

4. His sevenfold inner economy; the development of his seven principles. [Page 250]

4. Cơ cấu nội tại thất phân của y; sự phát triển của bảy nguyên khí của y. [Page 250]

5. His eventual internal synthesis under the working of the three laws from the seven into the three and later into the one.

5. Sự tổng hợp nội tại cuối cùng của y dưới tác động của ba định luật từ bảy vào ba và về sau vào một.

6. His group relation.

6. Mối liên hệ nhóm của y.

7. His development of consciousness, of responsiveness to contact, involving therefore the growth of awareness.

7. Sự phát triển tâm thức của y, của tính đáp ứng đối với tiếp xúc, do đó bao hàm sự tăng trưởng của nhận biết.

A Heavenly Man. (103)

Một Đấng Thiên Nhân. (103)

(103) These Heavenly Men are:

(103) Các Đấng Thiên Nhân này là:

1. The sum-total of consciousness...S. D., I, 626,

1. Tổng thể của tâm thức...S. D., I, 626,

2. The Creators...S. D., I, 477, 481-485.

2. Các Đấng Sáng Tạo...S. D., I, 477, 481-485.

Compare S. D., II, 244.

So sánh S. D., II, 244.

a. They are the seven primary creations, or the taking of the etheric body by a Heavenly Man.

a. Các Ngài là bảy sáng tạo nguyên thủy, hay việc một Đấng Thiên Nhân đảm nhận thể dĩ thái.

b. They are the seven secondary creations, or the taking of the dense physical body.

b. Các Ngài là bảy sáng tạo thứ cấp, hay việc đảm nhận thể xác hồng trần đậm đặc.

Trace this in the Microcosm, and the work of the devas of the ethers in building the body.

Hãy truy nguyên điều này trong Tiểu thiên địa, và công việc của các thiên thần của dĩ thái trong việc xây dựng thể.

c. The aggregate of divine intelligence...S. D., I, 488,

c. Tổng thể của trí tuệ thiêng liêng...S. D., I, 488,

d. The mindborn Sons of Brahma...S. D., I, 493, S. D., II, 610, 618.

d. Các Con của Brahma được sinh ra từ trí tuệ...S. D., I, 493, S. D., II, 610, 618.

They are the logoic Quaternary, the Five, and the Seven.

Các Ngài là Bộ Tứ của Thượng đế, Bộ Năm, và Bộ Bảy.

e. The seven Rays...S. D., I, 561, S. D., II, 201.

e. Bảy cung...S. D., I, 561, S. D., II, 201.

They are the seven paths back to God......Spirit.

Các Ngài là bảy con đường trở về với Thượng đế......Tinh thần.

They are the seven principles metaphysically.

Về mặt siêu hình học, các Ngài là bảy nguyên khí.

They are the seven races physically.

Về mặt hồng trần, các Ngài là bảy nhân loại.

f. The Lords of ceaseless and untiring devotion...S. D., II, 92,

f. Các Đấng Chúa Tể của sự tận tụy không ngừng nghỉ và không mệt mỏi...S. D., II, 92,

g. The failures of the last system...S. D., II, 243,

g. Những thất bại của hệ thống trước...S. D., II, 243,

h. The polar opposites to the Pleiades...S. D., II, 579, 581.

h. Các cực đối nghịch với chòm Pleiades...S. D., II, 579, 581.

Our system is masculine occultly and the Pleiades is feminine.

Hệ mặt trời của chúng ta, về mặt huyền bí, là nam tính còn Pleiades là nữ tính.

A Heavenly Man in His planetary scheme creates in a similar manner. See S. D., II, 626. (back)

Một Đấng Thiên Nhân trong hệ hành tinh của Ngài sáng tạo theo cách tương tự. Xem S. D., II, 626. (trở lại)

a. Each Heavenly Man is likewise to be seen as spheroidal in shape. He has His ring-pass-not as has the atom and the man. This ring-pass-not comprises the entire planetary scheme; the dense physical globe of any one chain being analogous in His case to the physical body of any man, and to the atom on the physical plane. Each scheme of seven chains is the expression of the life of an Entity, Who occupies it, as does a man his body, for purposes of manifestation and in order to gain experience.

a. Mỗi Đấng Thiên Nhân cũng được thấy là có hình cầu. Ngài có vòng-giới-hạn của Ngài cũng như nguyên tử và con người có vòng-giới-hạn của chúng. Vòng-giới-hạn này bao gồm toàn bộ hệ hành tinh; bầu hành tinh hồng trần đậm đặc của bất kỳ dãy nào tương tự, trong trường hợp của Ngài, với thể xác của bất kỳ người nào, và với nguyên tử trên cõi hồng trần. Mỗi hệ gồm bảy dãy là biểu hiện của sự sống của một Thực Thể, Đấng cư ngụ trong đó như con người cư ngụ trong thể của mình, vì các mục đích biểu hiện và để đạt được kinh nghiệm.

[Page 251] b. A Heavenly Man contains within Himself that which corresponds to the cells within the vehicles of expression of a human being. The atoms or cells in His body are made up of the aggregate of the deva and human units who vibrate to His key note, and who respond to the measure of His life. All are held together and animated by His will to be, and all vibrate according to the point achieved by Him in evolution. From the cosmic standpoint a Heavenly Man can be seen as a sphere of wondrous life, which includes within its radius of influence the vibratory capacity of an entire planetary scheme. He vibrates to a certain measure, which can be estimated by the activity of the life pulsating at the centre of the sphere; the entire planetary scheme is tinctured by a certain color, is rotating to a fixed key which is the key of His life cycle within the still greater mahamanvantara or logoic cycle.

[Page 251] b. Một Đấng Thiên Nhân chứa trong chính Ngài điều tương ứng với các tế bào bên trong các vận cụ biểu hiện của một con người. Các nguyên tử hay tế bào trong thân thể của Ngài được cấu thành từ tổng thể các đơn vị thiên thần và nhân loại rung động theo chủ âm của Ngài, và đáp ứng với mức độ sự sống của Ngài. Tất cả được giữ lại với nhau và được tiếp sinh lực bởi ý chí hiện hữu của Ngài, và tất cả rung động tùy theo điểm mà Ngài đã đạt được trong tiến hoá. Từ quan điểm vũ trụ, một Đấng Thiên Nhân có thể được thấy như một khối cầu của sự sống kỳ diệu, bao gồm trong bán kính ảnh hưởng của Ngài năng lực rung động của toàn bộ một hệ hành tinh. Ngài rung động theo một mức độ nhất định, có thể được ước lượng bằng hoạt động của sự sống đang đập ở trung tâm khối cầu; toàn bộ hệ hành tinh được nhuốm một màu sắc nhất định, đang quay theo một chủ âm cố định là chủ âm của chu kỳ sự sống của Ngài bên trong đại giai kỳ sinh hóa còn lớn hơn nữa hay chu kỳ của Thượng đế.

c. A Heavenly Man is distinguished by His activity on one or other of the planes which we call the Triadal, or Atma-Buddhi-Manas, in the same way as a man is distinguished by his activity on one of the planes in the three worlds, mental-astral-physical. Eventually a man is self-conscious on all three. Eventually a Heavenly Man is fully self-conscious on the higher three. Every forward movement or increased vitality in the aggregate of men in the three worlds, is paralleled by an analogous activity on the three higher planes. The action and the interaction between the life animating the groups or the Heavenly Men, and the life animating the atoms or men who form the units in groups is both mysterious and wonderful. A Heavenly Man on His own planes likewise shows forth the qualities of:

c. Một Đấng Thiên Nhân được phân biệt bởi hoạt động của Ngài trên một hay một cõi khác trong các cõi mà chúng ta gọi là Tam nguyên tinh thần, hay Atma-Buddhi-Manas, cũng như con người được phân biệt bởi hoạt động của y trên một trong các cõi của ba cõi giới, trí tuệ-cảm dục-hồng trần. Cuối cùng con người trở nên ngã thức trên cả ba. Cuối cùng một Đấng Thiên Nhân hoàn toàn ngã thức trên ba cõi cao. Mọi chuyển động tiến tới hay sự gia tăng sinh lực trong tổng thể loài người trong ba cõi giới đều song hành với một hoạt động tương tự trên ba cõi cao. Tác động và tương tác giữa sự sống làm sinh động các nhóm hay các Đấng Thiên Nhân, và sự sống làm sinh động các nguyên tử hay những con người tạo thành các đơn vị trong các nhóm, vừa huyền nhiệm vừa kỳ diệu. Một Đấng Thiên Nhân trên các cõi riêng của Ngài cũng biểu lộ các phẩm tính sau:

Rotary motion, or His particular cycling activity around His life wheel, a planetary scheme, and thus around His egoic pole. [Page 252]

Chuyển động quay, hay hoạt động tuần hoàn đặc thù của Ngài quanh bánh xe sự sống của Ngài, một hệ hành tinh, và như thế quanh cực chân ngã của Ngài. [Page 252]

Discriminating capacity, or the power to choose and thereby gain experience. They are the embodiments of manas or the intelligent faculty (hence Their title of Divine Manasaputras) which comprehends, chooses and discards, thus attaining knowledge and self-consciousness. This manasic faculty They developed in earlier kalpas or solar systems. Their purpose is now to utilise that which is developed to bring about certain specific effects and to attain certain specific goals.

Năng lực phân biện, hay quyền năng chọn lựa và nhờ đó đạt được kinh nghiệm. Các Ngài là hiện thân của manas hay năng lực trí tuệ (do đó có danh xưng là các Divine Manasaputras) vốn thấu hiểu, chọn lựa và loại bỏ, nhờ vậy đạt được tri thức và ngã thức. Năng lực manas này Các Ngài đã phát triển trong các đại kiếp hay các hệ mặt trời trước đây. Mục đích của Các Ngài hiện nay là sử dụng điều đã được phát triển ấy để tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó và đạt tới những mục tiêu đặc thù nào đó.

Ability to evolve, to increase vibration, to gain knowledge, and to make contact. This increased vibration is of a gradual and evolutionary order and proceeds from centre to centre as it does in man, and as it does in the case of the atomic spirillae. Their aim is to achieve uniformity of contact with each other, and to merge eventually Their separated identities in the One Identity, retaining simultaneously full self-consciousness or individualised self-apprehension.

Khả năng tiến hoá, gia tăng rung động, đạt được tri thức, và tạo tiếp xúc. Sự gia tăng rung động này thuộc loại tiệm tiến và thăng thượng tiến hoá, và diễn ra từ trung tâm này sang trung tâm khác như nơi con người, và như trong trường hợp các loa tuyến nguyên tử. Mục tiêu của Các Ngài là đạt được sự đồng nhất trong tiếp xúc với nhau, và cuối cùng hòa nhập các bản sắc tách biệt của Các Ngài vào trong Bản Sắc Duy Nhất, đồng thời vẫn giữ trọn ngã thức hay sự tự nhận biết đã được biệt ngã hóa.

d. A Heavenly Man contains within Himself three major principles—will, love-wisdom, intelligence, and their manifestation through the seven principles so often discussed in our occult literature. These make the ten of His ultimate perfection, for the seven are resolved into the three, and the three into the one.

d. Một Đấng Thiên Nhân chứa trong chính Ngài ba nguyên khí chính—ý chí, bác ái-minh triết, trí tuệ—và sự biểu hiện của chúng qua bảy nguyên khí thường được bàn đến trong văn liệu huyền bí của chúng ta. Chúng tạo nên mười của sự toàn thiện tối hậu của Ngài, vì bảy được quy về ba, và ba quy về một.

Each Heavenly Man has, of course, His primary coloring or principle as has man and the atom. Man has for his primary coloring or principle that of the Heavenly Man in Whose body he is a unit. He has also the other two major principles (as has the Heavenly Man), and their differentiation into the seven as earlier said. The atom has for primary coloring or principle, that of the egoic ray of the human being for instance in whose body it finds place. This, of course, is in connection with the [Page 253] physical atom in a man’s body. This coloring manifests as the vibration setting the measure of the major three spirillae and the minor seven.

Mỗi Đấng Thiên Nhân dĩ nhiên có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu của Ngài cũng như con người và nguyên tử có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu của chúng. Con người có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu của mình là của Đấng Thiên Nhân mà trong thân thể của Ngài y là một đơn vị. Y cũng có hai nguyên khí chính kia (cũng như Đấng Thiên Nhân), và sự biến phân của chúng thành bảy như đã nói trước đây. Nguyên tử có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu là của cung chân ngã của con người chẳng hạn, trong thân thể của người ấy nó tìm được chỗ đứng. Điều này dĩ nhiên liên quan đến [Page 253] nguyên tử hồng trần trong thể của con người. Sắc thái này biểu lộ như rung động ấn định mức độ của ba loa tuyến chính và bảy loa tuyến phụ.

Only four principles in the Heavenly Men are as yet manifesting to any extent, though One of Them is rather in advance of the others, and has the fifth principle vibrating adequately, while certain others are in process of perfecting the fourth. The Heavenly Man of our chain is vibrating somewhat to the fifth principle, or rather is in process of awakening it to life. His fourth vibration or principle in this fourth round or cycle, and on this fourth globe, is awakened, though not functioning as it will in the fifth round. Much of the trouble present in the planet at this time arises from the coming into activity of the higher or fifth vibration, which will be completed and transcended in the next or fifth cycle. The analogy, as in man and the atom, again holds good but not in exact detail.

Cho đến nay, chỉ có bốn nguyên khí trong các Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ ở mức độ nào đó, mặc dù Một trong Các Ngài khá tiến trước những vị khác, và có nguyên khí thứ năm rung động đầy đủ, trong khi một số vị khác đang trong tiến trình hoàn thiện nguyên khí thứ tư. Đấng Thiên Nhân của dãy chúng ta đang rung động phần nào theo nguyên khí thứ năm, hay đúng hơn đang trong tiến trình đánh thức nó vào sự sống. Rung động thứ tư hay nguyên khí thứ tư của Ngài trong cuộc tuần hoàn hay chu kỳ thứ tư này, và trên bầu hành tinh thứ tư này, đã được đánh thức, dù chưa hoạt động như nó sẽ hoạt động trong cuộc tuần hoàn thứ năm. Phần lớn khó khăn hiện có trên hành tinh vào lúc này phát sinh từ việc rung động cao hơn hay rung động thứ năm đi vào hoạt động, điều sẽ được hoàn tất và vượt qua trong chu kỳ kế tiếp hay chu kỳ thứ năm. Sự tương đồng, như nơi con người và nguyên tử, một lần nữa vẫn đúng nhưng không đúng trong chi tiết chính xác.

e. A Heavenly Man is governed by the Law of Attraction, has transcended the Law of Economy, and is rapidly coming under the Law of Synthesis. Note therefore the gradual stepping-up of the control and the fact that:

e. Một Đấng Thiên Nhân được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, đã vượt qua Định luật Tiết Kiệm, và đang nhanh chóng đi vào dưới Định luật Tổng Hợp. Vì vậy, hãy lưu ý sự nâng dần mức kiểm soát và sự kiện rằng:

First. The Law of Economy is the primary law of the atom. The Law of Attraction is coming into control of the atom. The Law of Synthesis is but slightly felt by the life of the atom. It is the law of life.

Thứ nhất. Định luật Tiết Kiệm là định luật chủ yếu của nguyên tử. Định luật Hấp Dẫn đang đi vào kiểm soát nguyên tử. Định luật Tổng Hợp chỉ được sự sống của nguyên tử cảm nhận rất ít. Đó là định luật của sự sống.

Second. The Law of Attraction is the primary law of man. The Law of Economy is a secondary law for man. It governs the matter of his vehicles. The Law of Synthesis is steadily beginning to be felt.

Thứ hai. Định luật Hấp Dẫn là định luật chủ yếu của con người. Định luật Tiết Kiệm là một định luật thứ yếu đối với con người. Nó chi phối vật chất của các vận cụ của y. Định luật Tổng Hợp đang đều đặn bắt đầu được cảm nhận.

Third. The Law of Synthesis is the primary law of a Heavenly Man. The Law of Attraction has full sway. The Law of Economy is transcended.

Thứ ba. Định luật Tổng Hợp là định luật chủ yếu của một Đấng Thiên Nhân. Định luật Hấp Dẫn có toàn quyền chi phối. Định luật Tiết Kiệm đã được vượt qua.

The dense physical body is not a principle for a Heavenly Man, hence the Law of Economy is transcended. [Page 254] The Law of Attraction governs the material process of form building. The Law of Synthesis is the law of His Being.

Thể xác hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí đối với một Đấng Thiên Nhân, do đó Định luật Tiết Kiệm đã được vượt qua. [Page 254] Định luật Hấp Dẫn chi phối tiến trình vật chất của việc xây dựng hình tướng. Định luật Tổng Hợp là định luật của Bản Thể Ngài.

f. A Heavenly Man is finding His place within the logoic groups, and is seeking to realise His position among the seven and by realisation to approximate unity.

f. Một Đấng Thiên Nhân đang tìm vị trí của Ngài trong các nhóm của Thượng đế, và đang tìm cách chứng nghiệm vị trí của Ngài giữa bảy vị và nhờ sự chứng nghiệm mà tiến gần đến hợp nhất.

g. His responsiveness to outer stimulation. This viewed from the limited human standpoint touches on realms unattainable by man’s intellect as yet. It deals with:

g. Khả năng đáp ứng của Ngài đối với kích thích bên ngoài. Điều này, khi được nhìn từ quan điểm hạn hẹp của con người, chạm đến những lĩnh vực mà trí tuệ con người hiện chưa thể đạt tới. Nó đề cập đến:

Electrical stimulation, and concerns the response to solar radiation, and to paralleling planetary radiation.

Kích thích điện, và liên quan đến sự đáp ứng đối với bức xạ mặt trời, và đối với bức xạ hành tinh song song.

Magnetic stimulation, acting upon His subjective life. This radiation emanates from sources outside the system altogether. We might note the following facts:

Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của Ngài. Bức xạ này phát ra từ những nguồn hoàn toàn ở ngoài hệ thống. Chúng ta có thể lưu ý các sự kiện sau:

Magnetic stimulation of the physical atom emanates from man on astral levels, and later from buddhic levels.

Kích thích từ tính của nguyên tử hồng trần phát ra từ con người trên các cấp độ cảm dục, và về sau từ các cấp độ Bồ đề.

Magnetic stimulation of man emanates from the Heavenly Men on buddhic, and later on monadic levels.

Kích thích từ tính của con người phát ra từ các Đấng Thiên Nhân trên các cấp độ Bồ đề, và về sau trên các cấp độ chân thần.

Magnetic stimulation of a Heavenly Man emanates extra-systemically, from the cosmic astral, the united effect of these stimulations inducing steady internal development.

Kích thích từ tính của một Đấng Thiên Nhân phát ra từ ngoài hệ thống, từ cõi cảm dục vũ trụ; hiệu quả hợp nhất của các kích thích này gây ra sự phát triển nội tại đều đặn.

A Heavenly Man is distinguished therefore by:

Vì vậy, một Đấng Thiên Nhân được phân biệt bởi:

1. His spheroidal shape. His ring-pass-not, during objectivity, is definite and seen.

1. Hình cầu của Ngài. Vòng-giới-hạn của Ngài, trong thời kỳ khách quan, là xác định và có thể thấy được.

2. His internal arrangement and His sphere of influence, or that activity animating the planetary chain.

2. Sự sắp xếp nội tại của Ngài và khối cầu ảnh hưởng của Ngài, hay hoạt động làm sinh động dãy hành tinh.

3. His spiritual life control at any given period. It is the power whereby He animates His sevenfold [Page 255] nature. Note the increase of influence as compared to man’s threefold radius.

3. Sự kiểm soát sự sống tinh thần của Ngài trong bất kỳ thời kỳ nào. Đó là quyền năng nhờ đó Ngài làm sinh động bản chất thất phân của Ngài. Hãy lưu ý sự gia tăng ảnh hưởng so với bán kính tam phân của con người. [Page 255]

4. His eventual ultimate synthesis from the seven into the three and from thence into one. This covers the obscuration of the globes, and the blending into unity of the seven principles which each globe is evolving.

4. Sự tổng hợp tối hậu cuối cùng của Ngài từ bảy vào ba và từ đó vào một. Điều này bao gồm sự che khuất của các bầu hành tinh, và sự hòa nhập vào hợp nhất của bảy nguyên khí mà mỗi bầu hành tinh đang tiến hoá.

5. His evolution under Law and consequent development.

5. Sự tiến hoá của Ngài dưới Định luật và sự phát triển hệ quả.

6. His group relation.

6. Quan hệ nhóm của Ngài.

7. His development of consciousness and of awareness.

7. Sự khai mở tâm thức và nhận biết của Ngài.

Finally, we must extend these ideas to a solar Logos, and see how completely the analogy persists. The paragraphs dealing with stimulation, magnetic and electric, inevitably brings us back to the contemplation of fire, the basis and source of all life.

Sau cùng, chúng ta phải mở rộng các ý tưởng này đến một Thái dương Thượng đế, và thấy sự tương đồng được duy trì trọn vẹn đến mức nào. Các đoạn bàn về kích thích, từ tính và điện, tất yếu đưa chúng ta trở lại với việc chiêm ngưỡng lửa, nền tảng và nguồn gốc của mọi sự sống.

A Solar Logos.

Một Thái dương Thượng đế.

a. A solar Logos, the Grand Man of the Heavens, is equally spheroidal in shape. His ring-pass-not comprises the entire circumference of the solar system, and all that is included within the sphere of influence of the Sun. The Sun holds a position analogous to the nucleus of life at the centre of the atom. This sphere comprises within its periphery the seven planetary chains with the synthesising three, making the ten of logoic manifestation. The Sun is the physical body of the solar Logos, His body of manifestation, and His life sweeps cycling through the seven schemes in the same sense as the life of a planetary Logos sweeps seven times around His scheme of seven chains. Each chain holds a position analogous to a globe in a planetary chain. Note the beauty of the correspondence, yet withal the lack of detailed analogy. (S.D., I, 136)

a. Một Thái dương Thượng đế, Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại của các cõi trời, cũng có hình cầu. Vòng-giới-hạn của Ngài bao gồm toàn bộ chu vi của hệ mặt trời, và tất cả những gì được bao hàm trong khối cầu ảnh hưởng của Mặt Trời. Mặt Trời giữ một vị trí tương tự như hạt nhân của sự sống ở trung tâm nguyên tử. Khối cầu này bao gồm trong chu vi của nó bảy dãy hành tinh cùng với ba dãy tổng hợp, tạo thành mười của biểu hiện của Thượng đế. Mặt Trời là thể xác hồng trần của Thái dương Thượng đế, thể biểu hiện của Ngài, và sự sống của Ngài quét theo chu kỳ qua bảy hệ hành tinh theo cùng ý nghĩa như sự sống của một Hành Tinh Thượng Đế quét bảy lần quanh hệ của Ngài gồm bảy dãy. Mỗi dãy giữ một vị trí tương tự như một bầu hành tinh trong một dãy hành tinh. Hãy lưu ý vẻ đẹp của sự tương ứng, nhưng đồng thời cũng lưu ý sự thiếu vắng tương đồng chi tiết. (S.D., I, 136)

b. A solar Logos contains within Himself, as the atoms in His body of manifestation, all groups of every kind, [Page 256] from the involutionary group-soul to the egoic groups on the mental plane. He has (for the animating centres of His body) the seven major groups or the seven Heavenly Men, who ray forth Their influence to all parts of the logoic sphere, and who embody within Themselves all lesser lives, the lesser groups, human and deva units, cells, atoms and molecules.

b. Một Thái dương Thượng đế chứa trong chính Ngài, như các nguyên tử trong thể biểu hiện của Ngài, mọi nhóm thuộc mọi loại, [Page 256] từ hồn nhóm giáng hạ tiến hoá đến các nhóm chân ngã trên cõi trí. Ngài có (làm các trung tâm sinh động của thể Ngài) bảy nhóm chính hay bảy Đấng Thiên Nhân, các Ngài phát ra ảnh hưởng của mình đến mọi phần của khối cầu của Thượng đế, và hiện thân trong chính Các Ngài mọi sự sống nhỏ hơn, các nhóm nhỏ hơn, các đơn vị nhân loại và thiên thần, các tế bào, nguyên tử và phân tử.

Seen from cosmic levels, the sphere of the Logos can be visualised as a vibrating ball of fire of supernal glory, containing within its circle of influence, the planetary spheres likewise vibrating balls of fire. The Grand Man of the Heavens vibrates to a steadily increasing measure; the entire system is tinctured by a certain color,—the color of the life of the Logos, the One Divine Ray; and the system rotates to a certain measure, which is the key of the great kalpa or solar cycle, and revolves around its central solar pole.

Được nhìn từ các cấp độ vũ trụ, khối cầu của Thượng đế có thể được hình dung như một quả cầu lửa rung động với vinh quang thiên thượng, chứa trong vòng ảnh hưởng của nó các khối cầu hành tinh cũng là những quả cầu lửa rung động. Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại của các cõi trời rung động theo một mức độ tăng dần đều đặn; toàn bộ hệ thống được nhuốm một màu sắc nhất định,—màu sắc của sự sống của Thượng đế, Cung Thiêng Liêng Duy Nhất; và hệ thống quay theo một mức độ nhất định, là chủ âm của đại kiếp hay chu kỳ mặt trời, và xoay quanh cực mặt trời trung tâm của nó.

c. The solar Logos is distinguished by His activity on all the planes of the solar system; He is the sumtotal of all manifestation, from the lowest and densest physical atom up to the most radiant and cosmic ethereal Dhyan Chohan. This sevenfold vibratory measure is the key of the lowest cosmic plane, and its rate of rhythm can be felt on the cosmic astral, with a faint response on the cosmic mental. Thus the life of the logoic existence on cosmic levels, may be seen paralleling the life of a man in the three worlds, the lowest of the systemic planes.

c. Thái dương Thượng đế được phân biệt bởi hoạt động của Ngài trên mọi cõi của hệ mặt trời; Ngài là tổng thể của mọi biểu hiện, từ nguyên tử hồng trần thấp nhất và đậm đặc nhất cho đến vị Dhyan Chohan dĩ thái vũ trụ rực rỡ nhất. Mức độ rung động thất phân này là chủ âm của cõi vũ trụ thấp nhất, và nhịp điệu của nó có thể được cảm nhận trên cõi cảm dục vũ trụ, với một đáp ứng mờ nhạt trên cõi trí vũ trụ. Như vậy, sự sống của tồn tại của Thượng đế trên các cấp độ vũ trụ có thể được thấy là song hành với sự sống của con người trong ba cõi giới, tức các cõi thấp nhất của hệ thống.

On His own planes the Logos likewise shows forth:

Trên các cõi riêng của Ngài, Thượng đế cũng biểu lộ:

First. Rotary motion. His life as it cycles through a day of Brahma, can be seen spiralling around His greater wheel, the ten schemes of a solar system.

Thứ nhất. Chuyển động quay. Sự sống của Ngài, khi tuần hoàn qua một ngày của Brahma, có thể được thấy đang xoắn ốc quanh bánh xe lớn hơn của Ngài, mười hệ hành tinh của một hệ mặt trời.

Second. Discriminatory capacity. His first act, as we know, was to discriminate or choose the matter he needed for manifestation. That choice was controlled by: [Page 257]

Thứ hai. Năng lực phân biện. Hành động đầu tiên của Ngài, như chúng ta biết, là phân biện hay chọn lựa vật chất mà Ngài cần cho biểu hiện. Sự chọn lựa đó được kiểm soát bởi: [Page 257]

Cosmic Karma.

Nghiệp quả vũ trụ.

Vibratory capacity.

Năng lực rung động.

Responsive coloring or quality.

Sắc thái hay phẩm tính đáp ứng.

Numerical factors involved in cosmic mathematics.

Các yếu tố số học liên quan trong toán học vũ trụ.

He is the embodiment of cosmic manas, and through the use of this faculty He seeks—by means of animated form—to build into His cosmic causal body, a paralleling quality of love-wisdom.

Ngài là hiện thân của manas vũ trụ, và thông qua việc sử dụng năng lực này, Ngài tìm cách—bằng phương tiện hình tướng được làm sinh động—xây dựng vào thể nguyên nhân vũ trụ của Ngài một phẩm tính tương ứng của bác ái-minh triết.

Third. Ability to progress, to increase vibration, and to gain full self-consciousness on cosmic levels.

Thứ ba. Khả năng tiến bộ, gia tăng rung động, và đạt được ngã thức trọn vẹn trên các cấp độ vũ trụ.

d. The solar Logos contains within Himself the three major principles or aspects, and their differentiation into seven principles. These make the ten of His ultimate perfection and are eventually synthesised into the one perfected principle of love-wisdom. This ultimate principle is His primary coloring. Each principle is embodied in one of the schemes, and is being worked out through one of the Heavenly Men. Only four principles are as yet manifested to any extent, for the evolution of the Logos parallels that of the Heavenly Men.

d. Thái dương Thượng đế chứa trong chính Ngài ba nguyên khí hay phương diện chính, và sự biến phân của chúng thành bảy nguyên khí. Chúng tạo nên mười của sự toàn thiện tối hậu của Ngài và cuối cùng được tổng hợp vào một nguyên khí toàn thiện duy nhất là bác ái-minh triết. Nguyên khí tối hậu này là sắc thái chủ yếu của Ngài. Mỗi nguyên khí được hiện thân trong một hệ hành tinh, và đang được triển khai qua một trong các Đấng Thiên Nhân. Cho đến nay, chỉ có bốn nguyên khí được biểu lộ ở mức độ nào đó, vì sự tiến hoá của Thượng đế song hành với sự tiến hoá của các Đấng Thiên Nhân.

e. The solar Logos is governed by the Law of Synthesis. He holds all in synthetic unity or homogeneity. His subjective life is governed by the Law of Attraction; His material form is governed by the Law of Economy. He is coming under another cosmic law as yet incomprehensible to men, which law is but revealed to the highest initiates.

e. Thái dương Thượng đế được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp. Ngài giữ mọi sự trong hợp nhất tổng hợp hay tính đồng nhất. Sự sống chủ quan của Ngài được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn; hình tướng vật chất của Ngài được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm. Ngài đang đi vào dưới một định luật vũ trụ khác mà con người hiện chưa thể hiểu được, định luật này chỉ được mặc khải cho các điểm đạo đồ cao nhất.

f. The solar Logos is in process of ascertaining His place within the greater system in which He holds a place analogous to that of a Heavenly Man in a solar system. He seeks first to find the secret of His own existence, and to achieve full Self-Consciousness; secondly to ascertain the position and place of His polar opposite; thirdly to [Page 258] merge and blend with that polar opposite. This is the cosmic marriage of the Logos.

f. Thái dương Thượng đế đang trong tiến trình xác định vị trí của Ngài trong hệ thống lớn hơn, trong đó Ngài giữ một vị trí tương tự như vị trí của một Đấng Thiên Nhân trong một hệ mặt trời. Ngài tìm cách trước hết khám phá bí mật của chính sự tồn tại của Ngài, và đạt được trọn vẹn Ngã-Thức; thứ hai xác định vị trí và chỗ đứng của cực đối nghịch của Ngài; thứ ba hòa nhập [Page 258] và dung hợp với cực đối nghịch đó. Đây là cuộc hôn phối vũ trụ của Thượng đế.

g. A solar Logos is distinguished by His responsiveness to outer stimulation. This concerns itself with:

g. Một Thái dương Thượng đế được phân biệt bởi khả năng đáp ứng của Ngài đối với kích thích bên ngoài. Điều này liên quan đến:

Electrical stimulation or His response to electrical fohatic force emanating from other stellar centres, and controlling largely the action of our system and its movements in space in relation to other constellations.

Kích thích điện hay sự đáp ứng của Ngài đối với mãnh lực điện fohat phát ra từ các trung tâm tinh tú khác, và phần lớn kiểm soát hoạt động của hệ thống chúng ta cùng các chuyển động của nó trong không gian trong tương quan với các chòm sao khác.

Magnetic stimulation, acting upon His subjective Life, and emanating from certain cosmic centres hinted at in the Secret Doctrine. These find their source on cosmic buddhic levels.

Kích thích từ tính, tác động lên Sự sống chủ quan của Ngài, và phát ra từ một số trung tâm vũ trụ được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Chúng tìm thấy nguồn của mình trên các cấp độ Bồ đề vũ trụ.

It is their united effect which induces steady development.

Chính hiệu quả hợp nhất của chúng gây ra sự phát triển đều đặn.

The solar Logos is distinguished

Thái dương Thượng đế được phân biệt

1. By the spheroidicity of His manifesting existence. His solar ring-pass-not is definite and seen. This can only be demonstrated as yet by the endeavour to ascertain the extent of the subjective control, by the measure of the solar sphere of influence, or the magnetic attraction of the Sun to other lesser bodies which it holds in circular motion around itself.

1. Bởi tính hình cầu của sự tồn tại biểu hiện của Ngài. Vòng-giới-hạn mặt trời của Ngài là xác định và có thể thấy được. Điều này hiện nay chỉ có thể được chứng minh bằng nỗ lực xác định mức độ của sự kiểm soát chủ quan, bằng thước đo khối cầu ảnh hưởng mặt trời, hay lực hút từ tính của Mặt Trời đối với các thiên thể nhỏ hơn khác mà nó giữ trong chuyển động tròn quanh chính nó.

2. By the activity of the life animating the ten schemes.

2. Bởi hoạt động của sự sống làm sinh động mười hệ hành tinh.

3. By the extent of the control exerted by the Logos at any given period.

3. Bởi mức độ kiểm soát được Thượng đế vận dụng trong bất kỳ thời kỳ nào.

4. By the ultimate synthesis of the seven schemes into three and thence into one. This covers the obscuration of the schemes and the unification of the seven principles which they embody.

4. Bởi sự tổng hợp tối hậu của bảy hệ hành tinh vào ba và từ đó vào một. Điều này bao gồm sự che khuất của các hệ hành tinh và sự hợp nhất của bảy nguyên khí mà chúng hiện thân.

5. By His subjection to the Law of His Being.

5. Bởi sự phục tùng của Ngài đối với Định luật của Bản Thể Ngài.

6. By His group relation.

6. Bởi quan hệ nhóm của Ngài.

7. By His unfoldment of Consciousness, the time factor [Page 259] being controlled by the measure of the unfoldment of all the conscious units in His body.

7. Bởi sự khai mở Tâm thức của Ngài, yếu tố thời gian [Page 259] được kiểm soát bởi mức độ khai mở của mọi đơn vị có tâm thức trong thể Ngài.

Here we have traced very briefly some of the analogies between the four factors earlier mentioned, and have in a cursory way answered the question. These points, if dwelt upon, will be found of real assistance in developing the mental appreciation of the student, and in increasing his apprehension of the beauty of the entire solar scheme.

Ở đây chúng ta đã truy theo rất vắn tắt một số tương đồng giữa bốn yếu tố đã được nêu trước đó, và theo cách khái lược đã trả lời câu hỏi. Những điểm này, nếu được suy ngẫm, sẽ được thấy là thật sự hữu ích trong việc phát triển sự lĩnh hội trí tuệ của đạo sinh, và trong việc gia tăng sự nhận thức của y về vẻ đẹp của toàn bộ hệ mặt trời.

VI. WHAT IS THE MIND ASPECT? WHY IS THE MANASIC PRINCIPLE OF SUCH IMPORTANCE? WHO ARE THE MANASAPUTRAS?

VI. PHƯƠNG DIỆN TRÍ TUỆ LÀ GÌ? TẠI SAO NGUYÊN KHÍ MANAS LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN THẾ? CÁC MANASAPUTRAS LÀ AI?

We are now to touch upon the profoundest mystery of the whole manifested solar system—the mystery spoken of by H. P. B. as the mystery of electricity. (S.D., I, 439,221,107 It is intimately connected with the life of God as demonstrated through His seven Centres, the seven Heavenly Men, the Divine Manasaputras. This problem is not soluble as yet exoterically and but little can be revealed to the general public. This is for three reasons:

Giờ đây chúng ta sẽ chạm đến huyền nhiệm sâu xa nhất của toàn bộ hệ mặt trời biểu hiện—huyền nhiệm được H. P. B. nói đến như huyền nhiệm của điện. (S.D., I, 439,221,107 Nó liên hệ mật thiết với sự sống của Thượng đế như được biểu lộ qua bảy Trung tâm của Ngài, bảy Đấng Thiên Nhân, các Divine Manasaputras. Vấn đề này hiện chưa thể được giải quyết một cách ngoại môn và chỉ có thể được tiết lộ rất ít cho công chúng nói chung. Điều này là vì ba lý do:

First, the stage reached by man does not permit of his correct apprehension of these abstractions.

Thứ nhất, giai đoạn mà con người đã đạt tới không cho phép y lĩnh hội đúng đắn các trừu tượng này.

Second, the greater part of the possible explanation is only revealed to initiates who have passed the third Initiation, and even to them in a carefully guarded manner.

Thứ hai, phần lớn lời giải thích khả dĩ chỉ được tiết lộ cho các điểm đạo đồ đã vượt qua lần điểm đạo thứ ba, và ngay cả với họ cũng theo một cách được canh giữ cẩn mật.

Third, the revelation of the close connection between mind and fohat or energy, or between thought power and electrical phenomena—the effect of fohatic impulse on matter—is fraught with peril, and the missing link (if so it might be termed) in the chain of reasoning from phenomena to its initiatory impulse, can only be safely imparted when the bridge between higher and lower mind, is adequately constructed. When the lower is under the control of the higher, or when the quaternary is merging into the triad, then man can be trusted with the remaining [Page 260] four fundamentals. Three of these fundamentals are laid down for us in the Proem of the Secret Doctrine, (I, 42-44) and with the evolving concept of psychology, make the revealed three and the dawning fourth. The other three are esoteric and must remain so until each man has for himself worked at his spiritual development, built the bridge between the higher and the lower mind, prepared the shrine in the temple of Solomon for the Light of God, and turned his activities into altruistic helping of the evolutionary plans of the Logos.

Thứ ba, sự mặc khải về mối liên hệ mật thiết giữa trí tuệ và fohat hay năng lượng, hay giữa quyền năng tư tưởng và các hiện tượng điện—hiệu quả của xung động fohat lên vật chất—chứa đầy hiểm nguy, và mắt xích còn thiếu (nếu có thể gọi như vậy) trong chuỗi lý luận từ hiện tượng đến xung lực điểm đạo của nó, chỉ có thể được truyền đạt một cách an toàn khi cây cầu giữa thượng trí và hạ trí được xây dựng đầy đủ. Khi cái thấp hơn ở dưới sự kiểm soát của cái cao hơn, hay khi bộ tứ đang hòa nhập vào tam nguyên tinh thần, khi ấy con người mới có thể được tin cậy để nhận bốn nền tảng còn lại [Page 260]. Ba trong số các nền tảng này đã được đặt ra cho chúng ta trong Lời Mở Đầu của Giáo Lý Bí Nhiệm, (I, 42-44) và cùng với khái niệm đang tiến hoá của tâm lý học, tạo nên ba điều đã được mặc khải và điều thứ tư đang ló rạng. Ba điều kia là nội môn và phải vẫn như vậy cho đến khi mỗi người tự mình nỗ lực cho sự phát triển tinh thần của mình, xây dựng cây cầu giữa thượng trí và hạ trí, chuẩn bị điện thờ trong đền Solomon cho Ánh sáng của Thượng đế, và chuyển các hoạt động của mình thành sự trợ giúp vị tha cho các kế hoạch tiến hoá của Thượng đế.

When these qualities are assuming a foremost place and when man has demonstrated the thoroughness of his will to serve, then the clue will be put into his hands and he will find the method whereby electrical impulse, demonstrating as heat, light and motion, is controlled and utilised; he will discover the source of the initial impulse from extra-systemic centres, and discover the basic rhythm. Then, and only then, will he be a truly intelligent co-operator, and (escaping from the control of the Law in the three worlds) wield the law himself within the lower spheres.

Khi các phẩm tính này đang chiếm vị trí hàng đầu và khi con người đã chứng tỏ tính triệt để của ý chí phụng sự của mình, khi ấy đầu mối sẽ được đặt vào tay y và y sẽ tìm ra phương pháp nhờ đó xung lực điện, biểu lộ thành nhiệt, ánh sáng và chuyển động, được kiểm soát và sử dụng; y sẽ khám phá nguồn của xung lực ban đầu từ các trung tâm ngoài hệ thống, và khám phá nhịp điệu căn bản. Khi ấy, và chỉ khi ấy, y mới là một cộng tác viên thật sự thông tuệ, và (thoát khỏi sự kiểm soát của Định luật trong ba cõi giới) tự mình vận dụng định luật trong các khối cầu thấp hơn.

1. The Nature of Manifestation.

1. Bản chất của Biểu hiện.

Here are three important questions to be dealt with as one, all bearing on the same subject, and all concerned with the fact of intelligent objectivity itself. Perhaps if we paraphrased the threefold query, and brought it down to microcosmic objectivity, the problem might not appear so complex. We might express it thus:

Ở đây có ba câu hỏi quan trọng cần được bàn đến như một, tất cả đều liên quan đến cùng một chủ đề, và tất cả đều gắn với chính sự kiện khách quan tính thông tuệ. Có lẽ nếu chúng ta diễn đạt lại câu hỏi tam phân này, và đưa nó xuống khách quan tính của tiểu thiên địa, thì vấn đề có thể sẽ không có vẻ phức tạp đến thế. Chúng ta có thể diễn đạt như sau:

What is the thought aspect of a human being? Why is his mind and mental process of such importance? Who is the Thinker?

Phương diện tư tưởng của một con người là gì? Tại sao trí tuệ và tiến trình trí tuệ của y lại quan trọng đến thế? Ai là Nhà Tư Tưởng?

Man, in essential essence, is the higher triad demonstrating through a gradually evolving form, the egoic or causal body, and utilising the lower threefold personality [Page 261] as a means to contact the lower three planes. All this has for purpose the development of perfect self-consciousness. Above the triad stands the Monad or the Father in Heaven—a point of abstraction to man as he views the subject from the physical plane. The Monad stands to him in the position of the Absolute, in the same sense as the undifferentiated Logos stands to the threefold Trinity, to the three Persons of logoic manifestation. The parallel is exact.

Con người, trong tinh túy cốt yếu, là tam nguyên tinh thần cao biểu lộ qua một hình tướng tiến hoá dần dần, thể chân ngã hay thể nguyên nhân, và sử dụng phàm ngã tam phân thấp hơn [Page 261] như một phương tiện để tiếp xúc với ba cõi thấp. Tất cả điều này nhằm mục đích phát triển ngã thức hoàn hảo. Bên trên tam nguyên tinh thần là Chân thần hay Đức Cha trên Trời—một điểm trừu tượng đối với con người khi y nhìn chủ đề này từ cõi hồng trần. Chân thần đứng đối với y ở vị trí của Tuyệt Đối, theo cùng ý nghĩa như Thượng đế không phân hóa đứng đối với Ba Ngôi tam phân, đối với ba Ngôi Vị của biểu hiện của Thượng đế. Sự song hành là chính xác.

1. The Monad.

1. Chân thần.

2. The threefold Triad, Atma-Buddhi-Manas, or spiritual will, intuition, and higher mind.

2. Tam nguyên tinh thần tam phân, Atma-Buddhi-Manas, hay ý chí tinh thần, trực giác, và thượng trí.

3. The body egoic or the causal body, the shrine for the buddhic principle. This body is to be built by the power of the mind. It is the manifestation of the three.

3. Thể chân ngã hay thể nguyên nhân, điện thờ cho nguyên khí Bồ đề. Thể này phải được xây dựng bằng quyền năng của trí tuệ. Nó là biểu hiện của bộ ba.

4. The threefold lower nature, the points of densest objectivity.

4. Bản chất thấp tam phân, các điểm của khách quan tính đậm đặc nhất.

5. This threefold lower nature is in essence a quaternary—the etheric vehicle, animating life or prana, kama-manas, and lower mind. Manas or the fifth principle, forms the link between the lower and the higher. (S.D., I, 107)

5. Bản chất thấp tam phân này về bản chất là một bộ tứ—vận cụ dĩ thái, sự sống làm sinh động hay prana, kama-manas, và hạ trí. Manas hay nguyên khí thứ năm tạo thành mắt xích giữa cái thấp hơn và cái cao hơn. (S.D., I, 107)

We have, therefore, our lower four, our higher three, and the relation between them, the principle of mind. Here we have the seven formed by the union of the three and the four, and another factor, making eight. The ultimate seven will be seen when buddhi and manas are merged. Much has been hinted at in certain of our occult books about the eighth sphere. I would suggest that in this linking factor of intelligent mind, we have a clue to the mystery. When mind becomes unduly developed and ceases to unite the higher and the lower, it forms a sphere of its own. This is the greatest disaster that can overtake the human unit.[Page 262]

Vì vậy, chúng ta có bốn thấp của mình, ba cao của mình, và mối liên hệ giữa chúng, nguyên khí trí tuệ. Ở đây chúng ta có bảy được hình thành bởi sự hợp nhất của ba và bốn, và một yếu tố khác, tạo thành tám. Bảy tối hậu sẽ được thấy khi buddhi và manas được hòa nhập. Trong một số sách huyền bí của chúng ta đã có nhiều ám chỉ về khối cầu thứ tám. Tôi muốn gợi ý rằng trong yếu tố liên kết này của trí tuệ thông tuệ, chúng ta có một đầu mối cho huyền nhiệm ấy. Khi trí tuệ trở nên phát triển quá mức và không còn hợp nhất cái cao hơn với cái thấp hơn, nó tạo thành một khối cầu của riêng nó. Đây là tai họa lớn nhất có thể xảy đến cho đơn vị nhân loại.[Page 262]

Therefore we have:

Vì vậy chúng ta có:

Monad, the microcosmic absolute.

Chân thần, tuyệt đối của tiểu thiên địa.

Pure Spirit.

Tinh thần thuần túy.

The one and only.

Đấng duy nhất và độc nhất.

The monadic trinity.

Bộ ba chân thần.

First aspect

Atma or spiritual will.

Second aspect.

Buddhi, the Christ principle.

Third aspect

Manas, or higher mind.

The Son aspect in objectivity.

Phương diện Con trong khách quan tính.

The body egoic or causal body.

Thể chân ngã hay thể nguyên nhân.

The lower quaternary.

Bộ tứ thấp.

1. The mental body.

3. Prana, or vital energy.

2. The astral or emotional body. (108)

4. Etheric body

The microcosm reproduces the solar system in miniature. The above deals with the objective forms, corresponding to the sun and the seven sacred planets. But the exoteric form is paralleled by a psychic development which we call the seven principles. Man develops seven principles, which might be enumerated as follows:

Tiểu thiên địa tái tạo hệ mặt trời trong dạng thu nhỏ. Phần trên đề cập đến các hình tướng khách quan, tương ứng với mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng. Nhưng hình thức ngoại môn được song hành bởi một sự phát triển thông linh mà chúng ta gọi là bảy nguyên khí. Con người phát triển bảy nguyên khí, có thể được liệt kê như sau:

MICROCOSMIC PRINCIPLES (109)

CÁC NGUYÊN KHÍ CỦA TIỂU THIÊN ĐỊA (109)

(109) 1. There are two main cosmic principles in nature:—

(109) 1. Trong thiên nhiên có hai nguyên khí vũ trụ chính:—

a. Active and passive, male and female.—S. D., II, 556. I, 46.

a. Chủ động và thụ động, nam và nữ.—S. D., II, 556. I, 46.

b. Buddhi and mahat. See also S. D., I, 357. II, 649. III, 273.

b. Buddhi và mahat. Xem thêm S. D., I, 357. II, 649. III, 273.

2. These higher principles united produce the three and the seven.—S. D., I, 46.

2. Các nguyên khí cao này hợp nhất tạo ra bộ ba và bộ bảy.—S. D., I, 46.

a. They are called the three Rays of Essence and the four Aspects.—S. D., I, 147.

a. Chúng được gọi là ba Cung của Tinh Túy và bốn Phương diện.—S. D., I, 147.

b. They can be called the three Vehicles with their three Aspects and Atma.—S. D., I, 182.

b. Chúng có thể được gọi là ba Vận cụ với ba Phương diện của chúng và Atma.—S. D., I, 182.

c. They are also called the three-tongued Flame of the Four Wicks.—S. D., I, 257.

c. Chúng cũng được gọi là Ngọn Lửa ba lưỡi của Bốn Tim Đèn.—S. D., I, 257.

This is true cosmically and humanly.

Điều này đúng cả về mặt vũ trụ lẫn nhân loại.

The Principles of the Logos.... the seven Planetary Logoi.—S. D., I, 358, 365.

Các Nguyên khí của Thượng đế.... bảy Hành Tinh Thượng Đế.—S. D., I, 358, 365.

The Principles of the planetary Logos.... The vehicle called a chain.—S. D., I, 194, 196. II, 626.

Các Nguyên khí của Hành Tinh Thượng Đế.... Vận cụ được gọi là một dãy.—S. D., I, 194, 196. II, 626.

The Principles of man.... The different vehicles. Note also:—S. D., I, 176, 177. II, 630, 631. I, 189.

Các Nguyên khí của con người.... Các vận cụ khác nhau. Cũng lưu ý:—S. D., I, 176, 177. II, 630, 631. I, 189.

Summation:—S. D., III, 475.

Tóm lược:—S. D., III, 475.

3. Cosmic Ideation, focussed in a principle results as the consciousness of the individual.—S. D., I, 351.

3. Ý niệm Vũ trụ, được tập trung trong một nguyên khí, tạo ra tâm thức của cá nhân.—S. D., I, 351.

a. Appropriation by the individual of a vehicle produces a display of energy of any particular plane. This energy will be of a peculiar colour and quality, according to the plane involved.

a. Việc cá nhân chiếm dụng một vận cụ tạo ra sự biểu lộ năng lượng của bất kỳ cõi đặc thù nào. Năng lượng này sẽ có màu sắc và phẩm tính đặc biệt, tùy theo cõi liên quan.

4. The seven principles are the manifestation of the one Flame.—S. D., 45. III, 374.

4. Bảy nguyên khí là biểu hiện của một Ngọn Lửa.—S. D., 45. III, 374.

Note also the function of the Gods in furnishing man with his principles. S. D., I, 308. (back)

Cũng lưu ý chức năng của các Thượng đế trong việc cung cấp cho con người các nguyên khí của y. S. D., I, 308. (trở lại)

Two higher principles:

Hai nguyên khí cao hơn:

1. Active intelligence.

1. Trí tuệ chủ động.

2. Latent love-wisdom.

2. Bác ái-minh triết tiềm ẩn.

[Page 263] (The psychic nature of the Monad is twofold.)

[Page 263] (Bản chất thông linh của Chân thần là nhị phân.)

1. The principle of atma. Spiritual nature. Will.

1. Nguyên khí atma. Bản chất tinh thần. Ý chí.

2. The principle of buddhi. Love nature. Wisdom.

2. Nguyên khí buddhi. Bản chất bác ái. Minh triết.

3. The principle of manas. Intelligence nature, Activity.

3. Nguyên khí manas. Bản chất trí tuệ, Hoạt động.

Note here that the three principles in terms of the Triad with the two synthesising principles on the plane of the Monad, make five principles and give the key to H. P. B.’s numbering in certain places. We might express it thus:

Hãy lưu ý ở đây rằng ba nguyên khí xét theo Tam nguyên tinh thần cùng với hai nguyên khí tổng hợp trên cõi của Chân thần tạo thành năm nguyên khí và cho chìa khóa đối với cách đánh số của H. P. B. ở một số chỗ. Chúng ta có thể diễn đạt như sau:

I.

The Absolute

The Monad.

II.

1. Prakriti

Active intelligence. The Divine Manasaputra.

2. Purusha

Love-Wisdom. The Vishnu aspect.

On the plane of objectivity.

Trên cõi khách quan tính.

III

3. Atma

The Triad.

4. Buddhi

The Triad.

5. Manas

The Triad.

rom the standpoint of evolution we regard the higher two and the highest one as the correspondence to the Absolute as He manifests in duality. This is prior to objectivity, which requires the presence of the three. In manifestation we might regard the principles as follows: [Page 264]

Từ quan điểm tiến hoá, chúng ta xem hai nguyên khí cao hơn và một nguyên khí cao nhất là sự tương ứng với Tuyệt Đối khi Ngài biểu lộ trong nhị nguyên tính. Điều này có trước khách quan tính, vốn đòi hỏi sự hiện diện của bộ ba. Trong biểu hiện, chúng ta có thể xem các nguyên khí như sau: [Page 264]

First Principle

The sphere of manifestation, the monadic egg.

The sphere of manifestation, the monadic egg.

Second Principle

Atma

Will.

Third Principle

Buddhi

Pure reason, wisdom.

Fourth Principle

Manas

Pure mind, higher mind.

Fifth Principle

Manas

Lower mind.

Sixth Principle

Kama-manas

Seventh Principle

Pure emotion, or feeling.

These are the principles for the microcosm viewed as having transcended the physical bodies altogether, and thus the tabulation deals entirely with the subjective life, or the development of the psyche or soul.

Đây là các nguyên khí của tiểu thiên địa khi được nhìn như đã vượt hẳn các thể xác hồng trần, và như vậy bảng liệt kê này hoàn toàn đề cập đến sự sống chủ quan, hay sự phát triển của tâm linh hay linh hồn.

This should be borne carefully in mind else confusion will ensue. In our enumeration we are here dealing with subjectivity and not with form. We have, therefore, considered:

Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận, nếu không sự lẫn lộn sẽ xảy ra. Trong sự liệt kê của chúng ta, ở đây chúng ta đang đề cập đến tính chủ quan chứ không phải hình tướng. Vì vậy, chúng ta đã xét đến:

a.

Sevenfold objectivity

the material forms.

b.

Sevenfold subjectivity

the psychic evolution.

c.

Sevenfold spirituality

the life of the Entity.

We will note also that in the tabulation of the spiritual life of the Monad we considered it as fivefold. This was necessarily so in this fivefold evolution, but the remaining two principles might be considered as:

Chúng ta cũng sẽ lưu ý rằng trong bảng liệt kê về sự sống tinh thần của Chân thần, chúng ta đã xem nó là ngũ phân. Điều này tất yếu là như vậy trong sự tiến hoá ngũ phân này, nhưng hai nguyên khí còn lại có thể được xem là:

6. The life of the Heavenly Man in Whose body the human Monad finds a place.

6. Sự sống của Đấng Thiên Nhân mà trong thân thể của Ngài Chân thần nhân loại tìm được chỗ đứng.

7. The life of the Logos in Whose body the Heavenly Man finds place.

7. Sự sống của Thượng đế mà trong thân thể của Ngài Đấng Thiên Nhân tìm được chỗ đứng.

It might be useful here to consider another enumeration of the principles of man (110) as he manifests in the [Page 265] three worlds, the planes whereon the subjective and the objective are united. What have we there? Let us begin where man begins, with the lowest:

Ở đây có thể hữu ích nếu xét đến một cách liệt kê khác về các nguyên khí của con người (110) khi y biểu lộ trong [Page 265] ba cõi giới, các cõi nơi chủ quan và khách quan được hợp nhất. Ở đó chúng ta có gì? Hãy bắt đầu từ nơi con người bắt đầu, với cái thấp nhất:

(110) Enumeration of the Principles.—S. D., II, 627, 631.

(110) Sự liệt kê các Nguyên khí.—S. D., II, 627, 631.

1st Principle....... Dense physical body. Sthula Sharira.

Nguyên khí thứ 1....... Thể xác hồng trần đậm đặc. Sthula Sharira.

2nd Principle.......Etheric body. Linga Sharira.

Nguyên khí thứ 2.......Thể dĩ thái. Linga Sharira.

3rd Principle....... Prana. Vital energy.

Nguyên khí thứ 3....... Prana. Năng lượng sinh lực.

4th Principle....... Kama-rupa. The energy of desire. —S. D., I, 136.

Nguyên khí thứ 4....... Kama-rupa. Năng lượng của dục vọng. —S. D., I, 136.

(These are the lower four principles.)

(Đây là bốn nguyên khí thấp.)

5th Principle....... Manas. The energy of thought. The middle principle.—S. D., II, 83, 84. II, 332. S. D., II, 669.

Nguyên khí thứ 5....... Manas. Năng lượng của tư tưởng. Nguyên khí ở giữa.—S. D., II, 83, 84. II, 332. S. D., II, 669.

6th Principle....... Buddhi. The energy of love.—S. D., II, 649, 676. S. D., III, 58.

Nguyên khí thứ 6....... Buddhi. Năng lượng của bác ái.—S. D., II, 649, 676. S. D., III, 58.

7th Principle....... Atma. The synthetic principle.—S. D., I, 357, 201. S. D., III, 142.

Nguyên khí thứ 7....... Atma. Nguyên khí tổng hợp.—G. L. B. N., I, 357, 201. G. L. B. N., III, 142.

See S. D., III, 201, note.

Xem G. L. B. N., III, 201, chú thích.

a. Buddhi is the vehicle for atma.

a. Buddhi là vận cụ của atma.

b. Manas is the vehicle for buddhi.

b. Manas là vận cụ của buddhi.

c. Kamarupa is the vehicle for manas.—S. D., II, 171.

c. Kamarupa là vận cụ của manas.—G. L. B. N., II, 171.

d. The etheric body is the vehicle for prana.

d. Thể dĩ thái là vận cụ của prana.

Remember also:—

Cũng hãy ghi nhớ:—

a. That the physical body is not a principle.—S. D., II, 652. III, 445. III, 652.

a. Thể xác không phải là một nguyên khí.—G. L. B. N., II, 652. III, 445. III, 652.

b. That atma is not a principle. See also S. D., III, 62, 63. III, 293.

b. Atma không phải là một nguyên khí. Cũng xem G. L. B. N., III, 62, 63. III, 293.

(Other enumerations, differing in certain particulars will be found:—S. D., 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. The latter is more esoteric.) (back)

(Những cách liệt kê khác, khác nhau ở một vài chi tiết, sẽ được tìm thấy:—G. L. B. N., 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. Cách sau cùng có tính huyền bí hơn.) (back)

7.

The etheric body

1.

The vital body.

6.

Prana

2.

Vital force.

5.

Kama-manas

3.

Desire Mind.

4.

Lower mind

4.

Concrete mind.

3.

Manas

5.

Higher or abstract mind.

2.

Buddhi

6.

Wisdom, Christ force, intuition.

1.

Atma

7.

Spiritual Will.

This is the lowest enumeration for little evolved man at the present time.

Đây là cách liệt kê thấp nhất dành cho con người ít tiến hoá ở thời điểm hiện nay.

From the standpoint of the Ego what can be seen?

Từ quan điểm của chân ngã, có thể thấy điều gì?

I. The Absolute....... Atma. Pure will-to-be.

I. Tuyệt Đối....... Atma. Ý Chí-hướng-tồn tại thuần túy.

II. The Duad.

II. Nhị nguyên.

1. Buddhi......... Pure reason, wisdom.

1. Buddhi......... Lý trí thuần túy, minh triết.

2. Manas..........Pure mind.

2. Manas.......... Trí tuệ thuần túy.

III. The Triad.

III. Tam nguyên.

3. The causal body.

3. Thể nguyên nhân.

4. Lower mind. [Page 266]

4. Hạ trí. [Page 266]

5. Kama-manas.

5. Kama-manas.

6. Prana.

6. Prana.

7. The etheric body.

7. Thể dĩ thái.

In these various enumerations of the principles we are dealing with them (as H. P. B. has pointed out they must be dealt with) (S. D., III, 456.) (111), from differing standpoints, dependent upon the stage reached and the angle of vision. We have considered them thus in answering question six because we have sought to emphasise and to impress clearly upon our minds that the three lines of development must be remembered when considering the evolution of the Manasaputras.

Trong những cách liệt kê khác nhau này về các nguyên khí, chúng ta đang đề cập đến chúng (như H. P. B. đã chỉ ra rằng chúng phải được đề cập đến) (G. L. B. N., III, 456.) (111), từ những quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào giai đoạn đã đạt được và góc độ tầm nhìn. Chúng ta đã xem xét chúng theo cách ấy khi trả lời câu hỏi thứ sáu vì chúng ta đã tìm cách nhấn mạnh và ghi khắc rõ ràng vào trí tuệ mình rằng phải ghi nhớ ba đường phát triển khi xem xét sự tiến hoá của các Manasaputra.

(111) H. P. Blavatsky says in the Secret Doctrine in connection with the Principles.

(111) H. P. Blavatsky nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến các Nguyên khí.

a. That mistakes in the classification are very possible.—S. D., II, 677.

a. Rằng những sai lầm trong việc phân loại là hoàn toàn có thể xảy ra.—G. L. B. N., II, 677.

b. That we must seek the occult meaning.—S. D., II, 652.

b. Rằng chúng ta phải tìm kiếm ý nghĩa huyền bí.—G. L. B. N., II, 652.

That there are really six not seven principles.

Rằng thực ra có sáu chứ không phải bảy nguyên khí.

c. That there are several classifications.—S. D., III, 374, 446.

c. Rằng có nhiều cách phân loại.—G. L. B. N., III, 374, 446.

d. That the esoteric enumeration cannot be made to correspond with the exoteric—S. D., III, 476.

d. Rằng cách liệt kê nội môn không thể làm cho tương ứng với cách liệt kê ngoại môn—G. L. B. N., III, 476.

e. That the numbering of the principles is a question of spiritual progress.—S. D., III, 456, 460. (back)

e. Rằng việc đánh số các nguyên khí là một vấn đề của sự tiến bộ tinh thần.—G. L. B. N., III, 456, 460. (back)

2. The Objective Development.

2. Sự Phát Triển Khách Quan.

This is sevenfold in evolution and in time, ninefold during obscuration, and tenfold at dissolution.

Điều này có tính thất phân trong tiến hoá và trong thời gian, cửu phân trong thời kỳ che khuất, và thập phân khi tan rã.

Macrocosmic

Đại thiên địa

1. The seven sacred planets of the solar system.

1. Bảy hành tinh thiêng liêng của hệ mặt trời.

2. The two which are hid, which are the synthesising planets.

2. Hai hành tinh được che giấu, là những hành tinh tổng hợp.

3. The one final synthesising planet—the Sun. Seven added to two added to one make ten.

3. Một hành tinh tổng hợp tối hậu—Mặt Trời. Bảy cộng hai cộng một thành mười.

There are ten centres in the Grand Heavenly Man.

Có mười trung tâm trong Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại.

A Heavenly Man

Một Đấng Thiên Nhân

1. The seven chains of a scheme.

1. Bảy dãy của một hệ hành tinh.

2. The two synthesising chains.

2. Hai dãy tổng hợp.

3. One ultimate chain.

3. Một dãy tối hậu.

[Page 267] There are ten centres in a planetary Logos.

[Page 267] Có mười trung tâm trong một Hành Tinh Thượng Đế.

Microcosm

Tiểu thiên địa

1. The seven vehicles employed:

1. Bảy vận cụ được sử dụng:

a. The atmic sheath.

a. Vỏ bọc atma.

b. The buddhic vehicle.

b. Vận cụ Bồ đề.

c. The causal or egoic body.

c. Thể nguyên nhân hay thể chân ngã.

d. The mental body.

d. Thể trí.

e. The astral body.

e. Thể cảm dục.

f. The etheric body.

f. Thể dĩ thái.

g. The dense physical.

g. Thể hồng trần đậm đặc.

2. Two synthesising bodies:

2. Hai thể tổng hợp:

a. The causal body.

a. Thể nguyên nhân.

b. The physical body.

b. Thể xác.

3. One synthesising body:

3. Một thể tổng hợp:

a. The monadic sheath.

a. Vỏ bọc chân thần.

There are seven centres in the physical vehicle which correspond to these bodies, with the synthesising centres at the heart and throat; the head is then the ultimate synthesiser. This tabulation deals entirely with the form side, and with the vehicles indwelt by the Logos, the Manasaputras and by Man.

Có bảy trung tâm trong vận cụ hồng trần tương ứng với các thể này, với các trung tâm tổng hợp ở tim và cổ họng; khi đó đầu là trung tâm tổng hợp tối hậu. Bảng này hoàn toàn đề cập đến phương diện hình tướng, và đến các vận cụ được Thượng đế, các Manasaputra và con người cư ngụ.

3. The Subjective Development.

3. Sự Phát Triển Chủ Quan.

This is also sevenfold:

Điều này cũng có tính thất phân:

1. Astral

pure desire, emotion, feeling.

2. Kama-manas

desire-mind.

3. Manas

lower concrete mind.

4. Higher manas

abstract or pure mind.

5. Buddhi

pure reason, intuition.

6. Atma

pure will, realisation.

7. Monadic

Will, love-wisdom, intelligence.

This deals with the sevenfold development of inherent love-wisdom by the aid of mind. This proceeds macrocosmically through the seven Heavenly Men, Who are [Page 268] actively intelligent, inherently love, and are objectively seen through Their forms, the planetary schemes. In Their totality They are the Logos, the Grand Man of the Heavens. In the case of a Heavenly Man the development proceeds through the seven groups of human entities who form Their psychic centres. These groups are on their own plane developing intelligence, are inherently love, and can be objectively contacted on the seven chains of a scheme. In the case of individual man, the development proceeds through his seven centres, which are the key to his psychic evolution. A man is also developing intelligence, is inherently love, and is objectively seen through one or other of his bodies.

Điều này đề cập đến sự phát triển thất phân của Bác Ái – Minh Triết cố hữu nhờ sự trợ giúp của trí tuệ. Điều này diễn ra ở cấp đại thiên địa qua bảy Đấng Thiên Nhân, là những Đấng [Page 268] thông tuệ linh hoạt, vốn là bác ái, và được thấy một cách khách quan qua các hình tướng của Các Ngài, tức các hệ hành tinh. Trong tổng thể của Các Ngài, Các Ngài là Thượng đế, Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại của các cõi trời. Trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân, sự phát triển diễn ra qua bảy nhóm thực thể nhân loại tạo thành các trung tâm thông linh của Ngài. Các nhóm này trên cõi riêng của mình đang phát triển trí tuệ, vốn là bác ái, và có thể được tiếp xúc một cách khách quan trên bảy dãy của một hệ hành tinh. Trong trường hợp của từng con người, sự phát triển diễn ra qua bảy trung tâm của y, là chìa khóa cho sự tiến hoá thông linh của y. Con người cũng đang phát triển trí tuệ, vốn là bác ái, và được thấy một cách khách quan qua một hay một thể khác của y.

What I seek to emphasise is the fact of the psychic development, and also that subjective evolution is the main enterprise of the Logos, of a planetary Logos and of a man. Active intelligent love (the bringing forth from latency of the inherent quality of love by the intelligent application of the mind faculty) will be the result of the evolutionary process. Just as objectivity is dual, life-form, so subjectivity is dual, mind-love, and the blending of the two produces consciousness. Spirit alone is unity, and is undivided; the development of Spirit (or its assumption of the fruits of evolution) is only to be realised and brought about when the dual evolution of the form and the psyche is consummated. Then Spirit garners the fruits of evolution and gathers to itself the qualities nurtured during manifestation,—perfect love and perfect intelligence showing forth then as active intelligent love-wisdom.

Điều tôi tìm cách nhấn mạnh là sự kiện của sự phát triển thông linh, và cũng là việc rằng tiến hoá chủ quan là công cuộc chính của Thượng đế, của một Hành Tinh Thượng Đế và của con người. Bác ái thông tuệ linh hoạt (sự đưa phẩm tính bác ái cố hữu từ trạng thái tiềm ẩn ra biểu lộ bằng sự vận dụng thông tuệ của năng lực trí tuệ) sẽ là kết quả của tiến trình tiến hoá. Cũng như tính khách quan là nhị nguyên, sự sống-hình tướng, thì tính chủ quan cũng là nhị nguyên, trí tuệ-bác ái, và sự hòa trộn của hai điều ấy tạo ra tâm thức. Chỉ riêng tinh thần là hợp nhất, và không phân chia; sự phát triển của tinh thần (hay việc tinh thần tiếp nhận các thành quả của tiến hoá) chỉ có thể được chứng nghiệm và thực hiện khi sự tiến hoá nhị nguyên của hình tướng và tâm linh được hoàn tất. Khi đó tinh thần gặt hái các thành quả của tiến hoá và thu về cho chính nó những phẩm tính được nuôi dưỡng trong thời kỳ biểu hiện,—bác ái hoàn hảo và trí tuệ hoàn hảo khi ấy biểu lộ như bác ái-minh triết thông tuệ linh hoạt.

We might, therefore, answer the questions: “What is the Mind aspect and why is it so important?” by saying that the mind aspect is in reality the ability or capacity of the logoic Existence to think, to act, to build, and to evolve in order to develop the faculty of active love. When the Logos, Who IS active intelligence, has run His [Page 269] life-cycle, He will be also love fully manifested throughout Nature. This can be likewise predicated of a Heavenly Man in His sphere and of a man in his tiny cycle. Thus the importance of manas can be fully seen. It is the means whereby evolution becomes possible, comprehension is achieved, and activity is generated and utilised.

Vì vậy, chúng ta có thể trả lời các câu hỏi: “Phương diện Trí tuệ là gì và tại sao nó lại quan trọng đến thế?” bằng cách nói rằng phương diện trí tuệ thực ra là khả năng hay năng lực của Sự Tồn Tại logoic để suy tư, hành động, kiến tạo và tiến hoá nhằm phát triển năng lực bác ái linh hoạt. Khi Thượng đế, Đấng LÀ thông tuệ linh hoạt, đã hoàn tất chu kỳ sự sống của Ngài, Ngài cũng sẽ là bác ái được biểu hiện trọn vẹn khắp [Page 269] Thiên nhiên. Điều này cũng có thể được khẳng định tương tự đối với một Đấng Thiên Nhân trong khối cầu của Ngài và đối với con người trong chu kỳ nhỏ bé của y. Như vậy, tầm quan trọng của manas có thể được thấy đầy đủ. Nó là phương tiện nhờ đó tiến hoá trở nên khả hữu, sự thấu hiểu được đạt tới, và hoạt động được tạo ra rồi được sử dụng.

Let us now consider how this question can be expressed in terms of Fire:

Giờ đây chúng ta hãy xem xét câu hỏi này có thể được diễn đạt theo thuật ngữ của Lửa như thế nào:

Objectively

Subjectively

1. The sea of fire

1. Our God is a consuming fire

Energising will

2. The akasha

2. The Light of God

Form aspect.

3. The aether

3. The heat of matter

Activity aspect.

4. The air

4. The illumination of the intuition.

5. Fire

5. The fire of mind.

6. The astral light

6. The heat of the emotions.

7. Physical plane electricity

7. Kundalini and prana.