Vòng Tái Sinh – Chương IV – Hy Lạp

📘 Sách: Vòng Tái Sinh (Wheel of Life) Song ngữ – Tác giả: H.K. Challoner

CHAPTER IVCHƯƠNG IV

GREECE—HY LẠP

In Greece I returned to earth once more in a woman’s body, but this time I was no longer in revolt against my sex. In the interval I had obviously learned some lessons from my Persian incarnation, and understanding at last how to manipulate the subtle forces that a woman has at her disposal, this time I accepted my destiny and set about attempting to use my feminine potentialities.

Ở Hy Lạp tôi lại trở về Trái Đất một lần nữa trong thân thể đàn bà, nhưng lần này tôi không còn nổi loạn chống lại giới tính của mình nữa. Trong khoảng thời gian xen giữa, hiển nhiên tôi đã học được một số bài học từ kiếp lâm phàm Ba Tư, và cuối cùng đã hiểu cách vận dụng những mãnh lực vi tế mà một người đàn bà có trong tay, nên lần này tôi chấp nhận số phận mình và bắt đầu cố gắng sử dụng những tiềm năng nữ tính của mình.

But in Persia, even after I had been forced to submit to every possible variant of a woman’s life, I had still refused to comply with the laws of nature. I had to the end taken delight in my own sex, choosing lovers from among my fellow slaves. Thus I deliberately perverted that lifestream, which, in its feminine aspect, flowed through my body and in consequence of these excesses, strengthened the purely sensual and material aspect of sex to such an extent that, when I reincarnated in Greece, I was ruled and obsessed by sex currents intensified to an abnormal degree.

Nhưng ở Ba Tư, ngay cả sau khi tôi đã bị buộc phải phục tùng mọi biến thể có thể có của đời sống người đàn bà, tôi vẫn từ chối tuân theo các định luật của bản chất. Cho đến tận cùng tôi vẫn thích thú với chính giới tính của mình, chọn người tình trong số những nữ nô lệ đồng cảnh. Vì thế tôi đã cố ý làm lệch dòng sự sống ấy, dòng mà trong phương diện nữ tính của nó chảy qua thân thể tôi, và hậu quả của những thái quá này là đã làm mạnh thêm phương diện thuần túy nhục dục và vật chất của tính dục đến mức khi tôi tái sinh ở Hy Lạp, tôi bị cai quản và ám ảnh bởi những dòng tính dục được tăng cường đến một mức bất thường.

Thus, already as a young girl, my life was made a torture by desires which I could neither comprehend nor satisfy.

Vì vậy, ngay từ khi còn là một thiếu nữ, đời tôi đã trở thành một cực hình bởi những ham muốn mà tôi không thể hiểu cũng không thể thỏa mãn.

I was headstrong, moody, with a passionate zest for life and a hunger for experience, for knowledge and for beauty; and because of necessity my outlook was coloured by the normal conventions of the times and place in which I lived, it was inevitable that my mind turned to men, as the only possible means through which I could accomplish my desires.

Tôi bướng bỉnh, thất thường, có một niềm say mê mãnh liệt đối với cuộc sống và một cơn đói khát kinh nghiệm, tri thức và cái đẹp; và vì tất yếu, quan điểm của tôi bị nhuốm màu bởi những quy ước thông thường của thời đại và nơi chốn tôi sống, nên điều không thể tránh khỏi là tâm trí tôi hướng về đàn ông, như phương tiện khả dĩ duy nhất qua đó tôi có thể thực hiện những khát vọng của mình.

But there was little chance of any companionship with men for a girl born of Athenian parents. I was brought up in the women’s quarters, taught all the arts which would fit me to become a useful wife and mother of children; there was no other possible future for such as myself. But inwardly, I never accepted this uninteresting destiny for, along with this abnormal craving for sex experience, was a strain of very pure idealism and romance. While on the one hand I dreamed of myself ruling men—since in no other way could my lust for power be satisfied—on the other I also dreamed of an ideal and perfect lover who would open all doors to me and would give me that harmony and completeness for which my soul craved.

Nhưng đối với một cô gái sinh ra từ cha mẹ người Athens thì hầu như không có cơ hội nào để có sự bầu bạn với đàn ông. Tôi được nuôi dạy trong khuê phòng của phụ nữ, được dạy mọi nghệ thuật khiến tôi trở thành một người vợ hữu ích và một người mẹ của con cái; đối với hạng người như tôi thì không có tương lai nào khác. Nhưng trong nội tâm, tôi chưa bao giờ chấp nhận số phận tẻ nhạt ấy, vì cùng với cơn thèm khát bất thường đối với kinh nghiệm tính dục này còn có một mạch lý tưởng và lãng mạn rất thuần khiết. Trong khi một mặt tôi mơ thấy mình cai quản đàn ông—vì không có cách nào khác để cơn khát quyền lực của tôi được thỏa mãn—thì mặt khác tôi cũng mơ về một người tình lý tưởng và hoàn hảo, người sẽ mở ra mọi cánh cửa cho tôi và ban cho tôi sự hài hòa và trọn vẹn mà linh hồn tôi khao khát.

It is said that everyone before birth is shown in a flash the possibilities of his future life. If so, I must have kept a memory more than usually vivid of what was in store for me, for the thought of a marriage arranged with some sensible and worthy youth I had never seen filled me with revulsion.

Người ta nói rằng trước khi sinh ra, ai cũng được cho thấy trong một tia chớp những khả năng của đời sống tương lai mình. Nếu vậy, hẳn tôi đã giữ lại một ký ức sống động hơn thường lệ về điều đang chờ đợi mình, vì ý nghĩ về một cuộc hôn nhân được sắp đặt với một chàng trai đứng đắn và xứng đáng nào đó mà tôi chưa từng gặp đã khiến tôi tràn ngập ghê sợ.

Before even I had reached marriageable age I had fallen desperately in love; there were stolen meetings. I imagined that in this man I had found my ideal. Despite the dangers, I persuaded him to elope with me, while my ambitious parents were arranging a suitable match. We fled from Athens to Sybaris, where the laws were more lax and the status of women more advanced. But all too soon I realized that this man did not satisfy me; still following the will-o’-the-wisp of my dreams, I left him for another. My search went on; drawn by this vague urge for perfection and by the urge, not so vague, of my unappeasable flesh, I passed from lover to lover with the inevitable result that fed by the abandonment of all restraint, the until now dormant evil in my nature began to manifest. No longer did I give myself for even the chimera of love. It was not long before I discovered that my body was worth gold, jewel, slaves, all the symbols of power; greed became my ruling passion, greed of the flesh and greed of material things.

Ngay cả trước khi đến tuổi lấy chồng tôi đã yêu điên cuồng; đã có những cuộc gặp gỡ lén lút. Tôi tưởng rằng nơi người đàn ông này tôi đã tìm thấy lý tưởng của mình. Bất chấp hiểm nguy, tôi thuyết phục y bỏ trốn cùng tôi, trong khi cha mẹ đầy tham vọng của tôi đang sắp đặt một cuộc hôn phối thích hợp. Chúng tôi trốn khỏi Athens đến Sybaris, nơi luật lệ lỏng lẻo hơn và địa vị phụ nữ tiến bộ hơn. Nhưng quá sớm tôi nhận ra rằng người đàn ông này không làm tôi thỏa mãn; vẫn tiếp tục chạy theo ánh lửa ma trơi của những giấc mơ mình, tôi bỏ y để đến với một người khác. Cuộc tìm kiếm của tôi tiếp diễn; bị lôi kéo bởi thôi thúc mơ hồ hướng đến sự hoàn hảo ấy và bởi thôi thúc không hề mơ hồ của xác thịt không thể nguôi ngoai của mình, tôi chuyển từ người tình này sang người tình khác với kết quả tất yếu là, được nuôi dưỡng bởi sự buông thả mọi kiềm chế, cái ác vốn ngủ yên trong bản chất tôi cho đến lúc ấy bắt đầu biểu lộ. Tôi không còn hiến mình ngay cả vì ảo ảnh của tình yêu nữa. Chẳng bao lâu tôi khám phá ra rằng thân thể tôi đáng giá vàng, châu báu, nô lệ, mọi biểu tượng của quyền lực; lòng tham trở thành đam mê thống trị của tôi, lòng tham của xác thịt và lòng tham vật chất.

I returned to Athens, and there in a few years became one of the leading hetaera of the city. I was ambitious; soon I had collected around me a little circle of the most wealthy, the most intelligent, and the most artistic of the Athenians.

Tôi trở về Athens, và ở đó chỉ trong vài năm đã trở thành một trong những hetaera hàng đầu của thành phố. Tôi đầy tham vọng; chẳng bao lâu tôi đã quy tụ quanh mình một vòng tròn nhỏ gồm những người Athens giàu có nhất, thông minh nhất và có tính nghệ thuật nhất.

Yet despite my success, in my heart I felt there was something I had missed in life. I was not happy. I tried to forget my dream, but still it haunted me; at last I realized that no possessions, however rare, no knowledge, however strange and erudite, no lover, however passionate, could satisfy this urge which was not of the flesh alone.

Tuy nhiên, bất chấp thành công của mình, trong tim tôi cảm thấy có điều gì đó tôi đã bỏ lỡ trong đời. Tôi không hạnh phúc. Tôi cố quên giấc mơ của mình, nhưng nó vẫn ám ảnh tôi; cuối cùng tôi nhận ra rằng không tài sản nào, dù hiếm quý đến đâu, không tri thức nào, dù kỳ lạ và uyên bác đến đâu, không người tình nào, dù đam mê đến đâu, có thể thỏa mãn thôi thúc này, vốn không chỉ thuộc về xác thịt mà thôi.

One night a feast was given by a wealthy citizen.

Một đêm kia một bữa tiệc được một công dân giàu có khoản đãi.

The Symposium had begun; most of the guests were already confused by their potations. There were, of course, no women present save a few hetaerae and a number of flautists and dancing girls. The chamber was in disorder, the floor strewn with blossoms and discarded garments. I lay upon the breast of my latest lover, yet I was in no mood for caresses nor for revelry. I had not drunk as much as the others and a strange clarity of vision was upon me. I found myself overcome by distaste at the sight of my fellow revellers. I noticed with scorn that my lover’s face was red and blotched, his mouth half open, and the wreath of white roses hung ridiculously over one eye. Presently there arrived a party of fresh guests who had come on from another feast; I was looking at them idly when my gaze was arrested by one of their number whom I had not seen before. He was young and reasonably goodlooking, but beyond that there was nothing to account for my interest.

Buổi Symposium đã bắt đầu; phần lớn khách khứa đã lảo đảo vì men rượu. Dĩ nhiên không có phụ nữ nào hiện diện ngoài vài hetaera và một số nữ nhạc công thổi sáo cùng các vũ nữ. Căn phòng bừa bộn, sàn nhà rải đầy hoa và y phục bị vứt bỏ. Tôi nằm trên ngực người tình mới nhất của mình, nhưng tôi không có tâm trạng cho những vuốt ve hay cuộc vui chè chén. Tôi không uống nhiều như những người khác và một sự sáng tỏ tầm nhìn kỳ lạ đang ở trên tôi. Tôi thấy mình bị tràn ngập bởi sự chán ghét trước cảnh tượng những kẻ cùng vui quanh mình. Tôi nhận thấy với vẻ khinh miệt rằng mặt người tình tôi đỏ gay và lốm đốm, miệng hé mở một nửa, còn vòng hoa hồng trắng thì buông thõng một cách lố bịch trên một mắt. Một lúc sau có một nhóm khách mới đến từ một bữa tiệc khác; tôi đang lơ đãng nhìn họ thì ánh mắt bị giữ lại bởi một người trong số họ mà trước đây tôi chưa từng thấy. Y còn trẻ và khá ưa nhìn, nhưng ngoài điều đó ra thì không có gì giải thích được sự quan tâm của tôi.

As I raised myself on my elbow to see him better, he turned and his eyes met mine. We stared at each other for a moment which to me seemed an eternity; neither of us moved. What happened. I do not know, but it was as if a flame of fire passed from his heart into mine. I became as another woman; I saw myself and everything about me with new eyes. I was suddenly aware of a feeling of shame and horror. Hardly knowing what I did, with a swift movement I drew up my robe and freeing myself from my lover’s embrace rose to my feet. I saw the stranger speak to one of his companions and thought I heard my name. My one desire was to fly, from what I hardly knew. I picked my way among the recumbent guests, many of whom were already sleeping off their potations and without so much as glancing in his direction, went to the door, calling to a slave to have my litter brought immediately. I waited at the entrance to the house, leaning against a column, faint with agitation, trembling and bewildered.

Khi tôi chống khuỷu tay nâng người lên để nhìn y rõ hơn, y quay lại và mắt y gặp mắt tôi. Chúng tôi nhìn chằm chằm vào nhau trong một khoảnh khắc mà đối với tôi dường như là vĩnh cửu; không ai trong chúng tôi cử động. Điều gì đã xảy ra, tôi không biết, nhưng như thể một ngọn lửa đã truyền từ tim y sang tim tôi. Tôi trở thành một người đàn bà khác; tôi nhìn thấy chính mình và mọi thứ quanh mình bằng đôi mắt mới. Tôi đột nhiên ý thức được một cảm giác hổ thẹn và kinh hoàng. Hầu như không biết mình đang làm gì, với một cử động mau lẹ tôi kéo áo choàng lên và thoát khỏi vòng tay người tình rồi đứng bật dậy. Tôi thấy người lạ nói gì đó với một bạn đồng hành của y và tưởng như nghe thấy tên mình. Điều duy nhất tôi muốn là chạy trốn, khỏi điều gì thì tôi hầu như không biết. Tôi len bước giữa những vị khách đang nằm ngả, nhiều người trong số họ đã ngủ gục vì men rượu, và không hề liếc về phía y lấy một lần, tôi đi ra cửa, gọi một nô lệ bảo mang kiệu của tôi đến ngay. Tôi đứng đợi ở lối vào ngôi nhà, tựa vào một cây cột, gần như ngất đi vì kích động, run rẩy và bàng hoàng.

This must be true love, I thought, the dread, poisoned shaft of Eros. Despite the warmth of the night, I drew my himation over my head and shivered. The sky was dark as velvet overhead with a few faint stars, the air heavy with the scent of flowers; afar off a nightingale was singing. It was a night made for love…. O, why were the slaves so long?

Đây hẳn phải là tình yêu chân thật, tôi nghĩ, mũi tên đáng sợ tẩm độc của Eros. Bất chấp đêm ấm áp, tôi kéo himation trùm lên đầu và run lên. Bầu trời phía trên tối như nhung với vài ngôi sao mờ nhạt, không khí nặng mùi hương hoa; xa xa một con sơn ca đêm đang hót. Đó là một đêm được tạo ra cho tình yêu…. Ôi, sao bọn nô lệ lâu đến thế?

I heard a movement behind me and looked about like a hunted thing. What madness was this? How had the sight of one man turned me back into a frightened girl again?

Tôi nghe có tiếng động phía sau và quay lại như một con thú bị săn đuổi. Cơn điên nào thế này? Làm sao chỉ cái nhìn về một người đàn ông lại biến tôi trở lại thành một cô gái hoảng sợ?

A voice spoke softly.

Một giọng nói cất lên khe khẽ.

“Chloris,” he said, “I beseech you, wait—speak with me a moment. I am Serretes, a sculptor; all my life I have sought a model for my great work, the divine Aphrodite rising from the waves. I have travelled to Egypt, Persia, among the Isles—I never found her. Now I come to Athens—and my eyes see her at last. I cannot let you go. You are she, the woman I have sought, seen in my dreams. I implore you, pose for me.” His voice shook.

“Chloris,” y nói, “xin nàng, hãy đợi—hãy nói với tôi một lát. Tôi là Serretes, một nhà điêu khắc; suốt đời tôi đã tìm kiếm một người mẫu cho tác phẩm lớn của mình, Aphrodite thiêng liêng vươn lên từ sóng nước. Tôi đã đi đến Ai Cập, Ba Tư, qua các đảo—tôi chưa bao giờ tìm thấy nàng. Giờ tôi đến Athens—và cuối cùng mắt tôi đã thấy nàng. Tôi không thể để nàng đi. Nàng chính là người ấy, người đàn bà tôi đã tìm kiếm, đã thấy trong những giấc mơ. Tôi khẩn cầu nàng, hãy làm mẫu cho tôi.” Giọng y run lên.

I dared not look round. The perfume of the violets with which his head was garlanded made me faint. Overcome by emotion, by this extraordinary feeling of shame and terror, my actions were dictated by mere panic. My litter at that moment arrived. Without a word I entered it and drew the curtain in his face, then, flinging myself on the cushions, I began to weep. I had lost him. I did not know what mad impulse had precipitated my flight. All the way back I sobbed distractedly. When the litter stopped before my house I stumbled out. As I did so a figure materialized from the shadows. It was he.

Tôi không dám quay lại nhìn. Hương thơm của những đóa violet quấn thành vòng trên đầu y khiến tôi gần như ngất lịm. Bị cảm xúc lấn át, bởi cảm giác hổ thẹn và kinh hoàng kỳ lạ này, hành động của tôi chỉ do sự hoảng loạn thuần túy chi phối. Đúng lúc ấy kiệu của tôi đến. Không nói một lời tôi bước vào đó và kéo màn che ngay trước mặt y, rồi quăng mình xuống đệm và bắt đầu khóc. Tôi đã đánh mất y. Tôi không biết xung động điên rồ nào đã làm bùng phát cuộc chạy trốn của mình. Suốt quãng đường trở về tôi nức nở trong tuyệt vọng. Khi kiệu dừng trước nhà tôi, tôi loạng choạng bước ra. Vừa lúc ấy một hình bóng hiện ra từ bóng tối. Chính là y.

“I have followed you,” he said. “I could not do otherwise. You scorn me, I suppose; it is true I am as yet poor and unknown. You have a great reputation; your lovers are the richest men in the city; I cannot give you slaves, gold, or jewels—but I will do more.” His voice rang out and I thrilled to the purpose and the strength of him. “I will do what they cannot—I will make you immortal! In ages to come men will look upon your form and glory in the beauty and the perfection of which you will be the symbol. O divine Chloris, will you not listen? Will you not accept my gifts?”

“Tôi đã đi theo nàng,” y nói. “Tôi không thể làm khác. Hẳn nàng khinh tôi; đúng là hiện giờ tôi còn nghèo và vô danh. Nàng có danh tiếng lớn; những người tình của nàng là những người giàu nhất thành phố; tôi không thể cho nàng nô lệ, vàng hay châu báu—nhưng tôi sẽ làm hơn thế.” Giọng y vang lên và tôi rung động trước mục đích cùng sức mạnh nơi y. “Tôi sẽ làm điều họ không thể làm—tôi sẽ khiến nàng bất tử! Trong những thời đại mai sau, con người sẽ nhìn vào hình tướng của nàng và tôn vinh vẻ đẹp cùng sự hoàn hảo mà nàng sẽ là biểu tượng. Ôi Chloris thiêng liêng, nàng sẽ không lắng nghe sao? Nàng sẽ không nhận những tặng phẩm của tôi sao?”

I turned to him, my face ravaged with tears. The light from above the doorway shone down upon it, but I did not care.

Tôi quay về phía y, khuôn mặt tan nát vì nước mắt. Ánh sáng từ phía trên khung cửa chiếu xuống mặt tôi, nhưng tôi không bận tâm.

“I do not want your gifts,” I said. “I want nothing from you, O Serretes….”

“Tôi không muốn những tặng phẩm của chàng,” tôi nói. “Tôi không muốn gì từ chàng, hỡi Serretes….”

His expression changed, his hands dropped to his sides.

Nét mặt y thay đổi, hai tay buông xuống hai bên.

“You reject me, then? Is there no hope?”

“Vậy là nàng từ chối tôi? Không còn hy vọng nào sao?”

I laughed softly, lifting my face to his, opening my arms in a gesture of abandon. “I want nothing from you —I desire only to give you—love. Do I ask too much?”

Tôi cười khẽ, ngẩng mặt lên phía y, dang tay trong một cử chỉ phó mặc. “Tôi không muốn gì từ chàng—tôi chỉ mong được cho chàng—tình yêu. Tôi có đòi hỏi quá nhiều chăng?”

He drew a quick breath, then flung up his hands to the dark sky. “O Aphrodite, not for nothing did I make vows and sacrifices at thy shrine. O Eros, blessed be thou among the Gods!”

Y hít nhanh một hơi, rồi giơ hai tay lên bầu trời tối. “Ôi Aphrodite, không phải vô ích mà tôi đã lập lời nguyện và dâng hiến nơi điện thờ của nàng. Ôi Eros, phúc thay cho ngài giữa các Thượng đế!”

And, catching me in his arms, as a bridegroom carries his bride, so did he bear me across the threshold into my house.

Rồi chộp lấy tôi trong vòng tay, như chú rể bế cô dâu của mình, y đã mang tôi qua ngưỡng cửa vào nhà tôi.

There followed three years of such bliss that I think is rarely given to mortals. I took a villa in the country; there he worked, and there we spent long hours wandering through the groves and over the hills in a companionship so perfect that sometimes I feared we would incur the jealousy of the gods. But all too soon a shadow fell upon our love. Serrete’s work began to be acclaimed far and wide and we were forced to return to Athens. There I found myself devoured by jealousy. Only a man as strong and yet as gentle as he could have endured the wild scenes I made. I wanted him for myself alone, was racked with doubts and fears if he were for a few hours out of my sight. I must have made his life a torment, but his patience and his love were proof even against my uncontrolled passions. Moreover, he sought ever to endow me with some of his own stability and with that philosophic outlook which certainly at this time stood him in good stead.

Tiếp theo đó là ba năm chí phúc mà tôi nghĩ hiếm khi được ban cho người phàm. Tôi thuê một biệt thự ở miền quê; ở đó y làm việc, và ở đó chúng tôi trải qua những giờ dài lang thang qua những lùm cây và trên các sườn đồi trong một tình bạn đồng hành hoàn hảo đến mức đôi khi tôi sợ chúng tôi sẽ chuốc lấy sự ghen tị của các thần. Nhưng quá sớm một bóng tối đã phủ lên tình yêu của chúng tôi. Tác phẩm của Serretes bắt đầu được ca ngợi khắp nơi và chúng tôi buộc phải trở về Athens. Ở đó tôi thấy mình bị lòng ghen tuông gặm nhấm. Chỉ một người đàn ông mạnh mẽ mà dịu dàng như y mới có thể chịu đựng được những cảnh tượng điên cuồng tôi gây ra. Tôi muốn có y cho riêng mình, bị giày vò bởi nghi ngờ và sợ hãi nếu y khuất khỏi mắt tôi chỉ vài giờ. Hẳn tôi đã biến đời y thành một cực hình, nhưng sự nhẫn nại và tình yêu của y vẫn đứng vững ngay cả trước những đam mê mất kiểm soát của tôi. Hơn nữa, y luôn tìm cách ban cho tôi một phần sự ổn định của chính mình và cái quan điểm triết lý mà chắc chắn vào thời điểm này đã giúp ích rất nhiều cho y.

He was a citizen of Crotona and before meeting me had been about to enter the school of Pythagoras and take upon himself the preliminary vows of three years’ silence. His mind still turned towards the centre of learning and of wisdom; often he would discuss the possibility of my also travelling to Crotona, which he passionately loved. But I saw in Pythagoras a danger to our close union and although a part of me was also attracted towards the idea, rather than risk having to share my lover even with so cold a mistress as philosophy, I sought to entice him from these dreams and to hold him welded ever more closely to me by the fires of my love.

Y là một công dân của Crotona và trước khi gặp tôi đã sắp sửa vào trường phái của Pythagoras và nhận lấy những lời nguyện sơ khởi của ba năm im lặng. Tâm trí y vẫn hướng về trung tâm học hỏi và minh triết ấy; y thường bàn đến khả năng tôi cũng sẽ cùng đi Crotona, nơi y yêu tha thiết. Nhưng tôi thấy ở Pythagoras một mối nguy cho sự kết hợp mật thiết của chúng tôi và mặc dù một phần trong tôi cũng bị ý tưởng ấy hấp dẫn, song thay vì mạo hiểm phải chia sẻ người tình của mình ngay cả với một tình nhân lạnh lùng như triết học, tôi tìm cách quyến rũ y rời xa những giấc mơ ấy và giữ y hàn chặt ngày càng gần hơn với tôi bằng ngọn lửa tình yêu của mình.

Then suddenly Fate took a hand in my affairs. War broke out between Crotona and Sybaris. Serretes announced that he must return and help defend the sacred soil of his fatherland.

Rồi đột nhiên Số Mệnh nhúng tay vào công việc của tôi. Chiến tranh bùng nổ giữa Crotona và Sybaris. Serretes tuyên bố rằng y phải trở về và giúp bảo vệ mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc mình.

To me it seemed the end of all my dreams. As a child I had always been obsessed with an unreasoning horror of warfare in any form—the sight even of warriors terrified me still. Now I became convinced that Serretes would be killed. I used all my arts to break his resolution, but his sense of duty towards the city that had given him birth was stronger even than our love. I left him no peace; I upbraided and stormed, I sulked and wept. The exquisite harmony of our life was broken; for the first time we disputed almost endlessly. At last, the day before he had arranged to leave, I made my last throw and threatened that, if he deserted me, I would return to my old life which I had abandoned for his sake.

Đối với tôi điều đó dường như là tận cùng của mọi giấc mơ. Từ nhỏ tôi luôn bị ám ảnh bởi một nỗi kinh hoàng vô lý đối với chiến tranh dưới bất kỳ hình thức nào—ngay cả cảnh chiến binh cũng vẫn làm tôi khiếp sợ. Giờ đây tôi tin chắc rằng Serretes sẽ bị giết. Tôi dùng mọi nghệ thuật của mình để phá vỡ quyết tâm của y, nhưng ý thức bổn phận của y đối với thành phố đã sinh ra mình còn mạnh hơn cả tình yêu của chúng tôi. Tôi không để y được yên; tôi trách móc và nổi giận, tôi hờn dỗi và khóc lóc. Sự hài hòa tuyệt mỹ của đời sống chúng tôi bị phá vỡ; lần đầu tiên chúng tôi tranh cãi gần như không dứt. Cuối cùng, vào ngày trước khi y dự định ra đi, tôi tung nước cờ cuối cùng và đe dọa rằng nếu y bỏ rơi tôi, tôi sẽ quay lại đời sống cũ mà tôi đã từ bỏ vì y.

He only smiled at me and said sadly: “Do I not know it? It is that alone which makes me hesitate—yet even so I must go. Yes, my beloved, I know your necessity, you need men as we need air to breathe. You will always need them to content your tyrannous, lovely body and to satisfy the greed of your insatiable mind. As you had many lovers before I came, so you will have many after. In that we are different. I shall never desire any woman but you.”

Y chỉ mỉm cười với tôi và buồn bã nói: “Chẳng phải ta biết điều đó sao? Chính điều ấy khiến ta do dự—nhưng dù vậy ta vẫn phải đi. Đúng thế, người yêu dấu của ta, ta biết sự tất yếu của nàng, nàng cần đàn ông như chúng ta cần không khí để thở. Nàng sẽ luôn cần họ để làm thỏa mãn thân thể đẹp đẽ mà chuyên chế của nàng và để thỏa mãn lòng tham của tâm trí không bao giờ no đủ của nàng. Cũng như nàng đã có nhiều người tình trước khi ta đến, nàng sẽ có nhiều người sau khi ta đi. Ở điểm đó chúng ta khác nhau. Ta sẽ không bao giờ còn ham muốn người đàn bà nào ngoài nàng.”

“Yet you will leave me to them?”

“Vậy mà chàng vẫn bỏ tôi cho họ sao?”

“I must.” He came to where I lay upon my couch and took me in his arms. “O Chloris, do not make it so hard for me. Crotona is small, every man must fight if we are to defeat the Sybarites. If I remained here I would never know happiness, even in your arms, for I should feel I had played the traitor to my people in their need. You—are free.”

“Ta phải thế.” Y đến chỗ tôi đang nằm trên trường kỷ và ôm tôi vào lòng. “Ôi Chloris, đừng làm điều ấy quá khó khăn đối với ta. Crotona nhỏ bé, mọi người đàn ông đều phải chiến đấu nếu chúng ta muốn đánh bại dân Sybaris. Nếu ta ở lại đây, ta sẽ không bao giờ biết hạnh phúc, ngay cả trong vòng tay nàng, vì ta sẽ cảm thấy mình đã đóng vai kẻ phản bội dân tộc mình trong lúc họ cần. Còn nàng—nàng tự do.”

At that I broke down and wept bitterly. “No,” I sobbed “I do not want freedom. I did not know love before I met you—I will never love again. I swear I will be faithful.”

Nghe vậy tôi suy sụp và khóc nức nở. “Không,” tôi nức nở, “tôi không muốn tự do. Tôi đã không biết tình yêu trước khi gặp chàng—tôi sẽ không bao giờ yêu nữa. Tôi thề tôi sẽ chung thủy.”

We were seated in the courtyard. I raised my eyes in despair. It was so beautiful here, but when he went he would take all its beauty with him. I looked at the dazzling sunlight on the pavement; it caught the water from the slender fountain in jewels of colour. Beyond, in the warm shadows, the delicate columns of the Atrium arose in muted whiteness, and here stood his masterpiece, Aphrodite, turning sideways as she arose from the waves, with so exquisite a gesture, so vivid a glance, that life seemed to pulse within her rounded limbs. She was his gift to me— my immortality.

Chúng tôi đang ngồi trong sân trong. Tôi ngước mắt lên trong tuyệt vọng. Nơi đây đẹp biết bao, nhưng khi y đi, y sẽ mang theo mọi vẻ đẹp của nó. Tôi nhìn ánh nắng chói chang trên nền lát; nó bắt lấy nước từ vòi phun mảnh mai thành những viên ngọc màu sắc. Phía xa hơn, trong những bóng râm ấm áp, những cột thanh nhã của Atrium vươn lên với sắc trắng dịu, và ở đây đứng kiệt tác của y, Aphrodite, nghiêng mình khi vươn lên từ sóng nước, với một cử chỉ tinh tế đến thế, một ánh nhìn sống động đến thế, rằng sự sống dường như đang đập trong những chi thể tròn đầy của nàng. Đó là tặng phẩm của y cho tôi—sự bất tử của tôi.

I pointed to the statue. “By Eros I swear that I will remain as chaste and cold as yonder woman until you return.”

Tôi chỉ vào pho tượng. “Nhân danh Eros tôi thề rằng tôi sẽ giữ mình trinh khiết và lạnh lùng như người đàn bà kia cho đến khi chàng trở về.”

It was the first time I had acknowledged my defeat. He held me closer, putting his hand over my mouth almost fearfully. “Do not swear, Chloris; I do not want oaths from you, only your assurance that you will greet me again with joy.” He drew a heavy ring from his finger. “Wear this for me, it is my pledge to you. Nothing will ever change my love; the memory of your beauty will give me strength; I think it will shield me from death himself.”

Đó là lần đầu tiên tôi thừa nhận thất bại của mình. Y ôm tôi chặt hơn, gần như sợ hãi đặt tay lên miệng tôi. “Đừng thề, Chloris; ta không muốn những lời thề từ nàng, chỉ muốn sự bảo đảm rằng nàng sẽ lại đón ta với niềm vui.” Y rút từ ngón tay mình một chiếc nhẫn nặng. “Hãy đeo cái này vì ta, đó là lời cam kết của ta với nàng. Không gì có thể thay đổi tình yêu của ta; ký ức về vẻ đẹp của nàng sẽ cho ta sức mạnh; ta nghĩ nó sẽ che chở ta khỏi chính tử thần.”

But like a child I clung to him. “I want to swear,” I cried. “I desire to bind myself to you by all the oaths in heaven and earth.” I raised my head suddenly. “Serretes, often you have implored me to wed you, but I have refused. Now if you still wish it I will do so, then I will feel unalterably bound. As your wife I must be chaste lest I shame you before all Athens.” I wept again. “There is nothing I desire more in the world than to be true to you.”

Nhưng như một đứa trẻ tôi bám lấy y. “Tôi muốn thề,” tôi kêu lên. “Tôi muốn tự ràng buộc mình với chàng bằng mọi lời thề trên trời dưới đất.” Tôi đột ngột ngẩng đầu lên. “Serretes, chàng thường van xin tôi cưới chàng, nhưng tôi đã từ chối. Giờ nếu chàng vẫn còn muốn điều đó thì tôi sẽ làm, khi ấy tôi sẽ cảm thấy mình bị ràng buộc không thể thay đổi. Là vợ chàng tôi phải giữ mình trinh khiết kẻo làm chàng xấu hổ trước toàn thể Athens.” Tôi lại khóc. “Không có gì trên đời tôi mong muốn hơn là được chân thật với chàng.”

At first, proud of being the wife of Serretes, I kept myself in strict seclusion. I lived for his letters and, having been taught by him the rudiments of his craft, amused myself by endeavouring to copy his work. News came but seldom and at increasingly long intervals. At last all letters ceased. Yet still I hoped. The months dragged on. This unaccustomed existence was little less than torture to me, who had been used all my life to the licentious companionship of the men of Athens. I certainly kept myself faithful, but at what cost! Serretes had spoken truly when he said I was not made for chastity. But I did it out of love for him. Yet when his silence had lasted for months, my determination began to waver. I asked myself what object —if he were indeed dead—would there be for me to continue living in a state of senseless chastity—stagnation of body as of mind; for my body left me no peace, and I felt that my mind could not long stand the strain to which it was at present subjected. Yet I did not dare come out into the world of men again, for I knew my own weakness too well and mistrusted it.

Thoạt đầu, tự hào vì là vợ của Serretes, tôi giữ mình trong sự ẩn cư nghiêm ngặt. Tôi sống vì những lá thư của chàng và, vì đã được chàng dạy cho những điều sơ đẳng trong nghề của chàng, tôi tự giải khuây bằng cách cố gắng sao chép công việc của chàng. Tin tức đến rất hiếm hoi và với những khoảng cách ngày càng dài. Cuối cùng mọi thư từ đều dứt hẳn. Thế nhưng tôi vẫn hy vọng. Những tháng ngày lê thê trôi qua. Kiểu sống không quen thuộc này đối với tôi gần như là cực hình, tôi vốn suốt đời đã quen với sự bầu bạn phóng túng của những người nam ở Athens. Chắc chắn tôi đã giữ lòng chung thủy, nhưng với giá nào! Serretes đã nói đúng khi chàng bảo tôi không được tạo ra cho đức hạnh trinh khiết. Nhưng tôi làm điều đó vì tình yêu dành cho chàng. Tuy nhiên, khi sự im lặng của chàng đã kéo dài nhiều tháng, quyết tâm của tôi bắt đầu dao động. Tôi tự hỏi còn mục đích gì —nếu quả thật chàng đã chết— để tôi tiếp tục sống trong trạng thái trinh khiết vô nghĩa ấy — sự đình trệ của thân thể cũng như của trí tuệ; vì thân thể tôi không để tôi được yên, và tôi cảm thấy trí tuệ mình không thể chịu đựng lâu hơn sự căng thẳng mà lúc ấy nó đang phải gánh chịu. Tuy vậy tôi không dám bước ra lại vào thế giới của những người nam, vì tôi biết quá rõ sự yếu đuối của chính mình và không tin cậy nó.

For hours I would pace restlessly up and down, starting at every knock upon the door, hoping it might be a messenger or someone come to visit me. The place was so still…. I supposed that very soon I would be forgotten —other women would have usurped my place in the life of the city.

Hàng giờ liền tôi đi đi lại lại một cách bồn chồn, giật mình trước mỗi tiếng gõ cửa, hy vọng đó có thể là một sứ giả hay ai đó đến thăm tôi. Nơi ấy tĩnh lặng đến thế…. Tôi cho rằng chẳng bao lâu nữa tôi sẽ bị lãng quên — những người đàn bà khác sẽ chiếm mất chỗ của tôi trong đời sống của thành phố.

Then, panic-stricken, I would rush to my mirror and spend hours decking myself, working upon my face apprehensively; surely, I thought, grief and anxiety were leaving their mark upon me.

Rồi, hoảng loạn, tôi lao đến gương và dành hàng giờ để trang điểm, lo lắng chăm chút khuôn mặt mình; hẳn là, tôi nghĩ, đau buồn và lo âu đang để lại dấu vết trên tôi.

Nearly a year passed. I was becoming thin, nerve- racked. Often I was sharp with my slaves, I, who at least had always counted among my virtues generosity and kindness to all those who served me.

Gần một năm trôi qua. Tôi trở nên gầy gò, thần kinh suy kiệt. Thường khi tôi gắt gỏng với các nô lệ của mình, tôi, người ít nhất vẫn luôn kể trong các đức tính của mình sự rộng lượng và lòng tử tế đối với tất cả những ai phụng sự tôi.

I became frightened at the change in myself; I heard of a new Egyptian physician who was becoming very fashionable and determined to seek his advice.

Tôi bắt đầu sợ hãi trước sự thay đổi nơi chính mình; tôi nghe nói về một thầy thuốc Ai Cập mới đang trở nên rất thời thượng và quyết định tìm đến xin lời khuyên của ông.

From the day I went to him, Nectanebes was continually at my house. He fascinated me and at the same time I feared him. Starved of love, longing for flattery, I could never resist listening to his honeyed words; moreover, his knowledge was vast and he gave me glimpses of strange, forbidden lore and a philosophy which, in its way, was as attractive to me as that of Serretes had been, for it promised magic, mystery, power. He laughed at my ideal of fidelity to my lover, and I recalled how Serretes himself had said he did not expect me to be faithful. I was torn between them. Yet for long I refused to succumb to the

Từ ngày tôi đến gặp ông, Nectanebes hầu như luôn có mặt trong nhà tôi. Ông mê hoặc tôi và đồng thời tôi cũng sợ ông. Đói khát tình yêu, khao khát được tâng bốc, tôi không bao giờ có thể cưỡng lại việc lắng nghe những lời ngọt như mật của ông; hơn nữa, kiến thức của ông rất rộng lớn và ông cho tôi thoáng thấy những tri thức kỳ lạ, bị cấm đoán cùng một triết lý mà theo cách riêng của nó hấp dẫn tôi chẳng kém gì triết lý của Serretes, vì nó hứa hẹn huyền thuật, huyền nhiệm, quyền năng. Ông cười nhạo lý tưởng chung thủy với người yêu của tôi, và tôi nhớ lại rằng chính Serretes cũng đã nói chàng không mong tôi chung thủy. Tôi bị giằng xé giữa hai người. Tuy vậy trong một thời gian dài tôi vẫn từ chối khuất phục trước

Egyptian’s pleadings, despite his promises and the skilful way he played upon my vanity, my credulity, and my greed.

những lời van nài của người Ai Cập, bất chấp những lời hứa của ông và cách khéo léo ông tác động vào tính hư vinh, sự cả tin và lòng tham của tôi.

One day while we were seated in the courtyard he said: “There is nothing in the world I will not give you, Chloris, even unto eternal youth itself, if you will give yourself to me; together—we might obtain even that secret.”

Một hôm khi chúng tôi ngồi trong sân, ông nói: “Không có gì trên đời này mà ta không cho nàng, Chloris, cho đến cả tuổi xuân vĩnh cửu nữa, nếu nàng chịu hiến mình cho ta; cùng nhau — chúng ta thậm chí có thể đạt được cả bí mật ấy.”

I glanced up in amazement at his words. “Eternal youth? You rave I No man has that power.”

Tôi ngước lên nhìn ông đầy kinh ngạc trước những lời ấy. “Tuổi xuân vĩnh cửu ư? Ông mê sảng rồi! Không người nào có quyền năng ấy.”

He gave a secret smile. “Ah, what do you know of power although you live for it and desire it so ardently?” With a swift movement he seized me by the wrist and drew me to the stone basin.

Ông mỉm một nụ cười kín đáo. “À, nàng biết gì về quyền năng, dù nàng sống vì nó và khao khát nó mãnh liệt đến thế?” Với một cử động nhanh, ông nắm lấy cổ tay tôi và kéo tôi đến bồn đá.

“Look,” he said, pointing down into the still water at my image reflected there, “in that beauty is the whole source of your power, in your white body, in the swiftness, the grace, the hot passion of your youth! Yet these will fade; your eyes will grow dull, your skin will wrinkle and your body become a reproach. You need riches, luxury, admiration for your happiness; without beauty even Serretes, were he alive, would abandon you—do not believe that he would want you bereft of that. But he has already abandoned you for—a city! Other lovers would think more of you than this; even so, they would forget you when you grow old, or look upon you with pity and reproach. What will your fate be?” He thrust this face close to mine. “Shall I prophesy? A poor, raddled harlot, clinging to the rough necks of drunken sailors in the ports —or a begger whining for alms in the gates of Athens? Or death, perhaps—poison for despair?”

“Nhìn đi,” ông nói, chỉ xuống làn nước tĩnh lặng vào hình ảnh tôi phản chiếu trong đó, “trong sắc đẹp ấy là toàn bộ nguồn gốc quyền năng của nàng, trong thân thể trắng ngần của nàng, trong sự nhanh nhẹn, duyên dáng, niềm đam mê nóng bỏng của tuổi trẻ nàng! Nhưng những thứ ấy sẽ phai tàn; mắt nàng sẽ mờ đục, da nàng sẽ nhăn nheo và thân thể nàng sẽ trở thành điều đáng hổ thẹn. Nàng cần giàu sang, xa hoa, sự ngưỡng mộ để được hạnh phúc; không có sắc đẹp thì ngay cả Serretes, nếu chàng còn sống, cũng sẽ bỏ rơi nàng — đừng tin rằng chàng sẽ muốn nàng khi đã mất điều đó. Nhưng chàng đã bỏ rơi nàng vì — một thành phố! Những người tình khác hẳn sẽ nghĩ đến nàng nhiều hơn thế; dù vậy, họ cũng sẽ quên nàng khi nàng già đi, hoặc nhìn nàng với lòng thương hại và sự trách móc. Số phận nàng sẽ ra sao?” Ông dí sát khuôn mặt ấy vào mặt tôi. “Ta có nên tiên tri không? Một ả kỹ nữ tàn tạ, bám lấy những chiếc cổ thô ráp của đám thủy thủ say khướt ở các bến cảng — hay một kẻ ăn xin rên rỉ xin bố thí nơi cổng thành Athens? Hoặc có lẽ là cái chết — thuốc độc vì tuyệt vọng?”

His words were like barbed darts, thrusting venom into my veins. I stared, fascinated upon my reflection, and at that moment a breeze, springing it seemed from nowhere, ruffled the water; the image became horribly distorted. Terror seized me. It was true: my beauty was my only weapon, my dearest possession, and I was squandering it, weeping for Serretes who had indeed, as Nectanebes said, betrayed my love for that empty tiling he called his honour.

Những lời ông như những mũi lao có ngạnh, tiêm nọc độc vào huyết quản tôi. Tôi nhìn chằm chằm, bị mê hoặc, vào hình ảnh phản chiếu của mình, và đúng lúc ấy một cơn gió nhẹ, như từ đâu đó nổi lên, làm gợn mặt nước; hình ảnh ấy trở nên méo mó một cách khủng khiếp. Kinh hoàng chụp lấy tôi. Đúng vậy: sắc đẹp là vũ khí duy nhất của tôi, là tài sản quý nhất của tôi, và tôi đang phung phí nó, khóc than vì Serretes, người quả thật, như Nectanebes đã nói, đã phản bội tình yêu của tôi vì cái vật trống rỗng mà chàng gọi là danh dự.

The Egyptian seated himself upon the edge of the basin and drew me down beside him.

Người Ai Cập ngồi xuống mép bồn và kéo tôi ngồi xuống bên cạnh ông.

“Listen,” he said; “in Egypt I had great powers; I studied magic. I am rich beyond your dreams. If you do as I desire you shall have such jewels as no woman in Athens has ever seen; horses from Persia, slaves innumerable—nothing shall be denied you. Furthermore, I believe it to be possible through magical rites to attain eternal youth and beauty, knowledge which will bind men to us for ever. Is it not mad to sacrifice your whole life for an ideal?” His persuasive voice went on and as I listened and saw those glittering visions, the image of Serretes grew fainter. Yet still I was torn this way and that.

“Hãy nghe đây,” ông nói; “ở Ai Cập ta có những quyền năng lớn; ta đã học huyền thuật. Ta giàu có vượt xa mọi giấc mơ của nàng. Nếu nàng làm theo điều ta mong muốn, nàng sẽ có những châu báu mà chưa người đàn bà nào ở Athens từng thấy; ngựa từ Ba Tư, nô lệ vô số — sẽ không điều gì bị từ chối nàng. Hơn nữa, ta tin rằng qua các nghi lễ huyền thuật có thể đạt được tuổi xuân và sắc đẹp vĩnh cửu, một tri thức sẽ trói buộc đàn ông vào chúng ta mãi mãi. Có điên rồ không khi hi sinh cả đời mình cho một lý tưởng?” Giọng nói đầy thuyết phục của ông tiếp tục, và khi tôi lắng nghe và nhìn thấy những linh ảnh lấp lánh ấy, hình ảnh Serretes mờ dần. Nhưng tôi vẫn còn bị giằng co theo cả hai phía.

“If I do this thing,” I said at last, “how do I know that you will give me the secret of youth? By what oath can a man like you be bound?”

“Nếu tôi làm điều này,” cuối cùng tôi nói, “làm sao tôi biết ông sẽ cho tôi bí mật của tuổi xuân? Một người như ông có thể bị ràng buộc bởi lời thề nào?”

He smiled and drew from his girdle a phial of crystal filled with a dull purple liquid. “This is of more worth than any oath in the world, for it is the very elixir of youth that you desire.”

Ông mỉm cười và rút từ thắt lưng ra một lọ pha lê chứa đầy chất lỏng màu tím xỉn. “Thứ này đáng giá hơn bất kỳ lời thề nào trên đời, vì nó chính là linh dược tuổi xuân mà nàng mong muốn.”

“Give it me!” I cried.

“Hãy đưa nó cho tôi!” tôi kêu lên.

But he laughed and held it out of reach. “No, no, there is not enough here. You do not know what strange rites, what mysterious essences go to the distillation of this liquid. One touch each dawn upon the tongue for six months—and it will have done its work. Think, Chloris, eternal youth—beauty—power!”

Nhưng ông cười và giữ nó ngoài tầm với. “Không, không, ở đây không đủ. Nàng không biết những nghi thức kỳ lạ nào, những tinh chất huyền bí nào đã đi vào sự chưng cất chất lỏng này. Mỗi bình minh chạm một giọt lên đầu lưỡi trong sáu tháng — và nó sẽ hoàn thành công việc của nó. Hãy nghĩ đi, Chloris, tuổi xuân vĩnh cửu — sắc đẹp — quyền năng!”

I sat staring upon it, breathing hard. I told myself that if Serretes was dead, nothing mattered; if he returned I would have obtained such knowledge as might well eclipse all the alleged wonders of the teaching of Pythagoras.

Tôi ngồi nhìn chằm chằm vào nó, thở gấp. Tôi tự nhủ rằng nếu Serretes đã chết thì không gì còn quan trọng; nếu chàng trở về, tôi sẽ đạt được một tri thức có thể làm lu mờ mọi điều kỳ diệu được cho là có trong giáo huấn của Pythagoras.

“Where can we obtain—enough?” I whispered.

“Chúng ta có thể lấy — đủ — ở đâu?” tôi thì thầm.

“At the ceremonies of Hecate. If you will come with me tonight to her temple, you will be shown these mysteries and the future will be yours.”

“Tại các nghi lễ của Hecate. Nếu tối nay nàng đi với ta đến đền thờ của bà, nàng sẽ được cho thấy những huyền nhiệm ấy và tương lai sẽ thuộc về nàng.”

I went, and once having given myself to Nectanebes, fell more and more under the spell of his personality. Athens laughed and mocked, but I did not care. As one part of me had been drawn and responded to Serretes, so did another part find in the Egyptian complete satisfaction. Only one thing, despite all his pleading, I refused to do and that was to return to the Temple of Hecate and take part again in her rites. I had discovered that magic terrified me and I tried to forget all that I had seen there.

Tôi đã đi, và một khi đã hiến mình cho Nectanebes, tôi ngày càng rơi sâu hơn dưới bùa lực của phàm ngã ông. Athens cười nhạo và chế giễu, nhưng tôi không bận tâm. Cũng như một phần trong tôi đã bị Serretes lôi cuốn và đáp ứng, thì một phần khác trong tôi lại tìm thấy nơi người Ai Cập một sự thỏa mãn trọn vẹn. Chỉ có một điều, bất chấp mọi lời van nài của ông, tôi từ chối làm, đó là trở lại Đền Hecate và lại tham dự các nghi lễ của bà. Tôi đã khám phá ra rằng huyền thuật làm tôi kinh hãi và tôi cố quên tất cả những gì mình đã thấy ở đó.

Then one day I received a letter from Serretes. In it he told me that he had been wounded and taken prisoner. For months he had been desperately ill. He had been sold as a slave, but had been given his freedom and was returning to Crotona where he implored me to come and join him.

Rồi một ngày kia tôi nhận được thư của Serretes. Trong thư chàng kể rằng chàng đã bị thương và bị bắt làm tù binh. Trong nhiều tháng chàng đã ốm nặng đến tuyệt vọng. Chàng đã bị bán làm nô lệ, nhưng rồi được trả tự do và đang trở về Crotona, nơi chàng khẩn cầu tôi đến đoàn tụ với chàng.

I told Nectanebes and informed him that I was leaving Athens immediately.

Tôi kể cho Nectanebes biết và báo cho ông rằng tôi sẽ rời Athens ngay lập tức.

He tried to dissuade me, but in vain. I looked at him now coldly; I did not want to remember that he had ever been my lover. Then he began to threaten, and his threats were terrible. I was shaken and alarmed. In order to gain time I promised him I would not leave Athens but would beg Serretes to come to me; but I made secret preparations for my departure and resolutely refused to allow Nectanebes to approach me as a lover.

Ông cố can ngăn tôi, nhưng vô ích. Giờ đây tôi nhìn ông một cách lạnh lùng; tôi không muốn nhớ rằng ông đã từng là người tình của tôi. Rồi ông bắt đầu đe dọa, và những lời đe dọa của ông thật khủng khiếp. Tôi bị chấn động và hoảng sợ. Để kéo dài thời gian tôi hứa với ông rằng tôi sẽ không rời Athens mà sẽ cầu xin Serretes đến với tôi; nhưng tôi bí mật chuẩn bị cho cuộc ra đi của mình và kiên quyết từ chối không cho Nectanebes đến gần tôi như một người tình.

It was not easy for me to escape. Nectanebes had my house watched and I was almost a prisoner. So the days slipped away; then at last I received another letter from Serretes. There were but a few lines. Fie wrote that he had received the letter from me saying that I had ceased to love him and returning him the ring he had given me.

Tôi không dễ gì trốn thoát. Nectanebes cho người canh chừng nhà tôi và tôi gần như là một tù nhân. Vì thế ngày tháng cứ trôi đi; rồi cuối cùng tôi nhận được một lá thư khác của Serretes. Chỉ có vài dòng. Chàng viết rằng chàng đã nhận được thư của tôi nói rằng tôi không còn yêu chàng nữa và gửi trả lại chiếc nhẫn chàng đã tặng tôi.

“As for me,” he wrote, “I will never cease to love you in this life or any other. I have always understood how hard it must be for a woman like yourself to remain faithful, even in thought. But since you are lost to me the world has become empty—even my art is vain. I have entered the school of the Master Pythagoras and by the time this reaches you, shall have taken the vow of silence. In these three years of quietude my thoughts will ever be with you; may the gods keep you and bring you all your desires.”

“Phần tôi,” chàng viết, “tôi sẽ không bao giờ ngừng yêu nàng trong kiếp này hay bất kỳ kiếp nào khác. Ta luôn hiểu việc một người đàn bà như nàng phải giữ lòng chung thủy, ngay cả trong tư tưởng, hẳn khó khăn biết bao. Nhưng vì nàng đã mất đối với ta, thế giới đã trở nên trống rỗng — ngay cả nghệ thuật của ta cũng vô nghĩa. Ta đã vào trường của Chân sư Pythagoras và vào lúc thư này đến tay nàng, ta sẽ đã thọ lời nguyện im lặng. Trong ba năm tĩnh lặng này, tư tưởng ta sẽ luôn ở bên nàng; cầu mong các thần gìn giữ nàng và mang đến cho nàng mọi điều nàng mong ước.”

My first thought was for the ring. It was long since I had worn it and I was careless with my jewels. I set all my women searching. It could not be found. I knew then that this was the work of Nectanebes.

Ý nghĩ đầu tiên của tôi là về chiếc nhẫn. Đã lâu rồi tôi không đeo nó và tôi vốn bất cẩn với nữ trang của mình. Tôi sai tất cả các nữ tỳ đi tìm. Không thể tìm thấy nó. Khi ấy tôi biết đây là việc làm của Nectanebes.

When he came I confronted him. He denied nothing. He had sent a letter and the ring. “I wish to take you back to Egypt with me—I can use you there for the great purpose to which my life is dedicated. You will be rich and happy—happier than you could ever be with so poor a lover.”

Khi ông đến tôi đối chất với ông. Ông không phủ nhận gì cả. Ông đã gửi lá thư và chiếc nhẫn. “Ta muốn đưa nàng trở lại Ai Cập với ta — ở đó ta có thể dùng nàng cho mục đích lớn lao mà đời ta hiến dâng. Nàng sẽ giàu có và hạnh phúc — hạnh phúc hơn nhiều so với khi ở với một người tình nghèo nàn như thế.”

A fierce battle of wills ensued between us, yet try as he might, he could no longer dominate me—the spell was broken and now I desired only that I might never look upon his face again.

Một cuộc chiến ý chí dữ dội diễn ra giữa chúng tôi, nhưng dù ông có cố đến đâu, ông cũng không còn có thể thống trị tôi nữa — bùa lực đã tan vỡ và giờ đây tôi chỉ mong sao không bao giờ còn phải nhìn mặt ông nữa.

At last, defeated, he turned to go, but at the door he paused. “Do you remember the picture I showed you in the fountain? That fate shall be yours, it is my parting gift to the lovely Chloris—I lay my curse upon you.”

Cuối cùng, bại trận, ông quay đi, nhưng đến cửa ông dừng lại. “Nàng còn nhớ bức hình ta đã cho nàng thấy trong đài phun nước chứ? Số phận ấy sẽ là của nàng, đó là món quà từ biệt của ta dành cho Chloris xinh đẹp — ta đặt lời nguyền của ta lên nàng.”

I flung up my head and laughed. “You are a fool for all your wisdom. Of what avail your curse, when you have given me eternal youth—with this!” and I clutched to my bosom the phial which I carried always with me.

Tôi ngẩng cao đầu và cười. “Ông là kẻ ngu ngốc dù có bao nhiêu minh triết đi nữa. Lời nguyền của ông có ích gì, khi ông đã cho tôi tuổi xuân vĩnh cửu — bằng thứ này!” và tôi ghì vào ngực chiếc lọ mà tôi luôn mang theo bên mình.

He smiled slowly. “That? It is water stained with the juice of mulberry. Did you think I would waste my

Ông chậm rãi mỉm cười. “Thứ đó ư? Chỉ là nước nhuộm bằng nước ép dâu tằm. Nàng tưởng ta sẽ phí những quyền năng huyền thuật của ta vào

TIIE WHEEL OF REBIRTH magical powers on such woman’s trumperies? It was for greater purposes I wanted you.”

TIIE WHEEL OF REBIRTH những món phù phiếm đàn bà như thế sao? Ta muốn nàng cho những mục đích lớn hơn.”

He passed out without a backward glance. The bronze door slammed. The phial dropped from my hand and was broken in fragments upon the floor.

Ông bước ra mà không ngoái lại. Cánh cửa đồng sập mạnh. Chiếc lọ rơi khỏi tay tôi và vỡ tan thành từng mảnh trên sàn.

• • • • •

• • • • •

There were other pictures in the life of Chloris, but they were but fleeting visions, blurred and uncertain, as if, despite all efforts at fogetting, the acts, by their very associations of horror and degradation, had yet stamped themselves upon the sensitive plate of my eternal memory. I seemed to see a raddled harlot slinking through the narrow, pestiferous streets beyond the quays and experienced her sensations of despair and shame at beauty’s slow decay. The Egyptian’s prophesy had been undoubtedly fulfilled: “Or death, perhaps—poison for despair….” It may have ended thus, yet in truth this pitiful descent was due, not to the curse—for no curse can be operative unless there is, in the man cursed, some corresponding evil —but rather to her own dreadful inner knowledge that, in failing Serretes, she had failed Life in its ultimate sense— for she had failed herself and thus had killed the very life urge within her. She had been her own curse. Like a canker, her memories had slowly eaten into the heart of her existence, had sapped her energy, had insidiously destroyed all those qualities which hitherto had brought her success. No desire even seemed worth accomplishing; the power to attract and to hold the more intelligent and finer men failed, for she did not care to make any effort to do so. She dropped, like the dead thing she had become out of the ken of living men.

Còn có những bức tranh khác trong đời Chloris, nhưng chúng chỉ là những linh ảnh thoáng qua, mờ nhòe và bất định, như thể bất chấp mọi nỗ lực quên lãng, các hành vi ấy, chính bởi những liên tưởng kinh hoàng và sa đọa của chúng, vẫn đã in dấu lên tấm bản nhạy cảm của ký ức vĩnh cửu của tôi. Tôi dường như thấy một ả kỹ nữ tàn tạ lẩn lút qua những con phố hẹp, ô uế bên kia các bến tàu và trải nghiệm những cảm giác tuyệt vọng và hổ thẹn của nàng trước sự tàn phai chậm chạp của sắc đẹp. Lời tiên tri của người Ai Cập hẳn đã được ứng nghiệm: “Hoặc có lẽ là cái chết — thuốc độc vì tuyệt vọng….” Có thể nó đã kết thúc như thế, nhưng thật ra sự sa sút đáng thương này không phải do lời nguyền — vì không lời nguyền nào có thể tác động trừ phi trong người bị nguyền có một điều ác tương ứng — mà đúng hơn là do tri thức nội tâm khủng khiếp của chính nàng rằng, khi phụ Serretes, nàng đã phụ Sự sống theo ý nghĩa tối hậu của nó — vì nàng đã phụ chính mình và như thế đã giết chết ngay xung lực sống bên trong mình. Nàng đã là lời nguyền của chính mình. Như một vết ung thư, những ký ức của nàng đã từ từ gặm nhấm trái tim của sự hiện hữu nàng, đã làm cạn kiệt năng lượng của nàng, đã ngấm ngầm hủy hoại mọi phẩm tính mà cho đến lúc ấy vẫn đem lại cho nàng thành công. Dường như không còn ham muốn nào đáng để hoàn thành; quyền năng thu hút và giữ chân những người nam thông minh hơn và cao quý hơn đã mất đi, vì nàng không còn buồn nỗ lực để làm điều đó. Nàng rơi xuống, như cái xác chết mà nàng đã trở thành, ra khỏi tầm biết của những người đang sống.

I saw her seated by the still, moon-flecked waters of the Hellespont. Dark rocks rose behind her; the air was warm and scented, but the miraculous loveliness of the summer night could no longer stir her soul. I saw her face illuminated by the wan light and it was terrible, as if ravaged by some fell disease. She was staring with dead eyes at the water below her. Her lips, coarsened by excess, moved in an endless repetition; I heard Serretes’s name and my consciousness blending in that moment with hers, I felt this name like a note of despair and agony throbbing through the whole universe.

Tôi thấy nàng ngồi bên làn nước tĩnh lặng lấp lánh ánh trăng của Hellespont. Những mỏm đá đen dựng lên phía sau nàng; không khí ấm áp và thơm ngát, nhưng vẻ đẹp kỳ diệu của đêm hè không còn có thể lay động linh hồn nàng nữa. Tôi thấy khuôn mặt nàng được soi sáng bởi thứ ánh sáng nhợt nhạt và nó thật khủng khiếp, như thể bị tàn phá bởi một chứng bệnh dữ dội nào đó. Nàng đang nhìn trân trân bằng đôi mắt chết vào mặt nước bên dưới. Đôi môi thô kệch vì phóng túng của nàng cử động trong một sự lặp lại vô tận; tôi nghe tên Serretes và tâm thức tôi hòa vào tâm thức nàng trong khoảnh khắc ấy, tôi cảm thấy cái tên ấy như một âm điệu của tuyệt vọng và thống khổ đang rung lên khắp toàn thể vũ trụ.

Her head drooped, her hands beat themselves upon the sharp edges of the rocks. “Could 1 not have waited—ah, could I not have waited,” I heard her say. “Such a little time out of the long, long years. What madness was upon me? What were wealth and beauty compared with—that? What was that but the quintessence of beauty? Only I did not know; I was blind, stupid, ignorant. I served my body as if it were a god. He was my god, and through my body I lost him. For ever. Never again—never again….”

Đầu nàng gục xuống, hai tay nàng tự đập vào những cạnh đá sắc nhọn. “Lẽ nào ta đã không thể chờ — ôi, lẽ nào ta đã không thể chờ,” tôi nghe nàng nói. “Chỉ một thời gian ngắn như thế giữa những năm dài, dài ấy. Cơn điên nào đã ám lấy ta? Giàu sang và sắc đẹp là gì so với — điều đó? Điều đó là gì nếu không phải là tinh túy của sắc đẹp? Chỉ là ta đã không biết; ta mù quáng, ngu dốt, vô minh. Ta phụng sự thân thể mình như thể nó là một vị thần. Chàng mới là thần của ta, và qua thân thể mình ta đã đánh mất chàng. Mãi mãi. Không bao giờ nữa — không bao giờ nữa….”

• • • • •

• • • • •

Failure—another failure. But this time a failure of love. Who was Serretes? Could he be Shahballazz come back again into my life, only to be betrayed? What was the result of such a betrayal? Was Chloris right: had I lost again, for centuries perhaps, this being who meant so much to me?

Thất bại — lại một thất bại nữa. Nhưng lần này là thất bại của tình yêu. Serretes là ai? Có thể nào chàng là Shahballazz trở lại trong đời tôi, chỉ để lại bị phản bội? Kết quả của một sự phản bội như thế là gì? Chloris có đúng không: phải chăng tôi lại đã mất, có lẽ trong nhiều thế kỷ, hữu thể này, người có ý nghĩa rất lớn đối với tôi?

A strange feeling of desolation swept over me at the thought. It was no mere psychological identification with Chloris’s consciousness, but a very real and present dread. For well I knew that Chloris’s search was in no way unique. In my own life I had often felt this need for some dear companion, some lover or friend who would represent something akin to an expansion, a completion of my own personality; and I was aware that in some form or another such a desire for what is called often a “twin soul” is universal.

Một cảm giác hoang vắng kỳ lạ tràn ngập tôi khi nghĩ đến điều đó. Đó không chỉ là sự đồng hoá tâm lý đơn thuần với tâm thức của Chloris, mà là một nỗi sợ rất thật và hiện tiền. Vì tôi biết rõ rằng cuộc tìm kiếm của Chloris hoàn toàn không phải là độc nhất. Trong chính đời mình tôi thường cảm thấy nhu cầu này đối với một người bạn đồng hành thân yêu nào đó, một người yêu hay bạn hữu nào đó sẽ biểu hiện một điều gì gần như là sự mở rộng, sự hoàn tất của chính phàm ngã tôi; và tôi nhận thức rằng dưới hình thức này hay hình thức khác, một khát vọng như thế đối với cái thường được gọi là một “linh hồn song sinh” là phổ quát.

What, I wondered, was this basic longing which haunts humanity? Biologists might be content to look no farther than the urge of nature to procreate; that, of course, could easily be its lowest note; but there was, 1 felt convinced, also an inner meaning far higher.

Tôi tự hỏi khát vọng căn bản ám ảnh nhân loại này là gì. Các nhà sinh học có thể bằng lòng không nhìn xa hơn xung lực sinh sản của bản chất; dĩ nhiên, điều đó có thể dễ dàng là nốt thấp nhất của nó; nhưng tôi tin chắc rằng còn có một ý nghĩa nội tâm cao hơn nhiều.

When I was enabled to contact my teacher again he confirmed this at once. “The search for the twin soul which, with some people, is almost an obsession, and for others is merely a dream,” he said, “is indeed more than a biological urge. It has so many aspects and is so fundamentally important that it would be as well if you meditated upon its significance.

Khi tôi lại có thể tiếp xúc với huấn sư của mình, ông lập tức xác nhận điều này. “Cuộc tìm kiếm linh hồn song sinh mà với một số người gần như là một ám ảnh, còn với những người khác chỉ là một giấc mơ,” ông nói, “quả thật còn hơn cả một xung lực sinh học. Nó có quá nhiều phương diện và quan trọng một cách căn bản đến nỗi sẽ là điều tốt nếu bạn tham thiền về thâm nghĩa của nó.

“In the life of Chloris, both aspects, the lower and the higher, were clearly mirrored and from a study of her character you can learn much; that is why it has been shown to you in such detail. As ever, it is necessary that the lower aspects of any manifestation should be worked through and understood before those higher and truer aspects can be contacted which, not being of the personality and hence ephemeral, partake of the very nature of the Soul and therefore alone can bring lasting happiness.

“Trong đời Chloris, cả hai phương diện, thấp và cao, đều được phản chiếu rõ ràng và từ việc nghiên cứu tính cách của nàng bạn có thể học được nhiều điều; đó là lý do vì sao nó đã được cho thấy với bạn chi tiết đến thế. Như thường lệ, điều cần thiết là các phương diện thấp của bất kỳ biểu hiện nào cũng phải được trải qua và thấu hiểu trước khi những phương diện cao hơn và chân thật hơn có thể được tiếp xúc; vì những phương diện ấy, không thuộc về phàm ngã và do đó phù du, dự phần vào chính bản chất của linh hồn và vì vậy chỉ riêng chúng mới có thể mang lại hạnh phúc bền lâu.

“Let those, then, who feel this dominating desire for their twin soul or for an ideal partner, perfect friend, devoted child, or whatever form the vision takes, ask themselves what purpose such an individual is designed to play in their lives. They will probably say that it must be someone who will walk the same road, share in every pleasure and pain, sympathize with their moods, guard them in sickness and health, be faithful unto death. In other words, one who will live only to satisfy their every need. Of course the seeker will also claim to be desirous of serving and loving in his turn; and for many this is undoubtedly true. Even so it would be well for him to consider his motives honestly. He might remind himself that there are plenty of other people in the world whom he ignores, but who desperately need the love and services he is so eager to give to one alone. This might prove to him that this search is, perhaps, mainly activated by desires emanating from the lower aspects of his nature for purely personal fulfilment thus would not be so likely to contain lasting elements of perfect union with another.

“Vậy thì, những ai cảm thấy khát vọng thống trị này đối với linh hồn song sinh của mình hay đối với một người bạn đời lý tưởng, một người bạn hoàn hảo, một đứa con tận tụy, hay bất kỳ hình thức nào mà linh ảnh ấy mang lấy, hãy tự hỏi mục đích mà một cá nhân như thế được định để đóng trong đời họ là gì. Có lẽ họ sẽ nói rằng đó phải là một người sẽ đi cùng một con đường, chia sẻ mọi vui buồn, cảm thông với tâm trạng của họ, chăm sóc họ lúc đau yếu cũng như khi mạnh khỏe, chung thủy cho đến chết. Nói cách khác, một người chỉ sống để thỏa mãn mọi nhu cầu của họ. Dĩ nhiên người tìm kiếm cũng sẽ khẳng định rằng đến lượt mình y cũng mong muốn phụng sự và yêu thương; và với nhiều người điều này chắc chắn là đúng. Dù vậy, sẽ là điều tốt nếu y xét lại động cơ của mình một cách thành thật. Y có thể tự nhắc mình rằng trên đời còn rất nhiều người khác mà y phớt lờ, nhưng họ lại đang tuyệt vọng cần đến tình thương và sự phụng sự mà y quá nóng lòng muốn trao cho chỉ một người mà thôi. Điều này có thể chứng minh cho y thấy rằng cuộc tìm kiếm ấy có lẽ chủ yếu được thúc đẩy bởi những ham muốn phát ra từ các phương diện thấp của bản chất y nhằm đạt sự hoàn thành thuần túy cá nhân và như thế sẽ không dễ có khả năng chứa đựng những yếu tố bền lâu của sự hợp nhất hoàn hảo với một người khác.

“It will obviously not be so difficult for the average individual who is focused almost entirely at the material physical level to find a “twin-soul” or one who is a close affinity; but as man develops and widens and deepens the levels upon which he functions he naturally demands more and more from those who will companion him in life’s journey. In consequence he is likely to find his demands increasingly difficult to satisfy and will often experience a great loneliness of spirit. Of course there must be many exceptions for karmic and other reasons, but this can be taken as a general rule. The real answer is that man finds outwardly conditions which reflect what he is in himself. So to find perfection at any or all levels he must at least aspire to and manifest a corresponding condition in himself. Lack of understanding of the fundamental laws governing manifestation are the cause of many of his bitter disappointments in his relationships. More often he demands of life benefits and joys he has not karmically merited because he has not yet developed what might be called the ‘receiving apparatus’ in his own nature. Therefore even if the opportunity to experience them arises in his life he either does not recognize it or destroys them unwittingly himself.

“Hiển nhiên sẽ không quá khó đối với cá nhân trung bình, người hầu như hoàn toàn tập trung ở cấp độ hồng trần vật chất, để tìm được một ‘linh hồn song sinh’ hay một người có sự tương hợp gần gũi; nhưng khi con người phát triển và mở rộng, đào sâu các cấp độ mà y hoạt động trên đó, thì tự nhiên y đòi hỏi ngày càng nhiều hơn nơi những người sẽ đồng hành với y trong cuộc hành trình của đời sống. Hệ quả là y có khả năng thấy những đòi hỏi của mình ngày càng khó được thỏa mãn và thường sẽ trải qua một nỗi cô đơn lớn lao của tinh thần. Dĩ nhiên phải có nhiều ngoại lệ vì các lý do nghiệp quả và những lý do khác, nhưng điều này có thể được xem như một quy luật chung. Câu trả lời thật sự là con người tìm thấy bên ngoài những điều kiện phản chiếu điều y là trong chính mình. Vì thế để tìm thấy sự hoàn hảo ở bất kỳ hay mọi cấp độ nào, ít nhất y phải khát vọng đến và biểu hiện một trạng thái tương ứng trong chính mình. Sự thiếu thấu hiểu các định luật căn bản chi phối biểu hiện là nguyên nhân của nhiều nỗi thất vọng cay đắng trong các mối quan hệ của y. Thường hơn, y đòi hỏi nơi đời sống những lợi ích và niềm vui mà về mặt nghiệp quả y chưa xứng đáng nhận, vì y chưa phát triển điều có thể gọi là ‘bộ máy tiếp nhận’ trong chính bản chất mình. Do đó, ngay cả nếu cơ hội để trải nghiệm chúng xuất hiện trong đời y, thì hoặc y không nhận ra, hoặc chính y vô tình hủy hoại chúng.

“The truth is, of course, that the personality can never be entirely satisfied, since at best it is only a partial reflection of man’s true being. But this is for his ultimate benefit. The dream of perfect bliss with a twin-soul is, in reality, the projection into his consciousness of the love which is the very nature of his Higher Self, a perfect state of unity and harmony. It causes a vague sense of dissatisfaction, of being imperfect, of lack, and so forces him to go on seeking a vaguely apprehended perfection so that eventually he discovers what is worthless and what worth- while and learns to discriminate between dross and gold.

“Sự thật dĩ nhiên là phàm ngã không bao giờ có thể được thỏa mãn hoàn toàn, vì cùng lắm nó chỉ là sự phản chiếu từng phần của chân thể con người. Nhưng điều này rốt cuộc lại có lợi cho y. Giấc mơ về chí phúc hoàn hảo với một linh hồn song sinh, trên thực tế, là sự phóng chiếu vào tâm thức y của tình thương vốn là chính bản chất của Bản Ngã Cao Siêu của y, một trạng thái hợp nhất và hài hòa hoàn hảo. Nó gây ra một cảm giác mơ hồ về sự bất mãn, về sự bất toàn, về thiếu hụt, và do đó buộc y tiếp tục tìm kiếm một sự hoàn hảo được cảm nhận lờ mờ, để cuối cùng y khám phá ra điều gì là vô giá trị và điều gì là đáng giá, và học cách phân biện giữa quặng cặn và vàng.

“The man in whom the higher and lower aspects of self are more perfectly attuned is never so deeply concerned with the search for a twin-soul; he is too occupied in trying to obey the higher will and is seeking deeper and more lasting satisfactions. Also he is usually too busy serving his fellow men.”

“Người mà trong đó các phương diện cao và thấp của bản ngã được chỉnh hợp hoàn hảo hơn thì không bao giờ quá bận tâm sâu sắc đến việc tìm kiếm linh hồn song sinh; y quá bận rộn trong việc cố gắng tuân theo ý chí cao hơn và đang tìm kiếm những sự thỏa mãn sâu xa hơn và bền lâu hơn. Ngoài ra, y thường cũng quá bận phụng sự những người đồng loại của mình.”

“But what of such close links as those between Chloris and Serretes?” I asked.

“Nhưng còn những mối liên kết mật thiết như giữa Chloris và Serretes thì sao?” tôi hỏi.

“I said that the man who was closely in touch with his own soul would not have this inappeasable hunger for his affinity on earth,” he reminded me. “I did not say no such union was possible. On the contrary, 1 indicated that it might well bring about such a union; for the two would strengthen each other in work to be done. But to all such questions there are many answers, some too profound to give you now. I can give you only a few hints. You must seek the answers for yourself as you study and learn. I can tell you this: only those who can glimpse something of the whole vast plan in which individual lives play their small part can begin to understand the subtle aspects of the inner relationships existing between individuals.

“Tôi đã nói rằng người nào tiếp xúc gần gũi với chính linh hồn mình sẽ không có cơn đói khát không thể nguôi này đối với người tương hợp của mình trên trần thế,” ông nhắc tôi. “Tôi không nói rằng không thể có sự hợp nhất như thế. Trái lại, tôi đã chỉ ra rằng điều đó rất có thể mang lại một sự hợp nhất như vậy; vì cả hai sẽ tăng cường cho nhau trong công việc cần làm. Nhưng đối với mọi câu hỏi như thế đều có nhiều câu trả lời, một số quá sâu xa để hiện giờ nói cho bạn. Tôi chỉ có thể cho bạn vài gợi ý. Bạn phải tự tìm câu trả lời cho mình khi bạn học hỏi và nghiên cứu. Tôi có thể nói với bạn điều này: chỉ những ai có thể thoáng thấy đôi chút về toàn bộ Thiên Cơ bao la trong đó các đời sống cá nhân đóng phần nhỏ bé của mình mới có thể bắt đầu thấu hiểu các phương diện vi tế của những mối quan hệ nội tâm hiện hữu giữa các cá nhân.

“On earth men appear to be separate units; but that is an illusion due to the necessity for the individual development of self-consciousness. In actual fact each one is part of a group of souls, each specific group being, if I can so express it, attuned to its own note or wavelength. For remember, upon the inner planes relationships are largely expressed by means of telepathic interplay, we are not hampered as you are by material forms and personality differences which make for separateness. This may be difficult for you to realize, but until you make the attempt you will never begin to grasp the whole complex problem of groups and their work. Again, try to realize that as each small group of cells in your body plays a part in the organization of the whole, so these groups on the inner planes are destined to play specific parts in that final unity which will be represented by the complete body of mankind. For the purpose of gaining the state of perfection essential to each unit, every member of every group incarnates again and again. But since each has a measure of free will, some obviously go forward slowly, some more rapidly. However, the point to be remembered is that until every member has reached a certain stage of development the group, as such, cannot do the work intended for it. You will see, therefore, how grave is the responsibility that rests upon everyone to develop himself as rapidly as possible so as not to interfere with the particular portion of the Plan in which his group is training to play its part. The preliminary steps are, of course, the understanding and control of the personality. Then follows the uniting of the lower to the higher Self, which results in contact with the group. Conscious union between all members of the group both in and out of the body is the next achievement. As each one gains the power to sound the group note more clearly while on the physical plane, so are any others who may be incarnated at the same time attracted to him, thus forming a focus through which those on the inner planes—for seldom or never do all members of one group incarnate at the same time—direct and guide their united energies to the desired ends.

“Trên Trái Đất, con người dường như là những đơn vị tách biệt; nhưng đó là một ảo tưởng do nhu cầu phát triển cá nhân của ngã thức. Thực ra mỗi người là một phần của một nhóm linh hồn, mỗi nhóm đặc thù, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, được chỉnh hợp theo âm điệu hay bước sóng riêng của nó. Vì hãy nhớ rằng trên các cõi bên trong, các mối quan hệ phần lớn được biểu hiện bằng sự tương tác viễn cảm, chúng tôi không bị cản trở như các bạn bởi các hình tướng vật chất và những khác biệt của phàm ngã vốn tạo ra sự tách biệt. Điều này có thể khó để bạn chứng nghiệm, nhưng cho đến khi bạn cố gắng làm điều đó, bạn sẽ không bao giờ bắt đầu nắm được toàn bộ vấn đề phức tạp của các nhóm và công việc của họ. Một lần nữa, hãy cố chứng nghiệm rằng cũng như mỗi nhóm nhỏ tế bào trong thân thể bạn đóng một phần trong tổ chức của toàn thể, thì các nhóm này trên các cõi bên trong cũng được định để đóng những phần đặc thù trong sự hợp nhất cuối cùng sẽ được biểu hiện bởi toàn bộ thân thể nhân loại. Vì mục đích đạt đến trạng thái hoàn hảo thiết yếu cho mỗi đơn vị, mọi thành viên của mọi nhóm đều lâm phàm hết lần này đến lần khác. Nhưng vì mỗi người đều có một mức độ ý chí tự do, nên hiển nhiên có người tiến lên chậm, có người nhanh hơn. Tuy nhiên, điểm cần nhớ là cho đến khi mọi thành viên đều đạt đến một giai đoạn phát triển nhất định, thì nhóm, với tư cách là nhóm, không thể làm công việc đã được dự định cho nó. Vì vậy bạn sẽ thấy trách nhiệm đặt lên mọi người là nghiêm trọng biết bao trong việc phát triển chính mình nhanh nhất có thể để không cản trở phần đặc thù của Thiên Cơ mà trong đó nhóm của mình đang được huấn luyện để đóng vai trò của nó. Các bước sơ khởi dĩ nhiên là sự thấu hiểu và kiểm soát phàm ngã. Tiếp theo là sự hợp nhất cái thấp với Bản Ngã Cao Siêu, điều này dẫn đến sự tiếp xúc với nhóm. Sự hợp nhất có ý thức giữa mọi thành viên của nhóm cả trong và ngoài thể xác là thành tựu kế tiếp. Khi mỗi người đạt được quyền năng xướng âm điệu của nhóm rõ ràng hơn trong khi ở trên cõi hồng trần, thì bất kỳ ai khác có thể đang lâm phàm cùng lúc cũng bị thu hút đến với y, nhờ đó hình thành một tiêu điểm qua đó những người ở các cõi bên trong — vì hiếm khi hay hầu như không bao giờ mọi thành viên của một nhóm cùng lâm phàm một lúc — định hướng và hướng dẫn các năng lượng hợp nhất của họ đến những mục đích mong muốn.

“So does the work proceed in increasing harmony and power, until there comes a time when, by a very subtle method involving the minimum expenditure of force, a group perfects a technique whereby all its members can work freely on the physical as well as the inner planes when they so desire. It would not be wise to reveal more at the moment, but those who are ready for the knowledge will, by meditation, be able to discover it for themselves.

“Công việc cứ thế tiến triển trong sự hài hòa và quyền năng ngày càng tăng, cho đến khi có lúc, bằng một phương pháp rất vi tế đòi hỏi mức tiêu hao mãnh lực tối thiểu, một nhóm hoàn thiện một kỹ thuật nhờ đó mọi thành viên của nó có thể hoạt động tự do trên cõi hồng trần cũng như các cõi bên trong khi họ mong muốn. Hiện giờ sẽ không khôn ngoan nếu tiết lộ thêm, nhưng những ai sẵn sàng cho tri thức này sẽ, bằng tham thiền, có thể tự khám phá nó.

“But you must realize that even conscious union with its own group on all planes is not the final aim of the soul. It is an advance on the purely personal desire for union with some beloved man or woman which is its foreshadowing in the lower self; but it is only a preliminary step to a much greater achievement; for as note combined with note produces a chord, and chords form a harmony, so these groups of souls, once they have developed the power of co-ordination, learn to unite with other groups upon many planes, thus increasing their potency for service and, through this complete and willing participation in the Universal Creative Chord, the outbreathing of God, sound forth ever mightier sound combinations in the divine symphony. When this state is attained these groups of souls, fused in a union which cannot on earth even be conceived, will experience an expansion of consciousness, a realization of Truth and Beauty—a bliss that no two units alone could ever hope to achieve.”

“Nhưng bạn phải chứng nghiệm rằng ngay cả sự hợp nhất có ý thức với chính nhóm của mình trên mọi cõi cũng không phải là mục tiêu cuối cùng của linh hồn. Đó là một bước tiến vượt lên trên ham muốn thuần túy cá nhân muốn hợp nhất với một người nam hay người nữ yêu dấu nào đó, vốn là sự báo trước của nó trong phàm ngã; nhưng nó chỉ là bước sơ khởi cho một thành tựu lớn lao hơn nhiều; vì cũng như âm điệu kết hợp với âm điệu tạo thành hợp âm, và các hợp âm tạo thành hòa âm, thì các nhóm linh hồn này, một khi đã phát triển quyền năng phối hợp, sẽ học cách hợp nhất với các nhóm khác trên nhiều cõi, nhờ đó gia tăng tiềm lực phụng sự của họ và, qua sự tham dự trọn vẹn và tự nguyện này vào Hợp Âm Sáng Tạo Vũ Trụ, hơi thở ra của Thượng đế, xướng lên những tổ hợp âm thanh ngày càng hùng mạnh hơn trong bản giao hưởng thiêng liêng. Khi trạng thái này đạt được, các nhóm linh hồn ấy, được dung hợp trong một sự hợp nhất mà trên trần thế thậm chí không thể hình dung, sẽ trải nghiệm một sự mở rộng tâm thức, một sự chứng nghiệm Chân Lý và Cái Đẹp — một chí phúc mà không hai đơn vị riêng lẻ nào có thể từng hy vọng đạt tới.”

He paused. Behind his words I could sense greater meanings towards which my finite mind struggled in vain. Words only helped to veil and confuse them.

Ông ngừng lại. Đằng sau lời ông tôi có thể cảm nhận những ý nghĩa lớn lao hơn mà trí tuệ hữu hạn của tôi cố vươn tới trong vô vọng. Lời nói chỉ giúp che phủ và làm rối thêm chúng.

“Then you mean,” I hazarded, “that the twin soul all men desire is, in reality, God….”

“Vậy thì ý ông là,” tôi dè dặt nói, “linh hồn song sinh mà mọi người đều khao khát, thật ra, là Thượng đế….”

“It is the greatest aspect of the Divine that you can aspire to,” he replied. “All things are relative. Yet you see that this dream of a twin soul which haunts humanity has a very real basis and plays a vital role in the process of evolution, since it is that urge within the part to find completion in the Whole. The Higher Self on its own plane knows its aim and as it perfects the control over its instrument, the personality, is increasingly able to impress its ideals upon it. You will find that the more sensitive and highly evolved the man, the more acute is usually bis sense of dissatisfaction with things as they are and with himself most of all. Thus, aware of his lack, he attempts to remedy it and progress is achieved. So did Pharaoh learn from Shahballazz and Chloris from Serretes.”

“Đó là phương diện lớn lao nhất của cái Thiêng Liêng mà bạn có thể khát vọng đến,” ông đáp. “Mọi sự đều tương đối. Tuy nhiên bạn thấy rằng giấc mơ về một linh hồn song sinh ám ảnh nhân loại có một nền tảng rất thật và đóng một vai trò thiết yếu trong tiến trình tiến hoá, vì đó là xung lực bên trong phần muốn tìm sự hoàn tất trong Toàn Thể. Bản Ngã Cao Siêu trên cõi riêng của nó biết mục tiêu của mình và khi nó hoàn thiện sự kiểm soát đối với khí cụ của nó, phàm ngã, thì nó ngày càng có khả năng gây ấn tượng các lý tưởng của mình lên đó. Bạn sẽ thấy rằng con người càng nhạy cảm và càng tiến hoá cao thì cảm giác bất mãn của y đối với sự vật như chúng đang là và nhất là đối với chính mình thường càng sâu sắc. Vì thế, nhận biết sự thiếu hụt của mình, y cố gắng khắc phục nó và tiến bộ được đạt tới. Pharaoh đã học từ Shahballazz như thế, và Chloris đã học từ Serretes cũng như thế.”

“But they were not all the same person!” I exclaimed. “You were all members of one group,” he replied. “Whenever members of the same group meet on the physical plane, being synchronized to the same note, some sort of recognition and mutual interplay is usually inevitable; but unfortunately this is not always the case, for as souls project their reflections deeper into dense matter the discordant and clashing vibrations of the material plane impinging upon them, cause them to lose touch with that note in its pristine purity. This makes recognition increasingly difficult. Sometimes two meet, but pass each other by, neither being evolved enough to recognize the other through the dense disguise of the flesh; sometimes as the upward cycles proceed, it may happen that one more advanced will recognize a brother, but remain himself unapprehended; that is indeed a tragedy, but chiefly for the one who is most sensitive, as it will probably bring him great suffering. But the benefit will be correspondingly great, for such a life is nearly always one of selfless devotion such as Shahballazz gave to you, and this ever brings its own reward.”

“Nhưng họ đâu phải tất cả đều là cùng một người!” tôi kêu lên. “Tất cả các bạn đều là thành viên của một nhóm,” ông đáp. “Bất cứ khi nào các thành viên của cùng một nhóm gặp nhau trên cõi hồng trần, vì được đồng bộ theo cùng một âm điệu, một loại nhận biết và tương tác lẫn nhau nào đó thường là điều không thể tránh; nhưng đáng tiếc điều này không phải lúc nào cũng vậy, vì khi các linh hồn phóng chiếu những phản ảnh của mình sâu hơn vào vật chất đậm đặc, những rung động bất hòa và xung đột của cõi vật chất tác động lên họ khiến họ mất tiếp xúc với âm điệu ấy trong sự tinh tuyền nguyên thủy của nó. Điều này làm cho sự nhận biết ngày càng khó khăn. Đôi khi hai người gặp nhau nhưng lại đi lướt qua nhau, không ai đủ tiến hoá để nhận ra người kia qua lớp ngụy trang đậm đặc của xác thịt; đôi khi khi các chu kỳ đi lên tiếp diễn, có thể xảy ra việc một người tiến bộ hơn sẽ nhận ra một huynh đệ, nhưng chính mình lại không được nhận biết; đó quả thật là một bi kịch, nhưng chủ yếu đối với người nhạy cảm hơn, vì điều đó có lẽ sẽ mang đến cho y nỗi đau khổ lớn lao. Nhưng lợi ích cũng sẽ lớn tương ứng, vì một đời sống như thế hầu như luôn là đời sống của sự tận tụy vô ngã như Shahballazz đã dành cho bạn, và điều này luôn mang lại phần thưởng riêng của nó.”

“But Chloris did recognize the note of union, and was not capable of holding it….”

“Nhưng Chloris đã nhận ra âm điệu hợp nhất, mà lại không đủ khả năng giữ vững nó….”

“True; where the recognition is mutual, yet one partner is too weak or too selfish to remain faithful and pay the price for so great a privilege, the results are even more serious. Infidelity in such a case causes a kind of tearing of the strands binding one part of the group to the other, a shattering of delicate rhythmical adjustments. It shakes and destroys the harmony, not alone in the small world of the group, but in affiliated groups also and can have more far-reaching consequences than I could possibly explain to you who know so little as yet of the complexities of group Karma.”

“Đúng vậy; khi sự nhận biết là hỗ tương, nhưng một bên lại quá yếu đuối hay quá ích kỷ để giữ lòng chung thủy và trả cái giá cho một đặc ân lớn lao như thế, thì kết quả còn nghiêm trọng hơn. Sự bất trung trong trường hợp như vậy gây ra một loại xé rách những sợi dây ràng buộc một phần của nhóm với phần kia, một sự phá vỡ những điều chỉnh nhịp điệu tinh tế. Nó làm rung chuyển và phá hủy sự hài hòa, không chỉ trong thế giới nhỏ của nhóm, mà cả trong các nhóm liên hệ nữa, và có thể gây ra những hậu quả sâu rộng hơn nhiều so với điều tôi có thể giải thích cho bạn, người còn biết quá ít về những phức tạp của nghiệp quả nhóm.”

“What is the result of such a betrayal of a member of one’s group upon the individual?” I asked him.

“Tác động của một sự phản bội như thế đối với một thành viên trong nhóm mình lên cá nhân là gì?” tôi hỏi ông.

“Everything depends upon circumstances. If one of a group persists during life after life in sounding forth discords and working on destructive vibrations, he can at last so damage the delicate strands of finer matter joining him to the others that he becomes a positive danger to them. His imperfect manifestations are therefore cut off from the group—as one would amputate a gangrened limb—and any chance of rebuilding an instrument again —at all events, for a great period of time—becomes extremely difficult. That is what nearly happened to you after Atlantis, for you broke your connection with deliberate intent; the Atlanteans had a much deeper knowledge of these mysteries than man has ever again been permitted since he abused it then.

“Mọi sự đều tùy thuộc hoàn cảnh. Nếu một thành viên của nhóm cứ khăng khăng, hết đời này sang đời khác, xướng lên những bất hòa và hoạt động trên những rung động hủy diệt, cuối cùng y có thể làm hư hại đến mức những sợi dây tinh tế của vật chất mịn hơn nối y với những người khác, đến nỗi y trở thành một mối nguy thực sự cho họ. Vì thế những biểu hiện bất toàn của y bị cắt khỏi nhóm — như người ta cắt cụt một chi bị hoại thư — và mọi cơ hội tái kiến tạo một khí cụ lần nữa — ít nhất là trong một thời kỳ rất dài — trở nên cực kỳ khó khăn. Đó gần như là điều đã xảy ra với bạn sau Atlantis, vì bạn đã cố ý cắt đứt mối liên hệ của mình; người Atlantis có tri thức sâu xa hơn nhiều về những huyền nhiệm này so với điều con người từng lại được phép có kể từ đó, vì khi ấy họ đã lạm dụng nó.

‘‘But such an act as that of Chloris—which is, alas, only too common—results merely in the culprit being cut off from contacting any members of his group for a considerable time, until, in fact, he has learned his lessons more thoroughly. For if there is too great a disparity in evolution between certain members of one group, it is often better for the less evolved that he should not meet the others until he is ready for the responsibilities which are the inevitable concomitants of such a meeting. The severance which is the result of failure is a terrible penalty, since once having experienced the bliss of being united to another member of his group on the physical plane the individual will never be able to forget it in any of his incarnations and will always feel an enhanced sense of loneliness and loss.”

“Nhưng một hành vi như của Chloris — than ôi, quá đỗi thông thường — chỉ dẫn đến việc kẻ có lỗi bị cắt khỏi sự tiếp xúc với bất kỳ thành viên nào trong nhóm của mình trong một thời gian đáng kể, cho đến khi thật sự y đã học các bài học của mình kỹ lưỡng hơn. Vì nếu có một sự chênh lệch quá lớn về tiến hoá giữa một số thành viên của cùng một nhóm, thì thường tốt hơn cho người kém tiến hoá hơn là y không nên gặp những người kia cho đến khi y sẵn sàng cho những trách nhiệm vốn là những hệ quả tất yếu của một cuộc gặp như thế. Sự chia cắt là kết quả của thất bại là một hình phạt khủng khiếp, vì một khi đã trải nghiệm chí phúc của việc được hợp nhất với một thành viên khác trong nhóm mình trên cõi hồng trần, cá nhân ấy sẽ không bao giờ có thể quên nó trong bất kỳ kiếp lâm phàm nào của mình và sẽ luôn cảm thấy một ý thức cô đơn và mất mát tăng cường.”

“Then why was I permitted to meet Serretes?” I asked. “Why was such an unevolved being as I was then given the chance to do himself and others such harm and to reap the inevitable bad Karma? It seems a little unfair.”

“Vậy thì tại sao tôi lại được phép gặp Serretes?” tôi hỏi. “Tại sao một kẻ chưa tiến hóa như tôi lúc đó lại được trao cơ hội gây hại cho chính mình và cho người khác đến thế, rồi gặt lấy nghiệp quả xấu không thể tránh? Điều đó có vẻ hơi bất công.”

He seemed to smile. “A great many things seem unfair to those with a limited vision. But nothing that happen can be unjustified, since everything is there for a specific purpose. Surely by now you have realized this? It must be so since each man is the weaver of the multitudinous threads of his own destiny. Even in your own world is there ever real progress without some risk? But all such questions as you ask require answers at deeper levels. We have been speaking of man being a member of a group; sometimes this group, which, remember, comprises members at various stages of advancement, agrees to give a laggard the opportunity for such a close contact as you had then in order to hasten his development. You may be sure the chances of his possible failure and the long-term results of the experiment are considered and balanced up beforehand. I cannot tell you more than this; but do not forget, no task is ever given, no trial is ever allowed to man greater than he is able to undertake or to bear. His capacities and potentialities are gauged to a hair’s breadth. He —in his higher consciousness—is consulted before the birth of the personality as to whether it is desirable to risk the Karma of failure, so everything that comes to him is, in a very real sense his own deliberate choice. Once this fact is more generally understood, men will grasp the truth that they can always be stronger than what they call their “fate”. But how few live up to their potentialities— indolence and fear ever hold them back; yet there are in the universe infinite reserves of strength for him who struggles bravely on against apparently overwhelming odds. How often has a man succumbed but a few hours before that precise moment when help would have been sent him. As a matter of fact, in your case the experiment was entirely beneficial. The very sense of loss and dislocation that followed impressed you so deeply that the ideal was never again forgotten. You made a great step forward in your Greek life. You did not die by your own hand as you imagined; you had done that in several previous incarnations and the futility of such an action had remained part of your mental equipment for all time. On the contrary, those years although apparently so horrible and degraded were the most fruitful of all. For, admitting failure, you sought at last to understand where you had failed. You no longer made excuses, you no longer blamed everything but yourself. Your inheritance as a Greek—a people who worshipped truth and were possessed of a peculiarly clear and logical mentality—helped you here, as did also the contact you had made with men of advanced intellectual abilities. Free at last of self-deception, you repented; but it was the real repentance. Not based on fear or hope of reward as in Egypt, this was inspired by love and an increased understanding of the Law. You learned, as Cihrazad had never done, that vanity, foolishness and ignorance bring their own curse. You did not alter your way of living—it was too late; but driven down among the dregs of humanity, you developed, with your memories of Serrete’s philosophy and devotion to uphold and guide you, understanding, love, and sympathy for your fellow sufferers. Although you knew it not, this experience was a great act of spiritual growth. It was preparing you for what was to be one of the most important of all your lives.”

Ngài dường như mỉm cười. “Rất nhiều điều có vẻ bất công đối với những ai có tầm nhìn hạn hẹp. Nhưng không điều gì xảy ra lại có thể là vô cớ, vì mọi sự đều hiện hữu vì một mục đích nhất định. Hẳn đến nay bạn đã chứng nghiệm điều này rồi chứ? Hẳn phải như vậy, vì mỗi người đều là kẻ dệt nên vô số sợi chỉ của chính định mệnh mình. Ngay trong thế giới của bạn, liệu có bao giờ có tiến bộ thật sự mà không có chút rủi ro nào chăng? Nhưng mọi câu hỏi như bạn nêu ra đều đòi hỏi lời giải đáp ở những cấp độ sâu hơn. Chúng ta đã nói về con người như một thành viên của một nhóm; đôi khi nhóm này, mà hãy nhớ, gồm những thành viên ở nhiều giai đoạn tiến bộ khác nhau, đồng ý trao cho một kẻ chậm tiến cơ hội được tiếp xúc gần gũi như bạn đã có khi ấy để thúc đẩy sự phát triển của y. Bạn có thể chắc chắn rằng khả năng thất bại của y và những kết quả lâu dài của cuộc thử nghiệm đều được cân nhắc và thăng bằng trước. Tôi không thể nói với bạn nhiều hơn thế; nhưng đừng quên, không bao giờ có nhiệm vụ nào được giao, không bao giờ có thử thách nào được cho phép đến với con người vượt quá điều y có thể đảm đương hay chịu đựng. Các năng lực và tiềm năng của y được đo lường chính xác đến sợi tóc. Y—trong tâm thức cao hơn của mình—được tham khảo trước khi phàm ngã ra đời xem có nên chấp nhận mạo hiểm nghiệp quả của thất bại hay không, nên mọi điều đến với y, theo một ý nghĩa rất thực, đều là sự lựa chọn có chủ ý của chính y. Một khi sự kiện này được hiểu rộng rãi hơn, những người nam và nữ sẽ nắm được chân lý rằng họ luôn có thể mạnh hơn cái mà họ gọi là ‘số phận’ của mình. Nhưng biết bao ít người sống đúng với các tiềm năng của mình—sự lười biếng và nỗi sợ hãi luôn giữ họ lại; tuy vậy, trong vũ trụ có những nguồn dự trữ sức mạnh vô hạn cho ai can đảm tiếp tục đấu tranh chống lại những nghịch cảnh tưởng chừng áp đảo. Đã biết bao lần một người gục ngã chỉ vài giờ trước đúng khoảnh khắc mà sự trợ giúp lẽ ra đã được gửi đến cho y. Thật ra, trong trường hợp của bạn, cuộc thử nghiệm hoàn toàn có lợi. Chính cảm giác mất mát và xáo trộn tiếp theo đó đã gây ấn tượng sâu đậm đến mức lý tưởng ấy không bao giờ còn bị quên lãng nữa. Bạn đã tiến một bước lớn trong kiếp sống Hy Lạp của mình. Bạn đã không chết bởi chính tay mình như bạn tưởng; bạn đã làm điều đó trong vài lần lâm phàm trước, và tính vô ích của hành động ấy đã còn lại như một phần trong bộ máy trí tuệ của bạn mãi mãi. Trái lại, những năm tháng ấy tuy bề ngoài có vẻ khủng khiếp và sa đọa đến thế, lại là những năm tháng phong phú nhất. Vì, khi thừa nhận thất bại, cuối cùng bạn đã tìm cách thấu hiểu mình đã thất bại ở đâu. Bạn không còn viện cớ nữa, bạn không còn đổ lỗi cho mọi thứ trừ chính mình. Di sản của bạn với tư cách một người Hy Lạp—một dân tộc tôn thờ chân lý và sở hữu một trí tuệ sáng rõ và logic đặc biệt—đã giúp bạn ở đây, cũng như sự tiếp xúc mà bạn đã có với những người có năng lực trí tuệ phát triển cao. Cuối cùng được giải thoát khỏi sự tự dối mình, bạn đã ăn năn; nhưng đó là sự ăn năn chân thật. Không dựa trên sợ hãi hay hy vọng được thưởng như ở Ai Cập, sự ăn năn này được khơi dậy bởi tình thương và sự thấu hiểu gia tăng về Định luật. Bạn đã học được, điều mà Cihrazad chưa bao giờ học được, rằng tính hư vinh, sự ngu xuẩn và vô minh mang theo lời nguyền của chính chúng. Bạn đã không thay đổi lối sống của mình—đã quá muộn; nhưng bị đẩy xuống giữa cặn bã của nhân loại, bạn đã phát triển, với ký ức về triết lý và lòng sùng tín của Serrete nâng đỡ và dẫn dắt bạn, sự thấu hiểu, tình thương và lòng cảm thông đối với những người cùng khổ với mình. Dù bạn không biết điều đó, kinh nghiệm này là một hành động lớn của sự tăng trưởng tinh thần. Nó đang chuẩn bị bạn cho điều sẽ là một trong những kiếp sống quan trọng nhất của bạn.”

“I thought Egypt was that,” I said.

“Tôi tưởng Ai Cập là kiếp đó,” tôi nói.

“Egypt was the beginning, but this, in Germany, was the climax. In Egypt you had seen the Dweller—since then you had been combating it blindly. It was not enough. Once again you had to invoke it and fight it face to face. Your lower self had hitherto ruled all your activities and barred your way time and again, but you were never strong enough spiritually to risk an encounter with those Atlantean shapes in full consciousness. Now deliberately you faced and accepted them by taking them into your own body. You sought to destroy their ascendancy, not any longer with the help of a teacher on the physical plane, but as all men must ultimately do, alone, through the spiritual power of the God Within.”

“Ai Cập là khởi đầu, nhưng chính kiếp này, ở Đức, mới là đỉnh điểm. Ở Ai Cập bạn đã thấy Kẻ Chận Ngõ—từ đó về sau bạn đã chiến đấu với nó một cách mù quáng. Chừng ấy chưa đủ. Một lần nữa bạn phải khẩn cầu nó và chiến đấu với nó mặt đối mặt. Phàm ngã của bạn cho đến lúc ấy đã cai quản mọi hoạt động của bạn và hết lần này đến lần khác chặn đường bạn, nhưng bạn chưa bao giờ đủ mạnh về tinh thần để dám đối đầu với những hình thể Atlantis ấy trong trọn vẹn tâm thức. Giờ đây bạn cố ý đối diện và chấp nhận chúng bằng cách đưa chúng vào chính thể xác mình. Bạn tìm cách hủy diệt quyền thống trị của chúng, không còn với sự trợ giúp của một huấn sư trên cõi hồng trần nữa, mà như tất cả mọi người cuối cùng đều phải làm, một mình, bằng quyền năng tinh thần của Thượng đế Nội Tại.”

Leave a Comment

Scroll to Top