RULE FOUR — QUY LUẬT BỐN
At the time of the June Full Moon, each year, the love of God, the spiritual essence of solar fire, reaches its highest point of expression. This it achieves through the instrumentality of the Hierarchy, that great group of souls which has ever been the custodian of the principle of light, of enlightened love, and which always—down the ages—focusses its attention upon the race of men when the spiritual influence is at its height. This it does through one of the great Sons of God. The Full Moon of June of 1943 saw this outpouring of divine love reach its highest expression for all time, and at the point of attainment which is, for that particular Son of God, His highest also. Such is the Law. When an embodied Christ in time and space reaches [89] His goal of achievement, recognition of this comes to Him at the time of the June Full Moon, for in that sign of Gemini the complete victory of life over form, and of spirit over matter, is consummated and celebrated.
Vào thời điểm Trăng Tròn tháng Sáu mỗi năm, tình thương của Thượng đế, tinh túy tinh thần của lửa thái dương, đạt đến điểm biểu lộ cao nhất. Điều này được thực hiện qua trung gian của Thánh Đoàn, nhóm linh hồn vĩ đại luôn luôn là người gìn giữ nguyên khí ánh sáng, của tình thương được soi sáng, và luôn luôn—suốt các thời đại—tập trung sự chú ý của mình vào nhân loại khi ảnh hưởng tinh thần ở mức cao nhất. Điều này được thực hiện qua một trong những Con của Thượng đế vĩ đại. Trăng Tròn tháng Sáu năm 1943 đã chứng kiến lần tuôn đổ tình thương thiêng liêng này đạt đến sự biểu lộ cao nhất từ trước đến nay, và tại điểm thành tựu mà đối với Con của Thượng đế đặc biệt ấy, cũng là cao nhất của Ngài. Đó là Định luật. Khi một Đức Christ nhập thể trong thời gian và không gian đạt đến mục tiêu thành tựu của Ngài, sự công nhận điều này đến với Ngài vào thời điểm Trăng Tròn tháng Sáu, vì trong dấu hiệu Song Tử ấy, chiến thắng trọn vẹn của sự sống đối với hình tướng, và của tinh thần đối với vật chất, được hoàn tất và cử hành.
The love of God, focussed in the Christ, seeks to express itself in some act of peculiarly useful service to humanity. This service has taken different forms down through the ages, but it has always expressed itself through two episodes: One of them, the first, reveals the Christ in His capacity of the God-Saviour, sacrificing Himself through pure love for His fellowmen. The annals of the Hierarchy contain many such histories of sacrifice and service, dating far back into the very night of time. The saving principle of pure love finds its expression at the hour of humanity’s greatest need in the work of a World Saviour and “for the salvation of His people, He comes forth.” He thus meets the need, and at the same time strengthens the link which relates the Hierarchy to Humanity. The task of the Christ (as the expression in time and space of the second divine aspect) is to establish relationships. Every cyclic Representative of Deity furthers the approach of the Hierarchy to mankind, and seals this service by some final act which becomes the historical nucleus whereby later generations remember Him.
Tình thương của Thượng đế, tập trung trong Đức Christ, tìm cách biểu lộ chính nó trong một hành động phụng sự đặc biệt hữu ích nào đó đối với nhân loại. Sự phụng sự này đã mang những hình thức khác nhau qua các thời đại, nhưng nó luôn luôn biểu lộ qua hai biến cố: một trong số đó, biến cố thứ nhất, mặc khải Đức Christ trong năng lực của Ngài như Thượng đế-Cứu Thế, hi sinh chính mình qua tình thương thuần khiết vì đồng loại. Biên niên sử của Thánh Đoàn chứa đựng nhiều câu chuyện hi sinh và phụng sự như thế, có niên đại lùi xa vào chính đêm tối của thời gian. Nguyên lý cứu rỗi của tình thương thuần khiết tìm thấy sự biểu lộ của nó vào giờ phút nhân loại cần nhất trong công việc của một Đấng Cứu Thế Gian và “vì sự cứu rỗi dân Ngài, Ngài xuất hiện.” Như thế Ngài đáp ứng nhu cầu, đồng thời củng cố mối liên kết nối Thánh Đoàn với Nhân Loại. Nhiệm vụ của Đức Christ (với tư cách là sự biểu lộ trong thời gian và không gian của phương diện thiêng liêng thứ hai) là thiết lập các mối liên hệ. Mỗi Đấng Đại Diện theo chu kỳ của Thượng đế đều thúc đẩy sự tiếp cận của Thánh Đoàn đến với nhân loại, và niêm phong sự phụng sự này bằng một hành động cuối cùng nào đó trở thành hạt nhân lịch sử nhờ đó các thế hệ sau nhớ đến Ngài.
That accomplished, He stays with His people as Head of the Hierarchy until His second opportunity comes, in which as Representative both of Humanity and the Hierarchy, He can relate them both to Shamballa. This He does through a great act of evocation, seeking to bring about a closer relationship between all the three great planetary centres: Shamballa, the Hierarchy, and Humanity. He can do this because the development of the Wisdom aspect in His nature makes it possible. The major linking agent in the universe is the energy of Love-Wisdom. Love relates the Hierarchy to Humanity, and Wisdom relates the Hierarchy to Shamballa. Only when Humanity and the Hierarchy are working together in a practical synthesis, can the Shamballa energy be permitted complete inflow through the medium of the two other centres.
Sau khi hoàn tất điều đó, Ngài ở lại với dân Ngài với tư cách là Đầu của Thánh Đoàn cho đến khi cơ hội thứ hai đến với Ngài, trong đó với tư cách là Đấng Đại Diện cho cả Nhân Loại lẫn Thánh Đoàn, Ngài có thể liên hệ cả hai với Shamballa. Điều này Ngài thực hiện qua một hành động gợi lên vĩ đại, tìm cách mang lại một mối liên hệ gần gũi hơn giữa cả ba trung tâm hành tinh lớn: Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại. Ngài có thể làm điều này bởi vì sự phát triển của phương diện Minh Triết trong bản chất của Ngài khiến điều đó trở nên khả hữu. Tác nhân liên kết chủ yếu trong vũ trụ là năng lượng Bác Ái – Minh Triết. Bác ái liên hệ Thánh Đoàn với Nhân Loại, và Minh triết liên hệ Thánh Đoàn với Shamballa. Chỉ khi Nhân Loại và Thánh Đoàn đang làm việc cùng nhau trong một tổng hợp thực tiễn, thì năng lượng Shamballa mới có thể được cho phép tuôn vào trọn vẹn qua trung gian của hai trung tâm kia.
[90]
[90]
To aid in this process of gradual perfecting and an eventual bringing about of a complete alignment, the help of the Buddha must be invoked and accepted. The work of the Christ as God-Saviour can be carried forward by Him alone and unaided. The work of the Christ as God the Preserver needs the united work, as yet, of the two highest Representatives of the second divine aspect when present together upon the Earth, as is the case today of both the Buddha and the Christ. This is the first cycle in the history of humanity when this has been the case. One or the other has been present down the ages, but not the two simultaneously. The reason for this is that the time has now been reached when Shamballa can be contacted and its energy evoked. Hence we have the activity of the Buddha at the May Full Moon and that of the Christ at the following June Full Moon. Their united activity serves to bring about a much closer approach between the Lord of the World and the Hierarchy, via His four Representatives: the Buddha, the Christ, the Manu, and the Mahachohan—the five points of energy which are creating the five-pointed star of Humanity at this time.
Để trợ giúp trong tiến trình hoàn thiện dần dần này và cuối cùng mang lại một sự chỉnh hợp hoàn toàn, sự trợ giúp của Đức Phật phải được khẩn cầu và chấp nhận. Công việc của Đức Christ với tư cách Thượng đế-Cứu Thế có thể được Ngài một mình và không cần trợ giúp thực hiện. Công việc của Đức Christ với tư cách Thượng đế-Bảo Tồn hiện vẫn cần công việc hợp nhất của hai Đấng Đại Diện cao nhất của phương diện thiêng liêng thứ hai khi cùng hiện diện trên Trái Đất, như trường hợp ngày nay của cả Đức Phật lẫn Đức Christ. Đây là chu kỳ đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà điều này đã xảy ra. Suốt các thời đại, hoặc vị này hoặc vị kia đã hiện diện, nhưng không phải cả hai đồng thời. Lý do là vì nay đã đến lúc Shamballa có thể được tiếp xúc và năng lượng của nó có thể được gợi lên. Do đó chúng ta có hoạt động của Đức Phật vào Trăng Tròn tháng Năm và hoạt động của Đức Christ vào Trăng Tròn tháng Sáu tiếp theo. Hoạt động hợp nhất của Các Ngài giúp mang lại một sự tiếp cận gần gũi hơn nhiều giữa Đức Chúa Tể Thế Giới và Thánh Đoàn, qua bốn Đấng Đại Diện của Ngài: Đức Phật, Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan—năm điểm năng lượng đang tạo ra ngôi sao năm cánh của Nhân Loại vào thời điểm này.
An ancient rule—Rule IV for Applicants gives us in perfect wording the nature of the urge which prompts the present activity of the Christ. He has accomplished His task as God the Saviour. The fourth Rule, as it is given to all applicants and probationary disciples, gives His work the following definition:
Một quy luật cổ—Quy luật IV dành cho các Ứng viên—cho chúng ta bằng lời lẽ hoàn hảo bản chất của xung lực thúc đẩy hoạt động hiện nay của Đức Christ. Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ của Ngài với tư cách Thượng đế-Cứu Thế. Quy luật thứ tư, như được trao cho tất cả các ứng viên và các đệ tử dự bị, định nghĩa công việc của Ngài như sau:
Let the disciple tend the evocation of the fire, nourish the lesser lives and thus keep the wheel revolving.
Hãy để đệ tử chăm lo việc gợi lên lửa, nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn và như thế giữ cho bánh xe quay.
It is given in this short form to all who are approaching the Path, in order to convey to them with the utmost brevity and beauty the nature of the life of the Head of the Hierarchy, the Initiator Whom they must face at the time of the first and second initiations, and upon Whose activities they—as individual aspirants—must learn to model their lives. Only today is it possible to present that work in other terms than those which emphasise the part the Christ plays in the salvaging of man.
Nó được trao dưới hình thức ngắn gọn này cho tất cả những ai đang tiến gần Con Đường, nhằm truyền đạt cho họ với sự ngắn gọn và vẻ đẹp tối đa bản chất của đời sống của Đầu Thánh Đoàn, Đấng Điểm đạo mà họ phải đối diện vào thời điểm của lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, và theo các hoạt động của Ngài mà họ—với tư cách những người chí nguyện cá nhân—phải học cách mô phỏng đời sống của mình. Chỉ ngày nay mới có thể trình bày công việc đó bằng những thuật ngữ khác ngoài những thuật ngữ nhấn mạnh phần mà Đức Christ đóng trong việc cứu vớt con người.
[91]
[91]
It is now possible, however, to present His true and wider task, because man’s sense of proportion, his recognition of others, his growing sense of responsibility, his power to suffer for the good, the beautiful and true, his appropriation of the vision, and his point in evolution warrant a truer picture which—if adequately grasped—will enable the disciple to comprehend the requirements of Rule IV as given for disciples and initiates. Only as they grasp the nature of the work of Christ, after His final act of service as God-Saviour, can they understand the nature of group service and begin to pattern their lives and natures so as to meet similar requirements in group formation.
Tuy nhiên, nay có thể trình bày nhiệm vụ chân thực và rộng lớn hơn của Ngài, bởi vì ý thức về tỉ lệ của con người, sự nhận biết người khác, ý thức trách nhiệm đang tăng trưởng, năng lực chịu khổ vì điều thiện, điều đẹp và điều chân, sự tiếp nhận linh thị, và điểm tiến hoá của y biện minh cho một bức tranh chân thực hơn mà—nếu được nắm bắt đầy đủ—sẽ giúp đệ tử hiểu được các đòi hỏi của Quy luật IV như được trao cho các đệ tử và điểm đạo đồ. Chỉ khi họ nắm được bản chất công việc của Đức Christ, sau hành động phụng sự cuối cùng của Ngài với tư cách Thượng đế-Cứu Thế, họ mới có thể hiểu bản chất của phụng sự nhóm và bắt đầu tạo mô hình cho đời sống và bản chất của mình để đáp ứng những đòi hỏi tương tự trong việc hình thành nhóm.
This has become possible because of the point in the evolutionary process which the Hierarchy has attained. The attitude and position of the members of the Hierarchy are not static. All are moving forward. The Christ Who came two thousand years ago embodied in Himself not only the principle of love in the planetary sense (a thing which Shri Krishna had achieved), but a cosmic principle of love also, and this for the first time in human history. His achievement was made possible by the fact that the human family had reached a point at which it could produce the perfect Man, Christ, the “eldest in a great family of brothers,” a Son of God, the Word made flesh. The future progress of humanity is also aided and hastened because of the attainment and activity of the Christ, and because He remains with us as God the Preserver.
Điều này đã trở nên khả hữu vì điểm mà Thánh Đoàn đã đạt được trong tiến trình tiến hoá. Thái độ và vị trí của các thành viên trong Thánh Đoàn không tĩnh tại. Tất cả đều đang tiến lên. Đức Christ đã đến cách đây hai ngàn năm không những hiện thân trong chính Ngài nguyên lý bác ái theo nghĩa hành tinh (điều mà Shri Krishna đã đạt được), mà còn cả một nguyên lý bác ái vũ trụ nữa, và đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Thành tựu của Ngài trở nên khả hữu nhờ sự kiện rằng gia đình nhân loại đã đạt đến một điểm mà tại đó nó có thể sản sinh ra Con Người hoàn hảo, Đức Christ, “người anh cả trong một đại gia đình huynh đệ,” một Con của Thượng đế, Linh từ nhập thể. Sự tiến bộ tương lai của nhân loại cũng được trợ giúp và thúc đẩy nhờ thành tựu và hoạt động của Đức Christ, và bởi vì Ngài ở lại với chúng ta như Thượng đế-Bảo Tồn.
His task today is threefold, and the Rule states in very simple language these three aspects of His divine activity or phases of His work. These are:
Nhiệm vụ của Ngài ngày nay là tam phân, và Quy luật nêu bằng ngôn ngữ rất đơn giản ba phương diện này của hoạt động thiêng liêng của Ngài hay các giai đoạn công việc của Ngài. Đó là:
1. He “tends the evocation of the fire.” His major task as Head of the Hierarchy is to evoke the electric fire of Shamballa, the energy of the divine Will, and this in such a form that the Hierarchy can be drawn nearer to the source of Life, and Humanity can consequently profit by this hierarchical Approach and know eventually the meaning of the words “life more abundantly.” Christ’s evocation of the fire of the will was initiated symbolically in the Garden of [92] Gethsemane. He has twice symbolically shown His individual response to the Shamballa energy: Once in the Temple of Jerusalem as a child, and again in the Garden as a full grown man at the close of His earthly career. His third and final response (which climaxes His work from our human angle) covers nine years, from the Full Moon of June, 1936, to the Full Moon of June, 1945. This period, in reality, constitutes one event to Him Who lives now free in His Own world and free from the limitations of time and space. Having related Humanity to the Hierarchy (which in the case of individual man means relating the personality to the soul), He now seeks to relate more closely, with the aid of the Buddha, the Hierarchy to Shamballa, love to will, electric fire to solar fire.
1. Ngài “chăm lo việc gợi lên lửa.” Nhiệm vụ chính của Ngài với tư cách Đầu Thánh Đoàn là gợi lên lửa điện của Shamballa, năng lượng của Ý Chí thiêng liêng, và điều này dưới một hình thức sao cho Thánh Đoàn có thể được kéo lại gần hơn nguồn Sự sống, và do đó Nhân Loại có thể hưởng lợi từ Sự Tiếp Cận có tính thánh đoàn này và cuối cùng biết được ý nghĩa của những lời “sự sống dồi dào hơn.” Việc Đức Christ gợi lên lửa của ý chí đã được khởi đầu một cách tượng trưng trong Vườn [92] Gethsemane. Ngài đã hai lần tượng trưng cho thấy sự đáp ứng cá nhân của Ngài đối với năng lượng Shamballa: một lần trong Đền Thờ Jerusalem khi còn là một đứa trẻ, và một lần nữa trong Vườn khi là một người trưởng thành vào cuối sự nghiệp trần thế của Ngài. Sự đáp ứng thứ ba và cuối cùng của Ngài (đạt đỉnh công việc của Ngài từ góc độ nhân loại của chúng ta) kéo dài chín năm, từ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1936 đến Trăng Tròn tháng Sáu năm 1945. Thời kỳ này, trên thực tế, cấu thành một biến cố duy nhất đối với Đấng hiện nay sống tự do trong thế giới riêng của Ngài và tự do khỏi những giới hạn của thời gian và không gian. Sau khi đã liên hệ Nhân Loại với Thánh Đoàn (mà trong trường hợp con người cá nhân có nghĩa là liên hệ phàm ngã với linh hồn), giờ đây Ngài tìm cách liên hệ chặt chẽ hơn, với sự trợ giúp của Đức Phật, Thánh Đoàn với Shamballa, bác ái với ý chí, lửa điện với lửa thái dương.
2. He “nourishes the lesser lives.” This refers to the task of the Christ which proceeds day by day, in His capacity of God the Preserver. He “tends the little ones.” The work here referred to concerns His activity as Initiator and His responsibility as Head of the Hierarchy. The nourishing of the little lives refers primarily to His task as World Teacher and to His responsibility to lead humanity on into the light, with the aid of all the Masters, working, each of Them through His Own Ashram.
2. Ngài “nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn.” Điều này ám chỉ nhiệm vụ của Đức Christ được tiếp tục từng ngày, trong năng lực của Ngài như Thượng đế-Bảo Tồn. Ngài “chăm lo những kẻ bé nhỏ.” Công việc được nói đến ở đây liên quan đến hoạt động của Ngài như Đấng Điểm đạo và trách nhiệm của Ngài như Đầu Thánh Đoàn. Việc nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn chủ yếu ám chỉ nhiệm vụ của Ngài như Đức Chưởng Giáo và trách nhiệm của Ngài trong việc dẫn dắt nhân loại tiến vào ánh sáng, với sự trợ giúp của tất cả các Chân sư, mỗi vị hoạt động qua ashram riêng của mình.
3. He “keeps the wheel revolving.” This has a specific relation to His work as the Word of God, which manifests as the Word made flesh. This refers specifically to the great Wheel of Rebirth whereby, upon that turning wheel, souls are carried down into incarnation and then up and out of the soul’s prison; through the turning of the wheel, human beings learn their needed lessons, create cyclically their vehicles of expression (the response apparatus of the soul in the three worlds) and in this way, under soul guidance, and aided by the Hierarchy and its schools of instruction, they arrive at perfection. This entire process is under the control of the Christ, assisted by the Manu and the Lord of Civilisation. These three Great Lords thus represent the three divine Aspects in the Hierarchy; They, with the four Lords of Karma, form the seven Who control the whole [93] process of incarnation. The subject is too vast and intricate to be adequately considered here. The above truth does, however, give us a clue as to why the Christ made no specific reference to the work of incarnation in His spoken utterances whilst on Earth. He was then occupied with His task of World Saviour.
3. Ngài “giữ cho bánh xe quay.” Điều này có một liên hệ đặc biệt với công việc của Ngài như Linh từ của Thượng đế, biểu lộ như Linh từ nhập thể. Điều này ám chỉ cụ thể đến Bánh Xe Tái Sinh vĩ đại, nhờ đó, trên bánh xe quay ấy, các linh hồn được mang xuống lâm phàm rồi lại đi lên và ra khỏi nhà tù của linh hồn; qua sự quay của bánh xe, con người học những bài học cần thiết của mình, tạo ra theo chu kỳ các vận cụ biểu lộ của mình (bộ máy đáp ứng của linh hồn trong ba cõi thấp) và bằng cách đó, dưới sự hướng dẫn của linh hồn, và được Thánh Đoàn cùng các trường huấn luyện của nó trợ giúp, họ đạt đến sự hoàn hảo. Toàn bộ tiến trình này nằm dưới sự kiểm soát của Đức Christ, được Đức Manu và Chúa Tể của Văn Minh trợ giúp. Như thế ba Đại Chúa Tể này đại diện cho ba Phương diện thiêng liêng trong Thánh Đoàn; Các Ngài, cùng với bốn Chúa Tể Nghiệp quả, tạo thành bảy Đấng kiểm soát toàn bộ [93] tiến trình lâm phàm. Chủ đề này quá rộng lớn và phức tạp để có thể được xem xét đầy đủ ở đây. Tuy nhiên, chân lý trên cho chúng ta một đầu mối về lý do vì sao Đức Christ đã không nói rõ gì về công việc lâm phàm trong những lời Ngài thốt ra khi còn ở trên Trái Đất. Khi ấy Ngài đang bận với nhiệm vụ của Ngài như Đấng Cứu Thế Gian.
His work as Preserver and as Head of the Hierarchy had not then begun. It was at that time dependent upon the experience in the Garden of Gethsemane and upon the Resurrection initiation. Some day the gold and the silver threads of the Gospel story will be disentangled, and men will know the two interpretations which can be put upon the events and episodes in the career of Jesus the Christ. The underlying true events give us great steps and developments in the work of the Christ as He “enveloped humanity in the mantle of love, grasped the rod of initiation on behalf of His brothers, and faced the Lord of Life Himself, unattended, unafraid and in His Own right.” The episodes refer to happenings in the life of Jesus.
Công việc của Ngài như Đấng Bảo Tồn và như Đầu Thánh Đoàn khi ấy vẫn chưa bắt đầu. Vào thời điểm đó, nó còn tùy thuộc vào kinh nghiệm trong Vườn Gethsemane và vào lần điểm đạo Phục Sinh. Một ngày nào đó, những sợi chỉ vàng và bạc của câu chuyện Phúc Âm sẽ được gỡ rối, và con người sẽ biết hai cách giải thích có thể đặt lên các biến cố và tình tiết trong sự nghiệp của Jesus Đức Christ. Những biến cố chân thực nằm bên dưới cho chúng ta những bước tiến và sự phát triển lớn trong công việc của Đức Christ khi Ngài “bao bọc nhân loại trong tấm áo choàng bác ái, nắm lấy thần trượng điểm đạo thay mặt cho các huynh đệ của Ngài, và đối diện chính Đức Chúa Tể của Sự Sống, không người hộ tống, không sợ hãi và bằng quyền của chính Ngài.” Các tình tiết thì ám chỉ những sự việc xảy ra trong đời sống của Jesus.
At the present time, and at the immediate point of tension, Christ has added to His two immediate and constant tasks that of hastening the coming of the Avatar Who waits for the perfected work of the Hierarchy, focussed in the Christ, and the powerful work of Shamballa, focussed in the Lord of the World. When the exact moment has arrived, the work of the Buddha, representing Shamballa, and of the Christ, representing the Hierarchy, plus the sincere demand of Humanity, will bring about an arrangement or an alignment which will release an evocative Sound which will be extra-planetary, and then the Avatar will come.
Hiện nay, và tại điểm tập trung nhất tâm tức thời, Đức Christ đã thêm vào hai nhiệm vụ trực tiếp và thường hằng của Ngài nhiệm vụ thúc đẩy sự xuất hiện của Đấng Hoá Thân đang chờ đợi công việc hoàn hảo của Thánh Đoàn, tập trung trong Đức Christ, và công việc đầy quyền năng của Shamballa, tập trung trong Đức Chúa Tể Thế Giới. Khi thời điểm chính xác đã đến, công việc của Đức Phật, đại diện cho Shamballa, và của Đức Christ, đại diện cho Thánh Đoàn, cộng với sự đòi hỏi chân thành của Nhân Loại, sẽ mang lại một sự sắp xếp hay một sự chỉnh hợp sẽ giải phóng một Âm Thanh gợi lên có tính ngoài hành tinh, và khi đó Đấng Hoá Thân sẽ đến.
Ask me not for the date or the hour, brother of mine, for I know it not. It is dependent upon the appeal—the voiceless appeal—of all who stand with massed intent; it is dependent also upon the hour of exact alignment and upon certain aspects of work being done at this time by the senior Members of the Hierarchy, and also upon the steadfastness of the disciples in the world and the initiates—working in their various Ashrams. To this must be added [94] what Christians call the “inscrutable will of God,” the unrecognised purpose of the Lord of the World Who “knows His Own Mind, radiates the highest quality of Love, and focusses His Will in His Own high Place outside the Council Chamber of Shamballa.”
Huynh đệ của tôi, xin đừng hỏi tôi về ngày hay giờ, vì tôi không biết. Điều đó tùy thuộc vào lời kêu gọi—lời kêu gọi không tiếng—của tất cả những ai đứng cùng với ý hướng tập thể; nó cũng tùy thuộc vào giờ phút chỉnh hợp chính xác và vào một số phương diện công việc hiện đang được các Thành viên cao cấp của Thánh Đoàn thực hiện, và cũng tùy thuộc vào sự kiên định của các đệ tử trên thế giới và các điểm đạo đồ—đang hoạt động trong các ashram khác nhau của họ. Vào đó còn phải cộng thêm [94] điều mà các tín đồ Cơ Đốc gọi là “ý chí khôn dò của Thượng đế,” mục đích không được nhận biết của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng “biết Trí của Chính Ngài, phát tỏa phẩm tính cao nhất của Bác ái, và tập trung Ý Chí của Ngài tại Chốn cao siêu riêng của Ngài bên ngoài Phòng Hội Đồng của Shamballa.”
That the Avatar will come is a predictable certainty. That His forerunner will be the Christ is equally sure. When Christ comes it will be for the advanced units of the human family; they will recognise Him because He has always been with us, whilst His advent will evoke a responsive vibration from the masses, but not straight recognition. In connection with the Avatar, it will be a process of hierarchical recognition of an overshadowing Presence within Whose aura the planetary Logos will take His stand as the planetary Representative. Then from Shamballa will descend a stream of spiritual potency, qualified by the will-to-good, and this will reach the attentive Hierarchy. The Members of this Group will, through the medium of the Christ, pour light and healing energy upon the Earth and peculiarly into the consciousness of men. I am not able to express the effect of the outpouring from Shamballa in clearer terms. We are told in the Bible that Christ will come in the air, and that He will bring the “healing of the nations” in His wings. I would call your attention to this thought and to its appositeness to this day and generation. I make no prophetical predictions, I only indicate possibility.
Việc Đấng Hoá Thân sẽ đến là một điều chắc chắn có thể tiên liệu. Việc vị tiền khu của Ngài sẽ là Đức Christ cũng chắc chắn như vậy. Khi Đức Christ đến, điều đó sẽ dành cho các đơn vị tiến bộ của gia đình nhân loại; họ sẽ nhận ra Ngài vì Ngài luôn luôn ở cùng chúng ta, trong khi sự giáng lâm của Ngài sẽ gợi lên một rung động đáp ứng từ quần chúng, nhưng không phải là sự nhận ra trực tiếp. Liên quan đến Đấng Hoá Thân, đó sẽ là một tiến trình nhận biết của Thánh Đoàn về một Hiện Diện phủ bóng mà trong hào quang của Ngài Hành Tinh Thượng đế sẽ đứng như Đấng Đại Diện hành tinh. Khi ấy từ Shamballa sẽ giáng xuống một dòng tiềm lực tinh thần, được phẩm định bởi Ý Chí-hướng Thiện, và điều này sẽ đến với Thánh Đoàn đang chú tâm. Các Thành viên của Nhóm này sẽ, qua trung gian của Đức Christ, tuôn đổ ánh sáng và năng lượng chữa lành lên Trái Đất và đặc biệt vào tâm thức con người. Tôi không thể diễn tả tác động của lần tuôn đổ từ Shamballa bằng những thuật ngữ rõ ràng hơn. Trong Kinh Thánh, chúng ta được bảo rằng Đức Christ sẽ đến trong không trung, và rằng Ngài sẽ mang “sự chữa lành cho các quốc gia” trong đôi cánh của Ngài. Tôi muốn lưu ý bạn đến tư tưởng này và đến tính thích đáng của nó đối với ngày nay và thế hệ này. Tôi không đưa ra những dự đoán tiên tri, tôi chỉ nêu ra khả năng.
When the Avatar has made His appearance, then will the
Khi Đấng Hoá Thân đã xuất hiện, khi ấy
“Sons of men who are now the Sons of God withdraw Their faces from the shining light and radiate that light upon the sons of men who know not yet they are the Sons of God. Then shall the Coming One appear, His footsteps hastened through the valley of the shadow by the One of awful power Who stands upon the mountain top, breathing out love eternal, light supernal and peaceful silent Will.
“Những người con của nhân loại nay là các Con của Thượng đế sẽ rút mặt mình khỏi ánh sáng rực rỡ và phát tỏa ánh sáng ấy lên những người con của nhân loại chưa biết rằng họ là các Con của Thượng đế. Khi ấy Đấng Đang Đến sẽ xuất hiện, bước chân của Ngài được thúc đẩy qua thung lũng bóng tối bởi Đấng có quyền năng đáng sợ đang đứng trên đỉnh núi, thở ra bác ái vĩnh cửu, ánh sáng thiên thượng và Ý Chí an bình, tĩnh lặng.
“Then will the sons of men respond. Then will a newer light shine forth into the dismal weary vale of [95] earth. Then will new life course through the veins of men, and then will their vision compass all the ways of what may be.
“Khi ấy những người con của nhân loại sẽ đáp ứng. Khi ấy một ánh sáng mới hơn sẽ chiếu rọi vào thung lũng u ám mệt mỏi của [95] địa cầu. Khi ấy sự sống mới sẽ chảy qua huyết quản con người, và khi ấy linh thị của họ sẽ bao quát mọi con đường của điều có thể có.
“So peace will come again on earth, but a peace unlike aught known before. Then will the will-to-good flower forth as understanding, and understanding blossom as goodwill in men.”
“Như thế hòa bình sẽ lại đến trên địa cầu, nhưng là một nền hòa bình không giống bất cứ điều gì từng biết trước đây. Khi ấy Ý Chí-hướng Thiện sẽ nở hoa thành sự thấu hiểu, và sự thấu hiểu sẽ trổ hoa thành thiện chí nơi con người.”
So speaks a prophetic passage in the ancient Archives of the Hierarchy which deals with the present cycle of distress (written in June, 1943). For this time men must prepare. You will know when the Avatar links up with the planetary Logos because I will then give you the final Stanza of the Great Invocation (given out in April, 1945). Its use will serve to bring the Coming One to recognition and enable Him to draw upon the resources of the Avatar in the task of world reorganisation and regeneration. He will again come as the World Saviour, but owing to the stupendous nature of the work ahead, He will be fortified and buttressed by the “silent Avatar” Who (occultly speaking) will “keep His eye upon Him, His hand beneath, and His heart in unison with His.”
Đó là lời của một đoạn tiên tri trong các Văn Khố cổ của Thánh Đoàn nói về chu kỳ khốn khổ hiện nay (được viết vào tháng Sáu năm 1943). Con người phải chuẩn bị cho thời điểm này. Bạn sẽ biết khi Đấng Hoá Thân liên kết với Hành Tinh Thượng đế bởi vì khi ấy tôi sẽ trao cho bạn Bài kệ cuối cùng của Đại Khấn Nguyện (được ban ra vào tháng Tư năm 1945). Việc sử dụng nó sẽ giúp đưa Đấng Đang Đến đến chỗ được nhận biết và giúp Ngài rút từ các nguồn lực của Đấng Hoá Thân trong nhiệm vụ tái tổ chức và tái sinh thế giới. Ngài sẽ lại đến như Đấng Cứu Thế Gian, nhưng do bản chất vĩ đại của công việc phía trước, Ngài sẽ được tăng cường và nâng đỡ bởi “Đấng Hoá Thân thầm lặng”, Đấng mà (nói theo huyền bí học) sẽ “đặt mắt Ngài trên Ngài, tay Ngài ở bên dưới, và tim Ngài hòa nhịp với tim Ngài.”
The keynote of Christ’s mission will be to evoke from humanity a response to that influence, and an unfoldment on a large scale of intuitive perception. When He came before, He evoked from humanity a gradual response to truth, and mental understanding. That is why at the end of the cycle, which He inaugurated, we have formulated doctrine and mental development.
Chủ âm của sứ mệnh Đức Christ sẽ là gợi lên từ nhân loại một sự đáp ứng đối với ảnh hưởng đó, và một sự khai mở trên quy mô lớn của tri giác trực giác. Khi Ngài đến trước đây, Ngài đã gợi lên từ nhân loại một sự đáp ứng dần dần đối với chân lý, và sự thấu hiểu trí tuệ. Đó là lý do vì sao vào cuối chu kỳ mà Ngài đã khai mở, chúng ta có giáo lý được hệ thống hóa và sự phát triển trí tuệ.
The work now being done by Shamballa and the Hierarchy on behalf of humanity will tend also to develop group consciousness and the formation of many groups which will be living organisms and not organisations; it will make group initiation possible and will enable certain aspects of the will to flower forth correctly and with safety. The tendency to overlook the distinction between groups and organisations is still very deep-seated; the coming of the Christ will throw much light upon this problem. A study of Rule IV as given to disciples and initiates will also serve [96] to clarify this matter, and with that we shall now concern ourselves.
Công việc hiện đang được Shamballa và Thánh Đoàn thực hiện thay mặt cho nhân loại cũng sẽ có xu hướng phát triển tâm thức nhóm và sự hình thành của nhiều nhóm sẽ là những cơ thể sống chứ không phải các tổ chức; nó sẽ làm cho điểm đạo nhóm trở nên khả hữu và sẽ giúp một số phương diện của ý chí nở hoa một cách đúng đắn và an toàn. Khuynh hướng bỏ qua sự phân biệt giữa các nhóm và các tổ chức vẫn còn rất ăn sâu; sự xuất hiện của Đức Christ sẽ soi sáng rất nhiều cho vấn đề này. Việc nghiên cứu Quy luật IV như được trao cho các đệ tử và điểm đạo đồ cũng sẽ giúp [96] làm sáng tỏ vấn đề này, và giờ đây chúng ta sẽ bàn đến điều đó.
Rule IV.
Quy luật IV.
Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.
Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa đều lụi tàn và các sự sống nhỏ bé hơn trở về hồ chứa của sự sống. Điều này họ phải mang lại qua việc gợi lên Ý Chí. Những bánh xe nhỏ bé hơn không được quay mãi trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiếp tục chuyển động và quay.
This is a rule peculiarly related to the fourth Creative Hierarchy, embodying its goal as the Aryan rootrace can sense and approximate it. It is peculiarly related also to the quaternary to which we give the name “personality,” composed of a vital or etheric body, a sumtotal of emotional states and a mind, plus that integrated something which we call the whole man. Rightly understood and followed, this rule reveals the nature of the fourth plane or fourth state of consciousness, that of buddhi or the plane of pure reason, the intuition. From the angle of the higher initiate, this rule is related to the activity of Monad, Soul and body within the planetary Life, and covers a great mystery and an entire system of relationships of which man in the three worlds is a dim and uncertain shadow. Some clue to the higher quaternary dealt with in this rule will emerge dimly in your consciousness (more is not yet possible) if you will attempt to realise the following:
Đây là một quy luật đặc biệt liên hệ đến Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, hiện thân mục tiêu của nó như giống dân gốc Arya có thể cảm nhận và tiến gần đến. Nó cũng đặc biệt liên hệ đến bộ tứ mà chúng ta gọi là “phàm ngã,” gồm một thể sinh lực hay thể dĩ thái, tổng số các trạng thái cảm xúc và một trí tuệ, cộng với cái gì đó đã được tích hợp mà chúng ta gọi là toàn thể con người. Nếu được hiểu đúng và tuân theo đúng, quy luật này mặc khải bản chất của cõi thứ tư hay trạng thái tâm thức thứ tư, tức Bồ đề hay cõi của lý trí thuần túy, trực giác. Xét từ góc độ của điểm đạo đồ cao cấp, quy luật này liên hệ đến hoạt động của chân thần, linh hồn và thể trong Sự sống hành tinh, và bao trùm một huyền nhiệm lớn cùng toàn bộ một hệ thống các mối liên hệ mà con người trong ba cõi thấp chỉ là một cái bóng mờ nhạt và không chắc chắn. Một vài đầu mối về bộ tứ cao hơn được đề cập trong quy luật này sẽ hiện ra mờ nhạt trong tâm thức bạn (nhiều hơn hiện chưa thể được) nếu bạn cố gắng chứng nghiệm những điều sau đây:
1. The Monad relates the initiate to the Will of God, to the Council at Shamballa, to forces active on the planet Pluto, and on another planet which must remain nameless, and also to the Central Spiritual Sun.
1. Chân thần liên hệ điểm đạo đồ với Ý Chí của Thượng đế, với Hội Đồng tại Shamballa, với các mãnh lực hoạt động trên hành tinh Sao Diêm Vương, và trên một hành tinh khác phải được giữ kín tên, và cũng với Mặt trời Tinh thần Trung Ương.
2. The Soul relates the initiate to the Love of God, to the consciousness aspect of Deity, to the Hierarchy as a whole, entering it through the Ashram of the Master Who has aided him to take initiation, to the planets Venus and Mercury, to the Sun Sirius, and to the Heart of the Sun.
2. Linh hồn liên hệ điểm đạo đồ với Tình thương của Thượng đế, với phương diện tâm thức của Thượng đế, với toàn thể Thánh Đoàn, đi vào đó qua ashram của Chân sư đã trợ giúp y tiếp nhận điểm đạo, với các hành tinh Sao Kim và Sao Thủy, với Mặt Trời Sirius, và với Trái Tim của Mặt Trời.
3. The Personality relates the initiate to the Mind [97] of God, to the intelligence principle of the planetary Life, to humanity as a whole, to Saturn and Mars, and to the physical Sun through its pranic aspect.
3. Phàm ngã liên hệ điểm đạo đồ với Trí của Thượng đế, với nguyên khí trí tuệ của Sự sống hành tinh, với toàn thể nhân loại, với Sao Thổ và Sao Hỏa, và với Mặt Trời hồng trần qua phương diện prana của nó.
4. The Life aspect of the planet, or that great ocean of forces in which all these three aspects live and move and have their being, relates the initiate to that Life which works out through Shamballa, through the Hierarchy and through Humanity, thus forming part of the great sumtotal of manifestation.
4. Phương diện Sự sống của hành tinh, hay đại dương mãnh lực vĩ đại trong đó cả ba phương diện này sống, vận động và tồn tại, liên hệ điểm đạo đồ với Sự sống đang vận hành qua Shamballa, qua Thánh đoàn và qua Nhân loại, nhờ đó tạo thành một phần của tổng thể lớn lao của sự biểu hiện.
It is to these major quaternaries that Rule IV refers, and their relationships only emerge as the initiate keeps the rules. Let us now take this rule stanza by stanza, and so get some understanding of its basic significances.
Chính bốn bộ tứ chính yếu này là điều mà Quy luật IV đề cập đến, và các tương quan của chúng chỉ xuất hiện khi điểm đạo đồ giữ các quy luật. Giờ đây chúng ta hãy xét quy luật này từng bài kệ một, và nhờ đó đạt được một ít thấu hiểu về những thâm nghĩa căn bản của nó.
1. Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.
1. Hãy để nhóm thấy rằng cả mười tám ngọn lửa đều lụi xuống và các sự sống nhỏ bé trở về hồ chứa của sự sống.
A very casual consideration will show the student that this rule contains four sentences which refer to one or other of the four aspects we have been considering. Bear this in mind as we study significances, interpretations and carry our thoughts into the world of meaning.
Chỉ cần xem xét rất sơ qua, đạo sinh sẽ thấy rằng quy luật này chứa bốn câu, mỗi câu quy chiếu đến một hay một phương diện khác trong bốn phương diện mà chúng ta đã xét. Hãy ghi nhớ điều này khi chúng ta nghiên cứu các thâm nghĩa, các cách diễn giải và đưa tư tưởng mình vào Thế giới của ý nghĩa.
A very cursory reading of the Rule leads one to the surmise that one of the most important hints concerns the effect of the group life and radiation upon the individual in the group. “Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.” These words deal with the group personality, composed of all the personalities of its members. It should be borne in mind that a group is in itself an entity, having form, substance, soul and purpose or objective, and that none of these is better or greater, or more developed than the aggregate of group lives which compose it. Though individuals of varying points in evolution form the group, none of them is below the level of disciples upon the evolutionary ladder. A Master’s Ashram has in it disciples and initiates of all degrees, but no probationary disciples at all. No one below the rank of disciples—accepted and dedicated—is admitted. This is one of the first Rules given to an accepted [98] disciple when first admitted into the Ashram, and it is from that angle that we should now consider it.
Một cách đọc rất lướt qua Quy luật khiến người ta phỏng đoán rằng một trong những gợi ý quan trọng nhất liên quan đến hiệu quả của sự sống nhóm và bức xạ nhóm đối với cá nhân trong nhóm. “Hãy để nhóm thấy rằng cả mười tám ngọn lửa đều lụi xuống và các sự sống nhỏ bé trở về hồ chứa của sự sống.” Những lời này đề cập đến phàm ngã nhóm, được cấu thành bởi tất cả các phàm ngã của các thành viên trong nhóm. Cần ghi nhớ rằng một nhóm tự thân là một thực thể, có hình tướng, chất liệu, linh hồn và mục đích hay cứu cánh, và không điều nào trong số đó tốt hơn hay lớn hơn, hay phát triển hơn tổng số các sự sống nhóm cấu thành nên nó. Dù những cá nhân ở các điểm tiến hoá khác nhau tạo thành nhóm, không ai trong họ ở dưới cấp độ đệ tử trên thang tiến hoá. Một ashram của Chân sư có trong đó các đệ tử và điểm đạo đồ ở mọi cấp bậc, nhưng hoàn toàn không có đệ tử dự bị. Không ai dưới cấp bậc đệ tử—được chấp nhận và tận hiến—được thừa nhận. Đây là một trong những Quy luật đầu tiên được trao cho một đệ tử được chấp nhận [98] khi lần đầu được nhận vào ashram, và chính từ góc độ đó mà giờ đây chúng ta nên xem xét nó.
The three Rules we have earlier considered are general in nature and relate to certain broad themes or demanded hypotheses which must govern the consciousness of the disciple in the future. In this particular Rule we enter the realm of the specific, and are presented with certain “intentional” activities which must govern the disciple’s life now that he is an integral part of the Ashram. He is faced with the proposition of making his life of such a nature that it furthers the group purpose, enhances the group strength, eliminates all that might hinder group usefulness, and brings closer the objective for which the group was formed—the carrying out of the Master’s plans. It was the disciple’s innate, instinctual and individual response to this ray objective, and his effort to subordinate his personality to the dimly sensed soul dedication, which led the Master in the first instance to recognise him and incorporate him into his Ashram. The moment that happened, the disciple came not only under an increased impact of egoic force and egoic impulsive intention (using those words in their occult sense), but the group radiation began its beneficent work upon him. The magnetic “pulling” power which had hitherto led him forward is now superseded by a radiating stimulating potency; this effects great changes in him, and produces both eliminating and substituting results. The effect of the life of the Ashram, as far as the group which forms it is concerned and apart from the Master’s Own potency, can be described as follows:
Ba Quy luật mà trước đây chúng ta đã xét có tính tổng quát và liên hệ đến một số chủ đề rộng lớn hay những giả thuyết được đòi hỏi phải chi phối tâm thức của đệ tử trong tương lai. Trong Quy luật đặc biệt này, chúng ta bước vào lĩnh vực của điều chuyên biệt, và được trình bày một số hoạt động “có chủ ý” phải chi phối đời sống của đệ tử giờ đây khi y là một phần không thể tách rời của ashram. Y đối diện với mệnh đề phải làm cho đời sống mình có bản chất sao cho nó thúc đẩy mục đích nhóm, tăng cường sức mạnh nhóm, loại bỏ mọi điều có thể cản trở tính hữu dụng của nhóm, và đưa đến gần hơn cứu cánh mà vì đó nhóm được hình thành—việc thực hiện các kế hoạch của Chân sư. Chính sự đáp ứng bẩm sinh, bản năng và cá nhân của đệ tử đối với mục tiêu cung này, cùng nỗ lực của y nhằm đặt phàm ngã mình dưới sự tận hiến của linh hồn mà y cảm nhận còn mơ hồ, đã khiến Chân sư ngay từ đầu nhận ra y và thu nhận y vào ashram của Ngài. Ngay khoảnh khắc điều đó xảy ra, đệ tử không những chịu dưới một tác động gia tăng của mãnh lực chân ngã và ý định xung động chân ngã (dùng những từ ấy theo nghĩa huyền bí của chúng), mà bức xạ nhóm cũng bắt đầu công việc từ lành của nó trên y. Quyền năng “kéo” từ tính vốn trước đây đã dẫn dắt y tiến lên nay được thay thế bằng một tiềm lực bức xạ kích thích; điều này tạo ra những thay đổi lớn lao nơi y, và tạo ra cả những kết quả loại bỏ lẫn thay thế. Hiệu quả của đời sống ashram, xét theo nhóm cấu thành nên nó và tách khỏi chính tiềm lực của Chân sư, có thể được mô tả như sau:
1. The life of the personality is steadily weakened, and its grip upon the soul is definitely loosened. The soul begins to dominate in a very real sense.
1. Đời sống của phàm ngã dần dần bị suy yếu, và sự nắm giữ của nó đối với linh hồn được nới lỏng một cách rõ rệt. Linh hồn bắt đầu chi phối theo một ý nghĩa rất thực.
2. The necessity of incarnation becomes appreciably less, and finally life in the three worlds of human manifestation becomes needless. All the lessons have been learnt and the soul objective has been attained.
2. Nhu cầu lâm phàm giảm đi một cách đáng kể, và cuối cùng đời sống trong ba cõi của biểu hiện nhân loại trở nên không cần thiết. Mọi bài học đã được học xong và mục tiêu của linh hồn đã đạt được.
3. The Will of the Monad begins to be sensed; the will aspect blends with the love aspect and makes the [99] intelligence aspect fruitful and effective for the carrying out of divine purpose, focussed for the disciple through the Ashram.
3. Ý Chí của chân thần bắt đầu được cảm nhận; phương diện ý chí hòa nhập với phương diện bác ái và làm cho phương diện [99] trí tuệ trở nên phong phú và hữu hiệu trong việc thực hiện thiên ý, được tập trung cho đệ tử qua ashram.
4. The purposes of time and space, of events and extension, of matter and consciousness have been achieved and are eventually superseded by something for which we have as yet no term and of which we have no conception. It is that which begins to express itself after the third initiation, when the Father aspect “comes into view”—I know not how else to word it.
4. Các mục đích của thời gian và không gian, của biến cố và sự mở rộng, của vật chất và tâm thức đã được hoàn thành và cuối cùng được thay thế bởi một điều gì đó mà hiện nay chúng ta chưa có từ ngữ nào để gọi và cũng không có quan niệm nào về nó. Đó là điều bắt đầu tự biểu lộ sau lần điểm đạo thứ ba, khi phương diện Cha “đi vào tầm nhìn”—tôi không biết phải diễn đạt khác thế nào.
5. The whole is seen to be of more vital importance than the part, and this not as a dream, a vision, a theory, a process of wishful thinking, an hypothesis or an urge. It is realised as an innate necessity and as inevitable. It connotes death, but death as beauty, as joy, as spirit in action, as the consummation of all good.
5. Toàn thể được thấy là quan trọng thiết yếu hơn phần, và điều này không phải như một giấc mơ, một linh ảnh, một lý thuyết, một tiến trình ước vọng, một giả thuyết hay một thôi thúc. Nó được chứng nghiệm như một tất yếu bẩm sinh và như điều không thể tránh khỏi. Nó hàm ý cái chết, nhưng là cái chết như vẻ đẹp, như sự hoan hỉ, như tinh thần trong hành động, như sự viên mãn của mọi điều thiện.
It will be obvious, therefore, that the interpretation of these Rules must involve capacity to pass beyond the usual attitudes and what one might call the usual metaphysical and theosophical platitudes, and to see life as the Hierarchy sees it. This means that life is approached from the angle of the Observer and not from that of a participator in actual experiment and experience in the three worlds. This Observer is different to the Observer on the probationary Path. Most of the experiment and experience has been left behind, and a new orientation to a world of values, higher than even the world of meaning, has set in. This attitude might well be described as the mode of approach of all who form a part of an Ashram. Those who form the Ashram are living in the three worlds of experience if they are accepted disciples, but the focus of their attention is not there. If they are initiated disciples, they are increasingly unaware of the activities and reactions of their personalities, because certain aspects of the lower nature are now so controlled and purified that they have dropped below the threshold of consciousness and have entered the world of instinct; therefore there is no more awareness of them than a man asleep is conscious of the rhythmic functioning of his sleeping [100] physical vehicle. This is a deep and largely unrealised truth. It is related to the entire process of death and might be regarded as one of the definitions of death; it holds the clue to the mysterious words “the reservoir of life.” Death is in reality unconsciousness of that which may be functioning in some form or another, but in a form of which the spiritual entity is totally unaware. The reservoir of life is the place of death, and this is the first lesson the disciple learns.
Do đó, hiển nhiên là việc diễn giải các Quy luật này phải bao hàm năng lực vượt ra ngoài các thái độ thông thường và điều mà người ta có thể gọi là những sáo ngữ siêu hình học và Thông Thiên Học thông thường, để nhìn đời sống như Thánh đoàn nhìn nó. Điều này có nghĩa là đời sống được tiếp cận từ góc độ của Nhà Quan Sát chứ không phải từ góc độ của một người tham dự vào thí nghiệm và kinh nghiệm thực tế trong ba cõi. Nhà Quan Sát này khác với Nhà Quan Sát trên Con Đường Dự Bị. Phần lớn thí nghiệm và kinh nghiệm đã bị bỏ lại phía sau, và một sự định hướng mới đối với một thế giới các giá trị, cao hơn cả thế giới của ý nghĩa, đã bắt đầu. Thái độ này có thể được mô tả rất đúng là phương thức tiếp cận của tất cả những ai tạo thành một phần của ashram. Những ai tạo thành ashram đang sống trong ba cõi kinh nghiệm nếu họ là các đệ tử được chấp nhận, nhưng tiêu điểm chú ý của họ không ở đó. Nếu họ là các đệ tử đã được điểm đạo, họ ngày càng không còn nhận biết các hoạt động và phản ứng của phàm ngã mình, bởi vì một số phương diện của bản chất thấp hiện nay đã được kiểm soát và thanh lọc đến mức chúng đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và đi vào thế giới của bản năng; vì thế không còn nhận biết nào về chúng hơn là một người đang ngủ ý thức được sự vận hành nhịp nhàng của vận cụ hồng trần đang ngủ của [100] ông. Đây là một chân lý sâu xa và phần lớn chưa được chứng nghiệm. Nó liên hệ đến toàn bộ tiến trình chết và có thể được xem như một trong những định nghĩa của cái chết; nó nắm giữ chìa khóa cho những lời bí nhiệm “hồ chứa của sự sống.” Thực ra, cái chết là sự vô thức đối với điều gì đó có thể đang vận hành trong một hình thức nào đó, nhưng trong một hình thức mà thực thể tinh thần hoàn toàn không nhận biết. Hồ chứa của sự sống là nơi của cái chết, và đây là bài học đầu tiên mà đệ tử học được.
The eighteen fires refer to the eighteen states of matter which constitute the personality. They are: seven physical states of matter, seven emotional states, enabling the astral body to function on the seven subplanes of the astral plane, and four states of matter for each of the four conditions of the concrete mind—(7, 7, 4, = 18). These are eighteen grades of substance, eighteen vibratory groups of atoms, and eighteen aggregates of life which form the bodies of the lunar lords (as The Secret Doctrine calls them) which in their totality, form the body of the Lunar Lord, the Personality. The above is the very a b c of occultism and a familiar truth to all of you. What is referred to here has, however, no reference to processes of purification, of control or of discipline. These have been much earlier considered and are regarded as the necessary processes instituted upon the probationary path, and should have reached a point prior to the stage of accepted discipleship where—rapid or slow in expression—they are nevertheless automatic in action, sure and inevitable.
Mười tám ngọn lửa nói đến mười tám trạng thái vật chất cấu thành phàm ngã. Chúng là: bảy trạng thái vật chất hồng trần, bảy trạng thái cảm xúc, giúp thể cảm dục hoạt động trên bảy cõi phụ của cõi cảm dục, và bốn trạng thái vật chất cho mỗi một trong bốn điều kiện của trí cụ thể—(7, 7, 4, = 18). Đây là mười tám cấp độ chất liệu, mười tám nhóm nguyên tử rung động, và mười tám tập hợp sự sống tạo thành các thể của các nguyệt tinh quân (như Giáo Lý Bí Nhiệm gọi chúng), mà trong tổng thể của chúng tạo thành thể của Nguyệt tinh quân, tức Phàm ngã. Điều trên là chính a b c của huyền bí học và là một chân lý quen thuộc với tất cả các bạn. Tuy nhiên, điều được nói đến ở đây không liên hệ gì đến các tiến trình thanh lọc, kiểm soát hay kỷ luật. Những điều này đã được xét đến từ rất sớm và được xem là các tiến trình cần thiết được thiết lập trên con đường dự bị, và lẽ ra phải đạt đến một điểm trước giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận mà ở đó—dù biểu lộ nhanh hay chậm—chúng vẫn tự động trong hành động, chắc chắn và không thể tránh.
The first sentence in this fourth rule refers to Detachment—the detachment of the soul from the body or the institution of those activities which bring about what is called in the Bible “the second death.” It is not detachment as the aspirant practices it. It is the scientific breaking of all links and the ending (through completed use) of all contacts which are now regarded as militating against liberation. It is in reality a scientific process of ending karma; it is individual and national karma which brings a man back into a physical vehicle and clothes him with the qualities and aspects of substance. This must end whilst he is a member [101] of the Master’s Ashram and is preparing himself for the triumph of the fourth initiation. This is brought about by the automatic, ceaseless and unquestioning fulfillment of duty, from the angle of recognised service.
Câu đầu tiên trong quy luật thứ tư này đề cập đến sự tách rời—sự tách rời của linh hồn khỏi thể hay việc thiết lập những hoạt động đem lại điều được gọi trong Kinh Thánh là “cái chết thứ hai.” Đây không phải là sự tách rời như người chí nguyện thực hành. Đó là sự cắt đứt một cách khoa học mọi liên kết và chấm dứt (qua việc sử dụng đã hoàn tất) mọi tiếp xúc hiện nay được xem là chống lại sự giải thoát. Thực ra đó là một tiến trình khoa học nhằm chấm dứt nghiệp quả; chính nghiệp quả cá nhân và quốc gia đưa con người trở lại trong một vận cụ hồng trần và khoác cho ông các phẩm tính và phương diện của chất liệu. Điều này phải chấm dứt trong khi y là một thành viên [101] của ashram Chân sư và đang chuẩn bị cho sự chiến thắng của lần điểm đạo thứ tư. Điều này được mang lại nhờ sự hoàn thành bổn phận một cách tự động, không ngừng nghỉ và không nghi vấn, từ góc độ phụng sự đã được nhận biết.
It might be stated that an intelligent understanding of this sentence will lead to those actions which “produce the death and dissipation and final dissolution of the personality through the ending of karma.” It must be remembered that a Master has no personality at all. His divine nature is all that He has. The form through which He works (if he is working through and living in a physical vehicle) is a created image, the product of a focussed will and the creative imagination; it is not the product of desire, as in the case of a human being. This is an important distinction and one which warrants careful thinking. The lesser lives (which are governed by the Moon) have been dispersed. They no longer respond to the ancient call of the reincarnating soul, which again and again has gathered to itself the lives which it has touched and coloured by its quality in the past. The soul and the causal body no longer exist by the time the fourth initiation is undergone. What is left is the Monad and the thread, the antahkarana which it has spun out of its own life and consciousness down the ages and which it can focus at will upon the physical plane, where it can create a body of pure substance and radiant light for all that the Master may require. This will be a perfect body, utterly adapted to the need, the plan and the purpose of the Master. None of the lesser lives (as we understand the term) form part of it, for they can only be summoned by desire. In the Master there is no desire left, and this is the thought held before the disciple as he begins to master the significance of the fourth Rule.
Có thể nói rằng một sự thấu hiểu thông minh về câu này sẽ dẫn đến những hành động “tạo ra cái chết, sự tiêu tan và sự tan rã cuối cùng của phàm ngã qua việc chấm dứt nghiệp quả.” Phải nhớ rằng một Chân sư hoàn toàn không có phàm ngã. Bản chất thiêng liêng của Ngài là tất cả những gì Ngài có. Hình tướng mà qua đó Ngài hoạt động (nếu Ngài đang hoạt động qua và sống trong một vận cụ hồng trần) là một hình ảnh được tạo ra, sản phẩm của một ý chí tập trung và của sự tưởng tượng sáng tạo; nó không phải là sản phẩm của dục vọng, như trong trường hợp của một con người. Đây là một phân biệt quan trọng và đáng để suy nghĩ cẩn trọng. Các sự sống nhỏ bé (được Mặt Trăng chi phối) đã bị phân tán. Chúng không còn đáp ứng với tiếng gọi xưa cũ của linh hồn tái sinh, linh hồn đã hết lần này đến lần khác tập hợp về mình những sự sống mà nó đã chạm đến và nhuốm màu bằng phẩm tính của nó trong quá khứ. Linh hồn và thể nguyên nhân không còn tồn tại nữa vào lúc lần điểm đạo thứ tư được trải qua. Điều còn lại là chân thần và sợi dây, antahkarana mà nó đã se dệt từ chính sự sống và tâm thức của nó qua các thời đại và mà nó có thể tập trung theo ý muốn trên cõi hồng trần, nơi nó có thể tạo ra một thể bằng chất liệu thuần khiết và ánh sáng rạng ngời cho bất cứ điều gì Chân sư có thể cần. Đây sẽ là một thể hoàn hảo, hoàn toàn thích ứng với nhu cầu, thiên cơ và mục đích của Chân sư. Không một sự sống nhỏ bé nào (theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ này) tạo thành một phần của nó, vì chúng chỉ có thể được triệu gọi bởi dục vọng. Trong Chân sư không còn dục vọng nào nữa, và đây là tư tưởng được đặt trước đệ tử khi y bắt đầu làm chủ thâm nghĩa của Quy luật thứ tư.
In this Rule two main ideas are to be found, both of them connected with the first divine aspect: the thought of Death and the nature of the Will. In the coming century, death and the will inevitably will be seen to have new meanings for humanity, and many of the old ideas will vanish. Death, to the average thinking man, is a point of [102] catastrophic crisis. It is the cessation and the ending of all that has been loved, all that is familiar and to be desired; it is a crashing entrance into the unknown, into uncertainty, and the abrupt conclusion of all plans and projects. No matter how much true faith in the spiritual values may be present, no matter how clear the rationalising of the mind may be anent immortality, no matter how conclusive the evidence of persistence and eternity, there still remains a questioning, a recognition of the possibility of complete finality and negation and an end to all activity, of all heart reactions, of all thought, emotion, desire, aspiration, and the intentions which focus around the central core of a man’s being. The longing and the determination to persist and the sense of continuity still rest, even to the most determined believer, upon probability, upon an unstable foundation, and upon the testimony of others—who have never in reality returned to tell the truth. The emphasis of all thought on this subject concerns the central “I” or the integrity of Deity.
Trong Quy luật này có thể tìm thấy hai ý tưởng chính, cả hai đều liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất: tư tưởng về Cái Chết và bản chất của Ý Chí. Trong thế kỷ sắp tới, cái chết và ý chí tất yếu sẽ được thấy là có những ý nghĩa mới đối với nhân loại, và nhiều ý tưởng cũ sẽ biến mất. Đối với người suy tư trung bình, cái chết là một điểm của [102] khủng hoảng thảm khốc. Nó là sự ngưng dứt và chấm hết của tất cả những gì đã được yêu thương, tất cả những gì quen thuộc và đáng mong muốn; nó là một sự xông vào dữ dội trong cái chưa biết, trong sự bất định, và là kết thúc đột ngột của mọi kế hoạch và dự phóng. Dù có bao nhiêu đức tin chân thật vào các giá trị tinh thần hiện diện, dù sự lý giải của trí tuệ về tính bất tử có rõ ràng đến đâu, dù bằng chứng về sự tiếp diễn và vĩnh cửu có kết luận đến mức nào, vẫn còn đó một sự nghi vấn, một sự thừa nhận khả năng của tính chung cuộc hoàn toàn và sự phủ định, và một sự chấm dứt mọi hoạt động, mọi phản ứng của tim, mọi tư tưởng, cảm xúc, dục vọng, khát vọng, và những ý định tập trung quanh hạt nhân trung tâm của bản thể con người. Sự khao khát và quyết tâm tiếp tục tồn tại cùng cảm thức liên tục vẫn còn dựa, ngay cả đối với người tin tưởng kiên định nhất, trên xác suất, trên một nền tảng không ổn định, và trên lời chứng của người khác—những người chưa bao giờ thực sự quay lại để nói sự thật. Trọng tâm của mọi suy nghĩ về chủ đề này liên quan đến cái “Tôi” trung tâm hay tính toàn vẹn của Thượng đế.
You will note that in this Rule, the emphasis shifts from the “I” to the constituent parts which form the garment of the Self, and this is a point worth noting. The information given to the disciple is to work for the dissipation of this garment and for the return of the lesser lives to the general reservoir of living substance. The ocean of Being is nowhere referred to. Careful thought will here show that this ordered process of detachment, which the group life makes effective in the case of the individual, is one of the strongest arguments for the fact of continuity and for individual identifiable persistence. Note those words. The focus of activity shifts from the active body to the active entity within that body, the master of his surroundings, the director of his possessions, and the one who is the breath itself, despatching the lives to the reservoir of substance, or recalling them at will to resume their relation to him.
Bạn sẽ lưu ý rằng trong Quy luật này, trọng tâm chuyển từ “Tôi” sang các thành phần cấu thành y phục của Bản Ngã, và đây là một điểm đáng ghi nhận. Thông tin được trao cho đệ tử là hãy hoạt động để làm tiêu tan y phục này và để các sự sống nhỏ bé trở về hồ chứa chung của chất liệu sống. Đại dương của Bản Thể không được nhắc đến ở đâu cả. Suy nghĩ cẩn trọng ở đây sẽ cho thấy rằng tiến trình tách rời có trật tự này, mà đời sống nhóm làm cho hữu hiệu trong trường hợp của cá nhân, là một trong những luận cứ mạnh nhất cho sự kiện của tính liên tục và của sự tồn tại dai dẳng có thể nhận diện được của cá nhân. Hãy lưu ý những từ đó. Tiêu điểm hoạt động chuyển từ thể đang hoạt động sang thực thể đang hoạt động bên trong thể ấy, chủ nhân của hoàn cảnh mình, người điều khiển những gì mình sở hữu, và là chính hơi thở, phái các sự sống vào hồ chứa của chất liệu, hoặc triệu hồi chúng trở lại theo ý muốn để tiếp tục mối liên hệ với mình.
Putting it this way, you will note how the disciple is really enjoined to recognise (with the assistance of his group) that he is essentially the Father aspect himself, the first cause, the creative will and the breath of life within the [103] form. This is a somewhat new attitude which he is asked to take, because hitherto the emphasis upon his focus has been to regard himself as the soul, reincarnating when desire calls and withdrawing when need arises. The group life as a whole is here needed to make possible this shift in realisation away from form and consciousness to the will and life aspect or principle. When this has begun to take place, one of the first recognitions of the initiate-disciple is that form, and his consciousness of form and its contacts (which we call knowledge), have in themselves produced a great thought-form which has summed up in itself his entire relation to form, to existence and experience in the three worlds, to matter, to desire and to all that incarnation has brought him. The whole matter looms, therefore, over-large in his consciousness. The detaching of himself from this ancient thoughtform—the final form which the Dweller on the Threshold takes—is called by him Death. Only at the fourth initiation does he realise that death is nothing but the severing of a thread which links him to the ring-pass-not within which he has chosen to circumscribe himself. He discovers that the “last enemy to be destroyed” is brought to that final destruction by the first aspect in himself, the Father or Monad (which moved originally to create that form), the Life, the Breath, the directing energising Will. It is the will that, in the last analysis, produces orientation, focus, emphasis, the world of form, and above all else (because of its relation to the world of cause), the world of meaning.
Nói theo cách này, bạn sẽ lưu ý rằng đệ tử thực sự được khuyên phải nhận ra (với sự trợ giúp của nhóm mình) rằng về bản chất y chính là phương diện Cha, nguyên nhân đầu tiên, ý chí sáng tạo và hơi thở sự sống bên trong [103] hình tướng. Đây là một thái độ phần nào mới mà y được yêu cầu phải có, bởi vì cho đến nay trọng tâm nơi tiêu điểm của y là xem mình như linh hồn, tái sinh khi dục vọng gọi và rút lui khi nhu cầu phát sinh. Ở đây cần có đời sống nhóm như một toàn thể để làm cho sự chuyển dịch trong chứng nghiệm này trở nên khả hữu, từ hình tướng và tâm thức sang phương diện hay nguyên khí ý chí và sự sống. Khi điều này bắt đầu diễn ra, một trong những nhận biết đầu tiên của đệ tử-điểm đạo đồ là hình tướng, và tâm thức của y về hình tướng cùng các tiếp xúc của nó (điều mà chúng ta gọi là tri thức), tự chúng đã tạo ra một hình tư tưởng lớn lao đã tổng kết trong chính nó toàn bộ mối liên hệ của y với hình tướng, với sự tồn tại và kinh nghiệm trong ba cõi, với vật chất, với dục vọng và với tất cả những gì việc nhập thể đã mang lại cho y. Vì vậy, toàn bộ vấn đề hiện ra quá lớn trong tâm thức của y. Việc tách mình ra khỏi hình tư tưởng cổ xưa này—hình tướng cuối cùng mà Kẻ Chận Ngõ mang lấy—được y gọi là Cái Chết. Chỉ đến lần điểm đạo thứ tư y mới nhận ra rằng cái chết không là gì khác ngoài việc cắt đứt một sợi dây nối y với vòng-giới-hạn mà trong đó y đã chọn tự giới hạn mình. Y khám phá rằng “kẻ thù cuối cùng phải bị hủy diệt” được đưa đến sự hủy diệt cuối cùng ấy bởi phương diện thứ nhất trong chính y, tức Cha hay chân thần (đã khởi đầu chuyển động để tạo ra hình tướng ấy), Sự sống, Hơi thở, Ý chí chỉ đạo đầy năng lượng. Chính ý chí, trong phân tích cuối cùng, tạo ra sự định hướng, tiêu điểm, trọng tâm, thế giới hình tướng, và trên hết mọi điều khác (do mối liên hệ của nó với thế giới nguyên nhân), thế giới của ý nghĩa.
Average man lives and has his being in the world of meaning; the initiate and the Master have their focus in the world of Being. They are then naught but will, illumined by love which links them with the world of meaning, and capable of intelligent activity which links them with the world of form, and is the indication of life. But the desire of the initiate is not now for activity, or even for the expression of love. These qualities are integral parts of his equipment and expression but have dropped below the threshold of consciousness (a higher correspondence of the automatic [104] activities of the physical body which proceed upon their work without any realised consciousness on the part of the man). His effort is towards something which means little as yet to those of you who read these words; it is for the realisation of Being, immovable, immutable, living and only to be comprehended in terms which embody the concept of “It is not this; it is not that.” It is No-Thing; it is not thought or desire. It is life, Being, the whole, the One. It is not expressed by the words “I am” or by the words “I am not.” It is expressed by the words “I am that I am.” Having said that, know you what I mean? It is the will-to-be which has found itself through the will-to-good.
Con người trung bình sống và tồn tại trong thế giới của ý nghĩa; điểm đạo đồ và Chân sư có tiêu điểm của mình trong Thế Giới Bản Thể. Khi ấy các Ngài không là gì ngoài ý chí, được soi sáng bởi bác ái vốn nối kết các Ngài với thế giới của ý nghĩa, và có khả năng hoạt động thông minh vốn nối kết các Ngài với thế giới hình tướng, và là dấu hiệu của sự sống. Nhưng dục vọng của điểm đạo đồ hiện nay không còn hướng đến hoạt động, hay thậm chí đến sự biểu lộ bác ái. Những phẩm tính này là những phần không thể tách rời của trang bị và biểu hiện của y nhưng đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức (một tương ứng cao hơn của các [104] hoạt động tự động của thể xác vốn tiếp tục công việc của chúng mà không có sự nhận biết có ý thức nào từ phía con người). Nỗ lực của y hướng đến một điều gì đó mà hiện nay vẫn còn ít ý nghĩa đối với những bạn đọc những lời này; đó là sự chứng nghiệm Bản Thể, bất lay chuyển, bất biến, sống động và chỉ có thể được thấu hiểu bằng những thuật ngữ hàm chứa khái niệm “Không phải cái này; không phải cái kia.” Nó là Không-Vật; nó không phải tư tưởng hay dục vọng. Nó là sự sống, Bản Thể, toàn thể, Đấng Duy Nhất. Nó không được diễn đạt bằng những lời “Tôi là” hay bằng những lời “Tôi không là.” Nó được diễn đạt bằng những lời “Tôi là cái mà Tôi là.” Nói như vậy rồi, các bạn có biết tôi muốn nói gì không? Đó là ý chí-tồn-tại đã tìm thấy chính mình qua ý chí-hướng thiện.
Therefore, the eighteen fires must die down; the lesser lives (embodying the principle of form, of desire and of thought, the sum total of creativity, based upon magnetic love) must return to the reservoir of life and naught be left but that which caused them to be, the central will which is known by the effects of its radiation or breath. This dispersal, death or dissolution is in reality a great effect produced by the central Cause, and the injunction is consequently:
Vì vậy, mười tám ngọn lửa phải lụi xuống; các sự sống nhỏ bé (hiện thân cho nguyên khí của hình tướng, của dục vọng và của tư tưởng, tổng số của tính sáng tạo, dựa trên bác ái từ tính) phải trở về hồ chứa của sự sống và không còn gì sót lại ngoài điều đã khiến chúng hiện hữu, ý chí trung tâm được biết đến qua các hiệu quả của bức xạ hay hơi thở của nó. Sự phân tán, cái chết hay sự tan rã này thực ra là một hiệu quả lớn lao do Nguyên Nhân trung tâm tạo ra, và vì thế mệnh lệnh là:
2. This they must bring about through the evocation of the Will.
2. Điều này họ phải mang lại qua sự gợi lên của Ý Chí.
This type of death is ever brought about by a group, because it is from the earliest moment the one unmistakable expression of soul activity—as influenced consciously by the Monad or Father—and this activity is a group activity which wills the return of the lesser lives to the general reservoir from the very first moment that it has become apparent that the form experience has served its purpose and that the form has reached a point of such resilience and capacity that perfection has been practically achieved. This is definitely consummated at the fourth initiation. Now, at the end of the great life cycle of the soul, persisting for aeons, the time is nearing when form-taking and experience in the three worlds must end. The disciple finds his group in the Master’s Ashram, and consciously and with full understanding, [105] masters death—the long-feared enemy of existence. He discovers that death is simply an effect produced by life and by his conscious will, and is a mode whereby he directs substance and controls matter. This becomes consciously possible because, having developed awareness of two divine aspects—creative activity and love—he is now focussed in the highest aspect and knows himself to be the Will, the Life, the Father, the Monad, the One.
Loại cái chết này luôn luôn được mang lại bởi một nhóm, bởi vì ngay từ khoảnh khắc sớm nhất nó là biểu hiện không thể nhầm lẫn của hoạt động linh hồn—được chân thần hay Cha tác động một cách hữu thức—và hoạt động này là một hoạt động nhóm muốn cho các sự sống nhỏ bé trở về hồ chứa chung ngay từ khoảnh khắc đầu tiên khi đã trở nên hiển nhiên rằng kinh nghiệm hình tướng đã phục vụ mục đích của nó và rằng hình tướng đã đạt đến một điểm có tính đàn hồi và năng lực đến mức sự hoàn hảo hầu như đã đạt được. Điều này được hoàn tất dứt khoát ở lần điểm đạo thứ tư. Giờ đây, vào cuối chu kỳ sự sống lớn lao của linh hồn, kéo dài qua các đại kiếp, thời điểm đang đến gần khi việc mang lấy hình tướng và kinh nghiệm trong ba cõi phải chấm dứt. Đệ tử tìm thấy nhóm của mình trong ashram của Chân sư, và một cách hữu thức cùng với sự thấu hiểu trọn vẹn, [105] làm chủ cái chết—kẻ thù của sự tồn tại vốn bị sợ hãi từ lâu. Y khám phá rằng cái chết chỉ đơn giản là một hiệu quả do sự sống và ý chí hữu thức của y tạo ra, và là một phương thức nhờ đó y chỉ đạo chất liệu và kiểm soát vật chất. Điều này trở nên có thể một cách hữu thức bởi vì, sau khi đã phát triển sự nhận biết về hai phương diện thiêng liêng—hoạt động sáng tạo và bác ái—giờ đây y được tập trung trong phương diện cao nhất và biết mình là Ý Chí, là Sự sống, là Cha, là chân thần, là Đấng Duy Nhất.
In concluding our study of Rule IV, we are to consider two things:
Khi kết thúc việc nghiên cứu Quy luật IV, chúng ta cần xem xét hai điều:
The method of evoking the Will aspect.
Phương pháp gợi lên phương diện Ý Chí.
The process of recognising the Life aspect,
Tiến trình nhận biết phương diện Sự sống,
the Monad, the Father in Heaven.
chân thần, Cha trên Trời.
The result of these two is given in the two closing phrases of this rule:
Kết quả của hai điều này được nêu trong hai cụm từ kết thúc của quy luật này:
3. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.
3. Những bánh xe nhỏ bé không được quay mãi trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiếp tục tiến lên và quay.
There is one point here that I should like to make because it opens the door to new concepts, even if it is not yet possible for these concepts to be defined so that the mass can understand; even the disciples who read these words will fail truly to comprehend. Only those who have taken the third initiation will rightly interpret. Constantly in all esoteric literature reference is made to the factors of time and space as if there were a basic distinction between the worlds in which these two hold sway and in which the aspirants and initiates of all degrees freely move. Constantly the aspirant is reminded that time is cyclic in nature and manifestation, and that “space is an entity.” It is necessary that there should be some comprehension of these terms if that which the will controls (when evoked) is to penetrate into the knowing consciousness of the thinker.
Có một điểm ở đây mà tôi muốn nêu ra vì nó mở cánh cửa cho những khái niệm mới, dù hiện nay vẫn chưa thể định nghĩa các khái niệm ấy để quần chúng có thể hiểu; ngay cả các đệ tử đọc những lời này cũng sẽ không thật sự thấu hiểu. Chỉ những ai đã nhận lần điểm đạo thứ ba mới diễn giải đúng. Trong toàn bộ văn liệu huyền bí, người ta liên tục nhắc đến các yếu tố thời gian và không gian như thể có một sự phân biệt căn bản giữa các thế giới trong đó hai yếu tố này ngự trị và trong đó những người chí nguyện và điểm đạo đồ ở mọi cấp bậc tự do vận động. Người chí nguyện liên tục được nhắc nhở rằng thời gian có bản chất chu kỳ và biểu hiện, và rằng “không gian là một thực thể.” Cần phải có một mức độ thấu hiểu nào đó về các thuật ngữ này nếu điều mà ý chí kiểm soát (khi được gợi lên) muốn thâm nhập vào tâm thức hiểu biết của người suy tư.
Space and substance are synonymous terms; substance is the aggregate of atomic lives out of which all forms are built. With this the Treatise on Cosmic Fire largely dealt. [106] This is both an occult and a scientific truism. Substance is, however, a soul concept, and is only truly known to the soul. Therefore, after the fourth initiation, when the work of the soul is accomplished and the soul body fades out of the picture, only the quality which it has imparted in substance is left as its contribution—individual, group or planetary—to the sumtotal of manifestation. All that remains is a point of light. This point is conscious, immutable and aware of the two extremes of the divine expression: the sense of individual identity and the sense of universality. These are fused and blended in the ONE. Of this ONE the divine Hermaphrodite is the concrete symbol—the union in one of the pairs of opposites, negative and positive, male and female. In the state of being which we call the monadic, no difference is recognised between these two because (if I can bring such ideas down to the level of the intelligence of the aspirant) it is realised that there is no identity apart from universality and no appreciation of the universal apart from the individual realisation, and this realisation of identification with both the part and the whole finds its point of tension in the will-to-be, which is qualified by the will-to-good and developed (from the consciousness angle) by the will-to-know. These are in truth three aspects of the divine will which exists in its perfection in the solar Logos and finds a medium of expression through the planetary Logos. This will is therefore working out in seven ways, via the living qualities of the seven planetary Logoi Who express Themselves through the seven sacred planets; They are preoccupied with the endeavour of bringing all the forms of life within the orbit of Their influence up to the same measure of recorded recognition and of registered existence. It will be obvious to you, consequently, that on each of the seven sacred planets one aspect of the divine Will will be dominant.
Không gian và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa; chất liệu là tổng thể các sự sống nguyên tử từ đó mọi hình tướng được xây dựng. Điều này Luận về Lửa Vũ Trụ đã bàn đến phần lớn. [106] Đây vừa là một chân lý huyền bí vừa là một chân lý khoa học. Tuy nhiên, chất liệu là một khái niệm của linh hồn, và chỉ linh hồn mới thật sự biết nó. Vì vậy, sau lần điểm đạo thứ tư, khi công việc của linh hồn đã hoàn tất và thể linh hồn mờ dần khỏi bức tranh, chỉ còn lại phẩm tính mà nó đã truyền vào chất liệu như sự đóng góp của nó—cá nhân, nhóm hay hành tinh—cho tổng thể của sự biểu hiện. Tất cả những gì còn lại là một điểm ánh sáng. Điểm này có ý thức, bất biến và nhận biết hai cực của biểu hiện thiêng liêng: cảm thức về bản sắc cá nhân và cảm thức về tính phổ quát. Hai điều này được dung hợp và hòa trộn trong ĐẤNG DUY NHẤT. Biểu tượng cụ thể của ĐẤNG DUY NHẤT này là Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng—sự hợp nhất trong một của các cặp đối cực, âm và dương, nam và nữ. Trong trạng thái tồn tại mà chúng ta gọi là chân thần, không có sự khác biệt nào được nhận ra giữa hai điều này bởi vì (nếu tôi có thể hạ những ý tưởng như thế xuống mức trí tuệ của người chí nguyện) người ta nhận ra rằng không có bản sắc nào tách rời khỏi tính phổ quát và không có sự đánh giá nào về cái phổ quát tách rời khỏi sự chứng nghiệm cá nhân, và sự chứng nghiệm đồng hoá với cả phần lẫn toàn thể này tìm thấy điểm tập trung nhất tâm của nó trong ý chí-tồn-tại, được phẩm định bởi ý chí-hướng thiện và được phát triển (từ góc độ tâm thức) bởi ý chí-hiểu biết. Thực ra đây là ba phương diện của ý chí thiêng liêng vốn tồn tại trong sự hoàn hảo của nó nơi Thái dương Thượng đế và tìm thấy một trung gian biểu lộ qua Hành Tinh Thượng đế. Vì vậy ý chí này đang vận hành theo bảy cách, qua các phẩm tính sống động của bảy Hành Tinh Thượng đế, Các Ngài tự biểu lộ qua bảy hành tinh thiêng liêng; Các Ngài bận tâm với nỗ lực đưa mọi hình tướng sự sống trong quỹ đạo ảnh hưởng của Các Ngài lên cùng một mức độ nhận biết được ghi nhận và sự tồn tại được đăng ký. Do đó, hiển nhiên với bạn rằng trên mỗi một trong bảy hành tinh thiêng liêng, một phương diện của Ý Chí thiêng liêng sẽ chiếm ưu thế.
This is the significance of Space—the field wherein states of Being are brought to the stage of recognition. When that stage has been reached and the Knower, the Soul, is fully aware and fully conscious, then there enters [107] in a new factor which also affects space—though in a different way—but which is related to the monadic Life. That factor is Time. Time is related to the will aspect and is dependent upon the dynamic life, self-directed, which produces persistence and which demonstrates persistence in that dynamic focus of intention by periodic or cyclic appearance.
Đây là thâm nghĩa của Không Gian—cánh đồng trong đó các trạng thái Bản Thể được đưa đến giai đoạn được nhận biết. Khi giai đoạn đó đã đạt được và Thức giả, Linh hồn, hoàn toàn nhận biết và hoàn toàn hữu thức, thì [107] một yếu tố mới cũng đi vào, yếu tố này cũng tác động đến không gian—dù theo một cách khác—nhưng lại liên hệ với Sự sống chân thần. Yếu tố đó là Thời Gian. Thời Gian liên hệ với phương diện ý chí và tùy thuộc vào sự sống năng động, tự định hướng, vốn tạo ra sự dai dẳng và chứng minh sự dai dẳng trong tiêu điểm năng động của ý định ấy bằng sự xuất hiện có chu kỳ hay tuần hoàn.
From the angle of the Will or the Father, these appearances in time and through space are so small a part of the experience of the living Entity Whose life is lived on planes other than the physical, emotional or mental, that they are regarded as no life. To understand this, I would remind you again that we must seek to understand the sum total in the light of the part, the Macrocosm in the light of the Microcosm. That is no easy task and is necessarily most limited.
Từ góc độ của Ý Chí hay Cha, những xuất hiện này trong thời gian và qua không gian là một phần quá nhỏ của kinh nghiệm của Thực Thể sống mà sự sống của Ngài được sống trên những cõi khác ngoài cõi hồng trần, cảm xúc hay trí tuệ, đến nỗi chúng được xem như không phải là sự sống. Để hiểu điều này, tôi xin nhắc lại với bạn rằng chúng ta phải tìm cách hiểu tổng thể dưới ánh sáng của phần, Đại thiên địa dưới ánh sáng của Tiểu thiên địa. Đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng và tất yếu là rất giới hạn.
The disciple knows or is learning to know that he is not this or that, but Life Itself. He is not the physical body or its emotional nature; he is not, in the last analysis (a most occult phrase) the mind or that by which he knows. He is learning that that too must be transcended and superseded by intelligent love (only truly possible after the mind has been developed), and he begins to realise himself as the soul. Then, later, comes the awful “moment in time” when, pendant in space, he discovers that he is not the soul. What then is he? A point of divine dynamic will, focussed in the soul and arriving at awareness of Being through the use of form. He is Will, the ruler of time and the organiser, in time, of space. This he does, but ever with the reservation that time and space are the “divine playthings” and can be used or not at will.
Đệ tử biết hoặc đang học để biết rằng y không phải cái này hay cái kia, mà là chính Sự sống. Y không phải thể xác hay bản chất cảm xúc của nó; y không phải, trong phân tích cuối cùng (một cụm từ rất huyền bí), là trí tuệ hay điều nhờ đó y biết. Y đang học rằng điều đó cũng phải được siêu vượt và thay thế bởi bác ái thông minh (chỉ thật sự có thể sau khi trí tuệ đã được phát triển), và y bắt đầu chứng nghiệm mình là linh hồn. Rồi sau đó đến “khoảnh khắc trong thời gian” đáng sợ khi, treo lơ lửng trong không gian, y khám phá rằng y không phải là linh hồn. Vậy thì y là gì? Một điểm của ý chí năng động thiêng liêng, được tập trung trong linh hồn và đi đến nhận biết Bản Thể qua việc sử dụng hình tướng. Y là Ý Chí, kẻ cai quản thời gian và là người tổ chức, trong thời gian, của không gian. Y làm điều này, nhưng luôn luôn với sự dè dặt rằng thời gian và không gian là “những đồ chơi thiêng liêng” và có thể được dùng hay không dùng tùy ý.
We could paraphrase the last two sentences of this fourth rule as follows: The evocation of the will involves identity with the larger purpose. The little will of the little lives must be merged in the larger will of the whole. Individual purpose must be identified with group purpose, which is as much of the purpose of the Whole or the One Life as the little life can grasp at any given point in time [108] and space. It is in this sense, esoterically understood, that time is an event—which philosophy now points out, groping towards an expression of the initiate consciousness.
Chúng ta có thể diễn giải hai câu cuối của quy luật thứ tư này như sau: Sự gợi lên ý chí bao hàm sự đồng nhất với mục đích lớn hơn. Ý chí nhỏ bé của các sự sống nhỏ bé phải được hòa nhập vào ý chí lớn hơn của toàn thể. Mục đích cá nhân phải được đồng hoá với mục đích nhóm, vốn là phần mục đích của Toàn Thể hay của Sự Sống Duy Nhất mà sự sống nhỏ bé có thể nắm bắt ở bất kỳ điểm nào trong thời gian [108] và không gian. Chính theo nghĩa này, được hiểu một cách huyền bí, mà thời gian là một biến cố—điều mà triết học hiện nay đang chỉ ra, lần mò tiến tới một sự biểu đạt của tâm thức điểm đạo đồ.
In the long run, literally when the path of evolution is trodden to its end, what remains will be the divine purpose and the all-enveloping Life as it materialises the plan in time and space. This is the result of the turning of the greater Wheel of life, causing all the lesser wheels—in time and space—also to turn. In the meantime, the human being is first of all driven by desire, then by aspiration towards some visioned goal, then by his selfish will, which reveals to him the nature of the will: persistent application to some purpose, seen as desirable and to which every power is bent. Having exhausted all tangible goals, the inner life forces the man on towards the intangible, and the quality of his will begins to change. He discovers a larger will than his own and begins slowly to identify himself with it, proceeding stage by stage from one realised purpose to another higher one, each step removing him further from his own so-called will and bringing him nearer to an appreciation of the significance of the divine will or purpose.
Về lâu dài, theo nghĩa đen khi con đường tiến hoá được đi đến tận cùng, điều còn lại sẽ là thiên ý và Sự sống bao trùm tất cả khi nó hiện hình thiên cơ trong thời gian và không gian. Đây là kết quả của sự quay của Bánh Xe lớn hơn của sự sống, khiến mọi bánh xe nhỏ hơn—trong thời gian và không gian—cũng quay theo. Trong khi đó, con người trước hết bị thúc đẩy bởi dục vọng, rồi bởi khát vọng hướng đến một mục tiêu được linh thị, rồi bởi ý chí ích kỷ của mình, điều này mặc khải cho y bản chất của ý chí: sự áp dụng bền bỉ vào một mục đích nào đó, được thấy là đáng mong muốn và mọi quyền năng đều được dồn vào đó. Sau khi đã làm cạn kiệt mọi mục tiêu hữu hình, đời sống nội tâm thúc đẩy con người tiến đến cái vô hình, và phẩm tính của ý chí y bắt đầu thay đổi. Y khám phá một ý chí lớn hơn ý chí của mình và bắt đầu chậm rãi đồng hoá mình với nó, tiến từng giai đoạn từ mục đích đã chứng nghiệm này sang mục đích cao hơn khác, mỗi bước đưa y xa hơn khỏi cái gọi là ý chí riêng của mình và đưa y đến gần hơn với sự đánh giá về thâm nghĩa của ý chí hay mục đích thiêng liêng.
It might be stated, in an effort to clarify the method whereby this is done, that by the carrying out of the plan the disciple learns the nature of the purpose, but that the purpose itself can only be grasped by one who is developing monadic consciousness. Monadic consciousness is not consciousness as human beings understand it, but is that state of apprehension which is not consciousness or realisation, as the mystic feels it, or identification, as the occultist terms it, but something that appears when all of these three are appreciated and registered in a moment of time within the orbit of space.
Có thể nói, trong nỗ lực làm sáng tỏ phương pháp nhờ đó điều này được thực hiện, rằng bằng việc thực hiện thiên cơ, đệ tử học được bản chất của mục đích, nhưng bản thân mục đích chỉ có thể được nắm bắt bởi người đang phát triển tâm thức chân thần. Tâm thức chân thần không phải là tâm thức theo cách con người hiểu, mà là trạng thái lĩnh hội không phải là tâm thức hay chứng nghiệm như nhà thần bí cảm nhận, hay sự đồng hoá như nhà huyền bí học gọi, mà là một điều gì đó xuất hiện khi cả ba điều này được đánh giá và ghi nhận trong một khoảnh khắc thời gian bên trong quỹ đạo của không gian.
Now, having said this, I would ask you if you are much the wiser, or of what profit it is for me to write these words if you understand them not? For two reasons I write. One of my functions and duties (as a Master of the Wisdom) is to anchor ideas in the mind of man and carry down into the realm of words certain emerging concepts so that they may [109] begin to influence the higher level of thinkers. These latter are responsible for precipitating the ideas deep into the human consciousness. Secondly, I write for the generation which will come into active thought expression at the end of this century; they will inaugurate the framework, structure and fabric of the New Age which will start with certain premises which today are the dream of the more exalted dreamers and which will develop the civilisation of the Aquarian Age. This coming age will be as predominantly the age of group interplay, group idealism and group consciousness as the Piscean Age has been one of personality unfoldment and emphasis, personality focus and personality consciousness. Selfishness, as we now understand it, will gradually disappear, for the will of the individual will voluntarily be blended into the group will. It will be obvious to you, therefore, that this could well bring about a still more dangerous situation, because a group would be a combination of focussed energies, and unless these energies are directed towards the fulfillment of the Plan (which coordinates and makes possible the divine purpose) we shall have the gradual consolidation of the forces of evil or of materialism on Earth. I am not speaking lightly, but am endeavouring to show the necessity for the steadfast consecration of the spiritually minded to the task of developing the will-to-good on Earth and the absolute importance of fostering goodwill among the masses. If this is not done after the terrific global housecleaning that has gone on, the last state will be worse than the first. We shall have individual selfishness superseded by group selfishness, which will be consequently still more potent in its evil dedication, focus and results. The little wheels can continue to revolve in time and space, hindering the onward progress of the great Wheel which—again in time and space—is the wheel of humanity. The Heavenly Man and the human being upon that Wheel are developing divine qualities and attributes.
Giờ đây, sau khi đã nói điều này, tôi muốn hỏi bạn liệu bạn có sáng tỏ hơn bao nhiêu không, hay việc tôi viết những lời này có ích gì nếu bạn không hiểu chúng? Tôi viết vì hai lý do. Một trong những chức năng và bổn phận của tôi (với tư cách một Chân sư Minh triết) là neo các ý tưởng vào trí tuệ con người và mang xuống lĩnh vực ngôn từ một số khái niệm đang xuất hiện để chúng có thể [109] bắt đầu ảnh hưởng đến cấp độ cao hơn của những người suy tư. Chính những người sau này chịu trách nhiệm ngưng tụ các ý tưởng ấy sâu vào tâm thức nhân loại. Thứ hai, tôi viết cho thế hệ sẽ đi vào biểu hiện tư tưởng tích cực vào cuối thế kỷ này; họ sẽ khai mở khung sườn, cấu trúc và kết cấu của Kỷ Nguyên Mới, vốn sẽ bắt đầu với một số tiền đề mà ngày nay là giấc mơ của những người mơ mộng cao cả hơn và sẽ phát triển nền văn minh của Kỷ Nguyên Bảo Bình. Kỷ nguyên sắp đến này sẽ nổi bật là kỷ nguyên của sự tương tác nhóm, lý tưởng nhóm và tâm thức nhóm cũng như Kỷ Nguyên Song Ngư đã là kỷ nguyên của sự khai mở phàm ngã và sự nhấn mạnh vào phàm ngã, tiêu điểm phàm ngã và tâm thức phàm ngã. Tính ích kỷ, như chúng ta hiện nay hiểu, sẽ dần dần biến mất, vì ý chí của cá nhân sẽ tự nguyện được hòa nhập vào ý chí nhóm. Do đó, hiển nhiên với bạn rằng điều này rất có thể sẽ mang lại một tình huống còn nguy hiểm hơn, bởi vì một nhóm sẽ là một sự kết hợp của các năng lượng được tập trung, và trừ phi các năng lượng này được hướng đến việc hoàn thành Thiên Cơ (điều phối hợp và làm cho thiên ý trở nên khả hữu), chúng ta sẽ có sự củng cố dần dần các lực lượng của điều ác hay của chủ nghĩa duy vật trên Trái Đất. Tôi không nói một cách hời hợt, mà đang cố gắng chỉ ra sự cần thiết của sự thánh hiến kiên định của những người có tâm trí tinh thần đối với nhiệm vụ phát triển ý chí-hướng thiện trên Trái Đất và tầm quan trọng tuyệt đối của việc nuôi dưỡng thiện chí giữa quần chúng. Nếu điều này không được thực hiện sau cuộc tổng tẩy trần toàn cầu khủng khiếp đã diễn ra, thì trạng thái sau cùng sẽ tệ hơn trạng thái đầu tiên. Chúng ta sẽ có tính ích kỷ cá nhân được thay thế bằng tính ích kỷ nhóm, và vì thế nó sẽ còn mạnh hơn trong sự tận hiến xấu ác, tiêu điểm và kết quả của nó. Những bánh xe nhỏ bé có thể tiếp tục quay trong thời gian và không gian, cản trở sự tiến lên của Bánh Xe lớn mà—một lần nữa trong thời gian và không gian—là bánh xe của nhân loại. Đấng Thiên Nhân và con người trên Bánh Xe ấy đang phát triển các phẩm tính và thuộc tính thiêng liêng.
The will aspect of divinity can find expression only through humanity, for the fourth kingdom in nature is intended to be the agent of the will to the three subhuman [110] kingdoms. It was therefore essential that the spirit of inclusiveness and the tendency to spiritual identification should be developed in humanity as a step preparatory to the development of response to divine purpose. It is absolutely essential that the will-to-good be unfolded by the disciples of the world so that goodwill can be expressed by the rank and file of mankind. The will-to-good of the world knowers is the magnetic seed of the future. The will-to-good is the Father aspect, whilst goodwill is the Mother aspect, and from the relation of these two the new civilisation, based on sound spiritual (but utterly different) lines, can be founded. I would commend this thought to your consciousness, for it means that two aspects of spiritual work must be nurtured in the immediate future, for on them the more distant hope of happiness and of world peace depends. The New Group of World Servers must be reached and the will-to-good developed in them, and the masses simultaneously must be reached with the message of goodwill. The will-to-good is dynamic, powerful and effective; it is based on realisation of the plan and on reaction to the purpose as sensed by those who are either initiate, and consciously in touch with Shamballa, or disciples who are likewise a part of the Hierarchy but are not yet able to contact the central Purpose or Life. Not yet having taken the third initiation, the monadic vibration is to them largely unknown. It would be just as dangerous for them to be able to reach Shamballa (prior to the third initiation when all personality tendencies are obliterated) as it would be to teach the masses of men today techniques of will which would render their still selfish will effective. The main difficulty would be that the disciples would destroy themselves, whilst the ordinary man would damage himself.
Phương diện ý chí của thiên tính chỉ có thể tìm được biểu hiện qua nhân loại, vì giới thứ tư trong thiên nhiên được dự định là tác nhân của ý chí đối với ba giới dưới nhân loại [110]. Vì vậy, điều thiết yếu là tinh thần bao gồm và khuynh hướng đồng hoá tinh thần phải được phát triển trong nhân loại như một bước chuẩn bị cho sự phát triển của đáp ứng đối với thiên ý. Điều tuyệt đối thiết yếu là ý chí-hướng thiện phải được các đệ tử của thế giới khai mở để thiện chí có thể được biểu lộ bởi hàng ngũ đông đảo của nhân loại. Ý chí-hướng thiện của các thức giả thế gian là hạt giống từ tính của tương lai. Ý chí-hướng thiện là phương diện Cha, trong khi thiện chí là phương diện Mẹ, và từ mối liên hệ của hai điều này, nền văn minh mới, dựa trên những đường lối tinh thần đúng đắn (nhưng hoàn toàn khác biệt), có thể được thiết lập. Tôi xin phó thác tư tưởng này cho tâm thức của bạn, vì nó có nghĩa là hai phương diện của công việc tinh thần phải được nuôi dưỡng trong tương lai gần, bởi vì trên chúng phụ thuộc niềm hy vọng xa hơn về hạnh phúc và hòa bình thế giới. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải được tiếp cận và ý chí-hướng thiện phải được phát triển nơi họ, đồng thời quần chúng phải được tiếp cận với thông điệp về thiện chí. Ý chí-hướng thiện là năng động, mạnh mẽ và hữu hiệu; nó dựa trên sự chứng nghiệm thiên cơ và trên phản ứng đối với mục đích như được cảm nhận bởi những ai hoặc là điểm đạo đồ và hữu thức tiếp xúc với Shamballa, hoặc là các đệ tử cũng là một phần của Thánh đoàn nhưng chưa thể tiếp xúc với Mục Đích hay Sự Sống trung tâm. Vì chưa nhận lần điểm đạo thứ ba, rung động chân thần phần lớn vẫn chưa được họ biết đến. Việc họ có thể tiếp cận Shamballa (trước lần điểm đạo thứ ba khi mọi khuynh hướng phàm ngã bị xóa bỏ) sẽ nguy hiểm chẳng khác nào việc dạy cho quần chúng ngày nay những kỹ thuật về ý chí khiến ý chí còn ích kỷ của họ trở nên hữu hiệu. Khó khăn chính sẽ là các đệ tử sẽ tự hủy hoại mình, trong khi người bình thường sẽ làm tổn hại chính mình.
This exegesis of Rule IV is necessarily brief because it is of such deep significance that it requires careful study, sentence by sentence, and even so it is very largely beyond the grasp of the majority of readers. It will, however, be useful for disciples to reflect upon the various meanings (there are several) and upon the esoteric implications.
Bản chú giải này về Quy luật IV tất yếu phải ngắn gọn vì nó có ý nghĩa sâu xa đến mức đòi hỏi phải được nghiên cứu cẩn trọng, từng câu một, và ngay cả như vậy nó vẫn phần lớn vượt ngoài tầm nắm bắt của đa số độc giả. Tuy nhiên, nó sẽ hữu ích cho các đệ tử khi suy ngẫm về các ý nghĩa khác nhau (có nhiều ý nghĩa) và về các hàm ý huyền bí.
RULE FIVE — QUY LUẬT NĂM
[111]
[111]
Rule V, which we are now purposing to consider, is one of great interest and practicality. I would remind you that one of the new things which the coming era of spiritual expansion will see is the inauguration of something entirely new: Group Initiation. Hitherto, one by one, units of the human family have found their way through the Door of Initiation. If this system is to persist, and considering the vast numbers of souls in and out of incarnation who must eventually achieve the goal—two-thirds of the total in this world cycle—even the greater cycles which include many world cycles would prove too short a time. The space-time schedule of the planetary Logos Himself would be upset, for He has such a schedule for the cycle of His present incarnation. There is a term set for the appearance of His body of manifestation, our planet, just as there is for the human body. He therefore has to work out His plans within a certain time limit, and this factor conditions the experience of all the lives that move within the radius of His expression, including the human kingdom.
Quy luật V, mà giờ đây chúng ta dự định xem xét, là một quy luật rất đáng quan tâm và thiết thực. Tôi muốn nhắc bạn rằng một trong những điều mới mà kỷ nguyên sắp đến của sự mở rộng tinh thần sẽ chứng kiến là sự khai mở một điều hoàn toàn mới: Điểm Đạo Nhóm. Cho đến nay, từng đơn vị một của gia đình nhân loại đã tìm đường đi qua Cánh Cửa Điểm Đạo. Nếu hệ thống này cứ tiếp tục, và xét đến số lượng khổng lồ các linh hồn trong và ngoài nhập thể cuối cùng phải đạt đến mục tiêu—hai phần ba tổng số trong chu kỳ thế giới này—thì ngay cả những chu kỳ lớn hơn bao gồm nhiều chu kỳ thế giới cũng sẽ tỏ ra là quá ngắn. Lịch trình không-thời gian của chính Hành Tinh Thượng đế sẽ bị đảo lộn, vì Ngài có một lịch trình như thế cho chu kỳ nhập thể hiện tại của Ngài. Có một thời hạn được ấn định cho sự xuất hiện của thể biểu hiện của Ngài, hành tinh của chúng ta, cũng như có một thời hạn cho thể người. Vì vậy Ngài phải thực hiện các kế hoạch của Ngài trong một giới hạn thời gian nhất định, và yếu tố này tác động lên kinh nghiệm của mọi sự sống vận động trong bán kính biểu hiện của Ngài, kể cả giới nhân loại.
It must be remembered also that as humanity develops and more and more people begin to function as souls, the nature of the soul (which is relationship) begins to have an effect; men become larger in their outlook and their vision. The outlook of the separated self vanishes, and group relationship and group interest supersede that intense personal and interior relationship and interest which have made evolving man what he is: first of all an integrated personality, and then a disciple—a candidate for initiation. As more and more disciples come into group realisation it will become increasingly possible for the Hierarchy to admit such disciples in group formation. That is one reason necessitating the re-establishing of the Ancient Mysteries on Earth. That group relation has to be demonstrated in the three worlds and expressed by disciples in their group life upon the physical plane. Hence the new experiment being undertaken by the Hierarchy of externalising Their Ashrams. This process [112] involves immense difficulty, owing to the astralism, the ambitions and the growing personality influence of so many people. Many groups, under self-seeking leaders, will react to this experiment and will proclaim themselves as Masters with Ashrams and as occupied with training people for initiation. Signs of this can already be seen.
Cũng phải nhớ rằng khi nhân loại phát triển và ngày càng nhiều người bắt đầu hoạt động như các linh hồn, bản chất của linh hồn (vốn là mối liên hệ) bắt đầu có hiệu quả; con người trở nên rộng lớn hơn trong quan điểm và tầm nhìn của mình. Quan điểm của bản ngã tách biệt biến mất, và mối liên hệ nhóm cùng lợi ích nhóm thay thế cho mối liên hệ và lợi ích mãnh liệt mang tính cá nhân và nội tại vốn đã làm cho con người đang tiến hoá trở thành như hiện nay: trước hết là một phàm ngã tích hợp, rồi là một đệ tử—một ứng viên cho điểm đạo. Khi ngày càng nhiều đệ tử đi vào chứng nghiệm nhóm, Thánh đoàn sẽ ngày càng có thể thừa nhận những đệ tử như thế trong đội hình nhóm. Đó là một lý do khiến việc tái lập các Cổ Huyền Nhiệm trên Trái Đất trở nên cần thiết. Mối liên hệ nhóm ấy phải được chứng minh trong ba cõi và được các đệ tử biểu lộ trong đời sống nhóm của họ trên cõi hồng trần. Do đó có thí nghiệm mới mà Thánh đoàn đang tiến hành là ngoại hiện các ashram của Các Ngài. Tiến trình này [112] bao hàm những khó khăn to lớn, do tính cảm dục, các tham vọng và ảnh hưởng phàm ngã ngày càng tăng của rất nhiều người. Nhiều nhóm, dưới sự lãnh đạo của những người vị kỷ, sẽ phản ứng với thí nghiệm này và sẽ tự xưng là các Chân sư với các ashram, và đang bận rộn huấn luyện con người cho điểm đạo. Những dấu hiệu của điều này đã có thể thấy được.
The Hierarchy has been confronted with definite difficulty in this matter, for on the one hand the Masters were faced with the glamour-making tendency and astralism of the majority of people and, secondly, with the rapid advance of the human consciousness into the realm of group relationship, group life, group reactions and group activity. This has brought about the intention of the Hierarchy to train such ready minds and hearts for a united moving forward through the Door of Light onto the Lighted Way. That externalisation has not yet taken place. Tentative experiments are being made with some success and some discouragement.
Thánh đoàn đã phải đối diện với khó khăn rõ rệt trong vấn đề này, bởi vì một mặt các Chân sư phải đối diện với khuynh hướng tạo ảo cảm và tính cảm dục của đa số mọi người, và mặt khác là sự tiến bộ nhanh chóng của tâm thức nhân loại vào lĩnh vực của mối liên hệ nhóm, đời sống nhóm, phản ứng nhóm và hoạt động nhóm. Điều này đã dẫn đến ý định của Thánh đoàn là huấn luyện những trí tuệ và trái tim sẵn sàng như thế cho một sự cùng nhau tiến bước qua Cánh Cửa Ánh Sáng lên Con Đường được Soi Sáng. Sự ngoại hiện đó vẫn chưa diễn ra. Những thí nghiệm thăm dò đang được thực hiện với một số thành công và một số thất vọng.
Two things have therefore been decided upon by the Masters as They face the future of humanity and prepare to take the required steps to meet man’s advancing aspiration. I have chosen these two words with care. These two requirements have been demanded of the Hierarchy by Shamballa in order to safeguard the Mysteries and prevent a too premature precipitation of the hierarchical life upon the Earth. Both these requirements are expressed in this fifth Rule.
Vì vậy, hai điều đã được các Chân sư quyết định khi Các Ngài đối diện với tương lai của nhân loại và chuẩn bị thực hiện những bước cần thiết để đáp ứng khát vọng đang tiến lên của con người. Tôi đã chọn hai từ này một cách cẩn trọng. Hai yêu cầu này đã được Shamballa đòi hỏi nơi Thánh đoàn để bảo vệ các Huyền Nhiệm và ngăn ngừa sự ngưng tụ quá sớm của đời sống Thánh đoàn trên Trái Đất. Cả hai yêu cầu này đều được biểu lộ trong quy luật thứ năm này.
Rule V.
Quy luật V.
In unison let the group perceive the Triad shining forth, dimming the light of the soul and blotting out the light of form. The macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought, “My soul and thine.”
Trong hợp nhất, hãy để nhóm nhận biết Tam nguyên tinh thần đang chiếu rạng, làm mờ ánh sáng của linh hồn và xóa đi ánh sáng của hình tướng. Toàn Thể Đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để nhóm nhận biết Toàn Thể đó và rồi không còn dùng tư tưởng “Linh hồn của tôi và của bạn.”
The first demand made by Shamballa is that the groups being prepared for initiation should consist only of those who are in process of building the antahkarana, the bridge between the Triad and the personality; the second demand is that those being prepared should show some signs of the sense of synthesis.
Yêu cầu đầu tiên do Shamballa đưa ra là các nhóm đang được chuẩn bị cho điểm đạo chỉ nên gồm những người đang trong tiến trình xây dựng antahkarana, cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã; yêu cầu thứ hai là những người đang được chuẩn bị phải cho thấy một vài dấu hiệu của ý thức tổng hợp.
[113]
[113]
You will note, therefore, some of the factors that have controlled the presentation of the truth which I have sought to give, down the years. The teaching on the Antahkarana (briefly hinted at by H.P.B.) has been expanded by me in the book, Education in the New Age and in this fifth volume of A Treatise on the Seven Rays (Part II), and has already been given to a number of senior aspirants in the hope that they would profit thereby; the need for synthesis has also been emphasised by me, and is closely related to the will-aspect, the first divine aspect. In the past, during the cycle of mysticism through which all aspirants very properly pass, they were taught to “see the vision”—a vision of the goal, of the beauty to be sought, of the loved one to be known, of liberation to be achieved, of spiritual satisfaction and an opened door to greater wonders. In the occult age which has now definitely dawned, the neophyte will be taught to see the picture whole, to think in the larger terms, to emerge out of the normal separative consciousness into the broad state of awareness that “sees no difference.” The goal, or rather the result of the mystic and occult way, is the merging of the vertical way of life with the horizontal way of service, and it is this merging which Shamballa demands should condition the attempt now in process of training those who will together seek initiation, will together pass through the Portal on to the Way, and who can together be presented to the One Initiator as a “unit of Light.” This sense of synthesis (which must be increasingly demonstrated as each initiation is taken in group formation) is possible only to those who have bridged the gap between the concrete lower mind and the higher mind or—to word it technically and in the language of academic occult science—between the mental unit and the manasic permanent atom.
Do đó, bạn sẽ lưu ý một số yếu tố đã chi phối việc trình bày chân lý mà tôi đã cố gắng trao truyền qua nhiều năm. Giáo huấn về Antahkarana (được H.P.B. gợi ý ngắn gọn) đã được tôi khai triển trong cuốn Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới và trong tập thứ năm này của Luận về Bảy Cung (Phần II), và đã được trao cho một số người chí nguyện cao cấp với hy vọng rằng họ sẽ nhờ đó mà được lợi ích; nhu cầu về tổng hợp cũng đã được tôi nhấn mạnh, và nó liên hệ chặt chẽ với phương diện ý chí—phương diện thiêng liêng thứ nhất. Trong quá khứ, trong chu kỳ thần bí học mà mọi người chí nguyện đều rất đúng đắn phải đi qua, họ được dạy “hãy thấy linh ảnh”—một linh ảnh về mục tiêu, về vẻ đẹp cần tìm kiếm, về đấng được yêu thương cần được biết đến, về sự giải thoát cần đạt được, về sự thỏa mãn tinh thần và một cánh cửa mở ra những điều kỳ diệu lớn hơn. Trong kỷ nguyên huyền bí học hiện nay đã thực sự bắt đầu, người sơ cơ sẽ được dạy phải thấy toàn bộ bức tranh, phải suy nghĩ theo những thuật ngữ rộng lớn hơn, phải thoát ra khỏi tâm thức phân ly thông thường để đi vào trạng thái nhận biết bao quát “không thấy có khác biệt.” Mục tiêu, hay đúng hơn là kết quả của con đường thần bí và huyền bí, là sự hòa nhập của con đường thẳng đứng của đời sống với con đường nằm ngang của phụng sự, và chính sự hòa nhập này mà Shamballa đòi hỏi phải tác động lên nỗ lực hiện đang được tiến hành nhằm huấn luyện những người sẽ cùng nhau tìm kiếm điểm đạo, sẽ cùng nhau đi qua Cổng vào Con Đường, và có thể cùng nhau được trình diện trước Đấng Điểm đạo Duy Nhất như một “đơn vị Ánh Sáng.” Ý thức tổng hợp này (phải được chứng minh ngày càng nhiều khi mỗi lần điểm đạo được nhận trong đội hình nhóm) chỉ có thể có nơi những ai đã bắt cầu qua khoảng cách giữa hạ trí cụ thể và thượng trí hay—nói theo ngôn ngữ kỹ thuật và ngôn ngữ của khoa học huyền bí hàn lâm—giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas.
The goal of the Probationary Path is made beautifully clear in the fifth Rule as given earlier in Initiation, Human and Solar. It says:
Mục tiêu của Con Đường Dự Bị được làm sáng tỏ một cách đẹp đẽ trong Quy luật thứ năm như đã được nêu trước đây trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Nó nói:
Let the applicant see to it that the solar Angel dims the light of the lunar angels, remaining the sole luminary in the microcosmic sky.
Hãy để người thỉnh cầu bảo đảm rằng Thái dương Thiên Thần làm mờ ánh sáng của các thái âm thiên thần, vẫn là nguồn sáng duy nhất trong bầu trời tiểu thiên địa.
[114]
[114]
The soul must be seen by the probationer as the sun of the life. All lesser lights must be put out by the light of the central luminary; all little fires must be obliterated by solar fire. The solar Angel controls the personality life and its forces. This, in the New Age, is the goal of the probationary path and of the applicant for discipleship. Hitherto it has been the goal of all the teaching given anent the Path of Discipleship, but the higher rate of intelligence of the modern applicant warrants a change, and as time goes on the present requirements for disciples, up to and including the second initiation, will be the requirements for the Probationary Path.
Linh hồn phải được người dự bị thấy như mặt trời của sự sống. Mọi ánh sáng nhỏ hơn phải bị dập tắt bởi ánh sáng của nguồn sáng trung tâm; mọi ngọn lửa nhỏ phải bị xóa bỏ bởi Lửa Thái dương. Thái dương Thiên Thần kiểm soát đời sống phàm ngã và các mãnh lực của nó. Trong Kỷ Nguyên Mới, đây là mục tiêu của con đường dự bị và của người thỉnh cầu địa vị đệ tử. Cho đến nay, đó đã là mục tiêu của mọi giáo huấn được trao liên quan đến Con Đường Đệ Tử, nhưng mức độ trí tuệ cao hơn của người thỉnh cầu hiện đại đòi hỏi một sự thay đổi, và theo thời gian, các yêu cầu hiện nay đối với đệ tử, cho đến và kể cả lần điểm đạo thứ hai, sẽ là các yêu cầu của Con Đường Dự Bị.
This will necessitate a clearer understanding of the Path of Discipleship. On that path, the major teaching given in the future will concern:
Điều này sẽ đòi hỏi một sự thấu hiểu rõ ràng hơn về Con Đường Đệ Tử. Trên con đường đó, giáo huấn chính được trao trong tương lai sẽ liên quan đến:
1. The building of the rainbow bridge, the antahkarana.
1. Việc xây dựng Cây cầu vồng, antahkarana.
2. The nature of the intuition and its development, as it supersedes the mind in its two aspects: concrete and abstract, lower and higher.
2. Bản chất của trực giác và sự phát triển của nó, khi nó thay thế trí tuệ trong hai phương diện của nó: cụ thể và trừu tượng, thấp và cao.
3. The nature of life as the Monad expresses it.
3. Bản chất của sự sống như chân thần biểu lộ nó.
In these three approaches to truth the new revelation lies hid; it will take the place of the teaching upon the soul for the neophytes and disciples of the world, and the emphasis will be laid—for them—on the life aspect and not so much on the love aspect. The reason for this is that more and more people will be living as souls and therefore expressing love, and for them the nature of life and of monadic experience will constitute the normal next revelation—one that is, however, possible only to those who do attempt to live as souls, who cultivate love or the sense of non-separateness, and who are at least dwelling upon the periphery of the hierarchical world. It would therefore be inevitable that—to those so dwelling or treading the Path of Discipleship—the factors which inspire all hierarchical effort would begin to be dimly apparent and that, slowly, these factors would also assume for them the outlines of a dim and distant goal.
Trong ba cách tiếp cận chân lý này, sự mặc khải mới được ẩn giấu; nó sẽ thay thế giáo huấn về linh hồn dành cho những người sơ cơ và các đệ tử của thế gian, và đối với họ, trọng tâm sẽ được đặt vào phương diện sự sống chứ không quá nhiều vào phương diện bác ái. Lý do là ngày càng có nhiều người sẽ sống như những linh hồn và do đó biểu lộ bác ái, và đối với họ, bản chất của sự sống và của kinh nghiệm chân thần sẽ tạo thành sự mặc khải kế tiếp bình thường—tuy nhiên, đó chỉ là điều có thể đối với những ai thực sự cố gắng sống như những linh hồn, vun bồi bác ái hay ý thức về sự không phân ly, và ít nhất đang cư ngụ nơi chu vi của thế giới Thánh đoàn. Vì vậy, điều tất yếu là—đối với những ai đang cư ngụ như thế hoặc đang bước trên Con Đường Đệ Tử—các yếu tố truyền cảm hứng cho mọi nỗ lực của Thánh đoàn sẽ bắt đầu hiện ra một cách mờ nhạt, và rồi dần dần, các yếu tố ấy cũng sẽ mang lấy đối với họ những đường nét của một mục tiêu xa xăm và mơ hồ.
[115]
[115]
The two parts of this rule are consequently expressive of the new demands for disciples—not applicants. This becomes apparent when you study the two rules: one for applicants and one for disciples. The applicant is referred to the microcosm. The Macrocosm is held before the vision of the disciple.
Do đó, hai phần của quy luật này biểu đạt những đòi hỏi mới dành cho các đệ tử—chứ không phải cho những người thỉnh cầu. Điều này trở nên rõ ràng khi bạn nghiên cứu hai quy luật: một dành cho những người thỉnh cầu và một dành cho các đệ tử. Người thỉnh cầu được hướng về Tiểu thiên địa. Đại thiên địa được đặt trước tầm nhìn của đệ tử.
The two demands are expressed in Rule V as follows:
Hai đòi hỏi ấy được diễn đạt trong Quy luật V như sau:
1. In unison let the group receive the Triad shining forth, dimming the light of the soul and blotting out the light of form.
1. Trong hợp nhất, hãy để nhóm tiếp nhận Tam nguyên tinh thần đang chiếu rạng, làm lu mờ ánh sáng của linh hồn và xoá đi ánh sáng của hình tướng.
This is the demand for the building of the antahkarana which relates the disciple in his personality to the Triad.
Đây là đòi hỏi về việc xây dựng antahkarana, nối kết đệ tử trong phàm ngã của y với Tam nguyên tinh thần.
2. The Macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought, “My soul and thine.”
2. Toàn Thể Đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để nhóm nhận biết Toàn Thể ấy và rồi không còn dùng tư tưởng, “Linh hồn của tôi và của bạn.”
This is the demand for a sense of synthesis which is occult vision and not mystic vision. These two demands will be the two basic requirements for the new schools of occultism.
Đây là đòi hỏi về một ý thức tổng hợp, vốn là linh thị huyền bí chứ không phải linh ảnh thần bí. Hai đòi hỏi này sẽ là hai yêu cầu căn bản cho các trường huyền bí học mới.
In view of all the instructions given earlier in this volume, and in view also of the clarity of the statement made above, there is little that it will be necessary for me to say anent this first demand. The word “demand” which has been used perhaps requires explanation. In considering this subject it should be remembered that admittance to Shamballa and a divine expression in life and service of the first great divine aspect, the will aspect, is the goal held before the members of the Hierarchy. They too are on the way of evolution, and Their goal is to pass through the “eye of the needle,” on Their way to the higher evolution. This higher evolution is that which opens up before a Master of the Wisdom. The use of this esoteric term by Christ in The New Testament story gives us a hint as to the nature of the exalted consciousness which He expressed. Faced by the rich young man who possessed so much, Christ indicated that he needed to prepare himself for a great negation and for a step forward. The true significance of this has never [116] been grasped and lies in the fact that the phrase “rich young man” is in reality a technical term which is frequently applied to an initiate of the third degree, just as the words “little ones” or “little child” apply to an initiate of the first or second degree. This rich young man was rich in his range of awareness, rich in his personality equipment, rich in his aspiration and in his recognition; he was rich as the result of age-long experience and evolutionary development. He is told by the Christ that he must now prepare himself for what is called in Rule V “the Triad shining forth”; he must now prepare for the unfoldment of the monadic consciousness and for the fourth initiation. In that initiation, the causal body, the body wherein the soul experiences and reaps the fruit of experience, must be and will be destroyed. This has to take place before the initiate can enter into the Council Chamber of the Most High and express the will-to-good and the will of God in fulfillment of the purposes of God. The will of this particular “rich young man,” initiate though he was, was not yet adequate to the requirements, so he went sadly away; he had to prepare himself for the fourth initiation, the Great Renunciation, the Crucifixion, and thus fit himself to pass through the needle’s eye.
Xét theo mọi huấn thị đã được ban ra trước đó trong tập này, và cũng xét theo sự minh bạch của lời phát biểu nêu trên, thì có rất ít điều tôi cần phải nói thêm liên quan đến đòi hỏi thứ nhất này. Từ “đòi hỏi” đã được dùng ở đây có lẽ cần được giải thích. Khi xem xét chủ đề này, cần nhớ rằng việc được tiếp nhận vào Shamballa và sự biểu lộ thiêng liêng trong đời sống và phụng sự của phương diện thiêng liêng lớn thứ nhất, tức phương diện ý chí, là mục tiêu được đặt trước các thành viên của Thánh đoàn. Các Ngài cũng đang ở trên con đường tiến hoá, và mục tiêu của Các Ngài là đi qua “mắt kim,” trên đường tiến tới sự tiến hoá cao siêu. Sự tiến hoá cao siêu này là điều mở ra trước một Chân sư Minh triết. Việc Đức Christ dùng thuật ngữ huyền bí này trong câu chuyện của Tân Ước cho chúng ta một gợi ý về bản chất của tâm thức siêu việt mà Ngài đã biểu lộ. Đối diện với chàng thanh niên giàu có, người sở hữu quá nhiều, Đức Christ chỉ ra rằng ông cần chuẩn bị cho mình một sự phủ định lớn lao và cho một bước tiến lên phía trước. Ý nghĩa đích thực của điều này chưa bao giờ được [116] nắm bắt, và nằm ở sự kiện rằng cụm từ “chàng thanh niên giàu có” thực ra là một thuật ngữ chuyên môn thường được áp dụng cho một điểm đạo đồ bậc ba, cũng như các từ “những kẻ bé nhỏ” hay “đứa trẻ nhỏ” được áp dụng cho một điểm đạo đồ bậc một hay bậc hai. Chàng thanh niên giàu có này giàu có trong phạm vi nhận biết của ông, giàu có trong trang bị phàm ngã của ông, giàu có trong khát vọng và trong sự nhận thức của ông; ông giàu có do kết quả của kinh nghiệm lâu dài qua nhiều thời đại và sự phát triển tiến hoá. Đức Christ bảo ông rằng giờ đây ông phải chuẩn bị cho điều được gọi trong Quy luật V là “Tam nguyên tinh thần đang chiếu rạng”; giờ đây ông phải chuẩn bị cho sự khai mở của tâm thức chân thần và cho lần điểm đạo thứ tư. Trong lần điểm đạo ấy, thể nguyên nhân, thể trong đó linh hồn kinh nghiệm và gặt hái hoa trái của kinh nghiệm, phải bị và sẽ bị huỷ diệt. Điều này phải diễn ra trước khi điểm đạo đồ có thể bước vào Phòng Hội Đồng của Đấng Tối Cao và biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện cùng Ý Chí của Thượng Đế trong việc hoàn thành các mục đích của Thượng đế. Ý chí của “chàng thanh niên giàu có” đặc biệt này, dù ông là một điểm đạo đồ, vẫn chưa đủ đáp ứng các yêu cầu, nên ông buồn bã bỏ đi; ông phải chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ tư, Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ Vĩ Đại, sự Đóng Đinh, và nhờ đó tự làm cho mình xứng đáng để đi qua mắt kim.
There is a symbolic utterance in the Old Commentary which throws light upon the great opportunities which are found in the critical moments in the life of the soul as it experiences incarnation and becomes enriched thereby:
Có một lời phát biểu biểu tượng trong Cổ Luận soi sáng những cơ hội lớn lao được tìm thấy trong các thời khắc khủng hoảng của đời sống linh hồn khi nó kinh nghiệm sự nhập thể và nhờ đó trở nên phong phú hơn:
“Within the womb of time and circumscribed by space and limited by darkness—though sustained always by warmth—the life evolves. It develops faculty. It becomes in miniature that which it is. It takes on form and knows the divinity of separation. Such is its goal. Reflect. Knowledge will come.
“Trong lòng dạ của thời gian và bị giới hạn bởi không gian và bị bóng tối hạn chế—dù luôn được nâng đỡ bởi hơi ấm—sự sống tiến hoá. Nó phát triển năng lực. Nó trở thành trong tiểu thể điều mà nó vốn là. Nó mang lấy hình tướng và biết thiên tính của sự phân ly. Đó là mục tiêu của nó. Hãy suy ngẫm. Tri thức sẽ đến.
“Beyond the door is greater light and life. It knows itself for what it is. It suffices not unto itself and knows that it is That—part of the Whole, divinely one with others. Reflect. Union will come.
“Bên kia cánh cửa là ánh sáng và sự sống lớn lao hơn. Nó biết chính mình là gì. Nó không còn đủ cho chính nó và biết rằng nó là Cái Đó—một phần của Toàn Thể, thiêng liêng hợp nhất với những kẻ khác. Hãy suy ngẫm. Hợp nhất sẽ đến.
“Before the rampart of the place of God Himself, a [117] Son Of God comes forth. He stands before the needle’s eye and seeks to pass the hindering wall. He is not circumscribed by time or space, but light and life are his. He realises beauty and he knows that That exists. Instead of time and space and all the rich inducements of the form, he knows himself as rich in love, in knowledge, wisdom, insight, and all the panoply of God (as he can grasp it), except one thing. Reflect. Purpose will reveal itself; the Whole will stand revealed and then the soul—loaded with riches and the fruits of labour long—will vanish as the mist and only God, the living One, be left.”
“Trước thành luỹ của nơi chốn của chính Thượng đế, một [117] Con của Thượng đế xuất hiện. Y đứng trước mắt kim và tìm cách vượt qua bức tường ngăn trở. Y không bị giới hạn bởi thời gian hay không gian, nhưng ánh sáng và sự sống là của y. Y chứng nghiệm vẻ đẹp và y biết rằng Cái Đó hiện hữu. Thay vì thời gian và không gian và mọi sự quyến dụ phong phú của hình tướng, y biết mình giàu có trong bác ái, trong tri thức, minh triết, tuệ kiến, và toàn bộ khí giới của Thượng đế (theo mức y có thể nắm bắt), ngoại trừ một điều. Hãy suy ngẫm. Mục đích sẽ tự mặc khải; Toàn Thể sẽ hiển lộ và rồi linh hồn—chất đầy của cải và hoa trái của lao động lâu dài—sẽ tan biến như sương mù và chỉ còn lại Thượng đế, Đấng hằng sống.”
There is still another set of phrases dealing with that through which the perfected Sons of God in Their high place must pass when Their work is done on Earth and a greater glory reveals itself ahead. But this I give not. I give only three symbols, which are:
Còn có một loạt cụm từ khác nói về điều mà các Con của Thượng đế đã hoàn thiện ở địa vị cao của Các Ngài phải đi qua khi công việc của Các Ngài trên Trái Đất đã hoàn tất và một vinh quang lớn hơn tự hiển lộ ở phía trước. Nhưng điều này tôi không ban ra. Tôi chỉ đưa ra ba biểu tượng, đó là:
The womb... individualisation... separation.
Lòng dạ... biệt ngã hóa... phân ly.
Leading to personality integration and self-realisation.
Dẫn đến sự tích hợp phàm ngã và ngã thức.
Climaxing on the Path of Initiation... the birth of the Christ.
Đạt cực điểm trên Con Đường Điểm Đạo... sự giáng sinh của Đức Christ.
Producing intelligent activity.
Tạo ra hoạt động thông minh.
Initiation.
Điểm đạo.
The two-leaved door... initiation... group consciousness.
Cánh cửa hai lá... điểm đạo... tâm thức nhóm.
Leading to soul expression.
Dẫn đến sự biểu lộ của linh hồn.
Climaxing in the third initiation.
Đạt cực điểm trong lần điểm đạo thứ ba.
Producing loving living.
Tạo ra đời sống bác ái.
The third initiation.
Lần điểm đạo thứ ba.
The eye of the needle.. higher evolution.. monadic consciousness.
Mắt kim... tiến hoá cao siêu... tâm thức chân thần.
Leading to life expression.
Dẫn đến sự biểu lộ của sự sống.
Climaxing in the fifth initiation.
Đạt cực điểm trong lần điểm đạo thứ năm.
Producing purposeful life.
Tạo ra đời sống có mục đích.
Consummation.
Sự viên mãn.
Such are the three points of entrance to the three planetary centres: Humanity, Hierarchy and Shamballa.
Đó là ba điểm đi vào ba trung tâm hành tinh: Nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa.
This first demand is, curiously enough, the first expression of recognition—directly accorded—that the Great [118] Lives at Shamballa are now in direct relation with humanity. Hitherto that contact has not been direct, and They have not been in touch with current developments. Hitherto, all contacts and spiritual impulses from this highest centre have reached humanity via the Hierarchy, and vice versa. This demand concerns the negation, the obliteration, the absorption, the putting out or the synthesis of the lesser lights by the greater. All the words which I have employed are efforts to express the truth and all are entirely inadequate.
Đòi hỏi thứ nhất này, một cách kỳ lạ, là sự biểu lộ đầu tiên của việc thừa nhận—được trực tiếp ban ra—rằng các Sự Sống Vĩ Đại [118] ở Shamballa hiện nay đang có liên hệ trực tiếp với nhân loại. Trước đây, sự tiếp xúc đó không trực tiếp, và Các Ngài không tiếp xúc với các diễn biến hiện thời. Trước đây, mọi tiếp xúc và xung lực tinh thần từ trung tâm tối cao này đều đến với nhân loại qua trung gian Thánh đoàn, và ngược lại. Đòi hỏi này liên quan đến sự phủ định, sự xoá bỏ, sự hấp thụ, sự dập tắt hay sự tổng hợp các ánh sáng nhỏ hơn bởi ánh sáng lớn hơn. Tất cả những từ mà tôi đã dùng đều là những nỗ lực nhằm diễn đạt chân lý và tất cả đều hoàn toàn bất cập.
The moment the initiate or the disciple sees, even dimly, the light of the Spiritual Triad which veils and hides the Central Spiritual Sun, he realises that all other lights—that of the atom of matter, that of the form and that of the soul itself—must inevitably fade out in the stupendous glory and brilliance which emanate from God Himself and which he senses as in process of revelation. He becomes absorbed—intellectually, intuitively, spiritually and finally factually—in that Light. Here I would remind you that just as the light of the soul revealed to the struggling aspirant a new vision, set for him new goals, enhanced all qualities present in his equipment, and revealed the past, the present and the future of the individual, so this still greater light reveals to the initiate a horizon so vast that it has hitherto escaped his capacity and is yet but possible to vision by an initiate of the third degree, endows him with an occult perception hitherto not realised as existing—a perception which permits him to penetrate increasingly and to cooperate understandingly in the purpose of the Lord of the World. It enables him later to develop the equipment—qualities and gifts of a divine nature—which will eventually enable him to take his place in the Council Chamber at Shamballa and work in full unanimity with the Lords of Karma.
Khoảnh khắc điểm đạo đồ hay đệ tử nhìn thấy, dù chỉ mờ nhạt, ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần, vốn che phủ và ẩn giấu Mặt trời Tinh thần Trung Ương, y nhận ra rằng mọi ánh sáng khác—ánh sáng của nguyên tử vật chất, của hình tướng và của chính linh hồn—ắt hẳn phải phai mờ trong vinh quang và huy hoàng kỳ vĩ phát xuất từ chính Thượng đế và điều mà y cảm nhận là đang trong tiến trình mặc khải. Y trở nên bị hấp thụ—về mặt trí tuệ, trực giác, tinh thần và cuối cùng là trên thực tế—vào trong Ánh Sáng ấy. Ở đây tôi muốn nhắc bạn rằng cũng như ánh sáng của linh hồn đã mặc khải cho người chí nguyện đang tranh đấu một tầm nhìn mới, đặt ra cho y những mục tiêu mới, tăng cường mọi phẩm tính hiện có trong trang bị của y, và mặc khải quá khứ, hiện tại và tương lai của cá nhân, thì ánh sáng còn lớn lao hơn này cũng mặc khải cho điểm đạo đồ một chân trời bao la đến mức từ trước đến nay vượt ngoài khả năng của y và tuy vậy vẫn chỉ có thể được một điểm đạo đồ bậc ba hình dung ra; nó ban cho y một tri giác huyền bí mà trước đây y chưa từng nhận ra là hiện hữu—một tri giác cho phép y ngày càng thâm nhập sâu hơn và hợp tác một cách thấu hiểu vào mục đích của Đức Chúa Tể Thế Giới. Về sau, nó giúp y phát triển trang bị—những phẩm tính và ân tứ có bản chất thiêng liêng—rốt cuộc sẽ cho phép y đảm nhận vị trí của mình trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa và làm việc trong sự nhất trí hoàn toàn với các Đấng Nghiệp Quả.
These qualities and gifts concern divine attributes and capacities for which we have as yet no words as they lie beyond the scope of human consciousness, being utterly unknown even to advanced human beings. They only begin to manifest as tendencies between the second and the third [119] initiations, in the same way as the instincts in a small child are, in reality, the germs of later intellectual attitudes and activities. It is needless, therefore, for me to enlarge upon them; unless you are an initiate of the third degree, my words would be meaningless to you and would convey naught. The clue lies for you in understanding the three words—Happiness, Joy, Bliss. Do you, as you speak of bliss, understand wherein it differs from happiness and joy? Bliss is associated with complete Being; it concerns the interior attitude of the Whole.
Những phẩm tính và ân tứ này liên quan đến các thuộc tính thiêng liêng và những năng lực mà hiện nay chúng ta chưa có từ ngữ nào để diễn đạt, vì chúng nằm ngoài phạm vi tâm thức con người, hoàn toàn không được biết đến ngay cả đối với những con người tiến bộ. Chúng chỉ bắt đầu biểu lộ như những khuynh hướng giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba, cũng như các bản năng nơi một đứa trẻ nhỏ thực ra là những mầm mống của các thái độ và hoạt động trí tuệ về sau. Vì vậy, tôi không cần phải nói rộng thêm về chúng; trừ phi bạn là một điểm đạo đồ bậc ba, lời tôi nói sẽ vô nghĩa đối với bạn và không chuyển tải được gì. Manh mối dành cho bạn nằm trong việc thấu hiểu ba từ—Hạnh phúc, Hoan hỉ, Chí phúc. Khi nói về chí phúc, bạn có hiểu nó khác với hạnh phúc và hoan hỉ ở điểm nào không? Chí phúc gắn liền với Bản Thể trọn vẹn; nó liên quan đến thái độ nội tại của Toàn Thể.
As the individual disciple builds the rainbow bridge, the antahkarana, and as a group of disciples build the group antahkarana, they make possible the “Triadal perception” referred to above. When the disciple has flung one strand of living light (through the power of magnetic love) across the space separating the Triad and the personality, he discovers that he is a part of a group. This group recognition—faulty and unintelligently expressed at first—is the factor which enables him to pass, along the anchored thread, into the Ashram of a Master.
Khi đệ tử cá nhân xây dựng Cây cầu vồng, antahkarana, và khi một nhóm đệ tử xây dựng antahkarana nhóm, họ làm cho “tri giác Tam nguyên tinh thần” được nói đến ở trên trở nên khả hữu. Khi đệ tử đã phóng một sợi ánh sáng sống động (nhờ quyền năng của bác ái từ tính) bắc qua khoảng cách ngăn cách Tam nguyên tinh thần và phàm ngã, y khám phá rằng y là một phần của một nhóm. Sự nhận biết nhóm này—lúc đầu còn sai sót và được biểu lộ một cách thiếu thông minh—là yếu tố giúp y đi dọc theo sợi dây đã được neo giữ để bước vào ashram của một Chân sư.
From the angle of the old teaching, the Ashram of the Master and the focus of the Hierarchy were on the higher levels of the mental plane. Today, that is not so. They are on the plane of spiritual love, of the intuition and of buddhi. The Hierarchy is both retreating towards the higher centre of Shamballa, and at the same time advancing towards the lower centre, Humanity. Both these activities have been made possible by man himself; the growing intuitive perception of humanity, in its higher brackets, enables him to function upon the Path of Discipleship and on higher levels than ever before. This the Hierarchy recognises. The growing aspiration of the masses is also drawing the Masters closer to humanity than ever before. This is an instance of the ability of the initiate consciousness to function on initiate levels and also in the three worlds simultaneously. Of this the dual activity of the mind is a symbol, acting as it does as the common sense and so dealing with all matters in the three worlds, and as the spiritual [120] mind at the same time, dealing with all matters connected with the soul, with light and illumination.
Theo góc nhìn của giáo huấn cũ, ashram của Chân sư và tiêu điểm của Thánh đoàn ở trên các cấp cao của cõi trí. Ngày nay không còn như vậy nữa. Chúng ở trên cõi của bác ái tinh thần, của trực giác và của Bồ đề. Thánh đoàn vừa đang rút lui về phía trung tâm cao hơn là Shamballa, vừa đồng thời tiến về phía trung tâm thấp hơn là Nhân loại. Cả hai hoạt động này đều đã được chính con người làm cho khả hữu; tri giác trực giác ngày càng tăng của nhân loại, trong các tầng lớp cao hơn của nó, giúp con người hoạt động trên Con Đường Đệ Tử và trên những cấp độ cao hơn bao giờ hết. Điều này Thánh đoàn thừa nhận. Khát vọng ngày càng tăng của quần chúng cũng đang kéo các Chân sư đến gần nhân loại hơn bao giờ hết. Đây là một ví dụ về khả năng của tâm thức điểm đạo đồ hoạt động trên các cấp điểm đạo đồ và đồng thời trong ba cõi giới. Hoạt động nhị nguyên của trí tuệ là một biểu tượng cho điều này, vì nó vừa hoạt động như thường thức và do đó xử lý mọi vấn đề trong ba cõi giới, vừa đồng thời hoạt động như trí tuệ tinh thần, xử lý mọi vấn đề liên quan đến linh hồn, ánh sáng và sự soi sáng.
The second demand, that the sense of synthesis should be the goal of the training given to applicants in the New Age, is a direct evidence of the new Shamballa contact, because synthesis is an attribute of the divine will and the outstanding quality of Deity. It was inevitable that intelligence and love should be evolutionary objectives on the planet and the first two divine aspects to be developed, for they are qualities of the will; they make the manifestation of the divine will possible; they guarantee its intelligent application and its magnetic power to draw to itself all that is needed for the expression or the manifestation of the divine envisaged purpose, visualised synthetically, and motivated, implemented, engineered and made possible by the dynamic aspect of the same will.
Đòi hỏi thứ hai, rằng ý thức tổng hợp phải là mục tiêu của sự huấn luyện được ban cho những người thỉnh cầu trong Kỷ Nguyên Mới, là một bằng chứng trực tiếp của sự tiếp xúc mới với Shamballa, bởi vì tổng hợp là một thuộc tính của ý chí thiêng liêng và là phẩm tính nổi bật của Thượng đế. Điều tất yếu là trí tuệ và bác ái phải là những mục tiêu tiến hoá trên hành tinh và là hai phương diện thiêng liêng đầu tiên được phát triển, vì chúng là những phẩm tính của ý chí; chúng làm cho sự biểu lộ của ý chí thiêng liêng trở nên khả hữu; chúng bảo đảm việc áp dụng ý chí ấy một cách thông minh và quyền năng từ tính của nó để thu hút về mình mọi điều cần thiết cho sự biểu lộ hay sự hiển lộ của mục đích thiêng liêng đã được hình dung một cách tổng hợp, được thúc đẩy, thực hiện, điều phối và làm cho khả hữu bởi phương diện năng động của cùng một ý chí ấy.
It is interesting to note that there is every evidence in the world today that the Shamballa energy is directly impinging upon the human consciousness and directly producing results. The destroyer aspect of the first Ray of Will or Power is producing worldwide destruction through the use of the first kingdom in nature, the mineral kingdom. That which is made of metals and chemicals is bringing catastrophe and destruction on earth, primarily in the human kingdom. At the same time the second attribute of the will, synthesis, is evoking an equally widespread response. This sense of synthesis has a mass effect earlier than it has an individual effect, and this is a thing of interest and importance to note at this time. Later, the dynamism inherent in the will, wielded by the New Group of World Servers and by the disciples and initiates of the world, will turn that instinctive mass response into factual experience and produce the “appearance” on earth of the new, developed “quality” which “life” seeks in the New Age to demonstrate. In the first volume of this Treatise, I called attention to the three divine aspects: Life, Quality and Appearance. They are now in process of making their appearance in final form for this particular cycle.
Điều đáng chú ý là ngày nay có đầy đủ bằng chứng trên thế giới cho thấy năng lượng Shamballa đang trực tiếp tác động vào tâm thức con người và trực tiếp tạo ra kết quả. Phương diện huỷ diệt của Cung một của Ý Chí hay Quyền lực đang tạo ra sự tàn phá trên toàn thế giới qua việc sử dụng giới thứ nhất trong thiên nhiên, giới kim thạch. Điều được làm bằng kim loại và hoá chất đang mang đến tai hoạ và huỷ diệt trên địa cầu, chủ yếu trong giới nhân loại. Đồng thời, thuộc tính thứ hai của ý chí, tức tổng hợp, cũng đang gợi lên một đáp ứng rộng khắp tương tự. Ý thức tổng hợp này có tác động tập thể sớm hơn là tác động cá nhân, và đây là điều đáng quan tâm và quan trọng cần lưu ý vào lúc này. Về sau, tính năng động vốn có trong ý chí, được Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cùng các đệ tử và điểm đạo đồ của thế gian vận dụng, sẽ biến đáp ứng bản năng của quần chúng ấy thành kinh nghiệm thực tế và tạo ra “sắc tướng” trên địa cầu của “phẩm tính” mới, đã phát triển, mà “sự sống” đang tìm cách biểu lộ trong Kỷ Nguyên Mới. Trong tập đầu của bộ Luận này, tôi đã lưu ý đến ba phương diện thiêng liêng: Sự sống, Phẩm tính và Sắc tướng. Hiện nay chúng đang trong tiến trình xuất hiện dưới hình thức cuối cùng cho chu kỳ đặc biệt này.
[121]
[121]
Synthesis dictates the trend of all the evolutionary processes today; all is working towards larger unified blocs, towards amalgamations, international relationships, global planning, brotherhood, economic fusion, the free flow of commodities everywhere, interdependence, fellowship of faiths, movements based upon the welfare of humanity as a whole, and ideological concepts which deal with wholes and which militate against division, separation and isolation.
Tổng hợp chi phối xu hướng của mọi tiến trình tiến hoá ngày nay; mọi sự đều đang vận hành hướng tới những khối hợp nhất lớn hơn, những sự hợp nhất, những quan hệ quốc tế, hoạch định toàn cầu, tình huynh đệ, dung hợp kinh tế, sự lưu thông tự do của hàng hoá khắp nơi, sự phụ thuộc lẫn nhau, tình thân hữu giữa các tín ngưỡng, những phong trào dựa trên phúc lợi của toàn thể nhân loại, và những quan niệm ý thức hệ đề cập đến các toàn thể và chống lại sự chia rẽ, phân ly và cô lập.
Little as people realise it, these concepts are relatively new factors in the human consciousness, and the fact that they are the result of a new and direct relation between Those Who implement the will of God and humanity everywhere is the guarantee of the inevitability of their expression in the future. It is only in the immediate interim—a period of one hundred fifty years—that delay may seem the rule. Such, however, will not really be the case. The forms through which these new and impending ideas must take shape and manifest have yet to be created, and that takes time, for they are built by the power of thought and due process of educating the public consciousness until that consciousness becomes confirmed conviction and demonstrates as an immovable public opinion.
Dù con người ít nhận ra điều đó, những quan niệm này là những yếu tố tương đối mới trong tâm thức nhân loại, và sự kiện rằng chúng là kết quả của một mối liên hệ mới và trực tiếp giữa Những Đấng thực thi Ý Chí của Thượng Đế và nhân loại khắp nơi là sự bảo đảm cho tính tất yếu của sự biểu lộ của chúng trong tương lai. Chỉ trong giai đoạn chuyển tiếp trước mắt—một thời kỳ một trăm năm mươi năm—sự trì hoãn mới có vẻ là quy luật. Tuy nhiên, thực ra sẽ không phải như vậy. Những hình tướng mà qua đó các ý tưởng mới và sắp đến này phải định hình và biểu lộ vẫn còn phải được tạo ra, và điều đó cần thời gian, vì chúng được xây dựng bằng quyền năng của tư tưởng và bằng tiến trình thích đáng của việc giáo dục tâm thức quần chúng cho đến khi tâm thức ấy trở thành niềm xác tín vững chắc và biểu lộ thành một dư luận công chúng bất lay chuyển.
This sense of synthesis is one of the things which the new esoteric schools will develop in their students and neophytes, for it will be the people trained interiorly in these schools who will be the builders of the new world and the trainers of future public opinion. The labels and the names whereby these schools may call themselves mean but little. Many will proclaim themselves as esoteric schools and will communicate nothing of a truly esoteric nature. They will but attract to themselves the gullible and the foolish. There are many such functioning in this manner today. Others may refrain from all outer indication of esoteric and occult training, and yet convey the needed teaching. They will seek to relate the One, the Monad, to the personality, and to evoke in their students a true sense of synthesis.
Ý thức tổng hợp này là một trong những điều mà các trường nội môn mới sẽ phát triển nơi các đạo sinh và người sơ cơ của mình, vì chính những người được huấn luyện nội tại trong các trường ấy sẽ là những người kiến tạo thế giới mới và là những người đào luyện dư luận công chúng tương lai. Những nhãn hiệu và danh xưng mà các trường ấy có thể tự gọi mình chẳng có ý nghĩa bao nhiêu. Nhiều trường sẽ tự xưng là trường nội môn và sẽ không truyền đạt điều gì có bản chất nội môn đích thực. Chúng chỉ thu hút về mình những kẻ nhẹ dạ và ngu xuẩn. Ngày nay có nhiều trường đang hoạt động theo cách đó. Những trường khác có thể tránh mọi dấu hiệu bên ngoài về sự huấn luyện nội môn và huyền bí, nhưng vẫn truyền đạt giáo huấn cần thiết. Chúng sẽ tìm cách liên hệ Đấng Duy Nhất, chân thần, với phàm ngã, và khơi dậy nơi các đạo sinh của mình một ý thức tổng hợp chân chính.
It is the sense of synthesis, putting it very simply, which will be the goal of all the educational movements, once the [122] New Age idealism is firmly established. Physical coordination, personal integrity (which involves primarily the control and later the negation of the astral body), and personality integration will be the essential first steps. To this will succeed processes whereby the fusion of the personality with the soul, of the lower self with the higher Self, and of form with the divine Dweller in the form will follow next. Then the truly esoteric phase of the educational process will be attempted when the earlier steps or stages have been satisfactorily grasped and there is indication of some measure of real success. By that time the school of the Mysteries and the Halls of preparation for initiation will be generally recognised by the thinking people and believed in by the expectant masses.
Nói một cách rất đơn giản, chính ý thức tổng hợp sẽ là mục tiêu của mọi phong trào giáo dục, một khi lý tưởng của Kỷ Nguyên Mới được thiết lập vững chắc. Sự phối hợp thể xác, sự toàn vẹn cá nhân (điều này chủ yếu bao hàm trước hết là sự kiểm soát và về sau là sự phủ định thể cảm dục), và sự tích hợp phàm ngã sẽ là những bước đầu tiên thiết yếu. Tiếp theo đó sẽ là những tiến trình nhờ đó sự dung hợp của phàm ngã với linh hồn, của phàm ngã với Bản Ngã Cao Siêu, và của hình tướng với Kẻ Chận Ngõ thiêng liêng trong hình tướng sẽ diễn ra kế tiếp. Khi những bước hay giai đoạn trước đó đã được nắm bắt một cách thoả đáng và có dấu hiệu của một mức độ thành công thực sự nào đó, thì giai đoạn thực sự nội môn của tiến trình giáo dục sẽ được thử nghiệm. Đến lúc ấy, trường học của các Mầu Nhiệm và các Phòng chuẩn bị cho điểm đạo sẽ được những người biết suy tư nhìn nhận rộng rãi và được quần chúng mong đợi tin tưởng.
In those schools, those who are beginning to function as souls will be led on to take their next step. Their developed soul nature will be expressing itself through intelligent love and a sense of group fellowship; these two divine qualities will form a basis or foundation from which the next unfoldment can emerge and on which a more spiritual superstructure can be built. The Science of Meditation and the conscious building of the antahkarana will be the first two preliminary stages in the esoteric curriculum. Today, the true teaching of meditation and the construction of the bridge of light between the Triad and the personality are the most advanced teaching given anywhere.
Trong các trường ấy, những ai đang bắt đầu hoạt động như những linh hồn sẽ được dẫn dắt để thực hiện bước kế tiếp của họ. Bản chất linh hồn đã phát triển của họ sẽ tự biểu lộ qua bác ái thông minh và ý thức tình huynh đệ nhóm; hai phẩm tính thiêng liêng này sẽ tạo thành một nền tảng hay cơ sở từ đó sự khai mở kế tiếp có thể xuất hiện và trên đó một kiến trúc thượng tầng tinh thần hơn có thể được xây dựng. Khoa Học Tham Thiền và việc xây dựng antahkarana một cách hữu thức sẽ là hai giai đoạn sơ khởi đầu tiên trong chương trình nội môn. Ngày nay, giáo huấn chân chính về tham thiền và việc kiến tạo cây cầu ánh sáng giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã là giáo huấn cao cấp nhất được ban ra ở bất cứ đâu.
Humanity is, however, ready for exceedingly rapid development and this readiness will demonstrate increasingly in the postwar period, and for it the disciples of the world must make ready. Two factors will bring this about: the first is the tremendous stimulation which the war, its demands and its consequences have given to the human consciousness and, secondly, the coming in of very advanced souls ever since the year 1925. These souls will be ready to give the needed training and instruction when the right time comes, having brought it over with them when they came into incarnation, and knowing normally and naturally [123] what the modern esoteric student is struggling to grasp and understand.
Tuy nhiên, nhân loại đã sẵn sàng cho một sự phát triển cực kỳ nhanh chóng, và sự sẵn sàng này sẽ ngày càng được chứng minh trong thời kỳ hậu chiến, và vì điều đó các đệ tử của thế gian phải chuẩn bị. Hai yếu tố sẽ mang lại điều này: thứ nhất là sự kích thích to lớn mà chiến tranh, các đòi hỏi của nó và các hậu quả của nó đã đem đến cho tâm thức con người, và thứ hai là sự nhập thể của những linh hồn rất tiến bộ kể từ năm 1925. Những linh hồn này sẽ sẵn sàng ban ra sự huấn luyện và chỉ dạy cần thiết khi thời điểm thích hợp đến, vì họ đã mang điều đó theo mình khi họ đi vào lâm phàm, và biết một cách bình thường và tự nhiên [123] điều mà đạo sinh nội môn hiện đại đang vật lộn để nắm bắt và thấu hiểu.
A study of what I have here outlined as basic requirements will show that the esoteric schools about which I wrote in Letters on Occult Meditation lie far ahead in the distant future. The work of the preparatory schools must come first, and their work will proceed until such time that the work of the Ashrams of the Masters is recognised as forming part of an outer hierarchical activity. This in due time will lead to the giving of the first initiation publicly, as a part of the great service ritual of the then prevalent universal religion. The race of men will then—in its most advanced brackets and groups in every country in the world—be normally clairvoyant, and will therefore see for themselves the light within the candidates; they will know then that the first initiation is justifiably undergone, and they will also see the same light in thousands who in previous incarnations have taken that initiation.
Một sự nghiên cứu về những gì tôi đã phác hoạ ở đây như những yêu cầu căn bản sẽ cho thấy rằng các trường nội môn mà tôi đã viết đến trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí còn ở rất xa trong tương lai. Công việc của các trường dự bị phải đến trước, và công việc của chúng sẽ tiếp tục cho đến khi công việc của các ashram của các Chân sư được nhìn nhận là tạo thành một phần của hoạt động Thánh đoàn bên ngoài. Điều này đến lượt nó sẽ dẫn, đúng thời điểm, đến việc ban lần điểm đạo thứ nhất một cách công khai, như một phần của nghi lễ phụng sự lớn lao của tôn giáo phổ quát đang thịnh hành khi ấy. Khi đó, nhân loại—trong những tầng lớp và nhóm tiến bộ nhất của mình ở mọi quốc gia trên thế giới—sẽ thông nhãn một cách bình thường, và do đó sẽ tự mình thấy ánh sáng bên trong các ứng viên; khi ấy họ sẽ biết rằng lần điểm đạo thứ nhất được trải qua là chính đáng, và họ cũng sẽ thấy cùng ánh sáng ấy nơi hàng ngàn người đã trải qua lần điểm đạo đó trong các kiếp trước.
One thing only will I add to the above and to the elucidation of the significance of Rule V. The clue to all this esoteric work demanded by Shamballa is to be found in the development of the Art of Visualisation. Through visualisation, three expressions of the human consciousness will become possible:
Tôi chỉ thêm một điều vào những gì đã nói ở trên và vào sự làm sáng tỏ ý nghĩa của Quy luật V. Manh mối cho toàn bộ công việc huyền bí này do Shamballa đòi hỏi được tìm thấy trong sự phát triển của Nghệ Thuật Hình Dung. Qua sự hình dung, ba biểu hiện của tâm thức con người sẽ trở nên khả hữu:
1. The antahkarana can be built and the shining of the Triad be definitely seen. Such will be the new vision—an outcome of the development of the sense of vision.
1. Antahkarana có thể được xây dựng và sự chiếu rạng của Tam nguyên tinh thần có thể được thấy một cách rõ rệt. Đó sẽ là linh thị mới—một kết quả của sự phát triển của ý thức về tầm nhìn.
2. Groups, large wholes and major syntheses will also be visualised, and this will lead to a definite expansion of consciousness. Thus the sense of synthesis will be unfolded.
2. Các nhóm, các toàn thể lớn và các tổng hợp chủ yếu cũng sẽ được hình dung, và điều này sẽ dẫn đến một sự mở rộng tâm thức rõ rệt. Nhờ đó ý thức tổng hợp sẽ được khai mở.
3. All creative art will be fostered by this training, and the new art of the future in all departments of creativity will be rapidly developed as the training proceeds. The unfoldment of the sense of vision and of the sense of synthesis, through visualisation, will lead to a sense of livingness in form.
3. Mọi nghệ thuật sáng tạo sẽ được khuyến khích bởi sự huấn luyện này, và nghệ thuật mới của tương lai trong mọi lĩnh vực sáng tạo sẽ được phát triển nhanh chóng khi sự huấn luyện tiến triển. Sự khai mở của ý thức về tầm nhìn và của ý thức tổng hợp, qua sự hình dung, sẽ dẫn đến một ý thức về tính sống động trong hình tướng.
RULE SIX — QUY LUẬT SÁU
[124]
[124]
A superficial reading of Rule VI would give the impression that it is a simple statement as to the universality of Life, and also that it embodies an enunciation of the basic fact of hylozoism. The Rule runs as follows:
Một cách đọc hời hợt Quy luật VI sẽ tạo ấn tượng rằng đó là một phát biểu đơn giản về tính phổ quát của Sự sống, và cũng rằng nó bao hàm một sự tuyên bố về sự kiện căn bản của thuyết vật hoạt. Quy luật như sau:
Rule VI.
Quy luật VI.
Let the group know that life is one and naught can ever take or touch that life. Let the group know the vivid, flaming, drenching life that floods the fourth when the fifth is known. The fifth feeds on the fourth. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh, and realise that all the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group. It onward moves in life.
Hãy để nhóm biết rằng sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy. Hãy để nhóm biết sự sống sống động, rực cháy, tuôn tràn đang tràn ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được biết đến. Giới thứ năm nuôi dưỡng bằng giới thứ tư. Vậy hãy để nhóm—được dung hợp trong giới thứ năm—được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy, và chứng nghiệm rằng mọi quy luật nhỏ hơn đều là những quy luật trong thời gian và không gian và không thể giữ nhóm lại. Nhóm tiến lên trong sự sống.
I find it extremely difficult to express the significance of this Rule in such a way that it will convey meaning to you, and this for two reasons: First, the idea of the One Life is so prevalent, and so customary and trite an unrealised truth, that it registers on ears with very little effect. Secondly, the whole story of life—which is purpose, divine will, and absolute determination—and the eternal planning of the Lord of the World is so hard of comprehension that we have as yet no words in the language of any nation which can express it.
Tôi thấy cực kỳ khó diễn đạt ý nghĩa của Quy luật này theo cách có thể chuyển tải ý nghĩa đến bạn, và điều này vì hai lý do: Thứ nhất, ý tưởng về Một Sự Sống quá phổ biến, quá thông thường và là một chân lý sáo mòn chưa được chứng nghiệm, đến nỗi nó vang lên nơi tai với rất ít tác động. Thứ hai, toàn bộ câu chuyện về sự sống—vốn là mục đích, ý chí thiêng liêng và sự quyết tâm tuyệt đối—và sự hoạch định vĩnh cửu của Đức Chúa Tể Thế Giới khó hiểu đến mức hiện nay chúng ta chưa có từ ngữ nào trong ngôn ngữ của bất kỳ quốc gia nào có thể diễn đạt được nó.
What I am now writing is a series of instructions for disciples in process of training for initiation. I did not say in training for the higher initiations, for these are given in a different manner and the teaching is imparted in the inner Ashram. Therefore, as you have not taken the third initiation, monadic comprehension lies far beyond you; and only this highest state of understanding suffices for the clear perception of the fundamental divine intent lying behind all world phenomena, all evolutionary development, all unfoldment within the capacity of the four kingdoms in nature, and all preparatory extensions and expansions of consciousness.
Điều tôi đang viết hiện nay là một loạt huấn thị dành cho các đệ tử đang trong tiến trình được huấn luyện cho điểm đạo. Tôi không nói là được huấn luyện cho các lần điểm đạo cao hơn, vì những lần ấy được ban theo một cách khác và giáo huấn được truyền đạt trong ashram nội tại. Vì vậy, do bạn chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba, sự thấu hiểu chân thần còn vượt rất xa bạn; và chỉ trạng thái thấu hiểu cao nhất này mới đủ cho sự tri giác rõ ràng về ý định thiêng liêng căn bản nằm sau mọi hiện tượng thế giới, mọi sự phát triển tiến hoá, mọi sự khai mở trong khả năng của bốn giới trong thiên nhiên, và mọi sự mở rộng và bành trướng tâm thức có tính chuẩn bị.
All I can therefore do is to touch upon the inner significance [125] of the obvious and seek to express certain ideas which will strain your mental perception, evoke your intuition and institute that process of recognition and registration which leads eventually to the initiate-consciousness.
Vì vậy, tất cả những gì tôi có thể làm là chạm đến ý nghĩa nội tại [125] của điều hiển nhiên và tìm cách diễn đạt một số ý tưởng sẽ làm căng khả năng tri giác trí tuệ của bạn, khơi dậy trực giác của bạn và khởi lập tiến trình nhận biết và ghi nhận, tiến trình rốt cuộc dẫn đến tâm thức điểm đạo đồ.
This sixth Rule is the polar opposite of the rule as it was given to applicants. There, if you will refer to my exegesis upon that rule in Initiation, Human and Solar, you will find that the objective of that rule was physical purification with the emphasis upon the need for a vegetarian diet at a certain stage of the preparatory process. The reasons for such a discipline were two in number: purification and the necessity for the applicant (at that stage) to refrain from sharing in the benefits incident to the so-called “taking of life.” But, can one take life? I think not. Life IS. Naught in heaven or on earth can touch or affect it. This is a point oft forgotten. The rule as given to applicants consequently concerns their ability to accept and adhere to a self-imposed discipline. Through the means of that discipline, the control of the physical and astral natures are demonstrated by the applicant to himself, and the effect of the discipline is to reveal to him certain inevitable and basic weaknesses, such as control of the animal nature, the powerful imposition of desire, a sense of superiority, of pride and separativeness. His ability to sustain the discipline and his appreciation of himself for so doing, plus a sense of superiority to those who are not so disciplined, are all indicative of essential weaknesses. His fanaticism, latent or expressed, emerges in his consciousness with clarity, and—when he is sincere—he is conscious of having brought about a measure of physical purity; but at the same time, he is left with the awareness that he perhaps may be starting with the outer and the obvious when he should be beginning with the inner and with that which is not so easily contacted or expressed. This is a great and most important lesson.
Quy luật thứ sáu này là cực đối lập với quy luật như đã được ban cho những người thỉnh cầu. Ở đó, nếu bạn tham khảo phần chú giải của tôi về quy luật ấy trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, bạn sẽ thấy rằng mục tiêu của quy luật đó là sự thanh lọc thể xác với trọng tâm đặt vào nhu cầu ăn chay ở một giai đoạn nhất định của tiến trình dự bị. Có hai lý do cho kỷ luật như vậy: sự thanh lọc và sự cần thiết để người thỉnh cầu (ở giai đoạn đó) tránh chia sẻ vào những lợi ích gắn liền với cái gọi là “lấy đi sự sống.” Nhưng liệu có thể lấy đi sự sống chăng? Tôi nghĩ là không. Sự sống LÀ. Không gì trên trời hay dưới đất có thể chạm đến hay tác động đến nó. Đây là một điểm thường bị quên lãng. Vì vậy, quy luật như được ban cho những người thỉnh cầu liên quan đến khả năng của họ trong việc chấp nhận và tuân thủ một kỷ luật do chính mình áp đặt. Nhờ phương tiện của kỷ luật ấy, sự kiểm soát bản chất thể xác và cảm dục được người thỉnh cầu chứng minh với chính mình, và tác động của kỷ luật là mặc khải cho y một số nhược điểm tất yếu và căn bản, như sự kiểm soát bản chất thú tính, sự áp đặt mạnh mẽ của dục vọng, cảm giác ưu việt, kiêu hãnh và phân ly. Khả năng duy trì kỷ luật của y và sự tự đánh giá cao mình vì làm được như vậy, cộng với cảm giác ưu việt hơn những người không được kỷ luật như thế, đều là những dấu hiệu của các nhược điểm cốt yếu. Tính cuồng tín của y, tiềm ẩn hay biểu lộ, hiện ra rõ ràng trong tâm thức y, và—khi y chân thành—y ý thức rằng mình đã tạo ra được một mức độ thanh khiết thể xác nào đó; nhưng đồng thời, y vẫn còn nhận biết rằng có lẽ mình đang bắt đầu từ cái bên ngoài và hiển nhiên trong khi lẽ ra phải bắt đầu từ cái bên trong và từ điều không dễ tiếp xúc hay biểu lộ đến thế. Đây là một bài học lớn và hết sức quan trọng.
It is also an interesting illustration of the technique of the Masters, whereby They permit a fallacy to remain uncorrected (because it is originated by the disciple himself [126] and must be dissipated by him also) and the use of language which conveys a wrong impression. By so doing, the user of the language discovers eventually his erroneous approach to truth. Life cannot be taken in the spiritual sense. This error or mistake in the approach of truth enables men and women upon the Probationary Path to demonstrate the earnestness and sincerity of their aspiration by the discipline of substituting the produce “of the second,” and to refrain from sustaining life on the produce “of the third.” By sacrificing the life of the second kingdom in nature (to use the applicant’s own misstatements) and by nourishing the physical body thereby, the probationary disciple does succeed in ending the grip or potency of the physical nature, and that is always helpful. He as yet does not know that he is adhering to lesser “rules in time and space,” and that once he has demonstrated to himself that he can hold them and obey them, he is then freed from them and needs them no more. The disciple and the candidate for initiation knows that life is one, whether it takes form in the second kingdom or in the third or the fourth; he knows that the life in him is one with the life in the first kingdom, the mineral; he learns too that life is impregnable; that it cannot be taken or destroyed but “passes on” from form to form, from experience to experience, until the perfect will of God is expressed through life.
Đây cũng là một minh hoạ thú vị về kỹ thuật của các Chân sư, nhờ đó Các Ngài cho phép một ngộ nhận vẫn không bị sửa chữa (vì nó do chính đệ tử tạo ra [126] và cũng phải do chính y làm tiêu tan) và cho phép việc sử dụng ngôn ngữ truyền đạt một ấn tượng sai lầm. Nhờ làm như vậy, người sử dụng ngôn ngữ cuối cùng sẽ khám phá ra cách tiếp cận chân lý sai lầm của mình. Sự sống không thể bị lấy đi theo nghĩa tinh thần. Sai lầm hay lỗi lầm này trong cách tiếp cận chân lý giúp những người nam và nữ trên Con Đường Dự Bị chứng minh sự tha thiết và chân thành của khát vọng của họ bằng kỷ luật thay thế sản phẩm “của giới thứ hai,” và tránh nuôi dưỡng sự sống bằng sản phẩm “của giới thứ ba.” Bằng cách hi sinh sự sống của giới thứ hai trong thiên nhiên (theo cách diễn đạt sai của chính người thỉnh cầu) và nhờ đó nuôi dưỡng thể xác, đệ tử dự bị thực sự thành công trong việc chấm dứt sự kềm giữ hay sức mạnh của bản chất thể xác, và điều đó luôn luôn hữu ích. Y chưa biết rằng mình đang tuân theo những “quy luật nhỏ hơn trong thời gian và không gian,” và rằng một khi y đã chứng minh với chính mình rằng y có thể giữ và tuân theo chúng, thì y được giải thoát khỏi chúng và không còn cần chúng nữa. Đệ tử và ứng viên cho điểm đạo biết rằng sự sống là một, dù nó mang hình tướng trong giới thứ hai hay giới thứ ba hay giới thứ tư; y biết rằng sự sống trong y là một với sự sống trong giới thứ nhất, giới kim thạch; y cũng học được rằng sự sống là bất khả xâm phạm; rằng nó không thể bị lấy đi hay huỷ diệt mà chỉ “chuyển tiếp” từ hình tướng này sang hình tướng khác, từ kinh nghiệm này sang kinh nghiệm khác, cho đến khi ý chí hoàn hảo của Thượng đế được biểu lộ qua sự sống.
The true disciple does not need vegetarianism or any of the physical disciplines, for the reason that none of the fleshly appetites have any control over him. His problem lies elsewhere, and it is a waste of his time and energy to keep his eye focussed on “doing the right things physically,” because he does them automatically and his spiritual habits offset all the lower physical tendencies; automatically these developed habits enable him to surmount the appeal of those desires which work out in the fulfillment of lower desire. No one is accepted into the circle of the Ashram (which is the technical name given to the status of those who are on the eve of initiation or who are being prepared for initiation) whose physical appetites are in any danger [127] of controlling him. This is a statement of fact. This applies particularly and specifically to those preparing for the first initiation. Those preparing for the second initiation have to demonstrate their freedom from the slavery of ideas, from a fanatical reaction to any truth or spiritual leader, and from the control of their aspiration which—through the intensity of its application—would sacrifice time, people and life itself to the call of the Initiator—or rather, to be correct, to what they believe to be His call.
Đệ tử chân chính không cần ăn chay hay bất kỳ kỷ luật thể xác nào, vì không một dục vọng xác thịt nào còn kiểm soát được y. Vấn đề của y nằm ở nơi khác, và việc cứ chăm chú vào “làm những điều đúng đắn về mặt thể xác” là một sự phí phạm thời gian và năng lượng của y, bởi vì y làm những điều ấy một cách tự động và các thói quen tinh thần của y hoá giải mọi khuynh hướng thể xác thấp; một cách tự động, những thói quen đã phát triển này giúp y vượt qua sức hấp dẫn của những dục vọng biểu lộ thành sự thoả mãn dục vọng thấp. Không ai được chấp nhận vào vòng tròn của ashram (đó là tên gọi chuyên môn dành cho địa vị của những người đang ở trước ngưỡng điểm đạo hay đang được chuẩn bị cho điểm đạo) mà các dục vọng thể xác của y còn có nguy cơ [127] kiểm soát y. Đây là một phát biểu sự kiện. Điều này áp dụng đặc biệt và chuyên biệt cho những ai đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất. Những ai đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai phải chứng minh sự tự do của họ khỏi sự nô lệ của các ý tưởng, khỏi phản ứng cuồng tín đối với bất kỳ chân lý hay lãnh tụ tinh thần nào, và khỏi sự kiểm soát của chính khát vọng của họ, vốn—qua cường độ áp dụng của nó—sẽ hi sinh thời gian, con người và chính sự sống cho tiếng gọi của Đấng Điểm đạo—hay đúng hơn, nói cho chính xác, cho điều mà họ tin là tiếng gọi của Ngài.
I would point out that the third initiation is approached from a level tableland of experience and of consciousness, and not from the heights of aspiration, or from fanatical sacrifice, or from the standpoint of a devotion which handicaps the service of the devotee and of the Master he seeks to serve. He knows, as a candidate for initiation, that:
Tôi muốn chỉ ra rằng lần điểm đạo thứ ba được tiếp cận từ một cao nguyên bằng phẳng của kinh nghiệm và tâm thức, chứ không phải từ những đỉnh cao của khát vọng, hay từ sự hi sinh cuồng tín, hay từ quan điểm của một lòng sùng tín làm cản trở sự phụng sự của người sùng tín và của Chân sư mà y tìm cách phụng sự. Là một ứng viên cho điểm đạo, y biết rằng:
1. Life is one and naught can ever take or touch that life.
1. Sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy.
His sense of proportion as to form becomes adjusted. He is forward-looking towards the soul, and not backward-looking towards the form nature. Some very sincere devotees and promising applicants are so preoccupied with form and its disciplining that they have no real time to give to soul expansion. They are so interested in their reactions to their self-imposed discipline or to their capacity to conform or their failure to accept the discipline, that the spiritual truths—seeking entrance into their hearts—fail to make such an entrance. Temperance in all things, the wise use of all sustaining forms and self-forgetfulness are the hallmark of the disciple, but not of the beginner. Many disciples today who should be functioning in the Hall of Wisdom are still fanatically working in the Hall of Knowledge and are still so earnest over the physical disciplines that the disciplines of the soul are ignored. I would ask you to reflect on this. Applicants have to learn the significance of the words of Rule VI for disciples, “the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group.”
Ý thức về tỉ lệ của y đối với hình tướng trở nên được điều chỉnh. Y hướng về phía trước tới linh hồn, chứ không ngoái nhìn về phía bản chất hình tướng. Một số người sùng tín rất chân thành và những người thỉnh cầu đầy hứa hẹn quá bận tâm với hình tướng và việc kỷ luật nó đến nỗi họ không có thời gian thực sự để dành cho sự mở rộng của linh hồn. Họ quá quan tâm đến các phản ứng của mình đối với kỷ luật do chính mình áp đặt hoặc đến khả năng tuân theo hay thất bại trong việc chấp nhận kỷ luật, đến nỗi các chân lý tinh thần—đang tìm cách đi vào trái tim họ—không thể thực hiện được sự đi vào ấy. Tiết độ trong mọi sự, sử dụng khôn ngoan mọi hình tướng duy trì sự sống và quên mình là dấu ấn của đệ tử, nhưng không phải của người mới bắt đầu. Nhiều đệ tử ngày nay lẽ ra phải hoạt động trong Phòng Minh triết thì vẫn còn đang cuồng tín làm việc trong Phòng Hiểu Biết và vẫn còn quá tha thiết với các kỷ luật thể xác đến nỗi các kỷ luật của linh hồn bị bỏ qua. Tôi muốn bạn suy ngẫm về điều này. Những người thỉnh cầu phải học ý nghĩa của những lời trong Quy luật VI dành cho các đệ tử, “những quy luật nhỏ hơn đều là những quy luật trong thời gian và không gian và không thể giữ nhóm lại.”
I wonder if you can grasp the type of consciousness which distinguishes the Hierarchy, even if you are only able [128] to do so imaginatively and theoretically. They “onward move in life.” They work in the realm of life energy; the form seems to Them something which They have definitely left behind, and the consciousness of appeal or rejection of the form nature and hold is to Them only a memory of a distant battle ground where the victory then won has been forgotten and the gains of victory are so far behind that they lie well below the threshold of consciousness. Broadly and generally speaking, workers in the ranks of the Hierarchy (I did not say “with the Hierarchy”) are divided into two main groups: those who are working with the unfoldment of the initiate consciousness in the disciples of the world, and those of a more advanced degree who are working with the life aspect and its expression in the lives of the world initiates. Working disciples (who are working in cooperation with the Hierarchy) are also working in two major divisions: Those who are dealing with applicants and are seeking to see the imposition of the physical disciplines, and with the impartation of certain minor values so that beginners may grasp the point that they have reached. There are those also who are working to substitute understanding and service for physical discipline and the earlier, inevitable, selfish ends.
Tôi tự hỏi liệu bạn có thể nắm bắt được loại tâm thức phân biệt Thánh đoàn hay không, dù bạn chỉ có thể [128] làm được điều đó bằng trí tưởng tượng và trên lý thuyết. Các Ngài “tiến lên trong sự sống.” Các Ngài làm việc trong lĩnh vực năng lượng sự sống; đối với Các Ngài, hình tướng dường như là điều mà Các Ngài đã dứt khoát bỏ lại phía sau, và tâm thức về sự hấp dẫn hay sự khước từ của bản chất hình tướng và sự kềm giữ của nó đối với Các Ngài chỉ là ký ức về một chiến trường xa xưa, nơi chiến thắng giành được khi ấy đã bị quên lãng và những thành quả của chiến thắng đã ở quá xa phía sau đến nỗi nằm hẳn dưới ngưỡng tâm thức. Nói một cách rộng rãi và tổng quát, những người hoạt động trong hàng ngũ của Thánh đoàn (tôi không nói là “với Thánh đoàn”) được chia thành hai nhóm chính: những người đang làm việc với sự khai mở tâm thức điểm đạo đồ nơi các đệ tử của thế gian, và những người ở cấp độ cao hơn đang làm việc với phương diện sự sống và sự biểu lộ của nó trong đời sống của các điểm đạo đồ thế gian. Các đệ tử hoạt động (những người đang làm việc trong sự hợp tác với Thánh đoàn) cũng đang làm việc trong hai phân bộ lớn: những người đề cập đến các người thỉnh cầu và tìm cách thấy được sự áp đặt các kỷ luật thể xác, cùng với việc truyền đạt một số giá trị nhỏ để những người mới bắt đầu có thể nắm bắt được điểm mà họ đã đạt tới. Cũng có những người đang làm việc để thay thế kỷ luật thể xác và những mục tiêu ích kỷ ban đầu, tất yếu, bằng sự thấu hiểu và phụng sự.
Let me repeat: the physical disciplines are of value in the beginning stage and impart a sense of proportion and an awareness of defects and of limitations. These have their place in time and space, and that is all. Once the world of the soul is entered, the disciple uses all forms wisely, with understanding of their purpose and with freedom from excess; he is not preoccupied with them or fundamentally interested in them. His eyes are off himself and are fixed on the world of true values. He has no sense of self-interest, because a group awareness is rapidly superseding his individual consciousness. The words:
Xin để tôi nhắc lại: các kỷ luật thể xác có giá trị trong giai đoạn khởi đầu và truyền đạt một ý thức về tỉ lệ cùng một nhận biết về các khuyết điểm và giới hạn. Chúng có chỗ đứng của chúng trong thời gian và không gian, và chỉ có thế. Một khi thế giới của linh hồn đã được bước vào, đệ tử sử dụng mọi hình tướng một cách khôn ngoan, với sự hiểu biết về mục đích của chúng và với sự tự do khỏi thái quá; y không bận tâm đến chúng hay căn bản quan tâm đến chúng. Mắt y không còn hướng vào bản thân mà được cố định vào thế giới của các giá trị chân thực. Y không có ý thức về tư lợi, vì một nhận biết nhóm đang nhanh chóng thay thế tâm thức cá nhân của y. Những lời:
2. Let the group know the vivid, flaming, drenching life that floods the fourth when the fifth is known
2. Hãy để nhóm biết sự sống sống động, rực cháy, tuôn tràn đang tràn ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được biết đến
are of prime importance to those who would and can profit [129] by what I am seeking to convey, as I interpret—as far as may be—these Rules. The knowing of the fifth kingdom in nature through the medium of the consciousness of the fourth and the sacrifice of the fourth kingdom to the fifth, of the human being to the soul and of humanity to the kingdom of God, is the parallel (on a higher turn of the spiral) of the sacrifice of the third kingdom, the animal kingdom, to the fourth, the human kingdom. Thus it proceeds down the scale—sacrifice always of the lower to the higher.
có tầm quan trọng hàng đầu đối với những ai muốn và có thể thu lợi [129] từ điều tôi đang tìm cách chuyển đạt, khi tôi diễn giải—trong chừng mực có thể—các Quy luật này. Việc biết giới thứ năm trong thiên nhiên qua trung gian của tâm thức của giới thứ tư và sự hi sinh giới thứ tư cho giới thứ năm, của con người cho linh hồn và của nhân loại cho Thiên Giới, là sự tương ứng (trên một vòng xoắn cao hơn) với sự hi sinh của giới thứ ba, giới động vật, cho giới thứ tư, giới nhân loại. Cứ thế mà tiếp diễn xuống theo thang bậc—luôn luôn là sự hi sinh của cái thấp cho cái cao.
It therefore behooves the individual disciple to decide whether he is an applicant, and consequently to be controlled by the “rules in time and space,” or a candidate for initiation who knows that life is one and that the form is of no material significance, except as a field of experience for the soul.
Vì vậy, đệ tử cá nhân cần phải quyết định xem y là một người thỉnh cầu, và do đó bị kiểm soát bởi “những quy luật trong thời gian và không gian,” hay là một ứng viên cho điểm đạo, người biết rằng sự sống là một và hình tướng không có ý nghĩa vật chất nào, ngoại trừ như một lĩnh vực kinh nghiệm cho linh hồn.
We now come to the most important part of this particular rule; it conveys the key to the immediate goal for those who have attained a certain measure of understanding. The words of importance are:
Giờ đây chúng ta đi đến phần quan trọng nhất của quy luật đặc biệt này; nó chuyển tải chìa khoá cho mục tiêu trước mắt của những ai đã đạt được một mức độ thấu hiểu nhất định. Những lời quan trọng là:
3. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh.
3. Vậy hãy để nhóm—được dung hợp trong giới thứ năm—được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy.
In other words: “Then let the group—which is identified with the soul—find its sustenance and vitality by the inflow of the intuition and of the spiritual will, emanating from the Spiritual Triad.” There are, of course, other meanings, but this is the most practical for disciples. A larger but similar concept lies in the realisation that the human family, the fourth kingdom in nature, is absorbed by the fifth or by the kingdom of God and (when this is the case) can become increasingly en rapport with the sixth and seventh kingdoms. To these kingdoms no names have as yet been given, because the possibility of their existence is only now just beginning faintly to penetrate into the consciousness of the disciple and the initiate. The sixth kingdom is that of the “overshadowing Triads”—that aggregation of liberated Lives of which the higher initiates in the Hierarchy [130] are a part; They are to that spiritual group what the New Group of World Servers is to Humanity. I know not how else to express this truth to you.
Nói cách khác: “Vậy hãy để nhóm—đã đồng hoá với linh hồn—tìm sự nuôi dưỡng và sinh lực của mình nhờ dòng tuôn đổ của trực giác và của ý chí tinh thần, phát xuất từ Tam Nguyên Tinh Thần.” Dĩ nhiên còn có những ý nghĩa khác, nhưng đây là ý nghĩa thực tiễn nhất đối với các đệ tử. Một quan niệm lớn hơn nhưng tương tự nằm trong sự chứng nghiệm rằng gia đình nhân loại, giới thứ tư trong thiên nhiên, được hấp thụ vào giới thứ năm hay Thiên Giới và (khi điều này xảy ra) có thể ngày càng trở nên tương thông với giới thứ sáu và thứ bảy. Hai giới này hiện chưa có tên gọi, vì khả năng hiện hữu của chúng chỉ mới bắt đầu mơ hồ thâm nhập vào tâm thức của đệ tử và điểm đạo đồ. Giới thứ sáu là giới của “các Tam nguyên tinh thần phủ bóng”—sự tập hợp những Sự Sống đã được giải thoát mà các điểm đạo đồ cao cấp trong Thánh đoàn [130] là một phần của nó; Các Ngài đối với nhóm tinh thần ấy cũng như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đối với Nhân loại. Tôi không biết phải diễn đạt chân lý này với bạn bằng cách nào khác.
The seventh kingdom in nature is that of the Lives Who participate in full capacity of understanding with the group of Beings Who are the nucleus of the Council at Shamballa. Around the Lord of the World this group pivots; Their consciousness and state of being is only dimly understood by the most advanced Members of the Hierarchy, and the relation of these Lives to the Lord of the World is similar, and yet fundamentally different, to the relation of the Members of the Hierarchy to the three Great Lords—the Christ, the Manu and the Mahachohan. Through these three Lords pours the energy which streams from Shamballa, transmitting the purpose and motivating the plan of Sanat Kumara—His Life Plan. What you call “the Plan” is the response of the Hierarchy to the inflaming purposeful will of the Lord of the World. Through Sanat Kumara, the Ancient of Days (as He is called in the Bible), flows the unknown energy of which the three divine Aspects are the expression. He is the Custodian of the will of the Great White Lodge on Sirius, and the burden of this “cosmic intention” is shared by the Buddhas of Activity and those Members of the Great Council Who are of so elevated a consciousness and vibration that only once a year (through Their emissary, the Buddha) is it safe for Them to contact the Hierarchy.
Giới thứ bảy trong thiên nhiên là giới của những Sự Sống tham dự với đầy đủ năng lực thấu hiểu cùng nhóm các Đấng là hạt nhân của Hội Đồng tại Shamballa. Chung quanh Đức Chúa Tể Thế Giới, nhóm này xoay chuyển; tâm thức và trạng thái hiện hữu của Các Ngài chỉ được các Thành Viên tiến bộ nhất của Thánh đoàn hiểu một cách mờ nhạt, và mối liên hệ của những Sự Sống này với Đức Chúa Tể Thế Giới thì tương tự, nhưng lại khác biệt căn bản, với mối liên hệ của các Thành Viên Thánh đoàn với ba Đại Chúa Tể—Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan. Qua ba Đấng Chúa Tể này tuôn đổ năng lượng phát ra từ Shamballa, truyền đạt mục đích và thúc đẩy Thiên Cơ của Đức Sanat Kumara—Thiên Cơ Sự Sống của Ngài. Điều bạn gọi là “Thiên Cơ” là sự đáp ứng của Thánh đoàn đối với ý chí có mục đích bừng cháy của Đức Chúa Tể Thế Giới. Qua Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ (như Ngài được gọi trong Kinh Thánh), tuôn chảy năng lượng chưa được biết đến mà ba Phương diện thiêng liêng là sự biểu lộ của nó. Ngài là Đấng Gìn Giữ ý chí của Thánh đoàn trên Sirius, và gánh nặng của “ý định vũ trụ” này được chia sẻ bởi các Đức Phật Hoạt Động và những Thành Viên của Đại Hội Đồng có tâm thức và rung động cao đến mức chỉ mỗi năm một lần (qua sứ giả của Các Ngài là Đức Phật) thì việc Các Ngài tiếp xúc với Thánh đoàn mới là an toàn.
I am seeking only to point to a wider horizon than that usually registered by disciples and I use these broad analogies to expand your point of view. By so doing I can convey to the enlightened person a sense of synthesis, of purposeful planning and of planetary integrity. This great spiritual structure of Being, of Life and of Direction is something that the disciples and initiates of the world need—at this time—in their effort to stand steady under the pressure of world events, and in their determination to cooperate unwaveringly with the moves and plans made by the world Directors, that “Society of illumined and organised [131] Minds” which is known under the name of the Hierarchy. It is illumination and consequent organisation which is needed profoundly at this time.
Tôi chỉ tìm cách chỉ ra một chân trời rộng lớn hơn chân trời mà các đệ tử thường ghi nhận, và tôi dùng những loại suy rộng lớn này để mở rộng quan điểm của bạn. Nhờ đó tôi có thể truyền đạt cho người được soi sáng một ý thức tổng hợp, về sự hoạch định có mục đích và về tính toàn vẹn hành tinh. Cấu trúc tinh thần vĩ đại này của Bản Thể, của Sự Sống và của Sự Chỉ Đạo là điều mà các đệ tử và điểm đạo đồ của thế gian cần—vào lúc này—trong nỗ lực đứng vững dưới áp lực của các biến cố thế giới, và trong quyết tâm hợp tác không lay chuyển với những chuyển động và kế hoạch do các Đấng Chỉ Đạo thế giới thực hiện, “Xã Hội của những [131] Trí Tuệ được soi sáng và được tổ chức” được biết dưới danh xưng Thánh đoàn. Điều đang rất cần vào lúc này là sự soi sáng và sự tổ chức hệ quả của nó.
You will see, therefore, the significance of the teaching now being given out anent the building of the antahkarana. It is only through this bridge, this thread, that the disciple can mount on to that stage of the ladder of evolution which will lead him out of the three worlds, which will bring the personality into rapport with the Spiritual Triad, and which will finally lead the Members of the Hierarchy (when Their term of service is completed) on to the Path of the Higher Evolution. The antahkarana is built by aspirants and disciples and initiates of the seven ray types, and is therefore a sevenfold woven thread; it constitutes the first stage of the Path of the Higher Evolution. It is to that Path what experience in the mineral kingdom of the Life of God is to that same Life when it reaches the fourth or human kingdom. You can see, therefore, how significant is the coming Science of Comparison; not yet has this science of comparative analysis been turned into a definitely recognised line of approach to truth. The Law of Analogy is the key which unlocks the understanding.
Vì vậy, bạn sẽ thấy ý nghĩa của giáo huấn hiện đang được ban ra liên quan đến việc xây dựng antahkarana. Chỉ qua cây cầu này, sợi dây này, mà đệ tử mới có thể leo lên giai đoạn ấy của chiếc thang tiến hoá, giai đoạn sẽ dẫn y ra khỏi ba cõi giới, sẽ đưa phàm ngã vào sự tương thông với Tam Nguyên Tinh Thần, và cuối cùng sẽ dẫn các Thành Viên của Thánh đoàn (khi nhiệm kỳ phụng sự của Các Ngài hoàn tất) tiến vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Antahkarana được xây dựng bởi những người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ thuộc bảy loại cung, và vì vậy là một sợi dây dệt thất phân; nó tạo thành giai đoạn đầu tiên của Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Đối với Con đường ấy, nó cũng như kinh nghiệm trong giới kim thạch của Sự Sống của Thượng đế đối với chính Sự Sống ấy khi nó đạt đến giới thứ tư hay giới nhân loại. Vì vậy, bạn có thể thấy Khoa Học So Sánh sắp đến có ý nghĩa biết bao; khoa học phân tích so sánh này vẫn chưa được biến thành một đường lối tiếp cận chân lý được nhìn nhận rõ ràng. Định luật tương đồng là chìa khoá mở ra sự thấu hiểu.
Something of the quality and the revelatory power of the intuition is known by all disciples; it constitutes at times (from its very rarity) a major “spiritual excitement.” It produces effects and stimulation; it indicates future receptivity to dimly sensed truths and is allied—if you could but realise it—with the entire phenomena of prevision. A registration of some aspect of intuitional understanding is an event of major importance in the life of the disciple who is beginning to tread the Path to the Hierarchy. It provides testimony, which he can recognise, of the existence of knowledges, wisdom and significances of which the intelligentsia of humanity are not yet aware; it guarantees to him the unfolding possibility of his own higher nature, a realisation of his divine connections and the possibility of his ultimate highest spiritual attainment; it steadily supersedes soul knowledge, and the energy pouring in to his consciousness [132] from the Spiritual Triad—particularly the energy of the sixth and seventh spheres of activity—is the specific and particular energy which finally brings about the destruction of the causal body, the annihilation of the Temple of Solomon, and the liberation of the Life.
Mọi đệ tử đều biết đôi chút về phẩm tính và quyền năng mặc khải của trực giác; đôi khi nó tạo thành (do chính sự hiếm hoi của nó) một “sự kích động tinh thần” lớn. Nó tạo ra các hiệu quả và sự kích thích; nó chỉ ra khả năng tiếp nhận trong tương lai đối với những chân lý được cảm nhận mơ hồ và có liên hệ—nếu bạn chỉ có thể nhận ra điều đó—với toàn bộ hiện tượng tiên tri. Việc ghi nhận một phương diện nào đó của sự thấu hiểu trực giác là một biến cố có tầm quan trọng lớn trong đời sống của đệ tử đang bắt đầu bước trên Con Đường đến Thánh đoàn. Nó cung cấp cho y một chứng cứ mà y có thể nhận ra về sự hiện hữu của những tri thức, minh triết và thâm nghĩa mà giới trí thức của nhân loại hiện chưa biết đến; nó bảo đảm cho y khả năng khai mở của bản chất cao hơn của chính mình, một sự chứng nghiệm về các liên hệ thiêng liêng của y và khả năng đạt được thành tựu tinh thần tối cao rốt ráo của y; nó dần dần thay thế tri thức của linh hồn, và năng lượng tuôn vào tâm thức y [132] từ Tam Nguyên Tinh Thần—đặc biệt là năng lượng của khối cầu hoạt động thứ sáu và thứ bảy—là năng lượng đặc thù và chuyên biệt cuối cùng mang lại sự huỷ diệt thể nguyên nhân, sự tiêu diệt Đền thờ Solomon, và sự giải thoát của Sự sống.
Then that which in time and space has been termed the soul can “onward move in life.” Evolution as we now understand it ceases; yet evolutionary unfoldment proceeds along new lines which are based upon the past but which produce very different results to those sensed even by the advanced disciple in his highest moments. A new life-expression appears which moves onward freed from all form yet subject still to limitations “within the circle of influence of the greater Life,” but not limited by life within the many forms which progress, surrounded by that circle, that divine ring-pass-not. There is still the broad confining sweep of the purpose and the life-intent of the planetary Logos, but within that periphery and sphere of activity the Triads move with perfect freedom. Their onward push towards the higher states of Being is carried out in conformity with the life urge of the One in Whom they live and move and have their being. You will note, therefore, that these words in reality cover or deal with life processes and not with form building or the experience in forms, as usually understood.
Khi đó, điều mà trong thời gian và không gian đã được gọi là linh hồn có thể “tiến bước trong sự sống.” Sự tiến hoá như hiện nay chúng ta hiểu sẽ chấm dứt; tuy nhiên, sự khai mở tiến hoá vẫn tiếp diễn theo những đường hướng mới, dựa trên quá khứ nhưng tạo ra những kết quả rất khác với những gì ngay cả đệ tử tiến bộ cũng chỉ cảm nhận được trong những khoảnh khắc cao nhất của y. Một biểu hiện sự sống mới xuất hiện, tiến lên phía trước, giải thoát khỏi mọi hình tướng, tuy vậy vẫn còn chịu những giới hạn “bên trong vòng ảnh hưởng của Sự sống vĩ đại hơn,” nhưng không bị giới hạn bởi sự sống trong nhiều hình tướng đang tiến hoá, được bao quanh bởi vòng tròn ấy, vòng-giới-hạn thiêng liêng đó. Vẫn còn có vòng bao quát rộng lớn nhưng giới hạn của mục đích và ý hướng sự sống của Hành Tinh Thượng đế, nhưng bên trong chu vi và khối cầu hoạt động đó, các Tam nguyên tinh thần vận động với sự tự do hoàn toàn. Sự thúc đẩy tiến lên của các Ngài hướng tới những trạng thái Bản Thể cao hơn được thực hiện phù hợp với xung lực sự sống của Đấng Duy Nhất, trong Ngài các Ngài sống, vận động và hiện hữu. Do đó, bạn sẽ lưu ý rằng những lời này thực ra bao quát hay đề cập đến các tiến trình sự sống chứ không phải việc xây dựng hình tướng hay kinh nghiệm trong các hình tướng như thường được hiểu.
A consideration of these at present inaccessible truths may serve to inspire your minds, evoke your intuition and give you vision and increased spiritual perception.
Việc suy xét những chân lý hiện còn bất khả tiếp cận này có thể giúp truyền cảm hứng cho trí tuệ các bạn, gợi lên trực giác của các bạn và ban cho các bạn tầm nhìn cùng sự tri giác tinh thần gia tăng.