← A Treatise on Cosmic Fire

S6S6

Trích nội dung chương

Having predicated certain basic facts about the devas, viewing them as the sum total of the energy of substance and of substance itself, we come down to more technical details and to the more detailed consideration of these building forces as they construct the thought-form of the Logos, the solar System. From this consideration of them certain practical knowledge will eventuate: Sau khi đã xác định một số sự kiện căn bản về các thiên thần, xem họ như tổng thể của năng lượng của chất liệu và của chính chất liệu, chúng ta đi xuống các chi tiết kỹ thuật hơn và xem xét chi tiết hơn các mãnh lực kiến tạo này khi chúng xây dựng Hình tư tưởng của…


S6S6

[Page 620] b. The Functions of the Devas.

[Page 620] b. Các Chức Năng của các Thiên thần.

Having predicated certain basic facts about the devas, viewing them as the sum total of the energy of substance and of substance itself, we come down to more technical details and to the more detailed consideration of these building forces as they construct the thought-form of the Logos, the solar System. From this consideration of them certain practical knowledge will eventuate:

Sau khi đã xác định một số sự kiện căn bản về các thiên thần, xem họ như tổng thể của năng lượng của chất liệu và của chính chất liệu, chúng ta đi xuống các chi tiết kỹ thuật hơn và xem xét chi tiết hơn các mãnh lực kiến tạo này khi chúng xây dựng Hình tư tưởng của Thượng đế, tức hệ mặt trời. Từ việc xem xét này, một số tri thức thực tiễn sẽ phát sinh:

First. Knowledge of how to build in mental matter in the three worlds, and how to employ the devas of the gaseous plane of the cosmic physical.

Thứ nhất. Tri thức về cách xây dựng trong vật chất trí tuệ trong ba cõi giới, và cách sử dụng các thiên thần của cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ.

Second. Realisation of how to combine the pairs of opposites, and thus give body and form to concept.

Thứ hai. Chứng nghiệm cách kết hợp các cặp đối cực, và nhờ đó ban thể và hình tướng cho ý niệm.

Third. Materialisation upon the physical plane of the embodied idea.

Thứ ba. Sự hiện hình trên cõi hồng trần của ý tưởng đã nhập thể.

1. Manifestation of the Logoic Aspects. This is achieved through the close consideration of the laws of being, and of the method pursued by the Logos in giving His conception form, thus working out His purpose, or will, through that form. In the three planes of man’s endeavour we have reflected the three aspects of the Logos as they produce manifestation:

1. Sự Biểu lộ của các Phương diện Thượng đế. Điều này đạt được qua việc xem xét kỹ lưỡng các định luật của bản thể, và phương pháp mà Thượng đế theo đuổi khi ban hình tướng cho quan niệm của Ngài, nhờ đó triển khai mục đích, hay ý chí, của Ngài qua hình tướng ấy. Trong ba cõi của nỗ lực con người, chúng ta có sự phản chiếu của ba phương diện của Thượng đế khi chúng tạo ra biểu lộ:

The Mental Plane... reflection of the first aspect. The plane of concept, of the union of Father-Spirit-Will and Mother-Matter-Energy. This is the work of the Logos, and this union produces the Son, for Divine Thought takes form. The body of the Ego is there found.

Cõi Trí... phản chiếu của phương diện thứ nhất. Cõi của ý niệm, của sự hợp nhất giữa Cha-Tinh thần-Ý chí và Mẹ-Vật chất-Năng lượng. Đây là công việc của Thượng đế, và sự hợp nhất này sinh ra Người Con, vì Tư Tưởng thiêng liêng mang lấy hình tướng. Thể của chân ngã được tìm thấy ở đó.

Astral Plane... reflection of the second aspect, the Son. Materialisation proceeds through desire, and the form grows and evolves, becoming more adequate.

Cõi Cảm Dục... phản chiếu của phương diện thứ hai, Người Con. Sự hiện hình tiến hành qua dục vọng, và hình tướng tăng trưởng và tiến hoá, trở nên thích hợp hơn.

Physical Plane... Manifestation. The thought-form (of man or the Logos) appears in activity. The Son is born on the physical plane, the thought of the Thinker (divine or human) becomes an entity, separated [Page 621] from its originating source, yet energised by the vitality emanating from him.

Cõi Hồng Trần... Biểu lộ. Hình tư tưởng (của con người hay của Thượng đế) xuất hiện trong hoạt động. Người Con được sinh ra trên cõi hồng trần, tư tưởng của Đấng Tư Tưởng (thiêng liêng hay nhân loại) trở thành một thực thể, tách biệt [Page 621] khỏi nguồn gốc phát sinh của nó, tuy vậy vẫn được tiếp năng lượng bởi sinh lực phát xạ từ ông.

All this becomes possible—speaking now from the human standpoint—through the action of the devas who are that which embodies thought, and that which give it its separated energy, as distinct from the purpose which will work out to fruition as the form becomes adequate as a medium of expression.

Tất cả điều này trở nên khả hữu—nay nói từ quan điểm con người—nhờ hoạt động của các thiên thần là cái hiện thân cho tư tưởng, và là cái ban cho nó năng lượng biệt lập của nó, khác với mục đích sẽ được triển khai đến viên mãn khi hình tướng trở nên thích hợp như một môi trường biểu lộ.

2. Deva force substance. As we consider the devas of the seven planes of the solar system, and especially as we consider those who work in the three worlds, we must bear in mind the following statements:

2. Chất liệu mãnh lực thiên thần. Khi chúng ta xem xét các thiên thần của bảy cõi của hệ mặt trời, và đặc biệt khi xem xét những vị hoạt động trong ba cõi giới, chúng ta phải ghi nhớ các phát biểu sau đây:

The First Statement. They are the devas who are the dual force-substance of the lowest cosmic plane, the cosmic physical. As regards the three worlds, they are the deva force and substance (202) which compose the dense physical body of the Logos, hence man is limited, as he works on these planes, to those devas who are primarily regarded (from the higher levels) as having no part in the seven principles of the Logos; to those devas who form the gaseous, liquid, and concrete form of the Logos, the devas of concrete fire, of water and of earth in its densest aspect; to those devas who are the automatic, subconscious builders, carrying on the work of the dense physical vehicle of the Logos in the same sense as the builders in man’s body work automatically and unconsciously, producing the cells and energising the bodily functions.

Phát biểu thứ nhất. Họ là các thiên thần là chất liệu-mãnh lực nhị nguyên của cõi vũ trụ thấp nhất, cõi hồng trần vũ trụ. Xét về ba cõi giới, họ là mãnh lực thiên thần và chất liệu (202) cấu thành thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, do đó con người bị giới hạn, khi y hoạt động trên các cõi này, vào những thiên thần mà chủ yếu được xem (từ các cấp độ cao hơn) là không có phần nào trong bảy nguyên khí của Thượng đế; vào những thiên thần tạo thành hình tướng khí, lỏng và cụ thể của Thượng đế, các thiên thần của lửa cụ thể, của nước và của đất trong phương diện đậm đặc nhất của nó; vào những thiên thần là các đấng kiến tạo tự động, tiềm thức, tiếp tục công việc của vận cụ hồng trần đậm đặc của Thượng đế theo cùng ý nghĩa như các đấng kiến tạo trong thân thể con người hoạt động tự động và vô thức, tạo ra các tế bào và tiếp năng lượng cho các chức năng của thể.

(202) The Solar Angels are dual in Nature.

(202) Các Thái dương Thiên Thần có bản chất nhị nguyên.

“Manas is dual—Lunar in the lower, Solar in its upper portion.”—S. D., II, 520, 675.

“Manas là nhị nguyên—thái âm ở phần thấp, thái dương ở phần cao của nó.”—S. D., II, 520, 675.

a. The solar aspect is attracted towards Buddhi.

a. Phương diện thái dương bị thu hút về phía Bồ đề.

b. The other descends into, or is attracted by the lower animal.

b. Phương diện kia đi xuống vào, hay bị thu hút bởi, con thú thấp.

c. The Solar Angels form the “Soul” or Second Aspect.

c. Các Thái dương Thiên Thần tạo thành “Linh hồn” hay Phương diện thứ hai.

d. The chief “Soul” is Manas, or mind.”—S. D., II, 521. (back)

d. “Linh hồn” chủ yếu là Manas, hay trí tuệ.”—S. D., II, 521. (back)

This is the basis of the danger to man in tampering with these forces. He is too close to them in many ways; he identifies himself with them and until [Page 622] he has attained the consciousness of the Ego, and has with full knowledge established his identity with the Spirit aspect and not with substance, he is liable to be swept into the line of blind force, and become a lost soul should he trespass ignorantly, and curiously, into their domain.

Đây là cơ sở của sự nguy hiểm đối với con người khi can thiệp vào các mãnh lực này. Y quá gần gũi với chúng theo nhiều cách; y đồng hoá mình với chúng và cho đến khi [Page 622] y đã đạt được tâm thức của chân ngã, và với tri thức trọn vẹn đã xác lập bản sắc của mình với phương diện Tinh thần chứ không phải với chất liệu, y có thể bị cuốn vào đường lối của mãnh lực mù quáng, và trở thành một linh hồn lạc mất nếu y xâm phạm một cách ngu dốt và tò mò vào lĩnh vực của chúng.

He is concerned also with those devas who are as yet animated by the life and purpose which distinguished the evolution of the first solar system. That life is the life of God, and that purpose is the working out of His will, but it is evil from our present standpoint, for it is superseded as far as man is concerned by a different purpose and goal. Therefore, identification with that which is past, retrogression and the methods of the old are for a man a return along the path of self-conscious evolution, and lead eventually to a loss of the egoic principle, or of ego-ism, which distinguishes a man (human or heavenly) from the rest of evolution.

Y cũng liên hệ với những thiên thần mà hiện vẫn được làm sinh động bởi sự sống và mục đích vốn đặc trưng cho tiến hoá của hệ mặt trời thứ nhất. Sự sống ấy là sự sống của Thượng đế, và mục đích ấy là sự triển khai ý chí của Ngài, nhưng từ quan điểm hiện nay của chúng ta thì đó là điều ác, vì đối với con người nó đã bị thay thế bởi một mục đích và cứu cánh khác. Do đó, sự đồng hoá với cái đã qua, sự thoái bộ và các phương pháp cũ, đối với con người là một sự quay trở lại trên con đường tiến hoá hữu ngã thức, và cuối cùng dẫn đến sự mất đi nguyên khí chân ngã, hay tính chân ngã, vốn phân biệt con người (nhân loại hay thiên giới) với phần còn lại của tiến hoá.

The Second Statement. The hope for the devas and for the form aspect lies in the fact that each of the subplanes of the cosmic physical plane comes under the direct influence of cosmic forces, originating on the six other cosmic planes. Of these forces everything is unknown and inconceivable, except the vague and general indications of these currents and forces as they may be felt as emanating from the cosmic planes.

Phát biểu thứ hai. Niềm hy vọng cho các thiên thần và cho phương diện hình tướng nằm ở sự kiện rằng mỗi cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của các mãnh lực vũ trụ, phát sinh trên sáu cõi vũ trụ khác. Về các mãnh lực này, mọi sự đều chưa được biết đến và không thể quan niệm được, ngoại trừ những chỉ dẫn mơ hồ và tổng quát về các dòng và mãnh lực này như chúng có thể được cảm nhận như phát ra từ các cõi vũ trụ.

The cosmic mental plane. This manifests for us in the three types of force to be seen on the systemic mental plane. These three types have not been sufficiently studied, and are:

Cõi trí vũ trụ. Điều này biểu lộ đối với chúng ta trong ba loại mãnh lực có thể thấy trên cõi trí của hệ thống. Ba loại này chưa được nghiên cứu đầy đủ, và là:

a. The force which plays through all the manasic permanent atoms, and which produces basically that manifestation which we call the three worlds.

a. Mãnh lực vận hành qua tất cả các nguyên tử trường tồn manas, và về căn bản tạo ra biểu lộ mà chúng ta gọi là ba cõi giới.

b. The force which animates those groups of “lotuses” [Page 623] which we call egoic groups or centres-aggregations of causal bodies.

b. Mãnh lực làm sinh động những nhóm “hoa sen” mà chúng ta gọi là các nhóm chân ngã hay các trung tâm—những tập hợp của các thể nguyên nhân.[Page 623]

c. The force which vitalises all the mental units and which is distributed thence to all the other permanent atoms.

c. Mãnh lực tiếp sinh lực cho tất cả các đơn vị hạ trí và từ đó được phân phối đến mọi nguyên tử trường tồn khác.

These three types of force deal with the substance aspect—permanent atoms, causal vehicle, and mental units, and are therefore directly impressing themselves upon the devas who build these forms out of their own substance, and thus develop the divine plan. These three types of force affect substance, but with a psychic intent, being themselves swayed and actuated according to divine purpose, and from high levels. They emanate from the concrete levels of the cosmic mental plane (being therefore the force flowing through the mental unit of the Logos), and are concerned with the force centre which focalises the logoic mental body. They are the force of Agni in His first aspect. He is that fire which is distinctive of the cosmic mental plane, reflected in the cosmic gaseous subplane of the cosmic physical plane—our systemic mental plane.

Ba loại mãnh lực này đề cập đến phương diện chất liệu—các nguyên tử trường tồn, vận cụ nguyên nhân, và các đơn vị hạ trí, và do đó trực tiếp in dấu chính mình lên các thiên thần xây dựng các hình tướng này từ chính chất liệu của họ, và nhờ đó phát triển Thiên Cơ thiêng liêng. Ba loại mãnh lực này tác động lên chất liệu, nhưng với một ý hướng thông linh, vì bản thân chúng bị chi phối và thúc đẩy theo mục đích thiêng liêng, và từ các cấp độ cao. Chúng phát ra từ các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ (do đó là mãnh lực chảy qua đơn vị hạ trí của Thượng đế), và liên hệ với trung tâm lực tập trung thể trí của Thượng đế. Chúng là mãnh lực của Agni trong phương diện thứ nhất của Ngài. Ngài là ngọn lửa đặc trưng cho cõi trí vũ trụ, được phản chiếu trong cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ—cõi trí của hệ thống chúng ta.

The Cosmic Astral Plane. The force from this plane plays through our systemic astral plane, the cosmic liquid physical sub-plane, and it is practically subject only to two differentiations, each of them occultly embodied in two great groups of devas:

Cõi cảm dục vũ trụ. Mãnh lực từ cõi này vận hành qua cõi cảm dục của hệ thống chúng ta, cõi phụ lỏng của cõi hồng trần vũ trụ, và trên thực tế chỉ chịu hai sự biến phân, mỗi sự được hiện thân một cách huyền bí trong hai nhóm lớn các thiên thần:

First. The devas who are the substance or force of the astral plane, viewing it as the sumtotal of desire, of feeling and of sensation. They are, therefore, the nerve centers, or nerve plexi, of the logoic physical body, for the systemic astral plane provides the nervous system of the logoic physical body. It is the body of intensest vibration from the physical standpoint, and the vehicle through which all is transmitted to that portion of the logoic physical body which corresponds to the brain [Page 624] in man. I can elucidate this no further, but the few words here imparted open up a tremendous range of thought, and give the key to much which transpires and which is distressing in solar evolution as well as human.

Thứ nhất. Các thiên thần là chất liệu hay mãnh lực của cõi cảm dục, khi xem nó như tổng thể của dục vọng, cảm xúc và cảm giác. Do đó, họ là các trung tâm thần kinh, hay các đám rối thần kinh, của thể hồng trần của Thượng đế, vì cõi cảm dục của hệ thống cung cấp hệ thần kinh cho thể hồng trần của Thượng đế. Đây là thể có rung động mãnh liệt nhất từ quan điểm hồng trần, và là vận cụ qua đó mọi sự được truyền đến phần của thể hồng trần của Thượng đế tương ứng với bộ não ở con người. Tôi không thể làm sáng tỏ điều này thêm nữa, nhưng vài lời được truyền đạt ở đây mở ra một phạm vi tư tưởng vô cùng rộng lớn, và trao chìa khóa cho nhiều điều xảy ra và gây đau khổ trong tiến hoá thái dương cũng như nhân loại.[Page 624]

Second. Those devas who are the sumtotal of the astral light. They are the agents of the karmic lords, who are in themselves deva entities of an inconceivably advanced evolution and who, in their own substance,

Thứ hai. Những thiên thần là tổng thể của ánh sáng cảm dục. Họ là các tác nhân của các Chúa Tể nghiệp quả, mà bản thân các Ngài là các thực thể thiên thần có một tiến hoá cao siêu đến mức không thể quan niệm được và là những vị, trong chính chất liệu của mình,

1. Record.

1. Ghi nhận.

2. Produce effects from cause.

2. Tạo ra kết quả từ nguyên nhân.

3. Direct force.

3. Định hướng mãnh lực.

This particular group of devas emanate from a great force centre which we generalise by calling it by the name of the sun Sirius. Sirius-kama-manas—the cosmic astral plane—and the systemic astral plane—make a close interlocking chain, and form the line of least resistance for a particular type of negative force to pour through.

Nhóm thiên thần đặc biệt này phát ra từ một trung tâm lực lớn mà chúng ta khái quát gọi bằng tên mặt trời Sirius. Sirius-kama-manas—cõi cảm dục vũ trụ—và cõi cảm dục của hệ thống—tạo thành một chuỗi móc nối chặt chẽ, và hình thành con đường ít trở ngại nhất để một loại mãnh lực âm đặc biệt tuôn qua.

The Cosmic Physical Plane. This is the force (external and internal) of the solar system itself, and of its environing space. It might be regarded as the pranic forces, pouring through the logoic etheric body (our four higher subplanes) which are positive to the lower three, impregnating these lower three planes (a reflection in substance, or in the Brahma aspect, of the union of Father-Mother) and producing the purely concrete manifestation. This is why the physical vehicle has such control during long stages of man’s evolution, for the force of this type of energy is necessarily felt more strongly than any other. It is deva force, and substance, which is so close to us as powerfully to delude us. Here lies the mystery of maya, and here is to be found the secret of illusion. Here exists for man the first great stage of the battle for full Self-consciousness, and for identification with the God-aspect, and not with the [Page 625] matter-aspect. Here lies the occult reason why man is called by his father’s name and not his mother’s. When man has dominated the deva essences of the physical plane, he controls next those of the astral and dominates the mental essences. Having achieved this in his own nature he can then safely become a magician and contact, control and work with, the devas in connection with the plans of the Heavenly Man. In the realisation of the three types of force, will be found for man the key to the mystery of his centres.

Cõi hồng trần vũ trụ. Đây là mãnh lực (bên ngoài và bên trong) của chính hệ mặt trời, và của không gian bao quanh nó. Nó có thể được xem như các mãnh lực prana, tuôn qua thể dĩ thái của Thượng đế (bốn cõi phụ cao của chúng ta), vốn là dương đối với ba cõi thấp, thấm nhuần ba cõi thấp này (một phản chiếu trong chất liệu, hay trong phương diện Brahma, của sự hợp nhất Cha-Mẹ) và tạo ra biểu lộ thuần túy cụ thể. Đây là lý do vì sao vận cụ hồng trần có quyền kiểm soát mạnh mẽ trong những giai đoạn dài của tiến hoá con người, vì mãnh lực của loại năng lượng này tất yếu được cảm nhận mạnh hơn bất kỳ loại nào khác. Chính mãnh lực thiên thần, và chất liệu, quá gần gũi với chúng ta đến nỗi đánh lừa chúng ta một cách mạnh mẽ. Chính trong đây có huyền nhiệm của ảo lực, và ở đây có thể tìm thấy bí mật của ảo tưởng. Ở đây tồn tại đối với con người giai đoạn lớn đầu tiên của cuộc chiến giành trọn vẹn ngã thức, và để đồng hoá với phương diện Thượng đế, chứ không phải với phương diện vật chất. Chính trong đây có lý do huyền bí vì sao con người được gọi bằng tên cha mình chứ không phải tên mẹ mình. Khi con người đã chế ngự các tinh chất hành khí của cõi hồng trần, kế đó y kiểm soát các tinh chất của cõi cảm dục và chế ngự các tinh chất trí tuệ. Khi đã đạt được điều này[Page 625] trong chính bản chất của mình, khi ấy y mới có thể an toàn trở thành một nhà huyền thuật và tiếp xúc, kiểm soát và làm việc với các thiên thần liên hệ đến các Thiên Cơ của Đấng Thiên Nhân. Trong sự chứng nghiệm ba loại mãnh lực này, con người sẽ tìm thấy chìa khóa mở ra huyền nhiệm của các trung tâm của mình.

The secret of the note of the head, the heart, and the throat centre is found here and their blending with the lower centres so that the note of the higher sounds out, and the lower produces only harmony. Upon the note of nature the Logos has to superimpose a higher note. To the natural note of the centre (which is found through the development of the lower centre, which is its reflection or correspondence) must be added the dominant note of the higher centre, and, in the dual harmony the centre vibrates as desired. The note is the result of correct activity. That is why the lower centres of man are (in the early stages of his career) the controlling factor. He has to learn their note, and from it to attain the key of the higher. Then the higher takes the prominent place, and the lower only serves the purpose of providing that which is understood as occult “depth.” Why is this? Because in these notes those groups of devas who are the force and energy of the centres (which are centres in substance) are contacted and controlled. Through their activity, directed through the centres, the material sheaths—physical, astral and mental—are built.

Bí mật của âm điệu của trung tâm đầu, tim và cổ họng được tìm thấy ở đây cùng với sự hòa trộn của chúng với các trung tâm thấp để âm điệu của trung tâm cao vang lên, còn trung tâm thấp chỉ tạo ra hòa âm. Trên âm điệu của bản chất, Thượng đế phải chồng lên một âm điệu cao hơn. Vào âm điệu tự nhiên của trung tâm (được tìm thấy qua sự phát triển của trung tâm thấp, là phản chiếu hay tương ứng của nó) phải được thêm vào âm điệu chủ đạo của trung tâm cao, và trong sự hòa âm nhị nguyên ấy trung tâm rung động như mong muốn. Âm điệu là kết quả của hoạt động đúng đắn. Đó là lý do vì sao các trung tâm thấp của con người là (trong các giai đoạn đầu của cuộc đời y) yếu tố kiểm soát. Y phải học âm điệu của chúng, và từ đó đạt đến khóa của trung tâm cao. Khi ấy trung tâm cao chiếm vị trí nổi bật, và trung tâm thấp chỉ phục vụ mục đích cung cấp cái được hiểu trong huyền bí học là “chiều sâu.” Vì sao vậy? Bởi vì trong các âm điệu này, những nhóm thiên thần là mãnh lực và năng lượng của các trung tâm (vốn là các trung tâm trong chất liệu) được tiếp xúc và kiểm soát. Qua hoạt động của họ, được định hướng qua các trung tâm, các vỏ bọc vật chất—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—được xây dựng.

These ideas of force and the sheaths are the basis of the astrological teaching that is one of the keys to the Secret Doctrine.(203) We should therefore bear in mind that [Page 626] the Deva Lords, Agni, Varuna, Kshiti, (204) represent in the exoteric teaching the substance aspect of the dense body of the Logos whilst the force aspect as flowing through the etheric body of the Logos is considered under various names, such as Shiva, Surya, Brahma. Yet the two aspects are but one.

Những ý tưởng này về mãnh lực và các vỏ bọc là nền tảng của giáo huấn chiêm tinh học, vốn là một trong những chìa khóa của Giáo Lý Bí Nhiệm.(203) Do đó, chúng ta nên ghi nhớ rằng [Page 626] các Chúa Tể Thiên thần, Agni, Varuna, Kshiti, (204) trong giáo huấn ngoại môn tượng trưng cho phương diện chất liệu của thể đậm đặc của Thượng đế trong khi phương diện mãnh lực khi chảy qua thể dĩ thái của Thượng đế được xét dưới nhiều danh xưng khác nhau, như Shiva, Surya, Brahma. Tuy nhiên, hai phương diện ấy chỉ là một.

(203) The Astrological Key is referred to in the S. D., Vol. II, 26. (back)

(203) Chìa khóa Chiêm tinh được nhắc đến trong S. D., Quyển II, 26. (back)

(204) Agni, the God of Fire in the Veda; the oldest and the most revered of the Gods in India. He is the triple aspect of Fire and therefore the sum total of manifestation. He is regarded also as the Lord of the mental plane (the 5th plane) whose symbol is Fire.

(204) Agni, Thượng đế của Lửa trong Veda; cổ xưa nhất và được tôn kính nhất trong các Thượng đế ở Ấn Độ. Ngài là phương diện tam phân của Lửa và do đó là tổng thể của biểu lộ. Ngài cũng được xem là Chúa Tể của cõi trí (cõi thứ 5) mà biểu tượng là Lửa.

Varuna, the God of Water, in the sense of the waters of space, or the waters of matter. He is regarded also as the Ruler of the astral plane (the 6th plane) whose symbol is water.

Varuna, Thượng đế của Nước, theo nghĩa là các nước của không gian, hay các nước của vật chất. Ngài cũng được xem là chủ tinh của cõi cảm dục (cõi thứ 6) mà biểu tượng là nước.

Kshiti, the God of the Earth in the sense of dense substance, and not a planetary body; he is the God of the physical plane, the seventh plane. (back)

Kshiti, Thượng đế của Đất theo nghĩa là chất liệu đậm đặc, chứ không phải một thiên thể hành tinh; ông là Thượng đế của cõi hồng trần, cõi thứ bảy. (back)

The Third Statement. The final point I seek to make here is that in connection with these three lower planes and their many groups of devas it must be remembered that their polar opposites are to be found in the great devas of the highest three planes.

Phát biểu thứ ba. Điểm cuối cùng tôi muốn nêu ra ở đây là rằng liên hệ đến ba cõi thấp này và nhiều nhóm thiên thần của chúng, cần nhớ rằng các cực đối lập của chúng được tìm thấy trong các đại thiên thần của ba cõi cao nhất.

Divine

1st Cosmic ether

Primordial Fire

Mental Plane

Fire.

Monadic

2nd Cosmic ether

Akasha

AstralPlane

Astral light.

Spiritual or Atmic

3rd Cosmic ether

Aether

Physical Plane

Ether

The particular type of differentiated force which they embody, when brought into union with each other is that which causes concretion, or the appearance, in space and time, of the dense physical body. This should be carefully considered, along with the very interesting fact that on the fourth plane of our system (the fourth cosmic ether, or buddhic plane) we have the sphere of certain occult happenings which cannot be more than hinted at, because their true significance is one of the secrets of initiation. They are an aspect of the plan of the Logos which can be contacted direct by those who have expanded their consciousness adequately.

Loại mãnh lực biến phân đặc biệt mà họ hiện thân, khi được đưa vào hợp nhất với nhau, chính là cái gây ra sự kết tụ, hay sự xuất hiện, trong không gian và thời gian, của thể xác hồng trần đậm đặc. Điều này cần được suy xét cẩn thận, cùng với sự kiện rất thú vị rằng trên cõi thứ tư của hệ thống chúng ta (dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay cõi Bồ đề) chúng ta có khối cầu của một số biến cố huyền bí nào đó mà không thể nói hơn là gợi ý, vì ý nghĩa chân thực của chúng là một trong những bí mật của điểm đạo. Chúng là một phương diện của Thiên Cơ của Thượng đế mà có thể được tiếp xúc trực tiếp bởi những ai đã mở rộng tâm thức của mình một cách đầy đủ.

[Page 627] The buddhic plane, or fourth cosmic ether, is the plane whereon:

[Page 627] Cõi Bồ đề, hay dĩ thái vũ trụ thứ tư, là cõi nơi:

a. The sacred planets function.

a. Các hành tinh thiêng liêng hoạt động.

b. Man will eventually function freed from the triple lower man.

b. Con người cuối cùng sẽ hoạt động, được giải thoát khỏi phàm ngã tam phân.

c. The true meaning of the words “Divine Hermaphrodite” is there to be comprehended.

c. Ý nghĩa chân thực của các từ “Lưỡng tính thiêng liêng” được thấu hiểu tại đó.

d. It is predominantly the plane of life-force, and one of the planes of generation.

d. Đây chủ yếu là cõi của sinh lực, và là một trong các cõi của sự sinh thành.

e. Here man will for the first time understand and utilize his relationship with the devas.

e. Ở đây con người lần đầu tiên sẽ thấu hiểu và sử dụng mối liên hệ của mình với các thiên thần.

f. It will see the fruition of the combined evolutionary process of the two solar systems.

f. Nó sẽ chứng kiến kết quả viên mãn của tiến trình tiến hoá kết hợp của hai hệ mặt trời.

g. It is the plane from whence all planetary avatars emanate.

g. Đây là cõi từ đó mọi Đấng Hoá Thân hành tinh phát xuất.

h. The Heavenly Men take the first Initiation on this plane.

h. Các Đấng Thiên Nhân nhận lần điểm đạo thứ nhất trên cõi này.

i. On this plane the true inner significance of the “Sun” is apprehended.

i. Trên cõi này, thâm nghĩa nội tại chân thực của “Mặt Trời” được lĩnh hội.

More I cannot say, but careful study of that which is here given may open up much that is of significance in the study of the macrocosm and the microcosm.

Tôi không thể nói thêm nữa, nhưng việc nghiên cứu cẩn thận điều được trao ra ở đây có thể mở ra nhiều điều có thâm nghĩa trong việc nghiên cứu đại thiên địa và tiểu thiên địa.

c. The Devas and the Planes.

c. Các Thiên thần và các Cõi.

Preliminary Remarks. We have considered in broad and general terms the various types of force which animate deva substance, and its origin. Now we can study more specifically the deva entities in their various groups, having laid down the fundamentals in connection with them.

Nhận xét sơ bộ. Chúng ta đã xem xét theo những nét rộng và tổng quát các loại mãnh lực khác nhau làm sinh động chất liệu thiên thần, và nguồn gốc của nó. Giờ đây chúng ta có thể nghiên cứu chuyên biệt hơn các thực thể thiên thần trong những nhóm khác nhau của họ, sau khi đã đặt ra các nền tảng căn bản liên hệ đến họ.

In this particular section students must remember that we are not considering those builders of involutionary development which are spoken of in theosophical and occult literature as the elemental essences. We are discussing those who are on the evolutionary arc, and who are the agents of cosmic force, whilst the lesser builders are the agents specifically of solar and of lunar force. Solar force implies the various differentiations of the threefold cosmic force as it manifests within the solar [Page 628] system. Solar force can also (as far as the creative or building faculty of man is concerned) be termed planetary force, for every human being (be he Adept or ordinary man) builds and creates his thought forms—consciously or unconsciously—within the planetary spheres in the three worlds.

Trong phần đặc biệt này, đạo sinh phải nhớ rằng chúng ta không xét đến những đấng kiến tạo của sự phát triển giáng hạ tiến hoá vốn được nói đến trong văn liệu Thông Thiên Học và huyền bí học như các tinh chất hành khí. Chúng ta đang bàn đến những vị ở trên cung tiến hoá, và là các tác nhân của mãnh lực vũ trụ, trong khi các vị tiểu kiến tạo là các tác nhân đặc biệt của mãnh lực thái dương và thái âm. Mãnh lực thái dương hàm ý các sự biến phân khác nhau của mãnh lực vũ trụ tam phân khi nó biểu lộ trong hệ mặt trời. Mãnh lực thái dương cũng có thể (xét theo khả năng sáng tạo hay kiến tạo của con người) được gọi là mãnh lực hành tinh, vì mỗi con người (dù là chân sư hay người thường) đều xây dựng và sáng tạo các hình tư tưởng của mình—một cách hữu thức hay vô thức—trong các khối cầu hành tinh ở ba cõi giới.[Page 628]

We shall now come to a considerable amount of tabulation, for all that it is wise and possible to give at this time are certain facts, names and outlines which can only be demonstrated through the law of correspondence. The key to comprehension is always this law. The basic differentiation in the solar system is as follows:

Giờ đây chúng ta sẽ đi vào một lượng đáng kể các bảng biểu, vì tất cả những gì khôn ngoan và có thể trao ra vào lúc này chỉ là một số sự kiện, danh xưng và đại cương mà chỉ có thể được chứng minh qua định luật tương ứng. Chìa khóa của sự thấu hiểu luôn luôn là định luật này. Sự biến phân căn bản trong hệ mặt trời như sau:

Agni

Electric fire

Spirit

Central Spiritual Sun

Energy

Surya

Solar fire

Vishnu

Heart of the Sun

Light

Brahma

Fire by friction

Physical visible Sun

Fohat

As electric fire the Logos manifests as the seven aspects of Will, spiritual impulse or purpose.

Như Lửa Điện, Thượng đế biểu lộ như bảy phương diện của Ý chí, xung lực tinh thần hay mục đích.

As solar fire He manifests as the seven Rays, or as the Light of Wisdom, the Consciousness, radiating through the form.

Như Lửa Thái dương, Ngài biểu lộ như bảy cung, hay như Ánh sáng của Minh triết, Tâm thức, đang bức xạ qua hình tướng.

As fire by friction He manifests as the seven Sons of Fohat, the seven great fires, or the active heat of intelligent substance.

Như Lửa ma sát, Ngài biểu lộ như bảy Con của Fohat, bảy ngọn lửa lớn, hay nhiệt hoạt động của chất liệu thông tuệ.

These three aspects of the God of Fire, and of the fire of God, are the three Entities of the logoic Trinity, and each in turn manifests through seven other Entities Who form their total manifestation.

Ba phương diện này của Thượng đế của Lửa, và của lửa của Thượng đế, là ba Thực Thể của Tam Vị Thượng đế, và mỗi vị lần lượt biểu lộ qua bảy Thực Thể khác tạo thành tổng thể biểu lộ của các vị ấy.

Sevenfold electric fire. The seven types of spiritual existences, or the seven Spirits before the Throne in Their essential essence; the dynamic force or will lying back of all manifestation. They form on their own plane in a peculiar sense the logoic “Jewel in the Lotus,” and [Page 629] hence are inconceivable to our intelligence in this solar system, as They are not revealed until the “Son be made perfect,” or the logoic consciousness is fully awakened. They are esoterically the “Spirits of Darkness.”

Lửa Điện thất phân. Bảy loại hiện hữu tinh thần, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai trong tinh chất cốt yếu của Các Ngài; mãnh lực động hay ý chí nằm phía sau mọi biểu lộ. Các Ngài tạo thành trên cõi của mình, theo một ý nghĩa đặc biệt, “Ngọc trong Hoa Sen” của Thượng đế, và [Page 629] do đó không thể được trí tuệ của chúng ta trong hệ mặt trời này quan niệm nổi, vì Các Ngài không được mặc khải cho đến khi “Người Con được làm cho hoàn hảo,” hay tâm thức của Thượng đế được thức tỉnh trọn vẹn. Một cách huyền bí, Các Ngài là “Các Thánh Linh của Bóng Tối.”

Sevenfold solar fire. The seven Heavenly Men, the sumtotal of Light, the seven Rays of manifestation of the Spiritual Sun. In time and space these seven Rays of Light become the nine (the major three, with the third demonstrating as seven) and are thus esoterically the nine petals of the logoic Ego as He manifests in His physical vehicle. They are esoterically the “Sons of Light.”

Lửa Thái dương thất phân. Bảy Đấng Thiên Nhân, tổng thể của Ánh sáng, bảy cung biểu lộ của Mặt Trời Tinh thần. Trong thời gian và không gian, bảy Cung Ánh sáng này trở thành chín (ba cung chính, với cung thứ ba biểu lộ thành bảy) và do đó một cách huyền bí là chín cánh hoa của chân ngã Thượng đế khi Ngài biểu lộ trong vận cụ hồng trần của Ngài. Một cách huyền bí, các vị ấy là “Các Con của Ánh sáng.”

Sevenfold fire by friction. The seven brothers of Fohat. The seven manifestations of electricity, or of electrical phenomena. These are the seven Raja-Lords or Devas of the seven planes; they are the seven Fires, or those seven states of activity through which consciousness is expressing itself. They are the vehicles of consciousness and the seven vibrations. They are esoterically the “Brothers of energy.”

Lửa ma sát thất phân. Bảy huynh đệ của Fohat. Bảy biểu lộ của điện, hay của các hiện tượng điện. Đây là bảy Raja-Lords hay các thiên thần của bảy cõi; họ là bảy Ngọn Lửa, hay bảy trạng thái hoạt động qua đó tâm thức đang biểu lộ chính nó. Họ là các vận cụ của tâm thức và là bảy rung động. Một cách huyền bí, họ là “Các Huynh Đệ của năng lượng.”

Therefore it will be apparent that the sumtotal of logoic manifestation as it can be seen in existence in time and space is:

Do đó, sẽ rõ ràng rằng tổng thể biểu lộ của Thượng đế như có thể được thấy đang hiện hữu trong thời gian và không gian là:

Seven Spirits

sevenfold will.

Seven Rays

sevenfold quality or psyche.

Seven Deva Lords

sevenfold form.

The latter are literally the seven spirillae, or force vibrations within the logoic physical permanent atom. This needs to be carefully borne in mind and pondered upon. The seven Rays are the sumtotal of the psychic nature of the Logos, as it radiates through His physical form—His seven qualities, the aggregate of the expression of His desire, or love nature. The seven Spirits are the sumtotal of His Will-to-be aspect, the synthetic Life of His total manifestation, that which causes the persistence [Page 630] of the form, and its evolution for as long as the logoic Ego seeks physical existence.

Những vị sau theo nghĩa đen là bảy loa tuyến, hay các rung động mãnh lực bên trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận và suy ngẫm. Bảy cung là tổng thể bản chất thông linh của Thượng đế, khi nó bức xạ qua hình tướng hồng trần của Ngài—bảy phẩm tính của Ngài, tổng hợp của sự biểu lộ dục vọng, hay bản chất bác ái của Ngài. Bảy Thánh Linh là tổng thể phương diện Ý chí-hướng-tồn-tại của Ngài, Sự sống tổng hợp của toàn bộ biểu lộ của Ngài, cái gây ra sự bền vững [Page 630] của hình tướng, và sự tiến hoá của nó chừng nào chân ngã Thượng đế còn tìm kiếm sự hiện hữu hồng trần.

To carry the simile, or analogy, even further back and thus bear in mind the resemblance between microcosmic and macrocosmic development we have:

Để tiếp tục phép so sánh, hay phép loại suy, lùi xa hơn nữa và nhờ đó ghi nhớ sự tương tự giữa sự phát triển của tiểu thiên địa và đại thiên địa, chúng ta có:

1. The seven Spirits who find Their originating incentive on:

1. Bảy Thánh Linh tìm thấy động lực khởi nguyên của Các Ngài trên:

a. The cosmic lower mental levels.

a. Các cấp độ hạ trí vũ trụ.

b. The logoic “Jewel in the Lotus.”

b. “Ngọc trong Hoa Sen” của Thượng đế.

c. The cosmic atmic plane.

c. Cõi atma vũ trụ.

2. The seven Heavenly Men are in the line of force from:

2. Bảy Đấng Thiên Nhân nằm trên tuyến mãnh lực từ:

a. The cosmic astral plane.

a. Cõi cảm dục vũ trụ.

b. The logoic nine-petalled lotus.

b. Hoa sen chín cánh của Thượng đế.

c. The cosmic buddhic plane (the seven Rishis of the Great Bear).

c. Cõi Bồ đề vũ trụ (bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh).

3. The seven Sons of Fohat find their vital force emanating from:

3. Bảy Con của Fohat tìm thấy mãnh lực sinh động của mình phát ra từ:

a. The cosmic physical plane.

a. Cõi hồng trần vũ trụ.

b. The logoic permanent atoms (within the causal body).

b. Các nguyên tử trường tồn của Thượng đế (bên trong thể nguyên nhân).

c. The cosmic higher mental levels.

c. Các cấp độ thượng trí vũ trụ.

Yet these three are but the expressions of One Existence, for behind the Logos in physical incarnation is to be found the logoic Monad, expressing Itself through the logoic Ego, and its reflection, the logoic Personality.

Tuy nhiên, ba điều này chỉ là những biểu hiện của Một Hiện Hữu, vì đằng sau Thượng đế đang lâm phàm trong thể xác là chân thần của Thượng đế, tự biểu lộ qua chân ngã của Thượng đế, và sự phản chiếu của nó là phàm ngã của Thượng đế.

All these spiritual Essences are individualised self-conscious Identities, and the “Fiery Lives” are real, and conscious, vital Existences. Thus we see the Logos manifesting as One Unity yet Three in One; we see the threefold Unity differentiating into the seven great Lives, containing within Themselves all lesser lives.

Tất cả các Tinh Chất tinh thần này đều là những Bản Sắc hữu thức đã được biệt ngã hóa, và các “Sự Sống Rực Lửa” là những Hiện Hữu sống động, hữu thức, đầy sinh lực có thực. Vì vậy chúng ta thấy Thượng đế biểu lộ như Một Hợp Nhất nhưng Ba trong Một; chúng ta thấy Hợp Nhất tam phân phân hóa thành bảy Sự sống vĩ đại, chứa trong Chính Các Ngài mọi sự sống nhỏ hơn.

Another broad differentiation must next be touched upon: [Page 631]

Tiếp theo cần đề cập đến một sự phân biệt rộng lớn khác: [Page 631]

a. The seven Fires form the forty-nine Fires.

a. Bảy Lửa tạo thành bốn mươi chín Lửa.

b. The seven Heavenly Men manifest through forty-nine lesser Rays.

b. Bảy Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua bốn mươi chín cung nhỏ hơn.

c. The seven Spirits shew forth as forty-nine Existences.

c. Bảy Thánh Linh hiển lộ thành bốn mươi chín Hiện Hữu.

In connection with the Spirit aspect it will prove unprofitable to carry the thought any further. Of Spirit per se we can know nothing, and beyond predicating the forty-nine (205) solar Manus (each of the Heavenly Men is expressing Himself on the physical plane through seven Manus) it is impossible to go.

Liên quan đến phương diện tinh thần, sẽ không ích lợi gì nếu đẩy tư tưởng đi xa hơn nữa. Về chính tinh thần, chúng ta không thể biết gì cả, và ngoài việc khẳng định bốn mươi chín (205) Đức Manu thái dương (mỗi Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ Chính Ngài trên cõi hồng trần qua bảy Đức Manu) thì không thể đi xa hơn.

(205) The forty nine Manus. They are the patrons or guardians of the race cycles in a manvantara, or Day of Brahma. There are seven races in a world period, and there are seven world periods. (back)

(205) Bốn mươi chín Đức Manu. Các Ngài là những vị bảo trợ hay hộ trì cho các chu kỳ nhân loại trong một giai kỳ sinh hóa, hay một Ngày của Brahma. Có bảy nhân loại trong một thời kỳ thế giới, và có bảy thời kỳ thế giới. (back)

Therefore, in discussing these abstract questions, we will concern ourselves only with the seven Rays of Light, or Heavenly Men, and the seven Fires.

Do đó, khi bàn về những vấn đề trừu tượng này, chúng ta sẽ chỉ quan tâm đến bảy Cung Ánh Sáng, hay bảy Đấng Thiên Nhân, và bảy Lửa.

Each of the seven Rays of Light differentiates into seven making the forty-nine aspects of the logoic psychic nature, as it shews itself on the cosmic physical plane, and each of the seven Fires manifests as seven lesser Fires, making the forty-nine Fires referred to by H. P. B. in the Secret Doctrine. (S. D., I, 567.) The seven Heavenly Men manifest each through seven lesser Entities, Who form the psychic centres in Their body in the same manner as They—in Their turn—form the psychic centres in the logoic vahan or vehicle. Each of the seven Fires, or Deva Lords, of a plane manifest through seven lesser devas, who form the central fire, and consciousness of the substance of a subplane. It is with their mutual interplay and work that we are now concerned, or with the study of matter as it is affected and built into form through the medium of Divine Thought or Will.

Mỗi một trong bảy Cung Ánh Sáng phân hóa thành bảy, tạo nên bốn mươi chín phương diện của bản chất thông linh của Thượng đế, như nó hiển lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, và mỗi một trong bảy Lửa biểu lộ thành bảy Lửa nhỏ hơn, tạo nên bốn mươi chín Lửa được H. P. B. nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (S. D., I, 567.) Bảy Đấng Thiên Nhân mỗi vị biểu lộ qua bảy Thực Thể nhỏ hơn, các Đấng này tạo thành những trung tâm thông linh trong thể của Các Ngài cũng theo cùng cách mà Chính Các Ngài—đến lượt mình—tạo thành những trung tâm thông linh trong vahan hay vận cụ của Thượng đế. Mỗi một trong bảy Lửa, hay các Chúa Tể thiên thần, của một cõi biểu lộ qua bảy thiên thần nhỏ hơn, những vị này tạo thành lửa trung tâm, và tâm thức của chất liệu của một cõi phụ. Điều hiện nay chúng ta quan tâm là sự tương tác và công việc hỗ tương của họ, hay là việc nghiên cứu vật chất khi nó bị tác động và được xây dựng thành hình tướng qua trung gian của Tư Tưởng hay Ý Chí thiêng liêng.

Of the higher Fires (the Lords of the four higher planes) I do not seek to deal, for it only profits us to [Page 632] study the construction of thought-forms in the three worlds through the medium of deva essences; these are vitalised and manipulated by the Builders, the Dhyan Chohans, the Heavenly Men through the force of Their Life, through Their knowledge of the logoic Will or purpose, and through the power of Their psychic nature. Thus They are occupied in building the logoic physical body, and in carrying out His plans in that body, in this way fulfilling the purpose for which He incarnated. Their work is infinitely greater than this, for it lies primarily on cosmic levels, but this is what concerns us, and all that we can, in any way grasp. Man in the three worlds of human endeavour works at two things:

Tôi không tìm cách bàn đến các Lửa cao hơn (các Đấng Chúa Tể của bốn cõi cao), vì điều ích lợi cho chúng ta chỉ là [Page 632] nghiên cứu việc kiến tạo các hình tư tưởng trong ba cõi giới qua trung gian của các tinh chất thiên thần; chúng được các Đấng Kiến Tạo, các Dhyan Chohan, các Đấng Thiên Nhân tiếp sinh lực và điều khiển bằng mãnh lực Sự sống của Các Ngài, bằng tri thức của Các Ngài về Ý Chí hay mục đích của Thượng đế, và bằng quyền năng của bản chất thông linh của Các Ngài. Vì vậy Các Ngài bận rộn xây dựng thể xác hồng trần của Thượng đế, và thực hiện các kế hoạch của Ngài trong thể đó, nhờ đó hoàn thành mục đích mà Ngài đã lâm phàm. Công việc của Các Ngài còn lớn lao hơn vô hạn điều này, vì nó chủ yếu nằm trên các cấp độ vũ trụ, nhưng đây là điều liên quan đến chúng ta, và là tất cả những gì chúng ta có thể nắm bắt được phần nào. Con người trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại làm hai việc:

First. The building of his body of manifestation, a threefold body.

Thứ nhất. Xây dựng thể biểu lộ của y, một thể tam phân.

Second. The construction of thought-forms, which he builds of mental matter and vitalises by desire, and which he holds within his aura, thus constructing a tiny system of his own.

Thứ hai. Kiến tạo các hình tư tưởng, mà y xây dựng bằng chất liệu trí tuệ và tiếp sinh lực bằng dục vọng, rồi giữ chúng trong hào quang của y, nhờ đó kiến tạo một hệ thống nhỏ bé của riêng mình.

Both man, and the Heavenly Men, work in deva substance; both co-operate with the devas; both manifest will, psychic quality and intelligent activity as they pursue their work but a difference lies, not only in degree, but in consciousness. Man works usually unconsciously. The Heavenly Men, on cosmic levels, work for the most part consciously. Herein lies a hint as to the stage of evolution of our Logos.

Cả con người lẫn các Đấng Thiên Nhân đều làm việc trong chất liệu thiên thần; cả hai đều hợp tác với các thiên thần; cả hai đều biểu lộ ý chí, phẩm tính thông linh và hoạt động thông tuệ khi theo đuổi công việc của mình, nhưng có một khác biệt không chỉ về mức độ mà còn về tâm thức. Con người thường làm việc một cách vô thức. Các Đấng Thiên Nhân, trên các cấp độ vũ trụ, phần lớn làm việc một cách hữu thức. Chính trong đây có một gợi ý về giai đoạn tiến hoá của Thượng đế của chúng ta.

This matter is of real difficulty, for the subject is abstruse and profound. We will now leave these basic ideas, and deal more specifically with the devas with whom we are immediately concerned, or with the three groups I have outlined—the Agnichaitans, the Agnisuryans, and the Agnishvattas. They are concerned primarily with the evolution of the dense body of the Logos, the liquid, gaseous and dense subplanes of the [Page 633] cosmic physical, or the three worlds of human endeavour; with the magnetic radiation of the Logos through His physical vehicle, and with the radiatory emanations of the particular Heavenly Man Who is expressing Himself through our planet. Finally they are concerned with the evolution of consciousness (207) in the three worlds, and particularly with the individualisation of the human unit of consciousness, and with the vitalisation of the centres in the body of the Heavenly Man with Whom we are peculiarly connected.

Vấn đề này thực sự khó khăn, vì chủ đề thì trừu tượng và sâu xa. Giờ đây chúng ta sẽ rời những ý tưởng căn bản này, và bàn cụ thể hơn về các thiên thần mà chúng ta trực tiếp quan tâm, hay ba nhóm mà tôi đã phác họa—các Agnichaitan, các Agnisuryan, và các Agnishvatta. Họ chủ yếu liên quan đến sự tiến hoá của thể đậm đặc của Thượng đế, các cõi phụ lỏng, khí và đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ, hay ba cõi giới của nỗ lực nhân loại; đến bức xạ từ tính của Thượng đế qua vận cụ hồng trần của Ngài, và đến các phát xạ bức xạ của Đấng Thiên Nhân đặc biệt đang biểu lộ Chính Ngài qua hành tinh của chúng ta. Sau cùng họ liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức (207) trong ba cõi giới, và đặc biệt là với sự biệt ngã hóa của đơn vị tâm thức nhân loại, và với việc tiếp sinh lực cho các trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân mà chúng ta có liên hệ đặc biệt.

(207) The Lunar Angels have to reach the plane of the Solar Angels.—S. D., I, 203.

(207) Các Thiên Thần Thái Âm phải đạt đến cõi của các Thái dương Thiên Thần.—S. D., I, 203.

They have to win immortality.—S. D., III, 518, 519.

Họ phải giành được sự bất tử.—S. D., III, 518, 519.

Self-consciousness is their goal.—S. D., I, 205; II, 622. (back)

Ngã thức là mục tiêu của họ.—S. D., I, 205; II, 622. (back)

The subject of our consideration now is the fire devas of the physical plane, those great building devas who are working out the purposes of the Logos in his dense, physical body. Let us get our ideas as clear as possible on this matter; in the following tabulation, the status of these devas will be apparent at a glance:

Chủ đề chúng ta đang xem xét bây giờ là các thiên thần lửa của cõi hồng trần, những thiên thần kiến tạo vĩ đại đang thực hiện các mục đích của Thượng đế trong thể xác hồng trần đậm đặc của ngài. Chúng ta hãy làm cho các ý tưởng của mình rõ ràng nhất có thể về vấn đề này; trong bảng liệt kê sau đây, địa vị của các thiên thần này sẽ hiện rõ chỉ trong một cái nhìn:

Systemic

Hệ thống

Name

Cosmic Plane

Plane

Nature

Ruler

Agnichaitan

7th subplane - cosmic physical

Physical

Densest concretion

Kshiti

Agnisuryan

6th subplane - cosmic physical

Astral

Liquid

Varuna

Agnishvatta

5th subplane - cosmic physical

Mental

Gaseous

Agni

The Agnichaitans. These are the devas who construct, and build in matter of the densest kind in connection with logoic manifestation. They function on the seventh subplane of the cosmic physical plane, and are the producers of the greatest concretion. In the planetary body of our planetary Logos they are the builders of the Earth, His densest form, and throughout the entire solar system they are the sum-total of that activity and vibration [Page 634] which demonstrates through what we call “solid substance.”

Các Agnichaitan. Đây là những thiên thần kiến tạo và xây dựng trong loại vật chất đậm đặc nhất liên quan đến sự biểu lộ của Thượng đế. Họ hoạt động trên cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ, và là những tác nhân tạo ra sự kết tụ lớn nhất. Trong thể hành tinh của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, họ là những đấng kiến tạo Trái Đất, hình tướng đậm đặc nhất của Ngài, và trong toàn thể hệ mặt trời họ là tổng thể của hoạt động và rung động [Page 634] biểu lộ qua điều mà chúng ta gọi là “chất liệu rắn.”

Therefore, it will be apparent that under the law they will have a peculiarly powerful effect on the lowest subplane of the systemic physical plane; hence their esoteric appellation of the “Agnichaitans of the inner or central heat.” They are the totality of the lowest vibration in the cosmic physical vehicle.

Do đó, hiển nhiên là dưới định luật, họ sẽ có một tác động đặc biệt mạnh mẽ trên cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống; vì thế mới có danh xưng huyền bí của họ là “các Agnichaitan của nhiệt bên trong hay trung tâm.” Họ là tổng thể của rung động thấp nhất trong vận cụ hồng trần vũ trụ.

The Agnisuryans are the builders on the sixth subplane of the cosmic physical plane, our systemic astral plane. They represent, as I have before hinted, the sympathetic nervous system in the logoic physical body, just as their brothers of the seventh vibration represent the sumtotal of the circulatory or blood system. A hint to the student who is interested in the physiological key lies in the relationship between the two great groups of devas who build and construct the most objective portion of logoic manifestation, and the two groups of corpuscles which in their mutual interaction hold the body in health; there is an analogy also in the relationship between the devas of the astral plane, and the motor and sensory nerves of the physical body. I will not enlarge upon this angle of vision.

Các Agnisuryan là những đấng kiến tạo trên cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, tức cõi cảm dục hệ thống của chúng ta. Như tôi đã gợi ý trước đây, họ tượng trưng cho hệ thần kinh giao cảm trong thể xác hồng trần của Thượng đế, cũng như các huynh đệ của họ thuộc rung động thứ bảy tượng trưng cho tổng thể của hệ tuần hoàn hay hệ máu. Một gợi ý cho đạo sinh quan tâm đến chìa khóa sinh lý học nằm trong mối liên hệ giữa hai nhóm thiên thần lớn kiến tạo và xây dựng phần khách quan nhất của sự biểu lộ của Thượng đế, và hai nhóm huyết cầu mà trong sự tương tác hỗ tương của chúng giữ cho cơ thể được khỏe mạnh; cũng có một sự tương tự trong mối liên hệ giữa các thiên thần của cõi cảm dục và các dây thần kinh vận động cùng cảm giác của thể xác. Tôi sẽ không khai triển thêm góc nhìn này.

These devas have to do, in a very esoteric sense, with the nerve plexus in the:

Các thiên thần này, theo một ý nghĩa rất huyền bí, có liên quan đến các đám rối thần kinh trong:

a. Solar system. (Physical Sun)

a. Hệ mặt trời. (Mặt Trời hồng trần)

b. Planetary scheme. (Dense Planet)

b. Hệ hành tinh. (Hành tinh đậm đặc)

c. Human physical body. (Dense Body)

c. Thể xác hồng trần của con người. (Thể đậm đặc)

and are therefore a powerful factor in the eventual vitalisation of the centres in man. The etheric centres, or the focal points of force of a Heavenly Man are on the fourth cosmic ether, the buddhic plane. The astral plane is closely allied to the buddhic, and as the etheric centres of our Heavenly Man, for instance, come into full activity, the force is transmitted through the astral correspondence [Page 635] to the fourth physical ether, in which the centres of man exist.

và vì vậy là một yếu tố mạnh mẽ trong việc tiếp sinh lực sau cùng cho các trung tâm trong con người. Các trung tâm dĩ thái, hay các tiêu điểm mãnh lực của một Đấng Thiên Nhân, nằm trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề. Cõi cảm dục liên hệ chặt chẽ với cõi Bồ đề, và chẳng hạn khi các trung tâm dĩ thái của Đấng Thiên Nhân của chúng ta đi vào hoạt động đầy đủ, mãnh lực được truyền qua sự tương ứng cảm dục [Page 635] đến dĩ thái hồng trần thứ tư, nơi các trung tâm của con người hiện hữu.

The Agnishvattas are the builders on the fifth or gaseous subplane of the cosmic physical, and—from the human standpoint—are the most profoundly important, for they are the builders of the body of consciousness per se. From the psychic standpoint of occult physiology, they have a close connection with the physical brain, the seat or empire of the Thinker, and as at this stage all that we can know must be viewed kama-manasically, it will be apparent that between the sympathetic nervous system and the brain is such a close interaction as to make one organised whole. This microcosmic correspondence is of interest, but in studying these groups of devas at present we will view them principally in their work as systemic and planetary builders, leaving the student to trace out for himself the human analogy. He will learn thereby. Having indicated certain lines of thought, we will now take up these groups one at a time and consider them.

Các Agnishvatta là những đấng kiến tạo trên cõi phụ thứ năm hay cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ, và—xét từ quan điểm con người—là quan trọng sâu xa nhất, vì họ là những đấng kiến tạo của thể tâm thức chính nó. Từ quan điểm thông linh của sinh lý học huyền bí, họ có liên hệ mật thiết với bộ não hồng trần, chỗ ngự hay đế quốc của Đấng Tư Tưởng, và vì ở giai đoạn này mọi điều chúng ta có thể biết đều phải được nhìn theo cách trí-cảm, nên hiển nhiên là giữa hệ thần kinh giao cảm và bộ não có một sự tương tác mật thiết đến mức tạo thành một toàn thể có tổ chức. Sự tương ứng vi mô này thật đáng quan tâm, nhưng khi nghiên cứu các nhóm thiên thần này hiện nay chúng ta sẽ chủ yếu xem xét họ trong công việc của họ như những đấng kiến tạo hệ thống và hành tinh, để đạo sinh tự mình truy ra sự tương tự nơi con người. Nhờ đó y sẽ học được. Sau khi đã chỉ ra một số tuyến tư tưởng, giờ đây chúng ta sẽ lần lượt xét từng nhóm này và khảo sát họ.

S6S7

The Agnichaitans—Physical Plane Devas.

Các Agnichaitan—Thiên thần cõi hồng trần.

These devas are the sumtotal of physical plane substance. This plane is, as we know, divided into two parts:

Các thiên thần này là tổng thể của chất liệu cõi hồng trần. Cõi này, như chúng ta biết, được chia thành hai phần:

The four ethers, four subplanes.

Bốn dĩ thái, bốn cõi phụ.

The demonstrably concrete or dense three subplanes.

Ba cõi phụ cụ thể hay đậm đặc có thể chứng minh được.

We have here a subdivision of the seventh subplane of the cosmic physical plane making the lowest manifestation one that is divided into forty-nine subplanes or states of activity. For purposes of active work, the devas of the system are divided into forty-nine groups—the forty-nine fires. The Agnichaitans in turn are also divided into forty-nine groups, thus reflecting the whole. [Page 636]

Ở đây chúng ta có một sự phân chia của cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ, khiến cho biểu lộ thấp nhất trở thành một biểu lộ được chia thành bốn mươi chín cõi phụ hay trạng thái hoạt động. Vì mục đích công việc tích cực, các thiên thần của hệ thống được chia thành bốn mươi chín nhóm—bốn mươi chín lửa. Đến lượt mình, các Agnichaitan cũng được chia thành bốn mươi chín nhóm, nhờ đó phản chiếu toàn thể. [Page 636]

1. The Raja-Lord. Kshiti. The life of the physical plane.

1. Raja-Lord. Kshiti. Sự sống của cõi hồng trần.

2. Three groups of Agnichaitans concerned with:

2. Ba nhóm Agnichaitan liên quan đến:

A. The force or energy of physical substance. That electrical aspect which produces activity.

A. Mãnh lực hay năng lượng của chất liệu hồng trần. Phương diện điện tạo ra hoạt động đó.

B. The construction of forms. They produce the union of negative and positive substance, and thus bring into being all that can be seen, and touched in the exoteric and ordinary connotation.

B. Việc kiến tạo các hình tướng. Họ tạo ra sự kết hợp của chất liệu âm và dương, và nhờ đó làm phát sinh mọi điều có thể được nhìn thấy và chạm đến theo nghĩa ngoại môn và thông thường.

C. The internal heat of substance which nourishes and causes reproduction. They form the purely mother aspect.

C. Nhiệt bên trong của chất liệu, thứ nuôi dưỡng và gây ra sự sinh sản. Họ tạo thành phương diện mẫu thân thuần túy.

These three groups are subdivided again into seven groups which form the matter of each subplane, viewing that matter as the body of manifestation of one of the seven devas through whom the Raja-Lord of the plane is manifesting.

Ba nhóm này lại được chia nhỏ thành bảy nhóm, tạo thành vật chất của mỗi cõi phụ, nếu xem vật chất đó như thể biểu lộ của một trong bảy thiên thần mà qua đó Raja-Lord của cõi đang biểu lộ.

These seven groups are again divided into seven, making forty-nine.

Bảy nhóm này lại được chia thành bảy, thành ra bốn mươi chín.

The three groups function as follows:

Ba nhóm hoạt động như sau:

Group A. on the first subplane. They are the sumtotal of the atomic matter of the physical plane.

Nhóm A. trên cõi phụ thứ nhất. Họ là tổng thể của vật chất nguyên tử của cõi hồng trần.

Group B. on the second, third and fourth etheric subplanes. They are the substance of those planes, the transmitters of prana, through which prana flows to the most concrete aspects of the logoic dense vahan, or vehicle.

Nhóm B. trên các cõi phụ dĩ thái thứ hai, thứ ba và thứ tư. Họ là chất liệu của các cõi đó, là những tác nhân truyền prana, qua đó prana chảy đến các phương diện cụ thể nhất của vahan hay vận cụ đậm đặc của Thượng đế.

Group C. the lowest three subplanes; they are the devas who are the essences of all that is tangible, visible and objective.

Nhóm C. ba cõi phụ thấp nhất; họ là những thiên thần là tinh chất của mọi điều hữu hình, khả kiến và khách quan.

A very real distinction must be made by students between the centres and the remainder of the body, as they investigate the construction of the body of the solar Logos or of a planetary Logos.

Đạo sinh phải tạo ra một sự phân biệt rất thực giữa các trung tâm và phần còn lại của thể, khi nghiên cứu việc kiến tạo thân thể của Thái dương Thượng đế hay của một Hành Tinh Thượng Đế.

[Page 637] The centres are allied or connected with consciousness, and are composed of self-conscious units—the human Monads. The remainder of the body is composed of deva substance, yet the two together form a unity. The deva units therefore far outnumber the human, and deva substance is also feminine and negative, the human Hierarchy being masculine. Through the positive activity of the centres, the negative deva substance is influenced, built and energized. This is true of a solar Logos, a planetary Logos and a human being.

[Page 637] Các trung tâm liên kết hay gắn với tâm thức, và được cấu thành bởi các đơn vị hữu thức—các Chân thần nhân loại. Phần còn lại của thể được cấu thành bởi chất liệu thiên thần, tuy nhiên cả hai cùng nhau tạo thành một hợp nhất. Vì vậy các đơn vị thiên thần đông hơn rất nhiều so với các đơn vị nhân loại, và chất liệu thiên thần cũng là nữ tính và âm, còn Huyền Giai nhân loại là nam tính. Qua hoạt động dương của các trung tâm, chất liệu thiên thần âm bị tác động, được xây dựng và được tiếp năng lượng. Điều này đúng với một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng Đế và một con người.

Three types of force, therefore, play upon or through these devas:

Vì vậy, ba loại mãnh lực tác động lên hay xuyên qua các thiên thần này:

a. That energizing the devas of the first subplane, the atomic. This emanates directly from the first aspect of Brahma, or Agni, considering Him as a self-conscious Identity, the third Person of the logoic Trinity, and therefore Spirit, Soul and Body Himself in His separated essential nature.

a. Mãnh lực tiếp năng lượng cho các thiên thần của cõi phụ thứ nhất, tức cõi nguyên tử. Mãnh lực này phát ra trực tiếp từ phương diện thứ nhất của Brahma, hay Agni, khi xem Ngài như một Bản Sắc hữu thức, Ngôi thứ ba của Tam Vị Thượng đế, và do đó chính Ngài là Tinh thần, Linh hồn và Thể trong bản chất cốt yếu biệt lập của Ngài.

b. That energizing the devas of construction, or the form building groups; this comes from the second aspect of Brahma, and is prana, issuing from the physical Sun, and working under the Law of Attraction.

b. Mãnh lực tiếp năng lượng cho các thiên thần kiến tạo, hay các nhóm xây dựng hình tướng; mãnh lực này đến từ phương diện thứ hai của Brahma, và là prana, phát ra từ Mặt Trời hồng trần, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn.

c. That energizing the devas of the lowest three orders, emanating from Brahma in His third aspect. Thus in the dual force, or the aspects of matter itself, interacting the one upon the other, densest forms of all are produced. Yet these three function as one.

c. Mãnh lực tiếp năng lượng cho các thiên thần của ba cấp thấp nhất, phát ra từ Brahma trong phương diện thứ ba của Ngài. Như vậy trong mãnh lực kép, hay các phương diện của chính vật chất, tương tác lẫn nhau, các hình tướng đậm đặc nhất được tạo ra. Tuy nhiên ba nhóm này hoạt động như một.

Group C. Agnichaitans. In considering these groups of Agnichaitans, we must remember that we are dealing with that manifestation of the Logos with which exoteric science is dealing, and that as regards Group C, science is already making fair progress in the accumulation of knowledge; it remains yet for science to [Page 638] acknowledge the “entified” nature of substance, (208, 209) and thus account for the life that energizes the substance of the three lower subplanes.

Nhóm C. Các Agnichaitan. Khi xem xét các nhóm Agnichaitan này, chúng ta phải nhớ rằng mình đang bàn đến biểu lộ của Thượng đế mà khoa học ngoại môn đang nghiên cứu, và xét về Nhóm C, khoa học đã đạt được tiến bộ khá tốt trong việc tích lũy tri thức; điều còn lại là khoa học phải [Page 638] thừa nhận bản chất “thực thể hóa” của chất liệu, (208, 209) và nhờ đó giải thích sự sống tiếp năng lượng cho chất liệu của ba cõi phụ thấp.

(208) The “entified” nature of all substance is technically known as Hylozoism. H. P. B. says: “Hylozoism, when philosophically understood, is the highest aspect of Pantheism. It is the only possible escape from idiotic Atheism based on lethal materiality, and the still more idiotic anthropomorphic conceptions of the Monotheists; between which it stands on its own entirely neutral ground. Hylozoism demands absolute Divine Thought, which would pervade the numberless active creating Forces, or “Creators,” which Entities are moved by, and have their being in, from and through that Divine Thought.... Such active “Creators” are known to exist and are believed in because perceived and sensed by the Inner Man in the Occultist.”—S. D., II, 167, 168. (back)

(208) Bản chất “thực thể hóa” của mọi chất liệu về mặt kỹ thuật được gọi là Hylozoism. H. P. B. nói: “Hylozoism, khi được hiểu theo triết học, là phương diện cao nhất của Phiếm thần luận. Đó là lối thoát khả hữu duy nhất khỏi thuyết Vô thần ngu xuẩn dựa trên tính vật chất chết chóc, và khỏi những quan niệm nhân hình còn ngu xuẩn hơn của những người Nhất thần luận; giữa hai điều đó, nó đứng trên nền tảng hoàn toàn trung lập của riêng nó. Hylozoism đòi hỏi Tư Tưởng thiêng liêng tuyệt đối, tư tưởng này sẽ thấm nhuần vô số Mãnh Lực sáng tạo tích cực, hay các “Đấng Sáng Tạo,” những Thực Thể này được vận động bởi, và có sự hiện hữu của mình trong, từ và qua Tư Tưởng thiêng liêng đó....Những “Đấng Sáng Tạo” tích cực như thế được biết là hiện hữu và được tin là có thật vì được Nội Nhân nơi nhà huyền bí học tri giác và cảm nhận.”—S. D., II, 167, 168. (back)

FOOTNOTE 9:

CHÚ THÍCH 9:

An atom is an entified abstraction.—S. D., I, 559-560.

Một nguyên tử là một trừu tượng được thể hoá.—S. D., I, 559-560.

a. The informing entity of the system is the Logos.´

a. Thực thể thấm nhuần của hệ thống là Logos.´

b. The informing entity of a plane is its raja-Lord.

b. Thực thể thấm nhuần của một cõi là vị Chúa Tể raja của nó.

Such as Indra, Agni, Varuna, Kshiti.

Chẳng hạn như Indra, Agni, Varuna, Kshiti.

c. The informing entity of a planet is its planetary Logos.

c. Thực thể thấm nhuần của một hành tinh là Hành Tinh Thượng Đế của nó.

d. The informing entity in the Microcosm is a Dhyan Chohan.

d. Thực thể thấm nhuần trong Tiểu thiên địa là một Dhyan Chohan.

e. The informing entity in the causal body is the Divine Thinker.

e. Thực thể thấm nhuần trong thể nguyên nhân là Đấng Tư Tưởng thiêng liêng.

f. The informing entity in a physical atom is an elemental life.

f. Thực thể thấm nhuần trong một nguyên tử hồng trần là một sự sống hành khí.

Fire is in all things.—S. D., I, 146; II, 258.

Lửa ở trong mọi sự vật.—S. D., I, 146; II, 258.

a. The informing entity is Fire.—S. D., I, 145, 146.

a. Thực thể thấm nhuần là Lửa.—S. D., I, 145, 146.

b. The matter of the form is permeated with fire.—S. D., I, 112.

b. Vật chất của hình tướng được lửa thấm khắp.—S. D., I, 112.

c. The developing mind is cosmic fire.—S. D., I, 114.

c. Trí tuệ đang phát triển là lửa vũ trụ.—S. D., I, 114.

This recognition by science that all forms are built of intelligent lives will come about when the science of magic begins again to come to the fore, and when the laws of being are better understood. Magic concerns itself with the manipulation of the lesser lives by a greater life; when the scientist begins to work with the consciousness that animates substance (atomic or electronic), and when he brings under his conscious control the forms built of this substance, he will gradually become cognizant of the fact that all entities of all grades and of varying constitutions go to the construction of that which is seen. This will not be until science has definitely admitted the existence of etheric matter as understood by the occultist, and until it has developed the hypothesis that this ether is in differing vibrations. When the etheric counterpart of all that exists is allocated to its rightful place, and known to be of more importance in the scale of being than the dense vehicle, being essentially the body of the [Page 639] life, or vitality, then the role of the scientist and the occultist will merge.

Sự thừa nhận này của khoa học rằng mọi hình tướng đều được xây dựng bằng những sự sống thông tuệ sẽ đến khi khoa học huyền thuật lại bắt đầu nổi lên, và khi các định luật của hiện hữu được thấu hiểu tốt hơn. Huyền thuật liên quan đến việc điều khiển các sự sống nhỏ hơn bởi một sự sống lớn hơn; khi nhà khoa học bắt đầu làm việc với tâm thức làm sinh động chất liệu (nguyên tử hay điện tử), và khi ông đặt dưới sự kiểm soát hữu thức của mình các hình tướng được xây dựng bằng chất liệu này, ông sẽ dần dần nhận biết được sự kiện rằng mọi thực thể thuộc mọi cấp bậc và có các cấu tạo khác nhau đều góp phần vào việc kiến tạo cái được nhìn thấy. Điều này sẽ chưa xảy ra cho đến khi khoa học dứt khoát thừa nhận sự hiện hữu của vật chất dĩ thái như nhà huyền bí học hiểu, và cho đến khi nó phát triển giả thuyết rằng dĩ thái này có những rung động khác nhau. Khi đối phần dĩ thái của mọi cái hiện hữu được đặt vào đúng vị trí của nó, và được biết là quan trọng hơn trong thang bậc hiện hữu so với vận cụ đậm đặc, vì về bản chất nó là thể của [Page 639] sự sống, hay sinh lực, thì vai trò của nhà khoa học và nhà huyền bí học sẽ hòa nhập.

H. P. B. has said (S.D., II. 621) that the dense physical is not a principle, and this point is frequently overlooked in connection with man and the Logos. Its importance cannot be too strongly realised for it has the effect of transferring the point of centralisation, or of polarisation in the case of man into his etheric body, composed of matter of the four higher subplanes of the systemic physical plane, and in the case of the Logos, of the four higher subplanes of the cosmic physical plane. The point is one of a very real complexity, for it involves the realisation that, from the standpoint of the occultist, the lowest vibration with which he may concern himself is that of the systemic etheric in its four lesser allied vibrations; similarly macrocosmically the lowest logoic vibration with which the greater Adepts are concerned is the cosmic etheric. The three lowest systemic and cosmic vibrations are the result of:

H. P. B. đã nói (S.D., II. 621) rằng cõi hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí, và điểm này thường bị bỏ qua khi liên hệ với con người và Thượng đế. Tầm quan trọng của nó không thể được chứng nghiệm quá mạnh, vì nó có tác dụng chuyển điểm tập trung, hay điểm phân cực trong trường hợp con người, vào thể dĩ thái của y, được cấu thành bằng vật chất của bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần hệ thống, và trong trường hợp của Thượng đế, vào bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ. Điểm này thực sự rất phức tạp, vì nó bao hàm sự chứng nghiệm rằng, từ quan điểm của nhà huyền bí học, rung động thấp nhất mà ông có thể quan tâm là rung động của cõi dĩ thái hệ thống trong bốn rung động liên hệ thấp hơn của nó; tương tự như vậy về mặt đại thiên địa, rung động thấp nhất của Thượng đế mà các chân sư cao cả hơn quan tâm là cõi dĩ thái vũ trụ. Ba rung động thấp nhất của hệ thống và của vũ trụ là kết quả của:

Reflex action on the part of negative substance for the lower three are negative to the higher four.

Phản ứng phản xạ từ phía chất liệu âm vì ba cõi thấp là âm đối với bốn cõi cao hơn.

Synchronous vibration, inherent in negative substance, the residue of an earlier system, and embodying therefore past karma for the Logos and for man.

Rung động đồng bộ, vốn có trong chất liệu âm, là tàn dư của một hệ thống trước, và do đó hiện thân cho nghiệp quả quá khứ của Thượng đế và của con người.

Vibrations that are gradually being superseded by the imposition of a higher note; therefore for both man and the Logos, they occultly form the “body of death.”

Những rung động đang dần bị thay thế bởi sự áp đặt của một âm điệu cao hơn; vì vậy đối với cả con người lẫn Thượng đế, về mặt huyền bí chúng tạo thành “thể chết.”

This brings us to the point which we are seeking to make anent this third group of the lowest devas. They are very destructive where man is concerned, for they embody the final and therefore powerful vibration of the past system, the conscious activity of dense matter. Hence there is consequently a profound truth in the [Page 640] statement that man is at the “mercy of the elements.” Man can physically be burned and destroyed by fire; he is helpless before volcanic action, and cannot protect himself from the ravages of fire, unless in the initial stages of such deva endeavour. The occult importance of the war man wages on the fire devas for instance is very real in connection with the fire department in any city. The time lies far ahead as yet, but it will surely come, when the personnel of these departments will be chosen for their ability to control the agnichaitans when manifesting destructively, and their methods will no longer be that of water (or the calling in of the water devas to neutralise the fire devas), but that of incantation, and a knowledge of the sounds that will swing into action forces which will control the fiery destructive elements.

Điều này đưa chúng ta đến điểm mà chúng ta đang tìm cách nêu ra liên quan đến nhóm thứ ba này của các thiên thần thấp nhất. Họ rất có tính hủy diệt đối với con người, vì họ hiện thân cho rung động cuối cùng và do đó mạnh mẽ của hệ thống quá khứ, tức hoạt động hữu thức của vật chất đậm đặc. Vì thế có một chân lý sâu xa trong [Page 640] lời phát biểu rằng con người ở dưới “sự chi phối của các nguyên tố.” Con người có thể bị lửa thiêu đốt và hủy diệt về mặt thể xác; y bất lực trước hoạt động núi lửa, và không thể tự bảo vệ mình khỏi sự tàn phá của lửa, trừ trong những giai đoạn đầu của nỗ lực thiên thần như thế. Tầm quan trọng huyền bí của cuộc chiến mà con người tiến hành chống lại các thiên thần lửa, chẳng hạn, là rất thực trong mối liên hệ với sở cứu hỏa ở bất kỳ thành phố nào. Thời điểm đó còn ở rất xa, nhưng chắc chắn sẽ đến, khi nhân sự của các sở này sẽ được chọn vì khả năng kiểm soát các agnichaitan khi chúng biểu lộ một cách hủy diệt, và phương pháp của họ sẽ không còn là dùng nước (hay kêu gọi các thiên thần nước để hóa giải các thiên thần lửa), mà là dùng thần chú, và tri thức về các âm thanh sẽ đưa vào hoạt động những mãnh lực có thể kiểm soát các nguyên tố lửa hủy diệt.

The third group of these devas is very definitely connected with the control of the Manu’s department, and of the great devas associated with that department on this planet. Through their activity during certain cycles the entire surface of the Earth is changed through the medium of volcanic action; continents are raised and submerged; volcanoes are active or quiescent, and thus the world is purified by fire. In their own department these Agnichaitans are kept busy building the mineral forms through the agency of fire; they are the alchemists of the lower regions, and through contact with them, and through the knowledge of “the words” by which they are controlled, the future scientific alchemists (I use this expression in contradistinction to the idealistic alchemists of the past) will work with minerals and with the lives embodied in all mineral forms.

Nhóm thứ ba của các thiên thần này có liên hệ rất rõ rệt với sự kiểm soát của bộ phận của Đức Manu, và của các thiên thần vĩ đại liên kết với bộ phận đó trên hành tinh này. Qua hoạt động của họ trong một số chu kỳ nhất định, toàn bộ bề mặt Trái Đất được thay đổi qua trung gian của hoạt động núi lửa; các lục địa được nâng lên và chìm xuống; các núi lửa hoạt động hay yên lặng, và nhờ đó thế giới được thanh lọc bằng lửa. Trong bộ phận riêng của mình, các Agnichaitan này luôn bận rộn xây dựng các hình tướng khoáng vật qua tác nhân của lửa; họ là các nhà luyện kim của những vùng thấp, và qua sự tiếp xúc với họ, cùng qua tri thức về “các lời” mà nhờ đó họ được kiểm soát, các nhà luyện kim khoa học tương lai (tôi dùng cách diễn đạt này để phân biệt với các nhà luyện kim duy tâm của quá khứ) sẽ làm việc với khoáng vật và với các sự sống hiện thân trong mọi hình tướng khoáng vật.

The secret of the transmutation of the baser metals into gold will be revealed when world conditions are such that gold is no longer the standard and hence the free manufacture of gold will not lead to disaster, and [Page 641] when scientists work with the life aspect, or with positive electrical life, and not with the substance or form aspect.

Bí mật của sự chuyển hoá các kim loại hèn thành vàng sẽ được tiết lộ khi các điều kiện thế giới trở nên sao cho vàng không còn là tiêu chuẩn nữa và vì thế việc chế tạo vàng tự do sẽ không dẫn đến tai họa, và [Page 641] khi các nhà khoa học làm việc với phương diện sự sống hay với sự sống điện dương, chứ không phải với phương diện chất liệu hay hình tướng.

We have seen that the work of the lowest group of Agnichaitans is to build continents by fire, to purify by fire during alternate cycles, and to construct the metals and the minerals. It is also concerned with the tending of the fires of the hearth, or those fires which warm, cheer and produce livable conditions in a planet, and incidentally in a home. This is of very vital import, for it means that they are connected with the central basic fires in the bowels of the Earth, with the central basic fire that nourishes and warms the physical forms of all the kingdoms of nature, and consequently with the kundalini fire at the base of the spine in individual man.

Chúng ta đã thấy rằng công việc của nhóm Agnichaitan thấp nhất là xây dựng các lục địa bằng lửa, thanh lọc bằng lửa trong các chu kỳ xen kẽ, và kiến tạo các kim loại cùng khoáng vật. Nó cũng liên quan đến việc chăm nom các ngọn lửa nơi lò sưởi, hay những ngọn lửa sưởi ấm, làm vui tươi và tạo ra các điều kiện có thể sinh sống được trên một hành tinh, và ngẫu nhiên là trong một ngôi nhà. Điều này có tầm quan trọng rất thiết yếu, vì nó có nghĩa là họ liên kết với các ngọn lửa căn bản trung tâm trong lòng Trái Đất, với ngọn lửa căn bản trung tâm nuôi dưỡng và sưởi ấm các hình tướng hồng trần của mọi giới trong thiên nhiên, và do đó với lửa kundalini ở đáy cột sống nơi từng con người.

It is not advisable for us further to enlarge upon their functions. It should be noted that in connection with the matter aspect there is less to be said than on consciousness, and on the hylozoistic aspect of manifestation. The reason lies in the fact that exoteric science is slowly, yet steadily, finding out the nature of phenomena, and discovering for itself the character of electrical manifestation. In their slowness of discovery lies safety. It is not wise nor right yet for the true nature of these different forces and powers to be fully known; therefore, it is not possible for us to do more than indicate certain broad general lines. In due course of time, as the human family becomes centred in the higher, and not in the lower nature, and as the force from the higher planes can more easily impose itself on the lower, the facts concerning these Lives and Builders, their methods of work, and the laws of their being will be known. Knowledge at this time would be productive of two results. It would first of all bring the human family into the power (as yet blind and destructive) of [Page 642] certain elementals, who are of a nature analogous to that of the physical body. Hence destruction of the form would ensue, or paralysis and insanity on a large scale would eventuate. Secondly, it would put power into the hands of certain of the Brothers of the Left Hand Path (211) and of a number of unconscious magicians (of whom there are quite a number) who would use it only for selfish, evil and material ends. Hence no more can be said anent dense physical substance and its embodiers.

Chúng ta không nên khai triển thêm về các chức năng của họ. Cần lưu ý rằng liên quan đến phương diện vật chất thì có ít điều để nói hơn là về tâm thức, và về phương diện hylozoistic của sự biểu lộ. Lý do nằm ở chỗ khoa học ngoại môn đang chậm rãi nhưng vững chắc khám phá ra bản chất của các hiện tượng, và tự mình phát hiện đặc tính của sự biểu lộ điện. Trong sự chậm chạp khám phá của nó có sự an toàn. Hiện nay việc bản chất chân thực của các mãnh lực và quyền năng khác nhau này được biết đầy đủ vẫn chưa khôn ngoan cũng chưa đúng đắn; vì vậy, chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một số đường nét tổng quát rộng lớn. Đến đúng thời, khi gia đình nhân loại trở nên tập trung trong bản chất cao hơn chứ không phải bản chất thấp hơn, và khi mãnh lực từ các cõi cao hơn có thể dễ dàng áp đặt chính nó lên cõi thấp hơn hơn, thì các sự kiện liên quan đến các Sự Sống và các Đấng Kiến Tạo này, các phương pháp làm việc của họ, và các định luật hiện hữu của họ sẽ được biết đến. Tri thức vào lúc này sẽ tạo ra hai kết quả. Trước hết, nó sẽ đưa gia đình nhân loại vào quyền lực (hiện còn mù quáng và hủy diệt) của [Page 642] một số hành khí, có bản chất tương tự với bản chất của thể xác. Vì thế sự hủy diệt hình tướng sẽ xảy ra, hoặc sự tê liệt và điên loạn trên quy mô lớn sẽ phát sinh. Thứ hai, nó sẽ đặt quyền năng vào tay một số huynh đệ của tả đạo (211) và một số nhà huyền thuật vô thức (mà có khá nhiều) là những kẻ sẽ chỉ dùng nó cho các mục đích ích kỷ, xấu ác và vật chất. Vì vậy không thể nói thêm gì nữa liên quan đến chất liệu hồng trần đậm đặc và các thực thể hiện thân của nó.

(211) The left-hand Path is that followed by the Black Magician, and by the Brothers of the Shadows. It originates in the use of the forces of nature for selfish ends; it is characterised by intense selfishness and separativeness, and ends in Avitchi, the 8th sphere, the home of lost souls, or those shells of the lower man which have become separated from their egoic or individual life principle. (back)

(211) Con Đường tả đạo là con đường được nhà hắc thuật và các Huynh Đệ của Bóng Tối đi theo. Nó bắt nguồn từ việc sử dụng các mãnh lực của thiên nhiên cho những mục đích ích kỷ; nó được đặc trưng bởi tính ích kỷ mãnh liệt và tính phân ly, và kết thúc trong Avitchi, khối cầu thứ 8, nơi cư ngụ của các linh hồn lạc mất, hay những vỏ của phàm nhân đã bị tách rời khỏi nguyên khí sự sống chân ngã hay cá nhân của chúng. (back)

The Agnichaitans of the third group are as yet a menace to man, and are only handled in group formation, and on a large scale by the head of the Manu’s department through their own rulers-certain devas of a development equal to that of the sixth Initiation.

Các Agnichaitan của nhóm thứ ba hiện vẫn là một mối đe dọa đối với con người, và cho đến nay chỉ được xử lý trong đội hình nhóm, và trên quy mô lớn bởi vị đứng đầu bộ phận của Đức Manu thông qua các vị cai quản riêng của họ—một số thiên thần có mức phát triển ngang với lần điểm đạo thứ sáu.

The occult Hierarchy of our planet is primarily concerned with the development of self-consciousness in man, and with the intelligent interpretation of the happenings of Nature; it is concerned with a wise co-operation with the building Forces of nature; and the object of its main endeavour is the vitalisation and activity of the centres in the Heavenly Man of our planet, and in the individual units of the human family.

Thánh Đoàn huyền bí của hành tinh chúng ta chủ yếu quan tâm đến sự phát triển ngã thức nơi con người, và đến sự diễn giải thông tuệ các biến cố của Thiên Nhiên; Thánh Đoàn quan tâm đến sự hợp tác khôn ngoan với các Mãnh Lực kiến tạo của thiên nhiên; và mục tiêu của nỗ lực chính yếu của Thánh Đoàn là việc tiếp sinh lực và hoạt động của các trung tâm trong Đấng Thiên Nhân của hành tinh chúng ta, và trong các đơn vị cá thể của gia đình nhân loại.

The occult Hierarchy is a great force centre, the heart, head, and throat of the Heavenly Man as these three centres function in a triple co-ordination. Paralleling their activities along the line of consciousness (and primarily consciousness or intelligence as it demonstrates through the third and fourth kingdoms) is to be found a great hierarchy of devas who concern themselves with the development of that portion of the body of a Heavenly Man which is not included in the active centres. Perhaps some idea of what I seek to convey [Page 643] may be gathered from an illustration. The occult Hierarchy is concerned with the unfoldment of the nine-petalled Lotus in the Heavenly Man, and in man (the former through reflex action between the cosmic physical and the cosmic mental), while the great deva Hierarchy is concerned with the permanent atoms, with the egoic body, and with the development of the spirillae. Thus the function of the Agnichaitans of the lowest furnaces—macrocosmically and microcosmically—will be seen and comprehended by the wise student.

Thánh Đoàn huyền bí là một trung tâm mãnh lực vĩ đại, là tim, đầu và cổ họng của Đấng Thiên Nhân khi ba trung tâm này hoạt động trong một sự phối hợp tam phân. Song song với các hoạt động của chúng theo tuyến tâm thức (và chủ yếu là tâm thức hay trí tuệ như nó biểu lộ qua giới thứ ba và giới thứ tư) là một huyền giai thiên thần vĩ đại quan tâm đến sự phát triển của phần thể của một Đấng Thiên Nhân không được bao gồm trong các trung tâm hoạt động. Có lẽ một vài ý niệm về điều tôi tìm cách truyền đạt [Page 643] có thể được nắm bắt qua một minh họa. Thánh Đoàn huyền bí quan tâm đến sự khai mở của Hoa sen chín cánh trong Đấng Thiên Nhân, và trong con người (điều trước qua phản ứng phản xạ giữa cõi hồng trần vũ trụ và cõi trí vũ trụ), trong khi huyền giai thiên thần vĩ đại quan tâm đến các nguyên tử trường tồn, đến thể chân ngã, và đến sự phát triển của các loa tuyến. Nhờ đó chức năng của các Agnichaitan của những lò lửa thấp nhất—về mặt đại thiên địa và tiểu thiên địa—sẽ được đạo sinh minh triết nhìn thấy và thấu hiểu.

Group B. Agnichaitans. In taking up the matter of the second group of Agnichaitans—Group B—we are dealing with that important group of devas who are designated in some works as the “devas of the shadows.” Their function is primarily a fourfold one, and they are the basis of motion or of activity on all planes, which activity is produced by the interplay of the negative and positive aspects of Brahma, the manifested God.

Nhóm B. Các Agnichaitan. Khi đề cập đến vấn đề của nhóm Agnichaitan thứ hai—Nhóm B—chúng ta đang bàn đến nhóm thiên thần quan trọng được gọi trong một số tác phẩm là “các thiên thần của bóng tối.” Chức năng của họ chủ yếu có bốn mặt, và họ là nền tảng của chuyển động hay hoạt động trên mọi cõi, hoạt động này được tạo ra bởi sự tương tác giữa các phương diện âm và dương của Brahma, Thượng đế biểu lộ.

First, they are the builders of the etheric bodies of all sentient existences, and primarily of all the etheric bodies of men.

Thứ nhất, họ là những đấng kiến tạo các thể dĩ thái của mọi hiện hữu có tri giác, và chủ yếu là của mọi thể dĩ thái của con người.

Second, they are the transmitters of prana.

Thứ hai, họ là những tác nhân truyền prana.

Third, they perform a very definite function in the evolutionary process of linking up the four kingdoms of nature, being essentially the transmuters and transmitters of the lower into the higher. They build between each kingdom—mineral, vegetable, animal and human—that which in each case corresponds to the antaskarana, or the bridge linking higher and lower manas, and which therefore is the channel for the transmission of the life from out of the lower human kingdom into the higher spiritual one. It will be found that between each of the different stages of consciousness (from the subconscious through the self-conscious to the superconscious) there is a period of linking, of building, and of bridging, and this is carried out by the agency of [Page 644] certain groups of devas on all the planes. These three groups on the physical plane find their counterparts and their work paralleled on higher levels. The point to be remembered is that this work of bridging from one stage or from one kingdom to another has to be performed under the following conditions:

Thứ ba, họ thực hiện một chức năng rất xác định trong tiến trình tiến hoá là nối kết bốn giới trong thiên nhiên, vì về bản chất họ là những tác nhân chuyển hoá và truyền dẫn từ thấp lên cao. Họ xây dựng giữa mỗi giới—kim thạch, thực vật, động vật và nhân loại—điều mà trong mỗi trường hợp tương ứng với antaskarana, hay cây cầu nối manas cao và thấp, và do đó là kênh để truyền sự sống từ giới nhân loại thấp lên giới tinh thần cao hơn. Sẽ thấy rằng giữa mỗi giai đoạn tâm thức khác nhau (từ tiềm thức qua ngã thức đến siêu thức) có một thời kỳ nối kết, xây dựng và bắt cầu, và điều này được thực hiện nhờ tác nhân của [Page 644] một số nhóm thiên thần trên mọi cõi. Ba nhóm này trên cõi hồng trần có các đối phần của chúng và công việc của chúng được song hành trên các cấp độ cao hơn. Điểm cần ghi nhớ là công việc bắt cầu từ giai đoạn này sang giai đoạn khác hay từ giới này sang giới khác phải được thực hiện dưới các điều kiện sau:

a. As the result of an impulse emanating from the lower, or originating in the active desire of the lower to embrace or contact the higher. This is of paramount importance, for all progress must be self-induced, self-initiated, and be the result of an inner activity.

a. Là kết quả của một xung lực phát ra từ phía thấp hơn, hay khởi nguồn trong dục vọng tích cực của phía thấp hơn muốn ôm lấy hay tiếp xúc với phía cao hơn. Điều này có tầm quan trọng tối cao, vì mọi tiến bộ đều phải do chính mình khởi phát, do chính mình khởi xướng, và là kết quả của một hoạt động bên trong.

b. As the result of reflex action from the higher stage or kingdom; it is brought about by the activity of the lower which calls forth a response from the higher. All vibration, it must be remembered, travels along waves of living substance.

b. Là kết quả của phản ứng phản xạ từ giai đoạn hay giới cao hơn; nó được tạo ra bởi hoạt động của phía thấp hơn, hoạt động này gọi ra một đáp ứng từ phía cao hơn. Cần nhớ rằng mọi rung động đều truyền đi trên những làn sóng của chất liệu sống.

c. As the result of extraneous stimulation produced by the activity of certain conscious powers, interested in the process of evolutionary development.

c. Là kết quả của sự kích thích từ bên ngoài do hoạt động của một số quyền năng hữu thức tạo ra, những quyền năng này quan tâm đến tiến trình phát triển tiến hoá.

All these conditions can be seen in the process of the initiation of man, and of his transference from the fourth kingdom into the spiritual. His efforts must be self-induced, or the effect of his own self-conscious endeavour; they will meet with a response from his superconsciousness, the atmic aspect or Spirit and this dual interplay will be further aided by the Guardians of the Rites of Initiation. Yet all three effects are felt in spirit-matter; all proceed under the law of vibration, and this law is literally the response of deva substance to force emanating from some conscious or unconscious source.

Tất cả các điều kiện này có thể được thấy trong tiến trình điểm đạo của con người, và trong sự chuyển dịch của y từ giới thứ tư sang giới tinh thần. Các nỗ lực của y phải do chính y khởi phát, hay là kết quả của nỗ lực hữu thức của chính y; chúng sẽ gặp được một đáp ứng từ siêu thức của y, phương diện atma hay tinh thần, và sự tương tác kép này sẽ còn được các Đấng Hộ Trì các Nghi Lễ Điểm Đạo trợ giúp thêm. Tuy nhiên cả ba hiệu quả đều được cảm nhận trong tinh thần-vật chất; tất cả đều tiến hành dưới định luật rung động, và định luật này theo nghĩa đen là sự đáp ứng của chất liệu thiên thần đối với mãnh lực phát ra từ một nguồn hữu thức hay vô thức nào đó.

Fourth, these “devas of the shadows,” perform certain activities of an interesting and varied kind, but [Page 645] of such diversity as to make enumeration wellnigh impossible. We might attempt with brevity to state a few of these functions, remembering ever that what can be predicated of them on the physical plane can also be predicated of their correspondences on all the planes. This we can leave to the student to work out for himself, begging him again to bear in mind that we are dealing with the devas on the evolutionary arc, which may be divided into the following classes, amongst many others.

Thứ tư, các “thiên thần của bóng tối” này thực hiện một số hoạt động thú vị và đa dạng, nhưng [Page 645] đa dạng đến mức gần như không thể liệt kê. Chúng ta có thể thử nêu ngắn gọn một vài chức năng trong số đó, luôn ghi nhớ rằng điều gì có thể được khẳng định về họ trên cõi hồng trần thì cũng có thể được khẳng định về các đối phần của họ trên mọi cõi. Điều này chúng ta có thể để cho đạo sinh tự mình tìm ra, đồng thời lại xin y ghi nhớ rằng chúng ta đang bàn đến các thiên thần trên cung tiến hoá, những vị có thể được chia thành các loại sau đây, trong số nhiều loại khác.