Trích nội dung chương
There are, of course, many other qualities and tendencies but I have enumerated those of the greatest usefulness to you. I would remind you that the fourth ray is, when a part of the personality force equipment, the expression of the will-to-love (either in the material sense or in the spiritual). It is, therefore, allied to the first ray, through its will emphasis. It should not be so difficult for you, consequently, to shift your soul emphasis into the “mind area” and from there control the physical body instead of controlling it (as is now the case) by a great effort of soul control from soul levels. This is a hint to the way of release…
Personality unity and synthesis.............. Group unity and synthesis.
Hợp nhất và tổng hợp phàm ngã; Hợp nhất và tổng hợp nhóm
Discord, interior and exterior................ Harmony within and without.
Bất hòa, bên trong và bên ngoài; Điều hòa bên trong và bên ngoài
Environal problems.............................. Environal peace.
Các vấn đề; Bình an
Imposition of the personal will — Expression of the will-to-love.
Áp đặt ý muốn cá nhân; Biểu lộ ý muốn thương yêu
[258]
[258]
There are, of course, many other qualities and tendencies but I have enumerated those of the greatest usefulness to you. I would remind you that the fourth ray is, when a part of the personality force equipment, the expression of the will-to-love (either in the material sense or in the spiritual). It is, therefore, allied to the first ray, through its will emphasis. It should not be so difficult for you, consequently, to shift your soul emphasis into the “mind area” and from there control the physical body instead of controlling it (as is now the case) by a great effort of soul control from soul levels. This is a hint to the way of release for you.
Lẽ tất nhiên còn có nhiều đặc tính và khuynh hướng khác nữa, nhưng tôi chỉ nêu ra những loại đặc tính hữu ích nhất đối với em. Tôi muốn nhắc nhở em rằng cung 4, khi nó là một thành phần của bộ máy phàm ngã, là sự biểu lộ ý muốn thương yêu (dù trên ý nghĩa vật chất hay tâm linh). Bởi vậy, nó liên kết với cung 1 qua sự nhấn mạnh ý chí của nó. Do đó, em sẽ không khó khăn để dời trọng điểm của linh hồn qua “lãnh vực trí năng” và từ đó kiểm soát thể xác thay vì kiểm soát nó bằng nỗ lực lớn của sự kiểm soát linh hồn từ những cấp độ linh hồn. Đó là một điểm gợi ý cho em về phương pháp giải tỏa các chướng ngại.
However, as you seek to bring about this emphasis, remember always, my brother of old, that it must be the will-to-love which is essential to you; it is to this end that I suggest the assigned meditation. I would suggest that you concentrate upon this fourth ray, with its keynote of the will-to-love, expressed in harmony whilst in the midst of conflict. In your next incarnation, you should function through a second ray personality but this will depend upon the success of your present effort and upon your ability to grasp the outlines of your task. You have, therefore, to transmute your sixth ray devotional and fanatical tendencies into spiritual love and strength; your one-pointedness must be based on an inclusive orientation. It has, hitherto, been based on sixth ray aspiration. In the future, it must be founded on intelligent conviction—a very different thing, my brother, and mental in nature.
Tuy nhiên, hãy luôn luôn nhớ rằng, huynh đệ xưa của tôi, khi em cố gắng thực hiện điều đó, điểm cốt yếu của vấn đề phải là ý chí-yêu thương. Chính vì mục đích đó mà tôi chỉ phép tham thiền công phu mới cho em. Em hãy tập trung vào cung 4 với đặc điểm của nó là ý chí-yêu thương biểu lộ trong sự điều hòa giữa sự tranh chấp xung đột. Trong kiếp tới đây em sẽ hoạt động qua một phàm ngã thuộc cung 2, nhưng điều này sẽ còn tùy nơi kết quả của sự cố gắng hiện tại và tùy nơi khả năng nắm vững đường lối phụng sự của em. Bởi vậy, em phải chuyển hướng những đặc tính cuồng nhiệt sùng tín của cung 6 trở thành tình bác ái và sức mạnh tâm linh; sự nhất tâm của em phải đặt nền tảng trên một định hướng bao gồm. Cho đến nay, sự chuyên tâm nhất trí của em vẫn căn cứ trên sự sùng tín của cung 6. Trong tương lai, nó phải căn cứ trên niềm tin thông minh—một điều khác hẳn, huynh đệ của tôi, và có bản chất trí tuệ.
I would ask you to make a careful study of all that you can find anent the fourth ray in A Treatise on the Seven Rays and make definite application to your own mental unfoldment and a practical interpretation of its desired effects in terms of your own life. You should ask yourself the following question: What will be the effect, in the personality life upon the physical [259] plane, of an established alignment between my first ray soul, my fourth ray mentality and my physical brain?
Tôi sẽ yêu cầu em nghiên cứu cẩn thận tất cả những gì em có thể tìm thấy liên quan đến cung 4 trong bộ sách Luận về Bảy Cung và áp dụng rõ rệt vào sự khai mở trí tuệ của em và giải thích thực tế về các hiệu ứng mong muốn của nó trong cuộc sống của em. Em nên tự hỏi mình câu hỏi sau: Điều gì sẽ có hiệu lực, trong cuộc sống phàm ngã trên cõi trần gian, về sự liên kết đã được thiết lập giữa linh hồn cung 1, thể trí cung 4 và bộ não vật lý của tôi?
I assign, therefore, the following meditation:
Do đó tôi cho em bài tham thiền sau đây:
1. Achieve alignment, conscious fusion and stability.
1. Đạt được sự chỉnh hợp, hợp nhất có ý thức và ổn định.
2. Then definitely and consciously shift your attention into the mental body....
2. Một cách xác định và có ý thức chuyển sự chú ý của em vào thể trí....
3. Next, consider the pairs of opposites with which your personality must deal in this life. Do this by the aid of your fourth ray mental body.
3. Kế đến, hãy xem xét các cặp đối lập mà phàm ngã của em phải giải quyết trong cuộc sống này. Làm điều này bằng sự trợ giúp của thể trí cung 4 của em.
4. Visualise these pairs of opposites as two high mountains, separated by a narrow pass between them; this is, for you, the symbol of “the narrow way.”
4. Hình dung những cặp đối lập này như hai ngọn núi cao, cách nhau bởi một lối đi đi hẹp giữa chúng; đối với em, đó là biểu tượng của "con đường hẹp".
5. See these mountains, standing on either hand, one in the shade and the other in the light. See the narrow way between as a golden pathway. Then picture yourself as “passing between.” As you do this remember that your soul is observing you, the personality, progressing on this Middle Way.
5. Thấy những ngọn núi này, đứng ở bên hai tay, một trong bóng râm và một trong ánh sáng. Thấy con đường hẹp giữa như một con đường vàng. Sau đó, hãy tưởng tượng em "đi qua giữa". Khi em làm điều này, hãy nhớ rằng linh hồn em đang quan sát em, phàm ngã, đang tiến trên Trung Đạo này.
6. Then take the following seed thoughts for careful reflection:
6. Sau đó lấy những ý tưởng hạt giống sau đây để suy nghĩ cẩn thận:
1st month—I stand in light, the One Who can observe.
Tháng đầu tiên—tôi đứng trong ánh sáng, Đấng có thể quan sát.
2nd month—The distant, wandering one, who is my little self, I call to me.
Tháng thứ hai—Người xa lạ, lang thang, vốn là bản ngã nhỏ bé của tôi, tôi gọi cho tôi.
3rd month—Between the Pillars of the Way, I pass. I leave these twain on either hand.
Tháng thứ 3—Giữa các Trụ Cột Của Con Đường, tôi vượt qua. Tôi rời cặp đôi ở cả hai bên tay.
4th month—The Middle Way leads to a bridge and on that bridge I stand.
Tháng 4— Con đường Trung đạo dẫn đến cây cầu và tôi đứng trên cây cầu.
5th month—And on that bridge I meet my Self.
Tháng thứ 5—Và trên cây cầu đó tôi gặp Cái Ngã của tôi.
6th month—And thus the two are one and harmony is now established.
Tháng thứ 6—Và thế hai là một và sự hài hòa đã được thiết lập.
February 1939
MY BROTHER:
MY BROTHER:
In my last communication to you, I dealt very thoroughly with the problem of your “manifestation within the planetary life” (as it is esoterically called) and discussed your ray equipment [260] at some length. You have, as sincerely and earnestly as you could, endeavoured to make the information of use in bringing about a better presentation of your soul’s objective through the medium of your daily life. This I have not failed to recognise. You have found, have you not, that one at least of the decisions to which I referred is already confronting you. The issue as yet remains undecided for the task of relinquishment is not easy. I would suggest to you that that which has to be relinquished may not be that upon which you are at this time laying the emphasis. I would remind you also that the Law of Sacrifice is ever followed by the Law of Re-Appropriation in the spiritual sense. Upon this fact I would ask you to ponder.
Trong lần liên lạc gần đây nhất với em, tôi đã đề cập rất kỹ lưỡng vấn đề "sự biểu hiện bên trong cuộc sống của hành tinh" (như nó được gọi một cách bí truyền) và thảo luận khá dài về cấu trúc cung [260] của em. Em đã có thể, với sự thành thật và nghiêm túc nhất có thể, cố gắng làm cho thông tin hữu dụng trong việc đưa ra một sự thể hiện tốt hơn về mục đích của linh hồn của em thông qua môi trường cuộc sống hàng ngày của em. Điều này không phải tôi đã không nhận ra. Em đã tìm thấy rằng ít nhất một trong những quyết định mà tôi đề cập đến đang đối mặt với em. Vấn đề vẫn chưa được quyết định vì công việc từ bỏ là không dễ dàng. Tôi muốn đề nghị với em rằng những gì phải từ bỏ em có thể không đặt trọng tâm ở thời điểm này. Tôi cũng nhắc nhở em rằng Định Luật Hy Sinh luôn theo sau bởi Định Luật Tái phân bổ theo ý nghĩa tinh thần. Về sự kiện này tôi muốn em suy ngẫm.
The world today is in such a distressing condition that the major need in every country is the appearance of “steadily shining points of light” which can illumine the way for others, dispel the gloom and produce right reaction, based upon a clear seeing of the issues involved. The smaller happenings of an individual’s life can aid him to gain facility in thus seeing and shining. In this task of dispelling the gloom, those of you who are working in my group of disciples can help set the way, aid in determining the pace and so swell the numbers—small as yet—of those who constitute the “lighted points.” To do this adequately requires a personal and group decentralisation which few of you as yet possess but for which you are struggling and must continue to struggle.
Thế giới ngày nay đang ở trong tình trạng đau buồn đến nỗi nhu cầu chủ yếu ở mỗi quốc gia là sự xuất hiện của "những điểm sáng chói ngời ổn định" có thể soi sáng đường cho người khác, xua tan sự ảm đạm và tạo ra phản ứng đúng đắn, dựa trên sự nhìn thấy rõ ràng về các vấn đề liên quan. Những diễn biến nhỏ hơn trong cuộc đời của một cá nhân có thể giúp y đạt được thuận lợi trong việc nhìn thấy như thế và tỏa sáng. Trong nhiệm vụ xua tan sự u ám này, những ai trong các em đang làm việc trong nhóm đệ tử của tôi có thể giúp thiết lập đường đi, trợ giúp việc xác định tốc độ, và do đó gia tăng con số—hiện vẫn còn nhỏ nhoi—những người tạo thành "các điểm sáng". Để làm được điều này một cách thỏa đáng, cần phải có sự phi tập trung cá nhân và tập thể mà vài người trong số các em vẫn còn sở hữu, và em đang phải vật lộn và phải tiếp tục đấu tranh với nó.
The cultivation of a divine indifference as to where you are and what you are doing would be of peculiar value to you and you would profit much if each night you meditated for five minutes upon your capacity to demonstrate this needed spiritual detachment.
Việc vun bồi tính thản nhiên thiêng liêng về vị trí của em và những gì em đang làm sẽ có giá trị đặc biệt đối với em, và em sẽ có nhiều lợi ích nếu mỗi đêm em suy gẫm trong năm phút về khả năng của em để chứng tỏ sự buông xả tinh thần cần thiết này.
I would ask you also to follow a very brief meditation so that there may come about a more easy fusion between your soul and personality, between these two ray energies—one of which conditions you in space and the other determines you in time. The problem is not an easy one, because your first ray energy—combining with and subduing your sixth ray forces—will produce a great stimulation unless you adhere closely to my instructions. The effect will be felt in your astral body. This [261] stimulation is not desirable and must be avoided by you at all costs. If, therefore, you find that the use of this meditation produces an increased expression of sixth ray force and that you are becoming increasingly potent astrally, increasingly “devoted” to what you are doing, increasingly critical and irritable and increasingly fanatical—then promptly discontinue its use. Work only in the heart centre when using this suggested form and be sure no thought shifts down to the solar plexus—that open door to the astral plane. Make a short, quick alignment with the soul. Know yourself to be, in truth, the One Whose nature is spiritual detachment and isolation (not separativeness or division), then pause and stabilise yourself in that consciousness. In the secret place within the heart, let the personal self meet the real Self face to face and let it there dedicate itself to the service of the soul with deep consecration, devoted love and fluidic intent. By fluidic, I mean the willingness to do what the soul requires, when registered and recognised by you as the next duty.
Tôi sẽ yêu cầu em thực hành bài tham thiền rất ngắn để có thể đạt sự hòa hợp dễ dàng hơn giữa linh hồn và phàm ngã của em, giữa hai năng lượng cung—một kiểm soát em trong không gian và một xác định em trong thời gian. Vấn đề không dễ dàng bởi vì năng lượng cung 1 của em—kết hợp với và làm giảm sức mạnh của cung 6— sẽ tạo ra sự kích thích lớn trừ khi em tuân thủ chặt chẽ các hướng dẫn của tôi. Ảnh hưởng sẽ được cảm nhận trong thể cảm xúc của em. Sự kích thích này không được mong muốn và em phải tránh bằng mọi giá. Vì vậy, nếu em thấy rằng việc sử dụng bài thiền này tạo ra sự biểu hiện của lực cung 6 và em ngày càng trở nên mạnh mẽ về mặt cảm xúc, ngày càng "tận hiến" cho những gì em đang làm, ngày càng trở nên phê phán và cáu kỉnh, ngày càng cuồng tín hơn—hãy ngưng sử dụng nó. Chỉ làm việc ở luân xa tim khi sử dụng hình thức gợi ý này, và chắc chắn rằng không có tư tưởng nào chuyển xuống tùng thái dương—cánh cửa mở vào cõi trung giới. Thực hiện một sự chỉnh hợp nhanh, ngắn với linh hồn. Thực tế, biết mình là Đấng mà bản chất là không bám chấp và sự cô lập tinh thần (không phải chia rẻ hay phân chia), sau đó tạm ngừng và ổn định trong ý thức đó. Ở nơi chốn bí mật trong trái tim, hãy để cho phàm ngã gặp Chân ngã, mặt đối mặt, và ở đó hãy để nó dâng hiến bản thân cho công việc phụng sự linh hồn với sự dâng hiến sâu sắc, tình thương sùng kính và ý định linh hoạt. Nói linh hoạt, tôi muốn nói đến sự sẵn lòng làm những gì linh hồn đòi hỏi, khi em ghi nhận và công nhận là nhiệm vụ trước mắt.
Let not the glamour of attainment of your service goals, brother of old, blind your eyes to the need for further and constant training. The disciple oft becomes absorbed in the work to be done to such an extent that he forgets that the outer life of service will become arid and full of personality unless it is paralleled by a growing sensitivity to the impulses of the soul. That soul is love and understanding. Cease not to work at the problem of true spiritual perception and be not so occupied with the task of service that you neglect the lessons which you yourself must learn. Live as you teach and keep your values clear. You have done good and faithful service and helped many. Take help yourself without unduly emphasising in your own consciousness your own need.
Đừng để ảo cảm của việc đạt được các mục tiêu phụng sự của em làm em mù lòa trước nhu cầu của sự huấn luyện liên tục và liên tục, hỡi huynh đệ xưa của tôi. Người đệ tử thường đắn chìm trong công việc phải làm đến mức y quên rằng cuộc sống bên ngoài của công cuộc phụng sự sẽ trở nên khó khăn và đầy rẫy phàm ngã trừ khi nó song hành với sự nhạy cảm ngày càng tăng lên với những động lực của linh hồn. Linh hồn đó là tình thương và sự hiểu biết. Đừng ngừng làm việc với vấn đề nhận thức tâm linh thực sự và không bị lôi cuốn bởi nhiệm vụ phụng sự mà bỏ qua những bài học mà chính bản thân em phải học. Hãy sống như em dạy và giữ giá trị của em rõ ràng. Em đã làm công việc phụng sự tốt lành và trung kiên và đã giúp đỡ rất nhiều người. Hãy tự giúp mình mà không bận tâm quá mức đến nhu cầu đó trong tâm thức của em.
NOTE: This disciple has never wavered and is earnestly endeavouring to work for the Tibetan and to tread the Path of Discipleship under His instruction.
LƯU Ý: Người đệ tử này không hề hoang mang, dời đổi và vẫn tích cực cố gắng làm việc với Chân Sư Tây Tạng trên đường Đạo của người đệ tử dưới sự chỉ dẫn của Ngài.
[262]
[262]
August 1940
MY BROTHER:
MY BROTHER:
There is a question concerning the future and your responsibility which is at this time much disturbing your mind. It intrudes powerfully at times into your consciousness. Up till now—after a period of inner wrestling and consequent decision—you have evaded the full facing of the implications and the effect which action may have upon the future. The service of a disciple is frequently affected by his inner worries and defensive suppressions. The free flow of inspiration is halted in the astral body and there stagnates (if I may use so inappropriate a word). He is conscious of the inspiration but is puzzled at the small effect it appears to have upon other people. He wonders constantly where the difficulty lies. Often it lies in an unsolved problem which serves to bewilder the subconscious nature, as the psychologists call it; it may lie in a half-realised inability to work out right relations with people, fretting and gnawing at the lower layers of unformulated thought; it may be found in a state of inner rebellion against life, against people, against the disciple’s own decisions, leading thus to a most definite orientation or focus of the entire personality.
Có một vấn đề liên quan đến tương lai và trách nhiệm của em tại thời điểm này đang làm bận rộn tâm trí em rất nhiều. Nhiều lúc nó xâm nhập mạnh mẽ vào tâm thức của em. Cho đến bây giờ—sau một thời gian đấu tranh bên trong và kết quả là sự quyết định—em đã tránh né đối mặt đầy đủ những vấn đề liên quan và ảnh hưởng của hành động đó đối với tương lai. Sự phụng sự của một đệ tử thường bị ảnh hưởng bởi những lo lắng bên trong của mình và những sự kềm chế tự vệ. Dòng chảy tự do của cảm hứng bị dừng lại trong thể cảm xúc và có tình trạng trì trệ (nếu tôi có thể sử dụng một từ không thích hợp như vậy). Y ý thức được nguồn cảm hứng nhưng cảm thấy bối rối trước những ảnh hưởng dường như nhỏ bé của nó đối với người khác. Y thường thắc mắc không biết khó khăn nằm ở đâu. Thường thì nó nằm ở một vấn đề chưa được giải quyết làm bối rối bản chất tiềm thức, như các nhà tâm lý học gọi; nó có thể nằm ở sự bất lực chỉ được nhận ra một nửa trong việc thực hiện những mối quan hệ đúng đắn với con người, phiền muộn và gặm nhấm ở những tầng thấp của tư tưởng chưa hình thành; nó có thể được tìm thấy trong một cuộc nổi loạn bên trong chống lại cuộc sống, chống lại con người, chống lại quyết định của chính mình, do đó dẫn đến một định hướng rõ ràng nhất hoặc sự tập trung của toàn bộ phàm ngã.
[545]
[545]
When the personality ray is the same as the ray of the astral body (as in your case) a most difficult situation is apt to arise, handicapping the service until such time as right inner adjustments are made. In a curious way, you are isolated from many people by the power and focus of your third ray physical body—a thing which you are the last to desire but which is due to the dominance of the first ray element in your nature, for it conditions your soul quality and that expresses itself through the third ray physical nature. Intense focus is, therefore, the continuous theme of your life expression for—as you know—you have the first ray and the sixth ray continuously interrelated in your nature.
Khi Cung phàm ngã giống như Cung của thể cảm xúc (như trong trường hợp của em), một tình huống khó khăn nhất dễ phát sinh, ngăn cản sự phụng sự cho tới khi có sự điều chỉnh đúng đắn. Một cách kỳ lạ, em bị cô lập với nhiều người bởi sức mạnh và sự tập trung của thể vật lý Cung 3 của em—cái mà em mong muốn sau cùng nhưng do sự thống trị của Cung 1 trong bản chất của em, vì nó kiểm soát phẩm chất linh hồn của em, và tự thể hiện thông qua bản chất vật lý Cung 3. Do đó, sự tập trung mạnh mẽ là chủ đề liên tục của cuộc đời em—như em biết—em có Cung 1 và Cung 6 liên tục tương quan trong bản chất của em.
The offsetting factor is your mind which is governed by the fourth ray. This influence too is frequently found in this seed group, for ten of the group members have the mind as the battle ground of conflict—a conflict which is thus planned in order to produce an eventual harmony. Disciples such as yourselves, therefore, will not find release from conflict through the control of desire, or through evasion or through inhibition. They will find it through the right use of the thought processes and through the mind itself, for it can throw upon the problem the light which shines through it. This will bring right solution and correct understanding. You do wrestle with your problem, my brother, for your sincere desire is to follow the path of spiritual development but you make the astral body your battle ground whereas the whole problem should be elevated to mental levels. Think this out and then carry forward right action in two directions: on the mental plane for guidance and down to the physical plane for demonstration.You will know to what problem or problems I refer. None of your group brothers will understand to what particular condition I now make allusion. It is a problem which you must handle in isolation and when handled, it will open for you a perfect floodgate of relationships and opportunities. Your aim should therefore be the intensification of the illumination of the mind so that the searchlight of the mind can be turned upon the fogs and difficulties of the astral body.
Yếu tố hóa giải là thể trí của em được điều chỉnh bởi Cung 4. Ảnh hưởng này cũng thường được tìm thấy trong nhóm hạt giống này, vì mười người trong số các thành viên của nhóm có thể trí là bãi chiến trường xung đột—một cuộc xung đột được lên kế hoạch để tạo ra sự hài hòa cuối cùng. Do đó, các đệ tử như các em sẽ không tìm được sự giải thoát khỏi cuộc xung đột thông qua sự kiểm soát ham muốn, hoặc thông qua việc trốn tránh hoặc ức chế. Họ sẽ tìm thấy nó thông qua việc sử dụng đúng đắn các quá trình tư tưởng và thông qua chính thể trí, vì nó có thể rọi ánh sáng chiếu qua nó lên vấn đề. Điều này sẽ mang lại giải pháp đúng đắn và sự hiểu biết chính xác. Em hãy đấu tranh với vấn đề của em, hỡi huynh đệ của tôi, vì sự ham muốn chân thành của em là đi theo con đường phát triển tinh thần nhưng em đã làm cho thể cảm xúc của mình trở thành bãi chiến trường của em, trong khi toàn bộ vấn đề nên được nâng lên đến mức trí tuệ. Hãy nghĩ đến điều này và sau đó tiến hành hành động đúng theo hai hướng: trên cõi trí để được hướng dẫn và xuống đến cõi vật lý để thể hiện. Em sẽ biết những vấn đề hoặc những vấn đề tôi mà tôi đề cập đến. Không có huynh đệ nào trong nhóm của em hiểu được tình trạng cụ thể mà tôi đang ám chỉ. Đó là một vấn đề mà em phải xử lý trong sự cô lập và khi được giải quyết, nó sẽ mở ra cho em một cửa ngõ hoàn hảo cho các mối quan hệ và cơ hội. Do đó, mục tiêu của em phải là việc tăng cường sự soi sáng của trí tuệ để ngọn đèn pha của thể trí có thể chiếu vào sương mù và những khó khăn của thể cảm xúc.
Of one thing we who are watching the disciples of the [546] world today are convinced, and that is that you are a sincere and intelligent devotee; intelligence and devotion go hand in hand in the accepted disciple, balancing each other and then producing a definite focus of power. For all of you this is an incarnation wherein the life focus becomes either irrevocably oriented toward the soul, as must be the case with newly accepted disciples, or powerfully expanded and inclusive as in the case of older disciples. In your case, the achievement of a definite focus is now essential. In the manifestation of souls in time and space, there come lives wherein—at times—a soul problem (as the personality embraces it) becomes a dominant theme and the whole incarnation (with definite points of intensive crisis) is given to the understanding of the problem and its solution. In the orientation of your life towards the soul, the keynote of renunciation is wisely clear but you need to see to it that even renunciation is not over-emphasised and that its conditioning power is not applied to that for which there is no call, because such renunciation would constitute an error.
Một điều mà chúng tôi đang quan sát các đệ tử của thế giới ngày nay bị thuyết phục, và đó là việc em là một người mộ đạo chân thành và thông minh; trí thông minh và lòng mộ đạo song hành cùng nhau trong người đệ tử thực thụ, cân bằng nhau và khi đó tạo ra một sự tập trung rõ rệt của năng lực. Đối với tất cả các em, đây là một kiếp sống trong đó sự tập trung của đời sống bắt đầu hướng đến linh hồn không lay chuyển, như trong trường hợp của các đệ tử thực thụ mới được chấp nhận, hoặc mở rộng mạnh mẽ và toàn diện như trong trường hợp các đệ tử thâm niên hơn. Trong trường hợp của em, việc đạt được một trọng tâm xác định bây giờ là rất cần thiết. Trong sự biểu hiện của linh hồn theo thời gian và không gian, có những kiếp sống trong đó—đôi khi—một vấn đề linh hồn (khi phàm ngã bao hàm nó) trở thành một chủ đề nổi bật và toàn bộ kiếp sống (với những điểm đặc biệt của cuộc khủng hoảng dữ dội) dành cho việc hiểu vấn đề và giải quyết. Trong định hướng cuộc sống của em hướng về linh hồn, chủ đề từ bỏ thật rõ ràng một cách sáng suốt, nhưng em cần phải nhận ra rằng ngay cả sự từ bỏ cũng không nên được nhấn mạnh quá mức và sức mạnh điều chỉnh của nó không được áp dụng cho cái mà không có yêu cầu, bởi vì sự từ bỏ như thế sẽ tạo ra một lỗi lầm.
I am giving you, therefore, a personal meditation. I too must have this in mind, reminding you that renunciation itself can be a glamour and a sixth ray idealist is prone to over-express. I shall not give you what you would call a real meditation. That which will aid you the most at this time is a visualisation exercise on Light.
Do đó tôi sẽ cho em một bài tham thiền cá nhân. Tôi cũng phải ghi nhớ điều này, nhắc nhở em rằng chính sự từ bỏ đó cũng có thể là một ảo cảm và một người lý tưởng Cung 6 có xu hướng thể hiện quá mức. Tôi sẽ không cho em cái mà em gọi là một bài tham thiền thực sự. Điều sẽ giúp em nhiều nhất vào thời điểm này là một bài tập hình dung về Ánh Sáng.
1. Sit quietly and relax. Deal not with problems but during the period of this exercise endeavour simply to be a point of focussed vision, with the eye of the mind directed towards the soul.
1. Ngồi yên tĩnh và thư giãn. Không đề cập đến các vấn đề, nhưng trong giai đoạn này của bài tập, chỉ đơn giản nỗ lực để là một điểm của tầm nhìn tập trung, với con mắt của tâm trí hướng về linh hồn.
2. When your focus seems adequate then see (by the power of the creative imagination) a distant peak or pyramid and on its summit there shines a clear pure light of great intensity.
2. Khi sự tập trung của em dường như tương xứng rồi, khi đó thấy (bằng sức mạnh của trí tưởng tượng sáng tạo) một đỉnh núi hoặc một kim tự tháp đằng xa, trên đỉnh tỏa ra một ánh sáng tinh khiết rõ ràng với cường độ cao.
3. With that light you seek to identify yourself, to merge within and thus to avail yourself of its illumination in order that in it the lesser light may shine. You say, after some minutes of careful identification:
3. Em tìm cách đồng hóa bản thân với ánh sáng đó, hợp nhất vào bên trong, và nhờ đó tận dụng ánh sáng của nó để ánh sáng nhỏ hơn có thể tỏa sáng. Hãy nói, sau vài phút đồng hóa cẩn thận:
[547]
[547]
“Dim light am I and yet the pure light shines. Not distant is that light but daily, hourly drawing nearer.
"Tôi là ánh sáng mờ nhạt, thế nhưng ánh sáng tinh khiết sáng tỏa. Ánh sáng đó không xa, mà hàng ngày, hàng giờ càng gần hơn.
The light that is my little self must disappear within the greater Light.
Bản ngã nhỏ bé của tôi là ánh sáng nhỏ phải biến mất vào trong Ánh Sáng lớn hơn.
So with that Light, that all-pervading, all-consuming Light, I blend and merge.
Vì vậy với Ánh Sáng đó, cái Ánh sáng tràn ngập, bao trùm khắp nơi, tôi hoà vào và hợp nhất.
I can no longer see the two—the greater Self, the little self, the pilgrim and the way, for only one is seen—the greater lighted Whole.”
Tôi không còn có thể nhìn thấy hai cái—Đại Ngã (Greater Self) và Tiểu Ngã (Little Self), người hành hương và con đường, vì chỉ có một được nhìn thấy—Cái Toàn Thể được chiếu sáng vĩ đại hơn".
4. Picture the fusion of the light of the personality and the light of the Soul and see that light focussed in the personality upon the astral plane.
4. Hình dung sự kết hợp ánh sáng của phàm ngã và ánh sáng của Linh hồn và thấy rằng ánh sáng đó tập trung vào phàm ngã trên cõi trung giới.
5. Then produce stabilisation of the light appropriated by the sounding of the OM.
5. Sau đó tạo ra sự ổn định của ánh sáng bằng cách xướng Linh Tự OM.
Seek not to use the light directly for the clarification of problems, teaching or ideas. That will take place automatically once the light is focussed; it must inevitably bring release and knowledge. Seek simply to visualise the process, knowing that “as a man thinketh so is he.” Then forget about the acquiring of the light and endeavour to manifest that which exists as the result of your own effort. Light is within you. Seek not for immediate instantaneous solution of your problems. Look not, my brother, for results. Remember ever that as you continue faithfully with the indicated exercise, the results are sure or I would not waste your time or mine in giving you this work to do. Regularly and without anxiety do as you are told. The results will in due time manifest.
Đừng tìm cách sử dụng ánh sáng trực tiếp để làm rõ các vấn đề, cho giảng dạy hoặc cho các ý tưởng. Điều đó sẽ diễn ra một cách tự động khi ánh sáng được tập trung; nó chắc chắn sẽ mang lại sự giải thoát và sự hiểu biết. Chỉ đơn giản hình dung quá trình, và biết rằng "khi một người nghĩ như thế nào thì y sẽ trở thành như thế đó." Sau đó, quên đi sự thu nhận ánh sáng và cố gắng để hiển thị những gì tồn tại như là kết quả của nỗ lực của riêng em. Ánh sáng nằm trong em. Cũng đừng tìm cách giải quyết ngay lập tức vấn đề trước mắt của em. Huynh đệ của tôi, cũng đừng trông chờ kết quả. Hãy nhớ rằng khi em tiếp tục kiên trì với các bài tập được chỉ định, kết quả chắc chắn sẽ có, nếu không tôi đã không lãng phí thời gian của em hoặc của tôi để yêu cầu em làm việc này. Làm đều đặn và không lo lắng, như em đã được dạy. Kết quả sẽ được hiển thị đúng lúc.
August 1942
1. As the hours of service pass around the clock of time look for the sounding of the hour. What hour is that?
1. Khi những giờ của việc phụng sự đi qua đồng hồ thời gian, hãy tìm kiếm âm thanh của giờ. Đó là giờ nào?
2. As the minutes tick away the passing hour, watch for the minute when My voice is heard. When will that be?
2. Khi những phút trôi qua trên giờ, hãy nhìn xem cái phút khi tiếng nói của Tôi được nghe. Lúc đó khi nào?
3. As the seconds note the passing of the minute hand upon the clock of time, expect the second when My face appears. Why has it not appeared? [548]
3. Như những giây ghi nhận việc đi qua kim phút trên đồng hồ thời gian, hãy mong đợi cái giây khi khuôn mặt của Tôi xuất hiện. Tại sao nó không xuất hiện? [548]
4. When you think freedom lies within your grasp and when you think that you have done the utmost that you can, Beware! Obedience lies ahead, with freedom in its hand.
4. Khi em nghĩ rằng tự do nằm trong sự nắm bắt của em và khi em nghĩ rằng em đã làm hết sức mình có thể, Hãy coi chừng! Sự vâng lời nằm ở phía trước, với sự tự do trong tay của nó.
5. Within the Ashram you must work. Cycles of speech transmute themselves into periods of silence. Yet both must play their part.
5. Trong Ashram em phải làm việc. Chu trình diễn thuyết chuyển hóa thành những khoảng thời gian im lặng. Tuy nhiên, cả hai phải đóng vai trò của chúng.
6. You are passing on the Lighted Way, my brother. You have placed your hand in mine. I hold it firm.
6. Em đang đi qua con đường được Soi Ánh, huynh đệ của tôi. Em đã đặt bàn tay của em trong tôi. Tôi giữ nó vững chắc.
September 1943
MY BROTHER:
Huynh đệ của tôi,
You may have noted that there is a slight difference in the type of instructions which I am now giving to this group of disciples in my Ashram, of whom you are one. It is not that each of them is not definitely personal in their application or that they do not carry a meaning of very real import to the disciple for whom they are intended; this they do and should. It is now, however, my intention to convey certain principles and certain aspects of truth which have more of a group implication than a personal one. The previous two cycles of teaching to which you have all submitted yourselves were primarily concerned with the training of the threefold personality and with an effort to bring it into a closer relation with the soul, and therefore with the Ashram. This was peculiarly so in the work of the Groups of Nine, and in the first cycle of the New Seed Group work this was continued, though in a lessened degree and with a specific emphasis laid upon the required training for initiation. It was not so much the training of the personality which was under consideration. All this is a part of a definite plan, and the teaching which I intend now to give will have a clear group import, even though adapted to the disciple’s personality and to the particular individual to whom the instruction is given. In spite of the individual usefulness, it will profit each member of the group also to read and study and apply the teaching from the group angle.
Có thể em đã lưu ý thấy có một sự khác biệt nhỏ trong các huấn thị mà hiện nay tôi đang đưa ra cho nhóm đệ tử này trong Ashram của tôi, trong đó em là một. Nó không phải rằng mỗi huấn thị không hoàn toàn có tính chất cá nhân trong áp dụng của chúng, hoặc chúng không mang ý nghĩa thực sự quan trọng cho người đệ tử mà chúng được dự định viết; điều này chúng có làm và nên như vậy. Tuy nhiên, bây giờ tôi muốn truyền đạt một số nguyên tắc nhất định và một số khía cạnh của chân lý có ý nghĩa nhóm nhiều hơn là ý nghĩa cá nhân. Hai chu kỳ giảng dạy trước mà tất cả các em đã trải qua chủ yếu liên quan đến việc huấn luyện phàm ngã tam phân với một nỗ lực để đưa nó vào một mối quan hệ gần gũi với linh hồn, và do đó với Ashram. Điều này đặc biệt đúng như thế trong công việc của các Nhóm Chín người, và trong chu kỳ đầu tiên của Nhóm Hạt Giống Mới, điều này vẫn được tiếp tục, mặc dù ở một mức độ thấp hơn và với sự nhấn mạnh đặc biệt vào việc huấn luyện cần thiết cho điểm đạo. Nó không tập trung quá nhiều vào đào tạo phàm ngã đang được xem xét. Tất cả những điều này là một phần của một kế hoạch nhất định, và giáo huấn mà tôi dự định đưa ra sẽ có một tầm quan trọng nhóm rõ ràng, mặc dù thích nghi với phàm ngã của người đệ tử và cho cá nhân cụ thể mà huấn thị được đưa ra. Mặc dù hữu ích cho cá nhân, nó sẽ mang lợi ích cho mỗi thành viên của nhóm để đọc, nghiên cứu và áp dụng giáo lý từ góc độ của nhóm.
There are, of course, three basic principles governing all work in an Ashram. I refer not here to occult principles of [549] life, but to governing principles in training. These three are: Occult Obedience. Group Integration. Right of Access. Let us consider each of them for a minute with a view to group instruction, but with an individual application which will be purely your own.
Tất nhiên, có ba nguyên tắc cơ bản chi phối tất cả các công việc trong một Ashram. Tôi không đề cập đến các nguyên tắc huyền bí của đời sống, mà tới các nguyên tắc chi phối trong việc huấn luyện. Ba nguyên tắc này là: Sự Vâng Lời Huyền môn (Occult Obedience). Tích hợp Nhóm. Quyền Truy cập (Right of Access). Chúng ta hãy xem xét mỗi điều này một chút với quan điểm huấn thị nhóm, nhưng áp dụng cho cá nhân vốn hoàn toàn của riêng em.
Occult Obedience. In the six statements given to you in the preceding instruction I used the words, “Obedience lies ahead with freedom in its hand.” Upon these words I presume that you have pondered. The disciple so often gives obedience within limits. His personal sense of liberty (due largely to a rapidly developing mental grasp of life and living) prompts him to concede certain forms of obedience to the Master Who has him in training, but to refrain from a complete surrender through fear of losing his sense of free action, free thought and free choice of relationships. The older the disciple, the less is this the case, for the life of the Ashram and an increasing steady contact with the Master demonstrate to him the complete and utter freedom which governs the entire circle of ashramic life—both within the Ashram and within the field of its interior and exterior service. But the development of this discreet appreciation takes time, and the neophyte is always on guard against any intrusion into his organised field of determined self-government. Let me illustrate in a manner which I believe will convey to you a much needed suggestion.
Sự Vâng Lời Huyền Môn. Trong sáu phát biểu dành cho em trong hướng dẫn trước tôi đã sử dụng các từ sau, "Sự vâng lời nằm ở phía trước với sự tự do trong tay của nó." Tôi đoán rằng em đã suy ngẫm về những lời này. Người đệ tử thường vâng lời trong các giới hạn. Ý thức cá nhân của y về tự do (phần lớn là do sự phát triển trí năng nhanh chóng về cuộc sống và việc sống) nhắc nhở y thừa nhận một số hình thức vâng lời đối với vị Chân sư đang huấn luyện y, nhưng từ chối sự vâng lời hoàn toàn vì sợ mất ý thức hành động tự do của mình, tư duy tự do và tự do lựa chọn các mối quan hệ. Người đệ tử càng già dặn, thì trường hợp này càng ít, vì đời sống của Aramram và mối liên hệ vững chắc với Sư Phụ chứng minh cho y sự tự do hoàn toàn và tuyệt đối chi phối toàn bộ vòng tròn của đời sống Ashram—cả bên trong Ashram lẫn bên trong lĩnh vực phụng sự bên trong và bên ngoài. Nhưng sự phát triển của sự nhận thức thận trọng này cần có thời gian, và người đệ tử mới luôn cảnh giác trước bất cứ sự xâm nhập vào lĩnh vực được tổ chức của y về tự trị được quyết định. Hãy để tôi minh họa theo cách mà tôi tin sẽ truyền tải cho em một gợi ý rất cần thiết.
The beginner and newcomer in the Ashram, new in his service (from the angle of his present life experience if not from the angle of the soul), new in his registering of a sense of power which relation to the Ashram always conveys, and new in his joyous reaction to the recognition given him by those to whom he seeks to give help, speaks increasingly of “my work, my group, my teaching, my people, my plans,” and in so doing stabilises himself in his chosen field of service. This is a temporary phase, oft unrecognised by the disciple, though annoying to those who hear. As he proceeds in the spiritual life and intensifies his understanding of the Master, as he enters more deeply into the life of the Ashram and into the aura of his Master, and as his vision grows—revealing possibilities of service and the limitations of his equipment, plus a [550] divine indifference—he drops the possessiveness of his approach to service and regards all that he does as his response to the life of the Ashram, as his contribution to the work of the Ashram, and thus eventually comes to the point where he himself fades out of his own picture and from the centre of his work, and only the need to be met and the power of the Ashram to meet that need remain.
Người sơ cơ và người mới gia nhập vào Ashram, mới trong việc phụng sự của y (từ góc độ kinh nghiệm cuộc sống hiện tại chứ không phải từ góc độ của linh hồn), mới trong việc ghi nhận một cảm giác quyền lực liên quan đến Ashram luôn luôn truyền tải, và mới trong phản ứng hoan hỷ của y đối với sự công nhận của y đối với những người mà y tìm kiếm để giúp đỡ, nói nhiều hơn về "công việc của tôi, nhóm của tôi, giáo huấn của tôi, dân tộc tôi, kế hoạch của tôi" và khi làm như vậy y ổn định trong lĩnh vực mà y chọn phụng sự. Đây là giai đoạn tạm thời, không được người đệ tử nhận ra, dù gây phiền nhiễu cho những người nghe. Khi y tiến triển trong đời sống tinh thần và tăng cường sự hiểu biết của mình về Sư Phụ, khi y đi sâu vào đời sống của Ashram và vào hào quang của Sư Phụ, và khi tầm nhìn của y phát triển—tiết lộ những khả năng của phụng sự và những hạn chế của thiết bị của y, cộng với sự thản nhiên thiêng liêng [550]—y buông bỏ tính chiếm hữu của sự tiếp cận phụng sự của mình, và coi tất cả những gì y làm như phản ứng của y đối với đời sống của Ashram, như sự đóng góp của y đối với công việc của Ashram, và do đó cuối cùng đến điểm mà chính bản thân y biến mất khỏi hình ảnh của chính y và từ trung tâm công việc của y, và chỉ là nhu cầu cần được đáp ứng và sức mạnh của Ashram đáp ứng nhu cầu đó.
This marks a definite step forward, and it is this attitude of selflessness and this capacity to be a channel for the power, the love, the knowledge and the life of the Ashram which constitute in the last analysis what is meant by occult obedience.
Điều này đánh dấu một bước tiến rõ ràng, và chính thái độ vô ngã và khả năng để trở thành một kênh dẫn truyền cho quyền lực, tình thương, kiến thức và đời sống của Ashram, vốn cấu thành, trong phân tích cuối cùng, những gì được hàm ý trong sự vâng lời huyền môn.
You, my brother, are now at a point where you need to fade more definitely out of your own picture of yourself as a worker. The first indication of this deepened approach to service will appear in your speech when in company of your group brothers and of other workers in the field of general human service. I stated in the last instruction to you that “cycles of speech transmute themselves into periods of silence.” What does this mean? Something very simple, my beloved chela. Your service in the world and in your chosen and useful field could at present be characterised by the term “cycles of speech,” could it not? Yet within the Ashram, if those cycles of speech are to be eloquent of truth, the quality which will distinguish you will be the balancing “periods of silence”; in order to acquire this quality of silence (ashramic silence) you will have to learn to practice silence within the ranks of your brothers and co-workers.
Huynh đệ của tôi, bây giờ em đang ở một vị trí mà em cần phải phai mờ đi hơn một cách rõ rệt ra khỏi hình ảnh của chính em về bản thân như là một người làm việc. Dấu hiệu đầu tiên của cách tiếp cận sâu sắc hơn đối với việc phụng sự này sẽ xuất hiện trong phát biểu của em khi em làm việc trong nhóm huynh đệ của em và các người phụng sự khác trong lĩnh vực phụng sự nói chung của con người. Tôi đã nói trong hướng dẫn cuối cùng cho em rằng "chu kỳ của lời nói chuyển hóa thành những giai đoạn im lặng." Điều này có ý nghĩa gì? Một điều gì đó rất đơn giản, người đệ tử yêu quý của tôi. Công việc phụng sự của em trên thế gian và trong lĩnh vực được lựa chọn và hữu ích của em có thể được mô tả bằng thuật ngữ "chu kỳ phát biểu", phải không? Tuy nhiên, trong Ashram, nếu những chu kỳ phát biểu đó là hùng biện về chân lý, phẩm chất sẽ phân biệt em sẽ là "những khoảng khắc im lặng" cân bằng; để có được phẩm chất của sự im lặng này (im lặng đạo viện), em sẽ phải học cách thực hành sự im lặng trong hàng ngũ các huynh đệ và đồng nghiệp của em.
Speaking symbolically, and without enlarging upon the significances, it might be stated that an Ashram has three circles (I refer not here to grades or ranks):
Nói một cách biểu tượng và không mở rộng ý nghĩa, có thể nói rằng một Ashram có ba vòng tròn (ở đây tôi không đề cập các cấp bậc):
a. The circle of those who talk and who stand close to the outer door. Their voices may not penetrate too far and thus disturb the Ashram.
a. Vòng tròn của những người nói chuyện và những người đứng gần cánh cửa ngoài. Tiếng nói của họ có thể không thâm nhập quá xa và do đó làm phiền Ashram.
b. The circle of those who know the law of silence, but find it hard. They stand within the central part and utter not a word. They know not yet the silence of the Ashram. [551]
b. Vòng tròn của những người biết luật của sự im lặng, nhưng thấy điều đó khó. Họ đứng trong phần trung tâm và không nói gì. Họ chưa biết sự im lặng của Ashram. [551]
c. The circle of those who live within the secret quiet place. They use not words and yet their sound goes forth and when they speak—and speak they do—men listen.
c. Vòng tròn của những người sống trong nơi yên tĩnh bí mật. Họ không sử dụng lời nói, thế nhưng âm thanh của họ vang vọng, và khi họ nói—và họ có nói—con người lắng nghe.
This triple presentation of the balancing potencies of speech and of silence are the comprehended effects of occult obedience—in itself a voluntary response to the power of the life of the Ashram, and to the mind and the love of the Master of the Ashram. It is upon these potencies I would have you reflect during the coming interlude between this instruction and the next. Make the results of your reflection practical, and thus learn to know when to speak and when to be silent, remembering that the elimination of possessiveness and of self-reference will reduce speech to its spiritual essentials.
Sự thể hiện tam phân này về những năng lực cân bằng của lời nói và sự im lặng là những ảnh hưởng hiểu được của sự vâng lời huyền bí—tự nó là phản ứng tự nguyện đối với sức mạnh của cuộc sống của Ashram, và đối với tâm trí và tình yêu của Chân sư của Ashram. Tôi muốn em suy ngẫm về những sức mạnh này trong khoảng thời gian trung chuyển giữa hướng dẫn này và hướng dẫn tiếp theo. Hãy làm cho kết quả của sự suy ngẫm của em trở nên thực tiễn, và do đó học cách biết khi nào nói và khi nào im lặng, hãy nhớ rằng việc loại bỏ sở hữu và tự tham chiếu sẽ rút lời nói thành các yếu tố thiết yếu tinh thần.
Your next incarnation holds for you a peculiar form of service, for which this life has been preparatory. It is related to speech, to words, to the voice, and to the creative power of sound; for the remainder of this life, the theme of much of your thinking should be concerned with the occult meaning of silence, of voiceless interludes and of the “spiritual retention of sound.” This may, and probably will, manifest itself in an increase of voiced teaching of those you seek to help, but its quality will be different.
Kiếp sống tiếp theo của em sẽ cho em một hình thức phụng sự đặc biệt mà kiếp sống này đã chuẩn bị. Nó liên quan đến lời nói, ngôn từ, tiếng nói, và sức mạnh sáng tạo của âm thanh; trong phần còn lại của cuộc đời này, chủ đề suy nghĩ của em nên liên quan nhiều đến ý nghĩa huyền bí của sự im lặng, của những khoảnh trung gian không nói và của việc "giữ lại âm thanh một cách tinh thần." Điều này, và có lẽ sẽ, tự biểu hiện trong việc gia tăng giảng dạy bằng lời nói những người mà em mong muốn giúp đỡ, nhưng tính chất của nó sẽ khác đi.
The teaching of the ones you seek to help will blot out the picture of yourself, the teacher, and obliterate it from your mind. This will happen automatically and not by planned intent. Some years ago I could not have told you this; you would not have accepted it. Today you will and will profit thereby. Some years ago you would have wasted time and strength in inner worry, in self-condemnation or in refutation. Today you know better the meaning of occult obedience and the acceptance of the statement and expressed wish of your Master—and this because you know me better and trust me more.
Việc giảng dạy cho những người mà em tìm cách giúp đỡ sẽ xóa đi hình ảnh của chính em, vị huấn sư, và xoá nó khỏi tâm trí của em. Điều này sẽ xảy ra tự động và không phải do ý định được hoạch định. Cách đây vài năm, tôi không thể nói với em điều này; em sẽ không chấp nhận nó. Hôm nay em sẽ chấp nhận và sẽ có lợi từ điều đó. Cách đây vài năm, em đã lãng phí thời gian và sức mạnh trong sự lo lắng bên trong, tự kết án hoặc bác bỏ. Hôm nay em biết rõ hơn về ý nghĩa của sự vâng lời huyền bí và chấp nhận lời tuyên bố và ước muốn được diễn đạt của Sư Phụ em—và điều này xảy ra bởi vì em biết tôi tốt hơn và tin tưởng tôi nhiều hơn.
Let me give you a visualisation exercise to be followed by you each Sunday morning, every Friday morning, and for the five days which come at the time of the Full Moon each month. In company of your group brothers, you have for [552] years visualised me standing by an open window, and you have thus sought contact with me. This trained facility forms the basis of the following suggested exercise, the procedure of which is as follows:
Tôi sẽ cho em một bài tập hình dung để thực hành vào mỗi sáng chủ nhật, mỗi sáng thứ Sáu và trong năm ngày vào mỗi thời điểm Trăng Tròn mỗi tháng. Trong nhóm huynh đệ của em, em đã [552] nhiều năm hình dung thấy tôi đang đứng bên cửa sổ mở, và em đã tìm cách tiếp xúc với tôi. Cơ sở đào tạo này là nền tảng cho bài tập được gợi ý sau đây, trình tự của nó như sau:
1. Picture to yourself a wood of pine trees, a purling brook, a winding, mounting path, and at the end a low built bungalow of undressed wood, in which I live. With you are walking your group brothers, and all of you are talking on the way.
1. Hãy hình dung một khu rừng thông, một dòng suối róc rách, một con đường dốc lên uốn lượn, và cuối cùng là một cái nhà gỗ thấp, nơi mà tôi đang sống. Các huynh đệ của em đang đi bộ cùng em, và tất cả các em đang nói chuyện trên đường.
2. You stand before the door, the outer door, and pass inside and hear a voice which says, “You stand within the circle of those who talk and, talking, cannot hear the Master’s voice.” Stand there. Listen. Reflect and cease from speech.
2. Em đứng trước cánh cửa, cánh cửa bên ngoài, đi qua vào bên trong và nghe một tiếng nói, "Em đứng trong vòng những người nói chuyện, và đang nói, không thể nghe tiếng của Sư Phụ." Đứng ở đó. Nghe. Suy nghĩ và ngừng nói.
3. Picture a curtain, hanging across the space near to the place where you stand. Imagine yourself achieving, with effort, that complete silence which will enable you to hear a voice which says, “Move forward into the circle of those who know the Law of Silence. You now can hear my voice.” Then imagine yourself obeying the summons and passing beyond the partitioning curtain into the central room within my place of retreat. There sit in quietude and contemplative reflection, and listen.
3. Hình dung một bức màn, treo ngang không gian gần nơi em đứng. Hãy tưởng tượng em đạt được, với nỗ lực, sự im lặng hoàn toàn cho phép em nghe một giọng nói vang lên "Hãy tiến lên phía trước vào vòng tròn của những người biết Luật Yên lặng. Bây giờ em có thể nghe thấy tiếng của tôi." Sau đó hãy tưởng tượng em tuân theo lệnh triệu tập và vượt qua bức màn phân chia vào phòng trung tâm nơi tôi ẩn dật. Ở đó, em ngồi trong sự suy nghĩ tĩnh lặng và chiêm nghiệm, lắng nghe.
4. Then across the silence and breaking into the current of your quiet thought will come a voice, inviting you to enter the circle of those who live within the secret quiet place.
4. Sau đó một tiếng nói vang lên xuyên qua sự im lặng và phá vỡ vào dòng suy nghĩ yên tĩnh của em, mời em vào vòng tròn của những người sống trong nơi yên tĩnh bí mật.
You will note, my brother, how I emphasise for you the need to listen. That must be the keynote of your inner life for the remainder of this incarnation. When you can thus listen, the two other principles to which I earlier referred as governing the life of the Ashram—Group Integration and Right of Access—will take on new and vital meanings to you. Within the circle of those who talk there is no group integration. Right of access comes to those who know the Law of Silence.
Em sẽ lưu ý, huynh đệ của tôi, tôi nhấn mạnh cho em sự cần thiết phải lắng nghe như thế nào. Đó phải là điểm mấu chốt của cuộc sống bên trong của em cho phần còn lại của kiếp sống này. Khi em có thể lắng nghe, hai nguyên tắc khác mà tôi đã đề cập trước đây như là điều khiển đời sống của Đạo Viện—Hội nhập Ashram và Quyền Truy cập—sẽ mang những ý nghĩa mới và quan trọng đối với em. Bên trong vòng tròn của những người nói chuyện không có sự hội nhập nhóm. Quyền tiếp cận chỉ đến với những người biết Luật Tĩnh lặng.
[553]
[553]
This exercise will deepen your life, increase your capacity to serve, make pregnant every word you speak to those you teach, and bring you to a point of group usefulness next life. Then you will carry out certain work that you and I together have already planned.
Bài tập này sẽ làm sâu sắc thêm cuộc sống của em, nâng cao khả năng của em để phụng sự, làm phong phú mọi từ em nói với những người em dạy, và đưa em đến một điểm hữu ích cho nhóm trong kiếp sống tiếp theo. Khi đó, em sẽ thực hiện một số công việc mà em và tôi đã cùng nhau đã lên kế hoạch.
November 1944
MY BROTHER:
MY BROTHER:
If you will reread the instructions which I gave you last year, I think you will realise that there is little that I need add to them. I gave you an instruction which through its directive injunction covered the remainder of your life events—as I foresaw them.
Nếu em đọc lại những huấn thị mà tôi đã ban cho em năm ngoái, tôi nghĩ em sẽ nhận ra rằng sẽ có rất ít điều mà tôi cần thêm vào. Tôi đã cho em một chỉ dẫn mà thông qua huấn lệnh chỉ thị của nó bao gồm những sự kiện cho phần còn lại của cuộc đời em—như tôi đã nhìn thấy trước.
You have lived for years at the high point of tension. Fire has been the quality of your life. This fire was at first destructive, but in later years it has been warming and nurturing. I think you know that sound and fire are closely allied. I think you know also that disciples are gathered by the Masters into Their Ashrams when their sound has gone forth and when the fire that is in them has successfully burned away the intervening barriers between the soul and the personality. Then their sound can safely be added to the sound of the Ashram, enriching its volume, adding quality to its tone, and conveying the needed creative qualities.
Em đã sống nhiều năm ở điểm cao của căng thẳng. Lửa đã là phẩm chất của đời sống em. Ban đầu, lửa này tàn phá, nhưng trong những năm sau nó đã ấm áp và nuôi dưỡng. Tôi nghĩ em biết âm thanh và lửa liên kết chặt chẽ nhau. Tôi nghĩ em cũng biết rằng các đệ tử được các Chân sư tụ tập lại vào Ashram của các Ngài khi âm thanh của họ đã vang lên và khi ngọn lửa trong họ đã đốt cháy thành công những rào cản ngăn cản giữa linh hồn và phàm ngã. Khi đó, âm thanh của họ có thể được an toàn thêm vào âm thanh của Ashram, làm phong phú âm lượng của nó, thêm chất lượng cho giai điệu, và chuyển tải những phẩm chất sáng tạo cần thiết.
The next few years will not be easy ones for you, my brother. Be not over-anxious over anything that may eventuate. Speaking symbolically, I might express your future thus: The nature of fire will be brought more clearly and essentially to your attention; fire will be the subject of your thinking. Do not infer from this that I am indicating to you the way of fire, of pain or of sorrow. Such is not my intention. I do not mean that the future holds for you any passing through the fires of purification. You have moved across the burning-ground—as have all your group brothers. The whole of mankind is passing en masse through the fires which precede the first initiation. Every disciple creates his own burning-ground; he then takes his stand within it, and eventually [554] passes out of it to stand before the Angel of the Presence, at the very door of initiation. These are to you the platitudes of the Path and require from me no explanation.
Những năm tiếp theo sẽ không dễ dàng cho em, huynh đệ của tôi. Đừng quá lo lắng về bất cứ điều gì có thể xảy ra. Nói một cách biểu tượng, tôi có thể diễn tả tương lai của em như sau: Bản chất của lửa sẽ rõ ràng hơn và về cơ bản cho sự quan tâm của em; lửa sẽ là chủ đề cho suy nghĩ của em. Đừng suy luận từ điều này rằng tôi đang chỉ cho em con đường của lửa, của đau đớn hay buồn khổ. Đó không phải là ý định của tôi. Tôi không hàm ý rằng trong tương lai em sẽ đi qua các bất kỳ ngọn lửa thanh lọc nào. Em đã bước qua vùng đất cháy (burning-ground)—cũng như tất cả huynh đệ trong nhóm của em. Toàn thể nhân loại đang ồ ạt bước qua ngọn lửa vốn đi trước cuộc điểm đạo thứ nhất. Mọi đệ tử đều tạo ra vùng đất cháy của riêng mình; sau đó y đứng trong đó, và cuối cùng [554] đi ra khỏi nó để đứng trước Thiên thần của Sự Hiện Diện (Thiên Thần của Hằng Hữu), ngay chính cửa điểm đạo. Với em đây là những lời quá quen thuộc của Đường Đạo và không cần tôi giải thích.
There is one fire, however, with which you should now concern yourself. I would call it “the fire of comprehension.” It is closely related to the blinding light of realisation, but ever precedes it because it destroys all the glamours which may hide or veil the immediate point of illumination for the disciple. You have approached this fire from the standpoint of the emotional nature and it has been associated in your mind with the waters of the astral plane, thus producing the symbols of mist and fog which are ever caused by the bringing together of fire and water. This concept has conditioned your thinking. I would have you now consider glamour in the light of the fires of comprehension. There comes a time in the disciple’s life when he must assume that he knows; he must take the position that he comprehends, and must proceed to act upon the comprehended knowledge. That is definitely the point that you have now reached.
Tuy nhiên, có một ngọn lửa mà bây giờ em phải quan tâm. Tôi gọi đó là "ngọn lửa của hiểu biết". Nó liên quan chặt chẽ với ánh sáng chói lòa của sự nhận thức, nhưng bao giờ cũng đi trước nó bởi nó phá hủy tất cả những ảo cảm có thể che đậy hay che giấu điểm giác ngộ sáng trước mắt của người đệ tử. Em đã tiếp cận ngọn lửa này từ quan điểm của bản chất cảm xúc, và trong tâm trí của em, nó đã liên kết với các dòng nước của cõi giới trung giới, do đó tạo ra các biểu tượng của sương mù vốn luôn được tạo ra do việc mang lửa và nước lại với nhau. Khái niệm này đã điều chỉnh những suy nghĩ của em. Bây giờ tôi muốn em xem xét ảo cảm trong ánh sáng của những ngọn lửa của hiểu biết. Có một thời gian trong cuộc đời của người đệ tử khi anh ta phải thừa nhận rằng anh ta biết; anh ta phải đảm nhiệm vị trí rằng anh ta hiểu, và phải tiến hành hành động theo các kiến thức đã được thấu hiểu. Đó chắc chắn là điểm mà em đã đạt tới.
The results of this definite assumption, and of the activities which it initiates, are oft surprising and apt to be painful; that is why the symbol of fire is again appropriate at this point.
Kết quả của hiểu biết chắc chắn này, và của các hoạt động mà nó khởi xướng, thường đáng ngạc nhiên và có khuynh hướng gây đau đớn; đó là lý do tại sao biểu tượng của lửa lại thích hợp vào thời điểm này.
Act in the future “as if” there are for you no more glamours, and see, my brother, what will eventuate. Endeavour always to live within the Ashram, which is insulated from glamour, and act “as if” the consciousness of the Ashram was intrinsically your consciousness. Go forth to the service which you are rendering “as if” you remained immovable in the Ashram; live always “as if” the eyes of the entire Ashram were upon you. For the remainder of your life let the esoteric philosophical concept “as if” actuate all you do. It is this constant awareness which the two words “as if” embody that will produce in you a fresh use of the creative imagination.
Trong tương lai, hãy hành động "như thể" với em không còn ảo cảm nữa, và, huynh đệ của tôi, hãy xem những gì sẽ xảy ra. Nỗ lực để luôn sống trong Ashram, cách ly khỏi ảo cảm, và hành động "như thể" tâm thức của Ashram thực chất là tâm thức của em. Hãy tiến bước thực hiện các công việc phụng sự mà em đang làm "như thể" em vẫn ở lại không lay chuyển trong Ashram; luôn luôn sống "như thể" đôi mắt của toàn bộ Ashram đang theo dõi em. Trong suốt phần còn lại của cuộc đời em, hãy để cho khái niệm triết học bí truyền "như thể" điều khiển tất cả những gì em làm. Chính sự nhận thức liên tục mà hai từ "như thể" thể hiện sẽ tạo ra trong em một tơi sử dụng mới mẻ của sự tưởng tượng sáng tạo.
Some time ago I told the group that initiation was simplification. Therefore, simplify your remaining years by ever acting “as if.” Through this living process you will let loose the fires of comprehension. I wonder if I am making some idea of value clear to you? Govern yourself always “as if” [555] your divine comprehension was perfected and the result in your daily life will be “as if” all concealed glamours and all hiding deceptive veils were non-existent. The disciple acts “as if” he were initiate and then discovers that “as a man thinketh in his heart so is he,” because the heart is the custodian of the power of the imagination. The imagination is released into creative activity when the disciple acts “as if” he were the soul in full expression, “as if” the Master were ever aware of the doings of His disciple, “as if” he walked in full liberation consciously. For you, these two words will bring release and happiness.
Một thời gian trước đây, tôi đã nói với nhóm rằng điểm đạo là sự đơn giản hóa. Do đó, đơn giản hóa những năm còn lại của em bằng cách hành động "như thể." Thông qua quá trình sống này, em sẽ đánh mất những ngọn lửa của sự hiểu biết. Tôi tự hỏi tôi có làm một số ý tưởng về giá trị rõ ràng với em hay không? Hãy luôn hành xử "như thể" [555] sự hiểu biết thiêng liêng của em đã hoàn thiện, và kết quả trong cuộc sống hàng ngày của em sẽ "như thể" tất cả những ảo cảm ẩn giấu và tất cả những màn che lừa gạt đều không tồn tại. Người đệ tử hành động "như thể" anh ta là điểm đạo đồ và sau đó phát hiện ra rằng "một người suy nghĩ như thế nào trong trái tim thì y sẽ như thế nấy," bởi vì trái tim là cái cất giữ quyền năng của sự tưởng tượng. Sự tưởng tượng được phóng thích vào hoạt động sáng tạo khi người đệ tử hành động "như thể" y là linh hồn biểu hiện đầy đủ, "như thể" Chân sư luôn biết được những hành động của người đệ tử của Ngài, "như thể" y bước đi trong sự giải thoát hoàn toàn một cách có ý thức. Đối với em, hai từ này sẽ mang lại sự giải thoát và hạnh phúc.
The trends of your life and service are established. Seek not to change them. The fund of knowledge which you have accumulated in this life is very real. Draw, however, what you need for your teaching work from the ancient reservoir of wisdom, and not so much from the pool of knowledge. Deepen your meditation and intensify the inner silence within which it is desirable that you should live. Think humbly, speak wisely and work ceaselessly. The opportunity today is great for all disciples everywhere, and the potencies at their disposal are more vital than ever before. Link up with me each day and count on my sustaining love.
Các xu hướng của cuộc sống và công việc phụng sự của em được thiết lập. Đừng tìm cách thay đổi chúng. Lượng kiến thức mà em đã tích lũy trong cuộc sống này là rất thực. Tuy nhiên, hãy lấy những gì em cần cho công việc giảng dạy của em từ kho chứa xưa của minh triết, chứ đừng lấy nhiều từ kho tri thức. Hãy làm sâu sắc hơn sự tham thiền của em và tăng cường sự im lặng bên trong, mà trong đó em nên sống. Hãy suy nghĩ khiêm nhường, nói một cách khôn ngoan và làm việc không ngừng nghỉ. Cơ hội ngày hôm nay rất lớn cho tất cả các đệ tử ở khắp nơi, và sức mạnh của chúng là quan trọng hơn bao giờ hết. Hãy kết nối với tôi mỗi ngày và dựa vào tình yêu bền vững của tôi.
August 1946
MY FRIEND OF MANY YEARS:
MY FRIEND OF MANY YEARS:
I know how greatly distressed you will be at the termination of our outer (not the inner) fellowship; forget not that the outer fellowship was only the sign of a strong, vital and unshatterable inner fellowship. The inner relation of the group to me and to the Ashram and towards each other is as strong as it has ever been; it is in no wise altered. Because of the very real progress you have made in freeing yourself from glamour, that fellowship can now become even more intimate. I can reach you more easily than in the past. I am telling you this because I know it will reassure you and because I know you will not take advantage of it. The further a disciple penetrates into the Ashram, the less need he finds for contact with the Master; he comes to realise the extent of [556] the Master’s responsibilities and arrives at a juster value of his own relative unimportance. He then submits himself to “the sustaining aura of the Ashram.”
Tôi biết em sẽ đau khổ như thế nào khi chấm dứt mối liên hệ bên ngoài (không phải bên trong) của chúng ta; đừng quên rằng sự liên hệ bên ngoài chỉ là chỉ dẫn của một mối liên hệ nội tại mạnh mẽ, sống động và không thể lay chuyển. Mối quan hệ bên trong của nhóm đối với tôi, với Ashram và đối với nhau là mạnh mẽ như nó đã từng là; nó không hề thay đổi. Vì sự tiến bộ thực sự mà em đã thực hiện trong việc giải phóng bản thân khỏi ảo cảm, sự liên hệ đó bây giờ có thể trở nên gần gũi hơn. Tôi có thể tiếp cận em dễ dàng hơn so với quá khứ. Tôi nói với em điều này bởi vì tôi biết rằng nó sẽ trấn an em và vì tôi biết em sẽ không lợi dụng nó. Một đệ tử càng thâm nhập vào Ashram, thì càng ít cần tìm gặp Sư Phụ; y nhận ra mức độ trách nhiệm của Sư Phụ và đạt đến một giá trị đáng công nhận về sự không quan trọng của y. Sau đó y tự qui phục "hào quang duy trì của Ashram."
In my last two communications to you I left you with the impression that I had already given you as much teaching as would serve to carry you through this life. I urged on you a steadfast adherence to established spiritual habits. Enough emphasis is seldom put on the necessity for such a stabilisation of spiritual rhythm, and too much emphasis is frequently laid upon that which is new and on progress. Yet disciples have to learn to turn their spiritual habits into instinctual spiritual responsiveness; this is the higher correspondence to the instinctual animal reactions with which we are all familiar. When this has been achieved, the disciple can then depend upon himself automatically to do or say the right thing; more important still, the Master can count upon him, knowing that he can be depended upon. He is then “permitted to move throughout the Ashram without impediment, and all the Plan is safe with him.” This is what I want you to aim at in your remaining years, so that you will (in your next life) from childhood, express the way of the disciple.
Trong hai liên lạc cuối cùng của tôi với em, tôi đã để lại cho em ấn tượng rằng tôi đã cho em nhiều lời dạy sẽ đưa em qua cuộc đời này. Tôi kêu gọi ở em một sự kiên định tuân thủ các thói quen tinh thần đã được thiết lập. Ít khi có đủ nhấn mạnh vào sự cần thiết cho việc ổn định nhịp điệu tinh thần như vậy, và thường có quá nhiều nhấn mạnh được đặt vào những cái mới và tiến bộ. Tuy nhiên, các đệ tử phải học cách biến những thói quen tinh thần của họ thành nhưng phản ứng tinh thần tự nhiên; đây là sự tương ứng cao hơn với các phản ứng động vật bản năng mà chúng ta đều quen thuộc. Khi điều này đã đạt được, người đệ tử có thể tự động dựa vào chính mình để hành động hoặc nói một cách đúng đắn; và quan trọng hơn, Chân sư có thể tin tưởng vào anh ta, biết rằng anh ta có thể được dựa vào. Sau đó anh ta "được phép di chuyển khắp Ashram mà không có trở ngại, và tất cả Kế hoạch đều an toàn với anh ta". Đây là những gì tôi muốn em hướng đến trong những năm còn lại của em, để trong kiếp sống sau, em sẽ thể hiện con đường đệ tử ngay từ thơ ấu.
In my last instruction to you I gave you the injunction to act as if the ideal which you have set before yourself was an accomplished fact. This as if behaviour is one of the most occult of practices. It in reality presupposes the imposition of the highest grasped aspiration upon the normal personality in the form of changed behaviour. This injunction is not the same in meaning as the injunction “as a man thinketh in his heart, so is he.” That injunction, if rightly followed, brings about the imposition of mental control upon the personality; it affects the brain, and therefore the two lower vehicles. The as if type of behaviour (for the disciple) brings in a still higher factor than that of thought; it involves the constant attempt to live as if the soul (not the mind but through the mind) is in constant control and the dominating aspect of expression.
Trong hướng dẫn cuối cùng của tôi cho tôi, tôi đã ban cho em huấn thị chỉ đạo để hành động như thể cái lý tưởng mà em đã đặt ra cho chính em đã là một thực tế đã được hoàn tất. Hành động như thể là một trong những thực hành huyền linh nhất. Trên thực tế, nó giả định việc áp đặt nguyện vọng cao nhất lên phàm ngã bình thường dưới dạng hành vi đã thay đổi. Chỉ thị này không có cùng nghĩa như chỉ thị "con người nghĩ như thế nào trong trái tim mình, y sẽ như vậy." Chỉ thị đó, nếu được tuân theo đúng đắn, sẽ dẫn đến việc áp đặt sự kiểm soát trí tuệ lên phàm ngã; nó ảnh hưởng đến bộ não, và do đó hai thể thấp hơn. Loại hành động như thể (đối với người đệ tử) mang lại một yếu tố còn cao hơn tư tưởng; nó liên quan đến nỗ lực không ngừng để sống như thể là linh hồn (chứ không phải là cái trí, mà là thông qua cái trí) luôn ở trong sự kiểm soát liên tục và là khía cạnh thống trị của biểu hiện.
This may involve close thinking about the soul and its relation to the personality, but it is a great deal more than [557] just that. It necessitates, when correctly applied, the growing automatic control of the entire lower threefold man by the soul. I am going to give you six themes for meditation built around the as if idea. These will cover one year’s work. I would like to see you take these themes and give them full consideration for three years. At the end of that time you will probably wish to go over all the work again, on a higher level and with a deeper intent.
Điều này có thể liên quan đến suy nghĩ gần gũi về linh hồn và mối quan hệ của nó với phàm ngã, nhưng nó còn nhiều hơn điều đó [557]. Điều này đòi hỏi, khi được áp dụng đúng cách, sự kiểm soát tự động ngày càng tăng của linh hồn với toàn bộ phàm ngã. Tôi sẽ cung cấp cho em sáu chủ đề để tham thiền được xây dựng xung quanh ý tưởng như thể. Những ý tưởng này sẽ bao gồm một năm làm việc. Tôi muốn thấy em xem xét những chủ đề này, và xem xét đầy đủ trong ba năm. Vào cuối thời gian đó, em có thể sẽ muốn làm lại tất cả các công việc một lần nữa, ở một cấp cao hơn và với một ý định sâu sắc hơn.
1. Sound the OM inaudibly three times, as a physical person, as an emotional person, and as a mind.
1. Xướng linh từ OM vô âm ba lần, như một con người vật lý, như một con người cảm xúc, và như một thể trí.
Then sound the OM as the soul.
Sau đó xướng linh từ OM như linh hồn.
2. Themes for meditative reflection:
2. Các chủ đề để suy ngẫm tham thiền:
a. What, in your life, would happen if you really acted as if the soul were sounding the OM?
a. Điều gì trong cuộc đời của em sẽ xảy ra nếu em thực sự hành động như thể linh hồn đang xướng linh từ OM?
b. If you are truly thinking as if the mind were the instrument of the soul, what lines of thought will you have to eliminate, cultivate or express?
b. Nếu em đang thực sự suy nghĩ như thể cái trí là công cụ của linh hồn, em nghĩ những dòng tư tưởng nào sẽ phải loại trừ, bồi đắp hay thể hiện?
c. If you are realistically living as if the soul were visible in your daily life, what will happen to the astral body?
c. Nếu thực tế em sống như thể linh hồn hữu hình trong cuộc sống hàng ngày của em, điều gì sẽ xảy ra với thể cảm xúc?
d. Provided the as if theory were controlling your physical brain and consequently your daily activities, in what way would it alter your mode of living? (This is not the same as question a.)
d. Miễn là lý thuyết như thể đã kiểm soát não bộ của em và do đó các hoạt động hàng ngày của em, nó sẽ làm thay đổi cách sống của em như thế nào? (Câu hỏi này không giống câu hỏi a.)
e. Do you understand clearly the difference between the “as a man thinketh...,” and the as if modes of procedure? How do they differ in application?
e. Em có hiểu rõ sự khác biệt giữa " một người suy nghĩ như thế nào...," và phương thức thủ tục như thể? Chúng khác nhau trong ứng dụng như thế nào?
f. What qualities would your particular mechanism or personality demonstrate if you acted as if you were anchored in the Ashram and not just on the periphery? Do not be vague in this reply, but be extremely personal in your analysis of the situation.
f. Những phẩm chất nào mà cơ chế hoặc phàm ngã đặc biệt của em sẽ thể hiện nếu em hành động như thể em đang an trụ trong Ashram chứ không chỉ ở ngoại vi? Đừng mơ hồ trong việc trả lời câu này, nhưng hãy cực kỳ cá nhân trong việc phân tích tình huống của em.
3. Then, as if you were consciously standing before your Master and definitely aware of my presence, dedicate yourself to the service of the Ashram for this life and the next.
3. Sau đó, như thể em đang đứng một cách có ý thức trước mặt Chân sư của em và chắc chắn nhận thức được sự hiện diện của tôi, hãy dâng hiến cho việc phụng sự Ashram trong kiếp sống này và kiếp sống tiếp theo.
4. Say the new Invocation, sounding the OM after each stanza. [558]
4. Đọc lời Khân Nguyện mới, xướng linh từ OM sau mỗi đoạn. [558]
5. Sound the OM at as high a point in consciousness as possible.
5. Xướng linh từ OM ở mức tâm thức cao nhất có thể được.
Then, my brother, go your way in peace, knowing the ferment of living energies within you will enable you to act as if you were the soul. This will be a growing, conscious experience. Know too that I, your Master and your friend, will also be aware of it. My love surrounds you and the link remains unbroken.
Sau đó, huynh đệ của tôi, hãy đi con đường bình an của em, biết rằng sự lên men của năng lượng sống trong em sẽ cho phép em hành động như thể em là linh hồn. Đó sẽ là một trải nghiệm có ý thức ngày càng tăng. Hãy biết rằng tôi, Chân sư và huynh đệ của em, cũng sẽ nhận thức được nó. Tình thương của tôi ở quanh em và mối liên kết vẫn không gián đoạn.
J. S. P.
JSP, Tomira Zori
5/25/1880, Bessarabia
Joy, Stability, The Plan,
II-VI-4-2-7,
DINA 1 Trang (662-670)
September 1937
Tháng 9 năm 1937
BROTHER OF MINE:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
I have deferred giving you your personal instructions until this time as the quiet process of your integration in my group has been going forward with success. I felt it wise to wait. You [663] have had the difficult task of being admitted into a group which has been functioning as a unit for some time, and the amount of reading matter which you have had to master and the rhythm to which you have to adjust yourself has made your task a most difficult one. Your experience in group work, your open-minded attitude to other people, and the fact that (subjectively) you have belonged to this group ever since its inception has greatly helped. You have stepped into a position which has been yours subjectively for a long time. I am mentioning this persistent inner relation to me and to your group brothers so that you may realise that you have only to establish the outer links. The inner are already forged.
Tôi đã trì hoãn việc đưa ra hướng dẫn cá nhân của em cho đến thời điểm này vì quá trình tích hợp yên tĩnh của em vào nhóm của tôi đã tiến triển thành công. Tôi cảm thấy khôn ngoan khi chờ đợi. Em đã có nhiệm vụ khó khăn là được nhận vào một nhóm đã hoạt động như một đơn vị trong một thời gian và lượng tài liệu đọc mà em phải nắm vững và nhịp điệu mà em phải điều chỉnh bản thân đã làm cho nhiệm vụ của em trở nên khó khăn nhất. Kinh nghiệm của em trong công việc nhóm, thái độ cởi mở của em đối với người khác, và thực tế rằng (về mặt nội tại) em đã thuộc về nhóm này từ khi nó được hình thành đã giúp đỡ rất nhiều. Em đã bước vào một vị trí đã thuộc về em một cách nội tại từ lâu. Tôi đề cập đến mối quan hệ nội tâm bền bỉ này với tôi và với các huynh đệ nhóm của em để em có thể nhận ra rằng em chỉ cần thiết lập các liên kết bên ngoài. Các liên kết nội tâm đã được rèn giũa sẵn.
The life of the disciple moves forward through moments of crisis. These crises produce two results:
Cuộc sống của đệ tử tiến lên thông qua những khoảnh khắc khủng hoảng. Những khủng hoảng này tạo ra hai kết quả:
1. The intensification of aspiration, if the disciple is still upon the Probationary Path, or the intensification of illumination if the disciple is nearing the Path of Accepted Discipleship, or is upon the Path itself.
1. Sự gia tăng khát vọng nếu đệ tử vẫn đang trên Con Đường Thử Thách hoặc sự gia tăng sự soi sáng nếu đệ tử đang gần đến Con Đường Chấp Nhận hoặc đang trên Con Đường đó.
2. The achievement of a more stabilised attitude of detachment, based upon conscious personality renunciation, upon a right orientation of the personality to the soul (who is the one Master, the Light of Life) and to the Hierarchy of Servers. They will, therefore, produce an increasing power of control by the soul—the One Who knows no attachment and Who stands at-one with all souls in all forms.
2. Đạt được thái độ tách rời ổn định hơn dựa trên sự từ bỏ phàm ngã một cách hữu thức, dựa trên sự định hướng đúng đắn của phàm ngã với linh hồn (là Chân Sư duy nhất, Ánh Sáng của Sự Sống) và với Huyền Giai của những Người Phụng Sự. Do đó, chúng sẽ tạo ra sự gia tăng quyền kiểm soát của linh hồn—Đấng không biết đến sự bám chấp và Đấng hợp nhất với tất cả các linh hồn trong tất cả các hình tướng.
Such moments of crisis and of intensification, added to renunciation, have been your lot for years, have they not, my brother? They have swept your whole personality into an attitude of withdrawing from the things of the senses and to an earnest approach to the world of reality. In your life, since you came into incarnation this time, there have been four such moments, in the major sense—each of them preceded by a period of one-pointed aspiration, of painful and oft agonising detachment from all that the personality held dear. Each of them produced a subsequent reaction wherein it seemed that all was dark, and that aridity and stern struggle were the curious and undesirable result of sacrifice and of a recognised high point of illumination.
Những khoảnh khắc của khủng hoảng và của sự tăng cường, cùng với sự từ bỏ, đã là số phận của em trong nhiều năm qua, đúng không huynh đệ của tôi? Chúng đã cuốn toàn bộ phàm ngã của em vào một thái độ rút lui khỏi những điều của giác quan và tiến một cách nghiêm túc tới thế giới của thực tại. Trong cuộc đời của em, kể từ khi em tài sinh kiếp này, đã có bốn khoảnh khắc như vậy theo nghĩa lớn—mỗi khoảnh khắc đều được dẫn trước bởi một giai đoạn khát vọng tập trung, sự tách rời đau đớn và thường xuyên đau khổ từ tất cả những gì phàm ngã quý trọng. Mỗi khoảnh khắc đó đều tạo ra một phản ứng tiếp theo trong đó dường như mọi thứ đều tối tăm, và sự khô cằn và cuộc đấu tranh nghiêm khắc là kết quả kỳ lạ và không mong muốn của sự hy sinh và của một điểm soi sáng cao được nhận ra.
[664]
For you, as for so many disciples in this particular life cycle, the lesson has been to learn to move forward in spite of the activity of the pairs of opposites, paying no attention to the reactions of the senses and standing free and unafraid whether the experience being undergone is one of high import and of spiritual satisfaction, or is one of the “dead-level” happenings, where nothing brings joy and where only pain, fear and suspense are to be found. You must learn to move forward steadily between the pairs of opposites, saying to yourself: I am not this; I am not that; eternally, I am the Self.
Đối với em cũng như đối với nhiều đệ tử khác trong chu kỳ cuộc sống đặc biệt này, bài học là học cách tiến lên bất chấp hoạt động của các cặp đối lập, không chú ý đến các phản ứng của giác quan và đứng tự do và không sợ hãi dù trải nghiệm đang trải qua là một trải nghiệm quan trọng và thỏa mãn tinh thần hay là một trong những sự kiện "đều đặn" nơi không có gì mang lại niềm vui và chỉ có nỗi đau, sự sợ hãi và căng thẳng. Em phải học cách tiến lên một cách ổn định giữa các cặp đối lập, tự nói với mình: Tôi không phải là điều này; tôi không phải là điều kia; vĩnh viễn tôi là Chân Ngã.
These lessons you are learning (and learning with rapidity). You have now reached a point where you can learn them in a group—a group of fellow disciples who are undergoing the same experiences, who are oriented in the same direction, who are occupied with the same problems, and who are motivated by the same desire to serve. This means that you travel not alone, but are supported and sustained and strengthened by your group brothers. Those working in these groups will tell you that in spite of the difficulties and oft the increased problems of the spiritual life—the results of a renewed consecration and a more clearly defined service—the “comradeship of the Path” and the inspiration and love of the group do most certainly constitute a powerful help and bring a sense of life and love which negatives the ancient loneliness, and offsets the old solitary suffering.
Những bài học này em đang học (và học nhanh chóng). Em đã đạt đến một điểm mà em có thể học chúng trong một nhóm—một nhóm các đệ tử đồng môn đang trải qua những trải nghiệm giống nhau, hướng về cùng một hướng, đối mặt với cùng những vấn đề, và được thúc đẩy bởi cùng một khát vọng phụng sự. Điều này có nghĩa là em không đi một mình, mà được hỗ trợ, duy trì và củng cố bởi các huynh đệ trong nhóm của mình. Những người làm việc trong các nhóm này sẽ nói với em rằng mặc dù có những khó khăn và thường là những vấn đề gia tăng trong đời sống tinh thần—kết quả của một sự tận hiến mới và một sự phụng sự được xác định rõ ràng hơn—“tình đồng đội trên Đường đạo” và cảm hứng và tình yêu của nhóm chắc chắn tạo thành một sự trợ giúp mạnh mẽ và mang lại một cảm giác sống và yêu thương, xóa bỏ sự cô đơn cổ xưa và bù đắp cho sự đau khổ đơn độc cũ.
Carefully follow the work of the Full Moon Approach, for it will bring you much and you should enter, through its means, into closer contact with the inner spiritual Sun, the soul, and with all of us who, in our varying grades of discipleship, seek to serve our fellowmen. This Full Moon work involves the use of the creative imagination, the cultivation of the power to visualise, the intensification of the magnetic vibration of the ajna centre, and consequently of the pituitary body. This establishes a magnetic field for the interplay of the currents and energies which are brought into action by the activity of the head centre and of the pineal gland. These higher forces are brought in and utilised in the meditation processes followed by all the group.
Hãy cẩn thận theo dõi công việc Tiếp Cận Trăng Tròn, vì nó sẽ mang lại cho em nhiều điều, và em nên thông qua phương tiện này để tiếp cận gần hơn với Mặt Trời tinh thần bên trong, chân thần, và với tất cả chúng tôi, những người ở các cấp độ khác nhau của địa vị đệ tử, đang tìm cách phụng sự nhân loại. Công việc Trăng Tròn này liên quan đến việc sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo, rèn luyện khả năng hình dung, tăng cường rung động từ tính của trung tâm ajna, và do đó là tuyến yên. Điều này thiết lập một trường từ tính cho sự tương tác của các dòng chảy và năng lượng được kích hoạt bởi hoạt động của trung tâm đầu và của tuyến tùng. Những mãnh lực cao hơn này được đưa vào và sử dụng trong các quá trình tham thiền mà tất cả nhóm đều theo đuổi.
I have nothing to say in connection with your life of service and activity. That will go on naturally, and as ever in the case [665] with all true aspirants, must be rendered with no thought of self but in an effort to meet the need of those within your environment who look to you for help—physical, emotional and mental—but always with a spiritual intent.
Tôi không có gì để nói về đời sống phụng sự và hoạt động của em. Điều đó sẽ diễn ra một cách tự nhiên, và như mọi khi đối với tất cả các người chí nguyện chân chính, phải được thực hiện mà không nghĩ đến bản thân mà nhằm đáp ứng nhu cầu của những người trong môi trường xung quanh em đang tìm kiếm sự giúp đỡ—về mặt thể chất, cảm xúc và trí tuệ—nhưng luôn với một mục đích tinh thần.
I will make some suggestions as to your personality problem, and I will outline for you some meditation work. I use the word “suggestions” advisedly, for I would have you realise from the very beginning of your work that I never give more than a hint or a clear suggestion, or point out a possible line of action. I suggest a mode of training and of meditation and then leave each of you free to accept the suggestion and to conform to the outlined ideas as may seem best to you.
Tôi sẽ đưa ra một số gợi ý về vấn đề phàm ngã của em, và tôi sẽ phác thảo cho em một số công việc tham thiền. Tôi dùng từ "gợi ý" một cách cẩn trọng, vì tôi muốn em nhận ra từ ngay đầu công việc của em rằng tôi không bao giờ đưa ra nhiều hơn một gợi ý hay một đề xuất rõ ràng, hoặc chỉ ra một phương thức hành động có thể. Tôi đề xuất một phương pháp rèn luyện và tham thiền và sau đó để mỗi người trong các em tự do chấp nhận gợi ý và tuân theo các ý tưởng đã phác thảo theo cách mà em thấy phù hợp nhất.
I seek to give you a hint as to your ray influences, so that certain attitudes of mind and expressions of feeling-perception may be clarified for you. The five ray potencies which constitute your problem (and, with the soul, constitute also the mechanism of service through which the monad manifests), provide your field of opportunity and your main avenue of knowledge in the world of human expression.
Tôi muốn đưa ra một gợi ý về các ảnh hưởng của cung của em, để một số thái độ tâm trí và biểu hiện của cảm giác-tri giác có thể được làm rõ cho em. Năm năng lượng cung tạo thành vấn đề của em (và, cùng với linh hồn, cũng tạo thành cơ chế phụng sự mà qua đó chân thần biểu hiện), cung cấp cho em môi trường cơ hội và con đường chính để học hỏi trong thế giới biểu hiện của con người.
Your soul ray is the second ray.
Cung của linh hồn em là cung hai.
Your personality ray is the sixth ray, as you may have often suspected. This will link you closely by similarity of vibration with your brothers, D.H.B. and D.I.J.
Cung của phàm ngã em là cung sáu, như em có thể đã nghi ngờ nhiều lần. Điều này sẽ liên kết em chặt chẽ hơn thông qua sự tương đồng rung động với các huynh đệ của em, D.H.B. và D.I.J.
Your mental body is governed by the fourth ray, producing that love of art and literature which distinguishes you, and providing also that field of conflict which characterises your entire life. Harmony through conflict is the keynote of your life, with the soul ever aware of the basic harmony, but with the personality registering the conflict more definitely and more aware of the strife and the difficulties. Ever the mind has sought to control; ever the soul has endeavoured to carry increasing illumination, through the mind; ever the personal lower self has resisted that illumination and control. Is this not so, my brother?
Thể trí của em được cai quản bởi cung bốn, tạo ra tình yêu nghệ thuật và văn học đặc trưng của em, và cũng cung cấp cho em lĩnh vực xung đột đặc trưng cho toàn bộ cuộc đời em. Hòa hợp qua xung đột là âm điệu của cuộc đời em, với linh hồn luôn nhận thức được sự hòa hợp cơ bản, nhưng với phàm ngã thì rõ ràng nhận thức xung đột hơn và nhận thức về tranh đấu và khó khăn nhiều hơn. Tâm trí luôn cố gắng kiểm soát; linh hồn luôn nỗ lực mang lại sự soi sáng ngày càng tăng thông qua tâm trí; phàm ngã luôn chống lại sự soi sáng và kiểm soát đó. Có phải vậy không, huynh đệ của tôi?
Your astral body is closely linked with your soul and governed by the second ray, thus making for you the line of least resistance in this life. For you, the line of feeling-intuition, of astral-buddhic approach has been the way. It is right here that the fourth ray problem of your mind has its major difficulty [666] and this for the following reason: In this life your major vibration runs along the line of 2-4-6, producing the intensification of your second ray qualities and indicating the need for some balancing factor. The difficulty is helped, however, and the problem aided towards solution by the fact that your physical body is on the seventh ray, which brings in the vibration of the first ray line of energy, 1-5-7. This is of great assistance to you. Upon the physical plane, therefore, you have the task of balancing this preponderance of second ray attributes, qualities and rhythm.
Thể cảm xúc của em được liên kết chặt chẽ với linh hồn và được cai quản bởi cung hai, là con đường ít trở ngại nhất trong cuộc đời này với em. Đối với em, con đường cảm giác-trực giác, cách tiếp cận cảm dục-Bồ đề đã là con đường. Chính ở đây mà vấn đề cung bốn của thể trí em gặp phải khó khăn lớn nhất, và điều này là vì lý do sau: Trong kiếp sống này, rung động chính của em nằm dọc theo dòng 2-4-6, tạo ra sự tăng cường các phẩm chất cung hai của em và chỉ ra nhu cầu về một yếu tố cân bằng nào đó. Tuy nhiên, khó khăn được giúp đỡ, và vấn đề được hỗ trợ hướng tới giải pháp bởi thực tế là thể xác của em thuộc cung bảy, mang lại rung động của dòng năng lượng cung một, 1-5-7. Điều này là sự trợ giúp lớn đối với em. Do đó, trên cõi trần, em có nhiệm vụ cân bằng sự vượt trội của các thuộc tính, phẩm chất và nhịp điệu cung hai.
Your rays, therefore, are:
Các cung của em do đó là:
1. The ray of the soul—the second Ray of Love-Wisdom.
1. Cung của linh hồn—Cung hai của Bác Ái-Minh Triết.
2. The ray of the personality—the sixth Ray of Devotion.
2. Cung của phàm ngã—Cung sáu của Tận Tụy.
3. The ray of the mental body—the fourth Ray of Harmony through Conflict.
3. Cung của thể trí—Cung bốn của Hài Hòa thông qua Xung Đột.
4. The ray of the astral body—the second Ray of Love-Wisdom.
4. Cung của thể cảm dục—Cung hai của Bác Ái-Minh Triết.
5. The ray of the physical body—the seventh Ray of Ceremonial Order.
5. Cung của thể xác—Cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ.
You will find this of deep interest and, if rightly appreciated, it will produce fruitful development in your life.
Em sẽ thấy điều này rất thú vị và nếu được đánh giá đúng, nó sẽ tạo ra sự phát triển phong phú trong cuộc sống của em.
I suggest that you do the following meditation for a period of three months and then take up the group meditation. I have made your personal meditation very brief so that when you take up the group meditation it can constitute a preliminary exercise.
Tôi gợi ý rằng em thực hiện tham thiền sau đây trong ba tháng và sau đó tiếp tục tham thiền nhóm. Tôi đã làm cho sự tham thiền cá nhân của em rất ngắn gọn để khi em thực hiện tham thiền nhóm, nó có thể là một bài tập sơ bộ.
1. Continue with the simple breathing exercise you are now doing. It is of value to you in producing inner alignment and the harmonising of your bodies.
1. Tiếp tục với bài tập thở đơn giản mà em đang làm. Nó có giá trị đối với em trong việc tạo ra sự chỉnh hợp nội tại và hòa hợp các thể của em.
2. Then, by an act of the will, withdraw the consciousness into the head and there visualise the inner radiant sun, formed by the merging of the lesser life of the personality with the radiant light in your soul. At the very centre of this life see the Self, the inner Christ or Buddha. Then focus your thought, without effort or strength, in this centre.
2. Sau đó, bằng một hành động của ý chí, rút tâm thức vào đầu và hình dung mặt trời rạng rỡ bên trong, được hình thành bởi sự hòa hợp của sự sống nhỏ hơn của phàm ngã với ánh sáng rạng rỡ trong linh hồn của em. Ở trung tâm của sự sống này, hãy thấy Chân Ngã, Đức Christ hoặc Đức Phật bên trong. Sau đó tập trung suy nghĩ của em, không cần cố gắng hay sức mạnh, vào trung tâm này.
3. Next sound the O.M., breathing it out through the personality and carrying:
3. Tiếp theo, xướng linh từ O.M., thở nó ra qua phàm ngã và mang lại:
[667]
a. Light to the mind.
a. Ánh sáng cho thể trí.
b. Peace to the astral body.
b. Bình an cho thể cảm xúc.
c. Strength to the physical body.
c. Sức mạnh cho thể xác.
4. Finally, as the soul and the personality together, sound the O.M. again, once audibly and once inaudibly, thinking as you do so of the need of the world and the power of the soul to meet that need, through the medium of aspiration and discrimination.
4. Cuối cùng, như linh hồn và phàm ngã cùng nhau, xướng linh từ O.M. một lần nữa, một lần bằng âm thanh và một lần không phát ra âm thanh, nghĩ về nhu cầu của thế giới và sức mạnh của linh hồn để đáp ứng nhu cầu đó, thông qua khát vọng và phân biện.
5. Continue then with any meditation such as you may feel the need of doing.
5. Sau đó tiếp tục với bất kỳ tham thiền nào mà em cảm thấy cần phải làm.
Have in the background of your consciousness the three words: joy, stability and the Plan.
Hãy giữ ba từ này trong nền tâm thức của em: niềm vui, sự ổn định và Thiên Cơ.
March 1938
Tháng 3 năm 1938
MY BROTHER AND MY COMRADE:
HUYNH ĐỆ VÀ ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI:
I have not much to say to you at this time for I gave you full and long instructions and several suggestions in the last communication. I would ask you to continue to study them and to go on pondering on their significance and their implications. There is much in them which you have not had the time to assimilate, for I gave you much, knowing that you could stand the pressure of my suggestion.
Tôi không có nhiều điều để nói với em vào lúc này vì tôi đã đưa ra cho em những hướng dẫn đầy đủ và dài dòng cùng với một số gợi ý trong lần giao tiếp trước. Tôi muốn em tiếp tục nghiên cứu chúng và suy ngẫm về ý nghĩa và các hàm ý của chúng. Có nhiều điều trong đó mà em chưa có thời gian để tiếp thu, vì tôi đã đưa ra nhiều, biết rằng em có thể chịu đựng áp lực của các gợi ý của tôi.
You have made good progress in linking up with your group brothers. It is not an easy task to work in a group which has been functioning for some time and has already achieved a measure of subjective integration, but your group brothers are close to you and the consciousness of this fact is steadily growing in your mind.
Em đã tiến bộ tốt trong việc liên kết với các huynh đệ trong nhóm của mình. Không phải là một nhiệm vụ dễ dàng khi làm việc trong một nhóm đã hoạt động trong một thời gian và đã đạt được một mức độ tích hợp chủ quan, nhưng các huynh đệ trong nhóm của em đang gần gũi với em và ý thức về thực tế này đang dần phát triển trong tâm trí của em.
It may be of assistance to you and complete the information given in your first personal instructions, if I were to indicate the points of contact through which your soul and your personality primarily work:
Điều này có thể giúp ích cho em và hoàn thiện thông tin được đưa ra trong các hướng dẫn cá nhân đầu tiên của em, nếu tôi chỉ ra các điểm tiếp xúc qua đó linh hồn và phàm ngã của em chủ yếu hoạt động:
1. In this incarnation, your ego or soul is seeking expression through your astral body. There lies for you the line of least resistance. This established contact will rapidly transmute sixth ray devotion into universal and non-critical love. It will give you what I might call horizontal inclusiveness as well as vertical one-pointedness. Ponder on this.
1. Trong kiếp này, chân ngã hoặc linh hồn của em đang tìm cách biểu hiện thông qua thể cảm xúc của em. Đây là con đường ít trở ngại nhất đối với em. Sự tiếp xúc được thiết lập này sẽ nhanh chóng chuyển hóa sự tận tụy của cung sáu thành tình thương phổ quát và không phê phán. Nó sẽ mang lại cho em điều mà tôi có thể gọi là sự bao gồm ngang cũng như sự tập trung dọc. Hãy suy ngẫm về điều này.
[668]
2. Your personality force is focussed in your seventh ray brain. This gives you the power to plan, to organise, and also the power to give form to ideas. Ponder also on this.
2. Mãnh lực của phàm ngã của em tập trung vào bộ não cung bảy. Điều này mang lại cho em khả năng lập kế hoạch, tổ chức, và cũng khả năng tạo hình cho các ý tưởng. Hãy suy ngẫm về điều này.
I would call your attention anew to the three key words, Joy, Stability, and the Plan; during the past year there have been many occasions when the Way of Joy has been for you a hard way to go. Yet it is one of the needed characteristics of discipleship, leading—as it does—to soul strength; it is an essential quality for all those second ray people who are oriented particularly to treading, at some future date and after initiation, the difficult way of all world saviours. It is valuable for you to distinguish between a World Saviour and the world saviours. I have given you here a deeply esoteric hint.
Tôi muốn em chú ý đến ba từ khóa, Niềm Vui, Sự Ổn Định và Thiên Cơ; trong năm qua đã có nhiều lần Con Đường của Niềm Vui đối với em là một con đường khó đi. Tuy nhiên, đó là một trong những đặc điểm cần thiết của đệ tử, dẫn đến—như nó đã làm—sức mạnh của linh hồn; nó là một phẩm chất thiết yếu cho tất cả những người thuộc cung hai, những người đặc biệt hướng đến việc bước đi, vào một ngày nào đó trong tương lai và sau khi đã điểm đạo, con đường khó khăn của tất cả các vị cứu thế giới. Điều quan trọng đối với em là phân biệt giữa một Đấng Cứu Thế và những người cứu thế. Tôi đã đưa ra cho em một gợi ý huyền bí sâu sắc ở đây.
Stability or steadfastness, which is the power to stand unmoving in the centre of your environment and in the midst of changing circumstance, will be tested out in you this year. To stand this test, your soul is challenging you. When, therefore, the need for quiet and poised strength arises and there come those moments when powerful action seems desirable or violent protest or words are deemed advisable, stand in steadfastness and recollect the need for poise, for patience and the desirability to await right indication of the way to go and the need for speech or for silence. This waiting will often change the direction of your intent and no action will then be taken but only that steady vision which sees the inner side and not the outer happening.
Sự ổn định hoặc kiên định, là sức mạnh để đứng vững ở trung tâm môi trường của em và giữa những hoàn cảnh thay đổi, sẽ được thử thách ở em trong năm nay. Để vượt qua bài kiểm tra này, linh hồn của em đang thách thức em. Do đó, khi nhu cầu về sự yên tĩnh và sức mạnh cân bằng nảy sinh và có những khoảnh khắc khi hành động mạnh mẽ dường như là điều đáng mong muốn hoặc sự phản đối dữ dội hoặc lời nói được coi là hợp lý, hãy đứng vững và nhớ lại nhu cầu về sự cân bằng, kiên nhẫn và mong muốn chờ đợi chỉ dẫn đúng đắn về con đường cần đi và nhu cầu nói hay im lặng. Sự chờ đợi này sẽ thường xuyên thay đổi hướng của ý định của em và khi đó sẽ không có hành động nào được thực hiện ngoài tầm nhìn ổn định nhìn thấy mặt nội tại chứ không phải sự kiện bên ngoài.
Go in peace, my brother, and learn anew the comradeship of the Path.
Hãy đi trong bình an, huynh đệ của tôi, và học lại tình đồng chí của Con Đường.
February 1939
Tháng 2 năm 1939
MY BROTHER:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
The tension of fear is great in the world today. People everywhere are living under great strain. Forget not that it is the few in every land (and when I say “in every land” I make no exception) who bring about world evil. But I would have you remember also that the will of the masses of the people unless misled, is towards good and understanding. I am talking here in connection with world affairs. Stand steady, therefore, and permit no thoughts of hatred and fear to find lodging in [669] your mind. Stand firmly for good, looking for it in all peoples and races and thus seek to swell the rising tide of those who aspire to right human relations, knowing that the potency of love rightly expressed is great and is—at this time—the only factor that can offset hate.
Sự căng thẳng của nỗi sợ hãi trên thế giới ngày nay là rất lớn. Mọi người ở khắp nơi đều sống dưới áp lực lớn. Đừng quên rằng chỉ có một số ít người ở mỗi quốc gia (và khi tôi nói “ở mỗi quốc gia” tôi không loại trừ quốc gia nào) gây ra cái ác trên thế giới. Nhưng tôi cũng muốn em nhớ rằng ý chí của đa số người dân, trừ khi bị lừa dối, là hướng về điều tốt và sự hiểu biết. Tôi đang nói về các vấn đề thế giới. Vì vậy, hãy đứng vững và không để cho những suy nghĩ về thù hận và sợ hãi tìm chỗ trong tâm trí của em. Hãy đứng vững cho điều tốt, tìm kiếm điều đó trong tất cả các dân tộc và chủng tộc, và do đó tìm cách gia tăng làn sóng của những người khao khát mối quan hệ nhân loại đúng đắn, biết rằng sức mạnh của tình thương được biểu hiện đúng cách là rất lớn và vào thời điểm này là yếu tố duy nhất có thể hóa giải thù hận.
In connection with this point, I would call your attention to the instructions given to D.I.J., for in them I refer to the similarity of your problems with hers and with those of D.H.B. You can, through this similarity (which is induced through the similarity of your rays), reinforce and strengthen each other and produce a triple unit of energy which will be of service to your group brothers. You three can from certain aspects meditate together each day.
Liên quan đến điểm này, tôi muốn em chú ý đến hướng dẫn được đưa ra cho D.I.J. vì trong đó tôi đề cập đến sự tương đồng của các vấn đề của em với của bạn ấy và với của D.H.B. Em có thể thông qua sự tương đồng này (được gây ra bởi sự tương đồng cung của các em) củng cố và tăng cường lẫn nhau và tạo ra một đơn vị ba năng lượng sẽ phụng sự cho các huynh đệ nhóm của em. Ba người trong số các em có thể, từ một số khía cạnh, tham thiền cùng nhau mỗi ngày.
I would ask you that you take as your special work that subject which is today of such interest to you—the idea of death and proving the fact of immortality. Survival, my brother, has been proved. This has been the great task and the real achievement of the spiritualistic movement throughout the world. Immortality, however, has not been proved.
Tôi muốn em coi chủ đề đặc biệt hiện tại mà em đang rất quan tâm—ý tưởng về cái chết và chứng minh thực tế của sự bất tử—là công việc đặc biệt của mình. Huynh đệ của tôi, sự tồn tại sau chết đã được chứng minh. Đây là nhiệm vụ lớn và thành tựu thực sự của phong trào thông linh trên khắp thế giới. Tuy nhiên, sự bất tử chưa được chứng minh.
When you have further steeped yourself in the subject, approaching it in happiness and in the spirit of service, I will give you later some ideas upon which you might work. I will not do so now as I want you to read and think through into a greater clarity of vision and a clearer perception of what it is you are seeking to undertake. One reason why you can do this work is that all your rays are along the line of building and of religion. You can, therefore, approach the scene in a far more detached manner than if your rays were purely mental or along the line of the first ray which is the ray that always brings withdrawal and abstraction and is the ray of the destroyer or of death itself. Ponder on this. There is a connection with the first ray aspect which is will, and that of death. Death is now the result of the will of the soul. Eventually it has to be the result of the united will of the soul and the personality and when that happens there will be no fear of death. Ponder also on this.
Khi em đã tiếp tục đào sâu hơn vào chủ đề này, tiếp cận nó với niềm vui và tinh thần phụng sự, sau này tôi sẽ đưa ra cho em một số ý tưởng mà em có thể làm việc. Tôi sẽ không làm điều đó bây giờ vì tôi muốn em đọc và suy nghĩ thông qua để có tầm nhìn rõ ràng hơn và nhận thức rõ ràng hơn về điều mà em đang tìm cách thực hiện. Một lý do khiến em có thể làm công việc này là vì tất cả các cung của em đều theo dòng xây dựng và tôn giáo. Do đó, em có thể tiếp cận lãnh vực một cách tách rời hơn nhiều so với nếu các cung của em là thuần trí tuệ hoặc theo dòng cung một, là cung luôn mang lại sự rút lui và trừu tượng và là cung của kẻ hủy diệt hoặc của cái chết. Hãy suy ngẫm về điều này. Có một sự kết nối với khía cạnh cung một là ý chí, và điều đó của cái chết. Cái chết bây giờ là kết quả của ý chí của linh hồn. Cuối cùng nó phải là kết quả của ý chí hợp nhất của linh hồn và phàm ngã và khi điều đó xảy ra, sẽ không còn nỗi sợ hãi cái chết. Hãy suy ngẫm về điều này.
One of your problems in connection with all spiritual and meditational work is to avoid becoming too abstract; spiritual achievement for you in this life will come through the blending [670] of the highest possible point of spiritual recognition with your enlightened mind and your physical brain consciousness. The keynote of this is, of course, alignment. Have this thought of alignment in your consciousness as you proceed with the following meditation:
Một trong những vấn đề của em liên quan đến tất cả công việc tinh thần và tham thiền là tránh trở nên quá trừu tượng; thành tựu tinh thần của em trong kiếp này sẽ đến thông qua sự kết hợp của điểm cao nhất có thể của sự nhận thức tinh thần với thể trí được soi sáng của em và tâm thức não bộ thể chất của em. Từ khóa của điều này, tất nhiên, là sự chỉnh hợp. Hãy có suy nghĩ về sự chỉnh hợp này trong tâm thức của em khi em tiến hành tham thiền sau đây:
1. Sound the Sacred Word audibly, regarding yourself as the physical man and holding the thought of physical coordination.
1. Xướng Linh Từ thành tiếng, coi mình như con người hồng trần và suy nghĩ về sự phối hợp thể chất.
Interlude wherein you take six long slow breaths, thinking as you do so about coordination.
Một khoảng dừng trong đó em thực hiện sáu hơi thở dài và chậm, suy nghĩ về sự phối hợp khi em làm điều đó.
2. Sound the Sacred Word then inaudibly, regarding yourself as the astral-emotional man, holding whilst you do it the thought of the purification and the transmutation of desire.
2. Sau đó xướng Linh Từ không thành tiếng, coi mình như con người cảm dục-cảm xúc, và khi em làm điều đó suy nghĩ về sự thanh lọc và sự chuyển hóa của ham muốn.
Interlude wherein you seek definitely to raise your consciousness higher and, whilst you are doing this, taking seven long slow breaths.
Một khoảng dừng, trong đó em cố gắng nâng tâm thức của mình cao hơn và, trong khi làm điều này, hít thở bảy hơi dài và chậm.
3. Sound the Sacred Word inaudibly again, pondering this time upon the mind as the reflector of the light of the soul and endeavouring to hold the mind steady in that light.
3. Xướng Linh Từ không thành tiếng một lần nữa, lần này suy ngẫm về thể trí như là người phản chiếu ánh sáng của linh hồn và cố gắng giữ thể trí ổn định trong ánh sáng đó.
Interlude wherein you aspire to soul consciousness whilst taking ten long slow breaths, raising your consciousness as high as you can.
Một khoảng dừng trong đó em khát vọng đến tâm thức linh hồn trong khi thực hiện mười hơi thở dài và chậm, nâng tâm thức của em cao nhất có thể.
4. Sound the Sacred Word this time as the soul, realising that the attention of the soul is definitely turned to the personality and that it seeks to control and dominate the personality.
4. Xướng Linh Từ, lần này như là linh hồn, nhận ra rằng sự chú ý của linh hồn chắc chắn hướng đến phàm ngã và rằng nó tìm cách kiểm soát và chi phối phàm ngã.
When doing the slow breathing, endeavour to sit erect without tension, and see to it that at no time, when inhaling, you inflate the abdomen, but that the abdomen is held drawn in towards the spine below the diaphragm.
Khi thực hiện việc hít thở chậm, cố gắng ngồi thẳng lưng mà không căng thẳng, và đảm bảo rằng khi hít vào, em không làm phồng bụng mà bụng được giữ co lại về phía cột sống dưới cơ hoành.
My blessing rests upon you, my brother. In these hard days remember with joy that the Hierarchy of spiritual forces stands.
Phước lành của tôi luôn ở bên em, huynh đệ của tôi. Trong những ngày khó khăn này, hãy nhớ với niềm vui rằng Thánh đoàn của các lực lượng tinh thần vẫn đứng vững.
NOTE: This disciple is still presumably active in the Tibetan’s Ashram and close to Him, but has disappeared in the chaos of the European war.
LƯU Ý: Đệ tử này vẫn được cho là hoạt động trong Ashram của Chân sư Tây Tạng và gần gũi với Ngài nhưng đã biến mất trong sự hỗn loạn của chiến tranh châu Âu.
L. T. S-K.
Giới Thiệu: Để giúp tư liệu cho các bạn học viên tham khảo về đề tài đang được trình bày là ảo cảm, tôi sẽ lần lượt dịch tất cả Thư của Chân sư gửi các đệ tử trong Nhóm Hạt Giống Số 2, Nhóm Các Quan Sát Viên Lão Luyện, Nhóm các Người Quan Sát Thực Tại.
LTSK là công thức phát triển của Ernest Suffern, người Mỹ, sinh ngày 10/1/1880. Ông là một doanh nhân giàu có, chi hội trưởng một chi bộ Thông Thiên Học tại Mỹ. Ông là đệ tử duy nhất trong nhóm của Chân sư DK chưa được điểm đạo lần I, được Chân sư đặc cách thu nhận vào nhóm đệ tử của Ngài vì ông đã giúp đỡ tài chánh để bà Bailey in các sách của Chân sư, và “Thánh Đoàn không bao giờ vô ơn, vì lòng biết ơn là dấu hiệu của một linh hồn giác ngộ và là tác nhân giải thoát cơ bản từ góc độ khoa học và huyền linh”.
Cấu trúc cung của ông là III-VI 513. Dấu hiệu mặt trời Hổ Cáp, dấu hiệu mọc Leo. Với hai cung chính là 3 và 6, và ở trình độ tiến hoá hiện tại, ông thường xuyên bị ảo cảm, và trong thư gởi cho ông, Ngài viết như sau:
Hôm nay, em giống như một người đã quay lại và đi đến cửa sổ, và sau đó làm sạch một vòng tròn nhỏ trên cửa sổ để qua đó em nhìn. Em có thể thấy rõ ràng hơn. Phòng được thắp sáng hơn, và bây giờ em đã nhận thức rõ hơn về những gì em cần làm cho mình và cho căn phòng. Điều này đã là rất nhiều, huynh đệ của tôi, vì em đã làm tất cả trong vòng mười hai tháng qua. Trước thời điểm đó, sự thành công của em có vẻ đáng nghi ngờ, không phải vì ý định xấu, mà bởi vì em đã quá quen với vị trí và thái độ của mình, với căn phòng em sống. Kiến thức của em về những gì nằm bên ngoài là thuần lý thuyết mà không có tính thực tiễn. DINAI 598
Nhưng sau đó, ảo cảm tiếp tục xuất hiện, và LTSK bị nhấn chìm trong sương mù ảo cảm, đủ loại ảo cảm mà Ngài liệt kê ra, gây ảnh hưởng nặng đến công việc của Nhóm 2, Nhóm các Nhà Quan Sát Lão Luyện, đến nỗi Ngài phải yêu cầu LTSK ra khỏi nhóm. Sau một thời gian, khi LTSK đã khắc phục phần nào, Ngài đưa LTSK trở lại nhóm, cũng vì để Nhóm giúp bảo vệ LTSK
LTSK có những ảo cảm rất đặc trưng của cung 3, có những “kế hoạch vĩ đại” nhưng không tưởng, một thể trí luôn bận rộn với những kế hoạch của riêng mình, nhưng những gì thiết thực nhất mà Chân sư yêu cầu thực hiện cùng nhóm thì ông không quan tâm.
Một điểm khác là do khả năng thông linh bậc thấp, ông tiếp xúc với một hình tư tưởng của Chân sư DK trên cõi trung giới, theo đưởi vị Thầy giả mạo “Bucyrus” một thời gian 😊, trước khi từ bỏ.
LTSK là một người say mê cuồng nhiệt đối với các tác phẩm của Chân sư DK, đi khắp nơi để tuyên truyền cho các sách của Chân sư DK. Và thực sự trong bất kỳ cuộc trò chuyện nào, điều duy nhất ông sẽ làm là áp đặt ý tưởng về những cuốn sách này trong kế hoạch cuộc đời.
Ngoài ra, ông mong muốn trở thành một nhà khoa học hiện đại. Theo Thầy Hiệu trưởng, lúc đó là thời kỳ mà thuyết tương đối của Einstein và các nghiên cứu về năng lượng hạt nhân và nguyên tử đang nổi lên, LTSK tự cho mình có thể là một nhà khoa học trong những lĩnh vực đó, và Chân sư DK, qua những lá thư viết cho ông nói, đôi khi với giọng điệu nghiêm khắc, nhắc nhở ông về những ảo cảm và ảo tưởng đó. Ngài nói, Này, hãy nhìn xem, tâm trí của bạn không tương xứng. Phàm ngã của bạn quá nhỏ bé, bạn sẽ không bao giờ thành công nếu làm việc với ảo tưởng rằng bằng cách nào đó bạn có khả năng khoa học vì bạn có hứng thú với nó, nhưng bạn thực sự không có bất kỳ khả năng nào để làm được gì nhiều với khoa học. Đó không thực sự là một phần trong chương trình cuộc sống của bạn.
Ông đã bao giờ từ bỏ ảo tưởng đó chưa? Trong lá thư cuối cùng Chân sư nói rằng ông đã thất bại trong kiếp sống này, và Chân sư nói rằng kiếp sau ông sẽ có một phàm ngã cung một, và sự kết hợp giữa linh hồn cung 3 và phàm ngã cung 1 sẽ một kết hợp khó khăn, nhưng những thử thách và kỷ luật trong kiếp này đã chuẩn bị cho ông trong kiếp mai sau. Trong các thư, Chân sư DK rất nghiêm khắc với ông, nhưng cũng chính Ngài đã đưa ông trở lại vào Ashram để bảo vệ ông khỏi bước vào con đường lầm lạc, mà trong kiếp trước ông đã suýt sa vào tả đạo.
LTSK là đặc trưng cho người chí nguyện hay giai đoạn tiểu đệ tử, giằng xé giữa hai mãnh lực, trong vòng xoáy của ảo cảm.
*******************************
Ernest Suffern (LTS-K). DNA vol. 1. p.595; vol. 2. p. 725.
Quality Name. Lucidity, Truth, Self-knowledge (602).
Rays: 3 6 513. Country: USA. Occupation: Wealthy businessman. Sun Sign: Capricorn. Rising Sign: Leo. Birth: Jan 10, 1880. He was asked to resign from the group. Later, he was reinstated
Công thức phát triển. Sáng suốt, Chân thật, Tự tri.
Cấu trúc cung: III-6, 513. Quốc gia: Mỹ. Nghề nghiệp: Doanh nhân giàu có. Dấu hiệu hoàng đạo: Mặt Trời Ma Kết, dấu hiệu mọc Sư Tử. Sinh ngày 10 tháng 1 năm 1880. Ông bị yêu cầu ra khỏi nhóm. Sau đó, ông được phục hồi vào Nhóm Đệ tử.
“L.T.S-K., I felt, needed the protection of the group against his constantly recurring glamours and his innate glamour-making tendency; I, therefore, reinstated him for his own protection so that in a coming life he can start earlier, and move forward with greater precision.” DNA II, 33.
Tôi cảm thấy rằng L.T.S-K. cần sự bảo vệ của nhóm chống lại ảo cảm liên tục, lặp đi lặp lại, và xu hướng tạo ra ảo cảm bẩm sinh của em ấy; Do đó, tôi đã phục hồi em vào nhóm để bảo vệ chính em ấy để trong kiếp sau, em ấy có thể bắt đầu sớm hơn và tiến về phía trước với độ chính xác cao hơn. DN II, 33.