Trích nội dung chương
Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its purpose. The principle of mind then organises itself and then repeats the Word: The waiting form responds and drops away. The soul stands free. Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi từ Người Con đến Người Mẹ, rồi tuân theo. Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự Mục Đích của nó. Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức lấy mình rồi lặp lại Linh từ: Hình tướng đang chờ đáp ứng và rơi rụng đi. Linh hồn đứng tự do.
LAW X — ĐỊNH LUẬT X
Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its purpose. The principle of mind then organises itself and then repeats the Word: The waiting form responds and drops away. The soul stands free.
Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi từ Người Con đến Người Mẹ, rồi tuân theo. Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự Mục Đích của nó. Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức lấy mình rồi lặp lại Linh từ: Hình tướng đang chờ đáp ứng và rơi rụng đi. Linh hồn đứng tự do.
Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognise the call, emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the principle of life, and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.
Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi đến trong phạm vi nghĩa vụ; hãy nhận ra tiếng gọi phát ra từ Ashram hoặc từ Phòng Hội Đồng, nơi chính Chúa Tể của Sự Sống đang chờ đợi. Âm Thanh phát ra. Cả linh hồn lẫn hình tướng phải cùng từ bỏ nguyên khí sự sống, nhờ đó để Chân Thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Hình tướng khi ấy phá vỡ sự nối kết. Sự sống nay được giải phóng, mang phẩm tính của tri thức hữu thức và thành quả của mọi kinh nghiệm. Đây là những tặng phẩm do linh hồn và hình tướng cùng đem lại.
[679]
[679]
This Law X is the forerunner of many new laws concerning the relation of soul to form or of spirit to matter; this one is given first for two reasons:
Định luật X này là tiền thân của nhiều định luật mới liên quan đến mối quan hệ giữa linh hồn và hình tướng hay giữa tinh thần và vật chất; định luật này được đưa ra trước tiên vì hai lý do:
1. It can be applied by disciples and thus proven to be true to the mass of men, and above all, to the scientific world.
1. Nó có thể được các đệ tử áp dụng và nhờ đó được chứng minh là chân thật đối với quần chúng, và trên hết là đối với thế giới khoa học.
2. In the mass of testimony and in the type of death (called at this stage “transference”) the fact of the Hierarchy and of Shamballa can be established.
2. Trong khối lượng chứng cứ và trong loại tử vong (ở giai đoạn này được gọi là “chuyển dịch”), sự kiện về Thánh Đoàn và về Shamballa có thể được xác lập.
There are three sources of the abstraction which we call “death” if we exclude accident (which may be incident to other people’s karma), war (which involves planetary karma) and natural catastrophes (which are connected entirely with the body of manifestation of the One in Whom we live and move and have our being).
Có ba nguồn của sự trừ xuất mà chúng ta gọi là “cái chết” nếu loại trừ tai nạn (có thể là do nghiệp quả của người khác), chiến tranh (liên quan đến nghiệp quả hành tinh) và các thảm họa thiên nhiên (hoàn toàn gắn với thể biểu hiện của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu).
I might pause here at this thought and make somewhat clearer to you the distinction between this “unknown God,” who expresses himself through the planet as a whole, and Sanat Kumara in His high place at Shamballa. Sanat Kumara is in Himself the essential Identity, responsible for the manifested worlds, but so great is His command of energies and forces—owing to His cosmic unfoldment that He requires the entire planet through which to express all that He is. Having the full consciousness of the cosmic astral plane and of the cosmic mental plane, He can apply energies and forces-under cosmic law—which create, sustain and utilise, for the ends of His divine Purpose, the entire planet. He animates the planet with His life; He sustains the planet and all that is in or on it through His soul quality, which He imparts in varying measure to every form; He creates continuously the new forms needed to express the “life more abundantly” and the “increasing purpose of His will” which the progress of the ages makes [680] cyclically possible. We live at this time in a cycle wherein His intense activity is utilising the technique of divine destruction for the release of the spiritual life, and He is simultaneously creating the new structure of civilisation which will express more fully the evolutionary attainment of the planet and the kingdoms in nature, leading eventually to the perfect expression of His divine life and purpose.
Tôi có thể dừng lại ở đây nơi tư tưởng này và làm cho các bạn hiểu rõ hơn phần nào sự phân biệt giữa “Thượng đế chưa được biết đến” này, Đấng biểu lộ chính mình qua toàn thể hành tinh, và Đức Sanat Kumara ở địa vị cao cả của Ngài tại Shamballa. Đức Sanat Kumara tự thân là Bản Sắc cốt yếu, chịu trách nhiệm về các thế giới biểu hiện, nhưng quyền năng của Ngài đối với các năng lượng và mãnh lực lớn lao đến mức—do sự khai mở vũ trụ của Ngài—Ngài cần đến toàn thể hành tinh để biểu lộ tất cả những gì Ngài là. Với tâm thức trọn vẹn của cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ, Ngài có thể vận dụng các năng lượng và mãnh lực—dưới định luật vũ trụ—những thứ tạo ra, duy trì và sử dụng, cho các mục đích của Thiên Ý của Ngài, toàn thể hành tinh. Ngài làm sinh động hành tinh bằng sự sống của Ngài; Ngài duy trì hành tinh và mọi sự trong hay trên đó qua phẩm tính linh hồn của Ngài, điều mà Ngài truyền đạt với mức độ khác nhau cho mọi hình tướng; Ngài liên tục tạo ra những hình tướng mới cần thiết để biểu lộ “sự sống dồi dào hơn” và “mục đích ngày càng tăng của ý chí Ngài” mà sự tiến bộ của các thời đại làm cho [680] có thể theo chu kỳ. Hiện nay chúng ta đang sống trong một chu kỳ mà hoạt động mãnh liệt của Ngài đang sử dụng kỹ thuật hủy diệt thiêng liêng để giải phóng sự sống tinh thần, đồng thời Ngài đang tạo ra cấu trúc mới của nền văn minh sẽ biểu lộ đầy đủ hơn thành tựu tiến hoá của hành tinh và các giới trong thiên nhiên, cuối cùng dẫn đến sự biểu lộ hoàn hảo của sự sống và mục đích thiêng liêng của Ngài.
It would perhaps be wise if we took this tenth Law somewhat in detail, where possible, so as to arrive at the synthesis which it is intended to convey: we will thus gain some realisation that death itself is a part of the creative process of synthesising. It is essential that new ideas and a new approach to the entire problem of dying are inaugurated.
Có lẽ sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta xét định luật thứ mười này phần nào chi tiết, ở nơi nào có thể, để đi đến sự tổng hợp mà nó được dự định truyền đạt: nhờ đó chúng ta sẽ đạt được một sự chứng nghiệm nào đó rằng chính cái chết là một phần của tiến trình sáng tạo mang tính tổng hợp. Điều thiết yếu là những ý tưởng mới và một cách tiếp cận mới đối với toàn bộ vấn đề chết phải được khởi xướng.
Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey.
Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi từ Người Con đến Người Mẹ, rồi tuân theo.
Even whilst we realise from the context that this refers to the discarding of the physical body, it is useful to remember that this form of wording can signify much more than that. It can be interpreted to mean the entire relation of soul and personality, and to involve the prompt obedience of the Mother (the personality) to the Son (the soul). Without his prompt obedience, involving as it does the recognition of the informing Voice, the personality will remain deaf to the call of the soul to relinquish the body. No habitual response has been developed. I would ask you to ponder on the implications.
Ngay cả khi chúng ta nhận ra từ văn cảnh rằng điều này ám chỉ việc bỏ đi thể xác, vẫn hữu ích khi nhớ rằng cách diễn đạt này có thể hàm ý nhiều hơn thế. Nó có thể được diễn giải là toàn bộ mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã, và bao hàm sự tuân phục mau lẹ của Người Mẹ (phàm ngã) đối với Người Con (linh hồn). Nếu không có sự tuân phục mau lẹ ấy, vốn bao hàm sự nhận biết Tiếng Nói đang thấm nhuần, phàm ngã sẽ vẫn điếc trước tiếng gọi của linh hồn yêu cầu từ bỏ thể xác. Chưa có sự đáp ứng theo thói quen nào được phát triển. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về những hàm ý này.
I am, I know, recapitulating when I point out that the Mother aspect is the material aspect and the soul—on its own plane—is the Son. This injunction, therefore, concerns the relation of matter and soul, and thus lays the foundation for all the relationships which the disciple has to learn to recognise. Obedience is not here enforced; [681] it is contingent upon hearing; then obedience follows as the next development. This is an easier process, little as you may think it. This distinction, relative to the process of obedience, is interesting because the process of learning by hearing is always slow and is one of the qualities or aspects of the stage of orientation. Learning by sight is definitely connected with the Path of Discipleship, and any who wish to become wise and true workers must learn to distinguish between the hearers and those who see. A realisation of the difference would lead to basic changes in technique. In the one case, you are working with those who are definitely under the influence and control of the Mother, and who need to be trained to see. In the other, you are dealing with those who have heard and who are developing the spiritual correspondence of sight. They are therefore susceptible to the vision.
Tôi biết rằng tôi đang nhắc lại khi chỉ ra rằng phương diện Mẹ là phương diện vật chất và linh hồn—trên cõi riêng của nó—là Người Con. Vì vậy, mệnh lệnh này liên quan đến mối quan hệ giữa vật chất và linh hồn, và nhờ đó đặt nền tảng cho mọi mối quan hệ mà đệ tử phải học để nhận biết. Sự tuân phục ở đây không bị cưỡng bách; [681] nó tùy thuộc vào việc nghe thấy; rồi sự tuân phục theo sau như bước phát triển kế tiếp. Đây là một tiến trình dễ hơn, dù bạn có thể không nghĩ như vậy. Sự phân biệt này, liên quan đến tiến trình tuân phục, thật lý thú vì tiến trình học bằng nghe luôn luôn chậm và là một trong những phẩm tính hay phương diện của giai đoạn định hướng. Học bằng thấy rõ ràng gắn với Con Đường Đệ Tử, và bất kỳ ai muốn trở thành người hoạt động khôn ngoan và chân chính đều phải học cách phân biệt giữa những người nghe và những người thấy. Sự nhận ra khác biệt ấy sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản trong kỹ thuật. Trong trường hợp thứ nhất, bạn đang làm việc với những người rõ ràng còn ở dưới ảnh hưởng và sự kiểm soát của Người Mẹ, và cần được huấn luyện để thấy. Trong trường hợp thứ hai, bạn đang làm việc với những người đã nghe và đang phát triển sự tương ứng tinh thần của thị giác. Vì thế họ dễ tiếp nhận linh ảnh.
The Word goes forth that form has served its purpose.
Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự Mục Đích của nó.
This word, or this “spiritual proclamation” of the soul, may have a twofold purpose: it may produce death, or it may simply result in a withdrawal of the soul from its instrument, the threefold personality. This might consequently result in leaving the form uninformed and without any dweller in the body. When this happens the personality (and by this I mean the physical, astral and mental man) will continue to function. If it is of a high grade quality, very few people will realise that the soul is absent. This frequently happens in old age or serious illness, and it may persist for years. It sometimes happens where infants are concerned, and you then have either death or imbecility, as there has been no time to train the lower personality vehicles. A little thinking along the lines of this “forthgoing Word” will throw much light on circumstances which are [682] regarded as baffling, and on states of consciousness which have hitherto constituted almost insoluble problems.
Linh từ này, hay “sự tuyên cáo tinh thần” này của linh hồn, có thể có mục đích nhị phân: nó có thể tạo ra cái chết, hoặc chỉ đơn giản dẫn đến sự rút lui của linh hồn khỏi công cụ của nó, tức phàm ngã tam phân. Do đó, điều này có thể dẫn đến việc để lại hình tướng không được thấm nhuần và không có người cư ngụ trong thân thể. Khi điều này xảy ra, phàm ngã (và bởi điều này tôi muốn nói con người hồng trần, cảm dục và trí tuệ) sẽ tiếp tục hoạt động. Nếu nó có phẩm tính cao, rất ít người sẽ nhận ra rằng linh hồn vắng mặt. Điều này thường xảy ra trong tuổi già hoặc bệnh nặng, và có thể kéo dài nhiều năm. Đôi khi điều này xảy ra nơi trẻ sơ sinh, và khi ấy bạn có hoặc cái chết hoặc tình trạng thiểu năng trí tuệ, vì chưa có thời gian để huấn luyện các vận cụ phàm ngã thấp. Một chút suy nghĩ theo đường hướng của “Linh từ phát ra” này sẽ soi sáng nhiều hoàn cảnh vốn [682] được xem là khó hiểu, và những trạng thái tâm thức từ trước đến nay gần như tạo thành những vấn đề không thể giải quyết.
The principle of mind then organises itself and then repeats the Word. The waiting form responds and drops away.
Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức lấy mình rồi lặp lại Linh từ. Hình tướng đang chờ đợi đáp ứng và rơi rụng.
In the aspect of death here dealt with it is the mind which acts as the agent of authority, transmitting to the brain (where the thread of consciousness is located) the instructions to vacate. This is then passed on by the man in the body to the heart (where the life thread is anchored), and then—as you well know—the process of withdrawal begins. What transpires in those timeless moments prior to death no one as yet knows, for no one has returned to tell us. If they had done so, the question is: Would they have been believed? The probability is that they would not.
Trong phương diện của cái chết được bàn đến ở đây, chính trí tuệ hoạt động như tác nhân của thẩm quyền, truyền đến bộ não (nơi sợi dây tâm thức tọa lạc) chỉ thị phải rời bỏ. Điều này sau đó được con người trong thân thể chuyển đến tim (nơi Sinh Mệnh Tuyến được neo giữ), và rồi—như các bạn đều biết rõ—tiến trình rút lui bắt đầu. Điều gì xảy ra trong những khoảnh khắc phi thời gian trước cái chết thì cho đến nay chưa ai biết, vì chưa ai quay lại để kể cho chúng ta. Nếu họ đã làm như vậy, câu hỏi là: liệu họ có được tin không? Khả năng là không.
The first paragraph of this Law X deals with the passing out from the body (meaning the form aspect of the threefold lower man) of the average intelligent aspirant, looking at this law from one of its lowest correspondences; however, under the same Law of Correspondences, the death of all men, from the lowest type of man up to and inclusive of the aspirant, is basically distinguished by the same identical process; the difference exists in the degree of consciousness evidenced—consciousness of process and intention. The result is the same in all cases:
Đoạn đầu tiên của Định luật X này bàn về việc ra khỏi thân thể (nghĩa là phương diện hình tướng của phàm nhân tam phân thấp) của người chí nguyện thông minh trung bình, khi nhìn định luật này từ một trong những tương ứng thấp nhất của nó; tuy nhiên, theo cùng định luật tương ứng, cái chết của mọi người, từ loại người thấp nhất cho đến và bao gồm cả người chí nguyện, về căn bản được phân biệt bởi cùng một tiến trình y hệt; sự khác biệt nằm ở mức độ tâm thức được biểu lộ—tâm thức về tiến trình và ý định. Kết quả là như nhau trong mọi trường hợp:
The soul stands free.
Linh hồn đứng tự do.
This moment of true freedom can be brief and fleeting as in the case of the undeveloped man, or it can be of long duration, according to the usefulness of the aspirant upon the inner planes; with this I have earlier dealt and have no need to repeat myself here. Progressively, as the urges and influences of the three lower levels of consciousness [683] weaken their hold, the period of dissociation becomes longer and longer, and is characterised by a developing clarity of thought and by a recognition of essential being, and this in progressive stages. This clarity and progress may not be brought through into full realisation or expression when rebirth again takes place, for the limitations imposed by the dense physical body are excessive; nevertheless, each life sees a steady growth in sensitivity, and also the storing up of esoteric information, using the word “esoteric” to signify all that does not concern normal form life or the average consciousness of man in the three worlds.
Khoảnh khắc tự do đích thực này có thể ngắn ngủi và thoáng qua như trong trường hợp của người chưa phát triển, hoặc có thể kéo dài lâu, tùy theo mức độ hữu dụng của người chí nguyện trên các cõi bên trong; điều này tôi đã bàn đến trước đây và không cần lặp lại ở đây. Dần dần, khi các thúc đẩy và ảnh hưởng của ba cấp độ tâm thức thấp [683] suy yếu sự nắm giữ của chúng, thời kỳ phân ly trở nên ngày càng dài hơn, và được đặc trưng bởi sự sáng tỏ tư tưởng ngày càng phát triển cùng với sự nhận biết bản thể cốt yếu, và điều này theo các giai đoạn tiến triển. Sự sáng tỏ và tiến bộ này có thể không được mang vào sự chứng nghiệm hay biểu lộ đầy đủ khi tái sinh lại diễn ra, vì những giới hạn do thể xác đậm đặc áp đặt là quá lớn; tuy nhiên, mỗi kiếp sống đều chứng kiến sự tăng trưởng đều đặn về tính nhạy cảm, và cả sự tích lũy thông tin huyền bí, dùng từ “huyền bí” để chỉ tất cả những gì không liên quan đến đời sống hình tướng bình thường hay tâm thức trung bình của con người trong ba cõi giới.
Esoteric living (as it develops) falls into three stages, broadly speaking; these are carried forward within the consciousness of the man and parallel the recognition and ordinary aspects of form life on the three levels of experience:
Đời sống huyền bí (khi nó phát triển) rơi vào ba giai đoạn, nói một cách khái quát; những giai đoạn này được tiến hành trong tâm thức của con người và song hành với sự nhận biết và các phương diện thông thường của đời sống hình tướng trên ba cấp độ kinh nghiệm:
1. The stage of reception of concepts, of ideas and of principles, thus gradually asserting the existence of the abstract mind.
1. Giai đoạn tiếp nhận các khái niệm, các ý tưởng và các nguyên lý, nhờ đó dần dần khẳng định sự hiện hữu của trí trừu tượng.
2. The stage of “light reception,” or that period when spiritual insight is developed, when the vision is seen and accepted as true, and when the intuition or “buddhic perception” is unfolded. This carries with it the assertion as to the existence of the Hierarchy.
2. Giai đoạn “tiếp nhận ánh sáng,” hay thời kỳ khi sự thấu thị tinh thần được phát triển, khi linh ảnh được thấy và được chấp nhận là chân thật, và khi trực giác hay “tri giác Bồ đề” được khai mở. Điều này kéo theo sự khẳng định về sự hiện hữu của Thánh Đoàn.
3. The stage of abstraction, or the period wherein complete orientation is brought about, the way into the Ashram is made clear, and the disciple begins to build the antahkarana between the personality and the Spiritual Triad. It is in this stage that the nature of the will is dimly seen, carrying with its recognition the implication that there is a “centre where the will of God is known.”
3. Giai đoạn trừ xuất, hay thời kỳ trong đó sự định hướng hoàn chỉnh được mang lại, con đường vào ashram được làm cho rõ ràng, và đệ tử bắt đầu xây dựng antahkarana giữa phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần. Chính trong giai đoạn này mà bản chất của ý chí được thấy mờ nhạt, và cùng với sự nhận biết ấy là hàm ý rằng có một “trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến.”
[684]
[684]
Students are apt to think that death ends things, whereas from the angle of termination we are dealing with values which are persistent, with which there is no interference, nor can there be any, and which hold within themselves the seeds of immortality. I would have you ponder on this and know that everything that is of true spiritual value is persistent, ageless, immortal and eternal. Only that dies which is valueless, and—from the standpoint of humanity—that means those factors which emphasise and assume importance where the form is concerned. But those values which are based on principle and not upon the detail of appearance have in them that undying principle which leads a man from the “gates of nativity, through the gates of perception, to the gates of purpose”—as the Old Commentary expresses it.
Đạo sinh dễ nghĩ rằng cái chết chấm dứt mọi sự, trong khi từ góc độ của sự chấm dứt chúng ta đang bàn đến những giá trị bền vững, không bị can thiệp, cũng không thể bị can thiệp, và tự chúng chứa đựng những hạt giống của sự bất tử. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về điều này và biết rằng mọi thứ có giá trị tinh thần chân thật đều bền vững, không tuổi, bất tử và vĩnh cửu. Chỉ cái gì vô giá trị mới chết, và—từ quan điểm của nhân loại—điều đó có nghĩa là những yếu tố nhấn mạnh và mang tầm quan trọng khi hình tướng được xét đến. Nhưng những giá trị dựa trên nguyên lý chứ không dựa trên chi tiết của sắc tướng thì có trong chúng nguyên khí bất tử dẫn dắt con người từ “các cổng sinh ra, qua các cổng tri giác, đến các cổng mục đích”—như Cổ Luận diễn tả.
I have endeavoured to show you how the first part of this Law X has a simple application to mankind, as well as an abstract and abstruse meaning for esotericists.
Tôi đã cố gắng chỉ cho các bạn thấy phần đầu của Định luật X này có một ứng dụng đơn giản đối với nhân loại, cũng như một ý nghĩa trừu tượng và khó hiểu đối với các nhà bí truyền học.
The last paragraph in this Law X cannot be interpreted in this same manner nor applied in this way. it concerns only the “passing over” or the “discarding of hindrances” by very advanced disciples and initiates. This is made clear by the use of the words, “O Rising One”—a term applied only to those who have taken the fourth initiation and who are therefore held by no aspect whatsoever of the form nature, even so high or transcendental a form as the soul in its own vehicle, the causal body or the egoic lotus. Yet again, facility in response to this law must be and is developed in the earlier stages of discipleship, where listening, responsiveness and occult obedience are developed and have their extensions in the higher levels of spiritual experience.
Đoạn cuối trong Định luật X này không thể được diễn giải theo cùng cách ấy cũng không thể được áp dụng theo cách ấy. Nó chỉ liên quan đến việc “vượt qua” hay “vứt bỏ các chướng ngại” của những đệ tử và điểm đạo đồ rất cao cấp. Điều này được làm rõ bởi việc dùng những lời “hỡi Đấng Đang Vươn Lên”—một thuật ngữ chỉ áp dụng cho những ai đã nhận lần điểm đạo thứ tư và vì thế không còn bị bất kỳ phương diện nào của bản chất hình tướng giữ lại, ngay cả một hình tướng cao hay siêu việt như linh hồn trong vận cụ riêng của nó, thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng dễ dàng với định luật này phải được và thực sự được phát triển trong các giai đoạn sớm hơn của địa vị đệ tử, nơi sự lắng nghe, tính đáp ứng và sự tuân phục huyền bí được phát triển và có những mở rộng của chúng trên các cấp độ cao hơn của kinh nghiệm tinh thần.
Here we must again consider words and phrases if we are to understand their true meaning. [685]
Ở đây chúng ta lại phải xét đến các từ ngữ và cụm từ nếu muốn hiểu ý nghĩa chân thật của chúng. [685]
Respond, O Rising One, to the call which comes forth from the sphere of obligation.
Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi phát ra từ khối cầu của nghĩa vụ.
What is this sphere of obligation to which the initiate of high standing must pay attention? The whole of life experience, from the sphere of nativity up to the highest limits of spiritual possibility, are covered by four words, applicable at various stages of evolution. They are: Instinct, Duty, Dharma, Obligation; an understanding of the differences serves to bring illumination, and consequently, right action.
Khối cầu của nghĩa vụ này là gì mà điểm đạo đồ cao cấp phải chú ý đến? Toàn bộ kinh nghiệm sống, từ khối cầu sinh ra cho đến những giới hạn cao nhất của khả năng tinh thần, được bao trùm bởi bốn từ, áp dụng ở các giai đoạn tiến hoá khác nhau. Đó là: Bản năng, Bổn phận, Dharma, Nghĩa vụ; sự thấu hiểu các khác biệt này giúp mang lại soi sáng, và do đó, hành động đúng đắn.
1. The sphere of instinct. This refers to the fulfillment, under the influence of simple animal instinct, of the obligations which any assumed responsibility brings, even when assumed with no true understanding. An illustration of this is the instinctual care of a mother for her offspring or the relation of male and female. With this we need not deal in any detail, as it is well recognised and understood, at least by those who have passed out of the sphere of elementary instinctual obligations. To them no particular calls come, but this instinctual world of give and take is superseded by a higher sphere of responsibility eventually.
1. Khối cầu của bản năng. Điều này ám chỉ việc hoàn thành, dưới ảnh hưởng của bản năng động vật đơn giản, những nghĩa vụ mà bất kỳ trách nhiệm nào đã nhận lấy đều mang theo, ngay cả khi được nhận lấy mà không có sự hiểu biết chân thật. Một minh họa cho điều này là sự chăm sóc theo bản năng của người mẹ đối với con cái mình hay mối quan hệ giữa nam và nữ. Chúng ta không cần bàn chi tiết về điều này, vì nó đã được nhận biết và thấu hiểu rõ, ít nhất là bởi những ai đã vượt ra khỏi khối cầu của các nghĩa vụ bản năng sơ đẳng. Đối với họ không có những tiếng gọi đặc biệt nào đến, nhưng thế giới bản năng của cho và nhận này cuối cùng được thay thế bởi một khối cầu trách nhiệm cao hơn.
2. The sphere of duty. The call that comes from this sphere comes from a realm of consciousness which is more strictly human and not so predominantly animal as is the instinctual realm. It sweeps into its field of activity all classes of human beings and demands from them—life after life—the strict fulfillment of duty. The “doing of one’s duty,” for which one gets small praise and little appreciation, is the first step towards the unfoldment of that divine principle which we call the sense of responsibility, and which—when unfolded—indicates a steadily growing soul control. The fulfillment [686] of duty, the sense of responsibility, and the desire to serve are three aspects of one and the same thing: discipleship in its embryonic stage. This is a hard saying for those who are caught in the seemingly hopeless toils of duty fulfillment; it is hard for them to realise that this duty which seems to keep them chained to the humdrum, apparently meaningless and thankless duties of daily life, is a scientific process leading them to higher phases of experience, and eventually into the Master’s Ashram.
2. Khối cầu của bổn phận. Tiếng gọi đến từ khối cầu này phát ra từ một lĩnh vực tâm thức mang tính người rõ rệt hơn và không quá thiên về động vật như lĩnh vực bản năng. Nó cuốn vào trường hoạt động của mình mọi tầng lớp người và đòi hỏi nơi họ—kiếp này qua kiếp khác—sự hoàn thành nghiêm ngặt bổn phận. “Làm tròn bổn phận của mình,” điều mà người ta nhận được rất ít lời khen và ít sự trân trọng, là bước đầu tiên hướng tới sự khai mở nguyên khí thiêng liêng mà chúng ta gọi là ý thức về trách nhiệm, và nguyên khí này—khi được khai mở—cho thấy sự kiểm soát ngày càng tăng của linh hồn. Việc hoàn thành [686] bổn phận, ý thức về trách nhiệm, và ước muốn phụng sự là ba phương diện của cùng một điều: địa vị đệ tử trong giai đoạn phôi thai của nó. Đây là một lời khó nghe đối với những ai bị mắc kẹt trong những lưới bổn phận dường như vô vọng; đối với họ thật khó nhận ra rằng chính bổn phận dường như trói buộc họ vào những bổn phận thường nhật đơn điệu, dường như vô nghĩa và không được biết ơn ấy, lại là một tiến trình khoa học dẫn họ đến những giai đoạn kinh nghiệm cao hơn, và cuối cùng vào ashram của Chân sư.
3. The Sphere of Dharma. This is the outcome of the two previous stages; it is that in which the disciple recognises, for the first time with clarity, his part in the whole process of world events and his inescapable share in world development. Dharma is that aspect of karma which dignifies any particular world cycle and the lives of those implicated in its working out. The disciple begins to see that if he shoulders his phase or part in this cyclic dharma and works understandingly at its right fulfillment, he is beginning to comprehend group work (as the Masters comprehend it) and to do his just share in lifting the world karma, working out in cyclic dharma. Instinctual service, the fulfillment of all duty, and a sharing in group dharma are all blended in his consciousness and become one great act of living faithful service; he is then at the point of moving forward upon the Path of Discipleship, in which the Path of Probation is completely lost to sight.
3. Khối Cầu của Dharma. Đây là kết quả của hai giai đoạn trước; đó là giai đoạn trong đó đệ tử lần đầu tiên nhận ra một cách rõ ràng phần của mình trong toàn bộ tiến trình của các biến cố thế giới và phần chia không thể tránh khỏi của mình trong sự phát triển của thế giới. Dharma là phương diện của nghiệp quả làm cho bất kỳ chu kỳ thế giới đặc thù nào và đời sống của những ai liên can đến sự triển khai của nó trở nên cao quý. Đệ tử bắt đầu thấy rằng nếu y gánh vác giai đoạn hay phần việc của mình trong dharma theo chu kỳ này và làm việc một cách thấu hiểu để hoàn thành đúng đắn nó, thì y đang bắt đầu hiểu công việc nhóm (như các Chân sư hiểu) và làm phần chia chính đáng của mình trong việc giải trừ nghiệp quả thế giới, đang được triển khai trong dharma theo chu kỳ. Phụng sự theo bản năng, việc hoàn thành mọi bổn phận, và sự chia sẻ trong dharma nhóm đều được hòa trộn trong tâm thức của y và trở thành một hành vi lớn lao duy nhất của đời sống phụng sự trung tín; khi ấy y ở vào điểm tiến lên trên Con Đường Đệ Tử, trong đó Con Đường Dự Bị hoàn toàn khuất khỏi tầm nhìn.
These three aspects of living activity are the embryonic expression in the life of the disciple of the three divine aspects:
Ba phương diện của hoạt động sống này là biểu hiện phôi thai trong đời sống của đệ tử của ba phương diện thiêng liêng:
a. Instinctual living.... intelligent application.
a. Sống theo bản năng.... sự áp dụng thông minh.
b. Duty..............responsible love. [687]
b. Bổn phận.............. bác ái có trách nhiệm. [687]
c. Dharma........... will, expressed through the Plan.
c. Dharma........... ý chí, được biểu lộ qua Thiên Cơ.
4. The sphere of obligation. The initiate, having learnt the nature of the three other spheres of right action, and-through the activity of those spheres—having unfolded the divine aspects, passes now into the sphere of obligation. This sphere, which can be entered only after a large measure of liberation has been achieved, directs the reactions of the initiate in two phases of his life:
4. Khối cầu của nghĩa vụ. Điểm đạo đồ, sau khi đã học được bản chất của ba khối cầu hành động đúng đắn kia, và—qua hoạt động của những khối cầu ấy—đã khai mở các phương diện thiêng liêng, giờ đây đi vào khối cầu của nghĩa vụ. Khối cầu này, chỉ có thể được bước vào sau khi đã đạt được một mức độ giải thoát lớn, định hướng các phản ứng của điểm đạo đồ trong hai giai đoạn của đời sống y:
a. In the Ashram, where he is governed by the Plan; this Plan is recognised by him as expressing his major obligation to life. I use the word “life” in its deepest esoteric sense.
a. Trong ashram, nơi y được Thiên Cơ chi phối; Thiên Cơ này được y nhận ra là biểu lộ nghĩa vụ lớn lao của y đối với sự sống. Tôi dùng từ “sự sống” theo nghĩa huyền bí sâu xa nhất của nó.
b. In Shamballa, where the emerging Purpose of Sanat Kumara (of which the Plan is an interpretation in time and space) begins to have meaning and significance according to his point in evolution and his approach to the Way of the Higher Evolution.
b. Trong Shamballa, nơi Thiên Ý đang xuất hiện của Đức Sanat Kumara (mà Thiên Cơ là một sự diễn giải trong thời gian và không gian) bắt đầu có ý nghĩa và thâm nghĩa tùy theo điểm tiến hoá của y và sự tiếp cận của y đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
In the Ashram, the life of the Spiritual Triad gradually supersedes the life of the soul-controlled personality. In the Council Chamber at Shamballa, the life of the Monad supersedes all other expressions of the essential Reality. More I may not say.
Trong ashram, sự sống của Tam Nguyên Tinh Thần dần dần thay thế sự sống của phàm ngã do linh hồn kiểm soát. Trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa, sự sống của chân thần thay thế mọi biểu hiện khác của Thực Tại cốt yếu. Tôi không thể nói thêm.
Recognise the call, emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself.
hãy nhận ra tiếng gọi phát ra từ Ashram hoặc từ Phòng Hội Đồng, nơi chính Chúa Tể của Sự Sống đang chờ đợi.
Here again we come up against the whole underlying, evolutionary theme of Invocation and Evocation. Here, it is the two higher centres of the divine Existence which are invoking ceaselessly the lower centre; one of the factors governing the whole creative process is dependent upon the [688] skill of the Great Lives in evoking response from the human and subhuman kingdoms or grouped lives within the three worlds of form life. Men are so pre-occupied with their own problems that they are apt to think that-in the long run—what happens is entirely due to their behaviour, conduct, and invocative powers. There is, however, another side to the picture; this involves the skill in action, the understanding hearts and the clear unimpeded will of both the Hierarchy and Shamballa.
Ở đây một lần nữa chúng ta chạm đến toàn bộ chủ đề nền tảng, mang tính tiến hoá của Khẩn Cầu và Gợi Lên. Ở đây, chính hai trung tâm cao hơn của Sự Tồn Tại thiêng liêng đang không ngừng khẩn cầu trung tâm thấp hơn; một trong những yếu tố chi phối toàn bộ tiến trình sáng tạo phụ thuộc vào [688] kỹ năng của các Sự Sống Vĩ Đại trong việc gợi lên sự đáp ứng từ các giới nhân loại và dưới nhân loại hay các sự sống được nhóm lại trong ba cõi giới của đời sống hình tướng. Con người quá bận tâm với những vấn đề của riêng mình đến nỗi họ dễ nghĩ rằng—xét cho cùng—điều gì xảy ra hoàn toàn là do hành vi, cách cư xử và năng lực khẩn cầu của họ. Tuy nhiên, còn có một mặt khác của bức tranh; điều này bao hàm kỹ năng trong hành động, những trái tim thấu hiểu và ý chí sáng tỏ không bị cản trở của cả Thánh Đoàn lẫn Shamballa.
It will be apparent to you, therefore, how essential it is that all disciples and initiates should know exactly where they stand on the Path, the final aspect of the ladder of evolution; otherwise, they will misinterpret the call and fail to recognise the source of the outgoing sound. How easily this can happen becomes apparent to every advanced teacher of occultism and esotericism when he perceives bow easily unimportant people and beginners interpret calls and messages they hear or receive as coming to them from some high and elevated source, Whereas they are in all probability hearing that which emanates from their own subconscious, from their own souls, or from some teacher (not a Master) who is attempting to help them.
Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ việc mọi đệ tử và điểm đạo đồ phải biết chính xác mình đang đứng ở đâu trên Con Đường, phương diện cuối cùng của chiếc thang tiến hoá, là điều thiết yếu biết bao; nếu không, họ sẽ diễn giải sai tiếng gọi và không nhận ra nguồn của âm thanh phát ra. Điều này có thể xảy ra dễ dàng đến mức nào trở nên hiển nhiên đối với mọi huấn sư cao cấp của huyền bí học và bí truyền học khi ông nhận thấy những người không quan trọng và những người mới bắt đầu dễ dàng diễn giải các tiếng gọi và thông điệp mà họ nghe hay nhận được như đến với họ từ một nguồn cao cả và siêu việt nào đó, trong khi rất có thể họ đang nghe điều phát ra từ chính tiềm thức của mình, từ chính linh hồn của mình, hoặc từ một huấn sư nào đó (không phải một Chân sư) đang cố gắng giúp họ.
The call referred to here, however, comes from the highest possible sources and must not be confused with the little voices of little men.
Tuy nhiên, tiếng gọi được nói đến ở đây đến từ những nguồn cao nhất có thể có và không được nhầm lẫn với những tiếng nói nhỏ bé của những con người nhỏ bé.
The SOUND goes forth.
Âm Thanh phát ra.
It is not my intention here to deal with the creative sound, beyond calling to your attention the fact that it is creative. The Sound which was the first indication of the activity of the planetary Logos is not a word, but a full reverberating sound, holding within itself all other sounds, all chords and certain musical tones (which have been given the name of the “music of the spheres”) and dissonances, [689] unknown as yet to the modern ear. It is this Sound which the “Rising One” must learn to recognise, and to which he must respond not only by means of the sense of hearing and its higher correspondences, but through a response from every part and aspect of the form nature in the three worlds. I would remind you also that from the angle of the fourth initiation even the egoic vehicle, the soul body, is regarded and treated as a part of the form nature.
Ở đây tôi không có ý định bàn về âm thanh sáng tạo, ngoài việc lưu ý các bạn đến sự kiện rằng nó có tính sáng tạo. Âm Thanh là dấu hiệu đầu tiên của hoạt động của Hành Tinh Thượng Đế không phải là một lời, mà là một âm thanh vang dội trọn vẹn, tự nó chứa đựng mọi âm thanh khác, mọi hợp âm và một số âm điệu âm nhạc (đã được gọi là “âm nhạc của các khối cầu”) cùng những nghịch âm, [689] cho đến nay tai hiện đại vẫn chưa biết. Chính Âm Thanh này mà “Đấng Đang Vươn Lên” phải học để nhận ra, và y phải đáp ứng với nó không chỉ bằng giác quan nghe và các tương ứng cao hơn của nó, mà còn bằng sự đáp ứng từ mọi phần và mọi phương diện của bản chất hình tướng trong ba cõi giới. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng từ góc độ của lần điểm đạo thứ tư, ngay cả vận cụ chân ngã, thể linh hồn, cũng được xem và được xử lý như một phần của bản chất hình tướng.
Though the “shattering of the Temple of Solomon” takes place at the time of the fourth initiation, those qualities of which it was composed have been absorbed into the vehicles which the initiate is using for all His contacts in the three worlds. He is now essentially the essence of all His bodies, and—from His point of view and technical understanding—it must be borne in mind that the entire mental plane is one of the three planes which constitute the cosmic dense physical plane; this is a point oft forgotten by students, who almost invariably place the soul body and the mental permanent atom outside the form limits and what they call the three worlds. Technically and from higher angles, this is not so, and this fact definitely changes and conditions the thinking and work of the initiate of the fourth and higher degrees. It accounts also for the need for the egoic body to disappear.
Mặc dù “sự phá vỡ Đền thờ Solomon” diễn ra vào lúc lần điểm đạo thứ tư, những phẩm tính mà nó được cấu thành đã được hấp thụ vào các vận cụ mà điểm đạo đồ đang sử dụng cho mọi tiếp xúc của Ngài trong ba cõi giới. Giờ đây Ngài về bản chất là tinh túy của mọi thể biểu hiện của Ngài, và—từ quan điểm cùng sự thấu hiểu kỹ thuật của Ngài—cần phải ghi nhớ rằng toàn bộ cõi trí là một trong ba cõi cấu thành cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ; đây là một điểm mà đạo sinh thường quên, vì họ hầu như luôn đặt thể linh hồn và nguyên tử trường tồn trí tuệ ra ngoài các giới hạn của hình tướng và cái mà họ gọi là ba cõi giới. Về mặt kỹ thuật và từ các góc nhìn cao hơn, điều này không đúng, và sự kiện này rõ ràng làm thay đổi và tác động lên tư tưởng cùng công việc của điểm đạo đồ ở lần điểm đạo thứ tư và cao hơn. Nó cũng giải thích nhu cầu thể chân ngã phải biến mất.
The Sound reverberates throughout the four higher subplanes of the cosmic physical plane; these are the higher correspondence of the four etheric levels of the physical plane in the three worlds—the three dense physical and the four etheric planes. It must be remembered, therefore, that our planes, with which we are so familiar, are the cosmic physical, and that the one we know the best is the densest of the seven—hence so much of our struggle and difficulty.
Âm Thanh vang dội khắp bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ; đó là tương ứng cao hơn của bốn cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần trong ba cõi giới—ba cõi hồng trần đậm đặc và bốn cõi dĩ thái. Vì vậy, cần nhớ rằng các cõi của chúng ta, vốn quá quen thuộc với chúng ta, là cõi hồng trần vũ trụ, và cõi mà chúng ta biết rõ nhất là cõi đậm đặc nhất trong bảy cõi—do đó mới có quá nhiều đấu tranh và khó khăn của chúng ta.
[690]
[690]
From “the silence which is sound, the reverberating note of Shamballa,” the sound focusses itself either in the Spiritual Triad or in the Ashram, according to the status of the initiate and whether he is high in the ashramic circles, or still higher, in the circles through which radiates the light from the Council Chamber. In the first case, it will be the heart centre which responds to the sound, and from thence the whole body; in the second case, consciousness has been superseded by a still higher type of spiritual recognition, to which we have given the inadequate name of identification. Where the sound has been registered in the heart of the initiate, he has unfolded all possible types of knowledge which the form nature—soul and body—can make possible; when the registration is in the head, identification has produced such complete unity with all spiritual expressions of life, the word “more” (meaning increased) must perforce give way to the word “deep,” in the sense of penetration. Having said this, brother of mine, how much have you comprehended?
Từ “sự im lặng vốn là âm thanh, âm điệu vang dội của Shamballa,” âm thanh tự tập trung hoặc trong Tam Nguyên Tinh Thần hoặc trong ashram, tùy theo địa vị của điểm đạo đồ và liệu y ở cao trong các vòng tròn ashram, hay còn cao hơn nữa, trong các vòng tròn mà qua đó ánh sáng từ Phòng Hội Đồng tỏa chiếu. Trong trường hợp thứ nhất, chính trung tâm tim sẽ đáp ứng với âm thanh, và từ đó toàn bộ thân thể; trong trường hợp thứ hai, tâm thức đã được thay thế bởi một loại nhận biết tinh thần còn cao hơn nữa, mà chúng ta đã đặt cho cái tên không đầy đủ là sự đồng hoá. Nơi âm thanh đã được ghi nhận trong tim của điểm đạo đồ, y đã khai mở mọi loại tri thức khả hữu mà bản chất hình tướng—linh hồn và thân thể—có thể làm cho có thể; khi sự ghi nhận ở trong đầu, sự đồng hoá đã tạo ra sự hợp nhất trọn vẹn đến mức với mọi biểu hiện tinh thần của sự sống, từ “nhiều hơn” (nghĩa là gia tăng) buộc phải nhường chỗ cho từ “sâu,” theo nghĩa thâm nhập. Sau khi nói điều này, huynh đệ của tôi, bạn đã thấu hiểu được bao nhiêu?
It is at this point that the initiate is confronted for the first time with the Seven Paths, because each Path constitutes a mode of penetrating into realms of realisation beyond our planet altogether.
Chính tại điểm này mà điểm đạo đồ lần đầu tiên đối diện với Bảy Con Đường, bởi vì mỗi Con Đường cấu thành một phương thức thâm nhập vào những lĩnh vực chứng nghiệm vượt hẳn ngoài hành tinh của chúng ta.
In order to do this, the initiate has to demonstrate his mastery of the Law of Differentiation and arrive at a knowledge of the Seven Paths through differentiating the seven sounds which make up the one Sound, but which are not related to the seven sounds which compose the threefold AUM.
Để làm được điều này, điểm đạo đồ phải chứng tỏ sự làm chủ của mình đối với Định luật Biến Phân và đi đến tri thức về Bảy Con Đường bằng cách phân biệt bảy âm thanh hợp thành một Âm Thanh duy nhất, nhưng không liên hệ với bảy âm thanh cấu thành AUM tam phân.
Both soul and form together must renounce the principle of life, and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection.
Cả linh hồn lẫn hình tướng phải cùng từ bỏ nguyên khí sự sống, nhờ đó để Chân Thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Hình tướng khi ấy phá vỡ sự nối kết.
[691]
[691]
You can see here why I emphasised the fact that the initiate is the recipient of the essential quality or qualities which form has revealed and developed, and which the soul has absorbed. At this particular crisis, the initiate within the Ashram or “on His way of glory to the Place where dwells the Lord” (Shamballa) summarises or contains within himself all the essential good which was stored in the soul prior to its destruction at the fourth initiation. He epitomises in himself the knowledge and the wisdom of aeons of struggle and of patient endurance. Nothing further is to be gained by adhering either to the soul or to the form. He has taken all they had to give which throws light on the spiritual Law of Sacrifice. It is interesting to note how the soul becomes at this point simply the intermediary between the personality and the initiate of high degree. But now there is nothing more to relate, to report or to transmit, and—as the Sound reverberates—the soul disappears, as testimony of response. It is now but an empty shell, but its substance is of so high an order that it becomes an integral part of the buddhic level, and its function there is etheric. The principle of life is renounced and returns to the reservoir of universal life.
Ở đây các bạn có thể thấy vì sao tôi nhấn mạnh sự kiện rằng điểm đạo đồ là người tiếp nhận phẩm tính hay các phẩm tính cốt yếu mà hình tướng đã bộc lộ và phát triển, và linh hồn đã hấp thụ. Trong cuộc khủng hoảng đặc biệt này, điểm đạo đồ trong ashram hay “trên con đường vinh quang của Ngài đến Nơi Chúa Tể ngự trị” (Shamballa) tóm kết hay chứa đựng trong chính mình mọi điều thiện cốt yếu đã được tích trữ trong linh hồn trước khi nó bị hủy diệt ở lần điểm đạo thứ tư. Ngài là hiện thân thu gọn trong chính mình của tri thức và minh triết của các đại kiếp đấu tranh và nhẫn nại chịu đựng. Không còn gì để đạt được thêm bằng cách bám vào linh hồn hay hình tướng. Ngài đã nhận lấy tất cả những gì chúng có thể trao, điều này soi sáng Định luật Hi Sinh tinh thần. Thật lý thú khi lưu ý cách linh hồn ở điểm này đơn giản trở thành trung gian giữa phàm ngã và điểm đạo đồ cao cấp. Nhưng giờ đây không còn gì để liên hệ, để báo cáo hay để truyền đạt nữa, và—khi Âm Thanh vang dội—linh hồn biến mất, như bằng chứng của sự đáp ứng. Giờ đây nó chỉ còn là một vỏ rỗng, nhưng chất liệu của nó thuộc một trật tự cao đến mức nó trở thành một phần không thể tách rời của cấp độ Bồ đề, và chức năng của nó ở đó là dĩ thái. Nguyên khí sự sống được từ bỏ và trở về hồ chứa của sự sống phổ quát.
I would have you take notice of the importance of form activity. It is the Form which shatters the connection (the usually despised, belittled, frustrated form is that which performs the final act), bringing complete liberation. The “Lunar Lord” of the personality has achieved his goal, and those elements which have composed his three vehicles (physical, astral, mental), together with the life principle, will constitute the atomic substance of the first body of manifestation of some soul seeking incarnation for the first time. This is closely related to the abstruse subject of the permanent atoms. It marks a moment of high initiation for this Lunar Lord when he shatters the connection [692] and severs all relation with the hitherto informing soul. He is no longer just a shadow, but has now those qualities which make him “substantial” (in the esoteric sense) and a new factor in time and space.
Tôi muốn bạn lưu ý đến tầm quan trọng của hoạt động của hình tướng. Chính Hình tướng làm tan vỡ sự nối kết (hình tướng thường bị khinh miệt, xem nhẹ, làm cho thất vọng ấy chính là cái thực hiện hành vi cuối cùng), đem lại sự giải thoát hoàn toàn. “Nguyệt tinh quân” của phàm ngã đã đạt được mục tiêu của y, và những yếu tố đã cấu thành ba vận cụ của y (hồng trần, cảm dục, trí tuệ), cùng với nguyên khí sự sống, sẽ tạo thành chất liệu nguyên tử của thể biểu hiện đầu tiên của một linh hồn đang tìm cách nhập thể lần đầu tiên. Điều này liên hệ chặt chẽ với chủ đề huyền nhiệm về các nguyên tử trường tồn. Nó đánh dấu một khoảnh khắc điểm đạo cao đối với nguyệt tinh quân này khi y làm tan vỡ sự nối kết [692] và cắt đứt mọi liên hệ với linh hồn vốn từ trước đến nay đã thấm nhuần y. Y không còn chỉ là một cái bóng nữa, mà giờ đây có được những phẩm tính khiến y trở nên “thực chất” (theo nghĩa huyền bí) và là một yếu tố mới trong thời gian và không gian.
The remaining words of this law need no explanation and mark a fitting finish for this section of our studies:
Những lời còn lại của định luật này không cần giải thích và đánh dấu một kết thúc thích hợp cho phần nghiên cứu này của chúng ta:
Life is now liberated, owning the qualities of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.
Sự sống giờ đây được giải thoát, sở hữu những phẩm tính của tri thức hữu thức và thành quả của mọi kinh nghiệm. Đây là những tặng phẩm do linh hồn và hình tướng cùng đem lại.
CHAPTER IX - The Seven Modes of Healing — CHƯƠNG IX - Bảy Phương Thức Trị Liệu
[694]
[694]
IT WILL BE OBVIOUS to you that even if the techniques or the seven modes of healing-relating as they do to the energies of the seven rays-were exactly imparted to you, it would be rare indeed to find a healer who was competent to use them in this interim period in world affairs. We are passing out of one age into another, and this necessarily creates difficulties which have hitherto not been recognised. This is the first time in human history wherein humanity is intelligent enough to register understanding of the implications of this happening, and far-sighted enough to be able to vision, imagine and plan for the new future. For another thing, the soul ray of the average aspirant is seldom in control to such an extent that it can bring adequate illumination and ray potency; until it is in control, these ray methods and techniques, determining the use and direction of the ray energies, are useless. This should not bring to you disappointment, but simply an attitude of expectancy, particularly where the younger students and readers are concerned. All things considered, this hiatus between expectancy and possibility is exceedingly good.
RÕ RÀNG với bạn rằng ngay cả nếu các kỹ thuật hay bảy phương thức trị liệu—vì chúng liên hệ đến các năng lượng của bảy cung—được truyền đạt chính xác cho bạn, thì cũng thật hiếm có thể tìm được một nhà trị liệu đủ năng lực để sử dụng chúng trong giai đoạn chuyển tiếp này của tình hình thế giới. Chúng ta đang đi ra khỏi một kỷ nguyên để bước vào một kỷ nguyên khác, và điều này tất yếu tạo ra những khó khăn mà từ trước đến nay chưa được nhận ra. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà nhân loại đủ thông minh để ghi nhận sự thấu hiểu về những hàm ý của biến cố này, và đủ tầm nhìn xa để có thể hình dung viễn cảnh, tưởng tượng và hoạch định cho tương lai mới. Hơn nữa, cung linh hồn của người chí nguyện trung bình hiếm khi kiểm soát đến mức có thể mang lại sự soi sáng đầy đủ và năng lực cung; cho đến khi nó nắm quyền kiểm soát, các phương pháp và kỹ thuật cung này, vốn quyết định việc sử dụng và định hướng các năng lượng cung, đều vô dụng. Điều này không nên khiến bạn thất vọng, mà chỉ nên tạo ra một thái độ mong đợi, đặc biệt đối với các đạo sinh và độc giả trẻ tuổi hơn. Xét mọi mặt, khoảng gián đoạn giữa sự mong đợi và khả năng này là cực kỳ tốt.
There has been so much given out during the past century along the lines of magical work, that more at this time would not be wise; so many mantrams and Words of Power have been communicated, and so wide a use of the [694] OM has prevailed, that a great deal of damage might be looked for as a result. Such damage has not, however, occurred. The relatively low point in evolution of the average student and experimenter has served as a protection, and little has been set in motion—either good or bad—by what they have attempted to do. Healings have frequently taken place (at least temporary healings), owing largely to the susceptibility of the patient to suggestion and his confidence in the healer. None of these healings can be traced esoterically to the scientific methods of occultism. In spite of this protection, or rather because of it, I am communicating no Ray Words at this time, such as the trained initiate employs when engaged in the healing work. These Words have to he accompanied by a trained use of the spiritual will, and (where the ordinary man and healer is concerned) even the lowest aspect of the will remains as yet undeveloped, and only self-will (which is determined, selfish desire) is expressed. It would therefore be a waste of my time to give instruction along these lines. I have felt it necessary to explain this, so that there will be no undue expectancy that I shall impart the mysterious and the hitherto unknown. I seek only to lay the foundation for a future structure of knowledge, when it will be safe, wise and right to convey those “focussing Points,” those “organising Words,” and those “expressed Intentions” of the correctly trained occult healer. I seek to generate in you also a wise and searching expectancy which will use the little that I am able to impart, and the symbolic words I may dictate, and so prepare for a greater understanding later.
Trong thế kỷ qua đã có quá nhiều điều được truyền ra theo đường lối công việc huyền thuật, đến nỗi vào lúc này truyền thêm nữa sẽ không khôn ngoan; quá nhiều mantram và Quyền năng từ đã được truyền đạt, và việc sử dụng [694] OM đã lan rộng đến mức người ta có thể chờ đợi rất nhiều tổn hại xảy ra như một kết quả. Tuy nhiên, tổn hại như thế đã không xảy ra. Điểm tiến hoá tương đối thấp của đạo sinh và người thực nghiệm trung bình đã đóng vai trò như một sự bảo vệ, và rất ít điều—dù tốt hay xấu—đã được khởi động bởi những gì họ cố gắng làm. Việc trị lành thường đã xảy ra (ít nhất là những sự trị lành tạm thời), phần lớn do bệnh nhân dễ tiếp nhận sự ám thị và do sự tin tưởng của y nơi nhà trị liệu. Không một sự trị lành nào trong số này có thể được truy nguyên một cách huyền bí đến các phương pháp khoa học của huyền bí học. Bất chấp sự bảo vệ này, hay đúng hơn là vì nó, hiện nay tôi không truyền đạt các Linh từ Cung như điểm đạo đồ lão luyện sử dụng khi dấn thân vào công việc trị liệu. Những Linh từ này phải được đi kèm với việc sử dụng được huấn luyện của ý chí tinh thần, và (đối với con người bình thường và nhà trị liệu bình thường) ngay cả phương diện thấp nhất của ý chí vẫn còn chưa phát triển, và chỉ có ý chí vị kỷ (là dục vọng ích kỷ có tính quyết đoán) được biểu lộ. Vì vậy, sẽ là lãng phí thời gian của tôi nếu đưa ra chỉ dẫn theo các đường lối này. Tôi thấy cần phải giải thích điều này, để sẽ không có sự mong đợi quá mức rằng tôi sẽ truyền đạt điều huyền bí và điều từ trước đến nay chưa được biết đến. Tôi chỉ tìm cách đặt nền móng cho một cấu trúc tri thức trong tương lai, khi việc truyền đạt những “Điểm hội tụ”, những “Linh từ tổ chức”, và những “Ý định được phát biểu” của nhà huyền bí học trị liệu được huấn luyện đúng đắn sẽ là an toàn, khôn ngoan và đúng đắn. Tôi cũng tìm cách khơi dậy nơi bạn một sự mong đợi khôn ngoan và truy xét, biết sử dụng chút ít mà tôi có thể truyền đạt, cùng những lời biểu tượng mà tôi có thể đọc cho bạn, và nhờ đó chuẩn bị cho một sự thấu hiểu lớn hơn về sau.
In the meantime there are certain things I can teach you which will be profitable. They may perchance enhance the visioned and realised difficulties, but may nevertheless prove useful in indicating the ground which must still be [695] covered before the healer arrives at correct and sustained healing.
Trong lúc này có một số điều tôi có thể dạy bạn mà sẽ hữu ích. Có thể chúng sẽ làm tăng thêm những khó khăn đã được hình dung và nhận ra, nhưng tuy vậy vẫn có thể tỏ ra hữu dụng trong việc chỉ ra chặng đường còn phải được [695] đi qua trước khi nhà trị liệu đạt đến sự trị lành đúng đắn và bền vững.
This section will be very short indeed, compared with the rest of this volume; it will consist simply of a series of summarised and condensed statements which will provide a textbook for the healer, a reference book for guidance to which he can refer. These statements will be under three classifications:
Phần này quả thật sẽ rất ngắn so với phần còn lại của tập sách này; nó sẽ chỉ gồm một loạt các phát biểu tóm lược và cô đọng, cung cấp một sách giáo khoa cho nhà trị liệu, một sách tham khảo để hướng dẫn mà y có thể tra cứu. Những phát biểu này sẽ nằm dưới ba phân loại:
I. The Seven Ray Energies.
I. Bảy Năng Lượng Cung.
II. The Rays of the Healer and the Patient.
II. Các Cung của Nhà Trị Liệu và của Bệnh Nhân.
III. The Seven Healing Techniques.
III. Bảy Kỹ Thuật Trị Liệu.
These statements will complete Volume IV of A Treatise on the Seven Rays and will carry much information to the initiated disciple, and even in part to the intelligent aspirant; they should make their healing work more effectual, even though only the preliminary work and elementary rules are given. Needless to add, the healer has to perfect himself in this initial activity and—as he works—he may himself (alone and unaided) penetrate into the deeper meanings of this phase of the Ageless Wisdom.
Những phát biểu này sẽ hoàn tất Tập IV của bộ Luận về Bảy Cung và sẽ mang nhiều thông tin đến cho đệ tử được điểm đạo, và thậm chí phần nào cho người chí nguyện thông minh; chúng sẽ làm cho công việc trị liệu của họ hữu hiệu hơn, dù chỉ có công việc sơ bộ và các quy luật căn bản được đưa ra. Không cần nói thêm, nhà trị liệu phải tự hoàn thiện mình trong hoạt động khởi đầu này và—khi y làm việc—chính y có thể tự mình (một mình và không được trợ giúp) thâm nhập vào những ý nghĩa sâu xa hơn của giai đoạn này của Minh Triết Ngàn Đời.
THE SEVEN RAY ENERGIES — BẢY NĂNG LƯỢNG CUNG
Fifteen Statements.
Mười lăm phát biểu.
1. The seven rays embody and express the totality of energies which circulate throughout our planetary form.
1. Bảy cung thể hiện và biểu lộ tổng thể các năng lượng đang lưu chuyển khắp hình tướng hành tinh của chúng ta.
2. These seven ray energies are the seven forces which unitedly compose the primary Ray of Love-Wisdom. This is the second ray of our solar system and the dominating ray in every planetary expression within the solar system. The seven rays are, all of them, subsidiary rays of this great cosmic ray. [696]
2. Bảy năng lượng cung này là bảy mãnh lực cùng nhau hợp thành Cung Bác Ái – Minh Triết nguyên thủy. Đây là cung hai của hệ mặt trời chúng ta và là cung chi phối trong mọi biểu hiện hành tinh bên trong hệ mặt trời. Cả bảy cung đều là những cung phụ của cung vũ trụ vĩ đại này. [696]
3. No matter upon which ray the healer may be found, he must always work through the second subray of that ray—the ray of love-wisdom in each ray. By means of this, he becomes connected with or related to the governing soul and personality rays. The second ray has the capacity of all-inclusiveness.
3. Dù nhà trị liệu có thể thuộc cung nào đi nữa, y luôn luôn phải làm việc qua cung phụ thứ hai của cung đó—cung bác ái-minh triết trong mỗi cung. Nhờ phương tiện này, y trở nên được nối kết với hay liên hệ với các cung linh hồn và phàm ngã chi phối. Cung hai có năng lực bao gồm tất cả.
4. The second ray and the second subray on all rays are themselves dual in expression. The healer must learn to work through the love aspect and not through the wisdom aspect. This takes much training in the practice of spiritual differentiation.
4. Cung hai và cung phụ thứ hai trên mọi cung tự chúng có biểu hiện nhị phân. Nhà trị liệu phải học cách làm việc qua phương diện bác ái chứ không qua phương diện minh triết. Điều này đòi hỏi nhiều huấn luyện trong việc thực hành sự biến phân tinh thần.
5. Those vehicles in the form nature which are on the line of 2-4-6 must be used by the healer when practicing the healing art. If he has no vehicles or bodies on this line of basic energy, he will not be able to heal. This is seldom realised. It is rare, however, to find an equipment lacking all second ray energy outlets.
5. Những vận cụ trong bản chất hình tướng thuộc đường 2-4-6 phải được nhà trị liệu sử dụng khi thực hành nghệ thuật trị liệu. Nếu y không có vận cụ hay thể nào trên đường năng lượng căn bản này, y sẽ không thể trị liệu. Điều này hiếm khi được nhận ra. Tuy nhiên, hiếm có một cơ cấu nào lại thiếu hoàn toàn mọi lối thoát năng lượng cung hai.
6. Those healers who are on the second ray, or who are equipped with a powerful second ray vehicle, are usually great healers. The Christ, being the truest exponent of the second ray ever known on earth, was greatest of all the healing sons of God.
6. Những nhà trị liệu thuộc cung hai, hoặc được trang bị một vận cụ cung hai mạnh mẽ, thường là những nhà trị liệu vĩ đại. Đức Christ, là hiện thân chân thực nhất của cung hai từng được biết đến trên Trái Đất, là vĩ đại nhất trong tất cả các Con của Thượng đế có năng lực trị liệu.
7. The ray of the soul conditions and determines the technique to be employed. The ray in the personality vehicles most closely related to the second ray (for which all the subrays act as channels) is the one through which the healing energy must flow.
7. Cung của linh hồn tác động và quyết định kỹ thuật phải được sử dụng. Cung trong các vận cụ phàm ngã có liên hệ gần nhất với cung hai (mà mọi cung phụ đều hoạt động như những kênh dẫn cho nó) là cung mà qua đó năng lượng trị liệu phải tuôn chảy.
8. The second subray of the soul ray determines the approach to the healing problem immediately confronting the healer; this energy is transmuted into healing force when passing through the appropriate personality vehicle. To be appropriate it must be on the line of 2-4-6. [697]
8. Cung phụ thứ hai của cung linh hồn quyết định cách tiếp cận đối với vấn đề trị liệu đang trực tiếp đối diện nhà trị liệu; năng lượng này được chuyển hoá thành mãnh lực trị liệu khi đi qua vận cụ phàm ngã thích hợp. Để là thích hợp, nó phải ở trên đường 2-4-6. [697]
9. The appropriate vehicle can be either the mental body or the emotional body. With the mass of men being centred in the astral nature, the healing will usually be most successful if the healer’s channel of transmission is that body also.
9. Vận cụ thích hợp có thể là thể trí hoặc thể cảm xúc. Vì đại đa số con người đều tập trung nơi bản chất cảm dục, việc trị liệu thường sẽ thành công nhất nếu kênh truyền dẫn của nhà trị liệu cũng là thể đó.
10. A triangle of energies is therefore formed; it is composed of:
10. Vì vậy, một tam giác năng lượng được hình thành; nó gồm có:
a. The energy of the soul.
a. Năng lượng của linh hồn.
b. The appropriate vehicle.
b. Vận cụ thích hợp.
c. The etheric body, through either the heart or the solar plexus centre.
c. Thể dĩ thái, qua trung tâm tim hoặc trung tâm tùng thái dương.
11. Within the etheric body, a secondary triangle is formed for the circulation of energy between:
11. Bên trong thể dĩ thái, một tam giác thứ yếu được hình thành để năng lượng lưu chuyển giữa:
a. The head centre, the centre of reception.
a. Trung tâm đầu, trung tâm tiếp nhận.
b. The ajna centre, the centre for directed distribution.
b. Trung tâm ajna, trung tâm để phân phối có định hướng.
c. The centre which registers—as the line of least resistance—the energy of the soul ray, whichever of the seven rays that may be.
c. Trung tâm ghi nhận—như con đường ít trở ngại nhất—năng lượng của cung linh hồn, bất kể đó có thể là cung nào trong bảy cung.
12. This secondary triangle is related to the primary triangle by an “act of deliberation.” This is a part of the technique which I am withholding.
12. Tam giác thứ yếu này liên hệ với tam giác chính bằng một “hành vi cân nhắc có chủ ý”. Đây là một phần của kỹ thuật mà tôi đang giữ lại.
13. The healer who is sincere and experienced can (in default of the esoteric formula producing connection between the two triangles) do much to bring about some definite relation by a deliberate act of faith and by the firm statement of his fixed intention.
13. Nhà trị liệu chân thành và có kinh nghiệm có thể (khi thiếu công thức huyền bí tạo ra sự nối kết giữa hai tam giác) làm được nhiều điều để tạo ra một mối liên hệ xác định nào đó bằng một hành vi đức tin có chủ ý và bằng sự phát biểu vững chắc về ý định cố định của y.
14. The greater triangle is that which affects the healer and makes him a transmitting agent; the lesser triangle is the one which produces the effect upon the patient and through which the healer—on the physical plane—works.
14. Tam giác lớn là tam giác tác động lên nhà trị liệu và làm cho y trở thành một tác nhân truyền dẫn; tam giác nhỏ là tam giác tạo ra hiệu quả nơi bệnh nhân và qua đó nhà trị liệu—trên cõi hồng trần—làm việc.
15. The procedure of the healer will therefore fall into three parts, prior to the conscious act of healing: [698]
15. Vì vậy, thủ tục của nhà trị liệu sẽ rơi vào ba phần, trước hành vi trị liệu hữu thức: [698]
Process One.
Tiến trình Một.
a. The healer will definitely and consciously link up with his own soul.
a. Nhà trị liệu sẽ dứt khoát và hữu thức nối kết với linh hồn của chính mình.
b. He will then determine which of his personality vehicles is to be used; this will be based upon its reaction to energies, channeling along the line 2-4-6.
b. Sau đó y sẽ xác định vận cụ phàm ngã nào của mình sẽ được sử dụng; điều này sẽ dựa trên phản ứng của nó đối với các năng lượng, dẫn truyền theo đường 2-4-6.
c. By an act of the will he will then relate the soul energy, via the desired vehicle, with the appropriate centre in the etheric body; the heart or the solar plexus, always preferably the former.
c. Bằng một hành vi của ý chí, sau đó y sẽ liên hệ năng lượng linh hồn, qua vận cụ mong muốn, với trung tâm thích hợp trong thể dĩ thái; tim hoặc tùng thái dương, nhưng luôn luôn tốt hơn là trung tâm trước.
Process two.
Tiến trình Hai.
a. He will next create the secondary triangle by focussing his attention in the centre of reception, the head centre.
a. Tiếp theo y sẽ tạo ra tam giác thứ yếu bằng cách tập trung sự chú ý của mình vào trung tâm tiếp nhận, tức trung tâm đầu.
b. He will then connect this head centre, through the power of the creative imagination, with the centre between the eyebrows, and will hold the energy there because it is the directing agency.
b. Sau đó y sẽ nối kết trung tâm đầu này, bằng quyền năng của sự tưởng tượng sáng tạo, với trung tâm giữa hai chân mày, và sẽ giữ năng lượng ở đó vì đó là tác nhân định hướng.
c. He will endeavour to gather into this ajna centre the energy of that centre within his etheric body which is related to his soul ray.
c. Y sẽ cố gắng tập hợp vào trung tâm ajna này năng lượng của trung tâm trong thể dĩ thái của mình có liên hệ với cung linh hồn của y.
Process Three.
Tiến trình Ba.
He then, with deliberation, performs the act of linking the two triangles; once this is done, he is ready for the healing action.
Sau đó, với sự cân nhắc có chủ ý, y thực hiện hành vi nối kết hai tam giác; một khi điều này được thực hiện, y đã sẵn sàng cho hành động trị liệu.
THE RAYS OF HEALER AND OF PATIENT. — CÁC CUNG CỦA NHÀ TRỊ LIỆU VÀ CỦA BỆNH NHÂN.
It will be apparent to the most superficial reader that the variation or the identity between the rays of the healer [699] and his patient constitutes a factor of importance: many conditioning factors will be presented; there will also be present a contrast between the soul rays and the personality rays of both parties concerned. You may have, therefore, conditions in which:
Ngay cả với độc giả hời hợt nhất cũng sẽ thấy rõ rằng sự khác biệt hay đồng nhất giữa các cung của nhà trị liệu [699] và bệnh nhân của y tạo thành một yếu tố quan trọng: nhiều yếu tố chi phối sẽ xuất hiện; cũng sẽ có sự tương phản giữa các cung linh hồn và các cung phàm ngã của cả hai bên liên hệ. Vì vậy, bạn có thể có những điều kiện trong đó:
1. The soul rays are identical and the personality rays are different.
1. Các cung linh hồn giống nhau và các cung phàm ngã khác nhau.
2. The personality rays are the same but the soul rays are not.
2. Các cung phàm ngã giống nhau nhưng các cung linh hồn thì không.
3. The rays are similar in both cases.
3. Các cung tương tự nhau trong cả hai trường hợp.
4. The rays of neither soul nor personality are the same.
4. Các cung của cả linh hồn lẫn phàm ngã đều không giống nhau.
5. The soul ray is not known but the personality ray is apparent. The ray of the personality is easily ascertained, but there is often no indication as to the soul ray. This can apply to both healer and patient.
5. Cung linh hồn không được biết nhưng cung phàm ngã thì rõ ràng. Cung của phàm ngã dễ xác định, nhưng thường không có dấu hiệu nào về cung linh hồn. Điều này có thể áp dụng cho cả nhà trị liệu lẫn bệnh nhân.
6. Nothing is known anent the rays of either party.
6. Không biết gì về các cung của cả hai bên.
I am not bringing into this discussion any reference to the rays of the mental, astral or physical vehicles, though they have a definite and sometimes a decisive effect and the knowledge is most useful when known. The trained healer, when in possession of this knowledge, can use a secondary technique as an aid to the basic method, and use the appropriate lower vehicle (either his own or that of the patient) through which to pour a secondary stream of healing energy, thus enhancing the work of the primary stream. The addition of this secondary stream implies quite advanced knowledge on the part of the healer, or accurate information given by the patient. This is, as you may surmise, somewhat rare to find. People can, by careful study and the assembling of known analogous instances, ascertain with a fair degree of success the nature of the two major [700] rays; it takes, however, an initiate of some standing to recognise and work through the rays of one of the lower bodies, and therefore be in a position to distribute the healing force through two centres simultaneously. We will not consequently consider more than the relation of the rays controlling the healer and the patient from the angle of soul and personality.
Tôi không đưa vào cuộc thảo luận này bất kỳ tham chiếu nào đến các cung của các vận cụ trí tuệ, cảm dục hay hồng trần, dù chúng có một tác động xác định và đôi khi có tính quyết định, và tri thức ấy rất hữu ích khi được biết. Nhà trị liệu được huấn luyện, khi sở hữu tri thức này, có thể sử dụng một kỹ thuật thứ yếu như một trợ giúp cho phương pháp căn bản, và dùng vận cụ thấp thích hợp (hoặc của chính y hoặc của bệnh nhân) qua đó tuôn đổ một dòng năng lượng trị liệu thứ yếu, nhờ vậy tăng cường công việc của dòng chính. Việc thêm vào dòng thứ yếu này hàm ý tri thức khá cao cấp nơi nhà trị liệu, hoặc thông tin chính xác do bệnh nhân cung cấp. Như bạn có thể đoán, điều này khá hiếm gặp. Con người có thể, bằng sự nghiên cứu cẩn thận và việc tập hợp các trường hợp tương đồng đã biết, xác định với mức độ thành công khá cao bản chất của hai cung lớn [700]; tuy nhiên, cần một điểm đạo đồ có vị thế nào đó mới có thể nhận ra và làm việc qua các cung của một trong các thể thấp, và do đó ở vào vị trí phân phối mãnh lực trị liệu qua hai trung tâm cùng một lúc. Vì vậy, chúng ta sẽ không xét gì hơn ngoài mối liên hệ của các cung kiểm soát nhà trị liệu và bệnh nhân từ góc độ linh hồn và phàm ngã.
It is not possible for me to take each of the rays of both healer and patient and trace for you the appropriate technique; this will become clearer if you consider the great number of difficulties which are presented when both the rays of the two parties concerned are brought into relationship. In Discipleship in the New Age the rays are given of a large number of disciples. You might, as an experimental exercise, take these various rays, as assigned, and place each of these disciples in the part of either healer or patient, and see what centres would be employed in the case of some disease (each based in a different location in the human body), and then attempt to decide what method, mode or procedure the healer would be wise to follow. At the same time you should remember two things: first, that all these people are members of a second ray Ashram; also that they are disciples, and consequently their rays are apparent and obvious to the healer, which greatly helps. You could determine also what ray energy should be employed in the healing process, through what centre in yourself, as the healer, and the disciple as a patient, you should work and whether you are in a position to use a secondary technique. Then, having through the use of the imagination worked at an imaginary healing, look around among your friends and acquaintances for those whom you believe possess similar ray conditions and—if they are ailing or ill—seek to help them in the same way as you attempted to aid an imaginary patient: note then what happens. Avoid the use [701] of a secondary technique, for you are more liable to be entirely wrong where the three lower vehicles are involved than with the two major expressions of life. The rest of this subject can perhaps be clarified by certain statements which will become clearer as esoteric psychology emerges as a definite educational subject in the decades which lie ahead.
Tôi không thể lấy từng cung của cả nhà trị liệu lẫn bệnh nhân và vạch ra cho bạn kỹ thuật thích hợp; điều này sẽ trở nên rõ hơn nếu bạn xét đến số lượng lớn những khó khăn được đặt ra khi các cung của hai bên liên hệ được đem vào tương quan. Trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, các cung được nêu ra của một số lượng lớn đệ tử. Bạn có thể, như một bài tập thực nghiệm, lấy các cung khác nhau này như đã được chỉ định, và đặt mỗi đệ tử ấy vào vai trò hoặc nhà trị liệu hoặc bệnh nhân, rồi xem những trung tâm nào sẽ được sử dụng trong trường hợp một bệnh nào đó (mỗi bệnh đặt nền trên một vị trí khác nhau trong cơ thể con người), rồi sau đó cố gắng quyết định phương pháp, phương thức hay thủ tục nào mà nhà trị liệu nên khôn ngoan tuân theo. Đồng thời bạn nên nhớ hai điều: thứ nhất, tất cả những người này đều là thành viên của một ashram cung hai; thứ hai, họ là các đệ tử, và do đó các cung của họ là hiển nhiên và rõ ràng đối với nhà trị liệu, điều này giúp ích rất nhiều. Bạn cũng có thể xác định năng lượng cung nào nên được sử dụng trong tiến trình trị liệu, qua trung tâm nào trong chính bạn, với tư cách nhà trị liệu, và trong đệ tử với tư cách bệnh nhân, bạn nên làm việc, và liệu bạn có ở vào vị trí sử dụng một kỹ thuật thứ yếu hay không. Rồi sau đó, khi đã dùng sự tưởng tượng để thực hiện một cuộc trị liệu tưởng tượng, hãy nhìn quanh trong số bạn bè và người quen của bạn để tìm những người mà bạn tin là có các điều kiện cung tương tự và—nếu họ đau yếu hay bệnh hoạn—hãy tìm cách giúp họ theo cùng cách như bạn đã cố giúp một bệnh nhân tưởng tượng: rồi ghi nhận điều gì xảy ra. Hãy tránh sử dụng [701] một kỹ thuật thứ yếu, vì bạn dễ hoàn toàn sai lầm hơn nhiều khi ba vận cụ thấp có liên quan so với khi chỉ xét hai biểu hiện lớn của sự sống. Phần còn lại của chủ đề này có lẽ có thể được làm sáng tỏ bằng một số phát biểu sẽ trở nên rõ ràng hơn khi Tâm Lý Học Nội Môn xuất hiện như một môn học giáo dục xác định trong những thập niên sắp tới.
1. The healer should ascertain his rays, and then proceed with his work on the basis of that information. When that knowledge is not available, he should refrain from the attempt to heal.
1. Nhà trị liệu nên xác định các cung của mình, rồi sau đó tiến hành công việc trên cơ sở thông tin đó. Khi tri thức ấy không có sẵn, y nên kiềm chế không cố gắng trị liệu.
2. When unable—from lack of this knowledge—to carry forward the healing work, let him confine himself to the task of acting as a channel for the energy of love to the patient.
2. Khi không thể—do thiếu tri thức này—tiến hành công việc trị liệu, hãy để y giới hạn mình vào nhiệm vụ hành động như một kênh dẫn cho năng lượng bác ái đến với bệnh nhân.
3. The healer will find it easier in most cases to ascertain his rays, or one of them at least, than to know the rays of the patient.
3. Trong đa số trường hợp, nhà trị liệu sẽ thấy dễ xác định các cung của mình, hay ít nhất một trong số đó, hơn là biết các cung của bệnh nhân.
There are two reasons for this:
Có hai lý do cho điều này:
a. The fact that he seeks to heal and help indicates a fair measure of advancement upon the spiritual way. Such advancement is required for correct finding of the ray quality. A little study of himself and of the possible rays present should in time show him the nature of the energies controlling him.
a. Sự kiện y tìm cách trị liệu và giúp đỡ cho thấy một mức độ tiến bộ khá đáng kể trên con đường tinh thần. Sự tiến bộ như vậy là cần thiết để tìm ra đúng phẩm tính cung. Một ít nghiên cứu về chính mình và về các cung có thể hiện diện, theo thời gian, sẽ cho y thấy bản chất của các năng lượng đang kiểm soát y.
b. The patient, if advanced, is liable not to seek his help, but will handle his own problem, through the soul and through the Ashram, if affiliated with one. If he is not advanced, the personality ray will be more easily ascertained than the soul ray, and will therefore provide the point of contact.
b. Bệnh nhân, nếu tiến bộ, có thể sẽ không tìm đến sự giúp đỡ của y, mà sẽ tự xử lý vấn đề của mình, qua linh hồn và qua ashram, nếu có liên kết với một ashram. Nếu không tiến bộ, cung phàm ngã sẽ dễ được xác định hơn cung linh hồn, và do đó sẽ cung cấp điểm tiếp xúc.
[702]
[702]
4. The healer, having to his satisfaction determined upon the rays or ray conditioning him, should then prepare himself for the healing task by a minimum of five hours of most careful preparation, related to his mind, the thinking apparatus. I mean not five hours of consecutive mental control and reflection, but a period of quiet thought, carried on—when possible-wherein the healer studies the patient and familiarises himself with:
4. Nhà trị liệu, sau khi đã xác định một cách thỏa đáng các cung hay cung đang tác động lên mình, nên chuẩn bị cho nhiệm vụ trị liệu bằng tối thiểu năm giờ chuẩn bị hết sức cẩn thận, liên hệ đến thể trí của y, bộ máy tư duy. Ý tôi không phải là năm giờ liên tục kiểm soát trí tuệ và suy tư, mà là một khoảng thời gian suy nghĩ yên tĩnh, được tiến hành—khi có thể—trong đó nhà trị liệu nghiên cứu bệnh nhân và làm quen với:
a. The problem of the disease and its particular nature.
a. Vấn đề của bệnh và bản chất đặc thù của nó.
b. Its location in the physical body.
b. Vị trí của nó trong thể xác.
c. The centre involved and (when he is an enlightened disciple) with its condition.
c. Trung tâm liên hệ và (khi y là một đệ tử giác ngộ) với tình trạng của trung tâm ấy.
d. The acuteness of the difficulty and the chance of a cure.
d. Tính cấp tính của khó khăn và cơ may chữa khỏi.
e. The danger of death or not.
e. Nguy cơ tử vong hay không.
f. The psychological condition of the patient.
f. Tình trạng tâm lý của bệnh nhân.
g. The rays of the patient, if feasible; these, if known, will condition his approach.
g. Các cung của bệnh nhân, nếu có thể; nếu được biết, chúng sẽ tác động lên cách tiếp cận của y.
5. Thus prepared, the healer focusses his attention in his own ray. When he only possesses general and not specific knowledge of his own ray or rays and those of the patient, the healer may proceed upon the surmise that one or both are along the line of 1-3-5-7 or 2-4-6 and act upon that general assumption. To possess specific and particularised knowledge is useful, but where it exists not, and particular rays cannot be assigned, it is often possible to determine whether the general trend of the character is along the line of love or of the will, and then to act accordingly. The problem then is whether the relation between healer and [703] patient will be from personality to personality, from soul to soul, or from personality to soul and vice versa. When the relation is that of personality to personality (and this will be the most usual), the energy with which the healer will work is simply that of planetary prana; the effect of this will be to stimulate the natural processes of the physical body and (in cooperation with nature and so in line with the patient’s karma) so fortify his physical vehicle that he can cast off the disease or can be aided to face with confidence the processes of death, and with calm and intelligent understanding pass out to the subtler realms of being. Where the relation is that of the soul of the healer to the personality of the patient, the healer will work with ray energy, pouring his own ray energy through the centre which is controlling the diseased area. When both the soul of the healer and that of the patient are working in cooperation there can be the blending of two energies or (where similar rays are present) the strengthening of one energy and a greatly hastened work of healing or of dissolution. The healer must ever bear in mind that his task is either to heal—under the karmic law—or to aid in the processes of dissolution, bringing about, therefore, a higher form of healing. Unless the healer is a higher initiate and can work in full awareness of circumstances and governing conditions, sudden healings and dramatically arrested disease will not occur. If they do occur, it will be due to three things:
5. Được chuẩn bị như vậy, nhà trị liệu tập trung sự chú ý của mình vào cung riêng của mình. Khi y chỉ sở hữu tri thức tổng quát chứ không phải tri thức đặc thù về cung hay các cung của mình và của bệnh nhân, nhà trị liệu có thể tiến hành trên giả định rằng một hoặc cả hai thuộc đường 1-3-5-7 hoặc 2-4-6 và hành động theo giả định tổng quát đó. Có được tri thức đặc thù và chi tiết là hữu ích, nhưng khi điều đó không có, và không thể chỉ định các cung cụ thể, thì thường vẫn có thể xác định liệu xu hướng tổng quát của tính cách là theo đường bác ái hay theo đường ý chí, rồi hành động tương ứng. Khi ấy vấn đề là liệu mối liên hệ giữa nhà trị liệu và [703] bệnh nhân sẽ là từ phàm ngã đến phàm ngã, từ linh hồn đến linh hồn, hay từ phàm ngã đến linh hồn và ngược lại. Khi mối liên hệ là phàm ngã với phàm ngã (và đây sẽ là trường hợp thông thường nhất), năng lượng mà nhà trị liệu sẽ làm việc chỉ đơn giản là prana hành tinh; hiệu quả của nó sẽ là kích thích các tiến trình tự nhiên của thể xác và (hợp tác với tự nhiên và do đó phù hợp với nghiệp quả của bệnh nhân) tăng cường vận cụ hồng trần của y để y có thể loại bỏ bệnh tật hoặc có thể được giúp đỡ để đối diện với các tiến trình của cái chết bằng sự tự tin, và với sự bình thản và thấu hiểu thông minh mà đi ra các cõi giới vi tế hơn của bản thể. Khi mối liên hệ là từ linh hồn của nhà trị liệu đến phàm ngã của bệnh nhân, nhà trị liệu sẽ làm việc với năng lượng cung, tuôn đổ năng lượng cung riêng của mình qua trung tâm đang kiểm soát khu vực bị bệnh. Khi cả linh hồn của nhà trị liệu lẫn của bệnh nhân cùng làm việc trong sự hợp tác, có thể có sự hòa trộn của hai năng lượng hoặc (khi có các cung tương tự hiện diện) sự tăng cường của một năng lượng và công việc trị liệu hay tan rã được đẩy nhanh rất nhiều. Nhà trị liệu phải luôn ghi nhớ rằng nhiệm vụ của y hoặc là trị lành—dưới định luật nghiệp quả—hoặc là trợ giúp trong các tiến trình tan rã, do đó mang lại một hình thức trị liệu cao hơn. Trừ phi nhà trị liệu là một điểm đạo đồ cao cấp hơn và có thể làm việc trong sự nhận biết đầy đủ về các hoàn cảnh và các điều kiện chi phối, những sự trị lành đột ngột và bệnh tật bị chặn đứng một cách ngoạn mục sẽ không xảy ra. Nếu chúng có xảy ra, điều đó sẽ là do ba điều:
a. The destiny of the patient whose time has not yet come.
a. Định mệnh của bệnh nhân mà thời điểm của y vẫn chưa đến.
b. The interposition of the patient’s own soul, who is, in the last analysis, the agent of karma. [704]
b. Sự can thiệp của chính linh hồn bệnh nhân, vốn xét cho cùng là tác nhân của nghiệp quả. [704]
c. The aid of the healer which proved adequate enough to give the patient the necessary confidence and added strength to bring about his own healing.
c. Sự trợ giúp của nhà trị liệu tỏ ra đủ để đem lại cho bệnh nhân sự tự tin cần thiết và sức mạnh gia tăng để tự mình mang lại sự trị lành.
10. Nobody is ever brought back from the “gates of death” whose karma indicates that his time has come; the life cycle on the physical plane then ends unless he is a worker in an Ashram, a disciple of some standing whose work and presence is still needed on earth to complete his assigned task. Then the Master of the Ashram may add His knowledge and energy to that of the healer or to that of the patient, and bring about a temporary postponement of departure. Upon this the healer may not count, or the patient either, for they know not the full and warranting circumstances.
10. Không ai bao giờ được đưa trở lại từ “cổng tử thần” nếu nghiệp quả của y cho thấy thời điểm của y đã đến; chu kỳ sự sống trên cõi hồng trần khi ấy chấm dứt trừ phi y là một người hoạt động trong một ashram, một đệ tử có vị thế nào đó mà công việc và sự hiện diện của y vẫn còn cần thiết trên Trái Đất để hoàn tất nhiệm vụ được giao. Khi ấy Chân sư của ashram có thể thêm tri thức và năng lượng của Ngài vào tri thức và năng lượng của nhà trị liệu hoặc của bệnh nhân, và mang lại một sự trì hoãn tạm thời cho việc ra đi. Nhà trị liệu không thể trông cậy vào điều này, bệnh nhân cũng vậy, vì họ không biết các hoàn cảnh đầy đủ và đủ căn cứ.
11. There are certain elementary requirements or conditions in which the healer should work and which are necessary. These are:
11. Có một số đòi hỏi hay điều kiện sơ đẳng mà nhà trị liệu nên làm việc trong đó và là cần thiết. Đó là:
a. Complete quiet in the sickroom, as far as possible.
a. Sự yên tĩnh hoàn toàn trong phòng bệnh, càng nhiều càng tốt.
b. As few people in the patient’s room as wisdom may dictate. The thinking and thoughtforms of the people present can either be distracting or distracted, and thereby deflect the healing currents; on the other hand, they can sometimes strongly aid the healer’s work.
b. Càng ít người trong phòng bệnh nhân càng tốt theo như minh triết chỉ định. Tư tưởng và các hình tư tưởng của những người hiện diện có thể hoặc gây xao lãng hoặc bị xao lãng, và do đó làm chệch các dòng trị liệu; mặt khác, đôi khi chúng có thể trợ giúp mạnh mẽ cho công việc của nhà trị liệu.
c. The patient-again when possible-should lie on his back, or on his side so that centres up the spine are turned towards the healer. In some cases (and these the healer must himself determine) he should lie in such a position that the healer can hold his hands above the area of disease, though in no case must the healer touch the patient’s body.
c. Bệnh nhân—một lần nữa, khi có thể—nên nằm ngửa, hoặc nằm nghiêng sao cho các trung tâm dọc theo cột sống quay về phía nhà trị liệu. Trong một số trường hợp (và những trường hợp này nhà trị liệu phải tự xác định) y nên nằm ở tư thế sao cho nhà trị liệu có thể giữ hai tay của mình phía trên vùng bệnh, dù trong bất kỳ trường hợp nào nhà trị liệu cũng không được chạm vào thể xác của bệnh nhân.
12. When quiet, peace and silence have been reached, the healer will proceed with the appropriate technique. The [705] quiet, peace and silence mentioned above refer not only to physical conditions, but to the emotional and mental states of the healer and the patient as well as of those present; this is not always easy to attain.
12. Khi sự yên tĩnh, bình an và im lặng đã đạt được, nhà trị liệu sẽ tiến hành với kỹ thuật thích hợp. [705] Sự yên tĩnh, bình an và im lặng được nhắc đến ở trên không chỉ liên quan đến các điều kiện hồng trần, mà còn đến các trạng thái cảm xúc và trí tuệ của nhà trị liệu và bệnh nhân cũng như của những người hiện diện; điều này không phải lúc nào cũng dễ đạt được.
Where the healer has not the appropriate technique or does not understand the formulas given later in this instruction, he can assemble his own technique and rules after a close study of these healing instructions, which contain enough material and suggestions for such an action.
Khi nhà trị liệu không có kỹ thuật thích hợp hoặc không hiểu các công thức được đưa ra sau này trong chỉ dẫn này, y có thể tự tập hợp kỹ thuật và các quy luật của riêng mình sau khi nghiên cứu kỹ các chỉ dẫn trị liệu này, vốn chứa đủ chất liệu và gợi ý cho một hành động như vậy.
The Seven Healing Techniques — Bảy Kỹ Thuật Trị Liệu
The techniques I shall have to give in the form of seven ancient symbolic statements or formulas, gathered out of the Book Of Rules for Initiated Disciples. I dare not yet give the simple physical application of these ray techniques, as it would be too dangerous. When rightly used and understood they carry terrific force and—in the wrong hands—could work real damage. May I remind you here that the Black Lodge initiates likewise heal or produce death and disease, and employ very similar techniques; the difference lies in the fact that they can work only with the personality rays of both healer and patient, and because they are more potent on the physical plane than are the Members of the Great White Lodge, their work is frequently most effective. The spiritual healer, working with the energies of light whenever possible, is seldom as effective physically.
Tôi sẽ phải đưa ra các kỹ thuật dưới hình thức bảy phát biểu hay công thức biểu tượng cổ xưa, được rút ra từ Sách Các Quy Luật dành cho Đệ Tử được Điểm Đạo. Tôi chưa dám đưa ra ứng dụng hồng trần đơn giản của các kỹ thuật cung này, vì điều đó sẽ quá nguy hiểm. Khi được sử dụng và thấu hiểu đúng đắn, chúng mang một mãnh lực khủng khiếp và—trong những bàn tay sai lầm—có thể gây ra tổn hại thực sự. Xin nhắc bạn ở đây rằng các điểm đạo đồ của Hắc đoàn cũng trị liệu hoặc gây ra cái chết và bệnh tật, và sử dụng những kỹ thuật rất tương tự; sự khác biệt nằm ở chỗ họ chỉ có thể làm việc với các cung phàm ngã của cả nhà trị liệu lẫn bệnh nhân, và bởi vì họ mạnh hơn trên cõi hồng trần so với các Thành Viên của Thánh đoàn, công việc của họ thường rất hữu hiệu. Nhà trị liệu tinh thần, làm việc với các năng lượng của ánh sáng bất cứ khi nào có thể, hiếm khi hữu hiệu về mặt hồng trần bằng.
The members of the Black Lodge, or healers working under its influence, are, however, totally unable to work on a patient who is spiritually oriented to the slightest degree, and is therefore coming under the control of the soul; neither can they work through a healer who is spiritually oriented. When they attempt to do so they find themselves combatted by energy coming from the Ashram towards [706] which either the healer or the patient is moving or with which he is affiliated, even if he has his place only upon the periphery. Where the average unthinking man is concerned, the danger of “black” interference is nil; the dark forces do not interest themselves in any unimportant person, save with those of potency and influence who can serve their ends. Also their evil work is only possible at the moment (or cycle) wherein the man is making decision as to whether he will move in spiritual living, remain static where he is, or turn with deliberation (which is exceedingly rare) to the path of pure selfishness. This path leads to the Black Lodge.
Tuy nhiên, các thành viên của Hắc đoàn, hay các nhà trị liệu làm việc dưới ảnh hưởng của nó, hoàn toàn không thể làm việc trên một bệnh nhân có định hướng tinh thần dù chỉ ở mức nhỏ nhất, và do đó đang đi vào dưới sự kiểm soát của linh hồn; họ cũng không thể làm việc qua một nhà trị liệu có định hướng tinh thần. Khi họ cố làm như vậy, họ thấy mình bị chống lại bởi năng lượng đến từ ashram mà [706] nhà trị liệu hoặc bệnh nhân đang tiến tới hay có liên kết với nó, ngay cả khi y chỉ có vị trí ở chu vi. Đối với con người trung bình không suy nghĩ, nguy cơ bị can thiệp “đen” là không có; các mãnh lực tối tăm không quan tâm đến bất kỳ người không quan trọng nào, ngoại trừ những người có năng lực và ảnh hưởng có thể phục vụ mục đích của chúng. Ngoài ra, công việc xấu xa của chúng hiện nay chỉ có thể xảy ra vào khoảnh khắc (hay chu kỳ) khi con người đang quyết định xem y sẽ tiến bước trong đời sống tinh thần, vẫn trì trệ ở chỗ mình đang đứng, hay cố ý quay sang (điều này cực kỳ hiếm) con đường của tính ích kỷ thuần túy. Con đường này dẫn đến Hắc đoàn.
Some disciple in the early part of next century will take these techniques or magical statements, relating to the healing work, and interpret them and elucidate them. They are susceptible of three significances, the lowest of which the modern student may succeed in interpreting for himself if he reflects adequately and lives spiritually. Here are the seven statements.
Một đệ tử nào đó vào đầu thế kỷ tới sẽ lấy những kỹ thuật hay các phát biểu huyền thuật này, liên hệ đến công việc trị liệu, mà diễn giải và làm sáng tỏ chúng. Chúng có thể tiếp nhận ba ý nghĩa, trong đó ý nghĩa thấp nhất là điều mà đạo sinh hiện đại có thể tự mình thành công trong việc diễn giải nếu y suy tư đầy đủ và sống một đời sống tinh thần. Đây là bảy phát biểu.
THE SEVEN STATEMENTS
BẢY PHÁT BIỂU
1. The first ray technique.
1. Kỹ thuật cung một.
Let the dynamic force which rules the hearts of all within Shamballa come to my aid, for I am worthy of that aid. Let it descend unto the third, pass to the fifth and focus on the seventh. These words mean not what doth at sight appear. The third, the fifth, the seventh lie within the first and come from out the Central Sun of spiritual livingness. The highest then awakens within the one who knows and within the one who must be healed and thus the two are one. This is mystery deep. The blending of the healing force effects the work desired; it may bring death, [707] that great release, and re-establish thus the fifth, the third, the first, but not the seventh.
Hãy để mãnh lực năng động cai quản trái tim của tất cả những ai ở trong Shamballa đến trợ giúp tôi, vì tôi xứng đáng với sự trợ giúp đó. Hãy để nó giáng xuống cái thứ ba, đi qua cái thứ năm và hội tụ vào cái thứ bảy. Những lời này không có nghĩa như vẻ ngoài thoạt nhìn. Cái thứ ba, cái thứ năm, cái thứ bảy nằm bên trong cái thứ nhất và đi ra từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương của sự sống tinh thần. Khi ấy cái cao nhất thức tỉnh bên trong người biết và bên trong người phải được trị lành và như vậy cả hai là một. Đây là huyền nhiệm sâu xa. Sự hòa trộn của mãnh lực trị liệu tạo ra công việc mong muốn; nó có thể mang lại cái chết, [707] sự giải thoát vĩ đại ấy, và nhờ đó tái lập cái thứ năm, cái thứ ba, cái thứ nhất, nhưng không phải cái thứ bảy.
This dynamic first ray energy is usually employed by the trained spiritual healer when it is apparent to him that the patient’s hour has come and release approaches. In cases where the first ray is the soul ray of either healer or patient, this application of first ray energy must move from head centre to head centre, and from thence to the area of distress and to the centre allied with the location. This may cause (when healing is possible and karmically correct) a temporary increase of the trouble; this is owing to the fact that the incoming energy “expels dynamically” the very seed or roots of the disease. There may be a rise in temperature, or a collapse of some kind or another, and for this the healer, the patient and the attendant physician must be prepared and should take the needed physical steps for amelioration—steps as ordained by the orthodox medical profession, which will offset the purely physical reaction. Where the soul ray of the patient is not on the first ray, but the first ray is the ray of the personality, the healer must use great caution in applying first ray energy, and should proceed very slowly and gradually through the centre on the line of 1-3-5-7 which is nearest to the seat of trouble, passing the energy through that centre and thence to the centre (whichever that may be) found in the locality of the disease. If that particular centre happens to be on the line of 3-5-7, the healer will have to exercise special care, or else the dynamic first ray energy will destroy and not heal.
Năng lượng cung một năng động này thường được nhà trị liệu tinh thần được huấn luyện sử dụng khi đối với y rõ ràng rằng giờ của bệnh nhân đã đến và sự giải thoát đang gần kề. Trong những trường hợp mà cung một là cung linh hồn của nhà trị liệu hoặc của bệnh nhân, việc áp dụng năng lượng cung một này phải đi từ trung tâm đầu đến trung tâm đầu, và từ đó đến vùng đau khổ và đến trung tâm liên kết với vị trí ấy. Điều này có thể gây ra (khi việc trị lành là có thể và đúng theo nghiệp quả) một sự gia tăng tạm thời của chứng bệnh; điều này là do năng lượng đi vào “tống xuất một cách năng động” chính hạt giống hay gốc rễ của bệnh. Có thể có sự tăng nhiệt độ, hoặc một sự suy sụp dưới hình thức này hay hình thức khác, và vì điều này nhà trị liệu, bệnh nhân và vị y sĩ chăm sóc phải được chuẩn bị và nên thực hiện những bước hồng trần cần thiết để làm dịu bớt—những bước như được ngành y chính thống quy định, vốn sẽ hóa giải phản ứng thuần túy hồng trần. Khi cung linh hồn của bệnh nhân không thuộc cung một, nhưng cung một là cung của phàm ngã, nhà trị liệu phải hết sức thận trọng khi áp dụng năng lượng cung một, và nên tiến hành rất chậm rãi và dần dần qua trung tâm trên đường 1-3-5-7 gần nhất với nơi phát sinh chứng bệnh, truyền năng lượng qua trung tâm đó rồi từ đó đến trung tâm (bất kể là trung tâm nào) được tìm thấy trong khu vực của bệnh. Nếu trung tâm đặc biệt ấy tình cờ ở trên đường 3-5-7, nhà trị liệu sẽ phải đặc biệt cẩn trọng, nếu không năng lượng cung một năng động sẽ hủy diệt chứ không trị lành.
2. The second ray technique.
2. Kỹ thuật cung hai.
Let the healing energy descend, carrying its dual lines of life and its magnetic force. Let that magnetic living force withdraw and supplement that [708] which is present in the seventh, opposing four and six to three and seven, but dealing not with five. The circular, inclusive vortex—descending to the point—disturbs, removes and then supplies and thus the work is done.
Hãy để năng lượng trị liệu giáng xuống, mang theo các đường đôi của sự sống và mãnh lực từ tính của nó. Hãy để mãnh lực sống từ tính ấy rút bớt và bổ sung cho cái [708] đang hiện diện trong cái thứ bảy, đặt bốn và sáu đối lại ba và bảy, nhưng không tác động đến năm. Vòng xoáy tròn, bao gồm tất cả—giáng xuống điểm—làm xáo trộn, loại bỏ rồi cung ứng và như vậy công việc được hoàn tất.
The heart revolves; two hearts revolve as one; the twelve within the vehicle, the twelve within the head and the twelve upon the plane of soul endeavour, cooperate as one and thus the work is done. Two energies achieve this consummation and the three whose number is a twelve respond to the greater twelve. The life is known and the years prolonged.
Trái tim xoay chuyển; hai trái tim xoay chuyển như một; mười hai bên trong vận cụ, mười hai bên trong đầu và mười hai trên cõi nỗ lực của linh hồn, hợp tác như một và như vậy công việc được hoàn tất. Hai năng lượng đạt đến sự viên mãn này và ba cái mà số của chúng là mười hai đáp ứng với mười hai lớn hơn. Sự sống được biết đến và những năm tháng được kéo dài.
If this ancient statement is read in the light of any knowledge you may have (and you probably have more than you realise), particularly knowledge anent the centres, the primary or easiest interpretation will appear.
Nếu phát biểu cổ xưa này được đọc dưới ánh sáng của bất kỳ tri thức nào bạn có thể có (và có lẽ bạn có nhiều hơn bạn nhận ra), đặc biệt là tri thức liên quan đến các trung tâm, thì cách diễn giải đầu tiên hay dễ nhất sẽ xuất hiện.
3. The third ray technique.
3. Kỹ thuật cung ba.
The healer stands and weaves. He gathers from the three, the five, the seven that which is needed for the heart of life. He brings the energies together and makes them serve the third; he thus creates a vortex into which the one distressed must descend and with him goes the healer, and yet they both remain in peace and calm. Thus must the angel of the Lord descend into the pool and bring the healing life.
Nhà trị liệu đứng và dệt. Y tập hợp từ cái ba, cái năm, cái bảy điều cần thiết cho trái tim của sự sống. Y gom các năng lượng lại và làm cho chúng phụng sự cái thứ ba; nhờ đó y tạo ra một vòng xoáy mà người đau khổ phải đi xuống vào đó và cùng với y nhà trị liệu cũng đi xuống, nhưng cả hai vẫn ở trong bình an và tĩnh lặng. Như vậy thiên thần của Chúa phải đi xuống hồ nước và mang sự sống trị liệu đến.
The “pool of waters” figures here and may cause much questioning as to its significance. Its elementary interpretation relates in reality to the central and major cause of much disease (as we have earlier seen), the emotional nature, which it is the task of the third aspect of divinity [709] to control. Ponder on this, for much enlightenment may come.
“Hồ nước” được nêu ra ở đây và có thể gây nhiều thắc mắc về ý nghĩa của nó. Cách diễn giải sơ đẳng của nó thực ra liên hệ đến nguyên nhân trung tâm và chủ yếu của nhiều bệnh tật (như chúng ta đã thấy trước đây), tức bản chất cảm xúc, mà phương diện thứ ba của thiên tính có nhiệm vụ [709] kiểm soát. Hãy suy ngẫm về điều này, vì nhiều soi sáng có thể đến.
The next healing technique is longer and far more abstruse. There is little of it that you will understand; it is entirely related, as far as our theme is concerned, to man himself and to the aphorism: “Man, know thyself.”
Kỹ thuật trị liệu tiếp theo dài hơn và huyền nhiệm hơn nhiều. Có rất ít điều trong đó mà bạn sẽ hiểu; xét theo chủ đề của chúng ta, nó hoàn toàn liên hệ đến chính con người và đến châm ngôn: “Con người, hãy biết chính mình.”
4. The fourth ray technique.
4. Kỹ thuật cung bốn.
The healer knows the place where dissonance is found. He also knows the power of sound and the sound which must be heard. Knowing the note to which the fourth great group reacts and linking it to the great Creative Nine, he sounds the note which brings release, the note which will bring absorption into one. He educates the listening ear of him who must be healed; he likewise trains the listening ear of him who must go forth. He knows the manner of the sound which brings the healing touch; and also that which says: Depart. And thus the work is done.
Nhà trị liệu biết nơi tìm thấy sự bất hòa. Y cũng biết quyền năng của âm thanh và âm thanh phải được nghe. Biết âm điệu mà nhóm lớn thứ tư đáp ứng và nối kết nó với Chín Sáng Tạo vĩ đại, y xướng lên âm điệu mang lại sự giải thoát, âm điệu sẽ mang lại sự hấp thu vào một. Y giáo dục tai lắng nghe của người phải được trị lành; y cũng huấn luyện tai lắng nghe của người phải đi ra. Y biết cách thức của âm thanh mang lại sự chạm đến trị liệu; và cũng biết âm thanh nói rằng: Hãy ra đi. Và như vậy công việc được hoàn tất.
This fourth technique is one that—in default of true ray knowledge—can be of general usefulness, because this fourth ray governs the fourth kingdom in nature, the human. The healer along this line of work (and such healers are practically nonexistent at this time because the fourth ray is not in incarnation) heals primarily through the use of the appropriate sound or sounds. In the early stages when this technique comes into demonstration, music will be largely used by the healer to bring about a cure or to facilitate the process of death or departure. It will, however, be music with one constantly recurring chord, which will embody the note of the fourth ray and of the human kingdom. Healing by the means of sound will be one of the first healing unfoldments [710] to be noted at the close of the next century. More teaching along this line would be useless until the fourth ray again cycles into manifestation.
Kỹ thuật thứ tư này là một kỹ thuật—khi thiếu tri thức cung chân thực—có thể có ích lợi tổng quát, bởi vì cung bốn này cai quản giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại. Nhà trị liệu theo đường lối công việc này (và những nhà trị liệu như thế thực tế hiện nay không tồn tại vì cung bốn không Đang lâm phàm) trị liệu chủ yếu qua việc sử dụng âm thanh hay các âm thanh thích hợp. Trong các giai đoạn đầu khi kỹ thuật này đi vào biểu hiện, âm nhạc sẽ được nhà trị liệu sử dụng rộng rãi để mang lại sự chữa lành hoặc để làm dễ dàng tiến trình chết hay ra đi. Tuy nhiên, đó sẽ là âm nhạc với một hợp âm liên tục tái diễn, thể hiện âm điệu của cung bốn và của giới nhân loại. Trị liệu bằng phương tiện âm thanh sẽ là một trong những sự khai mở trị liệu đầu tiên [710] được ghi nhận vào cuối thế kỷ tới. Truyền dạy thêm theo đường lối này sẽ vô ích cho đến khi cung bốn lại tuần hoàn vào biểu hiện.
5. The fifth ray technique.
5. Kỹ thuật cung năm.
That which has been given must be used; that which emerges from within the given mode will find its place within the healer’s plan. That which is hidden must be seen and from the three, great knowledge will emerge. For these the healer seeks. To these the healer adds the two which are as one, and so the fifth must play its part and the five must play its part and the five must function as if one. The energies descend, pass through and disappear, leaving the one who could respond with karma yet to dissipate and taking with them him who may not thus respond and so must likewise disappear.
Điều đã được ban cho phải được sử dụng; điều xuất hiện từ bên trong phương thức đã cho sẽ tìm thấy chỗ của nó trong kế hoạch của nhà trị liệu. Điều bị che giấu phải được thấy và từ cái ba, tri thức lớn sẽ xuất hiện. Nhà trị liệu tìm kiếm những điều này. Vào những điều này nhà trị liệu thêm vào cái hai vốn là một, và như vậy cái thứ năm phải đóng vai trò của nó và cái năm phải đóng vai trò của nó và cái năm phải hoạt động như thể là một. Các năng lượng giáng xuống, đi xuyên qua rồi biến mất, để lại người có thể đáp ứng với nghiệp quả còn phải làm tiêu tan và mang theo người không thể đáp ứng như vậy và do đó cũng phải biến mất.
The obvious and simplest meaning of the fifth ray mode of healing is that the healer, working scientifically and largely on concrete levels, employs all aids to bring about a cure, starting with appropriate physical care and passing on to subtler modes of healing. Again I would point out that physical aid can be as divinely used as the more mysterious methods which the metaphysical healer of the present time believes to be so profoundly more effective. Just as all modern knowledge, developed on the physical plane, through the personalities of men and women of insight and genius everywhere, is useful to the disciple and initiate, in time and space, so it is with the medical sciences. Just as right application of these varying sciences has to be made by the disciple or the initiate in order to bring about spiritual results, so must it be when the healer is at work.
Ý nghĩa hiển nhiên và đơn giản nhất của phương thức trị liệu cung năm là nhà trị liệu, làm việc một cách khoa học và phần lớn trên các cấp độ cụ thể, sử dụng mọi trợ giúp để mang lại sự chữa lành, bắt đầu bằng sự chăm sóc hồng trần thích hợp rồi tiến đến các phương thức trị liệu vi tế hơn. Một lần nữa tôi muốn chỉ ra rằng sự trợ giúp hồng trần có thể được sử dụng một cách thiêng liêng cũng như những phương pháp huyền nhiệm hơn mà nhà trị liệu siêu hình học hiện nay tin là hiệu quả sâu xa hơn nhiều. Cũng như mọi tri thức hiện đại, được phát triển trên cõi hồng trần, qua các phàm ngã của những người nam và nữ có nội kiến và thiên tài ở khắp nơi, đều hữu ích cho đệ tử và điểm đạo đồ trong thời gian và không gian, thì các khoa học y học cũng vậy. Cũng như việc áp dụng đúng đắn các khoa học đa dạng này phải được đệ tử hay điểm đạo đồ thực hiện để mang lại các kết quả tinh thần, thì cũng phải như thế khi nhà trị liệu đang làm việc.
All work becomes spiritual when rightly motivated, when wise discrimination is employed and soul power is [711] added to the knowledge gained in the three worlds. The dynamic use of energy in one of its seven streams, added to the sane understanding and work of the modern physician, aided by the healer (who works as does a catalyst), can produce miracles when destiny so ordains. The metaphysical healer who works solely on the subtler levels is like the spiritual worker who fails so constantly to precipitate the needed financial assets on the physical plane. This is caused frequently by a subtle—though usually unrecognised—sense of superiority with which the average healer and the esotericist views his problem of materialisation of either physical health or money. Ponder on this and realise that fifth ray methods carry through to the physical plane; there they engender conflict and eventually produce a physical precipitation of the desired nature. In what I have said anent the fifth ray techniques, I have given more hints and information than in any of the others.
Mọi công việc đều trở thành tinh thần khi được thúc đẩy đúng đắn, khi sự phân biện minh triết được vận dụng và quyền năng linh hồn được [711] thêm vào tri thức đã đạt được trong ba cõi giới. Việc sử dụng năng lượng một cách năng động trong một trong bảy dòng của nó, cộng với sự thấu hiểu lành mạnh và công việc của vị y sĩ hiện đại, được trợ giúp bởi người chữa lành (làm việc như một chất xúc tác), có thể tạo ra những điều kỳ diệu khi định mệnh an bài như vậy. Nhà chữa lành siêu hình chỉ làm việc trên các cấp độ vi tế hơn cũng giống như người hoạt động tinh thần luôn luôn thất bại trong việc ngưng tụ những tài sản tài chính cần thiết trên cõi hồng trần. Điều này thường do một cảm giác ưu việt vi tế—dù thường không được nhận ra—mà người chữa lành trung bình và nhà bí truyền học nhìn vấn đề hiện hình của mình, dù là sức khỏe thể xác hay tiền bạc. Hãy suy ngẫm về điều này và nhận ra rằng các phương pháp cung năm được thực hiện đến tận cõi hồng trần; tại đó chúng gây ra xung đột và cuối cùng tạo ra một sự ngưng tụ hồng trần có bản chất như mong muốn. Trong những gì tôi đã nói liên quan đến các kỹ thuật cung năm, tôi đã đưa ra nhiều gợi ý và thông tin hơn bất kỳ kỹ thuật nào khác.
6. The sixth ray technique.
6. Kỹ thuật cung sáu.
Cleaving the waters, let the power descend, the healer cries. He minds not how the waters may respond; they oft bring stormy waves and dire and dreadful happenings. The end is good. The trouble will be ended when the storm subsides and energy has fulfilled its charted destiny. Straight to the heart the power is forced to penetrate, and into every channel, nadi, nerve and spleen the power must seek a passage and a way and thus confront the enemy who has elected entrance and settled down to live. Ejection—ruthless, sudden and complete—is undertaken by the one who sees naught else but perfect functioning and brooks no interference. This perfect functioning opens thus the door to life eternal or to life on earth for yet a little while.
Xẻ đôi các dòng nước, hãy để quyền năng giáng xuống, người chữa lành kêu lên. Y không bận tâm các dòng nước có thể đáp ứng ra sao; chúng thường mang đến những đợt sóng dữ dội và những biến cố nghiêm trọng, kinh hoàng. Kết cuộc là tốt đẹp. Rắc rối sẽ chấm dứt khi cơn bão lắng xuống và năng lượng đã hoàn thành định mệnh đã được vạch sẵn của nó. Quyền năng bị buộc phải xuyên thấu thẳng vào tim, và vào mọi kênh dẫn, nadi, dây thần kinh và lá lách, quyền năng phải tìm một lối đi và một con đường, và như thế đối mặt với kẻ thù đã chọn cách xâm nhập và định cư để sống. Sự tống xuất—tàn nhẫn, đột ngột và hoàn toàn—được thực hiện bởi người không thấy gì khác ngoài sự vận hành hoàn hảo và không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào. Sự vận hành hoàn hảo này do đó mở cánh cửa dẫn đến sự sống vĩnh cửu hoặc đến sự sống trên trần gian thêm một thời gian ngắn nữa.
[712]
[712]
This technique is curiously potent and sudden when the healer is on the sixth ray; the results are drastic and full of pain, but the results are sure-healing or death, and oft the latter. The sixth ray healer is seldom disciplined or wise at this time, owing to this being the end of the sixth ray cycle. When again the sixth ray comes into manifestation, humanity will have progressed far along the Path and the present aggressive, too sure, fanatical sixth ray healer will not re-appear. Today they are the majority, and their work is not good; it is well-intentioned, but the technique is ignorantly applied and the end justifies not the assurance of the healer, leading to frequent deception of the patient.
Kỹ thuật này có một năng lực kỳ lạ và đột ngột khi người chữa lành thuộc cung sáu; các kết quả thì quyết liệt và đầy đau đớn, nhưng các kết quả thì chắc chắn—chữa lành hoặc chết, và thường là điều sau. Người chữa lành cung sáu vào lúc này hiếm khi có kỷ luật hoặc minh triết, vì đây là lúc kết thúc chu kỳ cung sáu. Khi cung sáu lại đi vào biểu hiện, nhân loại sẽ đã tiến rất xa trên Con Đường và người chữa lành cung sáu hung hăng, quá tự tin, cuồng tín hiện nay sẽ không tái xuất hiện. Ngày nay họ chiếm đa số, và công việc của họ không tốt; ý định thì tốt, nhưng kỹ thuật được áp dụng một cách ngu dốt và kết quả không biện minh cho sự quả quyết của người chữa lành, dẫn đến sự lừa dối bệnh nhân thường xuyên.
7. The seventh ray technique.
7. Kỹ thuật cung bảy.
Energy and force must meet each other and thus the work is done. Colour and sound in ordered sequence must meet and blend and thus the work of magic can proceed. Substance and spirit must evoke each other and, passing through the centre of the one who seeks to aid, produce the new and good. The healer energises thus with life the failing life, driving it forth or anchoring it yet more deeply in the place of destiny. All seven must be used and through the seven there must pass the energies the need requires, creating the new man who has for ever been and will for ever be, and either here or there.
Năng lượng và mãnh lực phải gặp nhau và như thế công việc được hoàn thành. Màu sắc và âm thanh trong trình tự có trật tự phải gặp nhau và hòa trộn, và như thế công việc huyền thuật có thể tiến hành. Chất liệu và tinh thần phải gợi lên lẫn nhau và, đi qua trung tâm của người tìm cách trợ giúp, tạo ra điều mới mẻ và tốt lành. Người chữa lành như thế tiếp sinh lực bằng sự sống cho sự sống đang suy tàn, đẩy nó ra ngoài hoặc neo nó sâu hơn nữa vào nơi chốn của định mệnh. Cả bảy phải được sử dụng và qua bảy điều ấy phải chuyển vận các năng lượng mà nhu cầu đòi hỏi, tạo ra con người mới, Đấng đã luôn luôn hiện hữu và sẽ mãi mãi hiện hữu, hoặc ở đây hoặc ở đó.
In this technique you have the clue to them all, for the work of the seventh ray healer is to bring together the life and the substance which will take the place of the substance which is diseased and bring new life to aid the recovery. The glory of life lies in consummation and in emergence. This is the prime task and the prime reward of all true [713] healers. It is this technique of attraction and substitution which will be brought to a fine point of scientific expression in the coming new age wherein the seventh ray will dominate our planet, producing that which is new and needed and determining the coming culture, civilisation and science.
Trong kỹ thuật này bạn có đầu mối cho tất cả các kỹ thuật kia, vì công việc của người chữa lành cung bảy là đưa lại gần nhau sự sống và chất liệu sẽ thay thế cho chất liệu đang bệnh hoạn và đem sự sống mới đến để trợ giúp sự hồi phục. Vinh quang của sự sống nằm trong sự viên mãn và trong sự xuất hiện. Đây là nhiệm vụ hàng đầu và cũng là phần thưởng hàng đầu của mọi người chữa lành chân chính [713]. Chính kỹ thuật hấp dẫn và thay thế này sẽ được đưa đến một mức biểu đạt khoa học tinh vi trong kỷ nguyên mới đang đến, trong đó cung bảy sẽ chi phối hành tinh chúng ta, tạo ra điều mới mẻ và cần thiết, đồng thời quyết định nền văn hóa, văn minh và khoa học sắp đến.
In conclusion I would like to tell you the reasons I am refraining from more detailed information and from a clear analysis of the wording of these ancient formulas of healing. Apart from the reason, earlier stated, that men are not yet ready to be given explicit instructions, for the time being anything I might say would appear to you puerile. That is the curious word which seems to be descriptive of possible immediate reaction. We are on the verge of entering a new era in scientific unfoldment, owing to the discovery of how to release the energy of the atom. Not even the scientists responsible for the discovery have the faintest idea of the far-reaching effects of this momentous happening. From the angle of our subject and the theme of this volume, an entirely new language related to energy and force is already in the making: the use of the discovery in the handling of disease will, in almost the immediate future (from the occult angle) be regarded as little short of miraculous.
Sau cùng tôi muốn cho bạn biết những lý do khiến tôi không đi vào thông tin chi tiết hơn và không phân tích rõ ràng ngôn từ của các công thức chữa lành cổ xưa này. Ngoài lý do đã nêu trước đó, rằng con người chưa sẵn sàng để được trao những chỉ dẫn minh bạch, thì trong lúc này bất cứ điều gì tôi có thể nói cũng sẽ có vẻ ấu trĩ đối với bạn. Đó là từ kỳ lạ dường như mô tả được phản ứng tức thời có thể có. Chúng ta đang ở ngưỡng cửa bước vào một kỷ nguyên mới của sự khai mở khoa học, nhờ việc khám phá ra cách giải phóng năng lượng của nguyên tử. Ngay cả các nhà khoa học chịu trách nhiệm cho khám phá ấy cũng không có ý niệm mơ hồ nhất về những ảnh hưởng sâu rộng của biến cố trọng đại này. Từ góc độ đề tài của chúng ta và chủ đề của tập sách này, một ngôn ngữ hoàn toàn mới liên hệ đến năng lượng và mãnh lực đã đang được hình thành: việc sử dụng khám phá ấy trong xử lý bệnh tật, trong một tương lai gần như tức khắc (xét từ góc độ huyền bí học), sẽ được xem là hầu như không kém gì phép lạ.
This discovery of atomic liberation has been brought about by the activity of the first ray in relation to the incoming seventh ray and has its analogous situation in the liberation of the Master at the fifth initiation (when the door of the tomb bursts wide open) and in the act of dying, when the imprisoned soul finds release. In the light of future scientific happenings, these ancient techniques will become much clearer, and in the meantime any explanation of their true “energetic import” would be meaningless. The [714] new and coming terminology will throw light on the ancient formulas, and in time you will see how much can be conveyed to the intelligent healer of that new generation by what seems to you both disappointing, without use or significance, and needlessly abstruse.
Khám phá về sự giải phóng nguyên tử này đã được mang lại bởi hoạt động của cung một trong liên hệ với cung bảy đang đi vào, và có tình huống tương tự của nó trong sự giải thoát của Chân sư ở lần điểm đạo thứ năm (khi cánh cửa mồ mả bật tung rộng mở) và trong hành động chết, khi linh hồn bị giam hãm tìm được sự giải thoát. Dưới ánh sáng của các biến cố khoa học tương lai, các kỹ thuật cổ xưa này sẽ trở nên rõ ràng hơn nhiều, và trong lúc này bất kỳ lời giải thích nào về “ý nghĩa năng lượng” đích thực của chúng cũng sẽ vô nghĩa. Thuật ngữ mới và đang đến [714] sẽ soi sáng các công thức cổ xưa, và theo thời gian bạn sẽ thấy có thể truyền đạt được bao nhiêu điều cho người chữa lành thông tuệ của thế hệ mới ấy bằng những gì đối với bạn dường như vừa gây thất vọng, vừa vô dụng hoặc không có thâm nghĩa, lại vừa tối nghĩa một cách không cần thiết.
In this interim period between the past and that which is on its way, it is not easy for even a Master of the Wisdom to speak or teach, particularly in connection with the theme of healing. The physical body is not yet generally recognised as an electrical unit; its nature as pure atomic energy is not yet realised; the fact of the energy body, the etheric vehicle, is not at this time recognised in the teachings of the modern medical schools, though the fact has been discussed; the explosive nature of energy, when in contact with force, or of the soul in relation to substance, is completely unknown or veiled in mystical language. Until such time as the new scientific formulas and the new approach (which the discovery of the release of atomic energy has made possible) have become more generally understood, are a familiar subject of discussion and couched in familiar language, the coming science of healing must remain behind a veil of unsuitable language and hidden by inappropriate words.
Trong giai đoạn chuyển tiếp này giữa quá khứ và điều đang trên đường đến, ngay cả một Chân sư Minh Triết cũng không dễ nói hay giảng dạy, đặc biệt liên quan đến chủ đề chữa lành. Thể xác vẫn chưa được nhìn nhận rộng rãi như một đơn vị điện; bản chất của nó như năng lượng nguyên tử thuần túy vẫn chưa được nhận ra; sự kiện về thể năng lượng, vận cụ dĩ thái, vào lúc này chưa được công nhận trong giáo huấn của các trường y khoa hiện đại, dù sự kiện ấy đã được bàn đến; bản chất bùng nổ của năng lượng khi tiếp xúc với mãnh lực, hoặc của linh hồn trong liên hệ với chất liệu, hoàn toàn chưa được biết đến hoặc bị che phủ trong ngôn ngữ thần bí. Cho đến khi các công thức khoa học mới và cách tiếp cận mới (mà việc khám phá sự giải phóng năng lượng nguyên tử đã làm cho khả hữu) được thấu hiểu rộng rãi hơn, trở thành một chủ đề thảo luận quen thuộc và được diễn đạt bằng ngôn ngữ quen thuộc, thì khoa học chữa lành sắp đến vẫn phải ở sau một bức màn của ngôn ngữ không thích hợp và bị che giấu bởi những từ ngữ không tương xứng.
This fact, as I have oft told you, handicaps all new presentations of truth; the language of the electrical engineer or of the automobile draftsman, for instance, would have been entirely meaningless to the average man a hundred years ago. So it is with the new themes and the great discoveries which are on their way and which will eventually affect every department of human life, including the Art of Healing.
Sự kiện này, như tôi đã thường nói với bạn, gây trở ngại cho mọi sự trình bày mới về chân lý; chẳng hạn, ngôn ngữ của kỹ sư điện hoặc của người thiết kế ô tô hẳn đã hoàn toàn vô nghĩa đối với người bình thường cách đây một trăm năm. Với các chủ đề mới và những khám phá lớn đang trên đường đến cũng vậy, và cuối cùng chúng sẽ ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống con người, kể cả Nghệ Thuật Chữa Lành.
I sign myself, because it has been given out who I am, as the Master Djwhal Khul.
Tôi ký tên mình, vì đã được công bố tôi là ai, là Chân sư Djwhal Khul.
THE TIBETAN
CHÂN SƯ TÂY TẠNG
RELECTION OF THE SPIRITUAL TRIAD IN THE PERSONALITY
PHẢN ÁNH CỦA TAM NGUYÊN TINH THẦN TRONG PHÀM NGÃ
THE ARCANE SCHOOL — TRƯỜNG ARCANE
Training for new age discipleship
Sự huấn luyện cho địa vị đệ tử trong kỷ nguyên mới
is provided by the Arcane School.
được cung cấp bởi Trường Arcane.
The principles of the Ageless Wisdom
Các nguyên lý của Minh Triết Ngàn Đời
are presented through esoteric meditation,
được trình bày qua tham thiền huyền bí,
study and service as a way of life.
học tập và phụng sự như một lối sống.
Contact the publishers for information.
Xin liên hệ nhà xuất bản để biết thông tin.