Vòng Tái Sinh – Chương VII- Anh

📘 Sách: Vòng Tái Sinh (Wheel of Life) Song ngữ – Tác giả: H.K. Challoner

CHAPTER VIICHƯƠNG VII

ENGLAND—NƯỚC ANH

The memories to which my teacher referred were a remarkable series of dreams I had had in my childhood in which I was always a man dressed in garments of the eighteenth century. A whole string of episodes had thus come to me; but what has chiefly interested me about them since is that neither the experiences nor the emotions could possibly have emanated from a child’s unconscious mind, for they were essentially those of a mature man. Yet they also influenced my waking hours, for I used to live a whole secret life of my own in those days, always imagining myself to be this man, creating about me a world of historical fantasy.

Những ký ức mà huấn sư tôi nhắc đến là một chuỗi giấc mơ kỳ lạ tôi đã có thời thơ ấu, trong đó tôi luôn là một người đàn ông mặc y phục thế kỷ mười tám. Cả một chuỗi tình tiết đã đến với tôi như thế; nhưng điều chủ yếu khiến tôi quan tâm về chúng từ đó đến nay là cả những kinh nghiệm lẫn cảm xúc ấy đều không thể nào phát ra từ vô thức của một đứa trẻ, vì về bản chất chúng là của một người đàn ông trưởng thành. Tuy nhiên, chúng cũng ảnh hưởng đến những giờ phút thức của tôi, vì hồi ấy tôi thường sống một đời sống bí mật hoàn toàn của riêng mình, luôn tưởng tượng mình là người đàn ông ấy, tạo dựng quanh mình một thế giới huyễn tưởng lịch sử.

Still, occasionally, I have such dreams, and a psychic once saw me change before his eyes while we were talking into a man of that time, and told me that there was a resemblance between his face and mine. Another psychic again saw, while this book was being written, a man in the dress of somewhere about the same period leaning over the back of my chair, and got from him that he had been a friend of mine during a past life.

Thỉnh thoảng, tôi vẫn có những giấc mơ như thế, và có lần một nhà thông linh đã thấy tôi biến đổi trước mắt ông trong lúc chúng tôi đang nói chuyện thành một người đàn ông của thời ấy, và nói với tôi rằng có một sự giống nhau giữa khuôn mặt người đó và khuôn mặt tôi. Lại có một nhà thông linh khác, trong khi cuốn sách này đang được viết, đã thấy một người đàn ông mặc y phục vào khoảng cùng thời kỳ ấy nghiêng mình sau lưng ghế tôi, và nhận được từ ông ta rằng ông ta từng là bạn tôi trong một kiếp quá khứ.

I was not, therefore, surprised when the words of my teacher confirmed the fact that I had lived in England in that age.

Vì thế tôi không ngạc nhiên khi những lời của huấn sư xác nhận sự kiện rằng tôi đã sống ở nước Anh trong thời đại ấy.

I asked him how it was that I still seemed so closely identified with this eighteenth-century gentleman and whether it was desirable.

Tôi hỏi ngài vì sao tôi dường như vẫn còn đồng hoá chặt chẽ đến thế với quý ông thế kỷ mười tám này và liệu điều đó có đáng mong muốn hay không.

He explained that it was partly because this last life was comparatively close and I was now engaged in working off some of the debts contracted then and trying to develop qualities I still conspicuously lacked; also partly because the old personality shell in which the dead live for shorter or longer periods in the world next to the physical had not yet entirely disintegrated. He gave me at the same time some information regarding such “astral shells” as they are called, which, he said, can remain for long periods upon the lower planes particularly if their ex-owners have been materialists and strongly orientated to the physical world. Occasionally also they can be used and to some extent re-animated by those sufficiently advanced in occult knowledge to do so.

Ngài giải thích rằng một phần là vì kiếp sống cuối ấy còn tương đối gần và hiện nay tôi đang bận giải trừ một số món nợ đã tạo ra khi ấy và cố gắng phát triển những phẩm tính mà tôi vẫn còn thiếu một cách nổi bật; cũng một phần là vì lớp vỏ phàm ngã cũ, trong đó người chết sống trong những thời kỳ ngắn hay dài hơn ở thế giới kế cận cõi hồng trần, vẫn chưa hoàn toàn tan rã. Đồng thời ngài cho tôi một số thông tin về những “vỏ cảm dục” như chúng được gọi, mà ngài nói có thể tồn tại lâu dài trên các cõi thấp, đặc biệt nếu những chủ nhân cũ của chúng là người duy vật và định hướng mạnh về thế giới hồng trần. Đôi khi chúng cũng có thể được sử dụng và ở một mức độ nào đó được tái hoạt hóa bởi những người đủ tiến bộ trong tri thức huyền bí để làm điều đó.

Unfortunately it is not only the true owners who can use them after they have been completely abandoned and in process of disintegration, for they can be animated by wandering spirits who are earth-bound or, worse still, by malicious and evil entities. These may end by obsessing the medium or even the sitter who invokes them. This is the reason for some of the mistakes made by clairvoyants and spiritualistic mediums who have not been properly trained and who take the apparition for the person of whom it is only a simulacrum.

Đáng tiếc là không chỉ những chủ nhân đích thực mới có thể sử dụng chúng sau khi chúng đã bị bỏ lại hoàn toàn và đang trong tiến trình tan rã, vì chúng có thể bị làm cho sống động bởi những tinh thần lang thang bị trói buộc vào Trái Đất hoặc, tệ hơn nữa, bởi những thực thể ác ý và xấu xa. Cuối cùng những thực thể này có thể ám nhập đồng tử hay thậm chí cả người ngồi dự buổi gọi hồn đã khẩn cầu chúng. Đây là lý do của một số sai lầm do các nhà thông nhãn và các đồng tử thần linh học chưa được huấn luyện đúng mức phạm phải, khi họ lầm tưởng hiện ảnh ấy là chính con người mà nó chỉ là một bản mô phỏng.

He also warned me of other dangers of deception to be encountered by those who venture into what is veritably a world of illusion; but this is not the place to enlarge upon them.

Ngài cũng cảnh báo tôi về những nguy hiểm lừa dối khác mà những ai dấn vào điều thật sự là một thế giới của ảo tưởng có thể gặp phải; nhưng đây không phải chỗ để nói dài về chúng.

Those dreams I had had and the sense of contact with an earlier age made it easier, therefore, for me to piece together some, at least, of the main events in the story of the man I have called Charles from the outline I was given by my teacher.

Vì vậy, những giấc mơ tôi đã có và cảm giác tiếp xúc với một thời đại trước đó khiến tôi dễ dàng hơn trong việc ghép nối ít nhất một số biến cố chính trong câu chuyện của người đàn ông mà tôi gọi là Charles từ dàn ý mà huấn sư đã cho tôi.

On the surface it does not appear to have been a particularly interesting or dramatic one, save in so far as the events in the lives of one’s ancestors, through their very strangeness and different setting, often seem endowed with a colourfulness and a glamour usually lacking in one’s contemporary existence. Actually it was much the same as that of the average man anywhere, compact of the usual pleasures, pains, frustrations and bereavements common to humanity.

Trên bề mặt, đó dường như không phải là một câu chuyện đặc biệt thú vị hay kịch tính, ngoại trừ ở chỗ những biến cố trong đời sống tổ tiên của một người, chính vì sự kỳ lạ và bối cảnh khác biệt của chúng, thường có vẻ được ban cho một màu sắc và một ảo cảm mà đời sống đương thời của chính mình thường thiếu. Thực ra nó cũng gần như đời sống của người trung bình ở bất cứ đâu, gói gọn những vui thú, đau khổ, thất vọng và mất mát thông thường của nhân loại.

Again I made many of the same mistakes as previously, but my attitude towards them, being coloured by those old experiences which I was at length learning to turn to account, was changed.

Một lần nữa tôi đã phạm nhiều sai lầm giống như trước, nhưng thái độ của tôi đối với chúng, được nhuốm màu bởi những kinh nghiệm cũ mà cuối cùng tôi đang học cách vận dụng, đã thay đổi.

To begin with, I made another rash marriage; carried away once more by romantic ideals and a mixture of vanity and passion which I mistook for love. The girl, pretty, pathetic Elizabeth, had a tragic home; we eloped and were married at Gretna, followed by the curses of her father, a fanatical, unbalanced creature who never forgave her for marrying one he considered to be a godless libertine, damned to eternal fires.

Trước hết, tôi lại có một cuộc hôn nhân hấp tấp khác; một lần nữa bị cuốn đi bởi những lý tưởng lãng mạn và một hỗn hợp của hư vinh cùng đam mê mà tôi lầm tưởng là tình yêu. Cô gái, Elizabeth xinh đẹp, đáng thương, có một gia đình bi thảm; chúng tôi bỏ trốn và kết hôn ở Gretna, theo sau là những lời nguyền rủa của cha nàng, một sinh vật cuồng tín, mất quân bình, không bao giờ tha thứ cho nàng vì đã lấy một kẻ mà ông cho là một tên phóng đãng vô thần, bị đọa vào lửa đời đời.

I was at that time nothing of the sort. Having evidently been generous in a past life and learned to administer my wealth wisely, I inherited a reasonable income which enabled me to live in accordance with those rather extravagant and dissolute standards demanded of young men of my social standing; for I was by way of being unoriginal, following closely the conventions of my day. Nothing in fact would have roused me from the idle rut in which my life’s wheels were set save some sharp blows from Fate. These were not to be denied me. Charles was to be the clay which my Higher Self was ultimately to refine sufficiently to create a vessel through which the inner light might begin to percolate. This process could only be carried out by suffering.

Lúc ấy tôi chẳng phải hạng người như thế chút nào. Hiển nhiên vì đã từng rộng lượng trong một kiếp trước và học được cách quản lý tài sản của mình một cách khôn ngoan, tôi thừa hưởng một khoản thu nhập khá, cho phép tôi sống phù hợp với những tiêu chuẩn khá xa hoa và trụy lạc được đòi hỏi nơi những thanh niên có địa vị xã hội như tôi; vì tôi, theo một nghĩa nào đó, là người thiếu độc đáo, bám sát những quy ước của thời đại mình. Thực ra chẳng có gì có thể kéo tôi ra khỏi lối mòn nhàn rỗi mà bánh xe đời tôi đã lăn vào, ngoại trừ vài cú đánh mạnh từ Số Phận. Và những cú đánh ấy đã không bị từ chối với tôi. Charles sẽ là đất sét mà Bản Ngã Cao Siêu của tôi rốt cuộc sẽ tinh luyện đủ để tạo nên một chiếc bình qua đó ánh sáng bên trong có thể bắt đầu thấm qua. Tiến trình này chỉ có thể được thực hiện bằng đau khổ.

The first blow was the death of the son whom I adored, the second the infidelity of my wife. 1 will write of these more in detail, since each played so important a part in that process of spiritual education for which I had been born. For whereas in my previous lives the most shattering blows had had, for the most part, but little effect save to make me more rebellious and bitter or to send me flying somewhere for refuge, now each event had a vital influence in my development.

Cú đánh đầu tiên là cái chết của đứa con trai mà tôi yêu quý, cú thứ hai là sự bất trung của vợ tôi. Tôi sẽ viết về những điều này chi tiết hơn, vì mỗi điều đều đóng một vai trò quan trọng như thế trong tiến trình giáo dục tinh thần mà tôi đã được sinh ra để trải qua. Vì trong khi ở những kiếp trước, những cú đánh dữ dội nhất phần lớn chỉ có ít tác động ngoài việc làm tôi phản kháng và cay đắng hơn hoặc khiến tôi chạy trốn đâu đó để tìm nơi nương náu, thì giờ đây mỗi biến cố đều có một ảnh hưởng thiết yếu trong sự phát triển của tôi.

I was riding down a country road. It was spring. I raised my head and drew a long breath of the sweet air. Across the pale-blue March sky white clouds rode behind the patterned boughs of oak. The lichened trunks were chequered with cold sunlight, the hazels were misty purple with opening buds; dell and copse were aflower with primroses and anemones and vocal with the song of thrush and finch, blackbird and robin. The road, a cart- track more or less, heavy with black loam half flooded by recent rains, wound down through these woods then upward to the rise which shouldered the open sky.

Tôi đang cưỡi ngựa dọc một con đường quê. Đó là mùa xuân. Tôi ngẩng đầu lên và hít một hơi dài bầu không khí ngọt lành. Trên nền trời tháng Ba xanh nhạt, những đám mây trắng trôi sau những cành sồi đan hoa văn. Những thân cây phủ địa y loang lổ dưới ánh nắng lạnh, những bụi phỉ mờ tím vì chồi non đang hé; khe trũng và lùm cây đầy hoa anh thảo và hải quỳ, vang tiếng hót của chim hoét, chim sẻ, chim sáo đen và chim cổ đỏ. Con đường, ít nhiều chỉ là một lối xe kéo, nặng bùn đen nửa ngập vì những cơn mưa gần đây, uốn xuống qua những khu rừng ấy rồi lại đi lên đến sườn đồi vươn vai dưới bầu trời rộng.

Four ways met upon the top of the hill, two deviating through more woods, the fourth like a ribbon running between open fields towards the Kentish Weald. I loved this country, knew as an intimate friend each tree, each hedgerow. It had always been my habit when coming home from Town to pause on this hill-top, breathing in the air, basking in a pleasant sense of ownership. But now I found myself indifferent to it all; looked on fields and woods almost with distaste, while in my pocket my hand clenched and unclenched itself round that letter from Elizabeth which had brought me back from London.

Bốn ngả gặp nhau trên đỉnh đồi, hai ngả rẽ qua những khu rừng khác, ngả thứ tư như một dải ruy băng chạy giữa những cánh đồng trống về phía vùng Weald của Kent. Tôi yêu miền quê này, biết từng cây, từng hàng rào như một người bạn thân thiết. Từ trước đến nay, khi từ thành phố trở về, tôi luôn có thói quen dừng lại trên đỉnh đồi này, hít thở không khí, đắm mình trong cảm giác sở hữu dễ chịu. Nhưng giờ đây tôi thấy mình điềm nhiên trước tất cả; nhìn đồng ruộng và rừng cây gần như với sự chán ghét, trong khi trong túi áo, bàn tay tôi siết rồi buông quanh bức thư của Elizabeth đã gọi tôi từ Luân Đôn trở về.

I fumed now to think that she should even have spoilt my delight in nature. What right had she or anyone to affect me so, to take all the colour out of life for me?

Giờ đây tôi sôi sục khi nghĩ rằng nàng lại có thể làm hỏng cả niềm vui của tôi trước thiên nhiên. Nàng hay bất cứ ai có quyền gì mà ảnh hưởng đến tôi như thế, lấy hết màu sắc của đời sống khỏi tôi?

I jerked angrily at the reins and the horse turned of itself towards the left.

Tôi giật mạnh dây cương đầy giận dữ và con ngựa tự nó rẽ sang trái.

I sat upright, heeding nothing. My mind was still a little numb. I could not quite believe it true that she had really left me, eloped with some stranger whose name I did not even know—she, this docile, lovely creature whom I had snatched from a cruel life—a life of brutality and degradation, to whom I had given, not alone an honoured name and every material benefit, but my love. For I had loved her—I told myself this fiercely. I had been repeating it ever since I left London, until by this time I had come to believe that I had loved her as few women in the world ever had been loved and that consequently I had been injured beyond belief; how dared she treat this rare gift as nothing and shame me wantonly under the mocking eyes of all my world?

Tôi ngồi thẳng người, chẳng để ý gì. Trí tuệ tôi vẫn còn hơi tê dại. Tôi không thể hoàn toàn tin là thật rằng nàng thực sự đã bỏ tôi, bỏ trốn với một kẻ xa lạ nào đó mà tên tôi còn không biết—nàng, sinh vật ngoan ngoãn, xinh đẹp này mà tôi đã cướp khỏi một đời sống tàn nhẫn—một đời sống của bạo hành và hạ nhục, người mà tôi đã ban cho không chỉ một cái tên danh giá và mọi lợi ích vật chất, mà còn cả tình yêu của tôi. Vì tôi đã yêu nàng—tôi tự nhủ điều ấy một cách dữ dội. Tôi đã lặp đi lặp lại điều đó từ khi rời Luân Đôn, cho đến lúc này tôi đã đi đến chỗ tin rằng tôi đã yêu nàng như rất ít phụ nữ trên đời từng được yêu, và rằng vì thế tôi đã bị tổn thương beyond belief; làm sao nàng dám đối xử món quà hiếm có ấy như không là gì và cố ý làm nhục tôi dưới những ánh mắt chế giễu của cả thế giới tôi?

I writhed at the thought of how they must have laughed at my cuckoldry. Now that I knew the truth, several of my friends had told me of the gossip which had long gone on behind my back. I ground my teeth together; well, they would not have food for mockery much longer. I had taken all the proper steps whereby alone my honour might be vindicated. There could be but one end.

Tôi quằn quại khi nghĩ họ hẳn đã cười nhạo sự bị cắm sừng của tôi thế nào. Giờ đây khi đã biết sự thật, vài người bạn của tôi đã kể cho tôi nghe về những lời đồn đại từ lâu vẫn diễn ra sau lưng tôi. Tôi nghiến chặt răng; được thôi, họ sẽ không còn thức ăn cho sự nhạo báng lâu nữa. Tôi đã thực hiện mọi bước thích đáng mà chỉ qua đó danh dự của tôi mới có thể được minh oan. Chỉ có thể có một kết cục.

My horse stopped suddenly and began to crop the grass. I glanced round and found that the animal, acting on an old-established habit, had brought me to the lych- gate of the church. Almost automatically I dismounted and, throwing the rein over the hitching-post, walked through the churchyard until I reached a corner where a young cypress reared its slender shape like a dark candle over a little grave almost hidden now beneath a mound of spring flowers.

Ngựa của tôi đột nhiên dừng lại và bắt đầu gặm cỏ. Tôi ngoái nhìn quanh và nhận ra rằng con vật, theo một thói quen đã thành nếp từ lâu, đã đưa tôi đến cổng nghĩa địa của nhà thờ. Gần như theo phản xạ, tôi xuống ngựa và, vắt dây cương lên cọc buộc ngựa, đi qua khu nghĩa địa cho đến khi tới một góc nơi một cây bách non vươn dáng mảnh mai như một ngọn nến đen trên một nấm mồ nhỏ giờ gần như bị che khuất dưới một ụ hoa xuân.

Here I paused and stood staring blindly down at that place where the remains of the being I had loved beyond thought or expression lay forever hid. Even after five years the loss was as fresh, as terrible, as on that day of my son’s death. Here Elizabeth was forgotten; all the angers and shames of the past week were wiped out by these other memories which crowded in upon me every time I stood by this small patch of earth.

Tại đây tôi dừng lại và đứng nhìn trân trân, mù quáng, xuống nơi ấy, nơi di hài của sinh thể mà tôi đã yêu vượt ngoài mọi ý nghĩ hay diễn đạt đang nằm ẩn mãi mãi. Ngay cả sau năm năm, mất mát ấy vẫn mới nguyên, vẫn khủng khiếp như trong ngày con trai tôi chết. Ở đây Elizabeth bị lãng quên; mọi cơn giận dữ và nhục nhã của tuần qua đều bị xóa sạch bởi những ký ức khác này, những ký ức luôn dồn dập tràn đến với tôi mỗi lần tôi đứng bên mảnh đất nhỏ này.

I had worshipped the lad with a love akin to idolatry. From the moment the child was placed in my arms I had felt that at last my own life’s purpose was accomplished and perfected. I would not be parted from him; grew jealous even of his contact with his nurses and his mother. I forsook my friends, my normal pursuits, shut myself up in my country house and spent my time playing with the child or planning out his career which was to be the most marvellous in the world. All my own frustrated dreams, hopes, ambitions were transferred to my son; in him I began my own life afresh. I even neglected Elizabeth in this wild, absorbing passion and, by the irony of chance, it was indirectly through Elizabeth that the accident befell which robbed me of the boy.

Tôi đã tôn thờ thằng bé bằng một tình yêu gần như sùng bái. Từ khoảnh khắc đứa trẻ được đặt vào vòng tay tôi, tôi đã cảm thấy rằng cuối cùng mục đích đời mình đã được hoàn tất và viên mãn. Tôi không muốn rời xa nó; thậm chí còn ghen cả với sự tiếp xúc của nó với các vú nuôi và với mẹ nó. Tôi bỏ bạn bè, bỏ những theo đuổi bình thường của mình, tự giam mình trong ngôi nhà miền quê và dành thời gian để chơi với đứa trẻ hoặc vạch ra sự nghiệp cho nó, một sự nghiệp sẽ là kỳ diệu nhất thế gian. Tất cả những giấc mơ, hy vọng, tham vọng bị ngăn trở của chính tôi đều được chuyển sang con trai tôi; trong nó tôi bắt đầu lại đời mình từ đầu. Tôi thậm chí còn sao lãng Elizabeth trong niềm đam mê hoang dại, cuốn hút ấy, và trớ trêu thay, chính gián tiếp qua Elizabeth mà tai nạn đã xảy ra, cướp mất thằng bé khỏi tôi.

Elizabeth’s father had never forgiven her marriage. He had sought without ceasing in the early days of our union to force her to return to her home, and occasionally even in later years he would suddenly thrust himself upon us, breathing threatenings and slaughter, until, losing patience, I gave orders that he was not to be allowed upon my estates.

Cha của Elizabeth chưa bao giờ tha thứ cho cuộc hôn nhân của nàng. Trong những ngày đầu của cuộc sống chung, ông ta không ngừng tìm cách ép nàng trở về nhà, và thỉnh thoảng ngay cả trong những năm sau này ông ta vẫn đột ngột xông đến chỗ chúng tôi, hằm hè đe dọa và hung bạo, cho đến khi mất kiên nhẫn, tôi ra lệnh không được cho ông ta bước vào điền trang của tôi.

But on this fatal day, the boy’s sixth birthday, while Elizabeth was riding with him mounted upon his new pony, suddenly out of the bushes Nathaniel had materialized, dressed in a scarecrow cloak he always affected, waving his arms and warning his daughter against the fires of hell. The pony shied at the apparition, throwing the boy. He was picked up dead of a broken neck.

Nhưng vào ngày định mệnh ấy, ngày sinh nhật thứ sáu của thằng bé, khi Elizabeth đang cưỡi ngựa với nó ngồi trên con ngựa con mới của mình, thì Nathaniel bỗng hiện ra từ bụi rậm, mặc chiếc áo choàng rách rưới như bù nhìn mà ông ta vẫn thường thích khoác, vung tay và cảnh báo con gái mình về lửa địa ngục. Con ngựa con hoảng hốt trước bóng hiện ấy và hất thằng bé ngã xuống. Khi được nhặt lên, nó đã chết vì gãy cổ.

To me it was as if my own life had ended. At first I had seriously contemplated suicide, but partly out of pity for my wife, partly by reason of some inner revulsion from the idea which I could not myself explain, I had refrained.

Đối với tôi, điều đó như thể chính đời tôi đã chấm dứt. Lúc đầu tôi đã thực sự nghĩ đến việc tự sát, nhưng một phần vì thương vợ, một phần vì một sự ghê sợ nội tâm nào đó đối với ý nghĩ ấy mà chính tôi cũng không thể giải thích, nên tôi đã kiềm lại.

Instead I had enclosed my grief within a hard shell of indifference and had striven to forget, plunging into wild dissipations of every kind. There were senseless orgies in town, women, gaming, drink. When this did not serve, I would disappear for weeks, taking long, wild rides through the country-side; indulging in mad acts of bravado when I courted death battling with the elements, storm and sea and the icy embrace of snow-covered wastes, or sought out the haunts of highwaymen and footpads; yet I returned unscathed and the more disillusioned, with the memories of that small, gallant figure, those eager, laughing brown eyes, that subtle, vivid mind, as unstained, as clear, as poignant as they had ever been.

Thay vào đó, tôi bọc nỗi đau của mình trong một lớp vỏ cứng của Điềm nhiên và cố quên đi, lao vào những cuộc phóng túng điên cuồng đủ mọi kiểu. Có những cuộc truỵ lạc vô nghĩa trong thành phố, đàn bà, cờ bạc, rượu chè. Khi những thứ ấy không có tác dụng, tôi biến mất hàng tuần liền, thực hiện những chuyến cưỡi ngựa dài và hoang dại qua miền quê; buông mình vào những hành vi liều lĩnh điên rồ khi tôi thách thức cái chết trong cuộc vật lộn với các nguyên tố, với bão tố và biển cả cùng cái ôm băng giá của những vùng hoang phủ tuyết, hoặc tìm đến sào huyệt của bọn cướp đường và trộm cắp; thế nhưng tôi vẫn trở về nguyên vẹn và càng thêm vỡ mộng, trong khi ký ức về dáng hình nhỏ bé, can trường ấy, về đôi mắt nâu cười vui háo hức ấy, về trí tuệ tinh tế, sinh động ấy, vẫn nguyên vẹn, trong sáng, nhói buốt như chưa từng đổi khác.

No, not even with the passing of years had these changed or grown dim. You couldn’t kill out a thing like this. As I stood there in the bleak March wind, the depth of my loneliness was suddenly revealed to me. At least until now there had been Elizabeth always awaiting my pleasure: charming to look upon, although growing a little plump; good-tempered, kind; futile, perhaps, wearisome often, but at least someone who loved me, who could minister to all my bodily needs and whom I could love when a kindlier mood was on me.

Không, ngay cả theo năm tháng trôi qua, những điều ấy cũng không thay đổi hay mờ nhạt đi. Bạn không thể giết chết một điều như thế. Khi tôi đứng đó trong cơn gió tháng Ba lạnh lẽo, chiều sâu của nỗi cô độc của tôi bỗng hiện rõ trước tôi. Ít nhất cho đến lúc này vẫn luôn có Elizabeth chờ đợi ý muốn của tôi: dễ nhìn, dù đã hơi đẫy đà; tính tình tốt, tử tế; có lẽ vô dụng, thường gây mệt mỏi, nhưng ít nhất cũng là một người yêu tôi, có thể chăm lo mọi nhu cầu thể xác của tôi và là người tôi có thể yêu khi tâm trạng tôi dịu lại.

But now she, too, had gone. Life had deprived me of my last chance of that quiet, more stable kind of happiness, which, despite all my wildness, I had always really desired. Everything was ended.

Nhưng giờ đây nàng cũng đã đi rồi. Cuộc đời đã tước khỏi tôi cơ hội cuối cùng để có được thứ hạnh phúc yên lặng, ổn định hơn mà, bất chấp mọi sự hoang dại của mình, tôi vẫn luôn thật sự mong muốn. Mọi thứ đã chấm dứt.

Overcome by an impulse stronger even than my pride, I knelt down and pressed my face on the cold soil beneath the primroses. Their fresh, damp scent enveloped me; a lassitude descended on me; I never wanted to move again, but to lie here, to sink into the earth beside all that was left to me of life. An idle wish, for there was nothing left —anywhere. The boy was cold in the earth—finished utterly; Elizabeth was in another man’s arms, mocking me, perhaps, or more likely having already forgotten me.

Bị khuất phục bởi một xung lực còn mạnh hơn cả lòng kiêu hãnh của mình, tôi quỳ xuống và áp mặt lên nền đất lạnh dưới những bông anh thảo. Hương thơm tươi mát, ẩm ướt của chúng bao bọc lấy tôi; một cơn rã rời trùm xuống; tôi không còn muốn cử động nữa, chỉ muốn nằm đây, chìm vào lòng đất bên cạnh tất cả những gì còn lại với tôi của đời sống. Một ước muốn vô ích, vì chẳng còn gì nữa — ở bất cứ đâu. Thằng bé lạnh trong lòng đất — hoàn toàn chấm hết; Elizabeth đang trong vòng tay một người đàn ông khác, có lẽ đang nhạo báng tôi, hoặc rất có thể đã quên tôi rồi.

I rose heavily and, climbing back into the saddle, turned my horse’s head in the direction of Windstalls.

Tôi nặng nề đứng dậy và, trèo lại lên yên, quay đầu ngựa về hướng Windstalls.

Bah, what did it all matter? Life was a game of hazard that you were forced to play whether you willed it or no; yes, and this God that men prayed to and revered was nothing but a trickster who loaded the dice against you at every turn. Perhaps it was as well the boy had died. He too might have had high dreams and ideals which would none of them have been fulfilled. He, too, might have lived to discover the fruits of life turning bitter in his mouth. He, too, might have married into a family that was a curse upon him.

Chà, tất cả đó thì có nghĩa lý gì? Đời là một trò đỏ đen mà người ta bị buộc phải chơi dù muốn hay không; phải, và vị Thượng đế mà người đời cầu nguyện và tôn kính ấy chẳng qua chỉ là một kẻ bịp bợm luôn nạp sẵn xúc xắc chống lại bạn ở mọi lượt. Có lẽ thằng bé chết đi lại là điều hay. Nó cũng có thể đã mang những giấc mơ và lý tưởng cao đẹp mà chẳng điều nào được thực hiện. Nó cũng có thể đã sống để khám phá ra rằng trái quả của đời sống hóa đắng trong miệng mình. Nó cũng có thể đã cưới vào một gia đình là lời nguyền cho nó.

“Well, she’ll pay for it all now,” I muttered savagely. “I’ve done with this weak pity—an eye for an eye is my motto for the future.”

“Được, giờ thì cô ta sẽ phải trả giá cho tất cả chuyện này,” tôi lẩm bẩm một cách hung dữ. “Tôi đã chấm dứt với lòng thương hại yếu đuối này rồi — mắt đền mắt sẽ là châm ngôn của tôi từ nay.”

I thought that the man who came forward from the stables to take my horse when I arrived at Windstalls looked at me slyly; no doubt the servants were laughing at me too. My eyes narrowed; I had half a mind to dismiss the lot of them.

Tôi nghĩ rằng người đàn ông bước ra từ chuồng ngựa để dắt ngựa cho tôi khi tôi về đến Windstalls đã nhìn tôi một cách láu cá; hẳn đám gia nhân cũng đang cười nhạo tôi. Mắt tôi nheo lại; tôi đã nửa muốn đuổi cổ cả lũ.

“Is all well?” I asked sharply as I stooped to calm the excited antics of a pack of dogs that had rushed from all sides at the sound of my voice.

“Mọi việc ổn cả chứ?” tôi hỏi gắt khi cúi xuống trấn an những trò nhảy nhót kích động của một bầy chó đã từ mọi phía lao đến khi nghe tiếng tôi.

The man shook his head and jerked his thumb towards a cottage which could just be seen through the trees on the other side of the ornamental water.

Người đàn ông lắc đầu và hất ngón tay cái về phía một căn nhà nhỏ chỉ vừa thấy được qua đám cây ở phía bên kia hồ cảnh.

“She’s been at it again,” he remarked cryptically. “We took food and left it outside, but we daresn’t go in; she was screaming, shouting of devils and suchlike—we thought best to leave her alone.”

“Bà ấy lại lên cơn nữa rồi,” hắn nói một cách bí hiểm. “Chúng tôi mang thức ăn đến và để ngoài cửa, nhưng không dám vào; bà ấy la hét, gào lên về ma quỷ với những thứ tương tự — chúng tôi nghĩ tốt hơn là cứ để bà ấy yên.”

I relieved my pent-up feelings in a bitter tirade of abuse at the man’s cowardice.

Tôi trút những cảm xúc bị dồn nén của mình thành một tràng chửi rủa cay độc vào sự hèn nhát của hắn.

“She may be dead, you miserable pack of curs; is it thus you attend to your duties? I’ll go and see to her myself, and do you fetch some fresh food and bring it along presently.”

“Có thể bà ấy đã chết rồi, đồ chó má khốn kiếp; các ngươi làm bổn phận kiểu đó sao? Ta sẽ tự đi xem bà ấy, còn ngươi thì đi lấy ít thức ăn mới và lát nữa mang đến.”

It was nearly a quarter of a mile to the cottage where Elizabeth’s mother lived. She was not fit to be kept nearer, for her habits were unclean and, when drunk sometimes two men were needed to control her.

Từ đó đến căn nhà nơi mẹ Elizabeth sống gần một phần tư dặm. Bà ta không thích hợp để ở gần hơn, vì thói quen của bà ta nhơ bẩn và, khi say, đôi khi cần đến hai người đàn ông mới khống chế nổi.

Entering the stuffy lower room I was, as usual, so struck with revulsion and with pity at the squalid condition to which she had been reduced that for a moment I forgot my own misfortunes.

Bước vào căn phòng thấp, ngột ngạt ở tầng dưới, như thường lệ tôi bị đánh mạnh bởi sự ghê tởm và thương hại trước tình trạng bẩn thỉu mà bà ta đã sa xuống đến mức trong chốc lát tôi quên cả những bất hạnh của chính mình.

I called her name and a hoarse voice answered and bade me wait.

Tôi gọi tên bà ta và một giọng khàn khàn đáp lại, bảo tôi chờ.

I did not sit down. The stale smell of spirits and of things unutterably foul sickened me; my fastidiousness recoiled from any contact here.

Tôi không ngồi xuống. Mùi rượu cũ và những thứ bẩn thỉu không sao nói nổi làm tôi buồn nôn; sự kỹ tính của tôi co rút lại trước bất kỳ sự tiếp xúc nào ở đây.

Poor Adela, I thought, what an end was this! She had been a beauty, a young heiress, courted and spoilt before Nathaniel Chalmers met her; now she was bereft of everything—money, beauty, reputation, even of her wits.

Tội nghiệp Adela, tôi nghĩ, kết cục này là sao! Bà ta từng là một mỹ nhân, một nữ thừa kế trẻ, được theo đuổi và nuông chiều trước khi Nathaniel Chalmers gặp bà; giờ đây bà bị tước sạch mọi thứ — tiền bạc, nhan sắc, danh tiếng, thậm chí cả trí khôn.

I could never enter here without recalling that tragedy. Nathaniel, a man of most rigid virtue, had swept like a burning flame into this girl’s life, denouncing her petty vanities, her frivolous ways, even her wealth, as of the devil. Why she had loved him, what she found in this hysterical fanatic, no one had understood; but she had abandoned everything for him, following him out into the bleak world in which he moved, going with him from village to village, while he exhorted people to repent and flee from the wrath of God.

Tôi không bao giờ có thể bước vào đây mà không nhớ lại bi kịch ấy. Nathaniel, một người đàn ông có đức hạnh cứng rắn nhất, đã quét vào đời cô gái này như một ngọn lửa cháy rực, lên án những phù phiếm nhỏ nhen, những lối sống hời hợt, ngay cả sự giàu có của bà, là của quỷ dữ. Vì sao bà yêu ông ta, bà tìm thấy gì nơi kẻ cuồng tín cuồng loạn ấy, không ai hiểu nổi; nhưng bà đã từ bỏ tất cả vì ông ta, theo ông ta ra thế giới lạnh lẽo mà ông ta sống trong đó, đi cùng ông ta từ làng này sang làng khác, trong khi ông ta khuyên người ta sám hối và chạy trốn cơn thịnh nộ của Thượng đế.

I had never heard what first made Adela fall a victim to the terrible lust for drink; I only knew that Nathaniel set himself the task of casting out this devil which he believed had gained power over his beloved wife; for to Nathaniel the world was peopled with the predatory hosts of the evil one. So great was his anxiety to save her that there was no cruelty, no austerity to which he did not subject her in order to attain his goal. And she, in her love, had been pitifully eager to submit to everything, although his penances and scourgings only weakened her body and destroyed her will.

Tôi chưa bao giờ nghe được điều gì đầu tiên khiến Adela trở thành nạn nhân của cơn thèm rượu khủng khiếp ấy; tôi chỉ biết Nathaniel tự đặt cho mình nhiệm vụ trục xuất con quỷ mà ông ta tin là đã giành quyền lực trên người vợ yêu dấu của mình; vì đối với Nathaniel, thế giới đầy rẫy những đạo quân săn mồi của ác quỷ. Nỗi lo cứu bà của ông ta lớn đến mức không có sự tàn nhẫn nào, không có sự khổ hạnh nào mà ông ta không bắt bà phải chịu để đạt mục tiêu. Và bà, trong tình yêu của mình, đã đáng thương mà sốt sắng phục tùng mọi thứ, mặc dù những hình phạt và roi vọt của ông ta chỉ làm thân thể bà suy yếu và hủy hoại ý chí của bà.

But she grew rapidly worse. At last Nathaniel imagined she had been unfaithful and cast her out in an extremity of jealous rage. For several years she had wandered about the country, sinking lower and lower, whoring, thieving, lying, selling herself body and soul to any creature, however debased, who would procure her the drink she madly craved. Thus at last, half dead, she arrived at Windstalls and had straightway thrown herself upon my charity.

Nhưng bà ngày càng tệ đi rất nhanh. Cuối cùng Nathaniel tưởng tượng rằng bà đã không chung thủy và đuổi bà đi trong cơn ghen điên cuồng tột độ. Trong nhiều năm bà lang thang khắp miền quê, sa sút ngày càng thấp hơn, làm điếm, ăn cắp, nói dối, bán cả thân lẫn hồn cho bất kỳ sinh vật nào, dù đê tiện đến đâu, miễn là kiếm cho bà thứ rượu mà bà điên cuồng thèm khát. Và thế là cuối cùng, nửa sống nửa chết, bà đến Windstalls và lập tức phó mình cho lòng từ thiện của tôi.

The boards in the room above creaked with an ominous sound. I heard a heavy body descending the narrow stairs. So large had she grown of late that she could scarce pass the doorway. She stood now on the threshold, staring at me stupidly, her grey hair straggling down her flabby, mottled face, her shaking hand holding a soiled wrapper together over her hooped petticoats. She had obviously not yet fully recovered from her recent drinking bout.

Những tấm ván ở căn phòng trên lầu kêu cót két một âm thanh điềm gở. Tôi nghe một thân thể nặng nề đang xuống cầu thang hẹp. Gần đây bà ta đã béo lên đến mức khó lòng lọt qua khung cửa. Giờ bà đứng nơi ngưỡng cửa, đờ đẫn nhìn tôi, mái tóc xám rũ xuống khuôn mặt bèo nhèo, loang lổ, bàn tay run rẩy giữ tấm áo choàng bẩn khép lại trên lớp váy lót có khung. Rõ ràng bà vẫn chưa hoàn toàn hồi phục sau cơn say gần đây.

Despite my repulsion I was in some queer way attached to this woman. She had, I thought, a humanity and a tolerance not to be found so easily in the world. Her forthright speech and bawdy wit were refreshing after the simpering affectations of the ladies of fashion who, though bawdy too, were yet bawdy with a difference. Her vagabond and tragic life seemed to have taught her some queer sense of proportion to which these others could never attain—they who were, after all, for the most part but glorified ladies-of-the-town and in the long run just as wearisome.

Bất chấp sự ghê tởm của mình, theo một cách kỳ lạ nào đó tôi vẫn gắn bó với người đàn bà này. Tôi nghĩ bà có một tính người và một sự khoan dung không dễ tìm thấy trong đời. Lối nói thẳng và sự tục tĩu hóm hỉnh của bà đem lại cảm giác tươi mới sau những kiểu cách õng ẹo của các quý bà thời thượng, những người tuy cũng tục tĩu, nhưng lại tục tĩu theo một kiểu khác. Cuộc đời lang bạt và bi thảm của bà dường như đã dạy cho bà một Ý thức về tỉ lệ kỳ lạ nào đó mà những người kia không bao giờ đạt tới — họ, rốt cuộc, phần lớn chỉ là những kỹ nữ được tô son điểm phấn, và về lâu dài cũng mệt mỏi như nhau.

There had always been a kind of sympathy, too, between us; so that now, standing there facing each other, we communed without words.

Giữa chúng tôi cũng luôn có một thứ cảm thông nào đó; đến nỗi giờ đây, đứng đó đối diện nhau, chúng tôi giao cảm không lời.

“So you know…” she mumbled presently. “Well, ’tis you drove her to it, when all’s said.”

“Vậy là cậu biết rồi…” cuối cùng bà lẩm bẩm. “Ừ, nói cho cùng thì chính cậu đã đẩy nó đến chuyện này.”

I drew a quick breath. “Me? You crazy fool! If anyone did I dare swear it was yourself; you knew all about it, you haven’t forgotten how to play the procuress, I’ll warrant.”

Tôi hít mạnh một hơi. “Tôi ư? Đồ điên khùng! Nếu có ai làm thế thì tôi dám thề chính là bà; bà biết hết mọi chuyện, bà vẫn chưa quên cách làm mụ tú bà đâu, tôi dám chắc.”

She gave a hoarse chuckle and laboriously lowered herself into a chair.

Bà cười khục khục khàn khàn và nặng nhọc hạ mình xuống ghế.

“D’you think Elizabeth could keep anything to herself for long? Of course she told me; and the scenes she made!

“Cậu nghĩ Elizabeth có thể giữ kín chuyện gì lâu sao? Dĩ nhiên là nó kể với tôi; và những cảnh nó làm mới ghê chứ!

Wept, she did—said she must give him up—do what was right…. Ha, ha! There’s a streak of my poor Nat in Elizabeth. She prated of marriage vows—and your ruined life—as if she, silly little fool, was the only one you’d ever been to bed with! But I…” her voice dropped, into her bleary eyes crept a sly look, “I knew. I knew what’d happen if she didn’t have her way—she’s the kind that dies slowly, goes into a decline—or worse. For, mark you, she’s properly in love—a little mad with it. Of course you’ve not noticed, but it’s been in her eyes, in her gait this long while. Or perhaps you thought it was your charms?” She laughed again. “She never was in love with you like that, save at the very first. Since then she’s been grateful, affectionate—like a dog is. Did I say it was your fault? Well, so it was. You—you frightened her. The first night, Charles! Ah, you may wince. Haven’t you ever realized she’s not made for your kind of passion—nor mine, either; you and I are something alike, my pretty Charles—although you’d not care to own the likeness. Ho, you’ve got hot blood enough, but not she—not my Elizabeth?”

Nó khóc đấy — nói rằng nó phải từ bỏ anh ta — phải làm điều đúng…. Ha, ha! Trong Elizabeth có một vệt của Nat tội nghiệp của tôi. Nó ba hoa về lời thề hôn nhân — và cuộc đời tan nát của cậu — như thể nó, con ngốc nhỏ, là người duy nhất cậu từng lên giường cùng vậy! Nhưng tôi…” giọng bà hạ xuống, trong đôi mắt lờ đờ hiện lên một vẻ láu cá, “tôi biết. Tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu nó không được theo ý mình — nó là loại người chết dần chết mòn, lụi tàn đi — hoặc tệ hơn. Vì, nhớ cho kỹ, nó đang yêu thật sự — hơi điên lên vì tình yêu ấy. Dĩ nhiên cậu không nhận ra, nhưng điều đó đã ở trong mắt nó, trong dáng đi của nó từ lâu rồi. Hay có lẽ cậu tưởng đó là do sức quyến rũ của cậu?” Bà lại cười. “Nó chưa bao giờ yêu cậu kiểu đó, trừ lúc đầu tiên. Từ đó về sau nó biết ơn, trìu mến — như chó với chủ vậy. Tôi có nói đó là lỗi của cậu không? Ừ, đúng thế đấy. Cậu — cậu đã làm nó sợ. Đêm đầu tiên ấy, Charles! À, cậu cứ nhăn mặt đi. Chẳng lẽ cậu chưa bao giờ nhận ra rằng nó không được tạo ra cho kiểu đam mê của cậu — cũng chẳng cho kiểu của tôi; cậu và tôi có cái gì đó giống nhau, Charles xinh đẹp của tôi — dù cậu chẳng muốn nhận cái sự giống nhau ấy đâu. Ho, máu cậu đủ nóng đấy, nhưng nó thì không — Elizabeth của tôi thì không?”

She leant forward across the table, looking up at me with her bleared eyes; her voice had taken on a monotonous quality; I knew these moods in her, when she appeared almost like some old sybil. They always fascinated me into silence.

Bà nghiêng người qua bàn, ngước nhìn tôi bằng đôi mắt mờ đục; giọng bà mang một âm điệu đơn điệu; tôi biết những cơn như thế ở bà, khi bà gần như hiện ra như một nữ tiên tri già. Chúng luôn mê hoặc tôi vào im lặng.

“You’re right, I did help her,” she said, “because I want her to be happy. She can be; she’s simple. Neither you nor I are made for happiness. We want too much—” Her head sagged.

“Cậu nói đúng, tôi đã giúp nó,” bà nói, “vì tôi muốn nó được hạnh phúc. Nó có thể được hạnh phúc; nó đơn giản. Cả cậu lẫn tôi đều không được tạo ra cho hạnh phúc. Chúng ta muốn quá nhiều—” Đầu bà gục xuống.

“I know,” she continued, “I know. We’re all of us looking for something; that’s what life is. You too under your cold, proud air, you’re just like the rest. It’s love we want, I suppose, or perhaps just something that’s bigger than ourselves that we can serve—aye, and worship; something to bring us happiness. Some of us know what it is we want. I found it—in Nat—but I wasn’t big enough perhaps—or he wasn’t—I don’t know any more. Now Elizabeth’s found it in Basil, and you—” her voice grew fierce —“you’d rob her of it just because you lost yours when your boy was killed….”

“Tôi biết,” bà tiếp tục, “tôi biết. Tất cả chúng ta đều đang tìm kiếm một điều gì đó; đời là thế. Cậu cũng vậy, dưới vẻ lạnh lùng, kiêu hãnh ấy, cậu cũng như những người khác thôi. Điều chúng ta muốn là tình yêu, tôi nghĩ vậy, hoặc có lẽ chỉ là một cái gì đó lớn hơn chính mình mà ta có thể phụng sự — phải, và tôn thờ; một cái gì đó đem lại hạnh phúc cho ta. Một số người trong chúng ta biết mình muốn gì. Tôi đã tìm thấy nó — trong Nat — nhưng có lẽ tôi không đủ lớn — hoặc ông ấy không đủ lớn — tôi không còn biết nữa. Giờ Elizabeth đã tìm thấy nó nơi Basil, còn cậu—” giọng bà trở nên dữ dội — “cậu muốn cướp nó khỏi nó chỉ vì cậu đã mất phần của mình khi con trai cậu bị giết….”

At the mention of my son by those drooling lips my control broke down and my bitterness against this woman and her brood who had wrought me nothing but ill all my days, flashed out. At the malignant glance I gave her even she, besotted, already falling into a sort of maudlin coma, shrank back, galvanized by my passion into a renewed awareness of me and my purpose. Yes, she had indeed been right, I could hate as fiercely as I could love and beneath the veneer of cool and cynical indifference with which I had schooled myself to cloak my feelings I could suffer intolerably.

Khi con trai tôi được nhắc đến bởi đôi môi dãi dớt ấy, sự tự chủ của tôi sụp đổ và nỗi cay đắng của tôi đối với người đàn bà này cùng cả lũ nhà bà, những kẻ suốt đời chẳng đem đến cho tôi gì ngoài tai họa, bùng phát ra. Trước cái nhìn độc địa tôi ném cho bà, ngay cả bà, đang say mèm, đã bắt đầu rơi vào một thứ hôn mê ủy mị, cũng co rúm lại, bị niềm đam mê của tôi làm cho giật mình mà tỉnh táo hơn về tôi và mục đích của tôi. Phải, quả thật bà đã đúng, tôi có thể hận dữ dội như tôi có thể yêu, và dưới lớp véc-ni lạnh lùng, hoài nghi, Điềm nhiên mà tôi đã rèn cho mình để che phủ cảm xúc, tôi có thể đau khổ không sao chịu nổi.

“Elizabeth,” I said, and my voice was level and ice- cold, “will learn her mistake and return to her duty as an obedient wife—that is, if afterwards I choose to allow her to return.”

“Elizabeth,” tôi nói, và giọng tôi đều đều, lạnh như băng, “sẽ học ra sai lầm của mình và trở về với bổn phận của một người vợ vâng lời — nghĩa là, nếu sau đó tôi còn chọn cho phép nàng trở về.”

Adela raised herself heavily. “Afterwards? What are you going to do, Charles? What devilry are you planning?” Her voice rose again as I remained silent. “Charles, Charles, you’ll never drag her back against her will? You’ll never do Basil an injury?”

Adela nặng nề ngẩng lên. “Sau đó ư? Cậu định làm gì, Charles? Cậu đang toan tính trò quỷ quái gì?” Giọng bà lại cao lên khi tôi vẫn im lặng. “Charles, Charles, cậu sẽ không lôi nó về trái ý nó chứ? Cậu sẽ không làm hại Basil chứ?”

“I have made all my arrangements,” I replied. “This Basil—as you call him—will be taught his lesson. That is all.”

“Tôi đã sắp xếp mọi việc rồi,” tôi đáp. “Tên Basil này — như bà gọi — sẽ được dạy cho một bài học. Chỉ thế thôi.”

She clutched at my sleeve. “You’ll not kill him, Charles?”

Bà chộp lấy tay áo tôi. “Cậu sẽ không giết anh ta chứ, Charles?”

“Why not? Has he not shamed me before all the world?”

“Tại sao không? Chẳng phải hắn đã làm nhục tôi trước cả thế gian sao?”

Holding me still by the sleeve she dragged herself up towards me; although I tried to shake her off, I found myself, by her inert mass, being slowly forced to stoop nearer so that her foul breath fanned my cheek.

Vẫn nắm chặt tay áo tôi, bà lôi mình đứng dậy về phía tôi; dù tôi cố giũ bà ra, tôi nhận ra mình, bởi khối thân thể ì nặng của bà, đang bị ép chậm chạp phải cúi xuống gần hơn để hơi thở hôi hám của bà phả vào má tôi.

“Rum,” I thought idly, “I wonder how she got it? I told the men…” Then her voice brought me back.

“Lạ thật,” tôi lơ đãng nghĩ, “không biết bà ta kiếm rượu ở đâu? Tôi đã dặn đám người…” Rồi giọng bà kéo tôi trở lại.

“You’ve got to let them go. You don’t know what you’ll do to her—you don’t understand—but you’ve got to—you’ve got to learn. Don’t look at me with those cold eyes. Oh, you’re all alike, you men, hard, self-righteous, thinking of your own pleasures. You’ll do to her what my Nat did to me—but she’s weaker than I was, you’ll kill her—kill her soul. What right have you to ruin two lives —and for what? Your honour! Ha, ha, a nice thing for you to talk of, you with your fine ladies and your trollops —you who only took Elizabeth on a romantic caprice, thinking yourself a noble, gallant fellow. Honour! Hypocrites, all of you, who deck out your lusts and your selfish vanities with fine names, whilst we—we…”

“Cậu phải để họ đi. Cậu không biết cậu sẽ làm gì với nó đâu — cậu không hiểu — nhưng cậu phải — cậu phải học. Đừng nhìn tôi bằng đôi mắt lạnh ấy. Ôi, các người đều giống nhau cả, đàn ông các người, cứng rắn, tự cho mình là đúng, chỉ nghĩ đến thú vui của mình. Cậu sẽ làm với nó điều Nat của tôi đã làm với tôi — nhưng nó yếu hơn tôi, cậu sẽ giết nó — giết linh hồn nó. Cậu có quyền gì mà hủy hoại hai cuộc đời — và vì cái gì? Danh dự của cậu! Ha, ha, cậu mà nói đến danh dự thì hay thật đấy, cậu với những quý bà sang trọng và những con điếm của cậu — cậu, kẻ chỉ lấy Elizabeth vì một cơn bốc đồng lãng mạn, tưởng mình là một gã cao quý, hào hiệp. Danh dự! Toàn lũ đạo đức giả, tất cả các người, những kẻ khoác cho dục vọng và những phù phiếm ích kỷ của mình những cái tên đẹp đẽ, trong khi chúng tôi — chúng tôi…”

She suddenly let me go and sank forward muttering and weeping on the table. For a moment I glared at her, too disgusted and furious even for speech, then swung round and strode out of the place.

Bà đột nhiên buông tôi ra và gục xuống bàn, vừa lẩm bẩm vừa khóc. Trong chốc lát tôi trừng mắt nhìn bà, quá ghê tởm và giận dữ đến mức không nói nổi, rồi quay phắt đi và sải bước ra khỏi nơi đó.

All the way back to the house my rage boiled within me; the few servants who met me drew hurriedly aside, frightened no doubt by my set white face, tight lips and blazing eyes.

Suốt quãng đường trở về nhà, cơn giận của tôi sôi lên bên trong; vài gia nhân gặp tôi đều vội vàng tránh sang một bên, hẳn bị dọa bởi khuôn mặt trắng bệch căng cứng, đôi môi mím chặt và đôi mắt rực lửa của tôi.

Round and round in my head went Adela’s words. The devil of it was there was truth in them, a truth which something within me recognized and acclaimed despite my superficial furious protests.

Lời của Adela cứ quay cuồng trong đầu tôi. Điều quỷ quái ở chỗ là trong đó có sự thật, một sự thật mà cái gì đó bên trong tôi nhận ra và thừa nhận bất chấp những phản kháng giận dữ bề ngoài của tôi.

I strove to ignore it. Elizabeth—it was all her fault, from the beginning. Had she not seduced me when I was but a foolish boy? I saw her again as I had seen her first, so lovely, so appealing and romantic, crouched weeping in a meadow with a weal from her father’s cane across her plump, white shoulder. Well, perhaps Adela—curse her for a witch—hadn’t been far wrong there, I may have been as much in love with my own fancied chivalry as with her. But I had been young—I’d loved her since, hadn’t I?

Tôi cố phớt lờ nó. Elizabeth — tất cả là lỗi của nàng, ngay từ đầu. Chẳng phải nàng đã quyến rũ tôi khi tôi chỉ là một chàng trai ngốc nghếch sao? Tôi lại thấy nàng như lần đầu tôi gặp, đẹp đẽ, khêu gợi và lãng mạn biết bao, ngồi co ro khóc trong một đồng cỏ với vết roi mây của cha nàng hằn ngang bờ vai trắng tròn trịa. Ừ, có lẽ Adela — nguyền rủa mụ phù thủy ấy — cũng không sai bao nhiêu ở điểm đó, có thể tôi yêu cái tinh thần hiệp sĩ mà tôi tưởng tượng về mình cũng nhiều như yêu nàng. Nhưng khi ấy tôi còn trẻ — từ đó về sau tôi đã yêu nàng, chẳng phải sao?

Elizabeth—Adela—Nathaniel—between them all they had robbed me of my peace—curse the lot of them! Hadn’t they murdered my son? But this was the end. Now I knew them for the enemies they were I’d be rid of them all: Adela could go back to the gutters where she belonged—and Elizabeth might follow her; as for Nathaniel, if ever the chance came my way I’d keep the vow I had made over the boy’s dead body and make him pay a hundredfold for all the evil he had brought me.

Elizabeth — Adela — Nathaniel — giữa tất cả bọn họ, họ đã cướp mất sự bình yên của tôi — nguyền rủa cả lũ! Chẳng phải họ đã giết con trai tôi sao? Nhưng đây là kết thúc. Giờ tôi đã biết họ là những kẻ thù như thế nào, tôi sẽ tống khứ hết bọn họ: Adela có thể quay về cống rãnh nơi bà ta thuộc về — và Elizabeth có thể theo bà ta; còn Nathaniel, nếu cơ hội đến tay tôi, tôi sẽ giữ lời thề đã lập bên xác con trai và bắt ông ta trả gấp trăm lần cho mọi điều ác ông ta đã gây cho tôi.

Still plunged in these bitter thoughts I found myself in my wife’s room; I had not meant ever again to enter it, but now, amid her familiar dresses, her perfumes, all the small intimate, delightful things that spoke of her, I paused.

Vẫn chìm trong những ý nghĩ cay đắng ấy, tôi nhận ra mình đang ở trong phòng vợ; tôi đã không hề định bước vào đó nữa, nhưng giờ đây, giữa những chiếc váy quen thuộc của nàng, những mùi hương của nàng, tất cả những vật nhỏ bé thân mật, đáng yêu nói về nàng, tôi dừng lại.

The tallboy was open as she must have left it in her flight. There were empty spaces and a disorder which spoke of feverish packings. I fingered for a moment a sprigged muslin she was wont to wear o’ mornings; most of her shoes were still there, tiny and somehow pathetic now, abandoned of their owner. A hat, all coloured bows and flowers—I could see her laughing face beneath it. Yes, I knew, as I stood in this room with the fragrance of her presence still about me, that I had, indeed, loved her in my fashion whatever Adela might say.

Chiếc tủ cao đang mở như nàng hẳn đã để lại trong lúc bỏ đi. Có những khoảng trống và một sự bừa bộn cho thấy việc thu xếp hành lý vội vã. Trong chốc lát tôi chạm tay vào một chiếc váy muslin hoa nhỏ nàng thường mặc buổi sáng; phần lớn giày của nàng vẫn còn đó, nhỏ xíu và giờ đây bằng cách nào đó thật đáng thương, bị chủ nhân bỏ lại. Một chiếc mũ, đầy nơ màu và hoa — tôi có thể thấy khuôn mặt cười của nàng dưới nó. Phải, khi đứng trong căn phòng này với hương thơm của sự hiện diện của nàng vẫn còn quanh tôi, tôi biết rằng quả thật tôi đã yêu nàng theo cách của mình, bất kể Adela có nói gì.

I could not bear to linger here but passed on to my own apartments. The first thing my eyes lighted on were my rapiers lying upon a chest. I took one up; as my hand closed round the hilt a thrill of exultation went through me. I bent it, testing the steel. In this art I was indeed a master; I had made a name for myself as an adversary to be avoided, and this fool—this raw country lad from some outlandish Northern part—had dared defy me! I began to make swift passes as if at an unseen opponent. I remembered Adela’s cry: “You’ll not kill him?” Kill him? I had only thought of wounding him severely—but —why not? Suddenly, from deep within the unknown recesses of my being, a flood of hatred swept up, a hatred of such virulence that blood suffused my eyes and my body trembled. I gripped the hilt wildly. “Kill him?” I cried, “I’ll do more than kill him, I’ll maim him for life, torture him! 1’11 teach him to steal my wife!”

Tôi không thể chịu nổi việc nấn ná ở đây mà đi tiếp sang phòng riêng của mình. Điều đầu tiên mắt tôi bắt gặp là những thanh kiếm mảnh của tôi nằm trên một chiếc rương. Tôi cầm một thanh lên; khi tay tôi khép quanh chuôi kiếm, một luồng hân hoan rúng động chạy qua tôi. Tôi uốn nó, thử thép. Trong nghệ thuật này, quả thật tôi là một bậc thầy; tôi đã tạo được tên tuổi như một đối thủ nên tránh, vậy mà tên ngốc này — gã trai quê non nớt từ một miền Bắc xa lạ nào đó — lại dám thách thức tôi! Tôi bắt đầu tung những đường kiếm nhanh như thể trước một đối thủ vô hình. Tôi nhớ tiếng kêu của Adela: “Cậu sẽ không giết anh ta chứ?” Giết hắn ư? Tôi mới chỉ nghĩ đến việc làm hắn bị thương nặng — nhưng — tại sao không? Bỗng nhiên, từ sâu trong những ngóc ngách vô danh của bản thể tôi, một cơn lũ hận thù dâng trào lên, một nỗi hận độc địa đến mức máu dồn lên mắt tôi và thân thể tôi run rẩy. Tôi siết chuôi kiếm một cách cuồng loạn. “Giết hắn ư?” tôi kêu lên, “Tôi sẽ làm hơn cả giết hắn, tôi sẽ làm hắn tàn phế suốt đời, tra tấn hắn! Tôi sẽ dạy cho hắn biết thế nào là cướp vợ tôi!”

I stopped, appalled at the tones of my own voice. The rapier fell from my hand, but I did not pick it up, only stared at it with shrinking and with horror.

Tôi dừng lại, kinh hãi trước chính âm điệu giọng mình. Thanh kiếm rơi khỏi tay tôi, nhưng tôi không nhặt lên, chỉ nhìn chằm chằm vào nó với sự co rút và kinh hoàng.

What had come over me? Was I going mad? I, who always prided myself upon my perfect self-control, to cry aloud for blood—to think of maiming…. Shuddering, I sank upon the bed, covering my face with my hands, struggling to regain command of myself.

Điều gì đã xảy đến với tôi? Tôi có đang phát điên không? Tôi, kẻ luôn tự hào về sự tự chủ hoàn hảo của mình, lại kêu gào đòi máu — lại nghĩ đến chuyện làm người ta tàn phế…. Run rẩy, tôi ngồi phịch xuống giường, lấy tay che mặt, vật lộn để giành lại quyền làm chủ bản thân.

Presently when I could think more calmly I tried to understand what had happened; how came I to consider even for one moment so hateful and degraded a notion? That madness, that passion, whence came they—strangely familiar yet withal so alien? Presently I laughed bitterly. “Come, Charles,” I said, “have done with this self-deception. Adela may be a drunken sot, but she’s more often nearer the truth than most.” I’d fooled myself long enough, but now, faced with the fact of my own behaviour at that moment, there was no more avoiding it. Had I not, all my life, been aware of something within myself like to a chained beast which must be carefully held in leash? From childhood I had been terrified of any display of emotion, either in myself or in others, and had always held myself in check, disciplining myself in secret, so that even to my intimates I had ever appeared cold, aloof, indifferent. I had known, even then, that any slackening of the control and that chained thing might break loose. Only once it had got the better of me, its master; that was when the boy had died and I had no longer cared what happened to my body or my mind. But even that had not lasted long; shame had driven me back to the old paths; the conventions of my time—the rigid code of the society of which I was a part, combined with that fear which dwelt ever within me—a strange fear like a threat of destruction—had saved me. But this lapse was worse than anything I could have imagined possible, so barbarous that I could, even now, scarce believe it of myself.

Một lúc sau, khi có thể suy nghĩ bình tĩnh hơn, tôi cố hiểu điều gì đã xảy ra; làm sao tôi lại có thể dù chỉ trong một khoảnh khắc nghĩ đến một ý tưởng ghê tởm và đê hèn đến thế? Cơn điên ấy, niềm đam mê ấy, từ đâu mà đến — kỳ lạ thay vừa quen thuộc lại vừa xa lạ đến vậy? Rồi tôi cười cay đắng. “Nào, Charles,” tôi nói, “đừng tự dối mình nữa. Adela có thể là một mụ nát rượu, nhưng thường lại gần sự thật hơn đa số người khác.” Tôi đã tự lừa mình đủ lâu rồi, nhưng giờ đây, đối diện với sự thật về hành vi của mình lúc ấy, không thể tránh né thêm nữa. Chẳng phải suốt đời tôi vẫn ý thức được trong mình có một cái gì đó như một con thú bị xích, phải được giữ cẩn thận trong dây cương sao? Từ thuở nhỏ tôi đã khiếp sợ mọi biểu lộ cảm xúc, dù ở chính mình hay ở người khác, và luôn giữ mình trong vòng kiểm soát, bí mật rèn luyện bản thân, đến nỗi ngay cả với những người thân cận tôi cũng luôn hiện ra lạnh lùng, xa cách, Điềm nhiên. Ngay từ khi ấy tôi đã biết rằng chỉ cần sự kiểm soát ấy lơi ra, cái thứ bị xích kia có thể sổng ra. Chỉ một lần nó đã thắng được tôi, kẻ làm chủ nó; đó là khi thằng bé chết và tôi không còn quan tâm điều gì xảy ra với thân thể hay trí tuệ của mình nữa. Nhưng ngay cả điều đó cũng không kéo dài lâu; sự xấu hổ đã đẩy tôi trở lại những lối cũ; những quy ước của thời đại tôi — bộ quy tắc cứng nhắc của xã hội mà tôi là một phần, kết hợp với nỗi sợ luôn ngự trong tôi — một nỗi sợ lạ lùng như lời đe dọa hủy diệt — đã cứu tôi. Nhưng lần sa sút này còn tệ hơn bất cứ điều gì tôi có thể tưởng tượng là có thể xảy ra, man rợ đến mức ngay cả lúc này tôi cũng khó lòng tin đó là chính mình.

I got up presently and flinging open the window took a deep breath of fresh air.

Một lúc sau tôi đứng dậy và tung cửa sổ ra, hít một hơi thật sâu không khí trong lành.

“God,” I muttered, “am I in truth as base as this?”

“Thượng đế,” tôi lẩm bẩm, “chẳng lẽ thật sự tôi đê tiện đến thế sao?”

The next morning a messenger rode in to say that the meeting was arranged and that Basil Tremayne had chosen pistols. I was glad, as somehow I did not feel like touching those rapiers again.

Sáng hôm sau một sứ giả cưỡi ngựa đến báo rằng cuộc gặp đã được sắp xếp và Basil Tremayne đã chọn súng ngắn. Tôi mừng vì bằng cách nào đó tôi không thấy muốn chạm vào những thanh kiếm ấy nữa.

The next few days I spent going about the estate among my horses and dogs, setting everything in order. The duel and what subsequent eventualities might develop therefrom I resolutely put out of my mind. I had been more shaken than I cared to admit even to myself, by that curious happening in my room which seemed, somehow, fraught with some profound inner significance I did not pretend to understand nor seek to explain.

Vài ngày tiếp theo tôi dành để đi quanh điền trang giữa đám ngựa và chó của mình, sắp xếp mọi thứ cho ổn thỏa. Cuộc đấu súng và những khả năng có thể xảy ra sau đó, tôi kiên quyết gạt khỏi đầu. Tôi đã bị chấn động nhiều hơn mức muốn thừa nhận, ngay cả với chính mình, bởi biến cố kỳ lạ trong phòng tôi, biến cố dường như, bằng cách nào đó, chất chứa một thâm nghĩa nội tâm sâu xa mà tôi không giả vờ hiểu cũng không tìm cách giải thích.

Then, one night while I was sitting by the fire with my dogs round me, drinking my after-dinner wine and wondering whether it might not be better to send for the old fool of a parson for a game of cards rather than spend another evening alone, the door opened and Elizabeth came fluttering across the room towards me.

Rồi một đêm, khi tôi đang ngồi bên lò sưởi với đám chó quanh mình, uống rượu sau bữa tối và tự hỏi có lẽ gọi lão cha xứ ngốc nghếch đến chơi một ván bài còn hơn là lại trải qua một buổi tối cô độc nữa, thì cửa mở ra và Elizabeth bay vụt qua phòng về phía tôi.

I stared at her, aware, at sight of that pretty creature, so fair, so plump, so made for ease and laughter, of a queer feeling of sickness and of loss.

Tôi nhìn chằm chằm nàng, và khi thấy sinh thể xinh đẹp ấy, trắng trẻo, đầy đặn, sinh ra dường như để hưởng an nhàn và tiếng cười, tôi ý thức được một cảm giác kỳ lạ của buồn nôn và mất mát.

But I let none of this be seen, only made her a bow more elaborate than the occasion warranted.

Nhưng tôi không để lộ điều gì, chỉ cúi chào nàng một cách kiểu cách hơn mức dịp ấy đòi hỏi.

“Welcome home, Madam,” I said, “so you’ve repented, I suppose? You’ve come back perhaps to tell me you’ve seen the error of your ways? ’Tis a little late, I must confess.”

“Chào mừng về nhà, thưa bà,” tôi nói, “vậy là nàng đã hối hận rồi, tôi đoán thế? Có lẽ nàng trở về để bảo tôi rằng nàng đã thấy ra lỗi lầm của mình? Hơi muộn đấy, tôi phải thú nhận.”

But instead of wilting at my sneers as was her custom, she flung up her head and faced me with more spirit than I ever guessed could dwell within her placid body.

Nhưng thay vì héo đi trước những lời mỉa mai của tôi như thường lệ, nàng ngẩng đầu lên và đối diện tôi với nhiều khí phách hơn tôi từng ngờ có thể tồn tại trong thân thể điềm tĩnh ấy.

“I’m never coming back. I’ve found my happiness at last. I’ve only returned tonight to beg and implore you, Charles, to release Basil from this horrible obligation you’ve thrust upon him.”

“Em sẽ không bao giờ quay về. Cuối cùng em đã tìm thấy hạnh phúc của mình. Tối nay em chỉ trở lại để van xin và khẩn cầu anh, Charles, giải thoát Basil khỏi nghĩa vụ khủng khiếp mà anh đã áp đặt lên anh ấy.”

“Ho, so your fine Basil is afraid of giving me satisfaction like a gentleman, and has sent you to be his messenger! A gallant lover you’ve found yourself, my dear.”

“Ồ, vậy ra Basil cao quý của nàng sợ phải cho tôi sự thỏa mãn như một quý ông, nên đã sai nàng đến làm sứ giả! Nàng đã tìm được một người tình thật can đảm đấy, em yêu.”

“’Tis a lie. He’d never forgive me did he know. But I—” Her voice faltered, “I cannot endure the thought of this encounter. I cannot live through the agony of it. I shall go mad…. I cannot face waiting to know what you have done to him.”

“Dối trá. Anh ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho em nếu anh ấy biết. Nhưng em—” Giọng nàng chùng xuống, “em không thể chịu nổi ý nghĩ về cuộc chạm trán này. Em không thể sống qua nỗi thống khổ ấy. Em sẽ phát điên mất…. Em không thể đối diện với việc chờ đợi để biết anh đã làm gì anh ấy.”

“Faith, what pretty sentiments! They do you credit. And for me, your husband, you’ll have no anxiety, I take it?”

“Quả là những tình cảm đẹp đẽ! Chúng làm nàng vẻ vang lắm. Còn với tôi, chồng nàng, thì nàng sẽ chẳng lo lắng gì, tôi đoán vậy?”

She looked at me. “You?” she whispered, “you…” then burst into tears and turned away.

Nàng nhìn tôi. “Anh ư?” nàng thì thầm, “anh…” rồi bật khóc và quay đi.

I took my opportunity then and whipped her with the bitter irony I knew well she could never counter, for her slow wits ever lagged behind. It was not a pleasant hour we spent together. Mutual reciminations are rarely dignified and I was always particular about my dignity. She had no dignity at all, but she revealed other qualities which, until then, I had never suspected in her. For Elizabeth, placid, gentle Elizabeth was alive at last—even her beauty became a vivid thing and the more desirable; while the sharper became her speech, the more I found myself liking and admiring her for her spirit.

Lúc ấy tôi chớp lấy cơ hội và quất nàng bằng thứ mỉa mai cay độc mà tôi biết rõ nàng không bao giờ chống đỡ nổi, vì trí óc chậm chạp của nàng luôn theo sau. Đó không phải là một giờ dễ chịu mà chúng tôi trải qua cùng nhau. Những lời trách móc lẫn nhau hiếm khi có phẩm giá, mà tôi thì luôn đặc biệt giữ gìn phẩm giá của mình. Nàng chẳng có chút phẩm giá nào cả, nhưng lại bộc lộ những phẩm chất khác mà cho đến lúc ấy tôi chưa từng ngờ tới nơi nàng. Vì Elizabeth, Elizabeth hiền hòa, điềm tĩnh, cuối cùng đã sống dậy — ngay cả vẻ đẹp của nàng cũng trở nên sinh động và đáng khao khát hơn; và lời nói của nàng càng sắc bén, tôi càng thấy mình thích và khâm phục khí phách của nàng.

I goaded and played with her, it was cruel sport enough yet not all cruel since the result was the birth in her of something new and fine. At last she rose from the chair into which she had sunk exhausted. She faced me, flushed, defiant amid her tears.

Tôi chọc tức và đùa bỡn với nàng, đó quả là một trò tàn nhẫn, nhưng không hoàn toàn tàn nhẫn vì kết quả là trong nàng đã sinh ra một điều gì đó mới mẻ và cao đẹp. Cuối cùng nàng đứng dậy khỏi chiếc ghế nơi nàng đã ngã xuống vì kiệt sức. Nàng đối diện tôi, mặt ửng đỏ, thách thức giữa những giọt nước mắt.

“You never loved me,” she cried, “never, for all your pratings. I have been your doll, your toy, the spoilt child of your idle hours—yes, and your housekeeper, the mother of your son, but never more than that. That is not love! Ah, I have known how in your heart you have oft despised me. Never to me, but to other women have you told your deeper thoughts. I may have been a fool, but you never troubled to make me wiser; you did not need me thus. But I—I have desired always to be everything to the man I loved, and Basil…” her voice broke on the name, trembled into soft harmonies so that the word took on an unwonted beauty, “Basil,” she continued, “loves me for my mind—not only for my body; he asks my advice, we think alike—we are indeed as one. I cannot lose him, for I shall lose all… all….” Then breaking down suddenly she fell upon her knees imploring me to spare her lover’s life.

“Anh chưa bao giờ yêu em,” nàng kêu lên, “chưa bao giờ, bất chấp mọi lời ba hoa của anh. Em là búp bê của anh, món đồ chơi của anh, đứa trẻ được nuông chiều trong những giờ nhàn rỗi của anh — phải, và là quản gia của anh, mẹ của con trai anh, nhưng chưa bao giờ hơn thế. Đó không phải là tình yêu! À, em đã biết trong lòng anh thường khinh em biết bao. Không phải với em, mà với những người đàn bà khác anh mới nói những ý nghĩ sâu kín hơn của mình. Có thể em là một con ngốc, nhưng anh chưa bao giờ bận tâm làm cho em khôn hơn; anh không cần em theo cách ấy. Nhưng em — em luôn mong được là tất cả đối với người đàn ông em yêu, và Basil…” giọng nàng nghẹn lại ở cái tên ấy, run lên thành những hòa âm mềm mại khiến từ ấy mang một vẻ đẹp lạ thường, “Basil,” nàng tiếp tục, “yêu em vì trí tuệ của em — không chỉ vì thân thể em; anh ấy hỏi ý kiến em, chúng em nghĩ giống nhau — chúng em thật sự như một. Em không thể mất anh ấy, vì em sẽ mất tất cả… tất cả….” Rồi đột nhiên suy sụp, nàng quỳ xuống van xin tôi tha mạng cho người tình của nàng.

I dismissed her at length with harsh words, but listened to her sobbing grow fainter with a feeling of irritated compunction.

Cuối cùng tôi đuổi nàng đi bằng những lời lẽ khắc nghiệt, nhưng khi nghe tiếng nức nở của nàng nhỏ dần, tôi lại cảm thấy một sự cắn rứt khó chịu.

I found myself wondering how she had come; whether her coach was waiting to take her back to Basil, or whether she would stay the night with her mother. I did not like to think of her in that sty, but it was impossible now to recall her and ask her to sleep at Windstalls. Besides I had an uncomfortable feeling that she might turn on me and refuse with scorn.

Tôi thấy mình tự hỏi nàng đã đến bằng cách nào; liệu xe ngựa của nàng có đang chờ để đưa nàng trở lại với Basil, hay nàng sẽ ở lại đêm nay với mẹ mình. Tôi không thích nghĩ đến nàng trong cái chuồng lợn ấy, nhưng giờ không thể gọi nàng lại và bảo nàng ngủ ở Windstalls được nữa. Hơn nữa tôi có một cảm giác khó chịu rằng nàng có thể quay lại với tôi và khinh bỉ từ chối.

I laughed; it was certainly a novel sensation to find myself afraid of Elizabeth.

Tôi cười; quả thật đó là một cảm giác lạ lùng khi thấy mình sợ Elizabeth.

I did not attempt to go to bed that night but instead sat over the fire, sipping my wine at intervals and holding the spaniel pup, Caesar, on my knee. It was somehow comforting to feel that soft, warm body, full of blind devotion pressed against me. “Horses and dogs,” I thought wearily, “they’re the only creatures a man can safely trust, when all’s said.”

Đêm ấy tôi không cố đi ngủ mà ngồi bên lò sưởi, thỉnh thoảng nhấp rượu và để chú chó spaniel con, Caesar, trên đầu gối. Thật kỳ lạ, cảm giác thân thể mềm mại, ấm áp ấy, đầy sự tận tụy mù quáng, ép sát vào tôi lại đem đến an ủi. “Ngựa và chó,” tôi mệt mỏi nghĩ, “chúng là những loài duy nhất mà một người đàn ông có thể an tâm tin cậy, khi rốt cuộc mọi sự đã được nói ra.”

But the problem of Elizabeth was not to be as easily disposed of as her presence had been. I was not a man given to introspective musings, believing in action rather than in thought and despising people who did little but read and dream. But from thought tonight there was no escape. Adela’s words came back to me, reinforced by all that Elizabeth herself had said. As the hours wore on I began to see the pattern of our lives in a better perspective. Adela, with her devilish clear-sightedness, had been right again. I had loved my son too much for sanity and through this wild absorption I had lost Elizabeth. She had admitted that it was while I had been away for months seeking forgetfulness that she had first met Basil Tre- mayne. As I thought of this I began to pity her. She must have suffered much in those five years—pangs of conscience as well as of love. Gradually as my imagination got to work, my pity increased. Could I add to her torment the hellish tortures of further deprivation? What, moreover, would I gain by plunging her into fresh sorrow through destroying her lover? And even if I got her back, what would it profit me to drag an empty shell by force into my arms?

Nhưng vấn đề Elizabeth không thể dễ dàng được giải quyết như sự hiện diện của nàng. Tôi không phải hạng người hay chìm vào những suy tưởng nội quan, vì tin vào hành động hơn là suy nghĩ và khinh những kẻ chẳng làm gì ngoài đọc và mơ. Nhưng đêm nay, không thể trốn khỏi suy nghĩ. Những lời của Adela trở lại với tôi, được củng cố bởi tất cả những gì chính Elizabeth đã nói. Khi từng giờ trôi qua, tôi bắt đầu thấy mô hình đời sống của chúng tôi trong một viễn cảnh rõ hơn. Adela, với sự sáng suốt quỷ quái của bà, lại đúng. Tôi đã yêu con trai mình quá mức tỉnh táo, và chính trong sự đắm chìm cuồng dại ấy tôi đã đánh mất Elizabeth. Nàng đã thú nhận rằng chính trong lúc tôi đi xa nhiều tháng để tìm quên lãng thì nàng lần đầu gặp Basil Tre-mayne. Khi nghĩ đến điều này, tôi bắt đầu thương hại nàng. Hẳn nàng đã đau khổ nhiều trong năm năm ấy—những cắn rứt lương tâm cũng như những đau đớn của tình yêu. Dần dần, khi sự tưởng tượng của tôi bắt đầu hoạt động, lòng thương hại ấy tăng lên. Liệu tôi có thể chất thêm lên nỗi dày vò của nàng những cực hình địa ngục của sự tước đoạt thêm nữa không? Hơn nữa, tôi sẽ được gì khi đẩy nàng vào nỗi đau mới bằng cách hủy diệt người tình của nàng? Và ngay cả nếu tôi giành lại được nàng, thì có ích gì khi cưỡng ép kéo một cái vỏ rỗng vào vòng tay mình?

Backwards and forwards swayed the tide of my thoughts and resolutions. Often enough vanity got the upper hand; my hurt pride could not brook this situation and cried out for vengeance. All the conventions in which I had been reared assured me that my attitude was right, yet again that something within me forced me to look deeper although I would fain have turned my eyes aside and deafened my ears to a conviction more profound than any of the rules and usages of my kind. But at last when, utterly weary, I dozed for a little while, I thought the boy stood beside my knee, smiling at me with his wide, brown eyes and pleading with me to spare his mother—to set her free and make her happy. I awoke with a start, crying aloud the boy’s name, clutching wildly at the space where he had surely been.

Thủy triều của những ý nghĩ và quyết định trong tôi cứ dao động tới lui. Không ít lần lòng hư vinh chiếm thế thượng phong; niềm kiêu hãnh bị tổn thương của tôi không thể chịu nổi tình cảnh này và gào lên đòi báo thù. Tất cả những quy ước mà tôi đã được nuôi dạy trong đó đều bảo đảm với tôi rằng thái độ của tôi là đúng, nhưng rồi lại có một điều gì đó bên trong buộc tôi phải nhìn sâu hơn, dù tôi rất muốn quay mắt đi nơi khác và bịt tai trước một xác tín sâu xa hơn bất kỳ quy luật hay tập tục nào của hạng người tôi. Nhưng cuối cùng, khi hoàn toàn mệt lả, tôi thiếp đi một lát, tôi tưởng như thằng bé đứng bên đầu gối tôi, mỉm cười với đôi mắt nâu to và van xin tôi tha cho mẹ nó—hãy để nàng được tự do và hạnh phúc. Tôi giật mình tỉnh dậy, kêu to tên con, cuống cuồng chộp vào khoảng không nơi nó hẳn vừa đứng đó.

Perhaps it was this dream that finally decided me; perhaps my decision had in truth long since been made, and this but put the seal upon it; yet even so I found myself confronted with a problem which it would need all my ingenuity to solve.

Có lẽ chính giấc mơ này đã khiến tôi quyết định dứt khoát; có lẽ thật ra quyết định ấy từ lâu đã được hình thành, và điều này chỉ đóng dấu lên nó; nhưng dù vậy, tôi vẫn thấy mình đối diện với một vấn đề mà phải cần đến tất cả sự khéo xoay xở của mình mới giải quyết nổi.

Withdraw from the duel I could not; I had not sufficient courage to face the sneers, the scorn, the complete social eclipse that such an unprecedented action would bring down upon me; but I was nevertheless determined that the young man should not be injured, and what was more important still that Elizabeth herself should be spared from all the terrors of uncertainty.

Tôi không thể rút khỏi cuộc đấu súng; tôi không đủ can đảm để đối diện với những lời chế giễu, khinh miệt, sự tẩy chay hoàn toàn của xã hội mà một hành động chưa từng có như thế sẽ giáng xuống đầu tôi; nhưng dẫu vậy tôi vẫn quyết tâm rằng chàng trai trẻ ấy sẽ không bị thương, và điều còn quan trọng hơn nữa là chính Elizabeth cũng phải được thoát khỏi mọi nỗi kinh hoàng của sự bất định.

But at last when the cold, dead light of dawn crept into the room, touching the litter of glasses, the ashes of the fire with revealing fingers, I reached my decision. There was but one way out; I knew what I must do.

Nhưng cuối cùng, khi ánh sáng lạnh lẽo, chết chóc của bình minh len vào phòng, chạm những ngón tay phơi bày lên đống ly chén bừa bộn, lên tro tàn của lò sưởi, tôi đã đi đến quyết định. Chỉ có một lối thoát; tôi biết mình phải làm gì.

Next morning I prepared to ride to Town to see my lawyers and make all arrangements; but first I went once more the round of my estates. I loved this place dearly; now that I was leaving it, probably for ever, I realized what it had meant to me. I hoped Elizabeth would care for it as I had done.

Sáng hôm sau tôi chuẩn bị cưỡi ngựa vào Town để gặp các luật sư và sắp xếp mọi việc; nhưng trước hết tôi đi một vòng nữa quanh điền trang của mình. Tôi yêu nơi này tha thiết; giờ đây khi sắp rời bỏ nó, có lẽ là mãi mãi, tôi nhận ra nó đã có ý nghĩa với tôi đến thế nào. Tôi hy vọng Elizabeth sẽ chăm nom nó như tôi đã từng.

At the end of the long drive I turned in my saddle to give one lingering look at the house with its mellow brick walls, the graceful Elizabethan chimneys, the dark background of fine trees. A squall of rain spattered against my face. The sky was massed with enormous clouds. How black were the pines and the cedars! Upon the little artificial lake two swans floated. Everything was veiled, soft and heavy with rain. It was a lovely place, set in its hollow of lawns and gardens, white pigeons circling upon the roofs, peacocks upon the terraces, hounds and horses in the stables. But now it, too, seemed insubstantial, as if a shadow had been cast over its reality; deep melancholy exuded from the very earth.

Ở cuối con đường xe chạy dài, tôi quay lại trên yên ngựa để nhìn ngôi nhà lần cuối thật lâu với những bức tường gạch màu trầm ấm, những ống khói Elizabethan duyên dáng, nền tối của những hàng cây đẹp. Một cơn mưa quất lách tách vào mặt tôi. Bầu trời chất đầy những đám mây khổng lồ. Những cây thông và tuyết tùng đen biết bao! Trên hồ nhân tạo nhỏ, hai con thiên nga đang trôi. Mọi thứ đều được phủ màn, mềm mại và nặng trĩu vì mưa. Đó là một nơi đáng yêu, nằm gọn trong hõm cỏ và vườn của nó, bồ câu trắng lượn trên mái, công trên các sân thềm, chó săn và ngựa trong chuồng. Nhưng giờ đây, chính nó cũng dường như không thật, như thể một cái bóng đã phủ lên thực tại của nó; một nỗi u sầu sâu thẳm toát ra từ chính mặt đất.

As my gaze wandered towards Adela’s cottage I saw her walking up towards the house. She wore a dark mantle and hood, and her hoops swung out from her short, ungainly figure, giving her, I thought, the appearance of an elderly, obese duck.

Khi mắt tôi lướt về phía ngôi nhà nhỏ của Adela, tôi thấy bà đang đi lên phía ngôi nhà. Bà mặc áo choàng tối màu và trùm mũ, những vòng váy đung đưa khỏi thân hình thấp lùn, vụng về, khiến bà, theo tôi nghĩ, trông như một con vịt già béo ụ.

“Well, she’ll be able to drink herself to death in comfort now,” I thought as I turned my back on it all and guided my horse out of the park gates.

“Chà, giờ thì bà ta sẽ có thể uống đến chết một cách thoải mái,” tôi nghĩ khi quay lưng lại tất cả và thúc ngựa ra khỏi cổng công viên.

I stopped at the churchyard and stood for a moment beside my son’s grave. My mood was a very different one to when I had come here but a few days ago; so different that I seemed to myself unreal, as if I were living through a dream.

Tôi dừng lại ở nghĩa địa nhà thờ và đứng một lát bên mộ con trai mình. Tâm trạng tôi rất khác so với khi tôi đến đây chỉ mới vài ngày trước; khác đến mức chính tôi cũng thấy mình không thật, như thể đang sống trong một giấc mơ.

“Did you want me to do this?” I asked that which lay beneath the primroses, “did you really come to me last night? But you couldn’t, you are dead—dead as I’ll soon be. There’s nothing after, of that I’m well persuaded; those are but parson’s tales to frighten babes. But even if I should be wrong, it doesn’t much matter. Either you’ll be with me again—which is my idea of heaven, or there’ll be nothing at all; in any case this is the door out of what’s been hell for me these five years since you left me alone.”

“Có phải con muốn ta làm điều này không?” tôi hỏi cái đang nằm dưới những bông anh thảo, “đêm qua có thật con đã đến với ta không? Nhưng con không thể, con đã chết—chết như ta cũng sẽ sớm chết. Sau đó chẳng có gì cả, điều ấy ta tin chắc; đó chỉ là những chuyện bịa của bọn mục sư để dọa trẻ con. Nhưng ngay cả nếu ta sai, thì cũng chẳng quan trọng lắm. Hoặc là con sẽ lại ở với ta—mà đó là ý niệm thiên đường của ta, hoặc là sẽ chẳng có gì hết; trong mọi trường hợp, đây là cánh cửa thoát khỏi điều đã là địa ngục đối với ta suốt năm năm kể từ khi con bỏ ta lại một mình.”

It was not such an easy task to frame my letter to Elizabeth. I did not want her to realize what I was doing, yet wished to calm her mind so that she should not suffer those hours of agonized expectation. In the end it was rather a clumsy affair, but the promise not to injure Basil was clear enough.

Viết thư cho Elizabeth không phải việc dễ. Tôi không muốn nàng nhận ra tôi đang làm gì, nhưng lại muốn làm yên lòng nàng để nàng khỏi phải chịu đựng những giờ chờ đợi quằn quại ấy. Cuối cùng bức thư khá vụng về, nhưng lời hứa sẽ không làm hại Basil thì đủ rõ.

So in the early morning in a secluded field just beyond Vauxhall Gardens, I faced Basil with a pistol in my hand and a strange, light feeling about the head, combined with an emptiness of the stomach which I put down to a very natural shrinking from annihilation. Yet withal there was a gaiety about me which had been with me ever since I had come to my momentous decision. For I was as a man who had stepped out from chill clouds into clear sunlight. I was aware that, for the first time, I was in reality afraid of nothing any more, not even of myself. My friends noticed the change in me and commented to each other upon it.

Vì vậy vào sáng sớm, trong một cánh đồng vắng ngay bên ngoài Vauxhall Gardens, tôi đối diện Basil với khẩu súng lục trong tay và một cảm giác lạ lùng, nhẹ bẫng nơi đầu, đi kèm với sự trống rỗng trong dạ dày mà tôi cho là một sự co rút rất tự nhiên trước hủy diệt. Tuy vậy, vẫn có một niềm hân hoan nào đó trong tôi, đã ở cùng tôi kể từ khi tôi đi đến quyết định trọng đại ấy. Vì tôi như một người đã bước ra khỏi những đám mây lạnh lẽo vào ánh mặt trời trong trẻo. Tôi ý thức rằng, lần đầu tiên, thật sự tôi không còn sợ gì nữa, ngay cả chính mình. Bạn bè tôi nhận thấy sự thay đổi ấy nơi tôi và bàn tán với nhau về nó.

The sun was pale as silver behind the bare boughs; there was rime upon the grass; a thrush was singing, its notes like crystal drops upon the keen,* sweet air.

Mặt trời nhợt nhạt như bạc sau những cành cây trơ trụi; cỏ phủ sương giá; một con hoét đang hót, những âm điệu của nó như những giọt pha lê trên không khí trong trẻo,* ngọt lành.

I looked at Basil. “So young,” I thought, “but his clothes are dreadful.” I looked up at the sky and smiled little. “I only hope,” I said to myself, “my poor Elizabeth won’t grow to find him tedious.”

Tôi nhìn Basil. “Còn trẻ quá,” tôi nghĩ, “nhưng quần áo cậu ta thật kinh khủng.” Tôi ngước nhìn trời và mỉm cười nhẹ. “Tôi chỉ hy vọng,” tôi tự nhủ, “Elizabeth tội nghiệp của tôi sẽ không lớn dần lên để thấy cậu ta tẻ nhạt.”

At that moment Sir Harry Bellairs gave the signal.

Đúng lúc ấy Sir Harry Bellairs ra hiệu.

• • • • •

• • • • •

The lime trees outside my window made a green, scented shade, murmurous with bees. One branch had been cut away so that I might, through this space, look upon my world: a corner of terrace, herbaceous borders vivid with flowers; the lake, a dark, polished jewel with swans nesting on their reflections like encrusted pearls; and beyond, the rolling parkland where 1 might never ride again.

Những cây đoạn ngoài cửa sổ tôi tạo nên một bóng râm xanh mát, thơm ngát, rì rầm tiếng ong. Một cành đã bị cắt đi để qua khoảng trống ấy tôi có thể nhìn ra thế giới của mình: một góc sân thềm, những luống hoa thân thảo rực rỡ; mặt hồ, một viên ngọc tối bóng láng với những con thiên nga làm tổ trên bóng mình như những viên ngọc trai nạm; và xa hơn là công viên nhấp nhô nơi tôi có lẽ sẽ không bao giờ cưỡi ngựa nữa.

The sun etched delicate patterns of leaves upon my coverlet; Caesar, the spaniel, lay curled at my feet.

Ánh mặt trời khắc những hoa văn lá mảnh mai lên tấm chăn phủ; Caesar, con spaniel, cuộn mình dưới chân tôi.

Propped up on my pillows I stared into the sunlight.

Tựa trên gối, tôi nhìn chằm chằm vào ánh nắng.

How bored I was; how intolerable was life! I should have died that morning of the duel, should have been permitted to make the heroic and romantic end I had planned for myself.

Tôi chán biết bao; đời sống thật không thể chịu nổi! Lẽ ra tôi phải chết vào buổi sáng đấu súng ấy, lẽ ra phải được phép có một kết cục anh hùng và lãng mạn như tôi đã dự định cho mình.

But the Fates who seem to be ironical rather than romantic in their disposings of men’s affairs, had decided that, instead of killing me, Basil’s shot should merely wound me so severely that for many weeks I hung between life and death, and recovered only to succumb later to the retarded effects of the injury.

Nhưng các Định Mệnh, dường như mỉa mai hơn là lãng mạn trong cách sắp đặt công việc của con người, đã quyết định rằng thay vì giết tôi, phát súng của Basil chỉ làm tôi bị thương nặng đến mức suốt nhiều tuần tôi lơ lửng giữa sống và chết, và chỉ hồi phục để rồi sau đó gục ngã trước những hậu quả chậm phát của vết thương.

I should have died after that duel, but instead, as if the absurdity of being forced to live were not enough, when I did regain consciousness, the first thing I saw was Elizabeth’s white face bending over me.

Lẽ ra tôi phải chết sau cuộc đấu súng ấy, nhưng thay vào đó, như thể sự phi lý của việc bị buộc phải sống vẫn chưa đủ, khi tôi tỉnh lại, điều đầu tiên tôi thấy là khuôn mặt trắng bệch của Elizabeth cúi xuống trên tôi.

During those early days while I was too weak to bother much about anything, I merely supposed that she had returned for a little while out of a kindly regard; but she did not go away as I expected, and only later, when I was strong enough, did I learn the wicked havoc those same ironically-minded Fates had made of my intended sacrifice.

Trong những ngày đầu ấy, khi tôi còn quá yếu để bận tâm nhiều đến bất cứ điều gì, tôi chỉ cho rằng nàng đã trở về một thời gian ngắn vì lòng tốt; nhưng nàng không đi như tôi chờ đợi, và chỉ về sau, khi tôi đủ khỏe, tôi mới biết những Định Mệnh cùng một kiểu mỉa mai ấy đã tàn phá sự hi sinh dự định của tôi đến mức nào.

For, what with my friends’ account of my behaviour in the duel and what I had written in my letter to her, Elizabeth had soon come at the truth of the matter, whereupon, torn by pangs of conscience and by what seemed to me hysterical regrets, she and Basil had decided to part for ever, Elizabeth returning to my side where she considered her duty lay, and Basil embarking for the Colonies there presumably to work himself into forgetfulness.

Vì, với lời kể của bạn bè tôi về cách tôi xử sự trong cuộc đấu súng và những gì tôi đã viết trong thư cho nàng, Elizabeth chẳng bao lâu đã hiểu ra sự thật, rồi bị giằng xé bởi cắn rứt lương tâm và bởi điều đối với tôi dường như là những hối tiếc đầy kích động, nàng và Basil quyết định chia tay mãi mãi, Elizabeth trở về bên tôi nơi nàng cho là bổn phận mình ở đó, còn Basil lên tàu sang các Thuộc địa, hẳn là để lao mình vào công việc mà quên lãng.

So none of us would be happy after all. For it soon became clear to me that Elizabeth, by her return, had indeed ruined everything. She had vowed to serve me, and serve me she did, but with such ardent zeal and so little humour that life became a burden to us both.

Vậy là rốt cuộc chẳng ai trong chúng tôi được hạnh phúc. Vì chẳng bao lâu tôi thấy rõ rằng Elizabeth, bằng việc trở về, quả thật đã phá hỏng mọi thứ. Nàng đã thề phụng sự tôi, và nàng quả có phụng sự tôi, nhưng với một nhiệt tâm nồng cháy và ít hài hước đến mức đời sống trở thành gánh nặng cho cả hai chúng tôi.

Had she stayed with her Basil, I would have remembered her always as that small, courageous being who had whipped me with her tongue and disclosed to me my own inadequacies; as the years passed by undoubtedly I would have lost the original Elizabeth in a poetic mist of sentiment and transmogrified her into a being regretted and adored. But as it was, soon—far too soon—the real Elizabeth was filling the house again with her trivial talk and her tinkling laughter. Had she been struggling with a broken heart I might have loved her still out of pity, but I found it most hard to forgive this easy forgetfulness— even of a rival. For it revealed her to me at last for what she truly was: too shallow even for tragedy to darken her ways for long. Basil had been well quit of her I thought bitterly; by burying himself in those far-off Colonies he had retained the dignity of his little tragedy; but for me Elizabeth was rapidly turning all our sufferings into farce.

Giá nàng ở lại với Basil của nàng, tôi hẳn đã luôn nhớ nàng như sinh thể nhỏ bé, can đảm ấy, người đã quất tôi bằng chiếc lưỡi của mình và phơi bày cho tôi thấy những thiếu sót của chính tôi; theo năm tháng, hẳn tôi đã đánh mất Elizabeth nguyên thủy trong một màn sương thi vị của tình cảm và biến nàng thành một sinh thể để tiếc thương và tôn thờ. Nhưng sự thật thì chẳng bao lâu—quá sớm—Elizabeth thật lại tràn ngập ngôi nhà bằng những chuyện trò tầm thường và tiếng cười lanh lảnh của nàng. Giá nàng vật lộn với một trái tim tan vỡ, có lẽ tôi vẫn còn yêu nàng vì thương hại, nhưng tôi thấy thật khó tha thứ cho sự quên lãng dễ dàng này—ngay cả với một tình địch. Vì cuối cùng nó phơi bày nàng trước mắt tôi đúng như nàng thật sự là: quá nông cạn để ngay cả bi kịch cũng không thể phủ bóng lâu dài lên đường đời nàng. Basil đã thoát khỏi nàng thật tốt, tôi cay đắng nghĩ; bằng cách chôn vùi mình trong những Thuộc địa xa xôi ấy, cậu ta giữ được phẩm giá của bi kịch nhỏ bé của mình; còn đối với tôi, Elizabeth đang nhanh chóng biến mọi đau khổ của chúng tôi thành trò hề.

It was the Regent’s own physician who, some time after the duel, had told me that he believed the old wound to have developed into a cancer.

Chính ngự y của Nhiếp Chính Vương, một thời gian sau cuộc đấu súng, đã nói với tôi rằng ông tin vết thương cũ đã phát triển thành ung thư.

For a long while I utterly refused to believe him.

Trong một thời gian dài tôi hoàn toàn từ chối tin ông.

All medicos, I declared, were fumbling fools, hopelessly ignorant, guessing blindly and bleeding you for everything. It was nothing—just something that had not rightly healed—it would heal soon enough—as for cancer, it was amusing no doubt for them to give names to that of which they could know so little but I was not to be deceived by their pomposities.

Tôi tuyên bố mọi thầy thuốc đều là lũ ngốc vụng về, ngu dốt tuyệt vọng, đoán mò trong mù quáng và moi sạch tiền của bạn. Chẳng có gì cả—chỉ là thứ gì đó chưa lành hẳn—rồi sẽ sớm lành thôi—còn ung thư ư, hẳn là thú vị cho họ khi đặt tên cho điều mà họ biết quá ít, nhưng tôi không dễ bị những vẻ khoa trương của họ đánh lừa.

To prove to myself that I was well, save for this stupid pain which seemed to be returning when it was supposed long ago to be pronounced cured, I deliberately took up the old life again, was seen at White’s and Boodle’s playing for preposterous stakes; forced myself to go to the races, to routs, to join in every extravagant gaiety, meanwhile fighting with silent yet grim determination this enemy which seemed to have taken possession of the citadel of my body. I had always been proud of my superb health and endurance, and I was not going to give in so easily. For a few desperate months I had kept it at bay until one night I fainted of pain at the opera and had to be taken home by my friends in a jolting coach which I thought would finish me.

Để chứng minh với chính mình rằng tôi vẫn khỏe, trừ cơn đau ngu xuẩn này dường như đang trở lại trong khi lẽ ra từ lâu đã phải được tuyên bố là khỏi, tôi cố ý quay lại đời sống cũ, xuất hiện ở White’s và Boodle’s, đánh bạc với những mức cược lố bịch; ép mình đi đua ngựa, đi dạ hội, tham gia mọi cuộc vui xa hoa, trong khi âm thầm nhưng quyết liệt chiến đấu với kẻ thù dường như đã chiếm lấy thành trì thể xác tôi. Tôi luôn tự hào về sức khỏe tuyệt vời và sức chịu đựng của mình, và tôi không định đầu hàng dễ dàng như thế. Trong vài tháng tuyệt vọng tôi đã giữ nó ngoài cửa, cho đến một đêm tôi ngất đi vì đau ở nhà hát opera và phải được bạn bè đưa về trong một cỗ xe xóc nảy mà tôi tưởng sẽ kết liễu mình.

I was beaten and knew it. Since that day, already two long years ago, I had been slowly growing worse, and now I spent all of my time in bed with little hope of ever rising again.

Tôi đã bị đánh bại và biết điều đó. Kể từ ngày ấy, nay đã là hai năm dài, tôi chậm chạp tệ đi, và giờ đây tôi dành toàn bộ thời gian trên giường với rất ít hy vọng có thể đứng dậy lần nữa.

I lay propped up by pillows, a dark frown upon my brow. For an hour or more no one had come near me. It was unprecedented. I pulled the bell-rope and waited, biting my lip. Where was Elizabeth? Never during my illness had she deserted me for so long without any explanation.

Tôi nằm tựa gối, trán cau có. Hơn một giờ rồi không ai đến gần tôi. Điều đó chưa từng có. Tôi kéo dây chuông và chờ, cắn môi. Elizabeth đâu? Chưa bao giờ trong suốt cơn bệnh của tôi nàng lại bỏ mặc tôi lâu như thế mà không có lời giải thích nào.

A butterfly fluttered to a tassel of lime-blossom which had blown upon my coverlet. I watched it idly; it was gone again, out into the sunlight. I closed my eyes and groaned; then became aware that still no one had answered the bell. I jerked at the rope with such force that it fell like a snake upon my pillow and I cursed it and the maids and my wife and the whole world with much precision.

Một con bướm chập chờn đến đậu lên chùm hoa đoạn đã bị gió thổi lên tấm chăn phủ của tôi. Tôi lơ đãng nhìn nó; rồi nó lại bay đi, ra ngoài nắng. Tôi nhắm mắt rên rỉ; rồi nhận ra rằng vẫn chưa ai đáp lại tiếng chuông. Tôi giật dây mạnh đến mức nó rơi như một con rắn lên gối tôi, và tôi nguyền rủa nó, nguyền rủa bọn hầu gái, vợ tôi và cả thế giới với độ chính xác đáng kể.

I had become accustomed to relying upon Elizabeth’s constant ministrations, to the sight of her placid form sewing beside me, to using her as whipping-boy whenever an evil humour rode me, which was often, for inaction and helplessness had not improved my temper. Now this inexplicable neglect struck me as an outrage. Was it not enough for a man to be sick and helpless, dependent upon the whimsies of a pack of women, torn by the evil pangs of a cancer, without being deserted thus for hours by the people of his household?

Tôi đã quen dựa vào sự chăm nom không ngừng của Elizabeth, quen với cảnh thân hình điềm tĩnh của nàng ngồi may vá bên tôi, quen dùng nàng như vật trút giận mỗi khi cơn cáu kỉnh nổi lên trong tôi, mà điều đó xảy ra thường xuyên, vì sự bất động và bất lực không hề cải thiện tính khí tôi. Giờ đây sự lơ là không thể giải thích này khiến tôi thấy như một sự xúc phạm. Chẳng lẽ một người đàn ông bị bệnh và bất lực, lệ thuộc vào những ý thích thất thường của cả bầy đàn bà, bị xé nát bởi những cơn đau ác nghiệt của ung thư, như thế vẫn chưa đủ, mà còn bị những người trong nhà bỏ mặc hàng giờ liền hay sao?

I was working myself into a rage, when a servant-maid appeared.

Tôi đang tự đẩy mình vào cơn thịnh nộ thì một cô hầu gái xuất hiện.

“Where is your mistress, girl?” I snapped.

“Bà chủ ngươi đâu, con kia?” tôi quát.

The girl looked frightened. “She—she is indisposed, sir. She fainted in the hall. She recovered for a space and bade none of us tell you, then she swooned again. We have put her to bed.”

Cô gái trông sợ hãi. “Bà—bà ấy không được khỏe, thưa ông. Bà ngất ở đại sảnh. Bà tỉnh lại một lúc và dặn không ai được nói với ông, rồi bà lại ngất nữa. Chúng tôi đã đưa bà lên giường.”

“Indisposed?” I sneered, “why, she’s as well as you! ’Tis no doubt but a fit of the vapours….”

“Không được khỏe à?” tôi cười khẩy, “sao, nó khỏe như ngươi ấy chứ! Chẳng qua chỉ là một cơn bốc hơi….”

“I fear she is indeed ill,” muttered the girl. “Mrs. Langly hath sent for the physician.”

“Con e bà ấy thật sự bệnh,” cô gái lẩm bẩm. “Bà Langly đã cho gọi thầy thuốc.”

“Egad, she’s getting beyond herself. Am I not master in this house any more, that she should send for him without consulting my pleasure?”

“Trời đất, bà ta bắt đầu vượt quá phận mình rồi. Chẳng lẽ ta không còn là chủ nhà này nữa, để bà ta dám gọi hắn mà không hỏi ý ta?”

Someone called from below, the girl turned nervously to the door.

Có ai đó gọi từ dưới nhà, cô gái lo lắng quay ra cửa.

“Oh, get you gone, then,” I growled, “and bid your mistress come to me when she thinks fit to recover.”

“Ồ, vậy thì cút đi,” tôi gầm gừ, “và bảo bà chủ ngươi đến gặp ta khi nào bà ấy thấy thích hồi phục.”

I sank back on the pillows exhausted, pressing my hand to where the pain tore at me as with talons of steel, daily increasing, invading the helpless -structure of my body with that agony which nothing, no medicine, no drugs, no bleeding could allay.

Tôi kiệt sức ngả xuống gối, ép tay vào nơi cơn đau đang xé tôi như móng vuốt thép, ngày một tăng, xâm chiếm cấu trúc bất lực của thể xác tôi bằng nỗi thống khổ mà không gì, không thuốc men, không dược liệu, không trích huyết nào có thể làm dịu.

An hour passed. It was beyond the time for my meal.

Một giờ trôi qua. Đã quá giờ ăn của tôi.

I lay listening to the noises of the house, hurried footsteps, muffled voices; once a dog barked below and the spaniel upon my bed answered it. I felt as if I were already dead, a ghost, cut off from the world of moving, active beings. The bell being broken, I banged upon the floor with my stick, but still no one came.

Tôi nằm nghe tiếng động trong nhà, những bước chân vội vã, những giọng nói bị nén lại; có lần một con chó sủa dưới nhà và con spaniel trên giường tôi đáp lại. Tôi cảm thấy như mình đã chết rồi, một bóng ma, bị cắt lìa khỏi thế giới của những sinh thể chuyển động, hoạt động. Chuông đã hỏng, tôi lấy gậy đập xuống sàn, nhưng vẫn không ai đến.

Elizabeth ill? I felt aggrieved. Stupid woman not to take better care of herself. But she was like that, so irritating for all her good intentions. An increasing restlessness invaded me. My impatience and curiosity became intolerable. I could no longer bear inaction, and, although I knew I would pay dearly for my imprudence, at last I got out of bed.

Elizabeth ốm ư? Tôi thấy bực bội. Đồ đàn bà ngốc, không biết tự chăm sóc mình cho tốt hơn. Nhưng nàng vốn thế, thật khó chịu dù ý định luôn tốt. Một sự bồn chồn ngày càng tăng xâm chiếm tôi. Sự sốt ruột và tò mò của tôi trở nên không thể chịu nổi. Tôi không còn chịu được bất động nữa, và dù biết mình sẽ phải trả giá đắt cho sự liều lĩnh này, cuối cùng tôi cũng ra khỏi giường.

I struggled into my dressing-gown, glanced at myself in the mirror almost instinctively—for I was still vain of my person—flicked at my neckcloth, put my hair straight, and set out to my wife’s room.

Tôi vật lộn khoác áo choàng ngủ, gần như theo bản năng liếc mình trong gương—vì tôi vẫn còn hư vinh về dung mạo—vuốt lại khăn cổ, chỉnh tóc cho ngay, rồi đi đến phòng vợ tôi.

I reached it at last, although the distance seemed to have increased since last I had walked that way.

Cuối cùng tôi cũng tới nơi, dù quãng đường dường như dài hơn lần cuối tôi đi bộ theo lối ấy.

No one heard me; no one saw me enter.

Không ai nghe thấy tôi; không ai thấy tôi bước vào.

They were all grouped around her bed: a number of whispering servants, the physician and his assistant with a basin and blood-soaked cloths, Mrs. Langly, the head maid, and a dog sitting anxiously behind them.

Tất cả họ tụ quanh giường nàng: một số gia nhân đang thì thầm, thầy thuốc và phụ tá của ông với một cái chậu và những mảnh vải đẫm máu, bà Langly, cô hầu trưởng, và một con chó ngồi lo lắng phía sau họ.

The dog saw me first; it leapt up and rushed upon me; as I pushed it from me the physician stepped back,

Con chó thấy tôi trước; nó nhảy phắt lên và lao về phía tôi; khi tôi đẩy nó ra, thầy thuốc lùi lại,

“I fear—” he began, then saw me.

“Tôi e rằng—” ông bắt đầu, rồi thấy tôi.

He advanced with fluttering hands, “My dear sir, this is a terrible, a most distressing misfortune, ’pon my soul, it is! But who told you? You should not be here—I had no idea…”

Ông tiến đến với đôi tay cuống quýt, “Ôi thưa ông, đây là một bất hạnh khủng khiếp, một bất hạnh đau lòng nhất, xin thề với linh hồn tôi là thế! Nhưng ai đã nói với ông? Ông không nên ở đây—tôi không hề biết…”

But I did not heed him. I was looking over his shoulder at my wife’s face motionless among the pillows.

Nhưng tôi không để ý đến ông. Tôi đang nhìn qua vai ông vào khuôn mặt vợ tôi bất động giữa những chiếc gối.

• • • • •

• • • • •

The house seemed very silent now that Elizabeth’s vapid chatter was for ever stilled. I was amazed to find, as day dragged after day, how indispensable she had made herself and how greatly I missed her. Although she had irritated me at times beyond endurance, she had yet succeeded in bringing a kind of muted happiness into my troubled life. Indeed I had never appreciated her truly great qualities so much—her thoughtfulness, her patience, her kindly nature—as now, when I was deprived of them.

Ngôi nhà dường như rất im lặng giờ đây khi tiếng huyên thuyên nhạt nhẽo của Elizabeth đã vĩnh viễn im bặt. Tôi kinh ngạc nhận ra, khi ngày này kéo lê qua ngày khác, nàng đã khiến mình trở nên không thể thiếu đến mức nào và tôi nhớ nàng biết bao. Dù có lúc nàng làm tôi khó chịu vượt quá sức chịu đựng, nàng vẫn đã thành công trong việc đem một thứ hạnh phúc dịu lặng vào đời sống rối ren của tôi. Quả thật, chưa bao giờ tôi trân trọng những phẩm chất thật sự lớn lao của nàng nhiều đến thế—sự chu đáo, lòng kiên nhẫn, bản chất hiền hậu của nàng—như lúc này, khi tôi bị tước mất chúng.

I was desperately lonely, for I had few friends about Windstalls, and when my illness struck me down I had retired proudly into myself. I had always had such a horror of sickness that I believed all those old fair-weather friends of mine in London would be infinitely wearied by me, if indeed they had not already forgotten my very existence, as I, in like case, would probably have forgotten theirs.

Tôi cô đơn đến tuyệt vọng, vì quanh Windstalls tôi có ít bạn bè, và khi bệnh tật quật ngã tôi, tôi đã kiêu hãnh rút vào chính mình. Tôi vốn luôn ghê sợ bệnh tật đến mức tin rằng tất cả những người bạn chỉ đẹp trời của tôi ở London hẳn sẽ chán ngấy tôi vô cùng, nếu quả họ chưa quên mất cả sự hiện hữu của tôi, như chính tôi trong trường hợp tương tự có lẽ cũng đã quên họ.

But to lie there alone, with no occupation, with nothing at all save the prospect of a lingering death perhaps still far ahead: empty days, weeks, years—nothing more appalling could have been presented to a man such as I was.

Nhưng nằm đó một mình, không có việc gì làm, không có gì ngoài viễn cảnh một cái chết kéo dài có lẽ vẫn còn ở phía trước xa: những ngày trống rỗng, những tuần, những năm—không gì kinh khủng hơn có thể được đặt ra trước một người như tôi.

I had ever been essentially a man of action; men and women—chiefly women, had been my lesson books, but now, deprived suddenly of all that heretofore had made my existence bearable—for Elizabeth’s friends had kept her informed of all the latest gossip of the Town, and that had always been the breath of life to me—I was forced to seek distraction of some other kind.

Tôi vốn về bản chất là một người của hành động; những người nam và nữ—chủ yếu là phụ nữ, đã là sách học của tôi, nhưng giờ đây, bị tước khỏi tất cả những gì trước kia làm cho đời sống tôi có thể chịu đựng được—vì bạn bè của Elizabeth đã luôn báo cho nàng mọi chuyện đồn đại mới nhất ở Town, và điều đó luôn là hơi thở sự sống đối với tôi—tôi bị buộc phải tìm một kiểu khuây khỏa khác.

In the library were old books full of strange lore which my grandfather, a learned man, had left to become a legacy of wisdom and comfort to this unborn grandson in his time of need. These I began to read out of sheer desperation. At first my unaccustomed brain soon tired, but gradually my interest was aroused. It began to dawn upon me that, until now, I had walked through life like a man blind and deaf to the real world about me; I found I knew little or nothing of those greater movements of thought and of scientific discovery which flowed on, indifferent to the average man and his little adventurings. Angered at this discovery of my own deficiencies I determined there and then to remedy my lack which I found so unbecoming in a man such as I, until now, had considered myself to be.

Trong thư viện có những cuốn sách cũ đầy tri thức lạ lùng mà ông nội tôi, một người uyên bác, đã để lại để trở thành di sản minh triết và an ủi cho đứa cháu chưa ra đời này trong lúc cần thiết. Tôi bắt đầu đọc chúng chỉ vì tuyệt vọng. Lúc đầu bộ não không quen của tôi mau mệt, nhưng dần dần hứng thú của tôi được khơi dậy. Tôi bắt đầu nhận ra rằng cho đến nay mình đã đi qua đời như một kẻ mù và điếc trước thế giới thật quanh mình; tôi thấy mình biết rất ít hoặc chẳng biết gì về những vận động tư tưởng lớn lao hơn và những khám phá khoa học cứ trôi đi, dửng dưng với con người bình thường và những cuộc phiêu lưu nhỏ bé của y. Tức giận vì phát hiện ra những thiếu sót của chính mình, tôi quyết định ngay lúc ấy phải sửa chữa sự thiếu hụt mà tôi thấy thật không xứng với một người như tôi, kẻ cho đến nay vẫn tưởng mình là như thế.

Like a fever the urge towards discovery, the lust for understanding grew upon me, as if the doors behind which my true self had been enclosed had suddenly been thrown open. Soon my bed was piled with volumes old and new. I waded through Hume and Locke, struggled with the medieval Mystics and discarded them, then swung back to Aristotle and Plato. Bacon fascinated me; Browne did not tell me of medicine what I had hoped. Here was a fine confusion, but I did not care. I was determined to discover Truth, and felt that somewhere in this welter of contradictions it must be hid. But I returned always to Plato, and sometimes as I lay there, pictures of that ideal Academy, of those men talking wisely and peaceably together flashed before my eyes and I found myself wishing with a kind of sick regret I had lived then and had participated in that fellowship.

Như một cơn sốt, thôi thúc khám phá, lòng khao khát thấu hiểu lớn dần trong tôi, như thể những cánh cửa sau đó bản ngã thật của tôi từng bị giam kín bỗng bị tung mở. Chẳng bao lâu giường tôi chất đầy sách cũ và mới. Tôi lội qua Hume và Locke, vật lộn với các nhà thần bí thời trung cổ rồi gạt họ sang một bên, sau đó quay lại với Aristotle và Plato. Bacon làm tôi say mê; Browne không cho tôi biết về y học điều tôi hy vọng. Ở đây là một mớ hỗn độn tuyệt vời, nhưng tôi không bận tâm. Tôi quyết tâm khám phá Chân Lý, và cảm thấy rằng đâu đó trong mớ mâu thuẫn hỗn loạn này nó hẳn đang ẩn giấu. Nhưng tôi luôn quay về với Plato, và đôi khi khi nằm đó, những hình ảnh về Học Viện lý tưởng ấy, về những con người cùng nhau trò chuyện một cách minh triết và ôn hòa lóe lên trước mắt tôi, và tôi thấy mình ước ao với một nỗi tiếc nuối bệnh hoạn rằng mình đã sống vào thời ấy và đã dự phần vào tình bằng hữu đó.

Although I was hardly aware of it at first, my whole life was being changed by these books I had found.

Dù lúc đầu tôi hầu như không nhận ra, toàn bộ đời sống tôi đang được những cuốn sách tôi tìm thấy này chuyển đổi.

While Elizabeth still lived, I had awakened each day with a feeling of horror at the long, dragging hours ahead; but now even the sleepless nights lost some of their terrors, and I watched the daylight grow, eagerly wondering how much time the pain would allow me to finish this thesis or work out this or that train of thought.

Khi Elizabeth còn sống, mỗi ngày tôi thức dậy với cảm giác kinh hoàng trước những giờ dài lê thê phía trước; nhưng giờ đây ngay cả những đêm mất ngủ cũng mất đi phần nào nỗi kinh hoàng của chúng, và tôi nhìn ánh sáng ban ngày lớn dần, háo hức tự hỏi cơn đau sẽ cho phép tôi có bao nhiêu thời gian để hoàn thành luận đề này hay triển khai mạch tư tưởng kia.

It was indeed as if all the immense energy which heretofore I had frittered away in the common usages of life, in emotion and desire, having no longer any focus in my enfeebled frame, was being gradually freed through the pain and disintegration of my flesh, to turn towards more intangible yet more enduring things.

Quả thật như thể toàn bộ năng lượng mênh mông mà trước kia tôi đã phung phí vào những sinh hoạt thông thường của đời sống, vào cảm xúc và ham muốn, nay không còn điểm tập trung nào trong thân thể suy nhược của tôi, đang dần được giải phóng qua đau đớn và sự tan rã của xác thịt, để hướng về những điều vô hình hơn nhưng bền lâu hơn.

I began to write as well. I got the idea that all this knowledge, these many-sided speculations should, if there were any fundamental truth in them at all, be capable of being sifted and correlated in such fashion that at length the ultimate verities—if such in fact existed—would emerge. I became engrossed in this task to such a degree that the thought of my end, which once I had courted and often prayed for, became intolerable. My existence was, indeed, a race with death. For hours, sometimes for days at a stretch, death had the laugh of me; then I became helpless with agony, a mere lump of tortured flesh incapable of thought. Yet the intervals of relief were the more valuable.

Tôi cũng bắt đầu viết. Tôi nảy ra ý nghĩ rằng toàn bộ tri thức này, những suy đoán đa diện này, nếu quả thật có bất kỳ chân lý nền tảng nào trong đó, thì phải có thể được sàng lọc và liên kết theo cách sao cho cuối cùng những chân lý tối hậu—nếu quả thật chúng tồn tại—sẽ hiện ra. Tôi bị cuốn vào công việc này đến mức ý nghĩ về cái chết của mình, điều mà trước kia tôi từng ve vãn và thường cầu xin, trở nên không thể chịu nổi. Quả thật đời sống tôi là một cuộc chạy đua với cái chết. Trong nhiều giờ, đôi khi nhiều ngày liền, cái chết cười nhạo tôi; rồi tôi trở nên bất lực trong thống khổ, chỉ là một khối xác thịt bị tra tấn không còn khả năng suy nghĩ. Tuy vậy, những khoảng giảm đau lại càng quý giá hơn.

Once I said to the spaniel who usually kept me company when he had nothing better to do elsewhere:

Có lần tôi nói với con spaniel thường ở bên tôi khi nó không có gì tốt hơn để làm ở nơi khác:

“Do you realize, Caesar, what this Basil actually did for me? If it hadn’t been for him, I’d have gone on to the end not knowing that the universe held anything more important than Charles Carrington and his little tragedy. If I knew his whereabouts I’d write and thank him. Gad— and I wanted to die! If I’d done that I’d have died half finished—all bottom and no top so to speak—a damned unpleasant sight, I, who dislike unbalanced things. Now I suppose I risk becoming all top and a rest of me that won’t bear much thinking of—which is just as bad. But no, perhaps I’ll see the way whereby all parts can be unified. I can’t yet quite believe one goes on after death, though the evidence of the united belief of better men than I seems to point to the possibility, but I do like to think that anyway I won’t be too crude a product when life’s finished with me.”

“Ngươi có nhận ra, Caesar, Basil ấy thật ra đã làm gì cho ta không? Nếu không có cậu ta, ta đã đi đến cuối mà không biết rằng vũ trụ còn chứa điều gì quan trọng hơn Charles Carrington và bi kịch nhỏ bé của hắn. Nếu biết cậu ta ở đâu, ta sẽ viết thư cảm ơn. Trời đất—vậy mà ta đã muốn chết! Nếu ta làm thế, ta đã chết khi còn dang dở—chỉ có phần dưới mà không có phần trên, có thể nói vậy—một cảnh tượng chết tiệt khó coi, mà ta thì ghét những thứ mất cân bằng. Giờ thì ta cho là mình có nguy cơ trở thành toàn phần trên và phần còn lại của ta thì chẳng đáng nghĩ đến mấy—mà như thế cũng tệ không kém. Nhưng không, có lẽ ta sẽ thấy được con đường nhờ đó mọi phần có thể được hợp nhất. Ta vẫn chưa hoàn toàn tin rằng người ta tiếp tục sau cái chết, dù bằng chứng từ niềm tin hợp nhất của những người tốt hơn ta dường như chỉ ra khả năng ấy, nhưng dù sao ta cũng thích nghĩ rằng ít nhất khi đời sống xong việc với ta, ta sẽ không là một sản phẩm quá thô.”

Then one day some time after Elizabeth’s death, when the trees were turning golden and great winds swept about the house with melancholy sighing, I was disturbed from my books by the distant sound of shouting voices, the roar of what seemed to be an angry crowd: it was a sound which, for some reason unknown, always sent a chill of terror down my spine.

Rồi một ngày nào đó sau cái chết của Elizabeth, khi cây cối đang chuyển vàng và những cơn gió lớn quét quanh ngôi nhà với tiếng thở dài u sầu, tôi bị kéo khỏi sách vở bởi âm thanh xa xa của những tiếng la hét, tiếng gầm của một đám đông giận dữ: đó là một âm thanh mà vì một lý do không rõ luôn khiến một luồng lạnh kinh hoàng chạy dọc sống lưng tôi.

I frowned, turning towards the window.

Tôi cau mày, quay về phía cửa sổ.

“What can that be?” I muttered nervously. I pulled the bell rope and waited. Then since no one answered, turned to my books again and was soon so plunged in speculation that I hardly noticed when the door opened and one of my servants entered the room.

“Cái gì thế nhỉ?” tôi lẩm bẩm lo lắng. Tôi kéo dây chuông và chờ. Rồi vì không ai đáp, tôi quay lại với sách và chẳng bao lâu chìm sâu vào suy tưởng đến mức hầu như không nhận thấy khi cửa mở và một gia nhân bước vào phòng.

The man came forward and I looked up.

Người ấy tiến lên và tôi ngẩng đầu.

“Well,” I asked, “what’s all the pother in the garden? Have we started to emulate the French? Am I likely to be strung up on a lantern?”

“Thế nào,” tôi hỏi, “cái gì mà om sòm ngoài vườn vậy? Chúng ta bắt đầu bắt chước người Pháp rồi sao? Có phải ta sắp bị treo lên cột đèn không?”

“It’s the villagers,” he replied, “they’re out after a man, and he’s taken refuge here. They’re raging mad—they’ll kill him like as not if they get him. Lie’s hiding in the kitchen. Mrs. Langley let him. He says you know him, sir, and craves your protection. Flis name is Nathaniel Chalmers….”

“Là dân làng,” anh ta đáp, “họ đang đuổi theo một người, và ông ta đã chạy vào đây trú. Họ điên tiết lắm—nếu bắt được thì rất có thể họ sẽ giết ông ta. Ông ta đang trốn trong bếp. Bà Langley cho phép. Ông ta nói ông biết ông ta, thưa ông, và cầu xin ông che chở. Tên ông ta là Nathaniel Chalmers….”

I dropped my book then with an oath and stared at the man.

Tôi đánh rơi cuốn sách với một tiếng chửi thề và nhìn chằm chằm vào người ấy.

“Nathaniel Chalmers…?

“Nathaniel Chalmers…?”

I drew a long breath and leant forward. “You tell me they’re after him—they’ll kill him? And he’s come here?” I gave a low laugh, “after all these years—and they say there’s no God who answers prayer!”

Tôi hít một hơi dài và nghiêng người tới trước. “Ngươi bảo họ đang đuổi theo hắn—họ sẽ giết hắn ư? Và hắn đã đến đây?” Tôi cười khẽ, “sau ngần ấy năm—và người ta bảo chẳng có Thượng đế nào đáp lời cầu nguyện!”

I sat for a moment still, my head bent. Vividly before my eyes I saw again that tiny, limp body lying on a hurdle between two men, tears streaming down their faces, and Elizabeth half fainting on the path at my feet. But I had not wept. Instead I prayed to whatever power listens to the curses of men: “Give me a chance to revenge myself; put his life in my hands that I may take blood for blood.”

Tôi ngồi yên một lát, đầu cúi xuống. Sống động trước mắt tôi lại hiện ra thân thể bé xíu, mềm oặt ấy nằm trên tấm cáng giữa hai người đàn ông, nước mắt chảy dài trên mặt họ, và Elizabeth gần như ngất xỉu trên lối đi dưới chân tôi. Nhưng tôi đã không khóc. Thay vào đó tôi cầu xin bất kỳ quyền năng nào lắng nghe những lời nguyền rủa của con người: “Hãy cho tôi một cơ hội để báo thù; hãy đặt mạng sống hắn vào tay tôi để tôi lấy máu đền máu.”

That had been many years ago; now my prayer was answered.

Điều đó đã là nhiều năm trước; giờ đây lời cầu nguyện của tôi được đáp lại.

I looked up. “They’ll kill him, you suppose?”

Tôi ngẩng lên. “Ngươi cho là họ sẽ giết hắn?”

“Tear him to pieces, I should say. It wouldn’t take much to finish him, I’m thinking; he’s nought but a scarecrow as it is.”

“Tôi nghĩ họ sẽ xé xác ông ta. Chắc cũng chẳng cần nhiều để kết liễu ông ta đâu; giờ ông ta chỉ còn như cái bù nhìn.”

“But what’s he done?”

“Nhưng hắn đã làm gì?”

“Preaching at ’em, but it’s not the kind they like. Talking of liberty; they say he’s been in France. Your people don’t want that kind of liberty here.”

“Giảng đạo cho họ, nhưng không phải thứ họ thích. Nói về tự do; họ bảo ông ta từng ở Pháp. Dân của ông không muốn thứ tự do ấy ở đây.”

“Why should they? I’ve never stinted them.”

“Tại sao họ phải muốn? Ta chưa từng bủn xỉn với họ.”

I closed my eyes and leant back. “Tear him to pieces?” I whispered. To be torn—yes, I knew what that was like; but by a crowd… hands clutching, the writhing flesh, the agonized screams. I seemed to know them too, those screams, but how I could not tell; it was horribly familiar, that blood-cry of a maddened mob. It turned me cold.

Tôi nhắm mắt và ngả ra sau. “Xé xác hắn ư?” tôi thì thầm. Bị xé nát—đúng, tôi biết điều đó giống thế nào; nhưng bởi một đám đông… những bàn tay chộp lấy, xác thịt quằn quại, những tiếng thét thống khổ. Dường như tôi cũng biết những tiếng thét ấy, nhưng bằng cách nào thì tôi không thể nói; thật kinh khủng quen thuộc, tiếng kêu máu ấy của một đám đông điên loạn. Nó khiến tôi lạnh toát.

Well, this indeed was vengeance enough to please any man. Vengeance—but for what? Queer, I could not recapture that old mood. What had Nathaniel done—what could anybody ever do—bad enough to merit any pain, much less such pain as this? Why, even to run with a crowd at your heels was terrible enough….

Chà, quả thật đây là sự báo thù đủ làm hài lòng bất kỳ người nào. Báo thù—nhưng vì điều gì? Lạ thật, tôi không thể lấy lại tâm trạng cũ ấy. Nathaniel đã làm gì—hay bất cứ ai có thể làm gì—xấu đến mức đáng phải chịu bất kỳ đau đớn nào, huống chi là nỗi đau như thế này? Vì ngay cả việc bị một đám đông đuổi phía sau gót chân cũng đã đủ kinh khủng rồi….

And suddenly great pity welled up within me, drowning all my anger—all my hate.

Và đột nhiên một lòng thương xót lớn lao dâng lên trong tôi, nhấn chìm mọi giận dữ—mọi hận thù.

“He must indeed be half dead, poor devil,” I found myself saying. “Call out my grooms and bid them whip those curs back to their kennels. Tell ’em if they even so much as touch a hair of any human being’s head I’ll turn ’em out from their holdings and their cottages neck and crop. Thank God I’m their landlord and can do it! Give him a meal and a good bed—and tell him I’ll be glad to see him when’s he’s rested.”

“Hẳn hắn đã gần chết mất rồi, tội nghiệp,” tôi nghe mình nói. “Gọi bọn người giữ ngựa của ta ra và bảo chúng quất lũ chó ấy trở về chuồng. Nói với chúng rằng nếu chúng dám động đến dù chỉ một sợi tóc trên đầu bất kỳ con người nào, ta sẽ tống cổ chúng khỏi đất thuê và nhà cửa của chúng ngay lập tức. Tạ ơn Thượng đế ta là địa chủ của chúng và có thể làm thế! Cho hắn ăn một bữa và một cái giường tốt—và bảo hắn rằng ta sẽ vui lòng gặp hắn khi hắn nghỉ ngơi xong.”

Nathaniel…. How I had hated him! I had lived with hate. And now suddenly it was dead—finished. And I knew that I was glad. He must be old, I thought—and ill. Perhaps he’s come hoping to see Adela—he loved her, but he was a little daft—not his fault, that. He doesn’t know they’re both dead—poor devil, too late, of course, one always is. Well, he’ll be company. He was no fool, I remember, for all his madness. My eyes fell on the book propped up before me: Marcus Aurelius…. Religion had been an obsession with him; odd that it had almost become one now with me. But a very different kind. I grinned to myself, “I’ll tell him I believe we live again in the flesh. In any case it’s as sensible a reason as most for all the stupidities of fate. How he’ll rant! But if he doesn’t rant too loud, it may be amusing. There’s Adela’s cottage, he might like to live there—if he’ll consent to stay wTith me at all; he was proud, I remember—still he may have changed, we all soften down a little, I believe, though most of us are too vain to admit it. I don’t doubt I’ll be able to persuade him to take the chance of a bit of peace and comfort in the end…”

Nathaniel…. Tôi đã từng căm ghét ông ta biết bao! Tôi đã sống với lòng căm ghét. Và giờ đây đột nhiên nó đã chết—chấm dứt. Và tôi biết rằng tôi thấy mừng. Tôi nghĩ ông hẳn đã già—và đau yếu. Có lẽ ông đến với hy vọng được gặp Adela—ông yêu cô ấy, nhưng ông hơi điên điên—điều đó không phải lỗi của ông. Ông không biết cả hai người họ đều đã chết—tội nghiệp lão quỷ, dĩ nhiên là quá muộn, người ta lúc nào cũng vậy. Dù sao, ông sẽ là bạn đồng hành. Tôi nhớ ông không phải kẻ ngu, bất chấp mọi cơn điên loạn của ông. Mắt tôi rơi xuống cuốn sách được kê trước mặt: Marcus Aurelius…. Tôn giáo đã từng là một ám ảnh nơi ông; lạ thay giờ đây nơi tôi nó cũng gần như đã trở thành như thế. Nhưng là một loại rất khác. Tôi tự cười thầm, “Tôi sẽ bảo ông rằng tôi tin chúng ta lại sống trong xác thịt. Dù sao đó cũng là một lý do hợp lý chẳng kém gì phần lớn những lý do khác cho mọi điều ngu xuẩn của số phận. Ông sẽ gào lên biết bao! Nhưng nếu ông không gào quá to, điều đó có thể cũng thú vị. Kia là căn nhà nhỏ của Adela, có lẽ ông sẽ thích sống ở đó—nếu ông chịu ở lại với tôi chút nào; tôi nhớ ông kiêu hãnh lắm—dù vậy có thể ông đã thay đổi, tôi tin tất cả chúng ta đều dịu đi đôi chút, dù phần lớn chúng ta quá hư vinh để thừa nhận điều đó. Tôi không nghi ngờ rằng cuối cùng tôi sẽ có thể thuyết phục ông nắm lấy cơ hội có được chút bình an và tiện nghi…”

How close in some ways, I was to this Charles still, how close—yet also how strangely remote. There was a gulf between his mentality and mine; yet when I thought of the child I had been in this present life I seemed to perceive there a Charles reproduced in miniature. Those weaknesses with which he had passed over were still all too apparent, but much of what in him had been but potentialities, in me manifested at once, this time, as definite characteristics. At any rate it had not required another long incarnation of suffering and mistakes to lead me to the realization of what my goal was to be and what I was determined to learn this time.

Xét theo một vài phương diện, tôi vẫn gần với Charles ấy biết bao, gần biết bao—nhưng đồng thời cũng xa lạ một cách kỳ lạ. Có một vực thẳm giữa trí tuệ của ông ấy và của tôi; tuy nhiên khi tôi nghĩ đến đứa trẻ mà tôi đã từng là trong kiếp sống hiện tại này, tôi dường như nhận ra ở đó một Charles được tái hiện ở dạng thu nhỏ. Những yếu điểm mà ông ấy đã mang theo khi qua đời vẫn còn quá rõ rệt, nhưng phần lớn những gì nơi ông ấy mới chỉ là tiềm năng thì nơi tôi lần này đã biểu hiện ngay thành những đặc tính xác định. Dù sao đi nữa, tôi đã không cần thêm một kiếp lâm phàm dài đầy đau khổ và sai lầm nữa để dẫn tôi đến sự chứng nghiệm về điều mục tiêu của tôi phải là gì và điều tôi quyết tâm học trong lần này là gì.

Cancer! It had needed that to turn Charles from an aimless, embittered idler to a seeker after wisdom. Cancer…. Suddenly a picture of that scene in the Cave Temple of Egypt flashed into my thoughts and I recalled the terrible, crab-like creature I had seen there. I had realized even then that one day I should have to absorb it into myself, but had not known that when that day came, it would turn out to be a blessing for me and not a curse. Truly had my teacher once said: “There is no evil save that which a man creates through his own lack of understanding” while a greater than he had enunciated the same truth when he declared that all things work together for good to them that love God. Well, I hadn’t consciously loved God, but perhaps the search for truth and wisdom was a form of that love.

Ung thư! Chính điều đó đã cần đến để xoay chuyển Charles từ một kẻ nhàn rỗi cay đắng, vô định thành một người tìm cầu minh triết. Ung thư…. Đột nhiên một bức tranh về cảnh tượng trong Đền Hang ở Ai Cập loé lên trong tư tưởng tôi và tôi nhớ lại sinh vật khủng khiếp giống cua mà tôi đã thấy ở đó. Ngay cả khi ấy tôi đã nhận ra rằng một ngày nào đó tôi sẽ phải hấp thu nó vào chính mình, nhưng tôi không biết rằng khi ngày ấy đến, nó lại hóa ra là một phúc lành đối với tôi chứ không phải một lời nguyền. Quả thật huấn sư của tôi đã từng nói: “Không có điều ác nào ngoài điều mà con người tạo ra qua sự thiếu thấu hiểu của chính mình,” trong khi một Đấng vĩ đại hơn ông đã phát biểu cùng chân lý ấy khi tuyên bố rằng mọi sự đều cùng nhau vận hành vì điều thiện cho những ai yêu mến Thượng đế. Dù vậy, tôi đã không hữu thức yêu mến Thượng đế, nhưng có lẽ việc tìm kiếm chân lý và minh triết là một hình thức của tình yêu ấy.

I recalled then that once, when my teacher was giving me information on the karmic cause of certain diseases and the relationship between diseases and cycles of time, which I have not the space to write of here, he explained the reason for the prevalence of cancer in our day, pointing out the close connection between this particular disease and the use of certain forms of black magic in the past. He also told me that, until the poisonous substance which it generated had been absorbed and transmuted through man’s body, certain steps in development cannot be attempted. This work, he had said, is now being rapidly undertaken. Some more advanced souls deliberately volunteer as an act of devotion to take such matter into their own physical bodies for transmutation, thus sacrificing the personality to the general good. Only when this general process of transmutation has reached an advanced stage will a genuine cure for cancer be discovered.

Khi ấy tôi nhớ lại rằng có lần, khi huấn sư của tôi đang cho tôi biết về nguyên nhân nghiệp quả của một số bệnh tật nào đó và mối liên hệ giữa bệnh tật với các chu kỳ thời gian, điều mà ở đây tôi không có chỗ để viết ra, ông đã giải thích lý do sự phổ biến của bệnh ung thư trong thời đại chúng ta, và chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa căn bệnh đặc biệt này với việc sử dụng một số hình thức Hắc thuật trong quá khứ. Ông cũng nói với tôi rằng, cho đến khi chất độc mà nó tạo ra được hấp thu và chuyển hoá qua thể của con người, thì một số bước phát triển nhất định không thể được thử thực hiện. Công việc này, ông nói, hiện đang được đảm nhận một cách nhanh chóng. Một số linh hồn tiến bộ hơn tự nguyện dấn thân một cách có chủ ý như một hành vi thánh hiến để nhận chất liệu ấy vào chính thể xác của họ nhằm chuyển hoá, nhờ đó hi sinh phàm ngã cho lợi ích chung. Chỉ khi tiến trình chuyển hoá tổng quát này đã đạt đến một giai đoạn tiến bộ thì một phương pháp chữa ung thư chân chính mới được khám phá.

But so far as I was concerned there had been no such noble motive. The poisoned substance was my own and until I had brought it up to the surface into physical matter and had to some extent at least dispersed and purified it, it would continue in whatever body I built, to constitute a handicap and a potential source of weakness and danger.

Nhưng xét về phần tôi thì không hề có động cơ cao quý nào như thế. Chất độc ấy là của riêng tôi, và cho đến khi tôi đưa nó lên bề mặt vào vật chất hồng trần và ít nhất ở một mức độ nào đó làm tiêu tan và thanh lọc nó, thì trong bất cứ thể nào tôi xây dựng, nó vẫn sẽ tiếp tục cấu thành một chướng ngại và một nguồn yếu điểm cùng nguy hiểm tiềm tàng.

Yet as I looked back I saw that even this attempt, personal as it seemed, had not only been of benefit to myself, for through the results of that suffering I had undoubtedly gained enough wisdom to understand the unhappy Nathaniel, to forgive and probably to help him.

Tuy nhiên khi nhìn lại, tôi thấy rằng ngay cả nỗ lực này, tuy có vẻ riêng tư đến thế, cũng không chỉ có ích cho riêng tôi, vì qua kết quả của nỗi đau khổ ấy tôi chắc chắn đã đạt được đủ minh triết để thấu hiểu Nathaniel bất hạnh, tha thứ và có lẽ còn giúp đỡ ông.

My teacher confirmed this. “You even gave him a taste for philosophy and thus rid him of many prejudices which would have hampered him again in his next life, had he not dealt with them before passing over. A great achievement.”

Huấn sư của tôi xác nhận điều này. “Con thậm chí còn khiến ông ấy nếm được hương vị triết học và nhờ đó loại bỏ nơi ông ấy nhiều thành kiến vốn sẽ lại cản trở ông ấy trong kiếp sau, nếu ông ấy đã không xử lý chúng trước khi qua đời. Một thành tựu lớn.”

“Does one go on in the new life from precisely the place where one left the old?” I asked in some surprise.

“Có phải người ta tiếp tục trong đời sống mới đúng chính xác từ chỗ mình đã rời đời sống cũ không?” tôi hỏi, hơi ngạc nhiên.

“Yes, there are no gaps—no jumps in evolution beyond the space of time which must inevitably elapse before the new physical vehicle is of an age at which such capacities as have been acquired in the past can manifest. Were this more generally understood, the aged would take a very different view of their last days and not waste so much time going back into the past when they should be synthesizing their experiences and projecting themselves towards the future. Both you and Nathaniel did this, and profited considerably by those last years when you were forced by circumstances to turn inward upon yourselves.”

“Đúng vậy, không có khoảng trống nào—không có bước nhảy nào trong tiến hoá ngoài khoảng thời gian tất yếu phải trôi qua trước khi vận cụ hồng trần mới đạt đến độ tuổi mà tại đó những năng lực đã được thủ đắc trong quá khứ có thể biểu hiện. Nếu điều này được thấu hiểu rộng rãi hơn, người già sẽ có một quan điểm rất khác về những ngày cuối đời của họ và sẽ không lãng phí quá nhiều thời gian quay về quá khứ trong khi lẽ ra họ nên tổng hợp các kinh nghiệm của mình và phóng chiếu bản thân về phía tương lai. Cả con lẫn Nathaniel đều đã làm điều này, và đã thu được lợi ích đáng kể từ những năm cuối ấy khi hoàn cảnh buộc hai người phải quay vào bên trong chính mình.”

“Was he not an enemy from my past?” I asked.

“Ông ấy chẳng phải là một kẻ thù từ quá khứ của con sao?” tôi hỏi.

“Yes, so was Adela, but in a lesser degree. They had both been associated with you in Atlantean magic and were endeavouring also to do battle with the elementals they had invoked then and which were obsessing them both, driving Adela to drunkenness and to crime and were determined to live again through your child. Since, therefore, he had not deserved to suffer from such loving tyranny, such jealousy; since you, moreover, were still so unfitted for the joys and responsibilities of such a contact, he was taken; mercifully for him—and for you.”

“Đúng, Adela cũng vậy, nhưng ở mức độ nhẹ hơn. Cả hai đều đã từng liên hệ với con trong huyền thuật Atlantis và cũng đang cố gắng chiến đấu với các hành khí mà khi ấy họ đã triệu gọi và đang ám ảnh cả hai người, đẩy Adela vào say sưa và tội ác, đồng thời quyết tâm sống lại qua đứa con của con. Vì thế, bởi nó không đáng phải chịu đựng thứ chuyên chế đầy yêu thương ấy, thứ ghen tuông ấy; hơn nữa, bởi con vẫn còn quá không thích hợp với những niềm vui và trách nhiệm của một tiếp xúc như thế, nên nó đã được mang đi; đầy từ bi đối với nó—và đối với con.”

“That is the third time I have failed my Group in love,” I said.

“Đó là lần thứ ba con đã thất bại với Nhóm của mình trong tình thương,” tôi nói.

“Yes, it is one of the hardest tests, it demands the utmost that a man has. But the test must be passed; this problem in love will return until you do solve it. For no one is allowed to shirk his problems. Looking back even upon these few lives you have been shown, you must realize how the same problem is presented to the man again and again. To escape from bondage by breaking your shackles is no escape; it is merely transferring the bondage to another time when it may have become by the accretion of other incidents, more complicated and difficult; for such bondage, being the result of man’s free will, is part of the immutable Law of his own being. No man can escape from himself, as you discovered in Egypt—no, not if he flees to the uttermost part of the earth—for that self is a part of the one Life. Therefore the sooner he realizes this and faces up to his Karma the better for him. In your eighteenth century life you faced many problems of the past and solved them; you forgave your erring wife, spared her lover, and had pity on your enemies, Adela and Nathaniel—that was a real advance.

“Đúng vậy, đó là một trong những thử thách khó khăn nhất, nó đòi hỏi nơi con người điều tối đa mà y có. Nhưng thử thách ấy phải được vượt qua; vấn đề này trong tình thương sẽ quay trở lại cho đến khi con giải quyết được nó. Vì không ai được phép trốn tránh các vấn đề của mình. Khi nhìn lại ngay cả vài kiếp sống mà con đã được cho thấy này, con hẳn phải nhận ra cùng một vấn đề được trình ra cho con người hết lần này đến lần khác như thế nào. Thoát khỏi trói buộc bằng cách bẻ gãy xiềng xích của mình không phải là thoát; đó chỉ đơn thuần là chuyển dời sự trói buộc sang một thời điểm khác khi nó có thể đã trở nên, do sự bồi đắp của những sự kiện khác, phức tạp và khó khăn hơn; vì sự trói buộc như thế, là kết quả của ý chí tự do của con người, là một phần của Định luật bất biến của chính bản thể y. Không ai có thể trốn khỏi chính mình, như con đã khám phá ở Ai Cập—không, ngay cả nếu y chạy đến tận cùng trái đất—vì cái ngã ấy là một phần của Sự sống duy nhất. Vì vậy con người càng sớm chứng nghiệm điều này và đối diện với nghiệp quả của mình thì càng tốt cho y. Trong kiếp sống thế kỷ mười tám của con, con đã đối diện với nhiều vấn đề của quá khứ và giải quyết chúng; con đã tha thứ cho người vợ lầm lỗi của mình, tha mạng cho tình nhân của bà ấy, và thương xót những kẻ thù của con, Adela và Nathaniel—đó là một bước tiến thật sự.

This time you have returned determined to clear oft’ as many as possible of those other more urgent debts contracted in the past through neglect, cruelty or ignorance, —some of which you have at last recognized. Until this work is accomplished you cannot progress in the way you desire.

Lần này con đã trở lại với quyết tâm thanh toán càng nhiều càng tốt những món nợ cấp bách hơn khác đã kết tạo trong quá khứ do sao lãng, tàn nhẫn hay vô minh,—một số trong đó cuối cùng con đã nhận ra. Cho đến khi công việc này được hoàn tất, con không thể tiến bộ theo cách con mong muốn.

Your relationship with Elizabeth had been left imperfect, so you have been born in the same family as she, and she it is, in a new form, whom you have always felt a deep compulsion to serve and to protect. You both failed each other then, but although you forgave her, you were the worst offender, for her fall was largely due to your neglect; therefore it is you, this time, who have been called upon to make the greater sacrifice.

Mối liên hệ của con với Elizabeth đã bị bỏ dở dang, vì thế con đã sinh ra trong cùng gia đình với cô ấy, và chính cô ấy, trong một hình tướng mới, là người mà con luôn cảm thấy một thôi thúc sâu xa phải phụng sự và bảo vệ. Khi ấy cả hai đã làm nhau thất vọng, nhưng dù con đã tha thứ cho cô ấy, con mới là người phạm lỗi nặng hơn, vì sự sa ngã của cô ấy phần lớn là do sự sao lãng của con; vì thế lần này chính con là người đã được kêu gọi thực hiện sự hi sinh lớn hơn.

“Although sometimes in moments of rebellion you have believed that this service stood in the way of greater occult development, of wider experiences and the freedom you have always craved, fortunately for you, love holds you now as duty alone might not have done, turning duty into a willing sacrifice. For what you have always imagined to be a barrier is in reality the very key to the door you desire to unlock. Had you not striven to perfect this relationship and sought to create harmony where before there had been tension, you would never in this life have been permitted the contacts with us that have been yours. For it is nearly always the commonplace and often despised incidents and problems of ordinary life which are used by the teachers on the Inner Planes to test would-be aspirants to the Path of Wisdom. The man who cannot deal wisely with small things is not yet fitted to undertake the far more strenuous efforts which will surely be demanded of him then. Sometimes, indeed, difficulties are deliberately put in his way so as to test the strength of his aspiration and to see whether he is so resolved to achieve his goal that nothing will shake his determination nor cause his footsteps to falter.

“Mặc dù đôi khi trong những lúc phản kháng con đã tin rằng sự phụng sự này cản trở sự phát triển huyền bí học lớn hơn, những kinh nghiệm rộng hơn và sự tự do mà con luôn khao khát, nhưng may cho con, tình thương giờ đây giữ lấy con theo cách mà chỉ riêng bổn phận có lẽ đã không làm được, biến bổn phận thành một sự hi sinh tự nguyện. Vì điều mà con luôn tưởng là một chướng ngại thì thật ra lại chính là chiếc chìa khóa của cánh cửa mà con mong mở ra. Nếu con đã không cố gắng hoàn thiện mối liên hệ này và tìm cách tạo ra hài hòa ở nơi trước kia từng có căng thẳng, thì trong kiếp này con đã không bao giờ được phép có những tiếp xúc với chúng ta như con đã có. Vì gần như luôn luôn chính những sự việc tầm thường và thường bị khinh miệt cùng những vấn đề của đời sống thường nhật được các huấn sư trên các cõi bên trong dùng để thử thách những người chí nguyện muốn bước vào Con Đường Minh triết. Người không thể xử lý một cách khôn ngoan những việc nhỏ thì chưa thích hợp để đảm nhận những nỗ lực còn gian khổ hơn nhiều chắc chắn sẽ được đòi hỏi nơi y khi ấy. Quả thật, đôi khi những khó khăn được cố ý đặt trên đường y để thử sức mạnh khát vọng của y và để xem liệu y có quyết tâm đạt mục tiêu đến mức không gì có thể lay chuyển ý chí của y hay khiến bước chân y chùn lại hay không.

“You may thus recall how, for years, you practised your exercises in meditation without any obvious result; how difficult it was for you to obtain any information on occultism so that you were forced to seek it from within, and how, in your daily life, you had to struggle along without assistance and often without friends. This was all part of your training and a preparation for what has happened since, although you did not recognize it as such at the time. The trouble is man is so bewildered by the vortex of physical plane activity in which he is immersed that he is inclined to set up an entirely false scale of values.

“Vì vậy con có thể nhớ lại rằng trong nhiều năm con đã thực hành các bài tập tham thiền của mình mà không có kết quả hiển nhiên nào; rằng đối với con việc có được bất kỳ thông tin nào về huyền bí học khó khăn biết bao, đến nỗi con buộc phải tìm nó từ bên trong, và rằng trong đời sống hằng ngày con đã phải vật lộn tiến bước mà không có trợ giúp và thường cũng không có bạn bè. Tất cả điều này đều là một phần trong sự huấn luyện của con và là sự chuẩn bị cho những gì đã xảy ra từ đó về sau, dù lúc ấy con đã không nhận ra nó như thế. Rắc rối là con người quá bối rối bởi vòng xoáy hoạt động của cõi hồng trần mà y đang chìm trong đó, nên y có khuynh hướng dựng lên một thang giá trị hoàn toàn sai lầm.

“He is, indeed, as one who weaves a tapestry upon a tremendous loom; so close to it is he working, so engrossed is he in sending the shuttle back and forth over his tiny patch, that he cannot perceive the beauty and magnitude of the complete pattern. Yet it is essential that he should do so. One of the difficulties under which you all labour is that you are bound by erroneous conceptions of time and space; yet even the discoveries of your scientists should have made clear to you that time and space cease to exist for him who can enlarge his vision, step away from the confusing detail and view the whole. At present, being only in possession of that partial vision which the limitations of man’s development impose upon him, he still sees lives, personalities, and events as separate broken fragments, having little or no relation to each other. But there is no break in continuity, no lesion anywhere. There is but one life, one consciousness, one supreme manifestation. To realize this, not academically, but in such a fashion that it colours his entire viewpoint, permeates all his activities, inspires every thought, dictates every action, is his ultimate aim. Until he has done this he will continue to be limited by the supreme illusion of Separateness, and remain bound upon the Wheel of Re-birth.”

“Quả thật, y giống như một người đang dệt một tấm thảm trên một khung cửi khổng lồ; y làm việc quá gần nó, quá mải mê đưa con thoi qua lại trên mảnh nhỏ bé của mình, đến nỗi y không thể nhận ra vẻ đẹp và tầm vóc của toàn bộ mô hình. Tuy nhiên điều cốt yếu là y phải làm được như vậy. Một trong những khó khăn mà tất cả các con đang chịu đựng là các con bị trói buộc bởi những quan niệm sai lầm về thời gian và không gian; tuy nhiên ngay cả những khám phá của các nhà khoa học của các con cũng đáng lẽ phải làm rõ cho các con rằng thời gian và không gian không còn tồn tại đối với người có thể mở rộng tầm nhìn của mình, bước ra khỏi chi tiết rối rắm và nhìn toàn thể. Hiện nay, vì chỉ sở hữu linh thị bộ phận mà những giới hạn của sự phát triển của con người áp đặt lên y, y vẫn nhìn các kiếp sống, các phàm ngã và các biến cố như những mảnh vỡ rời rạc tách biệt, ít hoặc không có liên hệ gì với nhau. Nhưng không có sự đứt đoạn nào trong tính liên tục, không có thương tổn nào ở bất cứ đâu. Chỉ có một sự sống, một tâm thức, một sự biểu hiện tối thượng. Chứng nghiệm điều này, không phải theo kiểu học thuật, mà theo cách khiến nó nhuộm màu toàn bộ quan điểm của y, thấm nhuần mọi hoạt động của y, truyền cảm hứng cho mọi tư tưởng, chi phối mọi hành động, đó là mục tiêu tối hậu của y. Cho đến khi y làm được điều này, y sẽ tiếp tục bị giới hạn bởi ảo tưởng tối thượng của Tính Tách Biệt, và vẫn bị trói buộc trên Bánh Xe Tái Sinh.”

Leave a Comment

Scroll to Top