← Theosophy : Spiritualism and Theosophy  by C.W. Leadbeater : AnandGholap.net

The Teleplasm Of Eva C.—Viễn Chất Của Eva C.

The Teleplasm Of Eva C.—Viễn Chất Của Eva C.

One of the most successful materializing mediums of recent years is the lady known as Eva C. More than a hundred scientific men, especially physicians, have had an opportunity of observing her phenomena. Dr. Geley had two sittings a week with her for twelve months, and has fully and carefully described the teleplasm or ectoplasm. In a lecture given on the 28th of January, 1918, to the members of the Psychological Institute in the medical lecture theatre of the College de France, in which Dr. Geley discusses his observations with Eva C., he gave a description of the material which has been sum­marized as follows. (Phenomena of Materialization, p. 328.)

Một trong những đồng tử hiện hình thành công nhất trong những năm gần đây là một phụ nữ được biết dưới tên Eva C. Hơn một trăm nhà khoa học, đặc biệt là các bác sĩ, đã có dịp quan sát các hiện tượng của Bà. Bác sĩ Geley có hai buổi ngồi mỗi tuần với Bà trong mười hai tháng, và đã mô tả đầy đủ và cẩn trọng viễn chất hay ngoại chất. Trong một bài thuyết giảng vào ngày 28 tháng Giêng năm 1918 trước các thành viên của Viện Tâm lý học tại giảng đường y khoa của Collège de France, trong đó Bác sĩ Geley thảo luận các quan sát của Ông với Eva C., Ông đã đưa ra một mô tả về chất liệu, được tóm lược như sau. ( Những Hiện tượng Hiện hình, tr. 328.)

A substance emanates from the body of the medium, it externalizes itself, and is amorphous, or polymorphous, in the first instance. This substance takes various forms, but, in general, it shows more or less composite organs. We may distinguish (1) the substance as a substratum of materialization; (2) its organized development. Its ap­pearance is generally announced by the presence of fluid, white and luminous flakes of a size ranging from that of a pea to that of a five-franc piece, and distributed here and there over the medium’s black dress, principally on the left side.

Một chất liệu xuất lộ từ thân thể đồng tử, nó tự ngoại hiện, và lúc đầu vô định hình, hay đa hình. Chất này nhận nhiều dạng, nhưng nói chung, nó cho thấy những cơ quan có tính chất tổng hợp ít nhiều. Chúng ta có thể phân biệt (1) chất ấy như là nền chất của sự hiện hình; (2) sự phát triển có tổ chức của nó. Sự xuất hiện của nó thường được báo hiệu bởi những mảnh vụn trắng, phát quang, dạng lưu chất, có kích cỡ từ bằng hạt đậu đến đồng năm franc, rải rác đây đó trên chiếc váy đen của đồng tử, chủ yếu ở bên trái.

This manifestation is a premonitory phenomenon, which sometimes precedes the other phenomena by three quarters of an hour, or an hour. Sometimes it is wanting, and it occasionally happens that no other manifestation follows.

Sự biểu hiện này là một hiện tượng báo trước, đôi khi đi trước các hiện tượng khác ba phần tư giờ, hay một giờ. Đôi khi nó vắng mặt, và đôi khi xảy ra là không có biểu hiện nào khác tiếp theo.

The substance itself emanates from the whole body of the medium, but especially from the natural orifices and the extremities, from the top of the head, from the breasts, and the tips of the fingers. The most usual origin, which is most easily observed, is that from the mouth. We then see the substance externalizing itself from the inner surface of the cheeks, from the gums, and from the roof of the mouth.

Chính chất liệu ấy xuất lộ từ khắp thân thể đồng tử, nhưng đặc biệt từ các lỗ tự nhiên và các đầu mút, từ đỉnh đầu, từ ngực, và đầu ngón tay. Nguồn gốc thường thấy nhất, và dễ quan sát nhất, là từ miệng. Khi ấy chúng ta thấy chất vật tự ngoại hiện từ mặt trong của má, từ lợi, và từ vòm miệng.

The substance occurs in various forms, sometimes as ductile dough, sometimes as a true protoplastic mass, sometimes in the form of numerous thin threads, some­times as cords of various thickness, or in the form of narrow rigid rays, or as a broad band, as a membrane, as a fabric, or as a woven material with indefinite and irregular outlines. The most curious appearance is presented by a widely expanded membrane, provided with fringes and rucks, and resembling in appearance a net.

Chất liệu xuất hiện dưới nhiều dạng, đôi khi như một khối bột dẻo, đôi khi như một khối nguyên sinh thật sự, đôi khi thành vô số sợi mảnh, đôi khi thành dây với bề dày khác nhau, hoặc thành những tia hẹp cứng, hoặc thành một dải rộng, như một màng, như một tấm vải, hay như một vật liệu dệt với đường viền bất định và bất quy tắc. Hình dạng lạ lùng nhất là một màng trải rộng, có tua và nếp gợn, trông giống như một tấm lưới.

The amount of externalized matter varies within wide limits. In some cases it completely envelops the medium as in a mantle. It may have three different colours—white, black, or grey. The white colour is the most frequent, perhaps because it is most easily observed. Sometimes the three colours appear simultane­ously. The visibility of the substance varies a great deal, and it may slowly increase or decrease in succession. To the touch it gives various impressions. Sometimes it is moist and cold, sometimes viscous and sticky, more rarely dry and hard. The impression created depends on the shape. It appears soft and slightly elastic when it is expanded, and hard, knotty, or fibrous when it forms cords. Sometimes it produces the feeling of a spider’s web passing over the observer’s hand. The threads are both rigid and elastic.

Lượng chất ngoại hiện biến thiên trong những giới hạn rất rộng. Có khi nó bọc kín đồng tử như trong một chiếc áo choàng. Nó có thể mang ba màu khác nhau—trắng, đen hoặc xám. Màu trắng là thường gặp nhất, có lẽ vì dễ quan sát nhất. Đôi khi ba màu xuất hiện đồng thời. Độ khả kiến của chất này thay đổi rất nhiều, và nó có thể chậm rãi tăng lên hoặc giảm đi nối tiếp nhau. Khi chạm vào, nó đem lại nhiều cảm giác. Đôi khi ẩm và lạnh, đôi khi dẻo và dính, hiếm hơn thì khô và cứng. Ấn tượng tạo ra tùy thuộc vào hình dạng. Nó có vẻ mềm và hơi đàn hồi khi trải rộng, và cứng, có nút hoặc dạng sợi khi kết thành dây. Đôi khi nó gây cảm giác như một mạng nhện lướt qua bàn tay người quan sát. Những sợi này vừa cứng vừa đàn hồi.

The substance is mobile. Sometimes it moves slowly up or down, across the medium, on her shoulders, on her breast, or on her knees, with a creeping motion resembling a reptile.

Chất liệu có tính linh động. Đôi khi nó di chuyển chậm rãi lên hoặc xuống, băng qua người đồng tử, trên vai, trên ngực, hoặc trên đầu gối Bà, với chuyển động bò trườn giống loài bò sát.

Sometimes the movements are sudden and quick. The substance appears and disappears like lightning and is extraordinarily sensitive. Its sensitiveness is mixed up with the hyperaesthetic sensibility of the medium. Every touch produces a painful reaction in the medium. When the touch is moderately strong, or prolonged, the medium complains of a pain comparable with the pain produced by a shock to the normal body.

Đôi khi các chuyển động bất chợt và nhanh chóng. Chất liệu xuất hiện và biến mất như chớp và nhạy cảm một cách phi thường. Tính nhạy cảm của nó hòa lẫn với sự tăng cảm của đồng tử. Mọi sự chạm vào đều gây phản ứng đau đớn nơi đồng tử. Khi chạm vừa phải mạnh, hoặc kéo dài, đồng tử than phiền một nỗi đau có thể so với cú sốc tác động lên thân thể bình thường.

The substance is sensitive to light. Strong light, especially when sudden and unexpected, produces a painful disturbance in the subject. Yet nothing is more variable than the action of light. In some cases, the phenomena withstand full daylight. The magnesium flash-light acts like a sudden blow on the medium, but it is withstood, and flash-light photographs can be taken.

Chất liệu nhạy với ánh sáng. Ánh sáng mạnh, nhất là khi bất ngờ và đột ngột, gây xáo trộn đau đớn nơi chủ thể. Tuy vậy không có gì biến thiên hơn tác động của ánh sáng. Trong vài trường hợp, hiện tượng chịu đựng được cả ánh sáng ban ngày. Đèn chớp magiê tác động như một cú đánh bất ngờ đối với đồng tử, nhưng Bà chịu đựng được, và vẫn có thể chụp ảnh đèn chớp.

The substance has an intrinsic and irresistible tendency towards organization. It does not remain long in the primitive condition. It often happens that the organization is so rapid that the primordial substance does not appear at all. At other times one sees at the same time the amorphous substance, and some forms or structures, more or less completely embedded in it, e.g., a thumb suspended in a fringe of the substance. One even sees heads and faces embedded in the material.

Chất liệu có khuynh hướng nội tại và bất khả cưỡng đối với sự tổ chức hóa. Nó không ở lâu trong tình trạng nguyên thủy. Thường xảy ra là sự tổ chức hóa diễn ra nhanh đến mức chất nguyên thủy chẳng hề xuất hiện chút nào. Lúc khác, người ta thấy đồng thời cả chất vô định hình, và vài hình dạng hay cấu trúc, ít nhiều được nhúng trong đó, thí dụ một ngón tay treo trong một tua của chất liệu. Người ta thậm chí còn thấy đầu và mặt chìm trong vật liệu.

As to actual experiments, Dr. Geley gives the following case from his note book:

Về các thí nghiệm thực tế, Bác sĩ Geley đưa trường hợp sau từ sổ tay của Ông:

A cord of white substance proceeds slowly from the mouth down to Eva’s knees, having the thickness of about two fingers. This band assumes the most varied forms before our eyes. Sometimes it expands in the form of a membraneous fabric, with gaps and bulges. Sometimes it contracts and folds up, subsequently expanding and stretching out again. Here and there projections issue from the mass, a sort of pseudopods, and these sometimes take, for a few seconds, the form of fingers, or the element­ary outline of a hand, subsequently returning back into the mass. Finally, the cord contracts into itself, extending again on Eva’s knees. Its end rises in the air, leaves the medium, and approaches me. I then see that the end condenses itself in the form of a knot or terminal bud, and this again expands into a perfectly modelled hand. I touch this hand; it feels quite normal. I feel the bones and the fingers with the nails. This hand is then drawn back, becomes smaller, and vanishes at the end of the cord. The latter makes a few further motions, contracts, and then returns into the medium’s mouth. (p. 330.)

Một dải chất trắng từ từ đi ra từ miệng, xuống đến đầu gối của Eva, dày chừng bằng hai ngón tay. Dải này nhận những hình dạng hết sức đa tạp ngay trước mắt chúng tôi. Đôi khi nó xòe ra thành một tấm màng như vải, có lỗ hổng và chỗ phồng. Đôi khi nó co lại và gấp nếp, rồi lại xòe ra và duỗi ra lần nữa. Đây đó những chồi nhỏ trồi ra khỏi khối, một loại giả túc, và đôi khi chúng nhận, trong vài giây, hình dạng của những ngón tay, hoặc đường nét sơ đẳng của một bàn tay, rồi lại quay trở về khối. Sau cùng, dải co vào chính nó, rồi lại trải ra trên đầu gối Eva. Đầu dải nâng lên trong không khí, rời đồng tử, và tiến về phía tôi. Khi ấy tôi thấy đầu dải ngưng tụ lại thành hình một cái nút hay một nụ ở đầu, và cái ấy lại xòe ra thành một bàn tay được tạo mẫu hoàn chỉnh. Tôi chạm vào bàn tay này; cảm giác hoàn toàn bình thường. Tôi sờ thấy xương và các ngón với móng tay. Bàn tay ấy rồi được kéo trở lại, nhỏ dần, và biến mất ở đầu dải. Dải ấy cử động thêm vài lần nữa, co lại, rồi quay trở vào miệng đồng tử. (tr. 330.)

Again:

Lại nữa:

A head suddenly appears about 30 inches from the head of the medium, above her and on her right side. It is a human head of normal dimensions, well developed, and with the usual relief. The top of the skull and the forehead are completely materialized. The forehead is broad and high. The hair is short and thick, and of a chestnut or black colour. Below the line of the eyebrows the design is vague, only the forehead and skull appearing clearly. The head disappears for a moment behind the curtain, and then reappears in the same condition, but the face, imperfectly materialized, is covered with a white mask. I extend my hand, and pass my fingers through the bushy hair, and touch the bones of the skull. The next moment everything had disappeared. (p. 330.)

Một cái đầu bất chợt xuất hiện cách đầu đồng tử khoảng 30 inch, ở phía trên và bên phải của Bà. Đó là một cái đầu người với kích thước bình thường, phát triển tốt, và với những chỗ nhô thường thấy. Đỉnh sọ và trán được hiện hình hoàn toàn. Trán rộng và cao. Tóc ngắn và dày, màu hạt dẻ hay đen. Dưới đường chân mày đường nét mơ hồ, chỉ có trán và sọ hiện rõ. Cái đầu biến mất một thoáng sau tấm rèm, rồi lại xuất hiện trong cùng tình trạng, nhưng khuôn mặt, hiện hình chưa hoàn toàn, được che bằng một chiếc mặt nạ trắng. Tôi đưa tay ra, luồn ngón tay qua mái tóc rậm, và chạm vào xương sọ. Khoảnh khắc sau mọi thứ đều biến mất. (tr. 330.)

Speaking from the physiological point of view the doctor adds:

Từ quan điểm sinh lý học, Bác sĩ thêm:

Both normal and supernormal physiology tend to establish the unity of the organic substance. In our experiments we have observed, above all, that a uniform amorphous substance externalizes itself from the medium’s body, and gives rise to the various ideoplastic forms. We have seen how this uniform substance organized and trans­formed itself under our eyes. We have seen a hand emerg­ing from the mass of the substance; a white mass developed into a face. We have seen how in a few moments the form of a head was replaced by the shape of a hand. By the concurrent testimony of sight and touch we have followed the transition of the amorphous unorganized substance into an organically developed structure which had temporarily all the attributes of life—a complete formation, so to speak, in flesh arid blood.

Cả sinh lý học bình thường lẫn siêu thường đều hướng tới việc xác lập tính thống nhất của chất hữu cơ. Trong các thí nghiệm của chúng tôi, trước hết chúng tôi nhận thấy một chất vô định hình đồng nhất tự ngoại hiện khỏi thân đồng tử, và sinh ra những hình thể ý-tạo khác nhau. Chúng tôi đã thấy chất đồng nhất đó tổ chức hóa và tự chuyển hóa ngay trước mắt chúng tôi. Chúng tôi đã thấy một bàn tay ló ra khỏi khối chất; một khối trắng phát triển thành một gương mặt. Chúng tôi đã thấy trong vài khoảnh khắc hình dạng của một cái đầu được thay thế bằng hình dạng của một bàn tay. Bằng lời chứng đồng thời của thị giác và xúc giác, chúng tôi đã theo dõi sự chuyển tiếp của chất vô định hình chưa tổ chức thành một cấu trúc phát triển hữu cơ, vốn tạm thời có đầy đủ các thuộc tính của sự sống—nói vậy, là một cấu thành hoàn chỉnh bằng thịt và máu.

We have watched the disappearance of these form­ations as they sank back into primitive substance, and have even observed how, in an instant, they were absorbed into the body of the medium. In supranormal physiology there are no different organic substrata for the various substances, as, e.g., a bone substance, a muscular, visceral, or nervous substance; it is simply then a single substance, the basis and substratum of organic life.

Chúng tôi đã chứng kiến sự biến mất của các cấu thành ấy khi chúng lắng lại vào chất nguyên thủy, và thậm chí còn quan sát được cách chỉ trong một sát-na, chúng được hấp thu vào thân đồng tử. Trong sinh lý học siêu thường không có những nền chất hữu cơ khác nhau cho các mô khác nhau, như, chẳng hạn, một chất xương, một chất cơ, tạng hay thần kinh; lúc ấy chỉ đơn giản là một chất duy nhất, nền tảng và nền chất của sự sống hữu cơ.

In normal physiology it is exactly the same, but it is not so obvious. In some cases it appears quite clear that the phenomenon which takes place in the black seance cabinet, takes place also, as already mentioned, in the chrysalis of the insect. The dissolution of tissues reduces a large proportion of the organs, and their various parts, to a single substance, that substance which is destined to materialize the organs and the various parts of the adult form. We, therefore, have the same manifestation in both physiologies. (p. 332.)

Trong sinh lý học bình thường cũng đúng như vậy, nhưng không hiển nhiên. Trong vài trường hợp người ta thấy khá rõ rằng hiện tượng diễn ra trong buồng tối của buổi gọi hồn cũng diễn ra, như đã nói, trong cái kén của côn trùng. Sự tan rã mô làm cho một phần lớn các cơ quan, và các phần khác nhau của chúng, quy về một chất duy nhất, chất mà số phận là sẽ hiện hình nên các cơ quan và những phần khác nhau của hình dạng trưởng thành. Do đó, chúng ta có cùng một biểu hiện trong cả hai loại sinh lý học. (tr. 332.)

But it is Baron von Schrenck-Notzing of Munich who has given us the fullest account of Eva’s mediumship, in his great work Phenomena of Materialization, a large volume containing no less than 225 illustrations, mostly from actual photographs of the occurrences. These are derived from literally hundreds of sessions, extending from May, 1909 to June, 1914. The phenomena described in this book are of the same nature as those of Dr. Geley, but as they relate to an earlier period of Eva’s work they show a gradual development of the power, at any rate with respect to that condition of the teleplastic substance in which it is capable of being photographed. Madame Bisson, who lives with Eva, and has taken care of her for many years, describes a number of occasions on which she was able to handle the teleplasm, and she confirms the sensations of it which are described by Dr. Geley.

Nhưng chính Nam tước von Schrenck-Notzing ở Munich đã cho chúng ta bản tường thuật đầy đủ nhất về khả năng đồng tử của Eva, trong tác phẩm lớn Những Hiện tượng Hiện hình, một tập dày có đến 225 minh hoạ, phần lớn từ ảnh chụp thực sự về các sự kiện. Những ảnh này có được từ hàng trăm buổi, kéo dài từ tháng Năm, 1909 đến tháng Sáu, 1914. Các hiện tượng được mô tả trong sách này đồng loại với những của Bác sĩ Geley, nhưng vì chúng liên quan đến thời kỳ sớm hơn trong công việc của Eva, nên chúng cho thấy sự phát triển dần của năng lực, ít nhất là đối với tình trạng của chất viễn tạo mà trong đó nó có thể được chụp ảnh. Bà Bisson, người sống cùng Eva và đã chăm sóc Bà nhiều năm, mô tả một số dịp Bà có thể chạm tay vào viễn chất, và Bà xác nhận các cảm giác về nó như Bác sĩ Geley đã mô tả.

The teleplasm is rarely, if ever, entirely separated from the medium, and though it possesses no organized nerves, impressions made upon it by touch and by light appear in the medium’s consciousness as her own sensations. Incidentally, this proves that the nervous system is not absolutely necessary for the communication of sensations to the brain. Generally speaking, any pressure given to the substance, or any sudden and powerful light, such as that from a pocket electric lamp, hurts the medium. The pain seems to appear in the body of the medium in that part of the body from which the material was probably drawn. The following example illustrates this to some extent.

Viễn chất hiếm khi, nếu không muốn nói là không bao giờ, tách rời hoàn toàn khỏi đồng tử, và tuy nó không có thần kinh tổ chức, những ấn tượng tác động lên nó bởi sự chạm vào và bởi ánh sáng dường như xuất hiện trong tâm thức của đồng tử như là cảm giác của chính Bà. Nhân tiện, điều này chứng tỏ rằng hệ thần kinh không tuyệt đối cần thiết cho việc truyền đạt cảm giác lên bộ não. Nói chung, bất kỳ sức ép nào tác động lên chất liệu, hoặc bất kỳ ánh sáng đột ngột và mạnh nào, như từ một đèn pin, đều làm đau đồng tử. Cơn đau dường như xuất hiện nơi thân đồng tử ở phần cơ thể mà từ đó có lẽ chất liệu đã được rút ra. Ví dụ sau minh hoạ điều này phần nào.

Eva took my right hand in both her hands. This time the material was thrown on my right hand and on her hands, completely enclosing our hands. I then commenced to pull again and to draw the material outwards, proceeding as tenderly as possible, in order not to hurt the medium. When I began to examine the material, it had curled right round my hand. Suddenly Eva made a movement with her hands, lying on my arm, and involuntarily pulled at the material held by me. It obviously frightened and hurt her, for she screamed, and gave me great anxiety. I tried to soothe her, but she complained of a strong nausea. The nausea continued for about ten minutes (p. 98.)

Eva nắm tay phải tôi bằng cả hai tay của Bà. Lần này chất liệu được thả lên tay phải tôi và lên tay Bà, bao bọc hoàn toàn đôi tay chúng tôi. Tôi bèn bắt đầu kéo ra và rút chất liệu về phía ngoài, tiến hành nhẹ nhàng nhất có thể, để không làm đồng tử đau. Khi tôi bắt đầu xem xét chất liệu, nó đã cuộn tròn quanh tay tôi. Đột nhiên Eva cử động đôi tay Bà, đang đặt trên cánh tay tôi, và vô tình kéo vào chất liệu mà tôi đang giữ. Rõ ràng là điều đó làm Bà hoảng và đau, vì Bà kêu thét, khiến tôi vô cùng lo lắng. Tôi cố trấn an Bà, nhưng Bà than chịu một cơn buồn nôn dữ dội. Cơn buồn nôn kéo dài chừng mười phút (tr. 98.)

At a later sitting (p. 131) when a female head showed itself, the Baron heard Eva speak at the same time, and request Madame Bisson to cut a lock from the head. Madame Bisson took a pair of scissors, and while under the careful observation of the Baron, cut off a lock of hair about four inches long and gave it to him. The materialized structure then suddenly disappeared in the direction of the medium, accompanied by a scream from her. After the sitting a lock of the medium’s hair was cut, with her permission. While Eva’s hair showed an entirely brunette character, that taken from the small head (which represented a female form whom Eva called Estelle) was blonde, and the fact that the two samples of hair were quite different was further proved by the microphotographical and chemical examinations made by experts (p. 133).

Trong một buổi muộn hơn (tr. 131) khi một cái đầu phụ nữ xuất hiện, Nam tước nghe Eva đồng thời lên tiếng và đề nghị Bà Bisson cắt một lọn tóc từ cái đầu ấy. Bà Bisson lấy một chiếc kéo, và trong khi được Nam tước quan sát kỹ, cắt một lọn tóc dài chừng bốn inch và đưa cho Ông. Cấu trúc hiện hình rồi bỗng biến mất theo hướng về phía đồng tử, kèm một tiếng kêu của Bà. Sau buổi ngồi, một lọn tóc của đồng tử được cắt, với sự cho phép của Bà. Trong khi tóc của Eva thể hiện hoàn toàn sắc nâu sẫm, thì tóc lấy từ cái đầu nhỏ (đại diện cho một hình phụ nữ mà Eva gọi là Estelle) lại vàng, và sự kiện hai mẫu tóc hoàn toàn khác nhau được chứng minh thêm bằng các kiểm tra hiển vi nhiếp ảnh và hoá học do các chuyên gia thực hiện (tr. 133).

Scientific Precautions—Những Biện Pháp Khoa Học

It should be mentioned that the scientists engaged in this research work always made every possible examination of the medium as well as of the place of meeting beforehand. As to this Dr. von Schrenck-Notzing writes:

Cần nói rằng các nhà khoa học tham gia công việc nghiên cứu này luôn tiến hành mọi kiểm tra có thể đối với đồng tử cũng như đối với nơi gặp gỡ trước đó. Về việc này, Bác sĩ von Schrenck-Notzing viết:

Not one of the observers during these four years has ever found on the medium’s body, or in the seance costumes anything which could have been used for the fraudulent production of the phenomena. The author was a witness to the thorough performance of this task on no less than 180 occasions. The honesty of the medium is therefore not a probability, but a certainty placed beyond all question. She has never introduced any objects into the cabinet with which she could have fraudulently represented the teleplastic products. The various seance rooms, in different houses, had no secret passages or trap-doors, and were regularly examined, both before and after every sitting. (p. 275.)

Không một người quan sát nào trong suốt bốn năm ấy từng tìm thấy trên thân đồng tử, hoặc trong y phục dùng cho buổi gọi hồn, bất cứ thứ gì có thể được dùng để sản xuất giả mạo các hiện tượng. Tác giả đã chứng kiến sự thực hiện kỹ lưỡng nhiệm vụ này không dưới 180 lần. Tính trung thực của đồng tử do đó không phải là một khả hữu, mà là một điều chắc chắn ngoài mọi nghi vấn. Bà chưa bao giờ mang vào buồng tối bất kỳ vật nào bằng đó Bà có thể trình diễn giả mạo những sản phẩm viễn tạo. Các phòng buổi gọi hồn khác nhau, ở những căn nhà khác nhau, không có lối bí mật hay cửa sập, và đều được kiểm tra định kỳ, trước và sau mỗi buổi. (tr. 275.)

If many of the faces and forms which appear look to the casual observer as though drawn upon and cut out of paper, and are even marked by lines as though that paper, had been folded up, nevertheless it cannot be assumed that paper figures were smuggled into the seances. Both the rigidity of the searches and the control of the medium prevent not only their being introduced, but also their being handled if introduced. The examination of the photographs by experts, and their fruitless attempt to produce similar effects with paper figures photo­graphed under exactly the same conditions, also show fraud to be impossible; and the exgurgitation hypothesis, which has been proposed by some speculators, also stretches the imagination too far from possible facts; besides, in some of the experiments bilberry jam was given to Eva to eat shortly before the sitting, and this must inevitably have coloured the entire contents of the stomach (p. 206).

Nếu nhiều gương mặt và hình thể xuất hiện dường như dưới mắt người quan sát tình cờ là như thể được vẽ rồi cắt ra từ giấy, và thậm chí có vết hằn như thể tờ giấy ấy từng bị gấp lại, thì mặc dù vậy không thể giả định rằng những hình giấy đã được lén mang vào buổi gọi hồn. Cả tính nghiêm ngặt của khám xét lẫn sự kiểm soát đồng tử đều ngăn không chỉ việc mang chúng vào, mà còn việc chạm đến chúng nếu có mang vào. Việc các chuyên gia xem xét ảnh chụp, và nỗ lực bất thành của họ nhằm tạo ra các hiệu ứng tương tự với hình giấy chụp dưới đúng các điều kiện như thế, cũng cho thấy gian lận là bất khả; và “giả thuyết ợ ói” do vài nhà suy đoán đề xuất cũng kéo trí tưởng tượng đi quá xa khỏi các sự kiện khả hữu; hơn nữa, trong một số thí nghiệm, người ta cho Eva ăn mứt việt quất ngay trước buổi ngồi, và điều đó hẳn tất yếu đã làm nhuộm màu toàn bộ chất chứa trong dạ dày (tr. 206).

The Development Of The Forms—Sự Phát Triển Của Các Hình Thể

On the other hand, it does often appear that the intelligences operating in the production of the forms have some difficulty in their materialization, which they can overcome only by methods of production resembling those of the artist and the sculptor on our own plane. For example, as to the experiment of the 10th of September, 1912, the Baron mentions (p. 196) that the head which appeared showed in several respects faults of drawing. Sometimes the same phantom appears a number of times, with or without a considerable interval. In such cases Baron von Schrenck-Notzing finds that while there is the same head and dress, and position of the arms crossed over the breast, there are a great number of small differences. He concludes that the differences between the pictures taken of the same type but on different evenings may be compared with the different poses of a person at a photographer’s, and that they are due principally to different positions of the body, owing to displacement and changes in the external lines and the folds of the dress. The differences, he adds, indicate mobility and variability of the artistic will behind the scenes in the details and shades of the conception, for the “elementary formative principle” never produces rigid and unchangeable products, “but the photo­graphed emanations always indicate a mobile, soft material basis, which is highly changeable and rapidly perishable.” (p. 230.)

Mặt khác, người ta thường thấy rằng các trí tuệ điều hành trong việc tạo ra hình thể gặp đôi chút khó khăn trong sự hiện hình, điều mà họ chỉ có thể vượt qua bằng những phương pháp sản xuất giống như của người hoạ sĩ và nhà điêu khắc trên chính cõi của chúng ta. Chẳng hạn, về thí nghiệm ngày 10 tháng Chín, 1912, Nam tước ghi (tr. 196) rằng cái đầu xuất hiện cho thấy ở vài phương diện những lỗi trong nét vẽ. Đôi khi cùng một bóng hình xuất hiện nhiều lần, có hoặc không có khoảng cách đáng kể. Trong những trường hợp như vậy, Nam tước von Schrenck-Notzing nhận thấy rằng tuy cùng là cái đầu và y phục, và tư thế hai cánh tay khoanh trước ngực, vẫn có một số lượng lớn những khác biệt nhỏ. Ông kết luận rằng những khác biệt giữa các bức chụp cùng một kiểu nhưng vào những buổi khác nhau có thể so sánh với những dáng khác nhau của một người khi chụp ảnh, và rằng chúng chủ yếu do vị trí thân thể khác nhau, bởi sự xê dịch và những thay đổi ở đường nét bên ngoài và nếp gấp của y phục. Những khác biệt ấy, Ông thêm, chỉ ra tính linh động và biến dị của ý chí nghệ thuật hậu trường trong chi tiết và sắc thái của quan niệm, vì “nguyên lý kiến tạo sơ đẳng” không bao giờ tạo ra những sản phẩm cứng nhắc và bất biến, “mà các xuất lộ được chụp ảnh luôn chỉ ra một nền chất mềm, linh động, rất dễ biến đổi và chóng hư hoại.” (tr. 230.)

The same distinguished investigator had also a number of seances with a Polish medium, a girl of nineteen years, named Stanislava P. (p. 251 et seq.) From her he obtained phenomena very similar to those presented by Eva C. In this series of investi­gations some cinema pictures were taken—on one occasion as many as four hundred, and on another three hundred and sixty (p. 258). The films show the recession of the material into the mouth of the medium, and one of them also shows the broadening and narrowing of the mass of substance.

Cùng nhà điều tra xuất sắc này cũng có một số buổi với một đồng tử Ba Lan, một cô gái mười chín tuổi, tên Stanislava P. (tr. 251 và tiếp theo.) Từ cô, Ông thu được những hiện tượng rất giống với các hiện tượng của Eva C. Trong loạt điều tra này, người ta chụp cả phim chiếu bóng—có lần đến bốn trăm tấm, và lần khác ba trăm sáu mươi (tr. 258). Phim cho thấy chất liệu co rút trở lại vào miệng đồng tử, và một trong số đó cũng cho thấy sự loe rộng và thu hẹp của khối chất.

In 1922 Baron von Schrenck-Notzing devoted several months to demonstrations of the reality of ectoplasm to members of the liberal professions, in this case with a medium named Willy Schneider, an Austrian boy of 16. Through these phenomena a large number of scientists became convinced of the reality of materializations.

Năm 1922 Nam tước von Schrenck-Notzing dành vài tháng để trình diễn thực tại của ngoại chất cho các thành viên thuộc các giới nghề tự do, trong trường hợp này với một đồng tử tên Willy Schneider, một thiếu niên người Áo mười sáu tuổi. Qua những hiện tượng này, một số đông các nhà khoa học đã tin chắc vào thực tại của các sự hiện hình.

The Clothing Of Phantoms—Y Phục Của Các Bóng Hình

The question is sometimes asked why the materialized forms of persons who have been dead for a considerable time still present themselves in the clothing which they used to wear. This is not always strictly the case, but it is generally so even when the departed person may have changed his habit in the astral world. One reason for this is that many of them would not be recognized in their new condition, but it appears also that when they come within earth influence their old earth condition closes in upon them, as it were, and reproduces the old material forms. Through Mrs. Coates in trance (Photographing the Invisible, p. 208) the reply given to this question was:

Đôi khi người ta hỏi vì sao những hình thể hiện hình của những người đã qua đời từ lâu vẫn xuất hiện trong y phục họ từng mặc. Điều này không phải lúc nào cũng đúng một cách nghiêm ngặt, nhưng thường là như vậy ngay cả khi người quá cố có thể đã đổi thói quen ở cõi cảm dục. Một lý do là nhiều người trong số họ sẽ không được nhận ra trong tình trạng mới, nhưng cũng có vẻ như khi họ đến gần ảnh hưởng trần thế thì tình trạng trần thế cũ của họ dường như khép vào, và tái tạo những hình thể vật chất cũ. Qua Bà Coates trong trạng thái xuất thần ( Chụp ảnh Cái Vô hình, tr. 208) câu trả lời đưa ra cho câu hỏi này là:

When we think what we were like upon the earth, the ether condenses around us and encloses us like an envelope. We are within those ether-like substances which are drawn to us, and our thoughts of what we were like and what we would be better known by, produce not only the clothing, but the fashioning of our forms and features. It is here the spirit chemists step in. They fashion according to their ability that ether substance quicker than thought, and produce our earth features so that they may be recognized... When I was photographed... at Los Angeles, that etherealized matter was attracted or clung to me, taking on the features fashioned by my thoughts, which were, by some sudden impulse or mysterious law, those of my last illness on earth.

Khi chúng tôi nghĩ về hình dạng của mình khi còn ở trần gian, chất dĩ thái ngưng tụ quanh chúng tôi và bao bọc chúng tôi như một cái vỏ. Chúng tôi ở trong những chất giống dĩ thái ấy vốn bị hút đến chúng tôi, và những ý nghĩ của chúng tôi về diện mạo xưa và về điều gì sẽ khiến chúng tôi dễ được nhận ra hơn, tạo nên không chỉ y phục, mà còn cả việc nắn tạo hình dáng và nét mặt của chúng tôi. Ở đây các nhà hoá học linh giới nhập cuộc. Họ gia công chất dĩ thái ấy theo khả năng của mình nhanh hơn ý nghĩ, và tạo nên các nét diện mạo trần gian của chúng tôi để có thể được nhận ra... Khi tôi được chụp ảnh... tại Los Angeles, chất vật đã được làm dĩ thái ấy bị hút vào tôi hoặc bám theo tôi, tiếp nhận các nét diện mạo được hình thành bởi tư tưởng của tôi, vốn theo một thúc lực bất chợt hoặc một định luật bí nhiệm nào đó, là các nét của cơn bệnh cuối đời của tôi trên trần thế.

A somewhat unusual modification of this process is recounted in Mr. J. Arthur Hill’s New Evidences in Psychical Research. At a sitting on Feb. 7th, 1908, the medium Watson said that he saw in the room the dead mother of one of the sitters. He described her as attired in a brown silk dress, high in the neck, trimmed with white, and having a lined or watered effect in its texture. He said that there was some history attached to this dress, about which the sitter ought to enquire from her sister. On enquiry from the lady mentioned they learned that the old lady had ordered a dress such as that described, but it was delivered only the day before she died, and so was never worn. Mr. Hill remarks that, if the supposition of fraud be dismissed, this incident suggests:

Một biến tấu khá khác lạ của tiến trình này được kể lại trong Những Bằng chứng Mới trong Nghiên cứu Thần linh học của Ông J. Arthur Hill. Trong một buổi ngồi ngày 7 tháng Hai, 1908, đồng tử Watson nói rằng Ông thấy trong phòng người mẹ đã khuất của một trong các người tham dự. Ông mô tả bà ăn vận một chiếc váy lụa nâu, cổ cao, viền trắng, và có hiệu ứng kẻ sọc hay gợn nước trong kết cấu vải. Ông nói rằng có một câu chuyện liên quan đến chiếc váy này, và người tham dự nên hỏi chị gái mình về điều đó. Khi hỏi thăm người phụ nữ được nhắc đến, họ biết rằng cụ bà đã đặt may một chiếc váy như mô tả, nhưng nó chỉ được giao vào ngày trước khi bà mất, nên chưa từng được mặc. Ông Hill nhận xét rằng, nếu loại bỏ giả định gian trá, thì sự việc này gợi ý:

Neither telepathy nor a rummaging among passive memories in a cosmic reservoir, but rather the activity of a surviving mind, able to marshal its earth-memories and to select from them for presentation to the medium such details as will constitute the strongest possible evidence of identity. (p. 134.)

Không phải là viễn cảm, cũng không phải là việc lục lọi trong những ký ức thụ động của một kho ký ức vũ trụ, mà đúng hơn là hoạt động của một tâm thức còn tồn tại, có thể huy động các ký ức trần gian của mình và chọn lọc từ đó để trình hiện cho đồng tử những chi tiết sao cho cấu thành bằng chứng mạnh mẽ nhất có thể về căn cước. (tr. 134.)

The Wax Gloves—Những “Găng Tay” Bằng Sáp

It would be difficult to imagine anything more effective in the way of proof of the actual presence of solid materialized human forms than those products which have become popularly known as the wax gloves. These are paraffin wax moulds of various human members. Dr. Geley gives us a full account of a number of seances in which these were produced. (Clairvoyance and Materialization, pp. 221 to 252.) The medium for these experiments was Mr. Franek Kluski, of Warsaw. This gentleman, who has been psychic from childhood, is described by Dr. Geley as a member of a liberal profession, a writer and a poet, a sympathetic and attractive personality, very intelligent, well educated, speaking several languages, and adds that he has placed his wonderful gifts freely and disinterestedly at the service first of his own compatriots and then of the Metapsychic Institute, by frank devotion to science. The phenomena are plentiful, including exhibitions of the primary substance and luminous phenomena, materializations of human members, of human faces and animal forms, and the movement of objects without apparent contact, as well as phenomena of a mental order.

Khó mà tưởng tượng một bằng chứng nào hiệu lực hơn về sự hiện diện thực sự của những hình thể người hiện hình vững chắc so với những sản phẩm đã được gọi phổ biến là những “găng tay bằng sáp”. Đó là những khuôn bằng sáp parafin của các chi thể người khác nhau. Bác sĩ Geley cho chúng ta một tường thuật đầy đủ về một số buổi ngồi trong đó các khuôn này được tạo ra. ( Thông nhãn và Hiện hình, tr. 221 đến 252.) Đồng tử cho các thí nghiệm này là Ông Franek Kluski, ở Warsaw. Vị này, vốn có năng lực tâm linh từ nhỏ, được Bác sĩ Geley mô tả là một thành viên của một ngành nghề tự do, một nhà văn và thi sĩ, một nhân cách dễ mến và cuốn hút, rất thông minh, có học, nói được vài thứ tiếng, và thêm rằng Ông đã hiến tặng các năng khiếu kỳ diệu của mình một cách tự do và vô tư cho đồng bào trước tiên, rồi cho Viện Siêu tâm lý, bằng một sự tận hiến thẳng thắn cho khoa học. Các hiện tượng rất phong phú, bao gồm phô diễn chất nguyên sơ và các hiện tượng phát quang, hiện hình các chi thể người, các gương mặt người và hình thú, và sự chuyển động của đồ vật không có tiếp xúc hiển nhiên, cũng như các hiện tượng thuộc loại tâm thần.

We will, however, confine ourselves here to a brief account of the wax moulds. In these sittings a tank of melted paraffin wax was set upon an electric heater, the materialized entity was asked to plunge a hand or foot or even part of the face into the paraffin several times. This action results in the formation of a closely fitting envelope, which sets quite rapidly. When the form dematerializes the glove or envelope remains, and if it be desired plaster can afterwards be poured into the mould, giving a perfect cast of the hand or other member upon which it had been formed. In one short series of sittings nine moulds were produced, of which seven were all hands, one was a foot and one a mouth and chin. The following is Dr. Geley’s account of the tenth experiment in this series:

Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ tóm lược về các khuôn sáp. Trong những buổi này, một thùng sáp parafin nóng chảy được đặt trên một bộ gia nhiệt điện, thực thể hiện hình được yêu cầu nhúng một bàn tay hoặc một bàn chân hay thậm chí một phần gương mặt vào parafin vài lần. Động tác này tạo thành một lớp vỏ bọc vừa khít, và đông lại rất nhanh. Khi hình thể giải hiện, chiếc găng hay lớp vỏ vẫn còn, và nếu muốn, người ta có thể rót thạch cao vào khuôn, cho ra một mẫu đúc hoàn hảo của bàn tay hay chi thể khác đã được tạo khuôn. Trong một loạt buổi ngắn, chín khuôn đã được tạo, trong đó bảy cái là bàn tay, một là bàn chân và một là miệng và cằm. Sau đây là lời của Bác sĩ Geley về thí nghiệm thứ mười trong loạt này:

Control was perfect—right hand held by Professor Richet and left by Count Potocki. The controllers kept repeating “I am holding the right hand,” or “I am holding the left hand.” After fifteen or twenty minutes splashing was audible in the tank, and the hands operating, covered with warm paraffin, touched those of the controllers. Before the experiment Professor Richet and I had added some blue colouring matter to the paraffin, which then had a bluish tinge. This was done secretly, to be an absolute proof that the moulds were made on the spot and not brought ready-made into the laboratory by Franek or any other person, and passed off on us by legerdemain. The operation lasted as before, from one to two minutes.

Kiểm soát là hoàn hảo—tay phải do Giáo sư Richet giữ và tay trái do Bá tước Potocki. Những người khống chế cứ lặp lại “Tôi đang giữ tay phải,” hoặc “Tôi đang giữ tay trái.” Sau mười lăm hay hai mươi phút, tiếng quẫy nước nghe được trong thùng, và những bàn tay đang thao tác, phủ parafin ấm, chạm vào tay của những người khống chế. Trước thí nghiệm, Giáo sư Richet và tôi đã cho thêm một ít chất màu xanh vào parafin, khiến nó có ánh xanh nhạt. Điều này được làm kín đáo, để làm bằng chứng tuyệt đối rằng các khuôn đã được tạo ngay tại chỗ chứ không phải do Franek hay ai khác mang sẵn vào phòng thí nghiệm, rồi dùng ảo thuật đánh tráo. Việc thao tác kéo dài như trước, từ một đến hai phút.

Two admirable moulds resulted, of right and left hands of the size of the hands of children five to seven years old. These were of bluish wax, the same colour as that in the tank.

Kết quả là hai khuôn tuyệt hảo, của tay phải và tay trái với kích thước bằng tay của trẻ em năm đến bảy tuổi. Chúng là sáp xanh nhạt, cùng màu với sáp trong thùng.

Weight of paraffin before experiment: 3 kilograms 920 grams.

Trọng lượng parafin trước thí nghiệm: 3 kilôgam 920 gam.

Weight of paraffin after the experiment: 3 kilograms 800 grams.

Trọng lượng parafin sau thí nghiệm: 3 kilôgam 800 gam.

Weight of the moulds: 50 grams.

Trọng lượng các khuôn: 50 gam.

The difference is represented by a considerable quantity of wax scattered on the floor, about 15 grams near the medium and also some far from him, 31/2 yards distant, in a place to which he could not have gone, near the photographic apparatus. We did not scratch up this last, which was adherent to the floor, for weighing, but there was a good deal of it—about 25 grams. Mr. Kluski had not been near that place either before or during the experiment. There was also paraffin on the hands and clothes of the medium. His hands had never been released from the hold of the controllers. (p. 224.)

Phần sai biệt được biểu hiện bởi một lượng đáng kể sáp vung vãi trên sàn, khoảng 15 gam gần đồng tử và cũng có sáp ở xa Bà, cách 3 1/2 thước Anh, tại một nơi Bà không thể đến, gần máy ảnh. Chúng tôi không cạy phần sau này, vốn dính chặt sàn, để cân, nhưng có khá nhiều—khoảng 25 gam. Ông Kluski cũng không đi gần chỗ đó, trước hoặc trong thí nghiệm. Cũng có parafin trên tay và áo quần của đồng tử. Hai tay Bà chưa bao giờ được rời khỏi sự nắm giữ của những người khống chế. (tr. 224.)

The appearance of paraffin on Mr. Kluski’s hands and clothes reminds us of the same occurrences in Mr. Crawford’s experiments in the Goligher circle, already described in Chapter VII. The moulds mentioned above show hands with fingers bent down, and thumbs turned over them or over the palm of the hand, and in some cases two hands are shown with fingers interlocked in various ways. For these and other reasons it is quite certain that the wax moulds have been made upon human members afterwards dematerialized.

Việc xuất hiện parafin trên tay và áo quần của Ông Kluski khiến chúng ta nhớ lại những hiện tượng tương tự trong các thí nghiệm của Ông Crawford tại nhóm Goligher, đã mô tả trong Chương VII. Những khuôn kể trên cho thấy các bàn tay với những ngón co xuống, và ngón cái gập qua chúng hoặc qua lòng bàn tay, và trong vài trường hợp là hai bàn tay với các ngón đan vào nhau theo nhiều cách. Vì những lý do này và những lý do khác, hoàn toàn chắc chắn rằng các khuôn sáp đã được tạo trên những chi thể người rồi sau đó được giải hiện.

In the second series of experiments conducted at Warsaw (those above mentioned took place in Paris) some of the materializations were at the same time visible. Dr. Geley says:

Trong loạt thí nghiệm thứ hai được tiến hành ở Warsaw (những thí nghiệm kể trên diễn ra tại Paris) một số hiện hình đồng thời có thể trông thấy. Bác sĩ Geley nói:

We had in this case a new and hitherto unpublished proof. We had the great pleasure of seeing the hands dipped into the paraffin. They were luminous, bearing points of light at the finger-tips. They passed slowly before our eyes, dipped into the wax, moved in it for a few seconds, came out, still luminous, and deposited the glove against the hand of one of us. (p. 234.)

Trong trường hợp này chúng tôi có một bằng chứng mới và chưa từng công bố. Chúng tôi rất hân hạnh được thấy các bàn tay được nhúng vào parafin. Chúng phát quang, mang những điểm sáng ở đầu ngón tay. Chúng chậm rãi đi ngang qua trước mắt chúng tôi, nhúng vào sáp, chuyển động trong đó vài giây, rồi đi ra, vẫn phát quang, và đặt chiếc găng lên bàn tay của một người trong chúng tôi. (tr. 234.)

Chapter XI—Chương XI

OUR ATTITUDE TOWARDS SPIRITUALISM—THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA ĐỐI VỚI THẦN LINH HỌC

Much In Common—Nhiều Điểm Chung

“but,” some spiritualists have said to me, “we always thought that you Theosophists supposed all our phenomena to be the work of elementals, or fairies, or devils or something of that sort!” No Theosophist who knows anything about it has ever made any such foolish assertion. What may have been said is that some part of the phenomena were occasionally produced by agencies other than dead men or women; and that is perfectly true. It has often seemed to me that there has frequently been a good deal of entirely unnecessary mistrust and misconception between Theosophists and spiritualists. Various spiritualistic organs have frequently abused Theosophy in no measured terms, and there is no doubt that on our side also both speakers and writers have often referred to spiritualism with much scorn, but with little knowledge. But I hope that with more knowledge each of the other we shall come to respect one another more as we understand one another better, for we each have our part to fill in the great work of the future. It would indeed be foolish of us to quarrel, for we have more in common with each other than either of us has with any of the other shades of opinion.

“nhưng,” một số nhà thần linh học đã nói với tôi, “chúng tôi vẫn nghĩ rằng các ông những người Thông Thiên Học cho rằng mọi hiện tượng của chúng tôi đều là việc làm của các hành khí, hay tiên, hay ác ma hay gì đó tương tự!” Không một người Thông Thiên Học nào hiểu biết đôi chút về vấn đề này từng phát biểu một khẳng định dại dột như vậy. Điều có thể đã được nói là một phần các hiện tượng đôi khi được tạo bởi những tác nhân khác ngoài những người nam hay nữ đã chết; và điều đó hoàn toàn đúng. Tôi thường thấy rằng đã có rất nhiều ngờ vực và hiểu lầm hoàn toàn không cần thiết giữa những người Thông Thiên Học và các nhà thần linh học. Nhiều tạp chí thần linh học đã thường xuyên mạt sát Thông Thiên Học bằng những lời lẽ chua cay, và không nghi ngờ gì rằng phía chúng ta cũng vậy, cả diễn giả lẫn người viết đã thường nhắc đến thần linh học với nhiều khinh miệt nhưng ít hiểu biết. Nhưng tôi hy vọng rằng với sự hiểu biết nhiều hơn về nhau, chúng ta sẽ đến chỗ tôn trọng nhau hơn khi thấu hiểu nhau hơn, vì chúng ta mỗi bên đều có phần việc phải đảm đương trong công trình lớn của tương lai. Quả là dại dột nếu chúng ta gây gổ, bởi vì chúng ta có nhiều điểm chung với nhau hơn là mỗi bên có với bất kỳ quan điểm nào khác.

Points Of Agreement—Những Điểm Đồng Thuận

We both hold strenuously to the great central idea of man as an immortal and ever-progressive being; we both know that as is his life now, so shall it be after he has cast aside this body, which is his only that he may learn through it; we both hold the Fatherhood of God and the brotherhood of man as fundamental tenets; and we both know that the gains and rewards of this world are but as dross compared with the glorious certainties of the higher life beyond the grave. Let us stand side by side on this common platform, and let us postpone the consideration of our points of difference until we have converted the rest of the world to the belief in these points upon which we agree. Surely that is wise policy, for these are the points of importance; and if the life is lived in accordance with these all the rest will follow.

Chúng ta đều kiên trì nắm lấy đại ý tưởng trung tâm về con người như một hữu thể bất tử và luôn tiến hoá; chúng ta đều biết rằng đời sống của y bây giờ như thế nào thì sau khi y đã cởi bỏ thân thể này—vốn chỉ là của y để y học hỏi qua nó—đời sống của y cũng sẽ như thế; chúng ta đều coi “Thượng đế là Cha” và “nhân loại là anh em” như những tín điều nền tảng; và chúng ta đều biết rằng lợi lộc và phần thưởng thế gian chỉ như cặn bã so với những điều chắc chắn vinh quang của đời sống cao hơn bên kia nấm mồ. Chúng ta hãy đứng kề vai nhau trên nền tảng chung này, và hãy hoãn việc xét đến các điểm dị biệt cho đến khi chúng ta đã làm cho phần còn lại của thế giới tin vào những điểm mà chúng ta đồng ý. Hẳn đó là chủ trương khôn ngoan, vì đó là những điểm quan trọng; và nếu đời sống được sống phù hợp với những điểm ấy thì mọi điều khác sẽ theo sau.

We have a magnificent system of philosophy; our spiritualistic brother does not care for it. Well, if his thought does not run along that line, why should we seek to force it upon him? Perhaps presently he will feel the need of some such system; if he does, then there it is all ready for his study. I believe that in due course I shall return to live again upon this earth; herein some of my spiritual­istic brothers agree with me, and some do not; but, after all, what does that matter? To us this doctrine of reincarnation is luminous and helpful, because it seems to explain so much for which otherwise there is no solution; but if another man does not yet feel the need of it, it is no part of our policy to try to force it upon him.

Chúng ta có một hệ thống triết học tuyệt hảo; người anh em thần linh học của chúng ta không mặn mà với nó. Ừ thì, nếu tư tưởng của Ông không vận hành theo tuyến ấy, tại sao chúng ta phải tìm cách áp đặt nó lên Ông? Có lẽ rồi đây Ông sẽ cảm thấy cần một hệ thống như thế; nếu có, thì nó đã sẵn sàng ở đó cho Ông khảo cứu. Tôi tin rằng theo thời, tôi sẽ trở lại sống trên trần gian này; ở điểm này có vài người anh em thần linh học đồng ý với tôi, và vài người không; nhưng, rốt cuộc, điều đó có nghĩa lý gì? Với chúng ta, học thuyết tái sinh sáng sủa và hữu ích, bởi nó dường như giải thích rất nhiều điều mà nếu không thì chẳng có lời giải; nhưng nếu một người khác chưa cảm thấy cần đến nó, thì không thuộc chủ trương của chúng ta là cố ép buộc Ông chấp nhận.

We hold the idea of continued progress after death by means of further lives upon this earth, after the life on subtler planes is over; the spiritual­ist prefers the idea of passing on to other and higher spheres altogether. We both agree that there is a progress hereafter; let us live so as to make the best use of this existence as a preparation for that, for if we do that we shall surely come out successfully, whichever of us is right as to the place of our future meeting. When all the world is living its highest in the preparation for that life of pro­gress, it will be time enough to begin to argue about where it will be lived.

Chúng ta chủ trương ý tưởng tiến bộ liên tục sau khi chết bằng những đời sống tiếp theo trên trần gian, sau khi đời sống ở các cõi tinh tế hơn đã kết thúc; nhà thần linh học thích quan niệm tiến lên hẳn các cõi cao hơn. Chúng ta đều đồng ý rằng có sự tiến bộ ở đời sau; vậy hãy sống sao cho tận dụng tốt nhất đời sống này như một sự chuẩn bị cho đời sống ấy, vì nếu làm vậy, chắc chắn chúng ta sẽ thành công, bất kể ai trong chúng ta đúng về nơi sẽ gặp nhau trong tương lai. Khi cả thế giới đang sống cao nhất đời sống của mình để chuẩn bị cho đời sống tiến bộ ấy, thì bấy giờ hãy tranh luận về nơi nó sẽ được sống cũng chưa muộn.

Untrained Observation Of Little Value—Quan Sát Chưa Được Huấn Luyện Ít Giá Trị

As to the spiritualistic phenomena, we have no quarrel whatever with them; we know well that they take place, and we know that they have had great value as demonstrating the reality of superphysical life to many a sceptical mind. There are many men who seem constitutionally incapable of profiting by the experience of others; they must go and see everything for themselves, not realizing that, even if they do see, their untrained observa­tions will be of little value. On this point Mr. Fullerton has well said:

Còn về các hiện tượng thần linh học, chúng ta hoàn toàn không có tranh chấp gì với chúng; chúng ta biết rõ rằng chúng xảy ra, và chúng ta biết rằng chúng đã có giá trị lớn trong việc chứng minh thực tại của đời sống siêu vật lý đối với biết bao tâm trí hoài nghi. Có nhiều người dường như bẩm tính không thể hưởng lợi từ kinh nghiệm của kẻ khác; họ phải tự mình đi xem mọi thứ, không nhận ra rằng, ngay cả khi họ có thấy, thì những quan sát chưa được huấn luyện của họ cũng ít giá trị. Về điểm này Ông Fullerton đã nói rất hay:

To ensure observations with any worth there must be long and careful discipline; natural errors must through repeated experience be guarded against, distinctions and qualifications and illusions be learned. This is true of the physical plane; much more of the astral plane, where phenomena are so different, conditions so unlike, misguidance so multiform. He who assumes that his untutored observation for the first time of the contents and facts of the astral world would better determine them than does the trained faculty of long and accomplished students, presupposes really that he is an exception to universal rule, superior to other men and of different mould. But what is this save a form of vanity, a case of that strange delusion as to personal worth which the smallest observation of human nature might have cured? It is akin to the supposi­tion that his first introduction to an unknown continent, he not being a naturalist, a physicist, or a botanist, would be more conclusive in its results than the protracted researches of scientists long familiar with the region and mutually comparing their investigations. (The Proofs of Theosophy, p. 7.)

Để bảo đảm các quan sát có giá trị, phải có sự kỷ luật lâu dài và cẩn trọng; những sai lầm tự nhiên phải qua kinh nghiệm lặp đi lặp lại mà được phòng ngừa, phải học các phân biệt và giới định và ảo ảnh. Điều này đúng trên cõi hồng trần; càng đúng hơn trên cõi cảm dục, nơi hiện tượng quá khác, điều kiện không giống, sự dẫn sai muôn mặt. Kẻ nào cho rằng những quan sát chưa được rèn luyện lần đầu của mình về những nội dung và sự kiện của thế giới cảm dục sẽ xác định chúng tốt hơn năng lực được rèn luyện của những đạo sinh lâu năm và thiện nghệ, thì thật ra là giả định rằng y là ngoại lệ đối với quy luật phổ quát, vượt trội kẻ khác và được nặn bằng khuôn khác. Nhưng đó là gì nếu không phải là một hình thức hư danh, một trường hợp của ảo tưởng lạ lùng về giá trị cá nhân mà chỉ cần quan sát nhỏ nhất về bản tính con người cũng đủ chữa trị? Nó tương tự như giả định rằng lần đầu y đặt chân lên một lục địa chưa biết, trong khi y không phải là nhà tự nhiên học, nhà vật lý hay nhà thực vật học, sẽ có kết quả thuyết phục hơn những khảo cứu kéo dài của các nhà khoa học vốn lâu quen thuộc với vùng đó và thường so sánh lẫn nhau các cuộc điều tra của mình. ( Những Bằng chứng của Thông Thiên Học, tr. 7.)

If a man must see for himself, and is unable to rest upon the basis of intellectual conviction, by all means let him attend the spiritualistic seance, and learn by experience, as so many others have done. It is not a course that we should advise except to such a man as this, because there are certain serious drawbacks to it from our point of view.

Nếu một người phải tự thấy mới tin, và không thể an tâm dựa trên nền tảng của xác tín trí tuệ, thì cứ để Ông ta đến buổi gọi hồn, và học bằng kinh nghiệm, như bao người khác đã làm. Đó không phải là một đường hướng chúng ta khuyên trừ phi với một người như vậy, vì theo quan điểm của chúng ta có những mặt bất lợi nghiêm trọng nhất định.

Drawbacks—Mặt Bất Lợi

The greatest of these is one at which the sceptic would laugh—the danger of believing too much! For if the sceptic has determination and persever­ance, he will assuredly be convinced sooner or later; and when he is, it is quite likely that the pendulum will swing to the other extreme, and that he will believe too much, instead of too little. He may readily grow to regard all the words of the dead as gospel, all communications which come through the tilts of a table as divinely inspired.

Nghiêm trọng nhất trong những điều này là điều mà kẻ hoài nghi sẽ cười nhạo—nguy cơ tin quá nhiều! Vì nếu kẻ hoài nghi có quyết tâm và bền chí, y hẳn sẽ được thuyết phục sớm hay muộn; và khi y đã tin, con lắc rất có thể sẽ văng sang cực kia, và y sẽ tin quá nhiều, thay vì quá ít. Y có thể dễ dàng đi đến chỗ xem mọi lời của người chết như kinh điển, mọi thông điệp đến qua những lần bàn nghiêng như được linh cảm thiêng liêng.

There is also another danger—that of being uncomfortably haunted. Often there come to a seance most undesirable dead people, men of depraved morals, seeking to gratify vicariously obscene lower passions. And besides these, there are those dead men who are mad with fear, who are clutching desperately at any and every opportunity to seize a physical vehicle, to get back at any cost and by any means into touch with the lower life which they have lost. The “guide” usually protects his medium from such influences, and will not allow such a man to communicate; but he cannot prevent him from attaching himself to other sitters and following them home. The sceptic may think himself strong-minded and non-sensitive, and therefore proof against any such possibility; some day he may be unpleasantly undeceived as to this; but even if that be so, does he wish to run the risk of bringing home an influence to his wife or his daughter? Of course, I fully recognize that this is only a possibility—that a man might attend a score of seances and encounter nothing of this sort; yet these things have happened, and they are happening even now. People driven to the verge of insanity by astral persecution have come to me again and again; and in many cases it was at a seance that they first encountered that ghostly companion. The strong can resist; but who knows whether he is strong until he tries?

Cũng có một nguy hiểm khác—bị ám theo một cách khó chịu. Thường có những người chết hết sức bất hảo đến buổi gọi hồn, những kẻ suy đồi đạo đức, tìm cách thoả mãn lây các dục vọng thấp hèn dâm ô. Và ngoài những kẻ ấy, còn có những người chết vì sợ hãi đến phát cuồng, đang bấu víu tuyệt vọng vào bất cứ cơ hội nào để chộp lấy một vận cụ hồng trần, để bằng bất cứ giá nào và bằng mọi cách trở lại tiếp xúc với đời sống thấp mà họ đã đánh mất. “Vị linh hướng” thường bảo hộ đồng tử của mình khỏi những ảnh hưởng như vậy, và không cho phép một người như thế liên lạc; nhưng Ông không thể ngăn y bám vào những người tham dự khác và theo họ về nhà. Kẻ hoài nghi có thể nghĩ mình vững vàng và không nhạy cảm, nên miễn nhiễm với khả năng như vậy; một ngày nào đó y có thể bị tháo gỡ ảo tưởng này một cách khó chịu; nhưng ngay cả nếu là vậy, y có muốn liều mang về nhà một ảnh hưởng đối với vợ hay con gái mình không? Tất nhiên, tôi hoàn toàn thừa nhận rằng đây chỉ là một khả hữu—một người có thể tham dự hai mươi buổi gọi hồn mà không gặp gì thuộc loại này; nhưng những điều ấy đã xảy ra, và hiện vẫn đang xảy ra. Những người bị dồn đến bờ vực điên loạn bởi sự quấy nhiễu ở cõi cảm dục đã tìm đến tôi hết lần này đến lần khác; và trong nhiều trường hợp, chính ở một buổi gọi hồn họ đã gặp người bạn đồng hành ma ám đầu tiên ấy. Kẻ mạnh có thể kháng cự; nhưng ai biết mình mạnh chừng nào cho đến khi thử?

Resolution Needed—Cần Có Quyết Tâm

When, however, this unfortunate thing has already happened to a person—when he already feels himself haunted or obsessed—there is only one thing to be done, and that is to set the mind steadily against it in determined resistance. Realize firmly that the human will is stronger than any evil influence, and that you have a right to your own individuality and the use of your own organs—a right to choose your company astrally as well as on the physical plane. Assert this right persistently, and all will be well with you. Take resolutely to heart the common sense advice given by Miss Freer, in her Essays in Psychical Research:

Tuy nhiên, khi điều bất hạnh này đã xảy ra với một người—khi y đã cảm thấy mình bị ám hay bị nhập—thì chỉ có một việc phải làm, đó là lập tâm chống lại nó bằng sự phản kháng cương quyết. Hãy vững tin rằng ý chí con người mạnh hơn bất cứ ảnh hưởng xấu nào, và rằng bạn có quyền đối với cá tính của chính mình và việc sử dụng các cơ quan của mình—quyền chọn bầu bạn của mình trên cõi cảm dục cũng như trên cõi hồng trần. Hãy khẳng định quyền này một cách bền bỉ, và mọi sự sẽ ổn. Hãy quả quyết ghi tâm lời khuyên lẽ thường do Cô Freer nêu trong Những Luận văn về Nghiên cứu Thần linh học:

If you believe yourself obsessed, if planchette swears, if your table-raps give lying messages, and you fall into trances at unreasonable moments, drop the subject. Get a bicycle, or learn Hebrew, or go on a walking tour, or weed the garden! If you are sane, you can do as you like with your own mind; if you can not, consult the staff of Colney Hatch! Want of self-restraint is either sin or disease.

Nếu bạn tin mình bị ám, nếu bàn viết tự động chửi rủa, nếu những cú gõ bàn đưa ra các thông điệp dối trá, và bạn rơi vào xuất thần vào những lúc vô lý, thì bỏ hẳn đề tài ấy. Hãy sắm một chiếc xe đạp, hoặc học tiếng Do Thái, hoặc đi bộ đường dài, hoặc nhổ cỏ trong vườn! Nếu bạn tỉnh táo, bạn có thể muốn làm gì thì làm với tâm trí của mình; nếu bạn không, hãy đến nhờ nhân viên của Colney Hatch! Thiếu tự chủ hoặc là tội lỗi hoặc là bệnh tật.

Possibility Of Deception—Khả Năng Bị Lừa Dối

Then there is always the possibility of deception—not so much of deception by the medium, or by any one on the physical plane, as by entities behind. I have known many cases in which such deceptions were well-intentioned; but of course they remain deceptions nevertheless. It may happen that one dead man personates another from the best of motives—it may be simply to comfort surviving relations, by taking the place of one who does not care sufficiently, or perhaps is ashamed to come. Sometimes one man will take the place of another who has already passed on to the heaven-world and so is out of reach, in order that his surviving relations may not feel themselves neglected or abandoned. In such a case it is not for us to blame him; his action may be right or it may be wrong, but that is a matter exclusively for his own conscience, and we are not called upon to judge him. I simply note the fact that such cases occur.

Rồi thì luôn có khả năng bị đánh lừa—không phải chủ yếu do đồng tử, hay do bất kỳ ai trên cõi hồng trần, mà là do các thực thể ở phía sau. Tôi đã biết nhiều trường hợp mà sự đánh lừa như thế lại xuất phát từ thiện ý; nhưng dĩ nhiên, dù thế nào nó vẫn là sự đánh lừa. Có thể xảy ra việc một người đã khuất mạo nhận người khác vì những động cơ tốt đẹp nhất—đơn giản là để an ủi những người thân còn sống, bằng cách thế chỗ cho người không đủ quan tâm, hoặc có lẽ hổ thẹn không muốn đến. Đôi khi một người sẽ thế chỗ cho người kia đã sang cõi thượng thiên nên không còn tiếp cận được, để cho những người thân còn sống không cảm thấy mình bị bỏ rơi hay bị lãng quên. Trong trường hợp như vậy, không phải phần việc của chúng ta là trách cứ người ấy; hành động của y có thể đúng hoặc có thể sai, nhưng đó là việc hoàn toàn thuộc về lương tâm riêng của y, và chúng ta không được kêu gọi để phán xét y. Tôi chỉ ghi nhận một sự kiện là những trường hợp như vậy có xảy ra.

It must be remembered that the man who has passed on into the heaven-world has left behind him his astral corpse, which is at the stage of decay of the shade or of the shell, according to the time which has elapsed since he abandoned it. Obviously to utilize and revivify this will be the easier way of personating him, and it is therefore the plan usually adopted.

Cần ghi nhớ rằng người đã đi vào cõi thượng thiên đã bỏ lại phía sau cái xác cảm dục của mình, đang ở giai đoạn phân hủy thành “bóng” hoặc “vỏ”, tùy theo khoảng thời gian từ khi y lìa bỏ nó. Rõ ràng, sử dụng và làm hồi sinh cái ấy sẽ là cách dễ hơn để mạo nhận y, do đó đây là phương án thường được áp dụng.

It is not even in the least necessary that the communicating entity should be human at all; many a joyous and obliging nature-spirit is proud to have the opportunity of playing the part of a being belonging to a superior evolution, and will continue assuring his delighted audience that he is “so happy” as long as they like to listen to him.

Thậm chí hoàn toàn không cần thiết thực thể giao tiếp phải là con người; nhiều tinh linh thiên nhiên vui tươi và hay giúp đỡ hãnh diện khi có cơ hội đóng vai một hữu thể thuộc một nấc tiến hóa cao hơn, và sẽ không ngừng quả quyết với thính chúng đang khoái trá rằng y “rất hạnh phúc” miễn là họ còn thích lắng nghe y.

The entity who poses at a seance as Shakespeare or Julius Caesar, as Mary Queen of Scots or George Washington, is usually of this class, though he is sometimes also a human being of low degree, to whom it is a joy to strut even for a few minutes in such borrowed plumes, to enjoy even for a single evening the respect due to a well-known name. Also, if he has something to say which he considers useful or important, he thinks (and quite rightly) that credulous mortals are more likely to pay attention to it if it be attributed to some distin­guished person. His motives are often estimable, even though we cannot approve of his methods.

Thực thể đóng vai Shakespeare hay Julius Caesar, Mary, Nữ hoàng Scotland hay George Washington trong một buổi gọi hồn thường thuộc hạng này; tuy đôi khi cũng là một con người ở trình độ thấp—đối với y, được làm điệu một vài phút trong “bộ cánh vay mượn” như thế, được hưởng dù chỉ một buổi tối sự tôn kính dành cho một cái tên lừng danh, đã là một niềm vui. Hơn nữa, nếu y có điều gì muốn nói mà y cho là hữu ích hay hệ trọng, y nghĩ (và hoàn toàn đúng) rằng phàm nhân cả tin sẽ chú ý đến nó hơn nếu nó được gán cho một nhân vật lỗi lạc nào đó. Động cơ của y thường đáng trân trọng, dù chúng ta không thể tán thành phương pháp của y.

There is any amount of such personation as this; it is one of the commonest facts which we encounter in our researches. There is a book on Spiritualism, for example, by Judge Edmonds of the Supreme Court of New York, which consists chiefly of com­munications purporting to come from Swedenborg and Bacon, with occasional observations from Washington and Charlemagne; but none of these great people seem to have risen at all to the level of their earthly reputation, and their remarks do not, differ appreci­ably from the deadly dullness of the ordinary trance-address, while many of their statements are of course wildly inaccurate.

Những màn mạo nhận như thế có vô số; đó là một trong những sự kiện phổ biến nhất mà chúng ta gặp trong khảo cứu. Chẳng hạn có một cuốn sách về Thần linh học của Thẩm phán Edmonds thuộc Tối cao Pháp viện New York, phần lớn gồm các thông điệp tự xưng đến từ Swedenborg và Bacon, thỉnh thoảng có nhận xét của Washington và Charlemagne; nhưng dường như chẳng ai trong số những vị vĩ nhân ấy vươn lên ngang tầm danh tiếng trần thế của họ, và lời lẽ của họ cũng chẳng khác bao nhiêu so với sự buồn tẻ chết người của những bài nói xuất thần thông thường, trong khi nhiều phát biểu của họ dĩ nhiên sai lạc trầm trọng.

Another fine example is the list of signatures appended to the prolegomena of The Spirits’ Book, by Allan Kardec, which is as follows: “John the Evangelist, St. Augustine, St. Vincent de Paul, St. Louis, the Spirit of Truth, Socrates, Plato, Fenelon, Franklin, Swedenborg, etc., etc.” One wonders who is covered by the mystic “etc., etc.,” and whether the other names were all that the communicating entity could think of at the moment!

Một ví dụ tiêu biểu khác là danh sách chữ ký đính kèm phần dẫn nhập của Các Linh Hồn ’ Cuốn Sách, của Allan Kardec, như sau: “John nhà Phúc Âm, Thánh Augustine, Thánh Vincent de Paul, Thánh Louis, Thần Khí của Chân Lý, Socrates, Plato, Fenelon, Franklin, Swedenborg, v.v., v.v.” Người ta tự hỏi “v.v., v.v.” huyền bí ấy bao trùm ai, và liệu những cái tên khác có phải chỉ là tất cả những gì thực thể giao tiếp có thể nghĩ ra vào lúc đó!

All such extravagant pretensions as these are so obviously ridiculous that they are easy of detection. But when the man personated is one of ordinary type, it is quite another matter; so that at a seance, unless the sitter is himself a trained clairvoyant of no mean order, he simply cannot tell what it is that he sees, however much he may flatter himself that his discernment is perfect. Let me quote once more what I wrote some years ago in The Astral Plane, p. 108.

Tất cả những sự tự phụ thái quá như thế quá hiển nhiên nực cười nên dễ bị phát hiện. Nhưng khi người bị mạo nhận chỉ là một người bình thường thì lại là chuyện khác; vì thế, trong một buổi gọi hồn, trừ khi người dự vốn là một nhà thông nhãn lão luyện, không phải hạng tầm thường, y hoàn toàn không thể biết mình đang thấy gì, cho dù y có tự tâng bốc mình rằng khả năng phân biện là hoàn hảo đến đâu. Cho phép tôi dẫn lại điều tôi đã viết một vài năm trước trong Cõi Cảm Dục, tr. 108.

A manifesting “spirit” is often exactly what it professes to be, but often also is nothing of the kind; and for the ordinary sitter there is absolutely no means of distinguishing the true from the false, since the extent to which a being having all the resources of the astral plane at his command can delude a person on the physical plane is so great that no reliance can be placed even on what seems the most convincing proof.

Một “vong linh” xuất hiện thường đúng như điều nó tự xưng, nhưng cũng thường hoàn toàn không phải thế; và đối với người dự bình thường thì tuyệt đối không có phương tiện nào để phân biệt thật với giả, vì mức độ mà một hữu thể có trong tay mọi phương tiện của cõi cảm dục có thể đánh lừa một người ở cõi hồng trần lớn đến nỗi không thể đặt chút tin cậy nào ngay cả vào điều có vẻ là bằng chứng thuyết phục nhất.

If something manifests which announces itself as a man’s long-lost brother, he can have no certainty that its claim is a just one. If it tells him of some fact known only to that brother and to himself, he remains unconvinc­ed, for he knows that it might easily have read the information from his own mind, or from his surroundings in the astral light. Even if it goes still further and tells him something connected with his brother, of which he himself is unaware, which he afterwards verifies, he still realizes that even this may have been read from the astral records, or that what he sees before him may be only the shade of his brother, and so possess his memory without in any way being himself. It is not for one moment denied that important communications have sometimes been made at seances by entities who in such cases have been precisely what they said they were; all that is claimed is that it is quite impossible for the ordinary person who visits a seance ever to be certain that he is not being cruelly deceived in one or other of a dozen different ways.

Nếu có cái gì đó hiện hình và tự xưng là người anh em thất lạc bấy lâu của một người, y không thể có sự chắc chắn rằng lời tự xưng ấy là chính đáng. Nếu nó kể cho y một sự việc chỉ người anh em ấy và y biết, y vẫn không bị thuyết phục, vì y biết rằng nó có thể dễ dàng đọc được thông tin từ tâm trí của chính y, hoặc từ hoàn cảnh chung quanh trong ánh sáng cõi cảm dục. Ngay cả nếu nó đi xa hơn nữa và nói cho y điều gì đó liên quan đến người anh em mà chính y chưa hề hay biết, và sau đó y kiểm chứng được, y vẫn nhận ra rằng ngay cả điều ấy cũng có thể đã được đọc từ các bản ghi của cõi cảm dục, hoặc rằng cái y đang thấy trước mặt có thể chỉ là bóng của người anh em mình, nên mang ký ức của người ấy mà chẳng hề là chính người ấy. Không hề phủ nhận rằng đôi khi trong các buổi gọi hồn, những thông điệp quan trọng đã được đưa ra bởi những thực thể trong những trường hợp đó đúng như điều họ nói họ là; điều duy nhất được khẳng định là hoàn toàn không thể nào để người bình thường đến với một buổi gọi hồn có thể chắc chắn rằng mình không bị lừa dối một cách tàn nhẫn theo cách này hay cách khác trong hàng tá cách khác nhau.

Once more, I know that these are possibilities only, and that in the majority of cases the dead man gives his name honestly enough; but the possibilities exist nevertheless, and often materialize themselves into actualities.

Một lần nữa, tôi biết rằng đây chỉ là những khả năng, và trong đa số trường hợp người đã khuất xưng tên mình một cách thành thật; nhưng những khả năng ấy dẫu sao vẫn hiện hữu, và thường hiện hình thành những thực tại.

Harm To The Medium—Tổn hại đối với Đồng tử

Another point is the harm which must to a greater or less extent be done to the medium—not only the extreme physical prostration which I have mentioned, leading sometimes to nervous break-down, and sometimes to excessive use of stimulants in order to avoid that break-down—but also along moral lines. Here I must protest emphatically against the ordinary type of paid seances to which anyone may come on payment of so much per head. It places the unfortunate medium in an utterly false position, and exposes him to a temptation to which no man ought ever intentionally to be exposed. Anyone who knows anything at all about these phenomena knows that they are erratic, that they are dependent upon many causes of which as yet he knows only a few, and that therefore sometimes they can be had and sometimes they cannot. This is the experience of every investigator. Miss Goodrich Freer corroborates it in the preface to her Essays in Psychical Research, p. vi:

Một điểm khác là sự tổn hại—nhiều hay ít—ắt phải giáng lên đồng tử—không chỉ là sự suy kiệt thể xác cực độ mà tôi đã đề cập, đôi khi dẫn đến suy sụp thần kinh, và đôi khi dẫn đến sử dụng quá độ các chất kích thích để tránh sự sụp đổ ấy—mà còn cả trên bình diện đạo đức. Ở đây tôi phải kịch liệt phản đối kiểu buổi gọi hồn thu tiền thông thường mà ai ai cũng có thể dự chỉ cần trả bấy nhiêu tiền mỗi đầu người. Nó đặt người đồng tử bất hạnh vào một vị thế hoàn toàn sai trái, và phơi y ra trước một cám dỗ mà không ai nên cố ý bị đặt vào. Ai biết chút gì về các hiện tượng này đều biết rằng chúng thất thường, rằng chúng tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân mà đến nay y mới biết được vài cái, và do đó đôi khi có thể có, đôi khi không thể. Đây là kinh nghiệm của mọi nhà điều tra. Cô Goodrich Freer xác nhận điều này trong lời tựa cho Luận văn về Nghiên cứu Thông linh, tr. vi:

If I know anything, I know that psychic phenomena are not to be commanded, be their origin what it may... He who ordains the services of Angels as well as of men may send His messengers—but not, I think, to produce poltergeist phenomena. The veil of the future may be lifted now and then—but not, I take it, at the bidding of a guinea fee in Bond Street. That we may momentarily transcend time and space, the temporary conditions of our mortality, I cannot doubt; but such phenomena are not to be commanded, nor of everyday occurrence, nor hastily to be assumed.

Nếu tôi biết chút gì, tôi biết rằng các hiện tượng thông linh không thể bị truyền lệnh, bất kể nguồn gốc của chúng là gì... Đấng an bài các lễ phụng sự của cả các Thiên Thần lẫn con người có thể sai các sứ giả của Ngài—nhưng, tôi nghĩ, không phải để tạo ra những hiện tượng quấy nhiễu vật thể. Bức màn của tương lai đôi lúc có thể được vén lên—nhưng, theo tôi, không phải theo lệnh của một khoản thù lao một đồng guinea ở Bond Street. Rằng chúng ta đôi lúc có thể vượt thoát thời gian và không gian—những điều kiện tạm thời của thân phận tử sinh—tôi không nghi ngờ; nhưng những hiện tượng như thế không thể bị truyền lệnh, không xảy ra hằng ngày, và không nên vội vàng giả định.

Now if the medium is in the position of having been paid beforehand for their production, and then he finds that they will not come, what is he to do to satisfy all these people who are sitting round him expecting their money’s worth? It is so easy to deceive them; they lend themselves to it so readily; nay, it is often quite sufficient just to allow them to deceive themselves. It is not fair to put any man in such a position as that; and if the medium some­times falls into cheating, it is surely not he alone who is to blame.

Bây giờ, nếu đồng tử ở trong vị thế đã được trả tiền trước để tạo ra các hiện tượng, và rồi y thấy chúng không đến, y phải làm gì để làm vừa lòng tất cả những người đang ngồi quanh, mong “đáng đồng tiền bát gạo”? Thật quá dễ để lừa họ; họ lại dễ dàng để cho mình bị lừa; hơn nữa, nhiều khi chỉ cần để mặc họ tự lừa mình là đủ. Không công bằng khi đặt bất kỳ ai vào vị thế như thế; và nếu đôi khi đồng tử sa vào gian dối, chắc chắn không chỉ mình y là người đáng trách.

Harm To The Dead—Tổn hại đối với Người chết

Then there is the whole question of possible harm to the dead. I have already admitted that the dead man sometimes wishes to communicate in order to unburden his mind in some way, and when this is the case it is well that he should have the opportun­ity of doing it. But these cases are comparatively rare. If the dead want us they will seek to reach us; but we should invariably let the movement come from their side—we should never seek to draw them back. It may be said, perhaps: “But is it not a natural desire on the part of a mother to see her dead child again?” Surely it would be more natural for the mother to be entirely unselfish, and to think first of what was best for the child, before she considered her personal longings. In many cases communication with the physical plane may do a man but little harm during the earliest stages of his astral life; but it must always be remembered that in every case it intensifies and prolongs his attachment to the lower levels of the plane—that it sets up in him a habit of remaining closely in touch with the earth-life.

Rồi có cả vấn đề tổn hại có thể xảy ra cho người chết. Tôi đã thừa nhận rằng đôi khi người đã khuất muốn giao tiếp để trút bỏ nỗi lòng theo một cách nào đó, và khi điều này xảy ra thì tốt là y có cơ hội làm điều ấy. Nhưng những trường hợp như vậy tương đối hiếm. Nếu người chết cần chúng ta họ sẽ tìm cách vươn tới chúng ta; nhưng chúng ta phải luôn để cho sự chuyển động đến từ phía họ—chúng ta không bao giờ nên tìm cách kéo họ quay lại. Có thể có người nói: “Nhưng chẳng phải mong muốn tự nhiên của một người mẹ là được gặp lại đứa con đã chết của mình sao?” Hẳn nhiên tự nhiên hơn là người mẹ hoàn toàn vô kỷ, nghĩ trước hết đến điều tốt nhất cho đứa con, rồi mới xét đến khát vọng riêng của mình. Trong nhiều trường hợp, giao tiếp với cõi hồng trần có thể không gây nhiều hại cho một người trong giai đoạn sớm của đời sống cảm dục; nhưng phải luôn nhớ rằng trong mọi trường hợp, nó làm tăng và kéo dài sự vướng mắc của y với các tầng thấp của cõi—nó tạo nên nơi y một thói quen ở sát liền với đời sống trần gian.

The Place And Work Op Spiritualism—Vị trí và công việc của Thần linh học

Yet, with all this, spiritualism has assuredly its place and its work, and it has been of incalculable value to many thousands of men and women. The Catholic Church and the Salvation Army are both sections of Christianity, yet they appeal to widely different types of people, and those who are attracted by one would have been little likely to come to the other. So each has its place and its work to do for the broad idea of Christianity. In the same way it seems to me that Theosophy and spiritualism have each their clientele. Those who study the philosophy which we set before them would never have been satisfied with the trance-speaking and the constantly repeated phenomena of the spiritualistic seance; those who desire such phenomena, and those who yearn after what good old Dr. Dee used to call “sermon-stuffe” would never have been happy with us, while they find exactly what they want in spiritualism. For among spiritualists, as among any other body of men, there are several types. There are those who are chiefly interested in the trance-speaking, who make this their religion and take their trance-address followed by a clairvoyant reading of surroundings every Sunday evening, just as mortals who are otherwise disposed go to church or to a Theosophical lecture. Then there is the type whose interest is purely personal—whose one and only idea in connection with the whole affair is the gratification of their private and particular wish to see their own dead relations. There is another type who honestly and unselfishly set themselves to the task of trying to help and develop the degraded, the unevolved and the ignorant among the dead; and there is no doubt that they really achieve a great deal of good with that unpromising class of people. Others there are who are really anxious to learn and understand scientifically the facts of the higher life; and these people, while intensely delighted and interested for a time, usually find presently that beyond a certain point they can get no further; and then perhaps we can do something for them in Theosophy.

Tuy vậy, với tất cả những điều ấy, Thần linh học hẳn nhiên có vị trí và công việc của nó, và nó đã mang giá trị không thể tính kể cho hàng vạn người nam và nữ. Giáo hội Công giáo và Đội Cứu Thế đều là các bộ phận của Kitô giáo, nhưng họ thu hút những kiểu người rất khác nhau, và những ai bị thu hút bởi nơi này thì ít có khả năng đến với nơi kia. Vậy nên, mỗi bên có vị trí và công việc dành cho ý niệm rộng lớn về Kitô giáo. Tương tự, theo tôi, Thông Thiên Học và Thần linh học mỗi bên có một nhóm đối tượng riêng. Những người học triết lý mà chúng ta trình bày sẽ không bao giờ thấy thỏa mãn với những bài nói xuất thần và những hiện tượng lặp đi lặp lại trong các buổi gọi hồn; những ai mong những hiện tượng như thế, và những ai khao khát cái mà ông bác sĩ Dee ngày xưa thường gọi là “tư liệu giảng đạo” sẽ không bao giờ thấy hạnh phúc với chúng ta, trong khi họ lại tìm thấy đúng điều họ muốn nơi Thần linh học. Vì giữa những người theo Thần linh học, cũng như trong bất kỳ cộng đồng người nào khác, có nhiều kiểu người. Có những người chủ yếu quan tâm đến nói xuất thần, biến nó thành “tôn giáo” của họ và nghe một bài nói xuất thần kèm theo một phần đọc thông nhãn về hoàn cảnh chung mỗi tối Chủ nhật, cũng như những phàm nhân có khuynh hướng khác thì đi nhà thờ hay dự một buổi thuyết giảng Thông Thiên Học. Rồi có kiểu người chỉ có mối quan tâm thuần cá nhân—ý niệm duy nhất gắn với toàn bộ việc này là thỏa mãn ước muốn riêng của họ được trông thấy người thân đã khuất của chính mình. Lại có kiểu người chân thành và vô kỷ tự đặt mình vào nhiệm vụ cố gắng giúp đỡ và phát triển những người chết đọa lạc, chưa tiến hóa và vô minh; và chẳng nghi ngờ gì họ thực sự đạt được rất nhiều điều thiện lành với lớp người không mấy hứa hẹn ấy. Lại có những người thực sự nóng lòng muốn học hỏi và thấu hiểu một cách khoa học các sự kiện của đời sống cao hơn; và những người này, dù hết sức hoan hỉ và hứng thú một thời gian, thường sớm nhận ra rằng vượt quá một điểm nào đó họ không thể tiến thêm; và rồi có lẽ chúng ta có thể làm được điều gì đó cho họ trong Thông Thiên Học.

A question which is constantly asked is: “Why do not these dead men who return to us with the knowledge of a higher plane teach us the doctrine of reincarnation?” The answer is perfectly simple; first of all, some of them do teach it. All spiritists of the French school of Allan Kardec hold this doctrine during life, and consequently when they return after death they have still the same story to tell. Those who return in England or America usually say nothing about it, because they have no means of knowing anything more about it now than they knew when they were upon earth. As we explained in an earlier chapter, it is the soul himself in his causal body who passes from life to life, and he has no more knowledge or memory of that wider existence on the astral plane than he had on the physical. So he repeats only what he has known on earth, unless he is so fortunate as to meet with someone who is able to teach him something of this grand truth—an Oriental for example, or a Theosophist.

Một câu hỏi thường được nêu ra là: “Tại sao những người chết trở về với chúng ta, có tri thức về một cõi giới cao hơn, lại không dạy chúng ta giáo lý tái sinh?” Câu trả lời hoàn toàn đơn giản; trước hết, có một số người thật sự dạy điều ấy. Tất cả những người theo Thần linh học thuộc trường phái Pháp của Allan Kardec đều giữ giáo lý này khi còn sống, và do đó khi trở về sau khi chết họ vẫn kể cùng một câu chuyện. Những người trở về ở Anh hay Mỹ thường không nói gì về nó, vì họ không có phương tiện để biết gì về nó bây giờ hơn những gì họ biết khi còn ở thế gian. Như chúng tôi đã giải thích trong một chương trước, chính linh hồn trong thể nguyên nhân mới đi từ đời này sang đời khác, và y không có tri thức hay ký ức nào nhiều hơn về đời sống rộng lớn ấy trên cõi cảm dục so với khi ở cõi hồng trần. Vậy nên y chỉ lặp lại điều y đã biết trên trần, trừ khi may mắn gặp ai đó có thể dạy y phần nào về chân lý vĩ đại này—chẳng hạn một người phương Đông, hoặc một người Thông Thiên Học.

Still, even in spiritualism evidence of reincarna­tion occasionally appears, as, for example, in Claude’s Book, by L. Kelway-Bamber, first published in 1918, wherein the young British officer, communicating from the astral plane, devotes a chapter to a de­scription of the subject; and naturally it is usually of that rapid type of reincarnation of which Monsieur Gabrielle Delanne collected so many examples in the address which he delivered some years ago before one of the spiritualistic societies. Here, for example, is a curious case, extracted from the pages of The Progressive Thinker of December 13th, 1902. It appears in the form of a letter to the editor, signed with the initials S.O., and dated somewhat vaguely from New Mexico.

Dầu vậy, ngay trong Thần linh học, đôi khi bằng chứng về tái sinh vẫn xuất hiện, như chẳng hạn trong Claude ’ Cuốn Sách, của L. Kelway-Bamber, xuất bản lần đầu năm 1918, trong đó chàng sĩ quan trẻ người Anh, giao tiếp từ cõi cảm dục, dành một chương để mô tả đề tài này; và tự nhiên thường là kiểu tái sinh mau chóng mà Ông Gabrielle Delanne đã sưu tập rất nhiều ví dụ trong một bài diễn thuyết ông đọc mấy năm trước trước một hội Thần linh học. Ở đây, chẳng hạn, là một trường hợp lạ, rút từ các trang của Nhà Tư tưởng Tiến bộ ngày 13 tháng 12, 1902. Nó xuất hiện dưới dạng một bức thư gửi tòa soạn, ký tắt S.O., và đề ngày khá mơ hồ từ New Mexico.

A Story Of Reincarnation—Một câu chuyện về Tái sinh

I offer my personal experience as an absolute fact—not as supporting any theory. At the time I passed through the experience (28 years ago), I knew absolutely nothing of mediumship in any phase and probably had never heard the word reincarnation. I was then sixteen years of age and had been married one year.

Tôi xin dâng kinh nghiệm cá nhân của mình như một sự kiện tuyệt đối—không nhằm hỗ trợ bất kỳ học thuyết nào. Vào thời điểm tôi trải qua kinh nghiệm ấy (cách đây 28 năm), tôi hoàn toàn không biết gì về đồng tử ở bất kỳ phương diện nào và có lẽ chưa bao giờ nghe từ “tái sinh”. Lúc đó tôi mười sáu tuổi và đã kết hôn được một năm.

The knowledge that I was to become a mother had just dawned upon me, when in a vague way I became conscious of the almost constant presence of an invisible personality. I seemed to know intuitively that my invisible companion was a woman, and quite a number of years older than myself. By degrees this presence grew stronger. In the third month after she first made her presence felt, I could receive impressionally long messages from her. She manifested the most solicitous care for my health and general welfare, and as time wore on her voice became audible to me, and I enjoyed many hours of conversation with her. She gave her name and nationality, with many details of her personal history. She seemed anxious that I should know and love her for herself, as she expressed it. She made continual efforts to become visible to me, and towards the last succeeded. She was then as true a companion to me as if she had been clothed in an embodi­ment of flesh. I had merely to draw my curtains, shroud­ing the room in quiet tones, to have the presence manifest, both to sight and hearing.

Tri thức rằng mình sắp làm mẹ vừa lóe lên trong tôi, thì một cách mơ hồ tôi trở nên ý thức về sự hiện diện hầu như thường trực của một cá tính vô hình. Tôi dường như biết theo trực giác rằng bạn đồng hành vô hình của tôi là một phụ nữ, và lớn hơn tôi khá nhiều tuổi. Dần dần, sự hiện diện này mạnh lên. Vào tháng thứ ba kể từ khi bà lần đầu cho tôi cảm biết sự hiện diện, tôi có thể nhận các thông điệp dài dưới dạng ấn tượng từ bà. Bà bộc lộ sự chăm sóc ân cần nhất đối với sức khỏe và phúc lợi chung của tôi, và theo thời gian, tiếng nói của bà trở nên nghe được với tôi, và tôi có nhiều giờ trò chuyện với bà. Bà cho biết tên và quốc tịch của mình, kèm nhiều chi tiết về tiểu sử cá nhân. Bà có vẻ nóng lòng muốn tôi biết và yêu bà vì chính bà, như bà nói. Bà nỗ lực liên tục để hiện thân trước mắt tôi, và về sau đã thành công. Khi ấy bà là một người bạn đích thực với tôi như thể bà được khoác trong một thân xác bằng thịt. Tôi chỉ cần kéo rèm, phủ bóng căn phòng bằng những tông màu tĩnh lặng, thì sự hiện diện ấy liền biểu hiện, cả cho thị giác lẫn thính giác.

Two or three weeks before the birth of my baby she informed me that the real purport of her presence was her intention to enter the new form at its birth, in order to complete an earth-experience that had come to an untimely end. I confess I had but a dim conception of her meaning, and was considerably troubled over the matter.

Hai, ba tuần trước khi đứa con của tôi chào đời, bà cho tôi biết rằng ý nghĩa thực sự của sự hiện diện của bà là bà có ý định nhập vào hình hài mới lúc nó sinh ra, để hoàn tất một trải nghiệm trần thế vốn đã bị chấm dứt yểu. Tôi thú thật tôi chỉ mơ hồ hiểu ý bà, và khá bối rối về việc ấy.

On the night before my daughter’s birth, I saw my companion for the last time. She came to me and said: “Our time is at hand; be brave and all will be well with us.”

Đêm trước ngày con gái tôi sinh, tôi thấy người bạn đồng hành lần cuối. Bà đến và nói: “Thời khắc của chúng ta đã đến; hãy can đảm và mọi sự sẽ tốt đẹp cho chúng ta.”

My daughter came, and in appearance was a perfect miniature of my spirit friend, and totally unlike either family to which she belonged, and the first remark of everyone on seeing her would be: “Why, she does not look like a baby at all. She looks at least twenty years old.”

Con gái tôi chào đời, và diện mạo là một phiên bản thu nhỏ hoàn hảo của người bạn linh giới của tôi, hoàn toàn không giống bất kỳ bên họ hàng nào của cháu, và lời nhận xét đầu tiên của mọi người khi nhìn cháu là: “Sao, trông nó chẳng giống em bé chút nào. Nó trông ít nhất cũng hai mươi tuổi.”

I was greatly surprised some years later when I chanced to find in an old work the story of the woman, whose name and history my spirit-friend claimed as her own in her earth-life, and the fragments of her story, as she had given them to me, were in accord with history, except some personal details not likely to have been known to anyone else. All this experience I kept to myself as a profound secret, for, young as I was, I realized what judgement the world would place upon the narrator of such a story.

Vài năm sau tôi vô cùng ngạc nhiên khi tình cờ tìm thấy trong một tác phẩm cũ câu chuyện về người phụ nữ mà người bạn linh giới đã nhận tên và lịch sử của bà ấy là của chính mình trong đời sống trần; và những mảnh chuyện mà bà đã kể cho tôi hài hòa với sử liệu, trừ vài chi tiết cá nhân khó có ai khác biết. Tất cả trải nghiệm này tôi giữ kín như một bí mật sâu xa, vì, dù còn trẻ, tôi hiểu thế gian sẽ phán xét thế nào về người kể một câu chuyện như vậy.

Once when my daughter was in her fifteenth year, the first name of my spirit-friend happened to be mentioned in her presence. She turned to me quickly with a look of surprise on her face and said: “Mamma, didn’t my papa call me by this name?” (Her father died when she was one year old.) I said: “No, dear, you were never called this name.” She replied: “Well, I surely remember it, and somebody somewhere called me by it.”

Một lần, khi con gái tôi mười lăm tuổi, cái tên đầu tiên của người bạn linh giới tình cờ được nhắc đến trước mặt cháu. Cháu quay sang tôi nhanh chóng với vẻ ngạc nhiên trên khuôn mặt và nói: “Mẹ ơi, trước đây ba có gọi con bằng tên này không?” (Cha cháu mất khi cháu được một tuổi.) Tôi nói: “Không, con yêu, con chưa bao giờ được gọi bằng cái tên này.” Cháu đáp: “Vâng, nhưng con nhất định nhớ nó, và ở đâu đó có ai đã gọi con bằng tên ấy.”

In conclusion I will add that in character my daughter is very much like the historic character of the woman whose spirit said she would inhabit the new form.

Kết luận, tôi xin nói thêm rằng về tính cách, con gái tôi rất giống với tính cách lịch sử của người phụ nữ mà linh hồn của bà ấy nói sẽ cư ngụ vào hình hài mới.

These are my facts. I offer no explanation; if they chance to fit anybody’s theory, so much the better for the theory. Theories usually need some facts to prop them up; facts are independent and able to stand on their own feet.

Đó là những sự kiện của tôi. Tôi không đưa ra lời giải thích; nếu tình cờ chúng phù hợp với học thuyết của ai, thì càng tốt cho học thuyết ấy. Các học thuyết thường cần vài sự kiện để chống đỡ; còn sự kiện thì độc lập và có thể tự đứng vững trên đôi chân của mình.

Madame d’Espérance, who seems to be in so many respects in advance of the majority of mediums, appears to have been taught not only reincarnation but much other Theosophical doctrine by one of her dead friends, as is set forth in her book Shadowland. Perhaps the most striking incident in that very interesting work is the occasion on which the author leaves her body and is shown a remarkable symbolical vision of her life; for in that one experience her eyes are opened to the doctrine of cause arid effect, of evolution and reincarnation, and to the absolute realization of the fundamental unity of all, however dimly and imperfectly it may be expressed. For the law of cause and effect is involved in the statement made by the spirit-friend as to the path of life: “It is the road you have made; you have no other”. Evolution is taught when she is shown “that it is the same life which, circling for ever and ever through form after form, dwelling in the rocks, the sand, the sea, in each blade of grass, each tree, each flower, in all forms of animal existence, culminates in man’s intelligence and perception.”

Bà d’Espérance, người dường như về nhiều phương diện vượt trước đa số đồng tử, hình như đã được một người bạn đã khuất dạy không chỉ tái sinh mà cả nhiều giáo lý Thông Thiên Học khác, như được trình bày trong cuốn Xứ Bóng của bà. Có lẽ sự kiện ấn tượng nhất trong tác phẩm rất thú vị ấy là dịp tác giả lìa xác và được cho thấy một thị kiến biểu tượng kỳ lạ về đời mình; vì trong trải nghiệm ấy, mắt bà mở ra trước giáo lý về nhân và quả, về tiến hóa và tái sinh, và đạt đến sự thể nghiệm tuyệt đối về nhất thể căn bản của vạn hữu, dù nó chỉ được diễn đạt mơ hồ và bất toàn. Bởi luật nhân quả đã được bao hàm trong lời phát biểu của người bạn linh giới về con đường của đời sống: “Đó là con đường con đã tạo; con không có con đường nào khác.” Tiến hóa được dạy khi bà được cho thấy “rằng đó là cùng một sự sống, vòng quanh mãi mãi qua hết hình thể này đến hình thể khác, cư ngụ trong đá, cát, biển, trong mỗi cọng cỏ, mỗi cây, mỗi bông hoa, trong mọi hình thái tồn tại của loài vật, và đạt tột đỉnh trong trí tuệ và tri nhận của con người.”

As to reincarnation she remarks:

Về tái sinh, bà nhận xét:

I could see that the fact of the spirit first taking on itself the form of man did not bring it to its utmost earthly perfection, for there are many degrees of man. In the savage it widens its experience and finds a new field for education, which being exhausted, another step is taken; and so step by step, in an ever onward, progressive, expansive direction the spirit develops, the decay of the forms which the spirit employs being only the evidence that they have fulfilled their mission, and served the purpose for which they were used. They return to their original elements, to be used again and again as a means whereby the spirit can manifest itself, and obtain the development it requires. (p 376).

Tôi có thể thấy rằng việc linh hồn trước hết khoác lấy hình thể con người không khiến nó đạt ngay đến mức hoàn thiện trần thế tột cùng, vì có nhiều bậc độ của con người. Trong người dã man, nó mở rộng kinh nghiệm và tìm một lĩnh vực giáo dục mới, và khi lĩnh vực ấy cạn kiệt, một bước nữa được tiến; cứ thế, từng bước một, trong một hướng đi mãi mãi tiến bước, thăng triển, mở rộng, linh hồn phát triển; sự hư hoại của những hình thể mà linh hồn sử dụng chỉ là bằng chứng rằng chúng đã hoàn tất sứ mệnh, và phục vụ xong mục đích vì đó chúng được dùng. Chúng trở về các nguyên tố ban đầu, để được dùng đi dùng lại như một phương tiện nhờ đó linh hồn có thể tự biểu lộ, và đạt lấy sự phát triển nó cần. (tr. 376).

M. L. Chevreuil’s book Proofs of the Spirit World contains a chapter entitled “Previous Lives”, in which he vigorously supports the truth of reincar­nation. He says:

Cuốn Những Bằng Chứng về Thế Giới Linh của M. L. Chevreuil có một chương nhan đề “Những đời trước”, trong đó ông mạnh mẽ bênh vực chân lý tái sinh. Ông viết:

The soul is an entity distinct from the body; it accompanies the essential part of the human being in the course of the numerous incarnations necessary to our evolution. From the time of Plato the majority of men have lived in the knowledge of this truth, and tomorrow they will dwell in scientific certainty that this ancient philosophy has not deceived them. (p. 56.)

Linh hồn là một thực thể khác biệt với thân xác; nó đồng hành với phần tinh túy của con người trong suốt những lần nhập thể nhiều lần cần thiết cho sự tiến hóa của chúng ta. Từ thời Plato, đa số người đã sống trong tri thức về chân lý này, và ngày mai họ sẽ sống trong sự chắc chắn về khoa học rằng triết học cổ xưa ấy đã không lừa dối họ. (tr. 56.)

He describes at considerable length some of the labours of M. de Rochas upon the regression of memory. M. Chevreuil explains that every subject describes in the same manner his or her going back to the past:

Ông mô tả khá dài về một số công trình của M. de Rochas về quy hồi ký ức. Ông Chevreuil giải thích rằng mọi đối tượng đều mô tả giống nhau cách họ/quay trở về quá khứ:

They are transported back to six months of age, two months, into the body of the mother, where they take the position of the foetus; the regression is continued and they are in space. A brief lethargy, and we are present at a new scene, the death of an old person. It is the beginning of the life which preceded the present incarnation, mani­festing itself backwards, and continuing back to a still older incarnation. (p. 59.)

Họ được đưa về lúc sáu tháng tuổi, hai tháng tuổi, vào trong thân thể của người mẹ, nơi họ giữ vị trí của bào thai; sự quy hồi tiếp tục và họ ở trong không gian. Một thoáng hôn trầm, và chúng ta chứng kiến một cảnh mới: cái chết của một người già. Đó là khởi đầu của đời sống có trước lần nhập thể hiện tại, biểu lộ theo chiều ngược, và tiếp tục ngược về một lần nhập thể còn xa xưa hơn nữa. (tr. 59.)

Considering the mode of the “spirit’s” coming to birth, M. Chevreuil says that the vision described is always the same, that before birth the subject sees himself in space in the form of a ball or as a slightly luminous mist, and sees in the mother’s womb the body in which he is to be incarnated; all agree, he adds, that the spiritual body enters little by little, and that the complete incorporation occurs at about seven years of age.

Xét về cách “linh hồn” đi đến chào đời, ông Chevreuil nói rằng thị kiến được mô tả luôn giống nhau: trước khi sinh, đối tượng thấy mình trong không gian dưới dạng một quả cầu hoặc một làn sương hơi phát sáng, và nhìn thấy trong dạ mẹ thân thể trong đó y sẽ nhập thể; tất cả đều đồng ý, ông thêm, rằng thể tinh thần đi vào từ từ, và sự nhập toàn phần diễn ra vào khoảng bảy tuổi.

Reincarnations In India And Japan—Những lần tái sinh ở Ấn Độ và Nhật Bản

Rao Bahadur Shyam Sundar Lal, C. I. E., a distinguished Minister of the Gwalior and Alwar States, has devoted many years to the study of reincarnation. Among the evidence collected by him is a case which was recounted as follows in The New York Times, September 16th, 1923:

Rao Bahadur Shyam Sundar Lal, C.I.E., một vị đại thần ưu tú của các bang Gwalior và Alwar, đã dành nhiều năm để nghiên cứu tái sinh. Trong số bằng chứng do ông thu thập có một trường hợp được thuật lại như sau trên The New York Times, ngày 16 tháng 9, 1923:

Within the Maharajah of Bharatpur’s extensive territory was found a boy of four years, Prabhu by name, the son of a Brahman called Khairti, who with childish prattle and laughter told with the greatest detail of his supposed former existence. He gave his former name, the year of his other birth, his personal appearance on his earlier visit to this earth, and recounted events, such as famines, which had happened more than fifty years before his last birth. He told of his former wife, his daughters and his sons, giving their names and the money he received on their marriages, and described his former home and neighbours.

Trong lãnh thổ rộng lớn của Quốc vương Bharatpur, người ta tìm thấy một bé trai bốn tuổi, tên là Prabhu, con của một vị Bà la môn tên Khairti, với lời bi bô và tiếng cười trẻ thơ, kể lại với chi tiết tường tận về sự tồn tại trước kia của mình. Em cho biết tên trước kia, năm sinh trong lần đến trần gian trước, ngoại hình của em trong lần trước ấy, và kể lại những biến cố, như nạn đói, đã xảy ra hơn năm mươi năm trước lần sinh vừa rồi. Em kể về vợ trước, các con gái và con trai, nêu tên họ và số tiền em nhận được trong các cuộc hôn nhân của họ, và mô tả ngôi nhà trước kia và những người láng giềng của em.

The child, the savants vouch, had not been tutored and had no means outside of himself to learn of these details, or to know anything of the transmigration of souls. The neighbourhoods he described were visited by the savants, with the child, and in nearly every detail his statements were found to be correct, even to the names of his supposed former children and wife. He had some difficulty in locating his supposed former home, but this, it was claimed, may be accounted for by the fact that it is now a mass of ruins and much different from what it had been.

Các học giả bảo đảm rằng đứa trẻ không hề được dạy dỗ và không có phương tiện nào ngoài bản thân để biết được những chi tiết này, hay biết bất kỳ điều gì về sự luân hồi của các linh hồn. Các khu vực mà em mô tả đã được các học giả, cùng với em, đến thăm, và hầu như mọi chi tiết đều đúng, kể cả tên của những đứa con và người vợ trước kia của em. Em gặp đôi chút khó khăn khi xác định vị trí ngôi nhà trước kia, nhưng điều này, theo họ, có thể giải thích được bởi thực tế là nay nó chỉ còn là một đống đổ nát và rất khác so với xưa.

A somewhat similar account, but coming this time from Japan, appears in Lafcadio Hearn’s Gleanings in Buddha Fields, Chapter X, and is entitled “The Rebirth of Katsugoro”. Mr. Hearn cites it as a good illustration of the common ideas of the people of Japan concerning pre-existence and rebirth. He takes it from a series of documents, very much signed and sealed by various officials, Priests and Daimyos. The full story is translated as follows.

Một tường thuật khá tương tự, nhưng lần này đến từ Nhật Bản, xuất hiện trong Nhặt Nhạnh trong Cánh đồng của Đức Phật của Lafcadio Hearn, Chương X, nhan đề “Sự Tái sinh của Katsugoro”. Ông Hearn dẫn nó như một minh họa hay về những quan niệm phổ biến của dân Nhật liên quan đến tiền sinh và tái sinh. Ông lấy nó từ một loạt tài liệu, có rất nhiều chữ ký và ấn triện của các quan chức, các Tăng và các Daimyo. Toàn bộ câu chuyện được dịch như sau.

Some time in the eleventh month of the past year, when Katsugoro was playing in the rice-field with his elder sister, Fusa, he asked her, —

Vào khoảng tháng mười một của năm vừa qua, khi Katsugoro đang chơi ở ruộng lúa cùng chị gái là Fusa, em hỏi chị, —

“Elder Sister, where did you come from before you were born into our household?”

“Chị Cả, trước khi chị sinh vào nhà mình thì chị từ đâu đến?”

Fusa answered him: —

Fusa trả lời em: —

“How can I know what happened to me before I was born?”

“Làm sao chị biết được chuyện gì đã xảy ra với chị trước khi chị sinh ra?”

Katsugoro looked surprised and exclaimed:

Katsugoro có vẻ ngạc nhiên và thốt lên:

“Then you cannot remember anything that happened before you were born?”

“Thế thì chị chẳng nhớ gì đã xảy ra trước khi chị sinh sao?”

“Do you remember?” asked Fusa.

“Vậy chị có nhớ không?” Fusa hỏi.

“Indeed I do,” replied Katsugoro. “I used to be the son of Kyubei San of Hodokubo, and my name was then Tozo—do you not know all that?”

“Dĩ nhiên là có,” Katsugoro đáp. “Em từng là con trai của Kyubei San ở Hodokubo, và lúc đó tên em là Tozo—chị không biết tất cả chuyện ấy sao?”

“Ah!” said Fusa, “I shall tell father and mother about it.”

“À!” Fusa nói, “Chị sẽ kể cho ba mẹ biết chuyện này.”

But Katsugoro at once began to cry, and said:

Nhưng lập tức Katsugoro bật khóc và nói:

“Please do not tell!—it would not be good to tell father and mother.”

“Xin đừng nói!—nói với ba mẹ thì không hay đâu.”

Fusa made answer, after a little while:—

Sau một lát, Fusa đáp:—

“Well, this time I shall not tell. But the next time that you do anything naughty, then I will tell.”

“Thôi được, lần này chị sẽ không nói. Nhưng lần tới em làm điều gì hư, thì chị sẽ nói.”

After that day whenever a dispute arose between the two, the sister would threaten the brother, saying: “Very well, then—I shall tell that thing to father and mother.” At these words the boy would always yield to his sister. This happened many times; and the parents one day over­heard Fusa making her threat. Thinking Katsugoro must have been doing something wrong, they desired to know what the matter was, and Fusa, being questioned, told them the truth. Then Genzo and his wife, and Tsuya, the grandmother of Katsugoro, thought it a very strange thing. They called Katsugoro, therefore; and tried, first by coaxing, and then by threatening, to make him tell what he had meant by those words.

Sau ngày ấy, mỗi khi nảy sinh tranh chấp giữa hai chị em, cô chị lại dọa cậu em rằng: “Được rồi nhé—chị sẽ kể chuyện đó cho ba mẹ.” Nghe vậy, cậu bé luôn nhường chị. Chuyện đó xảy ra nhiều lần; và một ngày kia cha mẹ tình cờ nghe Fusa buông lời dọa. Nghĩ rằng hẳn Katsugoro đã làm điều gì sai, họ muốn biết chuyện là gì, và Fusa, khi bị hỏi, đã kể thật. Rồi Genzo và vợ ông, cùng bà Tsuya, bà nội của Katsugoro, thấy chuyện thật là lạ lùng. Họ liền gọi Katsugoro; ban đầu dỗ dành, rồi dọa nạt, để buộc em nói rõ ý của những lời em đã nói.

After hesitation, Katsugoro said:—”I will tell you everything. I used to be the son of Kyubei San of Hodokubo, and the name of my mother then was O-Shidzu San. When I was five years old, Kyubei San died; and there came in his place a man called Hanshiro San, who loved me very much. But in the following year, when I was six years old, I died of smallpox. In the third year after that I entered mother’s honorable womb, and was born again.”

Sau khi chần chừ, Katsugoro bảo:—“Con sẽ kể hết. Con từng là con trai của Kyubei San ở Hodokubo, và tên mẹ con khi ấy là O-Shidzu San. Khi con năm tuổi, Kyubei San qua đời; và có một người đàn ông tên là Hanshiro San đến thế chỗ, người rất thương con. Nhưng năm kế tiếp, khi con sáu tuổi, con chết vì đậu mùa. Sau đó ba năm, con vào lại dạ mẹ tôn kính, và sinh ra lần nữa.”

The parents and the grandmother of the boy wondered greatly at hearing this, and they decided to make all possible inquiry as to the man called Hanshiro of Hodokubo. But as they all had to work very hard every day to earn a living, and so could spare but little time for any other matter, they could not at once carry out their intention.

Cha mẹ và bà nội cậu bé vô cùng kinh ngạc khi nghe vậy, và họ quyết định tìm hiểu tất cả những gì có thể về người tên Hanshiro ở Hodokubo. Nhưng vì ai cũng phải làm việc rất vất vả mỗi ngày để kiếm sống, nên khó có thể thu xếp thời gian ngay cho việc khác, thành thử họ chưa thể thực hiện ý định tức thì.

Now, Sei, the mother of Katsugoro, had nightly to suckle her little daughter Tsune, who was four years old;—and Katsugoro therefore slept with his grandmother, Tsuya. Sometimes he used to talk to her in bed; and one night when he was in a very confiding mood, she persuaded him to tell her what happened at the time when he had died. Then he said:—”Until I was four years old I used to remember everything; but since then I have become more and more forgetful; and now I forget many, many things. But I still remember that I died of smallpox; I remember that I was put into a jar; I remember that I was buried on a hill. There was a hole made in the ground; and the people let the jar drop into that hole. It fell pon! I remember that sound well. Then somehow I returned to the house, and I stopped on my own pillow there. In a short time some old man—looking like a grandfather—came and took me away. I do not know who or what he was. As I walked I went through empty air as if flying. I remember it was neither night nor day as we went; it was always like sunset-time. I did not feel either warm or cold or hungry. We went very far, I think; but still I could hear always, faintly, the voices of people talking at home; and the sound of the Nembutsu being said for me. I remember also that when the people at home set offerings of hot rice-cake before the household shrine, I inhaled the vapour of the offerings. Grandmother, never forgot to offer warm food to the honorable dead (Hotoke Same), and do not forget to give to priests—I am sure it is very good to do these things... After that, I only remember that the old man led me by some roundabout way to this place—I remember we passed the road beyond the village. Then we came here, and he pointed to this house, and said to me: ‘Now you must be reborn, for it is three years since you died. You are to be reborn in that house. The person who will become your grandmother is very kind; so it will be well for you to be conceived and born there.’ After saying this, the old man went away. I remained a little time under the kaki-tree before the entrance of this house. Then I was going to enter when I heard talking inside: some one said that because father was now earning so little, mother would have to go to service in Yedo. I thought, “I will not go into that house”; and I stopped three days in the garden. On the third day it was decided that, after all, mother would not have to go to Yedo. The same night I passed into the house through a knot-hole in the sliding-shutters;—and after that I stayed for three days beside the kitchen range. Then I entered mother’s honorable womb... I remember that I was born with­out any pain at all. —Grandmother, you may tell this to father and mother, but please never tell it to anybody else.”

Lúc bấy giờ, Sei, mẹ của Katsugoro, đêm đêm phải cho cô con gái nhỏ Tsune, bốn tuổi, bú;—vì vậy Katsugoro ngủ với bà nội, Tsuya. Đôi khi em trò chuyện với bà trên giường; và một đêm, khi em rất tin cậy, bà dụ em kể chuyện đã xảy ra lúc em chết. Bấy giờ em nói:—“Cho đến bốn tuổi, con còn nhớ hết mọi điều; nhưng từ đó con càng lúc càng quên; và giờ con quên nhiều, nhiều thứ. Nhưng con vẫn nhớ con chết vì đậu mùa; con nhớ con bị bỏ vào một cái chum; con nhớ con được chôn trên một ngọn đồi. Người ta đào một lỗ trên đất; và họ thả cái chum xuống lỗ ấy. Nó rơi pon! Con nhớ rất rõ âm thanh ấy. Rồi bằng cách nào đó con trở về nhà, và con dừng lại bên chiếc gối của chính mình nơi đó. Chẳng bao lâu có một ông già—trông như một người ông—đến và dẫn con đi. Con không biết ông là ai hay là gì. Khi con bước đi, con đi qua khoảng không như thể đang bay. Con nhớ là khi chúng con đi, chẳng phải ngày cũng chẳng phải đêm; lúc nào cũng như giờ hoàng hôn. Con không cảm thấy ấm hay lạnh, cũng không đói. Chúng con đi rất xa, con nghĩ vậy; nhưng con vẫn luôn nghe thoang thoảng tiếng người nhà nói chuyện; và tiếng niệm Nembutsu cho con. Con cũng nhớ rằng khi người nhà bày cúng bánh nóng trước bàn thờ gia đình, con hít hương hơi của đồ cúng. Bà ơi, đừng bao giờ quên dâng thức ăn nóng cho các vong linh tôn kính (Hotoke-sama), và đừng quên cúng dường cho các sư—con chắc đó là những việc rất nên làm... Sau đó, con chỉ nhớ rằng ông già dẫn con bằng con đường vòng vèo nào đó đến chốn này—con nhớ chúng con đi qua con đường ở ngoài làng. Rồi chúng con đến đây, và ông chỉ vào ngôi nhà này, nói với con: ‘Bây giờ con phải tái sinh, vì đã ba năm kể từ khi con chết. Con sẽ tái sinh trong ngôi nhà ấy. Người sẽ trở thành bà của con là người rất tử tế; vậy sẽ tốt cho con nếu được hoài thai và sinh ra ở đó.’ Nói xong, ông già rời đi. Con ở lại một lát dưới cây hồng trước cổng nhà này. Rồi con định bước vào thì nghe tiếng nói chuyện bên trong: ai đó nói rằng vì cha bây giờ kiếm được quá ít, nên mẹ sẽ phải đi ở đợ tại Yedo. Con nghĩ, “Con sẽ không vào nhà ấy”; và con ở lại ba ngày trong vườn. Ngày thứ ba, cuối cùng người ta quyết định rằng mẹ sẽ không phải đi Yedo nữa. Tối hôm ấy, con đi vào nhà qua một lỗ mắt trên cánh cửa trượt;—và sau đó con ở bên lò bếp ba ngày. Rồi con vào dạ mẹ tôn kính... Con nhớ là con sinh ra mà chẳng thấy đau chút nào. —Bà ơi, bà có thể kể chuyện này cho ba mẹ, nhưng xin đừng kể cho ai khác.”

The grandmother told Genzo and his wife what Katsugoro had related to her; and after that the boy was not afraid to speak freely with his parents on the subject of his former existence, and would often say to them: “I want to go to Hodokubo. Please let me make a visit to the tomb of Kyubei San.” Genzo... asked his mother Tsuya, on the twentieth day of the first month of this year, to take her grandson there.

Bà nội kể cho Genzo và vợ ông điều Katsugoro đã thuật; và sau đó cậu bé không còn e sợ khi chuyện trò cởi mở với cha mẹ về đời sống trước của mình, và thường nói với họ: “Con muốn đi Hodokubo. Xin cho con đi thăm mộ Kyubei San.” Genzo... nhờ mẹ mình là bà Tsuya, vào ngày hai mươi của tháng Giêng năm nay, đưa cháu đến đó.

Tsuya went with Katsugoro to Hodokubo; and when they entered the village she pointed to the nearer dwellings, and asked the boy, “Which house is it?—is it this house or that one?” “No,” answered Katsugoro,—”it is further on—much further,”—and he hurried before her. Reaching a certain dwelling at last, he cried, “This is the house!”—and ran in, without waiting for his grandmother. Tsuya followed him in, and asked the people there what was the name of the owner of the house. “Hanshiro,” one of them answered. She asked the name of Hanshiro’s wife. “Shidzu,” was the reply. Then she asked whether there had ever been a son called Tozo born in that house. “Yes,” was the answer; “but that boy died thirteen years ago, when he was six years old.”

Tsuya đi với Katsugoro đến Hodokubo; và khi họ vào làng, bà chỉ vào những căn nhà gần đó và hỏi cậu bé: “Nhà nào vậy?—nhà này hay nhà kia?” “Không,” Katsugoro trả lời,—“xa hơn nữa—xa hơn nhiều,”—và em vội vã đi trước bà. Cuối cùng đến một căn nhà nào đó, em kêu lên, “Đây là nhà!”—và chạy vào, không đợi bà nội. Tsuya theo vào, và hỏi người trong nhà tên chủ nhà là gì. “Hanshiro,” một người trả lời. Bà hỏi tên vợ của Hanshiro. “Shidzu,” là câu đáp. Rồi bà hỏi trong nhà này đã từng có một con trai tên Tozo sinh ra không. “Có,” là câu trả lời; “nhưng cậu bé ấy đã chết mười ba năm trước, lúc sáu tuổi.”

Then for the first time Tsuya was convinced that Katsugoro had spoken the truth; and she could not help shedding tears. She related to the people of the house all that Katsugoro had told her about his remembrance of his former birth. Then Hanshiro and his wife wondered greatly. They caressed Katsugoro and wept; and they remarked that he was much handsomer now than he had been as Tozo before dying at the age of six. In the meantime, Katsugoro was looking all about; and seeing the roof of a tobacco shop opposite to the house of Hanshiro, he pointed to it, and said: “That used not to be there.” And he also said,—”The tree yonder used not to be there.” All this was true. So from the minds of Hanshiro and his wife every doubt departed.

Lúc đó lần đầu tiên Tsuya tin chắc rằng Katsugoro đã nói thật; và bà không thể không rơi nước mắt. Bà thuật cho gia đình ấy nghe tất cả những điều Katsugoro kể về ký ức của em về lần sinh trước. Rồi Hanshiro và vợ ông vô cùng kinh ngạc. Họ vuốt ve Katsugoro và khóc; và họ nhận xét rằng bây giờ em khôi ngô hơn nhiều so với thời còn là Tozo trước khi chết lúc sáu tuổi. Trong lúc ấy, Katsugoro nhìn quanh khắp nơi; và thấy mái nhà của một tiệm thuốc lá đối diện nhà Hanshiro, em chỉ vào đó và nói: “Hồi trước chỗ đó không có.” Em cũng nói,—“Cái cây đằng kia hồi trước không có.” Tất cả điều này đều đúng. Thế là mọi nghi ngờ tan biến khỏi tâm trí của Hanshiro và vợ ông.

Reincarnations In Burma—Những lần tái sinh ở Miến Điện

Some interesting cases are mentioned by Mr. H. Fielding-Hall in his charming book on Burma, The Soul of a People. He writes:

Vài trường hợp thú vị được Ông H. Fielding-Hall nhắc đến trong cuốn sách duyên dáng của ông về Miến Điện, Linh Hồn của Một Dân Tộc. Ông viết:

A friend of mine once put up for the night at a monastery far away in the forest, near a small village. Talking in the evening round the fire, he remarked that the monastery was very large and fine for so small a village; it was built of the best and straightest teak, which must have been brought from very far away; it must have taken a long time and a great deal of labour to build.

Một người bạn của tôi từng ghé qua một tu viện giữa rừng sâu, gần một ngôi làng nhỏ, để ngủ nhờ qua đêm. Tối đến, đàm đạo quanh bếp lửa, anh nhận xét rằng tu viện ấy rất lớn và đẹp so với một ngôi làng nhỏ như vậy; nó được dựng bằng những thân gỗ tếch tốt nhất, thẳng nhất, hẳn phải chở từ rất xa tới; hẳn mất rất nhiều thời gian và công sức để xây.

In explanation he heard a curious story. It appeared that in the old days there used to be only a bamboo and grass monastery there, such as most jungle villages have; and the then monk was distressed at the smallness of his abode and the little accommodation there was for his school (for a monastery is always a school). So one rainy season he planted with great care a number of teak seedlings round about, and he watered and cared for them.

Để giải thích, anh nghe một câu chuyện lạ. Hóa ra thời trước nơi đây chỉ có một tu viện bằng tre và cỏ, như hầu hết các làng rừng khác có; và vị sư khi đó băn khoăn vì nơi ở của mình chật hẹp và ít chỗ cho trường học (vì tu viện bao giờ cũng là trường học). Vậy là một mùa mưa, ông trồng với tất cả sự chăm chút một số cây tếch non quanh vùng, và ông tưới tắm, chăm nom chúng.

“When they are grown up,” he would say, “these teak-trees shall provide timber for a new and proper building; and I myself will return in another life, and with those trees I will build a monastery more worthy than this.”

“Khi chúng lớn lên,” ông thường nói, “những cây tếch này sẽ cung cấp gỗ để dựng một tòa nhà mới, đúng nghĩa; và chính ta sẽ trở lại trong một đời khác, và với những cây này ta sẽ dựng một tu viện xứng đáng hơn nơi này.”

Teak-trees take a hundred years to reach a mature size, and while the trees were still but saplings the monk died and another monk taught in his stead. And so it went on, and the years rolled by, and from time to time new monasteries of bamboo were built-and rebuilt, and the teak-trees grew bigger and bigger. But the village grew smaller, for the times were troubled, and the village was far away in the forest. So it happened that at last the village found itself without a monk at all; the last monk was dead, and no one came to take his place.

Cây tếch phải một trăm năm mới trưởng thành, và khi chúng vẫn còn là cây non thì vị sư qua đời, và một vị sư khác giảng dạy thay ông. Cứ thế, năm tháng trôi qua, thi thoảng lại có những tu viện tre mới được dựng lên và dựng lại, và cây tếch ngày càng lớn. Nhưng ngôi làng lại nhỏ đi, vì thời thế rối ren, và làng ở xa trong rừng. Thành thử rốt cuộc, làng thấy mình không còn sư ở nữa; vị sư cuối cùng đã mất, và không ai đến thay.

It is a serious thing for a village to have no monk. To begin with, there is no one to teach the lads to read and write and do arithmetic; and there is no one to whom you can give offerings and thereby acquire merit, and there is no one to preach to you and tell you of the sacred teaching. So the village was in a bad way.

Việc một ngôi làng không có sư là chuyện hệ trọng. Trước hết, không có ai dạy bọn trẻ đọc, viết, làm tính; và không có ai để bạn dâng cúng mà nhờ thế tạo công đức, và không có ai để giảng giải và nói với bạn về giáo pháp linh thiêng. Vậy nên làng lâm vào cảnh khó.

Then at last one evening, when the girls were all out at the well drawing water, they were surprised by the arrival of a monk from the forest, weary with a long journey, footsore and hungry. The villagers received him with enthusiasm, and furnished up the old monastery in a hurry for him to sleep. But the curious thing was that the monk seemed to know it all. He knew the monastery and the path to it, and the ways about the village, and the names of the hills and the streams. It seemed as though he must have lived there in the village, and yet no one knew him or recognized his face, though he was but a young man still, and there were villagers who had lived there for seventy years. Next morning the monk came into the village with his begging-bowl, as monks do, and collected his food for the day: and that evening, when the villagers went to see him, he told them he was going to stay. He recalled to them the monk who had planted the teak-trees, and how he had said that when the trees were grown he would return.

Rồi cuối cùng, một buổi chiều, khi các cô gái đang ra giếng gánh nước, họ ngạc nhiên thấy một vị sư từ rừng đi ra, mệt mỏi sau hành trình dài, chân chai và đói lả. Dân làng nồng nhiệt đón tiếp, và vội vã chỉnh trang tu viện cũ cho ngài nghỉ đêm. Nhưng điều lạ lùng là vị sư ấy dường như biết cả mọi thứ. Ngài biết tu viện và đường vào đó, lối lách trong làng, tên các ngọn đồi, các dòng suối. Có vẻ như ngài đã từng sống ở làng ấy, vậy mà chẳng ai biết hay nhận ra mặt ngài, dù ngài hãy còn trẻ, và có những dân làng đã sống ở đó bảy mươi năm. Sáng hôm sau, vị sư đi vào làng với bình bát, như các nhà sư vẫn làm, và khất thực phần ăn trong ngày: và tối hôm ấy, khi dân làng đến thăm, ngài bảo rằng ngài sẽ ở lại. Ngài gợi cho họ nhớ vị sư đã trồng cây tếch, và lời ông đã nói rằng khi cây lớn ông sẽ trở lại.

“I,” said the young monk, “am he who planted these trees. Lo, they are grown up and I have returned, and now we will build a monastery as I said.”

“Ta,” vị sư trẻ nói, “là người đã trồng những cây này. Kìa, chúng đã lớn và ta đã trở lại, và bây giờ chúng ta sẽ dựng một tu viện như ta đã nói.”

When the villagers, doubting, questioned him, and old men came and talked to him of traditions of long-past days, he answered as one who knew all. He told them he had been born and educated far away in the South, and had grown up not knowing who he had been; then he had entered a monastery, and in due time became a Pongyi. The remembrance came to him, he went on, in a dream of how he had planted the trees and had promised to return to that village far away in the forest.

Khi dân làng còn nghi ngờ, họ tra hỏi ngài, và các bô lão đến trò chuyện với ngài về những chuyện truyền lại của những ngày xa xưa, ngài trả lời như người biết tất cả. Ngài kể mình sinh và học ở phương Nam xa xôi, và lớn lên mà không biết mình đã từng là ai; rồi ngài vào tu viện, và đến kỳ thì trở thành một Pongyi. Sự nhớ biết đến với ngài, ngài kể tiếp, trong một giấc mơ về việc ông đã trồng cây và đã hứa sẽ trở lại ngôi làng xa trong rừng ấy.

The very next day he had started, and travelled day after day and week upon week, till at length he had arrived, as they saw. So the villagers were convinced, and they set to work and cut down the great boles, and built the monastery which my friend saw. And the monk lived there all his life, and taught the children, and preached the marvellous teaching of the great Buddha, till at length his time came again and he returned; for of monks it is not said that they die, but that they return.....

Ngay ngày hôm sau ngài lên đường, và đi ngày này qua tuần khác, cho đến khi cuối cùng ngài đến nơi, như mọi người đã thấy. Thế là dân làng tin, và họ bắt tay vào việc, đốn những thân cây lớn, và dựng nên tu viện mà bạn tôi đã thấy. Và vị sư ở đó suốt đời, dạy bọn trẻ, và giảng pháp mầu nhiệm của đức Phật vĩ đại, cho đến khi thời của ngài lại đến và ngài “trở về”; vì về các nhà sư, người ta không nói họ chết, mà nói họ trở về.....

About fifty years ago in a village called Okshitgon were born two children, a boy and a girl. They were born on the same day in neighbouring houses, and they grew up together and played together, and loved each other. In due course they married and started a family, and maintain­ed themselves by cultivating the fields about the village. They were always known as devoted to each other, and they died as they had lived—together. The same death took them on the same day; so they were buried without the village and were forgotten, for the times were serious... Okshitgon was in the midst of one of the most distressed districts, and many of its people fled; and one of them, a man named Maung Kan, went with his young wife to the village of Kabyu and lived there.

Khoảng năm mươi năm trước, trong một ngôi làng tên Okshitgon, có hai đứa trẻ ra đời, một trai và một gái. Chúng sinh cùng ngày, trong hai căn nhà kề cận, và lớn lên cùng nhau, chơi cùng nhau, yêu nhau. Đến thời, chúng kết hôn và lập gia đình, mưu sinh bằng nghề canh tác các cánh đồng quanh làng. Ai cũng biết đôi vợ chồng này gắn bó với nhau, và họ chết như họ đã sống—cùng nhau. Cùng một cái chết đến với cả hai trong cùng một ngày; họ được chôn ngoài làng và rồi bị quên lãng, vì thời cuộc rối ren... Okshitgon nằm giữa một trong những vùng khổ sở nhất, và nhiều người của nó đã bỏ chạy; một người trong đó, một người tên Maung Kan, cùng vợ trẻ đến ở làng Kabyu và sinh sống ở đó.

Now, Maung Kan’s wife had borne to him twin sons. They were born at Okshitgon shortly before their parents had to run away, and they were named, the first Maung Gyi (which means Brother Big-fellow) and the second Maung Ngé (which means Brother Little-fellow). These lads grew up at Kabyu, and soon learnt to talk; and their parents were surprised to hear them calling to each other at play, not as Maung Gyi and Maung Ngé, but as Maung San Nyein and Ma Gywin. The latter is a woman’s name, and the parents remembered that these were the names of the man and wife who had died at Okshitgon about the time the children were born.

Bây giờ, vợ của Maung Kan đã sinh cho ông ta một cặp song sinh trai. Chúng sinh ở Okshitgon trước khi cha mẹ phải bỏ trốn không lâu, và chúng được đặt tên, đứa đầu là Maung Gyi (nghĩa là Anh Cả), đứa hai là Maung Ngé (nghĩa là Em Bé). Hai cậu bé lớn lên ở Kabyu, và sớm biết nói; và cha mẹ ngạc nhiên nghe chúng gọi nhau lúc chơi, không phải là Maung Gyi và Maung Ngé, mà là Maung San Nyein và Ma Gywin. Tên sau là tên phụ nữ, và cha mẹ nhớ rằng đó là tên của người vợ chồng đã chết ở Okshitgon vào khoảng thời điểm hai đứa trẻ được sinh.

So the parents thought that the souls of the man and wife had entered into the children, and they took them to Okshitgon to try them. The children knew everything in Okshitgon; they knew the roads, the houses and the people, and they recognized the clothes they used to wear in the former life: there was no doubt about it. One of them, the younger, remembered how she had borrowed two rupees once from a woman, Ma Thet, unknown to her husband, and left the debt unpaid. Ma Thet was still living, so they asked her, and she recollected that it was true she had lent the money long ago....

Thế là cha mẹ nghĩ rằng linh hồn của đôi vợ chồng kia đã nhập vào hai đứa trẻ, và họ đưa chúng về Okshitgon để “thử”. Hai đứa trẻ biết hết mọi thứ ở Okshitgon; chúng biết đường xá, nhà cửa và người dân, và nhận ra những bộ quần áo chúng từng mặc trong đời trước: không còn nghi ngờ gì nữa. Một đứa, đứa nhỏ hơn, nhớ rằng nó từng vay hai rupee của một người phụ nữ tên Ma Thet, mà chồng không hay, và để lại món nợ chưa trả. Ma Thet vẫn còn sống, nên họ hỏi bà, và bà nhớ lại rằng đúng là ngày xưa bà đã cho vay số tiền ấy....

Shortly afterwards I saw these two children. They were then just over six years old. The elder, into whom the soul of the man entered, is a fat, chubby little fellow, but the younger twin is smaller, and has a curious dreamy look in his face, more like a girl than a boy. They told me much about their former lives. After they died they said they lived for some time without a body at all, wandering in the air and hiding in the trees. Then, after some months they were born again as twin boys. “It used to be so clear,” said the elder boy, “I could remember everything; but it is getting duller and duller, and I cannot now remember as I used to do.”

Sau đó không lâu, tôi gặp hai đứa trẻ này. Khi ấy chúng vừa hơn sáu tuổi. Đứa lớn, vào đó linh hồn người chồng nhập, là một cậu bé mũm mĩm, bầu bĩnh, còn đứa song sinh nhỏ hơn thì bé hơn, và có một vẻ đăm chiêu kỳ lạ trên khuôn mặt, trông giống con gái hơn con trai. Chúng kể cho tôi nghe nhiều điều về đời trước. Sau khi chết, chúng nói, chúng sống một thời gian không có thân xác, lang thang trong không khí và ẩn mình trong các tán cây. Rồi, sau vài tháng, chúng được sinh ra lại thành cặp trai song sinh. “Trước đây rõ ràng lắm,” cậu lớn nói, “tôi có thể nhớ hết; nhưng bây giờ mờ dần, mờ dần, và tôi không còn nhớ như trước nữa.”

Another little boy told me once that the way remembrance came to him was by seeing the silk he used to wear made into curtains, which are given to the monks and used as partitions in their monasteries, and as walls to temporary erections made at festival times. He was taken when some three years old to a feast at the making of the son of a wealthy merchant into a monk. There he recognized in the curtain walling in part of the bamboo building his old dress, and pointed it out at once.*

Một cậu bé khác từng kể tôi nghe rằng cách ký ức trở lại với cậu là khi nhìn thấy tấm lụa cậu từng mặc được may thành rèm, dâng cho các sư và dùng làm vách ngăn trong tu viện, và làm vách cho những kiến trúc tạm thời dựng vào dịp lễ hội. Cậu được dẫn, khi khoảng ba tuổi, đi dự một lễ làm con của một nhà buôn giàu thành sư. Ở đó, cậu nhận ra trong những bức rèm che một phần căn nhà tre bộ y phục cũ của mình, và lập tức chỉ ra.*

__________

__________

*Op. cit., p. 291 et seq.

*Sđd., tr. 291 trở đi.

Most of the examples of reincarnation given above are taken from Oriental countries—not because the great law of rebirth is operative only in those lands, but because for various reasons it is easier to trace its action there. The law is universal, but the interval between lives differs widely. For some it is a matter of many centuries; for others it may be only a few months, or even days. With the Burmese, as we have just seen from Mr. Fielding Hall’s account, very short intervals seem to be the rule, and the Burman evidently has also the peculiarity that he usually takes birth over and over again in the same race before transferring himself to another. These two habits of his are specially convenient for the student of reincarnation who, by researches among that race, can readily convince himself of the truth of the general principle before extending his inquiries into other fields where the investigation is more difficult.

Hầu hết các ví dụ về tái sinh nêu trên được lấy từ các xứ phương Đông—không phải vì đại định luật tái sinh chỉ vận hành tại những vùng đất ấy, mà bởi vì vì nhiều lẽ khác nhau, ở đó ta dễ theo dõi sự tác động của định luật hơn. Định luật là phổ quát, nhưng khoảng cách giữa các kiếp sống khác nhau rất xa. Với một số người, đó là chuyện của nhiều thế kỷ; với kẻ khác, có thể chỉ vài tháng, thậm chí vài ngày. Với người Miến, như chúng ta vừa thấy qua tường thuật của Ông Fielding Hall, những khoảng cách rất ngắn dường như là điều thường thấy, và người Miến hiển nhiên còn có một nét đặc thù là y thường thọ sinh hết lần này đến lần khác trong cùng một giống dân trước khi chuyển mình sang giống dân khác. Hai nếp quen này của họ đặc biệt thuận tiện cho đạo sinh nghiên cứu tái sinh—kẻ mà, nhờ khảo cứu trong giống dân ấy, có thể dễ dàng tự mình xác chứng chân lý của nguyên lý tổng quát trước khi mở rộng việc truy cứu sang những cánh đồng khác, nơi cuộc điều tra khó khăn hơn.

There is plenty of testimony available of quite another kind, for there are a certain number of people who have a clear memory of at least some of their own former births; and it is sometimes possible for those who have lived simultaneously in the past to compare notes, and so obtain some sort of verification of their recollections. I remember once, years ago, when I had given a lecture upon reincarnation to an Indian audience, and asked at the conclusion of it for questions on any point which I had not made quite clear, a highly-cultured Indian gentleman rose, and with the utmost courtesy said:

Có rất nhiều lời chứng thuộc một loại hoàn toàn khác, vì có một số người nhất định có ký ức rõ ràng về chí ít một vài kiếp trước của chính họ; và đôi khi điều cũng có thể là những người đã từng sống đồng thời trong quá khứ có thể đối chiếu các điều ghi nhận, nhờ đó có được một dạng xác minh nào đó cho những hồi ức của họ. Tôi còn nhớ một lần, nhiều năm trước, khi tôi giảng một bài về tái sinh cho một thính chúng Ấn Độ, và ở phần kết tôi mời đặt câu hỏi về bất kỳ điểm nào mà tôi chưa làm rõ lắm, một quý ông Ấn Độ có học thức cao đứng lên và với sự nhã nhặn hết mực đã nói:

“Sir, this theory of reincarnation is familiar to us from childhood; we all of us begin by accepting it, and it is only when we grow up and absorb your European culture that we come to doubt it. Have you any objection to telling us how it happens that you, an Englishman, whose education and surroundings must have been so entirely different, are able to speak to us so convincingly and with such apparent certainty on this subject?”

“Thưa ông, thuyết tái sinh này vốn thân quen với chúng tôi từ thời thơ ấu; tất cả chúng tôi đều khởi đầu bằng việc chấp nhận nó, và chỉ khi lớn lên tiếp thu văn hóa Âu châu của các ông thì chúng tôi mới bắt đầu hoài nghi. Ông có ngại cho biết làm sao mà ông, một người Anh, với nền giáo dục và hoàn cảnh hẳn là hoàn toàn khác, lại có thể nói với chúng tôi một cách đầy thuyết phục và với vẻ quả quyết như vậy về chủ đề này không?”

I in my turn put a question to him: “Do you wish me to rehearse for you the stock arguments which show so conclusively that reincarnation is the only rational theory of life, the only hypothesis which enables us to account in any degree equitably for the conditions which we see around us? Or do you want me to unveil something of my own inner life, and give you my real reason?”

Đến lượt mình, tôi đặt một câu hỏi với ông ấy: “Ông muốn tôi nhắc lại cho ông nghe những luận cứ kinh điển cho thấy một cách thuyết phục rằng tái sinh là học thuyết hợp lý duy nhất về sự sống, là giả thuyết duy nhất cho phép chúng ta phần nào giải thích một cách công bằng những điều kiện chung quanh ta? Hay ông muốn tôi vén mở đôi điều về đời sống nội tâm của chính mình, và nói với ông lý do thật của tôi?”

He replied: “Sir, if I may venture to put so intimate, so almost impertinent a question (though I assure you that it is not asked impertinently) it is precisely that real inner reason that it would mean so much to me to hear.”

Ông đáp: “Thưa ông, nếu tôi dám nêu một câu hỏi riêng tư đến vậy, gần như là đường đột (dù tôi cam đoan không hề có ý khiếm nhã), thì chính cái lý do nội tâm thật ấy là điều mà tôi rất mong được nghe.”

Seeing how genuine and how serious was his query, I answered him openly: “Very well then,” I said, “I speak definitely and certainly about reincarnation because I know it to be a fact, because I can clearly remember a large number of my own past births, and in the case of some of them I have been able to satisfy myself by exterior evidence that my recollection is accurate. But of course that, however satisfactory to me, is no proof to you.”

Thấy câu hỏi của ông chân thành và nghiêm cẩn đến thế, tôi đáp thẳng thắn: “Thế thì được,” tôi nói, “tôi nói rành rẽ và quả quyết về tái sinh vì tôi biết đó là một sự thật, vì tôi nhớ rõ ràng rất nhiều kiếp trước của chính mình, và trong một vài trường hợp, tôi đã có thể tự thỏa mãn mình, bằng những bằng chứng bên ngoài, rằng hồi ức của tôi là xác thực. Nhưng dĩ nhiên, điều đó, tuy khiến tôi hoàn toàn an tâm, vẫn không phải là chứng cứ đối với ông.”

He thanked me heartily, assuring me that that was exactly what he had wanted to hear.

Ông chân thành cảm ơn tôi, quả quyết rằng đó chính là điều ông muốn được nghe.

Chapter XII—Chương XII

CONCLUSION—KẾT LUẬN

I have tried to describe the life on the other side of death just as it is, just as it is seen to be by those who, taking part in it (as we all do every night of our earthly lives) have unfolded within themselves the power to remember clearly what they see and do, so that to them it is familiar, simple, straight­forward—part of their everyday existence. And I have gathered together from many sources a large number of illustrative cases, a vast amount of con­current testimony to show you that the account I give is not a dream or a hallucination, but a plain statement of the facts as commonly experienced.

Tôi đã cố gắng mô tả đời sống ở bên kia cái chết đúng như nó là, đúng như nó được thấy bởi những ai tham dự vào đó (như tất cả chúng ta đều làm mỗi đêm trong đời sống trần gian), và đã khai mở trong chính mình năng lực nhớ rõ những gì mình thấy và làm, để đối với họ nó là điều quen thuộc, giản dị, thẳng băng—một phần của đời sống thường nhật. Và tôi đã gom lại từ nhiều nguồn vô số trường hợp minh họa, một khối lượng lớn lời chứng đồng quy để chỉ cho bạn thấy rằng tường thuật mà tôi đưa ra không phải là một giấc mơ hay một ảo giác, mà là một trình bày thẳng thắn về những sự kiện như người ta thường nghiệm qua.

For those who are able to accept this, all fear of death should be eradicated, all grief for those whom we call the dead should automatically cease. Yet so strong is this ingrained habit of mourning, so firmly implanted within us is this hereditary, though baseless, sense of separation, that even those who intellectually grasp the truth, who fully believe all that is written herein, may at times find themselves slipping back under its influence into that old and harmful attitude of despondency, of longing, of never-fading regret.

Với những ai có thể chấp nhận điều này, mọi sợ hãi cái chết nên bị nhổ sạch, mọi sầu khổ vì những người mà chúng ta gọi là kẻ chết nên tự động chấm dứt. Thế nhưng thói quen khóc than đã ăn sâu quá mạnh, cảm thức di truyền về chia lìa ấy—dù vô căn cứ—đã được cắm chặt trong chúng ta đến mức ngay cả những người nắm bắt chân lý bằng trí tuệ, những người hoàn toàn tin vào mọi điều được viết ở đây, đôi lúc vẫn thấy mình trượt ngược trở lại dưới ảnh hưởng của nó, vào thái độ cũ kỹ mà tai hại của u sầu, khắc khoải, và nuối tiếc không phai.

So sad is this, so injurious both to the living and the dead, that I feel it my duty to close this book with a final and urgent appeal to my readers to raise themselves once and forever above the possibility of any such relapse, to take their stand firmly in God’s sunlight, and never for a moment allow it to be obscured by man-made clouds of doubt or fear. To the man, then, whose sky is dark because one whom he loves deeply has left this physical world, I would address myself thus:

Điều đó thật đáng buồn biết bao, thật tổn hại cả cho người sống lẫn kẻ chết, đến nỗi tôi cảm thấy bổn phận phải kết thúc cuốn sách này bằng một lời khẩn thiết tối hậu gửi đến độc giả: hãy tự mình nâng dậy, một lần cho mãi mãi, vượt khỏi mọi khả năng tái rơi vào trạng thái ấy; hãy đứng vững trong ánh dương của Thượng đế, và đừng để nó bị che khuất dù chỉ một chốc bởi những đám mây do con người dựng nên của hoài nghi hay sợ hãi. Vậy nên, với người mà trời mây u tối vì kẻ y yêu sâu đậm đã rời bỏ thế giới hồng trần này, tôi xin ngỏ lời như sau:

An Earnest Appeal—Lời Kêu Gọi Khẩn Thiết

My brother, you have lost by death one whom you loved dearly—one who perhaps was all the world to you; and so to you that world seems empty, and life no longer worth the living. You feel that joy has left you for ever—that existence can be for you henceforth nothing but hopeless sadness—naught but one aching longing for “the touch of a vanished hand and the sound of a voice that is still”. You are thinking chiefly of yourself and your intolerable loss; but there is also another sorrow. Your grief is aggravated by your un­certainty as to the present condition of your be­loved; you feel that he has gone you know not where. You hope earnestly that all is well with him, but when you look upward all is void; when you cry, there is no answer. And so despair and doubt overwhelm you, and make a cloud that hides from you the Sun which never sets.

Huynh đệ của tôi, bạn đã mất bởi cái chết một người mà bạn yêu thiết—một người có lẽ từng là cả thế giới đối với bạn; và thế nên với bạn, thế giới đó dường như rỗng không, và đời sống không còn đáng sống nữa. Bạn cảm thấy niềm vui đã rời bỏ bạn mãi mãi—rằng từ nay sự sống đối với bạn chỉ còn là nỗi buồn vô vọng—chẳng là gì ngoài một khắc khoải nhức nhối vì “bàn tay đã khuất chạm khẽ” và “âm thanh của một giọng nói nay đã im lặng”. Bạn đang nghĩ chủ yếu về chính mình và mất mát không sao chịu nổi của bạn; nhưng còn có một nỗi buồn khác nữa. Sầu khổ của bạn bị tăng nặng bởi sự bất định về tình trạng hiện tại của người thương; bạn cảm thấy y đã đi đâu, bạn không biết. Bạn chân thành hy vọng mọi sự đều tốt đẹp với y, nhưng khi ngước nhìn lên chỉ thấy trống không; khi bạn kêu gào, chẳng có câu đáp lời. Và thế là tuyệt vọng và hoài nghi trùm lấp bạn, tạo nên một đám mây che khuất Mặt Trời chẳng bao giờ lặn.

Your feeling is most natural; I who write under­stand it perfectly, and my heart is full of sympathy for all those who are afflicted as you are. But I hope that I can do more than sympathize; I hope that I can bring you help and relief. Such help and relief have come to thousands who were in your sad case. Why should they not come to you also?

Cảm xúc của bạn là điều tự nhiên nhất; tôi, người đang viết dòng này, hiểu rõ nó, và trái tim tôi tràn đầy cảm thông với tất cả những ai đau khổ như bạn. Nhưng tôi hy vọng mình có thể làm hơn cả việc cảm thông; tôi hy vọng có thể mang đến cho bạn sự trợ giúp và niềm khuây khỏa. Trợ giúp và khuây khỏa như thế đã đến với hàng ngàn người vốn ở trong cảnh ngộ buồn bã của bạn. Tại sao chúng lại không đến với bạn?

You say: “How can there be relief or hope for me?”

Bạn nói: “Làm sao có thể có khuây khỏa hay hy vọng cho tôi?”

There is the hope of relief for you because your sorrow is founded on misapprehension; you are grieving for something which has not really happened. When you understand the facts you will cease to grieve.

Có hy vọng và khuây khỏa cho bạn vì nỗi sầu của bạn đặt nền trên sự hiểu lầm; bạn đang đau buồn vì một điều vốn thực ra chưa hề xảy ra. Khi bạn hiểu các sự kiện, bạn sẽ thôi không còn sầu khổ.

You answer: “My loss is a fact. How can you help me—unless, indeed, you give me back my dead?”

Bạn đáp: “Mất mát của tôi là một sự kiện. Ông giúp được gì cho tôi—trừ phi, thật vậy, ông trả lại cho tôi người đã khuất?”

I understand your feeling perfectly; yet bear with me for awhile, and try to grasp three main propositions which I am about to put before you—at first merely as broad statements, and then in convincing detail.

Tôi hiểu trọn vẹn cảm xúc của bạn; tuy vậy, xin bạn nhẫn nại đôi chút và cố nắm bắt ba mệnh đề chính mà tôi sắp trình bày—ban đầu như những mệnh đề khái quát, rồi sau đó là những chi tiết thuyết phục.

Your loss is only an apparent fact—apparent from your point of view. I want to bring you to another view-point. Your suffering is the result of a great delusion—of ignorance of Nature’s law; let me help you on the road towards knowledge by explaining a few simple truths which you can study further at your leisure.

Mất mát của bạn chỉ là một sự kiện bề ngoài —bề ngoài từ lập trường của bạn. Tôi muốn đưa bạn đến một điểm nhìn khác. Khổ đau của bạn là kết quả của một ảo tưởng lớn—là do không biết định luật của Tự Nhiên; hãy để tôi giúp bạn đi trên con đường hướng đến tri thức bằng cách giải thích vài chân lý đơn giản mà bạn có thể thong thả học hỏi thêm.

You need be under no uneasiness or un­certainty with regard to the condition of your loved one, for the life after death is no longer a mystery. The world beyond the grave exists under the same natural laws as this which we know, and has been explored and examined with scientific accuracy.

Bạn không cần phải bồn chồn hay bất định gì về tình trạng của người thân yêu, vì đời sống sau khi chết không còn là điều huyền bí nữa. Thế giới bên kia nấm mồ tồn tại theo những định luật tự nhiên giống hệt như thế giới chúng ta quen biết, và đã được thám sát, khảo cứu với độ chính xác của khoa học.

You must not mourn, for your mourning does harm to your loved one. If you can once open your mind to the truth, you will mourn no more.

Bạn không nên than khóc, vì sự than khóc của bạn gây hại cho người thương. Nếu một lần bạn mở tâm trí mình ra với chân lý, bạn sẽ không còn than khóc.

Before you can understand your lost friend’s condition you must understand your own. Try to grasp the fact that you are an immortal being, immortal because you are divine in essence—because you are a spark from God’s own Fire; that you lived for ages before you put on this vesture which you call a body, and that you will live for ages after it has crumbled into dust. “God made man to be an image of His own eternity.” This is not a guess or a pious belief, it is a definite scientific fact, capable of proof, as you may see from the literature of the subject if you will take the trouble to read it. What you have been considering as your life is in truth only one day of your real life as a soul, and the same is true of your beloved; therefore, he is not dead—it is only his body that is cast aside.

Trước khi bạn có thể hiểu tình trạng của người bạn đã mất, bạn phải hiểu chính mình. Hãy cố nắm bắt sự thật rằng bạn là một hữu thể bất tử, bất tử vì về bản thể bạn là thiêng liêng—vì bạn là một tia lửa từ Lửa của Chính Thượng đế; rằng bạn đã sống suốt nhiều thời đại trước khi khoác lên mình tấm áo mà bạn gọi là thân xác này, và rằng bạn sẽ còn sống suốt nhiều thời đại sau khi nó đã tan thành bụi đất. “Thượng đế đã dựng nên con người để làm ảnh tượng của sự vĩnh hằng riêng của Ngài.” Đây không phải là một phỏng đoán hay một niềm tin sùng kính, mà là một sự thật khoa học xác quyết, có thể chứng minh, như bạn có thể thấy từ các trước tác liên quan nếu chịu khó đọc. Điều mà bạn vẫn xem là đời sống của mình thực ra chỉ là một ngày của đời sống thật của bạn như một linh hồn, và điều đó cũng đúng với người thân yêu của bạn; bởi vậy, y không hề chết—chỉ có thân xác của y là bị trút bỏ.

Yet you must not, therefore, think of him as a mere bodiless breath, as in any way less himself than he was before. As St. Paul said long ago: “There is a natural body, and there is a spiritual body.” People misunderstand that remark, because they think of these bodies as successive, and do not realize that we all of us possess both of them even now. You, as you read this, have both a “natural” or physical body, which you can see, and another inner body, which you cannot see, that which St. Paul called the “spiritual”. And when you lay aside the physical, you still retain the other finer vehicle; you are clothed in your “spiritual body”. If we symbolize the physical body as an overcoat or cloak, we may think of this spiritual body as the ordinary house-coat which the man wears underneath that outer garment.

Tuy vậy, đừng vì thế mà nghĩ về y như một hơi thở không thân thể, như theo bất kỳ cách nào đó mà y kém là chính mình hơn trước. Như Thánh Phao-lô đã nói từ lâu: “Có thân thể tự nhiên, và có thân thể tinh thần.” Người ta hiểu lầm lời nói đó, vì họ nghĩ về những thân thể này như là kế tiếp nhau, và không nhận ra rằng tất cả chúng ta hiện nay đều đang sở hữu cả hai. Bạn, trong khi đọc điều này, vừa có một thân thể “tự nhiên” hay thân xác mà bạn có thể nhìn thấy, vừa có một thân thể bên trong khác mà bạn không thấy được, điều mà Thánh Phao-lô gọi là “thể tinh thần”. Và khi bạn đặt thân xác sang một bên, bạn vẫn còn giữ vận cụ tinh tế kia; bạn khoác trên mình “thể tinh thần” của bạn. Nếu ví thân xác như một chiếc áo khoác ngoài, ta có thể xem “thể tinh thần” này như chiếc áo mặc nhà thường nhật mà người ta khoác bên dưới tấm áo ngoài.

If that idea is by this time clear to you, let us advance another step. It is not only at what you call death that you doff that overcoat of dense matter; every night when you go to sleep you slip it off for awhile, and roam about the world in your spiritual body—invisible as far as this dense world is concern­ed, but clearly visible to those friends who happen to be using their spiritual bodies at the same time. For each body sees only that which is on its own level; your physical body sees only other physical bodies, your spiritual body sees only other spiritual bodies. When you resume your overcoat—that is to say, when you come back to your denser body. and wake up (or down) to this lower world—it occasionally happens that you have some recollec­tion, though usually considerably distorted, of what you have seen when you were away elsewhere; and then you call it a vivid dream. Sleep, then, may be described as a kind of temporary death, the difference being that you do not withdraw yourself so entirely from your overcoat as to be unable to resume it. It follows that when you sleep, you enter the same condition as that into which your beloved has passed. What that condition is I will now proceed to explain.

Nếu đến đây ý niệm đó đã rõ đối với bạn, chúng ta hãy bước thêm một bước nữa. Không chỉ vào lúc bạn gọi là chết bạn mới cởi chiếc áo khoác của chất liệu đậm đặc ấy; mỗi đêm khi bạn đi ngủ bạn đều tạm trút nó xuống, và dạo bước khắp thế giới trong thể tinh thần của mình—vô hình đối với thế giới đậm đặc này, nhưng lại hiện rõ với những bạn bè đang sử dụng thể tinh thần của họ cùng lúc. Vì mỗi thể chỉ nhìn thấy cái gì ở trên cấp độ của chính nó; thân xác của bạn chỉ thấy những thân xác khác, còn thể tinh thần của bạn chỉ thấy những thể tinh thần khác. Khi bạn mặc lại chiếc áo khoác—tức là khi bạn trở về với thân thể đậm đặc hơn của mình và thức dậy (hay “tụt xuống”) thế giới thấp này—đôi khi sẽ xảy ra là bạn có một ít hồi ức, dẫu thường bị bóp méo đáng kể, về những điều bạn đã thấy khi rời xa nơi khác; và bạn gọi đó là một giấc mơ sống động. Vậy thì, giấc ngủ có thể được mô tả như một thứ cái chết tạm thời, chỉ khác ở chỗ bạn không rút mình ra khỏi chiếc áo khoác đến mức không thể khoác lại nó. Do đó, khi bạn ngủ, bạn nhập vào cùng một tình trạng như tình trạng mà người thương của bạn đã bước vào. Tình trạng ấy là gì, giờ tôi sẽ giải thích.

Many theories have been current as to the life after death—most of them based upon misunderstandings of ancient scriptures. At one time the horrible dogma of what was called everlasting punishment was almost universally accepted in Europe, though none but the hopelessly ignorant believe it now. It was based upon a mistranslation of certain words attributed to Christ, and it was maintained by the mediaeval monks as a convenient bogey with which to frighten the ignorant masses into well-doing. As the world advanced in civiliza­tion, men began to see that such a tenet was not only blasphemous, but ridiculous. Modern religionists have, therefore, replaced it by somewhat saner suggestions; but they are usually quite vague and far from the simplicity of the truth.

Nhiều thuyết đã lưu hành về đời sống sau khi chết—phần lớn dựa trên những sự hiểu sai các thánh thư cổ. Có thời, giáo điều khủng khiếp gọi là hình phạt đời đời hầu như được chấp nhận rộng khắp ở Âu châu, dẫu nay chỉ còn những kẻ vô minh cùng cực mới tin. Nó dựa trên một sự dịch sai vài lời được gán cho Đức Christ, và đã được các tu sĩ thời trung cổ duy trì như một con ngáo ộp tiện lợi để dọa đám đông thất học phải ăn ở cho phải. Khi thế giới tiến bộ trong văn minh, con người bắt đầu thấy rằng tín điều như thế không chỉ là phạm thượng mà còn lố bịch. Các tôn giáo hiện đại vì vậy đã thay thế nó bằng những đề nghị có phần tỉnh táo hơn; nhưng chúng thường rất mơ hồ và cách xa sự giản dị của chân lý.

All the Churches have complicated their doctrines because they insisted upon starting with an absurd and unfounded dogma of a cruel and angry Deity who wished to injure His people. They import this dreadful idea from primitive Judaism, instead of accepting the teaching of Christ that God is a loving Father. People who have grasped the fundamental fact that God is Love, and that His universe is governed by wise eternal laws, have begun to realize that those laws must be obeyed in the world beyond the grave just as much as in this. But even yet beliefs are vague. We are told of a far-away heaven, of a day of judgement in the remote future, but little information is given us as to what happens here and now. Those who teach do not even pretend to have any personal experience of after-death conditions. They tell us not what they themselves know, but only what they have heard from others. How can that satisfy us?

Mọi Giáo hội đều làm phức tạp các giáo điều của mình bởi vì họ khăng khăng khởi đi từ một giáo điều vô lý và vô căn: một Thần linh tàn nhẫn và giận dữ muốn làm hại dân Ngài. Họ mang theo ý niệm đáng sợ này từ Do Thái giáo nguyên sơ, thay vì chấp nhận giáo huấn của Đức Christ rằng Thượng đế là một Người Cha đầy Tình Thương. Những ai đã nắm bắt sự thật căn bản rằng Thượng đế là Tình Thương, và vũ trụ của Ngài được cai quản bởi những định luật vĩnh cửu, khôn ngoan, đã bắt đầu nhận ra rằng những định luật ấy phải được tuân theo ở thế giới bên kia nấm mồ cũng như ở đây. Nhưng cho đến giờ những niềm tin vẫn mơ hồ. Người ta nói với chúng ta về một thiên đường xa xăm, về một ngày phán xét trong tương lai xa, nhưng rất ít thông tin được đưa ra về những gì xảy ra ngay bây giờ, tại đây. Những người giảng dạy thậm chí không hề giả vờ có bất kỳ kinh nghiệm cá nhân nào về các điều kiện hậu tử. Họ không nói với chúng ta điều họ tự biết, mà chỉ điều họ nghe từ kẻ khác. Làm sao như thế có thể khiến chúng ta thỏa mãn?

The truth is that the day of blind belief is past; the era of scientific knowledge is with us, and we can no longer accept ideas unsustained by reason and common-sense. There is no reason why scientific methods should not be applied to the elucidation of problems which in earlier days were left entirely to religion; indeed, such methods have been applied by the Theosophical Society and the Society for Psychical Research; and it is the result of those investigations, made in a scientific spirit, that I wish to place before you now.

Sự thật là thời của niềm tin mù quáng đã qua; kỷ nguyên của tri thức khoa học đang ở cùng chúng ta, và chúng ta không còn có thể chấp nhận những ý tưởng không được nâng đỡ bởi lý trí và lẽ thường. Không có lý do gì các phương pháp khoa học lại không được áp dụng để làm sáng tỏ những vấn đề mà trong thời trước từng được phó mặc hoàn toàn cho tôn giáo; thật vậy, những phương pháp như thế đã được áp dụng bởi Hội Thông Thiên Học và Hội Nghiên cứu Tâm Linh; và chính kết quả của những khảo cứu ấy, được tiến hành với tinh thần khoa học, là điều tôi muốn trình bày với bạn bây giờ.

Let us consider the life which the dead are leading. In it there are many and great variations, but at least it is almost always happier than the earth-life. As an old scripture puts it: “The souls of the righteous are in the hand of God, and there shall no torment touch them. In the sight of the unwise they seem to die, and their departure is taken for misery, and their going from us to be utter destruction; but they are in peace.”* We must disabuse ourselves of antiquated theories; the dead man does not leap suddenly into an impossible heaven, nor does he fall into a still more impossible hell. There is indeed no hell in the old wicked sense of the word; and there is no hell anywhere in any sense except such as a man makes for himself. Try to understand clearly that death makes no change in the man; he does not suddenly become a great saint or angel, nor is he suddenly endowed with all the wisdom of the ages; he is just the same man the day after his death as he was the day before it, with the same emotions, the same dis­position, the same intellectual development. The only difference is that he has lost the physical body.

Chúng ta hãy xét đời sống mà những người đã khuất đang sống. Trong đó có nhiều biến thiên lớn, nhưng ít nhất nó hầu như luôn hạnh phúc hơn đời sống trần gian. Như một thánh thư xưa nói: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thượng đế, và không hình khổ nào chạm đến họ. Trước mắt kẻ dại dột, họ dường như chết, và cuộc ra đi của họ bị cho là khổ sở, và việc rời xa chúng ta tưởng như hủy diệt hoàn toàn; nhưng họ được bình an.”* Chúng ta phải gạt bỏ những thuyết cũ kỹ; người đã khuất không đột ngột nhảy vào một thiên đường bất khả, cũng không rơi vào một địa ngục càng bất khả hơn. Quả thật chẳng có địa ngục theo nghĩa độc ác xưa kia của từ ấy; chẳng có địa ngục nào ở đâu theo bất cứ nghĩa nào, ngoại trừ cái mà con người tự tạo cho mình. Hãy cố hiểu cho tỏ rằng cái chết không làm thay đổi con người; y không đột nhiên trở thành một đại thánh hay thiên sứ, cũng không bất thần được ban cho tất cả minh triết của muôn đời; y là cùng một con người như ngày hôm sau khi chết y vốn là vào ngày hôm trước, với những xúc cảm y như, với khí chất y như, với trình độ trí tuệ y như. Khác biệt duy nhất là y đã mất thân xác.

__________

__________

*Wisdom of Solomon, iii, 1.

*Khôn Ngoan của Salômôn, iii, 1.

In this spiritual world no money is necessary, food and shelter are no longer needed, for its glory and its beauty are free to all its inhab­itants without money and without price. In its rarefied matter, in the spiritual body, a man can move hither and thither as he will; if he loves the beauteous landscape of forest and sea and sky, he may visit at his pleasure all earth’s fairest spots; if he loves art he may spend the whole of his time in the contemplation of the masterpieces of all the greatest painters, and may himself produce masterpieces by the exercise of the wonderful magic of his thought-power; if he be a musician, he may pass from one to the other of the world’s chiefest orchestras, he may spend his time in listening to the most celebrated performers, or with the willing aid of the great Angels of music he may himself give forth such strains as are never heard on earth.

Trong thế giới tinh thần này, tiền bạc không cần thiết, lương thực và chỗ ở không còn cần nữa, vì vinh quang và vẻ đẹp của nó đều tự do cho mọi cư dân, không cần tiền cũng chẳng phải mua. Trong chất liệu loãng nhẹ của nó, trong thể tinh thần, con người có thể di chuyển chỗ này chỗ kia theo ý muốn; nếu y yêu những phong cảnh tuyệt mỹ của rừng, biển và trời, y có thể tùy nghi viếng thăm mọi nơi đẹp nhất trên trái đất; nếu y yêu nghệ thuật, y có thể dành trọn thời gian cho sự chiêm ngưỡng các kiệt tác của mọi danh họa vĩ đại, và chính y cũng có thể tạo nên kiệt tác bằng cách vận dụng phép màu nhiệm lạ lùng của năng lực tư tưởng; nếu y là một nhạc sĩ, y có thể đi từ dàn nhạc trứ danh này sang dàn nhạc trứ danh khác của thế giới, có thể dành thời gian lắng nghe những nghệ sĩ trứ danh nhất biểu diễn, hoặc, với sự trợ lực sẵn lòng của các thiên thần của âm nhạc, chính y có thể trổi lên những khúc điệu chưa từng được nghe trên trần thế.

Whatever has been his particular delight on earth—his hobby, as we should say—he has now the fullest liberty to devote himself to it entirely and to follow it out to the utmost, provided only that its enjoyment is that of the intellect or of the higher emotions—that its gratification does not necessitate the possession of a physical body. Thus it will be seen at once that all rational and decent men are infinitely happier after death than before it, for they have ample time not only for pleasure, but for really satisfactory progress along the lines which interest them most.

Bất cứ điều gì từng là thú vui riêng biệt của y trên đời—như chúng ta vẫn nói, sở thích—thì giờ đây y được tự do trọn vẹn để tận hiến cho nó hoàn toàn và lần theo nó đến tận cùng, miễn là sự thưởng thức ấy thuộc về trí tuệ hay các cảm xúc cao thượng—tức việc thỏa mãn nó không cần đến một thân xác. Do đó có thể thấy ngay rằng mọi người có lý trí và phẩm hạnh đều hạnh phúc vô ngần sau khi chết hơn trước đó, vì họ có dư dả thời gian không chỉ cho niềm vui, mà còn cho tiến bộ thật sự thỏa đáng dọc theo những đường hướng khiến họ quan tâm nhất.

Are there then none in that world who are unhappy? Yes, for that life is necessarily a sequel to this, and the man is in every respect the same man as he was before he left his body. If his enjoyments in this world were low and coarse, he will find himself unable in that world to gratify his desires. A drunkard will suffer from unquenchable thirst, having no longer a body through which it can be assuaged; the glutton will miss the pleasures of the table; the miser will no longer find gold for his gathering. The man who has yielded himself during earth-life to unworthy passions will find them still gnawing at his vitals. The sensualist still palpitates with cravings that can never now be satisfied; the jealous man is still torn by his jealousy, all the more that he can no longer interfere with the action of its object. Such people as these unquestionably do suffer—but only such as these, only those whose proclivities and passions have been coarse and physical in their nature. And even they have their fate absolutely in their own hands. They have but to conquer these incli­nations, and they are at once free from the suffering which such longings entail. Remember always that there is no such thing as punishment; there is only the natural result of a definite cause; so that you have only to remove the cause and the effect ceases—not always immediately, but as soon as the energy of the cause is exhausted.

Vậy có ai trong thế giới ấy bất hạnh chăng? Có, vì đời sống đó tất yếu là sự tiếp nối của đời này, và con người, ở mọi phương diện, vẫn là cùng một con người như trước khi y rời thân xác. Nếu các thú vui của y ở thế gian thấp hèn và thô lậu, y sẽ thấy mình bất lực trong thế giới kia để thỏa mãn các dục vọng. Kẻ nghiện rượu sẽ chịu đựng một cơn khát không nguôi vì y không còn một thân thể qua đó có thể giải tỏa; kẻ phàm ăn sẽ thiếu vắng lạc thú ở bàn tiệc; kẻ bủn xỉn sẽ chẳng còn tìm được vàng để tích cóp. Kẻ đã buông thân mình cho những dục vọng bất xứng trong đời trần sẽ thấy chúng vẫn còn đang gặm nhấm tận cốt tủy. Kẻ trụy lạc vẫn sôi sục những thèm khát nay không sao thỏa mãn; kẻ ghen tuông vẫn bị xâu xé vì ghen, càng dữ dội hơn bởi y không còn có thể can thiệp vào hành động của đối tượng ghen tuông. Những hạng người như thế chắc chắn là chịu khổ—nhưng chỉ những hạng người như thế, chỉ những ai có khuynh hướng và đam mê thô lậu, mang bản chất trần tục. Và ngay cả họ cũng hoàn toàn nắm số phận trong tay mình. Họ chỉ cần chế ngự những khuynh hướng ấy, là lập tức được giải thoát khỏi nỗi khổ do những thèm muốn ấy kéo theo. Luôn luôn hãy nhớ rằng không hề có cái gọi là trừng phạt; chỉ có hậu quả tự nhiên của một nguyên nhân xác định; thế nên bạn chỉ cần loại bỏ nguyên nhân thì hệ quả sẽ chấm dứt—không phải lúc nào cũng tức thời, nhưng ngay khi năng lượng của nguyên nhân đã kiệt.

“Do the dead then see us?” it may be asked; “do they hear what we say?” Undoubtedly they see us in the sense that they are always conscious of our presence, that they know whether we are happy or miserable; but they do not hear the words that we say, nor are they conscious in detail of our physical actions. A moment’s thought will show us what are the limits of their power to see. They are inhabiting what we have called the “spiritual body”—a body which exists in ourselves, and is, as far as appearance goes, an exact duplicate of the physical body; but while we are awake our consciousness is focussed exclusively in the latter. We have already said that just as only physical matter appeals to the physical body, so only the matter of the spiritual world is discernible by that higher body. Therefore, what the dead man can see of us is only our spiritual body, which, however, he has no difficulty in recognizing.

“Vậy những người chết có thấy chúng ta không?” có thể có người hỏi; “họ có nghe điều chúng ta nói không?” Hẳn nhiên họ thấy chúng ta theo nghĩa rằng họ luôn ý thức sự hiện diện của chúng ta, rằng họ biết chúng ta vui hay buồn; nhưng họ không nghe những lời chúng ta nói, cũng không ý thức chi tiết về các hành động hồng trần của chúng ta. Chỉ cần một thoáng nghĩ là thấy được giới hạn của khả năng thấy của họ. Họ đang cư ngụ trong điều mà chúng ta gọi là “thể tinh thần”—một thể hiện hữu trong chính chúng ta, và, xét về diện mạo, là bản sao y hệt thân xác; nhưng khi chúng ta thức, tâm thức của ta tập trung độc nhất vào thân xác. Chúng ta đã nói rằng cũng như chỉ có vật chất hồng trần mới tác động lên thân xác, thì chỉ có chất liệu của thế giới tinh thần mới được thể cao hơn kia nhận biết. Vậy nên, điều người đã khuất thấy ở chúng ta chỉ là thể tinh thần của ta, dẫu vậy, họ không gặp khó khăn gì trong việc nhận ra ta.

When we are what we call asleep, our conscious­ness is using that vehicle, and so to the dead man we are awake; but when we transfer our conscious­ness to the physical body, it seems to the dead man that we fall asleep, because though he still sees us, we are no longer paying any attention to him to able to communicate with him. When a living-friend falls asleep we are quite aware of his presence, but for the moment we cannot communicate with him unless we arouse him. Precisely similar is the condition of the living man (while he is awake) in the eyes of the dead. Because we cannot usually remember in our waking consciousness what we have seen during sleep, we are under the delusion that we have lost our dead; but they are never under the delusion that they have lost us, because they can see us all the time. To them the only differ­ence is that we are with them during the night and away from them during the day; whereas, when they were on earth with us, exactly the reverse was the case.

Khi chúng ta ở trong điều ta gọi là giấc ngủ, tâm thức của ta đang sử dụng vận cụ ấy, và vì thế đối với người đã khuất thì ta đang thức; nhưng khi ta chuyển tâm thức về thân xác, đối với người đã khuất dường như ta chìm vào giấc ngủ, bởi tuy họ vẫn thấy ta, chúng ta không còn chú tâm đến họ hay có thể giao tiếp với họ nữa. Khi một bạn sống của ta ngủ thiếp, chúng ta hoàn toàn biết sự hiện diện của bạn ấy, nhưng lúc đó ta không thể giao tiếp với bạn ấy trừ phi đánh thức bạn. Tình trạng của người đang sống (khi họ thức) dưới mắt người đã khuất cũng giống hệt như vậy. Bởi vì chúng ta thường không nhớ được trong ý thức lúc thức những gì đã thấy trong giấc ngủ, chúng ta lầm tưởng rằng đã mất người thân; nhưng họ thì chẳng bao giờ lầm rằng họ đã mất chúng ta, vì họ có thể thấy chúng ta mọi lúc. Với họ, khác biệt duy nhất là chúng ta ở cùng họ vào ban đêm và rời xa họ vào ban ngày; trong khi khi họ còn trên trần với ta thì tình trạng lại y như ngược lại.

All life is evolving, for evolution is God’s law; and man grows slowly and steadily along with the rest. What is commonly called man’s life is, in reality, only one day of his true and longer life. Just as in this ordinary life man rises each morning, puts on his clothes, and goes forth to do his daily work, and then when night descends he lays aside those clothes and takes his rest, and then again on the following morning rises afresh to take up his work at the point where he left it—just so when the man comes into the physical life he puts upon him the vesture of the physical body, and when his work-time is over he lays aside that vesture again in what you call death, and passes into the more restful condition which I have described; and when that rest is over he puts upon himself once more the garment of the body, and goes forth yet again to begin a new day of physical life, taking up his evolution at the point where he left it. And this long life of his lasts until he attains that goal of divinity which God means him to attain.

Mọi sự sống đều đang thăng thượng tiến hóa, vì tiến hóa là định luật của Thượng đế; và con người lớn lên chậm rãi mà vững bền cùng với muôn loài. Cái thường được gọi là đời người thực ra chỉ là một ngày trong đời thật và dài hơn của y. Cũng như trong đời thường, mỗi buổi sáng con người thức dậy, khoác áo, bước ra làm công việc hằng ngày, rồi khi đêm xuống thì cởi áo ra nghỉ ngơi, và sáng hôm sau lại thức dậy để nối lại công việc ngay điểm vừa bỏ dở—thì cũng vậy, khi con người đến với đời sống hồng trần, y khoác lên mình tấm áo là thân xác, và khi thời gian lao tác kết thúc, y lại trút tấm áo ấy xuống trong điều mà bạn gọi là cái chết, và sang tình trạng an nghỉ hơn mà tôi đã mô tả; và khi kỳ nghỉ ấy chấm dứt, y khoác lên mình một lần nữa chiếc áo của thân xác, và lại bước ra khởi đầu một ngày mới của đời sống trần gian, tiếp tục tiến hóa của mình ở đúng điểm vừa bỏ dở. Và đời sống dài lâu ấy của y kéo dài cho đến khi y đạt đến đích của thần tính mà Thượng đế định cho y đạt tới.

One of the saddest cases of apparent loss is when a child passes away from this physical world and its parents are left to watch its empty place, to miss its loving prattle. What then happens to children in this strange new spiritual world? Of all those who enter it, they are perhaps the happiest and the most entirely and immediately at home. Remember that they do not lose the parents, the brothers, the sisters, the playmates whom they love; it is simply that they have them as companions during what we call the night instead of the day; so that they have no feeling of loss or separation.

Một trong những trường hợp mất mát bề ngoài buồn thảm nhất là khi một đứa trẻ rời thế giới hồng trần và cha mẹ nó còn ở lại nhìn chỗ trống của con, nhớ tiếng ríu rít yêu thương của con. Điều gì sẽ xảy ra cho trẻ thơ trong thế giới tinh thần mới lạ ấy? Trong tất cả những ai bước vào đó, có lẽ chúng là hạnh phúc nhất và là những người hoàn toàn, lập tức thấy như ở nhà nhiều nhất. Hãy nhớ rằng chúng chẳng hề mất cha mẹ, anh chị em, bạn chơi mà chúng yêu; chỉ là chúng có họ làm bạn vào điều mà chúng ta gọi là ban đêm thay vì ban ngày; vì vậy chúng không hề có cảm giác mất mát hay chia lìa.

During our day they are never left alone, for there as here, children gather together and play together—play in Elysian fields full of rare delights. We know how here a child enjoys “making believe”, pretending to be this character or that in history—playing the principal parts in all sorts of wonderful fairy stories or tales of adventure. In the finer matter of that higher world thoughts take to themselves visible form, and so the child who imagines himself a certain hero promptly takes on temporarily the actual appearance of that hero. If he wishes for an enchanted castle, his thought can build that enchanted castle. If he desires an army to command, at once that army is there. And so among the dead the hosts of children are always full of joy—indeed, often even riotously happy.

Trong ban ngày của chúng ta, chúng không bao giờ bị bỏ mặc một mình, vì ở đó cũng như ở đây, trẻ con tụ lại với nhau và chơi đùa cùng nhau—chơi trong những cánh đồng Elysium đầy ắp thú vui hiếm có. Chúng ta biết ở đây một đứa trẻ thích thú thế nào khi “giả bộ”, tưởng tượng mình là nhân vật này hay nhân vật kia trong lịch sử—đóng vai chính trong đủ loại truyện cổ tích hay chuyện phiêu lưu kỳ diệu. Trong chất liệu tinh tế của thế giới cao ấy, tư tưởng mang lấy hình dạng hữu hình, nên đứa trẻ hình dung mình là một anh hùng nào đấy sẽ lập tức tạm thời mang diện mạo thực sự của anh hùng ấy. Nếu nó muốn một tòa lâu đài huyền phép, tư tưởng của nó có thể dựng nên tòa lâu đài huyền phép đó. Nếu nó muốn một đạo quân để chỉ huy, lập tức đạo quân ấy hiện ra. Và như thế, giữa những người đã khuất, đoàn lũ trẻ thơ luôn luôn đầy ắp niềm vui—thậm chí thường là hân hoan rộn rã.

If you have been able to assimilate what I have already said, you will now understand that, however natural it may be for us to feel sorrow at the death of our relatives, that sorrow is an error and an evil, and we ought to overcome it. There is no need to sorrow for them, for they have passed into a far wider and happier life. If we sorrow for our own fancied separation from them, we are, in the first place, weeping over an illusion, for in truth they are not separated from us; and, secondly, we are acting selfishly, because we are thinking more of our own apparent loss than of their great and real gain. We must strive to be utterly unselfish, as indeed all love should be. We must think of them and not of ourselves—not of what we wish or we feel, but solely of what is best for them and most helpful to their progress.

Nếu bạn đã có thể tiêu hóa những điều tôi nói, giờ bạn sẽ hiểu rằng, cho dù tự nhiên đến đâu khi chúng ta cảm thấy sầu khổ trước cái chết của thân quyến, thì nỗi sầu ấy là một lầm lỗi và một điều ác, và chúng ta nên vượt thắng nó. Không cần buồn cho họ, vì họ đã bước vào một đời sống rộng lớn và hạnh phúc hơn nhiều. Nếu chúng ta sầu khổ vì tưởng mình chia lìa họ, thì trước hết, chúng ta đang khóc vì một ảo ảnh, bởi sự thật là họ không hề bị tách lìa khỏi chúng ta; và thứ đến, chúng ta đang hành xử ích kỷ, vì chúng ta nghĩ nhiều hơn về mất mát bề ngoài của mình hơn là lợi lạc lớn lao và thật sự của họ. Chúng ta phải nỗ lực hoàn toàn vô ngã, như lẽ ra mọi tình yêu đều phải vậy. Chúng ta phải nghĩ về họ chứ không nghĩ đến mình—không phải điều ta muốn hay ta cảm, mà chỉ điều gì tốt nhất cho họ và hữu ích nhất cho tiến bộ của họ.

If we mourn, if we yield to gloom and depression, we throw out from ourselves a heavy cloud which darkens the sky for them. Their very affection for us, their very sympathy for us, lay them open to this direful influence. We can use the power which that affection gives us to help them instead of hindering them, if we only will; but to do that requires courage and self-sacrifice. We must forget ourselves utterly in our earnest and loving desire to be of the greatest possible assistance to our dead. Every thought, every feeling of ours influences them; let us then take care that there shall be no thought which is not broad and helpful, ennobling and purifying.

Nếu chúng ta than khóc, nếu chúng ta buông mình cho u ám và phiền não, chúng ta phát ra từ chính mình một đám mây nặng trĩu che tối bầu trời của họ. Chính tình yêu họ dành cho ta, chính sự đồng cảm của họ đối với ta, mở họ ra trước ảnh hưởng khủng khiếp ấy. Chúng ta có thể dùng quyền năng mà tình yêu ấy ban cho để giúp họ thay vì cản trở họ, nếu chúng ta thật tâm muốn; nhưng để làm vậy cần có can đảm và sự hy sinh. Chúng ta phải quên mình hoàn toàn trong ước muốn khẩn thiết và đầy yêu thương để trở nên sự trợ lực lớn nhất có thể cho người đã khuất. Mọi tư tưởng, mọi cảm xúc của chúng ta đều ảnh hưởng đến họ; vậy hãy cẩn trọng để chẳng có một tư tưởng nào mà không quảng đại và hữu ích, không cao thượng và thanh lọc.

If it is probable that they may be feeling some anxiety about us, let us be persistently cheerful, that we may assure them that they have no need to feel trouble on our account. If, during physical life, they have been without detailed and accurate information as to the life after death, let us endeav­our at once to assimilate such information ourselves, and to pass it on in our nightly conversations with them. Since our thoughts and feelings are so readily mirrored in theirs, let us see to it that those thoughts and feelings are always elevating and encouraging. “If ye know these things, happy are ye if ye do them.”*

Nếu có khả năng rằng họ đang lo lắng về chúng ta, hãy bền bĩ vui tươi, để chúng ta có thể trấn an họ rằng chẳng cần phải bận lòng vì chúng ta. Nếu trong đời sống hồng trần, họ thiếu thông tin chi tiết và xác thực về đời sống sau khi chết, hãy nỗ lực ngay để chúng ta tự hấp thu những hiểu biết như thế, và truyền đạt chúng trong những cuộc đàm thoại ban đêm với họ. Vì tư tưởng và cảm xúc của chúng ta rất dễ phản chiếu trong họ, hãy đảm bảo rằng những tư tưởng và cảm xúc ấy luôn cao vời và khích lệ. “Nếu các ngươi biết những điều ấy, phúc cho các ngươi, miễn là các ngươi làm theo.”*

__________

__________

*St. John, xiii, 17.

* Thánh Gioan, xiii, 17.

Not only should we abstain from mourning; we should go further than that; we should earnestly try to develop within ourselves positive joyousness. It is the duty of every man to be happy, that he may radiate happiness on others; and most especial­ly is that true of those who have dear friends who have recently passed over into the higher life. The best anodyne for sorrow is active work for others; and that also is the surest way to peace and joy.

Chẳng những chúng ta nên kiêng than khóc; chúng ta còn nên tiến xa hơn; chúng ta nên cố gắng chân thành phát triển trong mình niềm hoan lạc tích cực. Bổn phận của mỗi người là hạnh phúc, để có thể tỏa chiếu hạnh phúc đến kẻ khác; và điều ấy càng đúng hơn với những ai có bạn thân mới đây vừa bước qua cõi sống cao hơn. Phương dược xoa dịu tốt nhất cho sầu khổ là công việc tích cực vì người khác; và đó cũng là con đường chắc chắn nhất dẫn đến bình an và hoan lạc.

That great truth we can impress upon these friends of ours, if they do not already know it; for the opportunities for helpful work are greater far in the astral world than in the physical. Among the vast hosts of those whom we call the dead there are many who are bewildered by their surroundings, many who through erroneous religious teaching on earth are in a state of painful uncertainty and even acute terror, many who are causing themselves unnecessary suffering by perpetuating earthly desires and passions in that higher life where there is no assuagement for them. What occupation can be nobler and happier than to help these poor souls from darkness to light, to relieve their sufferings, to explain these things that puzzle them, and to guide their feet into the way of peace?

Chân lý lớn lao ấy chúng ta có thể in sâu nơi những người bạn này, nếu họ chưa biết; vì cơ hội để làm việc ích lợi ở cõi cảm dục lớn lao hơn rất nhiều so với cõi hồng trần. Giữa đoàn lũ mênh mông những người mà chúng ta gọi là kẻ chết, có nhiều người hoang mang vì hoàn cảnh chung quanh, nhiều người do giáo huấn tôn giáo sai lạc ở trần gian mà rơi vào tình trạng bất định đau đớn, thậm chí kinh sợ tột độ, nhiều người tự gây cho mình nỗi khổ không cần thiết bằng cách kéo dài những dục vọng và đam mê trần tục trong đời sống cao hơn nơi không còn có gì để thỏa mãn chúng. Có công việc nào cao quý và hạnh phúc hơn việc giúp những linh hồn tội nghiệp ấy đi từ tối tăm đến ánh sáng, xoa dịu nỗi khổ của họ, giải thích những điều làm họ bối rối, và dẫn bước họ vào con đường bình an?

Into the splendid corps of Invisible Helpers who are ceaselessly engaged in this benevolent activity we can introduce our newly-arrived friends, thus assuring them of happy and useful work during the whole of their stay in this wonderful astral world which God has provided for the training and enjoyment of His people, even though it be but a stage on the way to that still higher realm whose glories eye hath not seen, neither hath it entered into the heart of man to conceive it.

Vào đoàn thể lừng lẫy gồm Những Người Trợ Giúp Vô Hình, những vị không ngừng dấn thân trong hoạt động nhân ái này, chúng ta có thể giới thiệu những người bạn vừa mới tới, nhờ đó bảo đảm cho họ một công việc hạnh phúc và hữu ích suốt cả thời gian lưu trú trong cõi cảm dục kỳ diệu này—cõi mà Thượng đế đã an bài cho việc rèn luyện và hưởng vui của dân Ngài, dẫu nó chỉ là một chặng trên đường đi tới cảnh giới cao hơn nữa—nơi vinh quang mắt chưa hề thấy, lòng người chưa hề nghĩ đến.

Try to comprehend the unity of all; there is one God, and all are one in Him. If we can but bring home to ourselves the unity of that Eternal Love, there will be no more sorrow for us; for we shall realize, not for ourselves alone, but also for those whom we love, that whether we live or die, we are the Lord’s, and that in Him we live and move and have our being, whether it be in this world or in the world to come. The attitude of mourning is a faithless attitude, an ignorant attitude. The more we know, the more fully we shall trust, for we shall feel with utter certainty that we and our dead alike are in the hands of perfect Power and perfect Wisdom, directed by perfect Love.

Hãy cố thấu hiểu sự hợp nhất của muôn loài; chỉ có một Thượng đế, và tất cả đều là một trong Ngài. Nếu chúng ta có thể khắc ghi vào lòng mình sự hợp nhất của Tình Thương Vĩnh Cửu ấy, sẽ không còn sầu khổ cho chúng ta nữa; vì chúng ta sẽ nhận ra, không chỉ cho chính mình, mà cả cho những người ta yêu, rằng dù sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa, và rằng trong Ngài chúng ta sống, cử động và hiện hữu, dù là ở thế giới này hay ở thế giới sẽ đến. Thái độ than khóc là một thái độ vô tín, một thái độ vô minh. Càng biết nhiều, chúng ta sẽ càng tin cậy trọn vẹn hơn, vì chúng ta sẽ cảm nhận với sự chắc chắn tuyệt đối rằng cả chúng ta lẫn người đã khuất đều ở trong tay Quyền Năng trọn hảo và Minh Triết trọn hảo, được điều hướng bởi Tình Thương trọn hảo.

__________

__________

All taint of grief and mourning we firmly lay aside,

Mọi vết dấu của ưu sầu và than khóc, ta vững vàng gạt sang bên,

Our seeming loss forgetting, since they are glorified.

Quên đi mất mát bề ngoài, vì họ đã được vinh hiển nên.

We know they stand before us and love us as of old;

Ta biết họ đứng trước mặt ta và yêu thương như thuở nào;

God grant we may not fail them, nor let our love grow cold!

Xin Thượng đế cho ta chớ phụ họ, chớ để tình yêu phai nhạt nào!

With heart and soul we trust Thee; Thy love no tongue can tell;

Bằng cả tâm hồn, ta tin cậy nơi Ngài; tình yêu Ngài không môi lưỡi nào kể xiết;

Thou art the All-Commander, Who doest all things well.

Ngài là Đấng Toàn Chỉ Huy, Đấng làm mọi sự đều tốt đẹp hoàn thiện.

__________

__________

Peace To All Beings

Bình an đến với muôn loài

Ode To The Living Dead

Khúc Tụng Ca Gửi Những Người Chết-Vẫn-Sống

Loved ones! though our waking vision

Những người thân yêu! dẫu nhãn quan khi thức tỉnh

Know your forms no more,

Chẳng còn thấy hình dung của các bạn nữa rồi,

Earth’s illusion shall not hold us;

Ảo ảnh cõi trần chẳng thể cầm tù chúng ta mãi;

Well we know your loves enfold us

Ta biết chắc tình yêu các bạn ôm ấp ta mãi mãi

Even as before.

Như thuở xa xôi.

Death? ‘Tis but a stepping forward —

Chết ư? Chỉ là một bước chân tiến tới—

No divorce at all;

Chẳng hề chia ly;

Swifter than of old the meeting,

Cuộc gặp gỡ mau hơn xưa gấp bội,

Warmer, heartier the greeting

Nồng ấm hơn, niềm chào đón phấn khởi

When you hear our call.

Khi các bạn nghe ta gọi tức thì.

And at night, when softest slumber

Và đêm về, khi giấc miên man êm ái

Seals these earthly eyes,

Khép lại đôi mắt hồng trần,

Lo, a new day dawneth brightly;

Kìa, một ngày mới bừng rạng rỡ;

From our fetters slipping lightly

Ta nhẹ nhàng tuột khỏi xiềng xích, bay tự do

To your world we rise;

Lên thế giới của các bạn—hân hoan.

There to work and there to wander

Nơi đó ta làm việc và rong ruổi

In the sweet old way —

Theo lối cũ ngọt lành—

Drink of upper springs and nether,

Uống nguồn suối trên cao và dưới thấp,

Learn what Love hath knit together

Học điều Tình Yêu đã kết dệt mầu nhiệm

Standeth fast for aye.

Đứng vững muôn vàn năm.

Praise and glory for this knowledge

Xin dâng ngợi khen và vinh hiển vì tri thức này

To the One in Three;

Cho Ba Ngôi uy linh;

For the sting from death is taken,

Vì nọc độc của chết đã bị lấy đi,

Nevermore are we forsaken

Từ nay chúng ta chẳng bao giờ bị bỏ rơi

Through eternity.

Qua cõi vĩnh sinh.

D. W. M. Burn

D. W. M. Burn