← The Rays and the Initiations (A Treatise on the Seven Rays Book 5)

APPENDIX — PHỤ LỤC

Trích nội dung chương

The Place that the Will plays in inducing Revelation — Vị trí mà Ý Chí giữ trong việc tạo ra sự mặc khải There are three words connected with this initiation which are of real importance to its correct understanding. They are: Emergence. Will. Purpose. With the emergence aspect we have already dealt under the term “raising up” or the “transition” from the darkness of matter to the light of the Spirit. But of the Will, its uses and its function, as yet we know little. Knowledge as to the nature of the will in any true sense only comes after the third initiation. From that time on the initiate demonstrates increasingly and steadily the first…


The Place that the Will plays in inducing Revelation — Vị trí mà Ý Chí giữ trong việc tạo ra sự mặc khải

There are three words connected with this initiation which are of real importance to its correct understanding. They are: Emergence. Will. Purpose. With the emergence aspect we have already dealt under the term “raising up” or the “transition” from the darkness of matter to the light of the Spirit. But of the Will, its uses and its function, as yet we know little. Knowledge as to the nature of the will in any true sense only comes after the third initiation. From that time on the initiate demonstrates increasingly and steadily the first divine aspect, that of the Will and the right use of Power. This first aspect of divinity is necessarily closely associated with the first Ray of Power or Will. I shall, however, only consider the ray angle incidentally, for I want to elucidate for you the nature of the will in some clear measure, though complete understanding is not possible.

Có ba từ liên hệ với lần điểm đạo này có tầm quan trọng thực sự đối với sự thấu hiểu đúng đắn về nó. Chúng là: Xuất hiện. Ý Chí. Mục Đích. Về phương diện xuất hiện, chúng ta đã bàn đến dưới thuật ngữ “nâng lên” hay “chuyển tiếp” từ bóng tối của vật chất sang ánh sáng của tinh thần. Nhưng về Ý Chí, các cách sử dụng và chức năng của nó, cho đến nay chúng ta vẫn biết rất ít. Tri thức về bản chất của ý chí theo bất kỳ ý nghĩa chân thực nào chỉ đến sau lần điểm đạo thứ ba. Từ thời điểm đó trở đi, điểm đạo đồ biểu lộ ngày càng tăng và vững chắc phương diện thiêng liêng thứ nhất, tức Ý Chí và việc sử dụng đúng đắn Quyền năng. Phương diện thứ nhất này của thiên tính tất yếu liên hệ chặt chẽ với Cung một của Quyền năng hay Ý Chí. Tuy nhiên, tôi sẽ chỉ xét đến góc độ cung như một vấn đề thứ yếu, vì tôi muốn làm sáng tỏ cho các bạn bản chất của ý chí ở một mức độ rõ ràng nào đó, dù sự thấu hiểu trọn vẹn là điều không thể.

The Lord of the World is, we are told, the sole repository of the will and the purpose of His overshadowing, cosmic soul. These two words—will and purpose—are not identical in meaning. Sanat Kumara and His Council at Shamballa are the only Beings upon our planet Who know just what is the nature of the divine purpose. It is Their function and obligation to work that purpose out into manifestation, and this They do by the use of the will. The will ever implements the purpose. The repository of the will aspect of man's innate divinity is to be found at the base of the spine; this can only function correctly and be the agent of the divine will after the third initiation. The head centre is the one which is the custodian of the purpose; the centre at the base of the spine indicates the will as it implements the purpose. The purpose is slowly, very slowly, revealed to the initiate during the final five [715] initiations and this only becomes possible after the Initiation of Renunciation. At that time the initiate says, in unison with the great head of the Hierarchy, the Christ: “Father, not my will but Thine be done.” Then comes the initiation of emergence out of matter and, from that point on, the initiate begins to glimpse the purpose of the planetary Logos; hitherto he has only seen the plan, and to the service of the plan he has been dedicated. Hitherto also, he has only sought to be an exponent of the love of God; now he must express, with increasing fullness, the will of God.

Như chúng ta được cho biết, Đức Chúa Tể Thế Giới là kho chứa duy nhất của ý chí và mục đích của linh hồn vũ trụ phủ bóng lên Ngài. Hai từ này—ý chí và mục đích—không đồng nhất về ý nghĩa. Đức Sanat Kumara và Hội Đồng của Ngài tại Shamballa là những Hữu Thể duy nhất trên hành tinh chúng ta biết chính xác bản chất của mục đích thiêng liêng là gì. Chức năng và nghĩa vụ của Các Ngài là triển khai mục đích ấy vào biểu hiện, và Các Ngài làm điều đó bằng việc sử dụng ý chí. Ý chí luôn luôn thực thi mục đích. Kho chứa phương diện ý chí của thiên tính bẩm sinh nơi con người được tìm thấy ở đáy cột sống; điều này chỉ có thể hoạt động đúng đắn và là tác nhân của ý chí thiêng liêng sau lần điểm đạo thứ ba. Trung tâm đầu là trung tâm giữ gìn mục đích; trung tâm ở đáy cột sống biểu thị ý chí khi nó thực thi mục đích. Mục đích được mặc khải chậm rãi, rất chậm rãi, cho điểm đạo đồ trong năm lần điểm đạo cuối cùng [715] và điều này chỉ trở nên khả hữu sau Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ. Vào lúc đó điểm đạo đồ nói, đồng thanh với vị đứng đầu vĩ đại của Thánh Đoàn là Đức Christ: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con mà theo Ý Cha.” Rồi đến cuộc điểm đạo xuất hiện ra khỏi vật chất, và từ điểm đó trở đi, điểm đạo đồ bắt đầu thoáng thấy mục đích của Hành Tinh Thượng Đế; trước đó y chỉ thấy Thiên Cơ, và y đã hiến mình cho việc phụng sự Thiên Cơ. Trước đó nữa, y chỉ tìm cách trở thành một hiện thân của tình thương của Thượng đế; giờ đây y phải biểu lộ, với mức độ ngày càng trọn vẹn, Ý Chí của Thượng Đế.

Earlier in these pages (Page 410) we are told that the problem which confronts the Hierarchy as it seeks to prepare disciples for the successive initiations is the right use of the will, both Their Own use of the will in relation to the initiate, and the initiate's use of the will as he works for the Plan as that Plan implements Purpose. To produce this, a direct, understanding and powerful expression of this first aspect is demanded. There are several reasons why the will presents a problem. Let us list a few of them and thereby get understanding.

Trước đó trong những trang này (Trang 410), chúng ta được cho biết rằng vấn đề đối diện với Thánh Đoàn khi Thánh Đoàn tìm cách chuẩn bị các đệ tử cho những lần điểm đạo kế tiếp là việc sử dụng đúng đắn ý chí, cả việc chính Các Ngài sử dụng ý chí trong liên hệ với điểm đạo đồ, lẫn việc điểm đạo đồ sử dụng ý chí khi y hoạt động cho Thiên Cơ, khi Thiên Cơ ấy thực thi Mục Đích. Để tạo ra điều này, cần có một sự biểu lộ trực tiếp, có thấu hiểu và mạnh mẽ của phương diện thứ nhất này. Có nhiều lý do khiến ý chí tạo thành một vấn đề. Chúng ta hãy liệt kê vài lý do trong số đó và nhờ vậy mà đạt được sự thấu hiểu.

1. This energy of the will is the most potent energy in the whole scheme of planetary existence. It is called the “Shamballa Force,” and it is that which holds all things together in life. It is, in reality, life itself. This life force or divine will (implementing divine intention) is that by means of which Sanat Kumara arrives at His goal. On a tiny scale, it is the use of one of the lowest aspects of the will (human self-will) which enables a man to carry out his plans and attain his fixed purpose—if he has one. Where the will is lacking, the plan dies out and the purpose is not achieved. Even in relation to self-will, it is veritably the “life of the project.” The moment Sanat Kumara has attained His planetary purpose, He will withdraw this potent energy, and (in this withdrawing) destruction will set in. This Shamballa force is steadily held in leash for fear of too great an impact upon the unprepared kingdoms in nature. This has reference to its impact also upon humanity.

1. Năng lượng của ý chí này là năng lượng mạnh nhất trong toàn bộ hệ thống hiện hữu hành tinh. Nó được gọi là “Mãnh lực Shamballa,” và chính nó giữ mọi sự trong sự sống. Thực ra, nó chính là sự sống. Mãnh lực sự sống này hay ý chí thiêng liêng (thực thi ý định thiêng liêng) là phương tiện nhờ đó Đức Sanat Kumara đạt đến mục tiêu của Ngài. Ở một quy mô rất nhỏ, chính việc sử dụng một trong những phương diện thấp nhất của ý chí (tự ý chí của con người) cho phép một người thực hiện các kế hoạch của mình và đạt được mục đích cố định của mình—nếu ông có một mục đích như thế. Nơi nào thiếu ý chí, kế hoạch sẽ tàn lụi và mục đích không đạt được. Ngay cả trong liên hệ với tự ý chí, nó quả thật là “sự sống của dự án.” Khoảnh khắc Đức Sanat Kumara đạt được mục đích hành tinh của Ngài, Ngài sẽ rút lại năng lượng mạnh mẽ này, và (trong sự rút lại ấy) sự hủy diệt sẽ bắt đầu. Mãnh lực Shamballa này được kiềm giữ đều đặn vì sợ tác động quá lớn lên các giới chưa được chuẩn bị trong thiên nhiên. Điều này cũng liên quan đến tác động của nó lên nhân loại.

[716]

[716]

You have been told that this force has—during this century—made its first direct impact upon humanity; heretofore, it reached mankind in the three worlds after being stepped down and modified by transit through the great planetary centre to which we give the name of the Hierarchy. This direct impact will again take place in 1975, and also in the year 2000, but the risks will then not be so great as in the first impact, owing to the spiritual growth of mankind. Each time this energy strikes into the human consciousness some fuller aspect of the divine plan appears. It is the energy which brings about synthesis, which holds all things within the circle of the divine love. Since its impact during the past few years, human thinking has been more concerned with the production of unity and the attainment of synthesis in all human relations than ever before, and one result of this energy has been the forming of the United Nations.

Các bạn đã được cho biết rằng mãnh lực này—trong thế kỷ này—đã tạo ra tác động trực tiếp đầu tiên lên nhân loại; trước đây, nó đến với loài người trong ba cõi sau khi đã được giảm áp và điều chỉnh qua sự chuyển tiếp xuyên qua trung tâm hành tinh lớn mà chúng ta gọi là Thánh Đoàn. Tác động trực tiếp này sẽ lại diễn ra vào năm 1975, và cả vào năm 2000, nhưng khi đó các nguy cơ sẽ không lớn như trong lần tác động đầu tiên, nhờ sự tăng trưởng tinh thần của nhân loại. Mỗi lần năng lượng này đánh vào tâm thức con người, một phương diện đầy đủ hơn nào đó của Thiên Cơ thiêng liêng lại xuất hiện. Đây là năng lượng tạo ra sự tổng hợp, giữ mọi sự trong vòng tròn của tình thương thiêng liêng. Kể từ tác động của nó trong vài năm qua, tư tưởng nhân loại đã quan tâm đến việc tạo ra sự hợp nhất và đạt được sự tổng hợp trong mọi quan hệ nhân loại hơn bao giờ hết, và một kết quả của năng lượng này là sự hình thành Liên Hiệp Quốc.

2. It will be apparent to you, therefore, that this energy is the agent for the revelation of the divine purpose. It may surprise you that this is regarded as presenting a problem to the Hierarchy, but if this power—impersonal and potent—should fall into the hands of the Black Lodge, the results would be disastrous indeed. Most of the members of this centre of cosmic evil are upon the first ray itself, and some of the divine purpose is known to a few of them, for—in their due place and in the initiatory regime—they too are initiates of high degree, but dedicated to selfishness and separativeness. Their particular form of selfishness is far worse than anything which you can imagine, because they are completely detached and divorced from all contact with the energy to which we give the name of love. They have cut themselves off from the spiritual Hierarchy, through Whom the love of the planetary Logos reaches the forms in the three worlds and all that is contained therein. These evil but powerful beings know well the uses of the will, but only in its destructive aspect.

2. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng năng lượng này là tác nhân cho sự mặc khải của mục đích thiêng liêng. Có thể điều này làm các bạn ngạc nhiên khi nó được xem là tạo thành một vấn đề đối với Thánh Đoàn, nhưng nếu quyền năng này—vô ngã và mạnh mẽ—rơi vào tay Hắc đoàn, thì kết quả quả thật sẽ tai hại. Phần lớn các thành viên của trung tâm ác độc vũ trụ này thuộc chính cung một, và một phần mục đích thiêng liêng được một vài người trong họ biết đến, vì—ở đúng vị trí của họ và trong chế độ điểm đạo—họ cũng là những điểm đạo đồ cấp cao, nhưng hiến mình cho tính ích kỷ và tính phân ly. Hình thức ích kỷ đặc thù của họ còn tệ hại hơn bất cứ điều gì các bạn có thể tưởng tượng, bởi vì họ hoàn toàn tách rời và ly khai khỏi mọi tiếp xúc với năng lượng mà chúng ta gọi là tình thương. Họ đã tự cắt đứt khỏi Thánh đoàn, qua đó tình thương của Hành Tinh Thượng Đế đến với các hình tướng trong ba cõi và mọi điều chứa đựng trong đó. Những hữu thể ác độc nhưng mạnh mẽ này biết rõ các cách sử dụng của ý chí, nhưng chỉ trong phương diện hủy diệt của nó.

We have spoken much of the purpose of the planetary Logos. When I use the word “purpose” I am indicating the [717] answer to the question: Why did the planetary Logos create this world and start the evolutionary, creative process? Only one answer has as yet been permitted to be given. Sanat Kumara has created this planet and all that moves and lives therein in order to bring about a planetary synthesis and an integrated system whereby a tremendous solar revelation can be seen. Having said that, we have not really penetrated any distance into the meaning of the divine purpose; we have only indicated the method whereby it is being attained, but the true objective remains still an obscure mystery—guarded rigidly in the Council Chamber of Sanat Kumara. It is this mystery and this divine planetary “secret” which is the goal of all the work being done by the Black Lodge. They are not yet sure of the purpose, and all their efforts are directed to the discovery of the nature of the mystery. Hence the hierarchical problem.

Chúng ta đã nói nhiều về mục đích của Hành Tinh Thượng Đế. Khi tôi dùng từ “mục đích,” tôi đang chỉ ra [717] câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao Hành Tinh Thượng Đế lại tạo ra thế giới này và khởi sự tiến trình tiến hoá sáng tạo? Cho đến nay chỉ mới được phép đưa ra một câu trả lời. Đức Sanat Kumara đã tạo ra hành tinh này và mọi sự chuyển động và sống trong đó nhằm tạo ra một sự tổng hợp hành tinh và một hệ thống tích hợp nhờ đó một sự mặc khải thái dương to lớn có thể được nhìn thấy. Nói như vậy, chúng ta thực ra vẫn chưa thâm nhập được bao xa vào ý nghĩa của mục đích thiêng liêng; chúng ta chỉ mới chỉ ra phương pháp nhờ đó nó đang được đạt tới, nhưng mục tiêu chân thực vẫn còn là một huyền nhiệm mờ tối—được canh giữ nghiêm ngặt trong Phòng Hội Đồng của Đức Sanat Kumara. Chính huyền nhiệm này và “bí mật” hành tinh thiêng liêng này là mục tiêu của toàn bộ công việc mà Hắc đoàn đang thực hiện. Họ vẫn chưa chắc chắn về mục đích, và mọi nỗ lực của họ đều hướng đến việc khám phá bản chất của huyền nhiệm ấy. Do đó mới có vấn đề của Thánh Đoàn.

3. It is this energy of the will, rightly focussed, that enables the senior Members of the Hierarchy to implement that purpose. Only initiates of a certain standing can receive this energy, focus it within the Hierarchy, and then direct its potency to certain ends known only to Them. Speaking symbolically, the Hierarchy has within it, under the custody of its most advanced Members, what might be called a “reservoir of divine intention.” It is the higher correspondence of that to which Patanjali refers under the words, “the raincloud of knowable things” which hovers over the head of all disciples who can see somewhat in the Light. Just as advanced humanity can precipitate the rain of knowledge from this cloud of knowable things (the divine ideas, working out as intuitions in all the many areas of human thinking), so the lesser initiates and disciples within the Hierarchy can begin to precipitate into their consciousness some of this “divine intention.” It is this reservoir of power which embodies some of the Purpose and implements the Plan. One of the problems of the Hierarchy is, therefore, right timing in the revelation of divine intention and in the direction of the thinking and the planning done in Their Ashrams by the recipients: initiates and disciples. [718] Again we come back to the same necessity for right interpretation of the revelation or of the vision.

3. Chính năng lượng ý chí này, khi được tập trung đúng đắn, cho phép các Thành Viên cao cấp của Thánh Đoàn thực thi mục đích ấy. Chỉ những điểm đạo đồ có một vị thế nhất định mới có thể tiếp nhận năng lượng này, tập trung nó trong Thánh Đoàn, rồi hướng sức mạnh của nó đến những mục tiêu nào đó chỉ Các Ngài mới biết. Nói một cách biểu tượng, Thánh Đoàn có trong mình, dưới sự gìn giữ của những Thành Viên tiến hóa nhất, cái có thể được gọi là một “hồ chứa ý định thiêng liêng.” Nó là đối ứng cao hơn của điều mà Patanjali nói đến qua những từ “đám mây mưa của những điều khả tri” lơ lửng trên đầu mọi đệ tử có thể phần nào nhìn thấy trong Ánh sáng. Cũng như nhân loại tiến hóa có thể làm ngưng tụ cơn mưa tri thức từ đám mây của những điều khả tri này (các ý tưởng thiêng liêng, được triển khai thành trực giác trong mọi lĩnh vực đa dạng của tư tưởng nhân loại), thì các điểm đạo đồ ở cấp thấp hơn và các đệ tử trong Thánh Đoàn cũng có thể bắt đầu làm ngưng tụ vào tâm thức của họ một phần “ý định thiêng liêng” này. Chính hồ chứa quyền năng này thể hiện một phần Mục Đích và thực thi Thiên Cơ. Vì vậy, một trong những vấn đề của Thánh Đoàn là thời điểm đúng đắn trong sự mặc khải ý định thiêng liêng và trong việc chỉ đạo tư tưởng cùng sự hoạch định được thực hiện trong các ashram của Các Ngài bởi những người tiếp nhận: các điểm đạo đồ và các đệ tử. [718] Một lần nữa chúng ta lại quay về cùng một nhu cầu là phải diễn giải đúng đắn sự mặc khải hay linh ảnh.

4. The problem is also one that each Master has to face in connection with His Own spiritual development, for this energy is the needed dynamic or potency which enables Him to tread the Way of the Higher Evolution. On the way to liberation and in treading the Path of Discipleship and the Path of Initiation, the human being has to use the dynamic or the potency of the Love of God; on the Way of the Higher Evolution, it must be the dynamic and the potency of Will.

4. Vấn đề này cũng là điều mà mỗi Chân sư phải đối diện liên quan đến sự phát triển tinh thần riêng của Ngài, vì năng lượng này là động lực hay sức mạnh cần thiết cho phép Ngài bước trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Trên con đường đi đến giải thoát và trong việc bước trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo, con người phải sử dụng động lực hay sức mạnh của Tình thương của Thượng đế; trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, đó phải là động lực và sức mạnh của Ý Chí.

I would ask you all, therefore, to ponder on the distinction which exists between:

Vì vậy, tôi xin tất cả các bạn suy ngẫm về sự phân biệt tồn tại giữa:

1. Self-will......................2. Determination

1. Tự ý chí......................2. Sự quyết tâm

3. Fixity of purpose.........4. The will

3. Tính kiên định của mục đích.........4. Ý chí

5. The spiritual will.........6. The divine will

5. Ý chí tinh thần.........6. Ý chí thiêng liêng

I shall not attempt to discuss these words with you. They each indicate a certain aspect of the will; you will learn more on this point by doing your own thinking and defining.

Tôi sẽ không cố gắng thảo luận những từ này với các bạn. Mỗi từ đều chỉ ra một phương diện nào đó của ý chí; các bạn sẽ học được nhiều hơn về điểm này bằng chính tư duy và sự định nghĩa của mình.

All that I can hope and pray is that your individual will can be merged into the divine will, that revelation will be increasingly yours, and that you will with increased steadfastness tread the Path from darkness to light and from death to immortality.

Tất cả những gì tôi có thể hy vọng và cầu nguyện là ý chí cá nhân của các bạn có thể được hòa nhập vào ý chí thiêng liêng, rằng sự mặc khải sẽ ngày càng thuộc về các bạn, và rằng các bạn sẽ với sự kiên định gia tăng mà bước trên Con Đường từ bóng tối đến ánh sáng và từ cái chết đến sự bất tử.

Initiation VI. The Decision — Điểm Đạo VI. Quyết Định

We have been studying along three lines which, in spite of the unavoidable abstruseness of the subject, have meant much to the earnest individual disciple because the words used to express the initiations concerned have been: Renunciation. Ascension. Revelation. All these convey practical and useful concepts to the mind, and yet—at the same time—their true meaning involves a detachment, a divine indifference and the spiritual perception of which no disciple has had more than a glimpse and a dim sensing of possibility. I then lifted these three ideas on to wider levels and endeavoured to show how the crises through which humanity is today passing and will continue to pass [719] during the next fifty years (though with lessening effects of discomfort, if right attitude is assumed) can also be related to these three words. I do not wish you to infer that mankind is, in fact, undergoing these initiatory experiences. The renunciation is being imposed by circumstances and is not a free undertaking; the moving onward is the result of a somewhat inchoate and uncontrolled momentum and is not the effort of a liberated soul. The revelation which is to come will be the result of hierarchical activity, focussed through the Christ, though not presented by His coming; it will come as a result of His work and hierarchical activity.

Chúng ta đã nghiên cứu theo ba đường hướng mà, bất chấp tính khó hiểu khó tránh khỏi của chủ đề, đã mang nhiều ý nghĩa đối với đệ tử cá nhân chân thành bởi vì những từ được dùng để diễn tả các lần điểm đạo liên quan là: Từ Bỏ. Thăng Thiên. Mặc Khải. Tất cả những điều này đều chuyển tải đến trí tuệ những khái niệm thực tiễn và hữu ích, nhưng đồng thời ý nghĩa chân thực của chúng lại bao hàm một sự tách rời, một Điềm nhiên thiêng liêng và một tri giác tinh thần mà chưa đệ tử nào có hơn một thoáng nhìn và một cảm nhận mơ hồ về khả năng. Sau đó tôi đã nâng ba ý tưởng này lên những cấp độ rộng lớn hơn và cố gắng chỉ ra cách mà các cuộc khủng hoảng mà nhân loại ngày nay đang trải qua và sẽ còn tiếp tục trải qua [719] trong năm mươi năm tới (dù với những tác động khó chịu giảm dần, nếu có thái độ đúng đắn) cũng có thể được liên hệ với ba từ này. Tôi không muốn các bạn suy ra rằng nhân loại thực sự đang trải qua những kinh nghiệm điểm đạo này. Sự từ bỏ đang bị hoàn cảnh áp đặt chứ không phải là một sự đảm nhận tự do; sự tiến lên là kết quả của một động lượng phần nào chưa định hình và không được kiểm soát chứ không phải là nỗ lực của một linh hồn được giải thoát. Sự mặc khải sẽ đến là kết quả của hoạt động của Thánh Đoàn, được tập trung qua Đức Christ, dù không được trình bày bởi sự quang lâm của Ngài; nó sẽ đến như kết quả của công việc của Ngài và hoạt động của Thánh Đoàn.

All these initiations have their lower correspondences, and the one we are to consider at this time is no exception; all of them can appeal to the aspirant as embodying for him some immediate goal, but the concept is only preparatory in its nature; this can be illustrated by pointing out that the Great Renunciation becomes possible because, for many lives, the disciple has learnt to renounce and—when treading the Path of Initiation—to renounce consciously and with a formulated purpose. In the same manner, the sixth Initiation of Decision also becomes possible because the initiate has, since his affiliation with the Hierarchy, learnt to make right choice, and his ability to do that emerges out of his effort whilst on the Probationary Path and on the earlier stages of the Path of Discipleship to make correct choices and spiritually motivated decisions. I am pointing this out because, as we now begin to study the final four initiations (which are far beyond the understanding of even the advanced disciple), it will not be waste of time; in spite of a lack of true comprehension, qualities and attributes and certain needed lessons will be indicated to the true aspirant, and these he can now begin to develop.

Tất cả những lần điểm đạo này đều có những đối ứng thấp hơn của chúng, và lần điểm đạo mà chúng ta sắp xem xét vào lúc này cũng không ngoại lệ; tất cả chúng đều có thể hấp dẫn người chí nguyện như thể hiện cho y một mục tiêu trước mắt nào đó, nhưng khái niệm ấy chỉ có tính chuẩn bị; điều này có thể được minh họa bằng cách chỉ ra rằng Sự Từ Bỏ Vĩ Đại trở nên khả hữu vì trong nhiều kiếp sống, đệ tử đã học cách từ bỏ và—khi bước trên Con Đường Điểm Đạo—đã từ bỏ một cách có ý thức và với một mục đích được xác định. Cũng theo cách đó, lần Điểm Đạo Quyết Định thứ sáu cũng trở nên khả hữu vì điểm đạo đồ, kể từ khi trực thuộc Thánh Đoàn, đã học cách lựa chọn đúng đắn, và khả năng làm điều đó của y xuất hiện từ nỗ lực của y khi còn ở trên Con Đường Dự Bị và trong các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử để đưa ra những lựa chọn đúng đắn và những quyết định được thúc đẩy về mặt tinh thần. Tôi nêu điều này ra bởi vì, khi giờ đây chúng ta bắt đầu nghiên cứu bốn lần điểm đạo cuối cùng (vượt xa sự thấu hiểu ngay cả của đệ tử tiến bộ), thì điều đó sẽ không phải là lãng phí thời gian; bất chấp sự thiếu vắng thấu hiểu chân thực, các phẩm tính và thuộc tính cùng một số bài học cần thiết sẽ được chỉ ra cho người chí nguyện chân chính, và những điều này giờ đây y có thể bắt đầu phát triển.

I would like first of all to point out that the sixth initiation is to the Master Who stands before the planetary Logos what the second initiation is to the disciple; the fifth Initiation of Revelation and the sixth Initiation of Decision are the higher correspondences to the first two initiations which are regarded by the Lodge on Sirius as initiations of the [720] Threshold. Have this carefully in mind. Much earlier in this treatise (page 361) I made the comment that the second initiation with its evidenced control of desire (indicating right choice) was “the threshold...to those levels of impression, of contact and of future ascension which are the sevenfold goal set before the Master when the sixth initiation (the true ascension) is consummated. It is for this reason that this initiation is called the Initiation of Decision.”

Trước hết tôi muốn chỉ ra rằng lần điểm đạo thứ sáu đối với Chân sư đang đứng trước Hành Tinh Thượng Đế cũng giống như lần điểm đạo thứ hai đối với đệ tử; lần Điểm Đạo Mặc Khải thứ năm và lần Điểm Đạo Quyết Định thứ sáu là những đối ứng cao hơn của hai lần điểm đạo đầu tiên, vốn được Thánh đoàn trên Sirius xem là những lần điểm đạo của [720] Ngưỡng Cửa. Hãy ghi nhớ điều này cẩn thận. Trước đó khá lâu trong bộ luận này (trang 361), tôi đã nhận xét rằng lần điểm đạo thứ hai với sự kiểm soát dục vọng được chứng tỏ của nó (biểu thị sự lựa chọn đúng đắn) là “ngưỡng cửa... dẫn đến những cấp độ ấn tượng, tiếp xúc và thăng thiên tương lai, là mục tiêu thất phân được đặt ra trước Chân sư khi lần điểm đạo thứ sáu (sự thăng thiên đích thực) được hoàn tất. Chính vì lý do này mà lần điểm đạo này được gọi là Điểm Đạo Quyết Định.”

This is a point of real interest and of practical value; it reveals in a new sense and quite definitely that all happenings on our planet are in truth simply preparatory to other much greater events and opportunities. They put the Master or the Chohan (we seem to have no word to express the type of consciousness of the initiate who has taken the five initiations of strictly human evolution) in a position where at each initiation He expresses the sum total of all past attainment. His entire past is involved in what He demonstrates. This is not consciously so. All that He is or knows has dropped below the threshold of consciousness, in the same way that the instinctual nature of man is today automatic and spontaneous and not consciously used. In spite of this subjective activity, men are nevertheless in full possession of a definite part of their equipment. So it is with the Master; all that He has been in the spiritual sense and in wisdom, perception and full comprehension is now instinctual, and the powers, knowledges, attributes involved are instantaneously His without effort or conscious activity. He can depend fully upon what He is and has, and—as a result of initiation—He is free from the questionings, the doubts and the uncertainties which are so distinctive of the disciple.

Đây là một điểm thực sự thú vị và có giá trị thực tiễn; nó mặc khải theo một ý nghĩa mới và khá xác định rằng mọi biến cố trên hành tinh chúng ta thực ra chỉ là sự chuẩn bị cho những biến cố và cơ hội khác lớn lao hơn nhiều. Chúng đặt Chân sư hay Chohan (dường như chúng ta không có từ nào để diễn tả loại tâm thức của điểm đạo đồ đã nhận năm lần điểm đạo thuộc riêng tiến hoá nhân loại) vào một vị trí mà ở mỗi lần điểm đạo Ngài biểu lộ tổng số của mọi thành tựu quá khứ. Toàn bộ quá khứ của Ngài đều được bao hàm trong điều Ngài biểu lộ. Điều này không phải là một cách có ý thức. Tất cả những gì Ngài là hay biết đã rơi xuống dưới ngưỡng của tâm thức, cũng như bản chất bản năng của con người ngày nay là tự động và tự phát chứ không được sử dụng một cách có ý thức. Dù có hoạt động chủ quan này, con người vẫn hoàn toàn sở hữu một phần xác định trong trang bị của mình. Chân sư cũng vậy; tất cả những gì Ngài đã là trong ý nghĩa tinh thần và trong minh triết, tri giác và sự thấu hiểu trọn vẹn giờ đây đều mang tính bản năng, và các quyền năng, tri thức, thuộc tính liên quan đều tức khắc là của Ngài mà không cần nỗ lực hay hoạt động có ý thức. Ngài có thể hoàn toàn dựa vào điều Ngài là và điều Ngài có, và—như một kết quả của điểm đạo—Ngài được giải thoát khỏi những câu hỏi, những nghi ngờ và những bất định vốn rất đặc trưng nơi đệ tử.

Earlier (page 396) I pointed out that the Masters, at the sixth Initiation of Decision, face realms of service where They will have to “impart, strengthen and enlighten that which is already fused, already strong, and already full of light but which needs that which They bring in order to express the all-encompassing Whole.” This is, of course, a mysterious and rather paradoxical statement, but [721] a certain measure of light can be thrown upon it if it is remembered that this sixth initiation is related, in a peculiar way, to Path VI. This is the Path upon which our planetary Logos is found. This Path is necessarily related to the sixth Ray of Devotion or Idealism, and also to the sixth plane, the astral plane—the plane of glamour and of desire. I would have you bear these relationships in mind, but I would have you also remember that at this Initiation of Decision the Master can move forward on any one of the seven Paths which He may decide is, for Him, the field of His future service. This expression of His choice is, as you know, not dependent upon His ray energy or upon what might be the impelling force of the planetary rays; i.e., that of the planet itself (the personality ray of the planetary Logos) or upon the soul ray of Sanat Kumara. It is not for me to tell you whether this dominating ray is His soul ray or the monadic or universal ray.

Trước đó (trang 396), tôi đã chỉ ra rằng các Chân sư, ở lần Điểm Đạo Quyết Định thứ sáu, đối diện với những lĩnh vực phụng sự nơi Các Ngài sẽ phải “truyền đạt, tăng cường và soi sáng điều vốn đã được dung hợp, đã mạnh mẽ, và đã đầy ánh sáng nhưng cần điều mà Các Ngài mang đến để biểu lộ Toàn Thể bao trùm tất cả.” Dĩ nhiên đây là một phát biểu huyền nhiệm và khá nghịch lý, nhưng [721] có thể soi sáng phần nào cho nó nếu nhớ rằng lần điểm đạo thứ sáu này liên hệ, theo một cách đặc biệt, với Con Đường VI. Đây là Con Đường mà Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang ở trên đó. Con Đường này tất yếu liên hệ với cung sáu của Sùng tín hay Duy tâm, và cũng với cõi thứ sáu, cõi cảm dục—cõi của ảo cảm và dục vọng. Tôi muốn các bạn ghi nhớ những mối liên hệ này, nhưng tôi cũng muốn các bạn nhớ rằng ở lần Điểm Đạo Quyết Định này, Chân sư có thể tiến lên trên bất kỳ một trong bảy Con Đường nào mà Ngài có thể quyết định là, đối với Ngài, lĩnh vực phụng sự tương lai. Sự biểu lộ lựa chọn này của Ngài, như các bạn biết, không tùy thuộc vào năng lượng cung của Ngài hay vào điều có thể là mãnh lực thúc đẩy của các cung hành tinh; tức là của chính hành tinh (cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng Đế) hay của cung linh hồn của Đức Sanat Kumara. Tôi không có nhiệm vụ nói với các bạn liệu cung chi phối này là cung linh hồn của Ngài hay cung chân thần hay cung vũ trụ.

It is of interest to have in mind also that at this sixth initiation a great moment of basically historic interest occurs. All the Masters Who are initiates of the sixth degree meet in conclave and together, and before making Their final decision (which will probably remove Them from the Path of Earth Service), decide what measures They propose the Hierarchy should take which will drastically and permanently affect the planet on which They have lived and for which They have worked. You will notice that I have here called Them “initiates of the sixth degree,” bringing to your minds the fact that before a man takes an initiation of any degree, He is already an initiate of that degree. They in Their totality—at any given time—are the group which makes final decision anent human affairs. It was a decision made by this group of initiates during the ancient Atlantean civilisation which brought it to an end; the decision which They will make now will produce great changes in our modern civilisation. The Masters, however, do not “take this initiation” whenever They are ready to “make decision.” The opportunity comes to the Hierarchy every forty-nine years, and the year 1952 will see a group of these [722] higher initiates choose the Path of Their future livingness and Being, but They will do so only after setting in motion certain energy forces which will creatively change matters on Earth. They thereby prove two things: Their grasp of world need and Their recognition of man's freewill to make decision. The last initiation of this kind was therefore held in 1903. Those prepared to pass through this initiation were faced with the fact of the emerging forces of cosmic evil; They had then to decide in what manner They should bring aid to humanity and what situation They should bring about so that mankind would be forced to recognise conditions and also make free choice and decision. What They decided to do led to the world war, to a demonstrated cleavage between right and wrong, between imprisonment and freedom, and which, in 1952 will lead to a decision—the outcome of which is hidden in the consciousness of Those Who will at that time, make it. (Written in 1949.)

Cũng thú vị khi ghi nhớ rằng ở lần điểm đạo thứ sáu này, một thời khắc có tính lịch sử căn bản rất đáng chú ý xảy ra. Tất cả các Chân sư là những điểm đạo đồ bậc sáu họp trong mật nghị và cùng nhau, trước khi đưa ra quyết định cuối cùng của Các Ngài (quyết định có lẽ sẽ đưa Các Ngài ra khỏi Con Đường Phụng Sự Địa Cầu), quyết định những biện pháp mà Các Ngài đề nghị Thánh Đoàn nên thực hiện, những biện pháp sẽ ảnh hưởng một cách triệt để và lâu dài đến hành tinh mà Các Ngài đã sống trên đó và đã làm việc vì nó. Các bạn sẽ lưu ý rằng ở đây tôi gọi Các Ngài là “những điểm đạo đồ bậc sáu,” nhắc cho các bạn nhớ rằng trước khi một người nhận một lần điểm đạo ở bất kỳ bậc nào, Ngài đã là một điểm đạo đồ của bậc đó rồi. Các Ngài trong tổng thể của mình—vào bất kỳ thời điểm nào—là nhóm đưa ra quyết định cuối cùng liên quan đến các vấn đề nhân loại. Chính một quyết định do nhóm điểm đạo đồ này đưa ra trong nền văn minh Atlantis cổ xưa đã chấm dứt nền văn minh ấy; quyết định mà Các Ngài sẽ đưa ra bây giờ sẽ tạo nên những thay đổi lớn trong nền văn minh hiện đại của chúng ta. Tuy nhiên, các Chân sư không “nhận lần điểm đạo này” bất cứ khi nào Các Ngài sẵn sàng “đưa ra quyết định.” Cơ hội đến với Thánh Đoàn mỗi bốn mươi chín năm một lần, và năm 1952 sẽ chứng kiến một nhóm những [722] điểm đạo đồ cao hơn này chọn Con Đường cho sự sống động và Bản Thể tương lai của Các Ngài, nhưng Các Ngài sẽ chỉ làm như vậy sau khi khởi động một số mãnh lực năng lượng sẽ thay đổi một cách sáng tạo các sự việc trên Trái Đất. Qua đó Các Ngài chứng minh hai điều: sự nắm bắt của Các Ngài về nhu cầu của thế giới và sự công nhận của Các Ngài đối với tự do ý chí của con người trong việc đưa ra quyết định. Vì vậy, lần điểm đạo gần nhất thuộc loại này đã được tổ chức vào năm 1903. Những vị được chuẩn bị để đi qua lần điểm đạo này đã phải đối diện với sự kiện về các mãnh lực ác độc vũ trụ đang nổi lên; khi ấy Các Ngài phải quyết định bằng cách nào Các Ngài nên mang sự trợ giúp đến cho nhân loại và Các Ngài nên tạo ra tình huống nào để nhân loại bị buộc phải nhận ra các điều kiện và cũng đưa ra sự lựa chọn và quyết định tự do. Điều mà Các Ngài quyết định làm đã dẫn đến chiến tranh thế giới, đến một sự phân rẽ được chứng minh giữa đúng và sai, giữa giam cầm và tự do, và điều đó, vào năm 1952, sẽ dẫn đến một quyết định—kết quả của nó được che giấu trong tâm thức của Những Đấng khi ấy sẽ đưa ra quyết định đó. (Viết năm 1949.)

At this sixth initiation the Masters Who participate in it no longer come under the jurisdiction of the Hierarchy. They have moved out from under it. Their long connection with the Hierarchy is translated to a higher centre and is transferred to Shamballa, unless (as in the case of the Christ) They choose the Path of Earth Service and return to work with the evolutions upon our planet; there are many such evolutions and several kingdoms in nature besides the human, including the deva or angel evolution.

Ở lần điểm đạo thứ sáu này, các Chân sư tham dự vào nó không còn thuộc thẩm quyền của Thánh Đoàn nữa. Các Ngài đã bước ra khỏi thẩm quyền ấy. Mối liên hệ lâu dài của Các Ngài với Thánh Đoàn được chuyển dịch lên một trung tâm cao hơn và được chuyển sang Shamballa, trừ phi (như trong trường hợp của Đức Christ) Các Ngài chọn Con Đường Phụng Sự Địa Cầu và quay lại làm việc với các tiến hoá trên hành tinh chúng ta; có nhiều tiến hoá như thế và nhiều giới trong thiên nhiên ngoài giới nhân loại, kể cả tiến hoá deva hay thiên thần.

The sixth Initiation of Decision is preparatory to the true Initiation of the Resurrection, the seventh initiation. This can only be undergone when the will of the Master is completely merged in that of the planetary Logos. Between the sixth and the seventh initiations “an interim of divine fusion” takes place; an elementary and somewhat distorted picture of this critical fusion is given to us in The New Testament, where we read of the experience of the Christ in the garden of Gethsemane. There again—as in the fourth Initiation of Renunciation—the human element of suffering is emphasised, whereas in the true symbolical “garden” between the sixth and the seventh initiations there is no [723] aspect of suffering. Suffering and pain enter not into the consciousness of the Master. Where it says in The New Testament that, “angels came and ministered unto” the Christ, the correct implication is that Those Who dwell and work in Shamballa use this period to instruct the initiate who has made his decision through an expression of his divine nature and in the significance of the divine purpose; this concerns the relation of our planetary Logos to the solar system, and decision is made through the development of that higher sensitivity which leads inevitably to cosmic perception. We have no adequate word for this quality or type of sensitivity, for it is not something which we can consciously understand, nor is it a form of conscious reaction; neither is it awareness as we use that term. It has been occultly defined as something akin to “immersion in a realised state of Being,” because the initiate is a conscious aspect of that of which he forms an integral part. By means of this statement you will see how impossible it is for me to explain certain things, to make clear certain unknown types of consciousness or to indicate areas of perception which lie beyond the ken even of a Master.

Lần điểm đạo thứ sáu, Cuộc Điểm Đạo Quyết Định, là sự chuẩn bị cho Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh đích thực, lần điểm đạo thứ bảy. Điều này chỉ có thể được trải qua khi ý chí của Chân sư được hòa nhập hoàn toàn vào ý chí của Hành Tinh Thượng Đế. Giữa lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy diễn ra “một giai đoạn trung gian của sự dung hợp thiêng liêng”; một bức tranh sơ đẳng và phần nào méo mó về sự dung hợp trọng yếu này được trao cho chúng ta trong Tân Ước, nơi chúng ta đọc thấy kinh nghiệm của Đức Christ trong vườn Gethsemane. Ở đó nữa—cũng như trong Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ lần thứ tư—yếu tố đau khổ của con người được nhấn mạnh, trong khi trong “khu vườn” biểu tượng đích thực giữa lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy thì không có [723] phương diện đau khổ nào. Đau khổ và đau đớn không đi vào tâm thức của Chân sư. Ở chỗ Tân Ước nói rằng “các thiên thần đến và phụng sự” Đức Christ, hàm ý đúng là Những Đấng cư ngụ và hoạt động trong Shamballa dùng giai đoạn này để huấn thị điểm đạo đồ đã đưa ra quyết định của mình thông qua một biểu lộ của bản chất thiêng liêng của y và về thâm nghĩa của Thiên Ý; điều này liên quan đến mối tương quan của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta với hệ mặt trời, và quyết định được đưa ra nhờ sự phát triển của tính nhạy cảm cao hơn ấy, vốn tất yếu dẫn đến tri giác vũ trụ. Chúng ta không có từ ngữ thích đáng nào cho phẩm tính hay loại nhạy cảm này, vì đó không phải là điều mà chúng ta có thể hữu thức thấu hiểu, cũng không phải là một hình thức phản ứng hữu thức; nó cũng không phải là sự nhận biết như chúng ta dùng thuật ngữ ấy. Về mặt huyền bí, nó đã được định nghĩa là một điều gì đó gần với “sự chìm nhập trong một trạng thái Bản Thể đã được chứng nghiệm,” bởi vì điểm đạo đồ là một phương diện có ý thức của cái mà y tạo thành một phần toàn vẹn. Qua phát biểu này, bạn sẽ thấy tôi không thể nào giải thích một số điều, làm sáng tỏ một số loại tâm thức chưa biết, hay chỉ ra những lĩnh vực tri giác vượt ngoài tầm hiểu biết ngay cả của một Chân sư đến mức nào.

Revelation is a progressive matter. Disciples are not really able to understand the extensive significances of the third initiation, for instance; in like manner, even high initiates fail to comprehend that which lies plainly before Them. Disciples can, however, dimly sense the nature of the Transfiguration which characterises them, from the hierarchical point of view, and Masters can also dimly sense the nature of the decision with which They are faced. It is this preparatory sensitivity in the disciple which produces true perception at all the various initiatory stages. This is a statement of major importance and links sensitivity, its interpretation and control, with the everyday life of the ordinary disciple. It is important because of its inclusiveness and because each stage upon the Path of Initiation has in it the germ of comprehension and an understanding (deeply hidden) of the various steps which have to be taken upon the Way of the Higher Evolution. Upon this Way [724] the Master intelligently embarks when He has made His final decision; earlier stages are simply revelatory of the Way.

Sự mặc khải là một vấn đề tiến triển. Chẳng hạn, các đệ tử thực sự không thể hiểu được những ý nghĩa bao quát của lần điểm đạo thứ ba; cũng vậy, ngay cả các điểm đạo đồ cao cấp cũng không lĩnh hội được điều đang hiển nhiên ở ngay trước mặt Các Ngài. Tuy nhiên, các đệ tử có thể mơ hồ cảm nhận bản chất của sự Biến hình vốn đặc trưng cho họ theo quan điểm của Thánh đoàn, và các Chân sư cũng có thể mơ hồ cảm nhận bản chất của quyết định mà Các Ngài phải đối diện. Chính tính nhạy cảm chuẩn bị này nơi đệ tử tạo ra tri giác chân thực ở mọi giai đoạn điểm đạo khác nhau. Đây là một phát biểu có tầm quan trọng lớn lao và nối kết tính nhạy cảm, sự diễn giải và kiểm soát nó, với đời sống hằng ngày của người đệ tử bình thường. Điều này quan trọng vì tính bao gồm của nó và vì mỗi giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo đều chứa trong nó mầm mống của sự lĩnh hội và một sự thấu hiểu (ẩn sâu) về các bước khác nhau phải được thực hiện trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Trên Con Đường này [724] Chân sư khởi hành một cách thông tuệ khi Ngài đã đưa ra quyết định cuối cùng của Ngài; các giai đoạn trước chỉ đơn thuần mặc khải về Con Đường.

Initiation has been defined as “a progressive sequence of directed energy impacts.” These impacts are characterised by points of tension, and these lead inevitably to points of crisis; the whole process is governed by the Law of Cause and Effect. It is this latter point which I seek now to emphasise, because it has a definite and mysterious relation to this sixth initiation. The Master, as He makes His decision and chooses one of the seven Paths which unitedly form the planetary antahkarana, is forced thereto by the accumulation of past karma. All evil karma has necessarily been worked off, but His accumulated good karma makes His final decision inevitable; from that instant of decision He stands entirely free and liberated from all aspects and all forms of planetary karma, which is greater and more vast than his little individual karma, be it good or bad. He is then—in Himself—the summation of all past experience. Unless He deliberately chooses the Path of Earth Service and decides to remain within the field, scope or influence of the planetary Life, He faces a solar or a cosmic future of which He knows relatively little, but for which the Path of Evolution, the Path of Discipleship and the Path of Initiation have fitted Him. Even He does not know the conditions into which His “decision” commits Him, or those into which He will have to penetrate; He does know, however, and “appropriates the fact and the faculties” (as one Master has expressed it) of complete revelation and future opportunity.

Điểm đạo đã được định nghĩa là “một chuỗi tiến triển của những tác động năng lượng có định hướng.” Những tác động này được đặc trưng bởi các điểm tập trung nhất tâm, và những điểm này tất yếu dẫn đến các điểm khủng hoảng; toàn bộ tiến trình được chi phối bởi Định luật Nhân Quả. Chính điểm sau cùng này mà giờ đây tôi muốn nhấn mạnh, vì nó có một mối liên hệ xác định và huyền nhiệm với lần điểm đạo thứ sáu này. Chân sư, khi Ngài đưa ra quyết định của Ngài và chọn một trong bảy Con Đường, những Con Đường hợp nhất lại tạo thành antahkarana hành tinh, bị thúc đẩy đến đó bởi sự tích lũy nghiệp quả quá khứ. Mọi ác nghiệp tất nhiên đã được giải trừ, nhưng thiện nghiệp tích lũy của Ngài khiến quyết định cuối cùng của Ngài trở nên không thể tránh khỏi; từ khoảnh khắc quyết định ấy, Ngài đứng hoàn toàn tự do và được giải thoát khỏi mọi phương diện và mọi hình thức nghiệp quả hành tinh, vốn lớn lao và bao quát hơn nghiệp quả cá nhân nhỏ bé của ngài, dù là tốt hay xấu. Khi ấy, chính trong bản thân Ngài, Ngài là tổng hợp của mọi kinh nghiệm quá khứ. Trừ phi Ngài cố ý chọn Con Đường Phụng Sự Địa Cầu và quyết định ở lại trong phạm vi, tầm mức hay ảnh hưởng của Sự sống Hành tinh, Ngài đối diện với một tương lai thái dương hay vũ trụ mà Ngài biết tương đối ít, nhưng Con Đường Tiến Hoá, Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo đã chuẩn bị cho Ngài. Ngay cả Ngài cũng không biết những điều kiện mà “quyết định” của Ngài cam kết Ngài vào, hay những điều kiện mà Ngài sẽ phải thâm nhập; tuy nhiên, Ngài biết, và “chiếm hữu sự kiện và các năng lực” (như một Chân sư đã diễn tả) của sự mặc khải trọn vẹn và cơ hội tương lai.

You have oft been told that there are four Lords of Karma associated with the Council Chamber at Shamballa. They represent—in Their totality—the three Rays of Aspect, and one of Them represents the four minor Rays of Attribute. It is the Lord of Karma Who implements the destinies of Those Who are conditioned by the third Ray of Active Intelligence (and this is ever the case with Those Who are taking the sixth initiation) and Who—symbolically speaking—”wipes clean the slate” of this particular group [725] of initiates at this particular time. Karma no longer holds Them.

Bạn thường được bảo rằng có bốn Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả liên kết với Phòng Hội Đồng tại Shamballa. Các Ngài đại diện—trong tổng thể của Các Ngài—cho ba Cung Trạng Thái, và một trong Các Ngài đại diện cho bốn Cung Thuộc Tính phụ. Chính Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả thực thi các định mệnh của Những Đấng được tác động bởi cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động (và điều này luôn luôn đúng với Những Đấng đang nhận lần điểm đạo thứ sáu) và Đấng ấy—nói theo biểu tượng—“xóa sạch tấm bảng” của nhóm điểm đạo đồ đặc thù này [725] vào thời điểm đặc thù này. Nghiệp quả không còn giữ Các Ngài nữa.

The revelation accorded to the Initiate in the first stage of the initiation gives Him a complete picture “in a flash of endless time” of the processes which have brought Him to this creative moment of decision. Immediately He achieves a point of tension which He will continue to hold until the final or ninth initiation, the Initiation of Refusal, wherein He rejects, refuses or repudiates His entire past and enters upon His chosen path entirely “free of recollected concepts, but exhibiting to Those Great Lives Who welcome Him upon the new and untried path all that He is and the essence of His Being.”

Sự mặc khải được ban cho điểm đạo đồ trong giai đoạn đầu của lần điểm đạo trao cho Ngài một bức tranh trọn vẹn “trong một tia chớp của thời gian vô tận” về các tiến trình đã đưa Ngài đến khoảnh khắc sáng tạo của quyết định này. Ngay lập tức Ngài đạt đến một điểm tập trung nhất tâm mà Ngài sẽ tiếp tục giữ cho đến lần điểm đạo cuối cùng hay lần thứ chín, Cuộc Điểm Đạo Khước Từ, trong đó Ngài khước từ, từ chối hay phủ nhận toàn bộ quá khứ của Ngài và bước vào con đường đã chọn của Ngài hoàn toàn “không còn bị ràng buộc bởi các khái niệm được ghi nhớ, nhưng biểu lộ cho Những Sự Sống Vĩ Đại đón tiếp Ngài trên con đường mới mẻ và chưa từng thử nghiệm tất cả những gì Ngài là và tinh túy của Bản Thể Ngài.”

In dealing with these higher initiations of which I myself have no experience, there is naught for me to do but clarify your minds, and mine also, through the use of ancient phrases and the oral teaching which is permitted to escape into the minds of men.

Khi đề cập đến những lần điểm đạo cao hơn này mà chính tôi không có kinh nghiệm, tôi không còn gì khác để làm ngoài việc làm sáng tỏ trí tuệ của bạn, và cả của tôi nữa, qua việc sử dụng những cụm từ cổ xưa và giáo huấn khẩu truyền được phép thoát vào trí tuệ của con người.

The point of crisis which ever follows the attainment of tension is the expressed moment of the final decision. Then follows the revelation of what may be, and the initiate knows that he faces the final resurrection and that from being the eternal pilgrim or the planetary wanderer, he now becomes a fixed point upon another cosmic plane, for the physical is, for him, eternally left behind.

Điểm khủng hoảng luôn luôn theo sau việc đạt được nhất tâm là khoảnh khắc được biểu lộ của quyết định cuối cùng. Sau đó là sự mặc khải về điều có thể xảy ra, và điểm đạo đồ biết rằng y đối diện với sự phục sinh cuối cùng và rằng từ chỗ là người hành hương vĩnh cửu hay kẻ lữ hành hành tinh, giờ đây y trở thành một điểm cố định trên một cõi vũ trụ khác, vì cõi hồng trần, đối với y, đã vĩnh viễn bị bỏ lại phía sau.

This initiation is therefore governed by the third ray, the Ray of Intelligent Activity. This ray is closely related to the mental plane of our planetary life, to the Law of Fixation and the Law of Cleavages. Much anent this I have written earlier, and a search for the significance of certain passages in A Treatise on Cosmic Fire may bring enlightenment. Fixation is not permitted to the eternal pilgrim upon our little planet, the Earth, but when that is left behind entirely at the ninth initiation the initiate becomes a “fixed or stationary point of light within his chosen Place, the Place of the Most High and the point of fire upon the mountain-top. From that point he will no more go out.”

Vì vậy, lần điểm đạo này được chi phối bởi cung ba, Cung của Hoạt Động Thông Tuệ. Cung này liên hệ mật thiết với cõi trí của sự sống hành tinh chúng ta, với Định luật Cố Định và Định luật Phân Ly. Tôi đã viết nhiều về điều này trước đây, và việc tìm kiếm thâm nghĩa của một số đoạn trong Luận về Lửa Vũ Trụ có thể mang lại sự soi sáng. Sự cố định không được phép đối với người hành hương vĩnh cửu trên hành tinh nhỏ bé của chúng ta, Trái Đất, nhưng khi hành tinh ấy bị bỏ lại hoàn toàn ở lần điểm đạo thứ chín, điểm đạo đồ trở thành một “điểm ánh sáng cố định hay bất động trong Nơi chốn đã chọn của y, Nơi chốn của Đấng Tối Cao và điểm lửa trên đỉnh núi. Từ điểm đó y sẽ không còn đi ra nữa.”

[726]

[726]

The concept of cleavage is latent here also. The Master severs all connection with the past and with the planet, but never with the One Life which permeates all spheres and forms of being, which makes possible all states of consciousness and leads to endless activity.

Khái niệm phân ly cũng tiềm ẩn ở đây. Chân sư cắt đứt mọi liên hệ với quá khứ và với hành tinh, nhưng không bao giờ cắt đứt với Sự Sống Duy Nhất thấm nhuần mọi khối cầu và mọi hình thức hiện hữu, điều làm cho mọi trạng thái tâm thức trở nên khả hữu và dẫn đến hoạt động vô tận.

Creativity was one of the three words which I gave you earlier (see page 340) in connection with this sixth initiation. The final four initiations are all distinguished by a “revelation in the living light.” At the sixth initiation the Master is brought to an understanding of the nature of creation, of the reason for the intelligent manifestation of substantial forms and their creation to provide forms for Being and for Life, and of the quality of that which He—in the future—must and will create. At the seventh Initiation of Resurrection, He is accorded a revelation of the quality which must express itself through all created forms: the quality of love-wisdom which has animated our planetary Logos and is the basic quality of our entire solar system. In other spheres and in other solar systems and on other cosmic planes, other qualities, unknown to us, may be demonstrated by the appropriate initiates; but those who attain resurrection and liberation upon our planet will always be spiritually qualified by divine love, and that will also be the underlying quality of all that they may later create when freed from our planet. You can see, therefore, why the phrase “God is Love” is really our planetary keynote.

Tính sáng tạo là một trong ba từ mà trước đây tôi đã trao cho bạn (xem trang 340) liên quan đến lần điểm đạo thứ sáu này. Bốn lần điểm đạo cuối cùng đều được phân biệt bởi “một sự mặc khải trong ánh sáng sống động.” Ở lần điểm đạo thứ sáu, Chân sư được đưa đến chỗ thấu hiểu bản chất của sáng tạo, lý do của sự biểu hiện thông tuệ của các hình tướng bằng chất liệu và việc tạo ra chúng để cung cấp hình tướng cho Bản Thể và cho Sự Sống, cùng phẩm tính của điều mà trong tương lai Ngài phải và sẽ sáng tạo. Ở Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh lần thứ bảy, Ngài được ban cho một sự mặc khải về phẩm tính phải biểu lộ qua mọi hình tướng được sáng tạo: phẩm tính bác ái – minh triết đã làm sinh động Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và là phẩm tính căn bản của toàn bộ hệ mặt trời chúng ta. Trong các khối cầu khác và trong các hệ mặt trời khác và trên các cõi vũ trụ khác, những phẩm tính khác, không được chúng ta biết đến, có thể được biểu lộ bởi các điểm đạo đồ thích hợp; nhưng những ai đạt đến sự phục sinh và giải thoát trên hành tinh chúng ta sẽ luôn luôn mang phẩm tính tinh thần của tình thương thiêng liêng, và đó cũng sẽ là phẩm tính nền tảng của tất cả những gì về sau họ có thể sáng tạo khi đã được giải thoát khỏi hành tinh chúng ta. Vì vậy, bạn có thể thấy tại sao cụm từ “Thượng đế là Tình thương” thực sự là chủ âm hành tinh của chúng ta.

At the eighth Initiation of Transition the purpose of all our planetary activity is revealed to the Master, and all Masters or initiates of this eighth initiation (working either through the Hierarchy or in Shamballa) are needed at this initiation so as to stimulate the point of tension of the new initiate in order to make the revelation possible.

Ở Cuộc Điểm Đạo Chuyển tiếp lần thứ tám, mục đích của toàn bộ hoạt động hành tinh của chúng ta được mặc khải cho Chân sư, và tất cả các Chân sư hay điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ tám này (hoạt động hoặc qua Thánh đoàn hoặc trong Shamballa) đều cần thiết trong lần điểm đạo này để kích thích điểm tập trung nhất tâm của điểm đạo đồ mới hầu làm cho sự mặc khải trở nên khả hữu.

It might be said that They act like a lens through which the living light flows which makes the revelation possible, and They also fulfill the need of acting as a protecting factor. This protection is needed because at this initiation the initiate is shown not only the eternal good [727] underlying planetary purpose, but he is allowed “to see that which is hidden behind the fast sealed door and be in touch with cosmic evil for it can no longer hurt him.” He needs nevertheless the protection of Those with Whom he has fitted himself to associate. What the planetary purpose is I know not; when I say that part of the purpose is to liberate light and love into a wider universe and to free the solar system from the attacks of cosmic evil, I am stating a truth, but a truth which remains as yet meaningless to those who have not been put in touch with the completed purpose; it remains a mystery, for the true nature of light, the mystery of electricity, the constitution of the good, the beautiful and the true, the origin of evil, the nature and purpose of the Black Lodge, the place which that Lodge plays within the divine scheme of being, are all unknown to you in their essential significance. Remember that when a Member of the Hierarchy uses the word essential, He does not mean (as you oft do) that which is needed or necessary; He is referring to the inmost essence which is found at the heart of all things—both the good and the evil. Therefore, when I say to you also that at this eighth initiation the nature and the purpose of duality is revealed to the initiate, it is again meaningless.

Có thể nói rằng Các Ngài hành động như một thấu kính mà qua đó ánh sáng sống động tuôn chảy, làm cho sự mặc khải trở nên khả hữu, và Các Ngài cũng đáp ứng nhu cầu đóng vai trò như một yếu tố bảo vệ. Sự bảo vệ này là cần thiết vì ở lần điểm đạo này, điểm đạo đồ không chỉ được cho thấy điều thiện vĩnh cửu [727] nằm bên dưới mục đích hành tinh, mà y còn được phép “thấy điều ẩn sau cánh cửa niêm kín chặt chẽ và tiếp xúc với ác vũ trụ vì nó không còn có thể làm hại y nữa.” Tuy nhiên, y vẫn cần sự bảo vệ của Những Đấng mà y đã tự chuẩn bị để liên kết. Mục đích hành tinh là gì thì tôi không biết; khi tôi nói rằng một phần của mục đích là giải phóng ánh sáng và tình thương vào một vũ trụ rộng lớn hơn và giải thoát hệ mặt trời khỏi các cuộc tấn công của ác vũ trụ, tôi đang nói một chân lý, nhưng là một chân lý vẫn còn vô nghĩa đối với những ai chưa được tiếp xúc với mục đích đã hoàn tất; nó vẫn là một huyền nhiệm, vì bản chất đích thực của ánh sáng, huyền nhiệm của điện, cấu tạo của điều thiện, cái đẹp và chân lý, nguồn gốc của điều ác, bản chất và mục đích của Hắc đoàn, vai trò mà đoàn ấy giữ trong hệ thống hiện hữu thiêng liêng, tất cả đều chưa được bạn biết đến trong thâm nghĩa cốt lõi của chúng. Hãy nhớ rằng khi một Thành viên của Thánh đoàn dùng từ cốt yếu, Ngài không có ý nói (như bạn thường làm) điều cần thiết hay tất yếu; Ngài đang nói đến tinh túy nội tại nhất được tìm thấy ở trung tâm của mọi sự—cả thiện lẫn ác. Vì vậy, khi tôi cũng nói với bạn rằng ở lần điểm đạo thứ tám này, bản chất và mục đích của nhị nguyên tính được mặc khải cho điểm đạo đồ, điều đó lại vẫn vô nghĩa.

At these three final initiations, therefore, the significance of creation, of quality and of purpose are successively revealed to the Master, and that which makes the revelation possible is not only the action of the One Initiator and of the initiating group (when such a group is required), but the major factor is the developed sensitivity of the initiate himself—a sensitivity which has developed through many aeons of lives and of vital experience.

Do đó, ở ba lần điểm đạo cuối cùng này, thâm nghĩa của sáng tạo, của phẩm tính và của mục đích lần lượt được mặc khải cho Chân sư, và điều làm cho sự mặc khải trở nên khả hữu không chỉ là hành động của Đấng Điểm đạo Duy Nhất và của nhóm điểm đạo (khi cần một nhóm như thế), mà yếu tố chính là tính nhạy cảm đã phát triển của chính điểm đạo đồ—một tính nhạy cảm đã phát triển qua nhiều đại kiếp sống và kinh nghiệm sinh động.

The objective of the evolutionary process to which all lives on our planet have to submit has been to develop this sensitivity which will make revelation possible, and it might be said that (from one definite angle) the goal of all experience has been revelation—each revelation “carrying the initiate closer to the Heart of the Sun wherein all things are known and felt, and through which all forms, [728] all beings and all things can be bathed in love.” Ponder on these words, for the microcosmic correspondence to the macrocosmic fact is full of teaching value. See to it that “each lesson learned each day, each revelation grasped and understood, makes your heart full of love and enables you to love your fellowmen with ardent, fiery warmth.” I am quoting some ancient aphorisms for disciples.

Mục tiêu của tiến trình tiến hoá mà mọi sự sống trên hành tinh chúng ta phải tuân theo là phát triển tính nhạy cảm này, thứ sẽ làm cho sự mặc khải trở nên khả hữu, và có thể nói rằng (từ một góc độ xác định) mục tiêu của mọi kinh nghiệm là sự mặc khải—mỗi sự mặc khải “đưa điểm đạo đồ đến gần hơn Trái Tim Mặt Trời, nơi mọi sự đều được biết và được cảm nhận, và qua đó mọi hình tướng, [728] mọi hữu thể và mọi sự vật có thể được tắm trong tình thương.” Hãy suy ngẫm những lời này, vì sự tương ứng vi mô với sự kiện vĩ mô chứa đầy giá trị giáo huấn. Hãy bảo đảm rằng “mỗi bài học học được mỗi ngày, mỗi sự mặc khải được nắm bắt và thấu hiểu, làm cho trái tim bạn tràn đầy tình thương và giúp bạn yêu thương đồng loại của mình bằng sự nồng nhiệt cháy bỏng, rực lửa.” Tôi đang trích dẫn một số châm ngôn cổ xưa dành cho các đệ tử.

At the ninth Initiation of Refusal, the revelation presented to the Master concerns the nature of Being and of existence. There is naught I can say to you which could be in any way explanatory of Being, for Being is related to THAT which creates, to the universal point of planetary or solar Life which is, and has ever been, responsible for the life of all forms from the greatest manifestation to the smallest. When that revelation is accorded to the initiate, he for the first time receives his initial contact with what is called in the occult and esoteric books “the Central Spiritual Sun.” He realises for himself that those words concern a basic fact and are related to the purpose of the solar system, just as “the Heart of the Sun” revealed to him the quality of the solar system. When it is realised that our planetary purpose is mysteriously related to the revelation of love upon our little planet, the Earth, through the process of creation, the concept emerges that there is the probability that our planet has a unique relation to the Heart of the Sun. There are many hints for you in what I have said; they are hints to me also, only I can bring to their expansion into ascertained fact a wider knowledge than is as yet your possession.

Ở Cuộc Điểm Đạo Khước Từ lần thứ chín, sự mặc khải được trình bày cho Chân sư liên quan đến bản chất của Bản Thể và của hiện hữu. Tôi không thể nói gì với bạn có thể giải thích theo bất kỳ cách nào về Bản Thể, vì Bản Thể liên hệ với CÁI tạo ra, với điểm phổ quát của Sự sống hành tinh hay thái dương vốn đang là, và từ trước đến nay luôn chịu trách nhiệm cho sự sống của mọi hình tướng từ biểu hiện lớn nhất đến nhỏ nhất. Khi sự mặc khải ấy được ban cho điểm đạo đồ, lần đầu tiên y nhận được tiếp xúc ban đầu với điều được gọi trong các sách huyền bí và nội môn là “Mặt trời Tinh thần Trung Ương.” Y tự mình nhận ra rằng những lời ấy liên quan đến một sự kiện căn bản và có liên hệ với mục đích của hệ mặt trời, cũng như “Trái Tim Mặt Trời” đã mặc khải cho y phẩm tính của hệ mặt trời. Khi nhận ra rằng mục đích hành tinh của chúng ta có liên hệ một cách huyền nhiệm với sự mặc khải tình thương trên hành tinh nhỏ bé của chúng ta, Trái Đất, qua tiến trình sáng tạo, thì khái niệm xuất hiện rằng có khả năng hành tinh chúng ta có một mối liên hệ độc đáo với Trái Tim Mặt Trời. Có nhiều gợi ý cho bạn trong điều tôi đã nói; chúng cũng là những gợi ý cho tôi, chỉ khác là tôi có thể đem đến cho sự khai triển của chúng thành sự kiện đã được xác nhận một tri thức rộng hơn điều mà bạn hiện đang sở hữu.

There is little more that I can say anent this crucial and decisive sixth initiation. It embodies the Master's recognition of liberation, and in its processes He demonstrates that liberation by making free decision anent His future state of Being and of purpose. The future, for the average person and for the average disciple, is contained within his past and is implemented in his present. This is not so with the initiate of the sixth initiation. He is entirely liberated from his past; the Law of Karma no longer [729] has any hold over Him; He makes free decision, and His future is decided by Him not on the basis of its inevitability or as providing Him with a field in which to work off karma, but on the basis solely of qualification for service. This creates a very different situation. The decision once made is a fixed decision, and there is no turning back or relinquishment of it, nor (so free is the Master from all possible hindrances) is there any desire to turn back or possibility that He could do so.

Tôi còn rất ít điều có thể nói thêm về lần điểm đạo thứ sáu trọng yếu và quyết định này. Nó bao hàm sự nhận biết của Chân sư về giải thoát, và trong các tiến trình của nó Ngài chứng minh sự giải thoát ấy bằng cách đưa ra quyết định tự do liên quan đến trạng thái Bản Thể và mục đích tương lai của Ngài. Tương lai, đối với người trung bình và đối với đệ tử trung bình, được chứa trong quá khứ của y và được thực hiện trong hiện tại của y. Với điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ sáu thì không phải vậy. Ngài hoàn toàn được giải thoát khỏi quá khứ của Ngài; Định luật Nghiệp Quả không còn [729] nắm giữ Ngài nữa; Ngài đưa ra quyết định tự do, và tương lai của Ngài do chính Ngài quyết định không phải trên cơ sở tính tất yếu của nó hay như một lĩnh vực để Ngài giải trừ nghiệp quả, mà chỉ duy nhất trên cơ sở đủ tư cách để phụng sự. Điều này tạo ra một tình huống rất khác. Một khi quyết định đã được đưa ra thì đó là một quyết định cố định, và không có chuyện quay lại hay từ bỏ nó, cũng không có (vì Chân sư quá tự do khỏi mọi chướng ngại khả hữu) bất kỳ ham muốn quay lại nào hay khả năng nào để Ngài có thể làm như vậy.

The remaining three initiations demonstrate these points still more clearly and definitely, and the light in which the initiate walks waxes ever brighter and brighter. Light reveals to him the nature and the purpose of the cosmic etheric physical planes (the four highest planes of our planetary Life); this light brings to his attention the nature of certain extra-planetary conditions, and for the first time these become factual to him and not simply hypothetical; the light reveals to him his future opportunities once his final choice or decision is made, and—as said above—it also reveals to him the nature of divine purpose as our planetary Logos conceives it under the inspiration of the solar Logos.

Ba lần điểm đạo còn lại chứng minh những điểm này còn rõ ràng và xác định hơn nữa, và ánh sáng trong đó điểm đạo đồ bước đi ngày càng sáng hơn. Ánh sáng mặc khải cho y bản chất và mục đích của các cõi dĩ thái hồng trần vũ trụ (bốn cõi cao nhất của Sự sống hành tinh chúng ta); ánh sáng này thu hút sự chú ý của y đến bản chất của một số điều kiện ngoài hành tinh, và lần đầu tiên những điều này trở thành sự kiện đối với y chứ không chỉ là giả thuyết; ánh sáng mặc khải cho y những cơ hội tương lai của y một khi lựa chọn hay quyết định cuối cùng của y đã được đưa ra, và—như đã nói ở trên—nó cũng mặc khải cho y bản chất của Thiên Ý như Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta quan niệm dưới cảm hứng của Thái dương Thượng đế.

He can now express himself fully upon the monadic plane, the plane of universal life; the great heresy of separateness has slipped away from him and he knows nothing but love, unity, spiritual identification and a universal awareness. Because of this, he can become a creator, for creation is the expression of life, love and purpose, and all these three he can now understand and fully express.

Giờ đây Ngài có thể biểu lộ chính mình trọn vẹn trên cõi chân thần, cõi của sự sống phổ quát; Đại Tà thuyết về sự tách biệt đã rời khỏi Ngài và Ngài không biết gì ngoài tình thương, hợp nhất, đồng nhất tinh thần và một sự nhận biết phổ quát. Vì điều này, Ngài có thể trở thành một đấng sáng tạo, vì sáng tạo là biểu lộ của sự sống, tình thương và mục đích, và cả ba điều này giờ đây Ngài có thể thấu hiểu và biểu lộ trọn vẹn.

He is now an intelligent cooperator with the Building Forces of the planet and also of the solar system, and upon his chosen ray he will carry out his creative intentions.

Giờ đây Ngài là một cộng tác viên thông tuệ với các Mãnh Lực Kiến Tạo của hành tinh và cả của hệ mặt trời, và trên cung đã chọn của Ngài, Ngài sẽ thực hiện các ý định sáng tạo của mình.

Initiation VII. The Resurrection — Điểm Đạo VII. Sự Phục Sinh

There is no idea more cultivated subjectively by humanity than that of the resurrection; when life seems hard and circumstances carry in them no grounds for happiness, and when nothing calls to one of such a nature that one [730] goes forth happily to the day's enterprises, and when the nights of sleep are haunted nights, the thought of rising up and out of all these circumstances, of leaving all behind and of entering into a new life, carries with it strength and hope. In the West, the Festival of the year which is regarded as of the most importance is that of Easter Day—the Day of Resurrection. Yet two thousand years ago the Christ did not rise out of a rocky sepulchre and re-assume His discarded body. He passed through the great seventh initiation which we will consider today, and knew the secret of life, of which immortality is only one of its many attributes. Humanity lays emphasis so frequently upon attribute, quality and reactions, and not upon that which is the basic underlying reality; men deal with effects and not with causes; for instance, mankind is concerned with war and with horrified preparations for more war, and is not primarily occupied with that which causes war and which, if rightly handled, would prevent war. Let us consider some few aspects of the seventh initiation.

Không có ý niệm nào được nhân loại nuôi dưỡng một cách chủ quan nhiều hơn ý niệm về sự phục sinh; khi đời sống dường như khắc nghiệt và hoàn cảnh không chứa đựng nền tảng nào cho hạnh phúc, và khi không có điều gì có thể thôi thúc một người [730] hân hoan bắt tay vào những công việc trong ngày, và khi những đêm ngủ là những đêm bị ám ảnh, thì ý nghĩ đứng dậy và thoát ra khỏi tất cả những hoàn cảnh ấy, bỏ lại mọi thứ phía sau và bước vào một đời sống mới, mang theo sức mạnh và hy vọng. Ở phương Tây, lễ hội trong năm được xem là quan trọng nhất là Lễ Phục Sinh—Ngày Phục Sinh. Tuy nhiên, hai ngàn năm trước, Đức Christ đã không sống lại từ một ngôi mộ đá và nhận lại thể xác đã bỏ đi của Ngài. Ngài đã đi qua lần điểm đạo thứ bảy vĩ đại mà hôm nay chúng ta sẽ xem xét, và biết được bí mật của sự sống, mà sự bất tử chỉ là một trong nhiều thuộc tính của nó. Nhân loại quá thường nhấn mạnh vào thuộc tính, phẩm tính và phản ứng, chứ không nhấn mạnh vào điều là thực tại nền tảng bên dưới; con người xử lý các kết quả chứ không phải các nguyên nhân; chẳng hạn, nhân loại quan tâm đến chiến tranh và những chuẩn bị kinh hoàng cho nhiều cuộc chiến tranh hơn, chứ không chủ yếu bận tâm đến điều gây ra chiến tranh và điều mà, nếu được xử lý đúng đắn, sẽ ngăn ngừa chiến tranh. Chúng ta hãy xem xét một vài phương diện của lần điểm đạo thứ bảy.

The word “resurrection” has deep significance latent in its derivation and one that is not often emphasised. The usual interpretation has been that the word comes from “re,” again, and “surgere,” to rise, therefore to rise again. Yet a consultation with the dictionary shows that the prefix means “back to an original state” by rising. This return to an original state is pictured for us in The New Testament under the story of the Prodigal Son, who said “I will arise and go to my Father,” and by the story of the resurrection in which the Master Jesus arose out of the tomb; the chains of death could not hold Him. At that time of His “rising,” a far more important event took place and the Christ passed through the seventh Initiation of Resurrection and returned back to His original state of Being—to remain there throughout all the eternities. This is the true and final resurrection. The Son of God has found His way back to the Father and to His originating Source, that state of Existence to which we have given the name Shamballa. The consciousness of the Universal Life is His: this [731] is far more than simply the consciousness of immortality, because the idea or concept of mortality is not contained within it at all. There have been many deaths within the aeonial life cycle of the initiate:

Từ “phục sinh” có một thâm nghĩa sâu xa tiềm ẩn trong nguồn gốc từ nguyên của nó, và đó là điều không thường được nhấn mạnh. Cách giải thích thông thường là từ này đến từ “re,” nghĩa là lại, và “surgere,” nghĩa là đứng dậy, do đó là đứng dậy lần nữa. Tuy nhiên, tra từ điển cho thấy tiền tố ấy có nghĩa là “trở lại trạng thái nguyên thủy” bằng cách đứng dậy. Sự trở về trạng thái nguyên thủy này được mô tả cho chúng ta trong Tân Ước qua câu chuyện Người Con Hoang Đàng, người đã nói “Ta sẽ đứng dậy và trở về với Cha ta,” và qua câu chuyện phục sinh trong đó Chân sư Jesus đứng dậy ra khỏi mộ; xiềng xích của cái chết không thể giữ Ngài. Vào thời điểm “đứng dậy” ấy của Ngài, một biến cố quan trọng hơn nhiều đã diễn ra và Đức Christ đã đi qua Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh lần thứ bảy và trở về trạng thái Bản Thể nguyên thủy của Ngài—để ở lại đó suốt mọi vĩnh cửu. Đây là sự phục sinh chân thực và tối hậu. Con của Thượng đế đã tìm được đường trở về với Cha và với Nguồn cội phát sinh của Ngài, trạng thái Hiện Hữu mà chúng ta đã đặt tên là Shamballa. Tâm thức của Sự Sống Phổ Quát là của Ngài: điều này [731] vượt xa hơn nhiều so với chỉ đơn thuần là tâm thức về sự bất tử, bởi vì ý niệm hay khái niệm về tính tử vong hoàn toàn không được chứa trong đó. Đã có nhiều cái chết trong chu kỳ sống kéo dài qua các đại kiếp của điểm đạo đồ:

1. The familiar and constantly recurring death of the physical body, incarnation after incarnation.

1. Cái chết quen thuộc và liên tục tái diễn của thể xác, hết lần lâm phàm này đến lần lâm phàm khác.

2. The deaths of the astral and the mental vehicles, as the undying soul discards them life after life—only to create new ones until mastery is attained.

2. Những cái chết của các vận cụ cảm dục và trí tuệ, khi linh hồn bất tử loại bỏ chúng hết đời này đến đời khác—chỉ để tạo ra những cái mới cho đến khi đạt được sự làm chủ.

3. Then—as a result of the incarnating process and its evolutionary effects—there comes the death of desire and its replacing by a growing spiritual aspiration.

3. Rồi—như một kết quả của tiến trình nhập thể và các hiệu quả tiến hoá của nó—đến cái chết của dục vọng và sự thay thế nó bằng một khát vọng tinh thần ngày càng tăng.

4. Then, through right use of the mind, comes the “death” of the personality or, rather, its repudiation and renouncing of all that is material.

4. Rồi, qua việc sử dụng đúng đắn trí tuệ, đến “cái chết” của phàm ngã hay đúng hơn là sự phủ nhận và từ bỏ mọi điều vật chất của nó.

5. This is followed by the death or destruction of the causal or soul body at the great Initiation of Renunciation. This process of death and resurrection goes on ceaselessly in all the kingdoms of nature; each death prepares the way for a greater loveliness and livingness, and each death (if you analyse it with care) prefaces resurrection in some form or another until we come to this final resurrection and into the position of final attainment.

5. Tiếp theo là cái chết hay sự hủy diệt của thể nguyên nhân hay thể linh hồn tại Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ vĩ đại. Tiến trình chết và phục sinh này diễn ra không ngừng trong mọi giới trong thiên nhiên; mỗi cái chết chuẩn bị con đường cho một vẻ đẹp và sức sống lớn hơn, và mỗi cái chết (nếu bạn phân tích cẩn thận) đều mở đầu cho sự phục sinh dưới hình thức này hay hình thức khác cho đến khi chúng ta đi đến sự phục sinh cuối cùng này và đến vị trí thành tựu tối hậu.

I will not here elaborate upon this process of constant death followed by constant resurrection, but it is the evolutionary keynote and the evolutionary technique, and only because men love unduly that which is material and hate to lose contact with the form aspect of nature do they fear death. It is wise to remember that immortality is an aspect of the living spiritual being, and is not an end in itself, as men seek to make it. To the Knowers of Life such a phrase as “I am an immortal Soul” is not even true. To say “I am Life Itself and, therefore, am immortal” approaches closer to the truth, but even that sentence is (from the angle of the initiate) only a part of a larger truth. Symbolically, nature is ever portraying to us the essential facts in the annual progress of the four seasons, in the cycles of light and dark and in the wonder of the emergence of beauty or [732] colour or useful function out of a seed which has struggled—because of its inherent life—into the light of the sun.

Ở đây tôi sẽ không khai triển về tiến trình chết liên tục theo sau bởi phục sinh liên tục này, nhưng đó là chủ âm tiến hoá và kỹ thuật tiến hoá, và chỉ vì con người yêu quá mức điều vật chất và ghét phải mất tiếp xúc với phương diện hình tướng của thiên nhiên nên họ sợ cái chết. Thật khôn ngoan khi nhớ rằng sự bất tử là một phương diện của hữu thể tinh thần sống động, chứ không phải là cứu cánh tự thân, như con người tìm cách biến nó thành như vậy. Đối với các thức giả về Sự sống, một câu như “Tôi là một Linh hồn bất tử” thậm chí còn không đúng. Nói rằng “Tôi là chính Sự sống và, do đó, là bất tử” thì gần với chân lý hơn, nhưng ngay cả câu ấy cũng chỉ là một phần của một chân lý lớn hơn (xét từ góc độ của điểm đạo đồ). Về mặt biểu tượng, thiên nhiên luôn luôn mô tả cho chúng ta những sự kiện cốt yếu trong tiến trình hằng năm của bốn mùa, trong các chu kỳ sáng và tối, và trong điều kỳ diệu của sự xuất hiện vẻ đẹp hay [732] màu sắc hay chức năng hữu ích từ một hạt giống đã vươn vào ánh sáng mặt trời—do sự sống nội tại của nó.

The fear of death is one of the great abnormalities or distortions of divine truth for which the Lords of Cosmic Evil are responsible. When in early Atlantean times they emerged from the place where they had been confined, and forced temporarily the retirement of the Great White Lodge to subjective levels, their first great act of distortion was to implant in human beings fear, beginning with the fear of death. From that time on, men have laid the emphasis upon death and not life, and have been ridden by fear all their days.

Nỗi sợ cái chết là một trong những điều bất thường hay méo mó lớn của chân lý thiêng liêng mà các Đấng Chúa Tể của Ác Vũ Trụ phải chịu trách nhiệm. Khi vào thời Atlantis sơ kỳ, các Ngài xuất hiện từ nơi các Ngài đã bị giam giữ, và tạm thời buộc Thánh đoàn phải rút lui về các cấp độ chủ quan, hành động méo mó lớn đầu tiên của các Ngài là cấy vào con người nỗi sợ, bắt đầu bằng nỗi sợ cái chết. Từ thời điểm đó trở đi, con người đã nhấn mạnh vào cái chết chứ không phải sự sống, và bị nỗi sợ chi phối suốt đời.

One of the initial acts of the reappearing Christ and of the Hierarchy will be to erase this particular fear and to confirm in peoples minds the idea that incarnation and the taking of a form is the true place of darkness to the divine spirit which is man; it is death to the spirit temporarily, and imprisonment. Evolution, men will be taught, is in itself an initiatory process leading from one living experience to another, culminating in the fifth Initiation of Revelation and in the seventh Initiation of Resurrection.

Một trong những hành động ban đầu của Đức Christ tái xuất hiện và của Thánh đoàn sẽ là xóa bỏ nỗi sợ đặc thù này và xác nhận trong trí tuệ con người ý niệm rằng nhập thể và mang lấy một hình tướng mới là nơi tối tăm đích thực đối với tinh thần thiêng liêng là con người; đó là cái chết tạm thời đối với tinh thần, và là sự giam cầm. Con người sẽ được dạy rằng tiến hoá tự nó là một tiến trình điểm đạo dẫn từ kinh nghiệm sống này sang kinh nghiệm sống khác, đạt cực điểm ở lần điểm đạo thứ năm, Cuộc Điểm Đạo Mặc Khải, và ở lần điểm đạo thứ bảy, Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh.

At the fifth initiation it is revealed to the initiate that life in form is indeed death, and he then knows this truth in a manner which my few short words cannot convey. Form dies for him and he knows a new expansion of life and undergoes (if I may so express it) a new understanding of living. The seventh initiation is divorced from all considerations of form, and the initiate becomes a concentrated point of living light; he knows in a manner indescribable that life is all that IS, and that it is this life and its real fullness which makes him a part of THAT which lies outside of our planetary Life; he may now share in that extra-planetary Existence in which our planetary Logos lives and moves and has His being. This is the “life more abundantly” of which Christ spoke and which only an initiate of the seventh degree can understand or convey.

Ở lần điểm đạo thứ năm, điểm đạo đồ được mặc khải rằng sự sống trong hình tướng quả thực là cái chết, và khi đó y biết chân lý này theo một cách mà vài lời ngắn ngủi của tôi không thể truyền đạt. Hình tướng chết đi đối với y và y biết một sự mở rộng mới của sự sống và trải qua (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) một sự thấu hiểu mới về sống. Lần điểm đạo thứ bảy tách rời khỏi mọi xem xét về hình tướng, và điểm đạo đồ trở thành một điểm ánh sáng sống động tập trung; y biết theo một cách không thể diễn tả rằng sự sống là tất cả những gì ĐANG LÀ, và rằng chính sự sống này cùng sự viên mãn thực sự của nó khiến y trở thành một phần của CÁI nằm ngoài Sự sống hành tinh của chúng ta; giờ đây y có thể dự phần vào Hiện Hữu ngoài hành tinh ấy, trong đó Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta sống, vận động và hiện hữu. Đây là “sự sống phong phú hơn” mà Đức Christ đã nói đến và chỉ một điểm đạo đồ của cấp thứ bảy mới có thể hiểu hay truyền đạt.

After the fifth initiation, the initiate has slowly been sensing the nature of this greater Life, the Life of “The [733] Unknown God,” as it has been called, which enfolds all livingness and all forms upon and within our planet and yet remains—greater than our planetary Life, more all-encompassing than is our planetary Logos, and Whose greatness, beauty, goodness and knowledge are to our planetary Logos what His life is to the lowest form of life in the third or animal kingdom. It is only by such inadequate comparisons that one can arrive at some faint comprehension of that great WHOLE in which our planet and our planetary Logos are but a part. It is this revelation which is accorded to the initiate at this seventh Initiation of Resurrection. He takes this initiation upon what (for lack of a better phrase) we call the “logoic plane,” or on the level of consciousness of the Lord of the World.

Sau lần điểm đạo thứ năm, điểm đạo đồ đã từ từ cảm nhận bản chất của Sự Sống lớn lao hơn này, Sự Sống của “Thượng đế [733] Vô Danh,” như nó đã được gọi, bao trùm mọi sự sống động và mọi hình tướng trên và trong hành tinh chúng ta, nhưng vẫn còn—lớn hơn Sự sống hành tinh của chúng ta, bao trùm hơn Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, và sự vĩ đại, vẻ đẹp, điều thiện và tri thức của Đấng ấy đối với Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta cũng như sự sống của Ngài đối với hình thức sống thấp nhất trong giới thứ ba hay giới động vật. Chỉ bằng những so sánh không đầy đủ như thế mà người ta mới có thể đi đến một sự lĩnh hội mờ nhạt nào đó về cái TOÀN THỂ vĩ đại mà trong đó hành tinh chúng ta và Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta chỉ là một phần. Chính sự mặc khải này được ban cho điểm đạo đồ ở Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh lần thứ bảy này. Y nhận lần điểm đạo này trên cái mà (vì không có cụm từ nào tốt hơn) chúng ta gọi là “cõi logoi,” hay trên cấp độ tâm thức của Đức Chúa Tể Thế Giới.

At this initiation the Initiator is attended by two groups of Beings; one is a small group of the “Knowers of the Purpose, the Custodians of the Will,” and the other is a much larger group, the personnel of which are known as “The Wise Ones and the Attractive Energies of Shamballa.” I am of course endeavouring to translate certain brief words and intricate symbols into phrases which you can understand and which only dimly convey the true significance of Those Who function on this highest level of the cosmic physical plane. On this level, dynamic electricity is held as in a great reservoir of potency and is directed by these two groups which embody the will and the quality of the will of Deity, called by us the Will-to-Good. They are the directing Agents and are a correspondence to the ajna centre of mankind, only here it is the ajna centre of the planetary Logos, in the same sense as Shamballa is His head centre, the Hierarchy His heart centre and Humanity His creative throat centre. Motion, planned activity and the seven great creative ray energies are directed into action by Them under the influence of the seven Ray Lords; the Ray Lords are embodied livingness qualified by the seven aspects of Love, but Who are Themselves of so high an order that They cannot function as directing creative Agents but work through Their trained and developed Representatives.

Ở lần điểm đạo này, Đấng Điểm đạo được tháp tùng bởi hai nhóm Hữu Thể; một là một nhóm nhỏ “Các Đấng Biết Mục Đích, Những Đấng Gìn Giữ Ý Chí,” và nhóm kia là một nhóm lớn hơn nhiều, thành phần của nhóm này được biết đến như “Các Đấng Minh Triết và Các Năng Lượng Hấp Dẫn của Shamballa.” Dĩ nhiên, tôi đang cố gắng dịch một số từ ngắn gọn và những biểu tượng phức tạp thành những cụm từ mà bạn có thể hiểu và chỉ chuyển tải một cách mờ nhạt thâm nghĩa chân thực của Những Đấng hoạt động trên cấp độ cao nhất này của cõi hồng trần vũ trụ. Trên cấp độ này, điện năng động được giữ như trong một hồ chứa lớn của tiềm lực và được hai nhóm này định hướng, những nhóm hiện thân cho ý chí và phẩm tính của ý chí của Thượng đế, được chúng ta gọi là Ý Chí-hướng Thiện. Các Ngài là những Tác Nhân định hướng và là một sự tương ứng với trung tâm ajna của nhân loại, chỉ khác ở đây đó là trung tâm ajna của Hành Tinh Thượng Đế, theo cùng ý nghĩa như Shamballa là trung tâm đầu của Ngài, Thánh đoàn là trung tâm tim của Ngài và Nhân loại là trung tâm cổ họng sáng tạo của Ngài. Chuyển động, hoạt động có kế hoạch và bảy năng lượng cung sáng tạo vĩ đại được Các Ngài định hướng vào hành động dưới ảnh hưởng của bảy Đấng Chúa Tể Cung; các Đấng Chúa Tể Cung là sự sống động hiện thân được phẩm định bởi bảy phương diện của Bác ái, nhưng bản thân Các Ngài thuộc một trật tự cao đến mức Các Ngài không thể hoạt động như những Tác Nhân sáng tạo định hướng mà làm việc qua các Đại diện đã được huấn luyện và phát triển của Các Ngài.

[734]

[734]

Just as there is a group of Contemplative Initiates, called in the Eastern phraseology “Nirmanakayas,” Who function in deep meditation at a point midway between the Hierarchy and Shamballa, so this much higher group of Ray Lords function in the deepest cosmic meditation between our planet, the Earth, and our sister planet, Venus. You would find it useful to read with care The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire and refresh your minds as to this relationship. A lower correspondence to these two important groups has been forming midway between the Hierarchy and Humanity, and to it we give the name of the New Group of World Servers. All these three groups are fundamentally “transmitters of energy”; the two highest are exceedingly susceptible to cosmic impression and to the vibratory quality of the extra-planetary body of Avatars Who hold Themselves in readiness to function as destroying or building Energies in any part of our solar system and are under the direction of the Solar Logos.

Cũng như có một nhóm các Điểm Đạo Đồ Chiêm Ngưỡng, được gọi theo thuật ngữ phương Đông là “Nirmanakayas,” hoạt động trong tham thiền sâu tại một điểm ở giữa Thánh đoàn và Shamballa, thì nhóm các Đấng Chúa Tể Cung cao hơn nhiều này hoạt động trong sự tham thiền vũ trụ sâu nhất giữa hành tinh chúng ta, Trái Đất, và hành tinh chị em của chúng ta, Sao Kim. Bạn sẽ thấy hữu ích nếu đọc cẩn thận Giáo Lý Bí Nhiệm và Luận về Lửa Vũ Trụ và làm mới lại trí tuệ của bạn về mối liên hệ này. Một sự tương ứng thấp hơn với hai nhóm quan trọng này đã được hình thành ở giữa Thánh đoàn và Nhân loại, và chúng ta đặt cho nó cái tên là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Cả ba nhóm này về căn bản đều là “những kẻ truyền dẫn năng lượng”; hai nhóm cao hơn cực kỳ nhạy cảm với ấn tượng vũ trụ và với phẩm tính rung động của đoàn thể các Đấng Hoá Thân ngoài hành tinh, Những Đấng luôn sẵn sàng hoạt động như các Năng Lượng hủy diệt hay kiến tạo trong bất kỳ phần nào của hệ mặt trời chúng ta và ở dưới sự chỉ đạo của Thái dương Thượng đế.

The Avatar of Synthesis, Who is working in cooperation with the Christ, is one of Them. Bear in mind that these extra-planetary Avatars have not arrived at Their high state of spiritual unfoldment on our planet or even in our solar system. Their origin, source and spiritual relationships are a great mystery even to the planetary Logoi—to Whose help They go when the invocative appeal of any planet is adequate. Think not that They come to put wrong right or to arrest evil. A few, a very few, may do so, but They work along the line of the seven ray energies in the solar system and produce certain energy effects desired at any particular time; the constructive work of the Avatar of Synthesis will be apparent to you in the name He is known by; He is coming to the Earth in order to further the manifestation of unity, of oneness and of inter-relation, and He comes, therefore, to wield and apply first ray energy. He will charge or galvanise the three groups—the directing Agents in Shamballa, the Nirmanakayas and the New Group of World Servers—with dynamic energy and, in a mysterious way, relate them to each other so that a [735] new synthesis and alignment will be present upon the Earth. All these Avatars embody energy to the extent that any particular planet is capable of receiving it.

Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp, Đấng đang hoạt động trong sự hợp tác với Đức Christ, là một trong Các Ngài. Hãy ghi nhớ rằng những Đấng Hoá Thân ngoài hành tinh này đã không đạt đến trạng thái khai mở tinh thần cao của Các Ngài trên hành tinh chúng ta hay thậm chí trong hệ mặt trời chúng ta. Nguồn gốc, cội nguồn và các mối liên hệ tinh thần của Các Ngài là một huyền nhiệm lớn ngay cả đối với các Hành Tinh Thượng Đế—những Đấng mà Các Ngài đến trợ giúp khi lời khẩn cầu của bất kỳ hành tinh nào đủ mạnh. Đừng nghĩ rằng Các Ngài đến để sửa sai điều sai trái hay ngăn chặn điều ác. Một vài Đấng, rất ít Đấng, có thể làm như vậy, nhưng Các Ngài hoạt động theo đường lối của bảy năng lượng cung trong hệ mặt trời và tạo ra những hiệu quả năng lượng nhất định được mong muốn vào bất kỳ thời điểm đặc thù nào; công việc kiến tạo của Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp sẽ hiển nhiên đối với bạn trong chính danh xưng mà Ngài được biết đến; Ngài đang đến Trái Đất để thúc đẩy sự biểu hiện của hợp nhất, của nhất thể và của tương liên, và do đó Ngài đến để vận dụng và áp dụng năng lượng cung một. Ngài sẽ nạp hay kích hoạt ba nhóm—các Tác Nhân định hướng trong Shamballa, các Nirmanakayas và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—bằng năng lượng năng động và, theo một cách huyền nhiệm, liên kết họ với nhau để một [735] sự tổng hợp và chỉnh hợp mới sẽ hiện diện trên Trái Đất. Tất cả các Đấng Hoá Thân này hiện thân năng lượng đến mức mà bất kỳ hành tinh đặc thù nào có khả năng tiếp nhận nó.

These are interesting items of information but are only of value in so far as they convey to you a sense of planetary integrity and of solar synthesis, and present to you a closer spiritual inter-relation in which you, as individuals, can share if you are linking your fate and service to that of the New Group of World Servers. Then you will be in the direct line of spiritual descent, of divine energy; in this thought you have the clue to the doctrine (so travestied and misused) of the Apostolic Succession. The details, the personnel and the techniques of the two higher groups lie beyond your ken; They work in cooperation with the planetary Logos Himself, and Those Who compose these groups are all initiates of degrees higher than the fifth. Most of the Nirmanakayas have taken the sixth and the seventh initiations, whilst the group which functions midway between the Earth and Venus have all taken the eighth and ninth initiations. Some of Them, as I mentioned earlier, aid the initiate of the seventh degree; a still larger group of them participate in the activities of the two final initiations.

Đây là những thông tin thú vị nhưng chỉ có giá trị trong chừng mực chúng truyền cho bạn một cảm thức về tính toàn vẹn hành tinh và về tổng hợp thái dương, và trình bày cho bạn một sự tương liên tinh thần gần gũi hơn mà bạn, với tư cách cá nhân, có thể dự phần nếu bạn đang gắn kết số phận và sự phụng sự của mình với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Khi đó bạn sẽ ở trong đường truyền thừa tinh thần trực tiếp, của năng lượng thiêng liêng; trong tư tưởng này bạn có chìa khóa cho giáo lý (đã bị xuyên tạc và lạm dụng quá nhiều) về Sự Kế Truyền Tông Đồ. Các chi tiết, thành phần và kỹ thuật của hai nhóm cao hơn vượt ngoài tầm hiểu biết của bạn; Các Ngài hoạt động trong sự hợp tác với chính Hành Tinh Thượng Đế, và Những Đấng cấu thành các nhóm này đều là các điểm đạo đồ có cấp cao hơn cấp thứ năm. Hầu hết các Nirmanakayas đã nhận lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, trong khi nhóm hoạt động ở giữa Trái Đất và Sao Kim đều đã nhận lần điểm đạo thứ tám và thứ chín. Một số Đấng trong số Các Ngài, như tôi đã nói trước đây, trợ giúp điểm đạo đồ cấp thứ bảy; một nhóm còn lớn hơn trong số đó tham gia vào các hoạt động của hai lần điểm đạo cuối cùng.

This seventh initiation gives the initiate the right to “come and go in the courts of Shamballa” as Their work may dictate and Their service may require. It is there also that he goes for the needed periodic or cyclic re-chargings which enable him to work.

Lần điểm đạo thứ bảy này trao cho điểm đạo đồ quyền “đến và đi trong các triều đình của Shamballa” theo như công việc của họ có thể chỉ định và sự phụng sự của họ có thể đòi hỏi. Cũng chính ở đó y đến để nhận những lần nạp lại định kỳ hay theo chu kỳ cần thiết, giúp y có thể hoạt động.

There is one aspect of initiation which is apt to be overlooked. Every initiation is a process of energy transmission from a higher centre of energy to a lower; every initiation charges the initiate with electrical force, and this charging and re-charging is related to what H.P.B. calls “the mystery of electricity “ These transmissions of energy enhance the magnetic-attractive force of the initiate, and at the same time are eliminative in their effects. In this fact lies a great planetary truth and the key to the science of planetary redemption. When the spiritual and the electrical [736] charging of the three major centres on the planet—Shamballa, the Hierarchy and Humanity—has reached a high stage of receptive efficiency, a certain cosmic Avatar will “become conscious of the vibratory quality of the little point of light within the solar sphere” and will then “turn His gaze and send His force unto that point of light, and cosmic evil will be driven out and find no more a place on Earth.”

Có một phương diện của điểm đạo dễ bị bỏ qua. Mỗi lần điểm đạo là một tiến trình truyền năng lượng từ một trung tâm năng lượng cao hơn xuống một trung tâm thấp hơn; mỗi lần điểm đạo nạp cho điểm đạo đồ mãnh lực điện, và sự nạp và nạp lại này liên hệ với điều mà H.P.B. gọi là “huyền nhiệm của điện.” Những sự truyền năng lượng này tăng cường lực từ tính-hấp dẫn của điểm đạo đồ, đồng thời có tác dụng loại trừ. Chính trong sự kiện này có một chân lý hành tinh lớn lao và chìa khóa của khoa học cứu chuộc hành tinh. Khi sự nạp tinh thần và điện năng [736] của ba trung tâm lớn trên hành tinh—Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại—đã đạt đến một giai đoạn cao của hiệu năng tiếp nhận, một Đấng Hoá Thân vũ trụ nào đó sẽ “trở nên hữu thức về phẩm tính rung động của điểm ánh sáng nhỏ bé trong khối cầu thái dương” và khi đó sẽ “hướng ánh nhìn của Ngài và gửi mãnh lực của Ngài đến điểm ánh sáng ấy, và ác vũ trụ sẽ bị xua đuổi và không còn tìm được chỗ trên Trái Đất nữa.”

Two more initiations remain to be considered, but so high is their potency and so mysterious their working that I find myself unable to deal with them in any way. They are:

Còn lại hai lần điểm đạo nữa cần được xem xét, nhưng tiềm lực của chúng quá cao và sự vận hành của chúng quá huyền nhiệm đến nỗi tôi thấy mình không thể đề cập đến chúng theo bất kỳ cách nào. Chúng là:

Initiation VIII. The Great Transition - Initiation IX. The Refusal — Điểm Đạo VIII. Sự Chuyển Tiếp Vĩ Đại - Điểm Đạo IX. Sự Khước Từ

It will of course be apparent that the Transition referred to is related to the sixth Initiation of Decision, when the Master decides which of the seven Paths He will follow to His destined place. I know not what the Great Refusal involves. One thing only I know: It indicates the Initiate's last contact with what we understand as cosmic evil, manifesting on this planet and in relation to the planet. He is accorded this last contact, but such a contact is not based upon anything analogous to evil within Him, but is based upon the “planetary appeal for liberation.” This appeal is so strong that the Initiate—because His heart is on fire with love—is tempted to go back upon His decision and stay upon the planet with Those World Saviours Who have chosen the Path of Earth Service. This He may not do, and in the sight of the assembled Initiates He makes His refusal and “does His whole duty as He journeys to the sacred Feet of the ONE WHO stands at the end of His chosen Path.”

Dĩ nhiên, sẽ hiển nhiên rằng Chuyển tiếp được nói đến có liên hệ với Cuộc Điểm Đạo Quyết Định lần thứ sáu, khi Chân sư quyết định Ngài sẽ theo Con Đường nào trong bảy Con Đường để đến nơi chốn đã định của Ngài. Tôi không biết Sự Khước Từ Vĩ Đại bao hàm điều gì. Chỉ có một điều tôi biết: Nó chỉ ra sự tiếp xúc cuối cùng của điểm đạo đồ với điều mà chúng ta hiểu là ác vũ trụ, biểu lộ trên hành tinh này và trong liên hệ với hành tinh. Ngài được ban cho sự tiếp xúc cuối cùng này, nhưng một sự tiếp xúc như thế không dựa trên bất cứ điều gì tương tự với điều ác bên trong Ngài, mà dựa trên “lời kêu gọi hành tinh đòi giải thoát.” Lời kêu gọi này mạnh đến mức điểm đạo đồ—vì trái tim Ngài rực cháy tình thương—bị cám dỗ rút lại quyết định của Ngài và ở lại trên hành tinh với Những Đấng Cứu Thế Gian đã chọn Con Đường Phụng Sự Địa Cầu. Điều này Ngài không được làm, và trước mắt các điểm đạo đồ tụ hội, Ngài đưa ra sự khước từ của mình và “làm trọn toàn bộ bổn phận của Ngài khi Ngài tiến bước đến Bàn Chân thiêng liêng của ĐẤNG đứng ở cuối Con Đường đã chọn của Ngài.”

Again, we come up against the outstanding planetary characteristic which has been presented to us under many differing words, i.e., the sensitivity which in some form or another distinguishes each initiation. We know it also as attraction, the sensitivity which moves outward until it attracts and draws to itself those forms of being which the initiate can instruct or aid; we know it also as the overall [737] activity conferring that spiritual sensory perception which makes the initiate aware—in a universal sense—of all that concerns the sphere of influence of the Will of God. This demonstrates particularly at the eighth Initiation of Transition. In the ninth Initiation of Refusal, this heightened spiritual perception is presented to us under the word “Existence,” for existence is a livingness coupled with awareness which “finds its own place and the spiritual house of its Being which is the true home of all Beings, but of this—our planetary forms know naught.” This the initiate has at last learnt to find, after the struggle with evil in himself, after the struggle with materialism and with evil in the human family, and after his struggle to aid in the “closing of the door where evil dwells” and his refusal to make any contact (even with good intention) with cosmic evil.

Một lần nữa, chúng ta lại chạm đến đặc tính hành tinh nổi bật đã được trình bày cho chúng ta dưới nhiều từ ngữ khác nhau, tức là tính nhạy cảm, thứ dưới hình thức này hay hình thức khác phân biệt mỗi lần điểm đạo. Chúng ta cũng biết nó như sự hấp dẫn, tính nhạy cảm hướng ra ngoài cho đến khi nó hấp dẫn và lôi kéo về phía mình những hình thức hiện hữu mà điểm đạo đồ có thể huấn thị hay trợ giúp; chúng ta cũng biết nó như hoạt động tổng quát [737] ban cho tri giác cảm quan tinh thần khiến điểm đạo đồ nhận biết—theo nghĩa phổ quát—mọi điều liên quan đến khối cầu ảnh hưởng của Ý Chí của Thượng Đế. Điều này được chứng minh đặc biệt ở Cuộc Điểm Đạo Chuyển tiếp lần thứ tám. Ở Cuộc Điểm Đạo Khước Từ lần thứ chín, tri giác tinh thần được nâng cao này được trình bày cho chúng ta dưới từ “Hiện Hữu,” vì hiện hữu là một sự sống động kết hợp với sự nhận biết, thứ “tìm thấy chỗ đứng riêng của nó và ngôi nhà tinh thần của Bản Thể nó, vốn là quê hương đích thực của mọi Hữu Thể, nhưng về điều này—các hình tướng hành tinh của chúng ta không biết gì.” Điều này cuối cùng điểm đạo đồ đã học được cách tìm ra, sau cuộc đấu tranh với điều ác trong chính mình, sau cuộc đấu tranh với chủ nghĩa vật chất và với điều ác trong gia đình nhân loại, và sau cuộc đấu tranh của y để trợ giúp trong việc “đóng kín cửa vào nẻo ác” và sự khước từ của y không tạo bất kỳ tiếp xúc nào (ngay cả với ý định tốt) với ác vũ trụ.

The planetary Lodge of Masters has absorbed Him and, at the final initiation, the Great Lodge on Sirius has recognised Him, and with the Black Lodge of Adepts He will have nothing to do. He will mitigate its evil effects and will struggle to offset its results, but He knows that the final overcoming of cosmic physical evil must be undertaken by Existences much further advanced than even the Members of the Council Chamber at Shamballa; certain solar Entities and certain great Lives from Sirius are dealing with the problem.

Thánh đoàn hành tinh của các Chân sư đã tiếp nhận Ngài, và ở lần điểm đạo cuối cùng, Đại Thánh đoàn trên Sirius đã công nhận Ngài, và Ngài sẽ không có bất kỳ liên hệ nào với Hắc đoàn của các chân sư. Ngài sẽ làm giảm nhẹ các hiệu quả xấu của nó và sẽ đấu tranh để hóa giải các kết quả của nó, nhưng Ngài biết rằng sự vượt thắng cuối cùng đối với ác hồng trần vũ trụ phải được đảm nhận bởi những Hiện Hữu tiến bộ xa hơn nhiều ngay cả so với các Thành viên của Phòng Hội Đồng tại Shamballa; một số Thực Thể thái dương và một số Sự Sống vĩ đại từ Sirius đang xử lý vấn đề này.

The theme of the living consciousness of the planetary Logos is forever and unchangeably the great Hierarchy of Being, that chain of life in which the smallest link is of importance, and the greatest link is related to the smallest through the electrical interplay of spiritual energy. There is naught—from one important angle of life—but Hierarchy, linking sun with sun, star with star, solar system with solar system, planet with planet and all planetary lives with each other. The major keynote of every single planetary initiation, even to the very highest, is RELATIONSHIP. What other qualities may be revealed to the Initiate on other paths we know not, but the goal of all endeavour upon our planet is right relations between man and man [738] and between man and God, between all expressions of divine life, from the tiniest atom up and on into infinity.

Chủ đề của tâm thức sống động của Hành Tinh Thượng Đế là mãi mãi và bất biến Huyền Giai vĩ đại của Bản Thể, chuỗi sự sống ấy trong đó mắt xích nhỏ nhất cũng quan trọng, và mắt xích lớn nhất liên hệ với mắt xích nhỏ nhất qua sự tương tác điện năng của năng lượng tinh thần. Từ một góc độ quan trọng của sự sống, không có gì ngoài Huyền Giai, nối kết mặt trời với mặt trời, sao với sao, hệ mặt trời với hệ mặt trời, hành tinh với hành tinh và mọi sự sống hành tinh với nhau. Chủ âm chính của mọi lần điểm đạo hành tinh, ngay cả đến mức cao nhất, là TƯƠNG QUAN. Những phẩm tính nào khác có thể được mặc khải cho điểm đạo đồ trên các con đường khác thì chúng ta không biết, nhưng mục tiêu của mọi nỗ lực trên hành tinh chúng ta là những tương quan đúng đắn giữa người với người [738] và giữa người với Thượng đế, giữa mọi biểu lộ của sự sống thiêng liêng, từ nguyên tử nhỏ bé nhất trở lên và tiếp tục vào vô tận.

From the standpoint of our planetary evolution, there is naught but love, naught but goodwill and the will-to-good. This exists already, and its true manifestation is nearer today than at any time in planetary history.

Từ quan điểm của tiến hoá hành tinh chúng ta, không có gì ngoài tình thương, không có gì ngoài thiện chí và Ý Chí-hướng Thiện. Điều này đã hiện hữu rồi, và sự biểu lộ chân thực của nó hôm nay gần hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử hành tinh.

From stage to stage, from crisis to crisis, from point to point and from centre to centre, the life of God progresses, leaving greater beauty behind it as it moves through one form after another and from kingdom to kingdom. One attainment leads to another; out of the lower kingdoms man has emerged, and (as a result of human struggle) the kingdom of God will also appear. The bringing in of that kingdom is all that truly concerns humanity today, and all living processes in mankind are bent towards preparing each individual human being to pass into that kingdom. The knowledge that there may be greater manifestations than even the kingdom of God may be inspiring, but that is all. The manifestation of the Kingdom of God on Earth, the preparing of the way for its great Inaugurator, the Christ, the making possible the externalisation of the Hierarchy upon Earth give us each and all a fully adequate task and something for which to live and work, to dream and to aspire.

Từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, từ khủng hoảng này sang khủng hoảng khác, từ điểm này sang điểm khác và từ trung tâm này sang trung tâm khác, sự sống của Thượng đế tiến bước, để lại phía sau vẻ đẹp lớn hơn khi nó di chuyển qua hình tướng này sang hình tướng khác và từ giới này sang giới khác. Thành tựu này dẫn đến thành tựu khác; từ các giới thấp, con người đã xuất hiện, và (như một kết quả của cuộc đấu tranh của con người) Thiên Giới cũng sẽ xuất hiện. Việc mang Thiên Giới ấy vào là tất cả những gì thực sự liên quan đến nhân loại ngày nay, và mọi tiến trình sống động trong nhân loại đều hướng đến việc chuẩn bị cho mỗi cá nhân con người bước vào giới ấy. Tri thức rằng có thể có những biểu hiện lớn hơn ngay cả Thiên Giới có thể là điều truyền cảm hứng, nhưng chỉ có thế. Sự biểu hiện của Thiên Giới trên Trái Đất, việc chuẩn bị con đường cho Đấng Khai Mở vĩ đại của nó, Đức Christ, việc làm cho Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn trên Trái Đất trở nên khả hữu, trao cho mỗi chúng ta một nhiệm vụ hoàn toàn đầy đủ và một điều gì đó để sống và làm việc, để mơ ước và để khát vọng.

The five volumes composing A Treatise on the Seven Rays are now completed, my brothers. It has been for me a labour of love and for A.A.B. a labour! It will suffice for study for many years to come.

Năm tập hợp thành Luận về Bảy Cung nay đã hoàn tất, Huynh đệ của Tôi. Đối với tôi, đó là một công trình của tình thương và đối với A.A.B. là một công trình lao nhọc! Nó sẽ đủ cho việc nghiên cứu trong nhiều năm sắp tới.

May light and love and power shine upon your ways, and may you in due time and with as little delay as possible stand before the Initiator and join the ranks of Those Who—actively and consciously—love Their fellowmen, work as reconstructive and regenerative Energies and forever—SERVE.

Cầu mong ánh sáng, tình thương và quyền năng chiếu rọi trên các nẻo đường của bạn, và cầu mong đến đúng thời và với sự trì hoãn ít nhất có thể, bạn đứng trước Đấng Điểm đạo và gia nhập hàng ngũ của Những Đấng—một cách tích cực và hữu thức—yêu thương đồng loại của Các Ngài, hoạt động như những Năng Lượng tái thiết và tái sinh, và mãi mãi—PHỤNG SỰ.

I sign myself, because it has been given out who I am, as the Master Djwhal Khul.

Tôi ký tên mình, vì danh tính của tôi đã được công bố, là Chân sư Djwhal Khul.

THE TIBETAN

CHÂN SƯ TÂY TẠNG

APPENDIX — PHỤ LỤC

FIVE GREAT SPIRITUAL EVENTS — NĂM BIẾN CỐ TINH THẦN VĨ ĐẠI

[741]

[741]

(Written February 1949)

(Viết tháng Hai năm 1949)

You (A.A.B.) have asked me what I considered the most important and significant events from the spiritual angle at this present time. This question highlights a theme which is exceedingly apposite, following as it does upon what I have just given anent the Great Renunciation (see pages 602-614) and its consequent revelation or (as the Christian churches call them) the Crucifixion and the Resurrection. The Christian resurrection is, however—from the angle of the great Lodge on Sirius—only a minor one and a passing resurrection, though the revelation subsequently accorded is lasting and permanent in its effects.

Bạn (A.A.B.) đã hỏi tôi điều gì tôi xem là những biến cố quan trọng và có ý nghĩa nhất từ góc độ tinh thần vào thời điểm hiện nay. Câu hỏi này làm nổi bật một chủ đề hết sức thích đáng, tiếp nối điều tôi vừa trao ra liên quan đến Sự Từ Bỏ Vĩ Đại (xem các trang 602-614) và sự mặc khải hệ quả của nó hay (như các giáo hội Cơ Đốc gọi chúng) sự Đóng Đinh và sự Phục Sinh. Tuy nhiên, sự phục sinh của Cơ Đốc giáo—xét từ góc độ của đại Thánh đoàn trên Sirius—chỉ là một sự phục sinh nhỏ và thoáng qua, mặc dù sự mặc khải được ban sau đó thì bền vững và thường tồn trong các hiệu quả của nó.

There are five great spiritual events in which all humanity is today sharing, and two which will take place later, when the first five have established their lasting effects.

Có năm biến cố tinh thần vĩ đại mà toàn thể nhân loại ngày nay đang cùng chia sẻ, và còn hai biến cố sẽ diễn ra về sau, khi năm biến cố đầu tiên đã thiết lập được các hiệu quả lâu bền của chúng.

These events are based upon a forced and not upon a spontaneous renunciation (as is the case in the true experience of the Renunciation Initiation); they will lead nevertheless to a revelation which is imminent in its dawning and which will confront humanity before so very long.

Những biến cố này dựa trên một sự từ bỏ bị cưỡng bách chứ không phải tự phát (như trường hợp trong kinh nghiệm đích thực của Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ); tuy nhiên, chúng sẽ dẫn đến một sự mặc khải đang gần kề trong buổi bình minh của nó và sẽ đối diện nhân loại chẳng bao lâu nữa.

The war of 1914-1945 is over; its aftermath of suffering, famine, selfish reactions, suspicion and unseemly struggle for supremacy is equally as bad as the past war; the effects are more lasting, because the war has been largely transferred to the mental plane. The physical effects of war are far more easily obliterated than are the mental effects. The great question with which the Hierarchy is today faced is: Will the race of men succeed in renouncing their present material objectives and so prepare the way for a great revelation? The Coming of the Christ Himself is not the revelation which is to be accorded, but He will simplify the thinking of men so that a widespread illumination and [742] recognition of the revelation will be possible. The next few years will indicate the way the tide will turn, and whether the reactionary, material and selfish forces which have controlled for millenia of years will finally control. This reactionary and material spirit taints every department of human life, and the churches are no exception. Humanity can, however, learn its lesson and turn thankfully to the “way of righteousness” and to the hitherto unknown technique of right human relations.

Cuộc chiến tranh 1914-1945 đã chấm dứt; hậu quả của nó là đau khổ, đói kém, những phản ứng ích kỷ, sự nghi kỵ và cuộc tranh đấu không xứng đáng để giành quyền tối thượng cũng tệ hại như chính cuộc chiến trước đó; các hiệu quả còn lâu dài hơn, vì chiến tranh phần lớn đã được chuyển sang cõi trí. Các hiệu quả hồng trần của chiến tranh dễ bị xóa bỏ hơn nhiều so với các hiệu quả trí tuệ. Câu hỏi lớn mà Thánh đoàn ngày nay đang phải đối diện là: Liệu nhân loại có thành công trong việc từ bỏ các mục tiêu vật chất hiện tại của họ và như thế chuẩn bị con đường cho một sự mặc khải vĩ đại hay không? Chính sự Quang Lâm của Đức Christ không phải là sự mặc khải sẽ được ban cho, nhưng Ngài sẽ làm cho tư tưởng của con người trở nên đơn giản hơn để một sự soi sáng rộng khắp và [742] sự nhận biết về sự mặc khải trở nên khả hữu. Vài năm tới sẽ chỉ ra chiều hướng mà thủy triều sẽ xoay chuyển, và liệu các mãnh lực phản động, vật chất và ích kỷ đã kiểm soát suốt hàng thiên niên kỷ có cuối cùng nắm quyền kiểm soát hay không. Tinh thần phản động và vật chất này làm ô nhiễm mọi lĩnh vực của đời sống con người, và các giáo hội cũng không phải ngoại lệ. Tuy nhiên, nhân loại có thể học bài học của mình và biết ơn quay về với “con đường chính trực” và với kỹ thuật cho đến nay chưa được biết đến của những tương quan đúng đắn giữa người với người.

I seek not to deal in detail with the evil which holds the world in thrall. Enough is already known and a small handful (small in comparison to the many millions) of hierarchical workers in all departments of life are struggling to awaken humanity to the risks they are running, and to the finality of the decision which the next two generations will be forced to make. More will come to the surface as we study present-day happenings from the angle of renunciation and resurrection.

Tôi không tìm cách bàn chi tiết về điều ác đang giam hãm thế giới trong vòng nô lệ. Đã có đủ điều được biết đến, và một nhóm nhỏ—nhỏ so với nhiều triệu người—những người hoạt động của Thánh đoàn trong mọi lĩnh vực đời sống đang nỗ lực đánh thức nhân loại trước những hiểm nguy mà họ đang đối mặt, và trước tính quyết định tối hậu của sự lựa chọn mà hai thế hệ kế tiếp sẽ buộc phải thực hiện. Nhiều điều nữa sẽ nổi lên bề mặt khi chúng ta nghiên cứu các biến cố hiện thời từ góc độ của Sự từ bỏ và phục sinh.

I would like first of all to point out that:

Trước hết tôi muốn chỉ ra rằng:

1. The mass of the people are sound, but ignorant of the higher values; that can be slowly righted. They are negative as yet in action, and prone to words and not deeds. They are easily led and also easily swayed by imparted fears.

1. Quần chúng nói chung là lành mạnh, nhưng không biết đến các giá trị cao hơn; điều đó có thể được sửa chữa dần dần. Họ vẫn còn thụ động trong hành động, và thiên về lời nói hơn việc làm. Họ dễ bị dẫn dắt và cũng dễ bị dao động bởi những nỗi sợ được gieo vào.

2. The evil in the world and that which is primarily guilty of swaying the masses at this time is focussed through a few powerful men or groups of powerful men. No country is free from this control, or from this attempted control. These powerful groups are swayed in their turn by the forces of evil—forces which were not “sealed in their own place,” because the plan of love and light and power still lacks positive and worldwide presentation.

2. Điều ác trong thế giới và cái chủ yếu chịu trách nhiệm chi phối quần chúng vào lúc này được tập trung qua một vài người quyền lực hoặc những nhóm người quyền lực. Không quốc gia nào thoát khỏi sự kiểm soát này, hay khỏi nỗ lực kiểm soát này. Đến lượt mình, các nhóm quyền lực ấy lại bị chi phối bởi các mãnh lực của điều ác—những mãnh lực đã không bị “niêm phong trong chỗ riêng của chúng,” bởi vì kế hoạch của tình thương, ánh sáng và quyền năng vẫn còn thiếu một sự trình bày tích cực và trên phạm vi toàn cầu.

3. The aspirants, disciples and spiritual workers of the world are not acting in full concert with the Hierarchy. They are swayed by fear, by a sense of futility and by a too acute understanding of the nature of the forces of evil with which they are confronted. The picture of what must be accomplished looms too large; there is little organised [743] cooperation among them, and no welding together into a united group for world salvage and service.

3. Những người chí nguyện, các đệ tử và những người hoạt động tinh thần của thế giới không hành động trong sự hòa hợp trọn vẹn với Thánh đoàn. Họ bị chi phối bởi sợ hãi, bởi cảm giác vô ích và bởi một sự thấu hiểu quá sắc bén về bản chất của các mãnh lực ác mà họ đang đối diện. Bức tranh về điều phải được hoàn thành hiện ra quá lớn; giữa họ có rất ít sự hợp tác được tổ chức [743] và không có sự kết hợp thành một nhóm thống nhất để cứu vớt và phụng sự thế giới.

The spiritual opportunity is, however, emerging with increasing clarity in the minds of thinking men and women, even if it is not expressed by them in orthodox (so-called) terms or in recognised or spiritual terms. Perhaps a clear statement of that which the active spiritual Forces are seeking to bring about may prove helpful. If the Forces of Evil are active and organised, the Forces of Light are equally active, but not so well organised. The basic goal is the freedom and the liberation of mankind, but the spiritual workers are handicapped by the fact that men themselves must make free choice and decision in order to be free; they can only be liberated when they—as individuals and later as groups—liberate themselves from the expressed thought-control of the powerful dominating groups and from the fears which these groups intentionally engender. Freedom can never be conferred through totalitarian methods; liberation cannot come through a dictator or dictating groups. A realisation of the manner in which the hierarchical forces are working and a recognition that all men are today immersed in vital spiritual happenings may serve to encourage the faithful and give a quickening vision to those who are struggling on behalf of human freedom.

Tuy nhiên, cơ hội tinh thần đang xuất hiện ngày càng rõ rệt trong tâm trí của những người nam và nữ biết suy tư, dù họ không diễn đạt điều đó bằng những thuật ngữ chính thống (cái gọi là như vậy) hay bằng những thuật ngữ được công nhận hoặc tinh thần. Có lẽ một phát biểu rõ ràng về điều mà các Mãnh Lực tinh thần đang hoạt động tìm cách mang lại sẽ hữu ích. Nếu các Mãnh Lực Ác đang hoạt động và có tổ chức, thì các Mãnh Lực Ánh Sáng cũng hoạt động không kém, nhưng không được tổ chức tốt bằng. Mục tiêu căn bản là tự do và giải phóng nhân loại, nhưng những người hoạt động tinh thần bị cản trở bởi sự kiện là chính con người phải tự do lựa chọn và quyết định để được tự do; họ chỉ có thể được giải phóng khi chính họ—với tư cách cá nhân và sau đó là với tư cách nhóm—tự giải phóng mình khỏi sự kiểm soát tư tưởng được biểu lộ của các nhóm thống trị quyền lực và khỏi những nỗi sợ mà các nhóm ấy cố ý gây ra. Tự do không bao giờ có thể được ban cho bằng các phương pháp toàn trị; sự giải phóng không thể đến qua một nhà độc tài hay các nhóm độc đoán. Sự chứng nghiệm về cách thức các mãnh lực của Thánh đoàn đang hoạt động và sự nhận biết rằng ngày nay mọi người đều đang chìm trong những biến cố tinh thần sống động có thể giúp khích lệ những người trung tín và ban cho một linh thị sinh động hơn cho những ai đang đấu tranh vì tự do của nhân loại.

What are the five spiritual events in which all are consciously or unconsciously participating? Let me list them:

Năm biến cố tinh thần mà mọi người đều đang tham dự một cách hữu thức hay vô thức là gì? Hãy để tôi liệt kê chúng:

1. The crisis of the ideologies.

1. Cuộc khủng hoảng của các hệ tư tưởng.

2. The steady awakening of men everywhere to better understanding.

2. Sự thức tỉnh đều đặn của con người ở khắp nơi hướng tới sự thấu hiểu tốt đẹp hơn.

3. The growth of goodwill, as it reveals cleavages.

3. Sự tăng trưởng của thiện chí, khi nó làm lộ ra các chia rẽ.

4. The partial sealing of the door where evil dwells.

4. Sự đóng kín một phần cửa vào nẻo ác.

5. The use of the Great Invocation.

5. Việc sử dụng Đại Khấn Nguyện.

These are the five deepest spiritual events happening in the world today. The two which lie ahead in the not too distant future (but which depend upon humanity availing itself of the present opportunity) are:

Đó là năm biến cố tinh thần sâu xa nhất đang diễn ra trong thế giới ngày nay. Hai biến cố đang ở phía trước trong một tương lai không quá xa (nhưng tùy thuộc vào việc nhân loại có tận dụng cơ hội hiện tại hay không) là:

6. The closer Approach of the Hierarchy.

6. Sự Tiếp Cận gần hơn của Thánh đoàn.

7. The imminent Return of the Christ. [744]

7. Sự Tái Lâm sắp xảy ra của Đức Christ. [744]

1. The Crisis of the Ideologies

1. Cuộc Khủng Hoảng của các Hệ Tư Tưởng

Men are today confronted with conflicting and antagonistic ideologies or schools of thought, and automatically—according to their background, tradition, training and place of birth—they regard some one of these ideas as true and all the others as false and wrong. They are apt to forget that according to the locale of birth, the national mode of schooling and the nature of the national propaganda, so will be the chosen ideology or the imposed ideology. Very few people are free agents, even in the democracies. A man born in Central Russia, for instance, knows nothing but Communism; he cannot imagine another suitable form of government; again, a man born in the United States or in Great Britain boasts and is pleased that he was born in a democracy, but the accident of birth accounts largely for his attitude. Men need to remember these things and not blame each other for the place in which they are born! We have, therefore, ideologies and their opponents, great schools of thought and modes of government, confronted by organised opposition. One basic premise can be laid down: The platform of the leading ideologies is not necessarily wrong or wicked; it is the imposition by force and by a police state of an ideology, and its use by powerful men or groups for their own benefit, plus the keeping of the people in blind ignorance so that no free choice is theirs—which is fundamentally wicked and evil.

Ngày nay con người đang đối diện với những hệ tư tưởng hay trường phái tư tưởng xung đột và đối kháng nhau, và một cách tự động—tùy theo bối cảnh, truyền thống, sự đào luyện và nơi sinh của mình—họ xem một trong các ý tưởng ấy là đúng còn tất cả những ý tưởng khác là sai lầm và lệch lạc. Họ dễ quên rằng tùy theo nơi sinh, phương thức giáo dục quốc gia và bản chất của tuyên truyền quốc gia mà hệ tư tưởng được chọn hay bị áp đặt sẽ hình thành. Rất ít người là tác nhân tự do, ngay cả trong các nền dân chủ. Chẳng hạn, một người sinh ra ở miền Trung nước Nga không biết gì ngoài Chủ nghĩa Cộng sản; y không thể hình dung một hình thức chính quyền thích hợp nào khác; cũng vậy, một người sinh ra ở Hoa Kỳ hay ở Anh quốc tự hào và hài lòng vì mình sinh ra trong một nền dân chủ, nhưng phần lớn thái độ của y là do sự ngẫu nhiên của nơi sinh. Con người cần nhớ những điều này và đừng trách cứ nhau vì nơi mình được sinh ra! Vì vậy, chúng ta có các hệ tư tưởng và những người chống đối chúng, các trường phái tư tưởng lớn và các phương thức cai trị, đối diện với sự chống đối có tổ chức. Có thể nêu ra một tiền đề căn bản: Cương lĩnh của các hệ tư tưởng hàng đầu không nhất thiết là sai hay ác; chính sự áp đặt bằng vũ lực và bằng một nhà nước cảnh sát một hệ tư tưởng, và việc sử dụng nó bởi những người quyền lực hay các nhóm quyền lực vì lợi ích riêng của họ, cộng với việc giữ dân chúng trong sự ngu dốt mù quáng để họ không có quyền lựa chọn tự do—đó mới là điều căn bản ác độc và xấu xa.

We have, for instance, the great crisis in the world today presented by the conflict between Communism and the democratic point of view. I mention this first because it is the one which is occupying a prominent position in the eyes of all men everywhere. This presents a dominant spiritual opportunity. The democratic attitude, dedicated as it claims to be to human freedom (however little of that freedom is yet truly attained) is—because of that freedom factor—sponsored today by the Hierarchy. Communism being an imposed ideology, forced on the people by totalitarian authority, is regarded as evil. It is not the communistic [745] theories which are necessarily wrong; it is the technique and the methods, rampant in the totalitarian lands, which are counter to the spiritual plan. Imposed Communism and all totalitarian methods imprison the human soul, and breed fear and hatred everywhere. Should the democratic principles therefore be imposed upon the world or any part of the world by a totalitarian regime, it would be equally wrong.

Chẳng hạn, ngày nay chúng ta có cuộc khủng hoảng lớn của thế giới được trình bày qua sự xung đột giữa Chủ nghĩa Cộng sản và quan điểm dân chủ. Tôi nhắc đến điều này trước tiên vì đó là vấn đề đang chiếm vị trí nổi bật trong mắt mọi người ở khắp nơi. Điều này mở ra một cơ hội tinh thần chủ yếu. Thái độ dân chủ, vốn tự nhận là tận hiến cho tự do của con người (dù tự do ấy vẫn còn rất ít được thực sự đạt tới), ngày nay—chính vì yếu tố tự do đó—được Thánh đoàn ủng hộ. Chủ nghĩa Cộng sản, vì là một hệ tư tưởng bị áp đặt, cưỡng bức lên dân chúng bởi quyền lực toàn trị, nên bị xem là điều ác. Không nhất thiết các lý thuyết cộng sản là sai [745]; chính kỹ thuật và phương pháp, đang hoành hành trong các xứ sở toàn trị, mới đi ngược với Thiên Cơ tinh thần. Chủ nghĩa Cộng sản bị áp đặt và mọi phương pháp toàn trị đều giam hãm linh hồn con người, và gieo rắc sợ hãi cùng hận thù khắp nơi. Vì vậy, nếu các nguyên tắc dân chủ bị một chế độ toàn trị áp đặt lên thế giới hay bất kỳ phần nào của thế giới, thì điều đó cũng sai lầm như nhau.