Trích nội dung chương
Chân sư DK khuyên không nói về bản thân và không tự thương hại số phận, vì những tư tưởng về phàm ngã và số phận thấp kém ngăn tiếng nói bên trong của linh hồn vang lên trong tâm thức. Thầy MDR lưu ý rằng mình đôi khi dùng ví dụ cá nhân để làm rõ một nguyên tắc — giống như Chân sư DK đôi khi cũng làm — nhưng trọng tâm chú ý phải dần dần dịch chuyển khỏi phàm ngã nhỏ bé. Khi tâm thức liên tục bị hút vào những lo âu của số phận cá nhân như tiền bạc, nơi ở, tình yêu hay sự nghiệp, nó bị tập trung ở một mức độ quá thấp và tiếng nói nhỏ bé tĩnh lặng của linh hồn bị lấn át bởi nhiều giọng nói liên quan đến sự thỏa mãn và lo lắng cá nhân. Thay vì…
Chân sư DK khuyên không nói về bản thân và không tự thương hại số phận, vì những tư tưởng về phàm ngã và số phận thấp kém ngăn tiếng nói bên trong của linh hồn vang lên trong tâm thức. Thầy MDR lưu ý rằng mình đôi khi dùng ví dụ cá nhân để làm rõ một nguyên tắc — giống như Chân sư DK đôi khi cũng làm — nhưng trọng tâm chú ý phải dần dần dịch chuyển khỏi phàm ngã nhỏ bé. Khi tâm thức liên tục bị hút vào những lo âu của số phận cá nhân như tiền bạc, nơi ở, tình yêu hay sự nghiệp, nó bị tập trung ở một mức độ quá thấp và tiếng nói nhỏ bé tĩnh lặng của linh hồn bị lấn át bởi nhiều giọng nói liên quan đến sự thỏa mãn và lo lắng cá nhân.
Nói về linh hồn và Thiên Cơ như là phương tiện giải thoát khỏi Định luật của Hình Tướng
Thay vì nói về bản thân, Chân sư DK khuyên nên nói về linh hồn, mở rộng về Thiên Cơ, và quên mình trong việc xây dựng cho thế giới. Thầy MDR nhấn mạnh rằng nhiều người đi qua cuộc đời mà không có chút cảm nhận nào về sự tồn tại của Thiên Cơ, về hướng tiến hóa đang dẫn đến đâu hoặc họ có thể hợp tác với nó như thế nào; nếu Thiên Cơ không được biết đến, sự hợp tác có ý thức là không thể. Khi sự chú ý chuyển sang những mục đích lớn hơn liên quan đến ashram, nền văn minh sắp đến và phúc lợi của nhân loại, Định luật của Hình Tướng — vốn trói buộc tâm thức trong phương diện thứ ba — dần bị hóa giải và Quy Tắc của Bác Ái bắt đầu chi phối.
Các quy luật đơn giản như là nền tảng cho công việc huyền thuật
Chân sư DK kết luận rằng những quy luật đơn giản này đặt nền tảng đúng đắn cho công việc huyền thuật và sẽ làm cho thể trí trở nên trong sáng và mạnh mẽ đến mức động cơ đúng đắn sẽ điều khiển và công việc xây dựng chân thực sẽ trở nên khả thi. Thầy MDR nhận xét rằng những quy luật này có vẻ đơn giản nhưng thực ra có năng lực lớn hơn so với vẻ ngoài của chúng: chúng thanh lọc động cơ, kỷ luật tư tưởng và lời nói, làm trong sạch bầu khí quyển trí tuệ và chuẩn bị cho người chí nguyện trở thành người xây dựng chân chính phù hợp với Thiên Cơ, thay vì là người vô thức tạo ra các hình tướng cản trở ánh sáng. Buổi giảng kết thúc ở trang 475 của cuốn "Luận về Chánh Thuật," hoàn tất Bình giảng 57 và Quy Luật 11.4; Bình giảng 58 và Quy Luật 11.5 sẽ được tiếp tục trong buổi tiếp theo.
Text 57
[1] Not yet the utter glory of the radiant life! [2] Not yet the entering into everlasting peace! [3] But still the work, and still the lifting of the little ones.
[1] Chưa phải là vinh quang trọn vẹn của sự sống rực rỡ! [2] Chưa phải là bước vào sự an bình vĩnh cửu! [3] Nhưng công việc vẫn tiếp diễn, và những kẻ bé nhỏ vẫn được nâng đỡ.
[4] Here in symbolic form we have pictures of human life and progress, of life in form and growing through the building process which marks the creative work. [5] It is only a bald translation of some mantric phrases, and of some basic symbols, [6] and must in no way be considered to be anything except indicative of a process, veiled and couched so that only those who know can understand. Esotericists will understand that these five stages cover the life period of every form, no matter whether the creator is cosmic, planetary or human.
[4] Ở đây, dưới hình thức biểu tượng, chúng ta có những hình ảnh về đời sống và sự tiến bộ của con người, về sự sống trong hình tướng và sự tăng trưởng qua tiến trình kiến tạo vốn đánh dấu công trình sáng tạo. [5] Đây chỉ là bản dịch thô sơ của một số cụm từ mantram và một số biểu tượng căn bản, [6] và tuyệt nhiên không được xem là gì khác ngoài sự chỉ dẫn về một tiến trình được che phủ và diễn đạt sao cho chỉ những thức giả mới có thể thấu hiểu. Các nhà bí truyền học sẽ hiểu rằng năm giai đoạn này bao quát chu kỳ sống của mọi hình tướng, bất kể đấng sáng tạo thuộc cấp vũ trụ, hành tinh hay nhân loại.
[7] Every form is built by an impulsive spark of life, [8] emanated by a creator, [9] and growing stage by stage under the law of [10] accretion—an aspect of the law of attraction, which is the law of life. [11] This law cooperates with the Law of Cause and Effect, [12] which, as we know, is the law governing matter. Cause, attraction or desire, accretion and effect—these four words govern the construction of any thought-form. [13] When the latter is a completed entity, it is an effect built by accretion under the power of an organized cause.
[7] Mọi hình tướng đều được kiến tạo bởi một tia lửa sự sống đầy xung lực, [8] do một đấng sáng tạo phát ra, [9] và tăng trưởng từng giai đoạn theo định luật [10] bồi tụ—một phương diện của định luật hấp dẫn, vốn là định luật của sự sống. [11] Định luật này phối hợp với Định luật Nhân Quả, [12] vốn, như chúng ta biết, là định luật chi phối vật chất. Nguyên nhân, sức hấp dẫn hay dục vọng, sự bồi tụ và kết quả—bốn từ này chi phối việc kiến tạo bất kỳ hình tư tưởng nào. [13] Khi hình tư tưởng ấy trở thành một thực thể hoàn chỉnh, nó là một kết quả được kiến tạo bằng sự bồi tụ dưới quyền năng của một nguyên nhân có tổ chức.
[14] The race has evolved now to a point where we think of effects primarily in terms of quality rather than in terms of matter. [15] A thought-form exists for us in order [Page 471] to produce an effect. The raison d’être of all forms we have come to feel [16] is to express some subjective quality which will give us the key to its creator’s purpose. Ponder on these words. [17] Hence, we find in this Rule XI that the purpose of the word pronounced is to tell the lives which constitute the form “what to do and where to carry that which has been made.” [18] Thus we find the idea of purpose, activity and goal.
[14] Hiện nay, nhân loại đã tiến hóa đến mức chúng ta nghĩ về các kết quả chủ yếu theo phẩm tính hơn là theo vật chất. [15] Đối với chúng ta, một hình tư tưởng hiện hữu để [Page 471] tạo ra một kết quả. Chúng ta đã cảm nhận rằng lẽ tồn tại của mọi hình tướng [16] là biểu hiện một phẩm tính nội tại nào đó, vốn sẽ trao cho chúng ta chìa khóa mở vào mục đích của đấng sáng tạo ra nó. Hãy suy ngẫm những lời này. [17] Do đó, trong Quy luật XI này, chúng ta thấy mục đích của linh từ được xướng lên là bảo cho những sự sống cấu thành hình tướng biết “phải làm gì và phải mang vật đã được tạo nên đến đâu.” [18] Như vậy, chúng ta thấy ý tưởng về mục đích, hoạt động và mục tiêu.
[19] There is no need for me to add to the vast amount of literature which has been put forth or to emphasize the significance of purpose in connection with such a thoughtform as a solar system, a planet, a kingdom in nature or a human being. [20] In some respects this subjective triplicity of purpose, activity and goal is well known and in others it is of too high and too inscrutable a nature for us to deal with in these Instructions and wander into the realms of speculation. [21] With the goal, religion has long sought to deal; with the activity aspect, the scientist is now attempting to deal; and with the Will of God the most advanced thinkers and philosophers are constantly speculating. [22] Only when man submits himself to the discipline of his own spiritual will [23] and controls the activity of the lives within his form nature and so orients himself to the goal as it progressively makes its appeal to his vision, will he arrive at a true understanding of the plan, which constitutes the will of God as far as human beings can grasp it.
[19] Tôi không cần bổ sung vào khối lượng văn liệu đồ sộ đã được công bố, cũng không cần nhấn mạnh thâm nghĩa của mục đích liên quan đến một hình tư tưởng như hệ mặt trời, một hành tinh, một giới trong tự nhiên hay một con người. [20] Theo một số phương diện, bộ ba nội tại gồm mục đích, hoạt động và mục tiêu này đã được biết rõ; theo những phương diện khác, bản chất của nó quá cao siêu và quá bất khả tư nghị để chúng ta bàn đến trong các Huấn Thị này mà sa vào những lĩnh vực suy đoán. [21] Từ lâu, tôn giáo đã tìm cách bàn đến mục tiêu; hiện nay, nhà khoa học đang cố gắng bàn đến phương diện hoạt động; còn các nhà tư tưởng và triết gia tiến bộ nhất vẫn không ngừng suy đoán về Ý Chí của Thượng Đế. [22] Chỉ khi con người đặt mình dưới kỷ luật của ý chí tinh thần nơi chính y, [23] kiểm soát hoạt động của những sự sống trong bản chất hình tướng của mình, đồng thời định hướng bản thân về phía mục tiêu khi nó ngày càng thu hút tầm nhìn của y, thì y mới đạt đến sự thấu hiểu chân thực về Thiên Cơ, vốn cấu thành Ý Chí của Thượng Đế trong phạm vi con người có thể lĩnh hội.
[24] But with the thought-forms which he is beginning to create as he daily learns to think, we can concern ourselves for it is the first lesson soon to be learnt in the magical work. [25] The creator in mental matter has:
[24] Nhưng chúng ta có thể quan tâm đến những hình tư tưởng mà y đang bắt đầu tạo ra khi hằng ngày học cách suy nghĩ, vì đây là bài học đầu tiên mà y sắp phải học trong công việc huyền thuật. [25] Đấng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ phải:
[26] a. To learn to build intelligently.
[26] a. Học cách kiến tạo một cách thông tuệ.
[27] b. To give the impulse, through right speech which will animate that which he has built, and so enable the thought-form to convey the intended idea. [Page 472]
[27] b. Ban xung lực, qua lời nói đúng đắn, để làm linh hoạt điều y đã kiến tạo, nhờ đó giúp hình tư tưởng chuyển tải ý tưởng đã định. [Page 472]
[28] c. To send out his thought-form correctly oriented to his goal, and so truly directed that it will reach the objective and accomplish its sender’s purpose.
[28] c. Phóng hình tư tưởng của mình ra, chỉnh hướng đúng đắn về mục tiêu và được dẫn hướng chân xác đến mức nó sẽ đạt tới đích và hoàn thành mục đích của người phóng ra nó.
[29] The necessity for clear thinking and the elimination of idle, destructive and negative thoughts becomes increasingly apparent as the aspirant progresses upon his way. [30] As the power of the mind increases and as the human being differentiates his thought increasingly from mass thought, he inevitably builds thought substance into form. [31] It is at first automatic and unconscious. [32] He cannot help so doing, and fortunately, for the race, the forms constructed are so feeble that they are largely innocuous, or so in line with mass thought that they are negligible in their effect. [33] But as man evolves his power and his capacity to harm or to help increases, and unless he learns to build rightly and correctly to motivate that which he has built he will become a destructive agency and a centre of harmful [34] force—destroying and harming not only himself, as we shall see shortly, but equally hurting and harming those who vibrate to his note.
[29] Khi người chí nguyện tiến bước trên đường, nhu cầu suy nghĩ rõ ràng và loại bỏ những tư tưởng vu vơ, phá hoại và tiêu cực ngày càng trở nên hiển nhiên. [30] Khi quyền năng của thể trí gia tăng và con người ngày càng phân biệt tư tưởng của mình với tư tưởng đại chúng, y tất yếu kiến tạo chất liệu tư tưởng thành hình tướng. [31] Lúc đầu, việc này diễn ra tự động và vô thức. [32] Y không thể không làm như vậy; và may mắn thay cho nhân loại, những hình tướng được kiến tạo quá yếu ớt nên phần lớn vô hại, hoặc quá thuận theo tư tưởng đại chúng nên hiệu quả của chúng không đáng kể. [33] Nhưng khi con người tiến hóa, quyền năng cùng khả năng gây hại hoặc trợ giúp của y tăng lên; và trừ phi y học cách kiến tạo đúng đắn và tạo động lực đúng cho điều mình đã kiến tạo, y sẽ trở thành một tác nhân phá hoại và một trung tâm mãnh lực [34] gây hại—không chỉ hủy hoại và làm tổn thương chính mình, như chúng ta sẽ sớm thấy, mà còn gây tổn thương và tai hại cho những ai rung động theo âm điệu của y.
[35] Granted all this you might appositely inquire: Are there some simple rules which the earnest and sincere beginner could apply to this science of building and which are so clear and concise that they will produce the needed effect? [36] There are, and I will state them simply so that the beginner will, if he follows them, escape the dangers of black magic, and learn to build in line with the plan. [37] He will, if he follows the rules I give, avoid the intricate problem which he has himself blindly constructed [38] and which will indeed shut out the light of day, darken his world, and imprison him in a wall of forms which will embody for him his own peculiar great illusion.
[35] Sau khi thừa nhận tất cả những điều này, các bạn có thể hỏi một cách thích đáng: Có những quy luật đơn giản nào mà người sơ cơ tha thiết và chân thành có thể áp dụng vào khoa học kiến tạo này, đồng thời đủ rõ ràng và súc tích để tạo ra hiệu quả cần thiết hay không? [36] Quả thật là có, và tôi sẽ trình bày chúng một cách đơn giản để nếu tuân theo, người sơ cơ sẽ tránh được những nguy hiểm của Hắc thuật và học cách kiến tạo phù hợp với Thiên Cơ. [37] Nếu tuân theo các quy luật tôi đưa ra, y sẽ tránh được vấn đề phức tạp mà chính y đã kiến tạo một cách mù quáng, [38] vốn quả thực sẽ ngăn chặn ánh sáng ban ngày, làm thế giới của y tối tăm và giam hãm y trong bức tường hình tướng thể hiện đối với y Đại Ảo tưởng riêng biệt của chính mình.
[39] These rules may sound too simple for the learned aspirant but for those who are willing to become as little children [40] they will be found to be a safe guide into truth [Page 473] and will eventually make them able to pass the tests for adeptship. [41] Some are couched in terms symbolic, others are necessarily blinds, still others express the truth just as it is.
[39] Những quy luật này có thể nghe quá đơn giản đối với người chí nguyện uyên bác, nhưng với những ai sẵn lòng trở nên như trẻ thơ, [40] chúng sẽ là sự hướng dẫn an toàn đưa đến chân lý [Page 473] và cuối cùng giúp họ có thể vượt qua các thử thách để đạt địa vị chân sư. [41] Một số được diễn đạt bằng ngôn ngữ biểu tượng, một số khác tất yếu là những màn che, còn số khác nữa biểu đạt chân lý đúng như bản chất của nó.