Vòng Tái Sinh – KẾT TỪ

📘 Sách: Vòng Tái Sinh (Wheel of Life) Song ngữ – Tác giả: H.K. Challoner

EPILOGUEKẾT TỪ

I sat alone at the foot of the rough wooden cross marking the summit of a mountain in Central Europe. Around me was a desolation of scattered rock interspersed with short turf redolent with thyme and starred with brilliant Alpine flowers. Below stretched the narrow valley I had left that morning winding into the distance, its white torrent visible like a thread uniting the various villages which could be distinguished by a darkish blur or by the flash of sunlight on panes of glass or the steeples of a church. On and on the valley went until it lost itself at last in the blue mists of distance where lay the great town, representing to these people of the solitudes that outer world barred from them by a chain of rocky heights which could faintly be seen steeped in sunlight, a fantastic barrier, fairy-like and unreal.

Tôi ngồi một mình dưới chân cây thập giá gỗ thô đánh dấu đỉnh một ngọn núi ở Trung Âu. Chung quanh tôi là một cảnh hoang vắng của những tảng đá rải rác xen lẫn những thảm cỏ ngắn thơm mùi xạ hương và điểm những bông hoa núi Alps rực rỡ như sao. Bên dưới trải dài thung lũng hẹp mà tôi đã rời đi sáng hôm đó, uốn lượn vào xa thẳm, dòng thác trắng của nó hiện ra như một sợi chỉ nối kết các làng mạc khác nhau, có thể nhận ra bằng một vệt sẫm màu hoặc bằng ánh mặt trời lóe trên các ô kính hay những tháp chuông nhà thờ. Thung lũng cứ kéo dài mãi cho đến khi cuối cùng mất hút trong làn sương xanh xa xăm nơi có thị trấn lớn, đối với những con người của chốn cô tịch này tượng trưng cho thế giới bên ngoài bị ngăn cách với họ bởi một dãy cao điểm đá mà người ta có thể lờ mờ thấy đang ngập trong nắng, một rào chắn kỳ ảo, như tiên giới và không thật.

Before me so close that one felt it would be easy to leap across the valley to those snow-piled flanks, dazzlingly white against the pure blue of the summer sky, stretched four magnificent glaciers, so cold, withdrawn and calm that they seemed to reduce all man’s ant-like activities to their true proportions.

Trước mặt tôi, gần đến mức người ta cảm thấy hẳn sẽ dễ dàng nhảy qua thung lũng đến những sườn núi chất đầy tuyết ấy, trắng lóa trên nền xanh tinh khiết của bầu trời mùa hạ, trải ra bốn sông băng tráng lệ, lạnh lẽo, xa cách và tĩnh lặng đến nỗi chúng dường như thu nhỏ mọi hoạt động như loài kiến của con người về đúng tỉ lệ thật của chúng.

I was exhausted by a long and somewhat arduous climb in the great heat and lay still, allowing my thoughts to drift idly. That I was here for some purpose I did not doubt; but by now I knew from experience that it would reveal itself at the right moment and not before; so long as my senses were alert and my mind like a well-trained dog ready to come to heel at the slightest sign, nothing more at the moment was expected of me. The preliminary physical effort had been made, now I had only to await events.

Tôi kiệt sức vì một cuộc leo trèo dài và khá gian khổ trong cái nóng dữ dội, và nằm yên, để cho tư tưởng mình trôi dạt lơ đãng. Rằng tôi có mặt ở đây vì một mục đích nào đó thì tôi không nghi ngờ; nhưng đến lúc này tôi đã biết từ kinh nghiệm rằng nó sẽ tự bộc lộ vào đúng thời điểm chứ không trước đó; miễn là các giác quan của tôi tỉnh táo và trí tuệ tôi như một con chó được huấn luyện kỹ, sẵn sàng quay về ngay khi có dấu hiệu nhỏ nhất, thì lúc này người ta không đòi hỏi gì hơn nơi tôi. Nỗ lực hồng trần sơ bộ đã được thực hiện, giờ tôi chỉ còn phải chờ đợi diễn biến.

But I had a great sense of expectancy. In some ways I was reminded of the atmosphere at the bungalow by the sea before those strange revelations which had marked such an epoch in my life and in those of my friends. Now as then I had been drawn away from the world into the solitudes; now as then I was aware of the presence of more powerful nature forces than usually surrounded me. But fire and air ruled this upper world; there one had felt more a part of the earth and the voice of the sea had been the dominant note in one’s days and nights. Here was the mountain-top from which one could view one’s little world in a truer perspective; there the range of visibility had been more circumscribed. Analogously here it was the realm of mind, there that of the emotions.

Nhưng tôi có một cảm giác mong đợi lớn lao. Theo một vài phương diện, tôi được nhắc nhớ đến bầu không khí ở căn bungalow bên biển trước những mặc khải kỳ lạ đã đánh dấu một thời kỳ quan trọng như thế trong đời tôi và trong đời các bạn tôi. Giờ đây cũng như khi ấy tôi đã bị lôi ra khỏi thế giới vào chốn cô tịch; giờ đây cũng như khi ấy tôi ý thức được sự hiện diện của những mãnh lực tự nhiên mạnh hơn thường lệ đang bao quanh tôi. Nhưng lửa và khí cai quản thế giới cao này; ở nơi kia người ta cảm thấy mình là một phần của đất nhiều hơn và tiếng nói của biển là âm điệu chủ đạo trong ngày và đêm của mình. Ở đây là đỉnh núi từ đó người ta có thể nhìn thế giới nhỏ bé của mình trong một viễn cảnh chân thực hơn; ở nơi kia tầm nhìn bị giới hạn hơn. Tương tự như vậy, ở đây là cõi của trí tuệ, còn ở kia là cõi của cảm xúc.

My thoughts travelled back to those weeks when our group had re-created for a moment that lost world when water ruled. How much had happened to us since then! Having evoked the past, we had all in our different ways been called upon to deal with it, not in conjunction but separately, since in Atlantis we had chosen the path of separation and only now were just beginning to realize the power which lay in unity—that other word for love.

Tư tưởng tôi quay trở lại những tuần lễ khi nhóm chúng tôi đã tái tạo trong chốc lát thế giới đã mất ấy, khi nước cai quản. Biết bao điều đã xảy ra với chúng tôi kể từ đó! Sau khi gợi lên quá khứ, tất cả chúng tôi theo những cách khác nhau đã được kêu gọi phải đề cập đến nó, không phải cùng nhau mà riêng rẽ, vì ở Atlantis chúng tôi đã chọn con đường chia tách và chỉ đến bây giờ mới bắt đầu nhận ra quyền năng nằm trong hợp nhất—từ ngữ khác của tình thương.

Almost immediately we had been forced by the exigencies of our different types of work to go our several ways. Naturally we met whenever opportunity offered, for, however full of discord and hate our distant past had been, our relationship had radically changed, and the consciousness of the past was now helping to cement us in growing bonds of comradeship and affection.

Gần như ngay lập tức chúng tôi đã bị những đòi hỏi của các loại công việc khác nhau buộc phải đi theo những con đường riêng. Dĩ nhiên chúng tôi gặp nhau bất cứ khi nào có cơ hội, vì cho dù quá khứ xa xôi của chúng tôi đã đầy bất hòa và căm ghét đến đâu, mối liên hệ của chúng tôi đã thay đổi tận gốc, và tâm thức về quá khứ giờ đây đang giúp gắn kết chúng tôi trong những mối dây đồng chí và tình cảm ngày càng lớn mạnh.

But those meetings for a time became increasingly difficult. Each had obviously to work off his own Karma and undergo various tests and training in accordance with his particular line of development. On the other hand our Karma had been remarkably similar. There had been for all of us periods of enforced loneliness, many frustrations, financial loss, payment through service of debts to various personal links and also a good deal of illness and mental stress.

Nhưng trong một thời gian những cuộc gặp ấy ngày càng trở nên khó khăn. Hiển nhiên mỗi người phải tự giải quyết nghiệp quả của mình và trải qua những thử thách cùng sự huấn luyện khác nhau tùy theo đường phát triển riêng của mình. Mặt khác, nghiệp quả của chúng tôi lại giống nhau một cách đáng kinh ngạc. Với tất cả chúng tôi đều có những giai đoạn cô đơn bị cưỡng bách, nhiều thất vọng, mất mát tài chính, thanh toán qua phụng sự những món nợ đối với các liên hệ cá nhân khác nhau và cả khá nhiều bệnh tật cùng căng thẳng trí tuệ.

Since we had all been starting on a new cycle at that period these were the inevitable preliminaries to any further progress.

Vì tất cả chúng tôi khi ấy đều đang khởi đầu một chu kỳ mới nên đó là những bước chuẩn bị tất yếu cho bất kỳ tiến bộ nào thêm nữa.

Whilst I had been engaged in writing my book and was receiving undreamed-of help and intensive training, I had become so accustomed to contacting those forces which were being drawn to my assistance that it had never occurred to me that any other conditions could supervene. But there came a time when I was warned that there lay ahead a period when it would be necessary for me to work off much ICarma alone and utilize the powers I had acquired without such assistance before any further step could be taken. Slowly, almost imperceptibly then the forces began to withdraw, until I found myself, not alone —knowing what I did, that could be impossible—but certainly bereft of conscious communion with my teachers and therefore thrown once more upon my own resources. “We have hitherto made the effort to descend into your atmosphere and contact you,” my teacher had said, “now it will be for you to learn how to rise mentally to our plane and contact us.”

Trong khi tôi bận viết cuốn sách của mình và đang nhận được sự trợ giúp ngoài sức tưởng tượng cùng sự huấn luyện chuyên sâu, tôi đã trở nên quá quen với việc tiếp xúc những mãnh lực đang được kéo đến để trợ giúp tôi đến nỗi chưa từng nghĩ rằng những điều kiện nào khác có thể xen vào. Nhưng rồi đã đến lúc tôi được báo trước rằng phía trước là một giai đoạn trong đó tôi cần phải tự mình giải quyết nhiều nghiệp quả và sử dụng những năng lực mình đã thủ đắc mà không có sự trợ giúp như thế trước khi có thể thực hiện thêm bất kỳ bước nào. Chậm chạp, gần như không thể nhận ra, các mãnh lực bắt đầu rút lui, cho đến khi tôi thấy mình, không phải cô độc—với điều tôi biết, điều đó là không thể—nhưng chắc chắn bị tước mất sự hiệp thông hữu thức với các huấn sư của mình và vì thế lại một lần nữa bị ném trở về vào các nguồn lực riêng của mình. “Cho đến nay chúng ta đã nỗ lực hạ xuống bầu khí quyển của con và tiếp xúc với con,” huấn sư của tôi đã nói, “giờ đây con sẽ phải học cách vươn lên bằng trí tuệ đến cõi của chúng ta và tiếp xúc với chúng ta.”

But what seemed to me at that time most incomprehensible was that my book remained unfinished. Do what I might, I could not succeed in completing the work which I had begun with such zest and such assurance.

Nhưng điều lúc ấy dường như khó hiểu nhất đối với tôi là cuốn sách của tôi vẫn còn dang dở. Dù tôi làm gì đi nữa, tôi cũng không thể hoàn tất công việc mà tôi đã khởi sự với biết bao hăng hái và tự tin.

The interim, as I have said, was filled with struggle, disappointments and difficulties. The waiting time had indeed seemed long and sometimes I feared never again to experience that unique sense of union with which no human companionship could ever compare. What I did not realize at the time was that, as everything in existence is governed by the law of cycles, so are the inner tides of man’s development; even as the wave rises to its crest, breaks into far-flung spray and is followed by an apparent withdrawal into the depths, so does man progress, working forward to some intense effort or some important experience arising from a past cause and then, that wave of energy temporarily dissipated, retiring into what may appear to him to be a period of rest or even inertia. This is in reality a moment of pause allowing for the accumulation of fresh force. It follows the rhythm of universal life, that of night and day, of life and death, of eternal becoming.

Khoảng chuyển tiếp ấy, như tôi đã nói, đầy những đấu tranh, thất vọng và khó khăn. Thời gian chờ đợi quả thật có vẻ dài, và đôi khi tôi sợ rằng mình sẽ không bao giờ lại kinh nghiệm cảm giác hợp nhất độc nhất vô nhị ấy nữa, cảm giác mà không một tình bạn đồng hành nhân loại nào có thể sánh được. Điều mà lúc ấy tôi không nhận ra là, cũng như mọi thứ hiện hữu đều bị chi phối bởi định luật chu kỳ, thì những thủy triều bên trong của sự phát triển con người cũng vậy; cũng như làn sóng dâng lên đến đỉnh, vỡ tung thành bụi nước bắn xa rồi tiếp theo là một sự rút lui có vẻ như xuống vực sâu, thì con người cũng tiến bộ như thế, tiến lên hướng tới một nỗ lực mãnh liệt nào đó hoặc một kinh nghiệm quan trọng nào đó phát sinh từ một nguyên nhân quá khứ, rồi sau đó, làn sóng năng lượng ấy tạm thời tiêu tan, lui vào điều có thể đối với y dường như là một giai đoạn nghỉ ngơi hay thậm chí trì trệ. Thực ra đó là một khoảnh khắc tạm dừng cho phép tích lũy mãnh lực mới. Nó theo nhịp điệu của sự sống vũ trụ, nhịp điệu của đêm và ngày, của sống và chết, của sự trở thành vĩnh cửu.

These years were a time of experimentation in which I had to learn how to synthesize and apply the knowledge I had received in practical living. To accept willingly and gratefully such a gift as this teaching is one tiling and comparatively easy; but to apply it with discrimination, to adjust it to modern conditions, even to sift the wheat from the chaff which is bound to accumulate in this field where weeds from the personal prejudices and unconscious resistances inevitably mingle with the good grain, is quite another matter.

Những năm ấy là một thời kỳ thử nghiệm trong đó tôi phải học cách tổng hợp và áp dụng tri thức mình đã nhận được vào đời sống thực tiễn. Tự nguyện và biết ơn đón nhận một món quà như giáo huấn này là một chuyện và tương đối dễ; nhưng áp dụng nó với sự phân biện, điều chỉnh nó cho phù hợp với các điều kiện hiện đại, thậm chí sàng lúa mì khỏi trấu cám vốn chắc chắn tích tụ trong lĩnh vực này, nơi cỏ dại từ những thành kiến cá nhân và những kháng cự vô thức tất yếu trộn lẫn với hạt tốt, lại là một chuyện hoàn toàn khác.

The beginner, inexperienced and easily confused by the new conditions with which he is bound to be faced during this period of readjustment, must tread very warily if he does not wish to find himself in trouble. This is more especially the case when the teaching itself comes largely through psychic channels rather than from books or even a teacher on the physical plane. Discrimination and a critical and detached attitude is always essential. For all teachers, even the best intentioned on the lower levels are fallible and even teachings coming from far higher sources can be distorted and perverted by those who receive them as happened with the teachings of Jesus.

Người mới bắt đầu, thiếu kinh nghiệm và dễ bị những điều kiện mới mà y chắc chắn phải đối diện trong giai đoạn tái điều chỉnh này làm cho bối rối, phải bước đi hết sức thận trọng nếu không muốn thấy mình rơi vào rắc rối. Điều này đặc biệt đúng khi chính giáo huấn phần lớn đến qua các kênh thông linh hơn là từ sách vở hay thậm chí từ một huấn sư trên cõi hồng trần. Sự phân biện và một thái độ phê phán, tách rời luôn luôn là điều cốt yếu. Vì mọi huấn sư, ngay cả những người có thiện ý nhất ở các cấp độ thấp, đều có thể sai lầm, và ngay cả những giáo huấn đến từ những nguồn cao hơn rất nhiều cũng có thể bị bóp méo và xuyên tạc bởi những người tiếp nhận chúng, như đã xảy ra với giáo huấn của Đức Jesus.

At the beginning of this period in my life false messages would occasionally be received, the veracity or otherwise of which I could only discover for myself.

Vào đầu giai đoạn này trong đời tôi, đôi khi những thông điệp sai lạc được nhận, mà tính chân thực hay không của chúng tôi chỉ có thể tự mình khám phá.

What must never be forgotten is that it is through the subconscious mind that one can most easily be influenced

Điều không bao giờ được quên là chính qua hạ trí tiềm thức mà người ta có thể dễ dàng bị ảnh hưởng nhất

EPILOGUE until one has learned to tune oneself in more perfectly to the vibrations emanating from the superconscious mind— that is to say from the soul, and has learned to discriminate between the two. Herein lie many dangers, since the subconscious mind contains in effect the sum total of most of those undesirable elements left over from the man’s previous physical plane experiences, not to mention those he has himself consigned to these regions of his being during his present life, which have not yet been assimilated and transmuted through the influence of his higher consciousness.

EPILOGUE cho đến khi người ta đã học được cách chỉnh hợp bản thân một cách hoàn hảo hơn với những rung động phát ra từ trí tuệ siêu thức—nghĩa là từ linh hồn—và đã học được cách phân biện giữa hai điều đó. Chính trong điều này có nhiều nguy hiểm, vì hạ trí tiềm thức trên thực tế chứa tổng số của phần lớn những yếu tố không mong muốn còn sót lại từ các kinh nghiệm cõi hồng trần trước đây của con người, chưa kể những yếu tố mà chính y đã gửi vào những vùng này của bản thể mình trong kiếp sống hiện tại, những yếu tố chưa được đồng hoá và chuyển hoá qua ảnh hưởng của tâm thức cao hơn của y.

When he is determined to make the attempt to climb what might be called the spiritual mountain, and is beginning actively to co-operate with the divine law instead of struggling against it, his efforts often tend to galvanize the residue of the past and bring it up to be dealt with. This phase is essential because until this is transmuted to some extent at least, it would not be safe for the aspirant to greater wisdom—and therefore to greater power—to advance very far.

Khi y quyết tâm thử leo lên điều có thể gọi là ngọn núi tinh thần, và đang bắt đầu tích cực hợp tác với định luật thiêng liêng thay vì chống lại nó, thì những nỗ lực của y thường có khuynh hướng làm sống dậy phần cặn dư của quá khứ và đưa nó lên để được xử lý. Giai đoạn này là thiết yếu vì cho đến khi điều này ít nhất cũng được chuyển hoá ở một mức độ nào đó, sẽ không an toàn cho người chí nguyện hướng tới minh triết lớn hơn—và do đó quyền năng lớn hơn—tiến quá xa.

It is said that in certain cases these forces from the past can actually be seen by clairvoyants in the form of a “dweller” as was shown to me in Egypt. But the term can also be symbolical and stand for unresolved complexes and the dark turmoils controlling the aspirant from the unconscious. We all have such “dwellers” as every psychiatrist knows; powers in the hidden places of our being which influence us far more often than we know. It follows that any attempt to speed up our evolution inevitably produces reaction from these more primitive levels which have not yet been integrated into our personality and are in resistance to our efforts to allow the soul to control us.

Người ta nói rằng trong một số trường hợp, những mãnh lực từ quá khứ này thực sự có thể được các nhà thông nhãn nhìn thấy dưới hình thức một “Kẻ Chận Ngõ” như đã được cho tôi thấy ở Ai Cập. Nhưng thuật ngữ ấy cũng có thể mang tính biểu tượng và chỉ những phức cảm chưa được giải quyết cùng những xáo trộn đen tối đang kiểm soát người chí nguyện từ vô thức. Tất cả chúng ta đều có những “Kẻ Chận Ngõ” như thế, như mọi nhà tâm thần học đều biết; những quyền năng trong những nơi ẩn kín của bản thể chúng ta ảnh hưởng đến chúng ta thường xuyên hơn nhiều so với điều chúng ta biết. Theo đó, bất kỳ nỗ lực nào nhằm tăng tốc tiến hoá của chúng ta tất yếu đều tạo ra phản ứng từ những cấp độ nguyên sơ hơn này, những cấp độ chưa được tích hợp vào phàm ngã của chúng ta và đang kháng cự những nỗ lực của chúng ta nhằm để linh hồn kiểm soát chúng ta.

This attempt at integration in preparation for a next step forward is taking place more widely today, largely owing to the work of the pioneers in psychology who are endeavouring to explore this underworld and bring its denizens up into the light where they can be revealed for what they are; for only then can they be controlled and rightly directed. When this is accomplished they will no longer be destructive and dangerous but rather valuable allies to the evolving man. Until he does learn to know and understand himself he cannot hope to change himself; and until he changes his whole polarization it will not be safe for him to rely upon any extrasensory or “occult” powers he may develop since they will inevitably be coloured and distorted by this subterranean self which he neither knows how to check nor control.

Nỗ lực tích hợp này để chuẩn bị cho bước tiến tiếp theo đang diễn ra rộng rãi hơn ngày nay, phần lớn nhờ công trình của những người tiên phong trong tâm lý học đang cố gắng thăm dò thế giới ngầm này và đưa các cư dân của nó ra ánh sáng nơi chúng có thể được phơi bày đúng như bản chất của chúng; vì chỉ khi ấy chúng mới có thể được kiểm soát và hướng dẫn đúng đắn. Khi điều này được hoàn thành, chúng sẽ không còn mang tính phá hoại và nguy hiểm nữa mà đúng hơn sẽ trở thành những đồng minh có giá trị đối với con người đang tiến hoá. Cho đến khi y học được cách biết và thấu hiểu chính mình, y không thể hy vọng thay đổi chính mình; và cho đến khi y thay đổi toàn bộ sự phân cực của mình, sẽ không an toàn cho y nếu dựa vào bất kỳ quyền năng ngoại cảm hay “huyền bí” nào mà y có thể phát triển, vì chúng tất yếu sẽ bị nhuốm màu và bóp méo bởi cái ngã ngầm bên dưới này mà y không biết cách kiềm chế hay kiểm soát.

In view of this danger communication by automatic writing in my own development ceased as soon as possible, as it is one of the methods more open to interference by the dark forces than any other, a certain attitude of negativity being almost a sine qua non. This is an invitation to these ancient powers to make an effort to gain a footing in the pupil’s subconscious which, once attained, would be a perpetual menace to his progress.

Xét theo mối nguy ấy, việc giao tiếp bằng lối viết tự động trong sự phát triển của riêng tôi đã chấm dứt càng sớm càng tốt, vì đó là một trong những phương pháp dễ bị các mãnh lực tối tăm can thiệp hơn bất kỳ phương pháp nào khác, một thái độ tiêu cực nào đó gần như là một sine qua non. Đây là một lời mời gọi những quyền năng cổ xưa ấy nỗ lực giành chỗ đứng trong tiềm thức của môn sinh, mà một khi đã đạt được, sẽ là một mối đe dọa thường trực đối với sự tiến bộ của y.

For as soon as a man makes a genuine effort to fit himself for the service of the spiritual leaders of the human race he inevitably attracts the attention of their antagonists whose whole object is to prevent the development of the higher qualities in man.

Vì ngay khi một người thực hiện nỗ lực chân chính để tự làm cho mình thích hợp với việc phụng sự các vị lãnh đạo tinh thần của nhân loại, y tất yếu thu hút sự chú ý của các đối thủ của Các Ngài, mà toàn bộ mục tiêu của họ là ngăn cản sự phát triển các phẩm tính cao hơn nơi con người.

As the law of action and reaction operates in every realm, it follows that when positive force is poured down, forming a vortex of energy about the pupil to facilitate communication from higher levels, a vacuum invariably follows when that energy is exhausted. Unless he is aware of this and knows what measures to take to protect himself, these negative—or what are called evil—powers can manifest and communicate in the vacuum thus formed. They can even give themselves the appearance of the teacher to those who can see but cannot verify their vision by sensing the vibration which accompanies it. For the specific rate of vibration indicates the character of the entity and cannot be simulated.

Vì định luật tác động và phản tác động vận hành trong mọi cõi, nên khi mãnh lực tích cực được tuôn xuống, hình thành một vòng xoáy năng lượng quanh môn sinh để tạo thuận lợi cho sự giao tiếp từ các cấp độ cao hơn, thì một khoảng trống tất yếu sẽ theo sau khi năng lượng ấy cạn kiệt. Trừ phi y ý thức được điều này và biết phải thực hiện những biện pháp nào để tự bảo vệ, những quyền năng tiêu cực này—hay những gì được gọi là ác—có thể biểu hiện và giao tiếp trong khoảng trống được hình thành như vậy. Chúng thậm chí còn có thể mang lấy sắc tướng của huấn sư đối với những ai có thể thấy nhưng không thể kiểm chứng linh ảnh của mình bằng cách cảm nhận rung động đi kèm với nó. Vì tốc độ rung động đặc thù chỉ ra Tính cách của thực thể và không thể bị giả mạo.

As every man has a teacher upon the Right Hand Path, so, through his errors in the past, he has nearly always at some time linked himself to some influence upon the dark side which, naturally, will make every effort to divert him from achieving success and will attempt to shake his confidence and lure him away to other lines of development. For this reason it is dangerous for would-be pupils to invoke a teacher. The usual result of such invocations— based for the most part on ignorance and vanity—is that a “teacher” will appear but he may be an enemy in disguise full of flatteries and promises, and woe betide the man who is foolish enough to listen and follow such a one!

Cũng như mỗi người đều có một huấn sư trên chánh đạo, thì qua những lỗi lầm trong quá khứ, hầu như lúc nào y cũng đã từng liên kết mình với một ảnh hưởng nào đó ở phía tối, mà dĩ nhiên sẽ nỗ lực bằng mọi cách để làm chệch hướng y khỏi việc đạt thành công và sẽ tìm cách làm lung lay sự tự tin của y cũng như dụ dỗ y sang những đường phát triển khác. Vì lý do này, việc những môn sinh tương lai khẩn cầu một huấn sư là điều nguy hiểm. Kết quả thông thường của những sự khẩn cầu như thế—phần lớn dựa trên vô minh và hư vinh—là một “huấn sư” sẽ xuất hiện nhưng có thể là một kẻ thù cải trang đầy lời tâng bốc và hứa hẹn, và khốn thay cho người nào dại dột đủ để lắng nghe và đi theo một kẻ như thế!

Therefore the ability to discriminate between subtle rates of vibration is the first thing a pupil has to learn. But before he can do this with a certain amount of confidence, it is necessary for him to evolve a type of equipment which can act as a kind of sounding-board and be capable of registering these different emanations which are, as it were, the wave-lengths of Those who desire to contact him. This recognition of a teacher’s vibration is one of the greatest of all safeguards in occult work, but it can only be established when a certain proficiency has also been attained in the control of the mind and the power to direct it and hold it at will. It may be a long time before one can be absolutely sure of such contacts, although that inner certainty which is undeniable increases with practice.

Vì vậy khả năng phân biện giữa những tốc độ rung động vi tế là điều đầu tiên mà một môn sinh phải học. Nhưng trước khi có thể làm điều này với một mức độ tự tin nào đó, y cần phải tiến hoá một loại bộ máy có thể hoạt động như một thứ bảng cộng hưởng và có khả năng ghi nhận những phát xạ khác nhau này, vốn có thể nói là những bước sóng của Những Đấng mong muốn tiếp xúc với y. Sự nhận biết rung động của một huấn sư này là một trong những biện pháp bảo vệ lớn nhất trong công việc huyền bí học, nhưng nó chỉ có thể được thiết lập khi một trình độ thành thạo nhất định cũng đã đạt được trong việc kiểm soát trí tuệ và quyền năng điều khiển nó cũng như giữ nó theo ý muốn. Có thể phải rất lâu người ta mới hoàn toàn chắc chắn về những tiếp xúc như thế, mặc dù sự xác tín bên trong không thể phủ nhận ấy tăng lên theo sự thực hành.

Every phase of a man’s development has thus to be tested, tried and judged in the light of experience. Ordinary common sense, emotional balance, and above all a very receptive attitude towards what is loosely termed his “conscience”, are excellent guides through this morass of difficulties he is called upon to traverse during any rapid development of inner sensitivity. Nothing that goes against the man’s own inner knowledge of right and wrong should ever be accepted. No matter from what high source the instructions purport to come; nothing that could remotely harm another, that would cause sorrow or fear to those who are not ready to understand such experiences, should be accepted and acted upon without the most serious consideration of the possible results. To seek to develop one’s own powers to the detriment of others, leads to a very different goal. The true student considers always the feelings and capacities of those about him; this applies in small things as in great. But here again discrimination is a most essential factor; to gauge exactly where the importance of his own development ceases and its harmful reaction on others may begin, is one of the most difficult lessons to learn. This can only be done by experimenting, by failing many times, paying the price of failure and recommencing. But if he is animated by genuine love, if his intuition is awakened and he seeks enlightenment through communion with that god which dwells in the heart of every man, he will be less likely to err.

Vì vậy mọi giai đoạn trong sự phát triển của con người đều phải được thử nghiệm, khảo nghiệm và phán xét dưới ánh sáng của kinh nghiệm. Thường thức thông thường, sự quân bình cảm xúc, và trên hết là một thái độ rất tiếp nhận đối với điều được gọi một cách lỏng lẻo là “lương tâm” của y, là những người dẫn đường tuyệt hảo qua đầm lầy khó khăn mà y được kêu gọi phải vượt qua trong bất kỳ sự phát triển nhanh chóng nào của tính nhạy cảm bên trong. Không điều gì đi ngược lại tri thức bên trong của chính con người về đúng và sai lại có thể được chấp nhận. Bất kể những chỉ dẫn ấy tự xưng là đến từ nguồn cao nào; không điều gì có thể dù chỉ xa xa gây hại cho người khác, gây buồn khổ hay sợ hãi cho những ai chưa sẵn sàng thấu hiểu những kinh nghiệm như thế, lại nên được chấp nhận và hành động theo mà không cân nhắc hết sức nghiêm túc về những kết quả có thể có. Tìm cách phát triển các quyền năng của riêng mình gây tổn hại cho người khác sẽ dẫn đến một mục tiêu rất khác. Đạo sinh chân chính luôn luôn xét đến cảm xúc và khả năng của những người quanh mình; điều này đúng trong việc nhỏ cũng như việc lớn. Nhưng ở đây một lần nữa sự phân biện là một yếu tố vô cùng thiết yếu; đo lường chính xác nơi nào tầm quan trọng của sự phát triển riêng của y chấm dứt và phản ứng có hại của nó lên người khác có thể bắt đầu, là một trong những bài học khó học nhất. Điều này chỉ có thể được thực hiện bằng cách thử nghiệm, bằng cách thất bại nhiều lần, trả giá cho thất bại và bắt đầu lại. Nhưng nếu y được thúc đẩy bởi tình thương chân chính, nếu trực giác của y được thức tỉnh và y tìm kiếm giác ngộ qua sự hiệp thông với vị thần ngự trong tim mỗi người, thì y sẽ ít có khả năng sai lầm hơn.

He must never forget that lais aim is to work for humanity—not for himself, regardless of humanity; and that while he is in a physical body this work is obviously intended to be on the physical plane among his fellow-men, a fact, which although apparently so obvious is very often overlooked. Any attitude which tends to minimize unduly the importance of the physical plane, so that all its manifestations become unreal and seemingly valueless, can safely be taken as inspired from a doubtful source. No knowledge of inner planes, no contact with past lives, no wanderings into spheres of light, no powers, voices, visions, are of the least use to him unless they make of him a greater force for good in the world, unless they help him to deal wisely with the innumerable little problems which arise in his own life and which will be brought to him increasingly by others in distress; unless they teach him indifference to the blows of Karma, and above all to transcend misfortune and turn every experience into progress and power. It may take him many incarnations before he begins to mirror forth a gleam of the splendour of the Light Within, before his training begins to take practical effect in wider spheres, but the results should be instantaneous in the small circle of his life on earth. If he cannot be a good citizen it is useless to call himself a good occultist; spiritual advancement and bad citizenship are incompatible.

Y không bao giờ được quên rằng mục tiêu của y là làm việc cho nhân loại—chứ không phải cho chính mình, bất chấp nhân loại; và rằng khi y ở trong một thể xác, công việc này hiển nhiên được dự định là trên cõi hồng trần giữa những đồng loại của y, một sự kiện tuy có vẻ quá hiển nhiên nhưng lại rất thường bị bỏ qua. Bất kỳ thái độ nào có khuynh hướng giảm thiểu quá mức tầm quan trọng của cõi hồng trần, đến mức mọi biểu hiện của nó trở nên không thật và dường như vô giá trị, đều có thể an toàn được xem là được truyền cảm hứng từ một nguồn đáng ngờ. Không tri thức nào về các cõi bên trong, không tiếp xúc nào với các kiếp quá khứ, không cuộc du hành nào vào những khối cầu ánh sáng, không quyền năng, tiếng nói, linh ảnh nào có ích chút nào cho y trừ phi chúng khiến y trở thành một mãnh lực thiện lớn hơn trong thế giới, trừ phi chúng giúp y xử lý một cách khôn ngoan vô số vấn đề nhỏ nảy sinh trong chính đời sống của y và sẽ ngày càng được những người đau khổ khác mang đến cho y; trừ phi chúng dạy y Điềm nhiên trước những đòn đánh của nghiệp quả, và trên hết là vượt lên bất hạnh và biến mọi kinh nghiệm thành tiến bộ và quyền năng. Có thể phải mất nhiều kiếp lâm phàm trước khi y bắt đầu phản chiếu một tia sáng của vẻ huy hoàng của Ánh Sáng Bên Trong, trước khi sự huấn luyện của y bắt đầu có hiệu quả thực tiễn trong những phạm vi rộng lớn hơn, nhưng kết quả phải là tức thời trong vòng tròn nhỏ của đời sống y trên trần thế. Nếu y không thể là một công dân tốt thì việc tự gọi mình là một nhà huyền bí học giỏi là vô ích; sự tiến bộ tinh thần và tư cách công dân tồi là không thể dung hợp.

The irrefutable truth of these observations which my teacher had impressed upon me before I was left, so to speak, to my own devices, I had occasion to prove again and again.

Chân lý không thể bác bỏ của những nhận xét này mà huấn sư của tôi đã khắc sâu vào tôi trước khi tôi bị để lại, có thể nói, cho các phương tiện riêng của mình, tôi đã có dịp chứng minh hết lần này đến lần khác.

My endeavours to develop those necessary capacities of body and mind were the cause of many difficulties and a great deal of ill-health. But no man can hope to progress very far by developing one part of himself at the expense of any other, and while he has an unreliable physicalplane instrument, he will find himself handicapped at every turn; groups of maladjusted and feeble elements in a body are always a source of potential danger, should any exceptional strain be put upon it—and this, in occultism, is always likely to occur; therefore as a preliminary to the work it was essential for me to endeavour to remedy such deficiencies.

Những nỗ lực của tôi nhằm phát triển những năng lực cần thiết ấy của thể và trí tuệ là nguyên nhân của nhiều khó khăn và rất nhiều bệnh tật. Nhưng không ai có thể hy vọng tiến xa bằng cách phát triển một phần của mình với cái giá của bất kỳ phần nào khác, và chừng nào y còn có một công cụ cõi hồng trần không đáng tin cậy, y sẽ thấy mình bị cản trở ở mọi bước; những nhóm yếu tố lệch lạc và suy nhược trong một thể luôn luôn là một nguồn nguy hiểm tiềm tàng, nếu có bất kỳ sức ép đặc biệt nào đặt lên nó—và trong huyền bí học, điều này luôn có khả năng xảy ra; vì vậy như một bước chuẩn bị cho công việc, điều cốt yếu đối với tôi là phải cố gắng khắc phục những thiếu sót như thế.

My teacher had once said: “Remember, any effort causes resistance, and resistance in man’s body registers as pain. A large proportion of pains and sorrows come about by people resisting the Law of Karma and resenting the necessities that it imposes upon them; the cultivation of a balanced mind and a reasonable outlook would do much to mitigate this. When a man has succeeded in eliminating from his vehicles all discordant elements, so that every atom of all his bodies is vibrating in harmony with the Divine Will, no activities on the physical or any other level will have any more the power to cause within him friction or disturbance. This is the secret of that perfect health, that inner peace and superabundant strength which the Great Ones have always possessed.

Huấn sư của tôi đã từng nói: “Hãy nhớ, bất kỳ nỗ lực nào cũng gây ra kháng cự, và sự kháng cự trong thể con người ghi nhận thành đau đớn. Một phần lớn đau đớn và buồn khổ phát sinh do con người chống lại Định luật Nghiệp quả và oán giận những điều tất yếu mà nó áp đặt lên họ; việc vun bồi một trí tuệ quân bình và một quan điểm hợp lý sẽ làm giảm nhẹ điều này rất nhiều. Khi một người đã thành công trong việc loại bỏ khỏi các vận cụ của mình mọi yếu tố bất hòa, để cho mọi nguyên tử của tất cả các thể của y đều rung động hài hòa với Ý Chí thiêng liêng, thì không hoạt động nào trên cõi hồng trần hay bất kỳ cấp độ nào khác còn có quyền năng gây ra trong y ma sát hay xáo trộn nữa. Đây là bí mật của sức khỏe hoàn hảo ấy, của bình an nội tâm ấy và sức mạnh dồi dào vô tận ấy mà Các Đấng Cao Cả luôn luôn sở hữu.”

“But of course to reach such a harmonious condition the pupil has in the beginning to seek by an act of self- conscious will to alter the imperfect constituents of his body by transmuting them. This process often brings about a phase of very violent and painful conditions, for everything related to the past that he has himself created, is thereby stirred up to the surface. You began, of course, this process in Egypt but until now it has been more or less unconscious; having undertaken to do this work, cause and effect developed therefrom—if I may use a very inadequate term—almost automatically with very little free will apparent on the part of the personality. But now you have reached a stage when all the bodies must participate through the magic-working process of the mind under the direct guidance of the Higher Self. The clearer this guidance becomes, the quicker and more successful will these changes in your physical vehicles appear, but for a time you may apparently lose much of your present good health. This is the reason why so many occultists have sick and feeble bodies and are consequently held up to derision by those healthy materialists who have not begun to deal with the residue of the past which—did they but know it—is all accumulating in that great store-house of the subconscious mind, waiting to be dealt with later when they are capable of doing so.”

“Nhưng dĩ nhiên, để đạt tới một trạng thái hài hòa như thế, lúc ban đầu người môn sinh phải tìm cách, bằng một hành vi của ý chí ngã thức, biến đổi các thành phần bất toàn trong thể của mình bằng cách chuyển hoá chúng. Tiến trình này thường đưa đến một giai đoạn với những tình trạng rất dữ dội và đau đớn, vì mọi thứ liên hệ với quá khứ mà chính y đã tạo ra, do đó đều bị khuấy động lên bề mặt. Dĩ nhiên, bạn đã bắt đầu tiến trình này ở Ai Cập, nhưng cho đến nay nó ít nhiều vẫn là vô thức; khi đã đảm nhận công việc này, nhân và quả từ đó phát triển ra—nếu tôi có thể dùng một từ rất không thích đáng—gần như tự động, với rất ít tự do ý chí biểu lộ nơi phàm ngã. Nhưng giờ đây bạn đã đạt tới một giai đoạn khi tất cả các thể đều phải tham dự qua tiến trình làm việc huyền thuật của trí tuệ dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Bản Ngã Cao Siêu. Sự hướng dẫn này càng trở nên rõ ràng bao nhiêu thì những thay đổi này trong các vận cụ hồng trần của bạn sẽ xuất hiện càng nhanh và càng thành công bấy nhiêu, nhưng trong một thời gian bạn có thể dường như mất đi phần lớn sức khỏe tốt hiện nay của mình. Đây là lý do vì sao rất nhiều nhà huyền bí học có những thể bệnh hoạn và yếu nhược, và do đó bị những người duy vật khỏe mạnh kia đem ra chế giễu, những kẻ chưa bắt đầu xử lý phần tồn dư của quá khứ mà—nếu họ chỉ biết điều đó—đang tích tụ hết trong kho chứa lớn của trí tuệ tiềm thức, chờ được xử lý về sau khi họ có khả năng làm như vậy.”

My own particular efforts at transmutation during those past years certainly had manifested in unaccustomed bouts of ill-health and coupled with bad Karma in the form of financial trouble had handicapped me seriously in that occult work I had hoped to undertake. Moreover, as I found myself possessed after my intensive training was over of certain healing power, naturally I was called upon to utilize it and was thus enabled to pay off further karmic debts from the past.

Những nỗ lực chuyển hoá đặc biệt của riêng tôi trong những năm đã qua ấy quả thực đã biểu lộ thành những cơn đau yếu bất thường, và kết hợp với nghiệp quả xấu dưới hình thức khó khăn tài chính, đã gây trở ngại nghiêm trọng cho tôi trong công việc huyền bí mà tôi từng hy vọng đảm nhận. Hơn nữa, khi nhận thấy sau khi sự huấn luyện chuyên sâu của mình kết thúc tôi có được một quyền năng trị liệu nào đó, dĩ nhiên tôi được kêu gọi sử dụng nó, và nhờ vậy có thể thanh toán thêm những món nợ nghiệp quả từ quá khứ.

The year of which I am now writing had been a particularly busy one in this respect and, as I was not efficient as yet in dealing with my own physical vehicle, it had been inclined to give way under the strain.

Năm mà giờ đây tôi đang viết đến là một năm đặc biệt bận rộn về phương diện này, và vì lúc ấy tôi vẫn chưa thành thạo trong việc xử lý vận cụ hồng trần của chính mình, nên nó có khuynh hướng suy sụp dưới sức căng.

It was then that someone with whom I had had great links of affection in many lives, came forward and offered to take me to the mountains to recuperate.

Chính khi ấy một người mà tôi đã có những mối liên kết yêu thương sâu đậm qua nhiều kiếp sống đã bước tới và đề nghị đưa tôi lên núi để hồi phục.

I felt that probably there was more behind this offer than was apparent, as by now I had acquired the habit of seeking a hidden significance behind every occurrence.

Tôi cảm thấy có lẽ đằng sau lời đề nghị này còn có điều gì hơn là vẻ bề ngoài, vì đến lúc ấy tôi đã có thói quen tìm kiếm một thâm nghĩa ẩn kín đằng sau mọi biến cố.

We had wasted much time trying to find a suitable place in which to stay and had been—so it seemed to us at the time—driven or lured on from one district to another, until at last we found this high valley where my last fortnight was to be spent. Here I determined to utilize to the full the air and sunshine of the heights, to seek to draw strength and healing from the earth and peace from the music of the waters, and in solitude to concentrate upon how to increase my receptivity to those specific vibrations I was striving to contact. Upon the day of our arrival my eyes were drawn to a certain mountain with precipitous grassy sides which rose through scattered trees to stony wastes. On inquiry I learned that from its summit one of the most extensive views of the district could be obtained. But for ten days thereafter it rained almost incessantly and while the weather continued unsettled it would have been madness for me, only just recovering from an illness, to have attempted to scramble up those paths turned now into rivulets; besides in any case nothing could have been seen through the veils of cloud. At all events it was a test of patience if nothing else to dwell in this realm of mists and water, watching the precious days slip rapidly away.

Chúng tôi đã phí nhiều thời gian để cố tìm một nơi thích hợp để ở, và đã bị—ít nhất vào lúc ấy chúng tôi tưởng là như vậy—thúc đẩy hay dẫn dụ từ vùng này sang vùng khác, cho đến cuối cùng chúng tôi tìm thấy thung lũng cao này, nơi hai tuần cuối cùng của tôi sẽ được trải qua. Tại đây tôi quyết định tận dụng tối đa không khí và ánh nắng của miền cao, tìm cách rút lấy sức mạnh và sự chữa lành từ đất, và sự bình an từ âm nhạc của nước, và trong cô tịch tập trung vào cách làm tăng khả năng tiếp nhận của mình đối với những rung động đặc biệt mà tôi đang cố tiếp xúc. Vào ngày chúng tôi đến, mắt tôi bị hút về một ngọn núi nào đó với những sườn cỏ dốc đứng, vươn lên xuyên qua những cụm cây thưa đến những khoảng đá trơ trọi. Khi hỏi thăm, tôi được biết từ đỉnh của nó có thể nhìn thấy một trong những toàn cảnh rộng lớn nhất của vùng. Nhưng suốt mười ngày sau đó trời mưa gần như không ngớt, và chừng nào thời tiết còn bất ổn thì đối với tôi, người vừa mới hồi phục sau một cơn bệnh, việc cố leo lên những lối mòn giờ đã biến thành những dòng nước nhỏ ấy hẳn là điên rồ; hơn nữa, trong bất cứ trường hợp nào cũng chẳng thể nhìn thấy gì qua những màn mây. Dù sao đi nữa, nếu không là gì khác thì đó cũng là một thử thách về kiên nhẫn khi phải sống trong cõi sương mù và nước này, nhìn những ngày quý giá trôi nhanh qua.

Then, just before my leave was up, the clouds rolled back, revealing heights powdered with fresh snow and glittering with an ethereal beauty which no words can express; once more my eyes were turned towards that mountain and an irresistible impulse urged me to make at least one attempt to reach the summit.

Rồi, ngay trước khi kỳ nghỉ của tôi chấm dứt, mây cuộn lui lại, để lộ những đỉnh cao phủ bụi tuyết mới và lấp lánh một vẻ đẹp dĩ thái mà không lời nào diễn tả nổi; một lần nữa mắt tôi hướng về ngọn núi ấy và một xung lực không cưỡng lại được thúc đẩy tôi ít nhất phải thử một lần lên tới đỉnh.

It was hard going. The slopes, in may places running with water, were slippery as ice; here and there the path had disappeared. There was no shade and the heat soon became intense. Of course to anyone in training, physically fit and properly equipped, it would have been nothing at all; but at this time I was deficient in these necessities, having come to the mountains for a rest-cure, unprepared for anything more strenuous than sedate walks on moderately flat roads. It therefore put a strain upon my resources and soon rny body began to send out danger signals so urgent that more than once I considered the advisability of giving up. But as each step revealed fresh glories, as peak upon peak rose into view, I became seized with that divine madness with which the devas of the mountains inspire their devotees, driving them occasionally to destruction, but often to achievements beyond their normal powers.

Đó là một cuộc leo trèo gian nan. Những sườn dốc, ở nhiều chỗ nước chảy tràn, trơn như băng; đây đó lối đi đã biến mất. Không có bóng râm và cái nóng chẳng bao lâu trở nên gay gắt. Dĩ nhiên, với bất kỳ ai đang được huấn luyện, khỏe mạnh về thể xác và được trang bị thích đáng, thì chuyện ấy chẳng là gì cả; nhưng vào lúc này tôi thiếu những điều cần thiết ấy, vì tôi đến núi để nghỉ dưỡng, không chuẩn bị cho điều gì vất vả hơn những cuộc đi bộ thong thả trên những con đường tương đối bằng phẳng. Vì vậy nó đã gây căng thẳng lên nguồn lực của tôi, và chẳng bao lâu thể tôi bắt đầu phát ra những tín hiệu nguy hiểm khẩn cấp đến nỗi hơn một lần tôi đã cân nhắc sự khôn ngoan của việc bỏ cuộc. Nhưng khi mỗi bước chân lại mở ra những vẻ huy hoàng mới, khi hết đỉnh này đến đỉnh khác hiện ra trước mắt, tôi bị cuốn lấy bởi cơn điên thiêng liêng mà các thiên thần của núi truyền cảm hứng cho những người sùng mộ mình, đôi khi đẩy họ đến chỗ hủy diệt, nhưng thường dẫn họ đến những thành tựu vượt quá năng lực bình thường.

Besides by this time the climb had somehow become to me a kind of symbol. I was determined that nothing, so far as I was concerned, should keep me from reaching the top.

Hơn nữa, đến lúc ấy cuộc leo núi bằng cách nào đó đã trở thành đối với tôi một loại biểu tượng. Tôi quyết tâm rằng, về phần mình, sẽ không để bất cứ điều gì ngăn tôi lên tới đỉnh.

It was when I was nearing the summit that I lost my way. Some time before the path—so-called—had broken up into half a dozen tracks; I chose one I thought looked as if it led to the summit, instead of which, after taking me to the most precipitous places, it landed me in a tight corner and then disappeared.

Chính khi tôi gần tới đỉnh thì tôi lạc đường. Trước đó một lúc, cái gọi là lối đi đã tách ra thành nửa tá đường mòn; tôi chọn một đường mà tôi nghĩ trông có vẻ dẫn lên đỉnh, nhưng thay vì thế, sau khi đưa tôi đến những chỗ dốc đứng nhất, nó dồn tôi vào một thế bí rồi biến mất.

The trouble was that, by now, my body had nearly gone on strike, so I paused to consider what I had better do. There was no chance of sitting down to rest and recover, for the slope was too steep and, moreover, running with little streams. So I had no alternative but to continue struggling up and hope that the going would improve, or to turn and slide back—it would amount to that—the way 1 had come. As a matter of fact I had made up my mind almost immediately that I was going on; it was really more a matter of somehow gaining sufficient strength to drive myself over this difficult patch without making one of those stupid slips or errors in judgement to which an over-strained body is liable. Such a slip, of course, might have unpleasant consequences in mountains as lonely as these; one might well lie for many an hour, a day, or even longer before one was found; but it was senseless to consider such possibilities. The thing to do now was to get my second wind; I was irritated that anyone with as much previous experience as myself should have got into such a situation, but I felt that given the choice, I would have done it again, so strong still was that inner urge somehow to reach the top. It would have been a help to have someone to give me a hand up to that next ridge, or even to shout directions and tell me what the going was like beyond and whether it was worth making the effort.

Điều rắc rối là đến lúc này thể tôi gần như đã đình công, nên tôi dừng lại để cân nhắc xem tốt hơn tôi nên làm gì. Không có cơ hội ngồi xuống nghỉ và hồi sức, vì sườn dốc quá đứng và hơn nữa lại có những dòng nước nhỏ chảy qua. Vì vậy tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục vật lộn đi lên và hy vọng đường đi sẽ khá hơn, hoặc quay lại và trượt xuống—thực tế sẽ là như thế—con đường tôi đã đi lên. Sự thật là gần như ngay lập tức tôi đã quyết định sẽ tiếp tục; thực ra vấn đề chỉ còn là bằng cách nào đó gom đủ sức để ép mình vượt qua đoạn khó này mà không mắc một trong những cú trượt hay sai lầm phán đoán ngu ngốc mà một thể bị căng thẳng quá mức rất dễ phạm phải. Dĩ nhiên, một cú trượt như thế có thể đem lại những hậu quả khó chịu ở những ngọn núi cô quạnh như thế này; người ta hoàn toàn có thể nằm đó nhiều giờ, một ngày, hay còn lâu hơn nữa trước khi được tìm thấy; nhưng nghĩ đến những khả năng như vậy thì thật vô ích. Điều cần làm lúc này là lấy lại hơi sức thứ hai; tôi bực mình vì một người có nhiều kinh nghiệm trước đây như tôi lại rơi vào một tình thế như thế, nhưng tôi cảm thấy rằng nếu được chọn lại, tôi vẫn sẽ làm như vậy, mạnh mẽ đến thế vẫn là thôi thúc bên trong muốn bằng cách nào đó lên tới đỉnh. Sẽ là một sự trợ giúp nếu có ai đó đưa tay kéo tôi lên gờ núi kế tiếp ấy, hoặc chí ít cũng hô chỉ dẫn và cho tôi biết phía bên kia đường đi ra sao và liệu có đáng để cố gắng hay không.

But I was alone; there was no living thing in sight; no movement even save the white shiver or a waterfall across the valley. Nothing. And suddenly I experienced one of those moments of intense awareness which come, I think, to most of us once in a lifetime, but particularly to those who find themselves facing some difficulty alone with nature. It is not actually fear, rather a sense of impotence, a recognition of your own limitations in the presence of this vastness, this power, this unfathomable mystery. You understand then what de Vigny meant when he wrote so bitterly of P implacable Nature} here is Life manifesting in a thousand forms, yet each is so intensely occupied with its own activities that the death of a man, as of an ant, is of no possible significance. Mountains may fall, fire sweep away the forests, yet the processes of nature go on harmoniously, rhythmically: destruction, creation; life and death; the changing of a form matters so little in this aggregate of forms.

Nhưng tôi chỉ có một mình; không một sinh vật nào trong tầm mắt; thậm chí không một chuyển động nào ngoài sự rung trắng của một thác nước bên kia thung lũng. Không gì cả. Và đột nhiên tôi trải qua một trong những khoảnh khắc nhận biết mãnh liệt mà, tôi nghĩ, hầu hết chúng ta đều có một lần trong đời, nhưng đặc biệt là với những ai thấy mình phải một mình đối diện với một khó khăn giữa thiên nhiên. Đó không hẳn là sợ hãi, mà đúng hơn là một cảm giác bất lực, một sự nhận ra những giới hạn của chính mình trước sự bao la này, quyền năng này, huyền nhiệm không dò thấu này. Khi ấy bạn hiểu de Vigny muốn nói gì khi ông cay đắng viết về P implacable Nature} ở đây là Sự sống biểu lộ trong muôn ngàn hình tướng, nhưng mỗi hình tướng lại bận rộn mãnh liệt với những hoạt động riêng của nó đến nỗi cái chết của một con người, cũng như của một con kiến, không thể có chút thâm nghĩa nào. Núi có thể sụp đổ, lửa có thể quét sạch rừng, thế nhưng các tiến trình của bản chất vẫn tiếp diễn hài hòa, nhịp điệu: hủy diệt, sáng tạo; sống và chết; sự thay đổi của một hình tướng có ý nghĩa quá ít ỏi trong tổng thể những hình tướng này.

But to me it mattered supremely. I did not partake of this indifference. I was Man. Since my origin I had gone my own way, a law unto myself. I had set myself apart with deliberate intent, chosen to consider myself a special kind of creature, ignored the fact that I partook of the same elements as the rest of creation and was by that necessity their kin.

Nhưng đối với tôi điều đó lại có ý nghĩa tối thượng. Tôi không dự phần vào sự điềm nhiên này. Tôi là Con Người. Từ nguồn gốc của mình tôi đã đi con đường riêng, tự đặt mình thành quy luật cho chính mình. Tôi đã cố ý tách mình ra, chọn xem mình là một loại tạo vật đặc biệt, phớt lờ sự kiện rằng tôi dự phần vào cùng những nguyên tố như phần còn lại của tạo thành và bởi sự tất yếu ấy là thân thuộc với chúng.

And this intense feeling of isolation now was the result of that ancient choice. This was my punishment as Man’, that having driven myself from Eden I had lost my heritage and had become, to all appearances that separate unit which I imagined myself to be, with the fundamental weaknesses, the lack of power, the littleness in which such a cleavage from the source of Life could not but result. Yet how in reality could there be loneliness, isolation, for something that in its very essence was one with all life? But man had created from his illusion a thought-form of such power that it had dominated him for feons and would continue to distort his vision until, by a conscious effort of identification with the rest of life, he overcame it. Perhaps he was beginning to do so—science was showing him one way—and for the other, he must find that in himself. Had I not glimpsed it here? All about me was life, strength, healing, power. Could I but transfer into my own bodies these lavish gifts which are poured down without stint unceasingly upon all the sons of men, could I but learn to understand more of nature’s laws, even the most mysterious and hidden, then nothing would be impossible. Only blind fools lost themselves on mountains; only because I was ignorant was I helpless. There was no real cleavage. I was the mountain, I was the earth, I, the sun, the waters and the snow; I, part of that same creative energy of which these were but different images.

Và cảm giác cô lập mãnh liệt này giờ đây là kết quả của sự lựa chọn cổ xưa ấy. Đây là sự trừng phạt của tôi với tư cách Con Người’, rằng vì đã tự đuổi mình khỏi Eden nên tôi đã mất gia sản của mình và đã trở thành, theo mọi vẻ bề ngoài, đơn vị tách biệt mà tôi tưởng mình là, với những yếu đuối căn bản, sự thiếu quyền năng, sự nhỏ bé mà một sự phân ly như thế khỏi nguồn Sự sống tất không thể không dẫn đến. Tuy nhiên, trong thực tại làm sao có thể có cô đơn, cô lập, đối với một cái gì mà trong chính bản chất của nó là một với mọi sự sống? Nhưng con người đã tạo ra từ ảo tưởng của mình một Hình tư tưởng có quyền năng đến mức nó đã thống trị y qua nhiều aeon và sẽ còn tiếp tục bóp méo tầm nhìn của y cho đến khi, bằng một nỗ lực có ý thức để đồng hoá với phần còn lại của sự sống, y vượt thắng được nó. Có lẽ y đang bắt đầu làm như vậy—khoa học đang chỉ cho y một con đường—và còn con đường kia, y phải tìm thấy điều đó trong chính mình. Chẳng phải tôi đã thoáng thấy nó ở đây sao? Chung quanh tôi là sự sống, sức mạnh, chữa lành, quyền năng. Giá như tôi có thể chuyển vào các thể của chính mình những tặng phẩm phong phú này, những tặng phẩm được tuôn xuống không dè sẻn, không ngừng nghỉ trên tất cả những người con của nhân loại; giá như tôi có thể học để thấu hiểu nhiều hơn các định luật của bản chất, ngay cả những định luật huyền nhiệm và ẩn kín nhất, thì sẽ không có gì là bất khả. Chỉ những kẻ mù quáng ngu xuẩn mới để mình lạc trên núi; chỉ vì tôi vô minh nên tôi bất lực. Không có sự phân ly thực sự nào. Tôi là ngọn núi, tôi là đất, tôi là mặt trời, là nước và tuyết; tôi là một phần của cùng năng lượng sáng tạo mà những thứ này chỉ là những hình ảnh khác nhau của nó.

Yet was I not even more than this? Was I not that hidden spirit which willed and which created? Yes, surely; for I alone was conscious of what I was and did. I alone had free will; I alone could choose the good and eschew the evil. In me—Man—stirred those mighty potentialities of the spirit whereby I might, in truth, become a son of God.

Tuy nhiên, chẳng phải tôi còn hơn cả thế sao? Chẳng phải tôi là tinh thần ẩn kín đã muốn và đã sáng tạo đó sao? Phải, chắc chắn vậy; vì chỉ riêng tôi là có ý thức về điều tôi là và điều tôi làm. Chỉ riêng tôi có tự do ý chí; chỉ riêng tôi có thể chọn điều thiện và tránh điều ác. Trong tôi—Con Người—đang khuấy động những tiềm năng vĩ đại của tinh thần nhờ đó tôi có thể, thật sự, trở thành Con của Thượng đế.

How often hitherto had I been told that this was my aim and my goal. I had accepted it, but it had been just an intellectual acceptance, a vicarious belief. Now suddenly I knew. Not because another told me did I acknowledge it, but because my eyes were, for that fraction of a second, unclosed. To be complete, man must indentify himself utterly with the Law of Life, sacrifice himself to it unconditionally; then does the Law give him back himself, but a self enlarged and glorified beyond belief. Now at last I thought I understood what St. Paul meant when he said that the Law will set us free. Eventually this process must be brought about through knowledge and understanding, but until we have reached that stage—the stage of the advanced occultist—is there not another way open to us? Identification through a love, a worship so intense that it becomes a burning faith? Was not that the faith which, we were told, could move mountains—not a blind faith generated from fear and ignorance, but one arising from a spiritual certainty which was not capable as yet of expressing itself in personal creative achievement?

Biết bao lần trước đây tôi đã được bảo rằng đó là mục tiêu và cứu cánh của mình. Tôi đã chấp nhận điều ấy, nhưng đó chỉ là một sự chấp nhận trí tuệ, một niềm tin gián tiếp. Giờ đây đột nhiên tôi biết. Không phải vì người khác bảo tôi mà tôi thừa nhận điều đó, mà vì trong một phần nhỏ của giây ấy mắt tôi đã được mở ra. Để được trọn vẹn, con người phải đồng hoá mình hoàn toàn với Định luật của Sự sống, hi sinh mình cho nó vô điều kiện; khi ấy Định luật trả lại cho y chính mình, nhưng là một cái ngã được mở rộng và vinh hiển vượt ngoài niềm tin. Giờ đây cuối cùng tôi nghĩ mình hiểu Thánh Paul muốn nói gì khi ông nói rằng Định luật sẽ giải thoát chúng ta. Rốt cuộc tiến trình này phải được thực hiện qua tri thức và thấu hiểu, nhưng cho đến khi chúng ta đạt tới giai đoạn ấy—giai đoạn của nhà huyền bí học cao cấp—chẳng phải vẫn còn một con đường khác mở ra cho chúng ta sao? Đồng hoá qua một tình thương, một sự tôn thờ mãnh liệt đến mức trở thành một đức tin bừng cháy? Chẳng phải đó là đức tin mà người ta bảo chúng ta rằng có thể dời núi sao—không phải một đức tin mù quáng phát sinh từ sợ hãi và vô minh, mà là một đức tin nảy sinh từ một sự chắc chắn tinh thần, tuy chưa thể biểu lộ thành thành tựu sáng tạo cá nhân?

A wave of ecstasy, of unshakable confidence passed through me. Alone? Never again, now that I knew myself in fact and in truth part of all Life. What then? If my own powers were limited and weak—the powers of that Great Life were they not inexhaustible? Could I but hold this realization—and I knew already with bitter certainty that I was not strong enough, that it would surely-fade—I would in time become invulnerable. It had not faded yet.

Một làn sóng xuất thần, của sự tin chắc bất lay chuyển tràn qua tôi. Một mình ư? Không bao giờ nữa, giờ đây khi tôi biết mình trên thực tế và trong chân lý là một phần của toàn bộ Sự sống. Vậy thì sao? Nếu những quyền năng riêng của tôi có giới hạn và yếu ớt—chẳng phải những quyền năng của Sự sống Vĩ Đại ấy là vô tận sao? Giá như tôi có thể giữ vững sự chứng nghiệm này—và tôi đã biết với sự chắc chắn cay đắng rằng mình không đủ mạnh, rằng nó chắc chắn sẽ phai đi—thì theo thời gian tôi sẽ trở nên bất khả xâm phạm. Nó vẫn chưa phai đi.

I looked up the mountains and down. My situation had not changed, but now I was filled with a great serenity as if I had captured the spirit of those brooding heights and was partaker in their unshakable calm. I cannot hope to define this feeling more precisely than to say that I felt secure; nothing could happen that could be harmful to me since I knew myself in that revealing second to be inseparable from that universal Law of Love of which every activity, every manifestation was an intrinsic part.

Tôi nhìn lên núi và nhìn xuống. Tình thế của tôi không thay đổi, nhưng giờ đây tôi tràn đầy một sự tĩnh lặng lớn lao như thể tôi đã nắm bắt được tinh thần của những đỉnh cao trầm mặc ấy và được dự phần vào sự bình an bất lay chuyển của chúng. Tôi không thể hy vọng định nghĩa cảm giác này chính xác hơn là nói rằng tôi cảm thấy an toàn; không điều gì có thể xảy ra gây hại cho tôi vì trong giây phút mặc khải ấy tôi biết mình không thể tách rời khỏi định luật phổ quát của Bác ái mà mọi hoạt động, mọi biểu hiện đều là một phần nội tại của nó.

At last I roused myself. I must go on, I couldn’t stand there all day. If, as I felt at that moment so strongly, I was indeed a participator in the universal consciousness, then, despite all appearances to the contrary, my predicament was not unnoticed nor my need unknown. That was, I argued, as I began feeling my way cautiously over the slippery rock, all that ultimately mattered. So long as I manifested the requisite good will and made the best effort I could to reach the summit, the result, in a sense, was not my affair. If, for some reason I was meant to get there and was not capable of doing it alone, somehow help would come, if only through an influx of physical energy or merely in a strong impression where best to tread and in what direction to go. I had experienced that kind of help before.

Cuối cùng tôi tự vực mình dậy. Tôi phải tiếp tục, tôi không thể đứng đó suốt ngày. Nếu, như lúc ấy tôi cảm thấy rất mạnh mẽ, tôi quả thật là một người dự phần vào tâm thức phổ quát, thì bất chấp mọi vẻ bề ngoài trái ngược, tình cảnh khó khăn của tôi không phải là không được lưu ý, cũng không phải nhu cầu của tôi là điều không ai biết. Đó là, tôi lý luận như vậy khi bắt đầu dò dẫm cẩn thận trên tảng đá trơn trượt, điều duy nhất rốt cuộc có ý nghĩa. Chừng nào tôi còn biểu lộ thiện chí cần thiết và nỗ lực hết sức mình để lên tới đỉnh, thì kết quả, theo một nghĩa nào đó, không phải việc của tôi. Nếu vì một lý do nào đó tôi được định là phải tới đó mà lại không đủ khả năng làm một mình, thì bằng cách nào đó sự trợ giúp sẽ đến, dù chỉ là qua một luồng năng lượng hồng trần tràn vào hay đơn thuần là một ấn tượng mạnh về chỗ nào nên đặt chân và nên đi theo hướng nào. Trước đây tôi đã từng trải nghiệm loại trợ giúp ấy.

It came. This is a record of sober fact, but I must admit that, for a moment, so unexpected was it and so dramatic, that I began to wonder whether I was not suffering from a stroke of the sun, or had developed a new psychic faculty and was seeing visions. For, upon the ridge above my head there appeared a few moments later the figure of a shepherd lad, strangely reminiscent of Greece with his white garments and bare legs and feet. I stared at him in amazement; but his voice reassured me. Within twenty minutes I was safely upon more solid ground and on my way to the summit.

Nó đã đến. Đây là một ghi chép hoàn toàn tỉnh táo về sự kiện, nhưng tôi phải thú nhận rằng, trong chốc lát, vì nó quá bất ngờ và quá kịch tính, tôi bắt đầu tự hỏi liệu mình có đang bị trúng nắng hay đã phát triển một năng lực thông linh mới và đang thấy linh ảnh hay không. Bởi vì, trên gờ núi phía trên đầu tôi, vài khoảnh khắc sau đó hiện ra hình dáng một cậu bé chăn cừu, gợi nhớ kỳ lạ đến Hy Lạp với y phục trắng và đôi chân trần. Tôi nhìn chằm chằm vào cậu trong kinh ngạc; nhưng giọng nói của cậu khiến tôi yên tâm. Trong vòng hai mươi phút tôi đã an toàn trên nền đất vững hơn và đang trên đường lên đỉnh.

The average man will say “coincidence”. Perhaps…. Yet is it not stretching the proverbial arm of coincidence rather far? Later, on my return, I saw the boy again working with a party of harvesters down in the lower fields. Was it not strange that, in the whole vast area of desolate mountain-side, he should “by chance” have wandered at that precise moment over that precise ridge? These people are closer to nature than we, more open to the unseen forces which surround us and therefore more psychic and suggestible. To me, who have learned not to believe in “chance”, it was but another proof of the existence of those influences, or intelligences which, working upon the inner planes in conjunction with the Law, are so often used to answer our need when it is sounded forth upon a vibration of faith. I am certainly prepared to believe, had I not turned to That which is greater than myself, the shepherd boy might have wandered by another track and I might have reached safety, uninjured perhaps, but would certainly not have attained my goal.

Người bình thường sẽ nói “trùng hợp”. Có lẽ…. Tuy nhiên, chẳng phải như thế là kéo cánh tay ngạn ngữ của sự trùng hợp đi quá xa sao? Về sau, trên đường trở xuống, tôi lại thấy cậu bé đang làm việc với một nhóm gặt hái ở những cánh đồng thấp bên dưới. Chẳng phải thật lạ sao khi trong cả một vùng sườn núi hoang vắng mênh mông ấy, cậu lại “tình cờ” đi lang thang đúng vào khoảnh khắc chính xác ấy qua đúng cái gờ núi chính xác ấy? Những người này gần với bản chất hơn chúng ta, cởi mở hơn với những mãnh lực vô hình bao quanh chúng ta và vì thế thông linh hơn và dễ tiếp nhận ám thị hơn. Đối với tôi, người đã học cách không tin vào “ngẫu nhiên”, đó chỉ là một bằng chứng nữa về sự hiện hữu của những ảnh hưởng, hay những trí tuệ, đang hoạt động trên các cõi bên trong phối hợp với Định luật, và thường được dùng để đáp ứng nhu cầu của chúng ta khi nhu cầu ấy được xướng lên trên một rung động của đức tin. Tôi hoàn toàn sẵn sàng tin rằng, nếu tôi đã không hướng về Đấng vĩ đại hơn chính mình, thì cậu bé chăn cừu có thể đã đi theo một lối khác và tôi có thể vẫn tới được nơi an toàn, có lẽ không bị thương, nhưng chắc chắn sẽ không đạt được mục tiêu của mình.

And now instead I lay entranced upon the soft turf and gazed out over this valley to those dazzling glaciers whence came the springs which had sung to us and the airs that had refreshed us and the rains that had hidden all that could be glimpsed of them below, from our sight. For only one was even visible from the valley, a small triangle of whiteness between the guardian flanks of nearer mountains. I had not known that so close these four giants brooded; I had not imagined, down there, that we were ringed about with this incredible purity and strength.

Và giờ đây thay vào đó tôi nằm xuất thần trên thảm cỏ mềm và nhìn ra khắp thung lũng này tới những sông băng chói lòa kia, từ đó phát sinh những mạch nước đã hát cho chúng tôi nghe, những luồng khí đã làm chúng tôi tươi tỉnh, và những cơn mưa đã che khuất khỏi tầm mắt chúng tôi bên dưới tất cả những gì có thể thoáng thấy về chúng. Vì từ thung lũng chỉ có một ngọn là thậm chí còn nhìn thấy được, một tam giác trắng nhỏ giữa những sườn núi canh giữ gần hơn. Tôi đã không biết rằng gần đến thế này bốn người khổng lồ ấy đang trầm mặc bao phủ; tôi đã không hình dung được, ở dưới kia, rằng chúng tôi được bao quanh bởi sự tinh khiết và sức mạnh khó tin này.

I had not known…. I had not known, for thousands of years, of those other Mighty Ones who, like these mountains, brooded over humanity in watchful and silent activity. Teachers, Adepts, Saints—name them how we will—and others too of Whom one could think only with awe; unfailing source of strength and inspiration, pouring down love and guidance upon man who knew them not, nor cared, nor sought to know. Yet now I knew; and when henceforward I was forced to walk in the shadowy valleys, when the threatening shapes of earth rose about me like the nearer mountains, illusively high because they were so close, shutting out with their rocks the vision of the white guardians, just as their shadows shut out so much of the sunlight from those who dwelt at their feet, I should still know what stood behind them, and understanding, would perhaps be able more abundantly to draw on this living energy, rejoice in it, and sometimes perhaps seek it out in its own place.

Tôi đã không biết…. Tôi đã không biết, suốt hàng ngàn năm, về những Đấng Đại Hùng khác kia, những Đấng, như các ngọn núi này, đang trầm mặc bao phủ nhân loại trong hoạt động canh chừng và im lặng. Những Huấn sư, những chân sư, những thánh nhân—gọi Các Ngài bằng tên nào tùy ý—và còn những Đấng khác nữa mà người ta chỉ có thể nghĩ đến với lòng kính sợ; nguồn sức mạnh và cảm hứng không bao giờ cạn, tuôn đổ tình thương và sự hướng dẫn xuống con người, kẻ không biết Các Ngài, cũng chẳng quan tâm, cũng chẳng tìm cách biết. Nhưng giờ đây tôi biết; và từ nay khi tôi buộc phải bước đi trong những thung lũng tối bóng, khi những hình khối đe dọa của đất đai vươn lên quanh tôi như những ngọn núi gần hơn, cao một cách ảo tưởng vì chúng quá gần, lấy những tảng đá của chúng che khuất linh thị về những vị hộ vệ trắng, cũng như bóng của chúng che mất quá nhiều ánh mặt trời khỏi những ai sống dưới chân chúng, thì tôi vẫn sẽ biết điều gì đứng phía sau chúng, và nhờ thấu hiểu, có lẽ sẽ có thể dồi dào hơn mà rút lấy năng lượng sống này, hoan hỉ trong nó, và đôi khi có lẽ tìm đến nó ngay tại nơi chốn của nó.

To know oneself one with Life, that was the secret, but how hard to hold this knowledge.

Biết mình là một với Sự sống, đó là bí mật, nhưng giữ được tri thức ấy khó biết bao.

One cannot stay upon the heights, at any rate until one has reached that stage in evolution where time and place can be abolished by an act of will. Soon I, who was very far from this desirable stage, would have to go back. Why had I come here? Was it to obtain this glimpse that I had been impressed to climb, saved from failure—to say the least of it—by what still seemed to me definite intervention? Was it merely that I should be given this gratification of all my senses, my little personality filled with a joy and peace which I had not been able to find elsewhere? Could it be for such a personal end? I did not think so— there must be more to it than that.

Người ta không thể ở mãi trên những đỉnh cao, ít nhất là cho đến khi đã đạt tới giai đoạn tiến hoá mà thời gian và không gian có thể bị bãi bỏ bằng một hành vi ý chí. Chẳng bao lâu nữa tôi, kẻ còn rất xa giai đoạn đáng mong muốn ấy, sẽ phải quay trở lại. Vì sao tôi đã đến đây? Có phải để có được thoáng nhìn này mà tôi đã được gây ấn tượng phải leo lên, được cứu khỏi thất bại—nói nhẹ nhất là như vậy—bởi điều mà với tôi vẫn dường như là một sự can thiệp rõ rệt? Có phải chỉ để tôi được ban cho sự thỏa mãn của mọi giác quan, để phàm ngã nhỏ bé của tôi được lấp đầy bằng một niềm vui và bình an mà tôi không thể tìm thấy ở nơi khác? Liệu có thể là vì một mục đích cá nhân như thế chăng? Tôi không nghĩ vậy—hẳn phải có điều gì hơn thế.

It was very silent now. There was no wind, no song of water. The sun was intensely hot, yet tempered at this height by a sharpness in the air which filled one with energy and a curious mental clarity.

Giờ đây rất yên lặng. Không có gió, không có tiếng hát của nước. Mặt trời nóng gay gắt, nhưng ở độ cao này được điều hòa bởi một sự sắc lạnh trong không khí khiến người ta tràn đầy năng lượng và một sự sáng rõ trí tuệ kỳ lạ.

I placed myself in an attitude of meditation and waited. The silence grew more intense. My sensitivity increased. And gradually I became aware that the whole valley which I had imagined to be empty, was teeming with life, ranging from nature-spirits to those great devas that ensouled the mountains and seemed to float above them. But soon I began to sense other devas more remote, stupendous Beings whose auras had such amplitude that not the valley alone, but vast tracts of country were suffused by their emanations.

Tôi đặt mình vào một tư thế tham thiền và chờ đợi. Sự im lặng trở nên mãnh liệt hơn. Tính nhạy cảm của tôi tăng lên. Và dần dần tôi nhận biết rằng toàn bộ thung lũng mà tôi từng tưởng là trống rỗng ấy đang đầy tràn sự sống, từ những tinh linh tự nhiên cho đến những thiên thần lớn phú linh cho các ngọn núi và dường như lơ lửng phía trên chúng. Nhưng chẳng bao lâu tôi bắt đầu cảm nhận những thiên thần khác xa hơn, những Hữu thể vĩ đại đến kinh ngạc, có hào quang rộng lớn đến mức không chỉ riêng thung lũng mà cả những vùng đất mênh mông đều được thấm đẫm bởi những phát xạ của các Ngài.

In glinting rainbow hues these currents flowed, widening like ripples when a stone is flung into a pool, to converge and mingle at last with the auras of other great spirits afar off. Sometimes lines of fire zig-zagged back and forth as if they were communicating and sometimes one would blaze up in a glory like a sun, glowing and expanding, until all semblance of form was lost and every spirit in the valley quivered rapturously in the repercussion of its activities.

Trong những sắc cầu vồng lấp lánh, các dòng chảy này tuôn đi, mở rộng như những gợn sóng khi một hòn đá bị ném vào ao, để cuối cùng hội tụ và hòa lẫn với hào quang của những tinh thần vĩ đại khác ở xa. Đôi khi những đường lửa ngoằn ngoèo qua lại như thể các Ngài đang giao tiếp, và đôi khi một vị bừng sáng lên trong một vinh quang như mặt trời, rực cháy và mở rộng, cho đến khi mọi dáng vẻ hình tướng đều mất đi và mọi tinh thần trong thung lũng rung lên xuất thần trong sự dội lại của các hoạt động của vị ấy.

The words “National Devas” came into my mind, and I then realized that indeed these mighty beings did appear to be in some curious way attached—if one may use such an inadequate term—to the country beneath them; but I saw, too, that the currents which they used, flowed out, regardless of man-made frontiers, to unite with those of their brothers who were the chosen guardians of other lands.

Những từ “các thiên thần Quốc gia” hiện vào trí tôi, và khi ấy tôi nhận ra rằng quả thật những hữu thể hùng vĩ này dường như theo một cách kỳ lạ nào đó gắn liền—nếu có thể dùng một từ quá không thích đáng như vậy—với xứ sở bên dưới các Ngài; nhưng tôi cũng thấy rằng những dòng chảy mà các Ngài sử dụng tuôn ra, bất kể những biên giới do con người tạo nên, để hợp nhất với những dòng chảy của các huynh đệ của các Ngài là những vị hộ vệ được chọn của những miền đất khác.

What mysterious work of fusion was in progress here? On earth all was chaotic; from below a mass of whirling, conflicting vibrations poured up to hang, dark and murky, like a fog close to the ground; thought-forms of hatred and jealousy between nations, of frontiers and tariffs, of armaments and intrigues, with fear paramount, father of them all, creating a vortex impossible for those who were in the midst of it to understand or to control.

Công việc dung hợp huyền nhiệm nào đang diễn ra ở đây? Trên Trái Đất mọi sự đều hỗn loạn; từ bên dưới một khối rung động xoáy cuồng, xung đột nhau tuôn lên để treo lơ lửng, tối tăm và đục ngầu, như một màn sương gần mặt đất; những hình tư tưởng của hận thù và ganh ghét giữa các quốc gia, của biên giới và thuế quan, của vũ trang và mưu mô, với sợ hãi là tối thượng, cha đẻ của tất cả chúng, tạo nên một xoáy lực mà những ai ở giữa nó không thể hiểu cũng không thể kiểm soát.

But here above the countries, in the spacious upper airs where great Forms moved majestically and mighty Minds viewed the problems and perplexities of men by far different standards, only what was fine, only what was idealistic and noble, only thought-forms of construction, generated by love could penetrate. This was the great Sorting House of the superconscious mind of man to which he reached up for inspiration and enlightenment; for here all creative energy was garnered in, and all those men who worked for the general good were stimulated by its power.

Nhưng ở đây, phía trên các quốc gia, trong những tầng không gian rộng lớn nơi những Hình tướng vĩ đại chuyển động uy nghi và những Trí Tuệ hùng mạnh nhìn các vấn đề và rối ren của con người bằng những tiêu chuẩn hoàn toàn khác, chỉ những gì tinh tế, chỉ những gì lý tưởng và cao quý, chỉ những hình tư tưởng xây dựng, được tạo ra bởi bác ái, mới có thể xuyên tới. Đây là Nhà Phân Loại lớn của siêu tâm thức con người, nơi y vươn lên để tìm cảm hứng và soi sáng; vì ở đây mọi năng lượng sáng tạo đều được gom tụ vào, và mọi người nam và nữ hoạt động vì lợi ích chung đều được kích thích bởi quyền năng của nó.

But presently I realized that not alone the constructive efforts of man on earth were utilized by these Guardians of the Race. Destructive activities were also guided, as far as possible, into channels capable of later development, and used to break up those existing conditions which were retrograde or static, thus eventually opening the way for an influx of that energy, idealism and faith which are ever generated in an age of struggle and apparent defeat. Man’s free will was untouched, but I saw very clearly now the way that Greater Will, the “Providence that shapes our end”, turned all things into good. The Whole would not ultimately suffer through the stupidity and blindness of the part.

Nhưng rồi tôi nhận ra rằng không chỉ riêng những nỗ lực xây dựng của con người trên Trái Đất được các Đấng Hộ Vệ của Nhân loại này sử dụng. Những hoạt động hủy diệt cũng được hướng dẫn, trong mức có thể, vào những kênh có khả năng phát triển về sau, và được dùng để phá vỡ những điều kiện hiện hữu đang thoái hóa hay trì trệ, nhờ đó cuối cùng mở đường cho một luồng năng lượng, lý tưởng và đức tin tràn vào, những thứ luôn luôn được tạo ra trong một thời đại đấu tranh và thất bại bề ngoài. Tự do ý chí của con người không bị đụng chạm, nhưng giờ đây tôi thấy rất rõ cách mà Ý Chí Vĩ Đại hơn ấy, “Thiên Nhiên định hình cứu cánh của chúng ta”, biến mọi sự thành điều thiện. Toàn Thể rốt cuộc sẽ không phải chịu tổn hại vì sự ngu xuẩn và mù quáng của bộ phận.

I was aware then that one approached. He stood by my side; his vibration enveloped me again in serenity and bliss. Here, in the silence, his voice spoke to my heart once more.

Khi ấy tôi nhận biết rằng có một Đấng đang đến gần. Ngài đứng bên cạnh tôi; rung động của Ngài lại bao bọc tôi trong sự tĩnh lặng và chí phúc. Ở đây, trong im lặng, tiếng nói của Ngài lại một lần nữa cất lên với trái tim tôi.

“Nothing is lost,” he said, “nothing is wasted. It is often asked why all things must suffer, must struggle, must apparently decline and pass into obscuration. But since only through complete self-consciousness can Godconsciousness be attained, it follows that those units alone that have passed through every experience both terrible and beautiful, destructive and creative, physical and spiritual, and who have gathered up into themselves innumerable aspects of the life-force, are capable of understanding the struggles of all the other units and of helping them also to develop towards the ideal.

“Không gì bị mất,” Ngài nói, “không gì bị phí hoài. Người ta thường hỏi vì sao mọi sự phải đau khổ, phải đấu tranh, phải dường như suy tàn và đi vào che khuất. Nhưng vì chỉ qua ngã thức trọn vẹn mà tâm thức Thượng đế mới có thể đạt được, nên theo đó chỉ những đơn vị nào đã đi qua mọi kinh nghiệm, cả khủng khiếp lẫn đẹp đẽ, hủy diệt lẫn sáng tạo, hồng trần lẫn tinh thần, và đã thu góp vào chính mình vô số phương diện của lực sự sống, mới có khả năng thấu hiểu những cuộc đấu tranh của tất cả các đơn vị khác và cũng giúp họ phát triển hướng tới lý tưởng.

“Today you have been made to realize as never before the underlying unity which binds all manifestations of Life together. You have perceived the work of those great National Devas which strive to bring peace, harmony and love between peoples and to destroy the barriers which pride and fear have for so long built up to separate them.

“Hôm nay bạn đã được làm cho chứng nghiệm như chưa từng có trước đây về sự hợp nhất nền tảng gắn kết mọi biểu hiện của Sự sống lại với nhau. Bạn đã nhận biết công việc của những thiên thần Quốc gia vĩ đại ấy đang nỗ lực mang lại hòa bình, hài hòa và bác ái giữa các dân tộc và phá hủy những rào cản mà kiêu hãnh và sợ hãi đã xây lên từ lâu để chia cách họ.

“The world is at the present time passing through what seems to be a terrible period of chaotic and apparently aimless stress. Actually nations are striving to work off their Karma and develop a truer sense of perspective and a greater understanding of the deep necessities for cooperation. For do not forget that nations follow the same method of evolution as individuals. They have their childhood, like men; their passionate and romantic age of adolescence, their maturity, their age, their decline—and their death. Sometimes, as in the lives of men, there is anarchy, sometimes defeat; sometimes what appears to be a retrograde movement takes place; sometimes will seeks to rule at the expense of Law, and reaction from previous errors in judgement manifests in fanaticism and tyranny. All natural growth is slow; and when the pace is forced too violently some form of disruption nearly always ensues. But the general trend is towards group harmony and brotherhood. Study history with an enlightened mind and you will be able to refute the assertions of those who say man has not progressed. Fie has within him, of course, remnants of the stages he has outgrown; he has relapses, and the more advanced in knowledge he becomes, the more terrible are the results of these relapses. But through these, too, he learns, nationally as well as individually. Seek through meditation to discover for yourself the Law of Correspondence which manifests throughout the mighty Scheme of which you are a part, and try to realize that from the smallest atom to the greatest Planetary Spirit all progress through the same cyclic movement upwards towards that state which cannot yet be known and upon which it is useless even for us to speculate.”

“Hiện nay thế giới đang đi qua điều dường như là một thời kỳ khủng khiếp của sự căng thẳng hỗn loạn và bề ngoài vô mục đích. Thực ra các quốc gia đang cố gắng giải tỏa nghiệp quả của mình và phát triển một ý thức chân thực hơn về tỉ lệ cùng một sự thấu hiểu lớn hơn đối với những nhu cầu sâu xa của hợp tác. Vì đừng quên rằng các quốc gia đi theo cùng một phương pháp tiến hoá như các cá nhân. Họ có thời thơ ấu của mình, như con người; thời niên thiếu đầy đam mê và lãng mạn, thời trưởng thành, tuổi già, sự suy tàn—và cái chết. Đôi khi, như trong đời sống con người, có vô chính phủ, đôi khi có thất bại; đôi khi điều có vẻ là một chuyển động thoái bộ xảy ra; đôi khi ý chí tìm cách cai quản bằng cái giá của Định luật, và phản ứng từ những sai lầm phán đoán trước đây biểu lộ thành cuồng tín và bạo quyền. Mọi tăng trưởng tự nhiên đều chậm; và khi nhịp độ bị cưỡng ép quá dữ dội thì gần như luôn luôn có một hình thức đổ vỡ nào đó xảy ra. Nhưng xu hướng chung là hướng tới hài hòa nhóm và tình huynh đệ. Hãy nghiên cứu lịch sử với một trí tuệ được soi sáng và bạn sẽ có thể bác bỏ những khẳng định của những kẻ nói rằng con người đã không tiến bộ. Dĩ nhiên, y vẫn còn trong mình những tàn dư của các giai đoạn mà y đã vượt qua; y có những lần tái phát, và y càng trở nên tiến bộ hơn trong tri thức bao nhiêu thì kết quả của những lần tái phát ấy càng khủng khiếp bấy nhiêu. Nhưng qua cả những điều này nữa, y học hỏi, trên bình diện quốc gia cũng như cá nhân. Hãy tìm qua tham thiền để tự mình khám phá định luật tương ứng biểu lộ khắp Hệ hành tinh hùng vĩ mà bạn là một phần trong đó, và cố chứng nghiệm rằng từ nguyên tử nhỏ nhất đến Chân Linh Hành Tinh vĩ đại nhất, tất cả đều tiến triển qua cùng một chuyển động chu kỳ đi lên hướng tới trạng thái chưa thể được biết đến ấy, và về trạng thái đó ngay cả đối với chúng ta việc suy đoán cũng là vô ích.”

His voice ceased. I gazed out over the mountains and contacted for a moment, it seemed, the conflicting rhythms of those multitudinous lives. How close these countries seemed with their problems, their hopes, their dreams and blind impulses! Yes, like men indeed they were; they, too, had their subconscious minds filled with ancient taboos and primitive tendencies; they, too, had that superconscious spirit which sought to guide, educate and control its body of manifestation. Yet beyond even these, faintly I sensed something more vast—some greater Life: the Planetary Lord, perhaps, of which all else here was a part. And Fie—was He not part of a greater Being yet? On and on… My mind reeled at the thought. Useless indeed was speculation! Enough for me to try and grasp the little that I had been shown, to try to solve the problems near at hand and play my part, however small, in seeking, as my teacher had once said, to bring some harmony into the turmoil of this age of Mars, the Destroyer.

Tiếng nói của Ngài ngừng lại. Tôi nhìn ra khắp núi non và dường như trong một khoảnh khắc tiếp xúc được với những nhịp điệu xung đột của vô số sự sống ấy. Những xứ sở này với các vấn đề, hy vọng, giấc mơ và những xung lực mù quáng của chúng dường như gần biết bao! Phải, quả thật chúng giống như con người; chúng cũng có những trí tuệ tiềm thức đầy những cấm kỵ cổ xưa và những khuynh hướng nguyên thủy; chúng cũng có tinh thần siêu tâm thức ấy đang tìm cách hướng dẫn, giáo dục và kiểm soát thể biểu hiện của mình. Tuy nhiên vượt lên trên cả những điều ấy, mơ hồ tôi cảm nhận một cái gì còn bao la hơn—một Sự sống lớn hơn nào đó: có lẽ là Đức Chúa Tể Hành Tinh, mà mọi thứ khác ở đây đều là một phần của Ngài. Và Ngài—chẳng phải Ngài lại là một phần của một Hữu thể còn vĩ đại hơn nữa sao? Mãi mãi tiếp diễn… Trí tôi choáng váng trước ý nghĩ ấy. Quả thật suy đoán là vô ích! Với tôi, chỉ cần cố nắm bắt chút ít điều đã được chỉ cho mình, cố giải quyết những vấn đề gần kề và đóng vai trò của mình, dù nhỏ bé đến đâu, trong việc tìm cách, như huấn sư của tôi đã từng nói, mang một ít hài hòa vào cơn hỗn loạn của thời đại Sao Hỏa, Đấng Hủy Diệt, này.

His thought answered mine. “Yes,” he replied, “it is practical idealists we need, not those who are apt to lose themselves in the fascinating mazes of cosmic speculations —although it helps the worker if he can realize what Powers stand behind him. We need those who can appreciate the inestimable treasures of wisdom which we have already given to mankind and re-interpret them according to the requirements of the present age.

Tư tưởng của Ngài đáp lại tư tưởng tôi. “Đúng vậy,” Ngài đáp, “điều chúng ta cần là những nhà lý tưởng thực tiễn, chứ không phải những người dễ lạc mất trong những mê cung hấp dẫn của các suy đoán vũ trụ—mặc dù điều đó giúp ích cho người hoạt động nếu y có thể chứng nghiệm những Quyền Năng nào đang đứng sau y. Chúng ta cần những người có thể trân trọng những kho tàng minh triết vô giá mà chúng ta đã ban cho nhân loại và diễn giải lại chúng theo những đòi hỏi của thời đại hiện nay.

“For the cry of the world which is experiencing that temporary disorientation inseparable from a phase when new values are being sought and old ones discarded with such rapidity, is now for new light, new guidance, new answers to those eternal problems which in one guise or another ever confront mankind. Some think there must come a fresh outpouring of wisdom; some believe in the advent of a new Messiah, others are for going back and seeking enlightenment from the religions of earlier ages. But what is most curious is that the majority still persist in ignoring that very revelation which was sent expressly to serve the modern world. Few seem to realize that mankind in general has not yet begun to assimilate the wisdom which was given out two thousand years ago, nor has any genuine attempt so far been made to follow out those teachings to their logical conclusion. Why then should some new teaching be expected until they do?

“Vì tiếng kêu của thế giới, đang trải qua sự mất định hướng tạm thời không thể tách rời khỏi một giai đoạn khi những giá trị mới đang được tìm kiếm và những giá trị cũ bị loại bỏ với tốc độ quá nhanh, hiện nay là đòi hỏi ánh sáng mới, sự hướng dẫn mới, những câu trả lời mới cho những vấn đề vĩnh cửu mà dưới hình thức này hay hình thức khác luôn đối diện nhân loại. Một số người nghĩ phải có một lần tuôn đổ minh triết mới; một số tin vào sự giáng lâm của một Đấng Messiah mới, những người khác lại muốn quay về và tìm giác ngộ từ các tôn giáo của những thời đại trước. Nhưng điều kỳ lạ nhất là đa số vẫn cứ khăng khăng phớt lờ chính sự mặc khải đã được gửi đến đặc biệt để phụng sự thế giới hiện đại. Dường như ít ai nhận ra rằng nhân loại nói chung vẫn chưa bắt đầu đồng hóa minh triết đã được ban ra cách đây hai ngàn năm, và cho đến nay cũng chưa có nỗ lực chân chính nào được thực hiện để theo đuổi những giáo huấn ấy đến kết luận hợp lý của chúng. Vậy thì tại sao lại phải mong đợi một giáo huấn mới nào đó cho đến khi họ làm như vậy?

EPILOGUE

KẾT TỪ

“I would have you consider this question: if the world had become Christian in the full meaning of the term—in other words, if every man on earth were behaving in his private life as Christ suggested he should behave, would there be any so-called ‘modern problems’? Would the world be in any of the difficulties in which it finds itself today? This civilization of which some of you appear to be so proud, but which in reality is so primitive that in later incarnations you will look upon it much as you look upon that of certain native states, is the direct result of mankind’s incapacity to understand and appreciate the divine promises contained in the doctrine of the Christ. For the teachings given to mankind are always synchronized to the needs of the age and race to which they are revealed; as evolution proceeds each great founder of religion repeats and amplifies previous teachings, seeking to correct those errors in interpretation which have crept in and distorted the truth. Christianity has suffered also from such errors; it has been debased and changed by men desiring to twist it to their own ends—councils of Churchmen afraid for their prestige, bigots, fanatics, and those ignorant of the enduring power of the Word. But the Word cannot be destroyed; in the end truth will prevail. The teaching of Christ was the synthesis of all that had gone before, His was the focal point, the apex of the triangle of Wisdom, turned down for an instant, like a dazzling spear-head of flame, to pierce the murk of the world. He expounded to mankind the perfect and everlasting Law, not for this age and this race alone, but for every race and for every age. ‘Love God and love thy neighbour as thyself’; Tn what measure ye mete it shall be measured to you again.’ Here, in two burning sentences is the Law complete. If every cult and religion were wiped out of existence and only this remained—it would be enough; for to the man who followed this Law without shadow of turning, all other things, all knowledge, all wisdom, all power and bliss would inevitably be added.

“Tôi muốn bạn suy xét câu hỏi này: nếu thế giới đã trở thành Cơ Đốc giáo theo ý nghĩa trọn vẹn của thuật ngữ ấy—nói cách khác, nếu mọi người nam và nữ trên Trái Đất đều cư xử trong đời sống riêng của mình như Đức Christ đã gợi ý y nên cư xử—thì liệu có còn bất kỳ cái gọi là ‘vấn đề hiện đại’ nào không? Liệu thế giới có ở trong bất kỳ khó khăn nào mà ngày nay nó đang gặp phải không? Nền văn minh này mà một số bạn dường như rất tự hào, nhưng thực ra lại nguyên thủy đến mức trong những lần lâm phàm sau này các bạn sẽ nhìn nó gần như cách các bạn nhìn nền văn minh của một số quốc gia bản địa nào đó, là kết quả trực tiếp của sự bất lực của nhân loại trong việc thấu hiểu và trân trọng những lời hứa thiêng liêng chứa đựng trong giáo lý của Đức Christ. Vì những giáo huấn được ban cho nhân loại luôn luôn được đồng bộ với những nhu cầu của thời đại và nhân loại mà chúng được mặc khải; khi tiến hoá tiếp diễn, mỗi vị sáng lập tôn giáo vĩ đại đều lặp lại và mở rộng những giáo huấn trước đó, tìm cách sửa chữa những sai lầm trong diễn giải đã len vào và bóp méo chân lý. Cơ Đốc giáo cũng đã chịu những sai lầm như thế; nó đã bị hạ thấp và biến đổi bởi những người muốn bẻ cong nó theo mục đích riêng của họ—những hội đồng giáo sĩ sợ mất uy tín, những kẻ cố chấp, cuồng tín, và những người không biết đến quyền năng trường cửu của Linh từ. Nhưng Linh từ không thể bị hủy diệt; cuối cùng chân lý sẽ thắng thế. Giáo huấn của Đức Christ là sự tổng hợp của tất cả những gì đã có trước đó, của Ngài là tiêu điểm, là đỉnh của tam giác Minh triết, trong khoảnh khắc quay xuống, như một mũi lao lửa chói lòa, để xuyên thủng màn u ám của thế giới. Ngài đã giảng giải cho nhân loại Định luật hoàn hảo và vĩnh cửu, không chỉ cho thời đại này và nhân loại này, mà cho mọi nhân loại và mọi thời đại. ‘Hãy yêu Thượng đế và yêu người lân cận như chính mình’; ‘Các ngươi đong bằng đấu nào thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy.’ Ở đây, trong hai câu bừng cháy, Định luật đã trọn vẹn. Nếu mọi giáo phái và tôn giáo đều bị xóa khỏi hiện hữu và chỉ còn lại điều này—thì cũng đã đủ; vì đối với con người nào theo Định luật này không hề lay chuyển, mọi điều khác, mọi tri thức, mọi minh triết, mọi quyền năng và chí phúc tất yếu sẽ được thêm cho y.

“You think now that it is impossible to live this law, to build a civilization upon it? I tell you it is not impossible. Mankind, through a multitude of bitter experiments, will come one day to the realization that life lived as Christ taught and lived it, is the only method through which happiness and harmony for the individual as well as for the race can be attained. Men talk of the Millenium—they do not realize that Christ gave them the key to that age of perfection. Let man not waste time looking for a new doctrine, nor for a new age to come upon the earth; divine gifts are not thrust into closed hands. The new age must proceed from the changed heart of each individual man and woman; the Second Coming will be the coming of the Christ Spirit manifesting in each body of flesh through the effort and aspiration of its owner. Before this can be, each man must first build himself upon the perfect pattern, for until the vessel be without a flaw how shall it hold the very Wine of Life itself?

“Giờ đây các bạn nghĩ rằng không thể sống theo định luật này, không thể xây dựng một nền văn minh trên đó sao? Tôi nói với các bạn rằng điều đó không phải là bất khả. Nhân loại, qua vô số thử nghiệm cay đắng, một ngày kia sẽ đi đến chứng nghiệm rằng đời sống được sống như Đức Christ đã dạy và đã sống, là phương pháp duy nhất nhờ đó hạnh phúc và hài hòa cho cá nhân cũng như cho nhân loại có thể đạt được. Con người nói về Thiên niên kỷ—họ không nhận ra rằng Đức Christ đã trao cho họ chiếc chìa khóa của thời đại hoàn hảo ấy. Chớ để con người phí thời gian tìm kiếm một giáo lý mới, cũng đừng tìm một thời đại mới sẽ đến trên Trái Đất; những tặng phẩm thiêng liêng không bị nhét vào những bàn tay khép kín. Kỷ nguyên mới phải khởi đi từ trái tim đã đổi thay của mỗi người nam và nữ; Sự Tái Lâm sẽ là sự đến của Tinh thần Christ biểu lộ trong mỗi thể xác qua nỗ lực và khát vọng của chủ nhân nó. Trước khi điều này có thể xảy ra, mỗi người trước hết phải tự xây dựng chính mình theo mô hình hoàn hảo, vì nếu chiếc bình chưa không tì vết thì làm sao nó có thể chứa chính Rượu của Sự sống?”

“This is not yet understood. Men prefer to look without rather than within for revelations—it is so much easier. Yet it must be understood if humanity is to be saved from fresh disasters. Dimly the masses are aware of their desperate plight and their overwhelming need. The majority are not yet capable of rediscovering truth from that abyss of error into which it has been plunged; therefore leaders are necessary, servants of truth, lovers of humanity, yet withal men and women trained in the technique of modern methods of expression.

“Điều này vẫn chưa được thấu hiểu. Con người thích tìm kiếm sự mặc khải ở bên ngoài hơn là bên trong—vì như thế dễ hơn nhiều. Tuy nhiên, điều đó phải được thấu hiểu nếu nhân loại muốn được cứu khỏi những tai họa mới. Một cách mơ hồ, quần chúng ý thức được hoàn cảnh tuyệt vọng của mình và nhu cầu áp đảo của mình. Đa số vẫn chưa có khả năng tái khám phá chân lý từ vực thẳm sai lầm mà chân lý đã bị ném vào; vì vậy, các nhà lãnh đạo là cần thiết, những người phụng sự chân lý, những người yêu thương nhân loại, nhưng đồng thời cũng là những người nam và nữ được huấn luyện trong kỹ thuật của các phương pháp biểu đạt hiện đại.

“Any such who are possessed at the same time of the potentialities of leadership, are now being very carefully watched by those former leaders of the Race who have stepped out of the cycle of lives and deaths and, living upon the heights, can look down on the confusions of nations and peoples, seeing the whole design with its tendencies and aims, just as you, looking down from this height, can see in what direction lead the hundreds of little paths, while to those who walk upon them only the difficulties just ahead can be perceived.

“Bất kỳ ai như thế mà đồng thời sở hữu các tiềm năng lãnh đạo, hiện nay đang được theo dõi hết sức cẩn trọng bởi những vị lãnh đạo trước đây của nhân loại, những vị đã bước ra khỏi chu kỳ sống và chết và, sống trên các đỉnh cao, có thể nhìn xuống những hỗn loạn của các quốc gia và dân tộc, thấy được toàn bộ mô hình với các khuynh hướng và mục tiêu của nó, cũng như bạn, khi nhìn xuống từ độ cao này, có thể thấy hàng trăm lối mòn nhỏ dẫn theo hướng nào, trong khi đối với những người đang bước trên chúng, chỉ những khó khăn ngay phía trước mới có thể được nhận ra.

“Our work is mainly concerned with this development. But as we cannot contact directly the majority of people who are engaged in the dust of conflict and are too preoccupied, deafened and bewildered by the struggle to receive the ideas with which we would impress them, our one hope is to do so indirectly through those other men and women who are willing to become our instruments and are ready to sacrifice everything and train themselves so as to be able to correlate a knowledge of spiritual forces with those more mundane activities which their brothers are pursuing—oft-times so blindly.

“Công việc của chúng tôi chủ yếu liên quan đến sự phát triển này. Nhưng vì chúng tôi không thể tiếp xúc trực tiếp với đa số những người đang bị cuốn trong bụi mù xung đột và quá bận bịu, bị cuộc đấu tranh làm cho điếc đặc và hoang mang đến mức không thể tiếp nhận những ý tưởng mà chúng tôi muốn thấm nhuần nơi họ, nên niềm hy vọng duy nhất của chúng tôi là làm điều đó một cách gián tiếp thông qua những người nam và nữ khác, những người sẵn lòng trở thành công cụ của chúng tôi và sẵn sàng hi sinh mọi sự và tự huấn luyện mình để có thể tương liên tri thức về các mãnh lực tinh thần với những hoạt động trần thế hơn mà các huynh đệ của họ đang theo đuổi—thường là một cách quá mù quáng.

“In order to facilitate this work at no great distance of time certain spiritual Centres will be founded in different places, particularly in the West. There are, scattered throughout the world, highly magnetized spots attuned to specific rates of vibration synchronized to definite epochs in the evolution of mankind. In these spots power is stored and great Beings are set to guard them, permitting access to those alone who, either consciously on the physical plane or sometimes only in their higher bodies are aware of what is to be done there. At the right moment, pupils will be sent to these places to draw upon the power and under direction of their teachers, will be shown how it is to be used. Groups will be formed and centres for meditation chosen where these pupils can work in close contact with their inner groups and teachers, undisturbed by the confusing emanations inseparable from closer contact with civilization. Scattered throughout the world these groups will constitute the links in the mystic chain destined eventually to unite mankind with its spiritual leaders and usher in a new age of peace and occult development.

“Để tạo thuận lợi cho công việc này, trong một thời gian không xa nữa, một số Trung tâm tinh thần sẽ được thành lập ở nhiều nơi khác nhau, đặc biệt là ở phương Tây. Rải rác khắp thế giới có những địa điểm được từ hóa cao độ, được chỉnh hợp với những mức rung động đặc thù, đồng bộ với những thời kỳ xác định trong tiến hoá của nhân loại. Trong những địa điểm này, quyền năng được tích trữ và các Đấng Vĩ Đại được đặt để canh giữ chúng, chỉ cho phép những ai, hoặc có ý thức trên cõi hồng trần hoặc đôi khi chỉ trong các thể cao hơn của mình, biết được điều gì phải được thực hiện ở đó, mới được tiếp cận. Vào đúng lúc, các môn sinh sẽ được gửi đến những nơi này để rút lấy quyền năng, và dưới sự chỉ dẫn của các huấn sư của mình, sẽ được chỉ cho biết quyền năng ấy phải được sử dụng như thế nào. Các nhóm sẽ được hình thành và các trung tâm tham thiền sẽ được chọn, nơi các môn sinh này có thể làm việc trong sự tiếp xúc mật thiết với các nhóm bên trong và các huấn sư của mình, không bị quấy nhiễu bởi những phát xạ gây rối vốn không thể tách rời khỏi sự tiếp xúc gần hơn với nền văn minh. Rải rác khắp thế giới, các nhóm này sẽ cấu thành những mắt xích trong chuỗi thần bí mà cuối cùng được định sẵn để hợp nhất nhân loại với các vị lãnh đạo tinh thần của mình và mở ra một kỷ nguyên mới của hòa bình và sự phát triển huyền bí học.

‘Many are already being trained to enter these groups, but comparatively few will be capable of rising to this great opportunity unless they strive with all their will towards the goal. For very special qualifications will be demanded of them. Too many groups and movements in the past have been ruined by the lack of capacity for selfless service and the inclination to emphasize the importance of personalities which has characterized leaders and members alike. This has led to jealousy, pride and all the petty emotional manifestations of the lower self and has eventually undermined and destroyed these efforts of the Great Ones to serve humanity. Therefore this time particular care will be taken to choose only those who have been proved to be above such weaknesses. Loyalty, a just appreciation of values, harmlessness and emotional balance coupled with a desire to serve so ardent and one-pointed that it will have burned out any thought of personal achievement, will be the pre-requisites for this work.

“Hiện đã có nhiều người đang được huấn luyện để gia nhập các nhóm này, nhưng tương đối ít người sẽ có khả năng vươn lên nắm lấy cơ hội lớn lao này trừ phi họ phấn đấu bằng toàn bộ ý chí của mình hướng tới mục tiêu. Vì những phẩm chất rất đặc biệt sẽ được đòi hỏi nơi họ. Quá nhiều nhóm và phong trào trong quá khứ đã bị hủy hoại bởi sự thiếu khả năng phụng sự vô ngã và bởi khuynh hướng nhấn mạnh tầm quan trọng của các phàm ngã, điều đã đặc trưng cho cả người lãnh đạo lẫn thành viên. Điều này đã dẫn đến đố kỵ, kiêu hãnh và mọi biểu hiện cảm xúc nhỏ nhen của phàm ngã, và cuối cùng đã làm suy yếu rồi phá hủy những nỗ lực này của Các Đấng Cao Cả nhằm phụng sự nhân loại. Vì vậy, lần này sự cẩn trọng đặc biệt sẽ được thực hiện để chỉ chọn những ai đã được chứng minh là vượt lên trên những yếu kém như thế. Trung thành, sự đánh giá đúng đắn các giá trị, tính vô tổn hại và sự quân bình cảm xúc, kết hợp với một ước muốn phụng sự mãnh liệt và nhất tâm đến mức đã thiêu rụi mọi ý nghĩ về thành tựu cá nhân, sẽ là những điều kiện tiên quyết cho công việc này.

“The need is urgent for such workers—more urgent than you know. It is essential for the salvation of humanity that all these barriers of separativeness between nation and nation, between individual and individual, should be broken down—and that soon.

“Nhu cầu về những người hoạt động như thế là khẩn thiết—khẩn thiết hơn bạn biết. Điều cốt yếu cho sự cứu rỗi của nhân loại là tất cả những rào cản của tính chia rẽ giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa cá nhân này với cá nhân khác, phải bị phá bỏ—và phải sớm như vậy.

“This can only be done by the enlightened. It matters not what may be their creed or race, the form their activities take or the name they give to their goal. Musicians, doctors, scientists, poets, artists, social workers of all kinds, every idealist, every dreamer who strives to make his dreams a reality, these are our co-workers, these our instruments.

“Điều này chỉ có thể được thực hiện bởi những người giác ngộ. Tín điều hay nhân loại của họ là gì không quan trọng, hoạt động của họ mang hình thức nào hay họ đặt cho mục tiêu của mình cái tên gì cũng không quan trọng. Nhạc sĩ, bác sĩ, nhà khoa học, thi sĩ, nghệ sĩ, những người hoạt động xã hội thuộc mọi loại, mọi nhà lý tưởng, mọi người mộng tưởng đang cố biến giấc mơ của mình thành hiện thực, đó là những cộng sự viên của chúng tôi, đó là những công cụ của chúng tôi.

“We ask, we appeal to all those who love humanity and are desirous of participating in this great work of preparation and regeneration, to make a superlative effort to prepare themselves that they may indeed be fitted to receive the baptism of the New Age.

“Chúng tôi yêu cầu, chúng tôi kêu gọi tất cả những ai yêu thương nhân loại và mong muốn tham dự vào công việc lớn lao này của sự chuẩn bị và tái sinh, hãy nỗ lực ở mức cao nhất để chuẩn bị chính mình hầu thực sự xứng hợp tiếp nhận phép rửa tội của Kỷ Nguyên Mới.

“We say to these men and women: ‘Speak peace, think peace, work unceasingly for peace. If your scope at first seems limited do not despair, begin by exerting your influence in your own immediate circle and as your power for good grows, so will the circle widen about you. Exercise self-knowledge, self-judgement, and self-control; without these no progress can be made. Think right thoughts, refuse to be caught up in the vortex of fear and hate and greed which is raging about you. Seek to bring harmony into every life that touches yours; never stir up the embers of suspicion and of jealousy. Keep a guard over your tongue and let your thoughts be always positive, helpful, and filled with love. Let each one refuse to listen to scandal or to repeat it, whether it touches personal or national life. Remember ever how mighty is the power of the word; scandalmongers stand dangerously near to the Left Hand Path and are used by the Dark Forces more often than they would care to know.

“Chúng tôi nói với những người nam và nữ này: ‘Hãy nói hòa bình, nghĩ hòa bình, làm việc không ngừng cho hòa bình. Nếu lúc đầu phạm vi của bạn có vẻ hạn hẹp, đừng tuyệt vọng; hãy bắt đầu bằng cách phát huy ảnh hưởng của mình trong vòng tròn gần gũi trực tiếp của riêng bạn, và khi quyền năng hướng thiện của bạn tăng trưởng, vòng tròn quanh bạn cũng sẽ mở rộng theo. Hãy thực hành tự tri, tự phán xét và tự chủ; không có những điều này thì không thể có tiến bộ. Hãy nghĩ những tư tưởng đúng đắn, từ chối để mình bị cuốn vào cơn lốc sợ hãi, hận thù và tham lam đang cuồng nộ quanh bạn. Hãy tìm cách mang hòa điệu vào mọi cuộc đời chạm đến cuộc đời bạn; đừng bao giờ khơi lại những tàn than của ngờ vực và đố kỵ. Hãy canh giữ lời nói của mình và để cho tư tưởng của bạn luôn tích cực, hữu ích và tràn đầy bác ái. Hãy để mỗi người từ chối lắng nghe chuyện phỉ báng hay lặp lại nó, dù nó liên quan đến đời sống cá nhân hay đời sống quốc gia. Hãy luôn nhớ quyền năng của lời nói mạnh mẽ biết bao; những kẻ gieo chuyện phỉ báng đứng gần tả đạo một cách nguy hiểm và bị các Mãnh Lực Hắc Ám sử dụng thường xuyên hơn nhiều so với điều họ muốn biết.

“ ‘Shun, therefore, the repetition of idle rumours, talk of strife and of the imminence of wars. We are doing all we can to avert another international conflagration from our side by trying to impress those who are sensitive to our influence with our foresight and wisdom. You on earth can either aid us in this work or, if you choose, aid the forces of evil which seek to bring conflict upon mankind by disseminating the poison-germs of suspicion and hatred. Learn to sift the true from the false. Be quick to recognize dangers, but do not speak of them unless it is necessary, lest the ignorant and timorous fan your sparks into flame. Be slow to judge all men but particularly other nations who, albeit by paths different from yours, are yet seeking the same goal. Remember, only temporarily are you attached to any particular national life. Those alien characteristics, faults and vices which you comdemn have been your own in the past and by that very condemnation you may be binding yourself to them in future incarnations. The life of a nation is but the reflection of certain trends of human development and these are the result of innumerable causes which must work out in specific effects on a larger scale than that of the single individual; but a nation also receives the judgement it has meted out to others, and when it is in the throes of rebirth, suffering the agonies of karmic retribution or, through lack of vision, creating anew causes for which it will have to pay in the fullness of time, it is for other nations to understand, to pity, to hold out a helping hand, to strengthen and to love—not to condemn and attack. This may seem too much to ask of mankind as it is now, but the whole can only grow through the growth of its individual members and by their example.

“ ‘Vì vậy, hãy tránh lặp lại những tin đồn vô ích, những lời bàn về xung đột và về sự cận kề của chiến tranh. Về phía chúng tôi, chúng tôi đang làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn một cuộc đại hỏa hoạn quốc tế khác bằng cách cố gắng thấm nhuần nơi những ai nhạy cảm với ảnh hưởng của chúng tôi sự tiên liệu và minh triết của chúng tôi. Các bạn trên Trái Đất có thể hoặc trợ giúp chúng tôi trong công việc này, hoặc, nếu các bạn chọn, trợ giúp các mãnh lực của điều ác đang tìm cách mang xung đột đến cho nhân loại bằng cách phát tán những mầm độc của ngờ vực và hận thù. Hãy học cách sàng lọc điều chân thật khỏi điều giả dối. Hãy mau lẹ nhận ra những nguy hiểm, nhưng đừng nói về chúng trừ khi cần thiết, kẻo những người vô minh và nhút nhát thổi những tia lửa của bạn thành ngọn lửa. Hãy chậm phán xét mọi người, nhưng đặc biệt là các quốc gia khác, những quốc gia mà, dù đi theo những con đường khác với con đường của bạn, vẫn đang tìm kiếm cùng một mục tiêu. Hãy nhớ rằng chỉ tạm thời bạn mới gắn với một đời sống quốc gia nào đó. Những đặc tính xa lạ, những lỗi lầm và thói xấu mà bạn lên án đã từng là của chính bạn trong quá khứ, và chính bởi sự lên án đó mà bạn có thể đang tự ràng buộc mình với chúng trong những lần lâm phàm tương lai. Đời sống của một quốc gia chỉ là sự phản chiếu của một số xu hướng trong sự phát triển của con người, và những xu hướng này là kết quả của vô số nguyên nhân phải tự biểu lộ thành những hiệu quả đặc thù trên một quy mô lớn hơn quy mô của cá nhân đơn lẻ; nhưng một quốc gia cũng nhận lấy sự phán xét mà nó đã dành cho kẻ khác, và khi nó đang trong cơn quặn thắt của tái sinh, chịu đựng những thống khổ của sự báo ứng nghiệp quả hoặc, do thiếu tầm nhìn, lại tạo ra những nguyên nhân mới mà đến đúng thời kỳ nó sẽ phải trả giá, thì bổn phận của các quốc gia khác là thấu hiểu, thương xót, đưa bàn tay trợ giúp, củng cố và yêu thương—chứ không phải lên án và tấn công. Điều này có thể dường như đòi hỏi quá nhiều nơi nhân loại như hiện nay, nhưng toàn thể chỉ có thể tăng trưởng thông qua sự tăng trưởng của các thành viên cá biệt của nó và bằng gương mẫu của họ.

*Your League of Nations which the short-sighted despise because of its many imperfections (forgetting their own) is mankind’s first tentative effort towards creating an ideal pattern for the future. It is the seed from which the great tree of international unity will ultimately spring, and everyone who gives it encouragement who thinks and acts with pure love in his heart is hastening that consummation; for the dreams of the idealist of today are the accepted commonplaces of the masses tomorrow.

*Hội Quốc Liên của các bạn, điều mà những kẻ thiển cận khinh miệt vì nhiều khiếm khuyết của nó (mà quên đi những khiếm khuyết của chính họ), là nỗ lực thử nghiệm đầu tiên của nhân loại nhằm tạo ra một mô hình lý tưởng cho tương lai. Nó là hạt giống mà từ đó cây đại thụ của sự hợp nhất quốc tế cuối cùng sẽ mọc lên, và mọi người khích lệ nó, mọi người suy nghĩ và hành động với tình thương thuần khiết trong tim mình, đều đang thúc đẩy sự thành tựu đó; vì những giấc mơ của nhà lý tưởng hôm nay sẽ là những điều bình thường được quần chúng chấp nhận vào ngày mai.

“ ‘Go forward, then, remembering that there is no limit set upon achievement save the limit of individual effort, and in proportion to that effort will be the help poured down from the inexhaustible Fount of power and love. For every man achievement, liberation, power and bliss unlimited wait, the key to that door which leads from death to life is in your own hands. We say to you all, use it now, that others following in your steps may the more easily enter in.

“ ‘Vậy thì hãy tiến lên, ghi nhớ rằng không có giới hạn nào đặt ra cho thành tựu ngoại trừ giới hạn của nỗ lực cá nhân, và sự trợ giúp được tuôn xuống từ Nguồn quyền năng và bác ái vô tận sẽ tương xứng với nỗ lực ấy. Đối với mỗi người, thành tựu, giải thoát, quyền năng và chí phúc vô hạn đang chờ đợi; chìa khóa của cánh cửa dẫn từ chết đến sống nằm trong chính tay bạn. Chúng tôi nói với tất cả các bạn, hãy dùng nó ngay bây giờ, để những người bước theo dấu chân bạn có thể đi vào dễ dàng hơn.

“ ‘Fear nothing. There is no power in the Cosmos, no destructive force however malignant, that can touch the man who by a deliberate act of choice unites himself with the Divine Will.

“ ‘Đừng sợ gì cả. Không có quyền năng nào trong Vũ Trụ, không có mãnh lực hủy diệt nào dù độc ác đến đâu, có thể chạm đến con người mà bằng một hành vi lựa chọn có chủ ý đã hợp nhất mình với Ý Chí thiêng liêng.

* This was written before the Second World War.

* Điều này được viết trước Chiến tranh Thế giới thứ hai.

“ ‘Never yield to despair. It matters not how weak you seem to be, how dark your past has been; if the desire for service burns truly within you, it will be guarded by Those stronger than yourself, and every opportunity for development will be given you. There is no man on earth, however debased, however without a gleam of godliness, of hope, he may seem to be, who cannot climb, if he so wish, to the Gate of Liberation, who cannot escape from the Wheel of Rebirth and at last stand upright in the ranks of Those who have passed through similar sufferings and have won at last to freedom.

“ ‘Đừng bao giờ đầu hàng tuyệt vọng. Bạn có vẻ yếu đuối đến đâu, quá khứ của bạn có đen tối đến đâu cũng không quan trọng; nếu ước muốn phụng sự thực sự cháy bỏng trong bạn, nó sẽ được gìn giữ bởi Những Đấng mạnh hơn bạn, và mọi cơ hội phát triển sẽ được ban cho bạn. Không có người nào trên Trái Đất, dù sa đọa đến đâu, dù dường như không có lấy một tia thiên tính, một tia hy vọng nào, lại không thể leo lên, nếu y muốn, đến Cổng Giải Thoát, không thể thoát khỏi Bánh Xe Tái Sinh và cuối cùng đứng thẳng trong hàng ngũ của Những Đấng đã đi qua những đau khổ tương tự và rốt cuộc đã đạt đến tự do.

“ ‘They are your Brothers; you do not strive alone. Beside you go evermore These who have sacrificed Themselves to keep that divine spark in you alive and who will breathe upon it with the breath of love until it break at last into flame, merging into the Great Flame with which They—Adepts, Saviours, Saints, Sages, and all the glorious company of the Liberated—are one.

“ ‘Các Ngài là những Huynh Đệ của bạn; bạn không phấn đấu một mình. Bên cạnh bạn luôn luôn có Những Đấng này, những Đấng đã hi sinh Chính Mình để giữ cho tia lửa thiêng liêng ấy trong bạn còn sống và sẽ thổi lên nó bằng hơi thở của bác ái cho đến khi cuối cùng nó bùng thành ngọn lửa, hòa nhập vào Đại Hỏa Diệm mà Các Ngài—các chân sư, các Đấng Cứu Thế, các Thánh nhân, các Hiền triết, và toàn thể đoàn thể vinh quang của những Đấng Giải Thoát—là một với nó.

“ ‘Only then, O Divine Wanderer, when you, Man, perfected and complete, stride like a titan out of the earth’s orbit to vaster planes of Cosmic activity, will the knowledge of your true destiny be unfolded. In that hour the past will appear as a night that is sped, and the future —unimaginable glory. Sphere after sphere, system after system, scheme after scheme will open out before your gaze as you pass on your way, searching still for That which is beyond thought or imagining, yet is forever yourself, your Source, your Existence—and your goal.’ ”

“ ‘Chỉ khi ấy, hỡi Kẻ Lữ Hành thiêng liêng, khi bạn, Con Người, đã được hoàn thiện và viên mãn, sải bước như một titan ra khỏi quỹ đạo của địa cầu đến những cõi hoạt động Vũ Trụ bao la hơn, thì tri thức về định mệnh chân thực của bạn mới được khai mở. Trong giờ phút ấy, quá khứ sẽ hiện ra như một đêm đã qua, và tương lai—vinh quang không thể tưởng tượng. Khối cầu này đến khối cầu khác, hệ này đến hệ khác, hệ hành tinh này đến hệ hành tinh khác sẽ mở ra trước linh thị của bạn khi bạn tiếp tục trên đường đi, vẫn tìm kiếm Cái Đó vượt ngoài tư tưởng hay sự tưởng tượng, nhưng mãi mãi vẫn là chính bạn, Nguồn Cội của bạn, Hiện Hữu của bạn—và mục tiêu của bạn.’ ”

Leave a Comment

Scroll to Top