SECTION 2 - CHAPTER III... The Rays and Man—Các Cung và Con người
Introductory Remarks—Lời Nói Đầu
[311]
[311]
I HAVE now dealt with one of the basic problems confronting the race at this time. I interpolated my comments on the subject of sex at that particular point because it made a fitting conclusion to our study of the rays in connection with the animal kingdom.
Giờ đây tôi đã giải quyết xong một trong những vấn đề cơ bản đang đối mặt với nhân loại vào lúc này. Tôi đã thêm các bình luận của mình về chủ đề tính dục tại điểm cụ thể đó vì nó tạo nên một kết luận phù hợp cho nghiên cứu của chúng ta về các cung liên quan đến giới động vật.
Man is a living entity, a conscious son of God (a soul) occupying an animal body. Here lies the point. He is therefore in the nature of a link, and a far from missing link. He unifies in himself the results of the evolutionary process as it has been carried on during the past ages, and he brings into contact with that evolutionary result a new factor, that of an individual self-sustaining, self-knowing aspect. It is the presence of this factor and of this aspect which differentiates man from the animal. It is this aspect which produces in humanity a consciousness of immortality, a self-awareness and a self-centredness which make man truly to appear in the image of God. It is this innate and hidden power which gives man the capacity to suffer which no animal possesses, but which also confers on him the ability to reap the benefits of this experience in the realm of the intellect. This same capacity, in embryo, works out in the animal kingdom in the realm of the instincts. It is this peculiar property of humanity [312] which confers upon it the power to sense ideals, to register beauty, to react sensuously to music, and to enjoy colour and harmony. It is this divine something which makes of mankind the prodigal son, torn between desire for the worldly life, for possessions and experience, and the attractive power of that centre, or home, from which he has come.
Con người là một thực thể sống, một người con có ý thức của Thượng đế (một linh hồn) chiếm giữ một cơ thể động vật. Điểm mấu chốt nằm ở đây. Do đó, y có bản chất của một mắt xích, và hoàn toàn không phải một mắt xích bị thiếu. Y thống nhất trong chính mình các kết quả của quá trình tiến hóa như nó đã được thực hiện trong các thời đại quá khứ, và y mang vào kết quả tiến hóa đó một yếu tố mới, yếu tố của một phương diện cá nhân tự duy trì, tự biết. Chính sự hiện diện của yếu tố này và của phương diện này phân biệt con người với con vật. Chính phương diện này tạo ra trong nhân loại một ý thức về sự bất tử, một sự tự nhận thức và một sự tập trung vào bản thân khiến con người thực sự xuất hiện trong hình ảnh của Thượng đế. Chính quyền năng bẩm sinh và ẩn giấu này mang lại cho con người khả năng đau khổ mà không con vật nào sở hữu, nhưng cũng trao cho y khả năng gặt hái những lợi ích của trải nghiệm này trong lĩnh vực của trí năng. Cùng khả năng này, ở dạng phôi thai, hoạt động trong giới động vật trong lĩnh vực của các bản năng. Chính đặc tính kỳ lạ này của nhân loại [312] trao cho nó quyền năng cảm nhận các lý tưởng, ghi nhận vẻ đẹp, phản ứng bằng giác quan với âm nhạc, và thưởng thức màu sắc và sự hài hòa. Chính cái gì đó thiêng liêng này biến con người thành đứa con hoang đàng, bị giằng xé giữa ham muốn đời sống thế tục, tài sản và trải nghiệm, và sức mạnh hấp dẫn của trung tâm đó, hay ngôi nhà đó, từ nơi y đã đến.
Man stands midway between heaven and earth, with his feet deep in the mud of material life and his head in heaven. In the majority of cases his eyes are closed, and he sees not the beauty of the heavenly vision, or they are open but fixed upon the mud and slime with which his feet are covered. But when his open eyes are lifted for a brief moment, and see the world of reality and of spiritual values, then the torn and distracted life of the aspirant begins.
Con người đứng giữa trời và đất, với đôi chân ngập sâu trong bùn của đời sống vật chất và đầu ở trên trời. Trong đa số các trường hợp, mắt y nhắm lại, và y không nhìn thấy vẻ đẹp của linh ảnh thiên thượng, hoặc chúng mở ra nhưng dán chặt vào bùn và nhớt mà chân y bị bao phủ. Nhưng khi đôi mắt mở của y ngước lên trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, và nhìn thấy thế giới của thực tại và của các giá trị tinh thần, thì cuộc đời bị giằng xé và sự phân tâm của người chí nguyện bắt đầu.
Humanity is the custodian of the hidden mystery, and the difficulty consists in the fact that that which man conceals from the world is also hidden from himself. He knows not the wonder of that which he preserves and nourishes. Humanity is the treasure-house of God (this is the great Masonic secret), for only in the human kingdom, as esotericists have long pointed out, are the three divine qualities found in their full flower and together. In man, God the Father has hidden the secret of life; in man, God the Son has secreted the treasures of wisdom and of love; in man, God the Holy Spirit has implanted the mystery of manifestation. Humanity, and humanity alone, can reveal the nature of the Godhead and of eternal life. To man is given the privilege of revealing the nature of the divine consciousness, and of portraying before the eyes of the assembled sons of God (at the final conclave before the dissolution) what has lain hidden in the Mind of God. Hence the injunction before us today (in the words of the great Christian teacher) to possess in ourselves “the mind of Christ.” This mind must dwell in us and reveal itself [313] in the human race in ever greater fullness. To man is given the task of raising matter up into heaven, and of glorifying rightly the form side of life through his conscious manifestation of divine powers.
Nhân loại là người gìn giữ bí nhiệm ẩn giấu, và khó khăn nằm ở chỗ cái mà con người che giấu khỏi thế giới cũng bị ẩn giấu khỏi chính y. Y không biết sự kỳ diệu của cái mà y gìn giữ và nuôi dưỡng. Nhân loại là kho báu của Thượng đế (đây là bí mật lớn của Hội Tam Điểm), vì chỉ trong giới nhân loại, như các nhà huyền bí học đã chỉ ra từ lâu, ba phẩm tính thiêng liêng mới được tìm thấy trong sự nở rộ đầy đủ của chúng và cùng nhau. Trong con người, Thượng đế Cha đã giấu bí mật của sự sống; trong con người, Thượng đế Con đã cất giấu các kho báu của minh triết và của tình thương; trong con người, Thượng đế Chúa Thánh Thần đã gieo trồng bí nhiệm của sự biểu hiện. Nhân loại, và chỉ nhân loại, mới có thể tiết lộ bản chất của Thiên Tính và của sự sống vĩnh cửu. Con người được trao đặc quyền tiết lộ bản chất của tâm thức thiêng liêng, và khắc họa trước mắt các con của Thượng đế đang tập hợp (tại đại mật nghị cuối cùng trước khi giải thể) những gì đã nằm ẩn giấu trong Trí của Thượng đế. Do đó, lệnh truyền trước mắt chúng ta ngày nay (trong lời của Huấn Sư Kitô giáo vĩ đại) là sở hữu trong chính chúng ta "trí của Đấng Christ." Trí này phải cư ngụ trong chúng ta và tự tiết lộ [313] trong con người ngày càng trọn vẹn hơn. Con người được trao nhiệm vụ nâng vật chất lên trời, và tôn vinh đúng đắn phương diện hình tướng của sự sống thông qua sự biểu hiện có ý thức của y về các quyền năng thiêng liêng.
To portray adequately the wonder and the destiny of the human kingdom lies beyond my powers or the power of any human pen, no matter how great a man’s realisation may be, or his response to the beauty of God’s world. Divinity must be lived, expressed and manifested, to be understood. God must be loved, known and revealed within the human heart and brain, in order to be intellectually grasped.
Việc khắc họa đầy đủ sự kỳ diệu và định mệnh của giới nhân loại nằm ngoài khả năng của tôi hoặc khả năng của bất kỳ ngòi bút con người nào, bất kể sự chứng nghiệm của một người có thể lớn đến đâu, hoặc sự đáp ứng của y đối với vẻ đẹp của thế giới của Thượng đế. Thiên tính phải được sống, được thể hiện và được biểu lộ, để được thấu hiểu. Thượng đế phải được yêu mến, được biết và được tiết lộ bên trong trái tim và bộ não con người, để được nắm bắt về mặt trí tuệ.
The hierarchy of mystics, knowers and lovers of God, are manifesting this revealed truth in the world of the mental plane and of the emotional plane today. But the hour has now come when the manifestation of this reality can, for the first time and in truth, manifest itself on the physical plane in an organised group form, instead of through the instrumentality of the few inspired sons of God who have, in past ages, incarnated as the guarantee of the future possibilities. The Hierarchy of Angels and of Saints, of Masters, Rishis and Initiates, can now begin to organise itself in material form on earth, because today the group idea is rapidly gaining ground, and the nature of humanity is being better understood. The Church of Christ, hitherto invisible and militant, can now be seen slowly materialising and becoming the Church visible and triumphant.
Huyền Giai các nhà thần bí, những thức giả và những người yêu mến Thượng đế, đang biểu hiện chân lý được tiết lộ này trong thế giới của cõi trí và cõi cảm dục ngày nay. Nhưng giờ đây đã đến lúc sự biểu hiện của thực tại này có thể, lần đầu tiên và trong sự thật, tự biểu hiện trên cõi hồng trần trong một hình thức nhóm có tổ chức, thay vì thông qua phương tiện của một vài người con được truyền cảm hứng của Thượng đế, những người đã, trong các thời đại quá khứ, lâm phàm như sự bảo đảm cho các khả năng tương lai. Thánh đoàn của các Thiên Thần và các Vị Thánh, của các Chân sư, các Rishi và các Điểm đạo đồ, giờ đây có thể bắt đầu tự tổ chức trong hình tướng vật chất trên trái đất, bởi vì ngày nay ý tưởng nhóm đang nhanh chóng giành được chỗ đứng, và bản chất của nhân loại đang được hiểu rõ hơn. Giáo hội của Đấng Christ, cho đến nay là vô hình và chiến đấu, giờ đây có thể được nhìn thấy đang từ từ hiện hình và trở thành Giáo hội hữu hình và khải hoàn.
This is the coming glory of the Aquarian Age; this is the next revelation of the evolutionary cycle, and such is the task of the immediate future. The true drama of this triple relationship (of which physical sex, as we have seen, is but the symbol) will be enacted on a large scale in the life of the modern aspirant during the next fifty years. We shall see what is called symbolically “the birth of the Christ,” or the [314] second birth, taking place in many lives, producing on earth a large group of the spiritually new-born. They will be those who have brought together, consciously and within themselves, the two aspects of soul and body, and thus have consummated the “mystical marriage”. The aggregate of these individual happenings will produce a group activity of an analogous kind, and we shall see the emergence on the physical plane of “the body of the Christ,” and the appearance of the manifested Hierarchy. This is what is happening today, and all that we see going on around us in the world is but the pangs and the travail which precede this glorious birthing.
Đây là vinh quang sắp tới của Kỷ nguyên Bảo Bình; đây là sự mặc khải tiếp theo của chu kỳ tiến hóa, và đó là nhiệm vụ của tương lai trước mắt. Kịch bản thực sự của mối quan hệ tam phân này (mà tính dục cõi hồng trần, như chúng ta đã thấy, chỉ là biểu tượng) sẽ được diễn ra trên quy mô lớn trong cuộc đời của người chí nguyện hiện đại trong năm mươi năm tới. Chúng ta sẽ thấy cái được gọi một cách tượng trưng là "sự ra đời của Đấng Christ," hay [314] lần sinh thứ hai, diễn ra trong nhiều cuộc đời, tạo ra trên trái đất một nhóm lớn những người mới sinh về mặt tinh thần. Họ sẽ là những người đã mang lại với nhau, một cách có ý thức và bên trong chính họ, hai phương diện của linh hồn và thể xác, và do đó đã hoàn tất "cuộc hôn nhân huyền bí". Tổng hợp của những sự kiện cá nhân này sẽ tạo ra một hoạt động nhóm thuộc loại tương tự, và chúng ta sẽ thấy sự xuất hiện trên cõi hồng trần "cơ thể của Đấng Christ," và sự xuất hiện của Thánh đoàn đã biểu lộ. Đây là những gì đang xảy ra ngày nay, và tất cả những gì chúng ta thấy đang diễn ra xung quanh chúng ta trên thế giới chỉ là những cơn đau và sự chuyển dạ đi trước sự sinh nở vinh quang này.
We are now in the process of this consummation. Hence the difficulty and agony evidenced in the life of every true disciple who—embodying in himself symbolically the two aspects of father-mother, spirit-matter, and having nurtured the Christ child through a period of gestation—is now giving birth to the Christ, within the animal stable and in the manger of the world. In the sum total of the general accomplishment will the entire group achieve and the Christ again appear on earth, incarnated this time in the many and not in the one personality. Yet each member of the group is a Christ in manifestation, and all together present the Christ to the world, and constitute a channel for the Christ force and life.
Chúng ta hiện đang trong quá trình hoàn tất này. Do đó sự khó khăn và nỗi thống khổ được chứng kiến trong cuộc đời của mọi đệ tử chân chính, người—hiện thân trong chính mình một cách tượng trưng hai phương diện cha-mẹ, tinh thần-vật chất, và đã nuôi dưỡng hài nhi Christ qua một giai đoạn thai nghén—giờ đây đang sinh ra Đấng Christ, bên trong chuồng gia súc và trong máng cỏ của thế giới. Trong tổng thể của thành tựu chung, toàn bộ nhóm sẽ đạt được và Đấng Christ lại xuất hiện trên trái đất, lần này lâm phàm trong nhiều người chứ không phải trong một phàm ngã. Tuy nhiên, mỗi thành viên của nhóm là một Christ trong biểu hiện, và tất cả cùng nhau trình diện Đấng Christ cho thế giới, và tạo thành một kênh dẫn cho mãnh lực và sự sống của Đấng Christ.
It is indeed and in truth from glory to glory that we go. The past glory of individualisation must fade away in that of initiation. The glory of the slowly emerging self-consciousness must be lost to sight in the wonder of the group consciousness of the race, and this the foremost thinkers and workers today most ardently desire. The glory that can be seen faintly shining in humanity, and the dim light which flickers within the human form, must give place to the radiance which is the glory of the developed son of God. Only [315] a little effort is needed, and the demonstration of a steady staying power, to enable those who are now on the physical plane of experience to evidence the radiant light, and to establish upon the earth a great station of light which will illumine the whole of human thought. Always there have been isolated light bearers, down the ages. Now the group light bearer will shortly be seen. Then shall we see the rest of the human family (who respond not yet to the Christ impulse) having their progress facilitated towards the path of probation. The work will still be slow, and much yet remains to be done; but if all the aspirants of the world and all the disciples at work in the world today will submerge their personal interests in the task immediately ahead, we shall have what I might pictorially call the opening of a great station of light on earth, and the founding of a power house which will greatly hasten the evolution and elevation of humanity, and the unfoldment of the human consciousness.
Quả thực và trong sự thật, chúng ta đi từ vinh quang này đến vinh quang khác. Vinh quang quá khứ của sự biệt ngã hóa phải phai nhạt đi trong vinh quang của sự điểm đạo. Vinh quang của sự tự ý thức đang từ từ xuất hiện phải bị mất hút trong sự kỳ diệu của tâm thức nhóm của nhân loại, và điều này là điều mà những nhà tư tưởng và người hoạt động hàng đầu ngày nay khao khát nhất. Vinh quang có thể được nhìn thấy tỏa sáng mờ nhạt trong nhân loại, và ánh sáng lờ mờ nhấp nháy bên trong hình tướng con người, phải nhường chỗ cho sự rạng rỡ vốn là vinh quang của người con đã phát triển của Thượng đế. Chỉ [315] cần một chút nỗ lực và sự thể hiện của một sức chịu đựng bền bỉ, để người hiện đang ở trên cõi hồng trần của trải nghiệm chứng tỏ ánh sáng rạng rỡ, và thiết lập trên trái đất một trạm ánh sáng lớn vốn sẽ soi sáng toàn bộ tư tưởng con người. Trong suốt các thời đại, luôn luôn có những người mang ánh sáng đơn lẻ. Bây giờ người mang ánh sáng nhóm sẽ sớm được nhìn thấy. Khi đó chúng ta sẽ thấy phần còn lại của gia đình nhân loại (những người chưa đáp ứng với xung lực Christ) được tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiến bộ của họ hướng tới con đường dự bị. Công việc vẫn sẽ chậm, và nhiều việc vẫn còn phải làm; nhưng nếu tất cả những người chí nguyện của thế giới và tất cả các đệ tử đang làm việc trên thế giới ngày nay nhấn chìm lợi ích cá nhân của họ trong nhiệm vụ ngay phía trước, chúng ta sẽ có cái mà tôi có thể gọi một cách hình ảnh là việc mở một trạm ánh sáng lớn trên trái đất, và việc thành lập một trạm năng lượng vốn sẽ đẩy nhanh đáng kể sự tiến hóa và nâng cao nhân loại, và sự khai mở của tâm thức con người.
There has been for long in esoteric circles much idle and oft foolish talk anent the ray upon which a man may be found. People are as ignorantly excited over being told which is their ray as they are over the portrayal of their past incarnations. The “new teaching on the rays” vies with astrology in its interest. Like the Athenians, men are always searching for the novel and the unusual, forgetting that every new truth and every new presentation of an old truth carries with it the onus of increased responsibility.
Từ lâu trong các giới huyền bí đã có nhiều cuộc nói chuyện phiếm và thường là ngây ngô về cung mà một người có thể được tìm thấy trên đó. Mọi người hào hứng một cách thiếu hiểu biết về việc được bảo cho biết cung của họ là gì, cũng giống như họ hào hứng về việc mô tả các kiếp sống trước đây của họ. "Giáo lý mới về các cung" cạnh tranh với chiêm tinh học về sự thú vị của nó. Giống như người Athens, con người luôn tìm kiếm cái mới lạ và bất thường, quên rằng mọi chân lý mới và mọi sự trình bày mới về một chân lý cũ đều mang theo nó gánh nặng của trách nhiệm gia tăng.
However, it is interesting to trace parallels, and it is becoming obvious to the careful student that the emergence of the teaching on the rays has happened at a time when the scientist is announcing the fact that there is naught to be seen and known save energy, and that all forms are composed of energy units and are in themselves expressions of force. [316] A ray is but a name for a particular force or type of energy, with the emphasis upon the quality which that force exhibits and not upon the form aspect which it creates. This is a true definition of a ray.
Tuy nhiên, việc lần theo các điểm tương đồng là điều thú vị, và đối với người đạo sinh cẩn trọng, ngày càng hiển nhiên rằng sự xuất hiện của giáo huấn về các cung đã diễn ra vào đúng thời điểm khi giới khoa học đang công bố sự thật rằng không có gì để thấy và để biết ngoài năng lượng, và rằng mọi hình tướng đều được cấu thành từ các đơn vị năng lượng, và bản thân chúng là những biểu hiện của mãnh lực. [316] Một cung chỉ đơn thuần là tên gọi của một mãnh lực hay một loại năng lượng nhất định, trong đó sự nhấn mạnh được đặt vào phẩm tính mà mãnh lực ấy biểu lộ, chứ không phải vào khía cạnh hình tướng mà nó tạo ra. Đây là một định nghĩa đúng đắn về một cung.
THE RAYS AND THE RACES—CÁC CUNG VÀ CÁC GIỐNG DÂN
We have been told in the past teaching of the Ageless Wisdom that a human being is a triple aspect of energy, and that he is essentially a trinity, as is the Deity. We speak of him technically as Monad-ego-personality. We define him as spirit-soul-body. I should like to point out here that in studying the human family as a unit and as a whole, it also will be discovered to be essentially a Monad, with seven egoic groups, within which all souls (in incarnation and out of incarnation) find their place, and with forty-nine corresponding racial forms through which the seven groups of souls cyclically express themselves. All souls work out their destiny in all races, but certain types predominate in certain racial forms. Where, then, is to be found any reason for racial predilections or antipathies? In the realisation of the truth that we all, at some time, experience incarnation in all racial forms will come the knowledge that there is only unity. The subject may be clarified if we tabulate the teaching and the ray relationship to the races as follows:
Chúng ta đã được bảo trong giáo lý quá khứ của Minh Triết Ngàn Đời rằng một con người là một phương diện tam phân của năng lượng, và rằng y về cơ bản là một bộ ba, cũng như Thượng đế. Chúng ta nói về y một cách kỹ thuật là Chân thần-chân ngã-phàm ngã. Chúng ta định nghĩa y là tinh thần-linh hồn-cơ thể. Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng khi nghiên cứu gia đình nhân loại như một đơn vị và như một tổng thể, nó cũng sẽ được phát hiện về cơ bản là một Chân thần, với bảy nhóm chân ngã, bên trong đó tất cả các linh hồn (đang lâm phàm và không lâm phàm) tìm thấy vị trí của mình, và với bốn mươi chín hình tướng chủng tộc tương ứng qua đó bảy nhóm linh hồn biểu đạt chính mình theo chu kỳ. Tất cả các linh hồn thực hiện vận mệnh của mình trong tất cả các giống dân, nhưng một số loại nhất định chiếm ưu thế trong một số hình tướng chủng tộc nhất định. Vậy thì, đâu là lý do cho những sở thích hoặc ác cảm chủng tộc? Trong sự chứng nghiệm chân lý rằng tất cả chúng ta, vào một lúc nào đó, trải nghiệm sự lâm phàm trong tất cả các hình tướng chủng tộc, sẽ xuất hiện hiểu biết rằng chỉ có sự thống nhất. Chủ đề có thể được làm rõ nếu chúng ta lập bảng giáo lý và mối quan hệ cung với các chủng tộc như sau:
1.
The Lemurian Race
fifth ray
The coming of the Sons of Fire.
Giống dân Lemuria
cung năm
Sự xuất hiện của Các Con của Lửa.
2.
The Atlantean Race
sixth ray
The devotion of the Lords of Love.
Giống dân Atlantis
cung sáu
Lòng sùng kính của Các Chúa Tể của Tình thương/Bác ái.
3.
The Aryan Race
third ray
The activity of the Men of Mind.
Giống dân Arya
cung ba
Hoạt động của Những Người của Trí Tuệ.
4.
The Coming Race
fourth ray
The vision of the Units of Light.
Giống dân Đang Đến
cung bốn
Tầm nhìn của Các Đơn vị Ánh sáng.
5.
The Final Race
first ray
The will of the Lords of Sacrifice.
Giống dân Cuối cùng
cung một
Ý chí của Các Chúa Tể của Hi sinh.
[317]
[317]
Remember that this tabulation refers to the major ray cycles, and remember further that in every rootrace you have a continuous mingling and intermingling of the rays with what might be called the “constant” or dominating ray, which appears and re-appears with greater frequency and potency than do the other rays. There is therefore a close correspondence between certain rays and certain races, with their subraces, and these are coloured by these predominant ray influences. It is interesting also to interpret these ray influences (as I have expressed them) in terms of their quality leading to their objective, as follows:
Hãy nhớ rằng bảng này đề cập đến các chu kỳ cung chủ yếu, và hãy nhớ thêm rằng trong mỗi giống dân gốc, các bạn có sự pha trộn và hòa lẫn liên tục của các cung với cái có thể được gọi là cung "cố định" hoặc cung thống trị, vốn xuất hiện và tái xuất hiện với tần suất và quyền năng lớn hơn so với các cung khác. Do đó, có một sự tương ứng chặt chẽ giữa các cung nhất định và các chủng tộc nhất định, với các giống dân phụ của chúng, và những điều này được tô màu bởi những ảnh hưởng cung chiếm ưu thế này. Cũng rất thú vị khi giải thích những ảnh hưởng cung này (như tôi đã diễn đạt chúng) theo nghĩa phẩm tính của chúng dẫn đến mục tiêu của chúng, như sau:
The first Ray of Will leads from latent purpose in the first race to the fulfilled evolutionary Plan in the seventh race.
Cung một của Ý Chí dẫn từ mục đích tiềm tàng trong giống dân thứ nhất đến Thiên Cơ tiến hóa đã hoàn thành trong giống dân thứ bảy.
The second Ray of Love-Wisdom leads from love or divine desire in the second race to full intuitional understanding in the sixth race.
Cung hai của Bác Ái-Minh Triết dẫn từ tình thương hay ham muốn thiêng liêng trong giống dân thứ hai đến sự thấu hiểu trực giác trọn vẹn trong giống dân thứ sáu.
The third Ray of Active-Intelligence leads from the latent mental awareness of Lemurian man in the third race to the intellectual achievement of the Aryan race, the fifth race.
Cung ba của Trí Tuệ Linh Hoạt dẫn từ nhận thức trí tuệ tiềm tàng của người Lemuria trong giống dân thứ ba đến thành tựu trí thức của giống dân Arya, giống dân thứ năm.
The fourth Ray of Harmony through Conflict leads from the period of that terrific balancing of forces in Atlantis (the [318] fourth race) to the sanctified and free devotion of one-pointedness in the next or sixth race, with two lines of energy consummating in it. It marks the point of achievement of the Monads of Love, Who arrive at the expression of Love-Wisdom. The final race marks the point of achievement for the Monads of Will, just as the present Aryan race marks, and will mark, the achievement of the Monads of Intelligence. This warrants thought. It is a relative achievement, for this is the fourth round, but there is necessarily a “high-water mark,” if I might so call it, for each round.
Cung bốn của Hài hòa qua Xung đột dẫn từ thời kỳ cân bằng các lực khủng khiếp đó ở Atlantis (giống dân [318] thứ tư) đến sự tận tụy thánh thiện và tự do của sự nhất tâm trong giống dân tiếp theo hoặc thứ sáu, với hai dòng năng lượng hoàn tất trong nó. Nó đánh dấu điểm thành tựu của các Chân thần Tình thương, Những Đấng đạt đến sự biểu hiện của Bác Ái-Minh Triết. Giống dân cuối cùng đánh dấu điểm thành tựu cho các Chân thần Ý Chí, cũng như giống dân Arya hiện tại đánh dấu, và sẽ đánh dấu, thành tựu của các Chân thần Trí Tuệ. Điều này đáng để suy nghĩ. Đó là một thành tựu tương đối, vì đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, nhưng nhất thiết có một "mức nước cao," nếu tôi có thể gọi như vậy, cho mỗi cuộc tuần hoàn.
In the above four races you have the great period of the balancing of the forces for our humanity. The effect of the other three rays upon the Lemurian race and the two earlier and formless races need not here be considered by us. The nature of the consciousness of the forms found in those races, and the pressure exerted in them by the Entity Who informs the human family as a whole, are too abstruse for the average reader. He is mainly concerned with the races here enumerated, which summarise for him past and future achievement.
Trong bốn giống dân trên, các bạn có giai đoạn vĩ đại của sự cân bằng các mãnh lực cho nhân loại của chúng ta. Tác dụng của ba cung kia lên giống dân Lemuria và hai giống dân vô sắc tướng trước đó không cần chúng ta xem xét ở đây. Bản chất của tâm thức của các hình tướng được tìm thấy trong các giống dân đó, và áp lực được tạo ra trong chúng bởi Thực Thể Đấng thấm nhuần gia đình nhân loại như một tổng thể, quá trừu tượng đối với người đọc trung bình. Y chủ yếu quan tâm đến các giống dân được liệt kê ở đây, vốn tóm tắt cho y thành tựu trong quá khứ và tương lai.
Consequently, in dealing with the human family, we must endeavour to think in larger terms than those of the individual man as we know him. We must look upon humanity itself as an integrated entity, as a being, as a Life in a form. In this unified form Life every human being is a cell, and the seven races constitute the seven major centres, with the polarisation shifting ever into the higher centres, and the lower centres fading away into quiescence, until the time comes when all of the seven will be coordinated and energised, at the end of the age. We might here make the following suggestions (note this word) as to the relation between the races and the centres in the body of humanity: [319]
Do đó, khi làm việc với gia đình nhân loại, chúng ta phải cố gắng suy nghĩ theo các thuật ngữ lớn hơn so với con người cá nhân như chúng ta biết. Chúng ta phải nhìn vào chính nhân loại như một thực thể tích hợp, như một sinh mệnh, như Sự Sống Duy Nhất trong một hình tướng. Trong Sự sống hình tướng thống nhất này, mỗi con người là một tế bào, và bảy giống dân cấu thành bảy trung tâm chính, với sự phân cực chuyển dịch mãi vào các trung tâm cao hơn, và các trung tâm thấp hơn phai nhạt dần vào sự yên lặng, cho đến khi thời điểm đến khi tất cả bảy trung tâm sẽ được phối hợp và tiếp sinh lực, vào cuối thời đại. Chúng ta có thể đưa ra những gợi ý sau đây ở đây (lưu ý từ này) về mối quan hệ giữa các giống dân và các trung tâm trong cơ thể của nhân loại: [319]
Races
Centre
Expression
Giống dân
Luân xa
Sự Biểu hiện
7th and final rootrace
The head centre
Will. Plan.
Giống dân gốc thứ 7 và cuối cùng
Luân xa Đầu
Ý Chí. Thiên Cơ.
6th rootrace. The next
The centre between the eyebrows
Intuitive integration.
Giống dân gốc thứ 6. Giống dân tiếp theo
Luân xa giữa hai lông mày
Sự tích hợp Trực giác.
5th rootrace. The present
The throat centre
Creative power. Occult.
Giống dân gốc thứ 5. Giống dân hiện tại
Luân xa Cổ họng
Quyền năng Sáng tạo. Huyền bí.
4th and past rootrace
The solar plexus centre
Psychic sensitivity. Mystic.
Giống dân gốc thứ 4 đã qua
Tùng thái dương
Tính nhạy cảm Thông linh. Thần bí.
3rd and first human race
The sacral centre
Physical appearance. Generation.
Giống dân thứ 3 và giống dân nhân loại đầu tiên
Luân xa Xương cùng
Sự Xuất hiện thể xác. Sự Sinh sản.
2nd and etheric race
The heart or vital centre
Life forces coordinated.
Giống dân thứ 2 và giống dân dĩ thái
Luân xa Tim hoặc luân xa sinh lực
Các mãnh lực sự sống được điều phối.
1st race
The base of spine
The Will to be, to exist.
Giống dân thứ 1
Luân xa Đáy cột sống
Ý Chí để trở thành, để tồn tại.
It is with only the last four evolving races that we shall concern ourselves (the first four dealt with in the above tabulation), for the first three races are too far off for any one under the degree of initiate to grasp their mode of development, their type of consciousness, and their procedure towards their goal. The point I seek to emphasize is the necessity of seeing the picture whole, and not in terms of individual man.
Chúng ta sẽ chỉ quan tâm với bốn giống dân đang tiến hóa cuối mà (bốn giống dân đầu tiên được đề cập trong bảng trên), vì ba giống dân đầu tiên quá xa vời đối với bất kỳ ai dưới cấp độ điểm đạo đồ để nắm bắt phương thức phát triển, loại tâm thức, và tiến trình của chúng hướng tới mục tiêu của chúng. Điểm mà tôi muốn nhấn mạnh là sự cần thiết phải nhìn bức tranh toàn cảnh, chứ không phải theo thuật ngữ của con người cá nhân.
It may here be helpful if we note down our tabulation of certain points anent the human kingdom, as we did in connection with the three subhuman kingdoms.
Sẽ hữu ích ở đây nếu chúng ta ghi lại bảng liệt kê của mình về các điểm nhất định liên quan đến giới nhân loại, như chúng ta đã làm liên quan đến ba giới dưới nhân loại.
THE HUMAN KINGDOM
GIỚI NHÂN LOẠI
Influences:
Các ảnh hưởng:
Two rays of divine energy are peculiarly active in bringing this kingdom into manifestation. These are: [320]
Hai cung năng lượng thiêng liêng đặc biệt hoạt động trong việc đưa giới này vào biểu hiện. Đó là: [320]
1. The fourth Ray of Harmony, beauty and unity, attained through conflict.
1. Cung bốn của sự Hài hòa, vẻ đẹp và sự thống nhất, đạt được qua xung đột.
2. The fifth Ray of Concrete Knowledge, or the power to know.
2. Cung năm của Kiến thức Cụ thể, hay quyền năng để biết.
The fourth ray is the ray par excellence which governs humanity. There is a numerical relation to be noted here, for the fourth creative Hierarchy of human monads, the fourth ray, in this fourth round, on the fourth globe, the Earth, are extremely active. It is their close interrelation and interplay which is responsible for the emergence into prominence of humanity. In other rounds, humanity has not been the dominant evolution or the most important. In this round it is. In the next round, the dominant evolution will be that of souls on the astral level, and the deva kingdom. Humanity now walks in the light of day, symbolically speaking, on Earth, and these two rays were responsible for the process of initiating the human evolution in this major cycle. Our objective is the harmonising of the higher and the lower aspects, or principles, both in the individual and in the whole. This involves conflict and struggle, but produces eventually beauty, creative power in art, and synthesis. This result would not have been possible had it not been for the potent work of the fifth Ray of Concrete Knowledge which—in conjunction with the fourth ray—produced that reflection of divinity we call a man.
Cung bốn là cung đặc biệt cai quản nhân loại. Có một mối quan hệ số học cần lưu ý ở đây, vì Huyền Giai sáng tạo thứ tư của các chân thần con người, cung bốn, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, trên bầu hành tinh thứ tư, Trái Đất, cực kỳ hoạt động. Chính mối tương quan và tương tác chặt chẽ của chúng chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện nổi bật của nhân loại. Trong các cuộc tuần hoàn khác, nhân loại đã không phải là sự tiến hóa thống trị hay quan trọng nhất. Trong cuộc tuần hoàn này, nó là như vậy. Trong cuộc tuần hoàn tiếp theo, sự tiến hóa thống trị sẽ là của các linh hồn trên cấp độ cảm dục, và giới thiên thần. Nói một cách biểu tượng, nhân loại giờ đây đi trên Trái Đất trong ánh sáng ban ngày, và hai cung này chịu trách nhiệm cho quá trình khởi đầu sự tiến hóa của con người trong chu kỳ lớn này. Mục tiêu của chúng ta là sự hài hòa các phương diện, hay nguyên khí, cao và thấp, cả trong cá nhân và trong tổng thể. Điều này bao gồm xung đột và đấu tranh, nhưng cuối cùng tạo ra vẻ đẹp, sức mạnh sáng tạo trong nghệ thuật, và sự tổng hợp. Kết quả này sẽ không thể có được nếu không có công việc mạnh mẽ của Cung năm của Kiến thức Cụ thể vốn—kết hợp với cung bốn—đã tạo ra phản chiếu của thiên tính mà chúng ta gọi là một con người.
The human entity is a curious synthesis, on the subjective side of his nature, producing a fusion of life, of power, of harmonious intent and of mental activity. The following should be noted, for it is of profound psychological interest and import:
Thực thể con người là một sự tổng hợp kỳ lạ, về phía chủ quan của bản chất y, tạo ra một sự dung hợp của sự sống, của quyền năng, của ý định hài hòa và của hoạt động trí tuệ. Những điều sau đây cần được lưu ý, vì nó có lợi ích và ý nghĩa tâm lý sâu sắc:
Rays I, IV and V
predominate in the life of humanity and govern with increasing power man’s mental life and determine his mental body.
Cung I, IV và V
chiếm ưu thế trong đời sống nhân loại và cai quản với quyền năng ngày càng tăng đối với đời sống trí tuệ của con người và quyết định thể trí của y.
Rays II and VI
govern potently his emotional life and determine the type of his astral body.
Cung II và VI
cai quản mạnh mẽ đời sống cảm xúc của y và quyết định loại thể cảm dục của y.
Rays III and VII
govern the vital physical life and the physical body.
Cung III và VII
cai quản đời sống sinh lực vật lý và thể xác.
[321]
Here you have, if you note carefully, a summation of the rays which govern and differentiate the life of the personality forms, and therefore bring in other factors which psychologists will have to consider as time goes on. You will see therefore that:
Ở đây, nếu các bạn lưu ý kỹ, các bạn có một sự tóm tắt các cung cai quản và phân biệt đời sống của các hình tướng phàm ngã, và do đó mang vào các yếu tố khác mà các nhà tâm lý học sẽ phải xem xét khi thời gian trôi qua. Do đó, các bạn sẽ thấy rằng:
1. The human soul or ego is found on one or other of the seven rays, in one or other of the seven ray groups.
1. Linh hồn con người hay chân ngã được tìm thấy trên một trong bảy cung, trong một trong bảy nhóm cung.
2. The mind nature and mental body are governed by the Rays of Purpose, of Harmony or Synthesis, and of Knowledge.
2. Bản chất tâm trí và thể trí được cai quản bởi các Cung của Mục đích, của Hài hòa hay Tổng hợp, và của Kiến thức.
3. The emotional nature and form are governed by the Rays of Love, Wisdom and of idealistic Devotion.
3. Bản chất cảm xúc và hình tướng được cai quản bởi các Cung của Tình thương, Minh triết và của sự Tận tụy lý tưởng hóa.
4. The vital life and physical body are governed by the Rays of Intelligence in matter and of Organising Power.
4. Sự sống sinh lực và thể xác được cai quản bởi các Cung của Trí tuệ trong vật chất và của Quyền năng Tổ chức.
But in the midst of this complexity of rays and forces, the third and fifth rays hold paramount place, and govern the major cycles of the individual. He is controlled not only by his own ray cycles (determined by his egoic ray) and by the lesser cycles of the personality, but he comes also under the influence of the major and minor cycles in the ray life of humanity as a whole.
Nhưng ở giữa sự phức tạp này của các cung và các lực, cung ba và cung năm giữ vị trí tối cao, và cai quản các chu kỳ chính của cá nhân. Y được kiểm soát không chỉ bởi các chu kỳ cung của chính mình (được xác định bởi cung chân ngã của y) và bởi các chu kỳ nhỏ hơn của phàm ngã, mà y còn chịu ảnh hưởng của các chu kỳ chính và phụ trong đời sống cung của nhân loại như một tổng thể.
Results:
Kết quả:
Through the active work of the two rays above discussed, we find the fourth ray producing eventually in man the appearance of the intuition. The fifth ray is responsible for the development in him of the intellect. Here again we find appearing in man his great gift of synthesis and his prerogative [322] of unification, for—as earlier said—he blends in himself the qualities of three kingdoms in nature, including the one before and the one after his own.
Thông qua công việc tích cực của hai cung được thảo luận ở trên, chúng ta thấy cung bốn cuối cùng tạo ra trong con người sự xuất hiện của trực giác. Cung năm chịu trách nhiệm cho sự phát triển trong y của trí năng. Một lần nữa ở đây chúng ta thấy xuất hiện trong con người món quà tuyệt vời của sự tổng hợp và đặc quyền [322] thống nhất của y, vì—như đã nói trước đó—y hòa trộn trong chính mình các phẩm tính của ba giới trong tự nhiên, bao gồm giới trước và giới sau giới của chính y.
1. The kingdom of souls
Intuition.
Giới linh hồn
Trực giác.
2. The human kingdom
Intellect.
Giới nhân loại
Trí tuệ.
3. The animal kingdom
Instinct.
Giới động vật
Bản năng.
Hence his problem, and hence his glory. We might also say that through the union of the positive intuition and the negative instinct the intellect is born, for man repeats in himself the great creative process as enacted in the universe. This is the inner creative side of consciousness, just as we have the outer creative side in the creation of forms.
Do đó, đó là vấn đề của y và vinh quang của y. Chúng ta cũng có thể nói rằng thông qua sự kết hợp của trực giác tích cực (dương) và bản năng tiêu cực (âm), trí năng được sinh ra, vì con người lặp lại trong chính mình quá trình sáng tạo vĩ đại như được diễn ra trong vũ trụ. Đây là mặt sáng tạo bên trong của tâm thức, cũng như chúng ta có mặt sáng tạo bên ngoài trong việc tạo ra các hình tướng.
Process:
Tiến trình:
In the human family, owing to the presence within the human physical form of a thinking entity, called by us the Soul, the procedure followed in order to produce conscious control is that of adaptation. All forms in the three lower subhuman kingdoms are also subjected to the process of adaptation, but that is a group adaptation to environment, whereas in humanity we have the adaptation of the individual to his environment. The person who works consciously and intelligently at adapting himself to that situation and those conditions in which he finds himself is relatively rare. Conscious adapting of oneself to circumstances is the result of evolutionary development. The stages by which man arrives at this capacity may be enumerated as follows:
Trong gia đình nhân loại, do sự hiện diện bên trong hình tướng vật chất con người của một thực thể tư duy, được chúng ta gọi là Linh hồn, tiến trình được tuân theo để tạo ra sự kiểm soát có ý thức là sự thích nghi. Tất cả các hình tướng trong ba giới thấp hơn con người cũng chịu tác động của quá trình thích nghi, nhưng đó là sự thích nghi của nhóm với môi trường, trong khi ở nhân loại, chúng ta có sự thích nghi của cá nhân với môi trường của y. Những người làm việc một cách tỉnh thức và thông minh để thích nghi bản thân mình với hoàn cảnh và những điều kiện mà y thấy mình đang ở trong đó tương đối hiếm. Sự thích nghi một cách tỉnh thức của bản thân với các hoàn cảnh là kết quả của sự phát triển tiến hóa. Các giai đoạn mà qua đó con người đạt được năng lực này có thể được liệt kê như sau:
1. That unconscious adaptation to his environment of the man who is primarily an unintelligent animal. Low grade savages are in this class, and many purely agricultural peasants who have not been subjected to modern education. The man at this stage is little better than an animal and is governed entirely by instinct. [323]
1. Sự thích nghi vô thức với môi trường của một người chủ yếu là một con vật không thông minh. Những người man dã cấp thấp thuộc lớp này, và nhiều nông dân thuần túy làm nông nghiệp chưa được tiếp xúc với giáo dục hiện đại. Con người ở giai đoạn này không hơn con vật là mấy và được cai quản hoàn toàn bởi bản năng. [323]
2. An unconscious adaptation to environment carried on by the man who is beginning to evidence some faint flickers of mental perception. This is partly instinctual and is based on a growing self-love. There is more of the “I” consciousness in him, and rather less of group instinctual awareness. You find this growing self-realisation in the low grade slum dwellers, for instance, and in the petty criminal who is instinctual enough and bright enough to live by his wits and to show quickness in reactions and deftness manually. It is the stage of animal cunning.
2. Một sự thích nghi vô thức với môi trường được thực hiện bởi người đang bắt đầu thể hiện một vài tia sáng mờ nhạt của nhận thức trí tuệ. Điều này một phần là bản năng và dựa trên một sự tự yêu bản thân đang phát triển. Có nhiều ý thức về cái "Tôi" trong y hơn, và ít nhận thức bản năng nhóm hơn một chút. Các bạn tìm thấy sự tự nhận thức đang phát triển này chẳng hạn ở những cư dân khu ổ chuột cấp thấp, và ở tên tội phạm vặt đủ bản năng và đủ sáng dạ để sống bằng trí khôn của mình và thể hiện sự nhanh nhạy trong phản ứng và sự khéo léo chân tay. Đó là giai đoạn của sự ma mãnh của loài vật.
3. A conscious and purely selfish adapting of oneself to the environment. In these cases, the man is definitely aware of his motives; they are consciously thought out and recognised, and the man makes “the best of his circumstances”. He forces himself to live as far as possible harmoniously in his surroundings. In this there is really good motive, but principally the man is governed by a desire for comfort—physical, emotional and mental—to such a degree that he will discipline himself into such a condition that he fits wherever he may be and can get on with anyone.
3. Một sự thích nghi bản thân một cách có ý thức và hoàn toàn ích kỷ với môi trường. Trong những trường hợp này, con người nhận thức rõ ràng về động cơ của mình; chúng được suy nghĩ và nhận ra một cách có ý thức, và con người tận dụng "tốt nhất hoàn cảnh của mình". Y buộc mình phải sống càng hài hòa càng tốt trong môi trường xung quanh. Trong điều này thực sự có động cơ tốt, nhưng chủ yếu con người được cai quản bởi một mong muốn thoải mái—về thể chất, cảm xúc và tinh thần—đến mức y sẽ kỷ luật bản thân vào một điều kiện như vậy để y phù hợp bất cứ nơi nào y có thể ở và có thể hòa hợp với bất kỳ ai.
4. From this stage on the differentiations become so numerous that they are difficult to follow, being mixtures of pure selfishness (developed often to the nth degree), of a growing recognition of the group, of an awakening realisation of the right of other people to a similar degree of comfort and harmony, and of a steady effort to adapt conditions of character and personality life, so that the purely selfish interests do no real damage to others, until we arrive at...
4. Từ giai đoạn này trở đi, các biến phân trở nên nhiều đến mức chúng khó theo dõi, là những hỗn hợp của sự ích kỷ thuần túy (thường phát triển đến cấp độ n), của một sự nhận biết ngày càng tăng về nhóm, của một sự nhận thức đang thức tỉnh về quyền của người khác đối với một mức độ thoải mái và hài hòa tương tự, và của một nỗ lực đều đặn để thích nghi các điều kiện của tính cách và đời sống phàm ngã, sao cho các lợi ích thuần túy ích kỷ không gây ra thiệt hại thực sự nào cho người khác, cho đến khi chúng ta đến...
5. The average really good man who is struggling to adapt himself to his surroundings, to his group relations and responsibilities in such a way that some measure of love [324] can be seen. I refer not here to that instinctual love for family and children and herd which men share in common with the animals and which often breaks down when the loved individuals assert themselves. The tie is not strong enough to hold, and the motive is too selfish to resist the pull. I refer to that motivated love which recognises the rights of others and consciously strives to adapt itself to those recognised rights whilst tenaciously holding on to the rights of the personality.
5. Người thực sự tốt trung bình đang đấu tranh để thích nghi bản thân với môi trường xung quanh, với các quan hệ và trách nhiệm nhóm của mình theo cách mà một mức độ tình thương nào đó [324] có thể được nhìn thấy. Tôi không đề cập ở đây đến tình yêu bản năng đối với gia đình và con cái và bầy đàn mà con người chia sẻ chung với các loài vật, và thường tan vỡ khi các cá nhân được yêu thương khẳng định chính họ. Mối ràng buộc không đủ mạnh để giữ, và động cơ quá ích kỷ để chống lại sức kéo. Tôi đề cập đến tình thương có động cơ vốn công nhận quyền của người khác và cố gắng một cách có ý thức để thích nghi bản thân với những quyền được công nhận đó trong khi vẫn kiên quyết giữ lấy quyền của phàm ngã.
6. Then we have the work of adaptation as carried on by the aspirants of the world who are theoretically convinced of their group relation, of its paramount importance, and of the need of every personality to develop its powers to the fullest capacity in order to bring real value to the group and to serve adequately the group need. In true esotericism, there is no such motive as “killing the personality”, or of disciplining it to such an extent that it becomes a dead poor thing. The true motive is to train the threefold lower nature, the integrated personality, to the highest demonstration of its powers, latent or developing, in order that those powers may be brought to the helping of the group need, and the personality of the aspirant may be integrated into the group. Thereby the group life is enriched, the group potency is increased, and the group consciousness is enhanced.
6. Tiếp đến, chúng ta có công việc thích nghi được thực hiện bởi những người chí nguyện của thế giới, những người về mặt lý thuyết đã tin chắc vào mối quan hệ nhóm của họ, vào tầm quan trọng tối thượng của nó, và vào nhu cầu của mỗi phàm ngã phải phát triển các quyền năng của mình đến mức tối đa để mang lại giá trị thực sự cho nhóm và để phụng sự thỏa đáng nhu cầu của nhóm. Trong huyền bí học chân chính, không có động cơ nào gọi là “giết chết phàm ngã”, hoặc kỷ luật nó đến mức nó trở thành một thứ nghèo nàn chết chóc. Động cơ thực sự là rèn luyện bản chất thấp tam phân, tức phàm ngã tích hợp, đến mức biểu lộ cao nhất các quyền năng của nó, dù tiềm tàng hay đang phát triển, để những quyền năng đó có thể được đưa vào việc giúp đỡ nhu cầu của nhóm, và phàm ngã của người chí nguyện có thể được tích hợp vào nhóm. Nhờ đó, đời sống nhóm được làm giàu thêm, tiềm lực nhóm được gia tăng, và tâm thức nhóm được nâng cao.
What is therefore to be seen going on in the life of the true aspirant today (his developing recognition of group responsibility) can also be seen going on in groups, in organisations and nations. Hence the many experiments. A process is going forward whereby these groups, large or small, are being subjected to a housecleaning, to a discarding of the rubbish of old and worn-out ideas, and to a period of disciplining and training [325] which must precede all real group life. When this process is over, we shall have these groups approaching each other in a new and real spirit of cooperation, of religious fusion, and in an international attitude which will be new indeed. Then they will have something of a surer and greater value to offer to the whole. Within all these groups which are struggling towards this newer realisation and integration, and which express what we might call “the sixth stage of adaptation,”, are those who are already at the seventh stage.
Do đó, những gì được thấy đang diễn ra trong cuộc đời của người chí nguyện chân chính ngày nay (sự nhận biết ngày càng tăng của y về trách nhiệm nhóm) cũng có thể được thấy đang diễn ra trong các nhóm, trong các tổ chức và các quốc gia. Vì thế mà có nhiều cuộc thử nghiệm. Một tiến trình đang diễn ra nhờ đó các nhóm này, lớn hay nhỏ, đang phải chịu một cuộc dọn dẹp nhà cửa, loại bỏ những rác rưởi của các ý tưởng cũ kỹ và lỗi thời, và trải qua một thời kỳ kỷ luật và rèn luyện [325] vốn phải đi trước mọi đời sống nhóm thực sự. Khi tiến trình này kết thúc, chúng ta sẽ có các nhóm đến gần với nhau trong một tinh thần hợp tác mới mẻ và thực sự, của sự dung hợp tôn giáo, và trong một thái độ quốc tế thực sự mới. Khi đó, họ sẽ có một cái gì đó có giá trị chắc chắn hơn và lớn lao hơn để hiến dâng cho cái toàn thể. Bên trong tất cả các nhóm này đang đấu tranh hướng tới sự chứng nghiệm và tích hợp mới hơn này, và biểu lộ những gì chúng ta có thể gọi là “giai đoạn thích nghi thứ sáu”, là những người đã ở vào giai đoạn thứ bảy.
7. Here we have complete unselfish adaptation to the group need and purpose. Those who have reached this point in their evolution are decentralised as regards their own personality life. The focus of their mental attention is in the soul and in the world of souls. Their attention is not directed towards the personality at all, except in so far as is needed to force it to adhere to group or soul purpose. These servers who are expressions of soul radiance and attractive power are knowers of the Plan, and in every organisation they constitute the new and slowly growing group of World Servers. In their hands lies the salvation of the world.
7. Ở đây chúng ta có sự thích nghi hoàn toàn vô vị kỷ đối với nhu cầu và mục đích của nhóm. Những người đã đạt đến điểm này trong quá trình tiến hóa của họ thì phi tập trung vào bản thân đối với đời sống phàm ngã của riêng họ. Trọng tâm sự chú ý trí tuệ của họ nằm ở linh hồn và trong thế giới của các linh hồn. Sự chú ý của họ hoàn toàn không hướng về phàm ngã, ngoại trừ trong chừng mực cần thiết để buộc nó tuân thủ mục đích của nhóm hoặc linh hồn. Những người phụng sự này, vốn là những biểu hiện của sự tỏa sáng linh hồn và quyền năng thu hút, là những thức giả của Thiên Cơ, và trong mọi tổ chức, họ cấu thành nhóm mới, đang phát triển chậm chạp, gồm Những Người Phụng Sự Thế Gian. Sự cứu rỗi của thế giới nằm trong tay họ.
8. The final group in this scale of adaptation is that of the higher initiates, the perfected Elder Brethren and Great Companions. They are perfectly adapted to Their personalities, to each other and to world conditions; but as a group They are learning how to adapt the forces of nature, the energies of the rays and the potencies of the zodiacal signs to the world need and the world demand in a practical manner and at any particular time. It is here that the work of the disciples of the world, and of the higher types of aspirants, proves helpful [326] as a field of experiment, and it is in the new group of World Servers that the process of adaptation goes on.
8. Nhóm cuối cùng trong thang bậc thích nghi này là nhóm của các điểm đạo đồ cao cấp, các Huynh Trưởng và Các Bạn Đồng Hành Vĩ Đại đã hoàn thiện. Các Ngài thích nghi hoàn hảo với phàm ngã của Các Ngài, với nhau và với các điều kiện thế giới; nhưng với tư cách là một nhóm, Các Ngài đang học cách thích nghi các mãnh lực của thiên nhiên, các năng lượng của các cung và các tiềm lực của các dấu hiệu hoàng đạo với nhu cầu thế giới và đòi hỏi của thế giới theo một cách thức thực tế và vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào. Chính tại đây, công việc của các đệ tử của thế giới, và của các loại hình người chí nguyện cao cấp, tỏ ra hữu ích [326] như một trường thử nghiệm, và chính trong nhóm mới của Những Người Phụng Sự Thế Gian mà tiến trình thích nghi đang diễn ra.
I have endeavoured to outline these stages of the process of adaptation in terms of consciousness, viewing the subject therefore philosophically and psychologically. It should be remembered that this process, as it goes on in consciousness, produces (surely and inevitably) corresponding changes in mechanism and structure, and in sense perception through the apparatus of the body. On these changes I lay no emphasis in this treatise, for they are beautifully dealt with by modern science, which is steadily forging ahead in the right direction. I lay the emphasis upon consciousness as the pre-disposing factor, and on the developed sense of awareness which produces an inner demand for improved equipment. The improving of equipment as a result of the demand of consciousness is the secret of the evolutionary impulse, down the ages. This inner demand in man awakens the centres, and the awakening of the centres determines the response of the endocrine system, governs the nervous system in its threefold capacity, and also the blood stream. Thus the outer form or mechanism is ever an indication of the point of evolution of the inner subjective and spiritual man.
Tôi đã nỗ lực phác thảo các giai đoạn này của tiến trình thích nghi theo khía cạnh tâm thức, do đó xem xét chủ đề này về mặt triết học và tâm lý học. Cần nhớ rằng tiến trình này, khi nó diễn ra trong tâm thức, tạo ra (chắc chắn và không thể tránh khỏi) những thay đổi tương ứng trong cơ chế và cấu trúc, và trong nhận thức giác quan thông qua bộ máy của cơ thể. Tôi không nhấn mạnh vào những thay đổi này trong luận thuyết này, vì chúng đã được khoa học hiện đại đề cập một cách tuyệt vời, một nền khoa học đang vững bước tiến lên theo đúng hướng. Tôi đặt trọng tâm vào tâm thức như là yếu tố tiền định, và vào ý thức đã phát triển vốn tạo ra một nhu cầu bên trong về sự cải thiện thiết bị. Việc cải thiện thiết bị như là kết quả của nhu cầu của tâm thức là bí quyết của xung lực tiến hóa, trải qua các thời đại. Nhu cầu bên trong này ở con người đánh thức các luân xa, và sự thức tỉnh của các luân xa quyết định sự đáp ứng của hệ thống nội tiết, chi phối hệ thống thần kinh trong khả năng tam phân của nó, và cả dòng máu nữa. Vì vậy, hình tướng bên ngoài hay cơ chế luôn là một chỉ báo về điểm tiến hóa của con người chủ quan và tinh thần bên trong.
The Secret:
Bí Mật:
This is called, in esotericism, “the secret of translation”. I might bring the general concept underlying those words down to the intelligence of the average student by telling him that when a man really understands the elevating power of the aspiration, he can begin to work with the secret of translation. Students must lose sight of the foolish and erroneous idea that aspiration is really an emotional attitude. It is not. It is a scientific process, governing evolution itself. [327] When given free scope and duly followed, it is the mode par excellence whereby the matter aspect, or the whole personality, is “raised up into heaven”. The effect of continued aspiration, when followed by right action, is to bring about three things:
Trong huyền bí học, điều này được gọi là “bí mật chuyển dịch”. Tôi có thể đưa khái niệm tổng quát nằm dưới những từ ngữ đó xuống tầm hiểu biết của người đạo sinh trung bình bằng cách nói với y rằng khi một người thực sự thấu hiểu quyền năng nâng cao của khát vọng, y có thể bắt đầu làm việc với bí mật chuyển dịch. Các đạo sinh phải loại bỏ ý tưởng ngây ngô và sai lầm cho rằng khát vọng thực sự là một thái độ cảm xúc. Nó không phải vậy. Nó là một tiến trình khoa học, chi phối chính sự tiến hóa. [327] Khi được trao cho không gian tự do và được tuân theo đúng cách, nó là phương thức tuyệt vời nhờ đó phương diện vật chất, hay toàn bộ phàm ngã, được “nâng lên thiên đàng”. Tác dụng của khát vọng liên tục, khi được theo sau bởi hành động đúng đắn, mang lại ba điều:
1. A stimulation of the higher atoms of the three bodies.
1. Một sự kích thích các nguyên tử cao hơn của ba thể.
2. The discarding, as a result of this stimulation, of those atomic substances which (when present) occultly hold the aspirant down to earth.
2. Sự loại bỏ, như là kết quả của sự kích thích này, những chất liệu nguyên tử (khi hiện diện) vốn giữ người chí nguyện bám chặt xuống trần gian theo cách huyền bí.
3. The increasing of the magnetic attractive power of the higher atoms, which draw to themselves atoms of high vibration to take the place of those of low vibration. One point I should like to make here, in order to correct an almost universal wrong mental attitude. Right atoms of high vibration are attracted into a man’s body or bodies by the power of the united attraction of the atoms already present, and not primarily by the will of the soul, except in so far as that will acts upon the high grade atoms already present and responsive.
3. Sự gia tăng quyền năng thu hút từ tính của các nguyên tử cao hơn, vốn thu hút về phía chúng những nguyên tử có rung động cao để thế chỗ cho những nguyên tử có rung động thấp. Có một điểm tôi muốn nêu ra ở đây, để sửa chữa một thái độ trí tuệ sai lầm gần như phổ biến. Các nguyên tử đúng đắn có rung động cao được thu hút vào cơ thể hay các thể của một người bởi quyền năng của sự thu hút hợp nhất của các nguyên tử đã hiện diện, chứ không phải chủ yếu bởi ý chí của linh hồn, ngoại trừ trong chừng mực ý chí đó tác động lên các nguyên tử cấp cao đã hiện diện và có sự đáp ứng.
Aspiration is an activity of an occult and scientific nature, and is instinctual in substance itself. This point needs emphasis when instructing groups.
Khát vọng là một hoạt động có bản chất huyền bí và khoa học, và có tính bản năng trong chính chất liệu. Điểm này cần được nhấn mạnh khi hướng dẫn các nhóm.
It is an interesting side-light thrown upon the phenomena of aspiration that the power to levitate the body, which is so oft today the subject of psychic interest and research, is dependent upon having produced a peculiar alignment of the personality through aspiration and an act of the will. It presupposes in the three bodies a certain percentage of atoms of the adequate vibrations and lightness.
Có một khía cạnh phụ thú vị soi sáng các hiện tượng của khát vọng, là năng lực làm cho cơ thể bay lên (khinh thân)—mà ngày nay thường là chủ đề để quan tâm và nghiên cứu thông linh—phụ thuộc vào việc đã tạo ra một sự chỉnh hợp đặc biệt của phàm ngã thông qua khát vọng và một hành động của ý chí. Nó giả định trong ba thể có một tỷ lệ nhất định các nguyên tử có rung động và độ nhẹ thích hợp.
This secret of translation is the underlying cause of the caste system, and caste is a symbol of translation. In the last analysis, souls pass from caste to caste as they “translate” [328] their bodies. The clue to the translation is to be found in the fact that no act of translation ever involves one body alone, and no “passing on and up” into another dimension, into another state of consciousness and another “caste,” ever takes place unless an alignment has been produced between (for instance):
Bí mật chuyển dịch này là nguyên nhân cơ bản của hệ thống đẳng cấp, và đẳng cấp là một biểu tượng của sự chuyển dịch. Trong phân tích cuối cùng, các linh hồn chuyển từ đẳng cấp này sang đẳng cấp khác khi họ “chuyển dịch” [328] các thể của họ. Manh mối cho sự chuyển dịch được tìm thấy trong thực tế là không có hành động chuyển dịch nào liên quan đến một thể duy nhất, và không có sự “chuyển tiếp và đi lên” vào một chiều đo khác, vào một trạng thái tâm thức khác và một “đẳng cấp” khác, lại diễn ra trừ khi một sự chỉnh hợp đã được tạo ra giữa (chẳng hạn):
a. The physical body and the emotional body.
a. Thể xác và thể cảm dục.
b. These two and the mental body.
b. Hai thể này và thể trí.
c. These three and the soul.
c. Ba thể này và linh hồn.
d. These four and the group of World Servers.
d. Bốn yếu tố này và nhóm Những Người Phụng Sự Thế Gian.
In these four alignments we have the esoteric parallels of which the outer caste system is the prostituted symbol. Ponder on this, for the caste system is universal in the world. It is when the third alignment has been truly accomplished and when the light of the fourth constituent to the relationship dominates the inherent light of the other three, that the objective of man’s evolution is reached. This brings us to the point next to be considered.
Trong bốn sự chỉnh hợp này, chúng ta có những sự tương đương nội môn mà hệ thống đẳng cấp bên ngoài là biểu tượng bị lạm dụng. Hãy suy ngẫm về điều này, vì hệ thống đẳng cấp là phổ quát trên thế giới. Chính khi sự chỉnh hợp thứ ba đã thực sự hoàn thành và khi ánh sáng của thành phần thứ tư trong mối quan hệ chi phối ánh sáng vốn có của ba thành phần kia, thì mục tiêu tiến hóa của con người mới đạt được. Điều này đưa chúng ta đến điểm tiếp theo cần xem xét.
Purpose:
Mục Đích:
This purpose is the Transfiguration. This is the esoteric goal set before humanity. This was the tremendous event which was enacted before humanity by the greatest of all the sons of God in His Own Body, Whom I and all true disciples regard as the Master of all the Masters, the Christ. What shall I say about this culminating event for which the entire personality of man waits? This third great initiation marks a crisis in the initiatory work, and produces a further synthesis experienced in the life of the spiritual man. Up to the third initiation, man has been occupied with the process of fusing soul and body into one unity. After the third initiation (and owing to an event which takes place) man is [329] oriented towards, and becomes occupied with, a further fusion in consciousness, that of spirit-soul-body. I speak of a fusion in consciousness. The unity is ever there, and man in evolution is really becoming aware of that which already exists.
Mục đích này là Sự Biến Hình. Đây là mục tiêu nội môn được đặt ra trước nhân loại. Đây là sự kiện to lớn đã được diễn ra trước nhân loại bởi người con vĩ đại nhất trong tất cả các con của Thượng đế trong Chính Cơ Thể Ngài, Đấng mà tôi và tất cả các đệ tử chân chính đều coi là Chân sư của tất cả các Chân sư, Đức Christ. Tôi sẽ nói gì về sự kiện tột đỉnh này mà toàn bộ phàm ngã của con người đang chờ đợi? Cuộc đại điểm đạo thứ ba này đánh dấu một cuộc khủng hoảng trong công việc điểm đạo, và tạo ra một sự tổng hợp sâu xa hơn được trải nghiệm trong đời sống của con người tinh thần. Cho đến lần điểm đạo thứ ba, con người đã bận rộn với tiến trình dung hợp linh hồn và cơ thể thành một thể thống nhất. Sau lần điểm đạo thứ ba (và do một sự kiện diễn ra) con người [329] được định hướng về, và trở nên bận rộn với, một sự dung hợp xa hơn trong tâm thức, đó là sự dung hợp tinh thần-linh hồn-thể xác. Tôi nói về một sự dung hợp trong tâm thức. Sự thống nhất luôn ở đó, và con người trong quá trình tiến hóa thực sự đang trở nên nhận biết về cái vốn đã tồn tại.
Divisions:
Các Phân Chia:
These are five in number from the standpoint of this treatise on esotericism. They can here be only briefly indicated, as elucidation of them would involve too much.
Có năm phân chia từ quan điểm của luận thuyết này về huyền bí học. Ở đây chúng chỉ có thể được chỉ ra một cách vắn tắt, vì việc làm sáng tỏ chúng sẽ liên quan đến quá nhiều vấn đề.
1. The racial divisions. These can be considered in two ways:
1. Các phân chia chủng tộc. Những phân chia này có thể được xem xét theo hai cách:
a. From the standpoint of modern esoteric science.
a. Từ quan điểm của khoa học nội môn hiện đại.
b. From the standpoint of The Secret Doctrine, with its septenary divisions of mankind and its forty-nine subdivisions.
b. Từ quan điểm của Giáo Lý Bí Nhiệm, với các phân chia thất phân của nhân loại và bốn mươi chín phân chia phụ của nó.
2. The division of humanity into seven main ray types, which might be enumerated as follows:
2. Sự phân chia nhân loại thành bảy loại hình cung chính, có thể được liệt kê như sau:
a. The power type
full of will and governing capacity.
Loại quyền năng
đầy ý chí và khả năng cai quản.
b. The love type
full of love and fusing power.
Loại tình thương/bác ái
đầy tình thương/bác ái và quyền năng dung hợp.
c. The active type
full of action, and manipulating energy.
Loại hoạt động
đầy hoạt động, và năng lượng thao túng.
d. The artistic type
full of the sense of beauty and creative aspiration.
Loại nghệ thuật
đầy cảm nhận về vẻ đẹp và khát vọng sáng tạo.
e. The scientific type
full of the idea of cause and results. The mathematical type.
Loại khoa học
đầy ý tưởng về nguyên nhân và kết quả. Loại toán học.
f. The devotee type
full of idealism.
Loại sùng kính
đầy chủ nghĩa lý tưởng.
g. The business type
full of organising power. Given to ritualistic ceremony.
Loại kinh doanh
đầy quyền năng tổ chức. Thích các nghi lễ.
3. The twelve astrological groups. These we shall consider in dealing with The Rays and the Zodiac, and so shall not touch upon them here.
3. Mười hai nhóm chiêm tinh. Những nhóm này chúng ta sẽ xem xét khi đề cập đến Các Cung và Hoàng Đạo, và vì vậy sẽ không đả động đến chúng ở đây.
4. The division of human beings into three esoteric groups:
4. Sự phân chia con người thành ba nhóm nội môn:
a. Those unawakened to the “I” consciousness.
a. Những người chưa thức tỉnh đối với “Ngã” thức.
These are called esotericaliy “the darkened sparks.” [330]
Những người này được gọi trong nội môn là “những tia lửa tối tăm.” [330]
b. Those awakened to the condition of individuality.
b. Những người đã thức tỉnh đối với tình trạng của cá tính.
These are called “the flickering lights.”
Những người này được gọi là “những ngọn đèn chập chờn.”
c. Those awakened to the knowledge of the soul.
c. Những người đã thức tỉnh đối với tri thức về linh hồn.
These are called “the radiant sons of light.”
Những người này được gọi là “những người con rạng ngời của ánh sáng.”
5. The division of humanity into three types of aspirants:
5. Sự phân chia nhân loại thành ba loại hình người chí nguyện:
a. Those watched from a distance by the guiding Hierarchy.
a. Những người được Thánh Đoàn hướng dẫn theo dõi từ xa.
b. Those awakened by and attracted to the Hierarchy.
b. Những người được đánh thức bởi và bị thu hút về phía Thánh Đoàn.
c. Those who, from the angle of the personality, belong to the world of forces, but are awakened souls whose consciousness is being integrated into, that of the Hierarchy. These are the new group of World Servers.
c. Những người mà từ góc độ của phàm ngã thuộc về thế giới của các mãnh lực, nhưng là những linh hồn đã thức tỉnh mà tâm thức của họ đang được tích hợp vào tâm thức của Thánh Đoàn. Đây là nhóm Những Người Phụng Sự Thế Gian mới.
To these three last groups the Hierarchy Itself may well be added.
Bản thân Thánh Đoàn cũng có thể được thêm vào ba nhóm cuối cùng này.
The table as a whole shows the main divisions into which esoteric psychology divides humanity, and if you study it with care you will note how all-inclusive it is. I commend it to modern psychologists for study.
Bảng này về tổng thể cho thấy những phân chia chính mà tâm lý học nội môn phân chia nhân loại, và nếu các bạn nghiên cứu nó cẩn thận, các bạn sẽ nhận thấy nó bao hàm toàn diện như thế nào. Tôi giới thiệu nó cho các nhà tâm lý học hiện đại để nghiên cứu.
Objective Agency:
Tác Nhân Khách Quan:
In the case of the human being, in whom the senses (slowly developed in the lower kingdoms) are already functioning, the outer agency whereby he grows is the world of experience, the tangible physical plane world. There he dwells in the flesh, and it is for him an adequate field of unfoldment; in the process of developing group consciousness he finds that multiplicity of contacts which is needed to awaken his response to his environment. This environment itself is part of the life and expression of Deity, and through its means he arrives at a knowledge of some aspects of God’s manifestation. Using the five senses, and working with earth, air, fire [331] and water, he thereby gathers to himself all that is available for his use, and works in, and with, and through the outer world of daily living.
Trong trường hợp của con người, nơi mà các giác quan (được phát triển chậm chạp trong các giới thấp hơn) đã hoạt động, tác nhân bên ngoài mà nhờ đó y phát triển là thế giới của kinh nghiệm, thế giới cõi hồng trần hữu hình. Ở đó y cư trú trong xác thịt, và đối với y đó là một trường mở mang thỏa đáng; trong quá trình phát triển tâm thức nhóm, y tìm thấy sự đa dạng của các tiếp xúc vốn cần thiết để đánh thức sự đáp ứng của y đối với môi trường của mình. Bản thân môi trường này là một phần của sự sống và biểu hiện của Thượng đế, và thông qua các phương tiện của nó, y đạt tới kiến thức về một số phương diện trong sự biểu lộ của Thượng đế. Sử dụng năm giác quan, và làm việc với đất, khí, lửa [331] và nước, y nhờ đó thu thập cho mình tất cả những gì có sẵn để sử dụng, và làm việc trong, với, và thông qua thế giới bên ngoài của cuộc sống hàng ngày.
Subjective Agency:
Tác Nhân Chủ Quan:
Here we find the mind being employed as an organ of sense, as a synthetic or common sense, and as an instrument of discovery by means of which a man unfolds the truly human consciousness. Through the use of the mind, he learns to protect himself, to guard his interests, and to preserve his identity. Through the use of the mind, he begins to discriminate and to cultivate slowly a sense of values which enables him eventually to lay the emphasis upon the ideal and the spiritual, and not upon the material and the physical.
Ở đây chúng ta thấy trí tuệ được sử dụng như một cơ quan của giác quan, như một giác quan tổng hợp hay thông thường, và như một công cụ khám phá nhờ đó con người mở mang tâm thức thực sự của con người. Thông qua việc sử dụng trí tuệ, y học cách bảo vệ bản thân, bảo vệ lợi ích của mình, và giữ gìn bản sắc của mình. Thông qua việc sử dụng trí tuệ, y bắt đầu phân biện và vun bồi chậm chạp một ý thức về các giá trị, điều cho phép y cuối cùng đặt trọng tâm vào cái lý tưởng và cái tinh thần, chứ không phải vào cái vật chất và cái hồng trần.
Quality:
Phẩm Tính:
This quality is the development of sattva or rhythm within the human kingdom. This is really harmonious response to vibration, and leads to the integration of the unit in the whole and to the production of that “understanding” which will enable the man to eliminate all barriers in his consciousness, and to render (simply and naturally) a rhythmic and complete response to all conditions and states of awareness. Let it ever be remembered that the secret of the quality of humanity (if I may use so cumbrous a phrase) is the power to identify the human consciousness with all other forms of consciousness and of awareness, with all forms of unconscious and instinctual response, and with all forms of the superconscious or divine sense of being. This can ultimately be done at will.
Phẩm tính này là sự phát triển của sattva hay nhịp điệu bên trong giới nhân loại. Đây thực sự là sự đáp ứng hài hòa với rung động, và dẫn đến sự tích hợp của đơn vị vào cái toàn thể và đến việc tạo ra sự “thấu hiểu” vốn sẽ cho phép con người loại bỏ mọi rào cản trong tâm thức của mình, và đưa ra (một cách đơn giản và tự nhiên) một sự đáp ứng nhịp nhàng và trọn vẹn đối với mọi điều kiện và trạng thái ý thức. Cần luôn nhớ rằng bí quyết về phẩm tính của nhân loại (nếu tôi có thể sử dụng một cụm từ cồng kềnh như vậy) là năng lực đồng nhất tâm thức con người với tất cả các hình thức tâm thức và ý thức khác, với tất cả các hình thức đáp ứng vô thức và bản năng, và với tất cả các hình thức của ý thức siêu thức hay thiêng liêng về sự hiện tồn. Điều này cuối cùng có thể được thực hiện theo ý muốn.
We must now begin what really constitutes an outline of the new psychology This will work out to its fulfillment [332] and true usefulness in the Aquarian age. It will then become the basic and fundamental science of that age, just as electrical science (the electricity of matter) is the basic achievement of the Piscean age. What we are really going to consider are the influences which make a man what he is, and which determine the quality of his appearance. This appearance must be studied in terms of the entire integrated personality, and not just from the outer and objective physical condition. The influences which determine him are his own personal and soul rays which play upon him and affect his consciousness, finding entrance into his form equipment through the energy units of which that form is made. Other determining influences are also the solar, cosmic and environing factors which likewise play upon him.
Bây giờ chúng ta phải bắt đầu cái thực sự cấu thành nên một phác thảo của nền tâm lý học mới. Điều này sẽ diễn ra để đạt tới sự hoàn thành [332] và sự hữu ích thực sự của nó trong kỷ nguyên Bảo Bình. Khi đó, nó sẽ trở thành khoa học cơ bản và nền tảng của kỷ nguyên đó, cũng giống như khoa học điện (điện của vật chất) là thành tựu cơ bản của kỷ nguyên Song Ngư. Những gì chúng ta thực sự sắp xem xét là các ảnh hưởng tạo nên con người như y là, và xác định phẩm tính biểu hiện của y. Biểu hiện này phải được nghiên cứu theo khía cạnh của toàn bộ phàm ngã tích hợp, chứ không chỉ từ điều kiện hồng trần bên ngoài và khách quan. Các ảnh hưởng xác định y là các cung của phàm ngã và linh hồn của chính y, vốn tác động lên y và ảnh hưởng đến tâm thức của y, tìm đường xâm nhập vào trang thiết bị hình tướng của y thông qua các đơn vị năng lượng cấu tạo nên hình tướng đó. Các ảnh hưởng xác định khác cũng là các yếu tố thái dương, vũ trụ và môi trường vốn cũng tác động lên y tương tự.
It might here be asked: What are the differences between the influences which are ray influences and those which are of an astrological nature, such as the rising sign, or the governing planets?
Ở đây có thể đặt câu hỏi: Đâu là sự khác biệt giữa các ảnh hưởng là ảnh hưởng cung và những ảnh hưởng có bản chất chiêm tinh, chẳng hạn như dấu hiệu mọc, hoặc các chủ tinh?
The energies which astrologically affect a human being are those which play upon him as a result of the apparent progress of the sun through the heavens, either once every twenty-five thousand years or once every twelve months. Those that constitute the ray forces do not come from the twelve constellations of the zodiac, but emanate primarily from a world of being and of consciousness which lies behind our solar system, and which themselves come from the seven constellations which form the body of manifestation of the One About Whom Naught May Be Said. Our solar system is one of these seven constellations. This is the world of Deity Itself, and of it a man can know nothing until he has passed through the major initiations. When we come later to study the zodiac and its relation to the rays we shall work this out more [333] carefully and so make the idea clearer. It is with the ray influences that we are dealing here, and not with the zodiacal.
Các năng lượng ảnh hưởng đến con người về mặt chiêm tinh là những năng lượng tác động lên y như là kết quả của sự di chuyển rõ ràng của mặt trời qua các tầng trời, hoặc cứ mỗi hai mươi lăm nghìn năm một lần hoặc cứ mười hai tháng một lần. Những năng lượng cấu thành nên các lực của cung không đến từ mười hai chòm sao của hoàng đạo, mà xuất phát chủ yếu từ một thế giới bản thể và tâm thức nằm phía sau hệ mặt trời của chúng ta, và chính chúng đến từ bảy chòm sao tạo thành cơ thể biểu lộ của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Hệ mặt trời của chúng ta là một trong bảy chòm sao này. Đây là thế giới của Chính Thượng đế, và về nó con người không thể biết gì cho đến khi y đã trải qua các cuộc điểm đạo chính. Khi chúng ta nghiên cứu về hoàng đạo và mối quan hệ của nó với các cung sau này, chúng ta sẽ giải quyết điều này cẩn thận hơn [333] và làm cho ý tưởng trở nên rõ ràng hơn. Chính các ảnh hưởng cung là điều chúng ta đang đề cập ở đây, chứ không phải các ảnh hưởng hoàng đạo.
One of the first things we need to grasp, as we study man and the rays, is the large number of these ray influences which play upon him, and which form him, and “enliven” him, and make him the complexity he is. It would be wise for us to enumerate them one by one and consider them for a while. There is no real reason for bewilderment in this connection. As time progresses and the rays are more widely studied, man’s relation to them will be subjected to careful analysis, and there will then be possible a wide checking up of information and of facts. There will later come a tabulation and an understanding of the ray forces. This will lead to a science of psychology of a more sure and accurate nature, instead of the speculative science it now is. At present modern psychology concerns itself with the more apparent aspects of incarnated man and with a discussion of certain speculative subjective possibilities.
Một trong những điều đầu tiên chúng ta cần nắm bắt, khi nghiên cứu con người và các cung, là số lượng lớn các ảnh hưởng cung này tác động lên y, và hình thành nên y, và “làm sống động” y, và biến y thành một sự phức tạp như y vốn là. Sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta liệt kê chúng từng cái một và xem xét chúng trong một lúc. Không có lý do thực sự nào để hoang mang trong mối liên hệ này. Khi thời gian trôi qua và các cung được nghiên cứu rộng rãi hơn, mối quan hệ của con người với chúng sẽ được phân tích cẩn thận, và khi đó sẽ có thể có một sự kiểm chứng rộng rãi về thông tin và sự kiện. Sau này sẽ có một sự lập bảng và một sự thấu hiểu về các lực của cung. Điều này sẽ dẫn đến một khoa học tâm lý có bản chất chắc chắn và chính xác hơn, thay vì là một khoa học suy đoán như hiện nay. Hiện tại, tâm lý học hiện đại quan tâm đến các khía cạnh rõ ràng hơn của con người lâm phàm và với việc thảo luận về một số khả năng chủ quan mang tính suy đoán.
It might therefore be noted that the following rays and influences must be considered in the case of every individual man, for they make him what he is and determine his problem:
Do đó, cần lưu ý rằng các cung và ảnh hưởng sau đây phải được xem xét trong trường hợp của mỗi cá nhân, vì chúng tạo nên y như y là và xác định vấn đề của y:
1. The ray of the solar system itself.
1. Cung của chính hệ mặt trời.
2. The ray of the planetary Logos of our planet.
2. Cung của Hành Tinh Thượng đế của hành tinh chúng ta.
3. The ray of the human kingdom itself.
3. Cung của chính giới nhân loại.
4. Our particular racial ray, the ray that determines the Aryan race.
4. Cung chủng tộc cụ thể của chúng ta, cung xác định giống dân Arya.
5. The rays that govern any particular cycle.
5. Các cung chi phối bất kỳ chu kỳ cụ thể nào.
6. The national ray, or that ray influence which is peculiarly influencing a particular nation.
6. Cung quốc gia, hay ảnh hưởng cung đang ảnh hưởng đặc biệt đến một quốc gia cụ thể.
7. The ray of the soul, or ego.
7. Cung của linh hồn, hay chân ngã.
8. The ray of the personality.
8. Cung của phàm ngã.
9. The rays governing: [334]
9. Các cung chi phối: [334]
a. The mental body.
a. Thể trí.
b. The emotional or astral body.
b. Thể cảm xúc hay thể cảm dục.
c. The physical body.
c. Cơ thể xác.
There are other rays, but the above are the most powerful and have the greater conditioning power. Let us briefly consider them:
Có các cung khác, nhưng những cung trên là mạnh mẽ nhất và có quyền năng quy định lớn hơn. Chúng ta hãy xem xét vắn tắt chúng:
1. The Ray of the Solar System—Cung của Hệ Mặt Trời
It must be remembered that the dominating ray, the outstanding influence in our solar system, is the great cosmic second Ray of Love-Wisdom, a dual ray,—that is, a ray combining two great cosmic principles and energies. It is the ray which governs the “personality” of our solar Logos, if such an expression may be used, and (because it is dual) it indicates both His personality and soul rays, which in Him are now so balanced and blended that, from the angle of humanity, they constitute the major ray, the one ray. This major ray determines both His quality and His purpose.
Cần phải nhớ rằng cung thống trị, ảnh hưởng nổi bật trong hệ mặt trời của chúng ta, là Cung hai Vũ trụ vĩ đại về Bác Ái - Minh Triết, một cung kép,—nghĩa là, một cung kết hợp hai nguyên khí và năng lượng vũ trụ vĩ đại. Đó là cung chi phối “phàm ngã” của Thái dương Thượng đế của chúng ta, nếu có thể sử dụng một cách diễn đạt như vậy, và (bởi vì nó là kép) nó chỉ ra cả cung phàm ngã và cung linh hồn của Ngài, vốn trong Ngài giờ đây đã được cân bằng và hòa quyện đến mức, từ góc độ của nhân loại, chúng cấu thành nên cung chính, cung duy nhất. Cung chính này xác định cả phẩm tính và mục đích của Ngài.
Every unit of life and every form in manifestation is governed by this second ray. Basically speaking, the energy of love, expressed with wisdom, is the line of least resistance for the manifested lives in our solar system. This ray qualifies the life of all the planets, and the attractive magnetic love of God pours through His created universe; it emerges in the consciousness and determines the objective of all evolving forms. Each human being, as a whole, therefore, lives in a universe and on a planet which is constantly the objective of God’s love and desire, and which constantly (as a result of this love) is itself attracted and attractive. For this we do not make adequate allowance. Teachers, parents and educators would do well to recognise the potency of this ray force, and trust to the Law to make all things good. [335]
Mỗi đơn vị sự sống và mỗi hình tướng trong biểu hiện đều được chi phối bởi cung hai này. Về cơ bản, năng lượng của tình thương, được biểu lộ với minh triết, là con đường ít trở ngại nhất cho các sự sống đã biểu lộ trong hệ mặt trời của chúng ta. Cung này phẩm định tính chất cho sự sống của tất cả các hành tinh, và tình thương từ tính đầy thu hút của Thượng đế tuôn đổ qua vũ trụ được tạo ra của Ngài; nó xuất hiện trong tâm thức và xác định mục tiêu của tất cả các hình tướng đang tiến hóa. Do đó, mỗi con người, xét về tổng thể, sống trong một vũ trụ và trên một hành tinh vốn liên tục là mục tiêu của tình thương và ham muốn của Thượng đế, và bản thân nó (như là kết quả của tình thương này) liên tục bị thu hút và có tính thu hút. Chúng ta không đáng giá điều này một cách thỏa đáng. Các giáo viên, cha mẹ và nhà giáo dục nên nhận ra tiềm lực của lực cung này, và tin tưởng vào Định luật để làm cho mọi thứ trở nên tốt đẹp. [335]
2. The Ray of the Planet–Earth.—Cung của Hành Tinh–Trái Đất.
Each of the seven sacred planets (of which our Earth is not one) is an expression of one of the seven ray influences. These seven planets might be enumerated as follows, and the rays working through them are accurately given. The student however must remember three things:
Mỗi một trong bảy hành tinh thiêng liêng (mà Trái Đất của chúng ta không phải là một) là một biểu hiện của một trong bảy ảnh hưởng cung. Bảy hành tinh này có thể được liệt kê như sau, và các cung hoạt động thông qua chúng được đưa ra một cách chính xác. Tuy nhiên, người đạo sinh phải nhớ ba điều:
1. That every planet is the incarnation of a Life, of an Entity or Being.
1. Rằng mỗi hành tinh là sự hóa thân của một Sự Sống, của một Thực Thể hay Đấng Vĩ đại.
2. That every planet, like a human being, is the expression of two ray forces,—the personality and the egoic.
2. Rằng mỗi hành tinh, giống như một con người, là biểu hiện của hai mãnh lực cung,—của phàm ngã và của chân ngã.
3. That two rays are therefore in esoteric conflict in each planet.
3. Rằng do đó, hai cung đang ở trong xung đột nội môn trong mỗi hành tinh.
I but indicate one of the rays, and I do not tell you whether it is the egoic or personality ray of the particular planetary Logos. Too much accuracy and too detailed information is not at this time good for humanity, which is yet too selfish to be entrusted with it.
Tôi chỉ chỉ ra một trong các cung, và tôi không cho các bạn biết liệu đó là cung chân ngã hay cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế cụ thể đó. Quá nhiều sự chính xác và thông tin quá chi tiết vào lúc này không tốt cho nhân loại, vốn hãy còn quá ích kỷ để được giao phó nó.
THE PLANETS AND RAYS
CÁC HÀNH TINH VÀ CÁC CUNG
Sacred
Ray
Non-Sacred
Ray
1. Vulcan
1st ray.
1. Mars
6th ray.
2. Mercury
4th ray.
2. Earth
3rd ray.
3. Venus
5th ray.
3. Pluto
1st ray.
4. Jupiter
2nd ray.
4. The Moon veiling a hidden planet.
4th ray.
5. Saturn
3rd ray.
5. The Sun veiling a hidden planet.
2nd ray.
6. Neptune
6th ray.
7. Uranus
7th ray.
I deal here with the major ray cycles and not with the minor cycles. Two rays, you will note, are apparently not expressing themselves through the non-sacred planets; the seventh and the fifth. There are only five non-sacred planets. But the reason which makes a planet sacred or not is one of the secrets of a certain major initiation, and I may not further [336] elucidate here. Suffice it to say that the sacred planets are seven in number, making a totality of twelve planetary manifestations. It will be obvious to the observant reader also that certain sacred planets and certain non-sacred planets have a close relation with each other through the rays which influence them. These are:
Ở đây Tôi đề cập đến các chu kỳ cung chính chứ không phải các chu kỳ phụ. Các bạn sẽ nhận thấy, hai cung dường như không tự biểu hiện thông qua các hành tinh không thiêng liêng; cung bảy và cung năm. Chỉ có năm hành tinh không thiêng liêng. Nhưng lý do làm cho một hành tinh là thiêng liêng hay không là một trong những bí mật của một cuộc đại điểm đạo nào đó, và tôi không thể [336] làm sáng tỏ thêm ở đây. Chỉ cần nói rằng các hành tinh thiêng liêng có bảy hành tinh, tạo thành tổng cộng mười hai biểu lộ hành tinh. Đối với người đọc tinh ý, cũng sẽ thấy rõ ràng rằng một số hành tinh thiêng liêng và một số hành tinh không thiêng liêng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua các cung ảnh hưởng đến chúng. Đó là:
Ray I
Vulcan
Pluto.
Ray II
Jupiter
The Sun.
Ray III
Saturn
The Earth.
Ray IV
Mercury
The Moon.
Ray VI
Neptune
Mars.
These relationships will provide a somewhat new field of investigation for astrologers.
Những mối quan hệ này sẽ cung cấp một lĩnh vực nghiên cứu hơi mới mẻ cho các nhà chiêm tinh.
You will note therefore how peculiarly this Earth on which we live is suited to the development of the incarnating sons of God. Man comes forth, as do all lives within the radius of influence of a solar system, upon the inspiration of love, expressed in wisdom. Love is not a sentiment. Love is the great principle of attraction, of desire, of magnetic pull, and (within our solar system) that principle demonstrates as the attraction and the interplay between the pairs of opposites. This interplay provides every needed grade or type of unfoldment for consciousness. Conscious response is first made to the most potent and to the densest kind of attraction in matter, that of the mineral kingdom. Dense as it is, and heavy as is that type of vibration, it is nevertheless an expression of embryonic love. Response again comes, with greater facility and more true awareness and sensitivity, in the next kingdom, and the consciousness of the vegetable world emerges. But this too is love. It responds more freely and reacts to a far wider range of contacts in the animal kingdom, and the basic instinctual desires emerge and can be recognised. They, in due time, become the motivation of the [337] life, yet still it is only the love of God which is manifested. It is love between conscious life and conscious form; it is love between the pairs of opposites, leading to an eventual synthesis or marriage; it is relationship between the basic dualities; it is not sentiment but a fact in a great natural process. Always there is the emerging glory and radiance of a growing love, until we come to the human kingdom wherein love enters another plane. Then responsiveness and sensitivity and human sentimental reaction develop into a rudimentary mind. The consciousness of loving and being loved, of attracting and of being attracted, enters through the door of the intelligence and expands into the human state of awareness. Pleasure and pain become definite factors in unfoldment, and the long agony of humanity commences. Love then is seen in its naked selfishness, but also its potential glory can be sensed. Love or attractive desire then attracts to itself that which it feels it needs, but later, that is changed into what it thinks it should have, and this, in time, is transmuted into that which it knows is the divine non-material heritage of a son of God. Ponder on these last few words, for in the true understanding of love as feeling, love as thinking, and love as aspiration will come a clarification of man’s problem and his liberation from the thralldom of the lower loves into the liberty of love itself, and into the freedom of the one who possesses all things, and yet desires nothing for the separated self.
Do đó, các bạn sẽ nhận thấy Trái Đất nơi chúng ta đang sống phù hợp một cách đặc biệt như thế nào cho sự phát triển của các con của Thượng đế đang lâm phàm. Con người xuất hiện, cũng như tất cả các sự sống trong phạm vi ảnh hưởng của một hệ mặt trời, dựa trên cảm hứng của tình thương, được biểu lộ trong minh triết. Tình thương không phải là một tình cảm ủy mị. Tình thương là nguyên khí vĩ đại của sự thu hút, của ham muốn, của lực hút từ tính, và (trong hệ mặt trời của chúng ta) nguyên khí đó thể hiện như sự thu hút và sự tác động qua lại giữa các cặp đối lập. Sự tác động qua lại này cung cấp mọi cấp độ hoặc loại khai mở cần thiết cho tâm thức. Sự đáp ứng có ý thức đầu tiên được thực hiện đối với loại thu hút mạnh mẽ nhất và đậm đặc nhất trong vật chất, đó là của giới kim thạch. Mặc dù loại rung động đó đậm đặc và nặng nề, nó vẫn là một biểu hiện của tình thương phôi thai. Sự đáp ứng lại xuất hiện, với sự dễ dàng hơn cùng với mức độ nhận biết và tính nhạy cảm chân thực hơn, trong giới kế tiếp, và tâm thức của giới thực vật dần dần lộ diện. Nhưng điều này cũng vẫn là tình thương. Sang đến giới động vật, nó đáp ứng tự do hơn và phản ứng trước một phạm vi tiếp xúc rộng lớn hơn rất nhiều, và những ham muốn bản năng nền tảng bắt đầu xuất hiện và có thể được nhận ra. Theo thời gian, chúng trở thành động lực của [337] sự sống, nhưng đó vẫn chỉ là tình thương của Thượng đế được biểu lộ. Đó là tình thương giữa sự sống có ý thức và hình tướng có ý thức; đó là tình thương giữa các cặp đối lập, dẫn đến một sự tổng hợp hoặc hôn phối cuối cùng; đó là mối quan hệ giữa các nhị nguyên cơ bản; đó không phải là tình cảm ủy mị mà là một thực tế trong một tiến trình tự nhiên vĩ đại. Luôn luôn có vinh quang và sự chói rạng xuất hiện của một tình thương đang phát triển, cho đến khi chúng ta đến với giới nhân loại, nơi tình thương bước vào một bình diện khác. Khi đó, sự đáp ứng và sự nhạy cảm và phản ứng tình cảm của con người phát triển thành một trí tuệ sơ khai. Ý thức về việc yêu thương và được yêu thương, về việc thu hút và bị thu hút, bước qua cánh cửa của trí năng và mở rộng vào trạng thái ý thức của con người. Khoái lạc và đau khổ trở thành những yếu tố xác định trong sự khai mở, và cơn đau đớn dài dằng dặc của nhân loại bắt đầu. Khi đó, tình thương được nhìn thấy trong sự ích kỷ trần trụi của nó, nhưng vinh quang tiềm tàng của nó cũng có thể được cảm nhận. Khu đó tình thương hay ham muốn thu hút thu hút về phía mình cái mà nó cảm thấy nó cần, nhưng sau này, điều đó được thay đổi thành cái mà nó nghĩ nó nên có, và điều này, theo thời gian, được chuyển hóa thành cái mà nó biết là di sản phi vật chất thiêng liêng của một người con của Thượng đế. Hãy suy ngẫm về vài lời cuối cùng này, bởi vì khi thực sự hiểu được tình thương như là cảm xúc, tình thương như là tư duy và tình thương như là khát vọng, con người sẽ làm sáng tỏ được vấn đề của chính mình và được giải phóng khỏi ách ràng buộc của những tình thương thấp kém, để bước vào tự do của chính tình thương, và vào sự tự tại của người tuy sở hữu tất cả, nhưng lại không ham muốn điều gì cho phàm ngã tách biệt.
The magnetic pull of that which is desired is modified on our planet by the personality ray of our particular planetary Logos. This is the Ray of Active Intelligence, and of selective Adaptability. Just as every cell and atom in the human body is modified and conditioned by the egoic ray and the ray of each of the inner bodies, so every cell and atom in the body of the planetary Logos is conditioned and modified [338] by His outstanding ray influence, in this case, His personality ray. In this conditioning influence is found a clue to the distress and agony and pain in the world today. The planetary Logos of our Earth is primarily conditioned by a cosmic ray, to be sure, but not by His egoic ray. Perhaps in this condition may be found the reason (or one of the reasons) why our Earth is not one of the seven sacred planets. On this I need not enlarge, but it was necessary to call attention to this great determining factor, the third ray, which is the personality ray of our planetary Logos.
Lực hút từ tính của cái được ham muốn bị điều chỉnh trên hành tinh của chúng ta bởi cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế cụ thể của chúng ta. Đây là Cung của Trí Tuệ Hoạt Động, và của sự Thích Nghi có chọn lọc. Cũng giống như mọi tế bào và nguyên tử trong cơ thể con người bị điều chỉnh và chi phối bởi cung chân ngã và cung của mỗi thể bên trong, thì mọi tế bào và nguyên tử trong cơ thể của Hành Tinh Thượng đế cũng bị chi phối và điều chỉnh [338] bởi ảnh hưởng cung nổi bật của Ngài, trong trường hợp này, là cung phàm ngã của Ngài. Chính trong ảnh hưởng chi phối này, người ta tìm thấy một manh mối cho nỗi thống khổ và đau đớn và đau thương trên thế giới ngày nay. Chắc chắn là Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất chúng ta chủ yếu được chi phối bởi một cung vũ trụ, nhưng không phải bởi cung chân ngã của Ngài. Có lẽ trong điều kiện này có thể tìm thấy lý do (hoặc một trong những lý do) tại sao Trái Đất của chúng ta không phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng. Về điều này tôi không cần mở rộng, nhưng cần phải kêu gọi sự chú ý đến yếu tố xác định lớn lao này, cung ba, vốn là cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.
This ray brings in the factor of discrimination through mental activity, and this, in its turn, balances the so-called love nature, and it is in truth the cause of our evolutionary growth. The life in forms passes through discriminative and selective activity from one experience to another in an ever widening scale of contacts. It is this Ray of Intelligent Activity which dominates man at this time. Human beings are largely centred in their personalities; they are “egocentric,” in the terminology of the psychologist, which recognises the integrating principle of the ego (in many cases) but does not yet recognise the overshadowing ego or soul, except under such a vague term as “the superconscious”. We have therefore a humanity engrossed by a tremendous activity and demonstrating everywhere a vital discriminating and intellectual interest in all types of phenomena. This tendency to be active will go on increasing and intensifying until the Aryan race will merge into the coming major root-race, for which we have as yet no name, though we recognise that in that race the intellect will serve the intuition. Human activity is now regarded as having reached an incredible speed and intensity of vibration, yet from the angle of the world Knowers it is only just beginning to express itself, and is relatively feeble as yet. The growth of the tendency to vital speed can [339] be noted if history is studied, and the pace at which man now lives, and the complexity and the many dynamic interests of his life, may be compared with those of the average man two hundred years ago. The last twenty-five years of man’s history have shown a tremendous speeding up as compared with conditions fifty years ago.
Cung này mang lại yếu tố phân biện thông qua hoạt động trí tuệ, và đến lượt nó, điều này cân bằng cái gọi là bản chất tình thương, và thực sự nó là nguyên nhân cho sự tăng trưởng tiến hóa của chúng ta. Sự sống trong các hình tướng trải qua hoạt động phân biện và chọn lọc từ kinh nghiệm này sang kinh nghiệm khác trong một thang bậc tiếp xúc ngày càng mở rộng. Chính Cung Trí Tuệ Hoạt Động này đang thống trị con người vào lúc này. Con người phần lớn tập trung vào phàm ngã của mình; họ là những người “tập trung vào bản thân”, theo thuật ngữ của nhà tâm lý học, vốn công nhận nguyên khí tích hợp của cái tôi (trong nhiều trường hợp) nhưng chưa công nhận chân ngã hay linh hồn đang phủ bóng, ngoại trừ dưới một thuật ngữ mơ hồ như “siêu thức”. Do đó, chúng ta có một nhân loại bị cuốn hút bởi một hoạt động to lớn và thể hiện ở khắp mọi nơi một mối quan tâm trí tuệ và phân biện đầy sinh lực đối với mọi loại hình hiện tượng. Xu hướng hoạt động này sẽ tiếp tục gia tăng và mạnh mẽ hơn cho đến khi giống dân Arya hợp nhất vào giống dân gốc chính sắp tới, mà chúng ta vẫn chưa có tên gọi, mặc dù chúng ta nhận ra rằng trong giống dân đó, trí năng sẽ phục vụ trực giác. Hoạt động của con người hiện được coi là đã đạt đến một tốc độ và cường độ rung động đáng kinh ngạc, nhưng từ góc độ của các Thức Giả thế giới, nó chỉ mới bắt đầu biểu hiện, và vẫn còn tương đối yếu ớt. Sự gia tăng khuynh hướng hướng tới tốc độ sinh động có thể được nhận thấy [339] nếu người ta khảo sát lịch sử, và nhịp sống mà con người hiện nay đang trải qua, cùng với tính phức tạp và vô số mối quan tâm mang tính động lực trong đời sống của y, có thể được đem so sánh với đời sống của con người trung bình cách đây hai trăm năm. Riêng hai mươi lăm năm cuối trong lịch sử nhân loại đã cho thấy một sự tăng tốc hết sức mạnh mẽ khi so với các điều kiện của năm mươi năm trước đó.
The reason for this increase of intelligent activity and rapidity of response and contact is to be found in the subjective fact that humanity is with great speed integrating the three aspects of human nature into a unity, called personality. Men are steadily becoming personalities, and unifying into one expression their physical, emotional and mental aspects; hence they are more able to respond to the ray of the integrated personality of the One in Whom they live, and move, and have their being.
Lý do cho sự gia tăng của hoạt động thông minh và sự nhanh chóng trong đáp ứng và tiếp xúc này được tìm thấy trong thực tế chủ quan là nhân loại đang tích hợp ba phương diện của bản chất con người thành một thể thống nhất được gọi là phàm ngã với tốc độ nhanh chóng. Con người đang dần trở thành những phàm ngã, và thống nhất các phương diện thể xác, cảm xúc và trí tuệ của họ thành một biểu hiện; do đó, họ có khả năng đáp ứng tốt hơn với cung của phàm ngã tích hợp của Đấng mà trong Ngài họ sống, hoạt động, và hiện tồn.
Speaking therefore in terms of man’s life problem, we might state that it is affected potently by the two major influences which beat upon the human kingdom, the cosmic ray of the solar system, the Ray of Love-Wisdom, and the cosmic ray of the planet, which is the personality ray of the planetary Logos, the Ray of Active Intelligence or Adaptability. Man might be defined as a unit of conscious life, swept into tangible expression through the discriminating love of God. Through his life experiences he is presented with innumerable choices which gradually shift from the realm of the tangible into that of the intangible. As he attracts, or is attracted by, the life of his environment, he becomes increasingly conscious of a series of shifting values, until he reaches that point in his development when the pull or the magnetic attraction of the subjective world and the intangible mental and spiritual realities are more potent than the factors which have hitherto enticed him on. His sense of values is no longer determined by: [340]
Do đó, khi nói về vấn đề cuộc sống của con người, chúng ta có thể nói rằng nó bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hai ảnh hưởng chính đập vào giới nhân loại, cung vũ trụ của hệ mặt trời, Cung Bác Ái - Minh Triết, và cung vũ trụ của hành tinh, vốn là cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế, Cung Trí Tuệ Hoạt Động hay Thích Nghi. Con người có thể được định nghĩa là một đơn vị của sự sống có ý thức, bị cuốn vào biểu hiện hữu hình thông qua tình thương phân biện của Thượng đế. Thông qua những trải nghiệm cuộc sống của mình, y được trình bày với vô số lựa chọn dần dần chuyển từ lĩnh vực của cái hữu hình sang lĩnh vực của cái vô hình. Khi y thu hút, hoặc bị thu hút bởi, sự sống của môi trường xung quanh, y ngày càng trở nên ý thức về một loạt các giá trị thay đổi, cho đến khi y đạt đến điểm đó trong sự phát triển của mình khi sức hút hoặc sự thu hút từ tính của thế giới chủ quan và những thực tại trí tuệ và tinh thần vô hình mạnh hơn những yếu tố đã dụ dỗ y trước đó. Ý thức về giá trị của y không còn được xác định bởi: [340]
1. The satisfaction of his instinctual animal nature.
1. Sự thỏa mãn bản chất thú tính bản năng của y.
2. The desires of a more emotional and sentimental kind
2. Những ham muốn thuộc loại cảm xúc và tình cảm hơn
which his astral body demands.
vốn được đòi hỏi bởi thể cảm dục của y.
3. The pull and pleasures of the mind nature, and of intellectual appetites.
3. Sức hút và khoái lạc của bản chất trí tuệ, và những thèm khát trí năng.
He becomes potently attracted by his soul, and this produces a tremendous revolution in his entire life, regarding the word “revolution” in its true sense, as a complete turning around. This revolution is happening now, on such a universal scale in the lives of individuals in the world, that it is one of the main factors producing the present potency of experimental ideas in the world of modern times. The attractive power of the soul grows steadily, and the pull of the personality weakens as steadily. All this has been brought about by the process of experiment, leading to experience; by experience, leading to a wiser use of the powers of the personality; by a growing appreciation of a truer world of values and of reality, and by an effort on man’s part to identify himself with the world of spiritual values and not with a world of material values. The world of meaning and of causes becomes gradually the world in which he finds happiness, and his selection of his major interests and the use to which he decides to put his time and powers are finally conditioned by the truer spiritual values. He then is on the path of illumination. I have sought to express the effects of these two major ray influences in terms of mysticism and of philosophy, but in very truth all that I have here said could be expressed scientifically and in terms of scientific formulas, if man were mentally equipped to appreciate them. But this is not yet possible. All these ray vibrations, no matter which they may be, can eventually be reduced to formulas and to symbols.
Y trở nên bị thu hút mạnh mẽ bởi linh hồn của mình, và điều này tạo ra một cuộc cách mạng to lớn trong toàn bộ cuộc đời y, dùng từ ngữ “cách mạng” theo đúng nghĩa của nó, như một sự quay đầu hoàn toàn. Cuộc cách mạng này đang diễn ra ngay bây giờ, trên một quy mô phổ quát như vậy trong cuộc đời của các cá nhân trên thế giới, đến nỗi nó là một trong những yếu tố chính tạo ra tiềm lực hiện tại của các ý tưởng thử nghiệm trong thế giới thời hiện đại. Quyền năng thu hút của linh hồn tăng lên đều đặn, và sức hút của phàm ngã yếu đi cũng đều đặn như vậy. Tất cả điều này đã được tạo nên thông qua tiến trình thử nghiệm, dẫn đến kinh nghiệm; qua kinh nghiệm, dẫn đến việc sử dụng khôn ngoan hơn các quyền năng của phàm ngã; qua một sự đánh giá ngày càng tăng về một thế giới giá trị và thực tại chân thực hơn, và qua một nỗ lực từ phía con người để đồng nhất mình với thế giới của các giá trị tinh thần chứ không phải với một thế giới của các giá trị vật chất. Thế giới của ý nghĩa và của các nguyên nhân dần dần trở thành thế giới mà trong đó y tìm thấy hạnh phúc, và sự lựa chọn những mối quan tâm chủ yếu của y, cũng như cách y quyết định sử dụng thời gian và các quyền năng của mình, cuối cùng đều được điều kiện hoá bởi những giá trị tinh thần chân thực hơn. Khi ấy, y đang bước trên con đường soi sáng. Tôi đã cố gắng diễn đạt những tác động của hai ảnh hưởng cung chủ yếu này bằng ngôn ngữ của thần bí học và của triết học, nhưng thực ra, tất cả những gì tôi đã nói ở đây hoàn toàn có thể được diễn đạt một cách khoa học và dưới dạng các công thức khoa học, nếu con người được trang bị đầy đủ về mặt trí tuệ để có thể lĩnh hội chúng. Tuy nhiên, điều đó hiện nay vẫn chưa thể thực hiện được. Tất cả những rung động của các cung này, bất kể chúng là gì, cuối cùng đều có thể được quy giản thành các công thức và các biểu tượng.
[341]
[341]
Reaction to environment, sensitive response to the ray influences which govern and express themselves through the forms which compose man’s environment, a growing power to discriminate between energies and forces, a slowly developing sense of values (which sense is the one which eventually dispels illusion and glamour and reveals reality), and a shift of the discriminating interest away from the worlds of tangible experience, of emotional life and of mental interest,— all this expresses the effect of the interplay between the two rays of the solar system and of the planet. These, intermingling, pour through and affect mankind.
Phản ứng với môi trường, đáp ứng nhạy cảm với các ảnh hưởng cung vốn chi phối và tự biểu hiện thông qua các hình tướng cấu thành nên môi trường của con người, một quyền năng ngày càng tăng để phân biện giữa các năng lượng và mãnh lực, một ý thức về các giá trị đang phát triển chậm chạp (ý thức vốn là cái cuối cùng xua tan ảo tưởng và ảo cảm và tiết lộ thực tại), và một sự chuyển dịch mối quan tâm phân biện ra khỏi các thế giới của kinh nghiệm hữu hình, của đời sống cảm xúc và mối quan tâm trí tuệ,— tất cả những điều này thể hiện tác dụng của sự tác động qua lại giữa hai cung của hệ mặt trời và của hành tinh. Những cung này, hòa quyện vào nhau, tuôn đổ qua và ảnh hưởng đến nhân loại.
One of the most difficult things with which the Masters are today confronted is to prove to man that the old and recognised values and the tangible world of phenomena (emotional and physical) must be relegated to their right place in the background of man’s consciousness, and that the intangible realities, and the world of ideas and causes must be, for him, in the immediate future, the main centre of attention. When man grasps this and lives by this knowledge, then the glamour which now holds the world will disappear. If you ponder on this you will recognise how the great crisis of 1914-1918 did much useful work in smashing the glamourous material security in which men were living, and in destroying much of their instinctual and sensuous selfishness. The group is beginning to be recognised as of major importance, and the welfare of the individual is important just in so far as the unit is an integral part of the group. This will not eventually destroy initiative and individuality. It is only in our initial experiments, and through our inexpertness in the use of the discriminating faculty, that we are, as yet, making such sad mistakes. This process of destroying the world illusion has been going on on a large scale ever since; in every country, through the various experiments which are going forward [342], the glamour is breaking down and the truer values of group welfare, of group integration, and of group progress are emerging. The sense of insecurity which is such a distressing aspect of the present upheaval is due simply to this destruction of the old sense of values, to that dispelling of glamour which reveals at present an unfamiliar landscape, and to the fear and instability which man feels when he comes up against the world “Dweller on the Threshold.” This has to be broken up and destroyed, for it blocks the way to the new world of values. The great thought form which man’s greed and materiality have built, down the ages, is being steadily demolished, and mankind is on the verge of a liberation which will take him on to the Path of Discipleship. I refer not here to the final liberation, but to that liberation which comes from a free choice, wisely used and applied to the good of the whole, and conditioned by love. Note that I say, “wisely used.” Wisdom, actuated and motivated by love, and intelligently applied to world problems, is much needed today and is not yet to be found, except among the few illumined souls in every nation,—in every nation, I say, without exception. Many more must love with wisdom and appreciate the group aspiration before we shall see the next reality to be known and to emerge out of the darkness which we are now in the process of dispelling.
Một trong những điều khó khăn nhất mà các Chân sư ngày nay phải đối mặt là chứng minh cho con người thấy rằng các giá trị cũ và được công nhận cũng như thế giới hữu hình của các hiện tượng (cảm xúc và vật chất) phải được đưa về đúng vị trí của chúng ở hậu cảnh của tâm thức con người, và rằng những thực tại vô hình, và thế giới của các ý tưởng và nguyên nhân phải là, đối với y, trong tương lai gần, trung tâm chú ý chính. Khi con người nắm bắt được điều này và sống theo kiến thức này, thì ảo cảm đang nắm giữ thế giới sẽ biến mất. Nếu các bạn suy ngẫm về điều này, các bạn sẽ nhận ra rằng cuộc khủng hoảng lớn trong giai đoạn 1914–1918 đã thực hiện được nhiều công việc hữu ích trong việc phá tan sự an toàn vật chất đầy ảo cảm mà con người đang sống trong đó, đồng thời tiêu hủy phần lớn tính ích kỷ mang tính bản năng và cảm dục của họ. Nhóm đang dần dần được nhìn nhận là có tầm quan trọng hàng đầu, và phúc lợi của cá nhân chỉ thực sự quan trọng trong chừng mực mà đơn vị ấy là một bộ phận hữu cơ của nhóm. Điều này rốt cuộc sẽ không hủy hoại tinh thần chủ động và tính cá thể. Chỉ trong những thử nghiệm ban đầu của chúng ta, và do sự non nớt trong việc sử dụng năng lực phân biện, mà cho đến nay chúng ta vẫn còn đang phạm phải những sai lầm đáng buồn như vậy. Quá trình phá hủy ảo tưởng thế giới này đã diễn ra trên quy mô lớn kể từ đó; ở mọi quốc gia, thông qua các cuộc thử nghiệm khác nhau đang diễn ra [342], ảo cảm đang tan vỡ và các giá trị chân thực hơn về phúc lợi nhóm, tích hợp nhóm, và tiến bộ nhóm đang xuất hiện. Cảm giác bất an vốn là một khía cạnh đau khổ của sự biến động hiện tại chỉ đơn giản là do sự phá hủy cảm giác cũ về các giá trị, do sự xua tan ảo cảm vốn hiện đang tiết lộ một cảnh quan xa lạ, và do nỗi sợ hãi và sự bất ổn mà con người cảm thấy khi y đối mặt với “Kẻ Chận Ngõ” của thế giới. Điều này phải bị phá vỡ và tiêu diệt, vì nó chặn đường đến thế giới mới của các giá trị. Hình tư tưởng vĩ đại mà lòng tham và tính vật chất của con người đã xây dựng, trải qua các thời đại, đang dần bị phá hủy, và nhân loại đang đứng trên bờ vực của một sự giải thoát sẽ đưa y lên Đường Đạo. Ở đây tôi không đề cập đến sự giải thoát cuối cùng, mà là sự giải thoát đến từ một sự lựa chọn tự do, được sử dụng và áp dụng một cách khôn ngoan cho lợi ích của cái toàn thể, và được chi phối bởi tình thương. Lưu ý rằng tôi nói, “được sử dụng một cách khôn ngoan”. Minh triết, được thúc đẩy và động viên bởi tình thương, và được áp dụng một cách thông minh vào các vấn đề thế giới, là rất cần thiết ngày nay và vẫn chưa được tìm thấy, ngoại trừ ở một số ít linh hồn đã được soi sáng trong mọi quốc gia,— tôi nói, trong mọi quốc gia, không có ngoại lệ. Nhiều người nữa phải yêu thương với minh triết và đánh giá cao khát vọng nhóm trước khi chúng ta sẽ thấy thực tại tiếp theo phải được biết đến và xuất hiện từ bóng tối mà chúng ta hiện đang trong quá trình xua tan.
3. The Ray of the Fourth Kingdom—Cung của Giới Thứ Tư
We now touch briefly upon an obscure and difficult subject, and one that will appeal primarily to those types who work with the Law of Correspondences. Esotericists must remember that every kingdom in nature constitutes a totality of lives. Every atom in every form in nature is a life, and these lives form the cells of a Being’s body or vehicle of manifestation. There is a Being embodied in every kingdom [343] in nature. Just as the myriads of atomic lives in the human body constitute a man’s body of expression and form his appearance, so it is with the greater Life informing the fourth kingdom in nature. This appearance—as are all appearances—is qualified by some particular ray type, and is determined also by the vital principle or spirit aspect. Thus every form is composed of innumerable lives, which have in them a preponderance of some ray quality. This is an occult platitude. These qualified lives produce a phenomenal appearance, and thus constitute a unity, through the influence of the integrating principle, which is never absent.
Bây giờ chúng ta bàn một cách ngắn gọn về một chủ đề tối nghĩa và khó khăn, và là một chủ đề sẽ hấp dẫn chủ yếu những người làm việc với Định luật Tương ứng. Các nhà bí truyền học phải nhớ rằng mọi giới trong tự nhiên đều cấu thành một tổng thể các sự sống. Mọi nguyên tử trong mọi hình tướng trong tự nhiên là một sự sống, và những sự sống này tạo thành các tế bào trong cơ thể hay hiện thể biểu lộ của một Thực Thể. Có một Thực Thể hiện thân trong mọi giới [343] trong tự nhiên. Cũng giống như vô số sự sống nguyên tử trong cơ thể con người cấu thành nên thể biểu hiện của một người và tạo nên hình tướng của y, thì Sự Sống lớn hơn vốn thấm nhuần giới thứ tư trong tự nhiên cũng vậy. Hình tướng này—cũng như mọi hình tướng—được định tính bởi một loại cung cụ thể nào đó, và cũng được xác định bởi nguyên khí sự sống hay phương diện tinh thần. Vì vậy, mọi hình tướng đều bao gồm vô số sự sống, vốn có trong chúng một sự vượt trội về phẩm tính cung nào đó. Đây là một chân lý huyền bí hiển nhiên. Những sự sống được định tính này tạo ra một dáng vẻ hiện tượng, và do đó cấu thành một thể thống nhất, thông qua ảnh hưởng của nguyên khí tích hợp, vốn không bao giờ vắng mặt.
The ray which governs the sum total of the human kingdom is the fourth Ray of Harmony through Conflict. It might be symbolically stated that the egoic ray of the Life which informs the human family is this fourth ray, and that the personality ray is the fifth ray of knowledge through discrimination,—the Ray, as it is called, of Concrete Knowledge or Science. Harmony through conflict, and the power to achieve knowledge through discriminating choice—these are the two rays or major influences which sweep through humanity as a whole, and drive it forward towards its divine destiny. They are the predisposing factors upon which a man may count and infallibly depend. They are the guarantee of attainment, but also of turmoil and temporary duality. Harmony, expressing itself in beauty and creative power, is gained through battle, through stress and strain. Knowledge, expressing itself eventually through wisdom, is attained only through the agony of successively presented choices. These, submitted to the discriminating intelligence during the process of the life experience, produce at last the sense of true values, the vision of the ideal, and the capacity to distinguish reality behind the intervening glamour.
Cung chi phối tổng thể giới nhân loại là Cung bốn của Sự Hài Hòa qua Xung Đột. Có thể nói một cách tượng trưng rằng cung chân ngã của Sự Sống vốn thấm nhuần gia đình nhân loại là cung bốn này, và cung phàm ngã là cung năm của tri thức qua phân biện, là Cung, như nó được gọi, của Kiến Thức Cụ Thể hay Khoa Học. Sự hài hòa qua xung đột, và quyền năng đạt được kiến thức thông qua sự lựa chọn phân biện—đây là hai cung hay hai ảnh hưởng chính quét qua toàn thể nhân loại, và thúc đẩy nó tiến về phía định mệnh thiêng liêng của nó. Chúng là những yếu tố tiền định mà con người có thể trông cậy và hoàn toàn dựa vào. Chúng bảo đảm cho sự đạt thành, nhưng đồng thời cũng bảo đảm cho sự xáo trộn và tính nhị nguyên tạm thời. Sự hài hòa — biểu lộ qua vẻ đẹp và quyền năng sáng tạo — chỉ đạt được thông qua chiến đấu, qua căng thẳng và thử thách. Tri thức — để cuối cùng biểu lộ thành minh triết — chỉ có thể đạt được qua nỗi thống khổ của những chọn lựa liên tiếp được đặt ra. Chính những điều này, khi được đưa ra trước trí tuệ phân biện trong suốt tiến trình của kinh nghiệm sống, rốt cuộc tạo nên ý thức về các giá trị chân thực, tầm nhìn về lý tưởng, và năng lực phân biệt thực tại ẩn sau lớp ảo cảm chen giữa.
Students of esotericism will, of course, bear in mind that [344] the fourth ray has a natural relation to the fourth kingdom in nature, which is in turn the lowest manifestation of the fourth creative Hierarchy. This unification of the three major results of the activity of a great Life might be enumerated thus:
Dĩ nhiên, các đạo sinh huyền bí học sẽ ghi nhớ rằng [344] cung bốn có một mối quan hệ tự nhiên với giới thứ tư trong tự nhiên, mà đến lượt nó là sự biểu lộ thấp nhất của Huyền Giai sáng tạo thứ tư. Sự thống nhất này của ba kết quả chính từ hoạt động của Sự Sống vĩ đại có thể được liệt kê như sau:
1. The ray power or life which tends ever towards harmony and an eventual beauty, the fourth ray.
1. Quyền năng hay sự sống cung luôn hướng tới sự hài hòa và một vẻ đẹp cuối cùng, cung bốn.
2. The creative hierarchy of human monads, who (little as they may realise it) have already attained wisdom and are veritably at this time the divine sons of God.
2. Huyền giai sáng tạo của các chân thần nhân loại, những người (dù họ có thể ít nhận ra điều đó) thực sự đã đạt được minh triết và thực sự vào lúc này là những người con thiêng liêng của Thượng đế.
3. The fourth kingdom in nature which is the result of the evolutionary activity of the above, who are in their turn impelled to this activity by the fourth ray.
3. Giới thứ tư trong tự nhiên vốn là kết quả của hoạt động tiến hóa của huyền giai trên, đến lượt họ lại được thúc đẩy đến hoạt động này bởi cung bốn.
This is essentially the true apostolic succession, for it provides a triple line of directed energy. This produces the human manifestation on the fourth globe of our Earth chain, and in this fourth round is responsible for the tremendous crisis with which our present humanity is confronted. The conflict aspect of the process is at its height, nay, has passed its height, from the angle of physical plane expression. This situation and this triple influence, producing the manifestation of the sons of God, is summed up for us in the terse words of the Old Commentary—terse, when we remember that they express the long agony of humanity’s test, and the opening to man of the door into the fifth kingdom of spiritual being. They include therefore, in their meaning, his goal and objective and the process whereby he attains:
Đây cơ bản là sự kế thừa tông đồ thực sự, vì nó cung cấp một dòng năng lượng tam phân được định hướng. Điều này tạo ra sự biểu lộ của con người trên bầu hành tinh thứ tư của dãy Địa Cầu chúng ta, và trong cuộc tuần hoàn thứ tư này chịu trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng to lớn mà nhân loại hiện nay của chúng ta đang phải đối mặt. Khía cạnh xung đột của tiến trình đang ở đỉnh điểm, không, đã qua đỉnh điểm, từ góc độ của biểu hiện cõi hồng trần. Tình huống này và ảnh hưởng tam phân này, tạo ra sự biểu lộ của các con của Thượng đế, được tóm tắt cho chúng ta trong những lời ngắn gọn của Cổ Luận—ngắn gọn, khi chúng ta nhớ rằng chúng diễn tả cơn đau đớn dài dằng dặc của sự thử thách nhân loại, và sự khai mở cho con người cánh cửa vào giới thứ năm của bản thể tinh thần. Do đó, chúng bao gồm, trong ý nghĩa của chúng, mục tiêu và mục đích của y và tiến trình nhờ đó y đạt được:
“The Holy Four descend from out the heavenly places and venture forth towards the sphere of Earth. From the fourth great plane they thus control the battle.
“Bốn Thánh Linh giáng xuống từ các cõi trời và mạo hiểm đi về phía quả cầu Trái Đất. Từ cõi lớn thứ tư, họ kiểm soát trận chiến.
“The Lord of Harmony, Who sits on high, pours all His life and force throughout the field of conflict. He sees the end from the beginning nor stays His hand though deep [345] and full the pain and agony. Peace must be the goal. Beauty must be achieved. He cannot then arrest the life and stop its flow.
“Đức Chúa Tể của Sự Hài Hòa, Đấng ngự trên cao, tuôn đổ toàn bộ sự sống và mãnh lực của Ngài khắp chiến trường. Ngài nhìn thấy kết thúc ngay từ khi bắt đầu và không dừng tay dù nỗi đau và sự thống khổ sâu [345] và đầy. Hòa bình phải là mục tiêu. Cái đẹp phải đạt được. Khi đó Ngài không thể bắt giữ sự sống và ngăn dòng chảy của nó.
“The Middle Four, rested now from the earlier campaign, gird on their armour and hide themselves behind the outer form. They leave the fourth great sphere of harmony and pass on to the plane of mind. There they fortify the temple of the Lord, illumine it with light and glory, and then they turn their eyes towards the Earth.
“Bốn Ở Giữa, giờ đây đã nghỉ ngơi sau chiến dịch trước, nai nịt áo giáp và ẩn mình đằng sau hình tướng bên ngoài. Họ rời khỏi cõi lớn thứ tư của sự hài hòa và đi vào cõi trí. Ở đó họ củng cố ngôi đền của Đấng Chúa Tể, soi sáng nó bằng ánh sáng và vinh quang, và rồi họ hướng mắt về phía Trái Đất.
“The Lower Four take form between the lives that are not human and the three groups of lives which dwell beneath the threshold. They seek to link and blend, to bridge and fuse. Mankind now lives. The higher and the middle four meet in the lower four upon the fourth great globe.
“Bốn Thấp lấy hình tướng giữa những sự sống không phải là con người và ba nhóm sự sống cư ngụ bên dưới ngưỡng cửa. Họ tìm cách liên kết và hòa quyện, bắt cầu và dung hợp. Nhân loại giờ đây đang sống. Bốn cao và bốn giữa gặp nhau trong bốn thấp trên bầu hành tinh lớn thứ tư.
“The battle now proceeds. When the three groups of manifested fours can see each other in the light, and later blend their forces, the goal will be achieved.
“Trận chiến bây giờ tiếp diễn. Khi ba nhóm của những bộ bốn đã biểu lộ có thể nhìn thấy nhau trong ánh sáng, và sau đó hòa quyện các mãnh lực của họ, mục tiêu sẽ đạt được.
“In the fourth globe of action and in the major cycle of the fourth expression will this fusion be completed. The lower four, merged in the middle four, will leave the triple world of conflict, and find their dwelling place, whilst in the form, within the fourth sphere whence came forth the higher governing four. Thus will the government be established; the glory seen; the rule of the hierarchy demonstrated.
“Trong bầu hành tinh hành động thứ tư và trong chu kỳ chính của biểu hiện thứ tư, sự dung hợp này sẽ hoàn tất. Bốn thấp, hợp nhất trong bốn giữa, sẽ rời khỏi thế giới xung đột tam phân, và tìm thấy nơi cư ngụ của họ, trong khi vẫn ở trong hình tướng, bên trong cõi thứ tư nơi bốn cao quản trị đã xuất hiện. Như vậy chính quyền sẽ được thiết lập; vinh quang được nhìn thấy; sự cai quản của thánh đoàn được thể hiện.
“In the fourth race (the Atlantean—A.A.B.) the conflict was begun, and consciousness was born. In the fifth race (the Aryan—A.A.B.) the crisis of the battle will be seen, and then the lower four and the middle four will begin to unite their forces. In the sixth race, the dust of battle dies away. The lower four, the middle four and the higher four will chant in unison the glory of their Lord, the beauty of the love of God, the wonder of the brotherhood of man. This is their paean”.
“Trong giống dân thứ tư (Atlantis—A.A.B.) cuộc xung đột đã bắt đầu, và tâm thức đã được sinh ra. Trong giống dân thứ năm (Arya—A.A.B.) cuộc khủng hoảng của trận chiến sẽ được nhìn thấy, và sau đó bốn thấp và bốn giữa sẽ bắt đầu hợp nhất các mãnh lực của họ. Trong giống dân thứ sáu, bụi chiến trường lắng xuống. Bốn thấp, bốn giữa và bốn cao sẽ cùng nhau hát vang vinh quang của Chúa Tể họ, vẻ đẹp của tình thương của Thượng đế, sự kỳ diệu của tình huynh đệ con người. Đây là bài ca chiến thắng của họ”.
Esoterically speaking (and not speaking symbolically, for there is a distinction between these two forms which students would do well to note), when the lines of forces are adjusted and there is free interplay of energies and a straight aligned channel between the various aspects of divinity, then there is achievement and beauty. This is the theme of the [346] above symbolical and ancient formulation of truth, which is in the nature of a symbolical prophecy. The same idea has been expressed in a still more ancient and terse statement which has to be understood and reduced to a mantric formula when the fourth initiation is taken:
Nói một cách huyền bí (và không nói một cách biểu tượng, vì có một sự phân biệt giữa hai hình thức này mà các đạo sinh nên lưu ý kỹ), khi các dòng mãnh lực được điều chỉnh và có sự tác động qua lại tự do của các năng lượng và một kênh thẳng hàng giữa các phương diện khác nhau của thiên tính, thì sẽ có thành tựu và vẻ đẹp. Đây là chủ đề của [346] sự trình bày sự thật mang tính biểu tượng và cổ xưa ở trên, vốn có bản chất của một lời tiên tri mang tính biểu tượng. Cùng một ý tưởng đã được diễn đạt trong một tuyên bố thậm chí còn cổ xưa và ngắn gọn hơn, vốn phải được thấu hiểu và quy về một công thức mật chú khi cuộc điểm đạo thứ tư được thực hiện:
“When the forces of the four, three times repeated, become the four, then the Life of...... reveals Itself in beauty”.
“Khi các lực của bốn, được lặp lại ba lần, trở thành bốn, thì Sự Sống của...... tự tiết lộ trong vẻ đẹp”.
It is interesting to note that the numerical value of the word “four” is the same in detail as that of the word “force”, if you eliminate the number five. For humanity, it is the fifth energy which leads to the battlefield, the energy of the discriminating mind, and when that has been in due time used, controlled and transmuted, “only the four remains and force has gone”. Note the detail of the numbering:
Thật thú vị khi lưu ý rằng giá trị số học của từ “bốn” (four) cũng giống hệt như từ “lực” (force), nếu các bạn loại bỏ số năm. Đối với nhân loại, chính năng lượng thứ năm dẫn đến chiến trường, năng lượng của trí tuệ phân biện, và khi năng lượng đó đã được sử dụng, kiểm soát và chuyển hóa đúng lúc, “chỉ còn lại bốn và mãnh lực đã ra đi”. Hãy lưu ý chi tiết về cách đánh số:
F
O
R
C
E
6
6
9
3
5
29
11.
Number of adept, using energy.
F
O
U
R
6
6
3
9
24
6.
The creator, unifying the subjective and the objective.
It is apparent that force in the first group ends in separativeness, for five is the number of the mind and of man. Number nine, the number of initiation, is hidden midway in force, but the climaxing figures indicate activity and separation. In the second group of figures, activity precedes the nine of initiation, and that nine is the culmination. But five is left out. Man is no longer really human or separative. He is the perfected four of the lower three and the soul. Putting the truth quite simply, let it be borne in mind that mankind, the fourth kingdom, which is an expression of the fourth creative hierarchy of human monads, is swept by the instinct or impulse towards harmony, and is thus primarily under the influence of the fourth ray. This harmony is achieved [347] through the use of the energy of the fifth ray of knowledge. Then through gained and applied knowledge, the result is beauty and the power to create. Then the ray of the fifth Lord will be withdrawn from the major cycle governing humanity, and wisdom and intuitional buddhic response will characterise humanity. There is a close interplay in this major cycle, as far as mankind is concerned, between the two ray Lords of Harmony and of Knowledge. It is again in this numerical relation of four and five that the number nine emerges, which is the number of initiation. An adept of the fifth initiation is one who has achieved complete harmony through right knowledge. This takes place at the fourth initiation and is demonstrated or proven at the fifth.
Rõ ràng là mãnh lực trong nhóm đầu tiên kết thúc bằng sự chia rẽ, vì năm là con số của trí tuệ và của con người. Số chín, con số của điểm đạo, được giấu ở giữa lực, nhưng các con số cực điểm chỉ ra hoạt động và sự chia rẽ. Trong nhóm số thứ hai, hoạt động đi trước số chín của điểm đạo, và số chín đó là đỉnh điểm. Nhưng số năm bị bỏ ra ngoài. Con người không còn thực sự là con người phàm tục hay có tính chia rẽ nữa. Y là con số bốn hoàn thiện của ba thể thấp và linh hồn. Nói sự thật một cách khá đơn giản, hãy ghi nhớ rằng nhân loại, giới thứ tư, vốn là một biểu hiện của huyền giai sáng tạo thứ tư của các chân thần nhân loại, bị quét bởi bản năng hay xung lực hướng tới sự hài hòa, và do đó chủ yếu nằm dưới ảnh hưởng của cung bốn. Sự hài hòa này đạt được [347] thông qua việc sử dụng năng lượng của cung năm về kiến thức. Sau đó, thông qua kiến thức đã đạt được và áp dụng, kết quả là vẻ đẹp và quyền năng sáng tạo. Khi đó cung của Chúa Tể thứ năm sẽ được rút khỏi chu kỳ chính chi phối nhân loại, và minh triết cùng sự đáp ứng bồ đề trực giác sẽ đặc trưng cho nhân loại. Có một sự tác động qua lại chặt chẽ trong chu kỳ chính này, xét về phía nhân loại, giữa hai Chúa Tể cung của Sự Hài Hòa và của Kiến Thức. Một lần nữa, chính trong mối quan hệ số học của bốn và năm này mà số chín xuất hiện, đó là con số của điểm đạo. Một chân sư của lần điểm đạo thứ năm là người đã đạt được sự hài hòa hoàn toàn thông qua kiến thức đúng đắn. Điều này diễn ra ở lần điểm đạo thứ tư và được chứng minh hay xác nhận ở lần điểm đạo thứ năm.
A close study of the tabulations of the rays affecting humanity will have made it clear that they are so many and so diverse that the complexity of the subject is very great. There are numerous influences which tend to make man what he is, and of many of them little is as yet known. In the early stages of his development, it is well-nigh impossible for any one (except an initiate) to deal with the various phases or even to recognise the indications of humanity’s reactions to these rays. But as mankind evolves, and as the form aspect becomes increasingly a better and finer response apparatus and a more plastic sensitive reflector of the inner man, definition and analysis become easier. Types emerge with greater clarity in their delineations, and the ray qualities begin to dominate. The impress of the controlling rays can be more clearly noted and the point in evolution can be more accurately realised.
Một nghiên cứu kỹ lưỡng về các bảng liệt kê các cung ảnh hưởng đến nhân loại sẽ làm rõ rằng chúng quá nhiều và quá đa dạng đến nỗi sự phức tạp của chủ đề là rất lớn. Có vô số ảnh hưởng có xu hướng tạo nên con người như y là, và người ta vẫn chưa biết nhiều về nhiều điều trong số đó. Trong các giai đoạn đầu phát triển của y, gần như không thể đối với bất kỳ ai (trừ một điểm đạo đồ) để giải quyết các giai đoạn khác nhau hoặc thậm chí nhận ra các dấu hiệu về phản ứng của nhân loại đối với các cung này. Nhưng khi nhân loại tiến hóa, và khi phương diện hình tướng ngày càng trở thành một bộ máy đáp ứng tốt hơn và tinh vi hơn và một tấm phản chiếu nhạy cảm dẻo dai hơn của con người bên trong, thì việc định nghĩa và phân tích trở nên dễ dàng hơn. Các loại hình xuất hiện với sự rõ ràng hơn trong các phác họa của chúng, và các phẩm tính cung bắt đầu thống trị. Dấu ấn của các cung kiểm soát có thể được ghi nhận rõ ràng hơn và điểm tiến hóa có thể được nhận ra chính xác hơn.
We have now to consider the rays which dominate the races of mankind. The average reader would be wise to take the position that for him, at least, the information hitherto [348] given, and that which concerns the racial, national and cyclic rays, provide an interesting hypothesis which can be intelligently accepted until disproven. This knowledge must necessarily remain hypothetical for several life periods, where the average student is concerned. When, however, we come to the consideration of the final three points of this section of our treatise, it may be possible to check the information, to correlate the ray types, and to discover (by a study of the potencies involved) their emerging characteristics and ray forces.
Bây giờ chúng ta phải xem xét các cung chi phối các chủng tộc của nhân loại. Người đọc trung bình sẽ khôn ngoan nếu giữ lập trường rằng đối với y, ít nhất, thông tin cho đến nay [348] được đưa ra, và thông tin liên quan đến các cung chủng tộc, quốc gia và chu kỳ, cung cấp một giả thuyết thú vị có thể được chấp nhận một cách thông minh cho đến khi bị bác bỏ. Kiến thức này nhất thiết phải vẫn là giả thuyết trong một vài giai đoạn sống, xét về phía người đạo sinh trung bình. Tuy nhiên, khi chúng ta đi đến việc xem xét ba điểm cuối cùng của phần này của luận thuyết, có thể sẽ khả thi để kiểm tra thông tin, tương quan các loại hình cung, và khám phá (bằng cách nghiên cứu các tiềm lực liên quan) các đặc điểm và lực cung đang xuất hiện của chúng.
By the proving therefore of the human detail, we lay the ground for the acceptance of the cosmic, solar and planetary knowledge. What is proven true on the small scale opens the door for the understanding of that which exists on a larger scale. “Man, know thyself” is a potent key to the knowledge of Deity and to the workings of divinity
Do đó, bằng cách chứng minh chi tiết về con người, chúng ta đặt nền tảng cho việc chấp nhận kiến thức vũ trụ, thái dương và hành tinh. Những gì được chứng minh là đúng trên quy mô nhỏ khai mở cánh cửa cho sự thấu hiểu những gì tồn tại trên quy mô lớn hơn. “Con người, hãy tự biết mình” là một chìa khóa đầy quyền năng dẫn đến kiến thức về Thượng đế và sự vận hành của thiên tính.
4. The Racial Rays—Các Cung Chủng Tộc
The reader needs to remember that three rays are occultly quiescent and four rays are in varying degrees of activity. Let us recapitulate for a moment so that this thought may be clearly anchored in our minds:
Người đọc cần ghi nhớ rằng ba cung đang ở trạng thái yên lặng về mặt huyền linh, và bốn cung đang hoạt động ở những mức độ khác nhau. Chúng ta hãy dành một chút để nhắc lại, hầu cho ý tưởng này được neo giữ rõ ràng trong thể trí của chúng ta:
Rays one, four and six are at this time out of manifestation, though ray six began to decline in influence only three hundred years ago, and its potency, though greatly weakened, can still be felt.
Các cung một, bốn và sáu hiện nay đang ngoài biểu lộ, mặc dù cung sáu chỉ mới bắt đầu suy giảm ảnh hưởng cách đây ba trăm năm, và quyền năng của nó, dù đã suy yếu rất nhiều, vẫn còn có thể được cảm nhận.
Rays two, three, five and seven are still potent. The following statement may give some idea of the relative “values” of these ray influences.
Các cung hai, ba, năm và bảy vẫn đang mạnh mẽ. Phát biểu sau đây có thể giúp hình dung phần nào những “giá trị” tương đối của các ảnh hưởng cung này.
Ray three has been the longest in incarnation, but in 1875 it occultly “completed its outgoing, and began to curve upon itself, and thus return”. It is therefore just beginning to wane. When this event occurs in connection with any type [349] of energy, the effect produced is always of a crystallising nature and is apt to produce “set forms which warrant prompt destruction”. This causes mental conditions of a set and static nature. The inference is therefore clear that in the later stages of this ray’s activity we have the demonstration of those dogmatic, sectarian and theological attitudes, for instance, which mark the decline and consequent uselessness of the various schools of thought which have in their time embodied man’s ideas and sufficed for his helping during the period of their growth.
Cung ba đã ở trong trạng thái nhập thế lâu nhất, nhưng vào năm 1875, nó đã hoàn tất một cách huyền linh tiến trình “đi ra” của mình và bắt đầu uốn cong trở lại chính nó, để rồi quay về. Do đó, hiện nay nó chỉ mới bắt đầu suy giảm. Khi biến cố này xảy ra liên quan đến bất kỳ loại năng lượng nào [349], hiệu quả tạo ra luôn mang tính kết tinh và thường dẫn đến việc hình thành những “hình tướng cố định cần được phá huỷ kịp thời”. Điều này gây nên các trạng thái thể trí mang tính cố kết và bất động. Vì thế, có thể suy ra một cách rõ ràng rằng trong các giai đoạn cuối của hoạt động cung này, chúng ta thấy sự biểu hiện chẳng hạn của những thái độ giáo điều, bè phái và thần học, vốn là những đặc điểm đánh dấu sự suy tàn và hệ quả là sự vô dụng của các trường phái tư tưởng khác nhau, vốn trong thời kỳ của mình đã từng thể hiện các ý tưởng của nhân loại và đã từng đủ sức trợ giúp con người trong suốt giai đoạn tăng trưởng của chúng.
Ray two has a rapidly recurring cycle. This is due to its excessive potency. Being the major ray of our solar system (of which all the other rays are but aspects), it might be said that this ray is really never out of incarnation. There are nevertheless constant cycles of waxing and waning potency, produced by the interplay of the rays which produce what is called in the ancient archives “the intrusion of one or another of the seven Brothers Who block the door from whence the force emerges”, and “the disappearance of that radiant Brother Who passes on His way and leaves behind an open door through which another Brother can pass upon His mission preordained.” The symbolism is clear. The cycles of the second ray are dynamic and recur in a regular rhythm at this time and during the twenty-five thousand years of a zodiacal cycle in sequences of five hundred years. Therefore in 1825 the potency of this ray began to decline as the peak of its two hundred fifty years emergence was reached. It was the gradual withdrawal of this ray which led to that growth of separativeness in the world which produced the European wars and the great World War. This ray will continue declining for another one hundred forty years. This does not necessarily mean the growth of physical violence and the prevalence of war. Humanity is now so much more responsive [350] to ray influences that the watching Hierarchy (through egoic stimulation and the sensitivity of certain nations to the inner guidance) can offset the more obvious major effects. This will give an interesting side light upon the vast importance of these cyclic happenings.
Cung hai có một chu kỳ lặp lại nhanh chóng. Điều này là do tiềm lực quá mức của nó. Là cung chính của hệ mặt trời chúng ta (trong đó tất cả các cung khác chỉ là các khía cạnh), có thể nói rằng cung này thực sự không bao giờ không lâm phàm. Tuy nhiên, vẫn có những chu kỳ liên tục của tiềm lực mạnh dần và yếu dần, được tạo ra bởi sự tác động qua lại của các cung vốn tạo ra cái được gọi trong các văn khố cổ xưa là “sự xâm nhập của một hay một người khác trong bảy Anh Em, Những Người chặn cánh cửa từ đó mãnh lực xuất hiện”, và “sự biến mất của người Anh Em rạng ngời Đó, Người tiếp tục con đường của Mình và để lại phía sau một cánh cửa mở qua đó một người Anh Em khác có thể đi qua trong sứ mệnh đã được định trước của Mình.” Biểu tượng này rất rõ ràng. Các chu kỳ của cung hai rất năng động và lặp lại theo một nhịp điệu đều đặn vào thời điểm này và trong suốt hai mươi lăm nghìn năm của một chu kỳ hoàng đạo theo các trình tự năm trăm năm. Do đó vào năm 1825, tiềm lực của cung này bắt đầu suy giảm khi đỉnh điểm của sự xuất hiện hai trăm năm mươi năm của nó đã đạt được. Chính sự rút lui dần dần của cung này đã dẫn đến sự phát triển của tính chia rẽ trên thế giới vốn tạo ra các cuộc chiến tranh châu Âu và cuộc Chiến tranh Thế giới vĩ đại. Cung này sẽ tiếp tục suy giảm trong một trăm bốn mươi năm nữa. Điều này không nhất thiết có nghĩa là sự phát triển của bạo lực vật chất và sự phổ biến của chiến tranh. Nhân loại giờ đây đáp ứng nhiều hơn [350] với các ảnh hưởng cung đến nỗi Thánh Đoàn đang theo dõi (thông qua sự kích thích của chân ngã và sự nhạy cảm của một số quốc gia đối với sự hướng dẫn bên trong) có thể hóa giải các hiệu ứng chính rõ ràng hơn. Điều này sẽ đưa ra một khía cạnh thú vị về tầm quan trọng to lớn của những sự kiện chu kỳ này.
Ray five is the latest of the rays to come into activity and is only in process of “coming forth to power.” It is steadily increasing in potency, and the result of its influence will be to guide humanity into increasing knowledge. Its energy beats upon the minds of men at this time and produces that stimulation which lies behind all the scientific approach to truth in all departments of human thought. Being also the ray which governs the personality aspect of the fourth kingdom in nature, and being one of the rays determining or conditioning our Aryan race, its present potency is excessive. This is a point to be remembered with care, for it accounts for much that we can see happening in the world of thought.
Cung năm là cung mới nhất đi vào hoạt động và chỉ đang trong quá trình “tiến tới quyền lực.” Nó đang đều đặn gia tăng quyền năng, và kết quả ảnh hưởng của nó sẽ là hướng dẫn nhân loại vào kiến thức ngày càng tăng. Năng lượng của nó vội vào tâm trí của con người vào lúc này và tạo ra sự kích thích nằm đằng sau tất cả các tiếp cận khoa học đối với chân lý trong mọi lĩnh vực tư tưởng của con người. Vì nó cũng là cung chi phối phương diện phàm ngã của giới thứ tư trong tự nhiên, và là một trong những cung xác định hay quy định giống dân Arya của chúng ta, tiềm lực hiện tại của nó là quá mức. Đây là một điểm cần được ghi nhớ cẩn thận, vì nó giải thích cho nhiều điều mà chúng ta có thể thấy đang xảy ra trong thế giới tư tưởng.
Ray seven is also in manifestation, and has been since the year 1675. This we shall consider in more detail when we take up our fifth point: The Rays in Cyclic Manifestation.
Cung bảy cũng đang biểu hiện, và đã biểu hiện từ năm 1675. Điều này chúng ta sẽ xem xét chi tiết hơn khi chúng ta đề cập đến điểm thứ năm của chúng ta: Các Cung trong Biểu Hiện Chu Kỳ.
The interplay, therefore, and the beauty of the blended energies are at this time great, for so many rays are either manifesting simultaneously or are just passing out and are therefore not entirely negligible; or are hovering near at hand ready to pass into the stage of revelation and so continue their cyclic work. Only one ray is today really out of manifestation altogether and functioning entirely behind the scenes, and that is the first ray. Where humanity is concerned, the first ray makes its presence felt, and its potency dominates, when the stage of accepted discipleship is reached. It increases in power as progress on the Path is gained. Thus there is beginning to be gathered on the subjective side of life a steadily growing group of those who can function under [351] the influence of this first ray. When enough of the sons of men can thus function, their united responsiveness will constitute a channel through which this first ray can come into manifestation. This is one of the main activities and objectives of the Hierarchy, and in the right understanding of the result of the responsiveness of humanity to the ray influences shall we arrive at the recognition of a law in nature hitherto undiscovered. This particular law is connected with the department of the Governor of the world, the Manu.
Do đó, sự tác động qua lại, và vẻ đẹp của các năng lượng được hòa quyện vào lúc này là rất lớn, vì quá nhiều cung hoặc đang biểu hiện đồng thời hoặc vừa mới đi ra và do đó không hoàn toàn không đáng kể; hoặc đang lơ lửng gần đó sẵn sàng đi vào giai đoạn mặc khải và tiếp tục công việc chu kỳ của chúng. Chỉ có một cung ngày nay thực sự hoàn toàn không biểu hiện và hoạt động hoàn toàn ở hậu trường, và đó là cung một. Đối với nhân loại, cung một làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy, và tiềm lực của nó thống trị, khi giai đoạn đệ tử được chấp nhận đã đạt tới. Nó gia tăng quyền năng khi sự tiến bộ trên Đường Đạo đạt được. Vì vậy, đang bắt đầu tập hợp ở phía bên trong của cuộc sống một nhóm ngày càng tăng đều đặn những người có thể hoạt động dưới [351] ảnh hưởng của cung một này. Khi đủ số lượng các con của nhân loại có thể hoạt động như vậy, sự đáp ứng hợp nhất của họ sẽ cấu thành một kênh qua đó cung một này có thể đi vào biểu hiện. Đây là một trong những hoạt động và mục tiêu chính của Thánh Đoàn, và trong sự thấu hiểu đúng đắn về kết quả của sự đáp ứng của nhân loại đối với các ảnh hưởng cung, chúng ta sẽ đi đến việc nhận ra một định luật trong tự nhiên cho đến nay chưa được khám phá. Định luật cụ thể này có liên quan đến bộ phận của Đấng Cai Quản thế giới, Đức Manu.
It might be of interest here to note that ray six governs the Path of Probation and nourishes the fires of idealism in the aspirant.
Có lẽ sẽ thú vị khi lưu ý ở đây rằng cung sáu chi phối Con Đường Dự Bị và nuôi dưỡng ngọn lửa lý tưởng trong người chí nguyện.
Ray two governs the Path of Discipleship and transmutes knowledge into wisdom, feeding likewise the Christ life in each disciple.
Cung hai chi phối Con Đường Đệ Tử và chuyển hóa kiến thức thành minh triết, đồng thời nuôi dưỡng sự sống Christ trong mỗi đệ tử.
Ray one governs the Path of Initiation, producing detachment from form, the destruction of all that hinders, and fostering that dynamic will in the initiate which will enable him to take the needed steps towards the Initiator.
Cung một chi phối Con Đường Điểm Đạo, tạo ra sự tách rời khỏi hình tướng, sự phá hủy tất cả những gì cản trở, và nuôi dưỡng ý chí năng động đó trong điểm đạo đồ vốn sẽ cho phép y thực hiện các bước cần thiết về phía Đấng Điểm Đạo.
It should here be noted that the rays divide themselves into two groups, i.e.:
Cần lưu ý ở đây rằng các cung tự chia thành hai nhóm, tức là: