← How Theosophy Came To Me

She Knew Arabic—Bà Biết Tiếng Ả Rập

She Knew Arabic—Bà Biết Tiếng Ả Rập

Madame Blavatsky understood Arabic, and she used to amuse us greatly by translating for our benefit the private remarks which were being made by the grave and dignified Arab merchants, as they sat talking to one another in the bazaar. After they had for some time been calling us Christian dogs, and speaking disrespectfully of our female relatives for many generations, she blandly asked them in their own language whether they thought that was the way in which a good son of the Prophet should speak of those from whom he hoped to gain much in the way of business. The men were always covered with confusion, not having expected that any European could possibly understand them.

Bà Blavatsky hiểu tiếng Ả Rập, và Bà thường khiến chúng tôi vô cùng thích thú bằng cách dịch cho chúng tôi nghe những lời nhận xét riêng tư của các thương gia Ả Rập trịnh trọng, đạo mạo khi họ ngồi chuyện trò với nhau trong khu chợ. Sau một lúc họ gọi chúng tôi là bọn chó Kitô giáo, và buông lời bất kính về các nữ quyến của chúng tôi từ bao đời, Bà điềm tĩnh hỏi họ bằng chính ngôn ngữ của họ rằng liệu đó có phải là cách mà một người con tốt của Đấng Tiên tri nên nói về những kẻ mà y hy vọng sẽ kiếm chác được nhiều lợi lộc làm ăn chăng. Bọn họ lúc nào cũng đỏ mặt tía tai vì xấu hổ, vì không ngờ có người châu Âu nào hiểu được họ.

Arabic, however, seems to have been the only Oriental language with which she was acquainted; she did not know Sanskrit, and many of the difficulties of our Theosophical terminology arise from the fact that in those days she would describe what she saw or knew, and then ask any Indian who happened to be near what was the Sanskrit name for it. Very often the gentleman who provided her with the term had not clearly understood what she meant; and even when he did, we must remember that she asked adherents of different schools of philosophy, and that each answered according to the shade of meaning applied to the term in his teaching.

Tuy vậy, tiếng Ả Rập có vẻ là ngôn ngữ phương Đông duy nhất mà Bà thông thạo; Bà không biết tiếng Sanskrit, và nhiều khó khăn trong thuật ngữ Thông Thiên Học của chúng ta phát sinh từ việc thời ấy Bà mô tả những gì Bà thấy hoặc biết, rồi hỏi bất cứ người Ấn nào tình cờ ở gần đó rằng tiếng Sanskrit gọi nó là gì. Nhiều khi vị quý ông cung cấp thuật ngữ ấy chưa thật hiểu rõ điều Bà muốn nói; và ngay cả khi hiểu, chúng ta cần nhớ rằng Bà hỏi những tín đồ của các trường triết học khác nhau, và mỗi người trả lời theo sắc thái nghĩa của thuật ngữ trong giáo học của họ.

Phenomena—Hiện Tượng

Many curious phenomena were constantly taking place around her at this period. First, she was herself the most striking of all the phenomena, for her changes were protean. Sometimes the Masters Themselves used her body, and wrote or spoke directly through her. At other times when her ego was elsewhere engaged, one or other of two pupils of lower degree than herself would take the body, and there were even certain occasions when another woman used to be in charge—I think a Tibetan. I have myself frequently seen all these changes take place, and I have seen the new man who entered the body looking round to discover the condition of affairs into which he had come—trying to take up the thread of a conversation, for example. Yet with all this, she was in no sense of the word like an ordinary medium, for the true owner of the body stood more or less within reach all the time in full consciousness, and thoroughly understood what was going on.

Nhiều hiện tượng lạ lùng liên tục xảy ra quanh Bà vào thời kỳ này. Trước hết, tự thân Bà là hiện tượng ấn tượng nhất, vì sự biến hóa của Bà muôn hình vạn trạng. Đôi khi chính các Chân sư dùng thân xác của Bà, và viết hay nói trực tiếp qua Bà. Lúc khác, khi chân ngã của Bà bận bịu nơi khác, một trong hai vị đệ tử có đẳng cấp thấp hơn Bà sẽ nhập vào thân, và thậm chí có những lúc một người phụ nữ khác nắm quyền điều khiển—tôi nghĩ là một người Tây Tạng. Bản thân tôi đã nhiều lần thấy tất cả những sự chuyển đổi này diễn ra, và tôi đã thấy người mới bước vào thể xác nhìn quanh để dò xem tình trạng sự vụ mà y vừa bước vào—chẳng hạn cố tiếp nối mạch câu chuyện đang nói. Tuy vậy, với tất cả những điều đó, Bà không hề giống một đồng tử theo nghĩa thông thường, vì chủ nhân đích thực của thể xác vẫn ở đâu đó trong tầm gần suốt thời gian ấy với đầy đủ tâm thức, và hoàn toàn hiểu rõ điều gì đang diễn ra.

These amazing changes led sometimes to the most extraordinary complications. The chela who was suddenly called in to occupy the body was of course ignorant of what had been said a few minutes before, and so was occasionally betrayed into what seemed bare-faced contradictions. I remember a story told to me later by a member of the Avenue Road household, which gives a good illustration of the difficulties we had to encounter. The narrator was a man of some legal experience, and was consequently usually deputed to act as representative of the household, or of Madame Blavatsky, when there was any business to be done with the lawyers.

Những biến đổi kinh ngạc này đôi khi dẫn đến những rắc rối khác thường nhất. Vị đệ tử bị gọi đến nhập thân đột ngột dĩ nhiên không hay biết những gì mới được nói vài phút trước đó, nên đôi khi lỡ miệng thành những điều nghe như trắng trợn mâu thuẫn. Tôi nhớ một câu chuyện sau này được một thành viên trong gia đình ở Avenue Road kể lại, nêu một minh họa hay về những khó khăn chúng tôi từng gặp. Người kể là một ông có ít nhiều kinh nghiệm pháp lý, nên thường được ủy nhiệm làm đại diện cho gia đình, hoặc cho Bà Blavatsky, khi có việc cần làm với luật sư.

A Characteristic Experience—Một Trải Nghiệm Tiêu Biểu

On a certain day some such business arose; I do not know its precise nature, but it involved the signing by Madame Blavatsky of several documents. Our member laid these documents before her, and endeavoured with a true legal sense of responsibility to explain them to her, but she did not seem to comprehend at all clearly, and indeed pushed the papers aside somewhat impatiently. Having, as he supposed, obtained all the necessary signatures, he withdrew and was about to start on his journey to the city; but, finding the weather colder than he expected, he decided to wear an overcoat, and ran upstairs to his room to fetch it.

Một ngày nọ phát sinh một công việc như thế; tôi không rõ chính xác tính chất của nó, nhưng nó đòi hỏi Bà Blavatsky phải ký vài văn kiện. Vị hội viên của chúng tôi đặt những văn kiện ấy trước mặt Bà, và cố gắng, với ý thức trách nhiệm nghề luật chân chính, giải thích cho Bà, nhưng Bà dường như chẳng hiểu cho thật rõ, thậm chí hơi sốt ruột đẩy xấp giấy sang bên. Nghĩ rằng mình đã lấy đủ các chữ ký cần thiết, ông lui ra và sắp khởi hành vào thành phố; nhưng vì thấy thời tiết lạnh hơn dự liệu, ông quyết định mặc áo choàng, và chạy lên phòng mình lấy.

Changing his papers from one pocket to another, he ran through them mechanically to see that all were there, and fortunately noticed that one of them was unsigned; so on his way downstairs he entered Madame Blavatsky’s room once more, saying:

Chuyển các giấy tờ từ túi này sang túi khác, ông lướt qua chúng một cách máy móc để xem có đủ cả không, và may mắn phát hiện một tờ chưa ký; thế là trên đường xuống lầu, ông lại bước vào phòng Bà Blavatsky, nói:

“O, H. P. B., here is one of these papers which I have overlooked; will you please sign it?”

“Ô, H.P.B., đây là một trong những giấy tờ tôi đã bỏ sót; Bà vui lòng ký giúp chứ?”

“What papers?” demanded Madame Blavatsky.

“Giấy tờ gì?” Bà Blavatsky hỏi.

“Only one more of those which you signed a few minutes ago.”

“Chỉ thêm một tờ trong số những tờ Bà đã ký cách đây vài phút.”

“What do you mean? I have signed no papers,” she returned indignantly.

“Anh muốn nói gì? Tôi chưa ký giấy tờ nào cả,” Bà đáp, giận dữ.

“But, H. P. B., here they are!” protested the mystified member; and he spread them out before her.

“Nhưng, H.P.B., chúng đây này!” vị hội viên bối rối kêu lên; và ông bày chúng trước mặt Bà.

“O, I see!” she said, apparently mollified; “but what is their purport?”

“À, tôi hiểu rồi!” Bà nói, có vẻ dịu lại; “nhưng nội dung chúng là gì?”

Our friend repeated his explanations; and not only were they fully understood this time, but this Madame Blavatsky was a better man of business than he was, and asked him questions which he was unable to answer!

Bạn chúng tôi lặp lại phần giải thích; và lần này không chỉ được hiểu tường tận, mà lần này Bà Blavatsky còn là một người rành việc hơn cả ông, và hỏi những câu mà ông không trả lời được!

No wonder that strangers did not always quite grasp the situation!

Chẳng lạ gì người ngoài không phải lúc nào cũng nắm bắt nổi tình huống!

I remember an occasion on which she bought in the scent-bazaar at Cairo a tiny bottle of attar of roses, for use in the shrine-room at Adyar, paying £2 for it. When we were sitting at lunch in the hotel half-an-hour afterwards, at a small table reserved for our party in an alcove, two English sovereigns fell out of space upon the table, and Madame Blavatsky explained that she had been told that she ought not to spend money upon Them in this way, as we should need every shilling that we had before we reached Adyar—a statement which certainly proved true.

Tôi nhớ có lần Bà mua ở khu chợ hương liệu tại Cairo một lọ nhỏ attar hoa hồng, để dùng trong phòng thờ ở Adyar, với giá 2 bảng. Khi chúng tôi đang ngồi ăn trưa ở khách sạn nửa giờ sau đó, tại một bàn nhỏ dành riêng cho nhóm chúng tôi trong một hốc tường, hai đồng vàng Anh rơi từ không trung xuống bàn, và Bà Blavatsky giải thích rằng Bà được bảo là không nên tiêu tiền cho Các Ngài theo cách ấy, vì chúng tôi sẽ cần từng đồng nhỏ trước khi đến Adyar—một lời khẳng định quả thật đã thành sự thật.

At one time and another I have seen a good many of the phenomena which were so closely associated with Madame Blavatsky. I have seen her precipitate drawings and writings, and I have also seen her find a missing object by occult power. On several occasions I have seen letters fall out of the air in her presence; and I must also state that I have seen such a letter fall at the Headquarters at Adyar when she was six thousand miles away in England, and again that I myself have several times had the privilege of being employed by the Master to deliver just such letters after her departure from the physical plane.

Đôi lúc này khác tôi đã chứng kiến khá nhiều hiện tượng vốn gắn bó mật thiết với Bà Blavatsky. Tôi đã thấy Bà ngưng tụ tranh vẽ và bút tích, và tôi cũng thấy Bà tìm được một vật thất lạc bằng quyền năng huyền bí. Nhiều lần tôi đã thấy những bức thư rơi ra từ không trung khi có mặt Bà; và tôi cũng phải nói rằng tôi đã thấy một bức thư như thế rơi xuống tại Tổng hành dinh ở Adyar khi Bà đang ở tận Anh, cách đó sáu nghìn dặm, và thêm nữa chính tôi đã vài lần có vinh dự được Chân sư giao phó mang những bức thư như thế, sau khi Bà đã rời cõi hồng trần.

In those early days of the Society messages and instructions from the Masters were frequent, and we lived at a level of splendid enthusiasm which those who have joined since Madame Blavatsky’s death can hardly imagine. Those of us who have had the inestimable privilege of direct touch with the Masters have naturally retained that enthusiasm, but it is not easy for us, whose powers are so much less than hers, fully to impart it to newer members. I have sometimes wondered, however, how many of our present-day members would have found themselves able to endure the somewhat severe but remarkably effective training through which she put her pupils; I can testify to certain radical changes which her drastic methods produced in me in a very short space of time—also to the fact that they have been permanent!

Trong những ngày đầu của Hội, các thông điệp và chỉ dẫn từ các Chân sư đến khá thường xuyên, và chúng tôi sống trong một mức độ hứng khởi tuyệt vời mà những ai gia nhập sau khi Bà Blavatsky qua đời khó mà hình dung. Những người trong chúng tôi đã có đặc ân vô giá là được tiếp xúc trực tiếp với các Chân sư tự nhiên vẫn giữ trọn nhiệt huyết ấy, nhưng đối với chúng tôi—những kẻ tài lực kém xa Bà—thì không dễ truyền đạt vẹn toàn điều đó cho các hội viên mới. Dẫu vậy đôi lúc tôi tự hỏi có bao nhiêu hội viên ngày nay của chúng ta đủ sức chịu đựng sự rèn luyện khá nghiêm khắc nhưng kỳ cùng hiệu nghiệm mà Bà dành cho học trò; tôi có thể làm chứng về những biến đổi căn bản mà các phương pháp quyết liệt của Bà đã tạo ra nơi tôi trong một khoảng thời gian rất ngắn—và cũng xin xác nhận rằng chúng đã bền vững!

When I came into her hands I was just an ordinary lawn-tennis-playing curate—well-meaning and conscientious, I believe, but incredibly shy and retiring, with all the average Englishman’s horror of making himself conspicuous in any way or occupying a ridiculous position. After a few weeks of her treatment I had reached a stage in which I was absolutely hardened to ridicule, and did not care in the slightest degree what anybody thought of me. I mean that quite literally; it was not that I had learnt to endure disapproval stoically, in spite of internal anguish, but that I actually did not care what people thought or said of me, and indeed never considered that matter at all. And I have never cared since! I admit that her methods were drastic and distinctly unpleasant at the time, but there was no question as to their effectiveness.

Khi đến với Bà, tôi chỉ là một cha phó chơi quần vợt sân cỏ bình thường—tôi tin là thiện chí và có lương tâm, nhưng nhút nhát và rút lui khó tin, với tất cả nỗi khiếp sợ điển hình của người Anh trước việc tự làm mình nổi bật theo bất cứ cách nào hay lâm vào một tình thế lố bịch. Sau vài tuần được Bà rèn luyện, tôi đã đạt đến một giai đoạn thản nhiên tuyệt đối trước mọi lời chế giễu, và chẳng mảy may bận tâm người khác nghĩ gì về mình. Tôi nói điều đó theo nghĩa đen; không phải tôi đã học cách chịu đựng sự bất đồng một cách kiên cường dù đau đớn trong lòng, mà là tôi thực sự không bận tâm người ta nghĩ hay nói gì về mình, và thực tình chẳng bao giờ để tâm đến chuyện đó. Và từ đó đến nay tôi cũng chẳng bận tâm! Tôi thừa nhận phương pháp của Bà quyết liệt và quả thật khó chịu vào lúc đó, nhưng hiệu quả của chúng thì không phải bàn cãi.

Apart from the great Masters of Wisdom, I have never known any person from whom power so visibly radiated. Clever she certainly was; not a scholar in the ordinary sense of the word, yet, as I have already said, possessed of apparently inexhaustible stores of unusual knowledge on all sorts of out-of-the-way unexpected subjects. She was an indefatigable worker from early in the morning until late at night, and she expected everyone around her to share her enthusiasm and her marvellous endurance. She was always ready to sacrifice herself—and, for the matter of that, others also—for the sake of the cause, of the great work upon which she was engaged. Utter devotion to her Master and to His work was the dominant note of her life, and though now she wears a different body, that note still sounds out unchanged, and if she should ever be directed to come forth from her retirement and to take charge once more of the Society which she founded, we shall find it ringing in our ears as a clarion to call around her old friends and new, so that through all the ages that work shall still go on.

Ngoài các Chân sư Minh Triết ra, tôi chưa từng biết ai mà quyền năng lại hiển lộ rõ rệt đến thế. Bà chắc chắn là thông tuệ; không phải là học giả theo nghĩa thông thường, nhưng như tôi đã nói, Bà dường như sở hữu kho tàng tri thức bất tận về đủ loại đề tài lạ lùng và bất ngờ. Bà là người làm việc không biết mệt, từ sớm đến khuya, và Bà mong mọi người quanh Bà san sẻ nhiệt huyết và sức bền phi thường của Bà. Bà luôn sẵn lòng hy sinh bản thân—và, nói cho cùng, cả người khác nữa—vì sự nghiệp, vì đại công trình mà Bà đang đảm trách. Lòng tận hiến trọn vẹn cho vị Chân sư của mình và cho Công việc của Ngài là chủ âm đời Bà; và dù nay Bà khoác một thân xác khác, chủ âm ấy vẫn vang lên bất biến, và nếu một ngày nào Bà được chỉ dạy bước ra khỏi ẩn cư và một lần nữa đảm trách Hội mà Bà đã sáng lập, chúng ta sẽ thấy âm điệu ấy vang rền bên tai như tiếng kèn hiệu, triệu tập quanh Bà cả bạn cũ lẫn mới, để qua mọi thời đại công việc ấy vẫn tiếp tục.

CHAPTER VII—CHƯƠNG VII

Our Voyage to India—Chuyến Hải Hành đến Ấn Độ

Our interesting stay in Cairo was brought to an end by the news that our steamer, the British India s.s. Navarino, was due at Port Said on a certain date. Thither I was despatched as a kind of avant-courier, to make arrangements in advance for some special comforts for Madame Blavatsky who, with the rest of our little party, wished to avoid the canal, to have an extra day in Cairo, and to embark at Suez. This small errand I duly accomplished, and I think our Leader was fairly well satisfied with the accommodation provided, though of course it fell far short of the luxury of the larger modern vessels.

Cuộc lưu lại thú vị ở Cairo của chúng tôi kết thúc khi có tin chiếc tàu của hãng British India, tàu hơi nước Navarino, sẽ cập bến Port Said vào một ngày đã định. Tôi được phái đến đó như một thứ tiền trạm, để thu xếp trước vài tiện nghi đặc biệt cho Bà Blavatsky, người—cũng như những thành viên khác trong nhóm nhỏ của chúng tôi—muốn tránh đi qua kênh đào, ở lại Cairo thêm một ngày, và sẽ lên tàu tại Suez. Sứ mệnh nhỏ này tôi đã hoàn tất chu đáo, và tôi nghĩ vị Lãnh đạo của chúng tôi cũng khá hài lòng với chỗ ăn ở được thu xếp, dù dĩ nhiên nó còn kém xa sự tiện nghi của những con tàu lớn hiện đại.

We had a full complement of passengers, and I suppose that both they and the officers were about the average crowd that one expects to meet on board an Eastern-bound boat. The Captain was perhaps a trifle unusual, for he was a very religious man, narrow and puritanical, and he not unnaturally regarded Madame with a stern disapproval which seemed strongly tinged with horror. His attitude towards our party was one of icy reserve, and during the whole voyage none of us exchanged more than a very few words with him. His officers, however, were more amenable, and I remember that Mrs. Oakley, who was an indefatigable propagandist, made friends with the third mate, Mr. Wadge, and succeeded in interesting him in Theosophy to some small extent, at any rate sufficiently to induce him to read one or two books, to attend one of our meetings at Adyar, and I think to correspond with her later.

Tàu chở đủ khách, và tôi cho rằng cả họ lẫn các sĩ quan đều thuộc hạng trung bình như người ta trông đợi trên một chuyến tàu hướng Đông. Vị Thuyền trưởng có lẽ hơi khác thường một chút, vì ông là người rất mộ đạo, khắc khổ và thanh giáo, và tự nhiên ông nhìn Bà với sự bất đồng nghiêm khắc pha lẫn vẻ kinh hãi. Thái độ của ông đối với nhóm chúng tôi là một sự dè dặt lạnh lùng, và suốt cả chuyến đi không ai trong chúng tôi nói với ông hơn vài câu. Tuy vậy, các sĩ quan dưới quyền dễ gần hơn, và tôi nhớ Bà Oakley, một người vận động không mệt mỏi, đã kết bạn với sĩ quan boong thứ ba, Ông Wadge, và khiến ông ít nhiều quan tâm đến Thông Thiên Học—ít nhất đủ để ông chịu đọc dăm ba cuốn sách, dự một buổi họp của chúng tôi ở Adyar, và tôi nghĩ sau đó còn thư từ với Bà.

Among the passengers were several missionaries, and they, with one exception, seemed distinctly disposed to regard us as emissaries of the Prince of Darkness. The exception was a young Wesleyan minister named Restorick, with whom I used to play deck-tennis; I found him quite friendly and reasonable, and willing to discuss without acrimony all kinds of religious matters. A very different type was an earnest but quite uneducated missionary from America, named Daniel Smith, who made no secret of the fact that he had been a bricklayer, but found the hard work and the exposure too severe for his health, and so, as he put it, the Lord had called him to preach the gospel to the heathen.

Trong đám hành khách có vài nhà truyền giáo, và họ—trừ một người—rõ ràng có xu hướng xem chúng tôi như phái viên của Chúa tể Bóng tối. Ngoại lệ là một mục sư Wesley trẻ tên Restorick, người mà tôi thường chơi quần vợt trên boong cùng; tôi thấy ông khá thân thiện và hợp lẽ, sẵn sàng bàn luận đủ chuyện tôn giáo mà không gay gắt. Một hạng người rất khác là một nhà truyền giáo sốt sắng nhưng hoàn toàn thất học đến từ Mỹ, tên Daniel Smith, người chẳng giấu giếm việc ông từng là thợ nề, nhưng lao lực nặng nhọc và dãi nắng dầm mưa quá sức đã khiến sức khỏe ông sa sút, nên, như ông nói, Chúa đã gọi ông đi rao giảng phúc âm cho dân ngoại.

Perhaps because of his ignorance, he was apt to be aggressive, and used frequently to engage in arguments with Madame Blavatsky which were a source of great amusement to the passengers. I am afraid that our Leader took a kind of impish pleasure in entangling him in his talk and inducing him to commit himself to the most impossible theological statements. She knew the Bible far better than he did, and would constantly quote unexpected and little-known texts which drew from him the indignant protest: “That’s not in the Bible! I’m sure that’s not in the Bible!”

Có lẽ vì sự thiếu học vấn, ông hay tỏ ra công kích, và thường gây gổ tranh luận với Bà Blavatsky, điều vốn là nguồn giải trí lớn cho hành khách. Tôi e rằng vị Lãnh đạo của chúng tôi lấy làm thích thú đôi chút một cách tinh quái khi dẫn dụ ông rối lời và tự đẩy mình vào những tuyên bố thần học hoàn toàn bất khả chấp nhận. Bà thuộc Kinh Thánh rành hơn ông nhiều, và thường trích những đoạn kinh bất ngờ và ít người biết đến, khiến ông phải tức tối phản đối: “Cái đó không có trong Kinh Thánh! Tôi chắc là không có trong Kinh Thánh!”

Then Madame Blavatsky would turn to me with deadly composure:

Rồi Bà Blavatsky quay sang tôi với một vẻ bình thản lạnh lùng:

“Leadbeater, fetch my Bible from my cabin!” and would proceed to confound him with chapter and verse. Once he was so ill-advised as to rejoin: “Well, anyhow, I’m sure it’s not in my copy!” But the ripple of amusement which ran round among the audience warned him to avoid such a rash assertion in the future.

“Leadbeater, lấy hộ tôi cuốn Kinh Thánh từ phòng tôi!” và rồi sẽ tiếp tục làm ông bối rối bằng chương và câu. Có lần ông dại dột đáp lại: “Vâng, dẫu sao thì tôi chắc là nó không có trong bản của tôi đâu!” Nhưng làn sóng thích thú lan khắp khán giả khiến ông hiểu rằng về sau phải tránh đưa ra một lời khẳng định liều lĩnh như thế.

As we were crossing the Indian Ocean I remember walking the deck with Madame Blavatsky early one morning in all the glory of a tropical sunrise, when this worthy missionary appeared at the top of the staircase, and she at once hailed him with the words:

Khi chúng tôi đang vượt qua Ấn Độ Dương, tôi nhớ buổi sớm nọ tôi đi dạo trên boong tàu với Bà Blavatsky giữa toàn vẹn rực rỡ của bình minh miền nhiệt đới, thì vị giáo sĩ đáng kính này xuất hiện trên đỉnh cầu thang, và Bà liền gọi ông bằng những lời:

“Now, Mr. Smith! Look round you! See the calm shining sea, and the lovely colours! See how good your God is! Surely on such a glorious morning as this you can’t tell me that I am going to be burnt in hell for ever and ever!”

“Này, Ông Smith! Hãy nhìn quanh đi! Hãy xem mặt biển yên ả lấp lánh, và những sắc màu diễm lệ! Thấy Thượng đế của ông tốt lành dường nào chưa! Chắc hẳn trong buổi sớm huy hoàng như thế này ông không thể nói với tôi rằng tôi sẽ bị thiêu trong địa ngục đời đời kiếp kiếp đâu chứ!”

I must do the Rev. Daniel the justice to admit that he blushed deeply and looked very uncomfortable, but he stuck manfully to his guns, and replied with an evident effort:

Công bằng mà nói, tôi phải thừa nhận Mục sư Daniel đỏ mặt thắm và trông rất bối rối, nhưng ông vẫn kiên cường giữ vững lập trường, đáp lại với một nỗ lực hiển nhiên:

“Well, I’m very sorry, ma’am, but I guess you will!”

“Rất tiếc, thưa bà, nhưng tôi đoán là Bà sẽ như vậy!”

Naturally Madame Blavatsky’s brilliant and powerful personality impressed itself upon the whole company, officers and passengers alike (always excepting the Captain) and whenever she chose to show herself upon deck in good weather she speedily gathered round her a kind of court of interested auditors, who asked her questions upon all sorts of subjects, and listened fascinated to her stories of experience and adventure in out-of-the-way corners of the world. At night especially they asked always for tales of the weird and supernatural, which she told so well and with such gruesome realism that her audience shuddered with delightful thrills of horror—but I noticed that they had a distinct tendency to herd together afterwards, and that none would adventure into a dark passage alone!

Tự nhiên phàm ngã rực rỡ và đầy uy lực của Bà Blavatsky đã gây ấn tượng mạnh lên toàn bộ hành khách và sĩ quan (luôn trừ vị Thuyền trưởng), và bất cứ khi nào Bà muốn xuất hiện trên boong vào lúc thời tiết tốt, Bà liền nhanh chóng quy tụ quanh mình một kiểu tuỳ tùng gồm những người nghe đầy hứng thú, họ đặt câu hỏi cho Bà về đủ thứ đề tài, và say sưa lắng nghe những câu chuyện trải nghiệm và phiêu lưu của Bà nơi những xó xỉnh hẻo lánh của thế giới. Đặc biệt là ban đêm, họ luôn xin nghe những câu chuyện kỳ dị và siêu nhiên, mà Bà kể rất hay và với một sự chân thực rùng rợn đến mức khán giả Bà rùng mình thích thú vì nỗi kinh hoàng—nhưng tôi nhận ra rằng sau đó họ có xu hướng rõ rệt tụm lại với nhau, và chẳng ai dám một mình mạo hiểm bước vào một hành lang tối!

The Navarino was not exactly an ocean greyhound, but at long last we reached Colombo, where Colonel Olcott met us and introduced me to the leading members of the Buddhist Theosophical Society there. It was a previous generation of workers, and I suppose hardly any of the Sinhalese gentlemen who were prominent among us then are still upholding the Society’s flag on the physical plane. I remember especially the old Mohandiram (an important city official), Mr. William de Abrew (father of the well-known Mr. Peter de Abrew, who has worked so loyally for us for so many years), Mr. Don Carolis of Mutwal, Mr. J. R. de Silva (whom for some reason the Colonel always nick-named the Doctor, though that was not his profession), Mr. C. P. Gunawardana (then the Secretary of our Colombo Branch), Mr. N. S. Fernando, Mr. Wijiasekara, Mr. Hendrik de Silva, and others whose names elude me now, though their faces are still clear in my mind’s eye. After all, it is forty-six years ago, more than half of a long life-time!

Chiếc Navarino không hẳn là một con tàu tốc hành giữa đại dương, nhưng sau cùng chúng tôi cũng tới Colombo, nơi Đại tá Olcott ra đón và giới thiệu tôi với các thành viên lãnh đạo của Hội Phật giáo Thông Thiên Học tại đó. Đó là một thế hệ những người hoạt động đi trước, và tôi cho rằng hầu như không vị quý ông người Tích Lan nào từng nổi bật giữa chúng tôi khi ấy còn đang giữ ngọn cờ của Hội trên cõi hồng trần. Tôi nhớ đặc biệt vị Mohandiram già (một quan chức thành phố quan trọng), Ông William de Abrew (thân phụ của Ông Peter de Abrew nổi tiếng, người đã trung thành phụng sự chúng ta suốt bao năm), Ông Don Carolis của Mutwal, Ông J. R. de Silva (vì lý do nào đó Đại tá luôn đặt biệt danh cho ông là “Bác sĩ”, dù đó không phải nghề nghiệp của ông), Ông C. P. Gunawardana (khi ấy là Thư ký của Chi bộ Colombo của chúng ta), Ông N. S. Fernando, Ông Wijiasekara, Ông Hendrik de Silva, và những người khác mà giờ đây tên tuổi đã vuột khỏi trí nhớ tôi, dù dung nhan họ vẫn còn rõ mồn một trong con mắt tâm trí của tôi. Suy cho cùng, ấy là bốn mươi sáu năm về trước, hơn nửa một đời người dài lâu!

I Become a Buddhist—Tôi Trở Thành Một Phật Tử

Most important of all, I was presented to the great Buddhist leader and scholar, Hikkaduwe Sumangala Thero, High Priest of The Peak and of Galle, and Principal of the Widyodaya Monks’ College at Maradana—the most learned and highly respected of the leaders of the Southern Church of Buddhism.

Quan trọng nhất là tôi được giới thiệu với nhà lãnh đạo và học giả Phật giáo vĩ đại, Hikkaduwe Sumangala Thero, Thượng tế của The Peak và của Galle, và là Hiệu trưởng Trường Tăng Widyodaya ở Maradana—vị học giả uyên bác nhất và được kính trọng nhất trong các nhà lãnh đạo của Giáo hội Nam truyền Phật giáo.

On an earlier visit to the lovely island of Ceylon, both Colonel Olcott and Madame Blavatsky had made public profession of the Buddhist faith and been formally received into that religion; and now Madame Blavatsky asked me whether I was willing to follow their example in that respect. She strongly impressed upon me that if I took that step it must be entirely of my own motion and on my own responsibility, and that she had no wish to persuade me in the matter; but she thought that, as I was a Christian Priest, the open acceptance of a great Oriental religion would go far to convince both Hindus and Buddhists of my bona fides, and would enable me to be far more useful in working among them for our Masters.

Trong một chuyến thăm trước đó tới hòn đảo Ceylon xinh đẹp, cả Đại tá Olcott và Bà Blavatsky đã công khai tuyên xưng đức tin Phật giáo và chính thức được tiếp nhận vào tôn giáo ấy; và giờ đây Bà Blavatsky hỏi tôi liệu tôi có sẵn lòng noi gương các vị về phương diện đó chăng. Bà nhấn mạnh với tôi rằng nếu tôi thực hiện bước này thì phải hoàn toàn do tự tâm tôi thúc đẩy và trên trách nhiệm của chính tôi, và Bà không hề có ý thuyết phục tôi trong việc này; nhưng Bà nghĩ rằng, vì tôi là một Linh mục Kitô giáo, việc công khai chấp nhận một tôn giáo phương Đông vĩ đại sẽ giúp thuyết phục cả người Ấn giáo lẫn Phật tử về thiện chí của tôi, và sẽ khiến tôi có thể hữu ích hơn nhiều khi làm việc giữa họ cho các Chân sư của chúng ta.

I replied that I felt the very greatest reverence for the Lord Buddha and whole-heartedly accepted His teaching, and that I should feel it a great honour to enrol myself among His followers if I could do so without abjuring the Christian faith into which I had been baptized. She assured me that no such repudiation would be asked of me, and that there was no incompatibility between Buddhism and true Christianity, though no enlightened Buddhist would be likely to credit the crude theological dogmas which were usually preached by the missionaries. Buddhism, she said, was not a question of creed, but of life; I was not asked to accept any article of faith, but to try to live according to the precepts of the Lord.

Tôi đáp rằng tôi cảm kính vô cùng đối với Đức Phật và hết lòng chấp nhận Giáo pháp của Ngài, và tôi sẽ lấy làm vinh hạnh lớn lao khi được ghi tên vào hàng môn đồ của Ngài nếu có thể làm vậy mà không phải từ bỏ đức tin Kitô giáo trong đó tôi đã chịu phép rửa. Bà bảo đảm với tôi rằng sẽ không ai đòi hỏi tôi phải phủ nhận như thế, và rằng không có gì bất tương hợp giữa Phật giáo và Kitô giáo chân chính, dù không một Phật tử sáng suốt nào có khả năng tin vào những giáo điều thần học thô sơ thường được các nhà truyền giáo rao giảng. Phật giáo, Bà nói, không phải là vấn đề tín điều, mà là đời sống; người ta không yêu cầu tôi chấp nhận bất kỳ điều khoản tín lý nào, mà là thử sống theo các giới ngôn của Đức Thế Tôn.

To this I was of course entirely agreeable, so it was arranged that I should be presented to the High Priest for admission.

Điều này dĩ nhiên tôi hoàn toàn tán đồng, nên đã sắp đặt để tôi được trình diện Thượng tế xin thọ quy.

That very title of High Priest is something of a misnomer, though it was universally employed among us in speaking of Sumangala. In strict accuracy some such title as Chief Abbot would come nearer to the truth. There is in reality nothing like a Priesthood in Buddhism; there is no sacrifice to be offered, no public service to be led. The Brethren of the Yellow Robe, who are so picturesque a feature in the life of all Buddhist countries, are best described as monks, and the nearest that they come to leading a public service is when they “give pansil”, as it is called, to such of their people as ask for it; that is to say, they recite in Pali the sacred formula of the Three Refuges and the Five Precepts, by which all Buddhists are supposed to govern their lives, and the people obediently repeat the pledges which are dictated to them.

Chính danh hiệu “Thượng tế” ấy phần nào là một danh xưng dùng sai, dù nó được chúng tôi sử dụng phổ biến khi nói về Sumangala. Nói cho thật chính xác thì một danh xưng nào đó như “Trưởng viện” có lẽ gần với sự thật hơn. Thực ra trong Phật giáo không có gì giống như một chức vị Tư tế; không có hy lễ để dâng, không có nghi lễ công cộng để chủ tọa. Chư huynh đệ Áo Vàng, một nét chấm phá nên thơ trong đời sống của mọi quốc gia Phật giáo, thích hợp nhất là được gọi là các vị tu sĩ, và gần nhất với việc chủ trì một nghi lễ công cộng là khi họ “ban pansil”, như người ta gọi, cho những ai trong dân chúng xin thọ; nghĩa là họ tụng đọc bằng tiếng Pali công thức thiêng liêng của Ba Sự Quy Y và Năm Giới, theo đó mọi Phật tử được cho là điều hòa đời sống của mình, và tín đồ ngoan ngoãn lặp lại những lời nguyện được đọc cho họ.

It is the recitation of this very same formula which constitutes the solemn admission to the Buddhist religion; it was this, therefore, that I had to repeat after the High Priest that day in the garden of his College. It is straightforward and simple, but far-reaching. We may say that it opens with an ascription of praise to the Lord Buddha:

Chính sự tụng đọc công thức ấy là nghi lễ tiếp nhận trọng thể vào tôn giáo Phật giáo; do đó, hôm ấy trong khu vườn của trường, tôi đã phải đọc theo Thượng tế. Công thức ấy trực chỉ và giản dị, nhưng tầm vóc sâu rộng. Có thể nói nó mở đầu bằng lời tán dương Đức Phật:

I reverence the Blessed One, the Holy One, the Perfect in Wisdom.

Con kính lễ Đấng Chân Phúc, Đấng Thánh, Đấng Toàn hảo trong Minh triết.

The Three Refuges—Ba Sự Quy Y

This is repeated thrice, and then follows the Tisarana—commonly rendered “The Three Refuges”. That expression is however not an exact equivalent of the Pali word, which seems to mean much more nearly “a guide”. The nearest that we can come in English to the true meaning of this declaration is:

Lời ấy được lặp lại ba lần, rồi tiếp theo là Tisarana —thường được dịch là “Ba Sự Quy Y”. Tuy nhiên, cách gọi ấy không phải là tương đương chính xác với từ Pali, vốn có vẻ gần nghĩa “một bậc hướng đạo” hơn nhiều. Cách diễn đạt gần nhất bằng tiếng Anh với ý nghĩa chân thực của lời tuyên ngôn này là:

I take the Lord Buddha as my guide.

Con nhận Đức Phật làm bậc hướng đạo của con.

I take His Law as my guide.

Con nhận Pháp của Ngài làm bậc hướng đạo của con.

I take His Order as my guide.

Con nhận Tăng đoàn của Ngài làm bậc hướng đạo của con.

The word Dhamma (Sanskrit Dharma) which is usually translated “law”, really bears a much wider signification than that English term. It is not in the least a law or series of commandments ordained by the Lord Buddha; it is His statement of the universal laws under which the Universe exists, and consequently of the duties of men as part of that mighty scheme. It is in this sense that the expressions quoted above are employed by the Buddhist. In pronouncing the Tisarana he expresses his acceptance of Lord Buddha as his guide and teacher; his adherence to the doctrine which the Buddha taught and his recognition of the great order of Buddhist monks as the practised interpreters of the meaning of that doctrine.

Từ Dhamma (Sanskrit Dharma) thường được dịch là “luật”, thật ra bao hàm một ý nghĩa rộng hơn từ ngữ ấy trong tiếng Anh rất nhiều. Nó tuyệt nhiên không phải là một luật hay chuỗi điều răn do Đức Phật ban xuống; đó là lời Ngài trình bày về các định luật phổ quát dưới đó Vũ trụ tồn tại, và do đó là về bổn phận của con người như một phần của đại đồ án ấy. Theo nghĩa đó mà người Phật tử dùng các cách diễn đạt nói trên. Khi phát ngôn Tisarana, người Phật tử bày tỏ việc mình chấp nhận Đức Phật như bậc hướng đạo và bậc thầy; việc mình gắn bó với giáo pháp mà Đức Phật đã dạy, và việc mình công nhận Tăng đoàn Phật giáo vĩ đại như những vị diễn giải thuần thục ý nghĩa của giáo pháp ấy.

This does not in the least imply the acceptance of the interpretation of any particular monk, but only that of the Order in the most catholic sense; he believes that interpretation to be accurate which is held by the entire Brotherhood in all places and at all times—thus closely approximating to the great Catholic declaration that that only should be believed which has been accepted semper, ubique et ab omnibus—always, everywhere and by everyone. But it would seem that in some cases at least a much wider connotation is attached to this idea of the Brotherhood, so that it is taken to include not only the Order as now existing on the physical plane, but the whole Order from the beginning, corresponding to the Christian theory of the Communion of Saints—perhaps even to the Great White Brotherhood itself.

Điều này tuyệt nhiên không hàm ý chấp nhận cách giải thích của một vị sư cụ thể nào, mà chỉ là của Tăng đoàn theo nghĩa phổ quát nhất; người Phật tử tin rằng cách giải thích là chuẩn xác khi nó được toàn thể Tăng-già nắm giữ ở mọi nơi và mọi thời—nhờ vậy mà gần như tương ứng với tuyên ngôn Công giáo vĩ đại rằng chỉ nên tin điều gì đã được chấp nhận semper, ubique et ab omnibus —luôn luôn, ở khắp nơi và bởi mọi người. Nhưng dường như ít nhất trong một số trường hợp, một hàm nghĩa rộng hơn nhiều được gắn cho ý niệm về Tăng đoàn này, đến mức nó được hiểu là bao gồm không chỉ Tăng đoàn như hiện hữu trên cõi hồng trần ngày nay, mà còn toàn thể Tăng đoàn từ thuở ban đầu, tương ứng với thuyết Kitô giáo về Sự Hiệp thông của các Thánh—có lẽ thậm chí đến chính Huynh đệ Đoàn Chánh đạo.

The Five Precepts—Năm Giới

Following immediately upon this declaration the Pancha Sila, commonly called “The Five Precepts”, are recited. Again “precepts” is hardly the right word, although it is a possible translation of sila; “pledges” comes much nearer the fact, though hardly permissible as a translation. These are often compared to the Ten Commandments of Judaism; but in reality they differ greatly in character and, though fewer in number, are much more comprehensive. They are as follows:

Ngay sau lời tuyên ngôn này, Pancha Sila, thường gọi là “Năm Giới”, được tụng đọc. Một lần nữa “giới” (precepts) cũng chưa hẳn là từ chính xác, dù là một dịch thuật có thể chấp nhận của sila; “lời nguyện” (pledges) có vẻ sát hơn thực tế, dù khó chấp nhận như một dịch thuật. Những giới này thường được so với Mười Điều Răn của Do Thái giáo; nhưng thực ra chúng khác biệt rất nhiều về tính chất và, tuy ít điều hơn, lại bao quát rộng hơn. Như sau:

(1) I observe the precept to refrain from destruction of life.

(1) Tôi giữ giới tránh sát sinh.

(2) I observe the precept to refrain from taking that which is not mine.

(2) Tôi giữ giới tránh lấy những gì không thuộc về mình.

(3) I observe the precept to refrain from unlawful sexual intercourse.

(3) Tôi giữ giới tránh hành dâm bất hợp pháp.

(4) I observe the precept to refrain from falsehood.

(4) Tôi giữ giới tránh nói dối.

(5) I observe the precept to refrain from using intoxicating liquors or stupefying drugs.

(5) Tôi giữ giới tránh dùng rượu men hay các chất ma túy gây mê.

It can hardly fail to strike the intelligent person that, as Colonel Olcott writes:

Hẳn người thông tuệ khó mà không nhận ra, như Đại tá Olcott viết:

One who observes these strictly must escape from every cause productive of human misery, for if we study history we shall find that it has all sprung from one or another of these causes. The far-seeing wisdom of the Lord Buddha is most plainly shown in the first, third, and fifth, for the taking of life, sensuality and the use of intoxicants cause at least ninety-five per cent of the suffering among men.

Ai giữ nghiêm các giới này ắt sẽ thoát khỏi mọi nhân gây ra khổ lụy cho con người, vì nếu ta nghiên cứu lịch sử sẽ thấy mọi nỗi khổ đều phát sinh từ một hay một số trong các nguyên nhân này. Minh triết thấu suốt của Đức Phật được biểu lộ rõ ràng nhất trong giới thứ nhất, thứ ba và thứ năm, vì sát sinh, dâm dục và dùng chất say gây ít nhất chín mươi lăm phần trăm sự đau khổ của nhân loại.

It is interesting to notice how each of these precepts goes further than the corresponding Jewish commandment. Instead of being told to do no murder, we find ourselves enjoined to take no life whatever; instead of being commanded not to steal, we have the more far-reaching precept not to take that which does not belong to us, which would obviously cover the acceptance of praise not honestly due to us, and many another case quite outside of what is commonly called stealing. It will be observed also that the third of these precepts includes a great deal more than the seventh of the commandments of Moses, forbidding not only one particular type of unlawful intercourse, but all types. Instead of being forbidden to bear false witness in a court of law, we are enjoined to avoid falsehood altogether. I have often thought what a.good thing it would have been for all these European countries which have taken up the teachings of Christ if the legendary Moses had included in his decalogue the fifth of the Buddhist precepts—the instruction to touch no intoxicating liquor nor stupefying drugs. How much simpler would be all our essential problems if that commandment were observed in England and America as it is observed in Buddhist countries!

Thú vị khi nhận thấy mỗi giới này đều đi xa hơn điều răn tương ứng của Do Thái giáo. Thay vì được bảo đừng sát nhân, ta thấy mình được khuyên đừng sát sinh dưới bất kỳ hình thức nào; thay vì bị cấm trộm cắp, ta có một giới rộng hơn là không lấy thứ không thuộc về ta, điều hiển nhiên bao gồm cả việc nhận sự tán dương không chính đáng dành cho ta, và nhiều trường hợp khác nằm ngoài điều vẫn thường gọi là ăn cắp. Cũng sẽ thấy rằng giới thứ ba bao gồm nhiều điều hơn điều răn thứ bảy của Môsê, không chỉ cấm một kiểu giao hợp bất chính cụ thể, mà là mọi kiểu. Thay vì bị cấm làm chứng dối trước tòa, ta được khuyên tránh hẳn mọi điều gian dối. Tôi thường nghĩ rằng thật là điều tốt đẹp biết bao cho các quốc gia châu Âu đã tiếp nhận những lời dạy của Đức Christ nếu Môsê trong truyền thuyết đã đưa vào thập điều răn của mình giới thứ năm của Phật giáo—lời dạy không đụng đến rượu men hay các chất ma túy gây mê. Biết bao vấn đề cốt yếu của chúng ta sẽ đơn giản hơn nếu điều răn ấy được giữ ở Anh và Mỹ như nó được giữ tại các quốc gia Phật giáo!

It is also very characteristic of the Buddhist faith that there is here no commandment “Thou shalt not do this or that”—no order given by a Deity or a teacher, but simply the quiet promise made by each man that he will refrain from certain actions which are obviously undesirable.

Cũng rất đặc trưng cho đức tin Phật giáo rằng ở đây không hề có mệnh lệnh kiểu “Ngươi không được làm điều này điều nọ”—không có lệnh do một Vị Thần hay một vị thầy ban ra, mà chỉ là lời hứa tĩnh lặng của mỗi người rằng mình sẽ tự kiềm chế, không làm những hành vi rõ ràng là bất thiện.

The Chief Abbot Sumangala—Viện chủ Tối cao Sumangala

This, then, as I have said, is the formula which I had to recite after the High Priest Sumangala; and at the same time he gave me a short explanation of it and of what it implied. I remember also that before admitting me he asked me whether I fully understood the religion into which I had been born, pointing out that such birth was not by chance, and that I ought to be sure that I had duly learnt such lessons as it had to teach.

Như tôi đã nói, đó là công thức tôi phải tụng theo sau Thượng tế Sumangala; và đồng thời Ngài cho tôi một lời giải thích ngắn về công thức ấy và những gì nó hàm ý. Tôi cũng nhớ rằng trước khi tiếp nhận tôi, Ngài hỏi liệu tôi có thật sự hiểu tôn giáo mà tôi đã sinh vào hay không, chỉ ra rằng sự sinh vào ấy không phải do ngẫu nhiên, và tôi cần phải chắc rằng mình đã học cho trọn vẹn những bài học mà nó có để dạy.

Even on this occasion of my first introduction to him was much impressed by the nobility, the courtesy and the obvious fairness of the High Priest; one felt at once that one was in the presence of a truly great man. I came to know much more of him later, as I was engaged for some years in educational work in Ceylon; and I always found him erudite, able and kindly, and not without a saving sense of humour.

Ngay trong dịp đầu tiên được diện kiến, tôi đã ấn tượng sâu xa bởi phẩm cách cao quý, cung cách nhã nhặn và sự công chính hiển nhiên của Thượng tế; người ta lập tức cảm nhận mình đang đứng trước một bậc vĩ nhân đích thực. Về sau tôi còn biết nhiều hơn về Ngài, vì trong mấy năm tôi tham gia công tác giáo dục tại Ceylon; và tôi luôn thấy Ngài uyên bác, tài năng, nhân hậu, và không phải không có óc hài hước chừng mực.

Though it does not belong at this stage of my story, but to a period perhaps two years later, I will include at this point a little incident which seemed somewhat characteristic of him. As the Widyodaya College was not very far from what was then the principal railway station in Colombo and well within reach of the stream of sightseers who landed from the great mail steamers, the High-Priest had quite a number of European visitors, and more especially those who were interested in Oriental religions made a point of calling upon him.

Dù chuyện này không thuộc vào đoạn này của câu chuyện, mà thuộc về một thời kỳ sau đó có lẽ chừng hai năm, tôi xin kể vào đây một tích nhỏ có vẻ khá tiêu biểu về Ngài. Vì Trường Widyodaya không xa mấy so với nhà ga xe lửa chính hồi đó ở Colombo và nằm ngay trong tầm đón của dòng du khách cập bến từ các tàu thư lớn, Thượng tế tiếp khá nhiều khách châu Âu, và đặc biệt là những ai quan tâm đến các tôn giáo phương Đông thường cố ý đến thăm Ngài.

I remember, for instance, that on one occasion the Professor of Sanskrit from a great European University appeared on the scene, and Sumangala joyously hailed him with a speech of welcome in Sanskrit, but was much surprised to find that the learned professor could not understand a word of it, since he had apparently never regarded Sanskrit as a spoken language at all! On the other hand when Sir Edwin Arnold came to Colombo he received a princely ovation; and in that case there was no disappointment, for he was not only able to understand and appreciate the loving welcome extended to him, but to reply to it in a long and fluent Sanskrit speech!

Chẳng hạn, tôi nhớ có lần một vị Giáo sư tiếng Phạn từ một Đại học lớn ở châu Âu ghé thăm, và Sumangala hân hoan chào mừng ông bằng một bài diễn từ tiếng Phạn, nhưng rất ngạc nhiên khi thấy vị giáo sư uyên bác ấy không hiểu một chữ, vì xem ra ông ta xưa nay chưa từng coi tiếng Phạn là một ngôn ngữ nói! Ngược lại, khi Ngài Edwin Arnold đến Colombo, ông được đón tiếp trọng thể như bậc vương giả; và lần ấy thì không có thất vọng, vì ông không những hiểu và trân trọng lời chào mừng chan chứa tình thân dành cho mình, mà còn đáp lại bằng một bài diễn văn tiếng Phạn dài và lưu loát!

The special incident to which I have referred was of a slightly different character. In this case the visitor was a French scientist of considerable eminence, who came to see the Chief Abbot perhaps mainly out of curiosity, or perhaps to show courtesy to a learned man of whom he had heard something in Europe. This gentleman spoke with respect of the philosophy of the Lord Buddha, but deplored the fact that He had sometimes made indefensible statements on scientific subjects. The High Priest asked him to give an instance, and the Frenchman quoted an assertion that the earth rested upon water, the water in turn upon air, and the air upon empty space. Sumangala listened most politely, and said that he was of course fully aware of the wonderful discoveries of Western science, and was always very glad to learn anything that he could of them. And then he quite innocently enquired from the scientist what were the latest conclusions on that subject from the European point of view. He said:

Câu chuyện riêng mà tôi nhắc đến thuộc một dạng hơi khác. Trường hợp này vị khách là một nhà khoa học người Pháp khá lừng danh, đến thăm Viện chủ có lẽ chủ yếu vì tò mò, hoặc có lẽ để bày tỏ lễ độ với một bậc học giả mà ông từng nghe nói đến ở châu Âu. Vị này nói với sự tôn trọng về triết lý của Đức Phật, nhưng lấy làm tiếc rằng Ngài đôi khi đã đưa ra những phát biểu không thể bênh vực được về các đề tài khoa học. Thượng tế hỏi ông cho một ví dụ, và người Pháp dẫn ra một mệnh đề cho rằng trái đất đặt trên nước, nước lại đặt trên không khí, và không khí đặt trên khoảng không. Sumangala lắng nghe rất lễ độ, và nói rằng dĩ nhiên Ngài hiểu khá rõ những phát kiến kỳ diệu của khoa học phương Tây, và Ngài luôn rất vui khi có thể học hỏi được điều gì từ chúng. Rồi Ngài rất vô tư hỏi nhà khoa học ấy rằng những kết luận mới nhất của châu Âu về đề tài này là gì. Ngài nói:

“Now, if it were possible for us to bore straight down under our feet as we sit here, clear through to the other side of the earth, what should we find at the other end of that hole?”

“Nào, nếu chúng ta có thể đào thẳng xuống dưới chân mình, xuyên suốt qua phía bên kia của trái đất, thì ở đầu kia của cái hố ấy chúng ta sẽ gặp gì?”

The scientist considered for a few moments, and replied:

Nhà khoa học suy nghĩ vài phút, rồi đáp:

“Calculating roughly, I think we should come out in the Pacific Ocean.”

“Tính sơ bộ, tôi nghĩ chúng ta sẽ chui ra ở Thái Bình Dương.”

“Yes,” said the Chief Abbot with keen interest,

“Phải,” Viện chủ nói với vẻ chăm chú,

“and if we carried on through the ocean, what should we find next?”

“và nếu chúng ta tiếp tục qua đại dương, tiếp theo chúng ta sẽ gặp gì?”

“Well,” said the scientist, “of course we should come out into the atmosphere.”

“Ờ,” nhà khoa học nói, “dĩ nhiên chúng ta sẽ đi ra khí quyển.”

“And if we pushed on through the atmosphere?”

“Và nếu chúng ta đi tiếp qua khí quyển?”

“Well, then naturally we should arrive in interplanetary space.”

“Thế thì tự nhiên chúng ta sẽ tới không gian liên hành tinh.”

“Then,” said Sumangala meekly, “it seems that the conclusions of modern science do not after all differ greatly from those of the Lord Buddha!”

“Vậy,” Sumangala khiêm nhường nói, “có vẻ như những kết luận của khoa học hiện đại rốt cuộc cũng không khác mấy với những điều của Đức Phật!”

Landing at Madras—Đổ bộ tại Madras

After a day or two in Colombo we resumed our voyage on the Navarino, and duly arrived at Madras, to find an uncomfortably heavy swell, which made our landing a distinctly unpleasant and even somewhat hazardous business. A breakwater had been erected some years previously, but had not proved strong enough to resist the seas raised by the monsoon, so that all that was left of it were a few scattered heaps of stone. Consequently we had to be taken off the ship in enormous boats of a very unusual type. The planks of which they were constructed seemed to be not nailed together in the ordinary way, but as it were stitched together with rope, so that there was a curious collapsibility about the sides; and we were told that this method of construction enabled them to resist the impact of the tremendous surf better than if they had been more rigid.

Sau một hai ngày ở Colombo, chúng tôi tiếp tục hải trình trên chiếc Navarino, và đến Madras đúng hạn, gặp phải sóng lừng khó chịu, khiến việc lên bờ trở thành một công việc thật sự khó chịu và thậm chí hơi nguy hiểm. Một đê chắn sóng đã được xây dựng vài năm trước, nhưng không đủ vững để chống chọi với những đợt sóng do gió mùa dấy lên, nên tất cả những gì còn lại chỉ là vài đống đá rải rác. Vì thế chúng tôi phải rời tàu bằng những chiếc thuyền khổng lồ thuộc một kiểu rất khác thường. Các tấm ván cấu thành chúng dường như không được đóng đinh lại theo cách thông thường, mà như thể được khâu lại bằng dây thừng, khiến hai mạn thuyền có một độ đàn hồi kỳ lạ; và người ta cho biết phương pháp đóng thuyền này giúp chúng chịu được va đập của những lớp sóng dữ dội tốt hơn so với khi chúng cứng cáp hơn.

The boats were of great depth, and the rowers with their long paddles perched themselves somehow on the sides, the very gunwale of the boat, while the unfortunate passengers were dumped into the central hollow far below the feet of the rowers, in what would have been the hold of the craft if it had been decked. It will perhaps be understood that to descend into such a craft from a steamer which was rolling heavily in the open roads (for of course there was then nothing like a harbour) required great agility, and was indeed a decidedly dangerous feat, as the boat was sometimes level for a moment with the ship’s bulwarks and directly afterwards twenty or thirty feet below, for the seas were positively mountainous.

Những chiếc thuyền ấy rất sâu, và những người chèo với mái chèo dài ngồi chênh vênh trên mạn, ngay trên mép thuyền, trong khi các hành khách khốn khổ thì bị thả tụt xuống khoảng trũng ở giữa, thấp xa dưới chân người chèo, vào chỗ vốn sẽ là khoang thuyền nếu con thuyền có boong. Có lẽ có thể hình dung rằng việc bước xuống một chiếc thuyền như thế từ một chiếc tàu chở khách đang lắc lư dữ dội giữa vùng neo đậu ngoài khơi (bởi dĩ nhiên khi ấy chưa có gì giống một hải cảng) đòi hỏi sự nhanh nhẹn lớn, và quả là một kỳ công đầy hiểm nguy, vì có lúc thuyền ngang mặt với thành tàu trong chốc lát, rồi ngay sau đó lại tụt xuống thấp hơn hai mươi hay ba mươi bộ, bởi sóng quả là như núi.

One had to jump at exactly the right moment, and one by one most of the passengers achieved it, though with a good deal of trepidation, mostly bundling ungracefully and ignominiously into the bottom of the boat. Obviously gymnastics of this sort were impossible for Madame Blavatsky, and the only alternative was to tie her carefully into a chair, and lower her by means of the ordinary cargo winch. I need hardly say that she did not appreciate this operation, and I think that her language on the occasion rather surprised even the hardened officers. She was, however, lowered and received with perfect safety, and though the process may have appeared undignified, I think some of the rest of us rather envied her.

Người ta phải nhảy đúng khoảnh khắc chuẩn xác, và lần lượt hầu hết hành khách đều làm được, dù đầy lo lắng sợ sệt, phần nhiều thì lồm cồm ngã nhào một cách vụng về và bẽ bàng xuống đáy thuyền. Hiển nhiên những vận động kiểu nhào lộn như thế là bất khả đối với Bà Blavatsky, và lựa chọn duy nhất là buộc Bà cẩn thận vào một chiếc ghế, rồi hạ Bà xuống bằng chiếc tời chở hàng thông dụng. Khỏi phải nói là Bà chẳng hề lấy làm hài lòng với thủ tục này, và tôi nghĩ lời lẽ của Bà khi ấy hẳn đã làm ngay cả các sĩ quan dày dạn nhất cũng phải ngạc nhiên. Tuy vậy, Bà vẫn được hạ xuống và đón nhận một cách tuyệt đối an toàn, và dẫu quá trình ấy có vẻ kém trang nghiêm, tôi nghĩ vài người trong chúng ta cũng khá lấy làm ghen tị với Bà.

Presently we were all safely in the boat, very wet but otherwise uninjured. We have to remember that Madame Blavatsky was returning to India to meet a mass of most wicked and slanderous charges which had been brought against her by the Madras Christian College missionaries, that these so-called missionaries had confidently predicted that she could never return to face these charges, and that consequently the Indian population regarded her as a hero and a martyr, and came down in their thousands to give her such an ovation as might have been accorded to a victorious general.

Chẳng mấy chốc tất cả chúng ta đều yên vị trong thuyền, ướt sũng nhưng ngoài ra không hề hấn gì. Cần nhớ rằng Bà Blavatsky đang trở về Ấn Độ để đối diện một loạt những lời cáo buộc độc ác và vu khống bậc nhất do các nhà truyền giáo của Trường Cao đẳng Cơ Đốc Madras đưa ra chống lại Bà; rằng những “nhà truyền giáo” tự xưng ấy đã quả quyết rằng Bà sẽ không bao giờ có thể trở lại để đối mặt với những lời cáo buộc ấy; và vì thế dân chúng Ấn Độ xem Bà như một nữ anh hùng và một liệt nữ tử đạo, rồi đổ xuống hàng ngàn người để dành cho Bà một cuộc hoan nghênh như có thể dành cho một vị tướng khải hoàn.

Our Reception—Sự Đón Tiếp của Chúng Ta

The students of Pachiappa’s College were taking a very prominent part in the reception, apparently as a demonstration against the rival Madras Christian College; and it may have been they who were responsible for the appearance of a band of performers upon various weird Indian musical instruments, mostly, so far as I can remember, of the flute or flageolet order, though there were also some drums. Whoever was in charge of the proceedings made the fatal mistake of sending this band out to the ship in that terrible masuli boat, and as they were tossing about for at least twenty minutes in that boat in a very heavy sea while arrangements were being made to put Madame Blavatsky and other passengers on board, they were absolutely prostrate with sea-sickness, and instead of receiving our Leader with joyous strains as her chair swung down, they were simply lying groaning and helpless in the bottom of the boat.

Các sinh viên của Trường Pachiappa giữ vai trò rất nổi bật trong buổi đón tiếp, hiển nhiên như một cuộc biểu dương chống lại đối thủ là Trường Cao đẳng Cơ Đốc Madras; và có lẽ chính họ là những người chịu trách nhiệm mời một ban nhạc sử dụng đủ loại nhạc cụ Ấn Độ kỳ lạ xuất hiện, phần lớn, theo như tôi nhớ, là loại sáo hay ống sáo nhỏ, tuy cũng có một vài trống. Người phụ trách buổi lễ đã phạm sai lầm chí tử là cho ban nhạc này ra tàu bằng chiếc thuyền masuli khủng khiếp ấy, và vì họ phải chao đảo ít nhất hai mươi phút trên con thuyền ấy giữa biển động rất mạnh trong lúc đang thu xếp để đưa Bà Blavatsky và các hành khách khác lên bờ, họ đã kiệt quệ hoàn toàn vì say sóng; thay vì đón chào Thủ lĩnh của chúng ta bằng những âm điệu rộn rã khi chiếc ghế của Bà đu đưa hạ xuống, họ chỉ còn nằm rên rỉ, bất lực ở đáy thuyền.

We were brought alongside a pier on which we landed only with very great difficulty—in fact, some members of the band had to be lifted on shore by their friends. Along that pier ran a tramway-line, and there was a single and rather primitive car, which under ordinary circumstances was drawn by a horse; but about a dozen of the most enthusiastic students had harnessed themselves to this car, and insisted on drawing Madame Blavatsky to the shore in triumph amidst a huge cheering crowd. Quite a number of Europeans had also come down to see the fun, and were seated in their carriages at the end of the pier. I think that the Oakleys felt distinctly conspicuous and uncomfortable, and I must admit that I was a little embarrassed myself, as the whole proceeding was, to say the least of it, unconventional; but Madame Blavatsky accepted all this homage with great dignity as a matter of course, and indeed seemed rather to enjoy it.

Chúng ta được đưa vào áp sát một cầu tàu, nơi chúng ta chỉ lên bờ với sự khó khăn cực lớn—thực tế, một vài thành viên của ban nhạc còn phải được bạn bè khiêng lên bờ. Dọc theo cầu tàu là một tuyến xe điện, và có một toa xe đơn độc, khá thô sơ, vốn trong điều kiện bình thường được kéo bằng ngựa; nhưng chừng một tá sinh viên nhiệt thành nhất đã tự buộc mình vào toa xe này, và nhất quyết kéo Bà Blavatsky vào bờ trong khải hoàn giữa tiếng hoan hô vang dậy của đám đông khổng lồ. Cũng có khá nhiều người châu Âu xuống xem cho vui, họ ngồi trong xe ngựa ở cuối cầu tàu. Tôi nghĩ vợ chồng nhà Oakley ắt hẳn thấy mình nổi bật một cách khó chịu, và tôi phải thừa nhận bản thân tôi cũng hơi lúng túng, bởi toàn bộ sự việc, nhẹ thì nói, là chẳng theo lề lối mấy; nhưng Bà Blavatsky đón nhận tất cả sự tôn kính ấy với phong thái rất đĩnh đạc như chuyện đương nhiên, và quả thực có vẻ Bà còn khá thích thú.

A comical touch was added to the scene by the fact that the unhappy bandsmen, still desperately in the throes of mal-de-mer, were marshalled in front of the car and instructed to walk backwards before it, not only playing hard all the time, but bowing towards the car as they walked. Words fail me to describe that amazing pageant; if the reader’s imagination is sufficiently powerful he can perhaps make a mental picture of those heroic bandsmen, still green and staggering from seasickness, walking or rather stumbling backwards, bowing profoundly and constantly, but struggling nobly to bring out a few notes from their various instruments between the spasms of acute discomfort, and this weird procession tunnelling its way through a closely packed and wildly uproarious crowd, all waving flags and yelling at the top of their voices. That pier seemed very, very long, but at last we reached the shoreward end, and found that some sympathetic Maharaja had sent down a carriage to meet Madame, and to carry her off to Pachiappa’s Hall, where she was to receive an address of welcome from the students.

Một nét khôi hài được thêm vào cảnh tượng bởi việc các nhạc công bất hạnh, vẫn còn đang quằn quại vì mal-de- mer, bị tập hợp đứng trước toa xe và được chỉ thị phải đi đi lùi phía trước nó, không những phải chơi hết sức suốt quãng đường, mà còn phải cúi chào về phía toa xe khi bước đi. Tôi không sao dùng lời tả hết cảnh tượng kỳ khôi ấy; nếu sức tưởng tượng của độc giả đủ mạnh, hẳn có thể vẽ ra trong tâm trí bức tranh về những nhạc công anh dũng nọ, mặt mày tái mét và lảo đảo vì say sóng, bước—hay đúng hơn là vấp—lùi lại phía sau, cúi chào sâu và liên hồi, nhưng vẫn gắng gượng một cách cao đẹp để gảy ra được dăm ba nốt nhạc từ các nhạc cụ khác nhau giữa những cơn co thắt khó chịu dữ dội; và đoàn rước kỳ dị ấy như đào đường mà đi xuyên giữa đám đông chen chúc sít sao và náo động cuồng nhiệt, tất cả đều vẫy cờ và gào thét hết cỡ giọng. Cầu tàu ấy dường như dài, rất dài, nhưng rốt cuộc chúng ta cũng tới được đầu phía bờ, và thấy rằng một vị Maharaja cảm thông đã cho gửi một cỗ xe đến đón Bà, để đưa Bà tới Hội Trường Pachiappa, nơi Bà sẽ nhận một diễn văn chào mừng từ các sinh viên.

At Pachiappa’s Hall—Tại Hội Trường Pachiappa

We were hustled on to a platform, where Colonel Olcott and Madame Blavatsky were accommodated with two big arm-chairs. The hall was crowded to excess, and the tumultuous cheering made it quite impossible to speak for many minutes. Of course we were all loaded with garlands according to the kindly and picturesque Indian custom; and an attempt was made to read the address of welcome, though irrepressible outbursts of cheering made it difficult to follow it. Then the Colonel rose to reply on Madame Blavatsky’s behalf, and one might have hoped that his speech would be allowed to terminate the proceedings; but there were many other Indian brothers who wished to express their sympathy, and their flaming indignation at the atrocious wickedness of the missionaries.

Chúng ta được vội vã đưa lên một bục, nơi Đại tá Olcott và Bà Blavatsky được an vị trên hai chiếc ghế bành lớn. Hội trường chật ních người, và tiếng hoan hô náo động khiến suốt nhiều phút chẳng thể nào cất lời. Tất nhiên, theo tập tục Ấn Độ thân tình và giàu màu sắc, chúng ta đều được trĩu nặng vòng hoa; và có nỗ lực đọc bài diễn văn chào mừng, dù những tràng reo hò không sao kìm nổi khiến thật khó mà theo dõi. Rồi Đại tá đứng lên đáp lời thay mặt Bà Blavatsky, và người ta có thể đã hy vọng rằng bài nói của ông sẽ khép lại buổi lễ; nhưng còn nhiều huynh đệ Ấn Độ khác muốn bày tỏ lòng cảm thông và ngọn lửa phẫn nộ của họ trước sự đê tiện tàn bạo của bọn nhà truyền giáo.

There was an insistent demand for a speech from Madame Blavatsky herself, and though she did not usually speak in public she at last consented to do so on this especial occasion. Naturally she was received with thunders of applause, which lasted so long that she had to sit down again and wait until it was over. When at last she was allowed to speak, she began very well by saying how touched she was by this enthusiastic reception, and how it showed her what she had always known, that the people of India would not accept tamely these vile, cowardly, loathsome and utterly abominable slanders, circulated by these unspeakable—but here she became so vigorously adjectival that the Colonel hurriedly intervened, and somehow persuaded her to resume her seat, while he called upon an Indian member to offer a few remarks.

Người ta khăng khăng đòi Bà Blavatsky tự mình phát biểu, và tuy Bà thường không diễn thuyết trước công chúng, cuối cùng Bà cũng ưng thuận làm vậy trong dịp đặc biệt này. Tự nhiên Bà được đón bằng những tràng vỗ tay như sấm, kéo dài đến nỗi Bà phải ngồi xuống chờ cho lắng dịu. Khi cuối cùng được phép nói, Bà mở đầu rất hay, rằng Bà xúc động biết bao trước cuộc đón tiếp nồng nhiệt này, và rằng nó cho Bà thấy điều Bà vốn luôn biết, rằng người dân Ấn Độ sẽ không cam chịu chấp nhận những lời vu khống hèn hạ, ghê tởm, hoàn toàn đáng khinh này, do bọn người không thể gọi tên kia truyền bá—nhưng ngay đây Bà trở nên quá hào hứng trong việc tuôn ra những tính từ mạnh mẽ, đến mức Đại tá vội vã can thiệp, và bằng cách nào đó thuyết phục Bà ngồi xuống lại, trong khi ông mời một hội viên người Ấn phát biểu dăm lời.

I remember especially.an exceedingly brilliant speech made by a young lawyer, Mr. Gyanendranath Chakravarti; I had had previously no idea whatever of the eloquence and faultless diction of the highly-educated Indian speaker. The proceedings at Pachiappa’s Hall seemed to me almost interminable, but eventually we were allowed to depart for Adyar, and I had my first glimpse of the Headquarters which I afterwards came to know so well, which even now seems to me more truly home than any other spot in the world. Here of course was yet another reception for Madame Blavatsky, and I think that even her iron determination must by this time have been approaching its limit, for the rest of us were almost too exhausted to be able to appreciate the wonderful scene.

Tôi đặc biệt nhớ một bài diễn thuyết tuyệt diệu do một luật sư trẻ, Ông Gyanendranath Chakravarti, trình bày; trước đó tôi hoàn toàn không hề biết người diễn giả Ấn Độ được giáo dục cao lại có thể hùng biện đến thế, với ngôn từ chuẩn xác không tì vết. Buổi lễ ở Hội Trường Pachiappa đối với tôi dường như bất tận, nhưng cuối cùng chúng ta cũng được phép lên đường tới Adyar, và tôi có cái nhìn đầu tiên về Trụ sở mà về sau tôi rất đỗi quen thuộc, nơi đến tận bây giờ đối với tôi dường như là mái nhà đích thực hơn bất kỳ chốn nào khác trên thế gian. Ở đây dĩ nhiên lại có thêm một cuộc đón tiếp nữa dành cho Bà Blavatsky, và tôi nghĩ rằng ngay cả ý chí sắt đá của Bà lúc này hẳn cũng đã gần đến hạn độ, vì phần còn lại của chúng ta đã gần kiệt sức đến nỗi chẳng còn đủ sức để thưởng thức cảnh tượng kỳ diệu.

CHAPTER VIII—CHƯƠNG VIII

Adyar at Last—Cuối Cùng Cũng Đến Adyar

The Headquarters at which I arrived in the month of December, 1884, was very different from the palatial suite of buildings which now meets the view of the visitor as he drives in over the Elphinstone Bridge from Madras. Colonel Olcott had bought the property just two years before that, and had not yet begun the series of alterations and extensions which were presently so entirely to transform the buildings. The estate then comprised twenty-seven acres, and the house was of the ordinary Anglo-Indian type—not large, but well built and commodious. It was flanked by two small octagonal garden pavilions of two rooms each, and it had the usual stables and outbuildings—supplemented, however, by a swimming-bath. We have, unfortunately, no good photographs of the house as it was then, though there exists a small print cut out of some old magazine which gives a partial view, and some of the early Convention photographs show little bits of the building.

Trụ sở nơi tôi đặt chân tới vào tháng Mười Hai năm 1884 rất khác với quần thể công trình nguy nga mà nay phô bày trước mắt khách thăm khi xe chạy qua Cầu Elphinstone từ Madras. Đại tá Olcott chỉ mới mua bất động sản ấy hai năm trước đó, và vẫn chưa khởi công chuỗi cải tạo và mở rộng vốn về sau đã hoàn toàn biến đổi các tòa nhà. Khi ấy, điền trang có hai mươi bảy mẫu Anh, và ngôi nhà thuộc kiểu Anglo-Ấn điển hình—không lớn, nhưng xây chắc và tiện dụng. Hai bên nhà là hai thuỷ tạ nhỏ hình bát giác trong vườn, mỗi cái hai phòng, và có đủ chuồng ngựa, nhà phụ như thường lệ—nhưng còn có thêm một bể bơi. Tiếc rằng chúng ta không có bức ảnh nào ra hồn về ngôi nhà như thuở ấy, tuy có một tấm in nhỏ cắt từ một tạp chí cũ cho thấy một phần quang cảnh, và vài bức ảnh chụp các kỳ Đại hội ban đầu cho thấy đôi mảng của tòa nhà.

When I first saw it, it possessed on the ground floor a square central hall, on each side of which were two comfortable rooms. At the back of the hall was a sort of ante-room, and then a large chamber, evidently intended to be the main drawing-room, which ran almost the whole length of the house and opened out on to a broad terrace overlooking the Adyar River. That room was being used as the office for the Recording Secretary of the Society and the Manager of The Theosophist, and we also kept there our little store of books for sale, the nucleus out of which has grown the extensive business of The Theosophical Publishing House of the present day.

Khi lần đầu thấy nó, tầng trệt có một đại sảnh vuông ở trung tâm, hai bên là hai căn phòng tiện nghi. Phía sau đại sảnh là một kiểu tiền phòng, rồi đến một gian lớn, hiển nhiên định làm phòng khách chính, chạy dài gần suốt chiều dài ngôi nhà và mở ra một sân thượng rộng nhìn xuống sông Adyar. Căn phòng ấy lúc đó được dùng làm văn phòng cho Thư ký Ghi chép của Hội và Quản lý của The Theosophist, và chúng ta cũng để ở đó một kho sách nhỏ để bán—hạt nhân từ đó đã nảy nở thành hoạt động rộng lớn của The Theosophical Publishing House ngày nay.

As is usual in India, the whole of the house was covered by a flat cemented roof. Upon this roof, when the house came into possession of the Society, there was one large room (now divided into two bedrooms), and on the way down the stairs a very small one in which Damodar lived—a sort of eyrie, with a window looking west towards the great bridge. Madame Blavatsky had at first occupied the large room upon the roof, but was not altogether satisfied with it, so during her absence in Europe in 1884 another room was erected for her at the north-east corner of the roof, and it was in this latter that she took up her residence when we arrived there at the end of 1888. Colonel Olcott was at that time living in one of the garden pavilions—that on the eastern side of the main building; Dr. Franz Hartmann occupied the octagonal room, and Colonel Olcott had established himself in the oblong room just behind it. On our arrival from Europe we found all the available accommodation occupied, and indeed overcrowded; so that for a night or two I was honoured by being allowed to sleep upon a settee in the Colonel’s room.

Như thường thấy ở Ấn Độ, toàn bộ ngôi nhà lợp mái phẳng trát xi măng. Trên mái ấy, khi ngôi nhà về tay Hội, có một phòng lớn (nay đã chia thành hai phòng ngủ), và trên lối cầu thang đi xuống có một phòng rất nhỏ nơi Damodar ở—tựa một tổ chim, có cửa sổ nhìn về phía tây hướng tới cây cầu lớn. Lúc đầu Bà Blavatsky ở căn phòng lớn trên mái, nhưng Bà không hoàn toàn vừa ý, nên trong thời gian Bà sang châu Âu năm 1884, một căn phòng khác được dựng cho Bà ở góc đông bắc của mái, và chính vào căn sau này mà Bà dọn vào ở khi chúng ta trở lại đó vào cuối năm 1888. Khi ấy Đại tá Olcott sống trong một thuỷ tạ ở vườn—cái phía đông của tòa nhà chính; Bác sĩ Franz Hartmann ở căn phòng bát giác, còn Đại tá Olcott thì ở căn phòng hình chữ nhật ngay phía sau. Khi chúng ta từ châu Âu tới nơi, thấy mọi chỗ ở sẵn có đều đã có người ở, thậm chí là quá tải; đến nỗi một hai đêm tôi được vinh hạnh cho ngủ trên một chiếc ghế dài trong phòng của Đại tá.

I remember waking in the middle of one night and seeing a tall figure carrying a lantern standing by the Colonel’s bedside, which surprised me somewhat, as I knew that the door had been locked. I half raised myself in bed, but as I saw that the visitor had aroused the Colonel, who apparently recognized him, I sank back reassured. After a few moments of earnest conversation the figure suddenly vanished—which was the first intimation to me that he was not an ordinary physical-plane visitant. As the Colonel, who had raised himself in bed, promptly lay down and went to sleep again, it occurred to me that I had better do likewise; but in the morning I ventured respectfully to tell the Colonel what I had seen. He informed me that the messenger was Djwal Kul—now a member of the Great Brotherhood, but then the principal pupil and lieutenant of the Master Kuthumi—the same whom I had already seen in the Hotel d’Orient at Cairo, though in this case the light was not strong enough to enable me to recognize him.

Tôi nhớ đã thức giấc giữa đêm và thấy một bóng người cao lớn cầm đèn đứng bên giường Đại tá, điều ấy làm tôi hơi ngạc nhiên, vì tôi biết cửa đã khóa. Tôi nửa chồm dậy, nhưng thấy người khách đã đánh thức Đại tá, và dường như ông nhận ra vị ấy, tôi bèn yên tâm nằm xuống lại. Sau ít phút đàm thoại khẩn thiết, bóng người bỗng biến mất—đó là dấu hiệu đầu tiên cho tôi biết vị ấy không phải là một khách viếng thăm thuộc cõi hồng trần thông thường. Vì Đại tá, người vừa nhỏm dậy trên giường, liền nằm xuống và ngủ tiếp, nên tôi nghĩ tốt hơn mình cũng nên làm theo; nhưng sáng hôm sau, tôi mạn phép kính cẩn thuật lại với Đại tá điều tôi đã thấy. Ông cho tôi hay rằng sứ giả ấy là Chân sư Djwal Kul—nay là một thành viên của Thánh đoàn, nhưng hồi ấy là môn đồ chính và phụ tá của Chân sư Kuthumi—vị tôi đã thấy ở Khách sạn d’Orient tại Cairo, tuy lần này ánh sáng không đủ mạnh để tôi nhận ra Ngài.

A little later in the year, when Madame Blavatsky left for Europe, Colonel Olcott, by her desire, took possession of the new room which had been built for her at the corner of the roof, and it has ever since been occupied by the President of the Society. The alterations which have since been made in the Headquarters building are of so radical a character that it is practically impossible for the visitor at the present time to reconstruct in his mind the house as it used to be; and even those of us who knew it in those earlier days find it difficult to trace the old landmarks.

Ít lâu sau trong năm, khi Bà Blavatsky sang châu Âu, Đại tá Olcott, theo ý Bà, dọn vào căn phòng mới đã dựng cho Bà ở góc mái, và từ đó đến nay căn phòng ấy luôn do Hội trưởng của Hội sử dụng. Những sửa đổi về sau được thực hiện trong tòa nhà Trụ sở mang tính cách mạng đến nỗi hầu như hiện nay khách viếng chẳng thể nào tái dựng trong tâm trí hình dáng ngôi nhà như xưa; và ngay cả những người trong chúng ta từng biết nó thuở ban đầu cũng thấy khó mà lần theo các mốc cũ.

The Headquarters Hall—Đại Sảnh của Trụ Sở

It was in the next year, 1885, that Colonel Olcott made his first great alteration, for the purpose of providing a permanent hall in which the Convention meetings could be held. The Convention of 1884, which was just about to commence when I arrived, was held in what is called a pandal—a huge temporary hall with walls and roof of palm-leaves; and it was the many inconveniences attached to this, as well as the expense of it, which had determined the Committee of the Society to sanction the construction of a more durable erection. As is usual in the Theosophical Society, the great difficulty that confronted us was the everlasting financial problem. To build a hall at all adequate for our purposes would even in those days of long ago have cost at least £1000, and nothing like that sum was forthcoming.

Vào năm sau, 1885, Đại tá Olcott thực hiện cuộc cải tạo lớn đầu tiên, nhằm xây dựng một đại sảnh thường trực để tổ chức các kỳ Đại hội. Đại hội năm 1884, vừa sắp bắt đầu khi tôi tới nơi, được tổ chức trong cái gọi là một pandal —một đại sảnh tạm bợ khổng lồ với tường và mái bằng lá cọ; và chính những bất tiện muôn mặt gắn với nó, cũng như chi phí của nó, đã khiến Ủy ban của Hội quyết định phê chuẩn việc xây dựng một công trình bền vững hơn. Như vẫn thường trong Hội Thông Thiên Học, khó khăn lớn nhất trước mắt chúng ta là bài toán tài chính triền miên. Để xây một đại sảnh đủ đáp ứng mục đích của chúng ta, ngay cả vào những ngày xa xưa ấy, cũng phải tốn ít nhất £1000, và số tiền tương tự hoàn toàn không thể kiếm đâu ra.

But Colonel Olcott’s ingenuity was equal to the occasion; he devised a plan by which we obtained a fine and convenient hall, quite sufficient for our needs, for about one-sixth of that estimate. Along the front of the house—in front of the square hall previously described and of the rooms on each side of it—ran the usual wide Indian veranda, perhaps a hundred feet long and about fourteen feet in width. In the centre of that projected a porte-cochère under which ran the drive leading up to the house. The floor of this veranda was some feet above the level of the drive, and Colonel Olcott carried out that raised floor to the edge of the portico, and then extended it along in both directions until he had doubled the width of his veranda. He raised the roof about six feet, built a wall on the other side of his extended veranda, and then made a new porch and deflected the carriage-drive to meet it.

Nhưng óc sáng tạo của Đại tá Olcott đã kịp thời phát huy; ông nghĩ ra một phương án giúp chúng ta có được một đại sảnh đẹp và thuận tiện, hoàn toàn đủ cho nhu cầu, với chi phí chỉ vào khoảng một phần sáu con số ước tính ấy. Suốt dọc mặt tiền ngôi nhà—trước đại sảnh vuông đã mô tả và các phòng hai bên—là một hiên rộng kiểu Ấn, dài chừng trăm bộ và rộng khoảng mười bốn bộ. Ở giữa nhô ra một porte-cochère, bên dưới là lối xe chạy vào nhà. Nền của hiên này cao hơn lối xe vài bộ, và Đại tá Olcott đã đổ nền nâng cao ấy ra đến mép tiền sảnh, rồi kéo dài theo cả hai phía cho đến khi chiều rộng hiên được nhân đôi. Ông nâng mái thêm chừng sáu bộ, xây một bức tường ở phía ngoài của hiên đã mở rộng, rồi làm một tiền sảnh mới và uốn lối xe ngựa để trổ vào đó.

In this way he provided us with a hall shaped like the letter T—the double-width veranda forming the cross piece, and the original square hall, with the ante-room thrown into it, forming the central stroke. The platform for speakers was placed in the centre of the long arm, facing into the old square hall, so that the speakers had that hall in front of them and the new extension on each side of them. This hall was for many years used for our public meetings; it is supposed to seat 1500 people comfortably, but on several occasions 2300 have been squeezed into it; and even then so many people had to be turned away that for some years now we have given up the endeavour to accommodate the crowd in-doors and have held our public meetings under the branches of the big banyan tree at Blavatsky Gardens.

Bằng cách này, ông đã tạo cho chúng ta một đại sảnh hình chữ T—phần hiên có bề rộng gấp đôi tạo thành thanh ngang, còn đại sảnh vuông nguyên thủy, với tiền phòng nhập vào, tạo thành nét dọc trung tâm. Bục dành cho diễn giả được đặt ở giữa nhánh dài, hướng vào đại sảnh vuông cũ, để các diễn giả có đại sảnh cũ trước mặt, và phần mở rộng mới ở hai bên. Đại sảnh này trong nhiều năm được dùng cho các buổi họp công khai của chúng ta; người ta cho rằng nó có thể xếp ghế thoải mái cho 1500 người, nhưng đã có vài lần 2300 người được “nén” vào đó; và ngay cả khi ấy vẫn còn quá nhiều người phải quay về, đến nỗi từ vài năm trước chúng ta đã thôi cố nhồi nhét đám đông vào trong nhà và tổ chức các buổi họp công cộng dưới tán đa lớn ở Vườn Blavatsky.

My First Convention—Đại Hội Đầu Tiên của Tôi

It may be imagined with what enormous enthusiasm I entered upon my first Theosophical Convention—what it was to me to find myself at last upon the sacred soil of India, among the dark-skinned brothers of whom I had heard so much—any one of whom might, for all I knew, be a pupil of one of our holy Masters—all of whom, I thought, must at any rate have been from childhood students of the Sacred Lore, knowing far more about it all than we Westerns could know. I was fully prepared to see the best in everybody and to make the best of everything; I met with the most kindly welcome from everyone with whom I came in contact, and consequently enjoyed myself immensely. The number and the variety of the new impressions which I received were so great as to be somewhat overwhelming; indeed, I recollect but vaguely the lectures which were delivered and the then unknown brethren who delivered them. The principal subject of discussion was the unspeakably shameful attack upon Madame Blavatsky which had been made by some people calling themselves Christian missionaries—though nothing could possibly have been more utterly un-Christian than the campaign of falsehood and slander upon which they so eagerly and maliciously entered.

Có thể hình dung tôi đã nhập vào kỳ Đại hội Thông Thiên Học đầu tiên của mình với nhiệt huyết lớn lao nhường nào—điều ấy đối với tôi là gì khi rốt cuộc được đứng trên thổ ngơi thiêng liêng của Ấn Độ, giữa những huynh đệ da sậm mà tôi đã nghe nói đến biết bao—mỗi người trong số họ, theo hiểu biết ít ỏi của tôi, đều có thể là một môn đồ của một trong các Chân sư thánh thiện của chúng ta—và, tôi nghĩ, tối thiểu thì tất cả họ hẳn đã từ thuở nhỏ là những người học hỏi Thánh điển, biết nhiều về mọi điều ấy hơn chúng ta, những người phương Tây, có thể biết. Tôi đã chuẩn bị trọn vẹn để thấy điều tốt nhất nơi mọi người và làm điều tốt nhất trong mọi việc; tôi được tất cả những người tôi gặp gỡ chào đón bằng thiện chí lớn lao, và vì thế vô cùng hân hoan. Số lượng và sự đa dạng của những ấn tượng mới tôi thu nhận được lớn đến mức phần nào khiến tôi bị choáng ngợp; thực vậy, tôi chỉ nhớ lơ mơ những bài thuyết giảng đã trình bày và các vị huynh đệ khi ấy còn xa lạ là những người trình bày chúng. Đề tài chính được bàn thảo là cuộc công kích đáng hổ thẹn không bút nào tả xiết nhằm vào Bà Blavatsky do một số người tự xưng là nhà truyền giáo Cơ Đốc phát động—dẫu không thể có gì trái ngược với tinh thần Cơ Đốc đến tột cùng hơn chiến dịch dối trá và vu khống mà họ hăm hở và độc địa dấn thân vào.

I soon found that there was much difference of opinion as to the best way of meeting these loathsome libels. Madame Blavatsky herself was full of vivid indignation and was most anxious to prosecute her slanderers for libel. Many of her friends and admirers heartily agreed with her in this; but it happened that among our most prominent Indian members we had a large number of judges, of eminent lawyers and of statesmen belonging to the various semi-independent Indian kingdoms; and all these men with one accord advised her strongly against taking any such course. They knew well the extreme bitterness of Anglo-Indian feeling against the Theosophical Society, and they declared that it was absolutely impossible that Madame Blavatsky could obtain justice or that the trial would be conducted with ordinary fairness. I was myself in no position to offer an opinion in this matter, so I need say nothing further about it here, but I should like to refer my readers to the third volume of Colonel Olcott’s Old Diary Leaves, pp. 190-195, where they will find full reasons given for the conclusions at which the Committee of Councillors arrived.

Tôi chẳng bao lâu nhận ra rằng có nhiều ý kiến khác nhau về cách tốt nhất để ứng phó với những lời phỉ báng ghê tởm ấy. Bản thân Bà Blavatsky tràn đầy phẫn nộ sôi nổi và rất mong được khởi tố bọn vu khống về tội phỉ báng. Nhiều người bạn và người ngưỡng mộ Bà hết lòng đồng tình; nhưng trùng hợp là giữa những hội viên Ấn Độ nổi bật nhất của chúng ta khi ấy có một số đông các vị thẩm phán, luật gia danh tiếng và các chính khách thuộc những tiểu vương quốc Ấn Độ bán tự trị; và tất cả các vị ấy đồng thanh tha thiết khuyên Bà đừng chọn con đường đó. Họ hiểu rõ sự cay độc tột độ của giới Anh-Ấn đối với Hội Thông Thiên Học, và quả quyết rằng Bà Blavatsky tuyệt đối không thể mong đợi công lý hay mong phiên xử được tiến hành với sự công bằng thông thường. Bản thân tôi không ở vị thế đưa ra ý kiến trong việc này, nên chẳng cần nói gì thêm ở đây, nhưng tôi muốn giới thiệu độc giả tìm đọc tập ba của Old Diary Leaves của Đại tá Olcott, trang 190-195, nơi có nêu đầy đủ các lý do dẫn đến kết luận mà Ủy ban các Ủy viên Hội đồng đã đi đến.

Another consideration which I think weighed very heavily in this decision was that it would be quite impossible to prevent the enemy from bringing up in court the whole question of the existence of our holy Masters, so that Their names would be exposed to the coarse ribaldry of utterly unscrupulous slanderers, whose only object would be to cause as much pain as possible to those who loved and followed Them. It was felt that such sacrilegious comment would arouse such widespread horror and indignation among all decent Hindus that it would be better to endure any amount of vilification than to set in motion so terrible a stream of filth. Colonel Olcott (having himself been a lawyer) threw the weight of his influence strongly on the side of this more sagacious party, and finally Madame Blavatsky very reluctantly consented to abide by their decision.

Một yếu tố khác, theo tôi, cũng nặng ký trong quyết định này là không thể nào ngăn kẻ đối nghịch lôi ra tòa toàn bộ vấn đề về sự hiện hữu của các Chân sư thánh thiện của chúng ta, khiến tên Các Ngài sẽ bị phơi ra cho bọn phỉ báng vô lương thóa mạ thô tục, mà mục đích duy nhất của chúng chỉ là gây đau đớn nhiều nhất có thể cho những ai yêu kính và theo Các Ngài. Người ta cảm thấy rằng những lời báng bổ như thế sẽ gây nên sự ghê tởm và phẫn nộ lan rộng nơi mọi người Ấn Độ lương thiện đến mức thà chịu bất kỳ sự vu vạ nào còn hơn là khơi dậy một dòng lũ ô uế khủng khiếp như vậy. Đại tá Olcott (bản thân từng là luật sư) đã đặt trọng lực ảnh hưởng của mình mạnh mẽ về phía nhóm sáng suốt hơn này, và rốt cuộc Bà Blavatsky, hết sức miễn cưỡng, đã ưng thuận tuân theo quyết định của họ.

Many of those whose names stand forth most prominently in my memories of that 1884 Convention have now passed away from among us, and to mention them here would be merely to compile a list of names, most of them little known to the present generation of Theosophists. They appear in our President-Founder’s Old Diary Leaves, and photographs of many of them are to be seen in the series of memoirs of “Theosophical Worthies” which appeared some years ago in The Theosophist, and also in Mr. C. Jinarājadāsa’s monumental work The Golden Book of The Theosophical Society. Many of them were men of high station and noble reputation, and I esteem it an honour to have known them even slightly. The Recording Secretary at that time was a young Mahratta Brahman, Damodar Keshub Mavalankar, and as far as I remember he and a certain southern Brahman were the only young men who took any prominent part in the work, though many hundreds of students attended the public meetings.

Nhiều người mà tên tuổi nổi bật nhất trong ký ức của tôi về kỳ Đại hội năm 1884 ấy nay đã rời xa chúng ta, và nếu kể ra đây thì cũng chỉ là liệt kê một danh sách tên gọi, phần nhiều ít được biết đến với thế hệ Hội viên Thông Thiên Học ngày nay. Họ xuất hiện trong Old Diary Leaves của vị Hội trưởng-Khai sáng của chúng ta, và ảnh của nhiều vị có thể thấy trong loạt hồi ký “Theosophical Worthies” từng đăng cách đây mấy năm trên The Theosophist, và cũng trong công trình đồ sộ của Ông C. Jinarājadāsa, The Golden Book of The Theosophical Society. Nhiều vị là những con người ở địa vị cao sang và thanh danh cao quý, và tôi coi là vinh hạnh dù chỉ được biết các vị đôi chút. Vị Thư ký Ghi chép khi ấy là một Bà-la-môn người Mahratta trẻ tuổi, Damodar Keshub Mavalankar, và theo tôi nhớ thì ông cùng một vị Bà-la-môn miền Nam là những người trẻ duy nhất tham gia nổi bật vào công việc, dẫu có hàng trăm sinh viên dự các buổi họp công khai.

This young southern Brahman was something of a mystery; I understand that his real name was M. Krishnamachari, but at the period of which I am writing he was commonly known as Babaji (or Bawaji) Darbhagiri Nath. Now, that is a northern name and not a southern; and it would seem from a reference in one of Mr. Sinnett’s books that there really was a Babaji Darbhagiri Nath in the north of India who had some part in the earlier history of the Society; but he was certainly not the same person whom I saw at Adyar, for he is described as a large and portly person, whereas this young man was almost a dwarf. He seemed then deeply devoted to Madame Blavatsky, and when she went to Europe a little later he was one of those who accompanied her; but afterwards he turned against her for some unknown reason and attacked her in the grossest manner. I remember that Madame Blavatsky wrote a letter to me in which she complained bitterly of the wickedness and malignity of his action; and the Master Kuthumi annotated that letter in the course of its transmission through the post (as They often used to do in those days), and spoke of the little man as having failed.

Vị Bà-la-môn trẻ tuổi miền nam này là một điều gì đó đầy bí ẩn; tôi được biết tên thật của y là M. Krishnamachari, nhưng vào thời kỳ mà tôi đang thuật lại, y thường được gọi là Babaji (hoặc Bawaji) Darbhagiri Nath. Nay, đó là một cái tên miền bắc chứ không phải miền nam; và dường như theo một chỗ dẫn trong một trong các sách của Ông Sinnett thì thực sự có một Babaji Darbhagiri Nath ở miền bắc Ấn Độ, người đã có dự phần nào đó trong buổi đầu lịch sử của Hội; nhưng chắc chắn ông ta không phải là người mà tôi thấy tại Adyar, vì ông ta được mô tả là một người to lớn, đẫy đà, trong khi chàng thanh niên này thì hầu như thấp lùn. Hồi ấy y có vẻ hết mực sùng kính Bà Blavatsky, và khi Bà đi châu Âu ít lâu sau đó, y là một trong những người tháp tùng Bà; nhưng về sau, vì một lý do không ai biết, y quay lại chống Bà và công kích Bà theo cách thô bỉ nhất. Tôi nhớ Bà Blavatsky đã viết cho tôi một bức thư, trong đó Bà cay đắng than phiền về sự độc ác và ác tâm trong hành động của y; và Chân sư KH đã chú giải bức thư ấy trong lúc nó đang được chuyển qua đường bưu điện (như Các Ngài vẫn thường làm hồi ấy), và nói về người đàn ông nhỏ bé ấy như là đã thất bại.

For some reason or other both this young man and Damodar wore during that 1884 Convention a very curious costume, consisting chiefly of a sort of long coat of silk, slashed in alternate gores of blue and white. Naturally the rumour went round that this was some kind of uniform prescribed for the chelas of the Masters! But I have never seen anybody wearing it since.

Vì một lý do nào đó, cả chàng trai này lẫn Damodar trong kỳ Đại hội năm 1884 đều mặc một trang phục rất lạ, chủ yếu là một loại áo khoác dài bằng lụa, chẻ tà xen kẽ những mảng xanh lam và trắng. Tự nhiên lời đồn lan ra rằng đó là một kiểu đồng phục nào đó được ấn định cho các đệ tử của các Chân sư! Nhưng từ đó đến nay tôi chưa từng thấy ai mặc lại nó.

A Visit to Burma—Một Chuyến Thăm Miến Điện

Soon after the Convention was over Colonel Olcott asked me to accompany him on an expedition to introduce Theosophy to Burma. I believe that he had received a message of invitation from King Theebaw, or at any rate an intimation that the King was curious to see a white man who had become a Buddhist, and that a visit from him would be welcome. We therefore engaged a passage on the British India steamer Asia to Rangoon. The British India steamers of that period were not what they are to-day, and the Asia was a boat of some 1200 or 1300 tons only. In those days they did not run directly to Rangoon, but called on the way at Masulipatam, Cocanada, Vizagapatam and Bimlipatam, turning only at this last place to run straight across the bay.

Ngay sau khi Đại hội kết thúc, Đại tá Olcott đề nghị tôi tháp tùng Ông trong một chuyến đi để giới thiệu Thông Thiên Học tại Miến Điện. Tôi tin rằng Ông đã nhận được một thông điệp mời từ Vua Theebaw, hoặc ít nhất là một ám chỉ rằng Nhà Vua hiếu kỳ muốn gặp một người da trắng đã trở thành Phật tử, và rằng một chuyến viếng thăm của Ông sẽ được hoan nghênh. Do đó, chúng tôi đặt chỗ trên tàu hơi nước của British India mang tên Asia đi Rangoon. Những tàu của British India thời đó không như ngày nay, và Asia chỉ là một con tàu cỡ 1200 hoặc 1300 tấn. Thuở ấy tàu không chạy thẳng đến Rangoon, mà ghé qua Masulipatam, Cocanada, Vizagapatam và Bimlipatam, chỉ đến bến cuối cùng này mới bẻ lái chạy thẳng băng qua vịnh.

The Captain of the Asia at that time was an old school-fellow of mine, (the same from whom I first heard of Madame Blavatsky), and I was glad to have the opportunity of sailing with him. I remember that he told us that the best cabin on the ship was No. 11, and he advised us to book that for ourselves, which we did.

Thuyền trưởng của tàu Asia khi ấy là một bạn học cũ của tôi (cũng chính người đầu tiên cho tôi hay về Bà Blavatsky), và tôi mừng vì có cơ hội đi biển với Ông. Tôi nhớ Ông nói với chúng tôi rằng ca-bin tốt nhất trên tàu là số 11, và khuyên chúng tôi tự đặt ca-bin đó, thế là chúng tôi làm theo.

A Curious Little Fact—Một Sự Kiện Nhỏ Lạ Lùng

But here came in an instance of a trifling but curious little phenomenon, which seemed to haunt the Colonel. His discussions with Indian pandits had immensely impressed him with the importance of the sacred number seven; and the result was that he was always watching for the occurrence of this number in all sorts of small matters of daily life. One might have smiled at it as a harmless little superstition, but for the fact that the number in question really did haunt him in the most extraordinary way. In The Theosophist for March, 1892, he writes about Madame Blavatsky:

Nhưng đây lại có một ví dụ về một hiện tượng nhỏ nhặt mà lạ lùng, dường như cứ ám theo Đại tá. Những cuộc bàn luận của Ông với các luận sư Ấn Độ đã khiến Ông cực kỳ ấn tượng với tầm quan trọng của con số bảy thiêng liêng; và kết quả là Ông luôn dõi tìm sự xuất hiện của con số này trong đủ mọi chuyện nhỏ nhặt của đời sống hằng ngày. Người ta có thể mỉm cười mà xem đó như một chút mê tín vô hại, nếu không vì thực tế là con số ấy quả thật đã ám Ông theo cách kỳ lạ nhất. Trong The Theosophist số tháng Ba, 1892, Ông viết về Bà Blavatsky:

I notice in Mr. Sinnett’s book the coincidence that she arrived at New York on the 7th July, 1873, that is to say on the seventh day of the seventh month of her forty-second year (6x7), and that our meeting was postponed until I attained my forty-second year. And it must also be remarked that she died in the seventh month of the seventeenth year of our Theosophical relationship. Add to this the further fact that Mrs. Annie Besant came to H. P. B. as an applicant for membership in the seventh month of the seventeenth year after her final withdrawal from Christian communion (and when Mrs. Besant herself was forty-two) and we have here a pretty set of coincidences to bear in mind. My own death when it comes will no doubt occur on a day that will accentuate the fatefulness of the number seven in the history of our Society and of its two founders.

Tôi để ý trong sách của Ông Sinnett có sự trùng hợp là Bà đặt chân đến New York vào ngày 7 tháng Bảy, 1873, nghĩa là vào ngày thứ bảy của tháng thứ bảy trong năm thứ bốn mươi hai đời Bà (6x7), và cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi bị hoãn lại cho đến khi tôi bước sang năm thứ bốn mươi hai đời mình. Cũng phải lưu ý rằng Bà qua đời vào tháng thứ bảy của năm thứ mười bảy trong mối tương giao Thông Thiên Học giữa chúng tôi. Thêm vào đó là sự thật nữa: Bà Annie Besant tìm đến H. P. B. xin gia nhập vào tháng thứ bảy của năm thứ mười bảy kể từ khi Bà dứt khoát rút khỏi sự hiệp thông Kitô giáo (và khi chính Bà Besant bốn mươi hai tuổi), thì ở đây chúng ta có một chuỗi trùng hợp đáng ghi nhớ. Cái chết của riêng tôi, khi đến, ắt hẳn cũng sẽ rơi vào một ngày càng làm nổi bật tính định mệnh của con số bảy trong lịch sử của Hội chúng ta và của hai đấng sáng lập Hội.

His prophecy was accurately fulfilled, for he died at seventeen minutes past seven on the morning of February 17th, 1907.

Lời tiên liệu của Ông đã ứng nghiệm chính xác, vì Ông mất lúc bảy giờ mười bảy phút sáng ngày 17 tháng Hai, 1907.

But, as I have already said, the number absolutely haunted him in ordinary life in a quite amusing way. I have travelled with him frequently, and it’s an actual fact that he could hardly ever take a railway ticket or even a tramway ticket which did not contain the number seven; and if by some strange chance the number itself did not appear, then the digits of the number would add up to seven or to a multiple of seven. In the case to which I have just referred we applied for cabin number 11, and it was duly entered on our tickets; but when we came down to the ship on the day of sailing my friend the Captain met us with profuse apologies that by some mistake Cabin 11 had been booked twice over, and that consequently we had been transferred to—number seven!

Nhưng, như tôi đã nói, con số ấy tuyệt đối ám Ông trong đời sống thường ngày theo một cách thật khôi hài. Tôi đã đi cùng Ông nhiều lần, và sự thật là hầu như Ông không thể mua một vé tàu hỏa hay thậm chí vé xe điện nào mà không có con số bảy; và nếu do một cơ may kỳ lạ nào đó con số ấy không hiện ra, thì tổng các chữ số của số vé lại cộng thành bảy hoặc bội số của bảy. Trong trường hợp tôi vừa nhắc, chúng tôi xin ca-bin số 11, và nó đã được ghi chính thức trên vé; nhưng khi xuống tàu vào ngày khởi hành, người bạn là Thuyền trưởng của tôi vội vã ra đón với lời xin lỗi rối rít rằng vì một nhầm lẫn nào đó, ca-bin số 11 đã bị đặt trùng, và hậu quả là chúng tôi đã được chuyển sang—số bảy!

Again I remember that on that same expedition we lost our way one day when out walking in the suburbs of Rangoon, and presently, coming in sight of a policeman standing at a junction where two roads crossed, the Colonel remarked that we would ask for a direction from him. But as we came up to the man the Colonel whispered aside to me “Regardez le numero”; I looked at the number on the man’s cap, and laughed to see that it was 77. I do not in the least know what this curious little phenomenon meant or how it was arranged; but I can certainly testify that it was a fact; and the Colonel, although he laughed at it, yet half believed in it as an indication of good fortune. For when we jumped into a tramcar bearing this mystic number or some repetition of it, he would say: “Ha! now I know we are going to have a good meeting!”

Lại nữa, tôi nhớ trong cùng chuyến đi ấy, có một ngày chúng tôi lạc đường khi đi dạo ở ngoại ô Rangoon, và rồi, trông thấy một viên cảnh sát đứng tại một ngã tư nơi hai con đường cắt nhau, Đại tá nói rằng chúng tôi sẽ hỏi đường ông ta. Nhưng khi đến gần, Đại tá thì thầm với tôi: “Hãy để ý con số”; tôi nhìn con số trên mũ của người kia và bật cười khi thấy đó là 77. Tôi hoàn toàn không biết hiện tượng nhỏ lạ lùng này có ý nghĩa gì hay nó được sắp đặt thế nào; nhưng tôi có thể xác nhận chắc chắn rằng đó là sự thật; và Đại tá, dẫu bật cười, vẫn nửa tin rằng đó là một dấu hiệu may mắn. Vì hễ khi chúng tôi nhảy lên một chiếc xe điện mang con số huyền bí ấy hoặc một biến thể lặp lại của nó, Ông lại nói: “À ha! giờ thì tôi biết chúng ta sẽ có một buổi họp tốt đẹp!”

Our Life in Burma—Đời Sống Của Chúng Tôi Ở Miến Điện

The charm operated in the case of our voyage to Burma, for it was very pleasant, and our stay in the country was interesting and successful. Rangoon was a very different city then from what it is to-day; practically the entire town consisted of wooden houses. We stayed, I remember, with a certain Moung Htoon Oung, who lived at what was then the top of Phayre Street, and I used to go long walks through the jungle to the suburbs of Kemmendine and Insein, on one of which I had the curious experience of coming face to face with an animal of the leopard tribe, who looked at me with blazing eyes for what seemed many minutes, although it was probably really about thirty seconds, before he decided that I was harmless and went peaceably on his way.

“Bùa” ấy cũng linh nghiệm trong chuyến đi Miến Điện, vì chuyến hải trình rất thú vị, và thời gian lưu trú của chúng tôi ở xứ ấy vừa lý thú vừa thành công. Rangoon khi đó rất khác so với ngày nay; hầu như cả thành phố gồm toàn nhà gỗ. Tôi nhớ chúng tôi ở nhà một vị tên Moung Htoon Oung, cư ngụ nơi khi ấy là đầu đường Phayre, và tôi thường đi dạo đường dài xuyên rừng rậm tới ngoại ô Kemmendine và Insein; trong một lần như thế, tôi đã có một trải nghiệm lạ lùng là đối mặt với một con thú thuộc họ báo, nó nhìn tôi bằng đôi mắt rực lửa suốt quãng thời gian tưởng như nhiều phút, dẫu có lẽ thật ra chỉ chừng ba mươi giây, trước khi nó quyết rằng tôi vô hại và thản nhiên tiếp tục đường nó đi.

We found that a great deal of interest was aroused by the Colonel’s exposition of Buddhism. Quite a number of Burmese gentlemen gathered each evening at the rooms of our host, and we frequently had useful and entertaining discussions. The interest exhibited, however, was not confined to the natives of the country. There was also a considerable Tamil population; and just as the Colonel could talk fluently and instructively to the Burmese about Buddhism, so could he speak equally well to the Tamil population about Hinduism; in just the same way I have heard him descant by the hour to a Parsi audience about Zoroastrianism; and as it was quite obvious that he was by no means a scholar, in the ordinary sense of the word, with regard to any of the Oriental Scriptures, I once asked him how it was that, without that detailed knowledge, he was nevertheless so well able to expound the doctrines of these various faiths, and in every case to throw new light upon them, which their own instructors had not given to them.

Chúng tôi nhận thấy có rất nhiều quan tâm được khơi dậy bởi phần trình bày của Đại tá về Phật giáo. Khá đông các vị quý ông người Miến tụ họp mỗi tối tại phòng khách của chủ nhà chúng tôi, và chúng tôi thường có những cuộc thảo luận hữu ích và lý thú. Tuy nhiên, sự quan tâm ấy không chỉ giới hạn trong dân bản xứ. Cũng có một cộng đồng người Tamil khá đông; và cũng như Đại tá có thể nói lưu loát và giàu tính hướng dẫn với người Miến về Phật giáo, Ông cũng có thể nói hay không kém với cộng đồng Tamil về Ấn giáo; theo cùng một cách, tôi đã nghe Ông thao thao bất tuyệt hàng giờ trước một thính chúng Parsi về Bái Hỏa giáo; và vì rõ ràng rằng theo nghĩa thông thường của từ này, Ông tuyệt đối không phải là một học giả về bất kỳ Kinh điển Đông phương nào, nên có lần tôi hỏi Ông làm sao mà, không có kiến thức chi tiết, Ông vẫn có thể giảng giải rất tốt các giáo thuyết của nhiều tôn giáo như vậy, và trong mọi trường hợp đều soi rọi cho họ những điểm mới mà chính các vị giáo thọ của họ chưa đưa ra.

He replied: “My dear boy, of course I do not know the detail of all these religions; but I do know my Theosophy, and I find that that always fits in and explains everything, They propound their various problems; I listen carefully and then use my commonsense.” I can certainly testify that the plan worked.

Ông đáp: “Chàng trai thân mến của tôi, dĩ nhiên tôi không biết chi tiết của tất cả các tôn giáo ấy; nhưng tôi biết Thông Thiên Học của mình, và tôi thấy rằng nó luôn khớp vào và giải thích được mọi sự. Họ nêu các vấn đề khác nhau của họ; tôi lắng nghe cẩn thận và rồi dùng lẽ thường.” Tôi có thể xác nhận rằng cách đó tỏ ra hữu hiệu.

The Colonel also made the acquaintance of some European and Eurasian gentlemen who were deeply interested in the phenomena of mesmerism; and as the Colonel himself was a powerful mesmerist, he was soon able to form a little group of students along that line. But just as all this work was opening up so well in these various directions, there came a telegram from Damodar to the Colonel begging him to return at once, as Madame Blavatsky was dangerously ill. Of course he took the next steamer back to Madras, leaving me behind in Rangoon to try to hold these various elements together—rather a serious undertaking for a man who was quite new to this particular sort of work. However, I did the best I could, though I am afraid that I entirely lack the Colonel’s ready wit and his facility of exposition.

Đại tá cũng làm quen với một số vị quý ông Âu và Á-Âu rất quan tâm đến các hiện tượng thôi miên; và vì tự thân Đại tá là một nhà thôi miên mạnh, Ông chẳng mấy chốc đã lập được một nhóm nhỏ môn sinh theo hướng đó. Nhưng ngay khi tất cả công việc này đang mở ra rất tốt đẹp theo nhiều hướng khác nhau, bỗng có điện tín từ Damodar gửi Đại tá, nài xin Ông lập tức quay về, vì Bà Blavatsky lâm trọng bệnh. Tất nhiên Ông liền đi chuyến tàu kế tiếp về Madras, để mặc tôi ở lại Rangoon cố gắng giữ cho các nhóm khác nhau ấy gắn kết với nhau—một đảm đương khá nghiêm trọng đối với một người hoàn toàn mới với kiểu công việc này. Tuy nhiên, tôi làm hết sức mình, dẫu e rằng tôi hoàn toàn không có khả năng ứng đối nhanh trí và lối trình bày lưu loát như Đại tá.

On his arrival at Madras he found Madame Blavatsky in a most serious condition; indeed, I think that for three or four days he was quite uncertain as to her recovery; but at the end of that time her Master paid her one of those visits in which He offered her the choice of resigning her terribly enfeebled body or carrying it on for awhile, to do yet another piece of work before casting it finally aside. This seems to have happened several times in the course of her career, and each time she chose the more arduous path and received from Him strength to carry on yet a little longer. In this case she became quite suddenly so much better that she was willing to consent to the Colonel’s return to Burma, so he came back again on the return voyage of the same steamer which had carried him to India—the s.s. Oriental. I need hardly say how glad I was to welcome him, and to hear that Madame Blavatsky had made so wonderful a recovery.

Khi về tới Madras, Ông thấy Bà Blavatsky trong tình trạng cực kỳ nghiêm trọng; thực vậy, tôi nghĩ rằng suốt ba hay bốn ngày Ông hoàn toàn không chắc Bà có qua khỏi hay không; nhưng cuối thời gian ấy, Chân sư của Bà đã đến thăm Bà một lần như thế, trong đó Ngài cho Bà quyền chọn hoặc buông bỏ thân xác đã kiệt quệ đến thảm hại của mình, hoặc duy trì nó thêm một thời gian, để làm thêm một phần việc nữa trước khi vĩnh viễn trút bỏ. Điều này dường như đã xảy ra vài lần trong suốt cuộc đời Bà, và mỗi lần Bà đều chọn con đường gian lao hơn và nhận từ Ngài sức mạnh để gắng gượng thêm đôi chút. Trong trường hợp này, Bà bỗng tốt lên nhanh đến mức Bà sẵn lòng đồng ý để Đại tá trở lại Miến Điện, thế là Ông lại quay về trên chuyến hồi trình của chính con tàu đã chở Ông sang Ấn Độ—tàu s.s. Oriental. Khỏi cần nói tôi hân hoan dường nào khi đón Ông, và nghe tin Bà Blavatsky đã hồi phục kỳ diệu.

He took up his work again with the utmost enthusiasm and formed no less than three separate Branches of the Society—the Shwe Dagon Branch for the Burmese for the study of Buddhism, the Rangoon Theosophical Society for the Tamil members, and the Irrawaddy Theosophical Society for the European and Eurasian students of mesmerism. The Shwe Dagon is the magnificent golden pagoda which stands on a spur of the hills just outside the town, and is said to contain relics not only of the Lord Gautama Buddha, but also of the three Buddhas who preceded Him in this world—a wonderful bell-shaped dome rising 370 feet above its platform, which is itself 166 feet above the surrounding country. The whole of that great dome is covered with gold leaf, which is constantly being renewed, so it may well be imagined that the effect is splendid and that the dagoba is a landmark visible for many miles around.

Ông lại bắt tay vào việc với nhiệt huyết tột độ và lập liền ba Chi bộ riêng của Hội—Chi bộ Shwe Dagon cho người Miến để học Phật giáo, Hội Thông Thiên Học Rangoon cho các hội viên Tamil, và Hội Thông Thiên Học Irrawaddy cho các môn sinh Âu và Á-Âu quan tâm đến thôi miên. Shwe Dagon là ngôi chùa vàng tráng lệ tọa trên một mỏm đồi ngay ngoài thành, được nói là chứa thánh tích không chỉ của Đức Phật Gautama, mà còn cả của ba vị Phật đã đi trước Ngài trong thế giới này—một mái vòm hình chuông kỳ vĩ vươn cao 370 bộ trên nền đài của nó, mà chính nền đài này cao 166 bộ so với vùng chung quanh. Toàn bộ mái vòm lớn ấy được dát vàng lá, liên tục được tu bổ, nên có thể hình dung hiệu quả rực rỡ đến dường nào và tháp xá lợi (dagoba) ấy là cột mốc có thể nhìn thấy từ nhiều dặm quanh vùng.

The platform measures 900 feet by 700 and contains numerous little temples, shrines and rest-houses in which are hundreds of images of the Lord Buddha, presented by countless devotees since the year 588 b.c., when the erection of this dagoba was begun, although it is stated that the spot had been sacred for centuries before. I remember the wonderfully artistic effect produced when, immediately after sunrise one morning. “Colonel Olcott delivered a lecture on that platform, he himself standing at the top of a small flight of steps, and his audience seated in their peculiar way upon the vast stone platform. The festive dress of the Burmese is more brightly-coloured than any other in the world; and sitting at the feet of the Colonel and looking out over his audience, I can compare it only to a vast field of the most brilliantly-coloured flowers—something like those that one sees from the railway train in Holland at the season when the narcissi and the daffodils or the tulips are in flower. Years later I have myself spoken on that same platform, and have even given the Pansil to a huge crowd there; and always one finds the same wonderful effect.

Nền đài đo 900 bộ x 700 bộ và có nhiều đền nhỏ, thánh điện và nhà nghỉ, trong đó có hàng trăm tượng của Đức Phật, do vô số thiện tín dâng tặng kể từ năm 588 trước Công nguyên, khi việc dựng tháp bắt đầu, dẫu người ta nói rằng địa điểm này đã linh thiêng suốt nhiều thế kỷ trước đó. Tôi còn nhớ ấn tượng nghệ thuật tuyệt vời tạo nên khi, ngay sau bình minh một buổi sáng, Đại tá Olcott giảng thuyết trên nền đài ấy, chính Ông đứng trên đỉnh một đoạn bậc thang nhỏ, và thính giả ngồi theo kiểu ngồi đặc thù của họ trên nền đá mênh mông. Y phục lễ hội của người Miến có màu sắc rực rỡ hơn bất kỳ dân tộc nào khác; và khi ngồi dưới chân Đại tá, nhìn ra khắp thính chúng, tôi chỉ có thể ví đó như một cánh đồng mênh mang những đóa hoa rực rỡ nhất—hơi giống cảnh người ta thấy từ tàu hỏa ở Hà Lan vào mùa thủy tiên, uất kim hương hay tulip đua nở. Nhiều năm sau, chính tôi cũng đã nói trên nền đài ấy, và thậm chí truyền Pansil cho một đám đông khổng lồ ở đó; và luôn luôn người ta bắt gặp cùng một ấn tượng kỳ diệu.

In the course of many lengthy conversations with our host and other Burmese friends, all of them elders and men of importance in the Buddhist community of Rangoon, the Colonel had come to doubt very seriously the wisdom and the utility of the proposed visit to King Theebaw at his capital, Mandalay, in Upper Burma. Colonel Olcott tells us in his Old Diary Leaves that our advisers gave this monarch an exceedingly bad character, regretfully admitting that he was a debauched tyrant, a monster of vice and cruelty, and that his motive in inviting a visit was merely curiosity to see a white Buddhist, and not enthusiasm for the Buddhist religion, of which the ruler himself was so unworthy an exponent. It was also stated that the King’s arrogant and unjust conduct in his dealings with certain English merchants was almost certain to lead speedily to an outbreak of war, which would assuredly render nugatory any attempt to introduce Theosophy into his dominions. So the Colonel, decided to cancel our proposed northern journey, and substitute for it a tour through Lower Burma, Assam, and Bengal. Even this plan, however, was not destined to be realized at that period, for we were hurriedly recalled by the news that Madame Blavatsky had had an alarming relapse.

Qua nhiều cuộc đàm thoại dài với chủ nhà và những người bạn Miến khác của chúng tôi—tất cả đều là bậc trưởng thượng và là những người có vai vế trong cộng đồng Phật giáo ở Rangoon—Đại tá đã đi đến nghi ngờ rất nghiêm túc về sự khôn ngoan và ích dụng của chuyến viếng thăm Vua Theebaw tại kinh đô Mandalay, Thượng Miến, như đã dự định. Đại tá Olcott thuật lại trong Old Diary Leaves rằng các vị cố vấn của chúng tôi dành cho quân vương này một nhận định cực kỳ bất lợi, buồn bã thừa nhận rằng ông ta là một bạo chúa trụy lạc, một quái vật của thói xấu và tàn bạo, và rằng động cơ mời viếng thăm chỉ là tò mò muốn thấy một Phật tử da trắng, chứ không phải là nhiệt tâm với đạo Phật, mà chính nhà vua là một người trình bày đạo quá bất xứng. Cũng có lời nói rằng thái độ kiêu căng và bất công của Nhà Vua trong cách đối xử với một số thương nhân Anh gần như chắc chắn sẽ sớm dẫn đến bùng nổ chiến tranh, điều ấy đương nhiên sẽ làm vô hiệu mọi nỗ lực đưa Thông Thiên Học vào cõi trị của ông ta. Vì vậy, Đại tá quyết định hủy bỏ chuyến đi lên miền bắc như dự kiến và thay vào đó là một chuyến du hành qua Hạ Miến, Assam và Bengal. Dẫu thế, kế hoạch này cũng không được định duyên thực hiện vào thời điểm đó, vì chúng tôi bị vội vã gọi về bởi tin Bà Blavatsky vừa tái phát một cơn nguy kịch.

Two Religious Leaders—Hai Vị Lãnh Đạo Tôn Giáo

Before I refer to our return voyage I must not forget to chronicle two very interesting interviews. The first was with the Tha-tha-na-baing, or Chief Abbot of Mandalay, a sort of Burmese Archbishop of Canterbury, who visited Rangoon during our stay and was good enough to give us an audience. I remember having to sit for three hours in a most uncomfortable and cramped position, out of respect for this ecclesiastical dignitary, while he carried on a keen discussion with Colonel Olcott on various points of Buddhist doctrine. Of course, he spoke no English, so every sentence had to be interpreted, and it was often difficult to arrive at a mutual understanding. I think, however, that the exceedingly able and somewhat sceptical old gentleman was eventually fully satisfied that we really were genuine Buddhists!

Trước khi nói về chuyến về lại của chúng tôi, tôi không được quên ghi chép hai cuộc gặp gỡ rất thú vị. Cuộc đầu là với vị Tha-tha-na-baing, hay Tổng trụ trì của Mandalay, một dạng “Tổng Giám mục Canterbury” của Miến Điện, người đã viếng Rangoon trong thời gian chúng tôi ở đó và có nhã ý cho chúng tôi yết kiến. Tôi nhớ đã phải ngồi suốt ba giờ trong một tư thế vô cùng khó chịu và gò bó, để tỏ lòng tôn kính vị giáo phẩm này, trong khi Ngài tranh luận sôi nổi với Đại tá Olcott về nhiều điểm giáo lý Phật giáo. Dĩ nhiên Ngài không nói tiếng Anh, nên mỗi câu đều phải qua thông dịch, và nhiều khi rất khó đạt tới sự thấu hiểu lẫn nhau. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng vị lão trượng cực kỳ thông tuệ và hơi hoài nghi ấy cuối cùng đã hoàn toàn tin chắc rằng chúng tôi thật sự là những Phật tử chân chính!

The other interview was also with an ecclesiastical dignitary, but a man of very different type—the gentle and saintly Roman Catholic Bishop Bigandet, then Vicar Apostolic of Southern Burma. During his long tenure of that office he had become intensely interested in the religion of the country, and had written a very valuable and sympathetic book. The Legend of Gaudama, which was published in two volumes in Trubner’s Oriental Series. So we felt sure that when calling on him we should find that we had many points in common, and we were not disappointed. He received us most graciously, complimenting Colonel Olcott on his Buddhist Catechism, than which, he said, there was no more useful book on the religion of Sakyamuni. He assured us emphatically that he had no more doubt as to the salvation of his good Buddhist friends and neighbours than he had of his own, and he spoke very highly of their probity, kindliness and general good character. The Colonel was deeply impressed in his favour and, being unaccustomed to dealing with those of episcopal rank, would persist in addressing him as “Your Right Reverence” instead of the customary “My Lord”!

Cuộc gặp thứ hai cũng là với một vị giáo phẩm, nhưng là một người thuộc kiểu rất khác—vị Giám mục Công giáo Rôma hiền hòa và thánh thiện Bigandet, khi ấy là Đại diện Tông tòa miền Nam Miến Điện. Trong suốt thời gian dài giữ chức vụ, Ngài đã trở nên hết mực quan tâm đến tôn giáo của xứ sở, và đã viết một cuốn sách rất giá trị và đầy cảm thông, The Legend of Gaudama, xuất bản hai tập trong Oriental Series của Trubner. Thế nên chúng tôi chắc rằng khi đến thăm Ngài, chúng tôi sẽ thấy có nhiều điểm đồng cảm, và quả nhiên không thất vọng. Ngài tiếp chúng tôi rất ân cần, khen ngợi Buddhist Catechism của Đại tá Olcott, và nói rằng khó có cuốn nào hữu ích hơn về tôn giáo của Đức Thích-ca Mâu-ni. Ngài quả quyết rằng Ngài không chút nghi ngờ về sự cứu rỗi của những người bạn và láng giềng Phật tử tốt lành của Ngài, cũng như Ngài tin chắc về phần mình, và Ngài đánh giá rất cao đức liêm chính, lòng nhân hậu và phẩm hạnh nói chung của họ. Đại tá rất có cảm tình với Ngài và, vì không quen ứng xử với bậc giáo phẩm hàng Giám mục, nên cứ khăng khăng xưng hô với Ngài là “Ngài Tôn Đức” thay vì lối xưng hô thông thường “Đức Ông”!

Our Return Voyage—Chuyến Hồi Trình Của Chúng Tôi

We left Rangoon on the British India steamer Himalaya, and a most remarkable voyage we had. We must have started under unfavourable astrological auspices, for every day as we crossed the Bay of Bengal in perfect weather, some curious little misfortune occurred to us. We had some missionaries on board and, as is well known, sailors of most countries consider them as birds of ill omen, certain to bring bad luck; so that before we reached Bimlipatam our Lascar crew was in a condition of terror and almost on the verge of mutiny.

Chúng tôi rời Rangoon trên tàu của British India mang tên Himalaya, và có một chuyến hải trình thật khác thường. Hẳn là chúng tôi khởi hành dưới những điềm chiêm tinh bất lợi, vì mỗi ngày khi băng qua Vịnh Bengal trong thời tiết hoàn hảo, đều xảy đến với chúng tôi một chuyện rủi nhỏ lạ lùng. Trên tàu có vài nhà truyền giáo, và như ai cũng biết, thủy thủ của hầu hết các xứ vốn xem họ như điềm gở, chắc chắn mang lại xúi quẩy; nên trước khi đến Bimlipatam, thủy thủ đoàn Lascar của chúng tôi đã hoảng sợ đến mức gần như bên bờ nổi loạn.

On the first day out the engines failed; but in those days many steamers carried sails as well, and we were brig-rigged, so we sailed along like a yacht for several hours at a pace of two knots or so, until repairs were effected. Next day a Hindu deck passenger fell overboard, and the ship had to stop, put out a boat to rescue him, and steam round in a circle to pick him up. A curious point was that the Colonel, told us that five months before in Paris a clairvoyant had described this scene, saying that he saw him (the Colonel) sailing in a steamer on a far-off sea, a man falling overboard, the vessel stopped, a boat put out, and the steamer moving in a circle. As a steamer does not usually move in a circle unless she is swinging her compasses, this struck the Colonel as odd, and he made a note of it, little expecting that the vision would prove to be prophetic of an event which would take place nearly half a year later on the other side of the world.

Ngày đầu tiên ra khơi, máy tàu hỏng; nhưng thuở ấy nhiều tàu hơi nước cũng mang buồm, và tàu chúng tôi được trang bị buồm kiểu thuyền hai cột, nên chúng tôi lướt đi như một du thuyền trong nhiều giờ, tốc độ chừng hai nút, cho đến khi sửa chữa xong. Hôm sau, một hành khách theo Ấn giáo ở boong rơi xuống biển, và tàu phải dừng lại, hạ xuồng cứu người, và chạy vòng tròn để đón anh ta lên. Một điểm lạ là Đại tá kể rằng năm tháng trước ở Paris, một người thông nhãn đã mô tả cảnh tượng này, nói rằng ông ta thấy Ông (Đại tá) đi trên một tàu hơi nước ở một biển khơi xa xăm, có người rơi khỏi tàu, con tàu dừng lại, hạ xuồng, và chiếc tàu chạy theo một vòng tròn. Vì tàu hơi nước thường không chạy vòng tròn, trừ khi đang hiệu chỉnh la bàn, nên điều ấy làm Đại tá thấy lạ, và Ông ghi chú lại, chẳng ngờ rằng thị kiến ấy sẽ tỏ ra là lời tiên báo về một sự kiện xảy ra gần nửa năm sau, ở bên kia địa cầu.

The passenger was saved; the incident had no serious consequences, but still the crew began to grumble; and their nervousness was pardonably intensified when next an unexplained fire was discovered burning among the cargo. That was soon extinguished, and but little harm was done, but the feeling of unrest continued; and it culminated the day after when a case of smallpox declared itself among the steerage passengers! Perhaps it was just as well that we sighted the Indian coast early on the next day, before there was time for another stroke of misfortune to descend upon us!

Hành khách được cứu; sự cố không có hậu quả nghiêm trọng, nhưng thủy thủ đoàn đã bắt đầu càu nhàu; và nỗi bất an của họ lại càng có thể thông cảm khi kế đó, một đám cháy vô cớ được phát hiện đang bùng lên trong hàng hóa. Đám cháy sớm được dập tắt, và chỉ gây hại chút ít, song cảm giác bất ổn vẫn kéo dài; và nó lên tới cực điểm vào ngày kế tiếp khi một ca đậu mùa bộc phát giữa đám hành khách hạng hầm! Có lẽ cũng may là sáng hôm sau chúng tôi đã sớm nhìn thấy bờ biển Ấn Độ, trước khi còn thời gian cho một vận rủi khác giáng xuống!

CHAPTER IX—CHƯƠNG IX

Unrest at Adyar

Bất ổn ở Adyar

When we arrived at Adyar we found very unsatisfactory conditions prevailing there. The Headquarters was by no means the haven of rest and peace which it should be, but was instead full of mistrust and disquiet. In spite of the decision of the Convention the household was still divided on the question as to whether Madame Blavatsky should prosecute her missionary slanderers for libel. There were many who held that it was only by a successful lawsuit that she could ever rehabilitate herself in the eyes of the world; and she herself was strongly disposed to agree with them, while others held that such a course could end in nothing but disaster.

Khi chúng tôi đến Adyar, chúng tôi thấy ở đó đang tồn tại những điều kiện hết sức bất ổn. Trụ sở Trung ương tuyệt nhiên không phải là bến yên nghỉ và bình an như lẽ ra nó phải thế, mà trái lại tràn ngập ngờ vực và bất an. Bất chấp quyết nghị của Đại Hội, sinh hoạt trong nhà vẫn còn chia rẽ về việc liệu Bà Blavatsky có nên kiện những kẻ vu cáo truyền giáo của Bà về tội phỉ báng hay không. Nhiều người cho rằng chỉ bằng một vụ kiện thành công thì Bà mới có thể khôi phục thanh danh trước mắt thế gian; và chính Bà cũng thiên về đồng ý với họ, trong khi những người khác lại cho rằng đường lối như vậy sẽ không đưa tới gì ngoài tai họa.

The European element at Headquarters at that time was much dissatisfied with Colonel Olcott’s management of the Society’s affairs, and wished him to hand over the control of them to a committee composed, if I remember rightly, of themselves with one Indian gentleman as collaborator. To me personally this seemed a monstrously unfair suggestion, and I refused to take any part in the agitation, and naturally enough Colonel Olcott did not feel that he could hand over his responsibilities as President to the malcontents. During the Colonel’s absence these people had won a reluctant half-assent to their plan from Madame Blavatsky when she was too ill fully to understand the scope of their suggestion—they having alarmed her by Cassandra-like prophecies of the imminent disintegration and collapse of the Society if their remedy was not instantly adopted. But as soon as she recovered and Colonel Olcott explained to her the full inwardness of their modest demand, she at once withdrew her grudging consent and vigorously repudiated the cabal.

Thành phần người Âu ở Trụ sở khi ấy rất bất mãn với cách Đại tá Olcott điều hành công việc của Hội, và muốn Ông trao quyền kiểm soát cho một ủy ban, nếu tôi nhớ không lầm, gồm chính họ với một ông người Ấn làm cộng tác. Riêng tôi thấy đó là một đề nghị cực kỳ bất công, nên tôi từ chối tham gia bất kỳ cuộc vận động nào, và dĩ nhiên Đại tá Olcott không cảm thấy có thể giao phó trách nhiệm của vị Chủ tịch cho những kẻ bất mãn. Trong thời gian Đại tá vắng mặt, những người này đã giành được sự nửa ưng thuận miễn cưỡng cho kế hoạch của họ từ Bà Blavatsky khi Bà quá bệnh không thể hiểu trọn vẹn phạm vi đề nghị—vì họ đã làm Bà hoảng sợ bằng những lời tiên tri kiểu Cassandra rằng Hội sắp tan rã và sụp đổ nếu phương dược của họ không lập tức được áp dụng. Nhưng ngay khi Bà bình phục và Đại tá Olcott giải thích cặn kẽ với Bà cái ý đồ bên trong của lời “thỉnh cầu khiêm nhường” đó, Bà lập tức rút lại sự ưng thuận gượng ép và mạnh mẽ bác bỏ nhóm kết bè kết cánh ấy.

Madame Blavatsky’s Departure—Sự ra đi của Bà Blavatsky

Under the constant harassment of these various complications Madame Blavatsky seemed quite unable, to recover her health, and the distress which was caused to her by this continuous chain of annoyances was so great that at last her doctor flatly declared that her illness must very shortly terminate fatally unless she could escape altogether from her present environment. With great difficulty we at last obtained her assent to a temporary residence in Europe, and towards the end of March she actually departed by the s.s. Tibre, accompanied by Dr. Franz Hartmann, Miss Mary Flynn and the self-styled Babaji Darbhagiri Nath. Damodar Keshub Mavalankar had already left Adyar on the 23rd February, before our return from Burma, and now that the bid for domination made by the European clique had failed they also speedily left; and the Headquarters and Adyar seemed empty and deserted.

Bị quấy rối không ngừng bởi đủ thứ rắc rối, Bà Blavatsky dường như hoàn toàn không thể phục hồi sức khỏe, và nỗi khổ tâm do chuỗi phiền nhiễu liên miên ấy gây ra cho Bà quá lớn đến nỗi cuối cùng bác sĩ quả quyết rằng bệnh của Bà rất sớm sẽ kết thúc bằng cái chết nếu Bà không thể thoát hẳn khỏi môi trường hiện tại. Với rất nhiều khó khăn, cuối cùng chúng tôi cũng được Bà ưng thuận tạm thời sang châu Âu, và vào cuối tháng Ba, Bà đã thực sự rời đi bằng tàu hơi nước Tibre, cùng đi có Bác sĩ Franz Hartmann, cô Mary Flynn và người tự xưng là Babaji Darbhagiri Nath. Damodar Keshub Mavalankar đã rời Adyar từ ngày 23 tháng Hai, trước khi chúng tôi trở về từ Miến Điện, và khi mưu toan thao túng của nhóm người Âu thất bại, họ cũng nhanh chóng bỏ đi; và Trụ sở cũng như Adyar bỗng trống vắng, hiu hắt.

Not long after this Colonel Olcott departed upon one of his frequent tours; but before he left he offered me the choice of two lines of work; either I might go down to Galle and take charge of the Theosophical school recently established there, or remain at the headquarters and hold the position of Recording Secretary of the Society. I chose the latter, principally because it allowed me to stay in the centre of the movement where I knew that our Masters frequently showed Themselves in materialized forms.

Không lâu sau đó, Đại tá Olcott lại lên đường đi một trong những chuyến công du thường xuyên; nhưng trước khi rời đi Ông đề nghị cho tôi chọn một trong hai công việc: hoặc tôi có thể xuống Galle đảm nhận trường Thông Thiên Học mới lập ở đó, hoặc ở lại Trụ sở và giữ chức Thư ký Biên bản của Hội. Tôi chọn phương án sau, chủ yếu vì nó cho phép tôi ở lại trung tâm phong trào, nơi tôi biết rằng các Chân sư của chúng ta thường hiện hình.

Although the Recording Secretary was expected also to perform the functions of the manager of the Theosophist Office and of the book concern, the work was still of the lightest description in those early days. I did my best, but I am afraid that I was not a shining success in any of these capacities, because I was entirely inexperienced in business matters, and had little idea which books would sell well, and which would not. My predecessor in the office had been the aforesaid Damodar, and while I knew little of business I think he must have known even less, for I found everything connected with the office in a state of chaos, with huge piles of unanswered and even unopened letters stacked on the floor in heaps. The fact was, I think, that Damodar lived so entirely on higher planes that he actually had no time for the physical, and I fancy that he even regarded it with a strong distaste. He wrote articles and letters with great power and with tireless assiduity, and mundane considerations such as filling book orders and acknowledging subscriptions simply did not enter into his world of thought at all. Our office at that time was the long central room with a large veranda looking out upon the river, opposite the platform and facing the statues of the founders. It is now used as a kind of reading-room, an annex to the library.

Mặc dù Thư ký Biên bản còn được trông đợi kiêm nhiệm chức năng quản lý Văn phòng Theosophist và cơ sở sách, nhưng trong những năm đầu công việc vẫn là nhẹ nhàng nhất. Tôi đã cố hết sức, nhưng e rằng tôi chẳng mấy sáng giá ở bất kỳ vai trò nào trong số ấy, vì tôi hoàn toàn thiếu kinh nghiệm về thương vụ, và ít có ý niệm sách nào sẽ bán chạy, sách nào thì không. Người tiền nhiệm của tôi trong văn phòng là Damodar vừa nhắc đến; và trong khi tôi biết ít về thương vụ thì tôi nghĩ Ông chắc còn biết ít hơn, vì tôi thấy mọi thứ liên quan đến văn phòng ở trong tình trạng hỗn độn, với những đống thư chưa trả lời và thậm chí chưa mở phong bì chất thành từng đụn trên sàn. Sự thật, theo tôi, là Damodar sống hầu như hoàn toàn trên các cõi cao đến nỗi thật sự không còn thì giờ cho cõi hồng trần, và tôi đoán rằng Ông thậm chí còn rất chán ghét nó. Ông viết bài và thư với sức mạnh lớn lao và sự chuyên cần không mệt mỏi, còn những bận tâm phàm thế như đóng gói sách theo đơn đặt hàng hay hồi báo tiền đặt báo thì đơn giản là không hề bước vào thế giới tư tưởng của Ông. Văn phòng của chúng tôi khi ấy là căn phòng dài ở giữa, có hiên lớn nhìn ra sông, đối diện bục và hướng về các pho tượng của các vị sáng lập. Nay nó được dùng như một dạng phòng đọc, nối thêm cho thư viện.

The Masters Materialize—Các Chân sư hiện hình

I spoke just now of the occasional materialization of our Masters in those days. It should be remembered that at that time no one among us except Madame Blavatsky herself (and to a certain extent Damodar) had developed astral sight while still awake in the physical body. Nor could any one else bring through communications from the higher planes with the requisite certainty. So when, our Masters wished to convey anything definitely to us they had either to announce it through Madame Blavatsky, to write it as a letter to be delivered by phenomenal means, or to show Themselves in materialized form and speak by word of mouth.

Vừa rồi tôi có nói đến việc đôi khi các Chân sư của chúng ta hiện hình trong những năm ấy. Cần nhớ rằng vào thời điểm đó không ai trong chúng tôi, ngoại trừ chính Bà Blavatsky (và ở một mức độ nào đó là Damodar), đã phát triển được thị giác cảm dục trong khi vẫn tỉnh thức trong thể xác. Cũng không ai khác có thể chuyển đạt những truyền thông từ các cõi cao với độ xác quyết cần thiết. Vì vậy khi các Chân sư của chúng ta muốn truyền đạt điều gì rõ ràng cho chúng tôi, Các Ngài hoặc phải công bố qua Bà Blavatsky, hoặc viết thành thư giao bằng phương tiện hiện tượng lạ, hoặc hiện hình và nói trực tiếp bằng lời.

It was in such a materialized form that I first saw both of the Masters who have been most closely associated with the Theosophical Society. My own Master, whom we now know as the Chohan Kuthumi, I first met (on the physical plane) on the square of roof outside the door of our President’s room, then occupied by Madame Blavatsky. The additions since made have so changed the appearance of that roof that it is not now easy to follow exactly the lines of the older building; but there was at that time a sort of balustrade running along the front of the house at the edge of the roof, and I happened to be looking towards that when the Master materialized in the very act of stepping over that balustrade, as though He had previously been floating through the air.

Chính trong hình thức hiện hình như vậy mà lần đầu tiên tôi thấy cả hai vị Chân sư gắn bó mật thiết nhất với Hội Thông Thiên Học. Vị Chân sư của riêng tôi, Đấng mà nay chúng ta biết là Chohan Kuthumi, tôi lần đầu gặp (trên cõi hồng trần) ở khoảng sân mái ngay ngoài cửa phòng Chủ tịch của chúng tôi, khi ấy do Bà Blavatsky ở. Những phần cơi nới về sau đã thay đổi dáng dấp mái nhà ấy đến mức giờ đây khó mà lần theo chính xác đường nét của kiến trúc cũ; nhưng khi ấy có một dải lan can chạy dọc mặt tiền ngôi nhà ngay mép mái, và tôi tình cờ đang nhìn về hướng đó thì Chân sư hiện hình đúng vào lúc Ngài bước qua lan can ấy, như thể trước đó Ngài vừa lướt qua không khí.

Naturally I rushed forward and prostrated myself before Him; He raised me with a kindly smile, saying that though such demonstrations of reverence were the custom among the Indian peoples, He did not expect them from His European devotees, and He thought that perhaps there would be less possibility of any feeling of embarrassment if each nation confined itself to its own methods of salutation.

Tự nhiên tôi chạy vội tới và phủ phục trước Ngài; Ngài đỡ tôi đứng dậy với nụ cười hiền hậu, nói rằng tuy những biểu hiện tôn kính như vậy là phong tục nơi các dân tộc Ấn Độ, Ngài không trông đợi điều ấy nơi những người sùng kính châu Âu của Ngài, và Ngài nghĩ rằng có lẽ sẽ bớt khả năng gây bối rối hơn nếu mỗi dân tộc giữ theo cách chào của riêng mình.

The first time that I had the honour of seeing the Master Morya was on one of those occasions to which I have already referred, when He visited Madame Blavatsky and endowed her with renewed strength to support the burden of her arduous work.

Lần đầu tiên tôi có vinh hạnh được thấy Chân sư Morya là vào một trong những dịp mà tôi đã đề cập, khi Ngài đến thăm Bà Blavatsky và ban cho Bà nguồn lực mới để gánh vác gánh nặng công việc cam go của Bà.

Those who are familiar with the configuration of the President’s rooms as they were in the year 1885 will understand what I mean when I say that three of us—a European lady, a distinguished Indian brother and myself—were seated in the ante-room from which Madame Blavatsky’s bedroom branched off at a right angle. (The square room now occupied by our President had not then been added.) The lady was seated on a cushion just inside the outer door to the right, leaning against the rail which protects the stairway running down to the bathroom below. The Indian brother and I were seated on the floor at the opposite corner of the little ante-room, leaning our backs against the edge of a sofa, which stood just to the right of the door leading into Madame Blavatsky’s bedroom.

Những ai quen thuộc với bố cục các phòng của Chủ tịch như vào năm 1885 sẽ hiểu ý tôi khi nói rằng có ba người chúng tôi—một nữ nhân người Âu, một huynh đệ Ấn Độ danh giá và tôi—đang ngồi trong căn phòng tiền sảnh nơi phòng ngủ của Bà Blavatsky rẽ ra vuông góc. (Căn phòng vuông nay do vị Chủ tịch của chúng tôi sử dụng khi ấy chưa được xây thêm.) Người phụ nữ ngồi trên đệm ngay bên trong cửa ngoài về phía tay phải, tựa lưng vào thành chắn bảo vệ cầu thang dẫn xuống phòng tắm bên dưới. Vị huynh đệ Ấn Độ và tôi ngồi dưới sàn ở góc đối diện của phòng tiền sảnh nhỏ, tựa lưng vào mép của một chiếc sofa, chiếc sofa đặt ngay bên phải cửa dẫn vào phòng ngủ của Bà Blavatsky.

A Marvellous Change—Một sự đổi thay kỳ diệu

Our Founder herself lay in bed inside in a condition of extreme weakness, but she had just sunk to sleep, so that the lady who was nursing her had thought it safe to steal a few moments of respite, and had come out to sit with us. She was describing to us tearfully Madame’s exceeding weakness when she suddenly checked herself to say: “Who can that be?” for we all heard a firm quick step approaching along what was then the open roof, beyond the bedroom. The footsteps came down from that higher level and passed quickly before the window which faced us as we sat, and then—the Master Morya entered the room; but the lady did not see Him, for as He entered the startled look left her face, and she sank back upon her cushion as though in sleep. The Indian and I sprang to our feet and prostrated ourselves; but the Master Morya walked quickly past us with a bright smile and a benedictory wave of His hand turned in to Madame Blavatsky’s bedroom.

Chính vị Sáng lập của chúng ta nằm trong phòng, thân thể cực kỳ suy kiệt, nhưng Bà vừa chợp mắt, nên người chăm sóc Bà nghĩ rằng có thể lén tranh thủ vài phút nghỉ ngơi, và đã bước ra ngồi với chúng tôi. Cô đang rưng rưng mô tả với chúng tôi về sự yếu ớt tột cùng của Bà thì bỗng khựng lại để nói: “Ai vậy nhỉ?” vì tất cả chúng tôi đều nghe tiếng bước chân dứt khoát, nhanh nhẹn đang tiến lại dọc theo phần mái nhà lộ thiên bấy giờ nằm phía sau phòng ngủ. Tiếng chân đi xuống từ mức mái cao hơn rồi nhanh chóng đi qua trước khung cửa sổ đối diện chúng tôi đang ngồi, và rồi—Chân sư Morya bước vào phòng; nhưng người phụ nữ không nhìn thấy Ngài, vì khi Ngài bước vào, vẻ giật mình rời khỏi gương mặt cô, và cô thả người xuống chiếc đệm như thể thiếp đi. Vị huynh đệ Ấn Độ và tôi bật đứng dậy và phủ phục; nhưng Chân sư Morya đi nhanh qua trước chúng tôi với nụ cười rạng rỡ và cái vẫy tay ban phúc, rẽ vào phòng ngủ của Bà Blavatsky.

We heard an exclamation from her, a few words in His. voice and then some reply from her, and in a few minutes He came out again with the same quick step, once more smilingly acknowledged our salutations and passed out again by the way that He came. Only after He had left the room did the lady start up from her corner with the exclamation:

Chúng tôi nghe Bà kêu khẽ, vài lời bằng giọng của Ngài, rồi Bà đáp lại mấy câu, và chỉ ít phút sau Ngài trở ra với bước chân nhanh nhẹn như cũ, một lần nữa mỉm cười đáp lễ sự chào kính của chúng tôi và rời khỏi bằng lối Ngài đã đến. Chỉ sau khi Ngài rời khỏi phòng, người phụ nữ mới giật mình ngồi bật dậy nơi góc của cô và kêu lên:

“O, who was that?”

“Ô, ai vừa ở đây vậy?”

Before we had any time to discuss the matter our attention was distracted by a call for the nurse from Madame Blavatsky, in surprisingly loud and firm tones:

Trước khi chúng tôi kịp bàn bạc, sự chú ý của chúng tôi bị kéo đi bởi tiếng gọi y tá từ Bà Blavatsky, với giọng dõng dạc và quả quyết một cách đáng ngạc nhiên:

“Where are my clothes? I want to dress.”

“Quần áo của tôi đâu? Tôi muốn mặc đồ.”

The nurse looked at us despairingly (for the doctor had prescribed the most absolute rest); but Madame Blavatsky was very much “She who must be obeyed,” and of course she was dressed accordingly, and came forth looking much more like her old self. Her Master had asked her whether she would pass away then—she was very near to passing away, and she had had terrible suffering—or whether she would keep her physical body for some years longer, in order to write that great book The Secret Doctrine. She choose to stay. I do not think I exaggerate when I say that from that time onward she had scarcely an hour free from pain, but she fought it down splendidly. She wrote the book, and there it remains, as a monument which will stand all through the ages. She can never, I think, be forgotten while that and her other books remain to speak of her and for her.

Cô y tá nhìn chúng tôi đầy tuyệt vọng (vì bác sĩ đã dặn phải để Bà tuyệt đối nghỉ ngơi); nhưng Bà Blavatsky quả là “Bà, người ‘phải được tuân mệnh’,” nên dĩ nhiên Bà được mặc đồ theo đúng ý, và bước ra trông giống hệt phong thái xưa kia của Bà hơn nhiều. Vị Thầy của Bà đã hỏi Bà liệu Bà có muốn lìa đời ngay khi ấy—Bà đã rất gần cõi bên kia và đã chịu khổ sở khủng khiếp—hay Bà sẽ giữ lại thể xác thêm vài năm nữa để viết cuốn sách lớn Giáo Lý Bí Nhiệm. Bà chọn ở lại. Tôi không nghĩ rằng mình nói quá khi bảo rằng từ lúc đó trở đi, hầu như Bà không có nổi một giờ không đau đớn, nhưng Bà đã kiên cường chế ngự nó một cách tuyệt vời. Bà đã viết cuốn sách, và nó vẫn còn đó, như một đài kỷ niệm sẽ đứng vững qua muôn đời. Tôi cho rằng Bà không thể nào bị quên lãng chừng nào cuốn sách ấy và những sách khác của Bà vẫn còn đó để nói về Bà và thay Bà lên tiếng.

A Lonely Life—Một đời sống cô quạnh

I have said that when Colonel Olcott left us on his tour Adyar remained empty; and unfortunately its treasury was in the same condition, so that the very few of us who remained had instructions to observe the strictest economy. Mr. Cooper-Oakley and I were for a long time the only Europeans; and as he lived up on the roof in one of the further rooms (later occupied by Dr. English) and I was in the Eastern octagon room, I saw almost nothing of him, except for a short morning visit of greeting each day. We lived an almost ascetic life, there being practically no servants except two gardeners and Manikam the office-boy. I am not quite sure how Mr. Oakley managed his household arrangements; for myself, every morning as soon as I rose I put a large supply of crushed wheat into a double saucepan, so arranged that it could not burn. Then I swam in the Adyar River (it was cleaner in those days) for half-an-hour or so, and then returned to find my wheat nicely cooked. Then the aforesaid office-boy led a cow round to my veranda and milked her on the spot into my own vessel, bringing me also a bunch of bananas from the estate when there happened to be any. I then consumed half of the wheat, leaving the other half for a second meal at about four o’clock in the afternoon or when the cow came round, and then I warmed up the wheat for a few minutes and dined sumptuously thereon. The Adyar budget was probably simpler at that period than it has ever been since!

Tôi đã nói rằng khi Đại tá Olcott rời chúng tôi lên đường công du, Adyar trở nên trống vắng; và đáng tiếc là ngân quỹ của nó cũng ở trong tình trạng tương tự, đến nỗi số ít ỏi chúng tôi còn ở lại đều nhận chỉ thị phải tuân thủ sự tiết kiệm nghiêm ngặt nhất. Ông Cooper-Oakley và tôi suốt một thời gian dài là những người Âu duy nhất; và vì Ông sống trên mái ở một trong các phòng xa hơn (sau này do Bác sĩ English ở) còn tôi ở phòng bát giác phía Đông, tôi hầu như chẳng gặp Ông, ngoại trừ buổi thăm hỏi ngắn mỗi sáng. Chúng tôi sống gần như khổ hạnh, hầu như không có người phục vụ nào ngoài hai người làm vườn và Manikam, cậu bé văn phòng. Tôi không biết chắc Ông Oakley thu xếp gia dụng thế nào; riêng tôi, mỗi sáng vừa thức dậy là tôi cho một lượng lớn lúa mì nghiền vào một cái nồi hai lớp, sắp xếp sao cho nó không thể bị cháy. Rồi tôi bơi ở sông Adyar (thời ấy sông sạch hơn) độ nửa giờ, sau đó quay về thì thấy lúa mì đã chín vừa khéo. Tiếp đó cậu bé văn phòng nói trên dắt một con bò vòng qua hiên nhà tôi và vắt sữa ngay tại chỗ vào bình của tôi, cũng mang cho tôi một buồng chuối từ khu đất khi có sẵn. Tôi ăn một nửa phần lúa mì, dành nửa còn lại cho bữa thứ hai vào khoảng bốn giờ chiều hoặc khi con bò lại đến, rồi tôi hâm nóng lúa mì vài phút và “đại yến” bằng món ấy. Ngân sách Adyar có lẽ đơn giản hơn vào giai đoạn ấy hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ đó!

Unexpected Development—Diễn tiến bất ngờ

It should be understood that in those days I possessed no clairvoyant faculty, nor had I ever regarded myself as at all sensitive. I remember that I had a conviction that a man must be born with some psychic powers and with a sensitive body before he could do anything in the way of that kind of development, so that I had never thought of progress of that sort as possible for me in this incarnation, but had some hope that if I worked as well as I knew how in this life I might be born next time with vehicles more suitable to that particular line of advancement.

Cần hiểu rằng vào những năm ấy tôi không có bất cứ khả năng thông nhãn nào, cũng chưa từng xem mình là người mẫn cảm chút nào. Tôi nhớ mình từng tin rằng một người phải sinh ra đã có vài năng lực thông linh và một thể xác nhạy cảm thì mới có thể làm được điều gì trên con đường phát triển dạng ấy, đến nỗi tôi chưa từng nghĩ tiến bộ kiểu đó là có thể cho mình trong kiếp này, mà chỉ hy vọng rằng nếu tôi làm việc tốt nhất như tôi biết trong đời này, thì đời sau tôi có thể được sinh ra với những hiện thể thích hợp hơn cho tuyến tiến bộ đặc thù ấy.

One day, however, when the Master Kuthumi honoured me with a visit, He asked me whether I had ever attempted a certain kind of meditation connected with the development of the mysterious power called kundalini. I had of course heard of that power, but knew very little about it, and at any rate supposed it to be absolutely out of reach for Western people. However, He recommended me to make a few efforts along certain lines, which He pledged me not to divulge to anyone else except with His direct authorization, and told me that He would Himself watch over those efforts to see that no danger should ensue.

Tuy nhiên, một hôm, khi Chân sư Kuthumi đoái thương thăm tôi, Ngài hỏi tôi liệu tôi đã từng thử một loại tham thiền nào đó gắn với sự phát triển quyền năng huyền bí gọi là kundalini hay chưa. Dĩ nhiên tôi có nghe nói về quyền năng ấy, nhưng biết rất ít, và dù sao tôi cũng cho rằng nó tuyệt nhiên vượt ngoài tầm với của người phương Tây. Tuy vậy, Ngài khuyên tôi nỗ lực đôi chút theo những đường lối nhất định, những điều mà Ngài buộc tôi không được tiết lộ cho bất kỳ ai khác nếu không có sự cho phép trực tiếp của Ngài, và Ngài nói rằng chính Ngài sẽ trông coi các nỗ lực đó để bảo đảm không xảy ra nguy hiểm nào.

Naturally I took the hint, and worked away steadily, and I think I may say intensely, at that particular kind of meditation day after day. I must admit that it was very hard work and sometimes distinctly painful, but of course I persevered, and in due course began to achieve the results that I had been led to expect. Certain channels had to be opened and certain partitions broken down; I was told that forty days was a fair estimate of the average time required if the effort was really energetic and persevering. I worked at it for forty-two days, and seemed to myself to be on the brink of the final victory, when the Master Himself intervened and performed the final act of breaking through which completed the process, and enabled me thereafter to use astral sight while still retaining full consciousness in the physical body—which is equivalent to saying that the astral consciousness and memory became continuous whether the physical body was awake or asleep. I was given to understand that my own effort would have enabled me to break through in twenty-four hours longer, but that the Master interfered because He wished to employ me at once in a certain piece of work.

Tự nhiên tôi hiểu ý và miệt mài làm việc, và tôi nghĩ có thể nói là với cường độ mãnh liệt, ở kiểu tham thiền đặc thù ấy, ngày này qua ngày khác. Tôi phải thú nhận rằng đó là công việc rất khó, đôi khi rõ rệt là đau đớn, nhưng dĩ nhiên tôi vẫn bền chí, và đến lúc thuận kỳ thì tôi bắt đầu đạt những kết quả mà tôi đã được dẫn dắt để chờ đợi. Một số kênh phải được khai mở và một số vách ngăn phải bị phá vỡ; tôi được bảo rằng bốn mươi ngày là ước tính công bình về thời gian trung bình cần thiết nếu nỗ lực thật sự bền bỉ và mạnh mẽ. Tôi làm việc bốn mươi hai ngày, và tự thấy mình đang ở bờ mép của thắng lợi cuối cùng, thì chính Chân sư can thiệp và thực hiện hành động xuyên phá tối hậu hoàn tất tiến trình, và từ đó cho phép tôi sử dụng thị giác cảm dục trong khi vẫn giữ trọn vẹn tâm thức trong thể xác—nghĩa là tâm thức và ký ức cảm dục trở nên liên tục bất kể thể xác tỉnh hay ngủ. Tôi được cho biết rằng tự nỗ lực của tôi sẽ có thể giúp tôi xuyên phá trong hai mươi bốn giờ nữa, nhưng Chân sư đã can thiệp vì Ngài muốn lập tức dùng tôi vào một công việc nhất định.

Psychic Training—Huấn luyện thông linh

It must not for a moment be supposed, however, that the attainment of this particular power was the end of the occult training. On the contrary, it proved to be only the beginning of a year of the hardest work that I have ever known. It will be understood that I lived there in the octagonal room by the river-side alone for many long hours every day, and practically secure from any interruption except at the meal-times which I have mentioned. Several Masters were so gracious as to visit me during that period and to offer me various hints; but it was the Master Djwal Kul who gave most of the necessary instruction. It may be that He was moved to this act of kindness because of my close association with Him in my last life, when I studied under Him in the Pythagorean school which He established in Athens, and even had the honour of managing it after His death. I know not how to thank Him for the enormous amount of care and trouble which He took in my psychic education; patiently and over and over again He would make a vivid thought-form, and say to me: “What do you see?” And when I described it to the best of my ability, would come again and again the comment: “No, no, you are not seeing true; you are not seeing all; dig deeper into yourself, use your mental vision as well as your astral; press just a little further, a little higher.”

Tuyệt đối không nên nghĩ rằng đạt được quyền năng đặc thù này là kết thúc của sự huấn luyện huyền môn. Trái lại, nó hóa ra chỉ là khởi đầu cho một năm làm việc vất vả nhất mà tôi từng trải qua. Cần hiểu rằng tôi sống một mình ở căn phòng bát giác bên sông ấy suốt nhiều giờ dài mỗi ngày, hầu như không bị gián đoạn ngoại trừ vào những giờ ăn mà tôi đã nói. Trong thời gian đó, vài vị Chân sư đã ưu ái đến thăm tôi và ban cho tôi những chỉ dẫn khác nhau; nhưng chính Chân sư Djwal Kul là vị đã trao phần lớn chỉ dạy cần thiết. Có thể Ngài được thúc đẩy bởi cử chỉ từ ái này vì mối liên hệ gần gũi giữa tôi với Ngài trong đời trước, khi tôi học dưới sự dẫn dắt của Ngài trong trường Pythagoras mà Ngài thiết lập ở Athens, và thậm chí có vinh hạnh trông coi trường sau khi Ngài qua đời. Tôi không biết bày tỏ lòng tri ân thế nào cho xứng với lượng công sức và chăm sóc vô lượng mà Ngài đã dành cho sự giáo dục thông linh của tôi; một cách nhẫn nại, hết lần này đến lần khác, Ngài tạo một hình tư tưởng sống động và nói với tôi: “Con thấy gì?” Và khi tôi mô tả hết sức mình, thì điệp khúc lại vang lên: “Không, không, con chưa thấy đúng; con chưa thấy hết; hãy đào sâu hơn vào chính mình, hãy dùng nhãn quang trí tuệ cũng như cảm dục; cố vươn thêm một chút, lên cao hơn một chút.”

This process often had to be many times repeated before my mentor was satisfied. The pupil has to be tested in all sorts of ways and under all conceivable conditions; indeed, towards the end of the tuition sportive nature-spirits are specially called in and ordered in every way possible to endeavour to confuse or mislead the seer. Unquestionably it is hard work, and the strain which it imposes is, I suppose, about as great as a human being can safely endure; but the result achieved is assuredly far more than worth while, for it leads directly up to the union of the lower and the higher self and produces an utter certainty of knowledge based upon experience which no future happenings can ever shake.

Quá trình này thường phải lặp lại nhiều lần trước khi vị đạo sư của tôi hài lòng. Người học trò phải được thử thách theo đủ mọi cách và trong tất cả những điều kiện có thể nghĩ ra; thực vậy, về cuối khóa học, các tinh linh thiên nhiên tinh nghịch được đặc biệt triệu đến và được lệnh bằng mọi cách có thể để cố làm rối hoặc đánh lạc hướng người thấy. Không nghi ngờ gì, đó là một công việc nặng nhọc, và sức căng mà nó đặt lên, tôi cho là, gần như lớn nhất mà con người có thể an toàn chịu đựng; nhưng kết quả đạt được chắc chắn là đáng giá gấp bội, vì nó dẫn thẳng đến sự hợp nhất giữa hạ ngã và thượng ngã, và sản sinh một sự chắc chắn tuyệt đối của tri thức dựa trên kinh nghiệm mà không một biến cố tương lai nào có thể lay chuyển.

On the physical plane our great pandit Swami T. Subba Rao often did me the honour of driving over to the Headquarters in order to take part in the instruction and testing, and I feel that I can never be grateful enough for all the help that these two great people gave me at this critical stage of my life. When once the way has thus been opened there is no end to the possibility of unfoldment, and I think I may say without any fear of exaggeration that no day has passed in the forty-five years since then in which I have not learnt some new fact. The yoga of the Initiate consists, as does all other yoga, of a steady upward pressure towards union with the Divine at ever higher and higher levels; one has to work the consciousness steadily onward from sub-plane to sub-plane of the buddhic world and then afterwards through the nirvanic; and even beyond all that, other and uncounted worlds are still to be conquered, for the Power, the Wisdom and the Love of the Infinite are as some great mine of jewels, into which one may probe ever more and more deeply without exhausting its capacity; nay, rather, they constitute a shoreless sea into which our dewdrop slips and yet is not lost therein, but feels rather as though it had absorbed the whole ocean into itself.

Trên cõi hồng trần, vị đại học giả của chúng ta, Swami T. Subba Rao, thường ưu ái lái xe đến Trụ sở để tham gia chỉ dạy và khảo nghiệm, và tôi cảm thấy rằng mình mãi mãi không thể tỏ đủ lòng biết ơn đối với tất cả sự trợ giúp mà hai bậc vĩ nhân ấy dành cho tôi ở giai đoạn then chốt của đời mình. Khi con đường đã được khai thông như thế, khả năng khai mở là vô tận, và tôi nghĩ có thể nói không sợ cường điệu rằng không có ngày nào trôi qua trong bốn mươi lăm năm kể từ đó mà tôi không học được một sự kiện mới. Yoga của vị Điểm đạo đồ cũng như mọi yoga khác, bao gồm một sự dồn ép đều đặn hướng thượng để hợp nhất với Đấng Thiêng Liêng ở những cấp độ ngày càng cao; người ta phải đẩy tâm thức tiến đều từ cõi phụ này sang cõi phụ khác của thế giới Bồ đề rồi sau đó xuyên qua thế giới Niết Bàn; và thậm chí phía bên kia tất cả những điều ấy, những thế giới khác nữa, vô số, vẫn còn chờ chinh phục, vì Quyền Năng, Minh Triết và Tình Thương của Vô Hạn giống như một mỏ ngọc vĩ đại, vào đó người ta có thể dò sâu hơn mãi mà không làm cạn kiệt; đúng hơn, chúng là một biển không bờ, nơi giọt sương của chúng ta trôi vào mà không hề mất hút, trái lại, cảm như thể nó đã hấp thụ cả đại dương vào trong chính mình.

Thus would I live—yet now

Vậy ước nguyện tôi sống—nhưng nay

Not I, but He

Không phải tôi, mà là Ngài

In all His Power and Love

Trong trọn Quyền Năng và Tình Thương của Ngài

Henceforth alive in me.

Từ đây sống động trong tôi.

Here then I must end this fragment of autobiography, for this is “How Theosophy came to me”—first through our great founder Madame Blavatsky on the physical plane, and then more fully and on the higher levels through other members of the Great White Brotherhood to which she introduced me. May all my brethren find in Theosophy the peace and happiness which I have found!

Vậy là tôi phải kết thúc mảnh hồi ký này, vì đây là “Thông Thiên Học đã đến với tôi như thế nào”—trước hết qua vị Sáng lập vĩ đại của chúng ta, Bà Blavatsky, trên cõi hồng trần, và rồi đầy đủ hơn cùng trên các cõi cao nhờ những thành viên khác của Thánh đoàn mà Bà đã dẫn tôi vào. Mong tất cả các huynh đệ của tôi tìm thấy trong Thông Thiên Học sự bình an và hạnh phúc mà tôi đã tìm thấy!

Peace to all Beings

BÌNH AN CHO TẤT CẢ SỰ SỐNG