← A Treatise on Cosmic Fire

Perhaps this concerns the physical plane?

Trích nội dung chương

b. Mahavidya.......... The great magic knowledge. It has degenerated into Tantrika worship. Deals with the feminine aspect, or the matter (mother) aspect. The basis of black magic. True mahayoga has to do with the form (second aspect) and its adaptation to Spirit and its needs. b. Mahavidya.......... Đại tri thức huyền thuật. Nó đã suy đồi thành sự thờ phụng Tantrika. Nó bàn đến phương diện nữ tính, hay phương diện vật chất (mẹ). Nền tảng của Hắc thuật. Mahayoga chân chính liên quan đến hình tướng (phương diện thứ hai) và sự thích ứng của hình tướng với tinh thần và các nhu cầu của tinh thần.


Perhaps this concerns the physical plane?

Có lẽ điều này liên quan đến cõi hồng trần?

b. Mahavidya.......... The great magic knowledge. It has degenerated into Tantrika worship. Deals with the feminine aspect, or the matter (mother) aspect. The basis of black magic. True mahayoga has to do with the form (second aspect) and its adaptation to Spirit and its needs.

b. Mahavidya.......... Đại tri thức huyền thuật. Nó đã suy đồi thành sự thờ phụng Tantrika. Nó bàn đến phương diện nữ tính, hay phương diện vật chất (mẹ). Nền tảng của Hắc thuật. Mahayoga chân chính liên quan đến hình tướng (phương diện thứ hai) và sự thích ứng của hình tướng với tinh thần và các nhu cầu của tinh thần.

Perhaps this concerns the astral plane?

Có lẽ điều này liên quan đến cõi cảm dục?

c. Guyha vidya.......... The science of mantrams. The secret knowledge of mystic mantrams. The occult potency of sound, of the Word.

c. Guyha vidya.......... Khoa học về các mantram. Tri thức bí mật về các mantram thần bí. Tiềm năng huyền bí của âm thanh, của Linh từ.

Perhaps this concerns the mental plane?

Có lẽ điều này liên quan đến cõi trí?

d. Atma vidya.......... True spiritual wisdom.

d. Atma vidya.......... Minh triết tinh thần chân chính.

4. Knowledge of truth is a common inheritance.—S. D., II, 47, 3.

4. Tri thức về chân lý là một gia tài chung.—S. D., II, 47, 3.

5. Knowledge is a relative subject, and varies according to the grade achieved.

5. Tri thức là một chủ đề tương đối, và thay đổi tùy theo cấp độ đạt được.

a. Ranges of further knowledge open up before a planetary Logos.—S. D., II, 740.

a. Những phạm vi tri thức xa hơn mở ra trước một Hành Tinh Thượng Đế.—S. D., II, 740.

b. The four truths can be arrived at by unaided man.—S. D., III, 420.

b. Bốn chân lý có thể được con người đạt đến mà không cần trợ giúp.—S. D., III, 420.

6. Finally, Knowledge is a dangerous weapon:

6. Sau cùng, tri thức là một vũ khí nguy hiểm:

This is due to: Personal Selfishness.

Điều này là do: sự ích kỷ cá nhân.

It is only safe when:

Nó chỉ an toàn khi:

a. One gives oneself up to it, body, soul and spirit.—S. D., III, 62, 63.

a. Người ta hiến dâng chính mình cho nó, cả thể xác, linh hồn và tinh thần.—S. D., III, 62, 63.

b. One has an unshakeable belief in one’s own divinity.—S. D., III, 62, 63.

b. Người ta có một niềm tin bất lay chuyển vào thiên tính của chính mình.—S. D., III, 62, 63.

c. One recognises one’s own immortal Principle.

c. Người ta nhận ra nguyên khí bất tử của chính mình.

d. One knows oneself:—S. D., III, 435, 436.

d. Người ta biết chính mình:—S. D., III, 435, 436.

e. All the virtues are practised.—S. D., III, 262.

e. Mọi đức hạnh đều được thực hành.—S. D., III, 262.

f. One has experience.—S. D., III, 481.

f. Người ta có kinh nghiệm.—S. D., III, 481.

g. One realises knowledge is the fruit of Spirit alone.—S. D., III, 453.

g. Người ta chứng nghiệm rằng tri thức chỉ là hoa trái của Tinh thần.—S. D., III, 453.

h. Knowledge is acquired through the region of the higher mind.—S. D., III, 453. (back)

h. Tri thức được thu nhận qua vùng của thượng trí.—S. D., III, 453. (back)

It involves an apprehension of:

Nó bao hàm sự lĩnh hội về:

a. The different key vibrations.

a. Các rung động chủ âm khác nhau.

b. The centres whereby force enters.

b. Các trung tâm mà qua đó mãnh lực đi vào.

c. The channels along which it circulates. [Page 881]

c. Các kênh mà dọc theo đó nó lưu chuyển. [Page 881]

d. The triangles and other geometrical figures which it produces during evolution.

d. Các tam giác và những hình hình học khác mà nó tạo ra trong tiến hoá.

e. The cycles and the ebb and flow of energy in connection with the different types of planetary manifestation, including all the kingdoms of nature.

e. Các chu kỳ và sự lên xuống của năng lượng liên quan đến các loại biểu hiện hành tinh khác nhau, bao gồm mọi giới trong tự nhiên.

f. The true significance of those force aspects which we call “periods of pralaya” and those we call “periods of manifestation.” It also involves a right realisation of the laws of obscuration.

f. Thâm nghĩa chân thực của những phương diện mãnh lực mà chúng ta gọi là “các thời kỳ pralaya” và những phương diện mà chúng ta gọi là “các thời kỳ biểu hiện.” Nó cũng bao hàm một sự chứng nghiệm đúng đắn về các định luật của sự che khuất.

All this the man has been learning in the various Halls through practical experience, involving pleasure and pain; these, in the final initiations, bring him to a realisation not only of the existence of these forces but of how to wield and manipulate them. This is knowledge: to rightly direct force currents, first in the three worlds of human endeavour, and then in the solar system.

Tất cả điều này con người đã học trong các Phòng khác nhau qua kinh nghiệm thực tiễn, bao hàm lạc thú và đau khổ; đến các lần điểm đạo cuối cùng, những điều này đưa y đến sự chứng nghiệm không chỉ về sự hiện hữu của các mãnh lực ấy mà còn về cách vận dụng và điều khiển chúng. Đây là tri thức: điều hướng đúng đắn các dòng mãnh lực, trước tiên trong ba cõi thấp của nỗ lực nhân loại, rồi sau đó trong hệ mặt trời.

Love is the right apprehension of the uses and purposes of form, and of the energies involved in form-building, the utilisation of form, and the eventual dissipation of the superseded form. It involves a realisation of the Laws of Attraction and Repulsion, of the magnetic interplay between all forms, great and small, of group relationships, of the galvanizing power of the unifying life, and the attractive power of one unit upon another, be it atom, man, or solar system. It involves an understanding of all forms, form purposes, and form relationships; it concerns the building processes in man himself, and in the solar system; and it necessitates the development of those powers within man which will make him a conscious Builder, a solar Pitri of a coming cycle. This [Page 882] is one of the great revelations at initiation: the unveiling to the initiate of the particular cosmic centre whence emanates the type of force or energy which he, the initiate, will be concerned with when he becomes in due course of time a solar Pitri, or divine manasaputra to coming humanity. Hence he must have, not only knowledge, but the energy of love likewise to enable him to perform the function of linking the higher three and the lower four of a future race of men at some distant period, thus permitting of their individualising through the sacrifice of his own fully conscious middle principle.

Bác ái là sự lĩnh hội đúng đắn về các công dụng và mục đích của hình tướng, và về các năng lượng liên quan đến việc xây dựng hình tướng, việc sử dụng hình tướng, và sự làm tiêu tan cuối cùng của hình tướng đã lỗi thời. Nó bao hàm sự chứng nghiệm về các Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, về sự tương tác từ tính giữa mọi hình tướng, lớn và nhỏ, về các mối liên hệ nhóm, về quyền năng điện hóa của sự sống hợp nhất, và quyền năng hấp dẫn của đơn vị này đối với đơn vị khác, dù đó là nguyên tử, con người hay hệ mặt trời. Nó bao hàm sự thấu hiểu mọi hình tướng, các mục đích của hình tướng, và các mối liên hệ của hình tướng; nó liên quan đến các tiến trình xây dựng trong chính con người, và trong hệ mặt trời; và nó đòi hỏi sự phát triển những quyền năng bên trong con người sẽ khiến y trở thành một đấng kiến tạo hữu thức, một thái dương tổ phụ của một chu kỳ sắp đến. Điều này [Page 882] là một trong những mặc khải vĩ đại tại điểm đạo: sự vén mở cho điểm đạo đồ về trung tâm vũ trụ đặc thù mà từ đó phát ra loại mãnh lực hay năng lượng mà y, điểm đạo đồ, sẽ phải quan tâm đến khi theo thời gian y trở thành một thái dương tổ phụ, hay một manasaputra thiêng liêng đối với nhân loại tương lai. Vì thế y phải có không chỉ tri thức mà cả năng lượng bác ái nữa để giúp y thực hiện chức năng nối kết bộ ba cao và bộ bốn thấp của một nhân loại tương lai vào một thời kỳ xa xôi nào đó, nhờ đó cho phép họ biệt ngã hóa qua sự hi sinh nguyên khí trung gian hoàn toàn hữu thức của chính y.

Sacrifice involves even more than what has been already pointed out. It involves the following factors:

Hi sinh bao hàm còn nhiều hơn những gì đã được chỉ ra. Nó bao hàm các yếu tố sau:

a. Knowledge of the purposes and intentions of the planetary Logos,

a. Tri thức về các mục đích và ý định của Hành Tinh Thượng Đế,

b. Realisation of the particular and peculiar type of energy, and of the quality of his own Ray Lord,

b. Sự chứng nghiệm về loại năng lượng đặc thù và riêng biệt, và về phẩm tính của Đấng Chúa Tể Cung của chính y,

c. Comprehension of the different groups of existences who are participating in planetary evolution and in solar manifestation,

c. Sự thấu hiểu các nhóm hiện hữu khác nhau đang tham dự vào tiến hoá hành tinh và biểu hiện thái dương,

d. A revelation as to certain cosmic enterprises in which our planetary Logos is acting as an intelligent co-operator. Thus is brought in the factor of extra-systemic force.

d. Một sự mặc khải về một số công cuộc vũ trụ trong đó Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang hành động như một cộng tác viên thông tuệ. Như vậy yếu tố mãnh lực ngoài hệ thống được đưa vào.

When all these and other factors are considered, it is evident that the energy set loose in sacrifice to these plans and intentions involves such a vast field of comprehending wisdom that it is not possible for the average man ever to sense it. It deals with the purposes and plans of the Silent Watchers over the three planes—the five, and the seven; it deals with the dynamic force of the great Destroying Angels on all the planes, who will eventually—through the manipulation of the three forms of energy—bring to an end all that is. These angels are a mysterious group of fohatic Lives Who sound forth the [Page 883] trumpets of destruction, and by means of the notes sounded produce that shattering which will set loose the energy of forms.

Khi mọi yếu tố này và những yếu tố khác được xem xét, hiển nhiên là năng lượng được giải phóng trong sự hi sinh cho các kế hoạch và ý định này bao hàm một lĩnh vực minh triết thấu hiểu rộng lớn đến mức con người trung bình không bao giờ có thể cảm nhận được. Nó bàn đến các mục đích và kế hoạch của các Đấng Quan Sát Thầm Lặng trên ba cõi phụ—the five, and the seven; nó bàn đến mãnh lực năng động của các Thiên Thần Hủy Diệt vĩ đại trên mọi cõi, các vị mà rốt cuộc—qua sự điều khiển ba hình thức năng lượng—sẽ chấm dứt mọi cái đang hiện hữu. Các thiên thần này là một nhóm huyền nhiệm gồm các Sự sống fohat phát ra [Page 883] những tiếng kèn hủy diệt, và bằng các âm điệu được xướng lên tạo ra sự tan vỡ sẽ giải phóng năng lượng của các hình tướng.

The second point is very briefly given. It concerns the innermost circle of petals, or that set of three petals, or those three streams of whirling energy, which immediately surround the “jewel in the lotus.” Each of these three petals is related to one of the three circles, and is organised as each of the three circles is unfolded. They form, therefore, a synthesis of knowledge, love or sacrifice, and are closely connected through the type of force flowing through them with one of the three higher centres of the planetary Logos of a man’s particular ray. This central unit of threefold force is dealt with in a specific manner at initiation.

Điểm thứ hai được nêu ra rất vắn tắt. Nó liên quan đến vòng cánh hoa nội tâm nhất, hay bộ ba cánh hoa ấy, hay ba dòng năng lượng xoáy chuyển ấy, trực tiếp bao quanh “viên ngọc trong Hoa sen.” Mỗi cánh trong ba cánh này liên hệ với một trong ba vòng, và được tổ chức khi mỗi một trong ba vòng được khai mở. Vì vậy, chúng tạo thành một tổng hợp của tri thức, bác ái hay hi sinh, và được nối kết chặt chẽ, qua loại mãnh lực chảy qua chúng, với một trong ba trung tâm cao hơn của Hành Tinh Thượng Đế thuộc cung riêng của một người. Đơn vị trung tâm của mãnh lực tam phân này được xử lý theo một cách đặc biệt tại điểm đạo.

At the first, the second, and the third Initiations, one of the three petals opens up, permitting an ever freer display of the central electric point. At the fourth Initiation, the jewel (being completely revealed) through its blazing light, its intense radiatory heat, and its terrific outflow of force, produces the disintegration of the surrounding form, the shattering of the causal body, the destruction of the Temple of Solomon, and the dissolution of the lotus flower. The work of the Initiator in this connection is very interesting. Through the medium of the Rod of Initiation and of certain Words of Power, He brings about results of a co-ordinating, transmuting and liberating nature.

Ở lần điểm đạo thứ nhất, thứ hai và thứ ba, một trong ba cánh hoa mở ra, cho phép điểm điện trung tâm biểu lộ ngày càng tự do hơn. Ở lần điểm đạo thứ tư, viên ngọc (được hiển lộ hoàn toàn) nhờ ánh sáng rực cháy, sức nóng bức xạ mãnh liệt, và dòng mãnh lực tuôn ra khủng khiếp của nó, tạo ra sự tan rã của hình tướng bao quanh, sự vỡ nát của thể nguyên nhân, sự phá hủy Đền thờ Solomon, và sự tan biến của đóa hoa sen. Công việc của Đấng Điểm đạo trong mối liên hệ này rất đáng quan tâm. Qua trung gian của Thần Trượng Điểm đạo và một số Quyền năng từ, Ngài tạo ra những kết quả có tính phối hợp, chuyển hoá và giải phóng.

Through the action of the Rod as wielded at the first two Initiations, the two outer circles unfold, the energy of the two is set free and the two sets of force as embodied in the six petals are co-ordinated and become interactive. This stage of petal adjustment succeeds upon that called earlier “unfoldment” and has to do with the simultaneous action of the two tiers of petals. The interplay between the two circles is completed, and the circulation [Page 884] of the force currents perfected. According to a man’s ray and subray, so is the Rod applied to what might be termed the “key” petal. This of course differs according to the unit of force involved. It is of interest to note here that, as the petal substance is deva substance and as the energy of the petals is the energy of certain manasadevas (one of the three higher orders of Agnishvattas) the initiate is overshadowed (the word is not entirely satisfactory in explaining the type of deva service here necessitated, but it must suffice) by a great deva who represents the equilibrium of substantial vibration which is brought about by the efforts of the initiate, aided by the adepts who present him, and who each represent one of the two polarities of force. This is temporarily stabilised by the Initiator. These three factors,

Qua tác động của Thần Trượng khi được sử dụng trong hai lần điểm đạo đầu tiên, hai vòng ngoài được khai mở, năng lượng của hai vòng được giải phóng và hai bộ mãnh lực hiện thân trong sáu cánh hoa được phối hợp và trở nên tương tác. Giai đoạn điều chỉnh cánh hoa này tiếp nối giai đoạn trước đó được gọi là “sự khai mở” và liên quan đến hoạt động đồng thời của hai tầng cánh hoa. Sự tương tác giữa hai vòng được hoàn tất, và sự lưu chuyển [Page 884] của các dòng mãnh lực được hoàn thiện. Tùy theo cung và cung phụ của một người mà Thần Trượng được áp dụng vào cái có thể gọi là cánh hoa “chủ âm”. Dĩ nhiên điều này khác nhau tùy theo đơn vị mãnh lực liên quan. Ở đây điều đáng lưu ý là, vì chất liệu cánh hoa là chất liệu thiên thần và vì năng lượng của các cánh hoa là năng lượng của một số manasadeva nào đó (một trong ba cấp cao của Agnishvatta), nên điểm đạo đồ được phủ bóng (từ này không hoàn toàn thỏa đáng để giải thích loại phụng sự thiên thần cần thiết ở đây, nhưng phải tạm dùng vậy) bởi một thiên thần vĩ đại đại diện cho sự quân bình của rung động chất liệu được tạo ra bởi các nỗ lực của điểm đạo đồ, với sự trợ giúp của các chân sư giới thiệu y, và mỗi vị trong các vị ấy đại diện cho một trong hai cực tính của mãnh lực. Điều này được Đấng Điểm đạo tạm thời ổn định. Ba yếu tố này,

1. The representing deva,

1. thiên thần đại diện,

2. The two adepts,

2. hai chân sư,

3. The initiator,

3. Đấng điểm đạo,

form, for a brief second, a triangle of force with the initiate at the centre. Through them circulates the terrific power, the “fire from Heaven,” which is brought down from the higher triad through the agency of the electrical rod.

tạo thành, trong một giây ngắn ngủi, một tam giác mãnh lực với điểm đạo đồ ở trung tâm. Qua các vị ấy lưu chuyển quyền năng khủng khiếp, “lửa từ Thiên Đàng,” được kéo xuống từ Tam Nguyên Tinh Thần cao hơn qua tác nhân của thần trượng điện.

This application of extra-egoic force is in itself of a threefold nature, as symbolised by the three protective agencies and the threefold nature of the Rod itself. It emanates in a primary sense from the planetary Logos of a man’s ray, and proceeds from that one of the planetary centres which corresponds to either the head, heart, or throat centre in a human unit. This energy is applied to the corresponding tier of petals and to the corresponding petal in a tier according to the initiation taken, and according to the primary and secondary ray. A close connection can be traced here between the petals and the centres of the etheric level of the physical plane, [Page 885] and thus it can be seen how (when the necessary work is done) it is possible to have a direct transmission of force from the higher planes to the lower in the following order:

Việc áp dụng mãnh lực ngoài chân ngã này tự nó có bản chất tam phân, như được tượng trưng bởi ba tác nhân bảo hộ và bản chất tam phân của chính Thần Trượng. Theo nghĩa sơ cấp, nó phát xuất từ Hành Tinh Thượng Đế thuộc cung của một người, và tiến ra từ một trong các trung tâm hành tinh tương ứng với trung tâm đầu, tim, hay cổ họng trong một đơn vị nhân loại. Năng lượng này được áp dụng vào tầng cánh hoa tương ứng và vào cánh hoa tương ứng trong một tầng tùy theo lần điểm đạo được nhận, và tùy theo cung chính và cung phụ. Ở đây có thể truy ra một mối liên hệ chặt chẽ giữa các cánh hoa và các trung tâm ở cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, [Page 885] và nhờ đó có thể thấy được làm thế nào (khi công việc cần thiết đã được thực hiện) có thể có một sự truyền dẫn trực tiếp mãnh lực từ các cõi cao xuống các cõi thấp theo trật tự sau:

a. From the logoic centre, or the planetary Logos, to the Monad on its own plane.

a. Từ trung tâm logoic, hay Hành Tinh Thượng Đế, đến chân thần trên cõi riêng của nó.

b. From that Monad to one of the three tiers of petals, according to the aspect or ray concerned.

b. Từ chân thần ấy đến một trong ba tầng cánh hoa, tùy theo phương diện hay cung liên quan.

c. From the tier of petals, viewed as a unit, to one of the petals in the circle, according to the quality and type of force, using the petal as a transmitting agency.

c. Từ tầng cánh hoa, được xem như một đơn vị, đến một trong các cánh hoa trong vòng, tùy theo phẩm tính và loại mãnh lực, dùng cánh hoa như một tác nhân truyền dẫn.

d. From the particular petal in which the force is momentarily centred to one of the permanent atoms, again according to ray and type of force.

d. Từ cánh hoa đặc biệt mà trong đó mãnh lực tạm thời được tập trung đến một trong các Nguyên tử trường tồn, lại tùy theo cung và loại mãnh lực.

e. From the permanent atom via the atomic triangle, and the mental, and astral centres, to that one of the three higher centres in the etheric body particularly concerned.

e. Từ Nguyên tử trường tồn qua tam giác nguyên tử, và các trung tâm trí tuệ và cảm dục, đến một trong ba trung tâm cao hơn trong thể dĩ thái đặc biệt liên quan.

f. From the etheric centre to the physical brain.

f. Từ trung tâm dĩ thái đến bộ não hồng trần.

We have here put very briefly the process of force transmission from the Monad to man on the physical plane, and hence it will be apparent why the emphasis is so consistently laid upon the necessity for bodily purity (in all the three bodies), and upon the alignment of those bodies so that the flow of force may be unimpeded. The effects of this downflow of force may be viewed in a twofold manner, that is, in a material and in a psychic sense.

Ở đây chúng ta đã trình bày rất vắn tắt tiến trình truyền dẫn mãnh lực từ chân thần đến con người trên cõi hồng trần, và do đó sẽ thấy rõ vì sao sự nhấn mạnh lại luôn luôn được đặt lên nhu cầu thanh khiết của thể (trong cả ba thể), và lên sự chỉnh hợp của các thể ấy để dòng mãnh lực có thể lưu chuyển không bị cản trở. Các hiệu quả của dòng mãnh lực tuôn xuống này có thể được nhìn theo hai cách, nghĩa là theo nghĩa vật chất và theo nghĩa thông linh.

The material effect, or the result of this stimulation upon the forms and upon the atoms in the forms, is to render them radioactive, or to set loose the energy of substance. This is the liberating of the energy imprisoned within the form, and concerns the Brahma aspect, and [Page 886] the evolution of matter itself. It affects the lunar bodies, and therefore relates to the lunar Lords or Pitris, causing a weakening of their hold upon the lesser builders, bringing them more under the force streams from the solar Angels, and leading to a situation which will eventually result in a return of the lunar Pitris of all degrees to the central point for force substance. In a psychic sense the result of the downflow is a stimulation of consciousness, and the acquisition (through that stimulation) of the psychic powers latent in man. His three higher physical centres, the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre are affected, and man becomes psychically aware in the physical brain of the higher influences, happenings and powers. According to the ray concerned, so is the centre affected. The force of the lunar Lords, which has succeeded in keeping these three organs quiescent, is superseded and the solar Angels pour in their energy.

Hiệu quả vật chất, hay kết quả của sự kích thích này lên các hình tướng và lên các nguyên tử trong các hình tướng, là làm cho chúng trở nên phóng xạ, hay giải phóng năng lượng của chất liệu. Đây là sự giải phóng năng lượng bị giam hãm trong hình tướng, và liên quan đến phương diện Brahma, và [Page 886] sự tiến hoá của chính vật chất. Nó ảnh hưởng đến các thể thái âm, và vì vậy liên hệ đến các nguyệt tinh quân hay Pitris, gây ra sự suy yếu trong sự nắm giữ của các vị ấy đối với các vị tiểu kiến tạo, khiến các vị này chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ các dòng mãnh lực của các Thái dương Thiên Thần, và dẫn đến một tình huống rốt cuộc sẽ đưa đến sự trở về của các thái âm tổ phụ ở mọi cấp độ về điểm trung tâm của chất liệu mãnh lực. Theo nghĩa thông linh thì kết quả của dòng tuôn xuống là sự kích thích tâm thức, và sự đạt được (qua sự kích thích ấy) các năng lực thông linh tiềm ẩn trong con người. Ba trung tâm hồng trần cao hơn của y, tuyến tùng, thể tuyến yên, và trung tâm alta major đều bị ảnh hưởng, và con người trở nên nhận biết một cách thông linh trong bộ não hồng trần về các ảnh hưởng, biến cố và quyền năng cao hơn. Tùy theo cung liên quan mà trung tâm bị ảnh hưởng. Mãnh lực của các nguyệt tinh quân, vốn đã thành công trong việc giữ cho ba cơ quan này ở trạng thái tĩnh, bị thay thế và các Thái dương Thiên Thần tuôn năng lượng của mình vào.

All this again is closely connected with the threefold energy of the physical body, and produces effects within the spinal column which arouses the kundalini fire at the base of the spine, causing it to mount along the triple spinal channel, again according to ray and aspect involved. More anent this may not here be said, as the dangers of a premature knowledge along this line are far greater than the dangers of ignorance. Suffice it to point out that the fires at the lower centres,—those below the diaphragm—have, by the time the second initiation is reached, usually mounted to the centre between the shoulder blades; at the second initiation they rise as far as the head, and all the fires of the torso are then active. All that remains then to do is to centralise them, to produce the necessary geometrical interplay between the seven head centres, and then to focus them all prior to the final liberation in the highest centre of all. [Page 887]

Tất cả điều này lại liên hệ chặt chẽ với năng lượng tam phân của thể xác, và tạo ra các hiệu quả trong cột sống làm thức dậy hỏa kundalini ở đáy cột sống, khiến nó đi lên dọc theo kênh cột sống tam phân, lại tùy theo cung và phương diện liên quan. Không thể nói thêm ở đây về điều này, vì những nguy hiểm của một tri thức quá sớm theo đường lối này còn lớn hơn nhiều so với những nguy hiểm của sự vô minh. Chỉ cần chỉ ra rằng các ngọn lửa ở các trung tâm thấp,—những trung tâm dưới cơ hoành—đến lúc đạt lần điểm đạo thứ hai, thường đã đi lên đến trung tâm giữa hai bả vai; ở lần điểm đạo thứ hai chúng dâng lên tận đầu, và khi đó mọi ngọn lửa của thân mình đều hoạt động. Khi ấy, tất cả những gì còn lại phải làm là tập trung chúng lại, tạo ra sự tương tác hình học cần thiết giữa bảy trung tâm đầu, rồi tập trung tất cả chúng trước khi giải phóng cuối cùng trong trung tâm cao nhất. [Page 887]

4. The Fire Elementals, The Lesser Builders

4. Các hành khí của lửa, các vị tiểu kiến tạo

a. Introductory.

a. Dẫn nhập.

It will be apparent now that in our consideration of the deva Builders, great and small, of the solar system, we have hitherto practically confined ourselves to those who are the functioning agents in the three worlds of human endeavour. We have dealt briefly with the Builders on the evolutionary arc, the greater entities who either have passed through the human kingdom, and therefore have left that stage of evolution behind them in earlier cycles, or are at this time the “solar agents” of human manifestation. All these forms of divine existence represent—in their own place—aspects of positive force. We come now to the consideration of the lesser builders in the three worlds, those who represent the negative aspect of force, being on the involutionary arc, and who are, therefore, the recipients of energy and influences. They are worked upon by energy, and through the activity of the greater Builders are forced into different directions in space, being built into the differing forms. The energy that works upon them, as is well known, emanates from the second aspect, and in their totality they form the great Mother.

Giờ đây sẽ thấy rõ rằng trong khi xem xét các thiên thần kiến tạo, lớn và nhỏ, của hệ mặt trời, cho đến nay chúng ta trên thực tế hầu như chỉ giới hạn vào những vị là các tác nhân hoạt động trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Chúng ta đã bàn sơ lược về các đấng kiến tạo trên cung tiến hoá, những thực thể lớn hơn hoặc đã đi qua giới nhân loại, và vì thế đã bỏ lại giai đoạn tiến hoá ấy phía sau trong các chu kỳ trước, hoặc hiện nay là các “tác nhân thái dương” của biểu hiện nhân loại. Tất cả các hình thức hiện hữu thiêng liêng này đại diện—ở vị trí riêng của mình—cho các phương diện của mãnh lực dương. Giờ đây chúng ta chuyển sang xem xét các vị tiểu kiến tạo trong ba cõi giới, những vị đại diện cho phương diện âm của mãnh lực, vì ở trên cung giáng hạ tiến hoá, và do đó là những vị tiếp nhận năng lượng và ảnh hưởng. Các vị ấy bị năng lượng tác động, và qua hoạt động của các đấng kiến tạo lớn hơn bị buộc phải đi theo những hướng khác nhau trong không gian, được xây dựng vào các hình tướng khác nhau. Năng lượng tác động lên các vị ấy, như ai cũng biết, phát ra từ phương diện thứ hai, và trong tính toàn thể của mình các vị ấy tạo thành Người Mẹ vĩ đại.

I would call to the attention of all students the fact that these lesser builders are literally a “sea of fire” upon which the great breath, or the AUM, takes effect. Each fiery spark, or atom, becomes (through the action of the Word), vitalised with new life, and impregnated with a different type of energy. In the union of the life of atomic substance itself with that which causes the atoms to cohere, and to form vehicles of some kind or another, can be seen demonstrating the “Son of God.” Herein lies the essential duality of all manifestation; this duality is later supplemented by the life of the One Who sounds the Word. Thus is the cosmic incarnation [Page 888] brought about with the three factors entering in. This has been sufficiently dealt with in earlier pages.

Tôi muốn lưu ý tất cả các đạo sinh đến sự kiện rằng các vị tiểu kiến tạo này theo nghĩa đen là một “biển lửa” mà trên đó hơi thở vĩ đại, hay AUM, tác động. Mỗi tia lửa, hay nguyên tử, nhờ tác động của Linh từ, được tiếp sinh lực bằng sự sống mới, và được thấm nhuần một loại năng lượng khác. Trong sự hợp nhất giữa sự sống của chính chất liệu nguyên tử với cái khiến các nguyên tử kết dính lại và tạo thành các vận cụ thuộc loại này hay loại khác, có thể thấy “Con của Thượng đế” đang được biểu lộ. Chính trong đó có tính nhị nguyên thiết yếu của mọi biểu hiện; tính nhị nguyên này về sau được bổ sung bởi sự sống của Đấng xướng Linh từ. Như vậy sự nhập thể vũ trụ [Page 888] được tạo ra với ba yếu tố cùng tham dự. Điều này đã được bàn đến đầy đủ trong các trang trước.

Much that will have to be said will be of a tabulatory nature, and the only way in which students can check up the approximate accuracy of that which is imparted will be through a careful meditation upon:

Nhiều điều sẽ phải được nói ra dưới dạng bảng biểu, và cách duy nhất để các đạo sinh kiểm tra độ chính xác gần đúng của điều được truyền đạt là qua sự tham thiền cẩn trọng về:

a. The Law of Correspondences.

a. định luật tương ứng.

b. The realisable probabilities.

b. những xác suất có thể chứng nghiệm được.

c. The indications in occult literature of a corroborative nature.

c. những chỉ dẫn trong văn liệu huyền bí có tính chất xác nhận.

Students should remember that we are dealing with involutionary substance, or atomic matter. This atomic matter is living substance, each atom being a tiny life palpitating with the vitality of the third Logos. These lives, being negative energy, are responsive to their polar opposite, and can (under the Law of Attraction and Repulsion) be built into forms which are the expression of the second aspect. Eventually the forms themselves become in their turn negative, and responsive to still another type of force, becoming recipients of the life of the first Logos when the fourth or human kingdom is reached.

Các đạo sinh nên nhớ rằng chúng ta đang bàn đến chất liệu giáng hạ tiến hoá, hay vật chất nguyên tử. Vật chất nguyên tử này là chất liệu sống, mỗi nguyên tử là một sự sống nhỏ bé rung động với sinh lực của Logos thứ ba. Các sự sống này, vì là năng lượng âm, nên đáp ứng với cực đối nghịch của mình, và có thể (theo Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi) được xây dựng thành những hình tướng là biểu hiện của phương diện thứ hai. Cuối cùng chính các hình tướng ấy đến lượt mình trở nên âm, và đáp ứng với một loại mãnh lực khác nữa, trở thành những kẻ tiếp nhận sự sống của Logos thứ nhất khi giới thứ tư hay giới nhân loại được đạt đến.

This Treatise seeks to prove, that in the fourth kingdom the three fires meet:

Luận về Lửa Vũ Trụ này tìm cách chứng minh rằng, trong giới thứ tư, ba ngọn lửa gặp nhau:

a. Fire by friction, or the negative Brahma Aspect, the third Aspect.

a. Lửa ma sát, hay phương diện Brahma âm, phương diện thứ ba.

b. Solar Fire, or the positive negative Vishnu Aspect, the second Aspect.

b. Lửa Thái dương, hay phương diện Vishnu dương-âm, phương diện thứ hai.

c. Electric Fire, or the positive Shiva Aspect, the first Aspect.

c. Lửa Điện, hay phương diện Shiva dương, phương diện thứ nhất.

Man in the three worlds, consciously or unconsciously, recapitulates the logoic process, and becomes a creator, working in substance through the factor of his positive energy. He wills, he thinks, he speaks, and thought-forms eventuate. Atomic substance is attracted to the [Page 889] enunciator. The tiny lives which compose that substance are forced (through the energy of the thinker), into forms, which are themselves active, vitalised and powerful. What man builds is either a beneficent or a maleficent creation according to the underlying desire, motive, or purpose.

Con người trong ba cõi giới, một cách hữu thức hay vô thức, lặp lại tiến trình logoic, và trở thành một đấng sáng tạo, hoạt động trong chất liệu qua yếu tố năng lượng dương của mình. Y ý chí, y suy nghĩ, y nói, và các Hình tư tưởng xuất hiện. Chất liệu nguyên tử bị hút đến [Page 889] người phát ngôn. Những sự sống nhỏ bé cấu thành chất liệu ấy bị buộc (qua năng lượng của người tư tưởng) vào các hình tướng, mà chính các hình tướng ấy lại hoạt động, được tiếp sinh lực và đầy quyền năng. Điều con người xây dựng là một sáng tạo thiện lành hay độc hại tùy theo dục vọng, động cơ hay mục đích nền tảng.

It is essential that we endeavour to make practical what is here to be imparted, as it is useless for man to study the groups of lesser builders, their functions and their names, unless he realises that with many of them he has an intimate connection, being himself one of the great builders, and a creator within the planetary scheme. Men should remember that through the power of their thoughts and their spoken words they definitely produce effects upon other human beings functioning on the three planes of human evolution and upon the entire animal kingdom. The separative and maleficent thoughts of man are largely responsible for the savage nature of wild beasts, and the destructive quality of some of nature’s processes, including certain phenomena, such as plague and famine.

Điều cốt yếu là chúng ta phải cố gắng làm cho những gì được truyền đạt ở đây trở nên thực tiễn, vì con người nghiên cứu các nhóm tiểu kiến tạo, các chức năng và tên gọi của họ sẽ là vô ích nếu y không chứng nghiệm rằng mình có một mối liên hệ mật thiết với nhiều vị trong số họ, vì chính y là một trong các đại kiến tạo, và là một đấng sáng tạo trong hệ hành tinh. Con người nên nhớ rằng qua quyền năng của tư tưởng và lời nói của mình, họ thực sự tạo ra các hiệu quả lên những con người khác đang hoạt động trên ba cõi của tiến hoá nhân loại và lên toàn bộ giới động vật. Những tư tưởng chia rẽ và độc hại của con người phần lớn chịu trách nhiệm về bản chất hung dữ của thú hoang, và phẩm tính hủy diệt của một số tiến trình trong tự nhiên, kể cả một số hiện tượng như dịch bệnh và nạn đói.

It is of no value to man to know the names of some of the “army of the voice” unless he comprehends his relationship to that army, unless he apprehends the responsibility which is his to be a beneficent creator, working under the law of love, and not impelled to the creative act through selfish desire, or uncontrolled activity.

Việc biết tên của một số thành phần trong “đạo quân của tiếng nói” không có giá trị gì đối với con người trừ phi y hiểu được mối liên hệ của mình với đạo quân ấy, trừ phi y lĩnh hội được trách nhiệm của mình là phải là một đấng sáng tạo thiện lành, hoạt động dưới định luật bác ái, chứ không bị thúc đẩy vào hành vi sáng tạo bởi dục vọng ích kỷ hay hoạt động không kiểm soát.

b. Physical Plane Elementals.

b. Hành khí cõi hồng trần.

It should be remembered that the devas we have been considering are the originators of impulse, and the manipulators of energy in their own degree, and on their own plane. In connection with them are to be found, therefore, the recipients of force, or the multitude of lives of an elemental nature which form the sumtotal of the matter of a plane. These are swept on waves of energy, through the impulse of the Breath, and as the result of [Page 890] vibratory action, into all forms as we know them on the physical plane. Therefore, in connection with manifestation on the physical plane the devas may be divided into three groups:

Cần nhớ rằng các thiên thần mà chúng ta đã xem xét là những vị khởi phát xung lực, và là những vị điều khiển năng lượng trong cấp độ riêng của mình và trên cõi riêng của mình. Vì vậy, liên hệ với các vị ấy có thể tìm thấy những kẻ tiếp nhận mãnh lực, hay vô số sự sống có bản chất hành khí tạo thành tổng số vật chất của một cõi. Các sự sống này bị cuốn đi trên những làn sóng năng lượng, qua xung lực của Hơi Thở, và như là kết quả của [Page 890] tác động rung động, vào mọi hình tướng như chúng ta biết trên cõi hồng trần. Vì vậy, liên quan đến biểu hiện trên cõi hồng trần, các thiên thần có thể được chia thành ba nhóm:

1. The transmitters of the will of God, the originators of activity in deva substance. These are the greater builders in their various groups.

1. Những vị truyền đạt Ý Chí của Thượng Đế, những vị khởi phát hoạt động trong chất liệu thiên thần. Đây là các đấng kiến tạo lớn hơn trong những nhóm khác nhau của các vị ấy.

2. The manipulators of the initiated energy. These are the myriads of workers with force who transmit the impulse in their turn to the elemental essence. They are the builders of lesser degree, but are on the evolutionary arc as are the first group.

2. Những vị điều khiển năng lượng đã được khởi phát. Đây là vô số người hoạt động với mãnh lực, đến lượt mình truyền xung lực đến Tinh chất hành khí. Họ là các đấng kiến tạo cấp thấp hơn, nhưng ở trên cung tiến hoá cũng như nhóm thứ nhất.

3. The recipients of force, the sumtotal of the living substance of a plane. These lives are passive in the hands of the builders of greater degree.

3. Những kẻ tiếp nhận mãnh lực, tổng số chất liệu sống của một cõi. Các sự sống này thụ động trong tay các đấng kiến tạo cấp cao hơn.

The three groups to be considered are:

Ba nhóm cần được xem xét là:

1. The elementals of densest matter.

1. Các hành khí của vật chất đậm đặc nhất.

2. The elementals of liquid matter.

2. Các hành khí của vật chất lỏng.

3. The elementals of gaseous matter.

3. Các hành khí của vật chất khí.

We must bear in mind as we study these three groups that we are not concerned with the transmitters, but with the manipulators and with the recipients of energy.

Khi nghiên cứu ba nhóm này, chúng ta phải ghi nhớ rằng chúng ta không bàn đến các vị truyền đạt, mà bàn đến các vị điều khiển và những kẻ tiếp nhận năng lượng.

The Elementals of Densest Matter. These are the workers and builders which are concerned with the tangible and objective part of all manifestation. In their totality they literally form that which can be touched, seen, and contacted physically by man. In considering these matters we must never dissociate the various groups in our minds in a too literal sense, for they all interpenetrate and blend, in the same manner as man’s physical body is compounded of dense, liquid, gaseous, and etheric matter. Diversity, producing a unity, is everywhere to be seen; this fact must constantly be borne [Page 891] in mind by the occult student when studying the subhuman forms of existence. There is a distinct danger in all tabulations, for they tend to the forming of hard and fast divisions, whereas unity pervades all.

Các hành khí của vật chất đậm đặc nhất. Đây là những người hoạt động và những đấng kiến tạo có liên quan đến phần hữu hình và khách quan của mọi biểu hiện. Trong tổng thể của chúng, chúng thực sự tạo thành cái có thể được con người chạm tới, nhìn thấy và tiếp xúc trên phương diện hồng trần. Khi xem xét các vấn đề này, chúng ta không bao giờ được tách rời các nhóm khác nhau trong trí óc mình theo nghĩa quá sát mặt chữ, vì tất cả chúng đều xuyên thấm lẫn nhau và hòa trộn với nhau, cũng theo cách mà thể xác của con người được cấu thành từ vật chất đậm đặc, lỏng, khí và dĩ thái. Tính đa dạng tạo ra một sự hợp nhất có thể được thấy ở khắp nơi; sự kiện này phải luôn luôn được ghi nhớ [Page 891] trong tâm trí của đạo sinh huyền bí học khi nghiên cứu các hình thức tồn tại dưới nhân loại. Có một nguy cơ rõ rệt trong mọi sự lập bảng, vì chúng có khuynh hướng tạo ra những phân chia cứng nhắc và cố định, trong khi sự hợp nhất thấm nhuần tất cả.

Among the manipulating devas of the lowest level of the dense physical plane are to be found certain subterranean forms of existence, of which hints are to be found in the ancient and occult books. There is to be found in the very bowels of the earth, an evolution of a peculiar nature, with a close resemblance to the human. They have bodies of a peculiarly gross kind, which might be regarded as distinctly physical as we understand the term. They dwell in settlements, or groups, under a form of government suited to their needs in the central caves several miles below the crust of the earth. Their work is closely connected with the mineral kingdom, and the “agnichaitans” of the central fires are under their control. Their bodies are constituted so as to stand much pressure, and they are not dependent upon as free a circulation of air as man is, nor do they resent the great heat to be found in the earth’s interior. Little can here be communicated anent these existences, for they are connected with the lesser vital portions of the physical body of the planetary Logos, finding their microcosmic correspondence in the feet and legs of a man. They are one of the factors which make possible the revolutionary progressive activity of a planet.

Trong số các thiên thần thao tác ở cấp thấp nhất của cõi hồng trần đậm đặc có thể tìm thấy một số dạng tồn tại dưới lòng đất, mà những ám chỉ về chúng có thể được thấy trong các sách cổ và huyền bí. Ngay trong lòng sâu của trái đất có một dòng tiến hoá có tính chất đặc biệt, rất giống với con người. Chúng có những thể thuộc loại đặc biệt thô nặng, có thể được xem là rõ rệt thuộc hồng trần theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ này. Chúng sống trong các khu định cư, hay các nhóm, dưới một hình thức cai quản thích hợp với nhu cầu của chúng trong những hang động trung tâm cách lớp vỏ trái đất nhiều dặm bên dưới. Công việc của chúng liên hệ chặt chẽ với giới kim thạch, và các “agnichaitan” của những ngọn lửa trung tâm nằm dưới sự kiểm soát của chúng. Thể của chúng được cấu tạo để chịu được áp lực lớn, và chúng không phụ thuộc vào sự lưu thông không khí tự do như con người, cũng không khó chịu trước sức nóng lớn tìm thấy trong nội địa trái đất. Ở đây chỉ có thể truyền đạt rất ít điều liên quan đến các tồn tại này, vì chúng liên hệ với những phần sinh lực nhỏ hơn của thể xác của Hành Tinh Thượng Đế, tìm thấy đối phần tiểu thiên địa của chúng nơi bàn chân và cẳng chân của con người. Chúng là một trong những yếu tố làm cho hoạt động tiến bộ mang tính cách mạng của một hành tinh trở nên khả hữu.

Allied with them are several other groups of low class entities, whose place in the scheme of things can only be described as having relation to the grosser planetary functions. Little is gained by enlarging upon these lives and their work; it is not possible for man in any way to contact them, nor would it be desirable. When they have pursued their evolutionary cycle, they will take their place in a later cycle in the ranks of certain deva bodies that are related to the animal kingdom.

Liên kết với chúng là vài nhóm thực thể cấp thấp khác, mà vị trí của chúng trong hệ sự vật chỉ có thể được mô tả là có liên hệ với những chức năng hành tinh thô nặng hơn. Mở rộng thêm về các sự sống này và công việc của chúng cũng không thu được bao nhiêu; con người không thể tiếp xúc với chúng theo bất kỳ cách nào, và điều đó cũng không đáng mong muốn. Khi chúng đã theo đuổi xong chu kỳ tiến hoá của mình, chúng sẽ đảm nhận vị trí trong một chu kỳ sau giữa hàng ngũ của một số thể thiên thần có liên hệ với giới động vật.

[Page 892] It is commonly supposed that all the fairies, gnomes, elves, and like nature spirits are to be found solely in etheric matter, but this is not so. They are to be found in bodies of gaseous and liquid substance likewise, but the mistake has arisen for the reason that the basis of all that which can be objectively seen is the etheric structure, and these little busy lives frequently protect their dense physical activities through the agency of glamour, and cast a veil over their objective manifestation. When etheric vision is present then they can be seen, for the glamour, as we understand it, is only a veil over that which is tangible.

[Page 892] Người ta thường cho rằng tất cả các tiên nữ, gnome, elf và những tinh linh tự nhiên tương tự chỉ được tìm thấy trong vật chất dĩ thái, nhưng điều này không đúng. Chúng cũng được tìm thấy trong những thể bằng chất liệu khí và lỏng, nhưng sự nhầm lẫn đã phát sinh vì lý do rằng nền tảng của mọi cái có thể được nhìn thấy một cách khách quan là cấu trúc dĩ thái, và những sự sống nhỏ bé bận rộn này thường bảo vệ các hoạt động hồng trần đậm đặc của chúng thông qua tác nhân của ảo cảm, và phủ một bức màn lên biểu hiện khách quan của chúng. Khi linh thị dĩ thái hiện diện thì chúng có thể được nhìn thấy, vì ảo cảm, theo cách chúng ta hiểu, chỉ là một bức màn che phủ cái hữu hình.

Students must at this juncture remember that all dense physical forms, whether of a tree, an animal, a mineral, a drop of water, or a precious stone, are in themselves elemental lives constructed of living substance by the aid of living manipulators, acting under the direction of intelligent architects. It will immediately become apparent why it is not possible in any way to tabulate in connection with this particular lowest group. A beautiful diamond, a stately tree, or a fish in the water are but devas after all. It is the recognition of this essential livingness which constitutes the basic fact in all occult investigation, and is the secret of all beneficent magic. It is not my purpose, therefore, to deal more specifically with these lowest forms of divine life, except to impart two facts, and thus give indication of the solution of two problems which have oft disturbed the average student; these are, first, the problem as to the purpose of all reptilian life, and, secondly, the specific connection of the bird evolution with the deva kingdom.

Đến lúc này, các đạo sinh phải nhớ rằng mọi hình tướng hồng trần đậm đặc, dù là của cây cối, động vật, khoáng vật, một giọt nước hay một viên đá quý, tự thân đều là những sự sống hành khí được cấu tạo từ chất liệu sống với sự trợ giúp của những đấng thao tác sống, hoạt động dưới sự chỉ đạo của các kiến trúc sư thông tuệ. Sẽ lập tức trở nên rõ ràng vì sao không thể theo bất kỳ cách nào lập bảng liên quan đến nhóm thấp nhất đặc biệt này. Một viên kim cương tuyệt đẹp, một cây cổ thụ uy nghi, hay một con cá trong nước, rốt cuộc cũng chỉ là các thiên thần. Chính sự nhận biết tính sống thiết yếu này tạo thành sự kiện nền tảng trong mọi khảo cứu huyền bí, và là bí mật của mọi huyền thuật từ thiện. Vì vậy, mục đích của tôi không phải là bàn đến cụ thể hơn về những hình thức thấp nhất này của sự sống thiêng liêng, ngoại trừ việc truyền đạt hai sự kiện, và như thế đưa ra chỉ dẫn về lời giải cho hai vấn đề vốn thường làm bối rối đạo sinh trung bình; đó là, thứ nhất, vấn đề về mục đích của toàn bộ sự sống loài bò sát, và thứ hai, mối liên hệ đặc thù của tiến hoá loài chim với giới thiên thần.

The secret of the reptile kingdom is one of the mysteries of the second round, and there is a profound significance connected with the expression “the serpents of wisdom” which is applied to all adepts of the good law. [Page 893] The reptile kingdom has an interesting place in all mythologies, and all ancient forms of truth impartation, and this for no arbitrary reason. It is not possible to enlarge upon the underlying truth which is hidden in the karmic history of our planetary Logos, and is revealed as part of the teaching given to initiates of the second degree.

Bí mật của giới bò sát là một trong những huyền nhiệm của cuộc tuần hoàn thứ hai, và có một thâm nghĩa sâu xa gắn với cách diễn đạt “những con rắn minh triết” được áp dụng cho mọi chân sư của thiện luật. [Page 893] Giới bò sát có một vị trí thú vị trong mọi thần thoại và mọi hình thức truyền đạt chân lý cổ xưa, và điều này không phải không có lý do. Không thể mở rộng về chân lý nền tảng được che giấu trong lịch sử nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, và được mặc khải như một phần của giáo huấn ban cho các điểm đạo đồ bậc hai.

The second great life impulse, or life wave, initiated by our planetary Logos, when brought in conjunction with the first, was the basis of that activity which we call evolutionary energy; it resulted in a gradual unrolling, or revelation, of the divine form. The heavenly serpent manifested, being produced out of the egg, and began its convolutions, gaining in strength and majesty, and producing through its immense fecundity millions of lesser “serpents.” The reptile kingdom is the most important part of the animal kingdom in certain aspects, if such an apparently contradictory statement can be made. For all animal life can be seen passing through it during the prenatal stage, or returning to it when the form is in advanced decomposition. The connection is not purely a physical one, but it is also psychic. When the real nature and method of the kundalini, or serpent fire, is known, this relation will be better understood, and the history of the second round assume a new importance.

Xung lực sự sống lớn thứ hai, hay làn sóng sự sống, do Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta khởi xướng, khi được đưa vào đồng vị với xung lực thứ nhất, đã là nền tảng của hoạt động mà chúng ta gọi là năng lượng tiến hoá; nó dẫn đến sự mở cuộn dần dần, hay sự mặc khải, của hình tướng thiêng liêng. Con rắn thiên giới biểu hiện, được sinh ra từ quả trứng, và bắt đầu những vòng cuộn của nó, lớn lên về sức mạnh và uy nghi, và qua khả năng sinh sản to lớn của nó tạo ra hàng triệu “con rắn” nhỏ hơn. Giới bò sát là phần quan trọng nhất của giới động vật trong một số phương diện, nếu có thể đưa ra một phát biểu có vẻ mâu thuẫn như vậy. Vì mọi sự sống động vật đều có thể được thấy đi qua nó trong giai đoạn tiền sinh, hoặc quay trở lại nó khi hình tướng ở trong tình trạng phân huỷ cao độ. Mối liên hệ này không thuần túy là hồng trần, mà còn là thông linh. Khi bản chất và phương pháp thực sự của kundalini, hay lửa rắn, được biết đến, mối liên hệ này sẽ được thấu hiểu rõ hơn, và lịch sử của cuộc tuần hoàn thứ hai sẽ mang một tầm quan trọng mới.

The secret of life lies hidden in the serpent stage,—not the life of the Spirit, but the life of the soul, and this will be revealed as the “serpent of the astral light” is truly approached, and duly studied. One of the four Lipika Lords, Who stand nearest to our planetary Logos, is called “The Living Serpent,” and His emblem is a serpent of blue with one eye, in the form of a ruby, in its head. Students who care to carry the symbology a little further can connect this idea with the “eye of Shiva” which sees and knows all, and records all, as [Page 894] does the human eye in lesser degree; all is photographed upon the astral light, as the human eye receives impressions upon the retina. The same thought is frequently conveyed in the Christian Bible, in the Hebrew and Christian recognition of the all-seeing eye of God. The application and value of the hints here given may be apparent if the subject of the third eye is studied, and its relation to the spine, and the spinal currents investigated. This third eye is one of the objects of kundalinic vivification, and in the spinal territory there is first the centre at the base of the spine, the home of the sleeping fire. Next we have the triple channel along which that fire will travel in due course of evolution, and finally we find at the summit of the column, and surmounting all, that small organ called the pineal gland, which when vivified causes the third eye to open, and the beauties of the higher, subtler planes to stand revealed. All this physico-psychical occurrence is possible to man owing to certain events which happened to the Heavenly Serpent in the second, or serpent, round. These happenings necessitated the formation and evolution of that peculiar and mysterious family we call the reptilian. These forms of divine life are very intimately connected with the second planetary scheme, being responsive to energy emanating from that scheme, and reaching the earth via the second globe in the second chain. A group of special devas (connected with a particular open sound in the planetary Word), work with the reptile evolution.

Bí mật của sự sống ẩn giấu trong giai đoạn con rắn,—không phải sự sống của tinh thần, mà là sự sống của linh hồn, và điều này sẽ được mặc khải khi “con rắn của ánh sáng cảm dục” được tiếp cận đúng đắn và được nghiên cứu thích đáng. Một trong bốn Đấng Lipika, Đấng đứng gần Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta nhất, được gọi là “Con Rắn Sống,” và biểu tượng của Ngài là một con rắn màu lam với một con mắt, dưới hình thức một viên hồng ngọc, ở trong đầu nó. Những đạo sinh nào muốn đẩy biểu tượng học đi xa hơn một chút có thể nối kết ý tưởng này với “mắt của Shiva” là cái thấy và biết mọi sự, và ghi lại mọi sự, cũng như [Page 894] mắt người làm điều đó ở mức độ nhỏ hơn; mọi sự đều được chụp lại trên ánh sáng cảm dục, cũng như mắt người tiếp nhận các ấn tượng trên võng mạc. Cùng một tư tưởng này thường được chuyển tải trong Kinh Thánh Cơ Đốc, trong sự công nhận của Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo về con mắt toàn tri của Thượng đế. Sự áp dụng và giá trị của những ám chỉ được đưa ra ở đây có thể sẽ rõ ràng nếu chủ đề về con mắt thứ ba được nghiên cứu, cùng mối liên hệ của nó với cột sống, và các dòng chảy trong cột sống được khảo sát. Con mắt thứ ba này là một trong những đối tượng của sự tiếp sinh lực kundalini, và trong khu vực cột sống trước hết có trung tâm ở đáy cột sống, nơi cư ngụ của ngọn lửa đang ngủ. Kế đó chúng ta có ba đường dẫn mà ngọn lửa ấy sẽ di chuyển theo trong tiến trình tiến hoá thích hợp, và cuối cùng chúng ta thấy ở đỉnh cột sống, và vượt lên trên tất cả, cơ quan nhỏ gọi là tuyến tùng, mà khi được tiếp sinh lực sẽ khiến con mắt thứ ba mở ra, và vẻ đẹp của các cõi cao hơn, vi tế hơn được mặc khải. Toàn bộ biến cố hồng trần-thông linh này trở nên khả hữu đối với con người nhờ một số sự kiện đã xảy ra cho Đấng Thiên Nhân Xà trong cuộc tuần hoàn thứ hai, hay cuộc tuần hoàn con rắn. Những biến cố này đòi hỏi sự hình thành và tiến hoá của họ đặc biệt và huyền bí mà chúng ta gọi là loài bò sát. Những hình thức sự sống thiêng liêng này liên hệ rất mật thiết với hệ hành tinh thứ hai, vì chúng đáp ứng với năng lượng phát ra từ hệ đó, và đến trái đất qua bầu hành tinh thứ hai trong dãy thứ hai. Một nhóm thiên thần đặc biệt (liên hệ với một âm thanh mở trong Linh từ hành tinh), làm việc với tiến hoá loài bò sát.

It should be noted here that this evolution on the etheric planes has a closer effect upon man than on the physical. If students will apply themselves to the consideration of these facts, to the investigation of the serpent lore in all lands, mythologies and scriptures, and if they will link up all this knowledge with that concerning those heavenly constellations which have a serpent appellation (such as, for instance, the Dragon), much [Page 895] illumination may come. If the intuition suffices, knowledge may then be imparted which will make clearer the connection between the physical bodies with their centres, and the psychic nature.

Cần lưu ý rằng tiến hoá này trên các cõi dĩ thái có ảnh hưởng gần gũi đến con người hơn là trên cõi hồng trần. Nếu các đạo sinh chuyên tâm xem xét các sự kiện này, khảo cứu truyền thuyết về rắn ở mọi xứ sở, thần thoại và kinh điển, và nếu họ nối kết toàn bộ tri thức này với tri thức liên quan đến những chòm sao thiên giới mang danh xưng con rắn (chẳng hạn như Rồng), thì nhiều [Page 895] soi sáng có thể đến. Nếu trực giác đủ mạnh, khi đó tri thức có thể được truyền đạt, điều sẽ làm sáng tỏ hơn mối liên hệ giữa các thể xác với các trung tâm của chúng, và bản chất thông linh.

The bird kingdom is specifically allied to the deva evolution. It is the bridging kingdom between the purely deva evolution and two other manifestations of life.

Giới chim liên minh một cách đặc thù với tiến hoá thiên thần. Đó là giới bắt cầu giữa tiến hoá thuần thiên thần và hai biểu hiện khác của sự sống.

First. Certain groups of devas who desire to pass into the human kingdom, having developed certain faculties, can do so via the bird kingdom, and certain devas who wish to get in communication with human beings can do so via the bird kingdom. This truth is hinted at in the Christian Bible and Christian religious representations by angels or devas being frequently represented as having wings. These cases are not many, as the usual method is for the devas gradually to work themselves towards individualisation through expansive feeling, but in the cases which do occur these devas pass several cycles in the bird kingdom, building in a response to a vibration which will ultimately swing them into the human family. In this way they become accustomed to the use of a gross form without the limitations, and impurities, which the animal kingdom engenders.

Thứ nhất. Một số nhóm thiên thần mong muốn đi vào giới nhân loại, sau khi đã phát triển một số năng lực nhất định, có thể làm như vậy qua giới chim, và một số thiên thần muốn đi vào giao tiếp với con người cũng có thể làm như vậy qua giới chim. Chân lý này được ám chỉ trong Kinh Thánh Cơ Đốc và trong các hình tượng tôn giáo Cơ Đốc khi các thiên thần thường được mô tả là có cánh. Những trường hợp này không nhiều, vì phương pháp thông thường là các thiên thần dần dần tự tiến tới biệt ngã hóa qua cảm xúc mở rộng, nhưng trong những trường hợp có xảy ra, các thiên thần này trải qua vài chu kỳ trong giới chim, xây dựng nơi mình một sự đáp ứng với một rung động mà cuối cùng sẽ đưa chúng vào gia đình nhân loại. Bằng cách này chúng quen với việc sử dụng một hình tướng thô nặng mà không có những giới hạn và tạp chất do giới động vật tạo ra.

Second. Many devas pass out of the group of passive lives in the effort to become manipulating lives via the bird kingdom, and before becoming fairies, elves, gnomes, or other sprites, pass a certain number of cycles in the bird realm.

Thứ hai. Nhiều thiên thần rời khỏi nhóm các sự sống thụ động trong nỗ lực trở thành các sự sống thao tác qua giới chim, và trước khi trở thành tiên nữ, elf, gnome hay các tinh linh khác, chúng trải qua một số chu kỳ trong giới chim.

Why the two above events occur will not be apparent to the casual reader, nor will the true connection between the birds and the devas be accurately realised by the occult student unless he applies himself to the consideration of the “bird or swan out of time and space,” and the place that birds play in the mysteries. Herein lies for him the clue. He must remember likewise the fact that every life of every degree, from a god to the most [Page 896] insignificant of the lesser devas, or builders, must at some time or another pass through the human family.

Vì sao hai biến cố trên xảy ra sẽ không rõ ràng đối với độc giả thông thường, và mối liên hệ thực sự giữa loài chim và các thiên thần cũng sẽ không được đạo sinh huyền bí học chứng nghiệm chính xác trừ phi y chuyên tâm xem xét “con chim hay thiên nga vượt ngoài thời gian và không gian,” và vai trò mà loài chim giữ trong các huyền nhiệm. Chính trong đó có đầu mối cho y. Y cũng phải nhớ sự kiện rằng mọi sự sống ở mọi cấp độ, từ một vị thần cho đến [Page 896] thiên thần nhỏ bé nhất hay đấng kiến tạo nhỏ nhất, vào lúc nào đó đều phải đi qua gia đình nhân loại.

As H. P. B. has pointed out, (S. D., Section X, Vol. I, 384, 435; II, 306.) birds and serpents are closely connected with wisdom, and therefore with the psychic nature of God, of men, and of devas. The study of mythology should reveal certain stages and relationships which will make this matter clearer.

Như H. P. B. đã chỉ ra, (S. D., Section X, Vol. I, 384, 435; II, 306.) chim và rắn liên hệ chặt chẽ với minh triết, và do đó với bản chất thông linh của Thượng đế, của con người, và của các thiên thần. Việc nghiên cứu thần thoại sẽ làm lộ ra một số giai đoạn và mối liên hệ khiến vấn đề này sáng tỏ hơn.

The Elementals and Lesser Devas of Liquid Matter. A very interesting illustration of the interpenetration of all the living matter of creation can be seen in connection with the atmosphere surrounding our planet. In it is to be found:

Các hành khí và các thiên thần nhỏ của vật chất lỏng. Một minh hoạ rất thú vị về sự xuyên thấm lẫn nhau của toàn bộ vật chất sống của tạo thành có thể được thấy liên quan đến bầu khí quyển bao quanh hành tinh chúng ta. Trong đó có thể tìm thấy:

a. Moisture, or those living essences which are the liquid elementals.

a. Độ ẩm, hay những tinh chất sống là các hành khí lỏng.

b. Gaseous substance, or those lives which are linked to all fiery essences, being volatile and the result of heat.

b. Chất liệu khí, hay những sự sống liên kết với mọi tinh chất lửa, có tính bốc hơi và là kết quả của nhiệt.

c. Etheric matter, or the lowest orders of the devas of the ethers.

c. Vật chất dĩ thái, hay các cấp thấp nhất của các thiên thần của các dĩ thái.

This major triplicity, when in conjunction, produces that which we breathe, and that in which we live and move and have our being. To the thoughtful student the air is full of symbology, for it is a synthesis, and that which bridges the higher and the lower strata of manifestation.

Bộ ba lớn này, khi kết hợp với nhau, tạo ra cái mà chúng ta hít thở, và cái trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu. Đối với đạo sinh biết suy tư, không khí đầy biểu tượng học, vì nó là một tổng hợp, và là cái bắt cầu giữa các tầng cao hơn và thấp hơn của biểu hiện.

We must centre our attention first upon those lives which constitute the sumtotal of all that is watery, and liquid throughout manifestation, and in dealing with this we must remember that we are concerned with the most occult of investigations, and with matters which are very closely connected with man’s evolution.

Trước hết, chúng ta phải tập trung chú ý vào những sự sống tạo thành tổng số của mọi cái có tính nước và lỏng trong toàn bộ biểu hiện, và khi bàn đến điều này chúng ta phải nhớ rằng mình đang quan tâm đến một trong những khảo cứu huyền bí nhất, và đến những vấn đề liên hệ rất chặt chẽ với tiến hoá của con người.

The many groups of the water devas of the manipulatory class have been roughly grouped by mythological writers, under the terms undines, mermaids, and other [Page 897] expressions, but their diversity is great, and this will be necessarily apparent when it is remembered that the sumtotal of water upon the earth (oceans, seas, rivers, lakes and streams), far exceeds the dry portion, or land, and every drop of moisture is in itself a tiny life, fulfilling its function and running its cycle. The mythic forms above referred to are but those myriad lives built into a form through which an evolutionary deva is seeking expression.

Nhiều nhóm thiên thần nước thuộc loại thao tác đã được các tác giả thần thoại gom nhóm một cách đại khái dưới các thuật ngữ undine, nàng tiên cá, và những [Page 897] cách gọi khác, nhưng tính đa dạng của chúng rất lớn, và điều này tất yếu sẽ rõ ràng khi nhớ rằng tổng lượng nước trên trái đất (đại dương, biển, sông, hồ và suối) vượt xa phần khô, hay đất liền, và mỗi giọt ẩm tự thân là một sự sống nhỏ bé, hoàn thành chức năng của nó và vận hành chu kỳ của nó. Những hình thức thần thoại vừa được nhắc đến chỉ là những sự sống vô số ấy được xây dựng thành một hình tướng qua đó một thiên thần tiến hoá đang tìm cách biểu lộ.

The extreme interest of this subject might be expressed under certain statements which will give the student some idea of the close attention which should, and eventually will be paid to this subject of the deva lives of watery manifestation. As said above, the aggregate of these lives is greater than the aggregate of those lives which form the sum total of solid earth as we understand the term, even though they do not exceed the number of lives which form the gaseous portion of manifestation; this gaseous portion is found in the atmosphere, interpenetrating dense matter, and filling in a large degree the interior caverns of the planet. The microcosmic resemblance to the great Life of the planet is seen in the fact that both forms are but outer sheaths or frameworks, sheltering an inner “vault”; both forms are hollow, both have their negative and positive extremities, their poles, so to speak, and internally much proceeds affecting the outer evolutions.

Mối quan tâm cực lớn của chủ đề này có thể được diễn đạt qua một số phát biểu sẽ cho đạo sinh một ý niệm nào đó về sự chú ý sát sao nên được, và cuối cùng sẽ được, dành cho chủ đề này về các sự sống thiên thần của biểu hiện nước. Như đã nói ở trên, tổng số các sự sống này lớn hơn tổng số các sự sống tạo thành toàn bộ đất rắn như chúng ta hiểu thuật ngữ đó, dù chúng không vượt quá số lượng các sự sống tạo thành phần khí của biểu hiện; phần khí này được tìm thấy trong bầu khí quyển, xuyên thấm vật chất đậm đặc, và lấp đầy ở mức độ lớn các hang động bên trong hành tinh. Sự tương đồng tiểu thiên địa với Sự sống vĩ đại của hành tinh được thấy trong sự kiện rằng cả hai hình thức chỉ là những vỏ bọc hay khung sườn bên ngoài, che chở một “vòm” bên trong; cả hai hình thức đều rỗng, cả hai đều có các cực âm và dương của chúng, các cực của chúng, có thể nói như vậy, và bên trong nhiều điều diễn ra ảnh hưởng đến các tiến hoá bên ngoài.

One of the most occult of the planets, Neptune, presides over the “devas of the waters”; their presiding deva Lord, Varuna, the Raja of the astral plane, being an emanation from that planet. Students will find it of profound interest to study the close interaction therefore between:

Một trong những hành tinh huyền bí nhất, Sao Hải Vương, chủ trì các “thiên thần của nước”; vị Chúa Tể thiên thần chủ trì của họ, Varuna, Raja của cõi cảm dục, là một phát xạ từ hành tinh đó. Vì vậy, các đạo sinh sẽ thấy vô cùng thú vị khi nghiên cứu sự tương tác chặt chẽ giữa:

1. The sixth plane, the astral plane, and the sixth subplane of the physical plane, the liquid subplane. [Page 898]

1. Cõi thứ sáu, cõi cảm dục, và cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần, cõi phụ lỏng. [Page 898]

2. The sixth subplane of each plane in the solar system, and their relation to each other.

2. Cõi phụ thứ sáu của mỗi cõi trong hệ mặt trời, và mối liên hệ của chúng với nhau.

Herein will be found one reason why men of a relatively low type of physical body, and having an astral body with some sixth subplane matter in it are responsive to higher things and have a spiritual aspiration. The influence emanating from the sixth subplane of the buddhic plane calls out a reciprocal response from the sixth subplane matter in other bodies, and the sixth principle of buddhi under the Law of Correspondences intensifies that vibration.

Chính trong đó có một lý do vì sao những người có loại thể xác tương đối thấp, và có thể cảm dục chứa một ít vật chất cõi phụ thứ sáu, lại đáp ứng với những điều cao hơn và có một khát vọng tinh thần. Ảnh hưởng phát ra từ cõi phụ thứ sáu của cõi Bồ đề gọi ra một sự đáp ứng tương hỗ từ vật chất cõi phụ thứ sáu trong các thể khác, và nguyên khí thứ sáu của Bồ đề dưới định luật tương ứng làm tăng cường rung động đó.

The name Neptune is one under which the planetary Logos of one of the major three schemes is known upon our planet. Certain of His influences and energies affect paramountly the deva essence of this sixth subplane matter, reaching them via the Raja Lord Varuna. This knowledge is of practical value astrologically, for it will enable men to understand the nature of their own physical bodies, and above all of their astral bodies. It is an occult fact that the type of astral matter in a man’s body decides the quality of the watery substance of his physical body. There is, in occultism, no dissociating the physico-psychic natures, for the latter determines the former. The planet Neptune therefore has a profound effect and a close connection under the Law of Correspondences with the sixth, or astral plane, which is the plane of the liquid portion of the logoic physical body, with the sixth subplane of the physical plane, or with the liquid portion of the human physical body and of the planetary physical body, also with the sixth type of energy or force, or the sixth ray.

Tên Neptune là một danh xưng mà dưới đó Hành Tinh Thượng Đế của một trong ba hệ lớn được biết đến trên hành tinh chúng ta. Một số ảnh hưởng và năng lượng của Ngài tác động tối cao lên tinh chất thiên thần của vật chất cõi phụ thứ sáu này, đến với chúng qua Chúa Tể Raja Varuna. Tri thức này có giá trị thực tiễn về mặt chiêm tinh, vì nó sẽ giúp con người hiểu bản chất của chính thể xác mình, và trên hết là của thể cảm dục của mình. Đó là một sự kiện huyền bí rằng loại vật chất cảm dục trong thể cảm dục của một người quyết định phẩm tính của chất liệu nước trong thể xác của y. Trong huyền bí học, không có sự tách rời giữa bản chất hồng trần-thông linh, vì cái sau quyết định cái trước. Do đó, hành tinh Neptune có một ảnh hưởng sâu xa và một mối liên hệ chặt chẽ dưới định luật tương ứng với cõi thứ sáu, hay cõi cảm dục, là cõi của phần lỏng trong thể xác của Thượng đế, với cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần, hay với phần lỏng của thể xác con người và của thể xác hành tinh, cũng như với loại năng lượng hay mãnh lực thứ sáu, hay cung sáu.

The major scheme over which Neptune presides forms a systemic triangle of great interest for esoteric astrologers with the sixth scheme and one other. This is symbolised in the three pronged trident which the god Neptune [Page 899] is always portrayed as holding, the prongs being literally the symbolic triangles connected with each other by three lines of force.

Hệ lớn mà Neptune chủ trì tạo thành một tam giác hệ thống rất đáng quan tâm đối với các nhà chiêm tinh học nội môn cùng với hệ thứ sáu và một hệ khác nữa. Điều này được biểu tượng hóa trong cây đinh ba mà thần Neptune [Page 899] luôn được mô tả là cầm trong tay, các mũi nhọn thực sự là những tam giác biểu tượng nối kết với nhau bằng ba đường mãnh lực.

This planet has also a vital relation to the sixth logoic principle, or Buddhi, and therefore the sixth principle of man. No man begins to co-ordinate the buddhic vehicles until he comes under Neptunian influence in some life or another. When this is the case, his personality horoscope will show Neptunian influence dominating somewhere.

Hành tinh này cũng có một mối liên hệ thiết yếu với nguyên khí thứ sáu của Thượng đế, hay Bồ đề, và do đó với nguyên khí thứ sáu của con người. Không ai bắt đầu phối hợp các vận cụ Bồ đề cho đến khi y chịu ảnh hưởng của Neptune trong một kiếp sống nào đó. Khi điều này xảy ra, lá số chiêm tinh phàm ngã của y sẽ cho thấy ảnh hưởng của Neptune chi phối ở đâu đó.

The Neptunian scheme governs one of the three paths of return, and gathers to itself eventually all those Egos who attain primarily through the manipulation of the sixth type of energy usually called devotion. It is Neptunian influence likewise which presides over and makes possible the second Initiation, wherein the initiate produces results in the astral body, and wherein his astral centres are the object of the Hierophant’s attention. This particular type of energy flows through three centres:

Hệ Neptune cai quản một trong ba con đường trở về, và cuối cùng thu hút về mình tất cả những Chân ngã đạt được chủ yếu qua sự thao tác loại năng lượng thứ sáu thường được gọi là sùng tín. Cũng chính ảnh hưởng của Neptune chủ trì và làm cho lần điểm đạo thứ hai trở nên khả hữu, trong đó điểm đạo đồ tạo ra các kết quả trong thể cảm dục, và trong đó các trung tâm cảm dục của y là đối tượng chú ý của Đấng Điểm đạo. Loại năng lượng đặc biệt này chảy qua ba trung tâm:

a. That particular head centre which is linked to the heart centre.

a. Trung tâm đầu đặc biệt được nối kết với trung tâm tim.

b. The heart centre.

b. Trung tâm tim.

c. The solar plexus.

c. Tùng thái dương.

The planet Neptune, along with the planetary Logos of the sixth ray controls the astral centres in man. This statement involves much esoteric macrocosmic significance. When it is remembered that all centres—human and divine—are composed of deva essence, the connection between this influence and the devas, and their reflex effect upon man, will immediately become apparent.

Hành tinh Neptune, cùng với Hành Tinh Thượng Đế của cung sáu, kiểm soát các trung tâm cảm dục trong con người. Phát biểu này bao hàm nhiều thâm nghĩa huyền bí vĩ mô. Khi nhớ rằng mọi trung tâm—nhân loại và thiêng liêng—đều được cấu thành từ tinh chất thiên thần, mối liên hệ giữa ảnh hưởng này và các thiên thần, cùng tác động phản chiếu của chúng lên con người, sẽ lập tức trở nên rõ ràng.

In the mystery of the sea and the secret of its occult “drying up” or absorption, will be revealed eventually the significance underlying: [Page 900]

Trong huyền nhiệm của biển cả và bí mật của sự “khô cạn” hay hấp thụ huyền bí của nó, cuối cùng sẽ được mặc khải thâm nghĩa nằm bên dưới: [Page 900]

a. The sex impulse, macrocosmically and microcosmically interpreted.

a. Xung lực tính dục, được giải thích theo đại thiên địa và tiểu thiên địa.

b. The cessation of desire.

b. Sự chấm dứt của dục vọng.

c. The direction of fire to the throat centre instead of to the generative organs.

c. Sự hướng lửa đến trung tâm cổ họng thay vì đến các cơ quan sinh dục.

d. Pralaya and obscuration.

d. Giai kỳ qui nguyên và sự che khuất.

e. The meaning of the words “There shall be no more sea” found in the Christian Bible.

e. Ý nghĩa của những lời “Sẽ không còn biển nữa” được tìm thấy trong Kinh Thánh Cơ Đốc.

When meditating upon these thoughts, students will find it well to bear in mind the fact that Neptune is one of the major or synthesising planets, that it is an “absorbing” or “abstracting” planet, and that it is connected with the process whereby eventual perfection is demonstrated. The Son is made perfect, and the cosmic incarnation is brought to a close.

Khi tham thiền về những tư tưởng này, các đạo sinh sẽ thấy hữu ích khi ghi nhớ sự kiện rằng Neptune là một trong những hành tinh lớn hay tổng hợp, rằng nó là một hành tinh “hấp thụ” hay “trừu xuất,” và rằng nó liên hệ với tiến trình qua đó sự toàn hảo tối hậu được biểu lộ. Người Con được làm cho toàn hảo, và sự nhập thể vũ trụ được đưa đến chỗ kết thúc.

There is again a very close esoteric connection between the fact lying behind the Biblical words “the Spirit of God moved upon the face of the waters,” (Bible. Gen., 1:2.) and the ordered lawful activity of the Great Mother as she performs her work of body-building under the impulse of desire. The true relation between the astral plane and the physical plane will only become apparent as students carefully bear in mind that the astral plane of the solar system is the sixth subplane of the cosmic physical plane, and constitutes the sumtotal of the liquid substance of the logoic physical body. When this is realised, the work of the deva essence takes due place; the factor of desire, or of astral motion, and its reflex action upon the physical body via the sixth subplane will become apparent, and the Great Mother will be seen actively engaged, under the influence of desire, in the work of building, nourishing, and producing that warmth and moisture which make manifestation possible. The Mother is the greatest of the devas, and closely linked [Page 901] with the devas of the waters, for moisture of some kind or another is an essential to all life.

Lại có một mối liên hệ huyền bí rất chặt chẽ giữa sự kiện nằm sau những lời trong Kinh Thánh “Thần của Thượng đế vận hành trên mặt nước,” (Bible. Gen., 1:2.) và hoạt động có trật tự theo luật của Đại Mẫu khi Bà thực hiện công việc xây dựng thể dưới xung lực của dục vọng. Mối liên hệ thực sự giữa cõi cảm dục và cõi hồng trần sẽ chỉ trở nên rõ ràng khi các đạo sinh cẩn thận ghi nhớ rằng cõi cảm dục của hệ mặt trời là cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, và tạo thành tổng số chất liệu lỏng của thể xác của Thượng đế. Khi điều này được chứng nghiệm, công việc của tinh chất thiên thần sẽ có vị trí thích đáng; yếu tố dục vọng, hay chuyển động cảm dục, và tác động phản chiếu của nó lên thể xác qua cõi phụ thứ sáu sẽ trở nên rõ ràng, và Đại Mẫu sẽ được thấy đang tích cực tham gia, dưới ảnh hưởng của dục vọng, vào công việc xây dựng, nuôi dưỡng, và tạo ra sự ấm áp cùng độ ẩm khiến biểu hiện trở nên khả hữu. Mẹ là vĩ đại nhất trong các thiên thần, và liên hệ chặt chẽ [Page 901] với các thiên thần của nước, vì một loại độ ẩm nào đó là điều thiết yếu cho mọi sự sống.

The sixth principle, therefore, or the love aspect (the Christ principle), and the sixth plane, are connected; there is an interplay of energy between the fourth cosmic ether, or buddhic energy, and the sixth plane, or astral energy. The devas on both these planes belong essentially to groups over which Neptunian influence presides, hence the astral plane can, and eventually will, directly reflect the buddhic.

Do đó, nguyên khí thứ sáu, hay phương diện tình thương (nguyên khí Christ), và cõi thứ sáu có liên hệ với nhau; có một sự tương tác năng lượng giữa dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay năng lượng Bồ đề, và cõi thứ sáu, hay năng lượng cảm dục. Các thiên thần trên cả hai cõi này về bản chất thuộc về những nhóm mà ảnh hưởng của Neptune chủ trì, vì thế cõi cảm dục có thể, và cuối cùng sẽ, phản chiếu trực tiếp cõi Bồ đề.

The greater building devas on the second plane of the solar system, the monadic plane or the second cosmic ether, direct the energies of the manipulating devas of the fourth cosmic ether, the buddhic plane.

Các đấng đại kiến tạo thiên thần trên cõi thứ hai của hệ mặt trời, cõi chân thần hay dĩ thái vũ trụ thứ hai, chỉ đạo các năng lượng của các thiên thần thao tác của dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề.

The manipulating devas of the fourth cosmic ether will, in due course of evolution, work out the plan in objective perfection through the medium of the living substance of the lesser devas of the liquid or astral plane. When they have done this two results will be seen: first, the astral plane will perfectly reflect the buddhic plane and, secondly, the result of that will be that the physical plane will produce the exact vehicle needed for microcosmic or macrocosmic expression through the force of water, or desire.

Các thiên thần thao tác của dĩ thái vũ trụ thứ tư, trong tiến trình tiến hoá thích hợp, sẽ thực hiện Thiên Cơ đến mức toàn hảo khách quan qua trung gian của chất liệu sống của các thiên thần nhỏ của cõi lỏng hay cõi cảm dục. Khi họ đã làm xong điều này, sẽ thấy hai kết quả: thứ nhất, cõi cảm dục sẽ phản chiếu hoàn hảo cõi Bồ đề và, thứ hai, kết quả của điều đó sẽ là cõi hồng trần tạo ra đúng vận cụ cần thiết cho sự biểu lộ tiểu thiên địa hay đại thiên địa qua mãnh lực của nước, hay dục vọng.

All this is revealed to esotericists in the symbology of the circulatory system in man. As the blood system, with its two types of channels (arteries and veins) and its two types of builders (the red and the white corpuscles), is studied from the occult standpoint, much will be ascertained of a revolutionary nature. The laws of the path of outgoing, and of the path of return, with the two groups of deva lives therein concerned, will be apprehended by man. A further hint may here be given. In the physical body of man in connection with the circulatory system, we find, in the three factors—the heart, the arteries, and the veins—the clue to the three types [Page 902] of devas, and also to the systemic triangle which they represent, and further, to the three modes of divine expression. There is a planetary as well as a systemic circulation, and it is carried on through the medium of deva substance everywhere, macrocosmically as well as microcosmically.

Tất cả điều này được mặc khải cho các nhà bí truyền học trong biểu tượng học của hệ tuần hoàn nơi con người. Khi hệ máu, với hai loại kênh của nó (động mạch và tĩnh mạch) và hai loại đấng kiến tạo của nó (huyết cầu đỏ và huyết cầu trắng), được nghiên cứu từ quan điểm huyền bí, nhiều điều có tính cách mạng sẽ được xác định. Các định luật của con đường đi ra, và của con đường trở về, cùng với hai nhóm sự sống thiên thần liên quan trong đó, sẽ được con người lĩnh hội. Ở đây có thể đưa ra thêm một ám chỉ. Trong thể xác con người, liên hệ với hệ tuần hoàn, chúng ta thấy, trong ba yếu tố—tim, động mạch, và tĩnh mạch—đầu mối cho ba loại [Page 902] thiên thần, và cũng cho tam giác hệ thống mà chúng biểu hiện, và hơn nữa, cho ba phương thức biểu lộ thiêng liêng. Có một sự tuần hoàn hành tinh cũng như hệ thống, và nó được thực hiện qua trung gian của chất liệu thiên thần ở khắp nơi, trên bình diện đại thiên địa cũng như tiểu thiên địa.

The devas of the sixth physical subplane can be divided into three groups, and these again into seven and into forty-nine, thus corresponding with all groups in the solar system. These groups (in their essential nature) respond to that “which lies above more than that which lies below,” which is only an occult way of expressing a relationship of an intimate nature between the devas of fire and the devas of water, and a negation of a close connection between the water devas and the earth. Occultly expressed, through the action of the fire devas, the water devas find liberation.

Các thiên thần của cõi phụ hồng trần thứ sáu có thể được chia thành ba nhóm, và các nhóm này lại chia thành bảy và thành bốn mươi chín, do đó tương ứng với mọi nhóm trong hệ mặt trời. Các nhóm này (trong bản chất thiết yếu của chúng) đáp ứng với “cái nằm bên trên nhiều hơn cái nằm bên dưới,” đó chỉ là một cách diễn đạt huyền bí về một mối liên hệ mật thiết giữa các thiên thần của lửa và các thiên thần của nước, và là sự phủ nhận một mối liên hệ chặt chẽ giữa các thiên thần nước và đất. Được diễn đạt theo huyền bí học, qua hoạt động của các thiên thần lửa, các thiên thần nước tìm thấy sự giải thoát.

The devas of water find for themselves the path of service in their great work of nourishing all the vegetable and animal life upon the planet; the goal for them is to enter into that higher group of devas which we call the gaseous or fire devas. These, through the action of their fire upon the waters, produce that sequence of evaporation, condensation, and eventual precipitation which—through its constant activity—nourishes all life upon the earth. Thus again can the psychic laws of love be seen at work in the deva kingdom as in the human; first, the withdrawal or segregation of the unit from the group (called individualisation in man, and evaporation in the water realm). Next, condensation, or the amalgamation of the unit with a newer or higher group, this we call condensation for the devas of the waters, and initiation in man; finally, the sacrifice of the group of human or deva atoms to the good of the whole. So does the law of service and sacrifice govern all the second aspect divine in all its departments great [Page 903] or small. Such is the law. But in the human kingdom, though love is the fulfilling of the law, it is arrived at along the path of pain and sorrow, and every true lover and server of humanity is stretched upon the cross until for them the sixth principle dominates, and the sixth type of matter in their bodies is completely subjected to the higher energy. (282) In the case of the devas, love is the fulfilling of the law without pain or sorrow. It is for them the line of least resistance, for they are the mother aspect, the feminine side of manifestation, and the easy path for them is to give, to nourish, and to tend. Therefore, the devas of the waters pour themselves out in service to the vegetable and animal kingdoms, and in the transmutative fires all that holds them on the sixth subplane will eventually be overcome, and through occult “distillation and evaporation” these devas will eventually form part of the gaseous fiery group and become those fires which are the basis of the divine alchemy.

Các thiên thần nước tìm thấy cho mình con đường phụng sự trong công việc lớn lao là nuôi dưỡng toàn bộ sự sống thực vật và động vật trên hành tinh; mục tiêu của họ là đi vào nhóm thiên thần cao hơn mà chúng ta gọi là các thiên thần khí hay thiên thần lửa. Những vị này, qua tác động của lửa của họ lên nước, tạo ra chuỗi bốc hơi, ngưng tụ, và cuối cùng là ngưng tụ thành giọt, mà—qua hoạt động liên tục của nó—nuôi dưỡng toàn bộ sự sống trên trái đất. Như vậy, một lần nữa có thể thấy các định luật thông linh của tình thương đang hoạt động trong giới thiên thần cũng như trong giới nhân loại; trước hết, sự rút lui hay tách riêng của đơn vị ra khỏi nhóm (được gọi là biệt ngã hóa nơi con người, và là bốc hơi trong giới nước). Kế đó, sự ngưng tụ, hay sự hòa nhập của đơn vị với một nhóm mới hơn hay cao hơn, điều này chúng ta gọi là ngưng tụ đối với các thiên thần của nước, và là điểm đạo nơi con người; cuối cùng, sự hi sinh của nhóm các nguyên tử người hay thiên thần cho thiện ích của toàn thể. Như thế định luật phụng sự và hi sinh cai quản toàn bộ phương diện thiêng liêng thứ hai trong mọi bộ phận lớn [Page 903] hay nhỏ. Đó là định luật. Nhưng trong giới nhân loại, dù tình thương là sự hoàn tất của định luật, nó đạt được dọc theo con đường đau đớn và buồn khổ, và mọi người thực sự yêu thương và phụng sự nhân loại đều bị căng trên thập giá cho đến khi đối với họ nguyên khí thứ sáu chi phối, và loại vật chất thứ sáu trong các thể của họ hoàn toàn bị chế ngự bởi năng lượng cao hơn. (282) Trong trường hợp của các thiên thần, tình thương là sự hoàn tất của định luật mà không có đau đớn hay buồn khổ. Đối với họ, đó là con đường ít trở ngại nhất, vì họ là phương diện mẹ, mặt nữ tính của biểu hiện, và con đường dễ dàng đối với họ là cho đi, nuôi dưỡng, và chăm sóc. Do đó, các thiên thần của nước tuôn đổ chính mình ra trong sự phụng sự đối với giới thực vật và giới động vật, và trong những ngọn lửa chuyển hoá, mọi điều giữ họ lại trên cõi phụ thứ sáu cuối cùng sẽ được vượt qua, và qua sự “chưng cất và bốc hơi” huyền bí, các thiên thần này cuối cùng sẽ tạo thành một phần của nhóm khí lửa và trở thành những ngọn lửa là nền tảng của thuật luyện kim thiêng liêng.

Speaking generally, it must be remembered that the earth devas of densest matter become, in the course of evolution, the devas of the waters, and find their way eventually on to the astral plane, the cosmic liquid; the devas of the waters of the physical plane find their way, through service, on to the gaseous subplane, and then to the cosmic gaseous, becoming the devas of the mental plane. This literally and occultly constitutes the transmutation of desire into thought.

Nói chung, phải nhớ rằng các thiên thần đất của vật chất đậm đặc nhất, trong tiến trình tiến hoá, trở thành các thiên thần của nước, và cuối cùng tìm đường lên cõi cảm dục, chất lỏng vũ trụ; các thiên thần của nước của cõi hồng trần tìm đường, qua phụng sự, lên cõi phụ khí, rồi đến cõi khí vũ trụ, trở thành các thiên thần của cõi trí. Điều này theo nghĩa đen và theo huyền bí học tạo thành sự chuyển hoá dục vọng thành tư tưởng.

The gaseous devas become eventually the devas of the fourth ether, and from thence in long aeons, find their way to the cosmic fourth ether, the buddhic plane. These three groups are therefore cosmically connected with: [Page 904]

Các thiên thần khí cuối cùng trở thành các thiên thần của dĩ thái thứ tư, và từ đó trong những đại kiếp dài lâu, tìm đường đến dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. Do đó, ba nhóm này có liên hệ vũ trụ với: [Page 904]

1. The cosmic astral plane and the constellation whence emotional and desire energy originates.

1. Cõi cảm dục vũ trụ và chòm sao từ đó năng lượng cảm xúc và dục vọng phát sinh.

2. The cosmic mental plane, and therefore with the constellation Sirius.

2. Cõi trí vũ trụ, và do đó với chòm sao Sirius.

3. The cosmic buddhic plane, and the constellation of the Pleiades.

3. Cõi Bồ đề vũ trụ, và chòm sao Pleiades.

Thus can the whole process be worked out, if man carefully studies his own nature, and the law of analogy.

Như vậy toàn bộ tiến trình có thể được triển khai, nếu con người cẩn thận nghiên cứu bản chất của chính mình, và định luật tương đồng.

The Devas of the Gaseous Subplane. In dealing with the elementals, or lesser devas, under the manipulatory devas of this extensive group, we are dealing with the devas of fire, and with the fiery essences of substantial nature which can be seen manifesting in myriads of forms. Certain of the subdivisions of this group are known to students, such as:

Các thiên thần của cõi phụ khí. Khi bàn đến các hành khí, hay các thiên thần nhỏ, dưới quyền các thiên thần thao tác của nhóm rộng lớn này, chúng ta đang bàn đến các thiên thần của lửa, và các tinh chất lửa có bản chất chất liệu có thể được thấy biểu hiện trong vô số hình thức. Một số phân nhóm của nhóm này đã được các đạo sinh biết đến, chẳng hạn như:

The Salamanders, or the fiery lives which can be seen by clairvoyants leaping in the flames of a furnace or of a volcano; this group can be subdivided into four groups according to color—red, orange, yellow, and violet—the last of which approximate very closely to the devas of the fourth ether.

Các Salamander, hay những sự sống lửa mà các nhà thông nhãn có thể thấy đang nhảy múa trong ngọn lửa của lò nung hay núi lửa; nhóm này có thể được chia thành bốn nhóm theo màu sắc—đỏ, cam, vàng, và tím—trong đó nhóm cuối cùng rất gần với các thiên thần của dĩ thái thứ tư.

The Agnichaitans; this is a term applied to the fiery lives, which are the sumtotal of the plane substance, as seen in the first part of our treatise, and also to the tiny essences which compose the fires of manifestation. As the nature of physical plane electricity is understood and studied, and its true condition realised, the reality of the existence of these agnichaitans will stand revealed.

Các Agnichaitan; đây là một thuật ngữ được áp dụng cho những sự sống lửa, là tổng số chất liệu cõi, như đã thấy trong phần đầu của luận thuyết chúng ta, và cũng cho những tinh chất nhỏ bé cấu thành các ngọn lửa của biểu hiện. Khi bản chất của điện lực cõi hồng trần được thấu hiểu và nghiên cứu, và tình trạng thực sự của nó được chứng nghiệm, thực tại về sự tồn tại của các agnichaitan này sẽ được mặc khải.

As the race becomes clairvoyant, as it surely will in a great degree before the close of this rootrace, these gaseous devas will stand revealed, and men will realise that they are working with fiery lives, and that they are themselves closely allied to these lives through the fires of their own bodies. The clairvoyance which is in process [Page 905] of developing in this rootrace is entirely physical, and, under the law, its development is to be anticipated, for the Aryan rootrace is that one wherein man—in this fourth round—comes to full self-consciousness. This involves complete physical vision, and the use in perfection of the three physical plane senses of hearing, touch, and sight. In the next rootrace, astral clairvoyance will be prevalent, though not universal, and thus contact with the buddhic plane will be more easily achieved. In the earlier rootraces of the next round, the fifth, there will be a recapitulation of the activities of this round, until, in the fifth rootrace, the sumtotal of that achieved in this round will be seen. Men will then begin to demonstrate mental clairvoyance. Thus the cycles mingle and overlap, in order that no unit of life, however small and unimportant, may fail in opportunity.

Khi nhân loại trở nên thông nhãn, như chắc chắn sẽ xảy ra ở mức độ lớn trước khi kết thúc giống dân gốc này, các thiên thần khí này sẽ được mặc khải, và con người sẽ nhận ra rằng họ đang làm việc với những sự sống lửa, và rằng chính họ cũng liên hệ chặt chẽ với những sự sống này qua các ngọn lửa trong chính các thể của mình. Thông nhãn đang trong tiến trình [Page 905] phát triển trong giống dân gốc này hoàn toàn là hồng trần, và theo định luật, sự phát triển của nó là điều có thể được dự kiến, vì giống dân gốc Arya là giống dân trong đó con người—trong cuộc tuần hoàn thứ tư này—đạt đến ngã thức trọn vẹn. Điều này bao hàm linh thị hồng trần hoàn chỉnh, và việc sử dụng hoàn hảo ba giác quan của cõi hồng trần là thính giác, xúc giác, và thị giác. Trong giống dân gốc kế tiếp, thông nhãn cảm dục sẽ phổ biến, dù không phải là phổ quát, và như vậy sự tiếp xúc với cõi Bồ đề sẽ đạt được dễ dàng hơn. Trong các giống dân gốc đầu tiên của cuộc tuần hoàn kế tiếp, cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ có một sự lặp lại các hoạt động của cuộc tuần hoàn này, cho đến khi, trong giống dân gốc thứ năm, tổng số những gì đạt được trong cuộc tuần hoàn này sẽ được thấy. Khi đó con người sẽ bắt đầu biểu lộ thông nhãn trí tuệ. Như vậy các chu kỳ hòa lẫn và chồng lấp lên nhau, để không một đơn vị sự sống nào, dù nhỏ bé và không quan trọng đến đâu, bị thiếu cơ hội.

These agnichaitans of the third subplane come particularly under the influence of Saturnian energy. They are the great fusers of substance, and it is in connection with them that the transmutation of metals becomes possible. They have a relationship to the mineral kingdom analogous to that which the watery devas have to the vegetable and animal. They are, as will be apparent, connected with the throat centre of a planetary Logos and of a solar Logos, and it is through their activity that the transmission of sound through the air becomes possible. It might surprise students and inventors could they but realise that the present rapid growth of wireless communication everywhere is due to the swinging into contact with the human vibration of a group of fiery deva lives hitherto uncontacted.

Các agnichaitan của cõi phụ thứ ba đặc biệt nằm dưới ảnh hưởng của năng lượng Sao Thổ. Chúng là những đấng dung hợp lớn của chất liệu, và chính liên hệ với chúng mà sự chuyển hoá kim loại trở nên khả hữu. Chúng có một mối liên hệ với giới kim thạch tương tự như mối liên hệ mà các thiên thần nước có với giới thực vật và giới động vật. Như sẽ rõ ràng, chúng liên hệ với trung tâm cổ họng của một Hành Tinh Thượng Đế và của một Thái dương Thượng đế, và chính nhờ hoạt động của chúng mà sự truyền âm thanh qua không khí trở nên khả hữu. Các đạo sinh và các nhà phát minh có thể sẽ ngạc nhiên nếu họ có thể nhận ra rằng sự phát triển nhanh chóng hiện nay của truyền thông vô tuyến ở khắp nơi là do một nhóm sự sống thiên thần lửa từ trước đến nay chưa được tiếp xúc đang dao động để tiếp xúc với rung động của con người.

Just as each plane has its seven subplanes, so likewise each subplane can be subdivided, thus making forty-nine fires on every plane, or the three hundred and forty-three fires of the solar system. Herein can be found the clue to the mystery of the “fourth between the three” [Page 906] which has at times bewildered students of the occult records. There are several ways of reading these figures, 3 4 3, but the only occult method which can be hinted at here, lies in the recognition of the three higher planes, the three lower planes, the fourth plane of meeting between them. This fourth plane has occultly been called “the meeting place.” When it is remembered that the goal for these gaseous devas is the fourth cosmic ether, or the buddhic plane and that they (in their major and minor groups) are the internal macrocosmic and microcosmic fires, some idea may be gained as to the true significance of the eventual at-one-ment between the two lines of evolution for the goal for man likewise is the buddhic plane.

Cũng như mỗi cõi có bảy cõi phụ của nó, thì mỗi cõi phụ cũng có thể được phân chia, do đó tạo thành bốn mươi chín ngọn lửa trên mỗi cõi, hay ba trăm bốn mươi ba ngọn lửa của hệ mặt trời. Chính trong đó có thể tìm thấy đầu mối cho huyền nhiệm của “thứ tư ở giữa ba” [Page 906] điều đôi khi đã làm bối rối các đạo sinh của các biên niên huyền bí. Có nhiều cách đọc các con số này, 3 4 3, nhưng phương pháp huyền bí duy nhất có thể được ám chỉ ở đây nằm trong sự nhận biết ba cõi cao, ba cõi thấp, và cõi thứ tư là nơi gặp gỡ giữa chúng. Cõi thứ tư này theo huyền bí học đã được gọi là “nơi gặp gỡ.” Khi nhớ rằng mục tiêu của các thiên thần khí này là dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay cõi Bồ đề, và rằng họ (trong các nhóm lớn và nhỏ của mình) là những ngọn lửa bên trong của đại thiên địa và tiểu thiên địa, có thể có được một ý niệm nào đó về thâm nghĩa thực sự của sự hợp nhất tối hậu giữa hai đường tiến hoá vì mục tiêu của con người cũng là cõi Bồ đề.

On the third subplane, therefore, in its fifth division of deva essences, certain groups are now being contacted in this, the fifth rootrace; the result of this contact can be seen in the stimulation of responsive vibration, which is demonstrated already in the discovery of wireless intercourse and of radium.

Do đó, trên cõi phụ thứ ba, trong phân bộ thứ năm của các tinh chất thiên thần, hiện nay một số nhóm đang được tiếp xúc trong giống dân gốc thứ năm này; kết quả của sự tiếp xúc này có thể được thấy trong sự kích thích rung động đáp ứng, vốn đã được biểu lộ trong việc khám phá giao tiếp vô tuyến và radium.

There will also be seen a paralleling increased vibration of the human spirillae which will result, before the end of the round, in the awakening to full activity of the fifth spirilla of the human physical permanent atom.

Cũng sẽ thấy một sự gia tăng rung động song hành của các loa tuyến con người, điều sẽ dẫn đến, trước khi kết thúc cuộc tuần hoàn, sự thức tỉnh vào hoạt động trọn vẹn của loa tuyến thứ năm của nguyên tử trường tồn hồng trần của con người.

Hence the work of the Mahachohan at this time in connection with seventh ray (which is temporarily acting as the synthesis of the five types of energy over which He presides), might be summed up as follows:

Do đó, công việc của Đức Mahachohan vào lúc này liên hệ với cung bảy (tạm thời đang hoạt động như sự tổng hợp của năm loại năng lượng mà Ngài chủ trì) có thể được tóm lược như sau:

First, He is utilising the seventh type of energy in order to further the recognition by the human unit of the subtler substance of the physical plane. This seventh ray is a primary factor in the production of objectivity. The energy of the planetary Logos of the seventh scheme dominates the seventh plane; it is the ray whereon deva substance and Spirit can meet and adapt [Page 907] themselves to each other with greater facility than on any other ray except the third.

Thứ nhất, Ngài đang sử dụng loại năng lượng thứ bảy để thúc đẩy sự nhận biết của đơn vị nhân loại về chất liệu vi tế hơn của cõi hồng trần. Cung bảy này là một yếu tố chủ yếu trong việc tạo ra tính khách quan. Năng lượng của Hành Tinh Thượng Đế của hệ thứ bảy chi phối cõi thứ bảy; đó là cung mà trên đó chất liệu thiên thần và tinh thần có thể gặp nhau và thích ứng [Page 907] với nhau dễ dàng hơn trên bất kỳ cung nào khác ngoại trừ cung ba.

Man, at present, is fully conscious, through some one or other of his senses, on the three lower subplanes; it is intended that he shall be equally conscious on the four higher. This has to be brought about by the stimulation of the deva substance which composes his bodies. This will be accomplished through the dynamic will of the transmitting devas as they energise the manipulatory devas, and thus affect the myriads of lesser lives which compose man’s body, and also by an increased responsiveness of the indwelling man or thinker to the contact made upon his body. This increased awareness will be brought about by the arousing of the fifth spirilla, by the unfolding of the fifth petal in the egoic lotus, and by the gradual opening of the third eye through the arousing and uniform activity of five factors: the centre at the base of the spine, the three channels in the spinal column, and the pineal gland.

Hiện nay, con người hoàn toàn hữu thức, qua giác quan này hay giác quan khác của mình, trên ba cõi phụ thấp; dự định là y sẽ hữu thức tương đương trên bốn cõi cao hơn. Điều này phải được thực hiện bằng sự kích thích chất liệu thiên thần cấu thành các thể của y. Điều này sẽ được hoàn thành qua ý chí năng động của các thiên thần truyền dẫn khi họ tiếp năng lượng cho các thiên thần thao tác, và như thế ảnh hưởng đến vô số sự sống nhỏ hơn cấu thành thân thể của con người, và cũng bằng sự đáp ứng gia tăng của con người nội tại hay thức giả đối với sự tiếp xúc được tạo ra trên thể của y. Sự nhận biết gia tăng này sẽ được mang lại bởi sự khơi dậy loa tuyến thứ năm, bởi sự khai mở cánh hoa thứ năm trong Hoa Sen Chân Ngã, và bởi sự mở dần dần của con mắt thứ ba qua sự khơi dậy và hoạt động đồng đều của năm yếu tố: trung tâm ở đáy cột sống, ba đường dẫn trong cột sống, và tuyến tùng.

All these factors involve the activity of deva essence, plus the resultant awareness of the thinker. This will be followed by the conscious use of the newly-awakened powers. In this manner the close interrelation and interdependence of the two lines of evolution becomes magnificently apparent.

Tất cả những yếu tố này bao hàm hoạt động của tinh chất thiên thần, cộng với sự nhận biết kết quả của thức giả. Tiếp theo đó sẽ là việc sử dụng có ý thức các quyền năng mới được đánh thức. Theo cách này, mối tương liên và tương thuộc chặt chẽ của hai đường tiến hoá trở nên hiển nhiên một cách huy hoàng.

Second, the Mahachohan is working specifically at this time (in co-operation with the Manu), with the devas of the gaseous subplane; this is in connection with the destroying work they are to effect by the end of this rootrace, in order to liberate Spirit from constricting forms. Volcanic action therefore may be looked for, demonstrating in unexpected localities, as well as within the sphere of the present earthquake and volcanic zones. Serious disturbance may be looked for in California before the end of the century, and in Alaska likewise.

Thứ hai, Đức Mahachohan hiện đang làm việc một cách đặc thù (hợp tác với Đức Manu) với các thiên thần của cõi phụ khí; điều này liên hệ đến công việc hủy diệt mà họ sẽ thực hiện vào cuối giống dân gốc này, nhằm giải thoát tinh thần khỏi những hình tướng gò bó. Do đó, có thể chờ đợi hoạt động núi lửa, biểu lộ ở những địa phương bất ngờ, cũng như bên trong phạm vi của các vùng động đất và núi lửa hiện nay. Có thể chờ đợi những xáo trộn nghiêm trọng ở California trước khi thế kỷ kết thúc, và cả ở Alaska nữa.

The work of the Mahachohan can also be seen in the [Page 908] effect that the devas of the kundalini fire are producing upon man. These are a peculiar group of Agnichaitans who have reached a stage of evolution which permits of their being separated off from their group into a group connected with a certain fire in man’s bodies. This fire owing to its present activity, and the direction of that activity, is responsible for the reaction against physical marriage, and for the desire evinced by highly evolved men everywhere to evade the marriage relation, and confine themselves to creation upon the mental or astral planes. This is due to the present inclination of the manipulatory devas of the lower generative organs to seek the throat centre, and to function there, utilising the strength of the kundalini fire to bring this about. All this is under the law of evolution, but in the interim between cause and justified effect much harm, evasion of the law, and consequent suffering can be seen. Owing, therefore, to the violent reaction at this time against the safeguarding laws of civilisation, it has been decided that the nature and functions of the devas must be somewhat revealed to man, and that their place in the scheme of things, and man’s close connection and dependence upon them, must be given out. (283) At the same time, the means whereby they can be contacted, and the words whereby they can be controlled, will be withheld.

Công việc của Đức Mahachohan cũng có thể được thấy trong [Page 908] tác động mà các thiên thần của lửa kundalini đang tạo ra nơi con người. Đây là một nhóm Agnichaitan đặc biệt đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá cho phép họ được tách ra khỏi nhóm của mình để thành một nhóm liên kết với một loại lửa nào đó trong các thể của con người. Lửa này, do hoạt động hiện nay của nó và do chiều hướng của hoạt động ấy, chịu trách nhiệm cho phản ứng chống lại hôn nhân thể xác, và cho ước muốn được biểu lộ bởi những người tiến hoá cao ở khắp nơi là né tránh quan hệ hôn nhân, và chỉ giới hạn mình trong sự sáng tạo trên cõi trí hay cõi cảm dục. Điều này là do khuynh hướng hiện nay của các thiên thần thao tác của các cơ quan sinh dục thấp muốn tìm đến trung tâm cổ họng, và hoạt động tại đó, sử dụng sức mạnh của lửa kundalini để thực hiện điều này. Tất cả điều này đều ở dưới định luật tiến hoá, nhưng trong khoảng trung gian giữa nguyên nhân và kết quả chính đáng, có thể thấy nhiều tổn hại, sự né tránh định luật, và nỗi đau khổ kéo theo. Vì vậy, do phản ứng dữ dội vào lúc này chống lại các định luật bảo vệ của nền văn minh, nên đã có quyết định rằng bản chất và chức năng của các thiên thần phải được phần nào tiết lộ cho con người, và vị trí của họ trong mô hình sự vật, cùng mối liên hệ mật thiết và sự lệ thuộc của con người vào họ, phải được công bố. (283) Đồng thời, các phương tiện nhờ đó họ có thể được tiếp xúc, và những lời nhờ đó họ có thể bị kiểm soát, sẽ bị giữ kín.

(283) If man can be brought to a realisation of the nature of his own being and of his constitution, and can be led to comprehend the rationale of that which can be seen occurring, and if the thinkers of the race can be shown the risks incident upon present happenings in the deva evolution, much danger may be averted. Hence the decision to extend the scope of this book to include more detailed information anent the deva evolution. (back)

(283) Nếu con người có thể được đưa đến chỗ chứng nghiệm bản chất của chính hữu thể mình và cấu tạo của mình, và có thể được dẫn dắt để hiểu được cơ sở hợp lý của những gì có thể thấy đang xảy ra, và nếu các nhà tư tưởng của nhân loại có thể được chỉ cho thấy những nguy cơ gắn liền với các diễn biến hiện nay trong tiến hoá thiên thần, thì nhiều hiểm họa có thể được ngăn tránh. Do đó có quyết định mở rộng phạm vi của quyển sách này để bao gồm thông tin chi tiết hơn về tiến hoá thiên thần. (back)

Laxness in the marriage relation, due to this particular cause, is only seen amongst the highly evolved and amongst the independent thinkers of the race. Similar laxness amongst the masses, and the low types of humanity, is based upon a different reason, and their promiscuity is due to certain developments of the animal nature in its lowest manifestation. These two causes [Page 909] will bear consideration by those who have the present needs of civilisation at heart. They can then co-operate with the Mahachohan in the work of effecting the very necessary transfer of force from a lower to a higher centre, and prevent (through knowledge), the incidental license. This will bring about a refusal to besmirch the great love or sex impulse of nature.

Sự lỏng lẻo trong quan hệ hôn nhân, do nguyên nhân đặc biệt này, chỉ thấy nơi những người tiến hoá cao và nơi các nhà tư tưởng độc lập của nhân loại. Sự lỏng lẻo tương tự nơi quần chúng và các hạng người thấp của nhân loại lại dựa trên một nguyên nhân khác, và sự bừa bãi của họ là do những phát triển nào đó của bản chất thú tính trong biểu hiện thấp nhất của nó. Hai nguyên nhân này [Page 909] đáng được những ai quan tâm đến các nhu cầu hiện nay của nền văn minh suy xét. Khi đó họ có thể hợp tác với Đức Mahachohan trong công việc thực hiện sự chuyển dịch mãnh lực rất cần thiết từ một trung tâm thấp lên một trung tâm cao hơn, và ngăn ngừa (nhờ tri thức) sự phóng túng ngẫu phát. Điều này sẽ đưa đến sự từ chối làm hoen ố xung lực vĩ đại của tình yêu hay giới tính trong bản chất.

The ceremonial ray has been often called “the marriage ritual of the Son,” because upon this ray Spirit and matter can meet and have union. This fact also should be borne in mind during the next one hundred years, for they will see great changes in the marriage laws. The present laxity will inevitably bring a reaction, and the laws will become more stringent, in order to safeguard the race during a transition period. These laws will not be along the line of making escape from the marriage relation more difficult, but will take effect at the other end, so to speak; the rising generation will be properly taught and guarded, and indiscriminate, hasty marriage will not be permitted, nor will juveniles be allowed rashly to enter into the marriage obligation. There is no need to enlarge further upon this, for in working out their own problems men learn, and all that those upon the inner side are permitted to do is to give a hint or an indication.

Cung nghi lễ thường được gọi là “nghi thức hôn phối của Thánh Tử”, bởi vì trên cung này tinh thần và vật chất có thể gặp nhau và kết hợp. Sự kiện này cũng cần được ghi nhớ trong một trăm năm tới, vì chúng sẽ chứng kiến những thay đổi lớn trong các luật lệ hôn nhân. Sự lỏng lẻo hiện nay tất yếu sẽ đưa đến một phản ứng, và các luật lệ sẽ trở nên nghiêm ngặt hơn để bảo vệ nhân loại trong một thời kỳ chuyển tiếp. Những luật này sẽ không theo hướng làm cho việc thoát khỏi quan hệ hôn nhân trở nên khó khăn hơn, mà sẽ có hiệu lực ở đầu kia, có thể nói như vậy; thế hệ đang lớn lên sẽ được giáo dục và bảo vệ đúng đắn, và hôn nhân bừa bãi, vội vã sẽ không được cho phép, cũng như người trẻ sẽ không được phép hấp tấp bước vào nghĩa vụ hôn nhân. Không cần phải nói thêm về điều này, vì trong khi tự giải quyết các vấn đề của mình, con người học hỏi, và tất cả những gì những người ở phía bên trong được phép làm chỉ là đưa ra một gợi ý hay một chỉ dấu.

Another angle of the Mahachohan’s work at this time is connected with sound, and therefore with the particular devas whom we are considering. Through the mismanagement of men, and their unbalanced development, the sounds of earth, such as those of the great cities, of the manufactories, and of the implements of war, have brought about a very serious condition among the gaseous devas. This has to be offset in some way and the future efforts of civilisation will be directed towards the spreading of a revolt against the evils of congested living and to the dissemination of an impulse of a widespread [Page 910] nature to seek the country and wide spaces. One of the main interests in the future will be a tendency towards the elimination of noise, owing to the increased sensitiveness of the race. When the energy of water and of the atom is harnessed for the use of man, our present types of factories, our methods of navigation and of transportation, such as steamers and railway apparatus, will be entirely revolutionised. This will have a potent effect not only on man but on the devas.

Một phương diện khác trong công việc của Đức Mahachohan vào lúc này có liên hệ với xướng, và do đó với những thiên thần đặc biệt mà chúng ta đang xét đến. Do sự quản lý sai lầm của con người, và sự phát triển mất quân bình của họ, những âm thanh của trái đất, như âm thanh của các thành phố lớn, của các nhà máy, và của các công cụ chiến tranh, đã gây ra một tình trạng rất nghiêm trọng nơi các thiên thần thể khí. Điều này phải được hóa giải bằng một cách nào đó, và những nỗ lực tương lai của nền văn minh sẽ được hướng đến việc lan rộng một cuộc phản kháng chống lại các tai hại của đời sống chen chúc và đến việc phổ biến một xung lực có tính chất [Page 910] rộng khắp nhằm tìm đến miền quê và những không gian rộng lớn. Một trong những mối quan tâm chính trong tương lai sẽ là xu hướng loại bỏ tiếng ồn, do sự nhạy cảm ngày càng tăng của nhân loại. Khi năng lượng của nước và của nguyên tử được khai thác để con người sử dụng, các loại nhà máy hiện nay của chúng ta, các phương pháp hàng hải và vận chuyển của chúng ta, như tàu hơi nước và thiết bị đường sắt, sẽ được cách mạng hóa hoàn toàn. Điều này sẽ có một tác động mạnh mẽ không chỉ lên con người mà còn lên các thiên thần.

c. The Elementals of the Ethers.

c. Các hành khí của các cõi dĩ thái.

We will consider now the etheric levels of the physical plane or the four highest subplanes of the physical plane. These etheric levels are but gradations of physical plane matter of a rarer and more refined kind, but physical nevertheless. They are termed in most textbooks:

Giờ đây chúng ta sẽ xét các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần hay bốn cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần. Các cấp độ dĩ thái này chỉ là những cấp bậc của vật chất cõi hồng trần thuộc loại thưa hơn và tinh luyện hơn, nhưng dù sao vẫn là hồng trần. Trong phần lớn các giáo trình, chúng được gọi là:

1. The first ether, or atomic matter.

1. Dĩ thái thứ nhất, hay vật chất nguyên tử.

2. The second ether, or sub-atomic matter.

2. Dĩ thái thứ hai, hay vật chất hạ nguyên tử.

3. The third ether, or super-etheric matter.

3. Dĩ thái thứ ba, hay vật chất siêu dĩ thái.