Vòng Tái Sinh – Chương II – Ai Cậo

📘 Sách: Vòng Tái Sinh (Wheel of Life) Song ngữ – Tác giả: H.K. Challoner

CHAPTER IICHƯƠNG II

EGYPT—AI CẬP

One day, some time later, my attention was directed to a scarab ring which I had worn for many years. I had been given the choice of several and had selected this one by what then seemed an incomprehensible impulse; for besides being slightly damaged it was the plainest of the collection. The inscription read: “May Ra protect thy days.” Later I discovered, engraved minutely upon the back, a small hawk—Horus, the Son of the Egyptian Trinity, the wings of which, incidentally, were part of the insignia of royalty.

Một ngày nọ, một thời gian sau đó, sự chú ý của tôi được hướng đến một chiếc nhẫn bọ hung mà tôi đã đeo trong nhiều năm. Tôi đã được cho chọn giữa vài chiếc và đã chọn chiếc này bởi một thôi thúc khi ấy dường như không thể hiểu nổi; vì ngoài việc bị sứt mẻ đôi chút, nó còn là chiếc đơn giản nhất trong cả bộ sưu tập. Dòng khắc ghi là: “Cầu mong Ra bảo hộ những ngày của ngươi.” Về sau tôi phát hiện, được khắc rất nhỏ ở mặt sau, một con diều hâu nhỏ—Horus, Con của Tam Vị Ai Cập, mà đôi cánh của nó, nhân tiện nói thêm, là một phần của huy hiệu vương quyền.

I was now informed by my teacher that the ring had belonged to me in the past, when it had been specially magnetized through a magical process, a vibration from the soul being projected into it. This had been done in order that, when it again came into my possession—as such a magical amulet would be bound to do by the Law of Attraction which draws like to like—certain latent currents from that past life would be, as it were, restimulated through the contact. This is the reason, he told me, why it is dangerous for uninstructed people to wear ancient amulets, since the powers therein imprisoned may possibly be inimical to them.

Giờ đây huấn sư của tôi cho tôi biết rằng chiếc nhẫn ấy đã từng thuộc về tôi trong quá khứ, khi nó đã được từ hóa đặc biệt qua một tiến trình huyền thuật, một rung động từ linh hồn được phóng chiếu vào trong đó. Điều này đã được thực hiện để khi nó lại trở về tay tôi—như một bùa hộ mệnh huyền thuật như thế tất nhiên sẽ làm theo Định luật Hấp Dẫn kéo cái giống với cái giống—thì một số dòng lực tiềm ẩn từ kiếp sống quá khứ ấy sẽ, có thể nói như vậy, được kích thích trở lại qua sự tiếp xúc. Đây là lý do, ông bảo tôi, vì sao việc những người không được chỉ dạy đeo các bùa hộ mệnh cổ xưa là nguy hiểm, bởi các quyền năng bị giam giữ trong đó có thể có khả năng thù nghịch với họ.

“Some day you will return to Egypt,” he said. “Certain work awaits you to be done in connection with that country. For remember, birth into a nation implies the recognition of certain responsibilities towards it. Nations are spiritual Entities, and when you become a part of that corporate being—a cell in its body—you draw upon certain forces and aspects of its life which it alone can give you; therefore you owe it an obligation and must pay back what you have taken from it at some time or another. Hence it is that men so often feel the ardent desire to work, aye, even to die, for some particular country. In a time when much of the present Karma of separativeness is being worked off and man’s more balanced development will dispense with the necessity for such differentiations, national characteristics will become less marked and all men will draw nearer to each other until eventually the barriers now separating nation from nation die out. Already the more highly evolved—men who have incarnated into many lands and given generously of their best to all—are free of every country. Seek to develop through better understanding this feeling of close kinship with all, meanwhile serving the country to which you are now tied by your karmic needs with the highest wisdom that you can.

“Một ngày nào đó bạn sẽ trở lại Ai Cập,” ông nói. “Có một số công việc đang chờ bạn làm liên hệ với đất nước ấy. Vì hãy nhớ rằng, sinh ra trong một quốc gia hàm ý sự thừa nhận một số trách nhiệm nhất định đối với quốc gia đó. Các quốc gia là những Thực Thể tinh thần, và khi bạn trở thành một phần của hữu thể tập thể ấy—một tế bào trong thể của nó—bạn rút lấy một số mãnh lực và phương diện của sự sống của nó mà chỉ riêng nó mới có thể ban cho bạn; vì vậy bạn mắc nợ nó và phải hoàn trả điều bạn đã lấy từ nó vào lúc này hay lúc khác. Do đó mà những người nam và nữ thường cảm thấy khát vọng cháy bỏng muốn làm việc, vâng, thậm chí muốn chết, cho một đất nước nào đó. Trong một thời kỳ mà phần lớn nghiệp quả hiện tại của tính chia rẽ đang được giải trừ và sự phát triển quân bình hơn của con người sẽ loại bỏ sự cần thiết của những phân biệt như thế, các đặc tính quốc gia sẽ trở nên ít rõ nét hơn và mọi người sẽ đến gần nhau hơn cho đến khi cuối cùng những rào cản hiện đang ngăn cách quốc gia này với quốc gia khác sẽ tan biến. Ngay lúc này những người tiến hóa cao hơn—những người đã lâm phàm vào nhiều xứ sở và rộng rãi hiến dâng điều tốt đẹp nhất của mình cho tất cả—đã tự do khỏi mọi quốc gia. Hãy tìm cách phát triển qua sự thấu hiểu tốt hơn cảm giác thân thuộc gần gũi này với mọi người, đồng thời phụng sự đất nước mà hiện nay bạn đang gắn bó bởi những nhu cầu nghiệp quả của mình với minh triết cao nhất mà bạn có thể có.

“As for this debt contracted in Egypt, you will meet several links from that past in this life and be given the opportunity of paying your debts to them. You have never previously been fitted to undertake this work, as it involves certain knowledge which has been hitherto cut off from your consciousness but which will soon be once more revealed to you. But it may take many years to accomplish.”

“Còn về món nợ đã kết tạo ở Ai Cập này, trong kiếp này bạn sẽ gặp vài mối liên hệ từ quá khứ ấy và được trao cơ hội trả nợ cho họ. Trước đây bạn chưa bao giờ thích hợp để đảm đương công việc này, vì nó bao hàm một số tri thức từ trước đến nay đã bị cắt khỏi tâm thức của bạn nhưng chẳng bao lâu nữa sẽ lại được mặc khải cho bạn. Nhưng có thể phải mất nhiều năm mới hoàn thành được.”

He watched me, smiling. “You do not believe me?”

Ông nhìn tôi, mỉm cười. “Bạn không tin tôi sao?”

“I do not understand how it can be done,” I admitted, “with all the difficulties I now see in my path.”

“Tôi không hiểu làm sao điều đó có thể được thực hiện,” tôi thú nhận, “với tất cả những khó khăn mà giờ đây tôi thấy trên đường mình.”

“You will find there are more ways than one of returning to the lands of your past,” he replied enigmatically. And with that I had perforce to be content.

“Bạn sẽ thấy có nhiều hơn một cách để trở về những miền đất của quá khứ mình,” ông đáp một cách bí ẩn. Và với chừng ấy tôi buộc phải bằng lòng.

One night, shortly after this, I found myself in sleep before two great pyramids. In front of my eyes was the scarab ring and as I looked upon it the hawk appeared to detach itself therefrom, growing to such gigantic proportions that soon it filled the sky. It hovered over my head, its wings stretching above me. I seemed to hear the words: “The hawk of thy protection,” and to my mind was recalled the ancient text: “And the shadow of his wings over thee is love….”

Một đêm nọ, không lâu sau đó, trong giấc ngủ tôi thấy mình đứng trước hai kim tự tháp lớn. Trước mắt tôi là chiếc nhẫn bọ hung, và khi tôi nhìn nó, con diều hâu dường như tách mình ra khỏi đó, lớn lên đến những kích thước khổng lồ đến nỗi chẳng bao lâu nó lấp đầy bầu trời. Nó lơ lửng trên đầu tôi, đôi cánh dang rộng phía trên tôi. Tôi dường như nghe thấy những lời: “Con diều hâu bảo hộ của ngươi,” và trong trí tôi hiện về bản văn cổ: “Và bóng cánh của ngài phủ trên ngươi là tình thương….”

• • • • •

• • • • •

Yet when at length I found myself projected back into that past there was no scarab upon my finger nor any love in my heart, and the only protection 1 possessed was my own indomitable will. I stood at an upper window gazing over the flat roofs of a palace towards the faint line which marked the beginning of the desert. A full moon floated in a sky so darkly blue, yet so luminous, it seemed like a great inverted, jewelled bowl. The stars were pale in comparison with that livid light. I looked at them. Ah, if a man might reach the stars… but I was tied to earth, an earth which seemed to have nothing more to offer me since I could find nothing any longer therein upon which I might with profit and amusement exercise my powers of will.

Thế nhưng khi cuối cùng tôi thấy mình được phóng chiếu trở lại quá khứ ấy thì trên ngón tay tôi không có con bọ hung nào, cũng không có tình thương nào trong tim tôi, và sự bảo hộ duy nhất tôi có là ý chí bất khuất của chính mình. Tôi đứng ở một cửa sổ trên cao nhìn qua những mái bằng của một cung điện về phía đường mờ nhạt đánh dấu sự bắt đầu của sa mạc. Một vầng trăng tròn trôi trong bầu trời xanh thẫm đến mức, mà lại sáng rực đến mức, nó giống như một chiếc bát lớn nạm ngọc bị úp ngược. Các vì sao nhợt nhạt so với thứ ánh sáng tái nhợt ấy. Tôi nhìn chúng. A, giá một người có thể vươn tới các vì sao… nhưng tôi bị trói vào Trái Đất, một Trái Đất dường như không còn gì để hiến cho tôi nữa vì tôi không còn tìm thấy trong đó điều gì mà tôi có thể dùng quyền năng ý chí của mình lên đó một cách có lợi và thích thú.

Despite the fact that I was Pharaoh I was aware of a weariness so profound that it cannot be described. At that moment anything would have been welcome to my jaded spirit, even death. No, not death—since that meant the relinquishing of power. Death was defeat; death was the annihilation of that which was Myself. Power, victory, and the sense of myself as the very source of Will, of Being—as indeed almost a god, these could not be relinquished.

Mặc dù tôi là Pharaoh, tôi vẫn ý thức một sự mệt mỏi sâu xa đến mức không thể diễn tả. Trong khoảnh khắc ấy, bất cứ điều gì cũng sẽ được tinh thần rã rời của tôi hoan nghênh, ngay cả cái chết. Không, không phải cái chết—vì điều đó có nghĩa là từ bỏ quyền lực. Cái chết là thất bại; cái chết là sự hủy diệt của điều vốn là Chính Tôi. Quyền lực, chiến thắng, và cảm giác về chính mình như là nguồn cội của Ý Chí, của Bản Thể—quả thật gần như một vị thần, những điều ấy không thể bị từ bỏ.

I passed my hand across my forehead. My head was aching intolerably. Perhaps soon I would welcome even annihilation—there were worse things than that… I shuddered.

Tôi đưa tay ngang trán. Đầu tôi đau nhức không thể chịu nổi. Có lẽ chẳng bao lâu nữa tôi sẽ hoan nghênh ngay cả sự hủy diệt—có những điều còn tệ hơn thế… Tôi rùng mình.

From below, the sound of music and of laughter floated up on the scented air. I had retired from the banqueting hall some hours before leaving the revellers to their orgy. I had lately found myself satiated with such amusements, as indeed with every sensation evoked by lust, by battle and by sheer delight in cruelty to which at the beginning of my career 1 had madly abandoned myself.

Từ bên dưới, tiếng nhạc và tiếng cười bay lên trong làn không khí thơm ngát. Tôi đã rời khỏi đại sảnh yến tiệc từ vài giờ trước, để mặc những kẻ vui chơi tiếp tục cuộc truỵ lạc của chúng. Gần đây tôi thấy mình đã chán ngấy những thú vui như thế, cũng như mọi cảm giác được khơi dậy bởi dục vọng, bởi chiến trận và bởi chính niềm khoái lạc trong sự tàn nhẫn mà vào buổi đầu sự nghiệp tôi đã điên cuồng buông mình vào.

The Egyptians were not by nature cruel, but my mother had been a slave from one of those tribes of semi-savages worshipping a god called Javeh who loved blood sacrifice and whose priests inculcated cruelty and vengeance into their people’s minds. Thus in my veins the more gentle blood of the culture-loving people of the Delta lands was mixed with the ruthless and passionate strain of a Hebrew woman.

Người Ai Cập vốn không tàn nhẫn theo bản chất, nhưng mẹ tôi là một nữ nô lệ thuộc một trong những bộ tộc bán man dã thờ một vị thần gọi là Javeh, đấng yêu thích hiến tế bằng máu và các tư tế của đấng ấy đã gieo vào tâm trí dân mình sự tàn nhẫn và lòng báo thù. Vì thế trong huyết quản tôi, dòng máu dịu hòa hơn của dân tộc yêu văn hóa ở vùng châu thổ đã pha trộn với dòng máu dữ dội và đầy đam mê của một người đàn bà Hebrew.

It was this perhaps, which had helped me to the throne. While the rest of Pharaoh’s sons were weak, effeminate, easily succumbing to intrigue, I was hard as steel. I soon rose to be one of my father’s most trusted generals. At that time Egypt was passing through one of her periods of temporary obscuration. But I dreamed of a united and victorious land with myself at its head. I did not intrigue against Pharaoh, I was far-sighted enough to perceive that there was no need to run such risks for he was his own worst enemy. When at length he was assassinated by one of his elder sons I swept in with loyal troops, captured the usurper, had him done to death and placed the rightful heir upon the throne. The fates played into my hands, as I, with foreknowledge, had well known they would do. In three months he was dead of a disease from which he had suffered long. The people of Egypt urged on by the High Priest, Besiurt, who saw in me the one man who could save the land from the gathering hordes of enemies, clamoured that I should accept the crown. The height of my ambition was achieved.

Có lẽ chính điều này đã giúp tôi lên ngôi. Trong khi những con trai khác của Pharaoh thì yếu đuối, ẻo lả, dễ dàng khuất phục trước mưu mô, tôi cứng như thép. Tôi nhanh chóng vươn lên thành một trong những vị tướng được cha tôi tin cậy nhất. Khi ấy Ai Cập đang trải qua một trong những thời kỳ lu mờ tạm thời của mình. Nhưng tôi mơ về một đất nước thống nhất và chiến thắng với chính mình ở vị trí đứng đầu. Tôi không mưu phản Pharaoh, tôi đủ nhìn xa để nhận ra rằng không cần phải liều lĩnh như thế vì ông là kẻ thù tệ hại nhất của chính mình. Cuối cùng khi ông bị một người con trai lớn hơn ám sát, tôi đem quân trung thành tràn vào, bắt giữ kẻ tiếm vị, xử tử hắn và đặt người thừa kế chính đáng lên ngai vàng. Số mệnh đã chơi đúng vào tay tôi, như tôi với sự biết trước đã hiểu rõ rằng chúng sẽ làm vậy. Trong ba tháng, ông ta chết vì một căn bệnh mà ông đã mắc từ lâu. Dân Ai Cập, được thúc đẩy bởi Đại Tư Tế Besiurt, người nhìn thấy nơi tôi con người duy nhất có thể cứu đất nước khỏi những đoàn quân thù đang tụ tập, đã ầm vang đòi tôi nhận vương miện. Đỉnh cao tham vọng của tôi đã đạt được.

Seven years I had been upon the throne. Egypt was at last at peace, her borders secure, her enemies terrified into acquiescence. But I was beset by subtler enemies. And since, by my very triumph, I had been condemned to comparative inaction, they had become more powerful and insidious. From a child 1 had been prone to strange seizures, to outbreaks of uncontrollable rage, to long periods of depression so profound that it was as if I were immersed in waves of darkness which cut me off from the light of the sun and from all contact with my kind. In these last years the symptoms had alarmingly increased. Seldom now did I sleep; and when I did my dreams were filled with such fearful visions that I was thankful to return to consciousness. In vain I had gone to priests and physicians; neither their craft nor their magical practices availed me anything.

Tôi đã ở trên ngai vàng bảy năm. Cuối cùng Ai Cập đã yên bình, biên cương của nàng được bảo vệ, kẻ thù của nàng bị làm cho kinh hãi đến mức phải thuận phục. Nhưng tôi lại bị vây bủa bởi những kẻ thù tinh vi hơn. Và vì chính chiến thắng của mình mà tôi đã bị kết án vào tình trạng tương đối bất động, nên chúng đã trở nên mạnh hơn và ngấm ngầm hơn. Từ thuở nhỏ tôi đã dễ bị những cơn phát tác kỳ lạ, những cơn giận dữ không thể kiểm soát, những giai đoạn trầm uất kéo dài sâu thẳm đến mức như thể tôi bị nhấn chìm trong những làn sóng tối tăm cắt đứt tôi khỏi ánh sáng mặt trời và khỏi mọi tiếp xúc với đồng loại. Trong những năm gần đây các triệu chứng đã gia tăng một cách đáng báo động. Giờ đây hiếm khi tôi ngủ; và khi ngủ, những giấc mơ của tôi đầy những linh ảnh kinh hoàng đến nỗi tôi biết ơn khi trở lại tâm thức tỉnh thức. Tôi đã vô ích tìm đến các tư tế và thầy thuốc; cả nghề nghiệp lẫn các thực hành huyền thuật của họ đều chẳng giúp ích gì cho tôi.

Yet I could not believe myself condemned thus to drift helplessly down to madness and death. That part of me which had driven on through a thousand difficulties knew that there could be no defeat for the man who did not doubt himself or his destiny. If these were demons that attacked me, then they could be exorcized. If my illness was caused by the Gods, then its cure must also be known to them. If there was no priest in Egypt wise enough to discover its causes and its remedy, then must I seek elsewhere and make my demand for help to beings greater and wiser than they. It seemed to me but a matter of right knowledge. Perhaps, I thought, the answer to my problem would turn out to be also the key to the very meaning of Life itself—a meaning which I had always vainly sought. And faced now with this awful menace, the conviction was forced upon me that I must indeed find the answer to my enigma—or perish.

Tuy vậy tôi không thể tin rằng mình bị kết án như thế để bất lực trôi dạt xuống cơn điên loạn và cái chết. Phần trong tôi đã thúc đẩy tiến lên qua ngàn khó khăn biết rằng không thể có thất bại cho người không nghi ngờ chính mình hay định mệnh của mình. Nếu đây là những quỷ ma tấn công tôi, thì chúng có thể bị trừ khử. Nếu bệnh của tôi do các Thượng đế gây ra, thì phương thuốc chữa nó hẳn cũng phải được các Ngài biết đến. Nếu ở Ai Cập không có tư tế nào đủ minh triết để khám phá nguyên nhân và phương thuốc của nó, thì tôi phải tìm nơi khác và đưa ra yêu cầu trợ giúp của mình với những hữu thể lớn lao và minh triết hơn họ. Với tôi dường như đó chỉ là vấn đề của tri thức đúng đắn. Có lẽ, tôi nghĩ, lời giải cho vấn đề của tôi cũng sẽ hóa ra là chiếc chìa khóa cho chính ý nghĩa của Sự sống—một ý nghĩa mà tôi luôn tìm kiếm vô vọng. Và giờ đây, đối diện với mối đe dọa khủng khiếp này, niềm xác tín đã bị ép buộc lên tôi rằng tôi quả thật phải tìm ra lời giải cho câu đố của mình—hoặc diệt vong.

My hands gripping the ledge with such intensity that the knuckles gleamed white in the moonlight, I leant forward, sending a wordless cry out into the night where Nut spanned the firmament with her shining body.

Hai tay bấu chặt bệ cửa đến mức các khớp ngón trắng lên dưới ánh trăng, tôi nghiêng người về phía trước, gửi một tiếng kêu không lời vào màn đêm nơi Nut giăng thân thể sáng ngời của bà qua vòm trời.

A burst of music and laughter was my only reply. Rage swept me like a flame. I swung round, strode to the doorway and with one wrench tore the curtain from its hanging. A terrified sentry confronted me.

Một tràng nhạc và tiếng cười là câu trả lời duy nhất của tôi. Cơn giận quét qua tôi như ngọn lửa. Tôi quay phắt lại, sải bước đến khung cửa và chỉ với một cú giật đã xé tấm rèm khỏi chỗ treo. Một lính canh kinh hãi đối diện tôi.

“Go down,” I cried, “bid those fools cease. Clear the tables, throw them all out. And tell them that, by all the Gods of Egypt, if I hear one sound more from any man or woman, they will be flung into the lions’ pit.”

“Xuống dưới đi,” tôi quát, “bảo lũ ngu ấy im ngay. Dọn sạch bàn tiệc, tống hết chúng ra ngoài. Và bảo chúng rằng, nhân danh tất cả các Thượng đế của Ai Cập, nếu ta còn nghe thêm một âm thanh nào nữa từ bất kỳ nam hay nữ nào, chúng sẽ bị quăng vào hố sư tử.”

The man prostrated himself, trembling. “The good God is obeyed,” he muttered, and fled down the passage to do my bidding.

Người ấy phủ phục xuống, run rẩy. “Thiện Thần được vâng lời,” y lẩm bẩm, rồi chạy dọc hành lang để thi hành mệnh lệnh của tôi.

I returned to the window. From one moment to the next the uproar ceased and I was left alone with the quiet night.

Tôi trở lại cửa sổ. Chỉ từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc kế tiếp, tiếng ồn ào đã dứt và tôi bị bỏ lại một mình với đêm tĩnh lặng.

I was still shaking, but now it was with fear rather than with anger. Through my head I felt the drive as of fiery swords, forerunners of a fresh attack from my secret enemies. Ah, were all my triumphs to come to this? What avail my lifelong struggle for power if it was to end in a limbo of madness and satiety?

Tôi vẫn còn run, nhưng giờ đây là vì sợ hãi hơn là vì giận dữ. Trong đầu tôi cảm thấy sự thúc ép như của những thanh gươm lửa, điềm báo của một cơn tấn công mới từ những kẻ thù bí mật của tôi. A, phải chăng mọi chiến thắng của tôi sẽ đi đến chỗ này? Cuộc đấu tranh suốt đời của tôi để giành quyền lực có ích gì nếu nó phải kết thúc trong một cõi limbo của điên loạn và chán chường?

The silence now was more agonizing to me than the music and the laughter. I could endure it no more. I left the chamber and passing rapidly down the passages which connected the Palace with the Temple, came at length to the apartments of the High Priest, Besiurt.

Giờ đây sự im lặng còn làm tôi đau đớn hơn cả tiếng nhạc và tiếng cười. Tôi không thể chịu nổi nó thêm nữa. Tôi rời căn phòng và đi nhanh qua những hành lang nối Cung điện với Đền thờ, cuối cùng đến các gian phòng của Đại Tư Tế, Besiurt.

He was working tonight upon the roof of the Temple in a small chamber built with twelve sides, each dedicated to one of the Signs of the Zodiac, through the windows of which, it was said, he had power to command the emanations from the Signs to flow.

Đêm nay ông đang làm việc trên mái Đền trong một căn phòng nhỏ xây mười hai mặt, mỗi mặt được hiến dâng cho một trong các dấu hiệu hoàng đạo, qua những cửa sổ của nó, người ta nói rằng ông có quyền năng truyền lệnh cho các phát xạ từ các Dấu Hiệu tuôn chảy.

He rose to greet me, bowing ceremoniously; but the eyes in the stern and emaciated face were cold.

Ông đứng dậy đón tôi, cúi chào theo nghi thức; nhưng đôi mắt trong gương mặt nghiêm khắc và gầy guộc thì lạnh lẽo.

“I was studying the movements of the planets,” he announced, “but if Pharaoh desires speech with me, I will listen.”

“Ta đang nghiên cứu các chuyển động của các hành tinh,” ông tuyên bố, “nhưng nếu Pharaoh muốn nói chuyện với ta, ta sẽ lắng nghe.”

His arrogance nettled me. “Perchance the planets can answer my questions, since the Gods remain silent—or is it that the priests can no longer decipher the heavenly heiroglyphics?” I went to one of the embrasures and looked out over the sleeping city.

Sự ngạo mạn của ông làm tôi bực tức. “Có lẽ các hành tinh có thể trả lời những câu hỏi của ta, vì các Thượng đế vẫn im lặng—hay là các tư tế không còn giải được những thiên tượng chữ tượng hình nữa?” Tôi bước đến một ô cửa lõm và nhìn ra thành phố đang ngủ.

“Pharaoh stands beneath the Sign of the Fish,” came Besiurt’s quiet voice behind me. “It is the symbol of an age which is of the far future. Does Pharaoh wish me to tell him how he will incarnate then? But mayhap it is better not to know, he might be a beggar—or a woman….”

“Pharaoh đứng dưới dấu hiệu của Con Cá,” giọng nói trầm tĩnh của Besiurt vang lên sau lưng tôi. “Đó là biểu tượng của một thời đại thuộc tương lai xa xôi. Pharaoh có muốn ta nói cho ngài biết ngài sẽ lâm phàm thế nào khi ấy không? Nhưng có lẽ tốt hơn là đừng biết, ngài có thể là một kẻ ăn mày—hay một người đàn bà….”

I swung round thrusting my face, as dark and stern as his own, close to him. “I do not come here for idle prognostications, but for truth; can you give it me?”

Tôi quay phắt lại, dí gương mặt tối sầm và nghiêm khắc của mình sát vào ông. “Ta không đến đây vì những lời tiên đoán vô ích, mà vì chân lý; ông có thể cho ta điều đó không?”

“Truth? I have known men killed for even hinting at truth in the presence of a king.”

“Chân lý ư? Ta đã biết những người bị giết chỉ vì hé gợi đến chân lý trước mặt một vị vua.”

“You are more like to die if you withhold it.” I pointed to the rolls of papyrus upon the table. “You were to study once more the chart of my Stars. Have they aught to tell me?”

“Nếu ông giữ lại nó thì ông càng dễ chết hơn.” Tôi chỉ vào những cuộn giấy cói trên bàn. “Ông đã phải nghiên cứu lại lá số các Vì Sao của ta. Chúng có điều gì để nói với ta không?”

He hesitated and his eyes slipped away from mine.

Ông ngần ngại và mắt ông lảng khỏi mắt tôi.

“I have been meditating long upon it,” he muttered, “but the secret evades me still. There are strange aspects there, I know not what they may bring. They form from the houses of the higher and lower mind.”

“Ta đã tham thiền rất lâu về nó,” ông lẩm bẩm, “nhưng bí mật vẫn lẩn tránh ta. Ở đó có những góc hợp lạ lùng, ta không biết chúng có thể mang đến điều gì. Chúng hình thành từ các nhà của thượng trí và hạ trí.”

“The mind? Speak, I do not fear. Might that mean— madness?”

“Trí tuệ ư? Hãy nói đi, ta không sợ. Điều đó có thể có nghĩa là—điên loạn chăng?”

“I do not know. With some it might manifest as an expansion, a pouring down of spiritual force. But with you—” there was scarcely-veiled scorn in his voice, “how could it mean that with you, who are not one of Us?”

“Ta không biết. Với một số người, nó có thể biểu hiện như một sự mở rộng, một sự tuôn đổ của mãnh lực tinh thần. Nhưng với ngài—” trong giọng ông có sự khinh miệt hầu như không che giấu, “làm sao điều đó có thể có nghĩa như thế với ngài, kẻ không phải là một trong Chúng Ta?”

His words had stirred me so profoundly that I was hardly aware of his arrogance. I sank into a chair and sat for a little while brooding deeply. Could that mean then that I should receive some enlightenment through which I might be enabled to do battle with my fell disease? Understanding or madness—these seemed the alternatives.

Lời ông đã khuấy động tôi sâu xa đến mức tôi hầu như không nhận ra sự ngạo mạn của ông. Tôi ngồi xuống ghế và trầm ngâm sâu sắc một lúc. Vậy thì điều đó có thể có nghĩa là tôi sẽ nhận được một sự soi sáng nào đó nhờ đó tôi có thể được giúp để chiến đấu với căn bệnh ghê gớm của mình chăng? Thấu hiểu hay điên loạn—đó dường như là hai khả năng.

Presently I looked up. “Besiurt,” I said, “tonight I would open my heart to you, not as Pharaoh to priest, but as man to man. I know that you still scorn me as an upstart, but I would remind you that, without the fear of my right hand, Egypt would swiftly fall into anarchy; should I die now there is not one general, not one prince of the royal line who could defend the land. Yet I am dying; I am rapidly being overwhelmed, destroyed. You know of this, but you do not know all. During the last three years I have been daily growing more afraid, I, who have never known what fear was; for I seem to myself now to be two persons; it is as if some terrible enemy had made his habitation in the citadel of my body who grows ever stronger, gradually conquering my will.”

Một lúc sau tôi ngước lên. “Besiurt,” tôi nói, “đêm nay ta muốn mở lòng với ông, không phải như Pharaoh với tư tế, mà như người với người. Ta biết ông vẫn khinh ta như một kẻ mới phất, nhưng ta muốn nhắc ông rằng, nếu không có nỗi sợ đối với cánh tay phải của ta, Ai Cập sẽ nhanh chóng rơi vào vô chính phủ; nếu ta chết lúc này thì không có lấy một vị tướng, không có lấy một hoàng tử nào của dòng dõi hoàng gia có thể bảo vệ đất nước. Thế nhưng ta đang chết; ta đang nhanh chóng bị nhấn chìm, bị hủy hoại. Ông biết điều này, nhưng ông không biết tất cả. Trong ba năm qua ta ngày một trở nên sợ hãi hơn, ta, kẻ chưa từng biết sợ là gì; vì giờ đây ta thấy mình như là hai con người; như thể một kẻ thù khủng khiếp nào đó đã dựng chỗ ở của hắn trong thành trì của thể ta và ngày càng mạnh hơn, dần dần chinh phục ý chí của ta.”

I sprang to my feet and began pacing up and down the chamber. “You, immersed in your ceremonies, brooding over your planets and your calculations, you do not know the burnings of lust, the torments of unsatisfied ambitions, the fierce passions of battle and of the chase; nor do you know the desolation of satiety, the weariness of inaction, the terror of realizing that one’s will is weakening and that no more will one be master of all these manifestations of life. Ah, to look ahead and see…

Tôi bật dậy và bắt đầu đi đi lại lại trong phòng. “Ông, chìm đắm trong những nghi lễ của mình, ủ ê bên các hành tinh và các phép tính của mình, ông không biết những thiêu đốt của dục vọng, những dày vò của tham vọng không được thỏa mãn, những đam mê dữ dội của chiến trận và săn đuổi; ông cũng không biết sự hoang vắng của chán chường, sự mệt mỏi của bất động, nỗi kinh hoàng khi nhận ra rằng ý chí của mình đang suy yếu và rồi sẽ không còn làm chủ được tất cả những biểu hiện này của sự sống nữa. A, nhìn về phía trước và thấy…”

I broke off and sank shuddering into the chair. “Of what use to be Pharaoh, to be the greatest power on earth, unless one has power over oneself? Yet how may a man discover this power? What is its essence?” I strode up to him clenching my hands over my head. “I tell you, Besiurt, there is more than my life at stake in this—aye more than my sanity. For I feel over me a menace greater than that of the mere destruction of the body. I cannot tell you what I mean, for I do not myself understand it. It is as if I were faced, not with death—that matters little since we live again—but with a greater death—the annihilation—if that were possible—of my whole self, my very soul. Could such a thing be, Besiurt? To be destroyed utterly and without hope, so that not all the magical texts, not all the skill of priests and embalmers, nothing—nothing could prevail. It is this I feel. What have I done to deserve such a fate?”

Tôi ngừng lại và rùng mình ngồi phịch xuống ghế. “Có ích gì khi là Pharaoh, là quyền lực lớn nhất trên Trái Đất, nếu một người không có quyền lực trên chính mình? Nhưng làm sao một người có thể khám phá ra quyền lực này? Bản chất của nó là gì?” Tôi sải đến chỗ ông, hai tay siết chặt trên đầu. “Ta nói cho ông biết, Besiurt, trong chuyện này có nhiều hơn cả mạng sống của ta bị đe dọa—vâng, nhiều hơn cả sự tỉnh trí của ta. Vì ta cảm thấy trên đầu mình một mối đe dọa lớn hơn sự hủy diệt đơn thuần của thể xác. Ta không thể nói cho ông biết ta muốn nói gì, vì chính ta cũng không hiểu. Như thể ta đang đối diện, không phải với cái chết—điều đó chẳng đáng kể vì chúng ta lại sống nữa—mà với một cái chết lớn hơn—sự hủy diệt—nếu điều đó có thể—của toàn bộ bản thân ta, của chính linh hồn ta. Điều đó có thể xảy ra chăng, Besiurt? Bị hủy diệt hoàn toàn và không hy vọng, đến nỗi không phải tất cả các bản văn huyền thuật, không phải tất cả kỹ năng của các tư tế và những người ướp xác, không gì—không gì có thể thắng nổi. Chính điều này ta cảm thấy. Ta đã làm gì để đáng chịu một số phận như thế?”

He had gone pale, as if he too felt the breath of doom; his eyes evaded mine. Looking at him I was seized once more with this abysmal despair. What did it mean? I controlled my rising sense of panic fear which threatened to overwhelm me and continued more calmly:

Ông đã tái mặt, như thể chính ông cũng cảm thấy hơi thở của định mệnh; mắt ông tránh mắt tôi. Nhìn ông, tôi lại bị chộp lấy bởi nỗi tuyệt vọng thăm thẳm ấy. Điều đó có nghĩa gì? Tôi khống chế cảm giác hoảng loạn đang dâng lên đe dọa nhấn chìm mình và tiếp tục bình tĩnh hơn:

“ You spoke of future ages—it is of this future that I must feel secure. I have power now, but I must know the secret of a power that will endure through all my lives—that will give me an eternity of power. What is Egypt? What is the present? A little strip of land—a few short years. There are vaster lands—there is the untold and unimaginable future! ’Tis of all this I must be master; I must hold everything, not in hands that will drop to dust, but by some other binding force, the strength of my will which must be imperishable. There is some secret—I know it; a secret of eternal life—the mystery of Ra, God of the Eternal Sun: I believe I might be cured, not only of my disease, not of the threat of madness, but of this—fear, could I but tear aside the veil which hides it from my knowledge.” I drew my hand across my eyes. “To be powerless… to be unable to do anything… Yet it is within me, in my own heart that the canker hides, the germ of death—the destroyer; in me—and I must perish if I cannot cast it out! There must be some way of escape. Why should I, of all men, be denied this knowledge? Is there no GOD who will come down and give me the key to this enigma of my being?”

“Ông đã nói về những thời đại tương lai—chính về tương lai này mà ta phải cảm thấy an ổn. Ta có quyền lực bây giờ, nhưng ta phải biết bí mật của một quyền lực sẽ bền vững qua mọi kiếp sống của ta—sẽ cho ta một vĩnh cửu của quyền lực. Ai Cập là gì? Hiện tại là gì? Một dải đất nhỏ—một vài năm ngắn ngủi. Có những miền đất rộng lớn hơn—có tương lai không thể kể xiết và không thể tưởng tượng! Chính tất cả điều đó ta phải làm chủ; ta phải nắm giữ mọi thứ, không phải trong những bàn tay sẽ rơi thành bụi, mà bằng một mãnh lực ràng buộc khác, sức mạnh của ý chí ta, thứ phải là bất diệt. Có một bí mật nào đó—ta biết điều đó; một bí mật của sự sống vĩnh cửu—huyền nhiệm của Ra, Thượng đế của Mặt Trời Vĩnh Cửu: ta tin rằng ta có thể được chữa lành, không chỉ khỏi bệnh tật của ta, không chỉ khỏi mối đe dọa điên loạn, mà còn khỏi nỗi—sợ hãi này, nếu ta chỉ có thể xé toang bức màn che giấu nó khỏi tri thức của ta.” Tôi đưa tay ngang mắt. “Bất lực… không thể làm được gì… Thế nhưng nó ở trong ta, trong chính tim ta mà vết ung nhọt ẩn náu, mầm mống của cái chết—kẻ hủy diệt; ở trong ta—và ta phải diệt vong nếu không thể tống nó ra! Phải có một con đường thoát. Tại sao ta, trong tất cả mọi người, lại bị từ chối tri thức này? Không có THƯỢNG ĐẾ nào sẽ hạ xuống và trao cho ta chiếc chìa khóa của câu đố về bản thể ta sao?”

I ceased. I found I was shaking from head to foot. My body was filled with pain, my head stabbing fire; but I would not succumb. I drew close to him and saw that he shrank before the madness in my eyes. “I command you,” I cried, “I, Pharaoh, that you reveal to me the truth, that you lay bare to me the secrets. For know them I will.”

Tôi ngừng lại. Tôi thấy mình đang run từ đầu đến chân. Thể tôi đầy đau đớn, đầu tôi như bị lửa đâm xuyên; nhưng tôi không chịu khuất phục. Tôi tiến sát ông và thấy ông co lại trước cơn điên trong mắt tôi. “Ta ra lệnh cho ông,” tôi kêu lên, “ta, Pharaoh, rằng ông phải mặc khải cho ta chân lý, phải phơi bày cho ta những bí mật. Vì ta sẽ biết chúng.”

He stood immobile, his cold, snake-like eyes half closed. Between us was the table covered with rolls of papyrus, strange instruments and blocks inscribed with ancient Chaldean script; I looked at them idly but my mind was probing into his. Presently I saw his lips moving, he seemed unaware that he was murmuring his thoughts aloud.

Ông đứng bất động, đôi mắt lạnh như rắn khép hờ. Giữa chúng tôi là chiếc bàn phủ đầy những cuộn giấy cói, những dụng cụ lạ và những khối đá khắc chữ Chaldea cổ; tôi nhìn chúng một cách lơ đãng nhưng trí tôi đang dò sâu vào trí ông. Một lúc sau tôi thấy môi ông động đậy, dường như ông không biết rằng mình đang lẩm bẩm thành tiếng những ý nghĩ của mình.

“He would not permit it….” I heard. “He would not reveal anything to him….”

“Ngài ấy sẽ không cho phép….” tôi nghe thấy. “Ngài ấy sẽ không mặc khải điều gì cho hắn….”

“Of whom do you speak?” I asked sharply.

“Ông đang nói về ai?” tôi hỏi gắt.

Startled, as a man stirred from a trance, he opened his eyes.

Giật mình như một người bị lay tỉnh khỏi cơn xuất thần, ông mở mắt.

“Of no man,” he stammered, “I was communing with the Gods.”

“Không về người nào cả,” ông lắp bắp, “ta đang giao cảm với các Thượng đế.”

I laughed scornfully. “The Gods? No, no. You spoke of ‘him.’ Who is he who would dare to refuse my request?”

Tôi cười khinh bỉ. “Các Thượng đế ư? Không, không. Ông đã nói về ‘ngài ấy.’ Ai là kẻ dám từ chối yêu cầu của ta?”

“I spoke of Ra, the Most High.”

“Ta nói về Ra, Đấng Tối Cao.”

“You spoke of a man! Who is this who would set himself against me? Are you a traitor?” I drew my dagger and advanced upon him; he stepped back in alarm.

“Ông nói về một người! Kẻ này là ai mà dám chống lại ta? Ông là kẻ phản bội sao?” Tôi rút dao găm và tiến về phía ông; ông lùi lại trong kinh hãi.

“Pharaoh,” he cried, “I swear I am no traitor. Did I not set you upon the throne? Should I seek to pull you down?”

“Pharaoh,” ông kêu lên, “ta thề ta không phải kẻ phản bội. Chẳng phải chính ta đã đặt ngài lên ngai vàng sao? Lẽ nào ta lại tìm cách kéo ngài xuống?”

“You’ll have no opportunity,” I said grimly, “for unless you tell me who this man is, by Set and the two and forty gods of the Underworld I swear that you will die and all your priests with you.” I felt within me rising now the red tide of passion, tearing at me with a very madness of rage. “Aye,” I cried, “and I will raze every temple in Egypt to the ground, I will torture the priesthood man by man till I discover who it is of whom you speak as if he, and not I, were Ruler in Egypt.”

“Ông sẽ không có cơ hội đâu,” tôi lạnh lùng nói, “vì trừ phi ông nói cho ta biết người ấy là ai, nhân danh Set và bốn mươi hai vị thần của Âm phủ, ta thề rằng ông sẽ chết và tất cả các tư tế của ông cũng vậy.” Tôi cảm thấy trong mình lúc này dâng lên thủy triều đỏ của đam mê, xé nát tôi bằng chính cơn điên của giận dữ. “Phải,” tôi kêu lên, “và ta sẽ san bằng mọi đền thờ ở Ai Cập xuống đất, ta sẽ tra tấn hàng tư tế từng người một cho đến khi ta khám phá ra kẻ mà ông nói đến như thể hắn, chứ không phải ta, mới là người cai quản Ai Cập.”

He had retreated before me into one of the twelve embrasures; now I caught him by the throat and thrust him back against the sill.

Ông đã lùi trước tôi vào một trong mười hai ô cửa lõm; giờ đây tôi chộp lấy cổ họng ông và đẩy ông ngửa ra bệ cửa.

“I will cast you hence,” I said, smiling into his face. “Think you I fear priest or god or devil? I will destroy whatsoever cometh between me and my will.”

“Ta sẽ quăng ông xuống từ đây,” tôi nói, mỉm cười vào mặt ông. “Ông nghĩ ta sợ tư tế hay thần hay quỷ sao? Ta sẽ hủy diệt bất cứ điều gì xen giữa ta và ý chí của ta.”

I forced him further towards the void, until his choking voice reached me.

Tôi ép ông xa hơn về phía khoảng không, cho đến khi giọng nghẹn của ông vọng đến tôi.

“Loose me, and I will speak.”

“Thả ta ra, và ta sẽ nói.”

I loosed him, and as he walked with what dignity he could muster towards the table, I saw his eyes were filled with sullen hatred and knew I had made a dangerous enemy; but this did not trouble me over much for I was well aware that he needed me more, if anything, than I needed him.

Tôi thả ông ra, và khi ông bước với chút phẩm giá ít ỏi còn gom góp được về phía chiếc bàn, tôi thấy mắt ông đầy hận thù âm ỉ và biết rằng tôi đã tạo ra một kẻ thù nguy hiểm; nhưng điều đó không làm tôi bận tâm lắm vì tôi biết rất rõ rằng nếu có gì thì ông cần tôi hơn tôi cần ông.

“If I speak,” he said at length, “it is not, O, Pharaoh, because I am afraid of death, but rather because I fear what you in the madness of your rage may do to the land I love. I was indeed speaking of a man; but of one who is as far above me and you as we are above the peasant working in the field. Only the Initiate Kings and Priests may know even of his existence. You are not one of these, therefore were not considered fit to be allowed access to the Fount of Egypt’s wisdom. He, the true Ruler of Egypt, the Great High Priest, of whom I am but a shadow reveals himself only to the pure, the hereditary Sons of the Sun—they who have been initiated by divine right into the most Sacred Mysteries. Without his will you would not be what you are. For know, O, upstart King, it was at his command we chose you. He knew that none but you could at that time bring peace to this sorely harassed land. When the Double Crown was placed upon your head and you were sanctified King and God, he, invisible to you, stood by your side and gave you his blessing. He spoke to your soul and laid upon you the task of ruling Egypt well and wisely until the time was ripe for one of the true royal blood, a priest and Initiate, to step into your place. You accepted that trust. Woe betide you if you break faith with him.”

“Nếu ta nói,” cuối cùng ông lên tiếng, “thì không phải, hỡi Pharaoh, vì ta sợ cái chết, mà đúng hơn vì ta sợ điều ngài trong cơn điên giận có thể làm với đất nước mà ta yêu. Quả thật ta đang nói về một người; nhưng là về một người cao vượt trên ta và ngài cũng như chúng ta cao vượt trên người nông dân làm việc ngoài đồng. Chỉ các Vua và Tư Tế Điểm đạo mới được biết đến cả sự hiện hữu của ngài ấy. Ngài không phải là một trong số đó, vì vậy ngài không được xem là xứng đáng để được phép tiếp cận Nguồn Mạch minh triết của Ai Cập. Ngài ấy, vị Cai Quản chân chính của Ai Cập, vị Đại Tư Tế Vĩ Đại, mà ta chỉ là cái bóng, chỉ mặc khải chính mình cho những người thanh khiết, những Người Con của Mặt Trời theo huyết thống—những người đã được điểm đạo bởi quyền thiêng liêng vào các Huyền Nhiệm thiêng liêng nhất. Nếu không có ý chí của ngài ấy, ngài đã không là điều ngài đang là. Vì hãy biết, hỡi vị vua mới phất, chính theo lệnh của ngài ấy mà chúng ta đã chọn ngài. Ngài ấy biết rằng ngoài ngài ra không ai có thể vào thời điểm đó mang lại hòa bình cho mảnh đất bị giày vò nặng nề này. Khi Vương Miện Kép được đặt lên đầu ngài và ngài được thánh hiến làm Vua và Thần, ngài ấy, vô hình đối với ngài, đã đứng bên cạnh ngài và ban phúc lành cho ngài. Ngài ấy đã nói với linh hồn ngài và đặt lên ngài nhiệm vụ cai trị Ai Cập một cách tốt đẹp và minh triết cho đến khi thời cơ chín muồi để một người thuộc dòng máu hoàng gia chân chính, một tư tế và điểm đạo đồ, bước vào chỗ của ngài. Ngài đã chấp nhận sự ủy thác ấy. Khốn cho ngài nếu ngài thất tín với ngài ấy.”

I sat for a while in silence. I knew that he spoke truth and was sobered by the knowledge; the madness had left me faint and exhausted.

Tôi ngồi im lặng một lúc. Tôi biết ông nói thật và được làm cho tỉnh lại bởi tri thức ấy; cơn điên đã rời tôi, để lại tôi yếu lả và kiệt sức.

“Could he tell me the secret of myself?” I asked presently.

“Ngài ấy có thể nói cho ta bí mật về chính ta không?” một lúc sau tôi hỏi.

“There is nothing he could not tell you,” the priest replied.

“Không có gì mà ngài ấy không thể nói cho ngài,” vị tư tế đáp.

I rose. “Then reveal to me his dwelling place; I will go to him there.”

Tôi đứng dậy. “Vậy thì hãy cho ta biết nơi ở của ngài ấy; ta sẽ đến với ngài ấy ở đó.”

He looked startled. “It is impossible, O, Pharaoh.”

Ông nhìn tôi sửng sốt. “Điều đó là không thể, ôi, Pharaoh.”

I smiled and laid my hand upon my dagger, “Impossible? I do not know the word. Must I repeat my arguments of a few moments since?”

Tôi mỉm cười và đặt tay lên chuôi găm, “Không thể ư? Ta không biết đến từ ấy. Ta có phải lặp lại những lý lẽ của ta cách đây ít phút không?”

He raised his hand. “It is useless. I do not know it. No one knows it. He comes and goes at will, revealing himself only at times of need through priests and oracles. If you razed every temple and dwelling in Egypt to the ground, if you destroyed every rock and tomb, you would not find him if he did not so choose.”

Ông giơ tay lên. “Vô ích thôi. Tôi không biết điều đó. Không ai biết điều đó. Ông ấy đến và đi theo ý muốn, chỉ tự biểu lộ vào những lúc cần thiết qua các tu sĩ và các lời sấm. Dù bệ hạ có san bằng mọi đền đài và nơi cư ngụ ở Ai Cập xuống tận nền đất, dù bệ hạ có phá hủy mọi tảng đá và mọi lăng mộ, bệ hạ cũng sẽ không tìm ra ông ấy nếu chính ông ấy không muốn như vậy.”

Once again I recognized the voice of truth. But his words had given me an inspiration. I pretended acquiescence. “So be it then; but remember, I cannot be expected to fulfil those vows if I be mad or dead, and again I tell you I cannot endure much longer. I am a man, although I be called a god. I need sleep, I need a respite from pain, from the fire which devours me. I have the will, if I but knew how to use it upon myself. It might be better for you all if you could prevail on him to show me the way.”

Một lần nữa tôi nhận ra tiếng nói của chân lý. Nhưng lời ông đã cho tôi một cảm hứng. Tôi giả vờ thuận theo. “Vậy thì cứ thế đi; nhưng hãy nhớ rằng, không thể mong ta thực hiện những lời thề ấy nếu ta điên loạn hoặc đã chết, và ta lại nói với ông rằng ta không thể chịu đựng lâu hơn nữa. Ta là một con người, dù ta được gọi là một vị thần. Ta cần ngủ, ta cần được tạm nghỉ khỏi đau đớn, khỏi ngọn lửa đang thiêu đốt ta. Ta có ý chí, giá như ta biết dùng nó lên chính mình. Có lẽ sẽ tốt hơn cho tất cả các ông nếu các ông có thể thuyết phục ông ấy chỉ cho ta con đường.”

I turned and left him, passing out through the main court of the Temple. I felt I must be alone to meditate upon this amazing revelation. I called no guards. I did not need them. I feared no robbers or assassins, for I was a full head taller than the majority of my subjects and so strong that once when roused I had slain a lion with my bare hands. Moreover I was plainly clad, only the narrow band of gold encircle by the uraeus upon my brow proclaiming my rank.

Tôi quay đi và rời khỏi ông, bước ra qua sân chính của Đền thờ. Tôi cảm thấy mình phải ở một mình để tham thiền về sự mặc khải kỳ lạ này. Tôi không gọi lính canh nào. Tôi không cần họ. Tôi không sợ bọn cướp hay thích khách, vì tôi cao hơn phần lớn thần dân của mình đến cả một cái đầu và mạnh đến mức đã có lần, khi bị kích động, tôi giết một con sư tử bằng tay không. Hơn nữa tôi ăn mặc rất giản dị, chỉ có dải vàng hẹp quấn quanh bởi uraeus trên trán là biểu lộ địa vị của tôi.

I passed through the flower gardens. It was nearly dawn. A few faint bird-notes fluted upon the air. Soon the boat of Ra would rise above the horizon flooding the world in the glory of his presence. I came out upon the banks of the Nile. Here were drawn up barges which had been used to transport a colossal statue of myself from the quarries. It rested now upon its runners, and as the light broke upon the world, the flaming rose was reflected upon the still face. I leant against it looking upward. This was myself. To unborn generations this would represent what I had been. I had bidden them make it life-like, and now the fierce face with its hawk-like nose, its narrow lips and drooping eyelids gazed remotely out upon the world. It would live, but as for me, what would become of my spirit? Once more the intolerable fear and depression descended, stifling thought, hope and life.

Tôi đi qua những vườn hoa. Trời gần sáng. Vài tiếng chim mờ nhạt ngân lên trong không khí. Chẳng bao lâu nữa thuyền của Ra sẽ nhô lên khỏi chân trời, tràn ngập thế gian trong vinh quang của sự hiện diện của ngài. Tôi ra đến bờ sông Nile. Ở đây có những xà lan từng được dùng để chở một pho tượng khổng lồ của chính tôi từ các mỏ đá về. Giờ đây nó nằm trên các thanh trượt của nó, và khi ánh sáng bừng lên trên thế gian, sắc hồng rực lửa phản chiếu trên gương mặt tĩnh lặng ấy. Tôi tựa vào đó và ngước nhìn lên. Đây là chính tôi. Đối với những thế hệ chưa sinh ra, pho tượng này sẽ tượng trưng cho con người mà tôi đã từng là. Tôi đã truyền cho họ làm nó giống như thật, và giờ đây gương mặt dữ dội với chiếc mũi như mỏ chim ưng, đôi môi mỏng và mí mắt rũ xuống đang nhìn xa xăm ra thế gian. Nó sẽ sống, nhưng còn tôi, tinh thần của tôi sẽ ra sao? Một lần nữa nỗi sợ hãi và u uất không thể chịu nổi lại giáng xuống, bóp nghẹt tư tưởng, hy vọng và sự sống.

I turned away and with lagging footsteps returned to my own place.

Tôi quay đi và với những bước chân nặng nề trở về nơi ở của mình.

When all the pressing business of the morning had been attended to I retired to my private apartments and called for the Queen.

Khi mọi công việc cấp bách của buổi sáng đã được giải quyết xong, tôi lui vào tư thất và cho gọi Hoàng hậu.

To validate my claim to the throne when I was made King, I had married my half-sister, daughter of Pharaoh and the Royal wife, but on her death shortly afterwards, I made Re-shep-sut, daughter of my mother, Queen in her place despite much opposition from the priesthood and the people, who believed her to be a sorceress. She was the one being I felt I could trust, for besides being of use to me through her magical powers, there had always been a link of admiration between us.

Để hợp thức hóa quyền đòi ngai vàng của tôi khi tôi được lập làm Vua, tôi đã cưới người em gái cùng cha khác mẹ của mình, con gái của Pharaoh và Chính hậu, nhưng sau khi nàng qua đời không lâu sau đó, tôi đã lập Re-shep-sut, con gái của mẹ tôi, làm Hoàng hậu thay chỗ nàng bất chấp nhiều sự phản đối từ giới tu sĩ và dân chúng, những kẻ tin rằng nàng là một phù thủy. Nàng là sinh thể duy nhất mà tôi cảm thấy mình có thể tin cậy, vì ngoài việc hữu ích cho tôi nhờ các quyền năng huyền thuật của nàng, giữa chúng tôi từ lâu vẫn luôn có một mối dây liên kết của sự ngưỡng mộ.

I told her briefly what had occurred and outlined my plan to her. She sat for a little while in thought, and I contemplated her with pleasure, for she was beautiful and fierce like some half-tamed panther.

Tôi kể ngắn gọn cho nàng điều đã xảy ra và phác ra kế hoạch của tôi. Nàng ngồi trầm ngâm một lúc, còn tôi ngắm nàng với thích thú, vì nàng đẹp và dữ dội như một con báo cái mới được thuần hóa một nửa.

“I am afraid, I know not why,” she admitted. “I feel even we, versed in magic as we are, may not be strong enough to accomplish this thing.”

“Em sợ, em không biết vì sao,” nàng thú nhận. “Em cảm thấy ngay cả chúng ta, dù tinh thông huyền thuật như thế, cũng có thể không đủ mạnh để hoàn thành việc này.”

I smiled. “Not alone.” I dropped my voice. “The moon is full tonight; gain access to Net-Ka’s apartments, drug her guardians and bring her to me.”

Tôi mỉm cười. “Không phải một mình.” Tôi hạ thấp giọng. “Đêm nay trăng tròn; hãy tìm cách vào phòng của Net-Ka, đánh thuốc mê những người canh giữ nàng và đưa nàng đến cho ta.”

Net-Ka was another daughter of my father, and between her and Re-shep-sut there had always been an extraordinary bond of affection despite their differences in temperament. For from her birth Net-Ka had been the chosen mouthpiece of the gods, their Oracle and Seer. Brought up in the Temple, surrounded and guarded by a band of priestess virgins, she was used only upon solemn occasions when some important message was to be given to the High Priest, and on special feast days when she was consulted by the rulers and governors of the land. Delicate in body, with a childlike and gracious mind, she clung to Re-shep-sut with such passion that for the sake of her happiness and because her every whim was gratified, they were allowed often to see each other. Thus it had come about that once or twice I too had been enabled to avail myself of her unique mediumistic powers for my own purposes, for it had not been difficult through our secret arts to smuggle her out of her apartments to a small summerhouse in the gardens where was the chamber we used for our magical invocations. No men, save sanctified priests, were ever allowed in her presence at ordinary times, but such was her blind love for Re-shep-sut, that she had been willing to risk the dreadful penalties which would have befallen her had her participation in our secret rites become known.

Net-Ka là một người con gái khác của cha tôi, và giữa nàng với Re-shep-sut từ lâu vẫn luôn có một mối dây yêu thương khác thường bất chấp sự khác biệt về tính khí. Vì từ khi sinh ra, Net-Ka đã là phát ngôn nhân được các thần chọn lựa, là Nhà Tiên Tri và Nhà thông nhãn của các ngài. Được nuôi dạy trong Đền thờ, được bao quanh và canh giữ bởi một nhóm nữ tu đồng trinh, nàng chỉ được dùng vào những dịp long trọng khi một thông điệp quan trọng cần được truyền cho Vị Đại Tư Tế, và vào những ngày lễ đặc biệt khi nàng được các nhà cai trị và thống đốc trong xứ tham vấn. Mảnh mai về thể xác, với một tâm trí trẻ thơ và dịu dàng, nàng bám lấy Re-shep-sut bằng một tình cảm mãnh liệt đến nỗi vì hạnh phúc của nàng và vì mọi ý thích của nàng đều được chiều theo, họ thường được phép gặp nhau. Bởi thế mà một hai lần tôi cũng đã có thể lợi dụng những năng lực đồng tử độc nhất của nàng cho những mục đích riêng của mình, vì qua các bí thuật của chúng tôi, việc bí mật đưa nàng ra khỏi phòng riêng đến một ngôi nhà nghỉ nhỏ trong vườn, nơi có căn phòng chúng tôi dùng cho các cuộc khẩn cầu huyền thuật, không phải là điều khó khăn. Không người đàn ông nào, trừ các tu sĩ đã được thánh hiến, từng được phép hiện diện trước mặt nàng trong những lúc bình thường, nhưng tình yêu mù quáng của nàng dành cho Re-shep-sut lớn đến mức nàng đã sẵn lòng liều lĩnh trước những hình phạt khủng khiếp hẳn sẽ giáng xuống nàng nếu sự tham dự của nàng vào các nghi lễ bí mật của chúng tôi bị lộ ra.

Now I saw Re-shep-sut hesitate and frown.

Giờ đây tôi thấy Re-shep-sut ngần ngại và cau mày.

“Well what is amiss?” I said sharply.

“Có chuyện gì vậy?” tôi nói gắt.

“Net-Ka hath been sickly of late; I believe we overstrained her powers the last time we used her as mouthpiece of Set.”

“Dạo gần đây Net-Ka yếu lắm; em tin rằng lần trước khi chúng ta dùng nàng làm phát ngôn nhân của Set, chúng ta đã làm các năng lực của nàng bị quá sức.”

“That was a year ago,” I objected.

“Đó là chuyện một năm trước rồi,” tôi phản đối.

“I know, yet it is said she hath never been the same since that day. The priests are growing suspicious. If it were discovered she would be killed. They watch her. I had it from Nep-heb.”

“Em biết, nhưng người ta nói rằng từ ngày ấy nàng chưa bao giờ còn như trước. Các tu sĩ đang trở nên nghi ngờ. Nếu bị phát hiện, nàng sẽ bị giết. Họ đang theo dõi nàng. Em nghe điều đó từ Nep-heb.”

“Nep-heb?” I leaned over and grasped her wrist. “I hear too much of Nep-heb; is he your lover?”

“Nep-heb?” Tôi nghiêng người tới và nắm lấy cổ tay nàng. “Ta nghe quá nhiều về Nep-heb; hắn là tình nhân của nàng sao?”

She looked at me with narrow eyes. “No; but I use him.”

Nàng nhìn tôi bằng đôi mắt hẹp lại. “Không; nhưng em sử dụng hắn.”

“Remember you are my wife; the Queen of Egypt is chaste.”

“Hãy nhớ nàng là vợ của ta; Hoàng hậu Ai Cập phải trinh khiết.”

She flung back her head, showing a gleam of pointed teeth. “Do not ask too much of me, my brother.”

Nàng ngửa đầu ra sau, để lộ ánh lóe của những chiếc răng nhọn. “Xin đừng đòi hỏi ở em quá nhiều, Huynh đệ của Tôi.”

She would have drawn away, but I closed my hand upon her wrist, running my nails into her flesh until she screamed with pain. “You will be faithful to me, to my throne and to Egypt. If I can discover through the powers of Net-Ka where this man dwells, I may be forced to put you to the test. You are ambitious; would you sit for a while alone upon the throne of Pharaoh?”

Nàng định rút ra, nhưng tôi siết chặt cổ tay nàng, ghim móng tay vào da thịt nàng cho đến khi nàng kêu thét lên vì đau. “Nàng sẽ trung thành với ta, với ngai vàng của ta và với Ai Cập. Nếu qua các quyền năng của Net-Ka ta có thể khám phá ra nơi ở của người này, có thể ta sẽ buộc phải thử thách nàng. Nàng đầy tham vọng; nàng có muốn ngồi một thời gian một mình trên ngai của Pharaoh không?”

She gave a gasp of delight. “You would leave me in your place?”

Nàng thở hắt ra vì sung sướng. “Chàng sẽ để em ở lại thay chỗ chàng sao?”

“There is none other I can trust. If I have to seek him out it will be necessary; but I will not have your loyalty divided.”

“Không còn ai khác ta có thể tin cậy. Nếu ta phải đi tìm ông ấy thì điều đó sẽ là cần thiết; nhưng ta sẽ không để lòng trung thành của nàng bị chia đôi.”

She smiled. “Never fear. I will be loyal.”

Nàng mỉm cười. “Đừng lo. Em sẽ trung thành.”

I gave her an amused glance and drew a ring from my finger. “Good; take this, give it to Mer-hetsu, captain of my guard, and bid him immediately have Nep-heb cast into the lions’ pit.”

Tôi liếc nàng một cái đầy thích thú rồi rút một chiếc nhẫn khỏi ngón tay. “Tốt; cầm lấy cái này, đưa cho Mer-hetsu, đội trưởng lính canh của ta, và bảo hắn lập tức quẳng Nep-heb vào hố sư tử.”

She went white as death and gave a stifled scream. “Ah no, my brother—I beseech you.” She controlled herself with an effort. “Would that be wise,” she asked in a calmer voice, “he is very useful to us; he acts as a spy for us in the Temple of Ra, besides being secretly an initiate of the Mysteries of Set.”

Nàng tái trắng như xác chết và bật lên một tiếng kêu nghẹn. “Ôi không, Huynh đệ của Tôi—em van chàng.” Nàng cố trấn tĩnh. “Làm vậy có khôn ngoan không,” nàng hỏi bằng giọng bình tĩnh hơn, “hắn rất hữu ích cho chúng ta; hắn làm gián điệp cho chúng ta trong Đền thờ Ra, ngoài ra còn bí mật là một điểm đạo đồ của các Mật Nghi Set.”

“That is my reason. I do not want men about us who are traitors to their God. I may worship whom I please, but not so a mere priestling. Moreover, I desire to stand well with the priesthood of Ra; no doubt they know him for what he is and it will be good policy to please them by his death.” As she still crouched at my feet, staring blindly before her, I leant over and tipped up her chin, smiling into her eyes. “Do you go, my beloved wife, or must I place another upon my throne should I choose to leave it for awhile?”

“Chính đó là lý do của ta. Ta không muốn quanh chúng ta có những kẻ phản bội Thượng đế của chúng. Ta có thể thờ phụng ai tùy ý, nhưng một tên tu sĩ quèn thì không. Hơn nữa, ta muốn giữ quan hệ tốt với giới tu sĩ của Ra; hẳn họ biết rõ hắn là gì, và làm họ hài lòng bằng cái chết của hắn sẽ là một chính sách tốt.” Khi nàng vẫn còn quỳ co dưới chân tôi, nhìn trân trân vô thức ra trước mặt, tôi cúi xuống nâng cằm nàng lên, mỉm cười nhìn vào mắt nàng. “Nàng có đi không, người vợ yêu dấu của ta, hay ta phải đặt một người khác lên ngai của ta nếu ta chọn rời nó một thời gian?”

She gave me one glance, then slowly rose and went from the room.

Nàng nhìn tôi một cái, rồi chậm rãi đứng lên và đi ra khỏi phòng.

That night Re-shep-sut brought Net-Ka to the chamber we kept for the purposes of magic.

Đêm đó Re-shep-sut đưa Net-Ka đến căn phòng chúng tôi giữ lại cho các mục đích huyền thuật.

The girl sank wearily on the couch and when she removed her veil, revealing a pale and sorrowful face, with sunken eyes, I knew Re-shep-sut had spoken truth. Here was one sick, almost to death.

Cô gái mệt mỏi ngã xuống trường kỷ, và khi nàng bỏ mạng che mặt ra, để lộ một gương mặt tái nhợt và sầu muộn, với đôi mắt trũng sâu, tôi biết Re-shep-sut đã nói thật. Đây là một người bệnh, gần như sắp chết.

She stretched out her hand in greeting and said in a faint voice: “My brother, I have come as you commanded; but I grow weary. I have strange dreams. I feel as if something terrible were happening. Must you use me in this way which I know is forbidden? I do not understand what you do—I have no memory when I return to my body, but,” her lips trembled, “the last time I would have spoken in the Holy Place of the Temple, I could not. The God did not possess my body; they say I babbled strange words. Can it be that by visiting you here I am displeasing the High Gods?” She covered her face with small, blue- veined hands, “I dare not think upon such a possibility. My life is theirs. I beg you, by all the love I have for you, bid me do nothing contrary to my holy vows.”

Nàng đưa tay ra chào và nói bằng giọng yếu ớt: “Huynh đệ của Tôi, em đã đến như chàng truyền; nhưng em mệt lắm. Em có những giấc mơ lạ. Em cảm thấy như có điều gì khủng khiếp đang xảy ra. Chàng có nhất thiết phải dùng em theo cách này, điều mà em biết là bị cấm, không? Em không hiểu chàng làm gì—khi trở về thể xác của mình em không còn ký ức nào, nhưng,” môi nàng run lên, “lần trước khi em phải nói trong Nơi Thánh của Đền thờ, em đã không thể. Vị Thần đã không nhập vào thể xác em; họ nói em đã lảm nhảm những lời kỳ lạ. Có thể nào vì đến thăm chàng ở đây mà em đang làm phật ý các Thượng đế Cao Cả không?” Nàng che mặt bằng đôi bàn tay nhỏ với những đường gân xanh, “Em không dám nghĩ đến một khả năng như thế. Đời em là của các ngài. Em cầu xin chàng, bởi tất cả tình thương em dành cho chàng, đừng bảo em làm điều gì trái với những lời thề thiêng liêng của em.”

I comforted her with idle words, but I had no intention of sparing her, nor did I care who spoke through her or what happened to her afterwards, so long as I learned the secret I now sought.

Tôi an ủi nàng bằng những lời vô nghĩa, nhưng tôi không hề có ý định tha cho nàng, cũng không quan tâm ai sẽ nói qua nàng hay sau đó điều gì sẽ xảy đến với nàng, miễn là tôi biết được bí mật mà giờ đây tôi đang tìm kiếm.

“Do not be afraid, sweet sister,” I said, “you shall not be used beyond your strength. It is for the good of Egypt that I would invoke the Gods.”

“Đừng sợ, em gái dịu ngọt,” tôi nói, “em sẽ không bị dùng quá sức mình. Chính vì lợi ích của Ai Cập mà ta muốn khẩn cầu các Thần.”

Obedient, she stretched herself upon the couch. About it we drew the magic signs, and stripping off our garments, annointed our bodies with the unguents and placed upon them the symbols of Set. Then we began to recite charms above her still body with a low, rhythmic humming, The room became gradually shadowed by the increasing smoke from the great brazier and now about me I felt the great forms of power drawing ever closer. I invoked them by their secret names. The light fluttered like a dying moth and expired. Net-Ka moved, her body began to sway; she fell sideways, foaming at the mouth; her features twisted and grimaced. Re-shep-sut, rigid, hands upraised, intoned, moving in a mystic dance upon the figures drawn on the floor. Suddenly Net-Ka stiffened, sat upright, eyes wide. A deep voice boomed from her mouth:

Ngoan ngoãn, nàng duỗi mình trên trường kỷ. Chung quanh đó chúng tôi vẽ các dấu hiệu huyền thuật, rồi cởi bỏ y phục, xức các loại thuốc thơm lên thân thể và đặt trên đó các biểu tượng của Set. Sau đó chúng tôi bắt đầu đọc các bùa chú trên thể xác bất động của nàng bằng một tiếng ngân trầm thấp, nhịp nhàng. Căn phòng dần dần chìm trong bóng tối bởi làn khói ngày càng dày từ lò than lớn, và lúc này quanh tôi tôi cảm thấy những hình thể quyền năng vĩ đại đang kéo đến ngày càng gần. Tôi khẩn cầu chúng bằng những danh xưng bí mật của chúng. Ánh sáng chập chờn như một con bướm đêm hấp hối rồi tắt lịm. Net-Ka cử động, thể xác nàng bắt đầu lắc lư; nàng ngã nghiêng sang một bên, sùi bọt mép; nét mặt nàng vặn vẹo và co giật. Re-shep-sut, cứng đờ, hai tay giơ cao, cất giọng xướng, di chuyển trong một điệu múa thần bí trên những hình vẽ trên sàn. Đột nhiên Net-Ka cứng người, ngồi bật dậy, mắt mở lớn. Một giọng trầm vang lên từ miệng nàng:

“Greeting, my servants! I am here, I—the Eye, the Ear, the Voice. Greeting. What are your desires?”

“Chào các đầy tớ của ta! Ta ở đây, ta—Con Mắt, Cái Tai, Tiếng Nói. Chào. Các ngươi mong muốn điều gì?”

I stood above Net-Ka. I steeled my will. The atmosphere pulsated as if alive with fiery particles. Re-shep-sut had fallen upon her face and was still.

Tôi đứng trên Net-Ka. Tôi làm cho ý chí mình trở nên thép cứng. Bầu không khí rung động như thể sống động với những hạt lửa. Re-shep-sut đã phủ phục xuống mặt đất và nằm yên.

“I will to know where is the abode of him who is the Secret Ruler of Egypt. I will to be shown where I may find him. I will to be brought face to face with him alone.”

“Ta muốn biết nơi ở của kẻ là Đấng Cai Quản Bí Mật của Ai Cập ở đâu. Ta muốn được chỉ cho nơi ta có thể tìm thấy ông ấy. Ta muốn được đưa đến đối diện mặt đối mặt với ông ấy một mình.”

A tremor convulsed the entranced girl. When the voice at last replied, it had weakened, as if broken by some force greater than itself.

Một cơn run giật làm cô gái đang xuất thần co quắp. Khi cuối cùng giọng nói đáp lại, nó đã yếu đi, như thể bị bẻ gãy bởi một mãnh lực lớn hơn chính nó.

“Do not ask me. I warn thee, leave this man alone; he will be thy destruction.”

“Đừng hỏi ta. Ta cảnh báo ngươi, hãy để người này yên; ông ấy sẽ là sự hủy diệt của ngươi.”

“I do not care; I would rather be destroyed than continue to live in ignorance and fear. I must know his secret. All power, all knowledge lie hidden there for those who can wield these unknown forces aright. I have oft-times invoked you with the secret names, but never have you granted my desire, nor have you revealed to me the existence of this man. Now I demand….”

“Ta không quan tâm; ta thà bị hủy diệt còn hơn tiếp tục sống trong vô minh và sợ hãi. Ta phải biết bí mật của ông ấy. Mọi quyền năng, mọi tri thức đều ẩn giấu ở đó cho những ai có thể vận dụng đúng đắn các mãnh lực chưa biết này. Ta đã nhiều lần khẩn cầu các ngươi bằng những danh xưng bí mật, nhưng các ngươi chưa bao giờ ban cho ta điều ta mong muốn, cũng chưa từng tiết lộ cho ta sự hiện hữu của người này. Giờ đây ta đòi hỏi….”

“Be silent!” cried the voice. And now the air grew thick about me, the pressure became terrible as if a disembodied will were combating my resolve.

“Im đi!” giọng nói kêu lên. Và lúc này không khí quanh tôi trở nên đặc quánh, sức ép trở nên khủng khiếp như thể một ý chí vô hình đang chiến đấu với quyết tâm của tôi.

“I will not be silent! If you are indeed Set the Mighty One, great in knowledge and power, if you be a God, then you must know. I demand this secret! I conjure you, God, spirit, demon whatso’er you are, give me truth. Deny my demand, and by my enchantments I shall shake the very earth, raise the dead from their tombs. I will to know how I may cure myself; I will to unfold the mystery of life. I will to be Lord of life and death.”

“Ta sẽ không im! Nếu ngươi thật là Set, Đấng Đại Hùng, vĩ đại trong tri thức và quyền năng, nếu ngươi là một vị thần, thì ngươi hẳn phải biết. Ta đòi bí mật này! Ta triệu ép ngươi, thần, tinh thần, quỷ dữ hay bất cứ gì ngươi là, hãy cho ta chân lý. Nếu từ chối yêu cầu của ta, bằng các pháp thuật của ta, ta sẽ làm rung chuyển chính mặt đất, gọi người chết ra khỏi mồ. Ta muốn biết làm sao ta có thể tự chữa lành mình; ta muốn khai mở huyền nhiệm của sự sống. Ta muốn là Chúa Tể của sự sống và cái chết.”

I stood above the Oracle, my arms upraised. With the whole force of my being I sent forth to the uttermost part of the earth, to the confines of the heavens, to the furthest stars my cry. With all my force and knowledge I projected my power to combat this unknown, opposing mind which seemed to struggle with me as if seeking to keep from me the knowledge I desired. I might die but I would first conquer it. This was surely my enemy at last face to face.

Tôi đứng trên Nhà Tiên Tri, hai tay giơ cao. Với toàn bộ mãnh lực của hữu thể mình, tôi phóng tiếng kêu của mình đến tận cùng trái đất, đến ranh giới của các tầng trời, đến những vì sao xa nhất. Với tất cả mãnh lực và tri thức của mình, tôi phóng chiếu quyền năng để chiến đấu với trí tuệ vô danh đối kháng này, cái dường như đang vật lộn với tôi như thể muốn giữ khỏi tôi tri thức mà tôi mong muốn. Tôi có thể chết nhưng trước hết tôi sẽ chinh phục nó. Hẳn đây cuối cùng chính là kẻ thù của tôi, mặt đối mặt.

My limbs were flame; power flowed into them; more power, a million particles vibrating to my will. Only one thing more was needful now to complete the invocation, the great forbidden Word, which it can be death to speak —which can by its note disintegrate the body of him who dares to utter the sacred syllables. I had learned it; but even I, hitherto, had never dared to project its shattering vibration upon the air. Now I paused, my whole being taut for this last act. I drew in a mighty breath; the Word waited; it grew—immense, expanding; slowly, every nerve tense, with breath controlled, I gave it forth….

Tứ chi tôi là lửa; quyền năng tuôn vào chúng; thêm quyền năng nữa, một triệu hạt rung động theo ý chí tôi. Giờ đây chỉ còn cần thêm một điều nữa để hoàn tất cuộc khẩn cầu, Linh từ vĩ đại bị cấm đoán, thứ mà nói ra có thể là cái chết—thứ mà bằng âm điệu của nó có thể phân rã thể xác của kẻ nào dám thốt lên những âm tiết thiêng liêng ấy. Tôi đã học được nó; nhưng ngay cả tôi, cho đến lúc ấy, cũng chưa từng dám phóng rung động tàn phá của nó vào không khí. Giờ đây tôi dừng lại, toàn thể hữu thể tôi căng ra cho hành động cuối cùng này. Tôi hít vào một hơi mạnh; Linh từ chờ đợi; nó lớn dần—bao la, mở rộng; chậm rãi, mọi dây thần kinh căng cứng, hơi thở được kiểm soát, tôi phát nó ra….

The great reverberation died. There followed a stillness so awful that it was as if all things had ceased to be.

Sự vang dội lớn lao ấy tắt dần. Tiếp theo là một sự tĩnh lặng khủng khiếp đến mức như thể mọi sự vật đã ngừng hiện hữu.

I waited as the dead might wait—drained, empty.

Tôi chờ đợi như người chết có thể chờ—kiệt quệ, trống rỗng.

I looked and saw Net-I

Tôi nhìn và thấy Net-Ka quằn quại trong cơn co giật khủng khiếp; như thể nàng đang bị xé ra bởi hai mãnh lực đối nghịch. Đột nhiên một sự thay đổi đến với nàng. Nàng nâng mình lên cho đến khi đứng thẳng, nhẹ nhàng như người sẵn sàng cất cánh. Mắt nàng mở lớn, gương mặt nàng Biến hình bởi một nụ cười rạng rỡ.

“He comes,” she cried; “He, the Master, our Lord.” And with a long sigh collapsed upon the couch and lay still.

“Ngài đến,” nàng kêu lên; “Ngài, Chân sư, Chúa Tể của chúng ta.” Rồi với một tiếng thở dài dài, nàng đổ sụp xuống trường kỷ và nằm yên.

Then I knew fear. Always heretofore in my magical practices I had felt myself master. But now, gathering slowly about me was a force of which I knew nothing— against which I might strive with all my powers in vain. It grew; insidiously it invaded the structure of my body, sapped my will. It was like a pure, yet disintegrating note of music, like a white, yet icy flame. Beautiful as it was, to me it was discord and death. My limbs melted in agony, each cell, each nerve quivered and dissolved. I sank upon my knees, then upon my face, yet in this agony of dissolution I still strove to retain a hold upon myself, to keep my desire unwavering.

Lúc ấy tôi biết sợ. Trước đây trong các thực hành huyền thuật của mình, tôi luôn cảm thấy mình là chủ. Nhưng giờ đây, đang chậm rãi tụ lại quanh tôi là một mãnh lực mà tôi không biết gì cả—một mãnh lực mà tôi có thể chống lại bằng mọi quyền năng của mình cũng vô ích. Nó lớn dần; âm thầm nó xâm nhập vào cấu trúc thể xác tôi, làm suy kiệt ý chí tôi. Nó như một âm điệu âm nhạc thuần khiết nhưng phân rã, như một ngọn lửa trắng nhưng băng giá. Dù đẹp đến đâu, với tôi nó là bất hòa và chết chóc. Tứ chi tôi tan chảy trong đau đớn, từng tế bào, từng dây thần kinh run rẩy và tan rã. Tôi quỵ xuống đầu gối, rồi úp mặt xuống, nhưng ngay trong cơn đau đớn tan rã này tôi vẫn cố giữ lấy chính mình, giữ cho khát vọng của mình không lay chuyển.

Then while I battled feebly there I heard a voice of such wondrous sweetness and of such power and beauty that I broke before it and lay as one dead.

Rồi trong khi tôi yếu ớt chiến đấu ở đó, tôi nghe một giọng nói ngọt ngào kỳ diệu và đầy quyền năng, vẻ đẹp đến mức tôi tan vỡ trước nó và nằm như người chết.

“You called upon me,” it said, “you invoked me. The means you used were wrongful and for that you will pay the price, but I, who can read the heart of man, know from what source the desire which drove you to this act was generated, so I am here.”

“Ngươi đã gọi ta,” giọng ấy nói, “ngươi đã khẩn cầu ta. Phương tiện ngươi dùng là sai lầm và vì điều đó ngươi sẽ phải trả giá, nhưng ta, Đấng có thể đọc được trái tim con người, biết từ nguồn nào mà khát vọng đã thúc đẩy ngươi đến hành động này phát sinh, nên ta ở đây.”

I could not speak, but something deep within me, the last living particle, perhaps, must have responded.

Tôi không thể nói, nhưng có lẽ một điều gì đó sâu thẳm trong tôi, hạt sống cuối cùng, đã phải đáp ứng.

“It is well,” said the voice. “Since you have chosen, you cannot be denied. When the time is ripe I will bid you come to me.”

“Thật tốt,” giọng nói bảo. “Vì ngươi đã chọn, ngươi không thể bị từ chối. Khi thời điểm chín muồi ta sẽ bảo ngươi đến với ta.”

Then the voice ceased and darkness enfolded my spirit. When I awoke I found Re-shep-sut kneeling over me.

Rồi giọng nói im bặt và bóng tối bao phủ tinh thần tôi. Khi tỉnh dậy tôi thấy Re-shep-sut đang quỳ bên trên tôi.

“What happened?” she asked, “I remember nothing. Did you learn the secret?”

“Điều gì đã xảy ra?” nàng hỏi, “em không nhớ gì cả. Chàng có biết được bí mật không?”

I rose slowly, my limbs were like lead, my head was dizzy. “I do not know—yet.” I pointed to Net-Ka. “Look to the child. We must get her back to the Temple.”

Tôi chậm rãi đứng dậy, tay chân tôi nặng như chì, đầu óc quay cuồng. “Ta chưa biết—ít nhất là chưa.” Tôi chỉ vào Net-Ka. “Hãy lo cho đứa trẻ. Chúng ta phải đưa nàng trở lại Đền thờ.”

Net-Ka was still entranced. Nothing we could do would rouse her. But I think some spell must have been laid that night by One more powerful than ourselves upon the Temple servants, for, although we had to support her between us, none met us upon the way, nor had any of her guardians stirred from their drugged slumbers.

Net-Ka vẫn còn xuất thần. Chúng tôi không thể làm gì để đánh thức nàng. Nhưng tôi nghĩ hẳn đêm đó một bùa chú nào đó đã được đặt lên các người hầu trong Đền thờ bởi Đấng quyền năng hơn chúng tôi, vì dù chúng tôi phải đỡ nàng giữa hai người, không ai gặp chúng tôi trên đường, và cũng không một người canh giữ nào của nàng cựa quậy khỏi cơn mê thuốc.

Two day later Re-shep-sut came to me where I sat in the garden with my scribes.

Hai ngày sau Re-shep-sut đến gặp tôi nơi tôi đang ngồi trong vườn với các thư lại.

“I have been told that Net-Ka is sick even unto death,” she whispered when we were alone. “She lies for long hours without consciousness, and when she awakes, cries and screams as one possessed.” Her eyes were wide with terror. “It is we who have done this,” she said in a strangled voice, “if she dies, it will be we who have killed her.”

“Em được báo rằng Net-Ka bệnh nặng gần chết,” nàng thì thầm khi chúng tôi ở riêng. “Nàng nằm hàng giờ không có tâm thức, và khi tỉnh dậy thì khóc lóc, gào thét như kẻ bị nhập.” Mắt nàng mở to vì kinh hoàng. “Chính chúng ta đã gây ra điều này,” nàng nói bằng giọng nghẹn lại, “nếu nàng chết, thì chính chúng ta đã giết nàng.”

But my thoughts were far off. Since receiving that strange message I had been occupied day and night in making plans for the protection of the country in case I was forced to be away from the throne for long. Men of doubtful fidelity had to be replaced at the frontiers by generals I could trust. Garrisons had to be strengthened. Secret schemes and negotiations perfected. I had no time to waste on women’s chatter. I stared at her coldly.

Nhưng tư tưởng tôi đang ở rất xa. Từ khi nhận được thông điệp lạ lùng ấy, ngày đêm tôi bận rộn lập kế hoạch bảo vệ đất nước trong trường hợp tôi bị buộc phải rời ngai vàng lâu ngày. Những kẻ có lòng trung thành đáng ngờ phải được thay thế ở biên cương bằng những vị tướng tôi có thể tin cậy. Các đồn trú phải được tăng cường. Những mưu đồ bí mật và các cuộc thương lượng phải được hoàn tất. Tôi không có thời giờ để phí vào chuyện đàn bà lắm lời. Tôi nhìn nàng lạnh lùng.

“What of it? I shall not need her again.”

“Thì sao? Ta sẽ không cần đến nàng nữa.”

She clasped her hands. “Can you not understand? Are you made of stone? I love her; she is the only being I have ever loved.”

Nàng chắp hai tay. “Chàng không thể hiểu sao? Chàng làm bằng đá à? Em yêu nàng; nàng là sinh thể duy nhất em từng yêu.”

“Then you had best see to it that you are quickly cured of the disease,” I sneered. “If you are to take my throne, for however short a while, I must know you above such weakness. Learn once and for all that those who are no longer needed for our policies are best out of our way— they are less likely to indulge in idle and dangerous speech. Let Net-Ka go and cease to be a fool. I have given out that you are with child. Although it is not yet true the Egyptians are more likely to treat you with respect and remain loyal if they imagine that you carry the future Pharaoh in your womb. I have much of importance to discuss with you. One thing I command: keep away from Net-Ka’s apartments; do not see her even if she asks for you. I do not want it to seem as if we are involved in her affairs. It is essential that you should remain on good terms with Besiurt. You will obey him in every particular, for he will be the actual head of the nation while I am gone. He will dictate your actions and your words. Woe betide you if I find you have been unfaithful, or if through foolishness you let slip the reins of power.”

“Vậy tốt nhất nàng nên mau chữa khỏi căn bệnh ấy đi,” tôi cười nhạo. “Nếu nàng sẽ ngồi lên ngai của ta, dù chỉ trong một thời gian ngắn, ta phải biết nàng vượt lên trên thứ yếu đuối ấy. Hãy học một lần cho mãi mãi rằng những kẻ không còn cần thiết cho chính sách của chúng ta thì tốt nhất nên ra khỏi đường đi của chúng ta—họ sẽ ít có khả năng buông ra những lời nói nhàn rỗi và nguy hiểm hơn. Hãy để Net-Ka đi và đừng làm kẻ ngu nữa. Ta đã cho loan ra rằng nàng đang mang thai. Dù điều đó chưa phải là thật, người Ai Cập sẽ có nhiều khả năng đối xử với nàng bằng sự kính trọng và giữ lòng trung thành hơn nếu họ tưởng rằng nàng đang mang trong dạ vị Pharaoh tương lai. Ta có nhiều điều quan trọng phải bàn với nàng. Có một điều ta ra lệnh: tránh xa phòng của Net-Ka; đừng gặp nàng ngay cả nếu nàng đòi gặp nàng. Ta không muốn có vẻ như chúng ta dính líu vào việc của nàng. Điều cốt yếu là nàng phải giữ quan hệ tốt với Besiurt. Nàng sẽ vâng lời ông ta trong mọi chi tiết, vì ông ta sẽ là người đứng đầu thực sự của quốc gia khi ta đi vắng. Ông ta sẽ chỉ định hành động và lời nói của nàng. Khốn cho nàng nếu ta thấy nàng bất trung, hoặc nếu vì ngu xuẩn mà nàng để tuột dây cương quyền lực.”

A dark, stubborn look settled on her face. “If Net-Ka is dying and asks for me, I shall go,” she said.

Một vẻ tối tăm, bướng bỉnh đọng lại trên mặt nàng. “Nếu Net-Ka đang chết và gọi em, em sẽ đi,” nàng nói.

I leaned forward and fixed her with narrowed eyes.

Tôi nghiêng người tới và nhìn chằm chằm nàng bằng đôi mắt nheo lại.

“Re-shep-sut, if you do not hearken to my voice, if you do not swear upon the sacred symbol of Set which I wear upon my hand, that you will be faithful, that you will obey my merest breath, I swear to you by the Names which may not be uttered that I will cast you down and raise another in your place, that your hands will not grasp the sceptre, nor ever your body bear a child of the god.”

“Re-shep-sut, nếu nàng không nghe tiếng nói của ta, nếu nàng không thề trên biểu tượng thiêng liêng của Set mà ta đeo trên tay rằng nàng sẽ trung thành, rằng nàng sẽ vâng theo cả hơi thở nhẹ nhất của ta, thì ta thề với nàng bằng những Danh Xưng không thể thốt ra rằng ta sẽ hạ nàng xuống và nâng một người khác lên thay chỗ nàng, rằng tay nàng sẽ không nắm lấy vương trượng, thân nàng cũng sẽ không bao giờ sinh con của thần.”

At my words she flung herself upon her knees, clasping her hands about my feet. “O Pharaoh, O great God, have you no pity? At your word I sent Nep-heb to his death; now would you have me sacrifice my sister also? For I know that I alone may be enabled to cure her sickness. If I refuse her call she will surely die of grief.”

Nghe những lời ấy, nàng quăng mình xuống đầu gối, ôm lấy chân tôi. “Ôi Pharaoh, ôi vị thần vĩ đại, chàng không có lòng thương xót sao? Theo lời chàng em đã đưa Nep-heb đến chỗ chết; giờ chàng còn muốn em hi sinh cả em gái em nữa sao? Vì em biết chỉ một mình em mới có thể chữa được bệnh cho nàng. Nếu em từ chối tiếng gọi của nàng, chắc chắn nàng sẽ chết vì đau buồn.”

I struck her with my foot. “Pah, you are- like all the others at heart, ridden by emotion and weak sentiment.” I leant back in my chair, smiling softly. “You have the choice. On one hand, O, Re-shep-sut, is the throne of Egypt, unlimited power, great glory and honour—and this oath; on the other a half-witted girl, who is better dead—and oblivion, obscurity, death perhaps. Which is it to be?”

Tôi đá nàng bằng chân. “Phì, nàng cũng như tất cả những kẻ khác trong lòng thôi, bị cảm xúc cưỡi lên và thứ tình cảm yếu đuối chi phối.” Tôi ngả người ra ghế, mỉm cười nhè nhẹ. “Nàng có quyền chọn. Một bên, ôi Re-shep-sut, là ngai vàng của Ai Cập, quyền lực vô hạn, vinh quang và danh dự lớn lao—và lời thề này; bên kia là một cô gái nửa khờ, chết đi thì tốt hơn—và sự lãng quên, mờ tối, có lẽ là cái chết. Nàng chọn gì?”

For a moment she remained motionless, her head bent, her hands twisting together; then slowly she looked up. “I will take the oath,” she whispered.

Trong một lúc nàng vẫn bất động, đầu cúi xuống, hai tay xoắn vào nhau; rồi chậm rãi nàng ngước lên. “Em sẽ tuyên thệ,” nàng thì thầm.

I thrust out my clenched right hand at her. She stooped forward, pressed her forehead to the great ring, and muttered after me the magic formula of this most dread and binding of invocations.

Tôi chìa nắm tay phải siết chặt về phía nàng. Nàng cúi xuống, áp trán vào chiếc nhẫn lớn, và lẩm bẩm theo tôi công thức huyền thuật của lời khẩn cầu đáng sợ và ràng buộc nhất này.

“And now,” I said, as I motioned to my scribes to return, “remember the penalty if that oath is broken. Neither in this world nor in the next will you have peace; neither in this life nor in any other. You have invoked the power which lies within this ring, the spirit of ambition and of will. While you obey me, it will be your slave; disobey, and it will become your master. Keep that in mind and forget it never, my sister—and Queen.”

“Và bây giờ,” tôi nói, trong khi ra hiệu cho các thư lại quay lại, “hãy nhớ hình phạt nếu lời thề ấy bị phá vỡ. Cả trong thế giới này lẫn thế giới sau nàng sẽ không có bình an; cả trong kiếp này lẫn bất kỳ kiếp nào khác. Nàng đã khẩn cầu quyền năng nằm trong chiếc nhẫn này, tinh thần của tham vọng và ý chí. Chừng nào nàng còn vâng lời ta, nó sẽ là nô lệ của nàng; bất tuân, nó sẽ trở thành chủ nhân của nàng. Hãy ghi nhớ điều đó và đừng bao giờ quên, em gái của ta—và Hoàng hậu.”

Since that night in the summer-house, the voice and the words I had heard had been seldom out of my mind. My own attitude suprised myself, for I found I was filled with a continual yearning to hear the voice again and to contact the man who had spoken. I could not recall ever in my life having experienced such a sensation as those tones had roused within me; the nearest, perhaps, had been the hungry passion I had sometimes felt for some woman, when I could neither sleep nor eat until I had possessed her; yet that had been ephemeral, this endured. It seemed to have affected me also in other ways, since now, for the first time for many years, I slept night after night; nor did I have any recurrence of my illness, until the evening of the day that Re-shep-sut came to me with her request. That night I was seized with an attack more violent than any I had ever experienced; it continued for two days at a pitch of madness, leaving me at last utterly exhausted. The third evening, while I lay semi-conscious on my bed, suddenly I was aware that I was not alone and turning my head, beheld the cloaked figure of a man standing beside me and heard again the accents of the voice for which my spirit yearned.

Từ đêm ấy trong ngôi nhà nghỉ mùa hè, giọng nói và những lời tôi đã nghe hiếm khi rời khỏi tâm trí tôi. Chính thái độ của tôi cũng làm tôi ngạc nhiên, vì tôi thấy mình tràn đầy một nỗi khát khao liên tục muốn nghe lại giọng nói ấy và tiếp xúc với người đàn ông đã nói. Tôi không thể nhớ trong đời mình đã từng trải qua một cảm giác nào như cảm giác mà những âm điệu ấy đã khơi dậy trong tôi; gần nhất, có lẽ, là niềm đam mê đói khát đôi khi tôi từng cảm thấy với một người đàn bà nào đó, khi tôi không thể ngủ cũng không thể ăn cho đến khi chiếm hữu được nàng; nhưng điều ấy chỉ thoáng qua, còn điều này thì kéo dài. Dường như nó cũng đã tác động lên tôi theo những cách khác, vì giờ đây, lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi ngủ hết đêm này sang đêm khác; bệnh của tôi cũng không tái phát, cho đến tối của ngày Re-shep-sut đến với lời thỉnh cầu của nàng. Đêm đó tôi bị một cơn phát tác dữ dội hơn bất kỳ cơn nào tôi từng trải qua; nó kéo dài suốt hai ngày trong mức độ điên loạn, cuối cùng để lại tôi hoàn toàn kiệt sức. Tối ngày thứ ba, khi tôi nằm nửa tỉnh nửa mê trên giường, đột nhiên tôi biết rằng mình không ở một mình và quay đầu lại, thấy hình dáng một người đàn ông khoác áo choàng đứng bên cạnh tôi và lại nghe những âm sắc của giọng nói mà tinh thần tôi hằng khát khao.

“O Pharaoh,” he said, “art thou still determined to brave the secrets of thy destiny? For three days thou hast been in torment, but I warn thee, if thou wouldst know Truth thou will have to face worse than this.”

“Ôi Pharaoh,” ông nói, “ngươi vẫn quyết tâm đối mặt với những bí mật của định mệnh ngươi sao? Ba ngày nay ngươi đã ở trong đau đớn, nhưng ta cảnh báo ngươi, nếu ngươi muốn biết Chân Lý, ngươi sẽ phải đối diện với điều còn tệ hơn thế này.”

“I am determined,” I answered.

“Tôi quyết tâm,” tôi đáp.

“So be it. Tomorrow at midnight thou wilt find a beggar seated by the outer gate of the Temple. Follow him.”

“Vậy thì cứ thế. Đêm mai vào lúc nửa đêm ngươi sẽ thấy một kẻ ăn xin ngồi bên cổng ngoài của Đền thờ. Hãy đi theo hắn.”

Next day I called for Besiurt and received him alone lying upon my couch, for I was still weak.

Ngày hôm sau tôi cho gọi Besiurt và tiếp ông một mình trong khi nằm trên trường kỷ, vì tôi vẫn còn yếu.

“I rejoice to see your Majesty recovered,” he said in a voice which belied his words; “they told me that the light of your countenance was darkened and that you were sick almost unto death; I and my priests have therefore been seeking to cure you by drawing your sickness into our unworthy bodies.”

“Tôi mừng thấy Bệ hạ đã bình phục,” ông nói bằng một giọng trái ngược với lời nói; “họ bảo tôi rằng ánh sáng trên dung nhan Bệ hạ đã tối lại và Bệ hạ bệnh nặng gần chết; vì thế tôi và các tu sĩ của tôi đã tìm cách chữa cho Bệ hạ bằng cách hút bệnh của Bệ hạ vào những thể xác hèn mọn của chúng tôi.”

I smiled grimly. “I can see no sign of it in you, my friend; and let me assure you that it is not owing to your spells and remedies that I have recovered. The Gods be thanked, I will in future not be dependent upon the priestly College of Physicians for my health, spiritual or physical.”

Tôi cười gằn. “Ta không thấy dấu hiệu nào của điều đó nơi ông, bạn của ta; và hãy để ta bảo đảm với ông rằng không phải nhờ các bùa phép và phương thuốc của ông mà ta đã bình phục. Tạ ơn các Thần, từ nay ta sẽ không còn lệ thuộc vào hội đồng tu sĩ y sĩ về sức khỏe của ta, tinh thần hay hồng trần.”

He raised his brows.

Ông nhướng mày.

“I have found,” I continued, relishing the prospect of his discomfiture, “another physician, greater than you all. And to him I go—tonight.”

“Ta đã tìm được,” tôi tiếp tục, thích thú trước viễn cảnh làm ông bối rối, “một vị y sư khác, vĩ đại hơn tất cả các ông. Và ta sẽ đến với ông ấy—đêm nay.”

“There is no one in Egypt…” he began.

“Không có ai ở Ai Cập…” ông bắt đầu.

“There is.” I quoted his own words at him. “One of whom you are but the shadow….”

“Có.” Tôi ném lại cho ông chính lời của ông. “Một Đấng mà ông chỉ là cái bóng….”

He was moved at last, “You will never find him! Here is madness indeed.”

Cuối cùng ông cũng bị lay động, “Bệ hạ sẽ không bao giờ tìm thấy ông ấy! Quả thật đây là điên loạn.”

I laughed softly. “No, here is sanity—at last. Perchance it has been you, my friend, who have been a little mad, mad with your pride. 1 would recall to your mind that when first I took the throne I came and asked you humbly enough that I might be instructed in the Mysteries. I believed that through them I might come to the understanding I sought. I was even prepared to be a novice, to sit at your feet if you would teach me. You refused. You barred to me the gates of truth. You told me that I was unworthy, that my blood was impure, that I had touched the black arts and was befouled. I wonder, did you, in your pride and purity, consult your Master who put me upon the throne? I do not think so.” I leant forward, thrusting my face close to his. “You wished to retain the ultimate power in your own hands, O Besiurt; you wished me to remain ignorant so that you and your priests could lord it over me. But you did not know me. I was not to be baulked. If Ra-Hermachis would not let me pollute his temple, then there remained Set, who is not so bigoted. I learned from his priests, I was initiated into the Mysteries of his cult, but I will admit that soon I found they could not give me this thing I desired, without which I could find no rest nor happiness. I did not know what it was, I do not know it yet—but I will know; and when that hour comes I shall make this knowledge forever mine. Not you, nor any priest on earth, can stop me.”

Tôi cười khẽ. “Không, đây là tỉnh táo—cuối cùng. Có lẽ chính ông, bạn của ta, mới hơi điên một chút, điên vì kiêu ngạo. Ta muốn nhắc ông nhớ rằng khi mới lên ngôi, ta đã đến và khiêm nhường xin ông cho ta được chỉ dạy trong các Mật Nghi. Ta tin rằng qua chúng ta có thể đi đến sự thấu hiểu mà ta tìm kiếm. Ta thậm chí đã sẵn sàng làm một người sơ cơ, ngồi dưới chân ông nếu ông chịu dạy ta. Ông từ chối. Ông đóng cánh cổng chân lý trước mặt ta. Ông bảo ta không xứng đáng, rằng huyết thống ta không thuần, rằng ta đã chạm vào hắc thuật và bị ô uế. Ta tự hỏi, trong sự kiêu hãnh và thanh sạch của ông, ông có tham vấn Chân sư của ông, Đấng đã đặt ta lên ngai vàng không? Ta không nghĩ vậy.” Tôi nghiêng người tới, dí sát mặt mình vào mặt ông. “Ông muốn giữ quyền lực tối hậu trong chính tay mình, ôi Besiurt; ông muốn ta cứ ngu dốt để ông và các tu sĩ của ông có thể thống trị ta. Nhưng ông đã không biết ta. Ta không phải kẻ dễ bị ngăn trở. Nếu Ra-Hermachis không cho ta làm ô uế đền thờ của ngài, thì vẫn còn Set, kẻ không cố chấp đến thế. Ta đã học từ các tu sĩ của hắn, ta đã được điểm đạo vào các Mật Nghi của giáo phái hắn, nhưng ta thừa nhận rằng chẳng bao lâu sau ta nhận ra họ không thể cho ta điều mà ta mong muốn, thiếu nó ta không thể tìm thấy nghỉ ngơi hay hạnh phúc. Ta không biết đó là gì, đến giờ ta vẫn chưa biết—nhưng ta sẽ biết; và khi giờ ấy đến ta sẽ làm cho tri thức này mãi mãi là của ta. Không phải ông, cũng không bất kỳ tu sĩ nào trên mặt đất, có thể ngăn ta.”

He would have spoken, but I raised my hand.

Ông định nói, nhưng tôi giơ tay lên.

“No, not even you, Besiurt. I do not think one appeals ever to the High Gods in vain, even though their priests would make them dumb if they could. I believe I was meant to overhear the words you spoke which revealed to me the existence of One in Egypt higher than you. I made my appeal to him—and he has answered.”

“Không, ngay cả ông cũng không, Besiurt. Ta không nghĩ rằng người ta từng khẩn cầu các Thượng đế Cao Cả một cách vô ích, dù các tu sĩ của các ngài có muốn làm các ngài câm lặng nếu có thể. Ta tin rằng ta đã được định để nghe lỏm những lời ông nói, những lời đã tiết lộ cho ta sự hiện hữu của Một Đấng ở Ai Cập cao hơn ông. Ta đã gửi lời khẩn cầu của ta đến Ngài—và Ngài đã đáp lại.”

The high priest sprang to his feet. “You are deluded; it is not possible. He would never speak to one who is not of Us.”

Vị đại tư tế bật đứng dậy. “Bệ hạ bị mê hoặc rồi; điều đó là không thể. Ngài ấy sẽ không bao giờ nói với kẻ không thuộc về Chúng Tôi.”

“Perchance I am deluded; that I will soon discover, for I go to him tonight.”

“Có lẽ ta bị mê hoặc; điều đó ta sẽ sớm khám phá ra, vì đêm nay ta sẽ đến với Ngài.”

“Go to him? But you do not know…”

“Đến với Ngài ư? Nhưng Bệ hạ không biết…”

“I am to be shown his dwelling-place. I shall find it, if it be across the world.”

“Người ta sẽ chỉ cho tôi nơi ở của ông ấy. Tôi sẽ tìm ra ông ấy, dù có phải ở tận bên kia thế giới.”

“You cannot—you are Pharaoh. You have no right to leave Egypt!”

“Ngài không thể—Ngài là Pharaoh. Ngài không có quyền rời Ai Cập!”

“Be seated,” I said impatiently, for he was stamping round the chamber, waving his arms to high heaven. “I am still sick. Your voice is loud. Subdue it.”

“Ngồi xuống đi,” tôi nói một cách sốt ruột, vì ông đang giậm chân quanh phòng, vung tay lên tận trời cao. “Tôi vẫn còn bệnh. Giọng ông quá lớn. Hạ thấp nó xuống.”

Without more ado I told him my plans. He demurred, cried aloud that I was a traitor; that the throne was a sacred trust I had no right to relinquish; appealed in turn to my ambition, my pride, my love of Egypt, but without avail. My mind was set, nothing touched me any more, for life had given me everything and I had found its best gifts but ashes in my mouth. My will was my only law, and before it at length he had perforce to bow.

Không nói thêm gì nữa, tôi kể cho ông nghe kế hoạch của mình. Ông phản đối, kêu lớn rằng tôi là kẻ phản bội; rằng ngai vàng là một sự ủy thác thiêng liêng mà tôi không có quyền từ bỏ; lần lượt kêu gọi tham vọng, lòng kiêu hãnh, tình yêu Ai Cập của tôi, nhưng đều vô ích. Tâm trí tôi đã quyết, không gì còn chạm đến tôi nữa, vì đời đã cho tôi mọi thứ và tôi thấy những tặng phẩm tốt đẹp nhất của nó chỉ như tro bụi trong miệng mình. Ý chí tôi là quy luật duy nhất của tôi, và cuối cùng trước nó ông buộc phải cúi đầu.

I left him the royal signet; I left him with instructions to explain my sudden absence as he would—I did not care.

Tôi để lại cho ông ấn tín hoàng gia; tôi để lại cho ông những chỉ dẫn để giải thích sự vắng mặt đột ngột của tôi theo cách ông muốn—tôi không quan tâm.

That night, clad as a peasant with a rough cloak to hide my face and a staff in my hand, I went to the outer gate of the Temple of Ra. A man in rags rose at my approach and without giving me a greeting turned down the street, walking towards the Nile. I followed him. Our feet made no sound upon the sand. We were as shadows moving in darkness, for there was no moon. Morning found us in the desert. All day beneath the burning sun we went without rest. Despite my great strength my feet faltered. He seemed untiring. Once by a well he stopped and gave me to drink, but did not speak. By evening my head was swimming so that I could scarcely see his form as it strode ever like a gaunt shade before me. Perchance I had grown soft with the life at court, or perchance my illness had sapped my strength more than I knew, but towards dawn I sank down, unable to drag my body farther. He came back and stood over me.

Đêm ấy, mặc như một nông dân với chiếc áo choàng thô để che mặt và cây gậy trong tay, tôi đi đến cổng ngoài của Đền Ra. Một người đàn ông áo quần rách rưới đứng dậy khi tôi đến gần và không chào tôi lấy một lời, quay xuống phố, đi về phía sông Nile. Tôi theo ông ta. Chân chúng tôi không gây tiếng động nào trên cát. Chúng tôi như những chiếc bóng di chuyển trong bóng tối, vì không có trăng. Buổi sáng thấy chúng tôi ở trong sa mạc. Suốt ngày dưới mặt trời thiêu đốt, chúng tôi đi không nghỉ. Dù sức tôi rất lớn, chân tôi vẫn chùn lại. Ông ta dường như không biết mệt. Có lần bên một cái giếng, ông dừng lại và cho tôi uống, nhưng không nói gì. Đến chiều, đầu tôi quay cuồng đến nỗi tôi hầu như không còn thấy rõ hình dáng ông cứ sải bước mãi như một cái bóng gầy guộc trước mặt tôi. Có lẽ tôi đã trở nên mềm yếu vì đời sống nơi triều đình, hoặc có lẽ cơn bệnh đã rút cạn sức tôi nhiều hơn tôi biết, nhưng về phía rạng đông tôi khuỵu xuống, không thể kéo thân mình đi xa hơn nữa. Ông quay lại và đứng trên tôi.

“You have done well, O Prince,” he said.

“Ngài đã làm rất tốt, thưa Hoàng tử,” ông nói.

“Give me but an hour’s rest and I will go on,” I replied.

“Chỉ cho tôi nghỉ một giờ thôi rồi tôi sẽ đi tiếp,” tôi đáp.

“There is no need; we are almost at our journey’s end.” Stooping he picked me up as if I had been a child, and walked on lightly despite my protestations. I know not how far we went, for I think I must have fainted. When I awoke I was stretched upon a bed in a quiet chamber where an oil light burned.

“Không cần; chúng ta gần đến cuối hành trình rồi.” Cúi xuống, ông nhấc tôi lên như thể tôi là một đứa trẻ, rồi nhẹ nhàng bước tiếp mặc cho tôi phản đối. Tôi không biết chúng tôi đã đi bao xa, vì tôi nghĩ hẳn mình đã ngất đi. Khi tỉnh lại, tôi đang nằm trên một chiếc giường trong một căn phòng yên tĩnh nơi một ngọn đèn dầu đang cháy.

For three days and nights I remained there, attendants bringing me food and drink, then I was brought into the presence of him who was Egypt’s Ruler.

Suốt ba ngày ba đêm tôi ở đó, những người hầu mang thức ăn và nước uống cho tôi, rồi tôi được đưa vào diện kiến vị Chúa Tể của Ai Cập.

He was seated at a table studying ancient rolls of papyrus and although he was dressed in a plain white robe with no sign of rank, when he raised his head and looked at me I knew myself in the presence of one before whom even Pharaoh of Egypt was of small account. I had an incomprehensible impulse to prostrate myself but suppressed it with an effort.

Ngài ngồi bên bàn nghiên cứu những cuộn giấy papyrus cổ, và dù Ngài mặc một áo choàng trắng đơn sơ không có dấu hiệu phẩm cấp nào, khi Ngài ngẩng đầu lên và nhìn tôi, tôi biết mình đang ở trước sự hiện diện của một Đấng mà ngay cả Pharaoh của Ai Cập cũng chỉ là điều nhỏ nhặt. Tôi có một thôi thúc không thể giải thích được muốn phủ phục xuống, nhưng đã cố sức dằn lại.

He bade me draw nearer. I stood on the other side of the table. A sensation of calm resolution emanated from him.

Ngài bảo tôi đến gần hơn. Tôi đứng ở phía bên kia bàn. Từ Ngài toả ra một cảm giác bình an và quyết tâm.

“Why have you come to me?” he asked.

“Tại sao ngươi đến với ta?” Ngài hỏi.

“To learn how a man may gain dominion over all things.”

“Để học cách một con người có thể đạt được quyền thống trị trên mọi sự.”

“This is revealed in the Holy Mysteries of Ra-Her- machis.”

“Điều này được mặc khải trong các Huyền Nhiệm thiêng liêng của Ra-Her-machis.”

“His priests refused me; they said I was unworthy. So I turned to Set.”

“Các tư tế của Ngài ấy đã từ chối tôi; họ nói tôi không xứng đáng. Vì vậy tôi quay sang Set.”

He raised his brows. “Were you not afraid?”

Ngài nhướng mày. “Ngươi không sợ sao?”

“I am afraid of nothing.”

“Tôi không sợ gì cả.”

“You speak truth; it is of nothing that you are the most afraid.”

“Ngươi nói thật; chính cái không gì cả là điều ngươi sợ nhất.”

I started; he had struck the mark.

Tôi giật mình; Ngài đã đánh trúng đích.

“You are afraid,” he continued, “of the forces of annihilation you feel to be within yourself.”

“Ngươi sợ,” Ngài tiếp tục, “những mãnh lực hủy diệt mà ngươi cảm thấy ở trong chính mình.”

I shuddered at his words; I could not deny them. I raised my head and looked him in the face. “It is so; it is this fear indeed that has brought me to you.” I leant towards him, striking my clenched fist upon the table. “I will not be destroyed! I will live—live!” After a pause I added, more to myself than to him, “I dare not die—it would be defeat….”

Tôi rùng mình trước lời Ngài; tôi không thể phủ nhận. Tôi ngẩng đầu lên và nhìn thẳng vào mặt Ngài. “Đúng vậy; chính nỗi sợ này đã đưa tôi đến với Ngài.” Tôi nghiêng người về phía Ngài, đấm nắm tay siết chặt xuống bàn. “Tôi sẽ không bị hủy diệt! Tôi sẽ sống—sống!” Sau một khoảng lặng, tôi nói thêm, như nói với chính mình hơn là với Ngài, “Tôi không dám chết—đó sẽ là thất bại….”

“Yet all must die,” came his quiet voice.

“Thế nhưng mọi người đều phải chết,” giọng Ngài bình thản cất lên.

I shook my head. “Nay; it is not death I actually fear; I have faced it too often, unafraid. It is something vaster, slower…. Disintegration? Yet what is that?” 1 flung out my hands to him in sudden despair. “You who must be more wise than other men, can you not tell me what would assuage this unending discontent, this restless yearning, this despair, this insidious poison which saps my strength, ruins my successes, and renders all my triumphs barren? Can you not show me how I may be freed from this suffering, this sickness of mind and body which I know to be the forerunner of madness, these moods of blackest melancholy that make all things appear as vain shadows? Why am I, alone of all men, so cursed? Why am I thrust apart? They know not these agonies, this perpetual menace, this fear of emptiness—of more than death. I am Pharaoh: Egypt and all her riches are mine— yet verily fools and slaves are happier than I.”

Tôi lắc đầu. “Không; thật ra không phải cái chết mà tôi sợ; tôi đã đối diện nó quá nhiều lần mà không hề sợ hãi. Đó là một điều gì rộng lớn hơn, chậm hơn…. Sự tan rã chăng? Nhưng đó là gì?” Tôi dang hai tay về phía Ngài trong cơn tuyệt vọng đột ngột. “Ngài, Đấng hẳn phải minh triết hơn những người khác, chẳng lẽ không thể nói cho tôi biết điều gì có thể xoa dịu sự bất mãn không dứt này, nỗi khát khao không yên này, sự tuyệt vọng này, thứ độc chất âm thầm này đang rút cạn sức tôi, phá hỏng những thành công của tôi, và làm cho mọi chiến thắng của tôi trở nên cằn cỗi? Chẳng lẽ Ngài không thể chỉ cho tôi cách để được giải thoát khỏi nỗi khổ này, căn bệnh của trí tuệ và thể xác này mà tôi biết là điềm báo của cơn điên loạn, những cơn u sầu đen tối nhất khiến mọi sự hiện ra như những chiếc bóng hư ảo? Tại sao chỉ riêng tôi, giữa mọi người, lại bị nguyền rủa như thế? Tại sao tôi bị đẩy ra riêng biệt? Họ không biết những cơn hấp hối này, mối đe dọa thường trực này, nỗi sợ hãi về sự trống rỗng—về điều gì còn hơn cả cái chết. Tôi là Pharaoh: Ai Cập và mọi của cải của nàng đều là của tôi—thế mà quả thật những kẻ ngu dốt và nô lệ còn hạnh phúc hơn tôi.”

“They have love,” he answered.

“Họ có tình yêu,” Ngài đáp.

“Love? Bah, I am weary of women and their ways.”

“Tình yêu ư? Bah, tôi đã chán ngấy đàn bà và những trò của họ.”

“Do you know what love is?” he asked gently.

“Ngươi có biết tình yêu là gì không?” Ngài dịu dàng hỏi.

“I know it is weakness, not strength,” I answered scornfully; “I know that to most men it brings disaster, not fulfilment. It is not love I need, it is knowledge, power, the secret of Life, for I know full well that until I hold these I shall never be cured of my disease. Love cannot serve me here.”

“Tôi biết đó là sự yếu đuối, không phải sức mạnh,” tôi khinh miệt đáp; “tôi biết rằng với phần lớn đàn ông, nó mang đến tai họa chứ không phải sự viên mãn. Điều tôi cần không phải là tình yêu, mà là tri thức, quyền năng, bí mật của Sự sống, vì tôi biết rất rõ rằng chừng nào chưa nắm được những điều ấy tôi sẽ không bao giờ chữa khỏi căn bệnh của mình. Tình yêu không thể giúp tôi ở đây.”

“No, love cannot serve you until you serve it, my friend.” His eyes narrowed until they flashed at me like points of fire. “So you come to me for power, to learn the mysteries of Life? My answer is that until you have first learned to love we cannot teach you anything. Of what use to you would be our inestimable gifts, while you are still incapable of understanding their true nature, much less of utilizing them? A seed, unless it is quickened, will remain unfruitful. So it is with this knowledge you seek: until it be impregnated with the vitalizing energy of love, it is of no use to you or to any man.”

“Không, tình yêu không thể giúp ngươi cho đến khi ngươi phụng sự nó, bạn ta.” Mắt Ngài nheo lại cho đến khi loé lên như những điểm lửa nhìn vào tôi. “Vậy là ngươi đến với ta để tìm quyền năng, để học các huyền nhiệm của Sự sống? Câu trả lời của ta là: cho đến khi ngươi học được cách yêu thương trước đã, chúng ta không thể dạy ngươi điều gì cả. Những tặng phẩm vô giá của chúng ta sẽ có ích gì cho ngươi, khi ngươi vẫn chưa có khả năng hiểu bản chất thật của chúng, chứ đừng nói đến việc sử dụng chúng? Một hạt giống, nếu không được làm cho sống động, sẽ vẫn không sinh quả. Tri thức mà ngươi tìm kiếm cũng vậy: cho đến khi nó được thấm nhuần bằng năng lượng tiếp sinh lực của tình yêu, nó không có ích gì cho ngươi hay cho bất cứ ai.”

I listened to him, frowning with irritation and some bewilderment. To be told that the answer to my question was merely that I should love seemed preposterous; yet some instinct assured me that this priest knew of what he spoke. I felt drawn towards him and already respected his intellect, for he obviously could do many things that I, with all my knowledge of magic, could not. There was some mystery here that I must fathom, by guile if I could do so by no other means.

Tôi nghe Ngài, cau mày vì bực bội và phần nào bối rối. Bị bảo rằng câu trả lời cho câu hỏi của tôi chỉ đơn giản là tôi phải yêu thương nghe thật lố bịch; thế nhưng một bản năng nào đó bảo đảm với tôi rằng vị tư tế này biết rõ điều mình nói. Tôi cảm thấy bị hút về phía Ngài và đã kính trọng trí tuệ của Ngài, vì rõ ràng Ngài có thể làm nhiều điều mà tôi, với tất cả hiểu biết về huyền thuật của mình, không thể làm được. Ở đây có một huyền nhiệm mà tôi phải dò thấu, bằng mưu mẹo nếu không thể bằng cách nào khác.

“Well, well,” I said with a smile, simulating an attitude of humility, “if you can persuade me that what you say is true and to love is the key to the Temple of Wisdom, then I am willing to attempt it. What more is there for me to accomplish before I be permitted to learn the inner Mysteries?”

“Được, được,” tôi nói với một nụ cười, giả vờ có thái độ khiêm nhường, “nếu Ngài có thể thuyết phục tôi rằng điều Ngài nói là thật và yêu thương là chìa khóa của Đền Minh Triết, thì tôi sẵn lòng thử. Còn điều gì nữa tôi phải hoàn thành trước khi được phép học các Huyền Nhiệm nội tại?”

“You will have to break down the barriers which your own crimes have raised between you and the holy portals, you will have to love and serve mankind, paying thus the debts you have contracted through hatred and ignorance.”

“Ngươi sẽ phải phá bỏ những rào cản mà chính tội lỗi của ngươi đã dựng lên giữa ngươi và các cổng thiêng, ngươi sẽ phải yêu thương và phụng sự nhân loại, nhờ đó trả những món nợ mà ngươi đã mắc phải do hận thù và vô minh.”

“You speak in riddles,” I replied half scornfully, “but I accept your conditions. I will do this. Show me these barriers of which you speak that I may break them down and the debts that they may be paid in full. My power is great, my treasuries are overflowing, my will is Law in Egypt.”

“Ngài nói bằng câu đố,” tôi đáp nửa khinh miệt, “nhưng tôi chấp nhận các điều kiện của Ngài. Tôi sẽ làm điều đó. Hãy chỉ cho tôi những rào cản mà Ngài nói để tôi phá chúng xuống, và những món nợ để chúng được trả trọn. Quyền năng của tôi rất lớn, kho tàng của tôi tràn đầy, ý chí tôi là Định luật ở Ai Cập.”

He rose; tall though I was, he seemed to tower above me.

Ngài đứng dậy; dù tôi cao lớn, Ngài dường như vẫn vượt hẳn lên trên tôi.

“Vain man,” he exclaimed, “you know not what you ask, your very words prove your utter unfitness even to attempt this undertaking. Your mind is of the earth. You talk of power, your power is less than a babe’s. Did you not admit that you cannot drive the madness from you when it descends like a cloud? Can you conquer your own moods, your own despairs? As for this will of which you boast, you are ruled by vanity, pride and egotism—you are a slave, not a master.” He turned and strode towards the door. “Follow me,” he commanded.

“Hỡi con người hư vinh,” Ngài kêu lên, “ngươi không biết mình đang hỏi gì, chính lời ngươi đã chứng tỏ sự bất xứng hoàn toàn của ngươi ngay cả trong việc thử đảm nhận công việc này. Tâm trí ngươi thuộc về đất. Ngươi nói về quyền năng, quyền năng của ngươi còn kém một đứa trẻ sơ sinh. Chẳng phải ngươi đã thừa nhận rằng ngươi không thể xua cơn điên khỏi mình khi nó giáng xuống như một đám mây sao? Ngươi có thể chinh phục những tâm trạng của chính mình, những tuyệt vọng của chính mình không? Còn về ý chí mà ngươi khoe khoang, ngươi bị cai trị bởi hư vinh, kiêu ngạo và ích kỷ—ngươi là nô lệ, không phải chủ nhân.” Ngài quay đi và sải bước về phía cửa. “Theo ta,” Ngài ra lệnh.

We passed down many passages until at last we entered a small circular chamber in the centre of which was a great crystal globe that gave out a soft effulgence. Apart from this green glow, the room was in darkness. He bade me stand before the globe, then, coming behind me, he placed his hands across my forehead.

Chúng tôi đi qua nhiều hành lang cho đến cuối cùng bước vào một căn phòng tròn nhỏ, ở giữa có một quả cầu pha lê lớn phát ra ánh sáng dịu. Ngoài ánh sáng xanh ấy ra, căn phòng chìm trong bóng tối. Ngài bảo tôi đứng trước quả cầu, rồi từ phía sau đặt hai tay ngang trán tôi.

“Look into the depths,” he said, “and see.”

“Hãy nhìn vào chiều sâu,” Ngài nói, “và thấy.”

I looked; at first it was like gazing into the Nile clear green, deep yet full of light, then the light caught me, drawing me down. I forgot my present; I went back; I stood again in Atlantis; I became once more Cheor. Nothing was hidden from me of what I had done until the end. Then I found myself standing before an empty globe.

Tôi nhìn; lúc đầu như đang nhìn vào màu xanh trong trẻo của sông Nile, sâu mà đầy ánh sáng, rồi ánh sáng bắt lấy tôi, kéo tôi xuống. Tôi quên hiện tại; tôi quay về; tôi lại đứng ở Atlantis; tôi lại trở thành Cheor. Không điều gì bị che giấu khỏi tôi về những gì tôi đã làm cho đến tận cùng. Rồi tôi thấy mình đang đứng trước một quả cầu trống rỗng.

His voice recalled me to myself. “Tell me,” he said, “what do you feel now about this past life?”

Giọng Ngài gọi tôi trở về với chính mình. “Hãy nói cho ta biết,” Ngài nói, “bây giờ ngươi cảm thấy thế nào về kiếp sống quá khứ ấy?”

I frowned and hesitated, seeking to disentangle the confused threads of that memory. “I think,” I said slowly at last, “that it has made me realize that I am not now as great as I imagined. I have always considered myself powerful, something of an adept in magic, but the magic we practise here is as a child’s game compared with that. Ah, what have I not forgotten? Why, we held then the true secrets of the elements, we were as gods; not this earth alone was our plaything, but the hosts of heaven and the powers thereof. Our minds have indeed become like those of pygmies; everything was greater then, Egypt seems to us a mighty domain, and behold! I see now that it is but a speck upon the surface of a tiny world. I have much to learn.”

Tôi cau mày và ngập ngừng, cố gỡ những sợi chỉ rối của ký ức đó. “Tôi nghĩ,” cuối cùng tôi chậm rãi nói, “rằng nó khiến tôi nhận ra hiện nay tôi không vĩ đại như tôi tưởng. Tôi luôn xem mình là đầy quyền năng, gần như một chân sư về huyền thuật, nhưng huyền thuật chúng tôi thực hành ở đây chỉ như trò chơi trẻ con so với điều đó. A, tôi đã quên biết bao! Vì khi ấy chúng tôi nắm giữ những bí mật chân thật của các nguyên tố, chúng tôi như các vị thần; không chỉ riêng trái đất này là đồ chơi của chúng tôi, mà cả các đạo quân thiên giới và những quyền năng của chúng nữa. Quả thật trí tuệ chúng tôi nay đã trở nên như của những kẻ lùn; khi ấy mọi thứ đều lớn lao hơn, Ai Cập đối với chúng tôi dường như là một lãnh địa hùng mạnh, và kìa! giờ tôi thấy nó chỉ là một chấm trên bề mặt của một thế giới nhỏ bé. Tôi còn nhiều điều phải học.”

I looked up to find his eyes piercing me as if searching my inmost heart, and there was an expression of wonder and sorrow on his face. “So you feel nothing but this regret—no shame for what you did, no horror?”

Tôi ngước lên và thấy mắt Ngài xuyên thấu tôi như đang dò xét tận đáy lòng, và trên mặt Ngài có một vẻ kinh ngạc lẫn buồn thương. “Vậy ngươi không cảm thấy gì ngoài nỗi tiếc nuối này—không xấu hổ về điều ngươi đã làm, không kinh hãi sao?”

I laughed; so exhilarated was I by what I had seen that for a while all my forebodings were forgotten. “Why should I feel shame save perhaps for this man that I am now become, a man so misnamed a god? Ah, if I could know again what then I knew….”

Tôi cười; điều tôi đã thấy làm tôi phấn khích đến mức trong một lúc mọi linh cảm đen tối đều bị quên đi. “Tại sao tôi phải thấy xấu hổ, trừ phi có lẽ vì con người mà giờ đây tôi đã trở thành, một con người bị gọi lầm là thần? A, giá như tôi có thể lại biết điều khi ấy tôi đã biết….”

“Does it leave no impression upon you but this desire for increased knowledge?”

“Nó không để lại trong ngươi ấn tượng nào ngoài ham muốn gia tăng tri thức này sao?”

I remained silent for a little while, attempting to identify myself even more closely with that past. As the pictures came back to me, one face stood out more clearly than the others, arousing within me an indefinable emotion.

Tôi im lặng một lúc, cố đồng hoá với quá khứ ấy còn chặt chẽ hơn nữa. Khi các hình ảnh trở lại với tôi, một gương mặt nổi bật rõ hơn những gương mặt khác, khơi dậy trong tôi một cảm xúc không thể định nghĩa.

“This Shahballazz,” I said at length, “does he live now?”

“Shahballazz này,” cuối cùng tôi nói, “ông ấy hiện còn sống không?”

“Why would you know?”

“Tại sao ngươi muốn biết?”

“I feel drawn to him; if he could be found I would have him in my councils, he is a man I could trust….” I hesitated. “It is foolish, perhaps, but the thought of him stirs in me a strange longing, a desire….” I shrugged my shoulders helplessly, incapable of expressing what I felt.

“Tôi cảm thấy bị hút về phía ông ấy; nếu có thể tìm thấy ông ấy tôi sẽ muốn có ông ấy trong hội đồng của mình, ông ấy là người tôi có thể tin cậy….” Tôi ngập ngừng. “Có lẽ thật ngớ ngẩn, nhưng ý nghĩ về ông ấy khơi dậy trong tôi một nỗi khát khao lạ lùng, một ham muốn….” Tôi bất lực nhún vai, không thể diễn tả điều mình cảm thấy.

While I had been speaking the Ruler had seated himself upon the stone bench which encircled the chamber and remained for a little while sunk in thought. Yet in the strange and intense silence I felt as if his mind were, in some mysterious way, probing mine.

Trong khi tôi nói, vị Chúa Tể đã ngồi xuống chiếc ghế đá bao quanh căn phòng và chìm trong suy nghĩ một lúc. Thế nhưng trong sự im lặng lạ lùng và mãnh liệt ấy, tôi cảm thấy như thể trí tuệ của Ngài, theo một cách huyền bí nào đó, đang dò thấu trí tuệ tôi.

Presently he looked up and his stern mouth relaxed into a smile.

Một lát sau Ngài ngước lên và khuôn miệng nghiêm nghị của Ngài giãn ra thành một nụ cười.

“Perhaps this is love you feel?” he suggested.

“Có lẽ đây là tình yêu mà ngươi đang cảm thấy chăng?” Ngài gợi ý.

“It is possible,” I admitted; “I have certainly never in my life felt the need of anyone so much.” Suddenly I strode across the chamber and stood before him. “You have spoken much of love today; you have told me that I can only gain my ends by serving all men and loving them. To me this sounds absurd. How can I love all men? All the fools I scorn and the enemies I hate? Now this man I could love perhaps, I might even serve him if I had to, yes, and you also, but the others… In any case, I do not see how loving can have any connection with the powers that I would gain, unless, indeed, you use the word ‘love’ as a symbol for something else, some mighty creative force, or for some God who must remain hidden and unknown. That which men call love is of no use to me. What is this secret that you hide?”

“Có thể,” tôi thừa nhận; “quả thật trong đời tôi chưa bao giờ cảm thấy cần một ai đến thế.” Đột nhiên tôi sải bước ngang căn phòng và đứng trước mặt Ngài. “Hôm nay Ngài đã nói nhiều về tình yêu; Ngài đã bảo tôi rằng tôi chỉ có thể đạt mục đích của mình bằng cách phụng sự mọi người và yêu thương họ. Với tôi điều này nghe thật phi lý. Làm sao tôi có thể yêu mọi người? Tất cả những kẻ ngu mà tôi khinh bỉ và những kẻ thù mà tôi căm ghét? Còn người này thì có lẽ tôi có thể yêu, thậm chí có thể phụng sự ông ấy nếu phải làm vậy, vâng, và cả Ngài nữa, nhưng những kẻ khác thì… Dù sao đi nữa, tôi không thấy yêu thương có thể liên hệ gì với những quyền năng mà tôi muốn đạt được, trừ phi quả thật Ngài dùng chữ ‘tình yêu’ như một biểu tượng cho điều gì khác, một mãnh lực sáng tạo hùng mạnh nào đó, hoặc cho một Thượng đế nào đó phải luôn ẩn kín và bất khả tri. Cái mà loài người gọi là tình yêu thì vô dụng đối với tôi. Bí mật mà Ngài che giấu ấy gì?”

He raised his head and looked at me.

Ngài ngẩng đầu lên và nhìn tôi.

Then something happened for which I can find no name. It was as if a blinding light shot from him and enveloped me, drawing me, for one fleeting instant, into his consciousness.

Rồi một điều xảy ra mà tôi không tìm được tên gọi. Như thể một luồng ánh sáng chói lòa bắn ra từ Ngài và bao trùm lấy tôi, kéo tôi, trong một khoảnh khắc thoáng qua, vào trong tâm thức của Ngài.

For an instant only—then the divine sensation passed. It was gone. I stood there dazed, empty, defeated, like a prisoner who has escaped into the light of day only to be thrust down into a darker dungeon.

Chỉ một khoảnh khắc thôi—rồi cảm giác thiêng liêng ấy qua đi. Nó biến mất. Tôi đứng đó choáng váng, trống rỗng, bại trận, như một tù nhân đã trốn ra ánh sáng ban ngày chỉ để bị quăng xuống một ngục tối còn đen hơn.

Bewildered, I turned to him who had given me this ineffable glimpse into a state of being of which I could never have conceived, and which was already receding, becoming unreal—incomprehensible.

Bối rối, tôi quay sang Đấng đã cho tôi thoáng thấy trạng thái hiện hữu khôn tả ấy, một trạng thái mà tôi chưa từng có thể hình dung, và giờ đây nó đã đang lùi xa, trở nên không thật—không thể hiểu nổi.

I found myself trembling; I leant against the wall for support. “What magic is this? What did you do to me?” I asked slowly.

Tôi thấy mình đang run rẩy; tôi tựa vào tường để lấy chỗ dựa. “Đây là huyền thuật gì? Ngài đã làm gì với tôi?” tôi chậm rãi hỏi.

He did not answer at once, but sat with his gaze fixed upon me. At last he seemed satisfied with his scrutiny.

Ngài không trả lời ngay, mà ngồi nhìn chằm chằm vào tôi. Cuối cùng dường như Ngài đã hài lòng với sự quan sát của mình.

“You imagined,” he replied at length, “that you could come here, learn our secrets and depart to use them hereafter for your own ends. To do so would be impossible, but that you could not know. Yet since such a thought had even found entrance into your mind it became necessary for me to learn if this apparent passion for truth and understanding arose from lust for power or from fear alone, or whether there were not some deeper motive underlying these appearances. I therefore tested you by recalling to you the memory of Shahballazz. You were immediately drawn to him, responding to that note of love which memory caused to vibrate within your heart again. But this was not enough, for your love might have been a manifestation of selfish desire and nothing more; therefore I flooded you for an instant with the white flame of that higher love in which all that is evil must eventually be transmuted. Because you were not shattered by that clear note resounding through your aura, because you did not recoil from me in terror and revolt, this experiment has proved to me that within you the spark of love does burn, although it is not outwardly to be perceived. Therefore it will be permitted me to disclose to you certain matters that would otherwise have remained hidden for many lives. For know that if you had rejected him and me, I would have had no alternative but to send you back as you came, and you would have soon been overwhelmed by those evil forces to which you are still in bondage.”

“Ngươi đã tưởng,” cuối cùng Ngài đáp, “rằng ngươi có thể đến đây, học các bí mật của chúng ta rồi ra đi để sau này dùng chúng cho mục đích riêng của mình. Làm như vậy là điều bất khả, nhưng ngươi không thể biết điều đó. Tuy nhiên, vì một ý nghĩ như thế đã lọt vào trí ngươi, nên ta cần phải biết xem niềm đam mê có vẻ như dành cho chân lý và thấu hiểu này phát sinh từ lòng ham quyền lực hay chỉ từ nỗi sợ, hay liệu bên dưới những vẻ ngoài ấy không có một động cơ sâu xa hơn. Vì vậy ta đã thử ngươi bằng cách gợi lại cho ngươi ký ức về Shahballazz. Ngươi lập tức bị hút về phía ông ấy, đáp ứng với âm điệu tình yêu mà ký ức ấy khiến rung lên trở lại trong tim ngươi. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, vì tình yêu của ngươi có thể chỉ là biểu hiện của ham muốn ích kỷ và không hơn gì nữa; vì vậy ta đã tràn ngập ngươi trong một khoảnh khắc bằng ngọn lửa trắng của tình yêu cao hơn ấy, trong đó mọi điều ác cuối cùng đều phải được chuyển hoá. Bởi vì ngươi không bị tan vỡ bởi âm điệu trong sáng ấy vang dội xuyên qua noãn hào quang của ngươi, bởi vì ngươi không kinh hoàng và phản loạn mà lùi xa khỏi ta, nên cuộc thử nghiệm này đã chứng minh cho ta rằng trong ngươi tia lửa tình yêu quả thật có cháy, dù bên ngoài không thể nhận thấy. Vì thế ta được phép tiết lộ cho ngươi một số điều mà nếu không thì đã còn bị che giấu trong nhiều kiếp sống. Hãy biết rằng nếu ngươi đã khước từ ông ấy và ta, ta sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gửi ngươi trở về như lúc ngươi đến, và chẳng bao lâu ngươi sẽ bị nhấn chìm bởi những mãnh lực ác mà ngươi vẫn còn đang nô lệ.”

“I am ready to believe now,” I replied, “that this mighty magical power which you call ‘love’ can indeed work miracles and could even heal me; but I still do not understand what part this man has to play therein, unless it be to help me gain insight into these mysteries. For now, more than ever, am I determined to learn how such a power can be acquired.”

“Giờ đây tôi sẵn sàng tin,” tôi đáp, “rằng quyền năng huyền thuật hùng mạnh mà Ngài gọi là ‘tình yêu’ quả thật có thể làm nên phép lạ và thậm chí có thể chữa lành tôi; nhưng tôi vẫn chưa hiểu người này có vai trò gì trong đó, trừ phi là giúp tôi đạt được sự thấu suốt vào các huyền nhiệm ấy. Vì giờ đây, hơn bao giờ hết, tôi quyết tâm học cách làm sao có thể đạt được một quyền năng như vậy.”

“He will teach you,” he answered, “but not, perhaps, in the way you think. Tell me, would your life not be happier were he by your side?”

“Ông ấy sẽ dạy ngươi,” Ngài đáp, “nhưng có lẽ không theo cách ngươi nghĩ. Hãy nói cho ta biết, chẳng phải đời ngươi sẽ hạnh phúc hơn nếu ông ấy ở bên cạnh ngươi sao?”

I considered his words for a little while in silence. It was strange indeed how this man’s image had seized upon my imagination, how it had revealed to me a lack in my life of which I had hitherto been unconscious. I had never had a friend, had never loved nor trusted anyone. Re-shep-sut was perhaps the human being who had come nearest to me—other women had meant nothing, a burning lust and a forgetfulness—yet I had never trusted her. I had always been alone, on the defensive, holding men faithful by fear, by force, knowing full well that they would desert me the moment I weakened or they perceived that their advantage lay elsewhere; many of my fears were rooted in this knowledge. Had there been but one man whom I could trust to remain loyal when the sickness smote me; one man who, in these increasing periods of helplessness would defend me from the enemies of my own household, one man to whom I might speak my heart… one man who would love me enough—Yes, that was my need, I saw it in a flash—security. Security? Everywhere was conflict within and without, everywhere was uncertainty, now and hereafter. I wanted something or someone more stable, more enduring, greater than myself. Security… love… was this the answer to my problem? Were these two synonymous?

Tôi im lặng suy nghĩ về lời Ngài một lúc. Quả thật thật lạ lùng khi hình ảnh người này đã chiếm lấy sự tưởng tượng của tôi, khi nó đã bày ra cho tôi một thiếu hụt trong đời mình mà trước đây tôi chưa từng ý thức. Tôi chưa bao giờ có một người bạn, chưa bao giờ yêu hay tin cậy ai. Re-shep-sut có lẽ là con người đã đến gần tôi nhất—những người đàn bà khác chẳng có nghĩa lý gì, chỉ là một cơn dục vọng bốc cháy rồi quên lãng—thế nhưng tôi chưa bao giờ tin cậy nàng. Tôi luôn luôn cô độc, luôn ở thế phòng thủ, giữ cho người ta trung thành bằng sợ hãi, bằng vũ lực, biết rất rõ rằng họ sẽ bỏ tôi ngay khi tôi suy yếu hoặc khi họ nhận ra lợi ích của họ nằm ở nơi khác; nhiều nỗi sợ của tôi bắt rễ từ chính hiểu biết này. Giá mà chỉ có một người đàn ông tôi có thể tin sẽ vẫn trung thành khi cơn bệnh đánh xuống tôi; một người đàn ông trong những thời kỳ bất lực ngày càng tăng này sẽ bảo vệ tôi khỏi những kẻ thù trong chính gia thất của tôi, một người đàn ông mà tôi có thể thổ lộ lòng mình… một người đàn ông sẽ yêu tôi đủ—Phải, đó là điều tôi cần, tôi thấy điều ấy trong một tia chớp—sự an toàn. Sự an toàn ư? Khắp nơi là xung đột bên trong lẫn bên ngoài, khắp nơi là bất định, bây giờ và mai sau. Tôi muốn một điều gì đó hay một ai đó ổn định hơn, bền lâu hơn, lớn hơn chính tôi. Sự an toàn… tình yêu… phải chăng đó là lời giải cho vấn đề của tôi? Phải chăng hai điều ấy đồng nghĩa?

I raised my head. To desire a thing had ever meant for me the instant pursuit of its attainment.

Tôi ngẩng đầu lên. Với tôi, ham muốn một điều gì luôn có nghĩa là lập tức theo đuổi việc đạt được nó.

“It is true,” I said; “I need this man as an ally. He must be found.”

“Đúng vậy,” tôi nói; “tôi cần người này như một đồng minh. Phải tìm ra ông ấy.”

“Nothing can be found unless it is sought in the right way,” he remarked quietly.

“Không gì có thể được tìm thấy nếu không được tìm kiếm theo đúng cách,” Ngài bình thản nhận xét.

I stopped in my swift pacing. “What is the right way?”

Tôi dừng bước đi nhanh của mình lại. “Đúng cách là cách nào?”

He remained silent. I frowned. “You say nothing? Do you know where he is? Show me the way to him I”

Ngài im lặng. Tôi cau mày. “Ngài không nói gì sao? Ngài biết ông ấy ở đâu chứ? Hãy chỉ cho tôi con đường đến với ông ấy!”

“I have already told you: the way is the way of love.” I made an impatient gesture. “But what I feel is love, what else should it be? I need him; I see that I cannot live without him. If you do not tell me where he is I will destroy the world to find him.”

“Ta đã nói với ngươi rồi: con đường ấy là con đường của tình yêu.” Tôi làm một cử chỉ sốt ruột. “Nhưng điều tôi cảm thấy chính là tình yêu, nếu không thì là gì? Tôi cần ông ấy; tôi thấy rằng tôi không thể sống thiếu ông ấy. Nếu Ngài không nói cho tôi biết ông ấy ở đâu, tôi sẽ hủy diệt cả thế giới để tìm ra ông ấy.”

“Love?” he repeated, and smiled bitterly. “My son you do not know what true love is, but yours is the best that you can contrive, therefore not to be wholly condemned.” He shook his head. “O Pharaoh, how blind, how self-deceived you are in your arrogance and vanity! If it were not that I can see the point of development at which you stand, and can read in the faint gleam of that little spark of which I spoke hope for your future, I might well send you whence you came.”

“Tình yêu ư?” Ngài lặp lại, và mỉm cười cay đắng. “Con ta, ngươi không biết tình yêu chân thật là gì, nhưng cái của ngươi là điều tốt nhất mà ngươi có thể tạo ra, vì thế không thể hoàn toàn bị lên án.” Ngài lắc đầu. “Hỡi Pharaoh, ngươi mù quáng biết bao, tự lừa dối biết bao trong sự kiêu ngạo và hư vinh của mình! Nếu không phải ta có thể thấy điểm tiến hoá mà ngươi đang đứng, và có thể đọc trong ánh sáng le lói mờ nhạt của tia lửa nhỏ mà ta đã nói đến niềm hy vọng cho tương lai ngươi, thì hẳn ta đã gửi ngươi trở về nơi ngươi đến.”

As I stared at him angry and baffled, he pointed to the seat at his side. “Come hither and I will endeavour to lighten the darkness of your understanding by showing you what love means and what gulfs lie between you and its attainment.”

Khi tôi nhìn Ngài vừa giận dữ vừa bối rối, Ngài chỉ vào chỗ ngồi bên cạnh mình. “Hãy đến đây và ta sẽ cố làm sáng bớt bóng tối trong sự thấu hiểu của ngươi bằng cách chỉ cho ngươi tình yêu có nghĩa là gì và những vực thẳm nào nằm giữa ngươi với việc đạt được nó.”

I came, feeling rather like a scolded child. Lassitude had followed the exhilaration of a few moments since; I began to feel again the old fiery pains through my head, forerunners of an attack, but for the first time I was not afraid. I had no enemy here who would take advantage of my weakness. I leant my head against the wall and closed my eyes. Slowly the pains grew less and I was soon enveloped in a great peace such as I had never before experienced.

Tôi đến, cảm thấy khá giống một đứa trẻ bị quở trách. Sự mệt lả theo sau cơn phấn khích của vài phút trước; tôi bắt đầu lại cảm thấy những cơn đau bỏng rát cũ trong đầu, điềm báo của một cơn phát tác, nhưng lần đầu tiên tôi không sợ. Ở đây tôi không có kẻ thù nào sẽ lợi dụng sự yếu đuối của tôi. Tôi tựa đầu vào tường và nhắm mắt lại. Chậm rãi, những cơn đau dịu xuống và chẳng bao lâu tôi được bao bọc trong một sự bình an lớn lao mà trước đây tôi chưa từng trải nghiệm.

“Throughout all your lives,” he began, “you have had this passion for power; blinded by overweening vanity you have striven for nought but self-aggrandizement at all and any cost. As you saw, in order to attain these ends, you allied yourself in Atlantis with demonaic powers, separative in their nature, and therefore essentially inimical to man. He who persists in using such destructive energies is engaged, did he but know it, in slowly killing the flow of the universal Life force within him, whereas his true task is to make himself increasingly open to it at ever higher levels. With each incarnation, therefore, his vitality as well as his ability to respond to any higher vibrations becomes less, his powers generally weaken and his possibility of growing in mind and emotional response becomes more remote. Only one blinded, as such men in- evitably are, by the illusory fantasies and hopes these contacts create, could fail to perceive that, by continuing upon this left hand path he could eventually condemn himself to suffering and degradation in life after life for untold ages.”

“Suốt mọi kiếp sống của ngươi,” Ngài bắt đầu, “ngươi đã có niềm đam mê quyền lực này; bị làm mù bởi hư vinh quá độ, ngươi đã phấn đấu chẳng vì gì ngoài sự tự tôn vinh bản thân bằng bất cứ giá nào. Như ngươi đã thấy, để đạt những mục đích ấy, ở Atlantis ngươi đã liên minh với các quyền năng ma quỷ, có bản chất phân ly, và vì thế về căn bản là thù nghịch với con người. Kẻ nào cứ khăng khăng sử dụng những năng lượng hủy diệt như vậy thì đang dấn thân, dù y không biết, vào việc từ từ giết chết dòng chảy của mãnh lực Sự sống phổ quát bên trong mình, trong khi nhiệm vụ chân thật của y là làm cho mình ngày càng rộng mở hơn với nó ở những cấp độ ngày càng cao. Vì vậy, với mỗi lần lâm phàm, sinh lực của y cũng như khả năng đáp ứng với bất kỳ rung động cao hơn nào đều giảm đi, các quyền năng của y nói chung suy yếu, và khả năng tăng trưởng trong trí tuệ và đáp ứng cảm xúc của y trở nên xa vời hơn. Chỉ có kẻ bị làm mù, như những người như thế tất yếu đều bị, bởi những huyễn tưởng và hy vọng ảo tưởng mà các tiếp xúc ấy tạo ra, mới không nhận thấy rằng bằng cách tiếp tục trên tả đạo này, cuối cùng y có thể tự kết án mình vào đau khổ và suy đồi trong kiếp này qua kiếp khác suốt những thời đại không thể kể.”

I sat up with a swift indrawn breath.

Tôi ngồi bật dậy, hít vào một hơi gấp.

He looked at me. “Yes,” he said, “the fear which has haunted you all your life is a memory. Happy for you that this memory which is of the result of your early instruction in the temple of the Sun, has persisted despite all your efforts to crush it. Happy for you—else you might never have experienced even a faint desire to free yourself from the thrall of your self-inflicted blindness; you might not have become aware of your danger. For without this germ of truth sown by those who loved you, I tell you that you would not in this life have felt the stirring of that sense of imminent danger and that unease which is the first faint whisper of the inner voice of your soul and which gives you still, despite everything you have done, a hope of reaching eventually that height where the true source of power can be apprehended, the creative, unifying power of love. You have always despised it yet in one life it saved you, brought you back from the very edge of the pit.

Ngài nhìn tôi. “Đúng vậy,” Ngài nói, “nỗi sợ đã ám ngươi suốt đời là một ký ức. May cho ngươi là ký ức này, vốn là kết quả của sự giáo huấn ban đầu của ngươi trong đền Mặt Trời, đã còn tồn tại bất chấp mọi nỗ lực của ngươi nhằm đè bẹp nó. May cho ngươi—nếu không, có lẽ ngươi đã không bao giờ trải nghiệm dù chỉ một ham muốn mờ nhạt muốn giải thoát mình khỏi ách nô lệ của sự mù quáng do chính mình gây ra; có lẽ ngươi đã không nhận ra hiểm nguy của mình. Vì ta nói cho ngươi biết, nếu không có mầm chân lý này do những người yêu thương ngươi gieo xuống, thì trong kiếp này ngươi đã không cảm thấy sự lay động của ý thức về hiểm nguy cận kề và nỗi bất an ấy, vốn là tiếng thì thầm mờ nhạt đầu tiên của tiếng nói bên trong của linh hồn ngươi, và điều vẫn cho ngươi, bất chấp mọi điều ngươi đã làm, một hy vọng cuối cùng đạt đến độ cao nơi nguồn gốc chân thật của quyền năng có thể được lĩnh hội, quyền năng sáng tạo và hợp nhất của tình yêu. Ngươi luôn khinh miệt nó, thế nhưng trong một kiếp sống nó đã cứu ngươi, đưa ngươi trở lại từ ngay bờ vực của hố sâu.

He paused so long that at length I was forced into speech. “How did it save me?” I asked. “What is this memory? What happened in those lives between then— and now?”

Ngài ngừng lại lâu đến nỗi cuối cùng tôi buộc phải lên tiếng. “Nó đã cứu tôi thế nào?” tôi hỏi. “Ký ức này là gì? Điều gì đã xảy ra trong những kiếp sống giữa khi ấy—và bây giờ?”

“I could show you,” he replied, “but what would it profit you to see again those wasted and ruined lives? Lives of slavery and degradation, lives in which, obsessed by the worship of yourself and blinded by vanity to your true condition, you sank lower and lower until, incarnating into ever more debased and savage forms, you at length became hardly more than a mindless personification of all those evil and destructive lusts you had created in Atlantis.

“Ta có thể chỉ cho ngươi,” Ngài đáp, “nhưng thấy lại những kiếp sống hoang phí và đổ nát ấy thì có ích gì cho ngươi? Những kiếp sống nô lệ và suy đồi, những kiếp sống trong đó, bị ám ảnh bởi sự thờ phụng chính mình và bị hư vinh làm mù trước tình trạng thật của mình, ngươi chìm ngày càng thấp hơn cho đến cuối cùng, lâm phàm vào những hình tướng ngày càng đê tiện và man rợ hơn, ngươi hầu như chẳng còn là gì hơn một hiện thân vô trí của tất cả những dục vọng ác độc và hủy diệt mà ngươi đã tạo ra ở Atlantis.

“Those who, by reason of certain links which you would not yet understand, were bound to you and love you still, watched you slip into the abyss but were powerless to help you since there was nothing in you that responded to the vibrations of love and truth they poured upon you. But no man is ever abandoned until all hope is dead and at last Shahballazz, whom you had once loved truly in a past more remote than this life in Atlantis, was permitted to make the supreme sacrifice and willed to be born in a body so coarse that he could contact you on your own level. So he descended into the slime with you and slowly through a long and weary incarnation, from that miserable outcast’s shell which he had taken, played a perpetual stream of love upon you seeking thus to break through that crust of dense matter which enclosed you so that the light might enter in. As one blows upon the dying spark and at last brings it to flame, so did he blow upon an ember which all who saw not with the eye of love would have called dead. And he succeeded; for in that incarnation, obeying an almost blind instinct you sacrificed your life for his and had you but known it, for your own. Because of that one act when you passed over, instead of sinking instantly to the lowest level there to dwell, as had previously been your fate, among the hideous forms you yourself had created by your thoughts, it was possible to raise you to a higher plane. You returned to earth with some memory of a finer state. This memory haunted you even in the body of a black savage slave. The upward struggle had begun. Again and again you were hurled back into form in your search for fresh understanding until at last you reached a stage where once again you could be given some measure of responsibility. Powers hitherto cut off were therefore permitted you in order to test you and see how much you had learned. So you reincarnated into the household of Pharaoh, but through a woman who gave you that fierce and ruthless heredity which was still a part of your nature, for man is always what he makes himself. But there were great dangers, for the Law demands that when an opportunity for the use of ancient powers is given to a man, there are released at the same time any forces of retribution connected therewith from the past. Therefore all those destructive energies which you had deliberately attached to yourself have accompanied this opportunity for power. These are the enemies that attack you now and have come so near to destroying your body and your mind. These are they who will stand between you and all your soul’s desires, love, happiness, security, any hope of progress, of capacity for usefulness in the world, until you control and redeem them, for until a man can rule himself and his own passions he is not fit to be anything but a servant.”

“Những người, do một số liên kết mà ngươi chưa thể hiểu, đã gắn bó với ngươi và vẫn còn yêu thương ngươi, đã nhìn ngươi trượt xuống vực thẳm nhưng bất lực không thể giúp, vì trong ngươi không có gì đáp ứng với những rung động của tình yêu và chân lý mà họ tuôn đổ lên ngươi. Nhưng không ai từng bị bỏ rơi cho đến khi mọi hy vọng đều chết, và cuối cùng Shahballazz, người mà ngươi đã từng yêu thương chân thật trong một quá khứ còn xa hơn cả kiếp sống Atlantis ấy, đã được phép thực hiện sự hi sinh tối thượng và đã muốn sinh ra trong một thể xác thô nặng đến mức ông có thể tiếp xúc với ngươi trên chính cấp độ của ngươi. Vì vậy ông đã đi xuống bùn lầy cùng ngươi và chậm rãi, qua một kiếp lâm phàm dài và mệt mỏi, từ cái vỏ của kẻ bị ruồng bỏ khốn khổ mà ông đã nhận lấy, phát liên tục lên ngươi một dòng tình yêu bất tận, tìm cách nhờ đó xuyên thủng lớp vỏ vật chất đậm đặc bao bọc ngươi để ánh sáng có thể đi vào. Như người ta thổi vào tia lửa sắp tắt và cuối cùng làm nó bùng cháy, ông đã thổi vào một tàn than mà tất cả những ai không nhìn bằng nhãn pháp của tình yêu hẳn đã gọi là chết. Và ông đã thành công; vì trong kiếp lâm phàm ấy, vâng theo một bản năng gần như mù quáng, ngươi đã hi sinh mạng sống mình cho ông, và nếu ngươi biết được thì cũng là cho chính ngươi. Vì hành động duy nhất ấy, khi ngươi qua đời, thay vì lập tức chìm xuống cấp độ thấp nhất để cư ngụ, như số phận trước đó của ngươi, giữa những hình tướng ghê tởm mà chính ngươi đã tạo ra bằng tư tưởng của mình, thì người ta đã có thể nâng ngươi lên một cõi cao hơn. Ngươi trở lại Trái Đất với một ít ký ức về một trạng thái tinh tế hơn. Ký ức này ám ngươi ngay cả trong thân xác của một nô lệ da đen man rợ. Cuộc đấu tranh đi lên đã bắt đầu. Hết lần này đến lần khác ngươi bị quăng trở lại vào hình tướng trong cuộc tìm kiếm sự thấu hiểu mới, cho đến cuối cùng ngươi đạt đến một giai đoạn mà một lần nữa ngươi có thể được giao một mức độ trách nhiệm nào đó. Vì vậy những quyền năng trước đây bị cắt đứt đã được cho phép nơi ngươi để thử ngươi và xem ngươi đã học được bao nhiêu. Thế là ngươi tái sinh vào gia thất của Pharaoh, nhưng qua một người đàn bà đã cho ngươi di truyền hung bạo và tàn nhẫn ấy, vốn vẫn còn là một phần trong bản chất ngươi, vì con người luôn là điều y tự tạo nên. Nhưng có những hiểm nguy lớn, vì Định luật đòi hỏi rằng khi một cơ hội sử dụng những quyền năng cổ xưa được trao cho một người, thì đồng thời mọi mãnh lực báo ứng gắn liền với chúng từ quá khứ cũng được giải phóng. Vì vậy tất cả những năng lượng hủy diệt mà ngươi đã cố ý gắn vào mình đã đi kèm với cơ hội quyền lực này. Đó là những kẻ thù đang tấn công ngươi lúc này và đã đến rất gần việc hủy diệt thể xác và trí tuệ ngươi. Chính chúng sẽ đứng giữa ngươi và mọi khát vọng của linh hồn ngươi, tình yêu, hạnh phúc, sự an toàn, mọi hy vọng tiến bộ, mọi khả năng hữu dụng trong thế gian, cho đến khi ngươi kiểm soát và cứu chuộc chúng, vì cho đến khi một người có thể cai quản chính mình và những đam mê của mình, y không xứng đáng là gì khác ngoài một kẻ phụng sự.”

When he ceased I sat for a long while motionless my arm over my eyes, seeking some way out of this abyss of darkness into which his revelations had plunged me. Now I understood my hitherto incomprehensible fears, but understanding only increased them a hundredfold. More than ever now I needed the solace and the strength of which Shahballazz had become the symbol.

Khi Ngài ngừng lời, tôi ngồi bất động rất lâu, cánh tay che mắt, tìm một lối thoát khỏi vực thẳm tối tăm mà những mặc khải của Ngài đã đẩy tôi vào. Giờ đây tôi hiểu những nỗi sợ trước kia không thể hiểu nổi của mình, nhưng sự thấu hiểu chỉ làm chúng tăng lên gấp trăm lần. Hơn bao giờ hết, giờ đây tôi cần sự an ủi và sức mạnh mà Shahballazz đã trở thành biểu tượng.

The Ruler must have read my thoughts. “You had best know at once that Shahballazz is not here,” he said, “and if he were, any meeting between you would be impossible while your vibrations remain as coarse and impure as at present. They would only injure him and interfere with his own work. Not more than once can such a sacrifice as his be permitted. It is for you now to reach him by purifying yourself until you are fit to stand by his side again. That day can only come when you have defeated the enemies in your own being. They are very real, very strong. You may be too weak to attempt any such conquest in this life —they may overthrow you.”

Hẳn vị Chúa Tể đã đọc được tư tưởng tôi. “Tốt nhất ngươi nên biết ngay rằng Shahballazz không ở đây,” Ngài nói, “và nếu ông ấy có ở đây, bất kỳ cuộc gặp gỡ nào giữa hai người cũng là bất khả chừng nào các rung động của ngươi còn thô nặng và ô uế như hiện nay. Chúng chỉ làm hại ông ấy và cản trở công việc riêng của ông ấy. Một sự hi sinh như của ông ấy không thể được cho phép quá một lần. Giờ đây phần ngươi là phải vươn tới ông ấy bằng cách thanh luyện chính mình cho đến khi ngươi xứng đáng đứng bên cạnh ông ấy lần nữa. Ngày ấy chỉ có thể đến khi ngươi đã đánh bại những kẻ thù trong chính bản thể mình. Chúng rất thật, rất mạnh. Có thể ngươi quá yếu để thử bất kỳ cuộc chinh phục nào như thế trong kiếp này—chúng có thể lật đổ ngươi.”

His words struck at my pride and instantly all my being was in arms. What! They dared to stand in my way, these forces, these intangible enemies? They would separate me from this man I desired—they would hound me to my death, lonely, mad perhaps?… And even beyond this life, ever denying me happiness, power, love? Pictures passed before my eyes. I saw them tangible, with mocking faces; they took on the shapes of all the people I had hated and despised. And as inevitably happened at the prospect of battle or when my will was thwarted in any way I felt rising within me that fierce passion of destructive energy which had swept and driven me all my life, the red anger which broke down every barrier, crushed every resistance. My head began to throb, my heart to choke me, force poured up until my limbs seemed inflated and the power of ten men animated my body; but now this fiery indignation was not directed outward, but turned inward against myself, against my own weakness, against these mysterious Powers that had dared to seize upon my mind, my body. Was I not master, I, Lord of my being? I sprang to my feet, forebodings and fears had vanished at this incentive to action. Here was a new world to conquer, here a greater and more potent adversary than the warring tribes about Egypt, or even red Set himself.

Lời Ngài đánh vào lòng kiêu hãnh của tôi và tức khắc toàn thể con người tôi vùng dậy. Cái gì! Chúng dám đứng chắn đường tôi, những mãnh lực này, những kẻ thù vô hình này sao? Chúng sẽ chia cắt tôi khỏi người đàn ông tôi khao khát—chúng sẽ săn đuổi tôi đến chết, cô độc, có lẽ điên loạn?… Và ngay cả vượt khỏi kiếp sống này, mãi mãi từ chối tôi hạnh phúc, quyền năng, tình yêu? Những hình ảnh lướt qua trước mắt tôi. Tôi thấy chúng hữu hình, với những khuôn mặt nhạo báng; chúng mang hình dạng của tất cả những kẻ tôi đã căm ghét và khinh bỉ. Và như vẫn luôn xảy ra trước viễn cảnh chiến đấu hoặc khi ý chí tôi bị cản trở theo bất cứ cách nào, tôi cảm thấy trong mình dâng lên niềm cuồng nộ dữ dội của năng lượng hủy diệt đã cuốn và thúc đẩy tôi suốt đời, cơn giận đỏ rực phá tan mọi rào cản, nghiền nát mọi kháng cự. Đầu tôi bắt đầu nhức nhối, tim tôi nghẹn lại, mãnh lực dâng lên cho đến khi tay chân tôi như phồng lên và sức mạnh của mười người làm sinh động thể xác tôi; nhưng giờ đây sự phẫn nộ rực lửa này không hướng ra ngoài mà quay vào trong chống lại chính tôi, chống lại sự yếu đuối của tôi, chống lại những Quyền Năng huyền bí đã dám chiếm lấy trí tuệ tôi, thể xác tôi. Chẳng phải tôi là chủ nhân, tôi, Chúa Tể của bản thể mình sao? Tôi bật đứng dậy, mọi linh cảm và sợ hãi đều biến mất trước động lực hành động này. Đây là một thế giới mới để chinh phục, ở đây là một đối thủ lớn hơn và mạnh hơn các bộ lạc giao chiến quanh Ai Cập, hay thậm chí cả Set đỏ rực nữa.

“I will defeat them,” I cried, “only tell me how it may be done, how I may break these barriers down that separate me from my desires.”

“Tôi sẽ đánh bại chúng,” tôi kêu lên, “chỉ cần nói cho tôi biết điều đó có thể được thực hiện như thế nào, làm sao tôi có thể phá đổ những rào cản ngăn cách tôi với các dục vọng của mình.”

“I can only show you how to prepare yourself for the battle,” he replied; “none can do the fighting but yourself. Before I do so, however, I would have you consider what you are about to undertake, coolly in the sane light of reason, in full knowledge, not in a haze of passion.”

“Ta chỉ có thể chỉ cho con cách chuẩn bị bản thân cho trận chiến,” ông đáp; “không ai có thể chiến đấu ngoài chính con. Tuy nhiên, trước khi làm vậy, ta muốn con suy xét điều con sắp đảm nhận, một cách điềm tĩnh dưới ánh sáng lành mạnh của lý trí, với sự hiểu biết đầy đủ, chứ không phải trong màn sương của đam mê.”

I would have spoken, but he raised his hand and leaning forward, proceeded to speak with such grave impressiveness that I felt the turmoil slowly die within me as fire dies under water.

Tôi định lên tiếng, nhưng ông giơ tay lên và nghiêng người về phía trước, rồi tiếp tục nói với vẻ trang nghiêm sâu sắc đến nỗi tôi cảm thấy cơn hỗn loạn trong mình chậm rãi lắng xuống như lửa tắt dưới nước.

“There are two paths by which men journey towards their goal,” he said. “The slow way upon which the majority are travelling is safe and comparatively easy; it takes hundreds of lives, but also necessitates long rests in the intermediate worlds as it entails a very gradual expansion through the slow changing of the subtle matter of the bodies. There is a good measure of happiness, since payments are exacted slowly, but also a great deal of unnecessary suffering as protracted ignorance inevitably brings error and pain. But the second way, which must always be chosen deliberately with open eyes and by an act of will, is very different. Upon this steep path the man undertakes to hasten the normal processes of evolution; he is allowed no idle lingering, his debts are thrust upon him at every turn, his lives are crowded with bitter experience so that he may learn the more swiftly. Moreover, he calls down upon himself in life after life any elemental forces he may have created by magic in his past, and is forced to do battle with them continually until they are conquered. He is more self-conscious than other men, more sensitive to evil as well as good. Also, once having placed his feet upon this path a fall, if fall there be, has more terrible consequences.”

“Có hai con đường mà những người nam và nữ tiến bước về mục tiêu của mình,” ông nói. “Con đường chậm mà đa số đang đi thì an toàn và tương đối dễ dàng; nó cần đến hàng trăm kiếp sống, nhưng cũng đòi hỏi những quãng nghỉ dài trong các cõi trung gian vì nó bao hàm một sự mở rộng rất từ từ thông qua sự thay đổi chậm chạp của chất liệu vi tế trong các thể. Có một mức độ hạnh phúc đáng kể, vì các món nợ được đòi trả dần dần, nhưng cũng có rất nhiều đau khổ không cần thiết vì vô minh kéo dài tất yếu dẫn đến sai lầm và đau đớn. Nhưng con đường thứ hai, vốn luôn luôn phải được chọn một cách có chủ ý, với đôi mắt mở rộng và bằng một hành vi của ý chí, thì rất khác. Trên con đường dốc đứng này, con người đảm nhận việc thúc đẩy nhanh các tiến trình tiến hoá bình thường; y không được phép nấn ná vô ích, các món nợ của y bị dồn đến với y ở mỗi khúc quanh, các kiếp sống của y chật kín những kinh nghiệm cay đắng để y có thể học nhanh hơn. Hơn nữa, y tự gọi xuống trên mình, hết kiếp này sang kiếp khác, bất kỳ các mãnh lực hành khí nào mà y có thể đã tạo ra bằng huyền thuật trong quá khứ của mình, và bị buộc phải chiến đấu với chúng liên tục cho đến khi chúng bị chinh phục. Y ngã thức hơn những người khác, nhạy cảm hơn với điều ác cũng như điều thiện. Ngoài ra, một khi đã đặt chân lên con đường này thì sự sa ngã, nếu có sa ngã, sẽ mang những hậu quả khủng khiếp hơn.”

“I will do it,” I said defiantly, “not for me will these forces stand in the way life after life; I will soon deal with them now that my mind is set upon their destruction.”

“Tôi sẽ làm điều đó,” tôi nói một cách thách thức, “những mãnh lực này sẽ không cản đường tôi hết kiếp này sang kiếp khác; giờ đây khi trí tuệ tôi đã quyết vào việc hủy diệt chúng, tôi sẽ sớm xử lý chúng.”

He gave me a glance half amused, half pitiful, but I was so exalted by the thought of all the marvels and feats of strength that I was about to accomplish and the power to be gained thereby, so roused by the sense of danger and adventure, that I hardly noticed it.

Ông nhìn tôi bằng một ánh mắt nửa thích thú, nửa thương hại, nhưng tôi quá hưng phấn bởi ý nghĩ về tất cả những điều kỳ diệu và những chiến công sức mạnh mà tôi sắp hoàn thành, cùng quyền năng sẽ đạt được nhờ đó, quá bị kích động bởi cảm giác nguy hiểm và phiêu lưu, đến nỗi hầu như không nhận thấy điều ấy.

“Let me begin today,” I added. “What is demanded of me?”

“Hãy để tôi bắt đầu ngay hôm nay,” tôi nói thêm. “Điều gì được đòi hỏi nơi tôi?”

“The first essential is that you should see your enemies face to face, since no man can combat the unknown.”

“Điều cốt yếu đầu tiên là con phải thấy các kẻ thù của mình mặt đối mặt, vì không ai có thể chiến đấu với điều chưa biết.”

I smiled grimly. “Show them to me, I am not afraid.” “My son,” he said, “do not forget that these enemies are within—they are yourself, you have made them one with you. You have no conception of the terrible power of the forces which vanity and selfishness create, particularly when, through black magic, the elemental energies of nature have been deliberately invoked to strengthen them. If I showed them to you unprepared as you now are, you would be instantly destroyed.”

Tôi cười gằn. “Hãy chỉ chúng cho tôi, tôi không sợ.” “Con ta,” ông nói, “đừng quên rằng những kẻ thù này ở bên trong—chúng là chính con, con đã làm cho chúng thành một với con. Con không hề hình dung được quyền năng khủng khiếp của những mãnh lực mà tính hư vinh và ích kỷ tạo ra, đặc biệt khi, qua Hắc thuật, các năng lượng hành khí của bản chất đã được cố ý khẩn cầu để tăng cường cho chúng. Nếu ta chỉ chúng cho con thấy khi con chưa được chuẩn bị như lúc này, con sẽ bị hủy diệt ngay tức khắc.”

“What then?…” I asked at a loss.

“Vậy thì sao?…” tôi hỏi, hoàn toàn lúng túng.

“If you agree to undergo certain purificatory rites and penances which will probably last about nine months, it may then be possible to do so. But I warn you that these, in themselves, will constitute an ordeal which few men as undisciplined and unstable as yourself could hope successfully to undergo.”

“Nếu con đồng ý trải qua một số nghi thức thanh lọc và khổ hạnh, có lẽ sẽ kéo dài khoảng chín tháng, thì khi đó có thể làm được điều ấy. Nhưng ta cảnh báo con rằng chính những điều này, tự chúng, sẽ cấu thành một thử thách mà ít người nào vô kỷ luật và bất ổn như con có thể hy vọng vượt qua thành công.”

“And if I refuse?”

“Và nếu tôi từ chối?”

“Then you must straightway return to the world. You will be armed with the knowledge that you have already gained here, and can seek to govern the rest of your life in accordance with it.”

“Vậy thì con phải lập tức trở về thế gian. Con sẽ được trang bị bằng tri thức mà con đã đạt được ở đây, và có thể tìm cách cai quản phần đời còn lại của mình phù hợp với nó.”

“And remain ignorant of the nature of these powers that attack me and of how to combat them?” I shook my head. “No, no; I have already gone too far, I know too much—I must know all—and conquer.”

“Và vẫn cứ không biết gì về bản chất của những quyền năng đang tấn công tôi và về cách chiến đấu với chúng sao?” Tôi lắc đầu. “Không, không; tôi đã đi quá xa rồi, tôi biết quá nhiều—tôi phải biết tất cả—và chinh phục.”

“You may not conquer. I do not promise conquest; only fuller knowledge of the enemy and perhaps arms for the battle.”

“Con có thể sẽ không chinh phục được. Ta không hứa sự chinh phục; chỉ hứa sự hiểu biết đầy đủ hơn về kẻ thù và có lẽ là vũ khí cho trận chiến.”

I shrugged my shoulders. “If I must perish in any case then let me die facing my enemy”—1 smiled—“but I will not die.”

Tôi nhún vai. “Nếu trong mọi trường hợp tôi đều phải diệt vong thì hãy để tôi chết khi đang đối mặt với kẻ thù của mình”—tôi mỉm cười—“nhưng tôi sẽ không chết.”

“The choice is yours,” he observed rather grimly. “But there is one thing you have overlooked. I said it would take nine months; during that time you will not have any contact with the outside world. Yet you have definite obligations there. You are Pharaoh; there is your throne —and Egypt.”

“Sự lựa chọn là của con,” ông nhận xét khá nghiêm khắc. “Nhưng có một điều con đã bỏ sót. Ta đã nói sẽ mất chín tháng; trong thời gian đó con sẽ không có bất kỳ tiếp xúc nào với thế giới bên ngoài. Thế nhưng ở đó con có những nghĩa vụ rõ ràng. Con là Pharaoh; ở đó có ngai vàng của con—và Ai Cập.”

“Oh, Egypt…” I waved it aside. “What do I care for Egypt? It can await my return. In any case, what has that life given me? I was weary of it long since. Indeed I have found little satisfaction there save in the original joy of conquest.”

“Ồ, Ai Cập…” Tôi xua tay gạt đi. “Tôi quan tâm gì đến Ai Cập? Nó có thể chờ tôi trở về. Dù sao đi nữa, cuộc đời ấy đã cho tôi điều gì? Từ lâu tôi đã mệt mỏi với nó rồi. Thật vậy, tôi hầu như chẳng tìm thấy sự thỏa mãn nào ở đó ngoài niềm vui chinh phục ban đầu.”

He sighed. At that time I wondered why. “So be it then, if such is your decision. Yet your servants may betray you and Egypt be torn by strife; the people may suffer—many may be destroyed.”

Ông thở dài. Lúc ấy tôi tự hỏi tại sao. “Vậy thì cứ như thế, nếu đó là quyết định của con. Tuy nhiên, các bề tôi của con có thể phản bội con và Ai Cập có thể bị xé nát bởi xung đột; dân chúng có thể đau khổ—nhiều người có thể bị hủy diệt.”

“Better them than I,” I said roughly. “Is not my soul more important than Egypt? If I can regain my health, my old energy, I can soon bring order again out of any chaos my absence may have caused. I made all my plans before I came here, and woe betide my servants if I find they have disobeyed me! It is my own weakness I fear, not the strength of my enemies.”

“Thà họ hơn tôi,” tôi nói cộc lốc. “Linh hồn tôi chẳng phải quan trọng hơn Ai Cập sao? Nếu tôi có thể lấy lại sức khỏe, năng lực cũ của mình, tôi có thể sớm lập lại trật tự từ bất kỳ hỗn loạn nào mà sự vắng mặt của tôi có thể đã gây ra. Tôi đã sắp đặt mọi kế hoạch trước khi đến đây, và khốn cho các bề tôi của tôi nếu tôi thấy họ đã không vâng lời tôi! Điều tôi sợ là sự yếu đuối của chính mình, chứ không phải sức mạnh của các kẻ thù.”

“You have free will,” he said non-committally. “Tomorrow then your discipline will begin.”

“Con có ý chí tự do,” ông nói một cách không cam kết. “Vậy thì ngày mai sự kỷ luật của con sẽ bắt đầu.”

For nine months I stayed in the Temple of the Rocks. My time was passed in those dark underground caves wherein the Mysteries are enacted. The Secret Ruler had spoken truly when he warned me what was to come. I, who had never known discipline or self-restraint, was very often on the verge of capitulation, but a stubborn pride kept me to my word. I soon discovered that whenever I faltered or rebelled my hesitations were reinforced by insidious attacks of my secret enemies seeking to undermine my resolution. Often, indeed, they seized my body rending it by paroxysms of madness; yet even of this madness, which so often casts men into the merciful pit of oblivion, I was a conscious and horror-stricken spectator; for never completely was I driven from my body as of old, there was always enough of me to watch, to struggle and often to despair.

Trong chín tháng tôi ở lại Đền Đá. Thời gian của tôi trôi qua trong những hang động ngầm tối tăm nơi các Mầu Nhiệm được cử hành. Vị Chúa Tể Bí Mật đã nói thật khi cảnh báo tôi về điều sắp đến. Tôi, kẻ chưa từng biết đến kỷ luật hay tự chế, rất thường ở bên bờ đầu hàng, nhưng một niềm kiêu hãnh bướng bỉnh giữ tôi trung thành với lời mình. Tôi sớm phát hiện rằng bất cứ khi nào tôi chùn bước hay phản kháng, những do dự của tôi đều được tăng cường bởi các cuộc tấn công xảo quyệt của những kẻ thù bí mật đang tìm cách làm suy yếu quyết tâm của tôi. Quả thật, nhiều lần chúng chiếm lấy thể xác tôi, xé nát nó bằng những cơn điên loạn; thế nhưng ngay cả trong cơn điên ấy, thứ thường quăng con người vào hố quên lãng đầy thương xót, tôi vẫn là một kẻ quan sát có ý thức và kinh hoàng; vì tôi chưa bao giờ bị đẩy hoàn toàn ra khỏi thể xác như thuở trước, luôn luôn vẫn còn đủ phần tôi để quan sát, để vật lộn và thường là để tuyệt vọng.

At last he who had taught me all this while, and for whom I had developed a feeling which certainly must have come near at times to love, so admirable did I find his wisdom, his patience and his strength, called me once more to the Cave of the Sacred Light, where the great crystal stood.

Cuối cùng, người đã dạy dỗ tôi suốt thời gian ấy, và đối với ông tôi đã phát triển một cảm xúc mà chắc chắn đôi lúc hẳn đã rất gần với tình thương, vì tôi thấy minh triết, sự kiên nhẫn và sức mạnh của ông đáng khâm phục đến thế, lại gọi tôi đến Hang Động của Ánh Sáng Thiêng Liêng, nơi khối pha lê lớn đứng đó.

“The probationary term is over,” he said; “you have done all that it is possible for you to accomplish here and now. You must return to the world. But before doing so you may, if you so desire, see these enemies who yet hold you in bondage, face to face. But I warn you again, you still may not survive it.”

“Thời kỳ dự bị đã kết thúc,” ông nói; “con đã làm tất cả những gì con có thể hoàn thành ở đây và lúc này. Con phải trở về thế gian. Nhưng trước khi làm vậy, con có thể, nếu con muốn, thấy những kẻ thù này, những kẻ vẫn đang giữ con trong vòng nô lệ, mặt đối mặt. Nhưng ta lại cảnh báo con, con vẫn có thể không sống sót qua điều đó.”

“And must I return in any case?” I asked slowly.

“Và trong mọi trường hợp tôi vẫn phải trở về sao?” tôi chậm rãi hỏi.

He bowed his head.

Ông cúi đầu.

“And until I see the truth about myself there is no chance of my reaching my goal?”

“Và cho đến khi tôi thấy sự thật về chính mình thì không có cơ may nào để tôi đạt đến mục tiêu của mình sao?”

“No; eventually every man must see the Dweller on the Threshold who bars him the way. In this age, mankind is not ready to be brought thus face to face with his true self, the image of his past; it will only become more generally possible in an age removed by thousands of years from now. Until then man will combat his evil nature more or less blindly, following the slow path. You may still do this if you choose; you are not yet committed to the other. But should you desire to anticipate the future method of training I warn you now, as I did then, that it can only be done by a tremendous effort and at great cost. Some men are doing so, butjw/ will do well to hesitate before you thus challenge the Law.”

“Không; cuối cùng mọi người nam và nữ đều phải thấy Kẻ Chận Ngõ đang chặn đường y. Trong thời đại này, nhân loại chưa sẵn sàng để được đưa ra đối diện như thế với chân ngã thật của mình, hình ảnh của quá khứ mình; điều đó chỉ có thể trở nên khả thi một cách phổ biến hơn trong một thời đại cách nay hàng ngàn năm. Cho đến lúc ấy con người sẽ chiến đấu với bản chất xấu ác của mình ít nhiều một cách mù quáng, theo con đường chậm. Con vẫn có thể làm như vậy nếu con chọn; con chưa bị ràng buộc vào con đường kia. Nhưng nếu con muốn đi trước phương pháp huấn luyện của tương lai thì ta cảnh báo con ngay bây giờ, như ta đã cảnh báo khi ấy, rằng điều đó chỉ có thể được thực hiện bằng một nỗ lực ghê gớm và với cái giá rất lớn. Một số người đang làm như vậy, nhưng con nên do dự trước khi thách thức Định luật như thế.”

“I must know the truth,” I said.

“Tôi phải biết sự thật,” tôi nói.

His expression became strangely tender. “It is well, my son. It will not be denied you. Now go to your chamber and rest yourself before the ordeal.”

Nét mặt ông trở nên dịu dàng một cách lạ lùng. “Tốt lắm, con ta. Điều đó sẽ không bị từ chối với con. Giờ hãy về phòng mình và nghỉ ngơi trước thử thách.”

I do not know how long I slept, but awoke as if brought back with a violent shock. I was ice-cold and found to my horror I was unable to move hand or foot nor could I close my eyes which were fixed before me upon the darkness which had taken on a strange quality of translucence as if it were a great mirror. I struggled to free myself from the trance-like grip which held me; and as I lay there helpless an uncontrollable terror seized me, for reflected in this depth of darkness I became aware of a shape slowly materializing. It rose above me, its height so great that it reached the ceiling. At first it was merely a blur, lit with a faint, reddish glare, but soon it began to glow at the edges with a phosphorescent light and I perceived therein the semblance of a human face. At the same time I became conscious of a terrible stench which almost suffocated me and which grew with the apparition, pouring out from it like a putrescent stream. The features grew clearer and suddenly I realized that this face looking down into mine with dead eyes was my own. My own, yet not mine, for this was a mask so evil that it made me faint and sick, and from its eyes and nostrils and parted lips oozed a viscous stream of corruption hideous beyond imagining. Then I saw that it had no body, only an infinite darkness which seemed to go backwards and outwards into unfathomable spaces. Moreover, it appeared to be blind, deaf and dumb. Soon I realized that it was animated only from one centre, the lowest of all, which churned in a slimy, inverted circle, yet so powerfully that the whole simulacrum was directed by its force. With each moment the Shape grew clearer. Now I perceived that from every particle minute filaments of some blood-like substance floated out and connected it with—me. No longer could I evade the truth. My own breath flowed through that turgid centre of life; the foul stench which enveloped me was the emanation by which it and I existed; the dull humming which had tormented my ears since my awakening was its note—and mine. It was myself, part of my very being. Nor was this all, for as I lay there paralysed I became aware that the chamber was filled with lesser shapes, if shapes they could be called, for many were formless, mere sanguinary blobs animated by a slow-pulsing life; crawling things which reeked of stagnant marshes; wavering streams of grey light with evil eyes; blood-elementals with a semblance of human form; a great, pale crab with tentacles stretched out to seize me, which I knew with a dreadful certainty in some life I must absorb. There were other forms which were perhaps the worst, for they were the shapes of men and women and animals whom by magic I had slain and whose subtler bodies I had enslaved. These seemed to cry aloud to me to give them back a physical form, to furnish them with the focus for experience of which I had ruthlessly deprived them. To them, as to that dread Shape, I was also bound. I understood at last what the Secret Ruler had meant when he told me to pause before committing myself upon the Path of Return. For these stood in my way; these barred the first gate. I knew that I must acknowledge, accept, and be prepared to pay my debts to these Dwellers of the Threshold before I could hope to go far upon my way.

Tôi không biết mình đã ngủ bao lâu, nhưng tỉnh dậy như thể bị kéo trở lại bằng một cú sốc dữ dội. Tôi lạnh cóng và kinh hoàng nhận ra mình không thể cử động tay chân, cũng không thể nhắm mắt, đôi mắt cứ dán chặt vào bóng tối trước mặt, thứ đã mang một phẩm tính trong suốt kỳ lạ như thể đó là một tấm gương lớn. Tôi vùng vẫy để thoát khỏi sự kìm giữ như xuất thần đang trói chặt mình; và khi nằm đó bất lực, một nỗi kinh hoàng không thể kiểm soát chộp lấy tôi, vì phản chiếu trong chiều sâu của bóng tối ấy, tôi nhận ra một hình thể đang từ từ hiện hình. Nó vươn lên trên tôi, cao đến nỗi chạm trần hang. Lúc đầu nó chỉ là một vệt mờ, được chiếu sáng bằng một ánh đỏ nhạt, nhưng chẳng bao lâu nó bắt đầu phát sáng ở các rìa bằng một thứ ánh sáng lân tinh và tôi nhận ra trong đó dáng dấp của một khuôn mặt người. Đồng thời tôi ý thức được một mùi hôi khủng khiếp gần như làm tôi ngạt thở, và nó lớn dần cùng với bóng hiện, tuôn ra từ đó như một dòng thối rữa. Các đường nét trở nên rõ hơn và đột nhiên tôi nhận ra rằng khuôn mặt đang nhìn xuống tôi bằng đôi mắt chết ấy là khuôn mặt của chính tôi. Của chính tôi, nhưng lại không phải của tôi, vì đây là một chiếc mặt nạ xấu ác đến mức khiến tôi lả đi và buồn nôn, và từ mắt, lỗ mũi cùng đôi môi hé mở của nó rỉ ra một dòng thối nát nhớp nháp ghê tởm vượt ngoài sức tưởng tượng. Rồi tôi thấy nó không có thân thể, chỉ có một bóng tối vô tận dường như lùi ra phía sau và lan ra ngoài vào những không gian không thể dò thấu. Hơn nữa, nó có vẻ mù, điếc và câm. Chẳng bao lâu tôi nhận ra rằng nó chỉ được linh hoạt từ một trung tâm duy nhất, thấp nhất trong tất cả, đang khuấy đảo trong một vòng tròn đảo ngược đầy nhớt nhầy, nhưng mạnh đến nỗi toàn bộ hình tượng ấy bị điều khiển bởi mãnh lực của nó. Mỗi khoảnh khắc trôi qua, Hình Thể ấy càng rõ hơn. Giờ đây tôi nhận ra rằng từ mỗi hạt của nó, những sợi cực nhỏ của một chất giống như máu trôi ra và nối nó với—tôi. Tôi không còn có thể né tránh sự thật nữa. Hơi thở của chính tôi chảy qua trung tâm sự sống căng phồng ấy; mùi hôi thối bao phủ tôi là sự phát xạ nhờ đó nó và tôi tồn tại; tiếng vo vo trầm đục đã hành hạ tai tôi từ lúc tỉnh dậy là âm điệu của nó—và của tôi. Nó là chính tôi, một phần của chính hữu thể tôi. Và đó chưa phải là tất cả, vì khi nằm đó tê liệt, tôi nhận ra căn phòng đầy những hình thể nhỏ hơn, nếu có thể gọi là hình thể, vì nhiều cái vô dạng, chỉ là những khối máu me được linh hoạt bởi một sự sống đập nhịp chậm chạp; những vật bò trườn bốc mùi đầm lầy tù đọng; những dòng ánh sáng xám chập chờn với đôi mắt xấu ác; những hành khí máu có dáng dấp con người; một con cua lớn nhợt nhạt với những xúc tu vươn ra để chộp lấy tôi, mà tôi biết với một sự chắc chắn kinh hoàng rằng trong một kiếp nào đó tôi phải hấp thụ. Còn có những hình thể khác có lẽ còn tệ hơn, vì đó là hình dạng của những người nam và nữ cùng các con vật mà tôi đã giết bằng huyền thuật và những thể vi tế hơn của họ tôi đã nô dịch. Chúng dường như kêu gào với tôi đòi tôi trả lại cho chúng một hình tướng hồng trần, cung cấp cho chúng tiêu điểm kinh nghiệm mà tôi đã tàn nhẫn tước đoạt. Với chúng, cũng như với Hình Thể đáng sợ kia, tôi cũng bị trói buộc. Cuối cùng tôi hiểu điều mà Vị Chúa Tể Bí Mật muốn nói khi ông bảo tôi hãy dừng lại trước khi dấn thân vào Con Đường Trở Về. Vì chính những thứ này đứng chắn đường tôi; chính chúng chặn cánh cổng đầu tiên. Tôi biết rằng mình phải thừa nhận, chấp nhận, và sẵn sàng trả các món nợ của mình cho những Kẻ Chận Ngõ này trước khi có thể hy vọng đi xa trên đường mình.

And as this thought came into my mind, the great Shape began to sway and, like a turgid cloud, descended towards me.

Và khi ý nghĩ ấy đến trong trí tuệ tôi, Hình Thể lớn kia bắt đầu lắc lư và, như một đám mây căng phồng, hạ xuống phía tôi.

Stark terror seized me. Not such fear as a man may know in battle or even the fear of disease, pain, or death; but a fear so vast and all-encompassing that it cannot be described. I screamed, but the scream was frozen in my throat; I struggled, but it was in vain. Closer it came; now it was above me, now it had descended, and I felt a loathsome warmth creep up my frozen limbs. The face looked into mine, the dead eyes grew larger, closer; the humming deafened me, the stench overpowered me. I knew what was about to happen, but was powerless to avert it. The Shape was returning whence it came—it was re-becoming —me. I think I must have fainted; when I recovered consciousness my limbs were free from the icy grip—I was reanimated—but by what? I lay supine, exhausted. Yet the mad terror in my brain urged me still to escape. But how could I escape from this that was myself? Did I fly to the outermost bounds of earth, to the furthest star, this would be with me. Unconsciousness, oblivion, annihilation must be mine; to go down into darkness, to be no more known and to know no more…

Một nỗi kinh hoàng trần trụi chộp lấy tôi. Không phải thứ sợ hãi mà một người nam và nữ có thể biết trong chiến trận hay ngay cả nỗi sợ bệnh tật, đau đớn hoặc cái chết; mà là một nỗi sợ rộng lớn và bao trùm đến mức không thể mô tả. Tôi thét lên, nhưng tiếng thét đông cứng trong cổ họng; tôi vùng vẫy, nhưng vô ích. Nó đến gần hơn; giờ nó ở trên tôi, giờ nó đã hạ xuống, và tôi cảm thấy một hơi ấm ghê tởm bò lên các chi thể đang đông cứng của mình. Khuôn mặt nhìn vào mặt tôi, đôi mắt chết mở lớn hơn, gần hơn; tiếng vo vo làm tôi điếc đặc, mùi hôi làm tôi ngạt thở. Tôi biết điều gì sắp xảy ra, nhưng bất lực không sao ngăn được. Hình Thể ấy đang trở về nơi nó đã đến—nó đang lại trở thành—tôi. Tôi nghĩ hẳn mình đã ngất đi; khi hồi phục tâm thức, các chi thể tôi đã thoát khỏi sự kìm giữ băng giá—tôi lại được linh hoạt—nhưng bởi cái gì? Tôi nằm ngửa, kiệt sức. Thế nhưng nỗi kinh hoàng điên loạn trong não tôi vẫn thúc ép tôi trốn thoát. Nhưng làm sao tôi có thể trốn khỏi thứ này, thứ là chính tôi? Dù tôi có chạy đến tận cùng xa nhất của Trái Đất, đến ngôi sao xa nhất, nó vẫn sẽ ở cùng tôi. Vô thức, quên lãng, hủy diệt phải là phần tôi; đi xuống vào bóng tối, không còn được biết đến và cũng không còn biết gì nữa…

With a tremendous effort I raised myself from my bed and turned to the seat upon which my garments lay. I caught up my dagger. To blot out memory, that was my one blind hope; for to remember, even for another second what I knew, would be for me the way of madness.

Với một nỗ lực ghê gớm, tôi nâng mình dậy khỏi giường và quay về phía chiếc ghế nơi y phục của tôi đặt đó. Tôi chộp lấy con dao găm. Xóa sạch ký ức, đó là niềm hy vọng mù quáng duy nhất của tôi; vì còn nhớ, dù chỉ thêm một giây nữa, điều tôi đã biết, đối với tôi sẽ là con đường của điên loạn.

Then, even as I set the dagger at my throat, a hand was laid upon mine and I saw the Secret Ruler standing by my side. All pride forgotten now, I fell at his feet, grasping his robe in an extremity of supplication.

Rồi đúng lúc tôi đặt dao găm vào cổ mình, một bàn tay đặt lên tay tôi và tôi thấy Vị Chúa Tể Bí Mật đứng bên cạnh. Mọi kiêu hãnh giờ đã quên sạch, tôi ngã xuống dưới chân ông, nắm lấy áo choàng ông trong cơn khẩn cầu tột độ.

“Let me die,” I gasped; “give me oblivion! This is more than I can bear.”

“Hãy để tôi chết,” tôi thở hổn hển; “hãy cho tôi sự quên lãng! Điều này vượt quá sức chịu đựng của tôi.”

“You desired to know—to see,” he reminded me.

“Con đã muốn biết—muốn thấy,” ông nhắc tôi.

“I was a fool, a blind, vainglorious fool; let me go, let me die. I have no weapons wherewith I can combat this. I—I… If I am this, then it were best that I be left to encompass my own doom. Let me be extinguished, let me be destroyed.”

“Tôi là một kẻ ngu xuẩn, một kẻ ngu xuẩn mù quáng và hão huyền; hãy để tôi đi, hãy để tôi chết. Tôi không có vũ khí nào để chiến đấu với điều này. Tôi—tôi… Nếu tôi là thế này, thì tốt hơn hết là để tôi mặc lấy số phận diệt vong của chính mình. Hãy để tôi bị dập tắt, hãy để tôi bị hủy diệt.”

He touched my bowed head with compassionate fingers.

Ông chạm những ngón tay đầy từ bi lên đầu tôi đang cúi xuống.

“Have you so soon forgotten that other thing you are, the glory which you experienced when first we spoke together?”

“Con đã quên nhanh đến thế sao cái điều khác mà con là, vinh quang mà con đã kinh nghiệm khi lần đầu chúng ta nói chuyện cùng nhau?”

I shook my head. “Both I cannot be; that light shone not from my heart, but from yours.”

Tôi lắc đầu. “Tôi không thể là cả hai; ánh sáng ấy không chiếu ra từ tim tôi, mà từ tim ông.”

“Nay, you are both; that light was the answer of your soul to mine, for all souls partake of the same essence of love. What you felt and saw tonight is the illusion, yet these illusions are real enough upon the lower planes and until they are destroyed, there is no escaping their ascendancy. Death would not help you, since death is but a door to another and wider aspect of life where much is revealed that is hidden from man in his physical form. If you left your body by your own will you would deprive yourself for a long time of the help of those who watch over the newly dead and you would merely be precipitated in full consciousness into the realm where those evil and distorted forms hold sway.”

“Không, con cả hai; ánh sáng ấy là sự đáp ứng của linh hồn con với linh hồn ta, vì mọi linh hồn đều dự phần cùng một tinh túy của tình thương. Điều con cảm thấy và thấy tối nay là ảo tưởng, tuy nhiên những ảo tưởng này đủ thực trên các cõi thấp và cho đến khi chúng bị hủy diệt, không thể thoát khỏi sự thống trị của chúng. Cái chết sẽ không giúp được con, vì cái chết chỉ là một cánh cửa dẫn đến một phương diện khác và rộng hơn của sự sống, nơi nhiều điều được mặc khải mà con người trong hình tướng hồng trần của mình bị che khuất. Nếu con rời bỏ thể xác bằng ý chí riêng, con sẽ tự tước khỏi mình trong một thời gian dài sự trợ giúp của những vị canh giữ người mới chết và con sẽ chỉ bị ngưng tụ, trong đầy đủ tâm thức, vào cõi nơi những hình thể xấu ác và méo mó ấy ngự trị.”

“What then?” I cried. “I am willing to fight then, but how can I, since they are myself? And far more myself than that other part of me you call my soul, but which I cannot see or feel or know, and which is therefore useless to me. What does it profit a man who is dying of thirst in a dungeon to be told that there are wells of water beyond the walls at which he could drink?” I leant back, exhausted by my emotions. “I am bound, I am helpless! If I do struggle with this that is myself, if I do suffer my errors during countless lives, what will it profit me?” I struck myself on the chest. “What do I gain—now? Bliss? In a thousand years of torture and agony? Perhaps it might be worth the struggle, for what I felt when you used your magic on me was wonderful—although already it is faded like a dream—but it was a state of mind alone; what I desire are tangible things….” I continued to stare at him heavily. I was trapped. I could think of nothing else. Lives of struggle, ages of suffering, and no way of putting any end to it at all. At least there was a way: more struggle and more suffering…. It was enough indeed to send a man mad! “Cease to struggle,” something said; “defy the Law; seek annihilation, you have gone already too far, no bliss is worth the price.” Annihilation… once again the word roused those legions of fears within my mind. I remembered all I had learned in these past months, and why I was here. No, there was no escape. I laughed aloud, pressing my shaking hand against my brow. “… and I expected you to give me knowledge, to place the key to power, to happiness, in my hands….”

“Vậy thì sao?” tôi kêu lên. “Vậy thì tôi sẵn sàng chiến đấu, nhưng làm sao tôi có thể, khi chúng là chính tôi? Và còn là tôi nhiều hơn cái phần kia của tôi mà ông gọi là linh hồn tôi, nhưng tôi không thể thấy hay cảm hay biết, nên nó vô dụng đối với tôi. Có ích gì cho một người nam và nữ đang chết khát trong ngục tối khi được bảo rằng bên ngoài tường thành có những giếng nước mà y có thể uống?” Tôi ngả người ra sau, kiệt sức vì cảm xúc. “Tôi bị trói buộc, tôi bất lực! Nếu tôi có vật lộn với thứ này là chính tôi, nếu tôi có chịu đựng các sai lầm của mình qua vô số kiếp sống, điều đó sẽ ích gì cho tôi?” Tôi đấm vào ngực mình. “Tôi được gì—ngay bây giờ? Chí phúc ư? Trong một ngàn năm tra tấn và thống khổ sao? Có lẽ cuộc vật lộn ấy đáng giá, vì điều tôi cảm thấy khi ông dùng huyền thuật lên tôi thật kỳ diệu—mặc dù giờ đây nó đã phai như một giấc mơ—nhưng đó chỉ là một trạng thái trí tuệ; điều tôi mong muốn là những thứ hữu hình….” Tôi tiếp tục nhìn ông nặng nề. Tôi đã bị mắc bẫy. Tôi không thể nghĩ gì khác. Những kiếp sống đấu tranh, những thời đại đau khổ, và không có cách nào chấm dứt tất cả điều đó. Ít nhất cũng có một cách: thêm đấu tranh và thêm đau khổ…. Quả thật đủ để khiến một người nam và nữ phát điên! “Hãy ngừng đấu tranh,” một điều gì đó nói; “hãy thách thức Định luật; hãy tìm sự hủy diệt, ngươi đã đi quá xa rồi, không chí phúc nào đáng với cái giá ấy.” Hủy diệt… một lần nữa từ ấy khơi dậy những đạo quân sợ hãi trong trí tuệ tôi. Tôi nhớ lại tất cả những gì mình đã học trong những tháng qua, và vì sao tôi ở đây. Không, không có lối thoát. Tôi cười lớn, ép bàn tay run rẩy lên trán. “… và tôi đã mong ông cho tôi tri thức, đặt chiếc chìa khóa của quyền năng, của hạnh phúc, vào tay tôi….”

“I have given you knowledge,” he said. “I have shown you the path to that place where the key of true power is hid.”

“Ta đã cho con tri thức,” ông nói. “Ta đã chỉ cho con con đường đến nơi chiếc chìa khóa của quyền năng chân thật được giấu kín.”

“You have destroyed me,” I answered.

“Ông đã hủy diệt tôi,” tôi đáp.

For a little while there was silence, and in that silence the memory of Atlantis returned to me. I had spoken those words before to the priests of the Sun who had condemned me. Yes, verily, the wheel had turned full circle. Would it be ever so? Was a man brought always back to the same point, the same problem, until by an effort he had freed himself from it? Cheor had listened to the insidious voices of the dark powers; he had defied the Law….

Trong một lúc có sự im lặng, và trong sự im lặng ấy ký ức về Atlantis trở lại với tôi. Tôi đã từng nói những lời ấy với các tư tế Mặt Trời đã kết án tôi. Phải, thật vậy, bánh xe đã quay trọn một vòng. Liệu mãi mãi có như thế chăng? Có phải con người luôn bị đưa trở lại cùng một điểm, cùng một vấn đề, cho đến khi bằng một nỗ lực y tự giải thoát mình khỏi nó? Cheor đã lắng nghe những tiếng nói xảo quyệt của các quyền năng bóng tối; y đã thách thức Định luật….

Idly I picked up my dagger, turning it round in my hand. No escape. I looked up. “Well, what now?” I asked.

Lơ đãng tôi nhặt con dao găm lên, xoay nó trong tay. Không có lối thoát. Tôi ngước lên. “Được rồi, giờ thì sao?” tôi hỏi.

He laid his hand on my arm. “My son,” he said, “do you not realize that the old must ever be destroyed to make room for the new?”

Ông đặt tay lên cánh tay tôi. “Con ta,” ông nói, “con không nhận ra rằng cái cũ luôn luôn phải bị hủy diệt để nhường chỗ cho cái mới sao?”

I smiled grimly and shook my head. “I do not complain. You have indeed kept your promise. I have fallen into mine own snare. What now, I say?”

Tôi cười gằn và lắc đầu. “Tôi không than phiền. Quả thật ông đã giữ lời hứa của mình. Tôi đã rơi vào chính cái bẫy của mình. Giờ thì sao, tôi hỏi?”

“You return to your throne.”

“Con trở về ngai vàng của mình.”

I shrugged my shoulders wearily. “What would that profit me, since I have failed in my search? I may as well be destroyed here as there.”

Tôi mệt mỏi nhún vai. “Điều đó có ích gì cho tôi, khi tôi đã thất bại trong cuộc tìm kiếm của mình? Tôi cũng có thể bị hủy diệt ở đây như ở đó.”

Keeping his hand still upon my arm, he drew me towards the door. “Come with me,” he said; “there is more for you to see before you go.”

Vẫn giữ tay trên cánh tay tôi, ông kéo tôi về phía cửa. “Hãy đi với ta,” ông nói; “trước khi đi, con còn phải thấy thêm nữa.”

We stood again in the Cave of the Crystal. I glanced at it apprehensively, wondering what fresh terrors that mysterious surface would reveal.

Chúng tôi lại đứng trong Hang Động Pha Lê. Tôi nhìn khối pha lê với vẻ lo ngại, tự hỏi bề mặt huyền bí ấy sẽ còn phơi bày những nỗi kinh hoàng mới nào.

He turned to me and spoke gravely.

Ông quay về phía tôi và nói một cách nghiêm trang.

“I perceive that you have not yet understood all that you came here to learn. O Pharaoh, when you accepted the throne of Egypt you took a solem oath to guard and protect the sacred land of the most high Gods. Look!” and he flung out his hand towards the crystal.

“Ta nhận thấy con vẫn chưa hiểu hết mọi điều con đến đây để học. Hỡi Pharaoh, khi con chấp nhận ngai vàng Ai Cập, con đã tuyên một lời thề thiêng liêng là canh giữ và bảo vệ vùng đất thiêng của các Thượng đế tối cao. Hãy nhìn!” và ông vung tay về phía khối pha lê.

I looked, and behold, the surface was troubled. At first I saw only clouds of dust and rivers of blood, then slowly, out of the confusion I saw footmen advancing, falling beneath showers of arrows. I saw great temples going up in flame. Faces passed in confusion, faces I knew; my commanders, bloodstained and in despair, my generals and captains fleeing before hordes of barbarians. I saw Egypt in ruins and all my work undone. Then the pictures became clearer, more precise. I saw Re-shep-sut and knew that all the oaths by which I had bound her had proved unavailing. Net-Ka had died, and she, seeking to call up her sister’s spirit and learn from her the secrets which may not be revealed, had sought the aid of the evil sorceresses who dwelt in the temple of Set.

Tôi nhìn, và kìa, bề mặt ấy đang xao động. Lúc đầu tôi chỉ thấy những đám mây bụi và những dòng sông máu, rồi chậm rãi, từ trong hỗn loạn tôi thấy bộ binh tiến lên, ngã xuống dưới những trận mưa tên. Tôi thấy những ngôi đền lớn bốc cháy. Những khuôn mặt lướt qua trong hỗn loạn, những khuôn mặt tôi biết; các chỉ huy của tôi, đẫm máu và tuyệt vọng, các tướng lĩnh và đội trưởng của tôi tháo chạy trước những đoàn man di. Tôi thấy Ai Cập đổ nát và mọi công trình của tôi bị phá hủy. Rồi các hình ảnh trở nên rõ hơn, chính xác hơn. Tôi thấy Re-shep-sut và biết rằng mọi lời thề mà tôi đã dùng để ràng buộc nàng đều tỏ ra vô hiệu. Net-Ka đã chết, và nàng, tìm cách gọi linh hồn chị mình lên và học từ đó những bí mật không được phép tiết lộ, đã tìm đến sự trợ giúp của những nữ phù thủy xấu ác sống trong đền Set.

I saw her falling more and more under their sway, ceasing to obey the voice of Besiurt, rejecting his counsel, mocking at his prognostications. I saw her taking lovers from among the lowest slaves and bringing shame upon the holy throne of Pharaoh by her riotous living and the abominations she practised openly. I saw the people, stirred at last to revolt, appealing to the priests of Ra, and Re-shep-sut making secret overtures to my most bitter enemies. Then did I see how Besiurt cursed her from the highest step of the Temple; I saw her fleeing, a broken outcast; I saw, for an instant, her despairing face sinking beneath dark waters.

Tôi thấy nàng ngày càng rơi sâu hơn dưới quyền lực của chúng, không còn vâng theo tiếng nói của Besiurt, bác bỏ lời khuyên của ông, chế nhạo những lời tiên báo của ông. Tôi thấy nàng lấy tình nhân từ hàng ngũ những nô lệ thấp hèn nhất và mang sự ô nhục lên ngai vàng thiêng liêng của Pharaoh bằng đời sống phóng đãng và những điều ghê tởm nàng công khai thực hành. Tôi thấy dân chúng, cuối cùng bị kích động đến nổi loạn, cầu viện các tư tế của Ra, và Re-shep-sut bí mật ngỏ lời với những kẻ thù cay độc nhất của tôi. Rồi tôi thấy Besiurt nguyền rủa nàng từ bậc cao nhất của Đền thờ; tôi thấy nàng chạy trốn, một kẻ bị ruồng bỏ tan nát; tôi thấy, trong khoảnh khắc, khuôn mặt tuyệt vọng của nàng chìm xuống dưới làn nước tối.

I stepped back in fury, roused to the realities of a life I had almost forgotten. “I have been betrayed,” I cried, “the barbarians have broken the frontiers!”

Tôi lùi lại trong cơn thịnh nộ, bị kéo trở về với những thực tại của một cuộc đời mà tôi gần như đã quên. “Tôi đã bị phản bội,” tôi kêu lên, “bọn man di đã phá vỡ biên giới!”

“There is no traitor but yourself,” came his calm voice. “What right had you to put your responsibilities upon shoulders too weak to bear their weight? You alone precipitated this disaster. You had two ways of choice—it was not for me to force you to either, but I recall that, in your blind pride you said: is not my soul worth more than Egypt?” He stood before me now, tall and stern; at that moment he seemed like Thoth, the terrible God of justice. “What is the welfare of one man’s soul compared to that of thousands of men and women who trust him? Upon you is the curse of duty unfulfilled. You desired power, you saw it slipping from you and came here, hoping to learn how you might keep your dominion. Now you have seen Egypt, you have looked upon yourself as you truly are. Do you still dare to say that you are fit for lordship? Do you consider that the destinies of men should be entrusted to one such as you, a man who abandons his country so as to save himself from his own passions which he cannot control?”

“Không có kẻ phản bội nào ngoài chính con,” giọng ông bình thản vang lên. “Con có quyền gì mà đặt trách nhiệm của mình lên những đôi vai quá yếu để gánh nổi sức nặng ấy? Chính con đã ngưng tụ tai họa này. Con có hai con đường để chọn—ta không được phép ép con vào con đường nào, nhưng ta nhớ rằng, trong niềm kiêu hãnh mù quáng của mình, con đã nói: linh hồn tôi chẳng đáng giá hơn Ai Cập sao?” Giờ đây ông đứng trước mặt tôi, cao lớn và nghiêm nghị; trong khoảnh khắc ấy ông giống như Thoth, vị Thượng đế công lý đáng sợ. “Phúc lợi của linh hồn một người nam và nữ thì là gì so với phúc lợi của hàng ngàn những người nam và nữ đặt niềm tin nơi y? Trên con là lời nguyền của bổn phận không hoàn thành. Con ham muốn quyền năng, con thấy nó đang tuột khỏi tay mình và đến đây, hy vọng học được cách giữ lấy quyền thống trị. Giờ đây con đã thấy Ai Cập, con đã nhìn vào chính mình như con thật sự là. Con còn dám nói rằng mình xứng đáng với quyền cai trị sao? Con có cho rằng số phận của con người nên được giao phó cho một kẻ như con, một người nam và nữ bỏ rơi đất nước mình để tự cứu mình khỏi những đam mê mà y không thể kiểm soát không?”

“What then?” I returned, angry and bewildered, “should I not have sought to strengthen myself and learn how I might gain this control?”

“Vậy thì sao?” tôi đáp lại, giận dữ và bối rối, “chẳng lẽ tôi không nên tìm cách làm cho mình mạnh hơn và học cách đạt được sự kiểm soát này sao?”

“To perform one’s duty is more often than not the sole way to gain both strength and control,” he remarked dryly. “Had you been willing to sacrifice your own welfare for your country you would have taken such a step forward in your evolution that you would have merited far greater help and enlightenment than I have been allowed to give you now. As it is, you have merely started fresh causes of retribution for which you will at some time have to pay the price.”

“Thực hiện bổn phận của mình thường thường chính là con đường duy nhất để đạt được cả sức mạnh lẫn sự kiểm soát,” ông khô khan nhận xét. “Nếu con sẵn lòng hi sinh phúc lợi của riêng mình vì đất nước, con đã tiến một bước xa đến mức trong tiến hoá của mình, đến nỗi con đã xứng đáng nhận được sự trợ giúp và giác ngộ lớn lao hơn nhiều so với điều ta được phép ban cho con lúc này. Còn như hiện nay, con chỉ mới khởi tạo những nguyên nhân mới của sự báo ứng mà vào một lúc nào đó con sẽ phải trả giá.”

I made a gesture of despair. “It seems that whatsoever I choose is wrong.”

Tôi làm một cử chỉ tuyệt vọng. “Dường như bất cứ điều gì tôi chọn cũng đều sai.”

“Because your mind is still dominated by the powers of your lower self, my son, and you cannot understand the voice of wisdom even when it speaks.”

“Bởi vì trí tuệ con vẫn còn bị các quyền năng của phàm ngã chi phối, con ta, và con không thể thấu hiểu tiếng nói của minh triết ngay cả khi nó cất lên.”

And suddenly the full implication of his words swept over me. Previously my mind had indeed been confused, now in a flash of insight I saw clear. Perhaps it was because the barriers I had raised against my secret fears had been shaken that night as never before, and this fresh proof of my own blindness and inadequacy finished the work the ordeal had begun. But in that moment I recognized myself at last for what I was, no longer strong, terrible, self-sufficient, but weak, helpless, and alone. Wave upon wave of terror broke upon me, submerging me. Fear of the past, of the present, but chiefly fear of that unimaginable future. On and on, circling in the trap, ignorance leading to error, error barring me from wisdom; no escape. To be sent forth thus, to attempt to fight on haunted by this knowledge, that was impossible.

Và đột nhiên toàn bộ hàm ý trong lời ông tràn ngập tôi. Trước đó trí tuệ tôi quả thật đã rối loạn, giờ đây trong một tia linh thị tôi thấy rõ. Có lẽ vì những rào cản tôi đã dựng lên chống lại các nỗi sợ bí mật của mình đã bị rung chuyển trong đêm ấy như chưa từng có, và bằng chứng mới này về chính sự mù quáng và bất toàn của tôi đã hoàn tất công việc mà thử thách đã khởi đầu. Nhưng trong khoảnh khắc ấy cuối cùng tôi nhận ra mình là gì, không còn mạnh mẽ, đáng sợ, tự mãn, mà yếu đuối, bất lực và cô độc. Hết làn sóng kinh hoàng này đến làn sóng khác ập xuống tôi, nhấn chìm tôi. Sợ hãi quá khứ, sợ hãi hiện tại, nhưng trên hết là sợ hãi tương lai không thể tưởng tượng ấy. Cứ thế mãi, quay vòng trong cái bẫy, vô minh dẫn đến sai lầm, sai lầm ngăn tôi khỏi minh triết; không có lối thoát. Bị đẩy ra đi như thế, cố gắng chiến đấu trong khi bị ám ảnh bởi tri thức này, điều đó là không thể.

“I cannot return,” I cried, “it is true, I am not fit to lead, to rule, nor to conquer. Let another take my place, I shall go mad indeed and all go down into ruin.”

“Tôi không thể trở về,” tôi kêu lên, “đúng vậy, tôi không xứng để lãnh đạo, để cai quản, cũng không xứng để chinh phục. Hãy để người khác thay tôi, nếu không tôi thật sự sẽ phát điên và mọi sự sẽ cùng lao vào đổ nát.”

“You must return: no man but yourself can right the wrongs you have done.”

“Con phải trở về: không ai ngoài chính con có thể sửa chữa những sai trái con đã gây ra.”

I looked into his eyes and suddenly found myself at his feet: “Guide me, help me, show me the way! Alone I can do nothing; without you, O my Master, I am utterly lost.

Tôi nhìn vào mắt ông và đột nhiên thấy mình dưới chân ông: “Xin hãy dẫn dắt tôi, giúp tôi, chỉ cho tôi con đường! Một mình tôi không thể làm gì; không có ông, ôi Chân sư của tôi, tôi hoàn toàn lạc lối.”

He laid his hand upon my shoulder. “My son,” he said in a voice full of compassion, “fear nothing, you will never be alone. For the first time in all your lives you have shown that humility which is the pre-requisite to all true progress and by this change of heart you have given us the right to be your guides and your mentors, for we can give no man the help he needs until he has freely acknowledged that need. From henceforth we will be ever by your side. Although still blinded by your limitations, you may, for many incarnations, be ignorant of our protection, it will never fail you. You have opened your mind to us; henceforth our voices, at all the great crises of your development, will be able to make themselves heard. No man who thus invokes us in humility is ever refused or abandoned. You will conquer.”

Ông đặt tay lên vai tôi. “Con ta,” ông nói bằng giọng đầy từ bi, “đừng sợ gì cả, con sẽ không bao giờ cô độc. Lần đầu tiên trong tất cả các kiếp sống của con, con đã biểu lộ sự khiêm nhường là điều kiện tiên quyết cho mọi tiến bộ chân thật, và nhờ sự đổi lòng này con đã cho chúng ta quyền được làm người hướng dẫn và người dìu dắt của con, vì chúng ta không thể ban cho ai sự trợ giúp mà y cần cho đến khi y tự do thừa nhận nhu cầu ấy. Từ nay về sau chúng ta sẽ luôn ở bên con. Dù vẫn còn bị làm mù bởi những giới hạn của mình, con có thể trong nhiều lần lâm phàm không biết đến sự che chở của chúng ta, nhưng nó sẽ không bao giờ thiếu vắng. Con đã mở trí tuệ mình cho chúng ta; từ nay tiếng nói của chúng ta, trong mọi khủng hoảng lớn của sự phát triển của con, sẽ có thể làm cho được lắng nghe. Không một ai khẩn cầu chúng ta trong khiêm nhường như thế mà lại bị từ chối hay bị bỏ rơi. Con sẽ chinh phục.”

He moved away and seated himself upon the bench, and I, still dazed and shaken, stumbled to my feet and sank down by his side.

Ông bước đi và ngồi xuống chiếc ghế dài, còn tôi, vẫn choáng váng và run rẩy, loạng choạng đứng dậy rồi ngồi sụp xuống bên cạnh ông.

Yet despite the shattering emotions I had experienced I felt curiously calm; I had given myself into his hands, henceforth let him direct me.

Tuy nhiên, bất chấp những cảm xúc dữ dội đã làm tan nát tôi, tôi lại cảm thấy bình an một cách lạ lùng; tôi đã phó mình vào tay ông, từ nay hãy để ông dẫn dắt tôi.

“Conquer?” I echoed, “you mean that I can be freed from these Shapes of Amend?”

“Chinh phục ư?” tôi nhắc lại, “ông muốn nói rằng tôi có thể được giải thoát khỏi những Hình Thể Sửa Đổi này sao?”

“I know it,” he said, “just as I know that you will attain your goal.” Was it my imagination or did a brightness flow from him? I sighed, abandoning myself to this mysterious influence. He was sure, then I too could have confidence.

“Ta biết điều đó,” ông nói, “cũng như ta biết rằng con sẽ đạt đến mục tiêu của mình.” Có phải chỉ là sự tưởng tượng của tôi hay một ánh sáng đang tuôn ra từ ông? Tôi thở dài, phó mình cho ảnh hưởng huyền bí ấy. Ông chắc chắn, vậy thì tôi cũng có thể có lòng tin.

“I know it,” he repeated, “because the destiny of every individual is the destiny of Life itself; you can no more eventually escape love than you can escape the fruits of your deeds of hate. Love is stronger than hate. Even the annihilation you feared could only be a temporary passing into obscuration of that primeval spark of the One Flame which dwells within every form. In some scheme or another every unit will work out its destiny, be that never so long delayed, for nothing lives to itself alone, all are part of that mighty Being who is beyond all human comprehension. But delay means suffering, for it is resisting the stream of Life which bears all creation irresistibly onward towards the consummation of the Divine Will.”

“Ta biết điều đó,” ông lặp lại, “bởi vì định mệnh của mỗi cá thể là định mệnh của chính Sự sống; cuối cùng con không thể trốn khỏi tình thương hơn là trốn khỏi quả của những hành động hận thù của mình. Tình thương mạnh hơn hận thù. Ngay cả sự hủy diệt mà con sợ cũng chỉ có thể là một sự đi vào che khuất tạm thời của tia lửa nguyên sơ của Ngọn Lửa Duy Nhất đang ngự trong mọi hình tướng. Trong hệ hành tinh này hay hệ hành tinh khác, mọi đơn vị sẽ hoàn thành định mệnh của mình, dù có bị trì hoãn lâu đến đâu, vì không gì sống chỉ cho riêng mình, tất cả đều là phần của Hữu Thể hùng vĩ vượt ngoài mọi hiểu biết của con người. Nhưng trì hoãn có nghĩa là đau khổ, vì đó là chống lại dòng Sự sống đang mang toàn thể tạo vật tiến tới một cách không cưỡng nổi về sự hoàn tất của Ý Chí thiêng liêng.”

He paused and answered my unspoken thoughts.

Ông ngừng lại và đáp lời những ý nghĩ không thốt ra của tôi.

“My son, do not imagine that either your struggle or your search is unique. Yours is the struggle of all men, yours their search, and also their goal. For an instant, when you came here, I gave you a foretaste—a reflection only—of that rightful heritage of mankind; that state of permanent love you must some day reach. I showed you, but it has faded now; I speak of it, but I know my words mean nought to you. You cannot even hope to understand them yet.

“Con ta, đừng tưởng rằng cuộc đấu tranh hay cuộc tìm kiếm của con là độc nhất. Đó là cuộc đấu tranh của mọi người nam và nữ, đó là cuộc tìm kiếm của họ, và cũng là mục tiêu của họ. Trong khoảnh khắc, khi con đến đây, ta đã cho con nếm trước—chỉ là một phản chiếu—gia sản chính đáng ấy của nhân loại; trạng thái tình thương thường hằng mà một ngày nào đó con phải đạt đến. Ta đã chỉ cho con thấy, nhưng giờ nó đã phai; ta nói về nó, nhưng ta biết lời ta chẳng có nghĩa gì với con. Con thậm chí còn chưa thể hy vọng thấu hiểu chúng.

“But always at certain stages in the evolution of every man a vision is vouchsafed and a goal is shown to him so that the impression remains ineradicable. It is then for him to work towards that goal until he is ready for a further and still greater revelation. So he goes on from stage to stage and as he progresses so the vision changes, becoming ever more vivid and more real as he learns wisdom and comes to a clearer understanding of this deeply buried purpose of the soul.”

“Nhưng luôn luôn, ở những giai đoạn nhất định trong tiến hoá của mỗi người nam và nữ, một linh ảnh được ban cho và một mục tiêu được chỉ ra cho y để ấn tượng ấy còn lại không thể xóa nhòa. Khi ấy y phải hướng tới mục tiêu đó cho đến khi sẵn sàng cho một sự mặc khải tiếp theo và còn lớn hơn nữa. Cứ thế y đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, và khi tiến bộ, linh ảnh cũng thay đổi, ngày càng sống động và chân thực hơn khi y học được minh triết và đi đến một sự thấu hiểu rõ ràng hơn về mục đích sâu kín này của linh hồn.”

“It is true,” I said—“I cannot indeed understand how man could be content with such a state for ever—nor even with a goal so vague and unsubstantial. As for your promise, we forget; death will draw down the curtain and when I awake to a new life, I will find myself beset by these old enemies again—for I see now that it will take me more than this life to conquer them. But I shall be once more blind and lost, I may not even remember that there is a goal. I will not know that you stand upon my right hand to aid me. In this life, yes, your assurance may give me the courage to fight on—but how shall I fare then?”

“Điều đó là đúng,” tôi nói—“quả thật tôi không thể hiểu làm sao con người có thể bằng lòng với một trạng thái như thế mãi mãi—thậm chí cũng không thể bằng lòng với một mục tiêu mơ hồ và không thực chất đến vậy. Còn về lời hứa của thầy, chúng ta quên mất; cái chết sẽ buông màn xuống và khi tôi thức dậy trong một đời sống mới, tôi sẽ lại thấy mình bị những kẻ thù cũ ấy vây bủa—vì giờ đây tôi thấy rằng sẽ cần hơn một kiếp sống này để chinh phục chúng. Nhưng rồi tôi sẽ lại mù quáng và lạc lối, thậm chí có thể không còn nhớ rằng có một mục tiêu thật sự. Tôi sẽ không biết rằng thầy đứng bên tay phải tôi để trợ giúp tôi. Trong đời này, vâng, sự bảo đảm của thầy có thể cho tôi can đảm để tiếp tục chiến đấu—nhưng rồi sau đó tôi sẽ ra sao?”

He shook his head. “You will not forget. The circumstances in which the revelation has been given will certainly fade and be obscured by all the shifting forms of the illusory world in which you must dwell; but a dream, a vision, as of some lost perfection, will remain. All men, dear son, remember some shadow of their lost estate, that joy and perfection which is the eternal nature of their souls. But in those who, at some time or another, have faced their lower nature, this realization is ever more vivid, the struggle between higher and lower more acute, the yearning for freedom greater. Thus, realizing their lack, do they seek the ideal through life after life.

Ngài lắc đầu. “Con sẽ không quên. Những hoàn cảnh trong đó sự mặc khải này được ban cho con chắc chắn sẽ phai mờ và bị che khuất bởi mọi hình tướng biến đổi của thế giới ảo tưởng mà con phải cư ngụ; nhưng một giấc mơ, một linh ảnh, như về một sự toàn hảo đã mất, sẽ còn lại. Hỡi con yêu dấu, mọi người đều nhớ một cái bóng nào đó của trạng thái đã mất của mình, của niềm hoan hỉ và sự toàn hảo vốn là bản chất vĩnh cửu của linh hồn họ. Nhưng nơi những ai, vào lúc này hay lúc khác, đã đối diện với bản chất thấp kém của mình, sự chứng nghiệm này luôn sống động hơn, cuộc đấu tranh giữa cao và thấp gay gắt hơn, nỗi khát khao tự do lớn hơn. Vì vậy, nhận ra sự thiếu hụt của mình, họ tìm kiếm lý tưởng qua hết đời này đến đời khác.

“They call it by many names according to their stage of enlightenment, their nature and capacities. Some call it happiness, some security, some union with the beloved, some knowledge, some success. The name matters not— all ideals are but a shadow of that final perfection; experience only will teach them to discern the dross from the gold, to discriminate between the ephemeral and the enduring. What matters is that somehow the man shall be driven on towards the final consummation. You will be so driven, for you have demanded Truth, you have challenged your destiny, it awaits you in the world outside these walls, to which you must now return. Wise deeds bear fruit even as do foolish ones and the memory of what you have faced here will follow you, it will haunt you, inspire you, like a mirage lure you on until that day when, having pierced, however small a rift in the barrier which separates you from the Truth which is indeed yourself, you will realize in yourself the Truth that will set you free.

“Họ gọi nó bằng nhiều tên tùy theo giai đoạn giác ngộ, bản chất và năng lực của họ. Có người gọi đó là hạnh phúc, có người là an toàn, có người là sự hợp nhất với người yêu dấu, có người là tri thức, có người là thành công. Tên gọi không quan trọng—mọi lý tưởng chỉ là cái bóng của sự toàn hảo tối hậu ấy; chỉ kinh nghiệm mới dạy họ phân biện cặn bã với vàng ròng, phân biện giữa cái phù du và cái bền vững. Điều quan trọng là bằng cách nào đó con người phải được thúc đẩy tiến tới sự viên mãn cuối cùng. Con sẽ được thúc đẩy như thế, vì con đã đòi hỏi Chân Lý, con đã thách thức định mệnh của mình, và nó đang chờ con trong thế giới bên ngoài những bức tường này, nơi giờ đây con phải trở về. Hành động khôn ngoan sinh quả cũng như hành động ngu dại, và ký ức về điều con đã đối diện ở đây sẽ theo con, sẽ ám ảnh con, truyền cảm hứng cho con, như một ảo ảnh quyến rũ lôi kéo con tiến lên cho đến ngày mà, sau khi xuyên thủng được, dù chỉ là một khe hở nhỏ, trong bức màn ngăn cách con với Chân Lý vốn thật ra chính là con, con sẽ chứng nghiệm trong chính mình Chân Lý sẽ giải thoát con.

“Now you must go forward along the road of life towards that distant goal; but do not forget that you make your own road. You are the road. All forces, both good and evil, wait to serve you if you invoke them aright, but you must learn the magic formulae of invocation. Nothing is denied you but what you deny yourself. Do you desire friends and lovers, then give friendship and love, and they will crowd around you. Give service and you will be served; heal others and your own diseases will be cured. If anything ever seems to be denied you, give of that thing freely and eventually through giving, you will receive. If the world appears to ill-treat you, look well, my son, into your own heart; you will surely find hidden therein something that is inimical to the world.

“Giờ đây con phải tiến bước trên con đường đời hướng tới mục tiêu xa xôi ấy; nhưng đừng quên rằng chính con tạo nên con đường của mình. Con chính là con đường. Mọi mãnh lực, cả thiện lẫn ác, đều chờ để phụng sự con nếu con khẩn cầu chúng đúng cách, nhưng con phải học những công thức huyền thuật của sự khẩn cầu. Không điều gì bị từ chối với con ngoài điều mà chính con tự từ chối mình. Con có mong bạn hữu và người yêu chăng, vậy thì hãy trao tình bạn và tình yêu, và họ sẽ vây quanh con. Hãy phụng sự và con sẽ được phụng sự; chữa lành cho người khác và bệnh tật của chính con sẽ được chữa lành. Nếu có điều gì dường như từng bị từ chối với con, hãy rộng rãi cho đi chính điều ấy và cuối cùng qua sự cho đi, con sẽ nhận lại. Nếu thế gian dường như đối xử tệ bạc với con, hỡi con ta, hãy nhìn kỹ vào chính trái tim mình; chắc chắn con sẽ tìm thấy ẩn giấu trong đó một điều gì đó đối nghịch với thế gian.

“Do not complain at experience however bitter it may seem; use it rather, turn it to account, for nothing comes to man but can be made to benefit him. See how fortunate for you your present sickness has been. Had you been healthy and strong, self-satisfied, unafraid, you would never have sought me out, never have learned what now you will always, in your innermost being, know. It is often the contented, relatively happy man who gains the least out of his life, for he is inclined to remain static; cultivate rather within you that divine discontent which ever reaches forwards towards fresh achievements.

“Đừng than phiền về kinh nghiệm dù nó có vẻ cay đắng đến đâu; đúng hơn hãy sử dụng nó, biến nó thành lợi ích, vì không điều gì đến với con người mà lại không thể được làm cho có ích cho y. Hãy xem bệnh tật hiện nay của con đã may mắn cho con biết bao. Nếu con khỏe mạnh và cường tráng, tự mãn, không sợ hãi, con đã chẳng bao giờ tìm đến ta, chẳng bao giờ học được điều mà giờ đây trong nơi sâu thẳm nhất của mình con sẽ luôn biết. Thường chính con người mãn nguyện, tương đối hạnh phúc, lại thu được ít nhất từ đời sống của mình, vì y có khuynh hướng đứng yên; đúng hơn hãy nuôi dưỡng trong con sự bất mãn thiêng liêng luôn vươn tới những thành tựu mới.

“Strive therefore towards an ideal, towards the best you can conceive. One day your eyes will be opened; one day through manifold experiences you will be brought to understand. When you reach that high place, when you find within your own heart this truth, this serenity, this fount of perennial inspiration, of joy, of bliss; when, that is, you have cast down the final barrier and have united yourself by an act of willing sacrifice to That which in very truth you are—the Spirit of Love, which some men call God and others know to be beyond any name—then you will acknowledge that no striving has been in vain, no mistake to be deplored, no experience valueless, no suffering a waste of time.

“Vì vậy hãy phấn đấu hướng tới một lý tưởng, hướng tới điều tốt đẹp nhất mà con có thể hình dung. Một ngày kia mắt con sẽ mở ra; một ngày kia qua muôn vàn kinh nghiệm con sẽ được đưa đến chỗ thấu hiểu. Khi con đạt đến nơi cao ấy, khi con tìm thấy trong chính trái tim mình chân lý này, sự tĩnh lặng này, nguồn suối cảm hứng bất tận, của hoan hỉ, của chí phúc; khi, nghĩa là, con đã phá đổ rào cản cuối cùng và đã hợp nhất chính mình bằng một hành vi hi sinh có chủ ý với Cái mà thật ra con là—Tinh thần của Tình thương, điều mà có người gọi là Thượng đế và người khác biết là vượt ngoài mọi tên gọi—thì con sẽ thừa nhận rằng không một nỗ lực nào là vô ích, không một sai lầm nào đáng than tiếc, không một kinh nghiệm nào vô giá trị, không một đau khổ nào là phí thời gian.

“For the man who has cast aside his fetters and has tasted this blissful union with all things, suffers no longer from the limitations imposed upon lesser men. He knows no fear, for fear implies menace, and how can he be menaced who is one with all Life? Pain and calamity do not touch him, the joy which wells up perpetually in him from that great fountain-head of Love of which he has made himself a part, sustains him in whatsoever situation he may find himself. As a man looks back upon the necessary disciplines of his childhood, so will you, in that day, my son, look back on the many lives behind you and, grown to the full stature of a man, you will go forward strong and secure at last, fit to play your part either in this world or beyond it; it matters not which, for all worlds and all states are one to the man who has found himself.”

“Vì con người đã quăng bỏ xiềng xích của mình và đã nếm trải sự hợp nhất chí phúc này với vạn vật thì không còn chịu đau khổ vì những giới hạn áp đặt lên những người kém hơn nữa. Y không biết sợ hãi, vì sợ hãi hàm ý có đe dọa, và làm sao người nào là một với toàn bộ Sự sống lại có thể bị đe dọa? Đau đớn và tai họa không chạm đến y, niềm hoan hỉ luôn tuôn trào trong y từ nguồn cội vĩ đại của Tình thương mà y đã làm cho mình thành một phần của nó nâng đỡ y trong bất cứ hoàn cảnh nào y có thể thấy mình ở trong đó. Như một người nhìn lại những kỷ luật cần thiết của thời thơ ấu mình, thì vào ngày ấy, hỡi con ta, con cũng sẽ nhìn lại nhiều kiếp sống phía sau mình và, đã trưởng thành đến tầm vóc trọn vẹn của một con người, cuối cùng con sẽ tiến lên mạnh mẽ và vững vàng, xứng đáng đảm nhận vai trò của mình hoặc trong thế giới này hoặc vượt ngoài nó; điều đó không quan trọng, vì mọi thế giới và mọi trạng thái đều là một đối với người đã tìm thấy chính mình.”

Next morning before sunrise he brought me to the mouth of the great cave which led into the desert. And now that the parting had come, I realized to the full what this man meant to me. I felt like a lost child. We stood side by side looking out towards the distant horizon. He raised his arm.

Sáng hôm sau trước lúc mặt trời mọc, Ngài đưa tôi đến cửa hang lớn dẫn ra sa mạc. Và giờ đây khi giờ chia tay đã đến, tôi nhận ra trọn vẹn người này có ý nghĩa thế nào đối với tôi. Tôi cảm thấy như một đứa trẻ lạc loài. Chúng tôi đứng cạnh nhau nhìn ra chân trời xa. Ngài giơ cánh tay lên.

“Yonder is your city, O Pharaoh.”

“Đằng kia là thành phố của con, hỡi Pharaoh.”

I dropped on my knees before him, lifting the hem of his garment to my lips. “O my Master, yonder is death— here is all my life. Do not send me alone into this exile. Grant me at least that I may see and speak with thee again.”

Tôi quỳ sụp xuống trước Ngài, nâng vạt áo Ngài lên môi mình. “Ôi Chân sư của con, đằng kia là cái chết—còn ở đây là toàn bộ đời sống của con. Xin đừng gửi con một mình vào cuộc lưu đày này. Ít nhất xin cho con được thấy và nói chuyện với thầy lần nữa.”

“My son,” he said and the music of his voice and the joy of his presence brought a great peace upon me, “it is not death—it is life, for it is the Path of Return; there is no exile for the man who walks in Truth, and no separation for those who are bound together in the bonds of love. Between our souls there will be no separation any more. It is for you to become one with that soul of yours, for until you have learned to listen in the silence for its voice, until you can catch, if but an echo, of what is both yours and mine, you must indeed walk seemingly in exile and alone. You will not see me again until you have completed another stage of your journey; and when you have reached that stage there will be no need for you to invoke me—I shall be there. But before you are ready for what I will have to give you then, it is essential that you shall have at least broken the full power which these elemen- tals of Atlantis have over your body and your mind, and cleared to some extent from your emotion and your mind their influence and their emanations. Now go forth. Heavy is the task upon you; I see darkness and blood over Egypt; you will have need of all your strength if you are to prevail. By yonder palm trees you will find a company of bowmen and a litter. Take up the sceptre which you laid down and bring peace to Egypt before your life ends.”

“Hỡi con ta,” Ngài nói, và âm nhạc trong giọng nói Ngài cùng niềm hoan hỉ của sự hiện diện của Ngài đem đến cho tôi một sự bình an lớn lao, “đó không phải là cái chết—đó là sự sống, vì đó là Con Đường Trở Về; không có lưu đày nào cho người bước đi trong Chân Lý, và không có chia lìa nào cho những ai được ràng buộc với nhau bằng những mối dây tình thương. Giữa các linh hồn của chúng ta sẽ không còn chia lìa nữa. Phần của con là trở nên một với linh hồn ấy của con, vì cho đến khi con học được cách lắng nghe trong im lặng tiếng nói của nó, cho đến khi con có thể nắm bắt được, dù chỉ là một tiếng vọng, điều vừa là của con vừa là của ta, thì quả thật con vẫn phải bước đi dường như trong lưu đày và cô độc. Con sẽ không gặp lại ta cho đến khi con hoàn tất thêm một chặng nữa của cuộc hành trình; và khi con đã đạt đến chặng ấy thì con sẽ không cần khẩn cầu ta—ta sẽ ở đó. Nhưng trước khi con sẵn sàng cho điều mà khi ấy ta sẽ phải trao cho con, điều cốt yếu là ít nhất con phải phá vỡ được toàn bộ quyền lực mà những hành khí Atlantis này đang có trên thể xác và thể trí của con, và phần nào quét sạch khỏi cảm xúc và trí tuệ của con ảnh hưởng cùng các phát xạ của chúng. Giờ hãy lên đường. Nhiệm vụ đặt trên con thật nặng nề; ta thấy bóng tối và máu phủ lên Ai Cập; con sẽ cần đến toàn bộ sức mạnh của mình nếu muốn thắng thế. Bên những cây cọ đằng kia con sẽ thấy một toán cung thủ và một cỗ cáng. Hãy cầm lại vương trượng mà con đã đặt xuống và đem hòa bình đến cho Ai Cập trước khi đời con chấm dứt.”

I stood up slowly. “That will not be long,” I said.

Tôi chậm rãi đứng dậy. “Điều đó sẽ không lâu đâu,” tôi nói.

He held out his hand and in the palm was a small brown scarab set in a ring. “This I have magnetized for you. Wear it always—let it be buried upon your heart when you enter the tomb. There will come a day when your mummy will be despoiled and through this despoilation eventually the scarab will return to you; that time is far away, but when once more you set it upon your finger you will be re-linked with this moment. When that happens you will know me again.”

Ngài đưa tay ra và trong lòng bàn tay là một con bọ hung nâu nhỏ gắn trên một chiếc nhẫn. “Ta đã từ hóa vật này cho con. Hãy luôn đeo nó—hãy để nó được chôn trên tim con khi con vào mộ. Sẽ đến một ngày xác ướp của con bị cướp phá và qua sự cướp phá ấy cuối cùng con bọ hung sẽ trở về với con; thời điểm ấy còn xa lắm, nhưng khi một lần nữa con đeo nó vào ngón tay mình, con sẽ được nối lại với khoảnh khắc này. Khi điều đó xảy ra con sẽ lại biết ta.”

He blessed me. I looked into his eyes, and now the stream of love which flowed into me from him brought with it a sense of exhilaration, of power, of glorious certainty.

Ngài chúc lành cho tôi. Tôi nhìn vào mắt Ngài, và giờ đây dòng tình thương tuôn vào tôi từ Ngài mang theo một cảm giác hân hoan, quyền năng, và sự chắc chắn huy hoàng.

A few steps away I turned and raised my arm in salutation, as I did so the first rays of the rising sun shot up from the rim of the desert and illuminated his tall figure till it seemed lost in a golden flame.

Đi được vài bước tôi quay lại và giơ tay chào, đúng lúc ấy những tia đầu tiên của mặt trời đang lên vọt lên từ vành sa mạc và soi sáng hình dáng cao lớn của Ngài cho đến khi dường như Ngài tan vào một ngọn lửa vàng.

I pressed the ring upon my finger. It gave me hope. I faced the sun and went forward towards the Path of Return….

Tôi ấn chiếc nhẫn vào ngón tay mình. Nó cho tôi hy vọng. Tôi đối diện mặt trời và tiến bước về phía Con Đường Trở Về….

The Path of Return…. Long after this vision of the past had faded, these words and their implication remained in my mind. I did not know at what date in the immense ranges of Egypt’s history this life had taken place, but assuming it to have been during one of the later periods of dynastic change and unrest, it must still have happened thousands of years ago.

Con Đường Trở Về…. Rất lâu sau khi linh ảnh về quá khứ này đã phai mờ, những lời ấy và hàm ý của chúng vẫn còn trong tâm trí tôi. Tôi không biết đời sống ấy đã diễn ra vào niên đại nào trong những tầng lớp mênh mông của lịch sử Ai Cập, nhưng nếu giả định nó thuộc một trong những thời kỳ sau của biến động triều đại và bất ổn, thì nó hẳn vẫn đã xảy ra cách đây hàng ngàn năm.

What then could I have been doing in the interval to have lingered so long upon that Path? My progress must have been appallingly slow. But at least I could comfort myself a little by the thought that some of those Atlantean forces must have been transmuted in that long interval, some of the barriers broken down, since the scarab was now upon my finger and once more a teacher stood by my side.

Vậy thì trong khoảng thời gian ấy tôi đã làm gì mà lưu lại lâu đến thế trên Con Đường đó? Sự tiến bộ của tôi hẳn đã chậm chạp đến kinh khủng. Nhưng ít nhất tôi cũng có thể tự an ủi đôi chút bằng ý nghĩ rằng một số mãnh lực Atlantis ấy hẳn đã được chuyển hoá trong khoảng thời gian dài đó, một số rào cản đã bị phá vỡ, vì giờ đây con bọ hung đang ở trên ngón tay tôi và một lần nữa một huấn sư đứng bên cạnh tôi.

However, when I considered those thousands of years, filled no doubt with endless mistakes and backslidings, I was overwhelmed with regrets not only for the waste of time involved but for the poor return I must have given for those efforts made on my most unworthy behalf in the Temple of the Rocks. But also I was filled with humility and gratitude at the realization that beings such as my teacher should trouble about people as little evolved as I had then been and indeed still was.

Tuy nhiên, khi nghĩ đến hàng ngàn năm ấy, chắc hẳn đầy dẫy những sai lầm bất tận và những lần sa sút, tôi bị tràn ngập bởi hối tiếc không chỉ vì sự phí phạm thời gian mà còn vì kết quả nghèo nàn mà hẳn tôi đã đáp lại những nỗ lực đã được thực hiện cho tôi, một kẻ hoàn toàn không xứng đáng, trong Đền Đá. Nhưng đồng thời tôi cũng tràn đầy khiêm cung và biết ơn khi chứng nghiệm rằng những hữu thể như huấn sư của tôi lại phải bận tâm đến những người tiến hóa ít ỏi như tôi khi ấy và thật ra vẫn còn là như vậy.

My bitter self-revilings were answered for me when at length I was once more allowed access to his mind; and caught in the rhythm of those dearly-remembered vibrations, even my rage against myself was somewhat assuaged. No anger nor hatred could long survive that profound calm which he radiated.

Những lời tự kết án cay đắng của tôi được đáp lại khi cuối cùng tôi lại được phép tiếp cận tâm trí của Ngài; và bị cuốn vào nhịp điệu của những rung động thân yêu còn nhớ rõ ấy, ngay cả cơn giận dữ đối với chính mình của tôi cũng phần nào dịu xuống. Không sự giận dữ hay thù hận nào có thể tồn tại lâu trong sự bình an sâu thẳm mà Ngài tỏa ra.

“Do not waste time and energy regretting the past,” he said, “seek rather to understand it; study it if you are granted the opportunity, not emotionally, but as a scientist studies the ingredients necessary for some experiment. That is, after all, what experience really represents: the material used by the soul in attempting to make for itself a perfect body of manifestation. Once the man has understood this he will realize that his work lies in preparing himself much more self-consciously for the future than he has ever done before. This is actually what is happening in the world today.

“Đừng phí thời gian và năng lượng để hối tiếc quá khứ,” Ngài nói, “đúng hơn hãy tìm cách thấu hiểu nó; hãy nghiên cứu nó nếu con được ban cho cơ hội, không phải bằng cảm xúc, mà như một nhà khoa học nghiên cứu những thành phần cần thiết cho một thí nghiệm nào đó. Rốt cuộc, đó chính là điều mà kinh nghiệm thật sự biểu hiện: chất liệu được linh hồn dùng trong nỗ lực tạo cho mình một thể biểu hiện hoàn hảo. Một khi con người đã hiểu điều này, y sẽ nhận ra rằng công việc của y nằm ở chỗ chuẩn bị cho tương lai một cách hữu thức về bản thân nhiều hơn bất cứ khi nào trước đây. Thật ra đây chính là điều đang diễn ra trong thế giới ngày nay.

“More people are beginning to understand some of the fundamental laws of nature and are recognizing the immense powers of mind; they are, in fact, rediscovering magic. Man is inclined to look back upon the magic of Atlantis, of Egypt, even of the Middle Ages as crude superstition, or something legendary and fantastic which humanity has outgrown; it can never be outgrown for magic is simply the ancient name given to the ability to use aspects of the great creative energies through which manifestation has been brought into being and which can be invoked, manipulated and controlled by knowledge of their secrets combined with the power of the will.

“Ngày càng có nhiều người bắt đầu hiểu một số định luật căn bản của bản chất và đang nhận ra những quyền năng bao la của trí tuệ; thật vậy, họ đang tái khám phá huyền thuật. Con người có khuynh hướng nhìn lại huyền thuật của Atlantis, của Ai Cập, thậm chí của thời Trung Cổ như mê tín thô sơ, hoặc như điều gì đó huyền thoại và kỳ ảo mà nhân loại đã vượt qua; điều đó không bao giờ có thể bị vượt qua vì huyền thuật chỉ đơn giản là tên gọi cổ xưa dành cho khả năng sử dụng các phương diện của những năng lượng sáng tạo vĩ đại qua đó sự biểu hiện đã được đưa vào hiện hữu và những năng lượng ấy có thể được khẩn cầu, vận dụng và kiểm soát bằng tri thức về các bí mật của chúng kết hợp với quyền năng của ý chí.

“People forget that each age must express itself in its own terms. Every man who thinks forcibly is a magician, either black or white, according to the motive and purpose behind his thought.

“Người ta quên rằng mỗi thời đại phải tự biểu hiện bằng những thuật ngữ riêng của nó. Mỗi người suy nghĩ một cách mãnh liệt đều là một nhà huyền thuật, hoặc chánh đạo hoặc hắc thuật, tùy theo động cơ và mục đích đứng sau tư tưởng của y.

“In the past he achieved control over matter through the use of sound, ceremonial and various rituals; now he does so mainly by scientific means, psychological knowledge and organization. The first method calls into being certain energies generated by intense, concentrated emotion and desire; the second by concentrated thought, although combination of both are used today. The written word and pictured image are primarily the magical weapons of this age. Consider for a moment the influence of the Press, advertising, cinema and radio which mould the plastic minds of the masses. These methods of exercising control may not be so spectacular as the ancient ceremonies and incantations but, since all men are more closely linked in this age than ever before, the new magic is infinitely more potent and can be more sinister.

“Trong quá khứ y đạt được sự kiểm soát đối với vật chất qua việc sử dụng âm thanh, nghi lễ và nhiều lễ thức khác nhau; còn nay y làm điều đó chủ yếu bằng phương tiện khoa học, tri thức tâm lý học và tổ chức. Phương pháp thứ nhất gọi vào hiện hữu những năng lượng nhất định được tạo ra bởi cảm xúc và ham muốn mãnh liệt, tập trung; phương pháp thứ hai bởi tư tưởng tập trung, mặc dù ngày nay sự kết hợp của cả hai đều được sử dụng. Linh từ viết ra và hình ảnh được vẽ nên trước hết là những vũ khí huyền thuật của thời đại này. Hãy suy nghĩ một lát về ảnh hưởng của báo chí, quảng cáo, điện ảnh và phát thanh đang nhào nặn những trí tuệ dễ uốn của quần chúng. Những phương pháp thực thi sự kiểm soát này có thể không ngoạn mục như các nghi lễ và thần chú cổ xưa nhưng, vì trong thời đại này mọi người liên kết với nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết, nên huyền thuật mới mạnh hơn vô hạn và cũng có thể hiểm độc hơn.

“Those who use these powers to cheat, deceive and manipulate the unwary in order to gain their personal ends and further their selfish interests are every bit as dangerous black magicians in their way as the men who deliberately created evil genii to serve them in the far past. I know you have been finding it difficult to accept literally what you have been told regarding the actuality of these forms of evil created in Atlantis which were still so powerful hundreds of years later that they could actually be seen and could hold their wretched creator in thrall. I assure you they were only too real. Every powerfully organized thought, good or evil, creates an appropriate form in subtle matter. So it does not need a great effort of imagination to realize what man’s cruelty, selfishness, evil desires and actions, has produced down the ages ever since he became capable of thinking positively and charging such thoughts with emotion. He has literally peopled the atmosphere of his world with hosts of evil shapes, which form about him and the earth a great cloud of darkness; and he will continue to increase and energize this by every selfish impulse and evil thought until he realizes what he is doing and reverses the process, breaking up and dissipating this poisonous darkness by pouring in light and love, as clear water will purify a muddy pool. This can only be accomplished by each individual working unceasingly upon his own particular contribution.

“Những ai dùng các quyền năng này để lừa gạt, đánh lừa và thao túng những người nhẹ dạ nhằm đạt mục đích cá nhân và thúc đẩy quyền lợi ích kỷ của mình thì theo cách riêng của họ nguy hiểm chẳng kém gì những nhà hắc thuật đã cố ý tạo ra các ác thần để phụng sự mình trong quá khứ xa xưa. Ta biết con đã thấy khó chấp nhận theo nghĩa đen điều con được kể về tính hiện thực của những hình thể ác do Atlantis tạo ra, những hình thể vẫn còn mạnh đến mức hàng trăm năm sau chúng thực sự có thể được nhìn thấy và có thể giam giữ kẻ tạo ra khốn khổ của chúng trong vòng nô lệ. Ta bảo đảm với con rằng chúng quá đỗi có thật. Mỗi tư tưởng được tổ chức mạnh mẽ, thiện hay ác, đều tạo ra một hình thể thích hợp trong chất liệu vi tế. Vì vậy không cần nhiều nỗ lực của sự tưởng tượng để nhận ra rằng sự tàn nhẫn, ích kỷ, ham muốn xấu xa và hành động ác của con người đã sản sinh ra điều gì qua các thời đại kể từ khi y trở nên có khả năng suy nghĩ tích cực và nạp cảm xúc vào những tư tưởng ấy. Y đã thực sự làm cho bầu khí quyển của thế giới mình đầy những đạo quân hình thể xấu ác, chúng tạo thành quanh y và quanh Trái Đất một đám mây đen tối lớn; và y sẽ tiếp tục gia tăng và tiếp sinh lực cho nó bằng mỗi xung động ích kỷ và mỗi tư tưởng xấu cho đến khi y nhận ra mình đang làm gì và đảo ngược tiến trình, phá vỡ và làm tiêu tan bóng tối độc hại này bằng cách tuôn vào ánh sáng và tình thương, như nước trong sẽ làm tinh sạch một ao bùn. Điều này chỉ có thể được hoàn thành khi mỗi cá nhân không ngừng làm việc trên phần đóng góp riêng của mình.

“Unfortunately in this age the situation is worse than it has ever been before as man is recovering so much of his lost knowledge and learning how to harness the elements themselves to serve him. Those who deliberately use this knowledge to create destructive forces such as poison gas, death rays, high explosives and the like are also creating, did they but know it, terrific elementals in subtle matter who will follow them vengefully life after life, as those followed you from Atlantis until, to some extent at least they have redeemed them. In fact the parallel, as I have already pointed out, between this age and that of Atlantis is very close.

“Đáng tiếc là trong thời đại này tình hình còn tệ hơn bao giờ hết vì con người đang phục hồi quá nhiều tri thức đã mất của mình và học cách khai thác chính các nguyên tố để phụng sự mình. Những ai cố ý dùng tri thức này để tạo ra các mãnh lực hủy diệt như khí độc, tia chết chóc, chất nổ mạnh và những thứ tương tự cũng đang tạo ra, nếu họ chỉ biết điều đó, những hành khí khủng khiếp trong chất liệu vi tế, chúng sẽ theo họ báo oán hết đời này sang đời khác, như những hành khí đã theo con từ Atlantis cho đến khi, ít nhất ở một mức độ nào đó, họ đã cứu chuộc chúng. Thật vậy, như ta đã chỉ ra, sự tương đồng giữa thời đại này và thời Atlantis là rất gần.

“The law remains unchanged; so as man becomes increasingly powerful on the mental creative levels, his responsibilities become heavier and the consequences of his actions proportionately greater if he uses his powers wrongly. Even the average man of today is learning through the intensive training he receives in concentration which modern education provides, to think more clearly and precisely; therefore he creates more powerful thought-forms which, whether he is aware of it or not, are projected telepathically far more widely than he could imagine. As a result he can encircle himself with veritable guardians of light or hosts of destructive forces, for thought is magnetic and draws to its creator energies of the same order as those he emanates. These also influence his environment and even his world. You would do well to consider this in relation to what is happening around you today.

“Định luật vẫn không đổi; vì vậy khi con người ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn trên các cấp độ sáng tạo trí tuệ, trách nhiệm của y càng nặng nề hơn và hậu quả của hành động y càng lớn tương ứng nếu y dùng sai quyền năng của mình. Ngay cả con người trung bình ngày nay cũng đang học, qua sự huấn luyện chuyên sâu về tập trung mà nền giáo dục hiện đại cung cấp, cách suy nghĩ rõ ràng và chính xác hơn; do đó y tạo ra những Hình tư tưởng mạnh hơn, những hình tư tưởng này, dù y có nhận biết hay không, được phóng chiếu bằng viễn cảm rộng hơn rất nhiều so với điều y có thể tưởng tượng. Kết quả là y có thể bao quanh mình bằng những người canh giữ ánh sáng thật sự hoặc những đạo quân mãnh lực hủy diệt, vì tư tưởng có tính từ tính và kéo đến cho kẻ sáng tạo ra nó những năng lượng cùng loại với những gì y phát xạ. Chúng cũng ảnh hưởng đến môi trường của y và thậm chí cả thế giới của y. Con nên suy ngẫm điều này trong liên hệ với những gì đang xảy ra quanh con ngày nay.

“It is for this reason that anyone who is seriously endeavouring to study what is at present known as ‘occultism’ and is desirous of spreading this knowledge is being especially watched and when possible trained by those on the inner planes whose task it is to try to lead humanity forward along the evolutionary path and to help each individual to break up and disperse this noxious cloud of ancient evil which still blinds man to his true purpose and destiny.”

“Chính vì lý do này mà bất cứ ai đang nghiêm túc nỗ lực nghiên cứu điều hiện nay được gọi là ‘huyền bí học’ và mong muốn truyền bá tri thức này đều đang được đặc biệt theo dõi và khi có thể thì được huấn luyện bởi những vị ở các cõi bên trong, những vị có nhiệm vụ cố gắng dẫn dắt nhân loại tiến lên trên con đường tiến hoá và giúp mỗi cá nhân phá vỡ và phân tán đám mây độc hại của cái ác cổ xưa này, thứ vẫn còn làm mù con người trước mục đích và định mệnh chân thật của y.”

I could understand why people who were making a deliberate attempt to obey the Divine Will and work with the Law instead of against it, might possibly be worth helping, but that did not explain why I had been allowed to contact a teacher in Egypt, for then I had been out for personal gain alone and my motives were purely selfish; nor could I even see why I had been put into such a position of power at all and given such opportunities for the exercise of my very undesirable accomplishments.

Tôi có thể hiểu vì sao những người đang cố ý nỗ lực tuân theo Ý Chí thiêng liêng và làm việc với Định luật thay vì chống lại nó có lẽ đáng được giúp đỡ, nhưng điều đó không giải thích được vì sao tôi đã được phép tiếp xúc với một huấn sư ở Ai Cập, bởi khi ấy tôi chỉ theo đuổi lợi ích cá nhân và động cơ của tôi hoàn toàn ích kỷ; tôi cũng không thể hiểu vì sao mình lại được đặt vào một vị trí quyền lực như thế và được trao những cơ hội để vận dụng những khả năng hết sức không đáng mong muốn của mình.

“You are taking the average short-sighted view,” he admonished me. “Such judgements are usually fallacious because no one—unless he can read not only man’s past but even the world Karma of the moment—is able to see the true cause of contemporary events. But we take a wider view. We see things in a better perspective since we can look forward as well as back, and consider the overall plan to be of greater importance than the individual. You must realize, moreover, that there is such a thing as national, racial and even planetary Karma to be taken into consideration. You are too inclined to think of Karma as only applicable to the life of man; but man’s life fits into the pattern of greater lives, even as the little cellular lives in your body are part of your own physical state. The consideration of such intricate workings of the One Law may well make your finite mind reel, but at least it can teach you, if it does nothing more, not to be too hasty in your superficial judgements of any occurrences, either those related to the lives of personalities or to more far-reaching events.

“Con đang nhìn theo quan điểm thiển cận thông thường,” Ngài quở trách tôi. “Những phán đoán như thế thường sai lầm vì không ai—trừ phi y có thể đọc được không chỉ quá khứ của con người mà cả nghiệp quả thế giới của thời điểm ấy—có thể thấy nguyên nhân thật sự của các biến cố đương thời. Nhưng chúng ta nhìn rộng hơn. Chúng ta thấy sự vật trong một viễn cảnh tốt hơn vì chúng ta có thể nhìn về phía trước cũng như phía sau, và xem kế hoạch tổng thể quan trọng hơn cá nhân. Hơn nữa, con phải nhận ra rằng có những thứ như nghiệp quả quốc gia, nghiệp quả chủng tộc và thậm chí nghiệp quả hành tinh cần được xét đến. Con quá có khuynh hướng nghĩ rằng nghiệp quả chỉ áp dụng cho đời sống con người; nhưng đời sống con người phù hợp vào mô hình của những sự sống lớn hơn, cũng như những sự sống tế bào nhỏ bé trong thể xác con là một phần của trạng thái hồng trần của chính con. Việc suy xét những vận hành tinh vi như thế của Định luật Duy Nhất hẳn có thể làm trí tuệ hữu hạn của con quay cuồng, nhưng ít nhất nó cũng có thể dạy con, nếu không làm gì hơn, đừng quá vội vàng trong những phán đoán hời hợt của mình về bất kỳ biến cố nào, dù là những biến cố liên quan đến đời sống của các phàm ngã hay đến những sự kiện có tầm ảnh hưởng xa hơn.

“You may now perhaps be able to understand that every instrument must, if possible, be made to serve our ends, even if to the eyes of man it may appear quite unworthy. There is therefore no need for anyone to feel unduly flattered when he is thus chosen by us. There is no favouritism in our methods, we do not use or ignore people because of any personal bias. Our one object is to raise the general level of spirituality, to bring order out of chaos, wisdom out of foolishness, harmony out of discord. Therefore although we prefer those who are willing and able to co-operate with us in this work, from the beginning of time we have always been forced by the scarcity of good material to use whatsoever instruments we could find, even though they may not be particularly competent ones and as likely as not may temporarily ruin our plans through their inefficiency and human weaknesses.

“Có lẽ giờ đây con có thể hiểu rằng mọi công cụ đều phải, nếu có thể, được làm cho phụng sự mục đích của chúng ta, ngay cả khi trong mắt con người nó có vẻ hoàn toàn không xứng đáng. Vì vậy không ai cần cảm thấy quá được tâng bốc khi được chúng ta chọn như thế. Trong phương pháp của chúng ta không có thiên vị, chúng ta không dùng hay bỏ qua con người vì bất kỳ thành kiến cá nhân nào. Mục tiêu duy nhất của chúng ta là nâng cao mức độ tinh thần chung, đem trật tự ra từ hỗn loạn, minh triết ra từ ngu dại, hòa điệu ra từ bất hòa. Vì vậy, mặc dù chúng ta ưa thích những ai sẵn lòng và có khả năng hợp tác với chúng ta trong công việc này, nhưng từ thuở ban đầu của thời gian chúng ta luôn bị buộc, do sự khan hiếm chất liệu tốt, phải dùng bất cứ công cụ nào chúng ta có thể tìm thấy, dù chúng có thể không đặc biệt có năng lực và rất có thể tạm thời làm hỏng kế hoạch của chúng ta bởi sự bất tài và những yếu đuối nhân loại của chúng.

“As for the question of whether or not you merited to be in such a high position in that life, it was not so much due to merit as to your own character and your capacity to seize opportunities. Another might have missed them or failed in action and been defeated. All men have opportunities for power and position at some time; but what they seldom realize is the responsibility entailed and what the Karma of failure will be. If they did they would often hesitate and not be led by vanity into positions for which they are not morally fitted.

“Còn về câu hỏi liệu con có xứng đáng ở vị trí cao như thế trong đời sống ấy hay không, điều đó không hẳn do công trạng mà do chính tính cách của con và khả năng nắm bắt cơ hội của con. Người khác có thể đã bỏ lỡ chúng hoặc thất bại trong hành động và bị đánh bại. Mọi người đều có cơ hội đạt quyền lực và địa vị vào lúc nào đó; nhưng điều họ hiếm khi nhận ra là trách nhiệm kéo theo và nghiệp quả của sự thất bại sẽ là gì. Nếu họ nhận ra, họ thường sẽ do dự và không bị lòng hư vinh dẫn vào những vị trí mà về mặt đạo đức họ không thích hợp.

“It happened that at the particular period of Egyptian history in which you lived it was essential that the central authority should be at all costs maintained. Egypt was destined to be for centuries to come a focus through which culture, poetry and art—those moulding forces of civilization—could be poured. Therefore men were needed who could rule and by ruling keep the peace; for without security no arts, and eventually no advanced state of true civilization can hope to flourish. There were no men available who were capable of bridging an interlude between two great rulers destined to carry on the work save you who had thrust your way into a position of authority. True, you were a black magician and had all the faults characteristic of a man with such a past, but at least you had strength and resolve. Do not think that a man who has acquired a strong character, even though it has been developed upon the Left Hand Path, has necessarily failed in his evolution. Strength of purpose remains always an asset, for it has only to be given a right direction instead of a wrong one—in other words to be made creative instead of destructive—to become of great value to us.

“Đã xảy ra rằng trong giai đoạn đặc biệt của lịch sử Ai Cập mà con sống, điều cốt yếu là quyền lực trung ương phải được duy trì bằng mọi giá. Ai Cập được định sẵn trong nhiều thế kỷ sau đó sẽ là một tiêu điểm qua đó văn hóa, thi ca và nghệ thuật—những mãnh lực nhào nặn của nền văn minh—có thể được tuôn đổ. Vì vậy cần những người có thể cai quản và bằng việc cai quản mà giữ được hòa bình; vì không có an ninh thì không nghệ thuật nào, và cuối cùng không trạng thái văn minh chân chính cao cấp nào, có thể hy vọng hưng thịnh. Không có người nào sẵn có có khả năng bắt cầu qua một khoảng chuyển tiếp giữa hai vị đại quân vương được định sẵn tiếp tục công việc, ngoại trừ con, kẻ đã chen đường mình vào một vị trí quyền lực. Đúng, con là một nhà hắc thuật và có mọi khuyết điểm đặc trưng của một người với quá khứ như thế, nhưng ít nhất con có sức mạnh và quyết tâm. Đừng nghĩ rằng một người đã đạt được tính cách mạnh mẽ, dù nó được phát triển trên tả đạo, nhất thiết đã thất bại trong tiến hoá của mình. Sức mạnh của mục đích luôn luôn là một tài sản, vì nó chỉ cần được trao cho một hướng đi đúng thay vì sai—nói cách khác, được làm cho sáng tạo thay vì hủy diệt—thì sẽ trở nên rất có giá trị đối với chúng ta.

“So we used you because you were necessary to us; but at the same time, since we could see that you were at a vital point in your evolution, we hoped to be able to hasten the development of one of those individual units which had hitherto been a danger and a handicap to the race. For all evil people by their bad influence upon their surroundings or through allowing themselves to become tools of the Dark Forces—even if unwittingly—act as a brake upon the general advancement. For that reason we will often take more trouble with a strong and wayward man than with the well-intentioned but weak individuals who, unfortunately, as yet still make up the larger proportion of mankind. The Christ made this very clear in his parable of the ninety-and-nine sheep, but as usual few men have troubled to grasp his implication, still less to apply it.

“Vì vậy chúng ta đã dùng con vì con cần thiết cho chúng ta; nhưng đồng thời, vì chúng ta có thể thấy con đang ở một điểm tiến hoá thiết yếu, chúng ta hy vọng có thể thúc đẩy nhanh sự phát triển của một trong những đơn vị cá nhân mà cho đến lúc ấy vẫn là một mối nguy và một chướng ngại cho nhân loại. Vì mọi người xấu, bằng ảnh hưởng xấu của họ lên môi trường xung quanh hoặc qua việc để mình trở thành công cụ của các Mãnh Lực Bóng Tối—dù là vô tình—đều hành động như một cái phanh đối với sự tiến bộ chung. Vì lý do đó chúng ta thường nhọc công hơn với một người mạnh mẽ nhưng ngỗ nghịch hơn là với những cá nhân có thiện ý nhưng yếu đuối, những người mà đáng tiếc thay hiện vẫn còn chiếm phần lớn hơn trong nhân loại. Đức Christ đã làm điều này rất rõ trong dụ ngôn chín mươi chín con chiên, nhưng như thường lệ ít người chịu khó nắm bắt hàm ý của Ngài, càng ít hơn nữa là áp dụng nó.

“Do not think, however, that even so you would ever have been allowed that close contact with the Secret Ruler had you not, in your inmost heart, desired help and enlightenment for higher ends and also made a supreme effort to obtain them. For until there is a fundamental urge towards progress on the part of the man himself we are powerless to give him any personal help or encouragement. Individual free will is an essential aspect of the evolution of humanity. We always try to turn man’s faults and mistakes to the best advantage for everyone concerned but we never proselytize, for we know only too well that until the desire for regeneration is born and springs up like a flame from within, any outward acceptance of our doctrines would only be ephemeral. Again I return to the teaching of Christ: the house built on sand will never withstand the tempest; so we wait until the man is driven to ask us how he may begin to build it upon the rock.”

“Tuy nhiên, đừng nghĩ rằng ngay cả như thế con cũng đã từng được phép có sự tiếp xúc gần gũi ấy với Vị Chúa Tể Bí Mật nếu trong trái tim sâu kín nhất con không mong muốn sự trợ giúp và giác ngộ cho những mục đích cao hơn và cũng không thực hiện một nỗ lực tối thượng để đạt được chúng. Vì cho đến khi có một thúc đẩy căn bản hướng tới tiến bộ từ phía chính con người, chúng ta bất lực không thể trao cho y bất kỳ sự giúp đỡ hay khích lệ cá nhân nào. Tự do ý chí cá nhân là một phương diện thiết yếu của sự tiến hoá của nhân loại. Chúng ta luôn cố gắng biến lỗi lầm và sai sót của con người thành lợi ích tốt nhất cho mọi bên liên quan nhưng chúng ta không bao giờ cải đạo, vì chúng ta biết quá rõ rằng cho đến khi khát vọng tái sinh được sinh ra và bùng lên như ngọn lửa từ bên trong, bất kỳ sự chấp nhận bên ngoài nào đối với giáo lý của chúng ta cũng chỉ là phù du. Một lần nữa ta trở lại với giáo huấn của Đức Christ: ngôi nhà xây trên cát sẽ không bao giờ đứng vững trước bão tố; vì vậy chúng ta chờ cho đến khi con người bị dồn ép phải hỏi chúng ta làm sao y có thể bắt đầu xây nó trên đá.”

“Still,” I interpolated, “Pharaoh’s motives were so unworthy, he only made the effort towards self-betterment out of fear and under the compulsion of choosing the lesser of what appeared to be two evils.”

“Nhưng,” tôi chen vào, “động cơ của Pharaoh quá không xứng đáng, ông ta chỉ nỗ lực tự cải thiện vì sợ hãi và dưới sự cưỡng bách phải chọn điều ít xấu hơn trong hai điều dường như đều xấu.”

“Do not be in such a hurry to condemn him,” he replied with a smile. “Every act and motive must be judged by the circumstances conditioning it. Fear, self-preservation and the like, are some of nature’s most successful methods of making primitive or backward men bestir themselves and seek better things. Remember, everything is relative and in those very early stages motives do not matter—desire is enough. So if ever men come to you in fear—of what, matters little—rejoice, as we, the Guardians of the Race, rejoice when we hear the cry of despair uttered by a soul in travail. For fear presupposes sense of lack; and again and again in the lives of every man there come moments when all things fail him and recognizing his lack he recognizes also that he is incapable of remedying it. It is just these moments which so often prove to be turning-points of his evolution. Therefore give all you can to such an one. Do not dare to condemn or to judge him.

“Đừng quá vội lên án ông ta,” Ngài đáp với một nụ cười. “Mọi hành động và động cơ đều phải được phán xét theo những hoàn cảnh tác động lên nó. Sợ hãi, tự bảo tồn và những điều tương tự là một số phương pháp thành công nhất của bản chất để khiến những người nguyên thủy hoặc lạc hậu phải cựa mình và tìm kiếm những điều tốt đẹp hơn. Hãy nhớ rằng mọi sự đều tương đối và trong những giai đoạn rất sớm ấy động cơ không quan trọng—ham muốn là đủ. Vì vậy nếu có khi nào con người đến với con trong sợ hãi—sợ điều gì, điều đó ít quan trọng—hãy hoan hỉ, như chúng ta, những Đấng Hộ Trì của Nhân Loại, hoan hỉ khi nghe tiếng kêu tuyệt vọng thốt ra bởi một linh hồn đang quằn quại. Vì sợ hãi giả định có ý thức về sự thiếu hụt; và hết lần này đến lần khác trong đời mỗi người đều có những khoảnh khắc khi mọi sự đều thất bại đối với y và khi nhận ra sự thiếu hụt của mình, y cũng nhận ra rằng mình không có khả năng khắc phục nó. Chính những khoảnh khắc ấy thường tỏ ra là những bước ngoặt của sự tiến hoá của y. Vì vậy hãy cho một người như thế tất cả những gì con có thể. Đừng dám lên án hay phán xét y.

“Only we who can read the heart can judge whether a man is ready to receive enlightenment. But be very sure that if the cry is prolonged enough, determined enough, sincere enough, it will be answered. Even as in Egypt when your cry went out, when, in your burning desire you used a Word which might have shattered you to pieces, you were not condemned, you were rather received with joy and your feet set upon the Path.”

“Chỉ chúng ta, những vị có thể đọc được trái tim, mới có thể phán xét liệu một người đã sẵn sàng nhận lấy giác ngộ hay chưa. Nhưng hãy hoàn toàn chắc chắn rằng nếu tiếng kêu đủ kéo dài, đủ quyết tâm, đủ chân thành, nó sẽ được đáp lại. Cũng như ở Ai Cập khi tiếng kêu của con phát ra, khi trong khát vọng cháy bỏng của mình con đã dùng một Linh từ có thể đã làm con tan thành từng mảnh, con đã không bị lên án, trái lại được đón nhận với niềm hoan hỉ và đôi chân con được đặt lên Con Đường.”

“But I sense they did not stay on it long,” I said bitterly, “what happened to Pharaoh in the end? Did he do his duty and bring peace to Egypt?”

“Nhưng tôi cảm thấy chúng đã không ở trên đó lâu,” tôi cay đắng nói, “cuối cùng Pharaoh đã ra sao? Ông ta có làm tròn bổn phận và đem hòa bình đến cho Ai Cập không?”

“He did, and thereafter died—insane.”

“Có, và sau đó ông ta chết—trong điên loạn.”

I shuddered. “So he didn’t escape, after all?”

Tôi rùng mình. “Vậy rốt cuộc ông ta vẫn không thoát được sao?”

“How could he? A man does not change in the twinkling of an eye and become a saint in a day. These sudden conversions one hears of are in reality but the culminating point of long lives of inward struggle and slow growth. None of nature’s processes are rapid—judged by man’s standard of time. How could such a man as you then were, with bodies attuned to the note of the forces of destruction, atoms poisoned and weakened by centuries of evil thinking, hope to combat for long the results of your own foolishness? Pharaoh learned a great deal through that failure, and that is all that ultimately matters.”

“Làm sao ông ta có thể thoát? Một người không thay đổi trong chớp mắt và trở thành thánh nhân trong một ngày. Những sự cải đạo đột ngột mà người ta nghe nói đến thật ra chỉ là điểm đỉnh của những đời sống dài đấu tranh nội tâm và tăng trưởng chậm chạp. Không tiến trình nào của bản chất là nhanh—nếu xét theo tiêu chuẩn thời gian của con người. Làm sao một người như con khi ấy, với các thể được điều chỉnh theo âm điệu của những mãnh lực hủy diệt, các nguyên tử bị đầu độc và suy yếu bởi hàng thế kỷ suy nghĩ xấu ác, lại có thể hy vọng chống lại lâu dài kết quả của chính sự ngu dại của mình? Pharaoh đã học được rất nhiều qua thất bại đó, và đó là tất cả những gì rốt cuộc quan trọng.”

“But if he hadn’t…. That priest used the word annihilation. A terrible word. If all is an aspect of the One Life how could that be possible?”

“Nhưng nếu ông ta đã không…. Vị tư tế ấy đã dùng từ hủy diệt. Một từ khủng khiếp. Nếu mọi sự đều là một phương diện của Sự Sống Duy Nhất thì làm sao điều đó có thể xảy ra?”

“The true Self—the Soul—can never be annihilated in the sense you use the term since, as you truly realize, nothing that possesses the spark of divinity can ever die. But he was clearly not speaking of the Soul.” He sighed. “Whatever one says will almost certainly be open to misinterpretation. But let me put it this way and do not even take this literally for no analogy can express a spiritual truth. Just as in the personality the thread of memory can be broken by illness, old age or other causes, yet the individuality—the true Self—remains unaffected, so can this other thread connecting, by means of a subtler form of memory, life with life, be broken. Or again, just as a polluted stream, impossible to cleanse, can be dammed, yet it still continues to exist although it no longer flows in the old channel. You may find hints here, but no more, for you are touching upon one of the great mysteries, the implications of which are far too deep to express in human terms. But rest assured that this so-called annihilation must happen so rarely, so almost never, that it is hardly worth considering.” He paused, “in one sense, and in one sense only—never. I will say no more.”

“Chân Ngã đích thực—Linh hồn—không bao giờ có thể bị hủy diệt theo nghĩa con dùng từ ấy vì, như con nhận ra rất đúng, không gì sở hữu tia lửa thiên tính lại có thể chết. Nhưng rõ ràng ông ta không nói về Linh hồn.” Ngài thở dài. “Bất cứ điều gì người ta nói gần như chắc chắn đều có thể bị hiểu sai. Nhưng hãy để ta nói theo cách này và thậm chí đừng hiểu theo nghĩa đen, vì không phép loại suy nào có thể diễn tả một chân lý tinh thần. Cũng như trong phàm ngã, sợi dây ký ức có thể bị đứt do bệnh tật, tuổi già hay những nguyên nhân khác, nhưng cá thể tính—Chân Ngã đích thực—vẫn không bị ảnh hưởng, thì sợi dây khác này nối đời sống với đời sống bằng một dạng ký ức vi tế hơn cũng có thể bị đứt. Hoặc nữa, cũng như một dòng suối ô nhiễm, không thể làm sạch, có thể bị chặn lại, nhưng nó vẫn tiếp tục tồn tại dù không còn chảy trong lòng cũ. Con có thể tìm thấy ở đây những gợi ý, nhưng không hơn, vì con đang chạm đến một trong những đại huyền nhiệm, những hàm ý của nó quá sâu xa để diễn tả bằng ngôn ngữ loài người. Nhưng hãy yên tâm rằng sự hủy diệt được gọi như thế này hẳn xảy ra hiếm đến mức, gần như không bao giờ, nên hầu như không đáng để xét đến.” Ngài ngừng lại, “theo một nghĩa, và chỉ theo một nghĩa—không bao giờ. Ta sẽ không nói thêm.”

“And what sort of lives followed?” I asked rather apprehensively.

“Và những đời sống tiếp theo là loại nào?” tôi hỏi, khá lo lắng.

“For the most part they were spent in enforced and grudging service to others, as peasants and as slaves, humble and unspectacular. As you had deliberately undertaken to make the attempt to deal with your past, you had to incorporate a great number of the debased atoms related to it into each of your physical bodies; these made you delicate and unhealthy and prevented you from any intense effort until you had succeeded in transmuting a certain proportion of them.

“Phần lớn chúng được trải qua trong sự phụng sự cưỡng bách và miễn cưỡng cho người khác, như nông dân và như nô lệ, khiêm nhường và không có gì nổi bật. Vì con đã cố ý đảm nhận việc thử đề cập đến quá khứ của mình, nên con đã phải kết hợp vào mỗi thể xác của mình một số lượng lớn các nguyên tử sa đọa liên hệ với nó; những nguyên tử này làm con mảnh mai và yếu bệnh, ngăn cản con khỏi mọi nỗ lực mãnh liệt cho đến khi con thành công trong việc chuyển hoá một tỷ lệ nhất định của chúng.

“But at last you were again strong enough to attempt to combat once more that greatest impediment to your progress—the Demon of Power; in other words, the destructive element which any opportunity for power instantly stimulated within you. You were therefore reborn in an environment which would present you with every opportunity to learn the particular lessons you needed. You shall see and judge for yourself what you made of them.”

“Nhưng cuối cùng con lại đủ mạnh để thử một lần nữa chiến đấu với chướng ngại lớn nhất đối với sự tiến bộ của mình—Con Quỷ của Quyền Lực; nói cách khác, yếu tố hủy diệt mà bất kỳ cơ hội quyền lực nào cũng lập tức kích thích trong con. Vì vậy con được tái sinh trong một môi trường sẽ trao cho con mọi cơ hội để học những bài học riêng mà con cần. Con sẽ thấy và tự phán xét xem con đã làm gì với chúng.”

Leave a Comment

Scroll to Top