← Theosophy : Spiritualism and Theosophy  by C.W. Leadbeater : AnandGholap.net

Spiritualism and Theosophy

Spiritualism and Theosophy

Scientifically Examined And Carefully Described

BY

the Rт. rev. C. W. LEADBEATER

Anand Gholap Theosophical Institute

2009

MỤC LỤC

MỤC LỤC3

Chapter I—Chương I8

SPIRITUALISTIC PHENOMENA—HIỆN TƯỢNG THẦN LINH HỌC8

The Phenomena Natural8

Hiện tượng là tự nhiên8

How Theosophy Explains Them9

Thông Thiên Học giải thích chúng như thế nào9

A Classification11

Phân loại11

Visible materialization.12

Hiện hình nhìn thấy được.12

Chapter II—Chương II12

PERSONAL EXPERIENCES—KINH NGHIỆM CÁ NHÂN12

The Silk Hat Experiment12

Thí nghiệm với mũ phớt12

Violent Demonstrations15

Những màn phô diễn dữ dội15

Evidence Of Unknown Power17

Bằng chứng về một quyền năng vô hình17

Lights18

Ánh sáng18

Professional Mediums21

Đồng tử chuyên nghiệp21

Chapter III—Chương III22

UTILIZATION OF THE MEDIUM’S BODY—VIỆC VẬN DỤNG THÂN THỂ CỦA ĐỒNG TỬ22

What Mediumship Is22

Đồng cốt là gì22

Trance-Speaking23

Nói trong xuất thần23

Automatic Writing24

Viết tự động24

The Private Archangel25

Vị “Tổng Thiên Thần” riêng tư25

Drawing Or Painting27

Vẽ hoặc họa27

Personation28

Nhập tướng28

Impressibility Of The Physical Body30

Tính dễ cảm ứng của thể xác30

Using Force Thbough The Medium31

Dùng Mãnh Lực thông qua Đồng tử31

CLAIRVOYANCE IN SPIRITUALISM—THÔNG NHÃN TRONG THẦN LINH HỌC35

Clairvoyant Faculties35

Các Năng Lực Thông Nhãn35

The Missing Papers36

Những Giấy Tờ Bị Thất Lạc36

A Lost Will37

Một Bản Chúc Thư Thất Lạc37

The Lost Brooch38

Chiếc Cài Áo Bị Thất Lạc38

Clairvoyant “Readings”43

Những “Bài Đọc” Thông Nhãn43

A Private Test45

Một Phép Thử Riêng45

SOME RECENT TEST CASES—MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP THỬ NGHIỆM GẦN ĐÂY46

Test Conditions46

Các Điều Kiện Thử Nghiệm46

Mother Marius And The Convict47

Mẹ Marius Và Tên Tù Khổ Sai47

The Pearl Tie-Pin Case50

Trường Hợp Cài Cà Vạt Ngọc Trai50

The Bird Nesting Case51

Vụ Làm Tổ Của Chim51

Cross References53

Tham Chiếu Chéo53

The Deer In The Bois55

Con Nai Trong Khu Rừng55

The Fir-Tree Test57

Phép Thử Cây Thông57

The Two Drowned Sailors59

Hai Thủy Thủ Chết Đuối59

The Book Tests60

Các Phép Thử Bằng Sách60

A Test By Madame Blavatsky62

Một Phép Thử Của Bà Blavatsky62

The Newspaper Tests64

Các Phép Thử Bằng Báo Chí64

The Source Of The Messages66

Nguồn Gốc Các Thông Điệp66

Chapter VI—Chương VI68

PARTIAL MATERIALIZATION—HIỆN HÌNH MỘT PHẦN68

Varieties Op Materialization68

Các Dạng của Sự Hiện Hình68

A Luminous Hand70

Một Bàn Tay Phát Quang70

Cases Of Levitation71

Những Trường Hợp Thăng Không71

Lifted То The Ceiling73

Được Nâng Lên Tận Trần Nhà73

Тruе Levitation75

Sự Thăng Không Chân Thực75

A Slate-Writing Seance76

Một Buổi Gọi Hồn Viết Trên Bảng Đá76

An Hour’s Writing80

Một Giờ Viết Liên Tục80

Direct Painting81

Họa Phẩm Trực Tiếp81

Musical Performances82

Các Trình Diễn Âm Nhạc82

The Telegraph Operator83

Người Điện Báo83

The Direct Voice84

Giọng Nói Trực Tiếp84

Interesting Photographs86

Những Bức Ảnh Thú Vị86

Chapter VII—Chương VII89

THE MANIPULATION OF PSYCHIC RODS—SỰ ĐIỀU KHIỂN CÁC CẦN LỰC THÔNG LINH89

The Goligher Circle89

Vòng Tròn Goligher89

Recording The Sounds90

Ghi Âm Các Âm Thanh90

Weighing The Medium91

Cân Nặng của Đồng Tử91

The Lines Of Force92

Các Đường Lực92

Feeling The Substance94

Cảm nhận Vật chất94

The Cantilevers98

Dầm Công-xôn98

The Raps101

Những Tiếng Gõ101

Type Writing102

Đánh Máy102

Impressions In Clay104

Dấu Ấn Trong Đất Sét104

Transportation Of Clay105

Sự Vận Chuyển Đất Sét105

The Path Op The Teleplasm106

Con Đường của Ngoại Chất106

The Photographs110

Những Bức Ảnh110

The Direct Voice111

Giọng Nói Trực Tiếp111

Chapter VIII—Chương VIII113

MISCELLANEOUS PHENOMENA—CÁC HIỆN TƯỢNG LINH TINH113

Precipitation113

Ngưng Tụ113

Various Kinds Of Lights118

Các Dạng Ánh Sáng Khác Nhau118

How Form Is Retained120

Làm Sao Giữ Được Hình Dạng120

Objects Brought From A Distance121

Các Vật Được Mang Đến Từ Xa121

A Fiery Test131

Một Thử Lửa131

The Production Of Fire133

Sự Tạo Lửa133

Chapter IX—Chương IX134

VISIBLE MATERIALIZATIONS—CÁC HIỆN HÌNH NHÌN THẤY ĐƯỢC134

Intangible Forms134

Những Hình Tướng Phi Tiếp Xúc134

Mattes From The Medium135

Chất Liệu Từ Nơi Đồng Tử135

Madame D’espérance138

Madame D’espérance138

“Anna Or I?”139

“Anna hay Tôi?”139

An Intimate Relation142

Một Mối Liên Hệ Mật Thiết142

A Scandalous Outrage143

Một Sự Sỉ Nhục Tai Tiếng143

“Spirit” Drapery147

Vải “Linh”147

Materialization In Full View149

Hiện Hình Ngay Trước Mắt149

Evil Effect Of Tobacco153

Tác Hại của Thuốc Lá153

A Dead Man’s Joke154

Trò Đùa của Người Chết154

Chapter X—Chương X158

SOME RECENT MATERIALIZATION PHENOMENA—MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG HIỆN HÌNH GẦN ĐÂY158

Ectoplasms158

Ngoại chất158

The Phenomena Of Eusapia Palladino160

Các Hiện Tượng Của Eusapia Palladino160

The Teleplasm Of Eva C.162

Viễn Chất Của Eva C.162

Scientific Precautions169

Những Biện Pháp Khoa Học169

The Development Of The Forms170

Sự Phát Triển Của Các Hình Thể170

The Clothing Of Phantoms171

Y Phục Của Các Bóng Hình171

The Wax Gloves173

Những “Găng Tay” Bằng Sáp173

Chapter XI—Chương XI176

OUR ATTITUDE TOWARDS SPIRITUALISM—THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA ĐỐI VỚI THẦN LINH HỌC176

Much In Common176

Nhiều Điểm Chung176

Points Of Agreement177

Những Điểm Đồng Thuận177

Untrained Observation Of Little Value178

Quan Sát Chưa Được Huấn Luyện Ít Giá Trị178

Drawbacks179

Mặt Bất Lợi179

Resolution Needed180

Cần Có Quyết Tâm180

Possibility Of Deception181

Khả Năng Bị Lừa Dối181

Harm To The Medium184

Tổn hại đối với Đồng tử184

Harm To The Dead185

Tổn hại đối với Người chết185

The Place And Work Op Spiritualism186

Vị trí và công việc của Thần linh học186

A Story Of Reincarnation188

Một câu chuyện về Tái sinh188

Reincarnations In India And Japan192

Những lần tái sinh ở Ấn Độ và Nhật Bản192

Reincarnations In Burma197

Những lần tái sinh ở Miến Điện197

Chapter XII—Chương XII204

CONCLUSION—KẾT LUẬN204

An Earnest Appeal205

Lời Kêu Gọi Khẩn Thiết205

Chapter I—Chương I

SPIRITUALISTIC PHENOMENA—HIỆN TƯỢNG THẦN LINH HỌC

A quarter of a century ago I wrote a book called The Other Side of Death, in which I described the condition of the next world, quoting many illustra­tive stories. This book has been out of print for some years, so I have just issued a new edition, much enlarged and brought up to date. Some of its chapters deal with spiritualism; in them I recount many of my own experiences, and offer my readers such explanation of the phenomena as has been suggested to me by my forty-five years’ study of Theosophy. I am now publishing these chapters separately as a smaller book, hoping that it may be of interest to my spiritualistic brethren, and may perhaps even help a little towards bringing about a better understanding between the two camps of Theosophists and Spiritualists, who have so much in common that they surely ought to co-operate and never to waste their time in disputation.

Cách đây một phần tư thế kỷ, tôi đã viết một cuốn sách nhan đề The Other Side of Death, trong đó tôi mô tả tình trạng của thế giới bên kia, kèm theo nhiều câu chuyện minh họa. Cuốn sách ấy đã hết bản in từ vài năm nay, vì vậy tôi vừa cho xuất bản một ấn bản mới, bổ sung rất nhiều và cập nhật hóa. Một số chương trong đó đề cập đến thần linh học; ở những chương ấy tôi thuật lại nhiều kinh nghiệm của riêng mình, và dâng tặng độc giả phần giải thích về các hiện tượng như đã được gợi mở cho tôi qua bốn mươi lăm năm nghiên cứu Thông Thiên Học. Hiện tôi cho in riêng các chương ấy thành một cuốn nhỏ hơn, với hy vọng nó có thể làm vừa lòng những bằng hữu thuộc giới thần linh học, và có lẽ còn góp phần, dẫu nhỏ nhoi, vào việc gây dựng sự thấu hiểu tốt hơn giữa hai “phe” người Thông Thiên Học và người Thần linh học—những người có rất nhiều điểm chung nên lẽ ra phải cộng tác với nhau, chứ không bao giờ phí thời giờ vào tranh luận cãi vã.

The Phenomena Natural—Hiện tượng là tự nhiên

The investigation of the phenomena which take place at spiritualistic seances is one of the lines along which information with regard to man’s survival after death might have been obtained. Just as many of the facts so clearly stated for us by Theosophy might have been deduced from careful observation and comparison of the records of apparitions, so also many of them might have been inferred from equally careful examination and comparison of the accounts given in spiritualistic literature. They were not so inferred, however, except by the spiritualists themselves, and not usually clearly expressed as a coherent system even by them. But just as, now that we know the facts from Theosophical sources, we can see how all the various types of apparitions fall into place and are explained by them, so we may also see how spiritualistic manifestations can be classified and comprehended by means of the same knowledge.

Việc khảo cứu những hiện tượng diễn ra tại các buổi gọi hồn là một trong những đường hướng nhờ đó người ta có thể thu lượm thông tin về sự sống còn của con người sau khi chết. Cũng như nhiều sự kiện được Thông Thiên Học trình bày cho chúng ta một cách sáng rõ hoàn toàn có thể suy luận được từ quan sát cẩn trọng và đối chiếu các ghi chép về những hiện hình, thì nhiều điều trong số đó cũng có thể được suy ra từ việc khảo duyệt và so sánh, với mức độ thận trọng tương tự, các tường thuật trong văn liệu thần linh học. Tuy nhiên, những suy luận như vậy đã không được rút ra, ngoại trừ bởi chính những người theo thần linh học, và ngay cả họ cũng hiếm khi trình bày được như một hệ thống mạch lạc. Nhưng cũng như hiện nay, khi đã biết các sự kiện từ nguồn của Thông Thiên Học, chúng ta có thể thấy mọi kiểu loại hiện hình đều vào chỗ của chúng và được giải minh bởi những sự kiện ấy, thì chúng ta cũng có thể thấy các sự biểu hiện thần linh học được phân loại và lĩnh hội bằng cùng kho tàng tri thức đó.

It has always seemed to me that our spiritualistic friends ought to welcome the Theosophical system, for much of the difficulty which they find in obtain­ing acceptance for their phenomena arises from the belief that their claims are in opposition to science, and not in harmony with any reasonable scheme. This idea is an entirely mistaken one, yet spiritualism does little to dispel it; it continues (quite rightly) to insist upon its facts, but does not usually attempt to harmonize them with science. There is, it seems to me, rather a tendency to cry: “How marvellous! how wonderful! how beautiful!” and to be lost in admiration and awe, instead of realiz­ing how entirely natural it all is, and more beautiful because it is so natural. For all that is really natural is beautiful; it is only we, reduced to pessimism by our own corruption of and interference with Nature’s methods, who fall back in doubt, and say hesitating­ly that certain things are too good, too beautiful to be true—not yet understanding that it is precisely because a thing is good and beautiful that it must also be true, and that a far more accurate expression would be: “It is too good not to be true”. For God is Truth, and He is good.

Tôi vẫn cho rằng những người bạn thần linh học của chúng ta nên hoan nghênh hệ thống của Thông Thiên Học, vì phần lớn khó khăn mà họ gặp phải trong việc thuyết phục người khác chấp nhận các hiện tượng của họ bắt nguồn từ niềm tin cho rằng những tuyên bố của họ đối lập với khoa học, và không hòa hợp với bất kỳ đồ án hợp lý nào. Quan niệm đó hoàn toàn sai lạc, vậy mà thần linh học lại ít làm gì để xua tan nó; họ vẫn (hoàn toàn chính đáng) khăng khăng nơi những sự kiện của mình, nhưng thường không nỗ lực điều hòa chúng với khoa học. Theo tôi, dường như có một khuynh hướng la lên: “Thật kỳ diệu! thật đáng kinh ngạc! thật tuyệt mỹ!” và đắm chìm trong thán phục cùng kính sợ, thay vì nhận ra rằng tất cả đều hoàn toàn tự nhiên, và càng đẹp hơn chính vì nó tự nhiên như thế. Vì tất cả những gì thật sự tự nhiên đều đẹp; chỉ có chúng ta—bị đẩy vào bi quan bởi sự bại hoại nơi chính mình và bởi việc can thiệp, bóp méo các phương pháp của Tự Nhiên—mới thoái lui trong ngờ vực, và ngập ngừng nói rằng có những điều quá tốt, quá đẹp đến nỗi khó mà là thật—chưa hiểu rằng chính vì một điều là tốt và đẹp nên nó nhất định cũng là thật, và diễn đạt đúng đắn hơn nhiều sẽ là: “Nó quá tốt đẹp để có thể không là sự thật”. Vì Thượng đế là Chân Lý, và Ngài là điều thiện.

How Theosophy Explains Them—Thông Thiên Học giải thích chúng như thế nào

The Theosophical explanation as to the planes of nature, and the existence of many varieties of more finely subdivided matter, with their appropriate forces playing through them, at once opens the way to a comprehension of many of the phenomena of the seance-room. When we further come to understand the possession by man of vehicles corresponding to each of these planes, in each of which he has new and extended powers, much that was before difficult becomes clear as noonday. I have written fully of these capacities in my little book on Clairvoyance, so I need not repeat that account here. It will be sufficient to remark that when we grasp their nature we see at once how it is possible for the dead man, if he is so disposed, to find a passage in a closed book, to read a letter inside a locked box, to see and report what is happening at any distance, or to read the thoughts of any person, present or absent.

Lời giải thích của Thông Thiên Học về các cõi của thiên nhiên, và về sự tồn tại của nhiều dạng chất liệu tinh vi hơn nữa, với các loại năng lực tương ứng vận hành xuyên qua chúng, ngay lập tức mở ra con đường để lĩnh hội nhiều hiện tượng trong phòng gọi hồn. Khi chúng ta lại hiểu thêm rằng con người sở hữu những vận cụ tương ứng với mỗi cõi ấy, và trong mỗi vận cụ đó người ta có các quyền năng mới, mở rộng hơn, thì nhiều điều trước đây còn khó hiểu bỗng trở nên sáng rõ như giữa trưa. Tôi đã viết khá đầy đủ về những năng lực này trong cuốn sách nhỏ Thông nhãn, nên không cần lặp lại ở đây. Chỉ cần nói rằng khi nắm bắt được bản chất của chúng, chúng ta lập tức thấy được vì sao người đã chết, nếu có ý muốn, lại có thể tìm đúng một đoạn trong một cuốn sách đóng kín, đọc một bức thư trong một hộp khóa, nhìn và thuật lại những gì đang xảy ra ở bất kỳ khoảng cách nào, hoặc đọc tư tưởng của một người, dù hiện diện hay vắng mặt.

All that the dead man does along any of these lines can be done with equal facility by the living man who has developed his latent powers of astral vision, and we thus realize that for a man residing in and functioning through an astral body, these actions which to us appear phenomenal and marvellous must bear a different aspect, for to him they are simply his ordinary everyday methods of procedure. The man who has not studied such matters is unused to these manifestations, and cannot comprehend how they are produced; he feels toward them just as a savage might towards our use of the electric light or the telephone. But the intelligent and cultured man is familiar to some extent with the mechanism in each of these cases, and so he regards the results obtained no longer as magical, but as natural; he looks upon the matter in an entirely different light.

Tất cả những gì người đã chết làm theo các hướng này đều cũng có thể được người sống thực hiện dễ dàng như thế, nếu người ấy đã phát triển các tiềm năng thị kiến cảm dục tiềm tàng của mình; nhờ vậy chúng ta nhận ra rằng đối với một người trú ngụ và vận hành qua một thể cảm dục, những hành động vốn hiện ra đối với chúng ta như ngoại lệ và kỳ diệu ấy lại phải mang một diện mạo khác, vì với người ấy đó chỉ là những phương thức xử sự hằng ngày, bình thường của chính mình. Người chưa từng học hỏi những điều như vậy thì không quen với các sự biểu hiện ấy và không hiểu nổi cách chúng sinh khởi; người ấy có cảm tưởng không khác gì một người man dã trước việc chúng ta dùng đèn điện hay điện thoại. Nhưng một người thông minh, có văn hóa, ở chừng mực nào đó thì quen thuộc với cơ chế trong từng trường hợp, nên người ấy không còn xem những kết quả đạt được như là phù phép nữa, mà là tự nhiên; người ấy nhìn nhận sự việc dưới một ánh sáng hoàn toàn khác.

A Classification—Phân loại

By the light of Theosophical knowledge of the astral plane and its possibilities, then, we may proceed to attempt some sort of classification of the phenomena of the seance-room. Perhaps we shall find it easiest to arrange them according to the powers employed in their production, and in this way they fall readily into five divisions:

Với ánh sáng của tri thức Thông Thiên Học về cõi cảm dục và các khả năng của nó, chúng ta có thể thử phân loại các hiện tượng trong phòng gọi hồn theo một cách nào đó. Có lẽ dễ nhất là sắp xếp chúng theo các quyền năng được sử dụng để tạo ra chúng, và như thế chúng rơi vào năm loại rõ rệt:

Those which involve simply the use of the medium’s body—trance-speaking, automatic writing, drawing or painting, and personation; and some­times the working of the planchette.

Những hiện tượng chỉ đòi hỏi việc sử dụng chính thân thể của đồng tử—nói trong xuất thần, viết tự động, vẽ hoặc họa, và “nhập tướng”; đôi khi cả việc vận hành bảng planchette.

Those which are dependent upon the posses­sion of the ordinary astral sight, such as the finding of a passage in a closed book, the reading of writing enclosed within a locked box, the answering of mental questions, or the finding of something or some person that is missing.

Những hiện tượng tùy thuộc vào năng lực thị kiến cảm dục thông thường, như tìm được một đoạn trong một cuốn sách đóng kín, đọc chữ viết đặt trong một hộp khóa, trả lời các câu hỏi đặt bằng ý nghĩ, hoặc tìm một vật hay một người bị mất.

Those which involve partial materialization—usually not carried to the point of visibility. Under this head would come raps, the tilting or turning of tables, the moving and floating of objects, slate-writing, or any kind of writing or drawing done directly by the hand of the dead man, and not through the agency of the medium; the touches by the hand of the dead, or the sound of their voices—”the touch of a vanished hand, and the sound of a voice that is still,” for which the poet yearned. Almost all of the minor activities of the seance come in under this head, for to it we must assign the playing of various musical instruments, the winding up and floating about of the musical box, and even the cold wind which is so constant a phenomenon in the earlier stages of the sittings. Probably the working of the planchette or the message-board called the “ouija” usually comes under this category.

Những hiện tượng có liên quan đến hiện hình từng phần—thường chưa đến mức nhìn thấy được. Nhóm này gồm tiếng gõ, việc nghiêng hay xoay bàn, di chuyển và làm nổi các vật thể, viết trên bảng đá, hoặc bất kỳ dạng viết hay vẽ nào được làm trực tiếp bởi tay của người đã chết mà không qua trung gian của đồng tử; những cái chạm của bàn tay người chết, hay âm thanh giọng nói của họ—“cái chạm của một bàn tay đã khuất, và âm vang của một giọng nói đã im”—điều mà thi sĩ từng khát khao. Hầu hết các hoạt động nhỏ trong buổi gọi hồn đều thuộc nhóm này, bởi vì ở đây chúng ta phải kể đến việc chơi các nhạc cụ khác nhau, việc lên dây và bay lượn của chiếc hộp nhạc, và cả làn gió lạnh vốn là một hiện tượng hầu như thường trực trong những giai đoạn sớm của các buổi ngồi. Nhiều khả năng việc vận hành bảng planchette hoặc bảng nhắn chữ gọi là “ouija” cũng thường rơi vào phân loại này.

Those miscellaneous activities which demand a somewhat greater knowledge of the laws of astral physics, such as the precipitation of writing or of a picture, the intentional production of the various kinds of lights, the duplication of objects, their apport from a distance or their production in a closed room, the passage of matter through matter, or the handling or the production of fire.

Những hoạt động tạp loại đòi hỏi sự hiểu biết cao hơn đôi chút về các định luật của “vật lý cảm dục”, như việc ngưng tụ chữ viết hoặc bức vẽ, chủ ý tạo ra nhiều loại ánh sáng khác nhau, nhân đôi các vật thể, “chuyển vật” từ xa đến hoặc tạo chúng trong một căn phòng đóng kín, cho vật chất xuyên qua vật chất, hoặc cầm nắm hay tạo ra lửa.

Visible materialization.—Hiện hình nhìn thấy được.

I propose to take up each of these classes, and endeavour to illustrate and explain them as far as I can, drawing examples sometimes from recognized books upon the subject, and sometimes from my own experience. I spent much time during a good many years in patient investigation of spiritualism, and there is scarcely a phenomenon of any sort of which I read in the books which I have not repeatedly seen under test conditions, so that this is a subject upon which I feel myself able to speak with a certain amount of confidence. It may perhaps be useful for me, as an introduction to our detailed consideration of the subject, to describe how I came to make my first feeble experiments along this line.

Tôi dự định lần lượt đề cập từng loại, cố gắng minh họa và giải thích trong chừng mực có thể, đôi khi trích dẫn từ các sách có thẩm quyền về đề tài này, đôi khi từ kinh nghiệm của chính tôi. Tôi đã dành nhiều năm trời kiên nhẫn khảo cứu thần linh học, và hầu như chẳng có hiện tượng nào mà tôi đọc được trong sách vở lại chưa từng thấy đi thấy lại trong những điều kiện kiểm tra, đến nỗi đây là một đề tài mà tôi cảm thấy có thể nói với một mức độ tự tin nhất định. Có lẽ sẽ hữu ích, như lời dẫn nhập cho sự khảo xét chi tiết của chúng ta về đề tài, nếu tôi thuật lại tôi đã làm những thí nghiệm chập chững đầu tiên theo hướng này như thế nào.

Chapter II—Chương II

PERSONAL EXPERIENCES—KINH NGHIỆM CÁ NHÂN

The Silk Hat Experiment—Thí nghiệm với mũ phớt

The first time that, so far as I can recollect, I ever heard spiritualism mentioned was in connection with the seances held by Mr. D. D. Home with the Emperor Napoleon III. The statements made with reference to those seemed to me at that time quite incredible, and when reading the account of them aloud to my mother one evening I expressed strong doubts as to whether the description could possibly be accurate. The article ended, however, with the remark that anyone who felt unable to credit the story might readily convince himself of its possi­bility by bringing together a few of his friends, and inducing them to sit quietly round a small table either in darkness or in dim light, with the palms of their hands resting lightly upon the surface of the table. It was stated that a still easier plan was to place an ordinary silk hat upon the table brim upwards, and let two or three people rest their hands lightly upon the brim. It was asserted that the hat or table would presently begin to turn, and in this way the existence of a force not under the control of any one present would be demonstrated.

Theo trí nhớ của tôi, lần đầu tiên tôi nghe nói đến thần linh học là liên quan đến các buổi gọi hồn do Ông D. D. Home thực hiện với Hoàng đế Napoleon III. Những lời tường thuật về các buổi ấy đối với tôi lúc bấy giờ hoàn toàn khó tin, và khi đọc to bản tường trình ấy cho mẹ tôi nghe vào một buổi tối, tôi đã bày tỏ hoài nghi mạnh mẽ xem liệu mô tả như thế có thể chính xác được không. Bài viết, tuy nhiên, kết thúc bằng nhận xét rằng bất cứ ai cảm thấy không thể tin câu chuyện trên đều có thể dễ dàng tự mình kiểm chứng khả năng ấy bằng cách mời vài người bạn, và bảo họ ngồi yên quanh một chiếc bàn nhỏ trong bóng tối hay dưới ánh sáng lờ mờ, với lòng bàn tay đặt nhẹ trên mặt bàn. Người ta còn nói rằng cách dễ hơn nữa là đặt một chiếc mũ phớt thông thường lên bàn, vành ngửa lên, và để hai hoặc ba người đặt khẽ tay lên vành mũ. Người ta khẳng định rằng chiếc mũ hoặc chiếc bàn sẽ sớm bắt đầu xoay, và theo cách đó sự tồn tại của một mãnh lực không do bất kỳ ai trong phòng kiểm soát sẽ được chứng minh.

This sounded fairly simple, and my mother suggested that, as it was just growing dusk and the time seemed appropriate, we should make the ex­periment forthwith. Accordingly I took a small round table with a central leg, the normal vocation of which was to support a flower-pot containing a great arum lily. I brought in my own silk hat from the stand in the hall and placed it on the table, and we put our hands upon its brim as pre­scribed. The only person present besides my mother and myself was a small boy of twelve, who, as we afterwards discovered, was a powerful physical medium; but I knew nothing about mediums then. I do not think that any of us expected any result whatever, and I know that I was immensely surprised when the hat gave a gentle but decided half-turn on the polished surface of the table.

Điều này nghe có vẻ khá đơn giản, và mẹ tôi gợi ý rằng vì trời vừa chạng vạng và thời điểm có vẻ thích hợp, chúng tôi nên lập tức tiến hành thí nghiệm. Thế là tôi mang vào một chiếc bàn tròn nhỏ có một chân giữa, vốn dĩ thường để đặt một chậu hoa trồng bông ráy khổng lồ. Tôi lấy chiếc mũ phớt của mình từ giá treo ngoài sảnh vào đặt trên bàn, và chúng tôi đặt tay lên vành mũ như chỉ dẫn. Người duy nhất có mặt ngoài mẹ tôi và tôi là một cậu bé mười hai tuổi, mà về sau chúng tôi phát hiện là một đồng tử vật lý mạnh; nhưng khi ấy tôi chưa biết gì về đồng tử. Tôi không nghĩ ai trong chúng tôi mong đợi bất kỳ kết quả nào, và tôi biết mình đã vô cùng ngạc nhiên khi chiếc mũ xoay nhẹ nhưng dứt khoát nửa vòng trên mặt bàn bóng loáng.

Each of us thought the other must have moved it unconsciously, but it soon settled that question for us, for it twirled and gyrated so vigorously that it was difficult for us to keep our hands upon it. At my suggestion we raised our hands; the hat came up under them, as though attached to them, and remained suspended a couple of inches from the table for a few moments before falling back upon it. This new development astonished me still more, and I endeavoured to obtain the same result again. For a few minutes the hat declined to respond, but when at last it did come up as before, it brought the table with it! Here was my own familiar silk bat, which I had never before suspected of any occult qualities, suspending itself mysteriously in air from the tips of our fingers, and, not content with that defiance of the laws of gravity on its own account, attaching a table to its crown and lifting that also! I looked down to the feet of the table; they were about six inches from the carpet, and no human foot was touching them or near them! I passed my own foot underneath, but there was certainly nothing there—nothing physically per­ceptible, at any rate.

Mỗi người đều cho rằng người kia hẳn đã vô thức đẩy nó, nhưng chẳng mấy chốc chiếc mũ tự giải quyết giúp chúng tôi câu hỏi đó, vì nó xoay tròn và đảo vũ dữ dội đến mức chúng tôi khó mà giữ tay trên nó. Theo gợi ý của tôi, chúng tôi nhấc tay lên; chiếc mũ bám lên dưới tay chúng tôi, như thể dính vào tay, và lơ lửng cách mặt bàn chừng vài phân trong chốc lát rồi mới rơi trở lại. Diễn biến mới này càng làm tôi kinh ngạc, và tôi cố gắng đạt lại cùng kết quả. Trong vài phút chiếc mũ không đáp ứng, nhưng khi rốt cuộc nó đã trồi lên như trước, nó kéo theo cả chiếc bàn! Kia là chiếc mũ phớt quen thuộc của tôi, mà trước đó tôi chưa từng ngờ có phẩm chất huyền bí nào, giờ đây bí ẩn treo mình giữa không trung từ đầu ngón tay chúng tôi, và không chỉ thách thức trọng lực cho riêng nó, mà còn bám vào chóp của nó một chiếc bàn và nhấc cả chiếc bàn lên nữa! Tôi nhìn xuống chân bàn; chúng cách mặt thảm khoảng mười lăm phân, và không có bàn chân người nào chạm vào hay lại gần! Tôi còn đưa chân mình lòn phía dưới, nhưng chắc chắn chẳng có gì ở đó—ít nhất là chẳng có gì cảm nhận được về mặt vật lý.

Of course when the hat first moved it had crossed my mind that the small boy must somehow be playing a trick upon us; but in the first place he obviously was not doing so, and in the second he could not possibly have produced this result un­observed. After about two minutes the table dropped away from the hat, and almost immediately the latter fell back to its companion, but the experi­ment was repeated several times at intervals of a few minutes. Then the table began to rock violent­ly, and threw the hat off—a plain hint to us, if any of us had known enough to take it. But none of us had any idea of what to do next, though we were keenly interested in these extraordinary movements. I was not myself thinking of the phenomenon in the least as a manifestation from the dead, but only as the discovery of some strange new force.

Dĩ nhiên, ngay khi chiếc mũ chuyển động, ý nghĩ lướt qua đầu tôi rằng cậu bé kia hẳn chơi khăm chúng tôi bằng cách nào đó; nhưng thứ nhất, rõ ràng cậu ta không làm thế, và thứ hai, cậu ta không thể nào tạo ra kết quả này mà không bị phát hiện. Chừng hai phút sau, chiếc bàn rơi khỏi chiếc mũ, và hầu như ngay lập tức chiếc mũ rơi về lại bên bạn đồng hành của nó, nhưng thí nghiệm được lặp lại vài lần cách nhau vài phút. Rồi chiếc bàn bắt đầu lắc mạnh, và hất văng chiếc mũ—một ám chỉ hết sức rõ ràng gửi tới chúng tôi, nếu ai trong chúng tôi biết đủ để hiểu. Nhưng chẳng ai biết nên làm gì tiếp, dù chúng tôi vô cùng hứng thú với những chuyển động khác thường này. Chính tôi khi ấy không hề nghĩ đến hiện tượng này như một sự biểu hiện từ người đã khuất, mà chỉ như việc phát hiện ra một loại mãnh lực mới lạ.

I spoke of these curious occurrences next day to some friends, and found one among them who had once or twice seen something of the sort, and was familiar with the rudiments of spiritualistic proce­dure. I promptly invited him to join us on the following evening, and to assist in our experiments. The same phenomena were reproduced, but this time, by our friend’s aid, we asked questions and found that the table would tilt intelligently in response to them. The communicating entity, how­ever, could not have been a man of any great know­ledge, for nothing of any importance was said, either then or afterwards, and the manifestations were always rather of the nature of horse-play. Their most remarkable feature was the enormous physical strength displayed on several occasions. Heavy furniture was frequently dashed violently about, and sometimes considerably damaged, yet none of us was really hurt. Once, later on, an especially sceptical friend had the end of a heavy brass fender dropped upon his foot, but I think he distinctly brought it upon himself by his impolite remarks!

Sang hôm sau tôi kể những việc lạ này cho vài người bạn, và tìm được một người trong số họ từng đôi lần thấy chuyện tương tự, lại quen thuộc với những điều sơ đẳng về thủ pháp thần linh học. Tôi lập tức mời ông ấy tham gia với chúng tôi tối hôm sau, và hỗ trợ các thí nghiệm. Những hiện tượng giống hệt được tái diễn, nhưng lần này, với sự giúp đỡ của người bạn, chúng tôi đặt câu hỏi và thấy chiếc bàn có thể nghiêng trả lời một cách thông minh. Tuy nhiên, thực thể giao tiếp không thể là một người có hiểu biết lớn, vì chẳng có điều gì đáng kể được nói ra, lần ấy cũng như những lần sau, và các biểu hiện luôn mang tính bông đùa. Nét nổi bật nhất là sức mạnh vật lý to lớn bộc lộ trong một số dịp. Những đồ đạc nặng bị quăng quật dữ dội và đôi khi hư hại đáng kể, nhưng chẳng ai trong chúng tôi thực sự bị thương. Có lần, về sau, một người bạn đặc biệt hoài nghi bị thả cả đầu của một khung chắn lò sưởi bằng đồng nặng lên chân, nhưng tôi nghĩ chính anh ta đã chuốc họa vì những lời lẽ khiếm nhã của mình!

Violent Demonstrations—Những màn phô diễn dữ dội

The silk hat was ruined at the second seance, so thereafter we placed our hands directly upon the table—or at least we commenced by doing so, for after a few minutes it was usually waltzing about so wildly that we could only occasionally touch it. At the third sitting (if that term be not a misnomer as applied to an evening spent mainly in jumping about to avoid the charges of various articles of furniture) our little table suffered con­siderably. During a moment of comparative rest, when we were able to keep our hands on it, we beard a curious whirring sound underneath it, and some small object fell to the floor. Picking it up we found it to be a screw, and wondered where the “spirits” had obtained such a thing, and why they had brought it. Twice more the same whir­ring sound was heard, and two more screws were presented to us, but even yet we did not realize what was being done.

Chiếc mũ phớt hỏng ngay ở buổi gọi hồn thứ hai, nên về sau chúng tôi đặt tay trực tiếp lên bàn—hoặc ít nhất là khởi đầu như thế, vì chỉ sau vài phút nó thường lượn vũ điên cuồng khiến chúng tôi chỉ đôi lúc mới chạm tới được. Ở buổi thứ ba (nếu dùng chữ “ngồi” không phải là sai, vì đó là một buổi tối phần nhiều dành để nhảy dựng lên tránh những cú lao tới của đủ loại đồ đạc), chiếc bàn nhỏ của chúng tôi chịu tổn thất đáng kể. Trong một khoảnh khắc tương đối yên, khi chúng tôi có thể giữ tay trên bàn, chúng tôi nghe thấy tiếng vo vo kỳ lạ ở dưới, và một vật nhỏ rơi xuống sàn. Nhặt lên thì thấy đó là một con ốc vít, và chúng tôi tự hỏi “linh hồn” lấy thứ đó từ đâu, và để làm gì mà mang tới. Hai lần nữa tiếng vo vo ấy vang lên, và thêm hai con ốc được “biếu” cho chúng tôi, nhưng thậm chí lúc ấy chúng tôi vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Suddenly we were startled by what I can only describe as an exceedingly heavy kick on the under side of the table, which dashed it upwards against our hands and all but threw us over. The effect precisely resembled that of a vigorous kick from a heavy boot, and it was repeated three or four times in rapid succession until the top of the table was broken away from the leg. The leg waltzed off by itself, while the top fell to the floor, but by no means to lie quiet there. If a coin be set spinning with the thumb and fingers upon a smooth surface it displays a peculiar wobbling rotation just as it is in the act of settling down to rest. That was exactly the motion of this table upon the floor, and two strong men, kneeling upon it, and exerting all their force to hold it down, were unable to do so, but were thrown off apparently with the utmost ease.

Đột nhiên, chúng tôi giật mình bởi điều tôi chỉ có thể mô tả là một cú đá cực kỳ mạnh vào mặt dưới của bàn, khiến nó hất lên tay chúng tôi và suýt nữa hất văng chúng tôi. Cảm giác giống hệt như bị một chiếc ủng nặng tung cú đá mạnh, và nó được lặp lại ba bốn lần liên tiếp cho đến khi mặt bàn tách khỏi chân. Cái chân bàn tự nó “khiêu vũ” đi mất, còn mặt bàn rơi xuống sàn, nhưng không chịu nằm yên ở đó. Nếu bạn đặt một đồng xu quay bằng ngón cái và ngón trỏ trên mặt phẳng trơn, nó sẽ biểu lộ một chuyển động xoay chao đặc biệt ngay lúc sắp dừng. Đó chính xác là chuyển động của mặt bàn trên sàn, và hai người đàn ông lực lưỡng quỳ đè lên, dốc toàn lực ghìm xuống, vẫn không thể khống chế, mà còn bị hất văng ra dễ dàng.

As we were holding it as nearly down upon the carpet as we could, the same prodigious kicks came underneath it as before, so that whoever kicked could evidently do so through the carpet and the floor of the room without the slightest hindrance. It was only after the performance was over, and we came to examine our table, that we understood what had happened. The entity who was playing with us had apparently wished to separate the top of the table from the lower part, and had somehow contrived to extract three of the screws as though with a screw-driver; but the fourth had been rusted in and could not be removed—hence apparently the kicks which broke it out and accomplished the separation.

Khi chúng tôi đang cố giữ bàn sát mặt thảm hết mức có thể, những cú đá ghê gớm tương tự lại giáng từ dưới lên, khiến cho bất kỳ ai đá cũng rõ ràng có thể làm thế xuyên qua thảm và sàn nhà mà chẳng vướng víu mảy may. Chỉ sau khi màn biểu diễn chấm dứt và chúng tôi khám xét chiếc bàn, mới hiểu điều gì đã xảy ra. Thực thể đang đùa nghịch với chúng tôi rõ ràng muốn tách mặt bàn khỏi phần dưới, và bằng cách nào đó đã tháo được ba con ốc như thể dùng tua-vít; nhưng con thứ tư bị rỉ sét cứng ngắc không tháo ra được—vì vậy xem ra mới có những cú đá làm bật nó ra và hoàn tất việc tách rời.

This exhibition of prodigious strength at a seance is by no means unusual. In describing one which took place on Staten Island in the spring of 1870, Mr. Robert Dale Owen remarks:

Sự phô diễn sức mạnh ghê gớm trong một buổi gọi hồn như vậy không phải là hiếm. Mô tả một buổi như thế diễn ra ở Staten Island vào mùa xuân năm 1870, Ông Robert Dale Owen nhận xét:

“Then—probably intensified by the darkness—com­menced a demonstration exhibiting more physical force than I had ever before witnessed. I do not believe that the strongest man living could, without a handle fixed to pull by, have jerked the table with anything like the violence with which it was now, as it seemed, driven from side to side. We all felt it to be a power, a single stroke from which would have killed any one of us on the spot.” (The Debatable Land, p. 285.)

“Rồi—có lẽ do bóng tối làm tăng cảm giác—bắt đầu một màn trình diễn bộc lộ nhiều lực vật lý hơn bất kỳ điều gì tôi từng chứng kiến trước đó. Tôi không tin rằng người mạnh nhất thế gian, nếu không có một cái tay cầm để nắm kéo, lại có thể giật chiếc bàn với cái dữ dội như nó bây giờ, như thể bị đánh mạnh từ bên này sang bên kia. Tất cả chúng tôi đều cảm thấy đó là một quyền năng, mà chỉ một đòn thôi cũng có thể giết chết ngay tại chỗ bất kỳ ai trong chúng tôi.” ( The Debatable Land, tr. 285.)

Evidence Of Unknown Power—Bằng chứng về một quyền năng vô hình

These phenomena, which thus came so unexpect­edly into my life, would no doubt have been despised as frivolous by the veteran spiritualist, but to me they were exceedingly interesting. They took place in my own house, they were entirely unconnected with any professional medium, and they were incontrovertibly free from any suspicion of trickery. Consequently here were certain indubit­able facts, absolutely new to me, and needing investigation. I had no knowledge then that there was a considerable literature upon the subject, and I was not expecting from this study any proof of the life after death. So far, I had had evidence only of the existence of some unseen intelligence, capable of wielding enormous power of a kind quite different from any recognized by science. But it was precisely that power which interested me, and I was anxious to discover whether there was any method by which it could be utilized for the general benefit.

Những hiện tượng bất ngờ đi vào đời tôi như thế hẳn sẽ bị các nhà thần linh học lão luyện xem là phù phiếm, nhưng với tôi chúng vô cùng thú vị. Chúng diễn ra ngay trong nhà tôi, hoàn toàn không liên quan đến bất kỳ đồng tử chuyên nghiệp nào, và hiển nhiên không thể bị nghi ngờ là mánh khóe. Do đó, đây là những sự kiện không thể chối cãi, hoàn toàn mới đối với tôi, cần được khảo cứu. Lúc ấy tôi chưa biết rằng có một văn khố đáng kể về đề tài này, và tôi cũng không kỳ vọng tìm được từ việc nghiên cứu này bằng chứng về đời sống sau khi chết. Cho đến lúc ấy, tôi chỉ có bằng cớ về sự hiện diện của một trí tuệ vô hình, có khả năng vận dụng một mãnh lực khổng lồ thuộc một loại hoàn toàn khác với bất cứ thứ nào được khoa học công nhận. Nhưng chính mãnh lực ấy mới là điều làm tôi quan tâm, và tôi nóng lòng muốn biết liệu có phương pháp nào để có thể vận dụng nó vì lợi ích chung hay không.

We never advanced much further in these home investigations. My mother feared the destruction of her furniture, and in deference to her objections we simply suspended operations when the forces became too boisterous, resuming our sitting only when things quieted down. We had no raps, and no direct voices; any communications which came were always given by the tilting or rising of the table. The entity concerned seemed willing enough to give tests along its own peculiar lines. For example, it occurred to us one evening to ask whether the table could rise in the air without our hands resting upon it; it promptly responded that it could and would, so we all drew back hastily, and watched that table rise till its feet were about a yard from the ground, while it was entirely out of the reach of every member of the party. It remained suspended for perhaps a minute or rather more, and then sank gently to the carpet.

Chúng tôi không tiến xa hơn được bao lăm trong những khảo cứu tại gia này. Mẹ tôi sợ đồ đạc bị phá hỏng, và chiều theo sự phản đối của Bà, chúng tôi đơn giản ngừng lại mỗi khi các “lực” trở nên quá hung hăng, chỉ tiếp tục khi mọi thứ lắng dịu. Chúng tôi không có tiếng gõ, cũng không có “tiếng nói trực tiếp”; bất kỳ thông điệp nào nhận được đều luôn truyền qua cách nghiêng hay nhấc bàn. Thực thể liên can dường như sẵn lòng cho “thi” theo cách riêng của nó. Chẳng hạn, một tối chúng tôi nảy ý hỏi liệu chiếc bàn có thể nhấc lên không trung mà không cần tay chúng tôi đặt lên hay không; nó lập tức hồi đáp rằng có thể và sẽ làm, nên tất cả chúng tôi vội vàng lùi lại, và nhìn chiếc bàn nâng chân lên cao chừng gần một thước, hoàn toàn ngoài tầm với của mọi người trong nhóm. Nó lơ lửng có lẽ một phút hay hơn chút, rồi hạ xuống thảm một cách êm ái.

Lights—Ánh sáng

Lights of various kinds frequently appeared, but usually they gave us the impression not so much of being intentionally shown as of manifesting inci­dentally in the course of other phenomena. They were of three varieties: (a) little sparkling lights like those of fireflies, which used to play over and about our hands, while they rested on the table; (b) large pale luminous bodies, several inches in diameter and often crescent-shaped; (c) a vivid flash resembling lightning, which on one occasion crossed the room and struck and overthrew a large plant in a pot, leaving upon it distinct marks of scorching, much as I suppose lightning might have done. The first and third varieties gave us the impression of being electrical, while the second appeared to be rather phosphorescent in nature. Nothing occurred that we could definitely call materialization, though dark bodies of some sort occasionally passed between us. These phenomena usually took place by firelight, though on one occasion we obtained a few much modified manifestations in full daylight. The room appeared to become charged with some kind of force, as though with electricity; for at least an hour after the seance was closed the furniture continued to creak mysteriously, and the table on several occasions moved out two or three feet from its corner after its flowerpot had been replaced upon it.

Nhiều loại ánh sáng thường xuất hiện, nhưng thông thường chúng gây cho chúng tôi ấn tượng là không hẳn được chủ ý phô bày, mà chỉ là biểu hiện phụ trong quá trình các hiện tượng khác. Chúng có ba loại: (a) những đốm chớp lấp lánh như đom đóm, chơi đùa trên và quanh tay chúng tôi khi đang đặt trên bàn; ( b) những khối lân quang lớn, nhạt, đường kính vài phân và thường có hình lưỡi liềm; ( c) một luồng lóe sáng rực rỡ giống tia chớp, có lần băng ngang phòng đánh ngã một chậu cây lớn, để lại trên đó những vết cháy sém rõ rệt, hẳn cũng giống như sét có thể gây nên. Loại thứ nhất và thứ ba gợi cho chúng tôi ấn tượng “điện”, trong khi loại thứ hai dường như có tính chất lân tinh. Không có gì xảy ra mà chúng tôi có thể dứt khoát gọi là hiện hình, dù đôi khi có những khối đen nào đó lướt qua giữa chúng tôi. Các hiện tượng này thường diễn ra dưới ánh lửa lò sưởi, dù có một lần chúng tôi thu được vài biểu hiện, đã giảm cường độ nhiều, ngay giữa ban ngày. Căn phòng có vẻ như được nạp đầy một loại mãnh lực nào đó, như thể là điện; ít nhất một giờ sau khi buổi ngồi kết thúc, đồ đạc vẫn tiếp tục kêu kẽo kẹt bí ẩn, và chiếc bàn vài lần tự động trượt ra khỏi góc khoảng gần một mét sau khi chậu hoa đã được đặt lại lên trên.

The messages were quite a subordinate feature, and it seemed difficult for the entity, whatever it may have been, to curb its exuberant spirits long enough to go through the tedious process of spelling out a message by tilts. We made many attempts to obtain definite information in this way, but met with no success. It always gave us the impression of being in a condition of wild rollicking enjoyment, too much excited to be patient or coherent. Fre­quently the table would dance vigorously and untir­ingly, keeping time with any music that we played or sang. Its favorite tune appeared to be the well-known spiritualistic hymn, “Shall we gather at the river?” and if at any time the power seemed deficient or the manifestations lethargic, we had only to sing that air to rouse it at once into a condition of the wildest enthusiasm and agility. Sometimes it was decidedly mischievous, and when it could be induced to deliver a message it was by no means always consistent or truthful. It appeared to be capable of annoyance; certainly on one occasion when I denounced one of its statements as false, the table leaped straight at me, and would apparently have struck me severely in the face, if I had not caught it on its way. Even so, as I held it in the air, it made violent efforts to get at me, and had to be dragged away forcibly by my friends, just as though it had been an infuriated animal. But in a few moments its strength or its passion seemed to give out, and it was harmless once more.

Thông điệp chỉ là phần phụ; thực thể, bất kể là gì, dường như khó mà kìm hãm được sự hứng khởi bột phát của nó đủ lâu để chịu đựng quy trình tẻ nhạt đánh vần thông điệp bằng cách nghiêng bàn. Chúng tôi đã nhiều lần tìm cách thu nhận thông tin dứt khoát theo lối này, nhưng vô hiệu. Nó luôn tạo cho chúng tôi ấn tượng rằng mình đang trong một trạng thái vui đùa hoang dại, quá phấn khích để có thể kiên nhẫn hay mạch lạc. Nhiều khi chiếc bàn nhảy múa hăng say không mệt mỏi, bắt nhịp với bất cứ bản nhạc nào chúng tôi chơi hay hát. Giai điệu ưa thích của nó hình như là bài thánh ca thần linh học quen thuộc “Shall we gather at the river?”, và nếu lúc nào “lực” có vẻ suy giảm hoặc biểu hiện lờ đờ, chúng tôi chỉ cần hát giai điệu ấy là lập tức khơi dậy nó đến một trạng thái hứng khởi và lanh lợi cuồng nhiệt nhất. Thỉnh thoảng nó khá tinh quái, và khi bị thuyết phục để đưa ra thông điệp, nó không phải lúc nào cũng nhất quán hay trung thực. Nó có vẻ biết bực dọc; quả thực, có một lần khi tôi tuyên bố một mệnh đề của nó là sai, chiếc bàn lao thẳng vào tôi, và xem ra đã có thể đánh vào mặt tôi rất mạnh nếu tôi không chặn lại giữa đường. Dẫu vậy, khi tôi giữ nó lơ lửng giữa không trung, nó vẫn cố gắng kịch liệt để lao vào tôi, và các bạn tôi phải kéo mạnh ra, y như thể đang khống chế một con thú bị kích nộ. Nhưng chỉ trong ít phút, sức lực hoặc cơn giận của nó dường như tàn lụi, và nó lại vô hại như trước.

Prominent in my memory is one occasion on which the forces engaged in these demonstrations actually drove us out of the room. From the beginning of the seance the control of the proceed­ings was taken entirely out of our hands. Chairs rushed about like living creatures, a heavy sofa swung out from its place by the wall into the middle of the floor, and a tall piano, of the obsolete type which used to be called an upright grand, leaned over me at a dangerous angle. Trying to save it from a heavy fall, I braced myself against it and called one of my friends to assist me. He struck a match and lit a candle, which he placed on a table, hoping that the light would check the manifestations. The table, however, gave a kind of leap which threw the candle on to the floor and extinguished it, and at once pandemonium reigned all round us, heavy articles of furniture crashing together.

Một kỷ niệm nổi bật đối với tôi là có lần các “lực” tham dự những màn biểu diễn này thực sự buộc chúng tôi phải rời khỏi phòng. Từ đầu buổi ngồi, quyền kiểm soát diễn trình hoàn toàn bị lấy khỏi tay chúng tôi. Ghế chạy lồng lên như những sinh vật sống, một chiếc sô-pha nặng rời khỏi chỗ bên tường trườn ra giữa phòng, và một cây đàn piano đứng, kiểu xưa nay đã lỗi thời, nghiêng chồm lên tôi ở một góc nguy hiểm. Cố cứu nó khỏi một cú đổ nặng nề, tôi chống người vào giữ và gọi một người bạn lại giúp. Anh ấy quẹt diêm thắp nến, đặt trên bàn, hy vọng ánh sáng sẽ kìm bớt các biểu hiện. Thế nhưng chiếc bàn nhảy bật khiến cây nến rơi xuống sàn và tắt phụt, và lập tức cảnh hỗn loạn bùng lên bốn phía, đồ đạc nặng nề va đập ầm ầm.

It was manifest that our lives were in danger, so, holding back the piano with all my strength, I shouted to my friend to open the door. After frenzied efforts he succeeded in tearing it open, I sprang back from the toppling piano, and we all fled ignominiously into the hall. The door banged behind us, and for a minute or more the crashes inside continued; then silence ensued. After five minutes or so we opened the door and entered with lights, and found all the massive furniture piled in a vast heap in the middle of the room—some of it badly broken, of course; and yet on the whole there was far less damage than one would have expected from the tremendous noise made. After this demonstration my mother banished us and our experiments to an outhouse!

Rõ ràng tính mạng chúng tôi đang bị đe dọa, nên, trong khi tôi ghìm chặt cây đàn bằng hết sức mình, tôi kêu bạn mở cửa. Sau những nỗ lực cuống cuồng, anh ấy xé được cánh cửa mở ra, tôi buông khỏi cây đàn đang chao đổ, và tất cả chúng tôi chuồn thẳng ra hành lang. Cánh cửa sập mạnh phía sau, và trong một phút hoặc hơn nữa tiếng rầm rập vẫn tiếp diễn; rồi im ắng trở lại. Chừng năm phút sau, chúng tôi mở cửa bước vào, cầm đèn soi, và thấy toàn bộ đồ đạc lớn chất thành một đống giữa phòng—dĩ nhiên một số món hư hại nặng; tuy vậy xét toàn cục thì hư hại ít hơn nhiều so với những tiếng động kinh hồn. Sau màn thị uy này, mẹ tôi đày bọn tôi cùng các thí nghiệm ra nhà ngoài!

Professional Mediums—Đồng tử chuyên nghiệp

Stimulated by these experiences, I began to make further enquiries, and soon found that there were books and periodicals devoted to this subject, and that I might carry my investigations much further by coming into connection with regular mediums. I attended a large number of public seances, and saw many interesting things at them, but the most remarkable and satisfactory results, I soon found, were obtainable only when the circles were small and harmonious. I therefore frequently had private seances, and often invited mediums to my own house, where I could be perfectly certain that there existed no machinery by means of which trickery could be practiced. In this way I soon acquired a good deal of experience, and was able to satisfy myself beyond all doubt that some at least of the manifestations were due to the action of those whom we call the dead.

Được kích thích bởi những kinh nghiệm ấy, tôi bắt đầu dò hỏi thêm, và chẳng mấy chốc nhận ra rằng có sách vở, tạp chí dành cho đề tài này, và rằng tôi có thể đẩy việc khảo cứu đi xa hơn bằng cách kết nối với các đồng tử chuyên nghiệp. Tôi tham dự rất nhiều buổi gọi hồn công khai, và thấy nhiều điều lý thú, nhưng sớm nhận ra rằng những kết quả đáng kể và thỏa đáng nhất chỉ có được khi vòng tròn nhỏ và hòa hợp. Do đó tôi thường tổ chức những buổi riêng, và hay mời các đồng tử đến nhà mình, nơi tôi có thể hoàn toàn chắc chắn rằng không có máy móc nào giúp giở trò bịp bợm. Bằng cách ấy, tôi chẳng bao lâu đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, và có thể tự thỏa mãn vượt trên mọi hồ nghi rằng ít nhất một phần các biểu hiện là do hành động của những người mà chúng ta gọi là người chết.

I found mediums of all sorts, good, bad and indifferent. There were some who were earnest and enthusiastic, and honestly anxious to aid the enquirer to understand the phenomena. Others were incredibly ignorant and illiterate, though probably honest enough; others again impressed me as sanctimonious, oleaginous and untrustworthy. A little experience, however, soon taught me upon whom I could depend, and I restricted my experiments accordingly. I pursued them for a good many years, and during that time saw many strange things—many which would probably be deemed incredible by those unfamiliar with these studies, if I should endeavour to describe them. Such of them as aptly illustrate our various classes I may perhaps cite as we go on; but to give the whole of those experiences would need a much larger book than this.

Tôi gặp đủ loại đồng tử: giỏi, dở và xoàng. Có người nhiệt thành và say mê, chân thực mong giúp người tìm hiểu hiểu thấu hiện tượng. Có kẻ dốt nát khó tin và thất học, dù có lẽ vẫn trung thực; lại có hạng khiến tôi thấy là đạo mạo giả hình, trơn tru và không đáng tin. Tuy nhiên, một chút trải nghiệm sớm dạy tôi biết tin vào ai, và tôi giới hạn các thí nghiệm cho phù hợp. Tôi theo đuổi việc ấy suốt nhiều năm, và trong thời gian đó thấy nhiều điều lạ lùng—nhiều điều, nếu tôi cố thuật lại, hẳn sẽ bị những ai xa lạ với môn học này xem là khó tin. Những điều nào thích đáng minh họa cho các phân loại khác nhau của chúng ta, có lẽ tôi sẽ dẫn ra dần; nhưng để kể hết những kinh nghiệm ấy thì cần một cuốn sách lớn hơn nhiều.

Let us turn now to our classification.

Giờ hãy trở về phân loại của chúng ta.

Chapter III—Chương III

UTILIZATION OF THE MEDIUM’S BODY—VIỆC VẬN DỤNG THÂN THỂ CỦA ĐỒNG TỬ

What Mediumship Is—Đồng cốt là gì

It seems obvious that the easiest course for a dead man who wishes to communicate with the physical plane is to utilize a physical body, if he is able to find one which it is within his power to manage. This method does not involve the learning of unfamiliar and difficult processes, as materialization does; he simply enters into the body provided for him and uses it precisely as he was in the habit of using his own. One of the characteristics of a medium is that his principles are readily separable, arid therefore he is able and usually willing thus to yield up his body for the temporary use of another when required. Such resignation of his vehicle may be either partial or total; that is to say, the medium may retain his consciousness as usual, and yet permit his hand to be employed by another for the purposes of automatic writing; or in some cases his vocal organs may also be thus employed by another while he is still in possession of his body, and understands fully what is being said. On the other hand he may retire from his body just as he would do in deep sleep, allowing the dead man to enter and make the fullest possible use of the deserted tenement. In this latter case the medium himself is quite unconscious of all that is said or done; or at least, if he is able to observe to some extent by means of his astral senses, he does not usually retain any recollection of it when he resumes control of his physical brain.

Hiển nhiên con đường dễ dàng nhất cho một người đã chết nếu muốn truyền thông với cõi hồng trần là sử dụng một thể xác, nếu người ấy tìm được một thể mà mình có thể điều khiển. Phương pháp này không đòi học những quy trình lạ lẫm, khó nhọc như hiện hình; người ấy đơn giản nhập vào thể xác đã được dọn sẵn và dùng nó y như thói quen đã dùng thể xác của mình. Một trong những đặc điểm của đồng tử là các nguyên khí của người ấy dễ tách rời, nên người ấy có khả năng và thường sẵn lòng trao thân xác mình cho người khác sử dụng tạm thời khi cần. Sự nhượng thân này có thể là bộ phận hoặc toàn phần; nghĩa là, đồng tử có thể vẫn giữ tâm thức như thường, nhưng cho phép bàn tay mình được một người khác điều khiển để viết tự động; hoặc trong một số trường hợp, cơ quan phát âm của người ấy cũng được người khác dùng đến, trong khi người ấy vẫn còn lưu trong thân và hiểu đầy đủ những gì được nói. Ngược lại, người ấy có thể rút khỏi thể xác như khi chìm vào giấc ngủ sâu, cho phép người đã chết nhập vào và sử dụng trọn vẹn tòa nhà bị bỏ trống. Trong trường hợp sau, chính đồng tử hoàn toàn không hay biết gì những gì được nói hay làm; hoặc nếu người ấy có thể quan sát phần nào bằng các giác quan cảm dục, thì thường cũng không lưu giữ được ký ức về những điều ấy khi trở lại điều khiển bộ não hồng trần.

Trance-Speaking—Nói trong xuất thần

A certain type of spiritualism—one which has a large number of adherents—is almost entirely occupied with this phase of mediumship. There are many groups to whom spiritualism is a religion, and they attend a Sunday evening meeting and listen to a trance-address just as people of other denominations go to church and hear a sermon. Nor does the average trance-address in any way differ from the average sermon in intellec­tual ability; its tone is commonly vaguer, though somewhat more charitable; but its exhortations follow the same general lines. Broadly speaking, there is never anything new in either of them, and they both continue to offer us the advice which our copy-book headings used to give us at school—”Be good and you will be happy,” “Evil communications corrupt good manners,” and so on. But the reason that these maxims are eternally repeated is simply that they are eternally true; and if people who pay no attention to them when they find them in a copy-book will believe them and act upon them when they are spoken by a dead man or rapped out through a table, then it is emphatically well that they should have their pabulum in the form in which they can assimilate it.

Một dạng thần linh học—có rất đông người theo—hầu như hoàn toàn bận bịu với hình thái đồng cốt này. Có nhiều nhóm xem thần linh học là một tôn giáo, và họ đến dự buổi tối Chủ nhật, nghe một bài thuyết trình trong xuất thần, cũng như người của các hệ phái khác đi nhà thờ nghe giảng. Và bài thuyết trình trong xuất thần trung bình chẳng khác gì một bài giảng đạo trung bình về phương diện năng lực trí tuệ; giọng điệu của nó thường mơ hồ hơn, dẫu có phần khoan hòa hơn; nhưng những lời khuyên răn vẫn đi theo cùng lối mòn. Nói rộng ra, trong cả hai thứ ấy chẳng có gì mới, và cả hai đều tiếp tục ban cho chúng ta lời khuyên mà ngày xưa các “đầu đề” trong vở tập chép ở trường vẫn ban: “Hãy sống tốt và bạn sẽ hạnh phúc”, “Gần mực thì đen gần đèn thì rạng”, v.v. Nhưng lý do khiến những châm ngôn ấy được lặp đi lặp lại muôn đời đơn giản là vì chúng muôn đời đúng; và nếu những người không thèm để ý đến chúng khi thấy trong vở tập chép lại chịu tin và làm theo khi chúng được nói bởi người đã chết hay gõ trên mặt bàn, thì rõ ràng tốt nhất là họ nên nhận phần “lương thực tinh thần” của mình ở hình thức mà họ có thể tiêu hóa.

Trance-speaking of the ordinary type is naturally less convincing as a phenomenon than many others, for it is undeniable that a slight acquaintance with the histrionic art would enable a person of average intelligence to simulate the trance-condition and deliver a mediocre sermon. I have heard some cases in which the change of voice and manner was so entire as to be of itself convincing; I have seen cases where speech in a language unknown to the medium, or reference to matters entirely outside his knowledge, assured one of the genuineness of the phenomenon. But on the other hand I have heard many a trance address in which all the vulgarities, the solecisms in grammar and the hideous mispronunciations of an illiterate medium were so closely reproduced that it was difficult indeed to believe that the man was not shamming. Such cases as this last have no evidential value, yet even in them I have learnt that it is well to be charitable, and to allow the medium as far as possible the benefit of the doubt; for I know, first, that a medium attracts round him dead men of his own type, not differing much from his level of advance­ment or culture; and secondly, that any communi­cation which comes through a medium is inevitably coloured to a large extent by that medium’s personality, and might easily be expressed in his style and by means of such language as he would normally use.

Nói trong xuất thần theo dạng thông thường tự nhiên kém thuyết phục hơn nhiều hiện tượng khác, vì không thể chối cãi rằng chỉ cần một chút làm quen với nghệ thuật diễn xuất là một người có trí tuệ trung bình cũng có thể giả trang trạng thái xuất thần và đọc một bài thuyết giảng xoàng xĩnh. Tôi đã nghe một số trường hợp trong đó sự thay đổi giọng nói và phong thái hoàn toàn đến mức tự nó đã đủ thuyết phục; tôi cũng đã thấy những trường hợp trong đó lời nói bằng một ngôn ngữ mà đồng tử không biết, hoặc ám chỉ đến những điều hoàn toàn ngoài phạm vi hiểu biết của người ấy, khiến ta chắc chắn về tính chân thực của hiện tượng. Nhưng mặt khác, tôi cũng nghe không ít bài xuất thần trong đó mọi kiểu thô thiển, sai ngữ pháp và phát âm khủng khiếp của một đồng tử thất học lại được tái hiện sát đến mức thật khó mà tin người ấy không hề giả vờ. Những trường hợp sau này không có giá trị làm bằng chứng; vậy mà ngay trong đó tôi cũng học được rằng tốt hơn hết là nên khoan dung, và ban cho đồng tử, trong khả năng có thể, “lợi ích của sự hoài nghi”; vì tôi biết, thứ nhất, đồng tử sẽ thu hút quanh mình những người đã chết có kiểu mẫu giống chính họ, không khác là bao về mức độ tiến hóa hay văn hóa; và thứ hai, bất cứ truyền đạt nào đi qua đồng tử tất yếu sẽ bị nhuộm màu ở một mức độ lớn bởi phàm ngã của người ấy, và rất dễ được diễn đạt theo phong cách, bằng thứ ngôn ngữ mà người ấy thường dùng.

Automatic Writing—Viết tự động

The same remarks apply in the case of automatic writing. Sometimes the dead man controls the medium’s organism sufficiently to write clearly, characteristically, unmistakably; but more often the handwriting is a compromise between his own and that of the medium, and frequently it degenerates into an almost illegible scrawl. Here again I have seen cases which carried their own proof on the face of them, either by the language in which they were written or by internal evidence. Sometimes also curious tricks are attempted which make any theory of fraud exceedingly improbable. For example, I have seen a whole page of writing dashed off in a few minutes, but written backward, so that one had to hold it before a mirror in order to be able to read it. In another case, before a sitting with Mrs. Jencken (better known by her maiden-name of Kate Fox, as the little girl who first discovered in 1847 that raps would answer questions intelligently, and so founded modern spiritualism), her little baby-in-arms, perhaps twelve months old, took a pencil in its tiny hand and wrote—wrote firmly and rapidly a message purporting to come from a dead man. What intelligence guided that baby hand I am not prepared to say, but it certainly could not have been that of its legitimate owner, and it was equally certainly not that of its mother, for she held the child away from her while it wrote.

Những nhận xét tương tự cũng áp dụng cho trường hợp viết tự động. Đôi khi người đã chết điều khiển cơ cấu của đồng tử đủ để viết rõ ràng, đặc trưng, khó lẫn; nhưng phần nhiều bút tích là sự thỏa hiệp giữa chữ của người ấy và chữ của đồng tử, và thường suy thoái thành một lối nguệch ngoạc khó đọc. Ở đây cũng vậy, tôi đã thấy những trường hợp bằng chứng tự hiển lộ ngay trên mặt giấy, hoặc bởi ngôn ngữ được dùng, hoặc bởi chứng cứ nội tại. Thỉnh thoảng cũng có những “tiểu xảo” lạ được thực hiện khiến bất kỳ giả thuyết lừa đảo nào cũng trở nên cực kỳ khó tin. Chẳng hạn, tôi đã thấy cả một trang chữ được viết loằng ngoằng trong vài phút, nhưng viết ngược, khiến người ta phải đưa trước gương mới đọc được. Trong một trường hợp khác, trước một buổi ngồi với Bà Jencken (được biết nhiều hơn dưới tên thời thiếu nữ là Kate Fox, cô bé đầu tiên, vào năm 1847, phát hiện rằng tiếng gõ có thể trả lời thông minh các câu hỏi, và như thế đặt nền cho thần linh học hiện đại), đứa con nhỏ còn bế trên tay của Bà, chừng mười hai tháng tuổi, cầm bút chì trong bàn tay xíu xíu và viết —viết chắc và nhanh một thông điệp cho biết là đến từ một người đã chết. Bàn tay bé bỏng ấy được trí thông minh nào dẫn dắt, tôi không dám nói; nhưng quyết chắc không thể là của chính chủ nhân hợp pháp của nó, và cũng chắc chắn không phải của mẹ nó, vì Bà giữ đứa bé khỏi xa mình trong lúc nó viết.

The Private Archangel—Vị “Tổng Thiên Thần” riêng tư

Frequently people who are not mediums in any other sense of the word appear to be open to influence along this line. A large number of persons are in the habit of receiving private communications written through their own hands; and the vast majority of them attach quite undue importance to them. Again and again I have been assured by worthy ladies that the whole Theosophical teaching contained nothing new for them, since it had all been previously revealed to them by their own special private teacher, who was of course a person of entirely superhuman glory, knowledge and power—an Archangel at least! When I come to investi­gate I usually find the Archangel to be some worthy departed gentleman who has either been taught, or has discovered for himself, some portion of the facts with regard to astral life and evolution, and is deeply impressed with the idea that if he can only make this known to the world at large it will necessarily effect a radical change and reform in the entire life of humanity. So he seeks and finds some impressible lady, and urges upon her the conviction that she is a chosen vessel for the regeneration of mankind, that she has a mighty work to do to which her life must be devoted, that future ages will bless her name, and so on.

Nhiều khi những người không phải đồng tử theo bất kỳ nghĩa nào khác lại tỏ ra dễ bị ảnh hưởng theo đường này. Có rất nhiều người thường xuyên nhận các thông điệp riêng tư được viết qua chính tay họ; và tuyệt đại đa số trong họ gán cho chúng một tầm quan trọng quá đáng. Hết lần này đến lần khác, tôi được những bà đáng kính quả quyết rằng toàn bộ giáo lý Thông Thiên Học chẳng có gì mới đối với họ, vì mọi điều đã từng được mặc khải trước đó cho họ bởi vị “giáo sư” riêng của họ—hẳn nhiên là một nhân vật có vinh quang, tri thức và quyền năng siêu phàm—ít nhất cũng là một Tổng Thiên Thần! Khi tôi điều tra thì thường thấy vị “Tổng Thiên Thần” ấy chỉ là một quý ông quá cố đáng kính, người hoặc đã được dạy, hoặc tự mình khám phá ra một phần nào các sự kiện liên quan đến đời sống cảm dục và tiến hóa, và giờ bị ám ảnh sâu sắc với ý tưởng rằng nếu ông có thể làm điều này được biết đến rộng rãi cho thế gian, thì hẳn nhiên nó sẽ gây nên một cuộc đổi thay căn để trong toàn bộ đời sống nhân loại. Thế là ông tìm và gặp một quý bà dễ cảm ứng, và gieo vào bà niềm xác tín rằng bà là một khí cụ được chọn đặc biệt để canh tân nhân quần, rằng bà có một công việc vĩ đại để làm mà đời bà phải hiến trọn, rằng các thế hệ tương lai sẽ chúc phúc danh bà, v.v.

In all this the worthy gentleman is usually quite serious; he has now realized a few of the elementary facts of life, and he cannot but feel what a difference it would have made in his conduct and his attitude if he had realized them while still on the physical plane. He rightly concludes that if he could induce the whole world really to believe this, a great change would ensue; but he forgets that practically all that he has to say has been taught in the world for thousands of years, and that while he was in earth-life he paid no more attention to it than others are now likely to pay to his lucubrations. It is the old story over again: “If they hear not Moses and the prophets, neither will they be persuaded though one rose from the dead”.

Trong tất cả những điều ấy, vị quý ông thường hết sức nghiêm túc; ông nay đã nhận ra vài sự kiện sơ đẳng của đời sống, và không thể không cảm thấy khác biệt biết bao nơi ứng xử và thái độ của mình nếu như ông đã nhận ra điều ấy ngay khi còn ở cõi hồng trần. Ông kết luận đúng rằng nếu ông có thể khiến cả thế giới thực sự tin điều này, một sự thay đổi lớn sẽ xảy ra; nhưng ông quên rằng hầu như tất cả những gì ông nói đã được dạy trên thế gian từ cả ngàn năm, và khi còn ở trần gian chính ông cũng chẳng để tâm gì đến chúng, không hơn gì mức người khác lúc này sắp để tâm tới những biện luận dài dòng của ông. Đó lại là câu chuyện cũ: “Nếu họ không nghe Môi-se và các tiên tri, thì dẫu có người từ cõi chết sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”.

Of course a little common sense and a little acquaintance with the literature of this subject would save these worthy ladies from their delusion of a mission from on high; but self-conceit is subtle and deeply-rooted, and the idea of being specially chosen out of all the world for a divine inspiration is, I suppose, pleasurable to a certain type of people. Usually the communications are infinitely far from “containing all the Theosophical teaching”; they contain perhaps a few fragments of it, or more often a few nebulous generalizations tending some­what in the Theosophical direction.

Dĩ nhiên, chỉ một chút lương tri và một chút quen thuộc với văn liệu về đề tài này cũng đủ cứu các quý bà đáng kính khỏi ảo tưởng về một sứ mệnh đến từ nơi cao cả; nhưng tính tự phụ thì tinh vi và bén rễ sâu, và ý nghĩ được chọn riêng trong cả thế gian để nhận linh hứng thiêng liêng, tôi đoán, là điều làm khoái trá một loại người nhất định. Thông thường, các thông điệp ấy còn lâu mới “chứa đựng toàn bộ giáo huấn của Thông Thiên Học”; chúng chứa đựng may ra vài mảnh vụn, hay thường hơn là vài tổng quát mơ hồ có khuynh hướng nào đó theo hướng Thông Thiên Học.

Occasionally also the instructor is a living man in the astral body—usually an Oriental; and in that case it is perfectly natural that his information should have a Theosophical flavour. It must be recollected that Theosophy is in no sense new, but is the oldest teaching in the world, and that the broad outlines of its system are perfectly well known everywhere outside of the limits of the extraordinary cloud of ignorance on philosophical subjects which Christianity appears to bring in its train. It is therefore small wonder that any glimpse of a wider and more sensible theory should seem to have something of Theosophy about it; but naturally it will rarely be found to have either the precision or the fullness of the scheme as given to us by the Masters of Wisdom through Their pupil Madame Blavatsky.

Đôi khi “giáo sư” là một người còn sống trong thể cảm dục—thường là một người phương Đông; và trong trường hợp đó, rất tự nhiên là thông tin của ông mang hương vị Thông Thiên Học. Phải ghi nhớ rằng Thông Thiên Học không hề mới, mà là giáo lý cổ xưa nhất trên thế giới, và những nét đại cương của hệ thống ấy vốn đã được biết rất rõ ở khắp nơi bên ngoài phạm vi của đám mây mù kỳ lạ về vô minh triết học mà có vẻ như Cơ Đốc giáo mang theo sau nó. Do vậy, chẳng có gì lạ khi bất kỳ cái nhìn loáng qua nào về một lý thuyết rộng rãi và hợp lý hơn dường như mang đôi chút màu sắc Thông Thiên Học; nhưng lẽ dĩ nhiên hiếm khi nó có được độ chính xác hay đầy đặn như đồ án được ban cho chúng ta bởi các Chân sư Minh triết qua môn sinh của Các Ngài là Bà Blavatsky.

It appears to make the process of writing through the hand of the medium even easier for the dead man when that hand is rested upon the little board called planchette. This form of manifestation, however, does not always belong to our present category. Sometimes it seems that the hand of the medium moves the planchette, though it is not by his intelligence that it is directed, for it often writes in languages or about matters of which he is ignorant. But on other occasions it appears to move rather under his hand than with it, suggest­ing that it is charged with the vital force from his hand, just as the hat or the table was in the experi­ments previously described. In that case the movement of the board would probably be directed by another partially materialized hand, and so the phenomenon would belong to our third class.

Dường như việc đặt bàn tay của đồng tử lên bảng nhỏ gọi là planchette làm cho quá trình viết qua tay càng dễ dàng hơn đối với người đã chết. Tuy nhiên, dạng biểu hiện này không phải lúc nào cũng thuộc phân loại hiện tại của chúng ta. Có khi bàn tay của đồng tử đẩy bảng planchette, dẫu không phải trí tuệ của người ấy điều khiển hướng đi, vì nó thường viết bằng các ngôn ngữ hoặc về những điều người ấy không biết. Nhưng có khi bảng dường như chuyển động dưới tay người ấy hơn là với tay, gợi ý rằng nó được nạp sinh lực từ tay, giống như chiếc mũ hoặc chiếc bàn trong các thí nghiệm đã mô tả. Khi ấy, chuyển động của bảng rất có thể do một bàn tay khác, hiện hình từng phần, điều khiển, và như vậy hiện tượng sẽ thuộc về loại thứ ba của chúng ta.

Drawing Or Painting—Vẽ hoặc họa

The phenomenon of automatic drawing or painting is of exactly the same nature as that of writing, though it is not nearly so common, because the art of drawing is much less widely diffused than is that of writing. Still it sometimes happens that a dead man has a talent for rapid drawing, and can quickly produce a pretty little landscape or a passable portrait through the hand of a readily-impressible medium. There are certain mediums who make a speciality of this obtaining of portraits of the dead, and they apparently find that it pays them exceedingly well. I have myself seen passable work produced in this way, though not equal to that done directly by the hand of the dead man, or by precipitation. There are also cases in which such portraits are drawn by a living person who is himself clairvoyant; but that is obviously not an example of mediumship at all, and so does not come into our present category.

Hiện tượng vẽ hoặc họa tự động có cùng bản chất với viết tự động, mặc dù hiếm gặp hơn nhiều, vì nghệ thuật vẽ không phổ biến như viết. Tuy thế đôi khi có người đã chết có năng khiếu ký họa nhanh, và có thể mau chóng tạo một bức phong cảnh xinh xắn hoặc một bức chân dung tạm ổn qua bàn tay của một đồng tử dễ bị ấn tượng. Có những đồng tử chuyên “lấy” chân dung người chết, và có vẻ công việc ấy đem lại cho họ nguồn thu rất hậu. Bản thân tôi đã thấy những tác phẩm tạm chấp nhận được theo lối này, dù không bằng thứ do chính tay người chết làm trực tiếp hoặc bằng phương pháp ngưng tụ. Cũng có những trường hợp mà chân dung được vẽ bởi một người sống vốn có thông nhãn; nhưng rõ ràng đó không phải là một ví dụ của đồng cốt, nên không thuộc phạm trù hiện tại của chúng ta.

It must be remembered that for the production of a portrait of a dead person by any of these methods it is not in the least necessary that he should be present, though of course he may be. But when surviving friends come to a seance expecting and earnestly hoping for a portrait of some dead man, their thought of him, so strongly tinged with desire, makes an effective image of him in astral matter, and this is naturally clearly visible to any other dead man, so that the portrait can be drawn quite easily from it. It is, however, also true that this same strong thought about the dead man is certain to attract his attention, and he is therefore likely to come and see what is being done. So it is always possible that he may be present, but the portrait is not proof of it.

Cần ghi nhớ rằng để tạo ra chân dung một người đã chết bằng bất kỳ phương pháp nào trong số này, hoàn toàn không nhất thiết người ấy phải có mặt, dù dĩ nhiên người ấy có thể có mặt. Nhưng khi những người còn sống đến dự buổi gọi hồn với mong đợi và khát khao mãnh liệt có được chân dung của một người đã chết nào đó, thì tư tưởng về người ấy, nhuốm đậm sắc thái dục vọng, sẽ hình thành một hình ảnh hiệu quả về người ấy trong chất liệu cảm dục; hình ảnh này tự nhiên hiện rõ trước mắt bất kỳ người chết nào khác, đến nỗi bức chân dung có thể dễ dàng được vẽ lại từ đó. Tuy nhiên, cũng đúng là chính tư tưởng mạnh mẽ ấy về người chết chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của người ấy, và vì vậy người ấy có thể đến xem chuyện gì đang diễn ra. Do đó luôn có khả năng người ấy hiện diện, nhưng bức chân dung tự nó không chứng minh điều đó.

Personation—Nhập tướng

I am employing this term in a technical sense which is well known to those who have studied these phenomena. I am aware that it has also been employed to describe those cases in which a dishonest medium has presented himself before his audience as a “spirit-form”, but I am dealing with occurrences of a type quite different from that. All who have seen good examples of trance-speaking will have noticed how the entire ex­pression of the medium’s face changes, and how he adopts all kinds of little tricks of manner and speech, which are really those of the man who is speaking through his organism.

Tôi dùng thuật ngữ này theo một nghĩa kỹ thuật vốn quen thuộc với những ai đã nghiên cứu các hiện tượng này. Tôi biết rằng nó cũng từng được dùng để mô tả những trường hợp một đồng tử bất lương tự mình xuất hiện trước khán giả như một “hình dạng linh hồn”, nhưng ở đây tôi bàn về những sự cố hoàn toàn khác. Tất cả những ai từng thấy các ví dụ tốt về nói trong xuất thần hẳn đều nhận ra gương mặt đồng tử đổi khác toàn diện như thế nào, và người ấy tiếp nhận đủ loại tiểu xảo về cử chỉ, giọng điệu ra sao—thật ra chính là những thói quen của người đang nói qua cơ cấu của đồng tử.

There are instances in which this process of change and adaptation goes much further than this—in which a distinct temporary alteration actually takes place in the features of the medium. Some­times this change is only apparent and not real, the fact being that the earnest effort of the ensouling personality to express himself through the medium acts mesmerically upon his friend, and deludes him into thinking that he really sees the features of the dead man before him. When that is so the phenomenon is of course purely subjective, and a photo­graph taken of the medium at that moment would show his face just as it always is.

Có những trường hợp quá trình thay đổi và thích nghi đi xa hơn thế nữa—trong đó thực sự xảy ra một biến đổi tạm thời ở các đường nét của đồng tử. Đôi khi sự đổi khác này chỉ là bề ngoài chứ không thật, do nỗ lực thành tâm của phàm ngã đang phú linh muốn biểu đạt chính mình qua đồng tử đã tác động theo lối thôi miên lên người bạn, khiến người bạn ngộ nhận rằng mình thật sự nhìn thấy dung mạo của người đã chết trước mắt. Khi như thế, hiện tượng dĩ nhiên hoàn toàn chủ quan, và một bức ảnh chụp đồng tử vào khoảnh khắc ấy sẽ cho thấy gương mặt của người ấy y như thường.

Sometimes, however, the change is real and can be shown to be so by means of the camera. When this is so, there are still two methods by which the effect may be produced. I have seen at least one case of apparent change of feature in which what really took place may best be described as the partial materialization of a mask; that is to say, such parts of the medium’s face as corresponded fairly well with that to be represented were left untouched, whereas other parts which were entirely unsuitable were covered with a thin mask of materi­alized matter which made them up into an almost perfect imitation, though slightly larger than the original. But I have also seen other cases in which the face to be represented was much smaller than that of the medium, and the exact imitation secured undoubtedly involved an alteration in the form of the medium’s features. This will naturally seem an absolute impossibility to one who has not made a special study of these things, for the majority of us little recognize the extreme fluidity and impermanence of the physical body, and have no concep­tion how readily it may be modified under certain conditions.

Tuy nhiên, đôi khi sự thay đổi là thật và có thể chứng minh bằng máy ảnh. Khi như vậy, vẫn có hai phương thức để tạo hiệu quả. Tôi đã thấy ít nhất một trường hợp đổi khác trên diện mạo mà điều thực sự xảy ra có thể mô tả tốt nhất như là một sự hiện hình từng phần của một chiếc mặt nạ; nghĩa là những phần nào trên gương mặt đồng tử vốn tương đối tương ứng với gương mặt cần thể hiện thì được giữ nguyên, còn những phần hoàn toàn không thích hợp sẽ được phủ bằng một lớp mỏng chất liệu hiện hình, “hóa trang” chúng thành một bản mô phỏng gần như hoàn hảo, dẫu nhỉnh hơn nguyên bản đôi chút. Nhưng tôi cũng đã thấy những trường hợp khác trong đó gương mặt cần thể hiện nhỏ hơn rất nhiều so với mặt của đồng tử, và việc đạt được bản sao y hệt hiển nhiên đòi hỏi phải thay đổi hình dạng các đường nét của đồng tử. Điều này tự nhiên sẽ có vẻ hoàn toàn bất khả đối với người chưa nghiên cứu đặc biệt về các vấn đề này, vì phần đông chúng ta ít khi nhận ra mức độ linh động và vô thường đến cực độ của thể xác, và không hề hình dung được nó có thể được biến cải dễ dàng ra sao trong những điều kiện nhất định.

Impressibility Of The Physical Body—Tính dễ cảm ứng của thể xác

There is plenty of evidence to show this, though the circumstances which call into operation forces capable of producing such a result are fortunately rare. In Isis Unveiled, vol. i, p. 368, Madame Blavatsky gives us a series of ghastly examples of the way in which the thought or feeling of a mother can change the physical body of her unborn child. Cornelius Gemma tells of a child that was born with his forehead wounded and running with blood, the result of his father’s threats towards his mother with a drawn sword which he directed towards her fore­head. In Van Helmont’s De Injectis Materialibus it is reported that the wife of a tailor at Mechlin saw a soldier’s hand cut off in a quarrel, which so impressed her that her child was born with only one hand, the other arm bleeding. The wife of a merchant of Antwerp, seeing a soldier who had just lost his arm, brought forth a daughter with one arm struck off and bleeding. Another woman witnessed the beheading of thirteen men by order of the Duc d’Alva. In her case also the child, quite perfect in other respects, was born without a head and with bleeding neck.

Có vô vàn bằng cớ cho thấy điều này, tuy những hoàn cảnh triệu hoạt các lực có thể tạo ra kết quả như vậy, may thay, là hiếm. Trong Isis Vén Màn, tập i, tr. 368, Bà Blavatsky đưa cho chúng ta một loạt ví dụ rùng rợn về cách tư tưởng hay cảm xúc của người mẹ có thể làm thay đổi thân thể vật chất của đứa trẻ chưa ra đời. Cornelius Gemma kể về một đứa trẻ sinh ra với vầng trán bị thương và máu chảy ròng, là kết quả từ việc người cha đã dọa nạt mẹ nó bằng một thanh gươm trần chĩa thẳng vào trán bà. Trong tác phẩm của Van Helmont, De Injectis Materialibus, có thuật lại chuyện vợ của một người thợ may ở Mechlin thấy một bàn tay của người lính bị chém lìa trong một vụ cãi vã, điều đó đã in ấn tượng mạnh nơi bà đến nỗi đứa con bà sinh ra chỉ có một bàn tay, cánh tay kia thì rỉ máu. Vợ của một thương gia ở Antwerp, khi thấy một người lính vừa mất cánh tay, đã sinh một con gái với một cánh tay bị chặt đứt và đang chảy máu. Một phụ nữ khác chứng kiến việc chém đầu mười ba người theo lệnh của Công tước d’Alva. Trong trường hợp của bà này, đứa trẻ tuy hoàn hảo ở mọi phương diện khác, lại sinh ra không có đầu và cổ thì rỉ máu.

The whole question of the appearance of stigmata on the human body, which seems so thoroughly well authenticated, is only another instance of the influence of mind upon physical matter; for just as the mind of the mother acts upon the foetus, so do the minds of various saints, or of women like Catherine Emmerich, act upon their own organism. On p. 384 of The Night Side of Nature we find another rather horrible example of the action of violent emotion upon the physical body.

Toàn bộ vấn đề về sự xuất hiện của các dấu thánh trên thân thể con người, vốn xem ra được xác nhận rất đầy đủ, chỉ là thêm một trường hợp về ảnh hưởng của thể trí lên vật chất hồng trần; bởi cũng như thể trí của người mẹ tác động lên bào thai, thì thể trí của các vị thánh khác nhau, hoặc của những người như Catherine Emmerich, cũng tác động lên chính cơ thể của họ. Ở tr. 384 của Mặt Tối của Thiên Nhiên chúng ta thấy một ví dụ khá kinh hoàng khác về tác động của cảm xúc mãnh liệt lên thân thể vật chất.

A letter from Moscow, addressed to Dr. Kerner in consequence of reading the account of the Nun of Dulmen, relates a still more extraordinary case. At the time of the French invasion, a Cossack having pursued a Frenchman into a cul de sac, an alley without an outlet, there ensued a terrible conflict between them, in which the latter was severely wounded. A person who had taken refuge in this close, and could not get away, was so dreadfully frightened that when he reached home there broke out on his body the very same wounds that the Cossack had inflicted on his enemy.

Một lá thư từ Moscow, gửi Ông Kerner do đọc được tường thuật về nữ tu sĩ ở Dulmen, kể lại một trường hợp còn lạ lùng hơn nữa. Vào thời kỳ quân Pháp xâm lược, một người Cossack đuổi theo một người Pháp vào một hẻm cụt, một lối đi không có lối ra, đã xảy ra một trận xung đột kinh khủng giữa họ, trong đó người sau bị thương nặng. Một người đã trú ẩn trong lối đi chật hẹp này, không thể chạy thoát, bị kinh hoàng đến mức khi về tới nhà, trên thân thể ông phát ra đúng những vết thương mà người Cossack đã gây cho kẻ thù của mình.

We shall have to refer to this question when dealing with materializations; but in the meantime, and as far as personation is concerned, I can myself testify that it is possible for the physical features of a medium to be completely changed for a time into the exact resemblance of those of the dead man who is speaking through him. This phenomenon is not common, so far as I have seen or heard, and we may presume that the reason for its rarity is that ordinary materialization would probably be easier to produce. The personation, however, took place in full daylight on each occasion when I witnessed it; whereas materialization is usually performed by artificial light, and there must not be too much even of that, for reasons which will be explained when we come to deal with that side of the question.

Chúng ta sẽ phải trở lại vấn đề này khi đề cập đến các hiện hình; nhưng trong lúc này, xét riêng về sự giả dạng, chính tôi có thể chứng thực rằng có thể các nét diện mạo của một đồng tử bị thay đổi hoàn toàn trong một thời gian, thành giống hệt khuôn mặt của người đã chết đang nói qua thân thể y. Hiện tượng này không phổ biến, theo như tôi đã thấy hoặc nghe, và chúng ta có thể suy đoán rằng lý do hiếm hoi của nó là bởi việc hiện hình thông thường có lẽ dễ tạo ra hơn. Tuy nhiên, sự giả dạng đã diễn ra giữa ban ngày trong mỗi lần tôi chứng kiến; trong khi việc hiện hình thường được thực hiện dưới ánh sáng nhân tạo, và ánh sáng đó cũng không được quá nhiều, vì những lý do sẽ được giải thích khi chúng ta đi vào mặt này của vấn đề.

Using Force Thbough The Medium—Dùng Mãnh Lực thông qua Đồng tử

Speaking, writing and drawing are by no means the only actions performed through the body of the medium. Sometimes it is used for more extensive and even violent activities. M. Flammarion records a striking case of the kind (After Death, p. 100) in which the “spirit” took possession of the medium in order to attempt to revenge himself. The case first appeared in Luce e Ombra (Rome, 1920), and the Revue Spirite (1921, p. 214), and was witnessed by M. Bozzano, the writer. Though the incident occurred in 1904, M. Bozzano felt that he could not publish an account of it before the death of the chief person concerned. He writes:

Nói, viết và vẽ chưa phải là những hành động duy nhất được thực hiện thông qua thân thể của đồng tử. Đôi khi thân thể ấy còn bị dùng cho những hoạt động rộng hơn, thậm chí kịch liệt. Ông Flammarion ghi lại một trường hợp nổi bật thuộc loại này ( Sau Khi Chết, tr. 100), trong đó “vong linh” đã chiếm hữu đồng tử để mưu toan báo thù. Trường hợp này xuất hiện đầu tiên trong Luce e Ombra (Rome, 1920), và Revue Spirite (1921, tr. 214), và đã được Ông Bozzano, người viết, chứng kiến. Dù sự cố xảy ra năm 1904, Ông Bozzano cảm thấy không thể công bố tường thuật trước khi nhân vật chính liên quan qua đời. Ông viết:

Today I can speak of it in the general interest of metaphysical research, omitting, however, the name of the person chiefly concerned.

Hôm nay tôi có thể nói về việc này vì lợi ích chung của nghiên cứu siêu hình, tuy nhiên bỏ qua tên của người liên quan chính.

Seance held on April 5, 1904.—The following were present: Dr. Guiseppe Venzano, Ernesto Bozzano, the Cavaliere Carlo Perefcti, Signore X—, Signora Guidetta Peretti, and the medium L. P. The seance was begun at ten o’clock in the evening.

Buổi gọi hồn tổ chức ngày 5 tháng 4, 1904.—Những người có mặt gồm: Bác sĩ Guiseppe Venzano, Ernesto Bozzano, Kỵ sĩ Carlo Perefcti, Ông X—, Bà Guidetta Peretti, và đồng tử L. P. Buổi gọi hồn bắt đầu lúc mười giờ tối.

From the beginning we noted that the medium was troubled, for some unknown reason. The spirit-guide Luigi, the medium’s father, did not manifest himself, and L. P. gazed with terror toward the left corner of the room. Shortly afterward he freed himself from his “spirit-controls”, rose to his feet, and began a singularly realistic and impressive struggle against some invisible enemy. Soon he uttered cries of terror, drew back, threw himself to the floor, gazed toward the corner as though terrified, then fled to the other corner of the room, shouting: “Back! Go away. No, I don’t want to. Help me! Save me!” Not knowing what to do, the witnesses of these scenes concentrated their thoughts with intensity upon Luigi, the spirit-guide, and called upon him to aid. The expedient proved effective, for little by little the medium grew calmer, gazed with less anxiety toward the corner of the apartment; then his eyes took on the expres­sion of someone who looks at a distant spectacle, then a spectacle still more distant. At last he gave vent to a long sigh of relief and murmured: “He’s gone! What a bestial face!”

Ngay từ đầu, chúng tôi nhận thấy đồng tử bối rối vì một lý do không rõ. Vị vong linh hướng dẫn Luigi, cha của đồng tử, không hiện diện, và L. P. nhìn với vẻ kinh hãi về góc bên trái của căn phòng. Chẳng bao lâu sau, y thoát khỏi những “vong linh kiểm soát”, đứng bật dậy, và bắt đầu một cuộc vật lộn hết sức sống động và ấn tượng với một kẻ thù vô hình nào đó. Chẳng mấy chốc y thét lên vì kinh hoàng, lùi lại, phóng mình xuống sàn, nhìn về góc phòng như thể khiếp đảm, rồi bỏ chạy sang góc kia của căn phòng, vừa chạy vừa kêu: “Lùi lại! Đi đi. Không, tôi không muốn. Cứu tôi! Cứu tôi với!” Không biết phải làm gì, các nhân chứng của những cảnh tượng ấy tập trung tư tưởng mãnh liệt hướng về Luigi, vị vong linh hướng dẫn, và kêu gọi Ngài trợ giúp. Biện pháp đó tỏ ra hiệu quả, vì dần dần đồng tử bình tĩnh lại, nhìn về phía góc căn phòng với ít lo lắng hơn; rồi mắt y mang vẻ của một người đang nhìn một quang cảnh xa xa, rồi lại là một quang cảnh còn xa hơn nữa. Cuối cùng y thở hắt một hơi dài nhẹ nhõm và thì thầm: “Hắn đi rồi! Thật là một gương mặt thú tính!”

Soon afterwards, the spirit-guide Luigi manifested himself. Expressing himself through the medium, he told us that in the room in which the seance was being held there was a spirit of the basest nature, against which it was impossible for him to struggle; that the intruder bore an implacable hatred for one of the persons of the group. Then the medium exclaimed in a frightened voice: “There he is again! I can’t defend you any longer. Stop the...”

Chẳng bao lâu, vị vong linh hướng dẫn Luigi hiện diện. Thông qua đồng tử mà nói, Ngài cho chúng tôi biết rằng trong căn phòng nơi đang cử hành buổi gọi hồn có một vong linh thuộc bản chất thấp hèn nhất, mà Ngài không thể đấu lại; rằng kẻ xâm nhập ôm mối hận thù không đội trời chung với một người trong nhóm. Rồi đồng tử kêu lên bằng giọng sợ hãi: “Hắn lại đây nữa rồi! Tôi không thể bảo vệ anh lâu hơn. Dừng...”

It is certain that Luigi wished to say, “stop the seance”, but it was already too late. The evil spirit had taken possession of our medium. He shouted; his eyes shot glances of fury; his hands, lifted as though to seize something, moved like the claws of a wild beast, eager to clutch his prey. And the prey was Signore X—, at whom the medium’s furious looks were cast. A rattling and a sort of concentrated roaring issued from our medium’s foam-covered lips, and suddenly these words burst from him: “I’ve found you again at last, you coward! I was a Royal Marine. Don’t you remember the quarrel in Oporto? You killed me there. But today I’ll have my revenge and strangle you.”

Hẳn nhiên Luigi muốn nói “dừng buổi gọi hồn”, nhưng đã quá muộn. Vong linh ác đã chiếm hữu đồng tử của chúng tôi. Y gào thét; mắt bắn ra những tia nhìn căm hờn; đôi tay giơ lên như muốn chụp lấy thứ gì đó, cử động như vuốt của một dã thú khao khát tóm gọn con mồi. Và con mồi ấy là Ông X—, người mà những tia nhìn giận dữ của đồng tử chĩa vào. Từ đôi môi phủ bọt của đồng tử phát ra những tiếng khò khè và một thứ gầm rú dồn nén, và đột nhiên những lời này bật ra: “Cuối cùng ta cũng tìm lại được mi, đồ hèn! Ta là lính Thuỷ quân Hoàng gia. Mi không nhớ cuộc cãi vã ở Oporto sao? Mi đã giết ta ở đó. Nhưng hôm nay ta sẽ báo thù và bóp cổ mi.”

These distracted words were uttered as the hands of the medium, L. P., seized the victim’s throat, and tightened on it like steel pincers. It was a fearful sight. The whole of Signore X—’s tongue hung from his wide-open mouth, his eyes bulged. We had gone to the unfortunate man’s assistance. Uniting our efforts with all the energy which this desperate situation lent us, we succeeded, after a terrible hand-to-hand struggle, in freeing him from the desperate grip. At once we pulled him away, and thrust him outside, locking the door. We barred the medium’s access to the door; exasperated, he tried to break through this barrier and run after his enemy. He roared like a tiger. It took all four of us to hold him. At last, he suffered a total collapse and sank down upon the floor.

Những lời mê sảng đó được thốt ra khi hai tay của đồng tử, L. P., chộp lấy cổ họng nạn nhân và siết chặt như gọng kìm thép. Cảnh tượng thật kinh hoàng. Cả lưỡi của Ông X— thè hẳn ra khỏi cái miệng há to, mắt thì lồi ra. Chúng tôi đã lao đến trợ giúp người đàn ông bất hạnh. Hợp lực với tất cả sức mạnh mà tình thế tuyệt vọng này đem lại, sau một cuộc vật lộn tay đôi dữ dội, chúng tôi đã thoát được cho ông khỏi cú siết điên cuồng. Lập tức chúng tôi kéo ông đi và đẩy ra ngoài, khóa cửa lại. Chúng tôi chặn đồng tử khỏi cửa; y uất ức, cố phá vỡ hàng rào người để lao theo kẻ thù. Y gầm như hổ. Phải bốn người chúng tôi mới giữ nổi y. Sau cùng, y kiệt sức hoàn toàn và gục xuống sàn.

On the following day we prepared to clear up this affair—to seek information which might enable us to confirm what “the Oporto spirit” had said. We were, in fact, already quite certain of the truth of the accusation, for it was noteworthy that Signore X— had not protested in the least while the serious charge of homicide had been hurled at him.

Ngày hôm sau, chúng tôi chuẩn bị làm sáng tỏ vụ việc này—tìm kiếm thông tin có thể cho phép xác nhận những gì “vong linh Oporto” đã nói. Thực tế, chúng tôi đã khá chắc chắn về sự thật của cáo buộc, vì điều đáng lưu ý là Ông X— không hề phản đối dù chỉ một chút khi lời buộc tội nghiêm trọng về tội giết người nhắm vào mình.

The words uttered by the furious spirit served me as a means for arriving at the truth. He had said, “I was a Royal Marine”. And I knew vaguely that Signore X— had, himself, in his youth, been an officer of marines; that he had witnessed the battle of Lissa, and that after resigning his commission he had devoted himself to commercial enterprises. With these facts as a basis, I proceeded to ask a retired vice-admiral for other details; he, too, had fought at Lissa. As for Dr. Venzano, he questioned a relative of Signore X—, with whom the latter had broken off all relations years before. Between us we gathered separate bits of information which tallied amazingly, and which, brought together, led us to these conclusions:

Những lời do vong linh phẫn nộ thốt ra đã giúp tôi lần ra sự thật. Hắn đã nói, “Ta là lính Thuỷ quân Hoàng gia”. Và tôi lờ mờ biết rằng chính Ông X— hồi trẻ từng là một sĩ quan thuỷ quân; rằng ông đã chứng kiến trận Lissa, và sau khi từ chức thì dấn thân vào các hoạt động thương mại. Dựa trên những dữ kiện ấy, tôi tiến hành hỏi một vị phó đô đốc đã về hưu về các chi tiết khác; ông này cũng từng chiến đấu ở Lissa. Còn Bác sĩ Venzano thì hỏi một người bà con của Ông X—, người mà ông đã cắt đứt mọi liên hệ từ nhiều năm trước. Giữa chúng tôi, chúng tôi thu thập được những mảnh thông tin riêng rẽ trùng khớp đáng kinh ngạc, và khi ghép lại, đã dẫn đến những kết luận sau:

Signore X— had indeed served with the Royal Marines. One day, being upon a battle-ship on a training cruise, he had landed for some hours at Oporto, Portugal. During his stay, while he was walking in the city, he heard a noise of drunken, furious voices coming from an inn. He perceived that the language was Italian, and, realizing that it was a quarrel between men of his vessel, he went into the room, recognized his men, and commanded them to return to their ship. One of the drinkers, more intoxicated than the others, answered him back, and even went so far as to threaten his superior officer. Angered by his attitude, the officer drew his sword and plunged it into the insolent fellow’s breast; the latter died soon afterward. As a result of this adventure, the officer was court-martialled, was sentenced to six months’ imprisonment, and, on the expiration of his term, was asked to resign his commission.

Ông X— quả thật đã phục vụ trong Thuỷ quân Hoàng gia. Một ngày kia, khi đang ở trên một chiến hạm trong chuyến hải hành huấn luyện, ông đã lên bờ vài giờ tại Oporto, Bồ Đào Nha. Trong thời gian ở đó, khi đang đi trong thành phố, ông nghe tiếng la lối say xỉn, giận dữ phát ra từ một quán trọ. Ông nhận ra đó là tiếng Ý và hiểu rằng đó là một cuộc ẩu đả giữa những người thuộc tàu mình, bèn bước vào phòng, nhận ra người của mình và ra lệnh họ quay về tàu. Một trong những kẻ bợm nhậu, say hơn những người khác, đã cự lại và thậm chí dám đe dọa thượng cấp của mình. Bực tức trước thái độ đó, viên sĩ quan rút gươm đâm vào ngực tên hỗn láo; người này chết không lâu sau đó. Hậu quả của sự việc, viên sĩ quan bị toà án quân sự xét xử, bị kết án sáu tháng tù, và khi mãn hạn, được yêu cầu từ chức.

Those are the facts; it follows from them that the disturbing spirit had not lied. He had exactly stated his rank as a Royal Italian Marine. He had remembered that Signore X— had killed him. He had, moreover—and this was a particularly remarkable statement—indicated the place where he had died, the setting for the drama, Oporto.

Đó là sự thật; từ đó suy ra rằng vong linh quấy nhiễu đã không nói dối. Hắn đã nêu đúng cấp bậc của mình là lính Thuỷ quân Hoàng gia Italia. Hắn đã nhớ rằng Ông X— đã giết hắn. Hơn nữa—và đây là một chi tiết đặc biệt đáng chú ý—hắn đã chỉ ra nơi hắn chết, bối cảnh của bi kịch: Oporto.

A painstaking enquiry confirmed the authenticity of all this. By what hypothesis could one explain occur­rences so strikingly in agreement—those which were revealed to us at the seance of April 5, 1904, and those which had taken place in Portugal many years before?

Một cuộc điều tra công phu đã xác nhận tính xác thực của tất cả điều này. Bằng giả thuyết nào có thể giải thích những sự kiện kỳ lạ trùng khớp đến vậy—những điều được tiết lộ cho chúng tôi trong buổi gọi hồn ngày 5 tháng 4 năm 1904, và những điều đã xảy ra tại Bồ Đào Nha nhiều năm trước?

Chapter IV—Chương IV

CLAIRVOYANCE IN SPIRITUALISM—THÔNG NHÃN TRONG THẦN LINH HỌC

Clairvoyant Faculties—Các Năng Lực Thông Nhãn

Many of the phenomena commonly displayed at a spiritualistic gathering are simply the manifestation of the ordinary powers and faculties natural to the astral plane, such as are possessed by every dead man. I have already explained in my little work on Clairvoyance what these powers are, and any one who will take the trouble to read that will see how clearly the possession of such senses accounts for the faculty so often exhibited by the dead of reading a closed book or a sealed letter, or describing the contents of a locked box. I have had repeated evidence through many different mediums of the possession of this power; sometimes the knowledge obtained by its means was given out through the medium’s body in trance-speaking, and at other times it was expressed directly by the dead man, either in his own voice or by slate-writing.

Nhiều hiện tượng thường thấy trong một buổi nhóm theo khuynh hướng thần linh học đơn giản chỉ là sự biểu lộ những quyền năng và năng lực thông thường, tự nhiên đối với cõi cảm dục, vốn được mọi người chết sở hữu. Tôi đã giải thích trong tác phẩm nhỏ của mình về Thông Nhãn rằng những quyền năng ấy là gì, và bất cứ ai chịu khó đọc sẽ thấy rõ ràng việc sở hữu những giác quan như thế giải thích ra sao năng lực mà người chết thường biểu lộ như đọc một cuốn sách đóng kín hay một lá thư dán niêm, hoặc mô tả vật chứa trong một hộp khóa. Tôi đã có nhiều lần bằng chứng, qua nhiều đồng tử khác nhau, về việc sở hữu năng lực này; đôi khi tri kiến đạt được theo cách ấy được bộc lộ qua thân thể của đồng tử bằng những lời nói trong trạng thái xuất thần, và những lúc khác thì được bày tỏ trực tiếp bởi người đã khuất, hoặc bằng chính giọng nói của họ, hoặc bằng cách viết bảng đá.

These astral faculties sometimes include a certain amount of prevision, though this is possessed in varying degrees; and they also frequently give the power of psychometry and of looking back to some extent into events of the past. The way in which this is sometimes done is shown in the follow­ing story, given to us by Dr. Lee, in his Glimpses of the Supernatural, vol. ii, p. 146.

Những năng lực cảm dục này đôi khi bao gồm một mức độ tiên kiến nhất định, tuy mức này khác nhau; và chúng cũng thường cho năng lực trắc tâm và khả năng ngoái nhìn lại quá khứ ở một chừng mực nào đó. Cách thức đôi khi thực hiện điều này được cho thấy trong câu chuyện sau, do Bác sĩ Lee thuật lại trong Thoáng Thấy về Cõi Siêu Nhiên, tập ii, tr. 146.

The Missing Papers—Những Giấy Tờ Bị Thất Lạc

A commercial firm at Bolton, in Lancashire, had found that a considerable sum of money which had been sent to their bank by a confidential clerk had not been placed to their credit. The clerk remembered the fact of taking the money, though not the particulars, but at the bank nothing was known of it. The clerk, feeling that he was liable to suspicion in the matter, and anxious to elucidate it, sought the help of a spirit-medium. The medium promised to do her best. Having heard the story, she presently passed into a kind of trance. Shortly after, she said: “I see you go to the bank—I see you go to such and such a part of the bank—I see you hand some papers to a clerk—I see him put them in such and such a place under some other papers—and I see them there now.”

Một hãng buôn ở Bolton, thuộc Lancashire, phát hiện ra một khoản tiền đáng kể được một thư ký tin cậy mang tới ngân hàng gửi đã không được ghi có vào tài khoản của họ. Vị thư ký nhớ chuyện đem tiền tới, tuy không nhớ chi tiết, nhưng tại ngân hàng thì không ai biết gì về việc ấy. Người thư ký, cảm thấy mình có khả năng bị nghi ngờ và mong muốn làm sáng tỏ, đã tìm đến sự giúp đỡ của một đồng tử. Đồng tử hứa sẽ làm hết khả năng. Sau khi nghe câu chuyện, chẳng bao lâu bà rơi vào một kiểu trạng thái xuất thần. Chốc lát sau, bà nói: “Tôi thấy ông tới ngân hàng—tôi thấy ông đi tới chỗ này chỗ kia trong ngân hàng—tôi thấy ông trao một số giấy tờ cho một nhân viên—tôi thấy anh ta đặt chúng vào chỗ kia dưới một số giấy tờ khác—và tôi thấy chúng vẫn ở đó bây giờ.”

The clerk went to the bank, directed the cashier where to look for the money, and it was found; the cashier afterwards remembering that in the hurry of business he had there deposited it. A relation of mine saw this story in a newspaper at the time, and wrote to the firm in question, the name of which was given, asking whether the facts were as stated. He was told in reply that they were. The gentleman who was applied to, having corrected one or two unimportant details in the above narration, wrote on November 9, 1847: “Your account is correct. I have the answer of the firm to my enquiry at home now.”

Người thư ký đến ngân hàng, chỉ cho thủ quỹ nơi tìm khoản tiền, và quả thực nó đã được tìm thấy; sau đó thủ quỹ nhớ ra rằng vì bận rộn nên ông đã để nó vào đó. Một họ hàng của tôi thấy câu chuyện này trên một tờ báo lúc bấy giờ, và đã viết thư hỏi công ty kia, tên công ty được nêu rõ, rằng sự việc có đúng như thuật lại không. Ông nhận được trả lời xác nhận là đúng. Vị quý ông được hỏi, sau khi chỉnh lại một hai chi tiết nhỏ không quan trọng trong câu chuyện trên, đã viết ngày 9 tháng 11 năm 1847: “Bản tường thuật của ông là chính xác. Tôi hiện còn giữ ở nhà thư trả lời của công ty cho câu hỏi của tôi.”

The description given does not make it absolutely clear whether this was a case of clairvoyance on the part of the medium, or of the use of ordinary faculty by a dead man; but since the medium passed into a trance-condition the latter supposition seems the more probable. The dead man could easily gather from the clerk’s mind the earlier part of his story, and thus put himself en rapport with the scene; and then by following it to its close he was able to supply the information required. Here is the authenticated record of another good example of such a case, in which the power of thought-reading is much more prominently exhibited, since all the questions were mental. It is ex­tracted from the Report on Spiritualism, pub­lished by Longman, London, in 1871, and is to be found in the Examination of the Master of Lindsay, p. 215.

Phần mô tả đưa ra không làm rõ tuyệt đối đây là một trường hợp thông nhãn của đồng tử, hay là sự sử dụng năng lực thông thường bởi một người đã khuất; nhưng vì đồng tử đã rơi vào trạng thái xuất thần nên giả định sau có vẻ hợp lý hơn. Người đã khuất có thể dễ dàng thu thập từ tâm trí người thư ký phần đầu câu chuyện của ông ta, và như thế đặt mình đồng điệu với bối cảnh; rồi bằng cách lần theo đến hồi kết, ông ta có thể cung cấp thông tin cần thiết. Sau đây là một ghi chép xác thực về một ví dụ hay khác của một trường hợp như vậy, trong đó năng lực đọc ý tưởng được bộc lộ rõ hơn nhiều, vì tất cả câu hỏi đều là câu hỏi bằng ý niệm. Trích từ Báo cáo về Thần linh học, do Longman, London, ấn hành năm 1871, và có thể tìm thấy trong Thẩm xét của Chủ tước Lindsay, tr. 215.

A Lost Will—Một Bản Chúc Thư Thất Lạc

A friend of mine was very anxious to find the will of his grandmother, who had been dead forty years, but could not even find the certificate of her death. I went with him to the Marshalls’, and we had a seance; we sat at a table, and soon the raps came; my friend then asked his questions mentally; he went over the alphabet himself, or sometimes I did so, not knowing the question. We were told (that) the will had been drawn by a man named William Walter, who lived at Whitechapel; the name of the street and the number of the house were given. We went to Whitechapel, found the man, and subsequently, through his aid, obtained a copy of the draft; he was quite unknown to us, and had not always lived in that locality, for he had once seen better days. The medium could not possibly have known anything about the matter, and even if she had, her knowledge would have been of no avail, as all the questions were mental.

Một người bạn của tôi rất nóng lòng muốn tìm tờ di chúc của bà ngoại ông, người đã mất bốn mươi năm, nhưng thậm chí cũng không tìm nổi giấy chứng tử của bà. Tôi đi với ông ấy đến nhà của gia đình Marshall, và chúng tôi có một buổi gọi hồn; chúng tôi ngồi quanh một cái bàn, và chẳng bao lâu những tiếng gõ xuất hiện; bạn tôi khi ấy đặt câu hỏi bằng ý niệm; ông tự mình đi qua bảng chữ cái, hoặc đôi khi tôi làm, mà không biết câu hỏi là gì. Chúng tôi được cho biết (rằng) di chúc do một người tên William Walter soạn, người sống ở Whitechapel; tên phố và số nhà được nêu. Chúng tôi đến Whitechapel, tìm được người ấy, và sau đó, nhờ sự giúp đỡ của ông ta, lấy được một bản sao bản thảo; ông ta hoàn toàn không quen biết chúng tôi, và cũng không phải lúc nào cũng sống tại địa phương ấy, vì đã có thời ông sống những ngày khá hơn. Đồng tử không thể nào biết bất cứ điều gì về vụ này, và ngay cả nếu bà có biết, tri thức ấy cũng vô dụng, vì tất cả câu hỏi đều là câu hỏi bằng ý niệm.

As I have already said, the faculty of clairvoyance is often possessed by living persons, as well as by the dead. Even in this case, in which the information was communicated by means of raps, it is still within the bounds of possibility that it may have been acquired by the living and transmitted to the physical-plane consciousness by this external means. There is an ever-increasing volume of testimony to the fact of this clairvoyance; Dr. Geley has done splendid service by giving much that is new and valuable in his recent work Clairvoyance and Materialization. In his account of the clairvoyance of Mr. Ossowiecki, which includes many tests of his ability to read sentences enclosed in sealed opaque envelopes, he tells us that this seer has from time to time been able to discover articles which have been lost or stolen. In contact with the loser he was able after brief concentration to say where the object was lost, and sometimes also where it could be found.

Như tôi đã nói, năng lực thông nhãn thường cũng được người sống sở hữu, cũng như người đã khuất. Ngay cả trong trường hợp này, trong đó thông tin được truyền đạt bằng các tiếng gõ, vẫn nằm trong phạm vi khả dĩ rằng nó có thể được người sống thu nhận và truyền đạt cho tâm thức cõi hồng trần bằng phương tiện ngoại tại này. Có một khối chứng từ ngày càng tăng về thực tế của thông nhãn; Bác sĩ Geley đã đóng góp rất lớn khi cung cấp nhiều điều mới mẻ và quý giá trong công trình gần đây Thông Nhãn và Hiện Hình. Trong tường thuật của ông về thông nhãn của Ông Ossowiecki, bao gồm nhiều phép thử khả năng đọc những câu đặt trong các phong bì mờ đục, niêm kín, ông cho biết nhà ngoại cảm này đôi lần đã tìm ra những vật bị mất hay bị đánh cắp. Khi tiếp xúc với người mất của, sau một lúc ngắn tập trung, ông có thể nói nơi vật bị mất, và đôi khi cả nơi có thể tìm thấy.

The Lost Brooch—Chiếc Cài Áo Bị Thất Lạc

He gives the following account of one such case which was sent to him by Mme Aline de Glass, wife of a Judge of the Supreme Court of Poland. The account is also attested by her brother, M. Arthur de Bondy:

Ông đưa ra tường thuật sau về một trường hợp như thế, do Bà Aline de Glass, phu nhân một Thẩm phán của Toà Tối cao Ba Lan, gửi cho ông. Bản tường thuật cũng được em trai bà, Ông Arthur de Bondy, xác nhận:

warsaw, wspolna, 7

warsaw, wspolna, 7

July 22, 1922

Ngày 22 tháng 7, 1922

Sir,

Thưa Ông,

I have the honour to inform you of an actual miracle that Mr. Ossowiecki has worked here. I lost my brooch on Monday morning, June 6th. In the afternoon of the same day I visited the wife of General Krieger, Mr. Ossowiecki’s mother, with my brother, Mr. de Bondy, an engineer, who witnessed the event.

Tôi hân hạnh báo cho Ông biết một phép lạ thực sự mà Ông Ossowiecki đã thực hiện tại đây. Tôi mất chiếc cài áo vào sáng thứ Hai, ngày 6 tháng 6. Buổi chiều cùng ngày, tôi tới thăm phu nhân Tướng Krieger, mẹ của Ông Ossowiecki, cùng với em trai tôi, Ông de Bondy, một kỹ sư, người đã chứng kiến sự việc.

Mr. Ossowiecki came in, my brother introduced me to his friend, and I said that I was delighted to make acquaintance with one so gifted with occult powers. All Warsaw is talking of him. He told us many interesting things, and warmed up in his talk as I listened. Then in a moment of silence I told him:

Ông Ossowiecki bước vào, em tôi giới thiệu tôi với bạn ông, và tôi nói rằng tôi rất vui được làm quen với một người được phú cho các quyền năng huyền bí như vậy. Cả Warsaw đang bàn tán về ông. Ông kể cho chúng tôi nhiều điều thú vị, và càng nói càng hứng khởi khi tôi lắng nghe. Rồi trong một khoảnh khắc im lặng tôi nói với ông:

“I have lost my brooch today. Could you tell me anything about it? But if you are tired or it is troublesome, do not put yourself out.”

“Tôi mất một chiếc cài áo hôm nay. Ông có thể cho tôi biết gì về nó không? Nhưng nếu ông mệt hoặc thấy phiền, xin đừng bận tâm.”

“On the contrary, madame, I will tell you. The brooch is at your house in a box; it is a metal brooch, round, with a stone in the middle. You wore it three days ago, and you value it.”

“Trái lại, thưa bà, tôi sẽ nói. Chiếc cài ở nhà bà trong một cái hộp; đó là một chiếc cài kim loại, tròn, có một viên đá ở giữa. Bà đã đeo nó ba ngày trước, và bà quý nó.”

“No,” I said, “not that one.” (He had given a good description of a brooch kept in the same box with that which I had lost.) Then he said:

“Không,” tôi nói, “không phải chiếc đó.” (Ông đã mô tả đúng một chiếc cài để cùng trong hộp với chiếc tôi làm mất.) Rồi ông nói:

“I am sorry not to have guessed right; I feel tired... “

“Xin lỗi vì tôi đoán chưa đúng; tôi thấy mệt... “

“Let us say no more about it.”

“Thôi đừng nhắc nữa.”

“Oh no, madame, I will try to concentrate. I should like to have some material thing that concerns the brooch...”

“Ô không, thưa bà, tôi sẽ cố tập trung. Tôi muốn có một vật gì đó có liên quan đến chiếc cài...”

“Sir, the brooch was fastened here, on this dress.”

“Thưa ông, chiếc cài được gài ở đây, trên chiếc váy này.”

He placed his fingers on the place indicated, and after a few seconds said: “Yes, I see it well. It is oval, of gold, very light, an antique which is dear to you as a family souvenir; I could draw it, so clearly do I see it. It has ears, as it were, and it is two parts interpenetrating, like fingers clasped together...”

Ông đặt các ngón tay lên chỗ tôi chỉ, và sau vài giây nói: “Vâng, tôi thấy rất rõ. Nó hình bầu dục, bằng vàng, rất nhẹ, một món cổ vật mà bà trân quý như một kỷ vật gia đình; tôi có thể vẽ nó, vì tôi thấy rõ đến vậy. Nó như thể có ‘tai’, và gồm hai phần xuyên nhập vào nhau, như những ngón tay đan chặt...”

“What you say, sir, is most extraordinary. It could not be better described. Miraculous.”

“Những điều ông nói, thưa ông, thật phi thường. Không thể mô tả đúng hơn được nữa. Thật kỳ diệu.”

He went on: “You lost it a long way from here.” (This was actually about two and a half miles.) “Yes, in Mokotowska Street at the Koszykowa corner.”

Ông tiếp: “Bà làm mất nó ở rất xa đây.” (Thực tế là khoảng hai rưỡi dặm.) “Vâng, trên phố Mokotowska ở góc Koszykowa.”

“Yes,” I said, “I went there today.”

“Đúng,” tôi nói, “hôm nay tôi có tới đó.”

“Then,” he said, “a poorly dressed man, with black moustache, stoops down and picks it up. It will be very difficult to get it back. Try an advertisement in the papers.”

“Rồi,” ông nói, “một người đàn ông ăn mặc tồi tàn, có ria mép đen, cúi xuống và nhặt nó lên. Sẽ rất khó lấy lại. Hãy thử đăng báo.”

I was dazzled by the minute description, which left me no doubt that he could see the ornament. I thanked him warmly for the rare pleasure of meeting a real clairvoyant, and went home.

Tôi bị choáng ngợp bởi sự mô tả chi li, khiến tôi không nghi ngờ rằng ông nhìn thấy món trang sức. Tôi cảm ơn ông nồng hậu vì niềm vui hiếm hoi được gặp một nhà thông nhãn chân chính, và trở về nhà.

On the following evening my brother came to see me and exclaimed:

Tối hôm sau, em trai tôi tới thăm và kêu lên:

“What a miracle! Your brooch has been found. Mr. Ossowiecki telephones to me that you have only to go tomorrow at about 5 o’clock to Mme. Jacyna (Mr. Ossowiecki’s sister), and he will give it to you.”

“Thật là phép lạ! Chiếc cài của chị đã tìm thấy. Ông Ossowiecki gọi điện cho em rằng chị chỉ cần đến khoảng 5 giờ chiều mai tới nhà Bà Jacyna (chị của Ông Ossowiecki), ông ấy sẽ đưa lại cho chị.”

The next day, June 7th, I went with my brother to the lady’s house, where there was company. I asked to see Mr. Ossowiecki, and asked him: “Have you my brooch?” I was much upset.

Hôm sau, ngày 7 tháng 6, tôi cùng em trai tới nhà vị phu nhân, nơi đang có khách. Tôi xin gặp Ông Ossowiecki và hỏi ông: “Ông có chiếc cài của tôi chứ?” Tôi rất xúc động.

“Compose yourself, madame; we shall see.” And he handed me my brooch. It was a real miracle. I turned pale and could not speak for a few minutes.

“Xin bà bình tĩnh; chúng ta sẽ xem.” Rồi ông đưa cho tôi chiếc cài. Đó là một phép lạ thực sự. Tôi tái mặt và không thể nói trong vài phút.

He told me the story very simply: “The day after our meeting I went to the bank in the morning. In the vestibule I saw a man I remembered to have met some­where or other, and it struck me that this was the man whom I had seen mentally to have picked up your brooch. I took his hand gently, and said: ‘Sir, yesterday you found a brooch at the corner of Mokotowska and Koszykowa Streets...’ ‘Yes,’ he said, very much astonished. ‘Where is it?’ ‘At home. But how do you know?’ I described the brooch and told him all that had taken place. He turned pale and was much upset, like you, madame. He brought me the brooch, saying that he had intended to advertise its finding. That is the whole story.”

Ông kể câu chuyện rất đơn giản: “Ngày sau buổi gặp, sáng hôm ấy tôi tới ngân hàng. Ở tiền sảnh, tôi thấy một người mà tôi nhớ là đã từng gặp đâu đó, và chợt nghĩ đây chính là người mà tôi đã thấy trong tư tưởng là đã nhặt chiếc cài của bà. Tôi nhẹ nhàng nắm tay ông ấy và nói: ‘Thưa ông, hôm qua ông nhặt một chiếc cài ở góc phố Mokotowska và Koszykowa...’ ‘Vâng,’ ông ấy nói, hết sức ngạc nhiên. ‘Nó ở đâu?’ ‘Ở nhà. Nhưng làm sao ông biết?’ Tôi mô tả chiếc cài và kể lại mọi chuyện đã xảy ra. Ông ta tái mặt và xúc động mạnh, giống như bà vậy. Ông ấy mang chiếc cài tới cho tôi, nói rằng ông định đăng tin nhặt được. Câu chuyện chỉ có thế.”

I was much moved. I thanked Mr. Ossowiecki warmly, not so much for the recovery of the brooch as for meeting such a diviner, and having a small part in this miracle. Now this fine old brooch is worn by me constantly and considered as a talisman. The incident has gone all over Poland, and Mr. Ossowiecki has become all the more celebrated. He is besieged by people who come to consult him on lost property, on men missing during the war, etc. And this modest and extraordinary man devotes much time and trouble to them with good grace and complete dis­interestedness. He is a true diviner, who does much good by his gift without any personal reward. I ask pardon for so long an account, which I wished to make as exact as possible,

Tôi rất xúc động. Tôi cảm ơn Ông Ossowiecki nồng hậu, không phải chỉ vì lấy lại được chiếc cài mà còn vì được gặp một nhà cảm tri như vậy, và được góp một phần nhỏ trong phép lạ này. Nay chiếc cài cổ đẹp đẽ ấy được tôi đeo thường xuyên và xem như một bùa hộ mệnh. Sự việc đã lan khắp Ba Lan, và Ông Ossowiecki càng thêm lừng danh. Ông bị vây bủa bởi những người đến xin ông giúp về của mất, về những người mất tích trong chiến tranh, v.v. Và con người khiêm nhường, phi thường này dành nhiều thời gian, công sức cho họ với sự niềm nở và vô tư hoàn toàn. Ông là một nhà cảm tri chân chính, người làm nhiều điều thiện bởi ân tứ của mình mà không nhận bất kỳ phần thưởng cá nhân nào. Tôi xin thứ lỗi vì bản tường thuật dài, tôi muốn ghi lại chính xác nhất có thể,

I am, Yours,

Tôi kính,

aline de glass,

aline de glass,

née de Bondy

nhũ danh de Bondy

As an example of the test conditions under which Mr. Ossowiecki has done many readings, I may mention the case of the letter which was written for the purpose by Mme. Sarah Bernhardt, which we reproduce below from Clairvoyance and Materia­lization (p. 55).

Như một ví dụ về các điều kiện thử nghiệm dưới đó Ông Ossowiecki đã thực hiện nhiều lần đọc, tôi xin nhắc đến trường hợp bức thư do Bà Sarah Bernhardt viết riêng cho mục đích này, mà chúng tôi chép lại dưới đây từ Thông Nhãn và Hiện Hình (tr. 55).

This letter was delivered to Dr. Geley, who handed it unopened to the clairvoyant. His reading of this was not perfect, but nevertheless striking and evidential. Dr. Geley says:

Bức thư này được chuyển cho Bác sĩ Geley, người đã trao nguyên phong cho nhà thông nhãn. Việc đọc bức thư này của ông không hoàn toàn hoàn hảo, nhưng dẫu vậy vẫn gây ấn tượng và có giá trị chứng minh. Bác sĩ Geley nói:

“His description of the letter was, however, very precise: La vie, la vie, la vie,... (three times). There are four or five lines, and below them Sarah Bernhardt’s signature, sloping upwards.” That is correct, but he might have seen her signature in some magazine article. He continued: “La vie semble humble.” He repeated ‘humble’ two or three times. “There is reference to humanity, but the word ‘humanity’ is not written. There is an idea conjoining life and humanity. Parcequ’il у а bеаисоир de haine. Non, il n’y a pas ‘haine’; il у a seulement seulement... It is a very difficult word of eight letters! There is an exclamation mark.”

“Mô tả của ông về bức thư, tuy nhiên, rất chuẩn xác: Cuộc sống, cuộc sống, cuộc sống,... (ba lần). Có bốn hoặc năm dòng, và bên dưới là chữ ký Sarah Bernhardt, hướng lên.” Điều đó đúng, nhưng ông có thể đã thấy chữ ký của bà trong một bài báo nào đó. Ông tiếp tục: “ Cuộc sống dường như khiêm nhu. ” Ông lặp lại ‘ khiêm nhu ’ hai hoặc ba lần. “Có một ám chỉ đến nhân loại, nhưng chữ ‘nhân loại’ không được viết. Có một ý tưởng liên kết cuộc sống và nhân loại. Bởi vì ’ đó có rất nhiều hận thù. Không, không có ‘ hận thù ’; chỉ có chỉ có... Đó là một từ rất khó gồm tám chữ cái! Có một dấu chấm than.”

Then before opening the letter, which I had previously examined by reflected, direct and transmitted light and found absolutely opaque, I wrote down the following, which may be taken as Ossowiecki’s final answer: “La vie semble humble parcequ’il у а bеаисоир de haine, (pas haine, mais un mot qui n’est pas compris et qui est de huit lettres); signature Sarah Bernhardt.” The word éphémère was not known to Ossowiecki, as he told us after the letter had been opened. We asked several Poles who spoke French well if they knew this word: they did not.

Rồi trước khi mở bức thư, mà trước đó tôi đã kiểm tra bằng ánh sáng phản xạ, trực tiếp và xuyên qua và thấy hoàn toàn mờ đục, tôi viết ra như sau, có thể coi như câu trả lời cuối cùng của Ossowiecki: “ Cuộc sống dường như khiêm nhu bởi vì ’ đó có rất nhiều hận thù, (không phải hận thù, mà là một từ không ’ được hiểu và gồm tám chữ cái); chữ ký Sarah Bernhardt.” Từ éphémère không quen thuộc với Ossowiecki, như ông nói với chúng tôi sau khi bức thư được mở ra. Chúng tôi hỏi vài người Ba Lan nói tiếng Pháp tốt xem họ có biết từ này không: họ không biết.

The fact that Mr. Ossowiecki does see the actual form in some manner sometimes is confirmed by his vision on occasion of drawings enclosed along with the letters. Judging by the third experiment of September 21st, 1921, at Prince Lubomirski’s (p. 39), when the test letter contained four written items, and also the drawing of a fish, the picture seemed to impress him more than the written portion of the test, and he not only spoke about it, but said that he would draw it, which he did, though he reversed the picture, putting the head on the left whereas in the original it was on the right.

Thực tế rằng đôi khi Ông Ossowiecki quả có nhìn thấy hình dạng thực sự bằng cách nào đó được xác nhận bởi việc ông đôi lúc thấy cả các bức vẽ kèm theo thư. Xét theo thí nghiệm thứ ba ngày 21 tháng 9 năm 1921, tại dinh Hoàng thân Lubomirski (tr. 39), khi bức thư thử nghiệm chứa bốn mẩu viết và cả bức vẽ một con cá, bức tranh dường như gây ấn tượng mạnh với ông hơn phần viết tay của phép thử, và ông không chỉ nói về nó, mà còn bảo sẽ vẽ lại, điều mà ông đã làm, dù ông đảo ngược bức hình, đặt đầu con cá ở bên trái trong khi bản gốc ở bên phải.

Clairvoyant “Readings”—Những “Bài Đọc” Thông Nhãn

This power of clairvoyance is also frequently displayed in a minor way at the weekly meetings of which I have spoken. After the trance address is over, the medium usually expresses her readiness to give descriptions, or “readings”, as they are often called, of the surroundings of various members of the audience. Where the circle is a small one, something is said to each of its members in turn; if there be a large number gathered together, individuals are selected and called up for special attention.

Khả năng thông nhãn này cũng thường được phô bày ở mức độ nhỏ trong các buổi nhóm hằng tuần mà tôi đã nói tới. Sau khi bài diễn thuyết trong trạng thái xuất thần kết thúc, đồng tử thường tỏ ý sẵn lòng đưa ra các mô tả, hoặc “bài đọc” như người ta thường gọi, về hoàn cảnh quanh một số thành viên tham dự. Khi vòng tròn nhỏ, điều gì đó được nói với từng người lần lượt; nếu có một đám đông lớn tụ họp, thì chọn các cá nhân và mời lên để chú ý đặc biệt.

I have heard striking fragments of private family history brought out in this way—cases which bore every mark of genuineness; but in the majority of such meetings as I have attended the descriptions were exceedingly vague, and had a rather suspicious adaptability about them. The conversation usually ran somewhat along these lines:

Tôi đã nghe những mẩu chuyện nổi bật về lịch sử gia đình riêng tư được đưa ra theo cách này—những trường hợp mang mọi dấu hiệu chân thực; nhưng trong phần lớn các buổi họp như tôi từng tham dự, các mô tả mơ hồ tột độ, và có một sự thích ứng đáng ngờ. Cuộc đối thoại thường diễn ra đại để như sau:

Medium (supposed to be entranced, but speaking with exactly her normal contempt for aspirates and grammatical rules). “There’s an old gent with white ‘air a-standin’ be’ind that lady in the corner.”

Đồng tử (được cho là đang xuất thần, nhưng nói y như thường ngày với kiểu khinh miệt những âm và luật ngữ pháp). “Có một ông già tóc trắng đang đứng sau lưng bà ở góc phòng kia.”

Enthusiastic and Credulous Sitter. “Lor! that must be my father!”

Người Ngồi Nhiệt Thành và Dễ Tin. “Trời ơi! ắt hẳn là cha tôi!”

Medium. “Yes; he smiles, he nods his ‘ed, he’s so pleased that you know him. I can see his white beard regularly shaking, he’s so glad.”

Đồng tử. “Vâng; ông ấy mỉm cười, gật đầu, ông ấy rất mừng vì bà nhận ra ông. Tôi thấy bộ râu trắng của ông rung lên vì vui mừng.”

Sitter. “Ain’t it wonderful! But father didn’t have no beard before he passed over; p’raps he’s grown one since, or p’raps it’s my uncle Jim; he used to have a beard.”

Người ngồi. “Thật là kỳ diệu! Nhưng cha tôi không có râu trước khi ông qua đời; có lẽ ông để râu sau đó, hoặc có lẽ là chú Jim của tôi; chú ấy từng để râu.”

Medium. “Ah! yes, that’s who it is; he nods his ‘ed again, and smiles; he wants to tell you ‘ow ‘appy he is.”

Đồng tử. “À! vâng, đúng là vậy; ông ấy lại gật đầu và mỉm cười; ông muốn nói cho bà biết ông hạnh phúc thế nào.”

Sitter. “Well, now! just to think of poor uncle Jim coming like this! Why, it’s more than thirty years ago he was drowned at sea, when I was quite a girl; ‘an’some young chap he was, too! not more than five-and-twenty, and to be drowned like that!”

Người ngồi. “Chà, nghĩ mà xem! chú Jim tội nghiệp trở lại thế này! Ối, đã hơn ba mươi năm kể từ khi chú bị chết đuối ngoài biển, lúc tôi vẫn còn là một cô gái trẻ; chàng trai khôi ngô là thế! mới hơn hai lăm tuổi, mà lại chết đuối như vậy!”

Medium. “Um! yes—yes—ah! I see him more clearly now—yes, you’re right. It’s not a white beard—it’s the white undershirt what sailors wears—that’s what it is!”

Đồng tử. “Ừm! vâng—vâng—à! giờ tôi thấy rõ hơn—vâng, bà nói đúng. Đó không phải là bộ râu trắng—đó là áo lót trắng mà các thủy thủ mặc—đúng thế đấy!”

Chorus. “How lovely! how wonderful! Ain’t it beautiful to think they can come back like this!”

Đồng thanh. “Thật là tuyệt! thật là kỳ diệu! Thật đẹp khi nghĩ rằng họ có thể trở lại như thế này!”

I have heard just about that sort of conversation a score of times; and it is naturally not calculated to produce a robust faith in that particular medium. Yet perhaps through the same illiterate woman there would come on another occasion some message about a matter of which she could by no possibility have known anything—a message which she could never have evolved from her sordid consciousness by any amount of clumsy guess-work.

Tôi đã nghe kiểu đối thoại như vậy cả chục lần; và tự nhiên điều đó không tạo nên một niềm tin vững chắc nơi đồng tử đặc thù ấy. Tuy nhiên, có lẽ cũng chính qua người phụ nữ thất học đó, lần khác lại có một thông điệp về một việc mà bà tuyệt đối không thể biết—một thông điệp bà không thể nào nặn ra từ tâm thức tầm thường của mình bằng bất cứ lượng đoán mò vụng về nào.

A Private Test—Một Phép Thử Riêng

I remember on one such occasion applying a little private test of my own to a medium in a poor London suburb. She was a coarse-looking woman, whom I had never seen before, but she seemed earnest enough, though far from cultured. She went on from one member of the circle to another, monotonously describing behind each of them spirits with flowing robes and smiling faces; she varied the story a little in my own case by giving me “a dark-looking foreign gentleman, with something white round his head”, which may possibly have been true enough, or may have been merely a coincidence.

Tôi nhớ một lần như thế đã áp dụng một phép thử riêng nho nhỏ với một đồng tử ở một khu ngoại ô nghèo của London. Bà là một phụ nữ có vẻ thô kệch, tôi chưa từng gặp, nhưng có vẻ đủ chân thành, dẫu xa mới gọi là có văn hoá. Bà đi từ người này sang người khác trong vòng tròn, đều đều mô tả sau lưng mỗi người là những linh hồn với áo choàng phất phơ và gương mặt mỉm cười; bà thay đổi câu chuyện một chút trong trường hợp của riêng tôi bằng cách cho tôi “một quý ông ngoại quốc trông u tối, với cái gì đó màu trắng quấn quanh đầu”, điều có thể đúng hoặc chỉ là trùng hợp.

It occurred to me to try whether she could see a thought-form, so as a change from all these reverend white-haired spirits with flowing robes, I set myself to project as strong a mental image as I could construct of two chubby boys in Eton jackets, standing behind the chair of the member of the circle who was next in order for examination. Sure enough, when that person’s turn came, the medium (or the dead man speaking through her, if there was one) described my imaginary boys with tolerable accuracy, and represented them as sons of the lady behind whom they stood. The latter denied this, explaining that her sons were grown men, and the medium then suggested grandchildren, which was also repudiated, so the mystery remained unsolved. But from the incident I deduced two conclusions: First, that either the medium was genuinely clairvoy­ant, or there really was a dead person speaking through her; and secondly, that whoever was concerned had not yet sufficient discernment to distinguish a thought-form materialized on the astral plane from a living astral body.

Tôi chợt nghĩ thử xem bà có nhìn thấy Hình tư tưởng không, nên như một đổi món khỏi tất cả những linh hồn râu tóc bạc phơ với áo choàng phất phơ kia, tôi cố sức phóng chiếu một hình ảnh tâm thần thật mạnh mà tôi có thể dựng được về hai cậu bé má phính mặc áo khoác kiểu Eton, đứng sau ghế của người trong vòng tròn sắp đến lượt được xem xét. Quả nhiên, khi đến lượt người đó, đồng tử (hoặc người đã khuất nói qua bà, nếu có) mô tả hai cậu bé tưởng tượng của tôi khá chính xác, và cho rằng họ là con trai của người phụ nữ phía sau lưng họ. Người phụ nữ phủ nhận, giải thích rằng con trai bà đều đã trưởng thành, và đồng tử bèn gợi ý là cháu trai—điều này cũng bị bác bỏ—vậy nên bí ẩn vẫn không giải được. Nhưng từ sự việc ấy tôi rút ra hai kết luận: Thứ nhất, hoặc đồng tử thật sự có thông nhãn, hoặc thật sự có một người đã khuất đang nói qua bà; và thứ hai, bất kể ai tham dự vào việc ấy vẫn chưa có đủ phân biện để phân biệt một Hình tư tưởng được hiện hình trên cõi cảm dục với một thể cảm dục sống động.

Chapter V—Chương V

SOME RECENT TEST CASES—MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP THỬ NGHIỆM GẦN ĐÂY

Test Conditions—Các Điều Kiện Thử Nghiệm

The recent researches of many learned doctors, and other investigators associated with the Societies for Psychical Research in different countries, offer us increasing confirmation of the facts announced by the earlier experimenters. The attitude of many of these distinguished explorers into the domain of the occult inclines at the beginning towards scep­ticism—a fact which renders their evidence all the more valuable, though it makes the phenomena more difficult to obtain. It constitutes a positive mental influence acting against the manifestation of unusual psychic powers—powers which it is difficult enough to use, even under the most favourable conditions. It is only fair to add, however, that such scepticism is rarely a prejudice, but simply the scientific attitude which declines to admit the existence of any facts which have not been carefully observed, or the truth of any deductions which have not been studiously and impartially considered.

Những nghiên cứu gần đây của nhiều bác sĩ uyên bác và các nhà điều tra khác liên hệ với các Hội Nghiên cứu Thông linh ở các quốc gia khác nhau, mang đến cho chúng ta sự xác nhận ngày càng tăng về các sự kiện được các nhà thực nghiệm trước đó công bố. Thái độ của nhiều nhà thám hiểm lỗi lạc trong lĩnh vực huyền môn này lúc khởi đầu thường nghiêng về hoài nghi—một thực tế khiến chứng cứ của họ càng thêm giá trị, dẫu làm cho hiện tượng càng khó đạt được. Nó cấu thành một ảnh hưởng tinh thần tích cực tác động chống lại sự biểu lộ những quyền năng thông linh bất thường—những quyền năng vốn đã khó sử dụng ngay cả dưới những điều kiện thuận lợi nhất. Tuy nhiên, công bằng mà nói, sự hoài nghi như thế hiếm khi là định kiến, mà chỉ là thái độ khoa học vốn từ chối thừa nhận sự tồn tại của bất cứ sự kiện nào chưa được quan sát cẩn trọng, hoặc sự đúng đắn của bất cứ suy luận nào chưa được cân nhắc cần mẫn và vô tư.

The attitude and method adopted by Dr. Gustave Geley, and described in his invaluable volume Clairvoyance and Materialisation, is becoming more and more popular among experimenters. He says that the best results for scientific purposes are not to be obtained under conditions which cast suspicion upon the medium, and that the end to be sought by observers is not to protect themselves with absolute certainty at all times against any possible or conceivable fraud, but to obtain phenomena so powerful and complex that they carry their own proof and undeniable witness under the conditions demanded by the control.

Thái độ và phương pháp do Bác sĩ Gustave Geley áp dụng, và được trình bày trong tập sách vô giá Thông Nhãn và Hiện Hình, đang ngày càng trở nên phổ biến trong giới thực nghiệm. Ông nói rằng những kết quả tốt nhất cho mục đích khoa học không thu được dưới những điều kiện gieo ngờ vực lên đồng tử, và rằng mục tiêu mà người quan sát cần hướng tới không phải là tự bảo vệ mình với sự chắc chắn tuyệt đối mọi lúc trước bất cứ gian lận khả dĩ hoặc khả tưởng nào, mà là giành được những hiện tượng mạnh mẽ và phức hợp đến mức chúng tự mang chứng cứ và lời chứng không thể chối cãi dưới những điều kiện mà kiểm soát yêu cầu.

I may add that my own experience, extending over many years, fully confirms what Dr. Geley has written. I have always found it best to make friends with both the medium and the spirit-guide and to discuss the manifestations frankly with them. Dr. Geley continues:

Tôi xin thêm rằng kinh nghiệm riêng của tôi, kéo dài nhiều năm, hoàn toàn xác nhận những gì Bác sĩ Geley đã viết. Tôi luôn thấy tốt nhất là kết thân cả với đồng tử lẫn vị vong linh hướng dẫn và thảo luận thẳng thắn với họ về các sự biểu lộ. Bác sĩ Geley tiếp tục:

If experimenters waste time on poor or elementary phenomena, they will find the greatest difficulty in getting a control that will satisfy them at all points. If they are wise enough to consider elementary phenomena, and such minor frauds as they may suspect, both negligible; if they allow phenomena to develop without checking them at the outset by untimely demands, they will certainly obtain facts so various and important, also (sometimes) of such beauty, that their conviction will be complete, unshakable, and conclusive (p. 25).

Nếu những người thực nghiệm lãng phí thời gian vào những hiện tượng nghèo nàn hoặc sơ đẳng, họ sẽ thấy cực khó có được một kiểm soát thỏa mãn họ ở mọi phương diện. Nếu họ đủ khôn ngoan để xem các hiện tượng sơ đẳng, và những gian lận nhỏ mà họ có thể nghi ngờ, đều không đáng kể; nếu họ để cho hiện tượng phát triển mà không chặn lại ngay từ đầu bằng những đòi hỏi không đúng lúc, họ chắc chắn sẽ thu được những sự kiện đa dạng và quan trọng, cũng (đôi khi) đẹp đẽ đến mức niềm xác tín của họ sẽ trọn vẹn, không lay chuyển và dứt khoát (tr. 25).

Mother Marius And The Convict—Mẹ Marius Và Tên Tù Khổ Sai

In the comparatively recent general literature of spiritualism and psychical research there are many cases which satisfy these conditions. There are examples in which the accuracy of information communicated by these methods, and previously entirely unknown to those who receive it, almost certainly announces the actual presence of the entity who is claiming to communicate. I will select one typical case from M. Flammarion’s book After Death (p. 21), relating to the death of a charwoman of Nantes, generally known as Mother Marius. The narrator says that he used to frequent a cafe where there was a charwoman, a native of Brittany, whose family name was Keryado, although she was always called Mother Marius. He then continues:

Trong văn liệu tổng quát khá gần đây về thần linh học và nghiên cứu thông linh, có nhiều trường hợp thỏa mãn những điều kiện này. Có những ví dụ trong đó tính xác thực của thông tin được truyền đạt bằng những phương pháp ấy, và trước đó hoàn toàn không được biết bởi người tiếp nhận, gần như chắc chắn báo tin sự hiện diện thực sự của thực thể đang tự xưng là người truyền đạt. Tôi sẽ chọn một trường hợp điển hình từ sách Sau Khi Chết (tr. 21) của Ông Flammarion, liên quan đến cái chết của một người phụ nữ lao công ở Nantes, thường được biết đến là Mẹ Marius. Người kể nói rằng ông thường lui tới một quán cà phê có một phụ nữ lao công, gốc Brittany, tên họ là Keryado, dù bà luôn được gọi là Mẹ Marius. Ông tiếp tục:

Every week I used to leave Nantes on Saturday evening and spend Sunday on a farm in the very midst of the countryside. One Saturday I left as usual—took leave of the proprietor, of my friends, and said goodbye to this same charwoman, who was in excellent health. So, late on Saturday night, I found myself in the country as usual, but I must explain that this time, through excep­tional circumstances, I was to remain there for the whole week. The farm-house had two rooms; a kitchen and another room. On Thursday, at one o’clock in the after­noon, I was talking in the other room with the young girl of the house. There was no one in the kitchen. The doors and windows were closed. We were talking, when both of us heard a noise in the kitchen, as though the fire-tongs had fallen on to the hearthstone. Out of precaution, thinking that the cat might be getting into the jars of milk, I went to see what it was. There was nothing; everything was shut up. Scarcely had I come back into the room when there was the same noise. I turned. Nothing! Since I had already taken up spiritualism, I said to the young girl, laughing: “It’s a spirit, perhaps”—attaching no importance to my words. However, I then had the idea of using a little round table, with which we had already experimented, and we waited, both of us sitting at it, our hands upon it. Almost immediately we got a communication through rapping, according to the usual alphabetic code. “Is this a spirit?”—”Yes”—”You lived on earth?”—”Yes”—”You knew me?”—”Yes”—”What was your name?”—”Keryado”. At this odd name (I did not remember the charwoman’s family name) I was about to leave the table, thinking that the reply was point­less, when the young girl said to me: “That is the family name of the charwoman in the café”. “That is true,” I answered, and then I began a series of questions. I was unwilling to believe that she was dead, having left her in perfect health only five days before. I asked her for details, and learned that she had been taken ill at eight o’clock on Tuesday evening, that she had been carried to her home, and that she had died at eleven o’clock, of a haemorrhage... On Saturday when I returned to Nantes, as soon as I got out of the train, I went to the café, and there, to my stupefaction, they gave me confirm­ation of this woman’s death, and of all the details she had given me.

Mỗi tuần tôi rời Nantes tối thứ Bảy và dành Chủ nhật ở một trang trại giữa đồng quê. Một thứ Bảy, tôi rời đi như thường lệ—chào tạm biệt chủ quán, bạn bè, và nói lời chào với người phụ nữ lao công ấy, lúc đó sức khỏe rất tốt. Thế là, tối thứ Bảy muộn, tôi có mặt ở nông thôn như thường lệ, nhưng tôi phải nói rõ rằng lần này, vì hoàn cảnh đặc biệt, tôi sẽ ở lại đó cả tuần. Ngôi nhà nông có hai phòng; một nhà bếp và một phòng khác. Vào thứ Năm, lúc một giờ trưa, tôi đang trò chuyện trong phòng kia với cô gái trẻ của gia đình. Không có ai trong bếp. Cửa và cửa sổ đều đóng. Chúng tôi đang nói chuyện, thì cả hai nghe một tiếng động trong bếp, như thể kẹp gắp than rơi xuống tảng đá lò sưởi. Để đề phòng, nghĩ rằng con mèo có thể đang chui vào các vại sữa, tôi đi xem. Không có gì cả; mọi thứ đóng kín. Vừa trở lại phòng thì lại có tiếng động như thế. Tôi quay lại. Không gì cả! Vì tôi đã từng tìm hiểu thần linh học, tôi nói với cô gái trẻ, nửa đùa: “Có lẽ là một vong linh đấy”—mà chẳng để tâm đến lời mình. Tuy nhiên, tôi chợt nảy ý dùng một cái bàn tròn nhỏ, thứ mà chúng tôi đã dùng thử nghiệm trước đó, và chúng tôi chờ đợi, cả hai đặt tay lên mặt bàn. Gần như lập tức chúng tôi nhận được một thông điệp qua tiếng gõ, theo bảng chữ cái thường dùng. “Đây có phải là một vong linh không?”—“Phải”—“Ô đã sống trên trần gian?”—“Phải”—“Ô có biết tôi?”—“Phải”—“Tên Ô là gì?”—“Keryado”. Trước cái tên lạ (tôi không nhớ tên họ của người phụ nữ lao công) tôi suýt bỏ bàn, nghĩ rằng câu trả lời vô nghĩa, thì cô gái trẻ nói với tôi: “Đó là tên họ của người phụ nữ lao công ở quán cà phê”. “Đúng rồi,” tôi đáp, rồi bắt đầu một loạt câu hỏi. Tôi không chịu tin là bà đã chết, vì vừa mới năm hôm trước tôi còn thấy bà hoàn toàn khỏe mạnh. Tôi hỏi chi tiết và biết rằng bà lâm bệnh lúc tám giờ tối thứ Ba, được đưa về nhà, và qua đời lúc mười một giờ vì xuất huyết... Thứ Bảy khi tôi trở lại Nantes, vừa xuống tàu, tôi tới ngay quán cà phê, và ở đó, trong sự sửng sốt, tôi được xác nhận về cái chết của bà, và tất cả các chi tiết bà đã cho tôi biết.

Unquestionably also there are other cases in which only telepathy is at work. Professor Ernest Wood relates an example, which was told to him by his father, who used to investigate these things. On the occasion in question the medium, who was a personal friend also, said that he saw standing behind his visitor the “spirit” of a man dressed in convict garb. He described him in detail, saying that he was looking through prison bars, and adding that he thought the spirit wished to communicate. But the fact of the matter was that, a short time before, the enquirer had been to see the exhibition at the opening of the Manchester Ship Canal, in which was shown one of the old Botany Bay convict ships fitted up realistically with wax-work figures. He had stood for some time looking at one of these, and wondering what the unfortunate convicts must have felt, and though the incident had passed from his mind and been forgotten, that was the figure of which the medium gave him a description.

Cũng không thể phủ nhận có những trường hợp khác trong đó chỉ có viễn cảm hoạt động. Giáo sư Ernest Wood thuật một ví dụ do cha ông kể lại, người từng nghiên cứu những điều này. Trong dịp ấy, đồng tử, vốn cũng là bạn ông, nói rằng ông thấy đứng cạnh người khách là “vong linh” của một người đàn ông mặc quần áo tù khổ sai. Ô mô tả chi tiết, nói rằng ông thấy người đó nhìn qua song sắt nhà giam, và bảo rằng ông nghĩ vong linh muốn truyền đạt. Nhưng sự thật là, không lâu trước đó, người tìm hiểu đã xem cuộc triển lãm nhân dịp khánh thành Kênh đào Manchester Ship, trong đó có trưng bày một trong các tàu chở tù khổ sai đi Botany Bay, được dàn dựng thực như thật với các hình nhân sáp. Ông ta đã đứng xem hồi lâu một trong số đó, và tự hỏi những tù nhân bất hạnh hẳn phải cảm thấy thế nào, và dù sự việc đã rời khỏi trí và bị quên đi, thì đó chính là hình ảnh mà đồng tử đã mô tả cho ông.

Perhaps the first great mistake which many people make in thinking about these things is to assume that one law governs all the cases, and therefore that they are either all due to discarnate intelligences, or are all caused by some form of simple or complicated telepathy. There is a variety of causes for the phenomena produced during psychical research investigations, some of them being due to ideas in the mind of the medium or of the sitters, others to discarnate intelligences, others to thought-forms casually present or magneti­cally attracted, and others again to the psychometric influence of objects which may be near.

Có lẽ sai lầm lớn thứ nhất mà nhiều người mắc phải khi nghĩ về những điều này là giả định rằng một luật chi phối tất cả các trường hợp, và vì thế hoặc tất cả đều do các trí tuệ vô xác gây ra, hoặc tất cả đều do một hình thức viễn cảm đơn giản hay phức tạp nào đó. Có nhiều nguyên nhân đa dạng cho các hiện tượng xuất hiện trong những cuộc điều tra thông linh, một số do các ý tưởng trong tâm của đồng tử hoặc của người ngồi, số khác do các trí tuệ vô xác, số khác nữa do các Hình tư tưởng tình cờ hiện diện hoặc bị hút đến bằng từ lực, và lại có những trường hợp do ảnh hưởng trắc tâm của các vật thể ở gần.

The Pearl Tie-Pin Case—Trường Hợp Cài Cà Vạt Ngọc Trai

Another good example of successful communica­tion from the other side of death, which has been called the pearl tie-pin case, is given in Sir William Barrett’s On the Threshold of the Unseen, as follows:

Một ví dụ hay khác về sự truyền đạt thành công từ bên kia cái chết, vốn được gọi là trường hợp cài cà vạt ngọc trai, được nêu trong sách của Ngài William Barrett, Trên Ngưỡng Cửa Cái Không Thấy, như sau:

Miss C., the sitter, had a cousin, an officer with our army in France, who was killed in battle a month previously to the sitting; this she knew. One day, after the name of her cousin had been unexpectedly spelt out on the ouija board, and her name given in answer to her query “Do you know who I am?”, the following message came:

Cô C., người dự buổi cầu cơ, có một người em họ là sĩ quan trong quân đội của chúng ta tại Pháp, đã tử trận một tháng trước buổi cầu cơ; điều này cô biết. Một ngày nọ, sau khi tên của người em họ ấy bất ngờ được đánh vần trên bàn cầu cơ, và tên của cô được nêu ra khi cô hỏi “Anh biết tôi là ai không?”, đã đến thông điệp sau:

“Tell mother to give my pearl tie-pin to the girl I was to marry. I think she ought to have it.” When asked what was the name and address of the lady, both were given; the name spelt out included the full Christian and surname, the latter being very unusual and quite unknown to both sitters. The address given in London was either wrong or taken down incorrectly, as a letter sent there was returned, and the whole message was thought to be fictitious.

“Hãy nói mẹ đưa ghim cài cà vạt bằng ngọc trai của con cho cô gái mà con sắp cưới. Con nghĩ cô ấy nên có nó.” Khi được hỏi tên và địa chỉ của cô ấy là gì, cả hai đều được cho; tên đánh vần bao gồm cả tên thánh và họ, họ lại rất hiếm và hoàn toàn xa lạ với cả hai người dự. Địa chỉ ở Luân Đôn được đưa ra hoặc là sai, hoặc là ghi chép không đúng, vì một lá thư gửi đến đó bị trả lại, và toàn bộ thông điệp bị nghĩ là bịa đặt.

Six months later, however, it was discovered that the officer had been engaged, shortly before he left for the front, to the lady whose name had been given; he had, however, told no one of this. Neither his cousin nor any of his own family in Ireland were aware of the fact, and they had never seen the lady nor heard her name, until the War Office sent over the deceased officer’s effects. Then they found that he had put the lady’s name in his will as his next of kin, both Christian and surname being precisely the same as given through the automatist; and what is equally remarkable, a pearl tie-pin was found among his effects.

Tuy nhiên, sáu tháng sau, người ta phát hiện rằng viên sĩ quan ấy đã đính hôn, ngay trước khi ra mặt trận, với người phụ nữ có tên đã được cho; tuy vậy, y chưa hề nói với ai về việc này. Cả người em họ lẫn bất kỳ ai trong gia đình y ở Ai-len đều không hay biết, và họ chưa từng gặp người phụ nữ đó hay nghe tên cô, cho đến khi Bộ Chiến tranh gửi về di vật của viên sĩ quan đã khuất. Lúc đó, họ phát hiện rằng y đã ghi tên người phụ nữ ấy trong di chúc là thân nhân gần nhất của y, cả tên thánh lẫn họ đều chính xác như đã cho qua người viết tự động; và điều cũng đáng chú ý không kém là một ghim cài cà vạt bằng ngọc trai đã được tìm thấy trong di vật của y.

Both the ladies have signed a document which they sent to me, affirming the accuracy of the above statement. The message was recorded at the time, and not written from memory after verification had been obtained. Here there could be no explanation of the facts by subliminal memory, or telepathy from the living, or collusion, and the evidence points unmistakably to a message from the deceased officer.

Cả hai người phụ nữ đều đã ký một văn bản gửi cho tôi, xác nhận tính chính xác của tuyên bố trên. Thông điệp được ghi lại ngay lúc đó, chứ không phải viết lại từ trí nhớ sau khi đã xác minh. Ở đây không thể giải thích các sự kiện này bằng ký ức tiềm thức, hay viễn cảm từ người sống, hay thông đồng; và bằng chứng chỉ ra không thể lầm lẫn rằng đây là một thông điệp từ viên sĩ quan đã khuất.

The Bird Nesting Case—Vụ Làm Tổ Của Chim

Another striking case appeared in The Harbinger of Light for February, 1918. A New Zealand gentleman gives what appears to be a good test of identity from his soldier son, who was killed on the Somme in September, 1916. The communi­cation came to another gentleman through the medium of his wife, who was known to the soldier before he left for the war. In the course of his statement the soldier says:

Một trường hợp gây ấn tượng khác xuất hiện trên Sứ Giả của Ánh Sáng số tháng Hai, 1918. Một quý ông người New Zealand đưa ra điều có vẻ là một phép thử nhận dạng tốt từ người con trai là lính của Ông, người đã tử trận ở Somme vào tháng Chín, 1916. Thông điệp đến với một quý ông khác qua trung gian là vợ ông này, người vốn được người lính biết trước khi y ra trận. Trong lời thuật của mình, người lính nói:

Will you convey my love to father and mother, and my brothers? Thank God they have not gone to the war. Tell my dear mother not to hold any fanciful ideas of me, or to believe every so-called message she may receive. Tell her I owe her all that is best in me, for she is brave and good, and I would do anything possible to smooth her path in life. Tell her one particular thing that will assure her of my presence—tell her that on the day when she prevented me from going out bird’s-nesting, and took so much trouble to instruct us in the right, I decided always to try to do what was right. Tell her the recollection of the anecdote she told us always haunted me. Tell her I have not gone to any restful spiritual home yet, and probably will not till the war ends. Tell her I cannot be a shirker in the body or out of it, but having been trained with many good comrades to do my duty, I try to do it still, and if I were permitted I could tell you so much we do to help those still fighting—much that is sanctioned and assisted, too, by others higher than ourselves, but I dare not say. Tell mother that I was quite suddenly shot out of the body, and felt no pain whatever, and thanks to the insight I received through my parents, and you, and others, I simply folded my arms and had a good look at my body, and thought: “Well, is that all?” I could not wrench myself away from the body immediately, and accompanied it when carried off by stretcher-bearers to the dressing-station, because the body was not quite dead, but I felt no pain. How long it was before I lost the consciousness of my material body I cannot say, but the freedom I now feel, and the active part I am taking in what occupied me so much before death is my duty, and it seems natural and right. Besides, Mr. A.—, there are many pledges my comrades and I made to each other in the face of death, which are sacred, and must be kept, if possible. But I cannot stop now. Goodbye, Mr. A.—, goodbye. I am so delighted to have spoken to you. Tell father and mother they need have no regrets, and that my present activities are more valuable than when I was in the flesh, and quite as natural. They will know it is the right and proper course till time changes affairs. Goodbye.

Ông sẽ chuyển hộ tình thương của tôi đến cha mẹ, và các anh em tôi chứ? Tạ ơn Thượng đế họ đã không ra trận. Hãy nói với mẹ yêu của tôi đừng ôm ấp những ý nghĩ mơ tưởng về tôi, và đừng tin mọi cái gọi là thông điệp mà Mẹ có thể nhận. Hãy nói với Mẹ rằng tôi mắc nợ Mẹ tất cả những gì tốt đẹp nhất trong tôi, vì Mẹ can đảm và hiền thiện, và tôi sẽ làm mọi điều có thể để san phẳng con đường đời cho Mẹ. Hãy nói với Mẹ một điều đặc biệt sẽ bảo chứng cho sự hiện diện của tôi—hãy nói với Mẹ rằng vào ngày Mẹ ngăn tôi đi lượm tổ chim, và đã vất vả nhọc lòng dạy chúng tôi về điều phải, tôi đã quyết định luôn cố gắng làm điều đúng. Hãy nói với Mẹ rằng ký ức về giai thoại Mẹ kể luôn ám ảnh tôi. Hãy nói với Mẹ rằng tôi vẫn chưa đến bất kỳ nhà an nghỉ tinh thần nào, và có lẽ sẽ không cho đến khi chiến tranh kết thúc. Hãy nói với Mẹ rằng tôi không thể là kẻ trốn tránh, trong thân xác hay ngoài nó, mà bởi đã được rèn luyện với nhiều đồng đội tốt để làm tròn bổn phận, tôi vẫn cố gắng làm như vậy, và nếu được phép tôi có thể kể cho các vị biết bao điều chúng tôi làm để giúp những người còn đang chiến đấu—nhiều điều được chấp thuận và trợ giúp nữa bởi những Đấng cao hơn chúng tôi, nhưng tôi không dám nói. Hãy nói với Mẹ rằng tôi bị bắn ra khỏi thân xác hoàn toàn đột ngột, và không hề cảm thấy đau đớn, và nhờ sự thấy biết tôi nhận được qua cha mẹ tôi, và qua các vị, và những người khác, tôi chỉ việc khoanh tay và nhìn kỹ thân xác mình, và nghĩ: “Thế thôi sao?” Tôi không thể tự dứt ngay khỏi thân xác, và đã đi kèm nó khi những người khiêng cáng mang nó đến trạm cứu thương, vì thân xác vẫn chưa hoàn toàn chết, nhưng tôi không hề thấy đau. Bao lâu thì tôi mất ý thức về thân xác vật chất của mình tôi không thể nói, nhưng sự tự do tôi đang cảm thấy, và phần việc năng động tôi đang đảm nhận trong điều đã cuốn hút tôi rất nhiều trước khi chết—ấy là bổn phận của tôi, và điều đó có vẻ tự nhiên và phải lẽ. Ngoài ra, ông A.—, có nhiều lời thệ ước mà tôi và các đồng đội đã lập với nhau trước mặt Tử thần, đó là điều thiêng liêng, và phải được giữ, nếu có thể. Nhưng giờ tôi không thể dừng lại. Tạm biệt, ông A.—, tạm biệt. Tôi rất hoan hỉ vì đã được nói chuyện với ông. Hãy nói với cha mẹ tôi rằng họ không cần hối tiếc gì, và rằng hoạt động hiện tại của tôi quý giá hơn khi tôi còn ở trong xác phàm, và cũng tự nhiên không kém. Họ sẽ biết đó là lối đi đúng đắn và thích đáng cho đến khi thời gian thay đổi cục diện. Tạm biệt.

The father writes that the bird’s-nesting incident was known only to the boy and his mother; some years before when he had spoken of going on such an expedition his mother had earnestly told him how cruel it was to break down the home so care-fully prepared by the parents for their young, and illustrated her lesson with the idea of some great giant coming and ruthlessly smashing up her home and destroying her children.

Người cha viết rằng sự việc đi lượm tổ chim chỉ có cậu bé và Mẹ cậu biết; vài năm trước, khi cậu nói đến việc đi một chuyến như thế, Mẹ cậu đã tha thiết nói với cậu rằng thật tàn nhẫn biết bao khi phá hủy mái ấm được cha mẹ chuẩn bị công phu cho lũ con của chúng, và đã minh họa bài học bằng ý tưởng về một gã khổng lồ nào đó đến và nhẫn tâm đập tan nhà của mình và hủy diệt con cái mình.

This case is also interesting for its simple and straightforward account of the soldier’s experiences and feelings when he found himself outside his body.

Trường hợp này cũng thú vị vì bản thuật đơn sơ và thẳng thắn về những trải nghiệm và cảm xúc của người lính khi y thấy mình ở ngoài thân xác.

Cross References—Tham Chiếu Chéo

When one portion of a message is given to one medium and another portion to another, at a distance from or unknown to the first, so that the two portions fit together and make a rational whole, we have what is called a cross-reference. A well known instance of this is the Kildare-street Club case, published in The International Psychic Gazette, and reprinted in Mr. Carrington’s Psychical Phenomena and the War (p. 284). The account of the incident was furnished by Count Hamon, as follows:

Khi một phần thông điệp được đưa cho một đồng tử, và một phần khác cho một đồng tử khác, ở xa hoặc không được người thứ nhất biết đến, đến mức hai phần khớp với nhau và tạo thành một chỉnh thể hợp lý, chúng ta có cái gọi là tham chiếu chéo. Một ví dụ nổi tiếng về điều này là vụ Câu lạc bộ Kildare-street, đăng trên Công báo Thông linh Quốc tế, và in lại trong Các Hiện tượng Thông linh và Chiến tranh của Ông Carrington (tr. 284). Bản thuật về sự cố do Bá tước Hamon cung cấp, như sau:

On Monday, May 14, 1917, I attended in a private house a seance at which Mrs. Harris was the medium. There were present on this occasion, amongst several others whose names I am not authorized to mention, Miss Scatcherd, Mrs. Dixon-Hartland, and Dr. Hector Munro.

Vào thứ Hai, ngày 14 tháng Năm, 1917, tôi tham dự một buổi gọi hồn tại một tư gia, với Bà Harris làm đồng tử. Hôm đó có mặt, trong số một vài người khác mà tôi không được phép nêu tên, có Cô Scatcherd, Bà Dixon-Hartland, và Bác sĩ Hector Munro.

After many convincing conversations with spirits by means of the “direct voice” had occurred, a spirit visitor came and said very distinctly: “I want to send a message to my father.”

Sau nhiều cuộc đàm thoại đầy sức thuyết phục với các vong linh bằng phương tiện “tiếng nói trực tiếp”, một vị khách trong cõi vô hình đến và nói rất rõ ràng: “Tôi muốn gửi một thông điệp cho cha tôi.”

“Who are you?”, we asked.

“Anh là ai?”, chúng tôi hỏi.

The spirit replied: “I am an officer recently killed at the front in Flanders; my name is...” We could not hear the name very distinctly, so after some repeated efforts to get it, we said: “Well, leave the name alone for the moment and try to give us the message.”

Vong linh đáp: “Tôi là một sĩ quan mới tử trận ở tiền tuyến tại Flanders; tên tôi là...” Chúng tôi không nghe rõ tên, nên sau vài lần cố gắng lặp lại để nắm được, chúng tôi bảo: “Thôi, tạm gác tên sang một bên và cố cho chúng tôi biết thông điệp đã.”

Speaking very slowly at first, the spirit said, “My father lives near Dublin; you will find him at the well-known club there.”

Nói rất chậm lúc đầu, vong linh nói, “Cha tôi sống gần Dublin; các ông sẽ tìm thấy ông ấy ở câu lạc bộ nổi tiếng ở đó.”

A gentleman present asked: “Which club do you mean?”

Một quý ông có mặt hỏi: “Ý anh là câu lạc bộ nào?”

The spirit replied: “The Kildare-street Club; you know it well, and you also know my father.”

Vong linh đáp: “Câu lạc bộ Kildare-street; ông biết rõ mà, và ông cũng biết cha tôi nữa.”

As no one had caught the name of the father exactly right, the gentleman referred to said: “I know the Kildare-street Club very well, but I do not think I know your father; but give us the message.”

Vì không ai nghe được đúng hẳn tên của người cha, quý ông vừa nói bèn bảo: “Tôi biết Câu lạc bộ Kildare-street rất rõ, nhưng tôi không nghĩ tôi biết cha anh; nhưng hãy cho chúng tôi thông điệp.”

Continuing, the spirit went on: “My father is always worrying and unhappy about me; he can’t seem to get оver it. I want some one to tell him that I came here tonight to get this through as a test message to him, to tell him not to worry about me, as I am all right, and glad to have gone through it, and I want him not to worry and be unhappy any more.”

Tiếp tục, vong linh nói: “Cha tôi luôn lo âu và buồn khổ vì tôi; dường như ông không thể vượt qua được. Tôi muốn ai đó nói với ông rằng tối nay tôi đã đến đây để chuyển được thông điệp này như một phép thử gửi ông, để bảo ông đừng lo cho tôi, vì tôi ổn cả, và mừng vì đã vượt qua, và tôi muốn ông đừng lo lắng buồn khổ nữa.”

After a slight pause he continued, “My father also goes to mediums in Dublin, and I try to give him messages through them, but I want this sent on to him as a test message.”

Sau một thoáng ngừng, y tiếp: “Cha tôi cũng tìm đến các đồng tử ở Dublin, và tôi cố chuyển thông điệp cho ông qua họ, nhưng tôi muốn thông điệp này được gửi đến ông như một bài thử.”

We again asked him to try to give us the name, and we got one part—the Christian name—very distinctly, but the surname was always so slurred that we were unable to catch it clearly, and after many efforts had to give it up. But before we did so, I promised that I would do all I could to send on his message.

Chúng tôi lại yêu cầu y cố gắng cho tên, và chúng tôi nhận được một phần—tên thánh—rất rõ, nhưng họ thì luôn bị nói líu đi nên chúng tôi không thể nắm rõ, và sau nhiều lần cố gắng đành bỏ cuộc. Nhưng trước khi làm vậy, tôi hứa sẽ làm hết sức để chuyển thông điệp của y.

The next morning I wrote a letter to the name I thought it had sounded like, addressing it to the Kildare-street Club. In about a week this letter was returned to me through the Post Office marked “Name not known”.

Sáng hôm sau, tôi viết thư gửi đến cái tên mà tôi nghĩ nghe như thế, địa chỉ về Câu lạc bộ Kildare-street. Chừng một tuần sau, lá thư này được Bưu điện trả lại cho tôi với dấu “Không biết tên”.

I was considerably worried as to what I should do next, until the thought came to me that I should write to the secretary of the Club, simply saying that I was anxious to find the gentleman who, I believed, was a member of his club, whose son had recently been killed in Flanders; that the name was something like so-and-so, and that I had a message to give him about his son.

Tôi vô cùng băn khoăn không biết bước tiếp theo nên làm gì, cho đến khi một ý nghĩ đến với tôi rằng tôi nên viết cho thư ký của Câu lạc bộ, chỉ đơn giản nói rằng tôi đang nóng lòng tìm một quý ông mà tôi tin là hội viên câu lạc bộ của Ông, có người con trai mới tử trận ở Flanders; rằng tên của ông ấy na ná như tên nào đó, và tôi có một thông điệp muốn gửi ông về đứa con trai.

Now comes the strangest part of this strange story. In a few days I received a letter from the gentleman in question, saying that the secretary had sent him my letter, and adding: “I have had a message from my son who was recently killed in Flanders, saying he had sent me a message through a medium in London, that he had difficulty in getting the name and address through but he wanted to give me a test.” The father added: “If you understand this I hope you will send me his message.”

Giờ đây đến phần lạ lùng nhất của câu chuyện kỳ lạ này. Vài ngày sau, tôi nhận được thư từ quý ông nói trên, nói rằng vị thư ký đã gửi Ông lá thư của tôi, và thêm rằng: “Tôi đã nhận được một thông điệp từ con trai tôi, người mới tử trận ở Flanders, nói rằng nó đã gửi cho tôi một thông điệp qua một đồng tử ở Luân Đôn, rằng nó gặp khó khăn khi chuyển tên và địa chỉ nhưng nó muốn đưa cho tôi một phép thử.” Người cha thêm: “Nếu Ông hiểu điều này tôi mong Ông sẽ gửi cho tôi thông điệp của nó.”

The Deer In The Bois—Con Nai Trong Khu Rừng

One of the most strikingly successful instances of cross correspondence is published in the Journal of the American Society for Psychical Research, vol. viii, p. 413, it being a translation from a paper read at a meeting of the French Society for Psychical Research by Dr. Geley, M. Camille Flammarion being in the chair. In this case the operating entity composed a little story, dictated the major portion of it to a medium at Wimereux, near Bordeaux, omitting only three sentences, which were dictated separately but at the same time to a medium in Paris. The lady in Paris declared that she could see the spirit operators, the chief of whom gave his name as Roudolphe, in the form of lights, and that one of these lights came and went rapidly. Her three sentences were:

Một trong những ví dụ thành công ấn tượng nhất về tương ứng chéo được đăng trên Tập san của Hội Nghiên cứu Thông linh Hoa Kỳ, tập viii, tr. 413, đó là bản dịch từ một bài đọc tại cuộc họp của Hội Nghiên cứu Thông linh Pháp do Bác sĩ Geley trình bày, Ông Camille Flammarion chủ tọa. Trong trường hợp này, thực thể điều phối đã soạn một câu chuyện nhỏ, đọc cho một đồng tử ở Wimereux, gần Bordeaux, phần lớn câu chuyện, chỉ bỏ qua ba câu, vốn được đọc riêng nhưng cùng thời điểm cho một đồng tử ở Paris. Người phụ nữ ở Paris nói rằng bà có thể thấy các tác viên thuộc cõi vô hình, trong đó người đứng đầu xưng tên là Roudolphe, dưới dạng những luồng ánh sáng, và rằng một trong những ánh sáng ấy đến rồi đi rất nhanh. Ba câu của bà là:

“As well behaved as the pupils in a convent for well-trained young ladies”

“Lễ phép như các nữ sinh trong một tu viện dành cho những cô gái được huấn luyện bài bản”

“Their large sweet eyes are used to watching the passing”

“Đôi mắt to, dịu hiền của chúng vốn quen dõi theo những điều đi qua”

“The modern lady of fashion whose eyes.”

“Người phụ nữ tân thời thời thượng, người có đôi mắt.”

The following day the post brought to Paris the main part of the story which had been written in Wimereux the previous evening. Roudolphe first explained the idea of his experiment, and then wrote as follows:

Ngày hôm sau, bưu điện gửi đến Paris phần chính của câu chuyện đã được viết ở Wimereux vào tối hôm trước. Roudolphe trước hết giải thích ý tưởng về thí nghiệm của mình, rồi viết như sau:

Have you sometimes met, dear friend, as you walked in the thickets, the deer that live and roam through the leafy branches, at times... (here the automatist noted a pause in the writing)... at times the flock, jumping and frightened, so graceful and fascinating? Have you ever asked yourself what those pretty animals were thinking, and what they would become later? Far be it from me to draw their horoscope (which would after all be of no interest to them), but it seems to me that their mentality must be very different from that which animates the deer of the forest... (another pause)... strange vehicles running without the aid of an animal’s legs, and in those carriages or along the more or less frequented paths, they have contemplated women with elongated eyes like their own, delicate and stylish women. Who can ever tell us if... (another pause)... become so unnaturally large under the dash of the pencil, is not a doe of the forest in the throes of retrospective recollection?

Có khi nào bạn gặp, hỡi bạn thân, khi bạn đi dạo giữa lùm cây, những con nai sống và lang thang qua các cành lá, đôi khi... (ở đây người viết tự động ghi chú có một khoảng dừng trong khi viết)... đôi khi cả bầy, vừa nhảy vừa hốt hoảng, duyên dáng và mê hoặc làm sao? Bạn đã bao giờ tự hỏi những con vật xinh xắn ấy đang nghĩ gì, và sau này chúng sẽ thành gì chăng? Tôi hoàn toàn không có ý vạch lá số cho chúng (mà rốt cuộc cũng chẳng để làm gì đối với chúng), nhưng với tôi dường như tâm tính của chúng hẳn khác rất xa với cái tâm tính đang linh hoạt nơi loài nai trong rừng... (một khoảng dừng khác)... những cổ xa lạ chạy mà không cần chân thú, và trong những cỗ xe ấy hay dọc theo các lối đi ít nhiều có người qua lại, chúng đã chiêm ngắm những người phụ nữ có đôi mắt dài như mắt của chúng, những người phụ nữ mảnh mai và thanh nhã. Ai có thể nói cho chúng ta biết liệu... (một khoảng dừng nữa)... trở nên to một cách bất thường dưới nét bút, chẳng phải là một con nai cái trong cơn vật vã của hồi ức hoài niệm chăng?

Dear friend, I have had some trouble because Miss R. tried to understand—but trust I have succeeded with this childish story. Affectionate good night. roudolphe.

Bạn thân mến, tôi đã gặp chút khó khăn vì Cô R. cố gắng hiểu—nhưng tin rằng tôi đã làm được với câu chuyện trẻ con này. Chúc ngủ ngon thân ái. roudolphe.

We will leave it to the reader to put the two portions together and see how perfectly they fit. Dr. Geley remarks that both mediums were ignorant of the meaning and intention of the sentences they were writing, and that they both acted as machines worked by the single direction of an independent intelligence.

Chúng ta sẽ để dành cho độc giả ghép hai phần lại với nhau và xem chúng ăn khớp hoàn hảo thế nào. Bác sĩ Geley nhận xét rằng cả hai đồng tử đều không hiểu ý nghĩa và chủ đích của những câu họ đang viết, và rằng họ đều hành xử như những chiếc máy được vận hành bởi sự điều khiển đơn nhất của một trí tuệ độc lập.

The Fir-Tree Test—Phép Thử Cây Thông

In New Evidences in Psychical Research, by Mr. J. A. Hill, a lengthy account is given of the efforts at cross correspondence between various mediums. From that source I will take one case, that of the fir-trees:

Trong Những Chứng Cứ Mới trong Nghiên cứu Thông linh của Ông J. A. Hill, có một tường thuật dài về các nỗ lực tương ứng chéo giữa nhiều đồng tử khác nhau. Từ nguồn ấy tôi sẽ lấy một trường hợp, về những cây thông:

On August 28, 1901, Mrs. Verral’s script had some Latin, of which the following is a translation: “Sign with the seal. The fir-tree that has been already planted in the garden gives its own portent.” This script was signed with a scrawl and three drawings representing a sword, a suspended bugle and a pair of scissors.

Ngày 28 tháng Tám, 1901, bản viết của Bà Verrall có một đoạn Latin, được dịch như sau: “Hãy đóng ấn. Cây thông đã được trồng trong vườn tự nó đưa ra điềm báo.” Bản viết này được ký bằng một nét ngoằn ngoèo và ba hình vẽ tượng trưng cho một thanh gươm, một kèn hiệu treo lơ lửng và một cái kéo.

On the same day Mrs. Forbes’s script purporting to come from her son (who had been killed in the South African War) said that he was looking for a sensitive who wrote automatically, in order that he might obtain corroboration for her own writing. This script was apparently produced earlier in the day than Mrs. Verrall’s script above mentioned.

Cùng ngày hôm đó, bản viết của Bà Forbes, được cho là đến từ con trai bà (người đã tử trận trong Chiến tranh Nam Phi), nói rằng y đang tìm một người mẫn cảm biết viết tự động, để y có thể nhận được sự kiểm chứng cho bản viết của bà. Bản viết này dường như được tạo ra sớm hơn trong ngày so với bản viết của Bà Verrall nói trên.

The interest of the incident lies in the fact that a suspended bugle surmounted by a crown was the badge of Talbot Forbes’s regiment. Further, Mrs. Forbes has in her garden four or five small fir-trees grown from seed sent her from abroad by her son; these she calls Talbot’s trees. These facts were totally unknown to Mrs. Verrall. As bearing on the question of chance coincidence, it is to be remarked that on no other occasion has a bugle appeared in Mrs. Verrall’s script, nor has there been any other allusion to a planted fir-tree (p. 172).

Điều thú vị của sự kiện nằm ở chỗ một chiếc kèn hiệu treo, phía trên đội vương miện, là phù hiệu của trung đoàn Talbot Forbes. Thêm nữa, trong vườn của Bà Forbes có bốn hay năm cây thông nhỏ được trồng từ hạt giống do con trai bà gửi từ nước ngoài về; bà gọi chúng là “những cây của Talbot”. Những điều này hoàn toàn không ai báo cho Bà Verrall biết. Xét đến khả năng trùng hợp ngẫu nhiên, cần lưu ý rằng chưa từng có lần nào khác một chiếc kèn hiệu xuất hiện trong bản viết của Bà Verrall, cũng chưa từng có ám chỉ nào khác về một cây thông đã trồng (tr. 172).

Sir Oliver Lodge has expressed a favourable opinion of the evidential value of a number of cross-correspondences between Mrs. Forbes, Mrs. Piper, Mrs. Thompson and Mrs. Verrall. Many of these tests came from a soi-disant Frederick Myers. Sir Oliver said that the scholarship in some cases singularly corresponds with that of F. W. H. Myers when living, and surpasses the unaided information of any of the receivers. Mr. J. A. Hill, on p. 204 of the book above-mentioned, adds:

Ngài Oliver Lodge đã bày tỏ ý kiến thuận lợi về giá trị bằng chứng của một số tương ứng chéo giữa Bà Forbes, Bà Piper, Bà Thompson và Bà Verrall. Nhiều phép thử trong số này đến từ một người tự xưng là Frederick Myers. Ngài Oliver nói rằng học vấn trong một số trường hợp đặc biệt tương ứng với học vấn của F. W. H. Myers khi còn sống, và vượt quá khả năng thông tin không trợ giúp của bất kỳ người nhận nào. Ông J. A. Hill, ở tr. 204 của cuốn sách vừa nêu, bổ sung:

Some of the communications are strikingly appropriate to and characteristic of Mr. Myers, in many subtle ways; and this psychological kind of evidence, made up of many strokes, some bold, some faint, but all tending to bring out the lineaments of this one personality—this psychological evidence, I say, even apart from anything else, is as impressive as isolated correct facts about the communi­cator’s past life, which is the kind of evidence most sought for hitherto. And, adding to this evidence the cross-correspondences, which are also in some instances of characteristic kind—e.g., the anagrams characteristic of Dr. Hodgson, and the Dante, Tennyson, and Browning incidents suggestive of Mr. Myers, there results a body of recent evidence stronger perhaps than anything that has previously been published by qualified investigators, in favour of communication from disembodied human beings.

Một số thông điệp đặc biệt thích đáng với và đặc trưng cho Ông Myers, theo nhiều cách tinh tế; và loại bằng chứng tâm lý này, được tạo nên bởi nhiều nét vẽ, nét đậm nét mờ, nhưng tất cả đều hướng tới việc khắc họa những đường nét của một phàm ngã này—bằng chứng tâm lý này, tôi nói, ngay cả tách riêng khỏi những thứ khác, cũng ấn tượng không kém những dữ kiện đúng rời rạc về đời sống quá khứ của người truyền thông điệp, là kiểu bằng chứng vốn được truy cầu nhiều nhất từ trước đến nay. Và, cộng thêm vào bằng chứng này các tương ứng chéo, vốn trong một số trường hợp cũng có tính chất đặc trưng— ví dụ, những chữ đố anagram đặc trưng của Bác sĩ Hodgson, và các tình tiết về Dante, Tennyson, và Browning gợi nhắc đến Ông Myers, thì kết quả là một khối bằng chứng gần đây có lẽ mạnh mẽ hơn bất cứ thứ gì trước đây đã được công bố bởi những nhà điều tra có thẩm quyền, ủng hộ cho khả năng truyền thông từ các con người đã rời khỏi xác phàm.

Referring to the telepathic theory as to the cause of these and similar occurrences, Mr. Hill writes (p. 203):

Khi đề cập đến thuyết viễn cảm như nguyên nhân của những việc này và những việc tương tự, Ông Hill viết (tr. 203):

If telepathy from the living is to explain all, we shall have to believe that it can occur in a very definite and continuous way between people who do not know each other, as in the earlier script of Mrs. Holland and in some of the trance-speech of Mrs. Thompson. We shall also have to assume a very complicated system of telepathic cross-firing among the automatists concerned, the cross-firing, moreover, occurring at subliminal depths, leaving the normal personalities quite ignorant of all this remark­able activity. I confess that I am unable to accept this. To quote Mr. Lang... “there is a point at which the explanations of common sense arouse scepticism”. And I do not think that a telepathic theory of this extended kind can be called an explanation of common sense. If it were presented on its own merits, and not as a refuge from “spirits”, it would be described, by common-sense people, as a piece of uncommon nonsense.

Nếu viễn cảm từ người sống phải giải thích tất cả, chúng ta sẽ phải tin rằng nó có thể xảy ra theo một cách rất xác định và liên tục giữa những người không hề quen biết nhau, như trong các bản viết sớm của Bà Holland và trong một số lời nói khi xuất thần của Bà Thompson. Chúng ta cũng sẽ phải giả định một hệ thống bắn chéo viễn cảm hết sức phức tạp giữa các người viết tự động có liên quan, hơn nữa các phát bắn chéo ấy xảy ra ở những tầng sâu tiềm thức, để cho các phàm ngã bình thường hoàn toàn không hay biết gì về hoạt động kỳ lạ này. Tôi thú thật tôi không thể chấp nhận điều đó. Trích lời Ông Lang... “có một điểm mà các lối giải thích theo lẽ thường lại khơi dậy hoài nghi”. Và tôi không nghĩ rằng một thuyết viễn cảm mở rộng kiểu này có thể được gọi là một giải thích theo lẽ thường. Nếu nó được trình bày dựa trên giá trị tự thân của nó, chứ không phải như một nơi trú ẩn khỏi “các vong linh”, nó sẽ bị những người theo lẽ thường mô tả là một mớ vô lý khác thường.