CHAPTER III—CHƯƠNG III
PERSIA—BA TƯ
|
It was in small and disconnected scenes that this life which 1 am about to narrate was recalled to me. They did not come through me alone, for one part was seen by another of those who participated with me in those first occult experiences in the bungalow. The rest of the life was revealed—not only, 1 think, because it was probably typical of lives in which once again I was tested by being given a taste of power—but also because my main problem in that incarnation was one with which an increasing number of modern men and women are faced and which has always puzzled and alarmed those who never understand any manifestations of life outside the norm. |
Đời sống mà tôi sắp thuật lại đã được gợi nhớ cho tôi trong những cảnh nhỏ và rời rạc. Chúng không chỉ đến qua riêng tôi, vì một phần đã được thấy bởi một người khác trong số những người cùng tham dự với tôi trong những trải nghiệm huyền bí đầu tiên ấy tại căn bungalow. Phần còn lại của đời sống được mặc khải—tôi nghĩ không chỉ vì có lẽ nó tiêu biểu cho những đời sống mà một lần nữa tôi bị thử thách bằng việc được nếm trải quyền lực—mà còn vì vấn đề chính của tôi trong kiếp ấy là một vấn đề mà ngày càng nhiều những người nam và nữ hiện đại đang phải đối diện và vốn luôn làm bối rối, kinh hoàng những ai không bao giờ hiểu bất kỳ biểu hiện nào của sự sống nằm ngoài chuẩn mực. |
|
The first picture was of myself—a woman—lying upon a divan in a great room. The light was brilliant outside my window; the sea glittered with the transparent blue of jacinth; the sky was white with heat. Someone was weeping by the couch. With a gesture of impatience I turned my head towards the interior of the shadowed chamber and watched two slave-women who, with side-long, terrified glances, were wiping blood from the tessellated pavement. I scorned the girl whose fair head was buried on my knees—yet her I also loved. I stretched out my hand and idly stroked her cheek. |
Bức tranh đầu tiên là về chính tôi—một người đàn bà—đang nằm trên một trường kỷ trong một căn phòng lớn. Ánh sáng ngoài cửa sổ tôi rực rỡ; biển lấp lánh màu lam trong suốt của ngọc jacinth; bầu trời trắng lóa vì nóng. Có ai đó đang khóc bên chiếc trường kỷ. Với một cử chỉ sốt ruột tôi quay đầu về phía bên trong căn phòng tối bóng và nhìn hai nữ nô lệ đang vừa liếc xéo đầy kinh hãi vừa lau máu khỏi nền khảm đá. Tôi khinh bỉ cô gái có mái đầu vàng đang vùi trên đầu gối tôi—nhưng tôi cũng yêu nàng. Tôi duỗi tay ra và lơ đãng vuốt má nàng. |
|
“Why weep, O Ereshem”? I asked “have you never seen a man tortured before?” |
“Tại sao khóc, hỡi Ereshem?” tôi hỏi. “Ngươi chưa từng thấy một người đàn ông bị tra tấn bao giờ sao?” |
|
“Not thus—O, not thus….” moaned Ereshem, and hid her face in my robe as if seeking to press from her eyes the image of that mutilated body. |
“Không phải như thế—ôi, không phải như thế….” Ereshem rên lên, và giấu mặt vào áo tôi như thể muốn ép khỏi mắt mình hình ảnh của thân thể bị cắt xẻ ấy. |
|
“Well,” I said sharply, “let this be a lesson to you. And to you also,” I added to the slave-women who had risen and were slinking to the door. “A thousand times I have sworn I will have none but maidens about me.” I laughed shortly, “I do not think our Manizha will take a man again!” |
“Được thôi,” tôi nói sắc lạnh, “hãy để đây là một bài học cho ngươi. Và cho cả các ngươi nữa,” tôi thêm với hai nữ nô lệ đã đứng dậy và đang lén lút tiến ra cửa. “Một ngàn lần ta đã thề rằng quanh ta sẽ không có ai ngoài các trinh nữ.” Tôi cười khan, “ta không nghĩ Manizha của chúng ta sẽ lại nhận một người đàn ông nữa đâu!” |
|
When they had gone Ereshem sat up and wiped the tears away with the edge of her veil. “I would 1 could understand why you hate all men so,” she murmured. |
Khi họ đã đi khỏi, Ereshem ngồi dậy và lau nước mắt bằng mép khăn che mặt. “Ước gì em có thể hiểu vì sao chị lại căm ghét mọi đàn ông đến thế,” nàng lẩm bẩm. |
|
“Not men alone. O beautiful jewel of my heart; all life and everyone in it is at times such a weariness to me that it is scarce to be borne. I can be happy only when I am with my father—or with thee.” I drew her nearer, caressing her. “Come, little one, let us put the thought of men and their foolishness out of our minds.” |
“Không chỉ riêng đàn ông. Ôi viên ngọc xinh đẹp của lòng ta; mọi sự sống và mọi người trong đó đôi khi đều là một nỗi mệt mỏi đối với ta đến mức hầu như không thể chịu nổi. Ta chỉ có thể hạnh phúc khi ở với cha ta—hoặc với em.” Tôi kéo nàng lại gần hơn, vuốt ve nàng. “Lại đây, bé nhỏ, chúng ta hãy gạt ý nghĩ về đàn ông và sự ngu xuẩn của họ ra khỏi tâm trí.” |
|
But it was not in Ereshem to put the thought of men out of her mind and I knew it well. Therein lay a canker of bitterness, for although she had never loved a man, nothing I could give her satisfied in reality the deepest desires of her nature. I had chosen her to be my favourite and treated her with a mixture of kindness and contempt, passion and cruelty. Now while I continued to caress her my mind beat around her words, angry yet impotent, like a wild beast in a cage. |
Nhưng Ereshem không thể gạt ý nghĩ về đàn ông ra khỏi tâm trí nàng, và tôi biết điều đó rất rõ. Chính trong đó có một vết loét của cay đắng, vì tuy nàng chưa từng yêu một người đàn ông nào, không gì tôi có thể cho nàng thực sự làm thỏa mãn những khát vọng sâu thẳm nhất trong bản chất nàng. Tôi đã chọn nàng làm người được sủng ái nhất và đối xử với nàng bằng một sự pha trộn giữa tử tế và khinh miệt, đam mê và tàn nhẫn. Giờ đây, trong khi tôi vẫn tiếp tục vuốt ve nàng, trí tuệ tôi quẩn quanh những lời nàng nói, giận dữ mà bất lực, như một con thú hoang trong lồng. |
|
Well enough I knew why I hated men; it was based upon a bitter longing for their strength and a more bitter scorn of my own inadequacies. From earliest childhood I had loathed this body in which I found myself imprisoned, nor had I ever succeeded in wholly identifying myself with it. The only child of my father I had always been to him a son rather than a daughter, refusing to admit my feminality. Absolutely fearless I rode to lion hunts in man’s attire and sought as much as possible to behave like a man. I lavished my fiery love upon women, yet kept always at the back of my mind the bitter knowledge that, whatever I did, I could never be other than the sex I scorned. My body mocked me, so that often I would strike at my breasts with savage hands. Soon I began to loathe all men’s bodies because such was not my own. I wrestled and fought with my father’s men for sport, yet was suspicious that they allowed me to overcome them because they were afraid of my revenge—and so was the more bitterly ashamed. In these makeshifts of manhood I sought a remedy for this sense of futility, yet something within me acknowledged them as foolish and vain. But to admit myself a woman, to give myself to a man… The thought revolted me with a contemptuous disgust. |
Tôi biết quá rõ vì sao tôi ghét đàn ông; điều đó bắt nguồn từ một nỗi khao khát cay đắng đối với sức mạnh của họ và một sự khinh bỉ còn cay đắng hơn đối với những thiếu sót của chính mình. Từ thuở ấu thơ sớm nhất, tôi đã ghê tởm thể này, trong đó tôi thấy mình bị giam cầm, và tôi chưa bao giờ hoàn toàn thành công trong việc đồng hoá với nó. Là đứa con duy nhất của cha tôi, đối với ông tôi luôn là một đứa con trai hơn là con gái, vì ông từ chối thừa nhận tính nữ của tôi. Hoàn toàn không biết sợ, tôi cưỡi ngựa đi săn sư tử trong y phục đàn ông và cố cư xử như một người đàn ông càng nhiều càng tốt. Tôi trút tình yêu nồng cháy của mình lên phụ nữ, nhưng luôn giữ ở đáy trí tuệ mình tri thức cay đắng rằng, dù tôi làm gì đi nữa, tôi cũng không bao giờ có thể là gì khác ngoài giới tính mà tôi khinh miệt. Thể xác tôi chế nhạo tôi, đến nỗi nhiều khi tôi đập vào ngực mình bằng những bàn tay hung bạo. Chẳng bao lâu tôi bắt đầu ghê tởm mọi thân thể đàn ông vì thân thể tôi không phải như thế. Tôi vật lộn và đánh nhau với những người đàn ông của cha tôi để mua vui, nhưng lại ngờ rằng họ để tôi thắng họ vì họ sợ sự trả thù của tôi—và vì thế tôi càng xấu hổ cay đắng hơn. Trong những sự thay thế giả tạo cho nam tính này, tôi tìm một phương thuốc cho cảm giác vô ích ấy, nhưng có điều gì đó bên trong tôi thừa nhận chúng là ngu xuẩn và hão huyền. Nhưng để thừa nhận mình là một phụ nữ, để hiến mình cho một người đàn ông… Ý nghĩ ấy làm tôi ghê tởm với một sự khinh bỉ đầy chán ghét. |
|
Wearily at last I thrust Ereshem aside and rising began to pace up and down the perfumed, jewelled chamber. Only by domination over the weak and helpless could I prove to myself my own power, yet ever I remained unsatisfied by that proof. |
Cuối cùng, mệt mỏi, tôi đẩy Ereshem sang một bên và đứng dậy bắt đầu đi đi lại lại trong căn phòng thơm ngát, nạm ngọc. Chỉ bằng sự thống trị đối với kẻ yếu và bất lực tôi mới có thể chứng minh với chính mình quyền năng của mình, nhưng tôi vẫn luôn không thỏa mãn với bằng chứng ấy. |
|
Suddenly the panther chained to the wall yawned loudly. As if goaded by the lazy sound, I seized the whip and like a fury struck the beast again and again, till I had it cowering and whimpering against the wall. |
Đột nhiên con báo bị xích vào tường ngáp lớn. Như thể bị âm thanh lười nhác ấy kích động, tôi chộp lấy roi và như một cơn cuồng nộ quất con thú hết lần này đến lần khác, cho đến khi nó co rúm và rên ư ử sát vào tường. |
|
At that moment voices sounded without: “Sanai! Sanai! Sanai Fayiz!” The curtains were drawn aside and my father entered the room. |
Đúng lúc ấy có tiếng gọi bên ngoài: “Sanai! Sanai! Sanai Fayiz!” Rèm được vén sang một bên và cha tôi bước vào phòng. |
|
I lowered the whip and turned about to face him with a gesture in which shame and defiance were mingled. |
Tôi hạ roi xuống và quay lại đối diện ông với một cử chỉ pha lẫn xấu hổ và thách thức. |
|
He was the one person on earth who had the power to soften me; for he alone appeared to understand my dark moods and could read the bitterness of frustration which goaded me to most of the evil which I did. As for me, I loved him as much as my nature permitted. He alone could give me the peace and beauty which I sought but could so seldom find. Seated with him in the rose gardens, reading from some painted, jewelled book, discussing some abstruse point of theology, listening to the voice of instruments, the sweet singing of slave girls, I could forget all my sorrows and frustrations and oblivious at last of sex reach a state which touched on perfect happiness. For he was a wise and gentle man. He had for a few weeks in his youth met the great sage Zarathustra and from that time, instead of furthering his position as a minor official at court, had, in the search after truth, retired into a world of metaphysical adventures in which I was only too eager to join him. We lived retired upon a small estate; and I was content, save when the wild moods of restlessness or ambition seized upon me, then I would weep tears of rage and helplessness in the realization that my wretched body prevented me from accomplishing all the feats of glory I longed passionately to undertake. |
Ông là người duy nhất trên trần gian có quyền năng làm tôi dịu lại; vì chỉ riêng ông dường như hiểu được những tâm trạng đen tối của tôi và có thể đọc được nỗi cay đắng của sự thất vọng đã thúc đẩy tôi đến phần lớn điều ác tôi đã làm. Còn về phần tôi, tôi yêu ông nhiều nhất mức bản chất tôi cho phép. Chỉ riêng ông có thể cho tôi sự bình an và vẻ đẹp mà tôi tìm kiếm nhưng hiếm khi tìm thấy. Ngồi với ông trong những vườn hồng, đọc từ một cuốn sách vẽ màu nạm ngọc nào đó, bàn luận một điểm thần học sâu kín nào đó, lắng nghe tiếng nhạc cụ, tiếng hát ngọt ngào của các nữ nô lệ, tôi có thể quên mọi nỗi buồn và thất vọng của mình, và cuối cùng, quên cả giới tính, đạt đến một trạng thái gần như hạnh phúc hoàn hảo. Vì ông là một người đàn ông hiền triết và dịu dàng. Trong vài tuần thời niên thiếu, ông đã gặp vị đại hiền triết Zarathustra, và từ đó, thay vì thăng tiến địa vị của mình như một viên chức nhỏ nơi triều đình, ông đã lui vào một thế giới những cuộc phiêu lưu siêu hình trong cuộc tìm kiếm chân lý, một thế giới mà tôi quá đỗi háo hức được cùng ông bước vào. Chúng tôi sống ẩn dật trên một điền trang nhỏ; và tôi mãn nguyện, trừ khi những cơn bồn chồn hay tham vọng hoang dại chụp lấy tôi, khi ấy tôi khóc những giọt nước mắt giận dữ và bất lực trong sự chứng nghiệm rằng thể xác khốn khổ của tôi ngăn cản tôi hoàn thành mọi chiến công vinh quang mà tôi tha thiết khao khát thực hiện. |
|
Now he stood in the doorway, gazing upon me, stroking his long beard, his eyes full of sorrow. |
Giờ đây ông đứng nơi ngưỡng cửa, nhìn tôi, vuốt chòm râu dài, mắt đầy buồn bã. |
|
“What is this I hear, O my daughter? Is it possible that you have had a slave tortured in your presence?” |
“Cha nghe chuyện gì thế này, hỡi con gái của cha? Có thể nào con đã để một nô lệ bị tra tấn trước mặt mình sao?” |
|
“He was found with Manizha; I gave him the only fitting punishment.” |
“Hắn bị bắt gặp với Manizha; con đã cho hắn hình phạt duy nhất thích đáng.” |
|
He dismissed my women and seated himself upon the divan beside me. |
Ông cho các nữ hầu lui ra và ngồi xuống trường kỷ bên cạnh tôi. |
|
“And what right, have you, O Cihrazad, to take this horrible vengeance because a man and woman act in harmony with the divine will and give love to each other? Sometimes it seems to me as if Ahriman and his servitors have taken possession of you. Do not forget that each time you allow them sway over your acts, you weigh the balances against your soul. Man has free will and is his own judge. Would you go down for ever to a burning hell? As for this poor beast,” and he pointed to the bleeding panther, “beware lest Geush Urvan, the protector of beasts, punish you for this; some day a beast may tear your body, child.” He sighed deeply: “Why do you so fill your life with hatred instead of love?” |
“Và con có quyền gì, hỡi Cihrazad, để báo thù khủng khiếp như thế chỉ vì một người nam và một người nữ hành động hài hòa với ý chí thiêng liêng và trao tình yêu cho nhau? Đôi khi cha thấy như thể Ahriman và bọn tay sai của hắn đã chiếm hữu con. Đừng quên rằng mỗi lần con để chúng chi phối hành động của mình, con làm nghiêng cán cân chống lại linh hồn mình. Con người có ý chí tự do và là quan tòa của chính mình. Con có muốn đi xuống một địa ngục cháy bỏng mãi mãi không? Còn con thú tội nghiệp này,” và ông chỉ con báo đang chảy máu, “hãy coi chừng kẻo Geush Urvan, đấng bảo hộ loài thú, trừng phạt con vì việc này; một ngày nào đó một con thú có thể xé nát thân thể con, con ạ.” Ông thở dài sâu xa: “Vì sao con lại chất đầy đời mình bằng hận thù thay vì tình yêu?” |
|
I made an impatient movement. “I will be master in my own house: men, women, and beasts shall obey me.” |
Tôi cử động thiếu kiên nhẫn. “Con sẽ là chủ trong chính nhà mình: đàn ông, đàn bà và thú vật sẽ phải vâng lời con.” |
|
“Whilst you have power they may, but the day will perhaps come when you lose that power—what then?” |
“Chừng nào con còn quyền lực thì có thể, nhưng có lẽ ngày sẽ đến khi con mất quyền lực ấy—rồi sao?” |
|
I laughed aloud. “I have no fear,” I said, “power lies within, I shall never lose it!” I walked up to the panther; the beast made as if to spring at me, but fearlessly I bent over it, drew my hand across its head and spoke deep words. It shivered and crouched at my feet; with a scornful gesture I walked back to the couch. |
Tôi cười lớn. “Con không sợ,” tôi nói, “quyền lực nằm ở bên trong, con sẽ không bao giờ mất nó!” Tôi bước đến chỗ con báo; con thú làm như muốn vồ lấy tôi, nhưng không hề sợ hãi tôi cúi xuống nó, vuốt tay qua đầu nó và nói những lời trầm sâu. Nó run lên và rạp xuống dưới chân tôi; với một cử chỉ khinh miệt tôi quay lại ghế dài. |
|
“You see? I have no whip but it licks my feet”—I struck my breast—“I hold its spirit here!” |
“Cha thấy không? Con không có roi mà nó vẫn liếm chân con”—tôi đập vào ngực mình—“con nắm giữ tinh thần của nó ở đây!” |
|
I looked down at my father’s sad face, and instantly compunction overcame me sweeping my evil mood away. I flung myself beside him, putting my arms about him. |
Tôi nhìn xuống gương mặt buồn bã của cha tôi, và tức thì sự hối hận tràn ngập tôi, cuốn phăng tâm trạng xấu xa của tôi đi. Tôi lao mình xuống bên ông, vòng tay ôm lấy ông. |
|
“You have come to me; I am happy. Let us talk here and forget the whole world, foolish men, women and beasts. I care in truth nothing for them. Teach me your wisdom. O my father, thus only can the Jinns be driven from my heart and I be at peace.” |
“Cha đã đến với con; con hạnh phúc. Chúng ta hãy nói chuyện ở đây và quên cả thế gian, những người đàn ông, đàn bà và thú vật ngu xuẩn. Thật ra con chẳng quan tâm gì đến họ. Hãy dạy con minh triết của cha. Ôi cha của con, chỉ như thế các Jinns mới có thể bị xua khỏi tim con và con mới được bình an.” |
|
He sighed. “Of what avail to pour into your ears the glories of Ahuro Mazdao when you profit nothing by His enlightenment?” |
Ông thở dài. “Đổ vào tai con những vinh quang của Ahuro Mazdao thì có ích gì khi con chẳng thu được gì từ sự soi sáng của Ngài?” |
|
“Perhaps one day I may; only talk to me—it is enough!” |
“Có lẽ một ngày nào đó con sẽ thu được; chỉ cần nói với con—thế là đủ!” |
|
But instead of reading from the poets, or discussing subtle aspects of the Holy Fire, he presently opened his heart to me and revealed that he was troubled because his peace was about to be disturbed. Two famous chieftains had sent a messenger asking for hospitality for themselves and their troops. They were of some importance at Court and could not be refused. |
Nhưng thay vì đọc thơ, hay bàn luận những phương diện tinh tế của Thánh Hỏa, chẳng bao lâu ông mở lòng với tôi và tiết lộ rằng ông đang phiền muộn vì sự bình an của ông sắp bị quấy nhiễu. Hai thủ lĩnh nổi tiếng đã sai sứ giả đến xin lòng hiếu khách cho họ và quân lính của họ. Họ có chút thế lực nơi triều đình và không thể bị từ chối. |
|
It meant change, excitement, a breath from the outside world; my heart leapt. Then I remembered I was but a woman. Upon the thought came the determination to disguise myself, pose as my father’s son and take part in the festivities. Nor could he dissuade me. And so it was arranged. |
Điều đó có nghĩa là thay đổi, kích động, một luồng gió từ thế giới bên ngoài; tim tôi nhảy lên. Rồi tôi nhớ ra mình chỉ là một phụ nữ. Cùng với ý nghĩ ấy đến quyết tâm cải trang, đóng vai con trai của cha tôi và tham gia các cuộc vui. Ông cũng không thể can ngăn tôi. Và thế là mọi việc được sắp đặt. |
|
It was told of Azuri-bin-Zangi and Burandek that they were bound to each other by strong ties of affection as well as of blood; they were wealthy and had a great following; it was very necessary to stand well with them, for their enmity could be dangerous. |
Người ta kể về Azuri-bin-Zangi và Burandek rằng họ gắn bó với nhau bằng những mối dây tình cảm mạnh mẽ cũng như huyết thống; họ giàu có và có đông người theo; rất cần phải giữ quan hệ tốt với họ, vì sự thù địch của họ có thể nguy hiểm. |
|
So there were feasts in their honour and great hunts were organized, while I, disguised as a boy, joined in the days and nights of rejoicing. One night I gave a banquet in my apartments and so elated was I that I forced Ere- shem to wait upon us, caressing her and praising her beauty and her arts in love. It was only later that I remembered that the eyes of Burandek and Ereshem were ever seeking each other and that in those days the girl’s moods were strange. |
Vì thế có những yến tiệc để tôn vinh họ và những cuộc săn lớn được tổ chức, còn tôi, cải trang thành một thiếu niên, tham gia vào những ngày đêm hoan lạc. Một đêm nọ tôi mở tiệc trong khu phòng của mình và quá đỗi hân hoan đến nỗi tôi bắt Ereshem hầu hạ chúng tôi, vuốt ve nàng và ca ngợi vẻ đẹp cùng nghệ thuật yêu đương của nàng. Chỉ về sau tôi mới nhớ rằng mắt Burandek và Ereshem luôn tìm đến nhau và rằng trong những ngày ấy tâm trạng cô gái thật lạ lùng. |
|
But at the time I did not trouble about her, for my own mind was occupied with others things. A friendship had ripened between Azuri and myself. Together we rode to hunt the lion and the gazelle, each sought to outstrip the other and we returned in peace together, well content. When they made their farewells Azuri gave me a pink pearl strangely shaped, as an amulet to wear in remembrance of him and I gave him a heavy bracelet of wrought silver set with turquoise and rubies. |
Nhưng lúc đó tôi không bận tâm về nàng, vì trí tuệ tôi đang bị chiếm giữ bởi những điều khác. Một tình bạn đã chín muồi giữa Azuri và tôi. Chúng tôi cùng cưỡi ngựa đi săn sư tử và linh dương, mỗi người đều tìm cách vượt hơn người kia, và chúng tôi cùng trở về trong bình yên, rất mãn nguyện. Khi họ từ biệt, Azuri tặng tôi một viên ngọc trai hồng có hình dạng kỳ lạ, như một bùa hộ mệnh để đeo mà nhớ đến ông, còn tôi tặng ông một vòng tay bạc chạm nặng nạm lam ngọc và hồng ngọc. |
|
All the day after their departure I spent alone by the seashore. I swam far out, delighting in the fierce movement of my body through the waves; yet I was restless and bitterly unhappy. I had for a few weeks tasted the life of men—it was this only I desired; even my father’s wisdom meant little to me now. That evening in a fever of agitation I called for Ereshem to comfort me, but the girl was nowhere to be found. |
Suốt ngày sau khi họ rời đi, tôi ở một mình bên bờ biển. Tôi bơi ra rất xa, thích thú với chuyển động mãnh liệt của thân thể mình xuyên qua sóng; nhưng tôi bồn chồn và cay đắng bất hạnh. Trong vài tuần tôi đã nếm trải đời sống của đàn ông—chỉ điều ấy là điều tôi mong muốn; ngay cả minh triết của cha tôi giờ đây cũng chẳng còn ý nghĩa bao nhiêu đối với tôi. Tối hôm ấy, trong cơn sốt kích động, tôi gọi Ereshem đến an ủi tôi, nhưng không ai tìm thấy cô gái ở đâu cả. |
|
Three days later I heard a rumour that a veiled woman had been seen riding with the party of Burandek; then I realized that Ereshem had deserted me for the sake of a man. |
Ba ngày sau tôi nghe một tin đồn rằng người ta đã thấy một phụ nữ che mặt cưỡi ngựa cùng đoàn của Burandek; khi ấy tôi nhận ra rằng Ereshem đã bỏ tôi vì một người đàn ông. |
|
A fury of rage seized upon me. I seemed, indeed, as if possessed by all the hosts of Ahriman. Even my father could do nothing. For a week I revelled in an orgy of licence and cruelty so terrible that the fame of it swept through the land. Torn with pangs of jealousy and shame, no woman, beast or man about me but tasted my vengeance, but at last my fiery wrath was replaced by an icy calm, more evil and dangerous. |
Một cơn cuồng nộ giận dữ chụp lấy tôi. Quả thật tôi như bị tất cả đạo quân của Ahriman nhập vào. Ngay cả cha tôi cũng không thể làm gì. Suốt một tuần tôi đắm mình trong một cơn cuồng loạn phóng túng và tàn ác khủng khiếp đến nỗi tiếng tăm về nó lan khắp xứ. Bị xé nát bởi những cơn đau của ghen tuông và xấu hổ, không người đàn bà, thú vật hay đàn ông nào quanh tôi mà không nếm sự báo thù của tôi, nhưng cuối cùng cơn thịnh nộ rực lửa ấy được thay bằng một sự bình tĩnh băng giá, còn ác độc và nguy hiểm hơn. |
|
I made plans, forgetful of everything save my lust for vengeance. I gathered together a band of desperate men and clad in armour, set out after the fugitive. |
Tôi lập kế hoạch, quên hết mọi thứ ngoài cơn khát báo thù. Tôi tập hợp một toán đàn ông liều mạng và mặc giáp trụ, lên đường truy đuổi kẻ đào tẩu. |
|
Of the adventures that befell me I cannot speak, but I must, at that time, have been endowed with almost superhuman power and cunning; perhaps, as my father had said, I was indeed possessed by evil spirits who lent me their aid and drove me on. Suffice it to say that, having traced Burandek to the city where he dwelt and having waited patiently until I heard that he had absented himself for a while, I obtained access to the women’s quarters and one night found myself gazing down upon the sleeping form of Ereshem. |
Về những cuộc phiêu lưu xảy đến với tôi, tôi không thể nói, nhưng lúc ấy hẳn tôi đã được phú cho một quyền năng và sự xảo quyệt gần như siêu nhân; có lẽ, như cha tôi đã nói, quả thật tôi bị các tà linh chiếm hữu, chúng cho tôi sự trợ giúp và thúc đẩy tôi tiến lên. Chỉ cần nói rằng, sau khi lần ra Burandek đến thành phố nơi ông cư ngụ và kiên nhẫn chờ đến khi tôi nghe rằng ông đã vắng mặt một thời gian, tôi đã tìm được đường vào khu phòng phụ nữ và một đêm nọ thấy mình đang cúi nhìn hình thể đang ngủ của Ereshem. |
|
I drew my dagger to strike, then paused; for to kill her thus seemed far too easy a punishment; Ereshem must see death approaching by the hands she had caressed and betrayed. |
Tôi rút dao găm ra để đâm, rồi dừng lại; vì giết nàng như thế dường như là một hình phạt quá dễ dàng; Ereshem phải thấy cái chết đang đến gần bởi chính đôi tay nàng đã vuốt ve và phản bội. |
|
I leant over her, pressing my hand over her mouth. Her eyes opened and, wide with horror, gazed into mine. The dagger flashed, but ere it descended, strong arms seized me; it was wrenched from my grip and I found myself struggling in the enraged grasp of Burandek himself who had returned, unknown to my spies. |
Tôi cúi xuống nàng, lấy tay bịt miệng nàng. Mắt nàng mở ra và, mở lớn vì kinh hoàng, nhìn vào mắt tôi. Dao găm lóe lên, nhưng trước khi hạ xuống, những cánh tay mạnh mẽ đã chộp lấy tôi; nó bị giật khỏi tay tôi và tôi thấy mình đang vùng vẫy trong vòng siết giận dữ của chính Burandek, người đã trở về mà bọn do thám của tôi không hề hay biết. |
|
The rest of that night, bleeding from my struggle, bound hand and foot, I lay in the little chamber beyond the one in which the lovers rejoiced anew in each other, stirred to fresh ecstasy by the recent escape from death. In agony and shame, in terror of what was to come, I lay there. The following morning, half naked between two mighty eunuchs, I was dragged into another apartment wherein sat Burandek with Azuri-bin-Zangi beside him. |
Phần còn lại của đêm ấy, chảy máu vì cuộc vật lộn, bị trói tay chân, tôi nằm trong căn phòng nhỏ bên ngoài căn phòng nơi đôi tình nhân lại vui hưởng nhau một lần nữa, bị kích động đến cơn xuất thần mới bởi cuộc thoát chết vừa rồi. Trong đau đớn và xấu hổ, trong kinh hãi về điều sắp đến, tôi nằm đó. Sáng hôm sau, nửa trần truồng giữa hai hoạn quan lực lưỡng, tôi bị lôi vào một gian phòng khác, nơi Burandek ngồi với Azuri-bin-Zangi bên cạnh. |
|
At sight of these two men the cup of my shame was filled, yet I held my head high. Azuri’s anger, however, was terrible, for he felt himself to have been deceived and mocked by the trick I had played upon him. His eyes were like flames and his lips cruel as whips as he arose and approached me. With one hand he tore the pink pearl from my throat and cast it upon the floor. It fell at Burandek’s feet; he picked it up. |
Vừa thấy hai người đàn ông ấy, chén nhục nhã của tôi đầy tràn, nhưng tôi vẫn ngẩng cao đầu. Tuy nhiên cơn giận của Azuri thật khủng khiếp, vì ông cảm thấy mình đã bị lừa dối và chế nhạo bởi trò lừa tôi đã bày ra với ông. Mắt ông như lửa và môi ông tàn nhẫn như roi khi ông đứng dậy và tiến đến gần tôi. Bằng một tay ông giật viên ngọc trai hồng khỏi cổ tôi và ném xuống sàn. Nó rơi dưới chân Burandek; ông nhặt lên. |
|
“It is damaged,” he said quietly. |
“Nó đã bị hư hại,” ông nói bình thản. |
|
“Worthless, like the woman,” replied Azuri. |
“Vô giá trị, như người đàn bà ấy,” Azuri đáp. |
|
Burandek looked at me with a certain pity. |
Burandek nhìn tôi với một chút thương hại. |
|
“She did what she did for love,” he remarked, “she has harmed no one but herself.” |
“Nàng đã làm điều mình làm vì tình yêu,” ông nhận xét, “nàng chẳng làm hại ai ngoài chính mình.” |
|
Azuri turned away with a scornful movement of his shoulders, but as he did so, his gaze swept over me. The expression in his eyes changed. The hot blood stained my cheek. I was suddenly aware of a danger more subtle than death. I spat out a string of curses at him. |
Azuri quay đi với một cử động khinh miệt của vai, nhưng khi làm vậy, ánh mắt ông lướt qua tôi. Biểu hiện trong mắt ông thay đổi. Má tôi nóng bừng. Tôi đột nhiên ý thức được một mối nguy tinh vi hơn cái chết. Tôi phun ra một tràng nguyền rủa vào ông. |
|
Burandek, watching us, smiled. “What shall I do with her?” he asked, “I do not want her in my house.” |
Burandek nhìn chúng tôi và mỉm cười. “Ta phải làm gì với nàng đây?” ông hỏi, “ta không muốn nàng trong nhà ta.” |
|
“What has that to do with me? Sell her—she should fetch a good price.” |
“Điều đó liên quan gì đến ta? Bán nàng đi—nàng hẳn sẽ được giá.” |
|
Burandek laughed and crossing to where I stood, tore aside my garments. |
Burandek cười và bước đến chỗ tôi đứng, xé toạc y phục tôi. |
|
“She is young, beautiful—and a virgin, my brother,” he remarked gently, “will you not take her as a gift from me?” |
“Nàng trẻ, đẹp—và còn trinh, Huynh đệ của Tôi,” ông dịu dàng nhận xét, “huynh không nhận nàng như một món quà từ tôi sao?” |
|
Azuri stared at me and laughed shortly. “That is true,” he said, “she should breed fine sons.” He turned to the eunuchs: “Have her veiled and taken to my apartments. If she does not behave reasonably she shall be given as slave to Nahid, my wife; until then—we shall see.” |
Azuri nhìn chằm chằm tôi rồi cười ngắn. “Đúng thế,” ông nói, “nàng hẳn sẽ sinh ra những đứa con trai tốt.” Ông quay sang bọn hoạn quan: “Hãy che mặt nàng lại và đưa nàng đến khu phòng của ta. Nếu nàng không cư xử phải lẽ, nàng sẽ bị giao làm nô lệ cho Nahid, vợ ta; còn cho đến lúc đó—rồi sẽ xem.” |
|
That night Azuri came to the room where I lay bound upon the bed; for twice I had attempted to put an end to my life, so terrible was my despair. Now I spat upon him as I lay there naked and helpless under his eyes and hurled at him every evil curse I knew. |
Đêm ấy Azuri đến căn phòng nơi tôi bị trói trên giường; vì tôi đã hai lần tìm cách kết liễu đời mình, tuyệt vọng của tôi khủng khiếp đến thế. Giờ đây tôi nhổ vào ông khi nằm đó trần truồng và bất lực dưới mắt ông, và ném vào ông mọi lời nguyền rủa độc địa tôi biết. |
|
He unbound me. “Arise,” he said “and tell me why you hate men and love women, O Cihrazad, who are yourself so fair and desirable a woman?” |
Ông cởi trói cho tôi. “Đứng dậy,” ông nói, “và nói cho ta biết vì sao nàng ghét đàn ông và yêu phụ nữ, hỡi Cihrazad, bản thân nàng lại là một người đàn bà đẹp đẽ và đáng khao khát đến thế?” |
|
Then he stooped suddenly and caught me, kissing me upon the lips; but my nails tore upon his chest and my teeth met in his cheek. Up and down the room we fought, carpets were torn from the walls, furniture upset. Not for nothing had I learned to wrestle with my father’s men. My resistance aroused in him a burning flame. But gradually my strength weakened and I who had dominated men and women and beasts knew myself at last as nothing in the hands of a man. Tears of fatigue and shame ran down my cheeks; I was racked by helpless sobs. All the sorrow and ignominy of all the weak things in the world seemed articulate within my weary body as he bore me down at last upon the bed. |
Rồi ông đột ngột cúi xuống và chộp lấy tôi, hôn lên môi tôi; nhưng móng tay tôi cào rách ngực ông và răng tôi cắm vào má ông. Chúng tôi đánh nhau khắp căn phòng, thảm bị giật khỏi tường, đồ đạc bị xô đổ. Không phải vô cớ mà tôi đã học vật lộn với những người đàn ông của cha tôi. Sự kháng cự của tôi khơi dậy trong ông một ngọn lửa bừng cháy. Nhưng dần dần sức lực tôi suy yếu và tôi, kẻ đã thống trị đàn ông, đàn bà và thú vật, cuối cùng biết mình chẳng là gì trong tay một người đàn ông. Nước mắt mệt mỏi và xấu hổ chảy xuống má tôi; những tiếng nức nở bất lực xé nát tôi. Mọi nỗi buồn và nhục nhã của tất cả những sinh vật yếu đuối trên thế gian dường như cất tiếng trong thân thể mệt lả của tôi khi cuối cùng ông đè tôi xuống giường. |
|
The years that followed are blurred and fragmentary; they consist in the memory of emotions rather than of events, for I always lived in a world of passionate desires. |
Những năm tiếp theo mờ nhòe và rời rạc; chúng gồm những ký ức về cảm xúc hơn là về sự kiện, vì tôi luôn sống trong một thế giới của những ham muốn mãnh liệt. |
|
There was the moment, for instance, when I first realized that I was with child. I felt as if my body had turned traitor to me. To be the plaything of a man I hated was bad enough—but this! I gazed at my body in fascinated disgust, this body I loved, slim, strong, masculine, and felt that there was indeed now nothing left but death. I set my thin lips and swore that I would bear no child to any man. The child was born prematurely—dead. |
Chẳng hạn, có khoảnh khắc khi tôi lần đầu nhận ra mình có thai. Tôi cảm thấy như thể thân thể mình đã phản bội tôi. Là món đồ chơi của một người đàn ông tôi ghét đã đủ tệ—nhưng thế này nữa! Tôi nhìn thân thể mình với một sự ghê tởm bị mê hoặc, thân thể này tôi từng yêu, mảnh mai, mạnh mẽ, nam tính, và cảm thấy rằng quả thật giờ đây chẳng còn gì ngoài cái chết. Tôi mím đôi môi mỏng và thề rằng tôi sẽ không sinh con cho bất cứ người đàn ông nào. Đứa trẻ sinh non—đã chết. |
|
When Azuri knew what I had done I was confronted with a rage more terrible than I had imagined possible. |
Khi Azuri biết điều tôi đã làm, tôi phải đối diện với một cơn thịnh nộ còn khủng khiếp hơn tôi từng tưởng tượng là có thể. |
|
“Henceforth,” he told me, “you shall be the slave of Nahid—perhaps that will teach you a woman’s duties.” |
“Từ nay trở đi,” ông bảo tôi, “nàng sẽ là nô lệ của Nahid—có lẽ điều đó sẽ dạy nàng những bổn phận của một người đàn bà.” |
|
Now Nahid and I had hated each other before we met. |
Nahid và tôi đã ghét nhau trước cả khi gặp mặt. |
|
I learned later that she had been afraid of being supplanted by me, who was so strange a woman, different from any of those whom her Lord had loved and that through her magical arts she had sought to destroy me. She had studied necromancy long, always having astrologers and magicians by her side to instruct her. Now she was satisfied. She ruled her women with whips and torture, and on me she could vent all her lust for cruelty. She gave me the basest tasks and when I revolted thrashed and starved me until I was too weak to revolt any more. In the end, I think, to save my life, Azuri took me from her and gave me once more apartments of my own. |
Về sau tôi biết rằng nàng đã sợ bị tôi thay thế, tôi, một người đàn bà kỳ lạ đến thế, khác với bất kỳ ai trong số những người phụ nữ mà Chúa Tể của nàng từng yêu, và rằng qua các thuật huyền thuật của mình nàng đã tìm cách hủy diệt tôi. Nàng đã học tà thuật gọi hồn từ lâu, luôn có các nhà chiêm tinh và các nhà huyền thuật bên cạnh để chỉ dạy nàng. Giờ đây nàng hài lòng. Nàng cai trị đám phụ nữ của mình bằng roi vọt và tra tấn, và trên tôi nàng có thể trút mọi cơn khát tàn nhẫn. Nàng giao cho tôi những công việc hèn hạ nhất và khi tôi phản kháng thì đánh đập và bỏ đói tôi cho đến khi tôi quá yếu không thể phản kháng thêm nữa. Cuối cùng, tôi nghĩ, để cứu mạng tôi, Azuri đã đưa tôi khỏi tay nàng và lại cho tôi những phòng riêng của mình. |
|
For there was some curious tie between us, a tie compounded of hate and desire; of repulsion and of fascination. He could neither abandon me nor forget me for any length of time and in the later years a strange friendship grew up between us; for he found that to me he could talk as to another man of things in which the average woman found little interest. I understood, too, his link with Burandek as Nahid, who was fiercely jealous of it, never could. |
Vì giữa chúng tôi có một mối dây kỳ lạ nào đó, một mối dây hợp thành từ hận thù và ham muốn; từ ghê sợ và mê hoặc. Ông không thể bỏ mặc tôi cũng không thể quên tôi quá lâu, và trong những năm về sau một tình bạn lạ lùng đã lớn lên giữa chúng tôi; vì ông nhận ra rằng với tôi ông có thể nói như với một người đàn ông khác về những điều mà người phụ nữ bình thường ít thấy hứng thú. Tôi cũng hiểu mối liên kết của ông với Burandek theo cách Nahid, người ghen tuông dữ dội với điều đó, không bao giờ có thể hiểu. |
|
I seem to have had many children; I know I suffered terribly; my body did not appear to be made for women’s burdens. I had no affection for my offspring; only the girls I pitied, thinking how their fair bodies would be used by men, how they would live restricted, prisoners of their own inadequacies. |
Dường như tôi đã có nhiều con; tôi biết mình đã đau khổ khủng khiếp; thân thể tôi dường như không được tạo ra cho những gánh nặng của phụ nữ. Tôi không có tình cảm với con cái mình; chỉ những bé gái là tôi thương hại, nghĩ đến việc thân thể xinh đẹp của chúng sẽ bị đàn ông sử dụng ra sao, chúng sẽ sống bị hạn chế thế nào, làm tù nhân của chính những thiếu sót của mình. |
|
Moreover I detested the life of the harem with its intrigues, its petty spites and rivalries. Surrounded by women and their cares, by the deep, druglike softness of this life of heavy feminality, my memories of the past soon became the sole means of saving what I felt was my self —my true, unchanging self—from annihilation. So I withdrew into my dreams of those glorious days of freedom and of excitement and with them came also vision of my father and our talks in the garden. Grave, beautiful and full of healing, his words came back to me. Perhaps it was only their wisdom which kept me alive and sane during those long years of misery which I was forced to endure. |
Hơn nữa tôi ghê tởm đời sống hậu cung với những âm mưu, những cay cú nhỏ nhen và những ganh đua của nó. Bị bao quanh bởi phụ nữ và những mối bận tâm của họ, bởi sự mềm mại sâu đậm như thuốc mê của đời sống nữ tính nặng nề này, những ký ức về quá khứ chẳng bao lâu trở thành phương tiện duy nhất để cứu lấy điều tôi cảm thấy là bản ngã của mình—bản ngã chân thực, bất biến của mình—khỏi bị hủy diệt. Vì thế tôi rút vào những giấc mơ về những ngày tự do và kích động huy hoàng ấy, và cùng với chúng cũng đến những linh ảnh về cha tôi và những cuộc trò chuyện của chúng tôi trong vườn. Nghiêm trang, đẹp đẽ và đầy chữa lành, lời ông trở về với tôi. Có lẽ chỉ chính minh triết ấy đã giữ cho tôi sống sót và tỉnh trí trong những năm dài khốn khổ mà tôi buộc phải chịu đựng. |
|
No sharp memories arise out of that dark limbo of years. Only one clear flame burns there, the hatred between Nahid and myself which undoubtedly ravaged both our lives. |
Không có ký ức sắc nét nào nổi lên từ cõi limbo tối tăm của những năm ấy. Chỉ có một ngọn lửa sáng rõ cháy ở đó, sự thù hận giữa Nahid và tôi, điều chắc chắn đã tàn phá cả hai cuộc đời chúng tôi. |
|
My loathing was increased by the fact that Nahid remained extraordinarily beautiful, while excessive childbearing had coarsened and enfeebled my fine body and bitterness had left its mark upon my face. For many years Azuri had kept us apart, thus ensuring for himself a certain amount of peace, but at last fate arranged that once more we should be brought face to face and the threads of our lives inextricably bound together. |
Sự ghê tởm của tôi tăng lên bởi việc Nahid vẫn đẹp lạ thường, trong khi việc sinh con quá nhiều đã làm thân thể đẹp đẽ của tôi trở nên thô nặng và suy nhược, còn cay đắng đã để lại dấu vết trên gương mặt tôi. Trong nhiều năm Azuri đã giữ chúng tôi tách biệt, nhờ đó bảo đảm cho mình một mức độ bình yên nào đó, nhưng cuối cùng số phận sắp đặt để một lần nữa chúng tôi bị đưa đối mặt nhau và những sợi chỉ đời chúng tôi bị buộc chặt với nhau không thể gỡ ra. |
|
One day Azuri came to me. He was grave and stern. |
Một ngày nọ Azuri đến với tôi. Ông nghiêm nghị và cứng rắn. |
|
“Tonight,” he said, “all my women leave for Tallek- el-Bar, my house in the mountains. The tribes of the plains are sweeping upon this city in great swarms; Burandek has already ridden to meet them, I join him at once. If we should be defeated, which Ormazd forbid, we shall fall back upon Tallek-el-Bar and defend it until the last. In the meantime I leave in your hands and in those of Nahid all my possessions, my children, my slaves. I can spare but few men to guard you, and must leave you in the the care of Ashem Vasishtem, wherefrom proceedeth justice and all good. May He protect you. I know full well the hatred you two women have for each other, but at these times enmity must be buried in the grave of necessity; according to your folly or wisdom all may be lost or saved.” He took both my hands in his. “O Ciharazad,” he said, “there has been between us a bond which I would not have believed could exist between a man and a woman —and it is to this bond that I would hold you now. You could once fight like any man; you were fearless; none could ride better than you, nor cast a lance more straightly—I speak to you now as that woman you were—nay, as the man you pretended to be. You know full well I love Nahid as my life. I leave that life—I leave her honour in your hands.” |
“Đêm nay,” ông nói, “tất cả phụ nữ của ta sẽ rời đi đến Tallek-el-Bar, ngôi nhà của ta trên núi. Các bộ lạc đồng bằng đang tràn xuống thành phố này thành từng đàn lớn; Burandek đã cưỡi ngựa đi đối đầu với họ, ta lập tức nhập cùng ông ấy. Nếu chúng ta bị đánh bại, điều mà Ormazd ngăn cấm, chúng ta sẽ rút về Tallek-el-Bar và phòng thủ ở đó đến cùng. Trong lúc này ta giao vào tay nàng và Nahid mọi tài sản của ta, các con ta, các nô lệ của ta. Ta chỉ có thể để lại rất ít đàn ông để canh giữ các nàng, và phải để các nàng dưới sự chăm sóc của Ashem Vasishtem, từ đó phát sinh công lý và mọi điều thiện. Cầu xin Ngài bảo hộ các nàng. Ta biết quá rõ sự thù hận mà hai người đàn bà các nàng dành cho nhau, nhưng vào những lúc như thế này, thù địch phải được chôn trong mồ của sự cần thiết; tùy theo sự ngu xuẩn hay minh triết của các nàng mà mọi sự có thể mất hết hoặc được cứu.” Ông nắm cả hai tay tôi trong tay ông. “Ôi Ciharazad,” ông nói, “giữa chúng ta đã có một mối dây mà ta sẽ không tin là có thể tồn tại giữa một người đàn ông và một người đàn bà—và chính vào mối dây ấy mà giờ đây ta muốn giữ lấy nàng. Nàng đã từng chiến đấu như bất kỳ người đàn ông nào; nàng không biết sợ; không ai cưỡi ngựa giỏi hơn nàng, cũng không ai phóng lao thẳng hơn nàng—giờ đây ta nói với nàng như với người đàn bà mà nàng đã từng là—không, như với người đàn ông mà nàng đã giả làm. Nàng biết quá rõ ta yêu Nahid như chính mạng sống ta. Ta giao mạng sống ấy—ta giao danh dự của nàng ấy trong tay nàng.” |
|
I stared at him, amazed and shaken, then turned my head aside. “It is too late; look at me, Azuri! You made me into a woman, I cannot become a man again at your will.” |
Tôi nhìn ông, kinh ngạc và rung động, rồi quay đầu đi. “Đã quá muộn rồi; hãy nhìn em đi, Azuri! Chính ông đã biến em thành một người đàn bà, em không thể lại trở thành đàn ông theo ý ông được.” |
|
He smiled and touched my face with one finger lightly. “It is to the spirit of the man in you that I make my appeal. I do not trust any of the others—only you. To you I leave my honour—I know that you will not betray it.” |
Ông mỉm cười và khẽ chạm một ngón tay lên mặt tôi. “Ta kêu gọi tinh thần của người đàn ông trong nàng. Ta không tin bất cứ ai khác—chỉ tin nàng. Ta giao danh dự của ta cho nàng—ta biết nàng sẽ không phản bội nó.” |
|
Then embracing me, he departed to battle. |
Rồi ôm lấy tôi, ông ra đi vào trận chiến. |
|
For a little while, moved by the common impulse of loneliness and fear, Nahid and I turned to each other with more kindliness. But not in a few days nor by a few words could such hatred as ours, so old, so rooted in rivalry, in blood and darkness, be dissolved, Our distrust was like a serpent ever hissing between us. |
Trong một lúc ngắn, bị thúc đẩy bởi xung lực chung của cô đơn và sợ hãi, Nahid và tôi quay về phía nhau với nhiều tử tế hơn. Nhưng không phải chỉ trong vài ngày hay bằng vài lời mà một mối hận như của chúng tôi, quá cũ, quá bén rễ trong ganh đua, trong máu và bóng tối, có thể tan biến. Sự ngờ vực của chúng tôi như một con rắn luôn rít lên giữa chúng tôi. |
|
Nahid sought comfort and strength in her magical incantations, but I had a deep, unreasoning fear of these and amused myself by strengthening and organizing the defences of the place and practising the use of arms, but even this happiness was muted; for when I would have donned men’s garments, I felt I was merely rendering myself ridiculous; I was too stout, my breath was short, I grew faint and my limbs ached intolerably at the slightest exertion; only my spirit was as ardent and as youthful as of old. |
Nahid tìm sự an ủi và sức mạnh trong những câu thần chú huyền thuật của nàng, nhưng tôi có một nỗi sợ sâu xa và vô lý đối với những thứ ấy, và tự giải khuây bằng cách củng cố và tổ chức việc phòng thủ nơi này cũng như luyện tập sử dụng vũ khí, nhưng ngay cả niềm vui ấy cũng bị giảm đi; vì khi tôi muốn mặc y phục đàn ông, tôi cảm thấy mình chỉ đang làm cho bản thân trở nên lố bịch; tôi quá đẫy đà, hơi thở ngắn, tôi chóng mặt và tay chân đau nhức không chịu nổi chỉ với chút gắng sức nhỏ nhất; chỉ có tinh thần tôi là vẫn nồng nhiệt và trẻ trung như xưa. |
|
The long days of inaction and uncertainty dragged. The mountains closed us in with impenetrable silence. The women wept or chattered; the eunuchs mumbled together and fluttered at the slightest clink of arms; the soldiers drank and diced to pass the idle hours; in her chamber Nahid cast her spells. |
Những ngày dài bất động và bất định lê thê trôi qua. Núi non khép chúng tôi lại trong một sự im lặng không thể xuyên thấu. Đám phụ nữ khóc lóc hoặc ríu rít; bọn hoạn quan lẩm bẩm với nhau và cuống quýt trước tiếng binh khí va chạm nhỏ nhất; lính tráng uống rượu và đánh xúc xắc để giết thời giờ nhàn rỗi; trong phòng mình Nahid thi triển bùa phép. |
|
Gradually, however, rumours drifted through to us. One day we heard that a great battle had been fought in the plain and that our Lords had conquered. In the midst of our rejoicings came a runner bleeding and exhausted, who declared that they had both been killed and that the enemy were even now approaching Tallek-el-Bar. |
Tuy nhiên dần dần những tin đồn trôi dạt đến với chúng tôi. Một ngày nọ chúng tôi nghe rằng một trận đánh lớn đã diễn ra ở đồng bằng và các Chúa Tể của chúng tôi đã chiến thắng. Giữa lúc chúng tôi đang reo mừng thì một người chạy tin, chảy máu và kiệt sức, đến báo rằng cả hai vị ấy đều đã bị giết và quân địch ngay lúc này đang tiến đến Tallek-el-Bar. |
|
I knew how weak the defences were, but remembering my trust, determined to hold the place to the last. All that day Nahid wrought enchantments, striving to discover if what we had heard was indeed truth. Occasionally she would call in one of her women to act as medium for her power, but always they were sent forth with bitter revil- ings. At last, sacrificing her pride in her necessity she came to me. |
Tôi biết việc phòng thủ yếu đến mức nào, nhưng nhớ đến sự tín thác của mình, tôi quyết tâm giữ nơi này đến cùng. Suốt ngày hôm ấy Nahid làm phép, cố khám phá xem điều chúng tôi nghe được có thật hay không. Thỉnh thoảng nàng gọi một phụ nữ của mình vào để làm đồng tử cho quyền năng của nàng, nhưng họ luôn bị đuổi ra với những lời mắng nhiếc cay độc. Cuối cùng, hi sinh lòng kiêu hãnh trước sự cần thiết, nàng đến với tôi. |
|
“When Azuri left me, he bade you render me any aid I desired,” she said, “now, behold I come to ask for that aid. My women have neither the strength nor the courage to assist me. But you and I together may learn the truth for the Spirits will speak; moreover should Azuri and Burandek in verity be slain, then we will recall them even from the Cinvato Peretu itself to give us their strength and council, for surely never were we so in need of it as now.” |
“Khi Azuri rời khỏi tôi, ông ấy đã dặn chị phải cho tôi bất cứ sự trợ giúp nào tôi mong muốn,” nàng nói, “giờ đây, hãy nhìn xem, tôi đến xin sự trợ giúp ấy. Đám phụ nữ của tôi không có sức mạnh cũng không có can đảm để giúp tôi. Nhưng chị và tôi cùng nhau có thể biết được sự thật vì các linh hồn sẽ lên tiếng; hơn nữa nếu Azuri và Burandek thật sự đã bị giết, thì chúng ta sẽ gọi họ trở lại ngay cả từ chính Cinvato Peretu để cho chúng ta sức mạnh và lời khuyên của họ, vì chắc chắn chưa bao giờ chúng ta cần điều đó như lúc này.” |
|
I would have done it for any but her, for her arts fascinated, even while they frightened me; but here, at last, I saw the chance for which I had been waiting all these bitter years. |
Tôi đã có thể làm điều ấy cho bất cứ ai trừ nàng, vì các thuật của nàng mê hoặc tôi ngay cả khi chúng làm tôi sợ; nhưng ở đây, cuối cùng, tôi thấy cơ hội mà tôi đã chờ đợi suốt bao năm cay đắng này. |
|
I rose, smiling into my rival’s face, and with slow and bitter scorn lashed the other woman who now came suppliant to me for aid. |
Tôi đứng dậy, mỉm cười vào mặt đối thủ của mình, và với sự khinh miệt chậm rãi cay độc, quất roi vào người đàn bà kia, kẻ giờ đây đến cầu xin tôi giúp đỡ. |
|
“What matter it,” I cried at last, “if Burandek and Azuri be dead? All must die; better be a man and dead in battle than alive, a slave enclosed within high walls and cursed with a woman’s destiny. If needs must, I will fight for you, for I have sworn it, but I will not traffic with the Spirits, I will not drag Azuri back to your greedy armsl” |
“Có gì quan trọng,” cuối cùng tôi kêu lên, “nếu Burandek và Azuri đã chết? Tất cả đều phải chết; thà là đàn ông và chết trong trận chiến còn hơn sống, làm nô lệ bị nhốt sau những bức tường cao và bị nguyền rủa với số phận đàn bà. Nếu cần, tôi sẽ chiến đấu vì chị, vì tôi đã thề như thế, nhưng tôi sẽ không giao dịch với các linh hồn, tôi sẽ không kéo Azuri trở lại với vòng tay tham lam của chị!” |
|
Then while we still contended together, sudden fearful cries filled the air, shrieks, moans and wailings. We rushed towards the door, but as we reached it the curtains were torn aside and we saw, in the entrance, Azuri his garments rent, blood running from his lips and head. He swayed blindly forward. |
Rồi trong khi chúng tôi vẫn còn đang tranh cãi, những tiếng kêu kinh hoàng đột ngột tràn ngập không khí, tiếng thét, tiếng rên và tiếng than khóc. Chúng tôi lao về phía cửa, nhưng vừa đến nơi thì rèm bị xé tung và chúng tôi thấy, nơi lối vào, Azuri với y phục rách nát, máu chảy từ môi và đầu. Ông loạng choạng bước tới một cách mù quáng. |
|
“All is lost,” he gasped, “our troops are defeated. We fled hither to save you from their vengeance, but they are close behind. Burandek holds the stairs…” His hand went to his side. “My dagger! Nahid… use it… you must not be taken…” |
“Mọi sự đều mất rồi,” ông thở hổn hển, “quân ta đã bại trận. Chúng ta chạy về đây để cứu các nàng khỏi sự báo thù của chúng, nhưng chúng ở ngay phía sau. Burandek đang giữ cầu thang…” Tay ông đưa xuống sườn. “Dao găm của ta! Nahid… dùng nó… nàng không được để bị bắt…” |
|
He slipped to his knees, then fell upon his face. |
Ông khuỵu xuống đầu gối, rồi ngã sấp mặt. |
|
With a piercing shriek Nahid sank beside him, raising him in her arms. “He is dead… Azuri… my heart!” and she fainted beside him on the floor. |
Với một tiếng thét xé lòng, Nahid quỵ xuống bên ông, nâng ông trong vòng tay. “Chàng chết rồi… Azuri… trái tim em!” rồi nàng ngất đi bên ông trên sàn. |
|
But he was not dead. With a fierce effort, as if dragging his reluctant spirit back into its shattered body so as to accomplish the purpose for which he had returned, he raised himself upon his elbow. |
Nhưng ông chưa chết. Với một nỗ lực dữ dội, như thể kéo tinh thần miễn cưỡng của mình trở lại thân thể tan nát để hoàn thành mục đích khiến ông quay về, ông chống người lên một khuỷu tay. |
|
“Cihrazad,” he whispered. |
“Cihrazad,” ông thì thầm. |
|
I drew near, standing above him, staring down upon him. |
Tôi bước lại gần, đứng trên ông, nhìn xuống ông. |
|
The noise was increasing below; yells, shouts of victory mingled with high screams of women and of eunuchs. |
Tiếng ồn phía dưới đang tăng lên; tiếng gào, tiếng hò chiến thắng hòa lẫn với những tiếng thét cao của phụ nữ và hoạn quan. |
|
I knew well what the end would be for any unhappy woman who fell into the hands of these brutal men. I would not be one of them. |
Tôi biết quá rõ kết cục sẽ ra sao cho bất kỳ người đàn bà bất hạnh nào rơi vào tay những kẻ đàn ông tàn bạo ấy. Tôi sẽ không là một trong số đó. |
|
“My dagger…” he gasped. |
“Dao găm của ta…” ông thở dốc. |
|
I stooped and picked it up. A rush of blood came to his lips. He fell back again, but his eyes turned towards the insensible body of Nahid. “Kill her… swear…” |
Tôi cúi xuống và nhặt nó lên. Một dòng máu trào lên môi ông. Ông lại ngã xuống, nhưng mắt ông quay về phía thân thể bất tỉnh của Nahid. “Giết nàng… thề đi…” |
|
I answered nothing, but he read the look in my eyes. |
Tôi không đáp gì, nhưng ông đọc được ánh nhìn trong mắt tôi. |
|
“Swear—Cihrazad. I—beseech you…” |
“Hãy thề—Cihrazad. Ta—cầu xin nàng…” |
|
I looked at him, then bowed my head. “I swear.” |
Tôi nhìn ông, rồi cúi đầu. “Tôi thề.” |
|
He seemed about to speak again, but his voice choked with blood. He was dead. |
Ông dường như sắp nói thêm, nhưng giọng ông nghẹn lại vì máu. Ông đã chết. |
|
I stood alone. Without I could hear the rabble upon the stairs. A child’s cry, awful and heart-rending came from the antechamber; it was my child, but I did not move. I was staring at Nahid. I hated her; to leave her her life was the most terrible vengeance I could take for the humiliations, the sufferings she had caused me. |
Tôi đứng một mình. Bên ngoài tôi có thể nghe đám ô hợp trên cầu thang. Một tiếng khóc trẻ con, khủng khiếp và xé lòng, vang lên từ tiền phòng; đó là con tôi, nhưng tôi không nhúc nhích. Tôi đang nhìn chằm chằm Nahid. Tôi ghét nàng; để nàng sống là sự báo thù khủng khiếp nhất tôi có thể thực hiện cho những nhục nhã, những đau khổ nàng đã gây cho tôi. |
|
At that moment she stirred and sat up dazedly. |
Đúng lúc ấy nàng cựa mình và ngồi dậy, choáng váng. |
|
A woman’s shriek without; a body falling against the curtain; a mutilated body rolling into the room. Death was nothing—but the cries of the soldiers, drunk with cruelty and lust—and women—always women, the victims and slaves of it…. |
Một tiếng thét của phụ nữ bên ngoài; một thân thể đổ vào rèm; một thân thể bị cắt xẻ lăn vào phòng. Cái chết chẳng là gì—nhưng tiếng kêu của bọn lính, say trong tàn bạo và dục vọng—và phụ nữ—luôn luôn là phụ nữ, những nạn nhân và nô lệ của nó…. |
|
The curtain was torn down. A gigantic savage form in blood-stained armour, paused there to view the room. |
Tấm màn bị giật xuống. Một hình dáng man rợ khổng lồ trong bộ giáp vấy máu đứng khựng lại đó để nhìn vào căn phòng. |
|
My glance went from Nahid to Azuri, I swung round and the man sprang forward. Like a flash I stooped and plunged my dagger into Nahid’s breast, but before I could turn it upon myself he had caught me and wrenched it from my hand. |
Ánh mắt tôi chuyển từ Nahid sang Azuri, tôi quay phắt lại và người đàn ông ấy lao tới. Nhanh như chớp, tôi cúi rạp xuống và đâm con dao găm vào ngực Nahid, nhưng trước khi tôi có thể quay nó vào chính mình thì y đã chộp lấy tôi và giật nó khỏi tay tôi. |
|
He held me there, despite my wild struggles, and called to his companions without. |
Y giữ chặt tôi ở đó, mặc cho tôi vùng vẫy điên cuồng, rồi gọi các đồng bọn ở bên ngoài. |
|
I saw their faces, as they crowded in at the doorway, and seeing them, realized to the full the doom that awaited me…. |
Tôi thấy mặt họ khi họ chen vào nơi khung cửa, và khi nhìn thấy họ, tôi hoàn toàn nhận ra số phận đang chờ đợi mình…. |
|
The woman Cihrazad…. Yet how little a woman! Rather the proud spirit of a man, thrust into the restrictions of a female form. |
Người đàn bà Cihrazad…. Nhưng thật ít là một người đàn bà! Đúng hơn là tinh thần kiêu hãnh của một người đàn ông, bị nhét vào những giới hạn của một hình tướng nữ giới. |
|
Even the blurred memory of that horrible death was obliterated in my interest in this rational explanation of an age-old problem. |
Ngay cả ký ức mờ nhạt về cái chết khủng khiếp ấy cũng bị xóa nhòa trong mối quan tâm của tôi đối với lời giải thích hợp lý này về một vấn đề lâu đời. |
|
Obviously for life after life I had been polarized as a male before this Persian incarnation. Could Cihrazad be blamed, then, when the spirit within, revolting to find itself imprisoned in an alien and unresponsive form, had sought to take the familiar path again and to ignore the laws of a woman’s body, th us twisting her life awry? |
Hiển nhiên là hết kiếp này sang kiếp khác tôi đã phân cực như một nam giới trước kiếp lâm phàm ở Ba Tư này. Vậy thì có thể trách Cihrazad được chăng, khi tinh thần bên trong, nổi loạn vì thấy mình bị giam cầm trong một hình tướng xa lạ và không đáp ứng, đã tìm cách đi lại con đường quen thuộc và phớt lờ các định luật của thân thể người nữ, do đó làm lệch lạc cuộc đời của nàng? |
|
How many men and women at the present time were finding themselves in a similar unhappy state and not understanding the inner laws of their nature, were revolt- ing even as J had then done and also seeking blindly by false paths to resolve the conflict which tore at their whole being. |
Hiện nay có bao nhiêu những người nam và nữ đang thấy mình ở trong một tình trạng bất hạnh tương tự, và vì không hiểu các định luật bên trong của bản chất mình, đã nổi loạn đúng như khi ấy tôi từng làm, đồng thời cũng mù quáng tìm kiếm bằng những con đường sai lạc để giải quyết cuộc xung đột đang xé nát toàn thể con người họ. |
|
My mind travelled back along the path of that incarnation with profound interest, The first thing that struck me forcibly was the wild, dark hatred which Nahid and 1 had felt for easin other. She must have been some enemy from my past Instantly my mind swept back to Atlantis—there was the clue, could I but interpret it. I sat back in my chair, striving to get. some connecting link and suddenly the pink pear! came into mind; where had 1 seen that pearl? Then in a flash I remembered: it belonged to one of our small group of four. |
Tâm trí tôi quay ngược lại dọc theo con đường của kiếp lâm phàm ấy với mối quan tâm sâu sắc. Điều đầu tiên đập mạnh vào tôi là mối căm ghét hoang dại, đen tối mà Nahid và tôi đã dành cho nhau. Hẳn nàng đã là một kẻ thù nào đó từ quá khứ của tôi. Lập tức tâm trí tôi quét ngược về Atlantis—đó là đầu mối, nếu tôi có thể giải thích được nó. Tôi ngả người ra ghế, cố tìm một mối liên kết nào đó và đột nhiên viên ngọc trai hồng hiện lên trong trí; tôi đã thấy viên ngọc ấy ở đâu? Rồi trong một tia chớp tôi nhớ ra: nó thuộc về một người trong nhóm bốn người nhỏ của chúng tôi. |
|
I began to speculate upon the nature of jewels and why it is that they so often appear to be connected with men’s lives. X’hat particular virtue can reside in a stone that it appears to have the power to bring back the past or to precipitate events? That my scarab, which had been deliberately magnetized by one who was an adept in magic, should come back to me I understood- but the pearl remained a mystery. |
Tôi bắt đầu suy đoán về bản chất của châu báu và vì sao chúng dường như thường gắn liền với đời sống con người đến thế. Có đức tính đặc biệt nào có thể ngự trong một viên đá mà nó dường như có quyền năng gọi lại quá khứ hoặc làm ngưng tụ các biến cố? Việc con bọ hung của tôi, vốn đã được từ hóa một cách cố ý bởi một người là chân sư trong huyền thuật, quay trở lại với tôi thì tôi hiểu—nhưng viên ngọc trai vẫn là một điều bí ẩn. |
|
I felt the need of my teacher here but since my efforts to contact his consciousness received at that moment no response, I turned my attention to studying the rest of the life as best I might. |
Tôi cảm thấy cần đến huấn sư của mình ở đây nhưng vì những nỗ lực tiếp xúc với tâm thức của ông lúc ấy không nhận được đáp ứng nào, tôi quay sang cố gắng nghiên cứu phần còn lại của cuộc đời ấy hết sức mình. |
|
I found it almost painfully easy to get back into that emotional atmosphere, The long period of slavery, the shame and degradation of that trapped and tortured woman made me shudder even now. Indeed I had been made to drink to the brim the bitter cup that in the past I lead forced on those dependent upon me for life and well-being. Surely that experience would be graven so deeply upon my undying memory that never again would I show cruelty to the weak. |
Tôi thấy gần như đau đớn vì quá dễ dàng để quay trở lại bầu không khí cảm xúc ấy. Thời kỳ nô lệ kéo dài, nỗi nhục nhã và sự đọa đày của người đàn bà bị mắc bẫy và bị hành hạ ấy khiến ngay cả bây giờ tôi vẫn rùng mình. Quả thật tôi đã bị buộc phải uống cạn đến giọt cuối cùng chiếc chén đắng mà trong quá khứ tôi đã ép những kẻ lệ thuộc vào mình về sự sống và phúc lợi phải uống. Chắc chắn kinh nghiệm ấy sẽ được khắc sâu đến mức không bao giờ phai trong ký ức bất diệt của tôi, để tôi sẽ không bao giờ còn tỏ ra tàn nhẫn với kẻ yếu nữa. |
|
At last my teacher permitted me to contact him again. |
Cuối cùng huấn sư của tôi cho phép tôi lại được tiếp xúc với ông. |
|
“I left you alone for a little while,” he said after greeting me, “as it is far better for you to try to discover for yourself something of the intricate laws underlying Karma although inevitably their deeper significance must still remain a mystery to you. In any case I am revealing now only such lives as have a direct bearing one upon the other, in which effects are working out clearly from previous experiments in living. There were, of course many in which other groups of people were tied to you by the compulsion of cause and effect, lives in which different patterns were worked out with different links and the note you struck through the uses of black magic did not reverberate.” |
“Ta đã để con một mình trong chốc lát,” ông nói sau khi chào tôi, “vì tốt hơn nhiều cho con nếu con tự mình cố khám phá đôi điều về những định luật phức tạp nằm dưới nghiệp quả, mặc dù tất nhiên ý nghĩa sâu xa hơn của chúng vẫn phải còn là một điều bí ẩn đối với con. Dù sao đi nữa, hiện giờ ta chỉ đang tiết lộ những kiếp sống có liên hệ trực tiếp với nhau, trong đó các kết quả đang hiển lộ rõ ràng từ những thử nghiệm sống trước đây. Dĩ nhiên cũng có nhiều kiếp khác trong đó những nhóm người khác bị ràng buộc với con bởi sự cưỡng bách của nhân và quả, những kiếp mà các mô hình khác nhau được triển khai với những mối liên kết khác nhau và âm điệu con xướng lên qua việc sử dụng Hắc thuật đã không vang dội.” |
|
“I suppose those were more pleasant, more happy?” |
“Tôi cho rằng những kiếp ấy dễ chịu hơn, hạnh phúc hơn?” |
|
“Some of them. Every opportunity for happiness as well as progress is given to the evolving man and the circumstances in which he is born correspond to whatsoever side of his nature he is seeking to develop. The whole object of the Law of Reincarnation is that the true self shall eventually learn to create a vehicle of consciousness through which it may mirror forth every aspect of its divinity in perfect equilibrium. It is as if it were seeking to polish a mighty diamond—the true diamond soul— with a thousand facets. To do this it is forced to work in many forms, through many groups of people, to sound its note in many keys, perfecting now one side, now the other. At its best its manifestations in human form can never be more than partial—the restrictions of the body are too great. That is why it is well never to judge another, however low or ignorant he may seem to be; for he may be a great soul working out mistakes in a humble disguise. It is ever difficult to recognize the truth amid illusion.” |
“Một số là như vậy. Mọi cơ hội cho hạnh phúc cũng như tiến bộ đều được ban cho con người đang tiến hoá, và những hoàn cảnh mà y sinh ra tương ứng với bất cứ phương diện nào trong bản chất mình mà y đang tìm cách phát triển. Toàn bộ mục đích của Định luật Luân Hồi là để chân ngã chân thực cuối cùng học cách tạo ra một vận cụ tâm thức qua đó nó có thể phản chiếu mọi phương diện của thiên tính mình trong thế quân bình hoàn hảo. Cứ như thể nó đang tìm cách mài giũa một viên kim cương vĩ đại—viên kim cương linh hồn chân thực—với một ngàn mặt cắt. Để làm được điều này, nó buộc phải hoạt động trong nhiều hình tướng, qua nhiều nhóm người, xướng âm điệu của mình trong nhiều cung bậc, lúc này hoàn thiện mặt này, lúc khác hoàn thiện mặt kia. Ở mức tốt đẹp nhất, những biểu hiện của nó trong hình tướng con người cũng không bao giờ có thể hơn là từng phần—những giới hạn của thân thể quá lớn. Đó là lý do vì sao không bao giờ nên phán xét người khác, dù y có vẻ thấp kém hay vô minh đến đâu; vì y có thể là một linh hồn vĩ đại đang giải quyết những sai lầm trong một lớp ngụy trang khiêm hạ. Luôn luôn khó nhận ra chân lý giữa ảo tưởng.” |
|
“I think there was a mutual recognition in Persia,” I remarked, “was Nahid not one of my group in Atlantis?” |
“Tôi nghĩ ở Ba Tư đã có một sự nhận ra lẫn nhau,” tôi nhận xét, “Nahid chẳng phải là một người trong nhóm của tôi ở Atlantis sao?” |
|
“Yes. Sudden love and hatred are nearly always the result of some like passion in the past.” |
“Đúng vậy. Tình yêu và lòng căm ghét đột ngột hầu như luôn luôn là kết quả của một đam mê tương tự trong quá khứ.” |
|
“Who was my father? He was the only one I loved truly as Cihrazad.” |
“Cha tôi là ai? Ông là người duy nhất tôi thật sự yêu với tư cách Cihrazad.” |
|
“He was a link from a happier life. You were born under his roof so that you might be given the opportunity to continue the effort you had made before in the search for wisdom. You loved him because all that was fine in you, all that desired growth, responded to what he had to give as the flower responds to the gardener who tends it; you lost him and all he might still have given you by your own foolishness.” |
“Ông là một mối liên kết từ một kiếp sống hạnh phúc hơn. Con được sinh ra dưới mái nhà của ông để con có thể được trao cơ hội tiếp tục nỗ lực mà trước đây con đã thực hiện trong cuộc tìm kiếm minh triết. Con yêu ông vì tất cả những gì tốt đẹp trong con, tất cả những gì khao khát tăng trưởng, đã đáp ứng với điều ông có thể trao cho con như bông hoa đáp ứng với người làm vườn chăm sóc nó; con đã mất ông và mất tất cả những gì ông còn có thể trao cho con bởi chính sự ngu xuẩn của mình.” |
|
“And what of that pink pearl? You have taught me that there is no such thing as coincidence, yet I cannot see.. |
“Còn viên ngọc trai hồng ấy thì sao? Thầy đã dạy tôi rằng không có cái gọi là ngẫu nhiên, vậy mà tôi không thể thấy được..” |
|
“Jewels absorb magnetism just as everything else does,” he said, “but they retain it longer, as the mineral kingdom is the most concrete of all and grows so slowly that it appears to have no life whatsoever. Just as your scarab was magnetized in Egypt—except that this was done by an occult process and was therefore the more powerful— so, to a far lesser extent, it is possible for people unconsciously to project some of their own magnetic currents into an object. But in order that this shall have a lasting effect, he who does so must be under a particularly powerful emotional stimulus at the time. If an object so magnetized by hate or love should fall again into the hands of the one with whom it was originally linked, it might, should he be sufficiently sensitive, recall his dormant memories of that event. In any case the contact would be very likely to cause a certain resurgence of Karmic currents from that particular incarnation. |
“Châu báu hấp thụ từ điện cũng như mọi thứ khác,” ông nói, “nhưng chúng giữ nó lâu hơn, vì giới kim thạch là cụ thể nhất trong tất cả và tăng trưởng chậm đến mức dường như hoàn toàn không có sự sống nào cả. Cũng như con bọ hung của con đã được từ hóa ở Ai Cập—ngoại trừ việc điều này được thực hiện bằng một tiến trình huyền bí nên vì thế mạnh hơn nhiều—thì ở mức độ thấp hơn rất xa, con người cũng có thể vô thức phóng chiếu một phần những dòng từ tính riêng của mình vào một vật thể. Nhưng để điều này có hiệu quả lâu dài, người làm như vậy phải đang ở dưới một kích thích cảm xúc đặc biệt mạnh vào lúc đó. Nếu một vật được từ hóa bởi hận thù hay tình yêu như thế lại rơi vào tay người mà ban đầu nó đã liên kết, thì nó có thể, nếu người ấy đủ nhạy cảm, gợi lại những ký ức ngủ yên của y về biến cố đó. Dù sao đi nữa, sự tiếp xúc ấy rất có thể sẽ gây ra một sự trỗi dậy nào đó của các dòng nghiệp quả từ kiếp lâm phàm đặc biệt ấy. |
|
“In fact a jewel returning thus from out of the past may be considered almost a warning signal of karmic debts due to be presented for payment; but naturally in most cases people do not recognize such a signal and would not be able to decipher its message if they did. Life is full of warning lights, of guiding posts for those who are sensitive enough to be aware of them, but for the most part as yet man stumbles from one trouble into another entirely unprepared, then demands indignantly of high heaven why his misfortunes should be allowed, blaming God instead of his own foolish self. I hope,” and here I felt once more the glow of his love enveloping me like a pulsing flame, “that in your case this present life will be the last in which you will assail the ears of those who have watched over you with these outcries and fulmina- tions.” |
“Thật ra, một món châu báu quay trở lại như vậy từ quá khứ gần như có thể được xem là một tín hiệu cảnh báo về những món nợ nghiệp quả đến hạn phải thanh toán; nhưng dĩ nhiên trong đa số trường hợp con người không nhận ra một tín hiệu như thế, và dù có nhận ra họ cũng không thể giải mã thông điệp của nó. Cuộc sống đầy những ánh đèn cảnh báo, những cột chỉ đường cho những ai đủ nhạy cảm để nhận biết chúng, nhưng phần lớn cho đến nay con người vẫn loạng choạng từ rắc rối này sang rắc rối khác hoàn toàn không chuẩn bị, rồi phẫn nộ đòi hỏi trời cao vì sao những bất hạnh của mình lại được cho phép xảy ra, đổ lỗi cho Thượng đế thay vì cho chính phàm ngã ngu xuẩn của mình. Ta hy vọng,” và ở đây tôi lại cảm thấy ánh rực ấm áp của tình thương ông bao bọc tôi như một ngọn lửa đang rung động, “rằng trong trường hợp của con, kiếp sống hiện tại này sẽ là kiếp cuối cùng trong đó con công kích tai những người đã dõi theo con bằng những tiếng kêu gào và những lời sấm sét như thế.” |
|
I shook my head. To look back thus upon one’s past was finally to lose all conceit. “One seems to evolve so slowly—and to forget and fall back again. Cihrazad doesn’t seem a marked improvement upon Pharaoh. Just as cruel and passionate and uncontrolled… that wretched panther! After all Pharaoh did, I suppose, repent of the evil he had done; he accepted the task laid upon him; he did go forth willingly upon the Path of Return.” |
Tôi lắc đầu. Nhìn lại quá khứ của mình theo cách ấy rốt cuộc là đánh mất mọi tự phụ. “Người ta dường như tiến hoá quá chậm—rồi lại quên và lại sa ngã. Cihrazad có vẻ cũng chẳng cải thiện gì rõ rệt so với Pharaoh. Cũng tàn nhẫn, đam mê và thiếu tự chủ như thế… con báo khốn khổ ấy! Dù sao thì Pharaoh, tôi cho là, đã hối hận về điều ác mình đã làm; y đã chấp nhận nhiệm vụ đặt lên mình; y đã tự nguyện bước ra trên Con Đường Trở Về.” |
|
“Yes, but as you yourself pointed out, he repented because he was afraid—that is not true repentance. Moreover repentance from whatsoever motive, although absolutely necessary to start with, does not alter the Law by one jot. You may repent, but those currents you have animated by evil do not immediately melt away when you declare that you are sorry. They have to be dealt with and deliberately changed by the man himself. There never were two more pernicious doctrines than those of vicarious atonement and the forgiveness of sins. The Christian Church has built for itself a heavy Karma of retribution by deliberately distorting the words of its Founder and laying stress upon such teachings to gain worldly power. |
“Đúng, nhưng như chính con đã chỉ ra, y hối hận vì y sợ hãi—đó không phải là sự hối hận chân thật. Hơn nữa, sự hối hận vì bất cứ động cơ nào, dù tuyệt đối cần thiết để khởi đầu, cũng không làm thay đổi Định luật dù chỉ một mảy may. Con có thể hối hận, nhưng những dòng lực mà con đã làm cho sống động bằng điều ác không lập tức tan biến khi con tuyên bố rằng mình lấy làm tiếc. Chúng phải được chính con người ấy đề cập đến và cố ý chuyển đổi. Chưa từng có hai giáo lý nào tai hại hơn giáo lý chuộc tội thay và sự tha thứ tội lỗi. Giáo hội Cơ Đốc đã tự tạo cho mình một nghiệp quả báo ứng nặng nề bằng cách cố ý bóp méo lời của Đấng Sáng Lập mình và nhấn mạnh những giáo huấn như thế để giành quyền lực thế gian. |
|
Man has got to learn to bear the responsibility for his own mistakes and accept the full consequences; he must do all the work himself. You, as Pharaoh, certainly made an attempt to understand the Law; you cleared the ground before you sufficiently to enable you to go forward; but the true test of this so-called repentance came when you returned to the world, a world full of war, hatred and intrigue, of discords to which the most powerful part of your nature found it almost impossible not to respond. For people, even the strongest, react to the emotional atmosphere about them, especially if it plays upon some weakness in their own character. It was comparatively easy for you to see the advantages of love and wisdom whilst among those who manifested them and to struggle against your Dweller in the peace and solitude of the Temple but such work was only preparatory at best. |
Con người phải học cách gánh lấy trách nhiệm về những sai lầm của chính mình và chấp nhận toàn bộ hậu quả; y phải tự mình làm toàn bộ công việc. Con, với tư cách Pharaoh, quả thật đã cố gắng thấu hiểu Định luật; con đã dọn sạch mặt đất trước mặt mình đủ để có thể tiến lên; nhưng phép thử thật sự của cái gọi là sự hối hận này đến khi con trở lại thế gian, một thế gian đầy chiến tranh, hận thù và mưu mô, đầy những bất hòa mà phần mạnh nhất trong bản chất con hầu như không thể không đáp ứng. Vì con người, ngay cả những kẻ mạnh nhất, cũng phản ứng với bầu không khí cảm xúc quanh mình, nhất là nếu nó tác động lên một điểm yếu nào đó trong tính cách riêng của họ. Đối với con, việc thấy được những lợi thế của tình thương và minh triết khi ở giữa những người biểu lộ chúng, và đấu tranh chống lại Kẻ Chận Ngõ của mình trong sự bình an và cô tịch của Đền thờ thì tương đối dễ, nhưng công việc như thế cùng lắm cũng chỉ là chuẩn bị. |
|
“Thus when once more, in this Persian incarnation, an opportunity to exercise power was presented to you, it struck a note to which those entities you had created through the abuse of power instantly responded. For I would impress upon you again most strongly that the dark forces can only influence and endanger those in whom they can find some affinity to their own nature. Let the man therefore who thinks he is being attacked by such adversaries search immediately for the flaw in himself which makes such attack possible. |
“Vì vậy khi một lần nữa, trong kiếp lâm phàm Ba Tư này, một cơ hội để thực thi quyền lực được trao cho con, nó đã đánh lên một âm điệu mà những thực thể con đã tạo ra qua việc lạm dụng quyền lực lập tức đáp ứng. Vì ta muốn nhấn mạnh với con một lần nữa thật mạnh mẽ rằng các mãnh lực tối tăm chỉ có thể ảnh hưởng và gây nguy hiểm cho những ai trong đó chúng có thể tìm thấy một sự tương đồng nào đó với bản chất riêng của chúng. Vậy nên người nào nghĩ rằng mình đang bị những đối thủ như thế tấn công hãy lập tức tìm kiếm nơi chính mình khuyết điểm khiến cuộc tấn công ấy trở nên khả hữu. |
|
“In Persia these evil entities were reinforced by your inherent vanity and moral weakness which manifested in a feeling of inferiority due to what you imagined to be the indignity of your female form. This hidden conflict made you seek to assert yourself on every possible occasion. Bullies and sadists are always weak people—often obsessed people. You were both. Now I will show you a life which was happier than most, although here again it ended through your own foolishness in apparent disaster.” |
“Ở Ba Tư, những thực thể ác này còn được tăng cường bởi tính hư vinh cố hữu và sự yếu đuối đạo đức của con, biểu lộ trong cảm giác tự ti do điều con tưởng là nỗi nhục của hình tướng nữ giới mình. Cuộc xung đột ẩn kín này khiến con tìm cách khẳng định mình trong mọi dịp có thể. Những kẻ bắt nạt và bạo dâm luôn là những người yếu đuối—thường là những người bị ám nhập. Con là cả hai. Giờ ta sẽ cho con thấy một kiếp sống hạnh phúc hơn phần lớn, mặc dù ở đây nữa nó cũng kết thúc bằng tai họa bề ngoài do chính sự ngu xuẩn của con.” |
|
“And I was a man again, I hope,” I exclaimed. “I seem to have crushed enough feminine experiences into that life to last a considerable time. I must have learned something through what I suffered then.” |
“Và tôi lại là đàn ông, tôi hy vọng thế,” tôi kêu lên. “Tôi dường như đã dồn đủ những kinh nghiệm nữ tính vào kiếp ấy để dùng trong một thời gian khá dài. Hẳn tôi đã học được điều gì đó qua những gì mình chịu đựng khi ấy.” |
|
He smiled. “But do you consider that you did trouble to learn the lessons of a woman? Did you ever acquiesce in your destiny and endeavour to make the best of it? Were you not to the end unbalanced? Did you ever attempt to understand the mysteries of the feminine side of life and the secret of woman’s strength? Did you even learn true sympathy for the causes of feminine fears, pains, difficulties? Did you truly, in deep humility, admit your inadequacy and seek to perfect yourself in woman’s form? No; even while absorbing these experiences you did not attempt to understand their significance, but were merely in a perpetual state of revolt. Once again you can see how, without right application, no amount of knowledge is of any use. The aim of evolution, in so far as it concerns man on the physical plane, is the perfectly balanced human being, composed of the male qualities of will and wisdom and the feminine ones of intuition and love; and until these are manifested in equal degree, the soul will seek expression again and again in a form which gives it the opportunity to adjust the balance. Cihrazad never became a true woman, she never made the most of the gifts which were offered her through the medium of her female sex. |
Ông mỉm cười. “Nhưng con có cho rằng con đã thực sự bận tâm học những bài học của một người đàn bà không? Con đã bao giờ thuận theo số phận mình và cố gắng làm điều tốt nhất từ nó chưa? Con chẳng phải đã mất quân bình cho đến tận cùng sao? Con đã bao giờ cố gắng thấu hiểu những huyền nhiệm của phương diện nữ tính của đời sống và bí mật của sức mạnh người đàn bà chưa? Con có học được sự cảm thông chân thật đối với nguyên nhân của những nỗi sợ hãi, đau đớn, khó khăn của nữ giới không? Con có thật sự, trong sự khiêm hạ sâu xa, thừa nhận sự bất toàn của mình và tìm cách hoàn thiện bản thân trong hình tướng nữ giới không? Không; ngay cả khi đang hấp thụ những kinh nghiệm này, con cũng không cố gắng thấu hiểu ý nghĩa của chúng, mà chỉ đơn thuần ở trong một trạng thái nổi loạn thường trực. Một lần nữa con có thể thấy rằng, nếu không có sự áp dụng đúng đắn, thì bao nhiêu tri thức cũng chẳng ích gì. Mục tiêu của tiến hoá, trong chừng mực nó liên quan đến con người trên cõi hồng trần, là con người hoàn toàn quân bình, được cấu thành bởi những phẩm tính nam tính là ý chí và minh triết cùng những phẩm tính nữ tính là trực giác và tình thương; và cho đến khi những phẩm tính ấy được biểu lộ ở mức độ ngang nhau, linh hồn sẽ còn tìm kiếm sự biểu hiện hết lần này đến lần khác trong một hình tướng cho nó cơ hội điều chỉnh thế quân bình. Cihrazad chưa bao giờ trở thành một người đàn bà chân chính, nàng chưa bao giờ tận dụng tối đa những tặng phẩm được trao cho nàng qua trung gian giới tính nữ của mình. |
|
“Next time—but you shall see for yourself—and judge….” |
“Lần tới—nhưng con sẽ tự mình thấy—và phán xét….” |