Trích nội dung chương
When these three groups of thinkers and servers are brought en rapport with each other, and when the three groups can be aligned, even momentarily, much can be accomplished; the gates of the new life can be opened, and the inflow of the new spiritual forces can take place. Such is the Group objective and idea. Khi ba nhóm nhà tư tưởng và người phụng sự này được đưa vào sự tương giao với nhau, và khi ba nhóm có thể được chỉnh hợp, dù chỉ trong chốc lát, thì có thể hoàn thành được nhiều điều; các cánh cổng của đời sống mới có thể được mở ra, và dòng tuôn vào của các mãnh lực tinh thần mới có thể diễn ra. Đó là mục tiêu và ý tưởng của Nhóm.
When these three groups of thinkers and servers are brought en rapport with each other, and when the three groups can be aligned, even momentarily, much can be accomplished; the gates of the new life can be opened, and the inflow of the new spiritual forces can take place. Such is the Group objective and idea.
Khi ba nhóm nhà tư tưởng và người phụng sự này được đưa vào sự tương giao với nhau, và khi ba nhóm có thể được chỉnh hợp, dù chỉ trong chốc lát, thì có thể hoàn thành được nhiều điều; các cánh cổng của đời sống mới có thể được mở ra, và dòng tuôn vào của các mãnh lực tinh thần mới có thể diễn ra. Đó là mục tiêu và ý tưởng của Nhóm.
May I now make an inquiry? Of what importance is this full moon of May to you personally? Does it seem to you of sufficient importance to warrant your utmost effort? Do you really believe that on that day there can truly come a release of spiritual energy of sufficient potency to change world affairs, provided the sons of men play their part? Do you really believe, and can you stand practically by that belief, that the Buddha on that day, in cooperation with the Christ, and with the Hierarchy of Illumined Minds, plus the proffered aid of some of the Thrones, Principalities and Powers of Light, Who are the higher correspondence of the powers of darkness, stand waiting to carry out God’s plans, when given the right and the permission of men? Your major job at this time is not to wrestle with the powers of evil and the forces of darkness, but to awaken an interest in and mobilise the forces of light and the resources of men of good will, and of right inclination in the world today. Resist not evil, but so organise and mobilise the good, and so strengthen the hands of the workers on the side of righteousness and love, that evil will find less opportunity.
Giờ đây tôi có thể nêu một câu hỏi chăng? Đối với cá nhân các bạn, kỳ trăng tròn tháng Năm này quan trọng đến mức nào? Nó có vẻ đủ quan trọng để biện minh cho nỗ lực tối đa của các bạn không? Các bạn có thật sự tin rằng vào ngày ấy, một sự giải phóng năng lượng tinh thần có thể thực sự đến với mãnh lực đủ mạnh để thay đổi các công việc thế giới, miễn là những người con của nhân loại làm tròn phần việc của mình không? Các bạn có thật sự tin, và có thể đứng vững một cách thực tiễn trên niềm tin ấy không, rằng vào ngày đó Đức Phật, trong sự hợp tác với Đức Christ, cùng với Thánh Đoàn của các Trí Tuệ được Soi Sáng, cộng thêm sự trợ giúp được hiến dâng của một số các Ngai Tòa, các Quyền Thần và các Quyền Năng của Ánh Sáng, là những Đấng tương ứng cao hơn của các quyền lực bóng tối, đang đứng chờ để thực hiện các kế hoạch của Thượng đế khi được loài người ban cho quyền và sự cho phép? Công việc chính yếu của các bạn vào lúc này không phải là vật lộn với các quyền lực của điều ác và các mãnh lực của bóng tối, mà là đánh thức sự quan tâm đến và huy động các mãnh lực của ánh sáng cùng các nguồn lực của những người thiện chí và có khuynh hướng đúng đắn trong thế giới ngày nay. Đừng chống lại điều ác, nhưng hãy tổ chức và huy động điều thiện đến mức như thế, và tăng cường khả năng hoạt động của những người phụng sự về phía chính nghĩa và tình thương đến mức như thế, để điều ác sẽ tìm thấy ít cơ hội hơn.
If you have faith as a grain of mustard seed in what I have told you, if you have staunch belief in the work of the spirit of God and in the divinity of man, then forget yourselves and consecrate your every effort, from the time you receive this communication, to the task of cooperating in the organised effort to change the current of world affairs by an increase [692] in the spirit of love and good will in the world during the month of May.
Nếu các bạn có đức tin nhỏ như hạt cải vào điều tôi đã nói với các bạn, nếu các bạn có niềm tin kiên định vào công việc của tinh thần của Thượng đế và vào thiên tính của con người, thì hãy quên mình đi và thánh hiến mọi nỗ lực của các bạn, kể từ lúc các bạn nhận được thông điệp này, cho nhiệm vụ hợp tác trong nỗ lực có tổ chức nhằm đổi hướng dòng chảy của các công việc thế giới bằng sự gia tăng [692] tinh thần tình thương và thiện chí trong thế giới trong suốt tháng Năm.
In your effort to help the world at this time there are three things of a practical nature that can be done. I touch not upon the task of preparation which each one of you, as an individual, will carry on within yourselves. Purification, sacrifice, clear thinking, and an increased sensitivity must be actively desired and worked for by each of you, alone in the secret place of your own heart. The arranging of your affairs so that the week of the full moon can yield to you the fullest opportunity to cooperate must be your effort, and the use of a sane judgment and the expression of a real skill in action must be your attempted demonstration, as you seek to awaken your immediate circle to the importance of the moment. This I take for granted. I speak here of the general effort that you can make. This falls into three categories:
Trong nỗ lực giúp đỡ thế giới vào lúc này, có ba điều mang tính thực tiễn có thể được thực hiện. Tôi không đề cập đến nhiệm vụ chuẩn bị mà mỗi người trong các bạn, với tư cách cá nhân, sẽ tiến hành bên trong chính mình. Sự thanh lọc, hi sinh, tư tưởng minh bạch và sự nhạy cảm gia tăng phải được mỗi người trong các bạn tích cực mong muốn và nỗ lực đạt tới, một mình trong nơi kín nhiệm của chính trái tim mình. Việc sắp xếp công việc của các bạn sao cho tuần lễ trăng tròn có thể đem lại cho các bạn cơ hội đầy đủ nhất để hợp tác phải là nỗ lực của các bạn, và việc sử dụng phán đoán lành mạnh cùng biểu lộ một kỹ năng hành động thực sự phải là sự chứng minh mà các bạn cố gắng thể hiện, khi các bạn tìm cách đánh thức vòng tròn gần gũi của mình trước tầm quan trọng của thời điểm này. Điều này tôi xem như đương nhiên. Ở đây tôi nói đến nỗ lực chung mà các bạn có thể thực hiện. Nỗ lực này thuộc vào ba loại:
1. The active instruction and mobilising of the known aspirants and disciples of the world, no matter in what group they work, so that they may make due preparation, working in their own groups as they see fit.
1. Sự huấn luyện tích cực và huy động những người chí nguyện và các đệ tử đã biết trên thế giới, bất kể họ hoạt động trong nhóm nào, để họ có thể chuẩn bị thích đáng, làm việc trong chính các nhóm của mình theo cách họ thấy thích hợp.
2. The call to participate of all who can be reached advising them of the day of opportunity, mobilising them for a vast world effort to arouse afresh a spirit of good will, and calling for a united use of the Great Invocation on the day of the Wesak full moon. Every possible effort must be made by the workers in every county to increase the numbers of those who use this Invocation, and to familiarise the public with the ideals for which the New Group of World Servers stands. All whom you can reach in the countries of the world must be instructed and helped to spread the use of the Invocation in their own language, and with the wording that [693] will make it acceptable, and a widespread effort must be made to organise its simultaneous use on the day of the May full moon. Those who use it must be instructed to say the words aloud, thus making a volume of sound of real potency, and they must say it with all the power of their wills behind it. It is the invocation of the “will to good” that is the objective of the Forces Who can aid at this time. This realisation is of paramount importance.
2. Lời kêu gọi tham gia gửi đến tất cả những ai có thể tiếp cận được, thông báo cho họ về ngày cơ hội, huy động họ cho một nỗ lực thế giới rộng lớn nhằm khơi dậy lại tinh thần thiện chí, và kêu gọi cùng nhau sử dụng Đại Khấn Nguyện vào ngày trăng tròn Wesak. Mọi nỗ lực có thể phải được những người hoạt động ở mọi quốc gia thực hiện để gia tăng số người sử dụng Khấn Nguyện này, và làm cho công chúng quen thuộc với các lý tưởng mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đại diện. Tất cả những ai các bạn có thể tiếp cận trong các quốc gia trên thế giới phải được hướng dẫn và giúp đỡ để truyền bá việc sử dụng Khấn Nguyện bằng chính ngôn ngữ của họ, và với cách diễn đạt [693] sẽ làm cho nó được chấp nhận, và phải có một nỗ lực rộng khắp để tổ chức việc sử dụng đồng thời vào ngày trăng tròn tháng Năm. Những người sử dụng nó phải được hướng dẫn đọc to các lời ấy, nhờ đó tạo nên một âm lượng âm thanh có mãnh lực thực sự, và họ phải đọc nó với toàn bộ quyền năng của ý chí mình đặt phía sau. Chính sự khẩn cầu “Ý Chí-hướng Thiện” là mục tiêu của các Mãnh Lực có thể trợ giúp vào lúc này. Việc nhận biết điều này có tầm quan trọng tối thượng.
3. The arranging of public meetings on as large a scale as possible, to be held on the day of the full moon of May. I mean by this that meetings should be held for the public at some time during the eighteen hours which precede and include the time of the full moon. The exact hour is immaterial, provided as many people as possible participate at some time during the preceding eighteen hours, thus laying the foundation for and aiding in the work which will take place at the time of the full moon. Those aspirants who can arrange to do so must, however, arrange to be in meditation, in group formation if possible, at the exact time, and their work will then be to capitalise on the energy then available, and to take advantage of the vortex of force generated earlier at the public meetings, and so throw the weight of the public demand for peace and light on the side of the effort of the Hierarchy.
3. Việc tổ chức các buổi họp công cộng trên quy mô lớn nhất có thể, được tổ chức vào ngày trăng tròn tháng Năm. Ý tôi là các buổi họp nên được tổ chức cho công chúng vào một thời điểm nào đó trong mười tám giờ trước và bao gồm cả thời điểm trăng tròn. Giờ chính xác không quan trọng, miễn là càng nhiều người càng tốt tham gia vào một lúc nào đó trong mười tám giờ trước đó, nhờ vậy đặt nền tảng cho và trợ giúp công việc sẽ diễn ra vào thời điểm trăng tròn. Tuy nhiên, những người chí nguyện nào có thể sắp xếp để làm như vậy thì phải sắp xếp ở trong tham thiền, nếu có thể thì theo đội hình nhóm, vào đúng thời điểm ấy, và khi đó công việc của họ sẽ là tận dụng năng lượng sẵn có lúc bấy giờ, và tận dụng xoáy lực được tạo ra trước đó tại các buổi họp công cộng, và như thế đặt sức nặng của nhu cầu công chúng về hòa bình và ánh sáng về phía nỗ lực của Thánh Đoàn.
The way in which these three objectives must be brought about, and the world be swept into an organised effort for world peace and cooperation, is to be decided upon by the exigencies of the time, the necessities of the occasion, and the varying circumstances of place, country and environing conditions.
Cách thức mà ba mục tiêu này phải được thực hiện, và thế giới phải được cuốn vào một nỗ lực có tổ chức vì hòa bình và hợp tác thế giới, phải được quyết định tùy theo những đòi hỏi cấp bách của thời gian, những nhu cầu của hoàn cảnh, và các hoàn cảnh khác nhau của địa điểm, quốc gia và điều kiện môi trường xung quanh.
[694]
[694]
The representatives of the various Units of Service in the different countries must be called upon to cooperate, and may receive this instruction in the cases where you know them and their interests. It is the general, widespread and intelligent use of the great Invocation which is desired. The general public must be urged, through all possible agencies, to employ it. The radio, the press, must all be utilised, and all men of good will must be contacted, even if unenlightened from the occult angle, and even if they do not realise the guiding presence of the Hierarchy and the opportunity now offered by the united effort of the Buddha and the Christ.
Các đại diện của những Đơn vị Phụng sự khác nhau tại các quốc gia khác nhau phải được kêu gọi hợp tác, và có thể nhận được chỉ dẫn này trong những trường hợp các bạn biết họ và mối quan tâm của họ. Điều được mong muốn là việc sử dụng rộng khắp, phổ quát và thông minh Đại Khấn Nguyện. Công chúng nói chung phải được thúc giục, qua mọi cơ quan có thể, sử dụng nó. Đài phát thanh, báo chí, tất cả đều phải được tận dụng, và mọi người thiện chí đều phải được tiếp xúc, ngay cả khi chưa được soi sáng từ góc độ huyền bí học, và ngay cả khi họ không nhận ra sự hiện diện hướng dẫn của Thánh Đoàn và cơ hội hiện đang được hiến dâng bởi nỗ lực hợp nhất của Đức Phật và Đức Christ.
Let all Who seek to help consider with care what they can do and what is the contribution which they can make. Let them weigh up, after due thought, what they can sacrifice, and in what manner they can submerge their normally selfish personalities in this great “push” on the part of the Hierarchy, of the New Group of World Servers, and of the men of good will throughout the world. The barriers which separate man from man and nation from nation can go down. The spirit of peace can become so potent that naturally and sweetly the necessary adjustments can be made. The illumination of men’s minds and the renewed organisation of man’s efforts to brotherhood can be stimulated into fresh and increased activity.
Hãy để tất cả những ai tìm cách giúp đỡ cân nhắc cẩn thận điều họ có thể làm và phần đóng góp mà họ có thể thực hiện là gì. Hãy để họ cân nhắc, sau khi suy nghĩ chín chắn, điều họ có thể hi sinh, và bằng cách nào họ có thể dìm phàm ngã vốn thường ích kỷ của mình vào trong “sự thúc đẩy” lớn lao này từ phía Thánh Đoàn, của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và của những người thiện chí trên khắp thế giới. Những rào cản ngăn cách người với người và quốc gia với quốc gia có thể sụp đổ. Tinh thần hòa bình có thể trở nên mạnh mẽ đến mức một cách tự nhiên và êm dịu, những điều chỉnh cần thiết có thể được thực hiện. Sự soi sáng trí tuệ con người và sự tổ chức lại nỗ lực của con người hướng đến tình huynh đệ có thể được kích thích vào một hoạt động mới mẻ và gia tăng.
Out of this quite possible great effort at integration which can be focussed at the time of the Wesak Festival, and intensified during the twenty four hours preceding the full moon, there can grow the real germ of the new age group, and of the new world and the new ideals. This group will function under no name, and will remain perfectly fluid and a free organisation, directed by no committee, but governed through the means of the intelligent cooperation of a group, representing [695] the New Group of World Servers. These will belong to all nations and religions.
Từ nỗ lực tích hợp lớn lao hoàn toàn có thể có này, có thể được tập trung vào thời điểm Lễ Wesak, và được tăng cường trong hai mươi bốn giờ trước trăng tròn, có thể phát triển mầm mống thực sự của nhóm kỷ nguyên mới, của thế giới mới và các lý tưởng mới. Nhóm này sẽ không hoạt động dưới bất kỳ tên gọi nào, và sẽ vẫn hoàn toàn linh động cùng là một tổ chức tự do, không do ủy ban nào chỉ đạo, mà được điều hành thông qua sự hợp tác thông minh của một nhóm đại diện cho [695] Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Những người này sẽ thuộc về mọi quốc gia và mọi tôn giáo.
The call for the help of the world disciples and aspirants, who constitute the New Group of World Servers, has gone forth from the side of the Hierarchy and it has been made abundantly clear that no one is too weak or too unimportant to have something to offer; all can do something to bring to an end this present impasse, and thus make it possible for us to inaugurate a new era of peace and of good will. I would like to make clear, however, that it is no millennium for which we are working, and that our prime objective at this time is twofold:
Lời kêu gọi sự trợ giúp của các đệ tử và người chí nguyện thế giới, những người cấu thành Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, đã được phát ra từ phía Thánh Đoàn, và đã được làm hết sức rõ rằng không ai quá yếu hay quá không quan trọng đến mức không có điều gì để cống hiến; tất cả đều có thể làm điều gì đó để chấm dứt tình trạng bế tắc hiện nay này, và nhờ đó làm cho chúng tôi có thể khai mở một kỷ nguyên mới của hòa bình và thiện chí. Tuy nhiên, tôi muốn làm rõ rằng điều chúng tôi đang làm việc không phải là một thiên niên thái bình, và mục tiêu chính của chúng tôi vào lúc này có hai mặt:
1. To break an ancient rhythm and to establish a new and better one. To do this, Time is a paramount factor. If we can delay the crystallisation of an evil necessity, and so prevent that which might occur of a calamitous nature, it will give time for the processes of transmutation, for the dissipation of that which must precipitate in some form or other, and for the applied activities of the New Group of World Servers, who constitute our instrument in the world today.
1. Phá vỡ một nhịp điệu cổ xưa và thiết lập một nhịp điệu mới và tốt đẹp hơn. Để làm điều này, Thời gian là một yếu tố tối quan trọng. Nếu chúng ta có thể trì hoãn sự kết tinh của một tất yếu xấu ác, và như thế ngăn chặn điều có thể xảy ra mang tính tai họa, thì điều đó sẽ cho thời gian cho các tiến trình chuyển hoá, cho việc làm tiêu tan điều phải ngưng tụ dưới hình thức này hay hình thức khác, và cho các hoạt động được áp dụng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, những người cấu thành công cụ của chúng tôi trong thế giới ngày nay.
2. To fuse and blend the united aspiration of all peoples at each May full moon—so that a channel can be cleared, opened and established between the New Group of World Servers (composed of all true disciples, aspirants, and men of real good will, no matter what their nationality or faith) and the waiting Hierarchy. Once this channel is permanently established and a large enough number of thinking men and women realise its function and possibilities, it will be easier for the Guides of the race to impress the public consciousness, and so sway public opinion. Thus humanity can be more [696] definitely guided, for there will emerge some conscious cooperation. The establishing of such a channel by the world aspirants is possible.
2. Dung hợp và hòa trộn khát vọng hợp nhất của mọi dân tộc vào mỗi kỳ trăng tròn tháng Năm—để một kênh dẫn có thể được khai thông, mở ra và thiết lập giữa Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian (gồm tất cả các đệ tử chân chính, những người chí nguyện, và những người nam và nữ có thiện chí thực sự, bất kể quốc tịch hay đức tin của họ) và Thánh Đoàn đang chờ đợi. Một khi kênh dẫn này được thiết lập thường trực và một số lượng đủ lớn những người nam và nữ biết suy nghĩ nhận ra chức năng và các khả năng của nó, thì các Đấng Hướng Đạo của nhân loại sẽ dễ gây ấn tượng lên tâm thức công chúng hơn, và nhờ đó tác động đến dư luận. Như thế nhân loại có thể được [696] hướng dẫn rõ rệt hơn, vì sẽ xuất hiện một sự hợp tác có ý thức nào đó. Việc thiết lập một kênh dẫn như thế bởi những người chí nguyện thế giới là điều có thể.
This is a scientific programme of work with which I have presented you. It is more than organised aspirational longing on the part of a large group of people. It is a strenuous mental endeavour, and involves the working with certain laws of the spiritual realm which are only just in process of becoming known.
Đây là một chương trình công tác khoa học mà tôi đã trình bày với các bạn. Nó còn hơn cả một khát vọng mong mỏi có tổ chức từ phía một nhóm đông người. Nó là một nỗ lực trí tuệ mãnh liệt, và bao hàm việc làm việc với một số định luật của cõi tinh thần mà hiện chỉ mới đang trong tiến trình được biết đến.
There is a law called the Law of Magnetic Impulse or Polar Union which plays an active part here. This law governs the relation of the soul of a group to the soul of other groups. It governs the interplay, vital but unrealised yet as a potency, between the soul of the fourth kingdom in nature, the human, and the soul of the three subhuman kingdoms, and likewise of the three superhuman kingdoms. It is, owing to the major part which humanity has to play in the great scheme or Plan of God, the law which will be the determining law of the race. This will not, however, be the case until the majority of human beings understand something of what it means to function as souls. Then, under obedience to this law, humanity will act as a transmitter of light, energy and spiritual potency to the subhuman kingdoms, and will constitute a channel of communication between “that which is above and that which is below”. Such is the high destiny before the race.
Có một định luật được gọi là Định luật Xung Động Từ Tính hay Hợp Nhất Cực Tính, đóng một vai trò tích cực ở đây. Định luật này chi phối mối liên hệ của linh hồn một nhóm với linh hồn của các nhóm khác. Nó chi phối sự tương tác, sống động nhưng chưa được nhận ra như một tiềm năng, giữa linh hồn của giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại, và linh hồn của ba giới dưới nhân loại, cũng như của ba giới trên nhân loại. Do phần việc lớn lao mà nhân loại phải đảm nhận trong kế hoạch vĩ đại hay Thiên Cơ của Thượng đế, đây là định luật sẽ là định luật quyết định của nhân loại. Tuy nhiên, điều này sẽ chưa xảy ra cho đến khi đa số con người hiểu được phần nào ý nghĩa của việc hoạt động như những linh hồn. Khi đó, dưới sự tuân phục định luật này, nhân loại sẽ hành động như một kẻ truyền dẫn ánh sáng, năng lượng và mãnh lực tinh thần đến các giới dưới nhân loại, và sẽ cấu thành một kênh giao tiếp giữa “điều ở trên và điều ở dưới”. Đó là định mệnh cao cả ở trước mặt nhân loại.
It is just here that I can perhaps best illustrate this law and aid our work at the coming Wesak Festivals.
Chính ở đây có lẽ tôi có thể minh họa định luật này rõ nhất và trợ giúp công việc của chúng ta tại các Lễ Wesak sắp đến.
Just as certain human beings have, through meditation, discipline and service, most definitely made a contact with their own souls, and can therefore become channels for soul expression, and mediums for the distribution into the world of [697] soul energy, so these same men and women, in their aggregate, form a group of souls, en rapport with the source of spiritual supply. They have, as a group, and from the angle of the Hierarchy, established a contact and are “in touch” with the world of spiritual realities. Just as the individual disciple stabilises this contact and learns to make a rapid alignment and then, only then, can come into touch with the Master of his group and intelligently respond to the Plan, so does this group of aligned souls come into contact with certain greater Lives and Forces of Light, such as the Christ and the Buddha. The aggregated aspiration, consecration and intelligent devotion of the group carries the individuals of which it is composed to greater heights than would be possible alone. The group stimulation and the united effort sweep the entire group to an intensity of realisation that would otherwise be impossible. Just as the Law of Attraction, working on the physical plane, brought them together as men and women into one group effort, so the Law of Magnetic Impulse can begin to control them when, again as a group and only as a group, they unitedly constitute themselves channels for service in pure self-forgetfulness.
Cũng như một số con người nào đó, nhờ tham thiền, kỷ luật và phụng sự, đã rất rõ rệt tạo được tiếp xúc với chính linh hồn của mình, và do đó có thể trở thành các kênh cho sự biểu lộ của linh hồn, và là các trung gian cho việc phân phối vào thế giới [697] năng lượng linh hồn, thì chính những người nam và nữ ấy, trong tổng thể của họ, tạo thành một nhóm các linh hồn, có liên hệ với nguồn cung ứng tinh thần. Với tư cách một nhóm, và từ góc độ của Thánh Đoàn, họ đã thiết lập được một tiếp xúc và đang “liên lạc” với thế giới của các thực tại tinh thần. Cũng như đệ tử cá nhân ổn định tiếp xúc này và học cách tạo ra một sự chỉnh hợp nhanh chóng rồi khi ấy, và chỉ khi ấy, mới có thể tiếp xúc với Chân sư của nhóm mình và đáp ứng một cách thông minh với Thiên Cơ, thì nhóm các linh hồn đã chỉnh hợp này cũng tiếp xúc với một số Sự Sống và Mãnh Lực Ánh Sáng lớn lao hơn, như Đức Christ và Đức Phật. Khát vọng, sự thánh hiến và lòng sùng tín thông minh được tổng hợp của nhóm nâng các cá nhân cấu thành nó lên những đỉnh cao lớn hơn điều họ có thể đạt được nếu đơn độc. Sự kích thích của nhóm và nỗ lực hợp nhất cuốn toàn thể nhóm vào một cường độ chứng nghiệm thực sự mà nếu không thì không thể có được. Cũng như Định luật Hấp Dẫn, hoạt động trên cõi hồng trần, đã đưa họ lại với nhau như những người nam và nữ vào trong một nỗ lực nhóm, thì Định luật Xung Động Từ Tính có thể bắt đầu kiểm soát họ khi, một lần nữa với tư cách một nhóm và chỉ với tư cách một nhóm, họ cùng nhau tự cấu thành các kênh phụng sự trong sự quên mình thuần khiết.
This thought embodies the opportunity immediately before all groups of aspirants and allied men of good will in the world today. If at the time of the May full moon they work together as a group of souls, they can accomplish much. This thought illustrates also the significance of this law which does produce polar union. What is needed to be grasped is that in this work, there is no personal ambition implied (even of a spiritual nature) and no personal union sought. This is not the mystical union of the scriptures or of the mystical tradition. It is not alignment and union with a Master’s group or fusion with one’s inner band of pledged disciples, nor even with one’s own Ray life. All these factors constitute preliminary [698] implications and are of an individual application. Upon this sentence I beg you to ponder. This union is a greater and more vital thing because it is a group union.
Tư tưởng này bao hàm cơ hội đang ở ngay trước mắt tất cả các nhóm người chí nguyện và những người thiện chí liên kết trong thế giới ngày nay. Nếu vào thời điểm trăng tròn tháng Năm họ cùng làm việc như một nhóm các linh hồn, họ có thể hoàn thành được nhiều điều. Tư tưởng này cũng minh họa ý nghĩa của định luật này, định luật quả thực tạo ra sự hợp nhất cực tính. Điều cần được nắm bắt là trong công việc này không hàm ý tham vọng cá nhân nào cả (ngay cả thuộc bản chất tinh thần) và cũng không tìm kiếm sự hợp nhất cá nhân nào. Đây không phải là sự hợp nhất thần bí của kinh điển hay của truyền thống thần bí. Đây không phải là sự chỉnh hợp và hợp nhất với nhóm của một Chân sư hay sự dung hợp với đoàn đệ tử nội tâm đã phát nguyện của riêng mình, cũng không phải ngay cả với sự sống cung riêng của mình. Tất cả các yếu tố này cấu thành những hàm ý sơ bộ [698] và có sự áp dụng cá nhân. Tôi khẩn thiết xin các bạn suy ngẫm về câu này. Sự hợp nhất này là một điều lớn lao hơn và sống động hơn bởi vì nó là một sự hợp nhất nhóm.
What we are seeking to do is to carry forward a group endeavour which is of such moment that, at the right time, it will produce, in its growing momentum, such a potent magnetic impulse that it will reach those Lives Who Brood over humanity and our civilisation, and Who work through the Masters of the Wisdom and the assembled Hierarchy. This group endeavour will call forth from Them a responsive magnetic impulse which will bring together, through the medium of the aspiring group, the overshadowing beneficent Forces. Through the concentrated effort of these groups in the world today (who constitute subjectively One group) light and inspiration and spiritual revelation can be released in such a flood of power that it will work definite changes in the human consciousness and ameliorate conditions in this needy world. It will open men’s eyes to the basic realities, which are as yet only dimly sensed by the thinking public. Then humanity itself will apply the necessary correctives, believing it can do so in the strength of its own sensed wisdom and strength; yet all the time, behind the scenes, stand the grouped world aspirants, working silently, in unison with each other and the Hierarchy, and thus keeping the channel open through which the needed wisdom, strength and love can flow.
Điều chúng ta đang tìm cách thực hiện là đưa tiến lên một nỗ lực nhóm có tầm quan trọng đến mức, vào đúng thời điểm, trong đà phát triển ngày càng tăng của nó, nó sẽ tạo ra một xung động từ tính mạnh mẽ đến nỗi sẽ vươn tới những Sự Sống đang ấp ủ trên nhân loại và nền văn minh của chúng ta, và đang hoạt động thông qua các Chân sư Minh Triết và Thánh Đoàn tập hợp. Nỗ lực nhóm này sẽ gọi ra từ Các Ngài một xung động từ tính đáp ứng, xung động này sẽ tập hợp, thông qua trung gian của nhóm chí nguyện, các Mãnh Lực thiện lành phủ bóng. Qua nỗ lực tập trung của các nhóm này trong thế giới ngày nay (những nhóm chủ quan cấu thành Một nhóm), ánh sáng, cảm hứng và sự mặc khải tinh thần có thể được giải phóng trong một dòng lũ quyền năng đến mức nó sẽ tạo ra những thay đổi rõ rệt trong tâm thức con người và cải thiện các điều kiện trong thế giới đang thiếu thốn này. Nó sẽ mở mắt con người trước những thực tại căn bản mà cho đến nay công chúng biết suy nghĩ mới chỉ cảm nhận một cách mơ hồ. Khi đó chính nhân loại sẽ áp dụng những biện pháp điều chỉnh cần thiết, tin rằng mình có thể làm như vậy bằng sức mạnh của minh triết và sức mạnh mà mình cảm nhận được; tuy nhiên suốt thời gian ấy, phía sau hậu trường là những người chí nguyện thế giới được nhóm lại, đang làm việc trong im lặng, trong sự hợp nhất với nhau và với Thánh Đoàn, và nhờ đó giữ cho kênh dẫn luôn mở để minh triết, sức mạnh và tình thương cần thiết có thể tuôn chảy qua.
There are, therefore, to be found in this great task the following relations and groupings. These must be considered and are as follows:
Vì vậy, trong nhiệm vụ lớn lao này có thể tìm thấy các mối liên hệ và các nhóm sau đây. Chúng phải được xem xét, và như sau:
1. The Forces of Light and the Spirit of Peace, embodied Lives of tremendous group potency.
1. Các Mãnh Lực Ánh Sáng và Đấng Tinh thần Hòa Bình, những Sự Sống nhập thể có mãnh lực nhóm to lớn.
2. The Planetary Hierarchy.
2. Thánh Đoàn Hành Tinh.
3. The Buddha.
3. Đức Phật.
4. The Christ.
4. Đức Christ.
5. The New Group of World Servers.
5. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
6. Humanity.
6. Nhân loại.
[699]
[699]
You will note that the Buddha focusses in Himself the downpouring forces, whilst the Christ focusses in Himself the outgoing demand and the spiritual aspiration of the entire planet. This makes a planetary alignment of great potency. Should the needed work be accomplished at the Wesak Festivals, the needed adjustments in the world can be made. The success or failure lies largely in the hands of the New Group of World Servers.
Các bạn sẽ lưu ý rằng Đức Phật tập trung trong chính Ngài các mãnh lực tuôn đổ xuống, trong khi Đức Christ tập trung trong chính Ngài nhu cầu hướng ra ngoài và khát vọng tinh thần của toàn thể hành tinh. Điều này tạo nên một sự chỉnh hợp hành tinh có mãnh lực lớn lao. Nếu công việc cần thiết được hoàn thành tại các Lễ Wesak, thì những điều chỉnh cần thiết trong thế giới có thể được thực hiện. Sự thành công hay thất bại phần lớn nằm trong tay Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
In this tabulation, I have portrayed for you a little of what is implied in the words “The Law of Polar Union”. The whole process concerns consciousness, and the results are to work out in consciousness, with the subsequent physical plane happenings, dependent upon the conscious realization of the men of good will in, or out of, the New Group of World Servers.
Trong bảng liệt kê này, tôi đã phác họa cho các bạn đôi chút về điều được hàm ý trong những lời “Định luật Hợp Nhất Cực Tính”. Toàn bộ tiến trình liên quan đến tâm thức, và các kết quả sẽ được thể hiện trong tâm thức, với những diễn biến tiếp theo trên cõi hồng trần tùy thuộc vào sự nhận biết có ý thức của những người thiện chí ở trong hay ngoài Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
Carried forward successfully and intelligently, it should be possible to inaugurate a new relation between the Hierarchy and mankind. This effort could, and let us hope it will, mark the beginning of a new type of mediatory work,—a work carried forward this time by a salvaging group of Servers who are in training for the establishing of that group which will eventually save the world. This mediatory work involves the recognition of the Law of Magnetic Impulse, and with a desire to understand it, and to cooperate with Those Who wield it. Through its medium and the right understanding of the Law, it should be possible to establish the needed union between souls, who are in themselves the symbol of the Soul in all forms, and souls in prison. Much of the success of this endeavour will depend upon the intellectual grasp of the [700] members of the New Group of World Servers of the implied technique. It will depend also upon their willingness to accept the idea of the opportunity present each full moon period, and also upon their readiness to work along the indicated lines. As yet they have no guarantee as to the accuracy of the claims regarding the importance of the full moon period, nor have they any personal knowledge of the situation as outlined. Some do not even know that there is a watching Hierarchy, but they are consecrated and selfless souls, and as such, belong to the New Group of World Servers. If they can aspire, pray, meditate and serve, focussing in unison with all other servers at the time of the May full moon, the salvaging of humanity can go forward with much greater speed than heretofore, and the results will be appreciably apparent.
Nếu được tiến hành thành công và thông minh, thì có thể khai mở một mối liên hệ mới giữa Thánh Đoàn và nhân loại. Nỗ lực này có thể, và chúng ta hãy hy vọng là sẽ, đánh dấu sự khởi đầu của một loại công việc trung gian mới,—một công việc lần này được tiến hành bởi một nhóm Người Phụng Sự cứu vãn đang được huấn luyện để thiết lập nhóm mà cuối cùng sẽ cứu thế giới. Công việc trung gian này bao hàm sự công nhận Định luật Xung Động Từ Tính, cùng với ước muốn thấu hiểu nó, và hợp tác với Các Đấng vận dụng nó. Qua trung gian của nó và sự thấu hiểu đúng đắn Định luật này, có thể thiết lập sự hợp nhất cần thiết giữa các linh hồn, vốn tự thân là biểu tượng của Linh Hồn trong mọi hình tướng, và các linh hồn bị giam hãm. Phần lớn thành công của nỗ lực này sẽ tùy thuộc vào sự nắm bắt bằng trí tuệ của các [700] thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đối với kỹ thuật được hàm ý. Nó cũng sẽ tùy thuộc vào sự sẵn lòng của họ chấp nhận ý tưởng về cơ hội hiện diện trong mỗi thời kỳ trăng tròn, và cả sự sẵn sàng của họ làm việc theo những đường lối đã được chỉ ra. Cho đến nay họ chưa có bảo đảm nào về tính chính xác của những khẳng định liên quan đến tầm quan trọng của thời kỳ trăng tròn, cũng như chưa có tri thức cá nhân nào về tình hình như đã được phác họa. Một số người thậm chí còn không biết rằng có một Thánh Đoàn đang quan sát, nhưng họ là những linh hồn thánh hiến và vô ngã, và như thế, thuộc về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nếu họ có thể khát vọng, cầu nguyện, tham thiền và phụng sự, tập trung trong sự hợp nhất với tất cả những người phụng sự khác vào thời điểm trăng tròn tháng Năm, thì việc cứu vãn nhân loại có thể tiến hành với tốc độ lớn hơn nhiều so với trước đây, và các kết quả sẽ biểu lộ rõ rệt.
For the individual disciple, the significance of this Law of Magnetic Impulse and the corresponding relationships in his own life, might also be tabulated:—
Đối với đệ tử cá nhân, ý nghĩa của Định luật Xung Động Từ Tính này và các mối liên hệ tương ứng trong chính đời sống của y cũng có thể được liệt kê như sau:—
1. The world of souls on the higher mental levels.
1. Thế giới của các linh hồn trên các cấp độ thượng trí.
2. The Master of his group.
2. Chân sư của nhóm y.
3. The solar angel.
3. Thái dương Thiên Thần.
4. The aspiring disciple on the lower mental levels.
4. Đệ tử chí nguyện trên các cấp độ hạ trí.
5. The personality, integrated and often troublesome.
5. Phàm ngã, đã tích hợp và thường gây rắc rối.
6. The aspirant’s environing associates.
6. Những người cộng sự xung quanh của người chí nguyện.
It is useful for students to have these analogies in mind, for they can often arrive at release from the limitations of their lives and true comprehension of the larger issues, when they see that their little unimportant lives are only the reflection of greater and more important factors.
Việc để các tương đồng này trong tâm trí là hữu ích cho các đạo sinh, vì họ thường có thể đạt đến sự giải thoát khỏi những giới hạn của đời sống mình và sự thấu hiểu chân thực về các vấn đề lớn lao hơn, khi họ thấy rằng những đời sống nhỏ bé không quan trọng của họ chỉ là sự phản chiếu của những yếu tố lớn lao và quan trọng hơn.
It is wise always to remember that on the plane of soul existence there is no separation, no “my soul and thy soul”. It is only in the three worlds of illusion and maya that we [701] think in terms of souls and bodies. This is an occult platitude and well known to you, but the re-emphasis of the well known truth may eventually bring home to you its exactitude.
Luôn luôn nhớ rằng trên cõi tồn tại của linh hồn không có sự phân ly, không có “linh hồn của tôi và linh hồn của bạn”. Chỉ trong ba cõi giới của ảo tưởng và ảo lực mà chúng ta [701] mới suy nghĩ theo các thuật ngữ linh hồn và thân thể. Đây là một lời sáo huyền bí học và các bạn đều biết rõ, nhưng việc nhấn mạnh lại chân lý quen thuộc này cuối cùng có thể làm cho các bạn nhận ra tính chính xác của nó.
3. The Great Approaches (The Coming New Religion)— Những Tiếp Cận Vĩ Đại (Tôn Giáo Mới Sắp Đến)
a. THE SOUL OF HUMANITY—LINH HỒN CỦA NHÂN LOẠI
It can be seen, therefore, that a very difficult interlude is now taking place in the world today. It is one wherein a process is being undergone by humanity which is similar to that which takes place so frequently in the life of an individual. The soul of the world is taking cognizance of outer affairs, preparatory to taking hold of the world situation. In the life of an aspirant, such interludes frequently occur. The personality is aware of conditions of difficulty and of turmoil. It has, however, had in the past moments of high spiritual revelation and of divine impulsation. It has been sure of its goal temporarily and it has known that the soul is the directing factor; some dim idea of the goal and of the purposes underlying those impulses which have been granted to it by the soul have been vouchsafed. But, for the moment, all that lies in the past. It seems as if the soul has retreated; that the period of contact and of surety has ended; and that nothing remains except difficulty, a sense of futility, and an urge to be freed from conditions. This is frequently of such intensity that all other interests seem dwarfed.
Vì vậy, có thể thấy rằng hiện nay một giai đoạn xen kẽ rất khó khăn đang diễn ra trong thế giới ngày nay. Đó là một giai đoạn trong đó nhân loại đang trải qua một tiến trình tương tự với điều thường xuyên xảy ra trong đời sống của một cá nhân. Linh hồn của thế giới đang chú ý đến các công việc bên ngoài, để chuẩn bị nắm lấy tình hình thế giới. Trong đời sống của một người chí nguyện, những giai đoạn xen kẽ như thế thường xảy ra. Phàm ngã nhận biết các điều kiện khó khăn và xáo trộn. Tuy nhiên, trong quá khứ nó đã có những khoảnh khắc mặc khải tinh thần cao cả và xung lực thiêng liêng. Nó đã tạm thời chắc chắn về mục tiêu của mình và đã biết rằng linh hồn là yếu tố chỉ đạo; một ý niệm mơ hồ nào đó về mục tiêu và về các mục đích nằm dưới những xung lực mà linh hồn đã ban cho nó đã được ban cho. Nhưng hiện giờ, tất cả điều đó thuộc về quá khứ. Dường như linh hồn đã rút lui; rằng thời kỳ tiếp xúc và chắc chắn đã chấm dứt; và rằng không còn gì ngoài khó khăn, cảm giác vô ích, và một thôi thúc muốn được giải thoát khỏi các điều kiện. Điều này thường mãnh liệt đến mức mọi mối quan tâm khác dường như trở nên nhỏ bé.
But the soul has not retreated and the inner spiritual conditions remain essentially unchanged. The divine impulses are still there and the soul is but gathering itself for a fresh effort and for a stronger and more determined preoccupation with the affairs of its shadow, its dim reaction, the personality.
Nhưng linh hồn không rút lui và các điều kiện tinh thần bên trong về cơ bản vẫn không thay đổi. Các xung lực thiêng liêng vẫn còn đó và linh hồn chỉ đang tự thu mình lại để có một nỗ lực mới và một sự bận tâm mạnh mẽ hơn, kiên quyết hơn đối với các công việc của cái bóng của nó, phản ứng mờ nhạt của nó, tức phàm ngã.
What is true of the individual aspirant is equally true of [702] humanity, the world aspirant. In May, 1936, a great forward moving effort of the world soul took place and definite and unchangeable progress was made. This had a threefold effect:
Điều đúng với người chí nguyện cá nhân cũng đúng như vậy đối với [702] nhân loại, người chí nguyện thế giới. Vào tháng Năm năm 1936, một nỗ lực tiến lên lớn lao của linh hồn thế giới đã diễn ra và một sự tiến bộ rõ rệt, không thể thay đổi đã được thực hiện. Điều này có tác động tam phân:
1. The lives of all true aspirants and disciples were subjected to a stimulating process, with definite and specific results of the desired nature.
1. Đời sống của tất cả những người chí nguyện và các đệ tử chân chính đã chịu một tiến trình kích thích, với những kết quả rõ rệt và cụ thể thuộc bản chất mong muốn.
2. The stimulation of the masses of men also took place; so that they could be enabled to respond more easily and truly to the impact of ideas. This also was uniquely successful.
2. Sự kích thích quần chúng nhân loại cũng đã diễn ra; nhờ đó họ có thể được làm cho có khả năng đáp ứng dễ dàng và chân thực hơn với sự tác động của các ý tưởng. Điều này cũng thành công một cách độc đáo.
3. The Hierarchy of souls who have achieved freedom and whom you call the planetary Hierarchy were able to approach closer to humanity and to establish a more definite relationship and a closer contact than had been possible at any time since mid-Atlantean times. This result was more universal than had been anticipated. This was the third of the “Great Approaches” made by the Hierarchy towards humanity. The success of these approaches is largely based on the intensity of the desire found in the world aspirants and among those who have, on their side, established also a “way of approach” through meditation and service. Their numbers being phenomenally greater than at any previous time, the year 1936 saw the Hierarchy make a step forward that was unprecedented (I had almost said, unexpected) in its experience. This was due to the world-wide activity of the New Group of World Servers.
3. Thánh Đoàn của các linh hồn đã đạt được tự do và những vị mà các bạn gọi là Thánh Đoàn hành tinh đã có thể tiến gần hơn đến nhân loại và thiết lập một mối liên hệ rõ rệt hơn cùng một tiếp xúc gần gũi hơn so với bất kỳ thời điểm nào kể từ giữa thời Atlantis. Kết quả này có tính phổ quát hơn điều đã được dự đoán. Đây là lần thứ ba trong những “Tiếp Cận Vĩ Đại” do Thánh Đoàn thực hiện đối với nhân loại. Thành công của những tiếp cận này phần lớn dựa trên cường độ của khát vọng nơi những người chí nguyện thế giới và nơi những người mà về phần mình cũng đã thiết lập một “con đường tiếp cận” qua tham thiền và phụng sự. Vì số lượng của họ lớn hơn một cách phi thường so với bất kỳ thời điểm nào trước đó, nên năm 1936 đã chứng kiến Thánh Đoàn tiến một bước chưa từng có (tôi suýt nói là không ngờ tới) trong kinh nghiệm của mình. Điều này là do hoạt động trên toàn thế giới của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
I would like here to call your attention to the phrase I used above: “the Hierarchy of souls who have achieved freedom.” I am not using that phrase in the ordinary sense. The aspirants and the disciples of the world employ it to signify the achieving of that liberty and that freedom which will [703] release them from the three worlds of human endeavour and make them free citizens of the Kingdom of God. With that point of view you are quite familiar, and you will recognise that in it there lies a large measure of selfish purpose—inevitable and some day to be eliminated, but at this stage definitely present and perhaps desirable because it provides the adequate incentive towards the needed effort. The freedom, however, to which I refer, is the achieved success of the soul to move and act and manifest with freedom in the three worlds, as well as on its own high plane. This is a point seldom if ever emphasised. The soul itself, the Ego, has its own task to do, which might be expressed as being the reverse of that with which the personality is familiar. It has to learn to be at home and to function effectively in the world of human living and there to carry forward the plan. Such is the task of the Hierarchy and I felt that a statement of their peculiar problem and the difficulty of free activity which it necessarily involves, would prove both of interest and of enlightenment to those who read these papers.
Ở đây tôi muốn lưu ý các bạn đến cụm từ tôi đã dùng ở trên: “Thánh Đoàn của các linh hồn đã đạt được tự do.” Tôi không dùng cụm từ ấy theo nghĩa thông thường. Những người chí nguyện và các đệ tử trên thế giới dùng nó để chỉ việc đạt được sự giải thoát và tự do sẽ [703] giải phóng họ khỏi ba cõi giới của nỗ lực nhân loại và làm cho họ trở thành những công dân tự do của Thiên Giới. Với quan điểm đó các bạn khá quen thuộc, và các bạn sẽ nhận ra rằng trong đó có một mức độ lớn mục đích ích kỷ—không thể tránh khỏi và một ngày nào đó sẽ bị loại bỏ, nhưng ở giai đoạn này rõ rệt là hiện diện và có lẽ đáng mong muốn vì nó cung cấp động lực thích đáng cho nỗ lực cần thiết. Tuy nhiên, sự tự do mà tôi nói đến là thành công đã đạt được của linh hồn trong việc di chuyển, hành động và biểu lộ một cách tự do trong ba cõi giới, cũng như trên cõi cao của chính nó. Đây là một điểm hiếm khi, nếu từng, được nhấn mạnh. Bản thân linh hồn, chân ngã, có nhiệm vụ riêng của nó phải làm, có thể được diễn tả như là điều ngược lại với điều mà phàm ngã quen thuộc. Nó phải học cách cảm thấy quen thuộc và hoạt động hữu hiệu trong thế giới của đời sống nhân loại và tại đó xúc tiến Thiên Cơ. Đó là nhiệm vụ của Thánh Đoàn và tôi cảm thấy rằng một phát biểu về vấn đề đặc thù của họ và khó khăn của hoạt động tự do mà điều đó tất yếu bao hàm, sẽ vừa gây hứng thú vừa soi sáng cho những ai đọc các tài liệu này.
From this highest standpoint, the Hierarchy was enabled to make a definite step forward in 1936 as the result of the work done in the last fifty years; having made it, it became necessary to stabilise the position and from the point then reached to lay plans for the next move to be taken on behalf of humanity.
Từ quan điểm cao nhất này, Thánh Đoàn đã có thể tiến một bước rõ rệt vào năm 1936 như là kết quả của công việc đã được thực hiện trong năm mươi năm qua; sau khi đã tiến bước ấy, việc ổn định vị trí trở nên cần thiết và từ điểm đã đạt được lúc đó lập kế hoạch cho bước đi kế tiếp sẽ được thực hiện thay mặt cho nhân loại.
Thus we find the interlude with which we have been almost distressingly familiar. You may have been led to expect some great onward sweep, some clear time of reaping, or some spectacular climax of happenings. When all that occurred was an interim of relative silence and a period wherein nothing seemed to occur, it was natural for the majority to experience a sense of disappointment, a reaction which was almost equivalent, in some cases, to loss of faith, and a feeling [704] of emotional fatigue and mental futility which tried many to the utmost. It is wise to remember that these reactions do not affect the issue and in no way retard the event, though they may make the task of the approaching helpers more difficult and draw almost unnecessarily upon their spiritual resources.
Như vậy chúng ta thấy giai đoạn xen kẽ mà chúng ta đã gần như quen thuộc đến mức đau đớn. Có thể các bạn đã được dẫn đến chỗ mong đợi một sự tiến lên lớn lao nào đó, một thời kỳ gặt hái rõ rệt nào đó, hay một cao trào ngoạn mục nào đó của các biến cố. Khi tất cả những gì xảy ra chỉ là một khoảng tạm ngưng tương đối yên lặng và một thời kỳ trong đó dường như không có gì xảy ra, thì việc đa số trải qua cảm giác thất vọng là điều tự nhiên, một phản ứng mà trong vài trường hợp gần như tương đương với sự mất đức tin, và một cảm giác [704] mệt mỏi cảm xúc cùng sự vô ích về trí tuệ đã thử thách nhiều người đến mức tối đa. Thật khôn ngoan khi nhớ rằng những phản ứng này không ảnh hưởng đến kết quả và không hề làm chậm biến cố, dù chúng có thể làm cho nhiệm vụ của những người trợ giúp đang tiếp cận trở nên khó khăn hơn và gần như không cần thiết rút cạn các nguồn lực tinh thần của họ.
These interludes of apparent silence, of inertia and of inactivity are part of the great preservative and constructive activity of the Hierarchy; they are both individual, group and planetary in nature. Aspirants must learn to work intelligently and understandingly with the law of cycles. They must not forget that they live in a world of seeming and have no real freedom in the world of reality.
Những giai đoạn xen kẽ của sự im lặng bề ngoài, của tính trì trệ và của sự bất động này là một phần của hoạt động bảo tồn và kiến tạo vĩ đại của Thánh Đoàn; chúng vừa có tính cá nhân, nhóm, vừa có tính hành tinh. Những người chí nguyện phải học cách làm việc một cách thông minh và thấu hiểu với định luật chu kỳ. Họ không được quên rằng họ sống trong một thế giới của vẻ ngoài và không có tự do thực sự trong thế giới của thực tại.
In May, 1938, at the time of the full moon, the Council of the Hierarchy to which I have several times referred in the past, convened and the plans for the immediate future were laid down. I would remind you of something we are very apt to forget. The plans for humanity are not laid down, for humanity determines its own destiny. The plans to meet the immediate human emergency and the plans to make possible a closer relationship between humanity and the Hierarchy were established. The problem before the Hierarchy of Masters (speaking in a large and general sense) is to intensify the activity and the consequent potency of that hidden power. By thus bringing it to the fore in human lives, the needed changes in our civilisation can be produced. The average man works from the organisation angle and having visioned some illuminating idea, he begins to build the outer physical form which will house and express it. The planetary Hierarchy, working under the inspiration of the Divine Vision as it is embodied in the Plan, seeks to evoke a response to that Plan in every human heart, and by fostering and fanning that response, to evoke not only a mental understanding but also an [705] aspirational desire. These together will produce finally the emergence of the Plan upon the earth and thus express a conditioning factor in human affairs.
Vào tháng Năm năm 1938, vào thời điểm trăng tròn, Hội Đồng của Thánh Đoàn mà tôi đã nhiều lần nhắc đến trong quá khứ đã nhóm họp và các kế hoạch cho tương lai gần đã được vạch ra. Tôi muốn nhắc các bạn về một điều mà chúng ta rất dễ quên. Các kế hoạch cho nhân loại không được vạch ra, vì nhân loại tự quyết định định mệnh của mình. Các kế hoạch để đáp ứng tình trạng khẩn cấp tức thời của nhân loại và các kế hoạch để làm cho một mối liên hệ gần gũi hơn giữa nhân loại và Thánh Đoàn trở nên khả hữu đã được thiết lập. Vấn đề trước Thánh Đoàn các Chân sư (nói theo nghĩa rộng và tổng quát) là tăng cường hoạt động và do đó tăng cường mãnh lực của quyền năng ẩn giấu ấy. Bằng cách đưa nó ra tiền cảnh trong đời sống con người, những thay đổi cần thiết trong nền văn minh của chúng ta có thể được tạo ra. Con người trung bình làm việc từ góc độ tổ chức và sau khi đã hình dung một ý tưởng soi sáng nào đó, y bắt đầu xây dựng hình tướng hồng trần bên ngoài sẽ chứa đựng và biểu lộ nó. Thánh Đoàn hành tinh, hoạt động dưới cảm hứng của Linh Ảnh Thiêng Liêng như nó được nhập thể trong Thiên Cơ, tìm cách gợi lên một đáp ứng với Thiên Cơ ấy trong mỗi trái tim con người, và bằng cách nuôi dưỡng và khơi bùng đáp ứng ấy, gợi lên không chỉ một sự thấu hiểu bằng trí tuệ mà còn cả một [705] khát vọng chí nguyện. Hai điều này cùng nhau cuối cùng sẽ tạo ra sự xuất hiện của Thiên Cơ trên trái đất và như thế biểu lộ một yếu tố tác động trong các công việc nhân loại.
When there are a sufficient number of people who are in conscious touch with their souls, then the sheer weight of their numbers, plus the clarity of their intentions and their widespread distribution over the face of the earth, must necessarily become effective. These people will then bring about changes of such far-reaching importance that the culture of the future will be as far removed from ours today, as ours in its turn is removed from that of the red Indians who roamed for centuries over the American continent and of whose possessions the white race took charge.
Khi có đủ số người đang tiếp xúc có ý thức với linh hồn của mình, thì chính sức nặng của số lượng họ, cộng với sự minh bạch của ý định họ và sự phân bố rộng khắp của họ trên mặt đất, tất yếu phải trở nên hữu hiệu. Khi đó những người này sẽ mang lại những thay đổi có tầm quan trọng sâu rộng đến mức nền văn hóa tương lai sẽ cách xa nền văn hóa của chúng ta ngày nay cũng như nền văn hóa của chúng ta cách xa nền văn hóa của những người da đỏ từng lang thang hàng thế kỷ trên lục địa Mỹ và những tài sản của họ đã bị chủng tộc da trắng tiếp quản.
This then is the task of the Workers in the field of human affairs: to awaken the soul ray to potency in the life of each human being, beginning with those whose mental equipment and achieved integration would warrant the belief that—once awakened—they would use the new forces at their disposal with a measure of wisdom and planned constructive intention.
Vậy đây là nhiệm vụ của những Người hoạt động trong lĩnh vực các công việc nhân loại: đánh thức cung linh hồn đến mãnh lực trong đời sống của mỗi con người, bắt đầu với những người mà bộ máy trí tuệ và sự tích hợp đã đạt được của họ cho phép tin rằng—một khi được đánh thức—họ sẽ sử dụng các mãnh lực mới theo ý mình với một mức độ minh triết và ý định kiến tạo có kế hoạch.
The questions we shall first discuss are as follows:—What are the psychological advantages of somewhat understanding the nature of the egoic ray? What intelligent use can be made by psychologists of the fact, if the soul ray is determined and recognised?
Những câu hỏi trước hết chúng ta sẽ bàn đến như sau:—Những lợi ích tâm lý học của việc phần nào thấu hiểu bản chất của cung chân ngã là gì? Các nhà tâm lý học có thể sử dụng một cách thông minh sự kiện này như thế nào, nếu cung linh hồn được xác định và nhận ra?
Early in this treatise we dealt with the general proposition of the value to psychology of a knowledge of the rays. We have considered the possibility of there being a scientific acceptance of the hypothesis of their existence, even if this recognition is only tendered provisionally. We must not forget that aspirants are increasing all over the world. Perhaps the simplest way to proceed is to state some of the developments which will manifest when the ray of the soul is admitted and recognised and developed. These will be:
Ở phần đầu của bộ luận này, chúng ta đã bàn đến mệnh đề tổng quát về giá trị đối với tâm lý học của tri thức về các cung. Chúng ta đã xem xét khả năng có một sự chấp nhận khoa học đối với giả thuyết về sự hiện hữu của chúng, ngay cả nếu sự công nhận này chỉ được đưa ra một cách tạm thời. Chúng ta không được quên rằng những người chí nguyện đang gia tăng trên khắp thế giới. Có lẽ cách đơn giản nhất để tiến hành là nêu ra một số phát triển sẽ biểu lộ khi cung của linh hồn được thừa nhận, nhận ra và phát triển. Những điều này sẽ là:
1. The solution of the present world conflict. This conflict now amounts in the material sense almost to an impasse. The results of soul contacts on human beings and the effect to be seen in the personality life might be stated to be as follows:
1. Giải pháp cho cuộc xung đột thế giới hiện nay. Cuộc xung đột này hiện nay, theo nghĩa vật chất, gần như đã thành một bế tắc. Các kết quả của những tiếp xúc linh hồn trên con người và hiệu quả được thấy trong đời sống phàm ngã có thể được nêu như sau:
a. Conflict, turmoil, opposed loyalties, inner warfare and a collision of divergent views.
a. Xung đột, xáo trộn, những trung thành đối nghịch, chiến tranh nội tâm và sự va chạm của các quan điểm phân kỳ.
b. A sensitivity to ideas. This amounts in the earlier stages to a flexibility of response, amounting almost to instability, and producing constant change of viewpoint. This leads eventually to a sensitivity to the intuition which will enable an individual to distinguish promptly between the unreal and the real.
b. Một sự nhạy cảm đối với các ý tưởng. Trong các giai đoạn đầu, điều này tương đương với một sự linh hoạt trong đáp ứng, gần như thành bất ổn, và tạo ra sự thay đổi quan điểm liên tục. Cuối cùng điều này dẫn đến một sự nhạy cảm đối với trực giác, điều sẽ giúp một cá nhân phân biệt nhanh chóng giữa cái không thực và cái thực.
c. A process of detachment. This is the difficult and painful process of laying down the lines of demarcation between the soul and the personality. This inevitably produces at first separation and divided interests, leading later to a submergence of personality interests in those of the Plan, and the absorption of personal desire in the aspects of the soul.
c. Một tiến trình tách rời. Đây là tiến trình khó khăn và đau đớn của việc vạch ra những đường phân giới giữa linh hồn và phàm ngã. Điều này tất yếu lúc đầu tạo ra sự phân ly và những mối quan tâm chia rẽ, về sau dẫn đến sự dìm các mối quan tâm của phàm ngã vào trong những mối quan tâm của Thiên Cơ, và sự hấp thụ ham muốn cá nhân vào các phương diện của linh hồn.
d. A period of creativity, due to the third aspect of the soul which is the creator aspect. This development will produce definite habit changes in the physical plane life of the aspirant. It will lead to the consecration of the disciple to certain types of endeavour summed up in the words “artistic career”.
d. Một giai đoạn sáng tạo, do phương diện thứ ba của linh hồn, tức phương diện sáng tạo. Sự phát triển này sẽ tạo ra những thay đổi rõ rệt về thói quen trong đời sống cõi hồng trần của người chí nguyện. Nó sẽ dẫn đến sự thánh hiến của đệ tử đối với một số loại nỗ lực nhất định, được tóm lại trong các từ “sự nghiệp nghệ thuật”.
These four effects of soul activity, which are in reality only the pouring in of soul force, through the channel of contact which the man has opened, will give to psychology the four [707] major causes of the present world difficulty. Each of these causes holds latent within itself its own solution. The present conflict, the widespread response to widely different ideologies, the economic pressure leading to material depredation, a most certain creativity of all the arts in the world today, and a new standard of values, are all problems confronting the trained thinker and psychologist. These conditioning effects are all of them to be seen among men today.
Bốn hiệu quả này của hoạt động linh hồn, mà thực ra chỉ là sự tuôn đổ của mãnh lực linh hồn qua kênh tiếp xúc mà con người đã mở ra, sẽ đem lại cho tâm lý học bốn [707] nguyên nhân chính của khó khăn hiện nay của thế giới. Mỗi nguyên nhân này đều hàm chứa tiềm tàng trong chính nó giải pháp riêng của nó. Cuộc xung đột hiện nay, sự đáp ứng rộng khắp đối với những ý hệ rất khác nhau, áp lực kinh tế dẫn đến sự cướp đoạt vật chất, một tính sáng tạo hết sức rõ rệt trong mọi ngành nghệ thuật trên thế giới ngày nay, và một tiêu chuẩn giá trị mới, tất cả đều là những vấn đề đang đối diện với nhà tư tưởng lão luyện và nhà tâm lý học. Tất cả những hiệu quả tác động này đều có thể thấy nơi con người ngày nay.
2. The emergence of world government. This emergence will be the result of these “five areas of difficulty”, and the consequence of a more general understanding of:
2. Sự xuất hiện của chính quyền thế giới. Sự xuất hiện này sẽ là kết quả của “năm lĩnh vực khó khăn” này, và là hệ quả của một sự thấu hiểu tổng quát hơn về:
a. The causes of unrest.
a. Những nguyên nhân của tình trạng bất an.
b. The point in evolution reached by humanity.
b. Điểm tiến hoá mà nhân loại đã đạt tới.
c. The crises which must inevitably occur when man, the integrated human being, meets man, the spiritual reality.
c. Những cuộc khủng hoảng tất yếu phải xảy ra khi con người, tức con người tích hợp, gặp con người, tức thực tại tinh thần.
d. The moment of opportunity which is upon us. This is the result of certain astronomical happenings, such as the pouring in of energy from a new sign in the Zodiac, and the shift of the earth’s pole.
d. Thời cơ đang ở trước mắt chúng ta. Đây là kết quả của một số biến cố thiên văn, như sự tuôn đổ năng lượng từ một dấu hiệu hoàng đạo mới, và sự dịch chuyển của cực Trái Đất.
3. The development of the new art. This will be expressive of a sensitive response to ideas. The art of the past expressed largely man’s understanding of the beauty of God’s created world, whether it was the phenomenal wonder of nature or the beauty of the human form. The art of today is as yet almost a childish attempt to express the world of feeling and of inner moods and those emotionally psychological reactions which govern the bulk of the race. They are, however, to the world of feeling-expression what the drawings of the cave man are to the art of Leonardo da Vinci. It is in the realm of words [708] today that this new art is most adequately expressing itself. The art of music will be the next approach nearer to the truth, and to the revelation of the emerging beauty; the art of the painter and of the sculptor will follow later. None of this is the art of expressing ideas creatively, which will be the glory of the Aquarian Age.
3. Sự phát triển của nghệ thuật mới. Nghệ thuật này sẽ biểu lộ một sự đáp ứng nhạy bén đối với các ý tưởng. Nghệ thuật của quá khứ phần lớn biểu lộ sự thấu hiểu của con người về vẻ đẹp của thế giới do Thượng đế sáng tạo, dù đó là kỳ quan hiện tượng của thiên nhiên hay vẻ đẹp của hình thể con người. Nghệ thuật ngày nay cho đến nay hầu như vẫn chỉ là một nỗ lực gần như trẻ con nhằm biểu lộ thế giới của cảm xúc và những tâm trạng bên trong cùng những phản ứng tâm lý cảm xúc chi phối phần lớn nhân loại. Tuy nhiên, chúng đối với thế giới biểu lộ cảm xúc cũng giống như những bức vẽ của người hang động đối với nghệ thuật của Leonardo da Vinci. Chính trong lĩnh vực ngôn từ [708] ngày nay mà nghệ thuật mới này đang tự biểu lộ một cách thích đáng nhất. Nghệ thuật âm nhạc sẽ là bước tiếp cận kế tiếp gần hơn với chân lý và với sự mặc khải của vẻ đẹp đang xuất hiện; nghệ thuật hội họa và điêu khắc sẽ theo sau về sau. Không điều nào trong số này là nghệ thuật biểu lộ các ý tưởng một cách sáng tạo, điều sẽ là vinh quang của Kỷ Nguyên Bảo Bình.
3. The understanding of diseases of mystics, or the physical ills of the highly developed people of the world. These are predominantly psychological in character and may remain submerged in the realm of the mind and of sensitivity or they may work out as physiological effect with a definite psychological basis. These forms of physical disease are the most difficult to handle and are at present little understood. What do modern scientific investigators know of the distinction between those neurotic and psychological troubles which are based on personality integration, or on excessive soul stimulation, and those which are the result of wrong polarisation? On these matters we may not here enlarge as the theme is too vast. It can, however, be noted that a recognition of the soul ray (as it makes its presence felt in the personality), will very frequently lead to definite psychological trouble. It might be well to add here a word of warning. We must be careful not to let our desire for soul contact fool us at this time into believing that our present physical difficulties (if there are any) are the result of this soul contact. It would be quite surprising if this were so. They are far more apt to be the result of astral polarisation, of physical unwisdom and experimentation, and perhaps of the too rapid integration of the three aspects of the personality.
3. Sự thấu hiểu các bệnh tật của các nhà thần bí, hay những bệnh tật thể xác của những người phát triển cao trên thế giới. Chúng chủ yếu mang tính tâm lý và có thể vẫn chìm dưới trong lĩnh vực của trí tuệ và của tính nhạy cảm, hoặc có thể biểu hiện thành hiệu quả sinh lý với một nền tảng tâm lý rõ rệt. Những dạng bệnh thể xác này là khó xử lý nhất và hiện nay ít được thấu hiểu. Các nhà nghiên cứu khoa học hiện đại biết gì về sự phân biệt giữa những rối loạn thần kinh và tâm lý dựa trên sự tích hợp phàm ngã, hoặc trên sự kích thích linh hồn quá mức, với những rối loạn là kết quả của sự phân cực sai lầm? Về những vấn đề này, ở đây chúng ta không thể bàn rộng vì đề tài quá bao la. Tuy nhiên, có thể lưu ý rằng việc nhận biết cung linh hồn (khi nó làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong phàm ngã) rất thường sẽ dẫn đến những rối loạn tâm lý rõ rệt. Có lẽ nên thêm vào đây một lời cảnh báo. Chúng ta phải cẩn thận đừng để ước muốn tiếp xúc linh hồn của mình đánh lừa mình vào lúc này mà tin rằng những khó khăn thể xác hiện nay của mình (nếu có) là kết quả của sự tiếp xúc linh hồn này. Nếu quả thật như vậy thì sẽ khá đáng ngạc nhiên. Chúng rất có thể là kết quả của sự phân cực cảm dục, của sự thiếu minh triết hồng trần và thử nghiệm, và có lẽ của sự tích hợp quá nhanh của ba phương diện của phàm ngã.
In these four points there is probably indicated enough to [709] make clear, or at least to suggest two important things. First, that much, if not all that can be seen going on in the world today, is caused by a greatly increased soul stimulation, to which the entire human family is reacting, even though, as individuals, they have not made a soul contact. This increased stimulation is due to two things—
Trong bốn điểm này có lẽ đã nêu ra đủ để [709] làm sáng tỏ, hoặc ít nhất gợi ý, hai điều quan trọng. Thứ nhất, phần lớn, nếu không phải là tất cả, những gì có thể thấy đang diễn ra trên thế giới ngày nay đều do một sự kích thích linh hồn gia tăng mạnh mẽ gây ra, mà toàn thể gia đình nhân loại đang đáp ứng, dù với tư cách cá nhân họ chưa tạo được tiếp xúc linh hồn. Sự kích thích gia tăng này là do hai điều—
1. A great many men, and the number is rapidly increasing, are making contact with their souls through an intense aspiration and—in many cases—very real desperation.
1. Rất nhiều người nam và nữ, và con số này đang tăng nhanh, đang tiếp xúc với linh hồn của họ qua một khát vọng mãnh liệt và—trong nhiều trường hợp—một sự tuyệt vọng rất thực.
2. The Hierarchy of Masters is exceedingly active today, and this is due to two things:—
2. Thánh đoàn các Chân sư hiện nay hoạt động vô cùng mạnh mẽ, và điều này là do hai nguyên nhân:—
a. The demand on the part of humanity which has reached Their attention continuously for the past few decades, and which is calling out an inevitable response.
a. Nhu cầu từ phía nhân loại, trong vài thập niên qua đã liên tục đạt tới sự chú ý của Các Ngài, và đang kêu gọi một sự đáp ứng tất yếu.
b. A stimulation of the planetary Hierarchy itself. This leads many in the ranks of the Hierarchy to pass through one of the higher initiations. They therefore become much more potent and their influence is much more magnetic and radiating.
b. Một sự kích thích của chính Thánh đoàn hành tinh. Điều này khiến nhiều vị trong hàng ngũ Thánh đoàn đi qua một trong những lần điểm đạo cao hơn. Vì thế các vị trở nên mạnh mẽ hơn nhiều và ảnh hưởng của các vị có từ tính và bức xạ mạnh hơn nhiều.
If we take the four points above enumerated and apply them both to the individual and to the race, we will find the answers to many questions, and the potency of the effects can be noted.
Nếu chúng ta lấy bốn điểm đã liệt kê ở trên và áp dụng chúng cho cả cá nhân lẫn nhân loại, chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời cho nhiều câu hỏi, và có thể nhận thấy sức mạnh của các hiệu quả.
A study of the egoic ray, when rightly understood, will give the clue to all that is happening today. It might be stated that, in the initial stage of this study, the theme should be approached as follows: A close analysis of the life, quality and characteristics of the aspirants in the world should be made from the standpoint of modern, academic, psychological research, but the fact of the soul should be accepted as a hypothetical possibility. From that premise, the investigator [710] can seek to understand the complexity of the nature of the men and the women under observation.
Một nghiên cứu về cung chân ngã, khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ cho chìa khóa đối với mọi điều đang xảy ra ngày nay. Có thể nói rằng, trong giai đoạn đầu của nghiên cứu này, đề tài nên được tiếp cận như sau: Cần thực hiện một sự phân tích chặt chẽ về đời sống, phẩm tính và đặc điểm của những người chí nguyện trên thế giới từ quan điểm của nghiên cứu tâm lý học hiện đại, hàn lâm, nhưng sự kiện về linh hồn nên được chấp nhận như một khả năng giả định. Từ tiền đề đó, nhà nghiên cứu [710] có thể tìm cách thấu hiểu tính phức tạp trong bản chất của những người nam và nữ đang được quan sát.
Some study of the psychology of the mystics (mostly those of the Middle Ages and therefore of the past), and some understanding of the phenomena which they experienced, has been carried forward. Little, however, has been done in connection with the mystics of modern times, with their higher mental equipment and their wider knowledge of the world. Nothing has been done really as yet in relation to the psychology of the occultist, who is only the mystic functioning on a higher plane—that of the mind. These are the brilliant people, normal in most of their expressions of life but possessing that something plus which differentiates them from the rank and file of their fellow men. They rise to the top of their profession, whatever it may be; they have outstanding creative ability in some department of the creative arts; they are phenomenally magnetic and influential in their effect on others; they unify and blend and gather around them groups of people.
Một số nghiên cứu về tâm lý học của các nhà thần bí (phần lớn là những người thuộc thời Trung Cổ và vì thế thuộc về quá khứ), và một số thấu hiểu về các hiện tượng mà họ đã trải nghiệm, đã được tiến hành. Tuy nhiên, rất ít điều đã được thực hiện liên quan đến các nhà thần bí thời hiện đại, với năng lực trí tuệ cao hơn và kiến thức rộng hơn về thế giới của họ. Thực sự cho đến nay chưa có gì được làm liên quan đến tâm lý học của nhà huyền bí học, vốn chỉ là nhà thần bí hoạt động trên một cõi cao hơn—đó là cõi trí. Đây là những người xuất chúng, bình thường trong phần lớn các biểu hiện đời sống của họ nhưng sở hữu một điều gì đó thêm vào khiến họ khác biệt với hàng ngũ đông đảo đồng loại của họ. Họ vươn lên hàng đầu trong nghề nghiệp của mình, bất kể đó là nghề gì; họ có năng lực sáng tạo nổi bật trong một lĩnh vực nào đó của nghệ thuật sáng tạo; họ có từ tính và ảnh hưởng phi thường trong tác động của họ lên người khác; họ hợp nhất, dung hợp và quy tụ quanh mình những nhóm người.
This group of advanced people is coming increasingly under the influence of, and responding to, the energy of their souls. They do this either consciously through aspiration, meditation and service, or unconsciously, simply expressing their point in evolution and demonstrating the work done in other lives. This group might be regarded in many ways as supernormal. Its members are frequently misunderstood and it is difficult to account for all that they are and do. They dominate in world affairs, in the realm of art or in the world of business and are the guiding group in the world today. They are found active in government and in churches. They express predominantly a sense of responsibility, or a sense of synthesis, or a sense of God, or a sense of beauty, and modern psychology must answer the question: What is it that differentiates [711] these people from their fellowmen? Heredity, opportunity, environment and the state of the glandular equipment, are some of the reasons brought forth today, but the question really remains unanswered, and will so remain until some understanding is gained of egoic unfoldment, and of soul contact, with its consequences:—stimulation, integration, the inflow of energy, and the use of that energy, according to the predisposition of the man and his group response.
Nhóm người tiến bộ này ngày càng chịu ảnh hưởng của năng lượng linh hồn họ và đang đáp ứng với nó. Họ làm điều này hoặc một cách hữu thức qua khát vọng, tham thiền và phụng sự, hoặc một cách vô thức, chỉ đơn giản biểu lộ điểm tiến hoá của mình và chứng tỏ công việc đã làm trong những kiếp sống khác. Nhóm này có thể được xem theo nhiều cách như là siêu thường. Các thành viên của nó thường bị hiểu lầm và khó giải thích được tất cả những gì họ là và làm. Họ chi phối trong các công việc thế giới, trong lĩnh vực nghệ thuật hay trong thế giới kinh doanh và là nhóm dẫn đạo trên thế giới ngày nay. Họ được thấy hoạt động trong chính quyền và trong các giáo hội. Họ biểu lộ chủ yếu một ý thức trách nhiệm, hoặc một ý thức tổng hợp, hoặc một ý thức về Thượng đế, hoặc một ý thức về cái đẹp, và tâm lý học hiện đại phải trả lời câu hỏi: Điều gì phân biệt [711] những người này với đồng loại của họ? Di truyền, cơ hội, môi trường và tình trạng của bộ máy tuyến nội tiết là một số lý do được đưa ra ngày nay, nhưng câu hỏi thực sự vẫn chưa được giải đáp, và sẽ còn như vậy cho đến khi đạt được một số thấu hiểu về sự khai mở chân ngã, và về tiếp xúc linh hồn, cùng các hệ quả của nó:—sự kích thích, sự tích hợp, dòng năng lượng tuôn vào, và việc sử dụng năng lượng đó, tùy theo khuynh hướng sẵn có của con người và sự đáp ứng nhóm của y.
Much has been given in this Treatise on the Seven Rays which should serve to clarify the problem. The soul ray of an individual, the soul ray of a nation, the potency in time and space of an incoming or an outgoing ray—all these give hints and clues to the understanding of the problem and should eventually lead to a better handling of the human being and his equipment, both by himself and by those who are endeavouring to handle him.
Nhiều điều đã được trình bày trong Luận về Bảy Cung này, điều lẽ ra phải giúp làm sáng tỏ vấn đề. Cung linh hồn của một cá nhân, cung linh hồn của một quốc gia, sức mạnh trong thời gian và không gian của một cung đang đi vào hay đang rút ra—tất cả những điều này đều đưa ra những gợi ý và đầu mối để thấu hiểu vấn đề và cuối cùng sẽ dẫn đến việc xử lý con người và bộ máy của y tốt hơn, cả bởi chính y lẫn bởi những ai đang nỗ lực xử lý y.
Sometimes I ask myself what real use can be made of this teaching and whether the wealth of information is of real service. Knowledge when given must be used; it must be made of practical application in the daily life. Upon all of you who read these words, as they come fresh from my heart, my mind and lips, rests a duty of doing three things, which I give to you in the order of their importance:
Đôi khi tôi tự hỏi có thể sử dụng giáo huấn này một cách thực sự như thế nào và liệu sự phong phú của thông tin này có thực sự hữu ích hay không. Tri thức khi được ban ra phải được sử dụng; nó phải được áp dụng thực tiễn trong đời sống hằng ngày. Trên tất cả các bạn là những người đọc những lời này, khi chúng tuôn ra tươi mới từ trái tim, trí tuệ và môi miệng tôi, đặt lên một bổn phận phải làm ba điều, mà tôi trao cho các bạn theo thứ tự quan trọng của chúng:
1. The moulding of your daily lives upon the basis of the imparted truth, if it is to you indeed a truth. It is perhaps to you simply interesting, a fascinating side line of study; perhaps it is something which it pleases you to get because of its novelty and because it is a little different from the general run of teaching; perhaps it pleases you to get these instructions a little ahead of the rest of humanity. All these reactions are of small importance, [712] being those of the personality. They are perhaps the most probable reactions for the majority. If there is nothing deeper in your reaction than those I have mentioned, then these teachings are not for you, for the responsibility upon your shoulders is thereby very great; but if you are attempting, no matter in how small a way, to apply the truth as you see it to your own life, then they are for you.
1. Uốn nắn đời sống hằng ngày của các bạn trên cơ sở chân lý đã được truyền đạt, nếu quả thật đối với các bạn nó là chân lý. Có lẽ đối với các bạn nó chỉ đơn giản là điều thú vị, một ngành nghiên cứu bên lề hấp dẫn; có lẽ đó là điều làm các bạn thích thú khi tiếp nhận vì tính mới lạ của nó và vì nó hơi khác với dòng giáo huấn thông thường; có lẽ các bạn thích thú khi nhận được những huấn thị này sớm hơn phần còn lại của nhân loại một chút. Tất cả những phản ứng này đều ít quan trọng, [712] vì đó là những phản ứng của phàm ngã. Có lẽ đó là những phản ứng có khả năng xảy ra nhất đối với đa số. Nếu trong phản ứng của các bạn không có gì sâu xa hơn những điều tôi đã nêu, thì những giáo huấn này không dành cho các bạn, vì trách nhiệm đặt trên vai các bạn do đó là rất lớn; nhưng nếu các bạn đang cố gắng, dù chỉ theo cách nhỏ bé đến đâu, áp dụng chân lý như các bạn thấy nó vào đời sống riêng của mình, thì chúng là dành cho các bạn.
2. The building of that structure of thought which will embody this newer teaching. You can—if you so desire—help construct the thought form of the New Age teaching. You do this, above all, by your thought; by your practical application of any truth, which you may have understood, to your personal life at any cost; by your sacrifice and your service to your fellow men and by the constant dissemination of any knowledge which you may possess.
2. Xây dựng cấu trúc tư tưởng sẽ thể hiện giáo huấn mới hơn này. Các bạn có thể—nếu các bạn muốn—giúp kiến tạo Hình tư tưởng của giáo huấn Kỷ Nguyên Mới. Trên hết, các bạn làm điều này bằng tư tưởng của mình; bằng việc áp dụng thực tiễn bất kỳ chân lý nào mà các bạn có thể đã thấu hiểu vào đời sống cá nhân của mình bằng bất cứ giá nào; bằng sự hi sinh và sự phụng sự của các bạn đối với đồng loại; và bằng việc không ngừng phổ biến bất kỳ tri thức nào mà các bạn có thể sở hữu.
3. Distribution of the teaching over a long period of time. Have you done anything along this line, thus shouldering your responsibility?
3. Phân phối giáo huấn trong một thời gian dài. Các bạn đã làm gì theo đường hướng này chưa, và như thế gánh lấy trách nhiệm của mình chưa?
b. THE PRECIPITATION OF THE CRISIS—SỰ NGƯNG TỤ CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
The plans as established by the Hierarchy concern primarily two things: first, the plans for bringing about world stabilisation. This is essential if the human being is to find adequate time for the unfoldment of his consciousness, and for the recognition of his soul. In these two latter requirements all successful hierarchical work is covered, as far as humanity is concerned. Secondly, the programme for the immediate future, with its definite physical plane adjustments and its tentative suggestion for world cooperation. Why do we use the word “tentative”? We use it because (as has oft been stated) even the advanced members of the Hierarchy [713] do not know finally the manner in which humanity will react, or the quality or the capacity of its ultimate achievement.
Các kế hoạch như được Thánh đoàn thiết lập chủ yếu liên quan đến hai điều: thứ nhất, các kế hoạch nhằm đem lại sự ổn định thế giới. Điều này là thiết yếu nếu con người muốn tìm được thời gian thích đáng cho sự khai mở tâm thức của mình, và cho sự nhận biết linh hồn của mình. Trong hai đòi hỏi sau này, toàn bộ công việc thành công của Thánh đoàn, xét theo phương diện nhân loại, đều được bao hàm. Thứ hai, chương trình cho tương lai gần, với những điều chỉnh rõ rệt trên cõi hồng trần và gợi ý mang tính thăm dò của nó về sự hợp tác thế giới. Tại sao chúng ta dùng từ “mang tính thăm dò”? Chúng ta dùng nó vì (như đã thường được nói) ngay cả những thành viên tiến bộ của Thánh đoàn [713] cũng không biết rốt cuộc nhân loại sẽ đáp ứng theo cách nào, hay phẩm tính hoặc năng lực của thành tựu tối hậu của nó.
I have endeavoured above, carefully and simply, to express the immediate purpose of the hierarchical effort, as the Council met to prepare for the future. Is it possible for us to conceive the import of that phrase “for the future”? The past is gone, beyond recall; that fleeting moment which we call the present time is determined by that past of which it becomes a part in the flash of a second. It was the preparation for the future and the laying of those plans which will cover the coming destiny of humanity during the immediate decade which was of significant and engrossing importance to the assembled Masters, and also of basic interest to any student of the Ageless Wisdom and to the disciples of the Great Ones.
Ở trên, tôi đã cố gắng, một cách cẩn trọng và đơn giản, trình bày mục đích trước mắt của nỗ lực của Thánh đoàn, khi Hội Đồng họp để chuẩn bị cho tương lai. Chúng ta có thể nào quan niệm được ý nghĩa của cụm từ “cho tương lai” ấy không? Quá khứ đã qua, không thể gọi lại; khoảnh khắc thoáng qua mà chúng ta gọi là hiện tại được quyết định bởi quá khứ ấy, mà nó trở thành một phần của quá khứ đó trong chớp mắt một giây. Chính sự chuẩn bị cho tương lai và việc đặt ra những kế hoạch sẽ bao trùm vận mệnh sắp đến của nhân loại trong thập niên trước mắt là điều có tầm quan trọng sâu sắc và cuốn hút đối với các Chân sư tụ hội, và cũng là mối quan tâm căn bản đối với bất kỳ đạo sinh nào của Minh Triết Ngàn Đời và đối với các đệ tử của Các Đấng Cao Cả.
Only that is of importance to us which provides a needed momentum for action, and which will also give to the working disciple of the world a vision of sufficient clarity and an adequate incentive to enable him to work with sincerity and understanding. This is often forgotten. So much is said and written these days which purports to come from the Great Ones and which is stated to embody Their will and Their intention. It is based on astral sensitivity and astral reaction to the many thought forms found upon the astral plane; these include among their number many thought forms of the Great Ones. These thought forms necessarily exist, and are built by the devotion of the aspirants of the world, and by the selfish spiritual ambition of those aspirants. They are not constructed by the disciples of the world, for no man is admitted to the status of accepted discipleship until he has at least overcome the worst aspects of personal ambition. This freedom from ambition is proved or expressed by personal reticence and by freedom from the publicity-making activities of the aspirants of the world, and also by freedom from the [714] making of statements as to relationship or status. It might be well for us to ponder on these words.
Đối với chúng ta, chỉ điều gì cung cấp một động lực cần thiết cho hành động, và cũng đem lại cho đệ tử hoạt động của thế giới một tầm nhìn đủ rõ ràng cùng một động cơ thích đáng để giúp y làm việc với sự chân thành và thấu hiểu, mới là điều quan trọng. Điều này thường bị quên lãng. Ngày nay có quá nhiều điều được nói và viết mà được cho là đến từ Các Đấng Cao Cả và được tuyên bố là thể hiện ý chí và ý định của Các Ngài. Nó dựa trên tính nhạy cảm cảm dục và phản ứng cảm dục đối với nhiều Hình tư tưởng được tìm thấy trên cõi cảm dục; trong số đó có nhiều Hình tư tưởng của Các Đấng Cao Cả. Những Hình tư tưởng này tất yếu tồn tại, và được xây dựng bởi lòng sùng tín của những người chí nguyện trên thế giới, và bởi tham vọng tinh thần ích kỷ của những người chí nguyện ấy. Chúng không được kiến tạo bởi các đệ tử của thế giới, vì không ai được thừa nhận vào địa vị đệ tử được chấp nhận cho đến khi y ít nhất đã vượt qua những phương diện tệ hại nhất của tham vọng cá nhân. Sự giải thoát khỏi tham vọng này được chứng minh hay biểu lộ bằng sự kín đáo cá nhân và bằng sự tự do khỏi các hoạt động tạo tiếng tăm của những người chí nguyện trên thế giới, và cũng bằng sự tự do khỏi việc [714] đưa ra những tuyên bố về mối liên hệ hay địa vị. Có lẽ chúng ta nên suy ngẫm về những lời này.
The preliminary plans which the members of the hierarchical Council considered might be stated to be as follows, regarding those plans as spheres of cooperation for the Masters implicated and for those among men who are minded to serve in cooperative activity:
Những kế hoạch sơ bộ mà các thành viên của Hội Đồng Thánh đoàn đã xem xét có thể được nêu như sau, nếu coi những kế hoạch ấy là những phạm vi hợp tác dành cho các Chân sư liên hệ và cho những ai trong nhân loại có tâm phụng sự trong hoạt động hợp tác:
1. The reduction of the pressure upon humanity by the means of a steady stabilising of world thought. Today it is the fears of man—expressed in thought, and therefore frequently backed by action—which lead them into the impasse of war and into any form of destructive activity. The pressure is created by man’s desire for betterment as well as by the spiritual downpouring of the soul. It is this dual activity of the higher and of the lower which produces the crisis. When these two meet there is, of course, no conflict; but there is, however, a sense of strain, a pressure which seems past endurance, and an impasse from which there appears no exit. This may be a difficult truth to grasp, but the present world crisis is largely brought about by the bringing together of these two types of energy. It is with this problem that the Masters are today grappling. A human aspiration and a condition of struggle towards improvement brings about a period in which the spiritual urge on the part of masses of men shows itself in three ways:
1. Giảm bớt áp lực đè lên nhân loại bằng phương tiện ổn định đều đặn tư tưởng thế giới. Ngày nay chính những nỗi sợ của con người—được biểu lộ trong tư tưởng, và vì thế thường được hậu thuẫn bằng hành động—dẫn họ vào ngõ cụt của chiến tranh và vào bất kỳ hình thức hoạt động hủy diệt nào. Áp lực được tạo ra bởi khát vọng cải thiện của con người cũng như bởi sự tuôn đổ tinh thần của linh hồn. Chính hoạt động nhị nguyên này của cái cao và cái thấp tạo ra cuộc khủng hoảng. Khi hai điều này gặp nhau thì dĩ nhiên không có xung đột; tuy nhiên, lại có một cảm giác căng thẳng, một áp lực dường như vượt quá sức chịu đựng, và một ngõ cụt dường như không có lối ra. Đây có thể là một chân lý khó nắm bắt, nhưng cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay phần lớn được gây ra bởi sự đưa hai loại năng lượng này lại với nhau. Chính với vấn đề này mà các Chân sư ngày nay đang vật lộn. Một khát vọng nhân loại và một tình trạng đấu tranh hướng tới cải thiện đem lại một giai đoạn trong đó sự thúc đẩy tinh thần nơi quần chúng biểu lộ theo ba cách:
a. The urge to betterment already noted.
a. Sự thôi thúc hướng tới cải thiện đã được ghi nhận.
b. The organisation of the minds of men, so that new ideas can be gripped and understood.
b. Sự tổ chức trí tuệ của con người, để các ý tưởng mới có thể được nắm bắt và thấu hiểu.
c. The recognition by the spiritually minded that today is the day of opportunity.
c. Sự nhận biết của những người có tâm trí tinh thần rằng ngày nay là ngày cơ hội.
[715]
[715]
Will it be of any assistance and any incentive towards renewed effort if we observe the words “the day”, and not “a day?” This is a period of immense cyclic importance.
Liệu có giúp ích gì và có tạo động lực cho nỗ lực được đổi mới nếu chúng ta lưu ý đến các từ “ngày”, chứ không phải “một ngày” không? Đây là một giai đoạn có tầm quan trọng chu kỳ vô cùng lớn lao.
2. The renewed organisation of the New Group of World Servers. How far have we really yet grasped the task of this group, or the significance of its membership? It is a group of men and women who are upon the Path of Discipleship or upon the Path of Probation, and it is divided into two major divisions:
2. Tái tổ chức Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Chúng ta thực sự đã nắm được đến đâu nhiệm vụ của nhóm này, hay ý nghĩa của tư cách thành viên của nó? Đây là một nhóm những người nam và nữ đang ở trên Con Đường Đệ Tử hoặc trên Con Đường Dự Bị, và nó được chia thành hai phân bộ chính:
a. A group composed of disciples who are consciously working with the Plan and of those who, instructed by them, are consciously and voluntarily cooperating. In this latter category we can find ourselves if we so desire and if we are willing to make the necessary sacrifices.
a. Một nhóm gồm các đệ tử đang làm việc một cách hữu thức với Thiên Cơ và những người, được họ chỉ dạy, đang hợp tác một cách hữu thức và tự nguyện. Trong loại sau này, chúng ta có thể tìm thấy chính mình nếu muốn và nếu sẵn lòng thực hiện những hi sinh cần thiết.
b. A group composed of aspirants and world-conscious men and women, who are working unconsciously under the guidance of the planetary Hierarchy. There are many such, particularly in high places today, who are fulfilling the part of destroyers of the old form or of builders of the new. They are not conscious of any inner synthetic plan, but are selflessly occupied in meeting world need as best they can, with playing parts in the national dramas, or with persistently working in the field of education. The first group is in touch with the planetary Hierarchy and it works, if we might so express it, under hierarchical inspiration. The second is in closer touch with the masses of men and works more definitely under the inspiration of ideas.
b. Một nhóm gồm những người chí nguyện và những người nam và nữ có tâm thức thế giới, đang làm việc một cách vô thức dưới sự hướng dẫn của Thánh đoàn hành tinh. Có nhiều người như vậy, đặc biệt ở những địa vị cao ngày nay, đang hoàn thành vai trò của những kẻ phá hủy hình tướng cũ hoặc những người kiến tạo hình tướng mới. Họ không ý thức về bất kỳ kế hoạch tổng hợp nội tại nào, nhưng đang vô ngã bận rộn đáp ứng nhu cầu thế giới hết sức mình, đóng vai trong các vở kịch quốc gia, hoặc kiên trì làm việc trong lĩnh vực giáo dục. Nhóm thứ nhất tiếp xúc với Thánh đoàn hành tinh và làm việc, nếu có thể nói như vậy, dưới cảm hứng của Thánh đoàn. Nhóm thứ hai tiếp xúc gần gũi hơn với quần chúng và làm việc rõ rệt hơn dưới cảm hứng của các ý tưởng.
The first group is occupied with the Plan as its [716] members can vision and grasp its essentiality, whilst the second works more definitely with the ideas which are today slowly emerging in the consciousness of the more sensitive members of the human family. These ideas are gradually instilled into humanity by the Hierarchy and by the senior workers in the first group. This first group is relatively small, and when first the information was communicated about the New Group of World Servers, (which was later embodied in the pamphlet, “The Next Three Years”), the number of conscious disciples was given as being under two hundred. Since then this number has materially increased owing to two causes: First: certain men and women are arriving at maturity. This has developed in them a recognition of their hierarchical status as disciples. Secondly: the unfolding of other human beings and their spiritual development as a result of the stimulation and the relatively successful work of the previous three years. The number of conscious disciples in the world today (1939), is nearly one thousand. We are here considering those disciples who are definitely working in the groups of those Masters Who are pledged to the present experiment.
Nhóm thứ nhất bận tâm với Thiên Cơ theo mức độ mà các [716] thành viên của nó có thể có linh thị và nắm bắt bản chất cốt yếu của nó, trong khi nhóm thứ hai làm việc rõ rệt hơn với các ý tưởng đang từ từ xuất hiện ngày nay trong tâm thức của những thành viên nhạy bén hơn của gia đình nhân loại. Những ý tưởng này dần dần được Thánh đoàn và các người hoạt động cao cấp trong nhóm thứ nhất truyền vào nhân loại. Nhóm thứ nhất này tương đối nhỏ, và khi thông tin về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian lần đầu được truyền đạt, (sau đó được đưa vào tập sách nhỏ, “Ba Năm Kế Tiếp”), số đệ tử hữu thức được cho là dưới hai trăm. Kể từ đó con số này đã tăng lên đáng kể do hai nguyên nhân: Thứ nhất: một số người nam và nữ đang đạt đến độ chín muồi. Điều này đã phát triển nơi họ một sự nhận biết về địa vị đệ tử của họ trong Thánh đoàn. Thứ hai: sự khai mở của những con người khác và sự phát triển tinh thần của họ do kết quả của sự kích thích và công việc tương đối thành công của ba năm trước. Số đệ tử hữu thức trên thế giới ngày nay (1939) gần một ngàn. Ở đây chúng ta đang xét đến những đệ tử đang làm việc rõ rệt trong các nhóm của những Chân sư đã cam kết với cuộc thử nghiệm hiện nay.
It should perhaps be pointed out here that the entire planetary Hierarchy, though cognisant of the present endeavour and therefore participating in the plans of the Council, are not all occupied with the problem of humanity in this present moment of crisis. There are many other lines of activity and of evolutionary expediency and undertaking which must parallel the present endeavour. Work in relation to other kingdoms in nature (both subhuman and superhuman), and work in preparation for the period [717] which must succeed this present time of crisis must be continued as usual. In the higher levels of the New Group of World Servers, the many divisions of hierarchical effort are represented, but there are, nevertheless, a large number of disciples in the world today who are in no way associated with the present plans. This is a point to be remembered.
Có lẽ nên chỉ ra ở đây rằng toàn thể Thánh đoàn hành tinh, tuy nhận biết nỗ lực hiện nay và vì thế tham dự vào các kế hoạch của Hội Đồng, nhưng không phải tất cả đều bận tâm với vấn đề của nhân loại trong thời điểm khủng hoảng hiện nay. Có nhiều đường hoạt động và những công việc thích đáng cho tiến hoá khác phải song hành với nỗ lực hiện nay. Công việc liên quan đến các giới khác trong thiên nhiên (cả dưới nhân loại lẫn trên nhân loại), và công việc chuẩn bị cho giai đoạn [717] phải tiếp nối thời kỳ khủng hoảng hiện nay này, phải được tiếp tục như thường lệ. Trong các cấp cao hơn của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, nhiều phân bộ của nỗ lực Thánh đoàn đều được đại diện, nhưng tuy vậy, hiện nay vẫn có một số lượng lớn đệ tử trên thế giới không hề liên kết với các kế hoạch hiện nay. Đây là một điểm cần ghi nhớ.
3. The awakening of the intelligentsia in all countries to the recognition of humanity as a prelude to the establishment of brotherhood. The unity of the human family is recognised by many, but before that unity can take form in constructive measures, it is essential that more and more of the thinking men and women throughout the world should break down the mental barriers existing between races, nations and types, and that the New Group of World Servers should itself repeat in the outer world that type of activity which the Hierarchy expressed when it developed and materialised the Group. Through the expression and impression of certain great ideas, men everywhere must be brought to the understanding of the fundamental ideals which will govern the New Age. This is the major task of the New Group of World Servers.
3. Đánh thức giới trí thức ở mọi quốc gia để nhận biết nhân loại như một bước mở đầu cho việc thiết lập tình huynh đệ. Sự hợp nhất của gia đình nhân loại được nhiều người công nhận, nhưng trước khi sự hợp nhất đó có thể thành hình trong các biện pháp xây dựng, điều thiết yếu là ngày càng nhiều những người nam và nữ biết suy nghĩ trên khắp thế giới phải phá bỏ các rào cản trí tuệ đang tồn tại giữa các giống dân, các quốc gia và các loại người, và bản thân Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải lặp lại trong thế giới bên ngoài loại hoạt động mà Thánh đoàn đã biểu lộ khi phát triển và hiện hình Nhóm này. Qua sự biểu lộ và sự gây ấn tượng của một số ý tưởng lớn, con người ở khắp nơi phải được đưa đến chỗ thấu hiểu những lý tưởng căn bản sẽ chi phối Kỷ Nguyên Mới. Đây là nhiệm vụ chính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
One of the objectives considered by the Council in May, 1937, was the method of deepening the hold these new ideas must have on members of the New Group of World Servers. Thus the stimulation of the spiritual life of the group members, and consequently their sensitivity to the Plan will be carried forward. They will then be not only consciously in touch with the plans, but they will be occultly imbued by them, and in this way the radiating influence of the Group will be greatly enhanced. This will bring about an outer expression of real [718] group importance and of such vital necessity that, during the next few years, the new ideas must become the ideals of the thinking level of the race. If this does not take place, the immediate salvaging of humanity will have to be postponed and a further period of distress and of widespread disciplining must then inevitably result. It is this urgency that is discussed in these pages, and it is this immediate need, and this momentous crisis with which the Hierarchy had to deal in its May Council of 1937.
Một trong những mục tiêu được Hội Đồng xem xét vào tháng Năm năm 1937 là phương pháp làm sâu sắc thêm sự nắm giữ mà những ý tưởng mới này phải có trên các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhờ đó, sự kích thích đời sống tinh thần của các thành viên trong nhóm, và do đó tính nhạy cảm của họ đối với Thiên Cơ, sẽ được xúc tiến. Khi ấy họ sẽ không chỉ tiếp xúc hữu thức với các kế hoạch, mà còn được chúng thấm nhuần một cách huyền bí, và theo cách này ảnh hưởng bức xạ của Nhóm sẽ được tăng cường rất nhiều. Điều này sẽ đem lại một biểu hiện bên ngoài của tầm quan trọng nhóm thực sự [718] và của một nhu cầu sống còn đến mức, trong vài năm tới, những ý tưởng mới phải trở thành những lý tưởng của cấp độ tư duy của nhân loại. Nếu điều này không xảy ra, việc cứu vãn tức thời nhân loại sẽ phải bị trì hoãn và khi đó tất yếu sẽ dẫn đến một giai đoạn đau khổ hơn nữa và sự rèn luyện rộng khắp hơn nữa. Chính tính cấp bách này được bàn đến trong những trang này, và chính nhu cầu trước mắt này cùng cuộc khủng hoảng trọng đại này mà Thánh đoàn đã phải xử lý trong Hội Đồng tháng Năm năm 1937 của mình.
4. The final aspect of the situation with which the Masters concerned dealt, is in fact, the precipitation of an imminent crisis. This precipitation is inevitable and its effects must be foreseen and dealt with in such a manner that its catastrophic results will be offset, and its subjective significances utilised to the full.
4. Phương diện cuối cùng của tình hình mà các Chân sư liên hệ đã xử lý, thực ra là sự ngưng tụ của một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra. Sự ngưng tụ này là điều không thể tránh khỏi và các hiệu quả của nó phải được thấy trước và được xử lý theo cách sao cho các kết quả thảm khốc của nó sẽ được hóa giải, và các thâm nghĩa chủ quan của nó được sử dụng đến mức tối đa.
Having stated the four major points of consideration (which came before the Council in May, 1937, and which are all related to the impending world crisis), it is needful that we should point out two things:—
Sau khi đã nêu bốn điểm xem xét chính (đã được đưa ra trước Hội Đồng vào tháng Năm năm 1937, và tất cả đều liên hệ đến cuộc khủng hoảng thế giới đang đến gần), cần phải chỉ ra hai điều:—
1. That this crisis is imminent and of epoch-making effects for two reasons.
1. Cuộc khủng hoảng này đang cận kề và có những hiệu quả mang tính thời đại vì hai lý do.
a. The work carried forward during the previous five years along spiritual lines had been definitely successful. This has caused a vital spiritual awakening in every land, and was the result of the activity and work of the first division of the New Group of World Servers.
a. Công việc được tiến hành trong năm năm trước đó theo các đường hướng tinh thần đã thành công rõ rệt. Điều này đã gây ra một sự thức tỉnh tinh thần sống động ở mọi xứ sở, và là kết quả của hoạt động và công việc của phân bộ thứ nhất của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
b. The strenuous efforts of the second division in the New Group of World Servers have also been successful. These people are far more the instruments of divine activity rather than conscious cooperators with the Plan.
b. Những nỗ lực mạnh mẽ của phân bộ thứ hai trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cũng đã thành công. Những người này là công cụ của hoạt động thiêng liêng nhiều hơn là những người hợp tác hữu thức với Thiên Cơ.
[719]
[719]
2. That the Masters are not primarily concerned with the prevention of disaster to the form aspect of humanity, desirable as human beings might consider that objective. The salvaging of the form is but incidental to the Plan. The work of the Hierarchy is concerned with the expansion and awakening of the human consciousness, and that, in its turn, has an effect upon the form. It is possible (and so the Masters regard it) to lay such an emotional strain and mental stress upon the mechanism of human expression on the physical plane that the lessons cannot be adequately learned because the immediate physical stress is too great to permit the recognition and the assimilation of the significance of the event. Therefore the Masters, when meeting at the Council of May, 1937, had to consider the offsetting of the strain. Humanity can get too tired to react, and this fact constituted a definite problem with which the Hierarchy had to deal.
2. Các Chân sư không chủ yếu quan tâm đến việc ngăn ngừa tai họa cho phương diện hình tướng của nhân loại, dù con người có thể xem mục tiêu đó là đáng mong muốn đến đâu. Việc cứu vãn hình tướng chỉ là điều phụ thuộc đối với Thiên Cơ. Công việc của Thánh đoàn liên quan đến sự mở rộng và thức tỉnh tâm thức nhân loại, và điều đó đến lượt nó có ảnh hưởng lên hình tướng. Có thể (và các Chân sư nhìn nhận như vậy) đặt một sự căng thẳng cảm xúc và áp lực trí tuệ lên bộ máy biểu lộ của con người trên cõi hồng trần đến mức các bài học không thể được học một cách thích đáng vì áp lực thể xác trước mắt quá lớn, không cho phép nhận biết và đồng hoá thâm nghĩa của biến cố. Vì vậy, khi họp tại Hội Đồng tháng Năm năm 1937, các Chân sư đã phải xem xét việc hóa giải sự căng thẳng đó. Nhân loại có thể trở nên quá mệt mỏi đến mức không còn đáp ứng, và sự kiện này tạo thành một vấn đề rõ rệt mà Thánh đoàn phải xử lý.
It will be apparent, therefore, if we have read the above intelligently and have endeavoured to synthesise it with the state of world affairs as far as we know it, that the problems before the assembled Council were three in number. More than these three, humanity cannot grasp nor do the facts concern them. There were necessarily many other problems, but they are of such a nature that we could not comprehend them, and it would not be possible to express these problems in words which would convey intelligible meaning to us. The three problems which came under consideration were:
Do đó, nếu chúng ta đã đọc điều trên một cách thông minh và đã cố gắng tổng hợp nó với tình trạng công việc thế giới theo mức độ chúng ta biết, thì sẽ rõ rằng các vấn đề trước Hội Đồng tụ hội có ba điều. Nhân loại không thể nắm bắt nhiều hơn ba điều này, và các sự kiện khác cũng không liên quan đến họ. Tất nhiên còn có nhiều vấn đề khác, nhưng chúng có bản chất đến mức chúng ta không thể hiểu được, và cũng không thể diễn đạt những vấn đề ấy bằng những từ ngữ có thể chuyển tải ý nghĩa dễ hiểu cho chúng ta. Ba vấn đề được đem ra xem xét là:
1. The right resolution of the present crisis, so that equilibrium could be restored.
1. Sự giải quyết đúng đắn cuộc khủng hoảng hiện nay, để sự quân bình có thể được phục hồi.
2. The stimulation of the New Group of World Servers so that they could—
2. Kích thích Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian để họ có thể—
a. Recognise the emergency,
a. Nhận biết tình trạng khẩn cấp,
[720]
[720]
b. Define the plan more clearly,
b. Xác định kế hoạch rõ ràng hơn,
c. Become more sensitive to inner, subjective, spiritual impression,
c. Trở nên nhạy bén hơn đối với sự gây ấn tượng bên trong, chủ quan, tinh thần,
d. Make the necessary sacrifices demanded for the success of the plan,
d. Thực hiện những hi sinh cần thiết mà sự thành công của kế hoạch đòi hỏi,
e. Radiate more effectively out into the world of humanity.
e. Bức xạ hữu hiệu hơn vào thế giới nhân loại.
3. How to keep the forces which had been set in motion since 1914 within certain definite limits.
3. Làm thế nào để giữ những mãnh lực đã được khởi động từ năm 1914 trong những giới hạn rõ rệt nhất định.
These forces are many in number and it is possible to indicate the nature of some of them. This is done, however, more for the sake of future understanding and future rational comprehension than because we can specifically do anything in particular in relation to them. Let me simply list them, and if we read with the eye of the inner vision open, and with our intuition alert and awake, perhaps some apprehension of the problems before the Council may dawn upon our minds. It is not possible to enlarge upon these forces, nor may we interpret them. We can simply state what are facts to the Hierarchy but which may only be an interesting supposition, hypothesis or chimera to us:
Những mãnh lực này rất nhiều, và có thể chỉ ra bản chất của một số trong chúng. Tuy nhiên, điều này được làm nhiều hơn vì lợi ích của sự thấu hiểu trong tương lai và sự lĩnh hội hợp lý trong tương lai hơn là vì hiện nay chúng ta có thể đặc biệt làm được điều gì liên quan đến chúng. Hãy để tôi chỉ đơn giản liệt kê chúng, và nếu chúng ta đọc với con mắt linh thị mở ra, và với trực giác tỉnh táo và thức dậy, có lẽ một phần nào đó sự lĩnh hội về những vấn đề trước Hội Đồng có thể lóe lên trong trí tuệ chúng ta. Không thể bàn rộng về những mãnh lực này, cũng không được phép diễn giải chúng. Chúng ta chỉ có thể nêu ra những gì là sự kiện đối với Thánh đoàn nhưng đối với chúng ta có thể chỉ là một giả định, giả thuyết hay ảo tưởng thú vị:
1. The cumulative forces of the great Piscean Age—powerful, fundamental and, at this time, destructive. To these forces the unenlightened masses react; for them they are the line of least resistance. When we say masses, we refer to all who do not truly think, but who believe and who accept on the lower or ordinary levels of consciousness.
1. Những mãnh lực tích lũy của Kỷ Nguyên Song Ngư vĩ đại—mạnh mẽ, căn bản và, vào lúc này, có tính hủy diệt. Quần chúng chưa giác ngộ đáp ứng với những mãnh lực này; đối với họ, đó là con đường ít trở ngại nhất. Khi chúng tôi nói quần chúng, chúng tôi muốn nói đến tất cả những ai không thực sự suy nghĩ, mà chỉ tin và chấp nhận ở những cấp độ thấp hơn hay thông thường của tâm thức.