GIỚI THIỆU: H.K. Challoner là Tác giả quen thuộc của những người yêu thích Huyền linh học, và vài tác phẩm của Ông đã được dịch sang tiếng Việt trên trang phungsutheosophia.org. Trên Amazon, sách của Ông rất khó tìm, chỉ có ấn bản giấy cũ, không có ấn bản điện tử.
Nhằm mục đích mang tư liệu gốc đến bạn đọc, chúng tôi OCR bản pdf trên trang archive.org và chuyển thành ebook, dịch và trình bày song ngữ toàn bộ quyển sách. Mong rằng quyển sách sẽ giúp các bạn tầm đạo có được một tài liệu hữu ích.
The
H.K. Challoner

Published, under a grant from the Kern Foundation
THE THEOSOPHICAL PUBLISHING HOUSE
Wheaton, Ill., U.S.A.
Madras, India / London, England
© Copyright H. K. Challoner, 1969
All rights reserved
First Quest edition 1976 published by The Theosophical Publishing House, Wheaton, Illinois, a department of The Theosophical Society in America.
Mills, Janet Melanie Ailsa, 1894- The wheel of rebirth.
(A Quest book)
Bibliography: p.
1. Reincarnation. I. Title.
BP573.R5M5 1976 133.9’013 75-26759
ISBN 0-8356-0468-3 pbk.
PRINTED IN THE UNITED STATES OF AMERICA
|
Dedicated |
Kính tặng |
|
to “A.N.” and the other two |
đến “A.N.” và hai người kia |
|
with affection and gratitude |
với tình thương mến và lòng biết ơn |
INTRODUCTORY NOTE TO THE FIRST EDITION BY CYRIL SCOTT—LỜI NÓI ĐẦU CHO ẤN BẢN THỨ NHẤT DO CYRIL SCOTT VIẾT
|
The author of Regents of the Seven Spheres needs, I feel, but little introduction from me; nevertheless, I have been asked to make a few prefatory remarks with regard to the main object of this new book. In the previous work, pictures of the future were impressed by Devas; but The Wheel of Rebirth deals more specifically with the past, involving that fundamental truth of occultism, the theory of Karma and reincarnation which alone explains in a rational manner the inequalities of human character and destiny. Yet although occult students, and even laymen, may accept these doctrines as broad facts, they are frequently puzzled as to the rationale of their workings. What, indeed, are the particular effects produced by particular causes? Why should this particular effect result from that particular cause? The disquisitions on the subject to be found in theosophical literature have not by any means covered the whole of the ground. Now, for the first time, many of those enigmas and problems which perennially arise in connection with the idea of rebirth, and which perplex the minds of thinkers of all types, are answered in illuminating fashion. |
Tôi cảm thấy tác giả của Regents of the Seven Spheres hầu như không cần tôi giới thiệu nhiều; tuy nhiên, tôi đã được yêu cầu viết vài lời mở đầu liên quan đến mục đích chính của cuốn sách mới này. Trong tác phẩm trước, các thiên thần đã in sâu những bức tranh về tương lai; nhưng Bánh Xe Tái Sinh đề cập cụ thể hơn đến quá khứ, bao hàm chân lý nền tảng của huyền bí học là thuyết nghiệp quả và luân hồi, vốn là điều duy nhất giải thích một cách hợp lý những bất bình đẳng trong tính cách và số phận con người. Tuy vậy, dù các đạo sinh huyền bí học, và ngay cả người đời, có thể chấp nhận các giáo lý này như những sự kiện khái quát, họ vẫn thường bối rối về cơ sở hợp lý của sự vận hành của chúng. Quả thật, những hậu quả riêng biệt nào được tạo ra bởi những nguyên nhân riêng biệt nào? Vì sao phải có hậu quả riêng biệt này phát sinh từ nguyên nhân riêng biệt kia? Những luận bàn về đề tài này trong văn liệu Thông Thiên Học hoàn toàn chưa bao quát hết toàn bộ lĩnh vực ấy. Nay, lần đầu tiên, nhiều điều bí ẩn và nan đề vốn luôn nảy sinh liên quan đến ý niệm tái sinh, và làm bối rối tâm trí của mọi hạng người suy tư, đã được giải đáp một cách soi sáng. |
|
Under the appropriate guidance, the author’s higher consciousness was projected back through a series of lives which have been portrayed with the vividness of actual experience and are shown in their true relation to each other of cause and effect. Some of these lives, as such, may well appear grim and horrifying, notably those in which practices in black magic are described. But here I would remind the reader that many occult writers have implied in effect that the courage and strength of will thus acquired, albeit on the wrong lines, may prove an equally powerful force for good when transmuted into selfless service for humanity under the guidance of its Teachers; and th^’t those who, throughout their lives, have lacked the initiative even to sin, may likewise be deficient in the corresponding qualities which would make them intrepid co-workers with the Higher Ones. |
Dưới sự hướng dẫn thích hợp, tâm thức cao hơn của tác giả đã được phóng chiếu ngược trở lại qua một chuỗi kiếp sống, được mô tả với sự sống động của kinh nghiệm thực tế và được trình bày trong mối liên hệ nhân quả chân thực của chúng với nhau. Một số kiếp sống ấy, tự thân chúng, có thể hiện ra rất khắc nghiệt và kinh hoàng, đặc biệt là những kiếp trong đó các thực hành hắc thuật được mô tả. Nhưng ở đây tôi muốn nhắc độc giả rằng nhiều tác giả huyền bí học trên thực tế đã hàm ý rằng lòng can đảm và sức mạnh ý chí được thủ đắc theo cách ấy, dù đi trên đường sai lạc, vẫn có thể chứng tỏ là một mãnh lực thiện lành mạnh mẽ tương đương khi được chuyển hoá thành sự phụng sự vô ngã cho nhân loại dưới sự hướng dẫn của các Huấn sư của nhân loại; và rằng những ai, suốt đời mình, đã thiếu cả sáng kiến để phạm tội, cũng có thể thiếu luôn những phẩm tính tương ứng vốn sẽ khiến họ trở thành những cộng sự viên vô úy với các Đấng Cao Hơn. |
|
This, in short, is a book that may be taken as the life of Everyman, and if the sins and failures of his past are dispassionately revealed, so the potentialities opening out from the moment he has set his feet upon the Path are indicated by one who speaks with the authority of personal experience. |
Nói ngắn gọn, đây là một cuốn sách có thể được xem như cuộc đời của Con Người Phổ Quát; và nếu các tội lỗi cùng thất bại trong quá khứ của y được phơi bày một cách vô tư, thì những tiềm năng mở ra từ khoảnh khắc y đặt chân lên Con Đường cũng được chỉ ra bởi một người nói với thẩm quyền của kinh nghiệm cá nhân. |
INTRODUCTION TO THE SECOND EDITION—LỜI GIỚI THIỆU CHO ẤN BẢN THỨ HAI
|
There can be little doubt that from the moment man was intelligent enough to reason he asked himself the question: “Why has this happened to me?” “Why have sickness, disaster, tragedy befallen my family or friends?” “What have I done to deserve these cruel blows of fate?” |
Hầu như không thể nghi ngờ rằng từ khoảnh khắc con người đủ thông minh để suy luận, y đã tự hỏi mình câu hỏi: “Vì sao điều này lại xảy ra với tôi?” “Vì sao bệnh tật, tai hoạ, bi kịch lại giáng xuống gia đình tôi hay bạn bè tôi?” “Tôi đã làm gì để đáng phải chịu những đòn nghiệt ngã này của số phận?” |
|
The more complex his existence has become, the greater his capacity for intellectual reasoning has developed, the more difficult it has been for him to find answers which satisfy heart and mind. |
Sự hiện hữu của y càng trở nên phức tạp bao nhiêu, năng lực suy luận trí tuệ của y càng phát triển bấy nhiêu, thì y càng khó tìm được những câu trả lời làm thoả mãn cả trái tim lẫn trí tuệ. |
|
The breaking of taboos or the anger of the gods may satisfy primitive peoples, while the belief in chance or fate can be enough for the unthinking and the materialist; but they do not suffice for the man who is trying to discover truth. Nor is the Church’s answer that it is the will of God any more convincing. Modern man quite reasonably rejects the concept of an apparently capricious and illogical deity who, while alleged to be a god of love, a father who cares for his children, permits the innocent to suffer from no fault of their own while the evil men and aggressors flourish exceedingly. Such gross injustice we, imperfect though we are, would not countenance for a moment. |
Việc phá vỡ những điều cấm kỵ hay cơn giận của các thần linh có thể làm thoả mãn các dân tộc nguyên thủy, trong khi niềm tin vào ngẫu nhiên hay số mệnh có thể đủ đối với người không suy nghĩ và người duy vật; nhưng chúng không đủ đối với con người đang cố khám phá chân lý. Câu trả lời của Giáo hội rằng đó là Ý Chí của Thượng Đế cũng không thuyết phục hơn. Con người hiện đại hoàn toàn hợp lý khi bác bỏ quan niệm về một vị Thượng đế có vẻ thất thường và phi lý, Đấng mà trong khi được cho là một vị thần của tình thương, một người cha chăm lo cho con cái mình, lại cho phép người vô tội phải chịu đau khổ không do lỗi của chính họ, trong khi những kẻ ác và những kẻ xâm lược lại cực kỳ hưng thịnh. Một sự bất công thô bạo như thế, dù chúng ta còn bất toàn, chúng ta cũng sẽ không dung thứ lấy một khoảnh khắc. |
|
But most of the Eastern religions as well as some systems of Western philosophy present us with another and more convincing hypothesis for the inequalities, the terrible and apparently fortuitous tragedies of the world, as well as for all the beauty and goodness which we can perceive around us, including our personal “good fortune”. |
Nhưng phần lớn các tôn giáo phương Đông cũng như một số hệ thống triết học phương Tây lại trình bày cho chúng ta một giả thuyết khác, thuyết phục hơn, về những bất bình đẳng, những bi kịch khủng khiếp và có vẻ ngẫu nhiên của thế giới, cũng như về mọi vẻ đẹp và điều thiện mà chúng ta có thể nhận thấy quanh mình, kể cả “vận may” cá nhân của chúng ta. |
|
Man, they insist, is basically the creator of his own fate, for good or ill. So far as the latter is concerned he is the victim of his ignorance of the spiritual laws which govern the universe. He breaks them and suffers the consequences. Thrust your hand into the fire and you will be burned; not because any “god” punishes you but because fire burns. It is as simple as that. We are told that the greatest law of all is love. So our mistakes, our crimes against others and against life itself are committed because, lacking love, we cannot see that in harming anything or anyone we are harming ourself and that in consequence sooner or later we shall have to redress the balance we have upset and pay the price for what we have done. At every level effect must follow cause, as night follows day. What happens to us now, either individually, as a group, or as a nation, be it good or ill, must be the result of earlier causes set in motion by acts made, often ages ago, the seeds of which have lain in the womb of time awaiting the appropriate conditions for germination. |
Họ khẳng định rằng về căn bản, con người là kẻ tạo ra số phận của chính mình, dù tốt hay xấu. Xét về mặt sau, y là nạn nhân của sự vô minh của mình đối với các định luật tinh thần chi phối vũ trụ. Y vi phạm chúng và chịu hậu quả. Đưa tay vào lửa thì bạn sẽ bị bỏng; không phải vì một “vị thần” nào trừng phạt bạn mà vì lửa đốt cháy. Đơn giản là như vậy. Chúng ta được bảo rằng định luật lớn nhất trong mọi định luật là tình thương. Vì thế những sai lầm của chúng ta, những tội lỗi của chúng ta đối với người khác và đối với chính sự sống, được gây ra vì thiếu tình thương nên chúng ta không thể thấy rằng khi làm tổn hại bất cứ điều gì hay bất cứ ai, chúng ta đang làm tổn hại chính mình, và do đó sớm hay muộn chúng ta sẽ phải tái lập thế quân bình mà mình đã phá vỡ và trả giá cho những gì mình đã làm. Ở mọi cấp độ, hậu quả phải theo sau nguyên nhân, như đêm theo sau ngày. Điều xảy đến với chúng ta hiện nay, dù với tư cách cá nhân, như một nhóm, hay như một quốc gia, dù tốt hay xấu, hẳn phải là kết quả của những nguyên nhân trước đó đã được khởi động bởi những hành vi được thực hiện, thường là từ nhiều thời đại trước, mà các hạt giống của chúng đã nằm trong lòng thời gian chờ đợi những điều kiện thích hợp để nảy mầm. |
|
It is obvious that, so far as the individual is concerned (although this is equally applicable to groups large or small), the effects of mistakes and misdeeds cannot possibly all be expiated or experienced in one short life or period of time; but by returning to earth we can pay our debts, perfect our relationships and finish what we have begun where the train of causation was initiated. |
Hiển nhiên là, xét riêng cá nhân (dù điều này cũng áp dụng tương tự cho các nhóm lớn hay nhỏ), những hậu quả của sai lầm và hành vi sai trái không thể nào được chuộc hết hay trải nghiệm hết trong một kiếp sống ngắn ngủi hay một khoảng thời gian ngắn; nhưng bằng cách trở lại Trái Đất, chúng ta có thể trả các món nợ của mình, hoàn thiện các mối quan hệ của mình và hoàn tất điều mình đã bắt đầu tại nơi chuỗi nhân quả đã được khởi phát. |
|
Interest in this hypothesis of reincarnation, or reembodiment of consciousness, the migration through time of the individual in many different bodies and sets of conditions down the ages has of recent years aroused increasing interest and attention. This seems to be because modern man is beginning to question and reject outworn dogmas and creeds which no longer satisfy his need to understand the deeper causes for the human condition. |
Trong những năm gần đây, mối quan tâm đối với giả thuyết luân hồi này, hay sự tái nhập thể của tâm thức, sự di chuyển qua thời gian của cá nhân trong nhiều thể xác khác nhau và nhiều hoàn cảnh khác nhau qua các thời đại, đã khơi dậy sự chú ý và quan tâm ngày càng tăng. Điều này dường như là vì con người hiện đại đang bắt đầu chất vấn và bác bỏ những giáo điều và tín điều lỗi thời không còn đáp ứng nhu cầu thấu hiểu những nguyên nhân sâu xa hơn của thân phận con người. |
|
But the fact that the concept is to be found in one form or another in virtually every great religion and spiritual system of philosophy is still not generally known. |
Nhưng sự kiện rằng quan niệm này hiện diện dưới hình thức này hay hình thức khác trong hầu như mọi tôn giáo lớn và mọi hệ thống triết học tinh thần vẫn chưa được biết đến rộng rãi. |
|
It must have been taken for granted at the time of Jesus since he asked his disciples: “Who do men say that I am?” and they replied: “Elijah or one of the prophets.” Again Jesus was asked: “Did this man sin or his parents that he was born blind?”—the implication clearly being that he had sinned before his present birth. Jesus also bade his hearers to be “perfect even as your Father in heaven is perfect”. He was not one to demand the impossible. So it is reasonable to ask how could ordinary people become perfect in one short life? The very best of men, even great saints, still have their imperfections. This saying makes no sense at all unless we postulate further opportunities for growth. But growth of an enduring nature is always slow, and the awakening from the darkness of ignorance to a true understanding of the meaning and purpose of life, with the conquest of the errors and weaknesses within us all, could hardly take place except by means of a long series of experiments in living which would gradually bring about an expansion of consciousness and develop the Christ spirit within us, the divine redemptive qualities of love, compassion and wisdom. |
Hẳn nó đã được xem là điều đương nhiên vào thời Đức Jesus, vì Ngài đã hỏi các đệ tử của Ngài: “Người ta nói Ta là ai?” và họ đáp: “Elijah hay một trong các vị tiên tri.” Lại nữa, Đức Jesus được hỏi: “Người này hay cha mẹ người này đã phạm tội mà người này sinh ra đã mù?”—hàm ý rõ ràng là người ấy đã phạm tội trước khi sinh ra trong kiếp hiện tại. Đức Jesus cũng bảo những người nghe Ngài phải “trọn lành như Cha các ngươi ở trên trời là trọn lành”. Ngài không phải là Đấng đòi hỏi điều bất khả. Vì vậy, thật hợp lý khi hỏi làm sao những con người bình thường có thể trở nên hoàn hảo chỉ trong một kiếp sống ngắn ngủi? Những người tốt nhất, ngay cả các vị thánh lớn, vẫn còn những bất toàn của họ. Lời dạy này hoàn toàn vô nghĩa trừ phi chúng ta giả định có thêm những cơ hội tăng trưởng. Nhưng sự tăng trưởng có tính bền vững luôn luôn chậm, và sự thức tỉnh khỏi bóng tối của vô minh để đi đến sự thấu hiểu chân thực về ý nghĩa và mục đích của sự sống, cùng với việc chinh phục những sai lầm và yếu đuối trong tất cả chúng ta, khó có thể diễn ra nếu không nhờ một chuỗi dài những thử nghiệm trong đời sống, dần dần mang lại sự mở rộng tâm thức và phát triển tinh thần Christ bên trong chúng ta, những phẩm tính cứu chuộc thiêng liêng của tình thương, lòng từ bi và minh triết. |
|
It was in order to exemplify and to explain the significance of the theory of reincarnation and of Karma—the Eastern term for the law of cause and effect—that this book was “given” to the author, from a higher level of consciousness, as is explained in the Prologue. |
Chính để nêu gương và giải thích ý nghĩa của thuyết luân hồi và nghiệp quả—thuật ngữ phương Đông chỉ định luật nhân quả—mà cuốn sách này đã được “ban” cho tác giả từ một cấp độ tâm thức cao hơn, như được giải thích trong Lời Mở Đầu. |
|
It illustrates the long journey through time of a group of people—and of one in particular—showing how the law of Karma operated in life after life and how effects were worked out from earlier causes. It is essentially the story of the interplay of relationships which in their inception were destructive and filled with hate but eventually through much suffering were transmuted into links of love and understanding. |
Nó minh hoạ cuộc hành trình dài qua thời gian của một nhóm người—và đặc biệt là của một người—cho thấy định luật nghiệp quả đã vận hành như thế nào từ kiếp này sang kiếp khác và các hậu quả đã được triển khai từ những nguyên nhân trước đó ra sao. Về bản chất, đây là câu chuyện về sự tương tác của các mối quan hệ mà lúc khởi đầu vốn có tính hủy diệt và đầy hận thù, nhưng cuối cùng qua nhiều đau khổ đã được chuyển hoá thành những mối dây liên kết của tình thương và sự thấu hiểu. |
|
Personally I am inclined to believe that the account is literally true, so far at least as I am concerned. But if this claim is considered by the reader to be too improbable or fantastic to be acceptable then this series of lives can still be taken as being symbolic of the lives of Everyman and his infinitely slow progress as he journeys upward from the miasmas of his own ignorance. It shows him passing through trial and more often error, through disasters and defeats, successes and periods of relative contentment; yet always possessed of an awareness, however faint and fleeting, of a perfection just beyond his reach; at moments even catching a glimpse of its bright face through the compassion and love in another traveller’s eyes. Thus is he lured on from darkness to the first redemptive gleam of light and understanding of his real goal. |
Về phần mình, tôi có khuynh hướng tin rằng câu chuyện này là đúng theo nghĩa đen, ít nhất là trong chừng mực liên quan đến tôi. Nhưng nếu độc giả cho rằng lời khẳng định này quá khó tin hay quá kỳ ảo để có thể chấp nhận, thì chuỗi kiếp sống này vẫn có thể được xem như mang tính biểu tượng cho các kiếp sống của Con Người Phổ Quát và cho sự tiến bộ vô cùng chậm chạp của y khi y đi lên từ những làn hơi độc của chính sự vô minh của mình. Nó cho thấy y đi qua thử thách và thường xuyên hơn là sai lầm, qua tai hoạ và thất bại, thành công và những giai đoạn tương đối mãn nguyện; nhưng luôn luôn vẫn mang trong mình một nhận biết, dù mờ nhạt và thoáng qua, về một sự hoàn hảo ở ngay ngoài tầm với của y; thậm chí có lúc còn thoáng thấy gương mặt rạng ngời của nó qua lòng từ bi và tình thương trong đôi mắt của một lữ khách khác. Như thế, y được dẫn dụ đi từ bóng tối đến tia sáng cứu chuộc đầu tiên của ánh sáng và sự thấu hiểu về mục tiêu thực sự của mình. |
|
For no man is unique. Humanity is one; the journey is one; and so is the goal—liberation from our illusions about the real nature of life and death. |
Vì không ai là độc nhất. Nhân loại là một; cuộc hành trình là một; và mục tiêu cũng là một—sự giải thoát khỏi những ảo tưởng của chúng ta về bản chất thực của sự sống và cái chết. |
|
Although most of the questions and objections regarding this idea of rebirth which readers will certainly raise are dealt with in the text, I feel that some comments are necessary, together with a general broad outline of the basic principles involved, since many may never have considered the hypothesis seriously before and others, because of lack of understanding of the wider and deeper implications, may have been inclined to dismiss it out of hand. |
Mặc dù phần lớn những câu hỏi và phản đối liên quan đến ý niệm tái sinh này mà độc giả chắc chắn sẽ nêu ra đều được bàn đến trong phần văn bản, tôi cảm thấy vẫn cần có một số nhận xét, cùng với một phác thảo khái quát về những nguyên lý căn bản liên hệ, vì nhiều người có thể chưa bao giờ nghiêm túc xem xét giả thuyết này trước đây, và những người khác, do thiếu thấu hiểu về những hàm ý rộng hơn và sâu hơn của nó, có thể đã có khuynh hướng bác bỏ nó ngay từ đầu. |
|
Unfortunately, as happens with every religious and philosophical system of belief, distortions and misunderstandings have crept in and this concept has become further debased by all sorts of fantastic and romantic notions as well as superficial interpretations of the basic truths behind it. |
Đáng tiếc thay, như vẫn xảy ra với mọi hệ thống tín ngưỡng tôn giáo và triết học, những sự bóp méo và hiểu lầm đã len vào, và quan niệm này lại càng bị hạ thấp thêm bởi đủ loại ý niệm kỳ ảo và lãng mạn cũng như những cách diễn giải hời hợt về các chân lý căn bản đứng sau nó. |
|
But to begin with, there are two propositions which must at least be provisionally accepted if the account which follows is to make any sense at all. |
Nhưng trước hết, có hai mệnh đề ít nhất phải được chấp nhận tạm thời nếu câu chuyện tiếp theo đây muốn có chút ý nghĩa nào. |
|
The first is that man is perfectible. The second that there exists an aspect of our being of which we are not normally cognizant, called by Jung the superconscious and by religious teachings the Higher Self or Soul. |
Thứ nhất là con người có thể được hoàn thiện. Thứ hai là có tồn tại một phương diện trong bản thể chúng ta mà bình thường chúng ta không nhận biết, được Jung gọi là siêu tâm thức và các giáo huấn tôn giáo gọi là Bản Ngã Cao Siêu hay linh hồn. |
|
Unfortunately the teachings of the Christian Church never give us a clear idea of what the nature of the soul really is. We are told that our soul can be “saved” or “lost” if we do or do not believe in a set of creeds and dogmas or if we break the laws of God. But it remains no more than a kind of vague and shadowy appendage of our personality. |
Đáng tiếc là các giáo huấn của Giáo hội Cơ Đốc không bao giờ cho chúng ta một ý niệm rõ ràng về bản chất thực sự của linh hồn là gì. Chúng ta được bảo rằng linh hồn của chúng ta có thể được “cứu rỗi” hoặc “đánh mất” nếu chúng ta có hay không tin vào một tập hợp tín điều và giáo điều nào đó hoặc nếu chúng ta vi phạm các luật của Thượng đế. Nhưng nó vẫn chỉ là một thứ phụ thuộc mơ hồ và mờ nhạt của phàm ngã chúng ta. |
|
This is the cause of one of the primary misconceptions about reincarnation. We become hopelessly confused as to which aspect of what we think of as ourselves takes this long journey through time, passing from life to life. |
Đây là nguyên nhân của một trong những ngộ nhận chủ yếu về luân hồi. Chúng ta trở nên rối loạn hoàn toàn về việc phương diện nào của cái mà chúng ta nghĩ là chính mình thực hiện cuộc hành trình dài qua thời gian này, đi từ kiếp này sang kiếp khác. |
|
Normally when we say “I” we associate the word with our personality, that which goes by our name, which suffers and rejoices, which makes links of love or of hate, which experiences all the emotions and events that are part of “our” life; so it is this personal self which automatically we think of as returning to earth in other bodies and in other times. |
Thông thường khi nói “tôi”, chúng ta gắn từ ấy với phàm ngã của mình, với cái mang tên của chúng ta, cái đau khổ và vui mừng, cái tạo nên những mối dây tình thương hay hận thù, cái trải nghiệm mọi cảm xúc và biến cố là một phần của đời sống “của chúng ta”; vì vậy chính cái ngã cá nhân này mà chúng ta tự động nghĩ đến như là cái trở lại Trái Đất trong những thể xác khác và trong những thời đại khác. |
|
But the personality does not return; indeed it cannot do so, as a few moment’s thought will soon make clear. |
Nhưng phàm ngã không trở lại; thật vậy, nó không thể làm như thế, như chỉ cần suy nghĩ vài phút là sẽ thấy rõ. |
|
The word personality comes from persona—a mask, and what we know of ourselves here is literally a mask for our real self, “our” Soul, a centre of our consciousness at a higher level with which we can learn to make contact if we are prepared for the necessary effort. |
Từ personality bắt nguồn từ persona—một chiếc mặt nạ, và điều chúng ta biết về chính mình ở đây theo nghĩa đen là một chiếc mặt nạ che phủ chân ngã thực sự của chúng ta, “linh hồn” của chúng ta, một trung tâm tâm thức của chúng ta ở một cấp độ cao hơn mà chúng ta có thể học cách tiếp xúc nếu sẵn lòng nỗ lực cần thiết. |
|
But it is the expression “my” soul which is the real cause of so much misunderstanding. We are, in fact, each a soul which possesses, for its temporary use, a personality centred in the material world. This, even at best, is never more than a partial reflection of our total nature, cast forth for a short period into a material envelope so that certain processes of growth may take place, certain debts be paid, certain realizations achieved. For this aspect of our selves is also growing as is everything else in manifestation. |
Nhưng chính cách diễn đạt “linh hồn của tôi” mới là nguyên nhân thực sự của quá nhiều hiểu lầm. Thực ra, mỗi chúng ta là một linh hồn sở hữu, để sử dụng tạm thời, một phàm ngã tập trung trong thế giới vật chất. Điều này, ngay cả trong trường hợp tốt nhất, cũng không bao giờ hơn một phản ánh bộ phận của bản chất toàn diện của chúng ta, được phóng ra trong một thời gian ngắn vào một vỏ bọc vật chất để một số tiến trình tăng trưởng có thể diễn ra, một số món nợ được thanh toán, một số chứng nghiệm đạt được. Vì phương diện này của chính chúng ta cũng đang tăng trưởng như mọi thứ khác trong biểu hiện. |
|
The soul might be thought of as the depository of all those memories of past experiences on earth valuable and important enough to have made a permanent contribution to its growth: a central power-house in which qualities and realizations acquired during these partial sojourns on earth are transformed into powers. Nothing of value is ever lost to us here, everything is used in the effort to create eventually a vehicle in dense matter through which we—soul and body at last united in consciousness can act as a channel for the transmission of energies from higher spiritual levels to mankind. For, as the Greeks taught, the soul is a bridge between heaven—that is the higher, spiritual realms—and the material world; an instrument for the hastening of that process called by Teilhard de Chardin the “divinization” of matter. |
Có thể nghĩ linh hồn như là nơi lưu giữ tất cả những ký ức về các kinh nghiệm quá khứ trên Trái Đất đủ giá trị và đủ quan trọng để tạo nên một đóng góp thường tồn cho sự tăng trưởng của nó: một trung tâm năng lực trong đó những phẩm tính và chứng nghiệm đạt được trong các lần lưu trú bộ phận này trên Trái Đất được chuyển đổi thành các năng lực. Không điều gì có giá trị từng bị mất đi đối với chúng ta ở đây; mọi thứ đều được sử dụng trong nỗ lực cuối cùng nhằm tạo ra một vận cụ trong vật chất đậm đặc, qua đó chúng ta—linh hồn và thể xác cuối cùng hợp nhất trong tâm thức—có thể hoạt động như một kênh truyền dẫn các năng lượng từ những cấp độ tinh thần cao hơn đến nhân loại. Vì, như người Hy Lạp đã dạy, linh hồn là một cây cầu giữa thiên giới—nghĩa là các cõi tinh thần cao hơn—và thế giới vật chất; một công cụ để thúc đẩy nhanh tiến trình mà Teilhard de Chardin gọi là “sự thiêng liêng hóa” vật chất. |
|
But because our consciousness is so deeply immersed in material existence and so completely identified with our personality, it is extraordinarily difficult for us to change our focus, as it were, and identify our human self with this higher and still unknown level of our being. And even more difficult to accept the fact that we, as we know ourselves here, our human “I”, will probably not long survive death and that we ourselves will abandon it as a butterfly abandons the chrysalis when it has served its purpose. |
Nhưng bởi vì tâm thức của chúng ta bị dìm quá sâu trong sự hiện hữu vật chất và đồng hoá quá hoàn toàn với phàm ngã của mình, nên đối với chúng ta việc thay đổi tiêu điểm, có thể nói như vậy, và đồng hoá cái ngã nhân loại của mình với cấp độ cao hơn và còn chưa biết này của bản thể mình là điều cực kỳ khó khăn. Và còn khó hơn nữa khi chấp nhận sự thật rằng chúng ta, như chúng ta biết mình ở đây, cái “tôi” nhân loại của chúng ta, có lẽ sẽ không tồn tại lâu sau cái chết, và rằng chính chúng ta sẽ từ bỏ nó như con bướm từ bỏ cái kén khi nó đã hoàn thành mục đích của mình. |
|
It helps if occasionally we make the effort to stand back from our personality and consider what of this personality self we would wish to endure beyond death and return to continue the work we have begun; to perfect what we have left unfinished here, to re-embody those powers, qualities, talents we have been either deliberately or unconsciously developing during the course of a lifetime. This exercise might also give us a clearer understanding of what aspect of our being contains the seed of continuity and could effect this transmigration from one state or body to another; that is to say, wherein abides the nucleus of our consciousness of selfhood, that undying part which will move on after the pause for gestation called death to another experiment in living, even as a traveller crosses the sea to another country yet does not thereby lose his identity. |
Sẽ hữu ích nếu đôi khi chúng ta nỗ lực lùi lại khỏi phàm ngã của mình và xem xét điều gì trong cái ngã phàm ngã này mà chúng ta muốn nó tồn tại sau cái chết và trở lại để tiếp tục công việc mình đã bắt đầu; để hoàn thiện điều mình đã để dở dang ở đây, để tái nhập thể những năng lực, phẩm tính, tài năng mà chúng ta đã phát triển, dù cố ý hay vô thức, trong suốt một đời người. Bài tập này cũng có thể cho chúng ta một sự thấu hiểu rõ hơn về phương diện nào của bản thể mình chứa hạt giống của tính liên tục và có thể thực hiện sự chuyển sinh này từ trạng thái hay thể này sang trạng thái hay thể khác; nghĩa là, hạt nhân của tâm thức về bản ngã của chúng ta ngự ở đâu, phần bất tử ấy sẽ tiếp tục tiến lên sau khoảng dừng để thai nghén gọi là cái chết đến một thử nghiệm sống khác, cũng như một lữ khách vượt biển sang một xứ sở khác mà không vì thế đánh mất bản sắc của mình. |
|
It would hardly be the child self—a creature of instincts, a little animal just opening its eyes to the world. |
Khó có thể là cái ngã trẻ thơ—một tạo vật của bản năng, một con vật nhỏ vừa mở mắt nhìn thế giới. |
|
Nor presumably the adolescent, uncertainly experimenting, making endless mistakes, bewildered, half child half adult. |
Cũng không hẳn là thiếu niên, đang dò dẫm thử nghiệm, phạm vô số sai lầm, bối rối, nửa trẻ con nửa người lớn. |
|
Would it be what we think of as the adult self, still in a halfway stage of development and usually too busy, too deeply involved in the essential activities of the material world to have had time to digest his experiences? |
Liệu đó có phải là cái ngã mà chúng ta nghĩ là người trưởng thành, vẫn còn ở một giai đoạn phát triển nửa chừng và thường quá bận rộn, quá bị cuốn sâu vào những hoạt động thiết yếu của thế giới vật chất đến nỗi không có thời gian tiêu hoá các kinh nghiệm của mình? |
|
Or the old man, struggling with the difficulties and frustrations of failing powers and often resentful of their loss and of a growing disability to deal with life? |
Hay là người già, đang vật lộn với những khó khăn và thất vọng của các năng lực suy giảm và thường oán giận sự mất mát ấy cùng sự bất lực ngày càng tăng trong việc đối phó với cuộc sống? |
|
Each has represented our “I” of the moment, each is in some measure ourself, linked to our present “I” by memory; yet are we not more than all of them together? Is not this “I” which will survive in a sense a distillation of the essence of the totality of this latest series of new experiments from which all the while is being created a new aspect of individuality? |
Mỗi cái đã từng đại diện cho “tôi” của chúng ta trong từng thời điểm, mỗi cái ở một mức độ nào đó là chính chúng ta, được nối với “tôi” hiện tại của chúng ta bằng ký ức; tuy nhiên, chẳng phải chúng ta còn hơn tất cả chúng cộng lại sao? Chẳng phải cái “tôi” sẽ tồn tại ấy, theo một nghĩa nào đó, là sự chưng cất tinh chất của toàn bộ chuỗi thử nghiệm mới mẻ gần đây nhất này, từ đó trong suốt thời gian ấy một phương diện mới của cá tính đang được tạo thành sao? |
|
Another difficulty is to grasp the concept of karmic continuity, cause leading to effect, effect leading again to cause, operating through immense periods of time; for inevitably we see our lives broken by death into separate segments. Yet in reality there is no break. This long journey might be said to resemble a river, a single stream of consciousness flowing from the darkness of its primal source ever onward until it reaches the ocean of light and knows itself to be, what in truth it has always been, an aspect of the consciousness of the Infinite. Thus the soul’s existence here on earth or in the afterlife is but one unbroken movement; ever changing its environment and quality, yet ever remaining in essence itself, each action, each choice contributing to the volume and quality of the stream, making it what it is. |
Một khó khăn khác là nắm bắt khái niệm về tính liên tục của nghiệp quả, nguyên nhân dẫn đến hậu quả, hậu quả lại dẫn đến nguyên nhân, vận hành qua những khoảng thời gian mênh mông; vì tất yếu chúng ta nhìn đời mình như bị cái chết cắt thành những đoạn riêng biệt. Tuy nhiên, trên thực tế không hề có sự đứt đoạn. Có thể nói cuộc hành trình dài này giống như một con sông, một dòng tâm thức duy nhất chảy từ bóng tối của nguồn cội nguyên sơ của nó mãi về phía trước cho đến khi đạt đến đại dương ánh sáng và biết mình là, điều mà thật ra nó luôn luôn là, một phương diện của tâm thức của Đấng Vô Hạn. Vì vậy, sự hiện hữu của linh hồn ở đây trên Trái Đất hay trong đời sống sau khi chết chỉ là một chuyển động liên tục không gián đoạn; luôn thay đổi môi trường và phẩm tính của nó, nhưng trong tinh chất vẫn luôn là chính nó, mỗi hành động, mỗi lựa chọn đều góp phần vào dung lượng và phẩm tính của dòng chảy, làm cho nó là chính nó. |
|
Such a picture gives the pronouncement: “As ye sow, so also shall ye reap” a new reality. No part is dissociated from any other; the whole river is one, so what the personality may believe to be chance or a precipitation of Karma is part of the inevitable process of this onward sweep of the “living soul” towards the development of its own divine potentialities. |
Một bức tranh như thế đem lại cho lời tuyên bố: “Các ngươi gieo gì thì cũng sẽ gặt nấy” một thực tại mới. Không phần nào tách rời khỏi phần nào khác; toàn bộ con sông là một, vì vậy điều mà phàm ngã có thể tin là ngẫu nhiên hay là sự ngưng tụ của nghiệp quả thực ra là một phần của tiến trình tất yếu của sự cuốn trôi đi tới này của “linh hồn sống” hướng đến sự phát triển các tiềm năng thiêng liêng của chính nó. |
|
Behind this teaching there are deeper implications; for in essence all apparently separate “streams” are united in the basic unity of Life, each contributing to each and all to the All. But here we enter the realm of metaphysics. |
Đằng sau giáo huấn này còn có những hàm ý sâu xa hơn; vì về bản chất, mọi “dòng chảy” có vẻ riêng biệt đều hợp nhất trong tính nhất thể căn bản của Sự sống, mỗi dòng góp phần cho mỗi dòng khác và tất cả góp phần cho Toàn Thể. Nhưng ở đây chúng ta bước vào lĩnh vực siêu hình học. |
|
It is obvious that we, whose vision and understanding are circumscribed by purely human conceptions of time and space cannot possibly discover how or when man developed the first gleam of individuality. Life manifests cyclically; therefore what we think of as beginnings may, in essence, be no more than the end of one cycle leading to the emergence of another with, again, no real break between, possibly with no beginning and to no end. |
Hiển nhiên là chúng ta, những kẻ có tầm nhìn và sự thấu hiểu bị giới hạn bởi những quan niệm thuần nhân loại về thời gian và không gian, không thể nào khám phá được con người đã phát triển tia sáng đầu tiên của cá tính như thế nào hay khi nào. Sự sống biểu hiện theo chu kỳ; vì vậy điều chúng ta nghĩ là những khởi đầu có thể, về bản chất, không hơn gì sự kết thúc của một chu kỳ dẫn đến sự xuất hiện của một chu kỳ khác, lại một lần nữa không có sự đứt đoạn thực sự nào ở giữa, có lẽ không có khởi đầu và cũng không có kết thúc. |
|
While every religion and tradition has its creation story, none of them can represent more than a symbolic picture of the Reality for which there would be no words in human language. Many, however, teach that at one “moment” in the cyclic ebb and flow of the One Life a J divine spark of self-consciousness was implanted like a seed in animal man on this earth, and from this the first appearance of a “living soul” was born endowed with the potentiality of becoming a god-like being manifesting on earth divine qualities as did Jesus and the Buddha. |
Trong khi mọi tôn giáo và truyền thống đều có câu chuyện sáng thế của mình, không câu chuyện nào trong số đó có thể đại diện cho điều gì hơn một bức tranh biểu tượng về Thực Tại mà ngôn ngữ loài người không có lời nào diễn đạt nổi. Tuy nhiên, nhiều truyền thống dạy rằng vào một “khoảnh khắc” nào đó trong sự lên xuống theo chu kỳ của Một Sự Sống, một J tia lửa thiêng liêng của ngã thức đã được cấy vào như một hạt giống trong người thú trên Trái Đất này, và từ đó sự xuất hiện đầu tiên của một “linh hồn sống” đã ra đời, được phú cho tiềm năng trở thành một hữu thể giống như thần linh, biểu hiện trên Trái Đất những phẩm tính thiêng liêng như Đức Jesus và Đức Phật đã làm. |
|
I mentioned above the distortions which have crept into the whole concept of reincarnation and which have made many people reject it out of hand. |
Tôi đã nhắc ở trên đến những sự bóp méo đã len vào toàn bộ quan niệm về luân hồi và khiến nhiều người bác bỏ nó ngay từ đầu. |
|
These have largely arisen from the very common tendency to take metaphysical or religious concepts literally, treating them as absolute realities instead of realizing that such realities can, in the main, only be expressed in symbolical form, by analogy or in metaphor. This applies as much to many Christian teachings as to any others. |
Chúng phần lớn phát sinh từ khuynh hướng rất phổ biến là hiểu các khái niệm siêu hình hay tôn giáo theo nghĩa đen, xem chúng như những thực tại tuyệt đối thay vì nhận ra rằng những thực tại như thế, nhìn chung, chỉ có thể được biểu đạt dưới hình thức biểu tượng, bằng tương đồng hay ẩn dụ. Điều này áp dụng cho nhiều giáo huấn Cơ Đốc cũng như cho bất kỳ giáo huấn nào khác. |
|
One such distortion of the idea of rebirth is taught by a well-known school of what is loosely called “occultism”. |
Một sự bóp méo như thế của ý niệm tái sinh được giảng dạy bởi một trường phái nổi tiếng của cái thường được gọi một cách lỏng lẻo là “huyền bí học”. |
|
The term “occult” is unfortunate and liable to create misunderstanding as its connotation in our day is almost wholly bad, being nearly always associated with dubious Orders, bogus claims in advertisements and the practice of primitive forms of magic. The word “occult” means “that which is hidden or unknown”, therefore an “occultist” should indicate one who is searching for as yet undiscovered truths or facts either by scientific methods regarding the physical laws of the universe, or by the study and practice of the techniques to be found in the esoteric teachings of all the great religions which reveal the spiritual significance of these same laws and the use of their hidden powers in the service of God and mankind. When the word “occult” is used in this book it always relates to this line of research. |
Thuật ngữ “huyền bí” thật không may và dễ gây hiểu lầm vì hàm nghĩa của nó trong thời đại chúng ta hầu như hoàn toàn là xấu, gần như luôn gắn với những hội đoàn đáng ngờ, những lời tuyên bố giả dối trong quảng cáo và việc thực hành những hình thức huyền thuật nguyên thủy. Từ “huyền bí” có nghĩa là “điều bị che giấu hay chưa biết”, vì vậy một “nhà huyền bí học” phải chỉ người đang tìm kiếm những chân lý hay sự kiện chưa được khám phá, hoặc bằng các phương pháp khoa học liên quan đến các định luật hồng trần của vũ trụ, hoặc bằng việc nghiên cứu và thực hành các kỹ thuật có trong những giáo huấn bí truyền của mọi tôn giáo lớn, vốn mặc khải ý nghĩa tinh thần của chính những định luật ấy và việc sử dụng các quyền năng ẩn tàng của chúng trong sự phụng sự Thượng đế và nhân loại. Khi từ “huyền bí” được dùng trong cuốn sách này, nó luôn luôn liên hệ đến đường lối nghiên cứu này. |
|
The idea held by the particular school mentioned above is, roughly, that if we fail in one life to make any real contact with the soul, do not meet our obligations or pay out debts, we shall have to re-live that life over and over again, exactly, in every detail, even meeting the same people and the same problems in the identical circumstances, until we do succeed in taking the vital step which will free us to move on. |
Ý niệm được trường phái đặc biệt vừa nhắc đến nắm giữ, nói đại khái, là nếu chúng ta thất bại trong một kiếp sống không tạo được bất kỳ tiếp xúc thực sự nào với linh hồn, không hoàn thành các nghĩa vụ hay trả các món nợ của mình, thì chúng ta sẽ phải sống lại kiếp sống ấy hết lần này đến lần khác, y hệt, trong từng chi tiết, thậm chí gặp lại cùng những con người ấy và cùng những vấn đề ấy trong những hoàn cảnh giống hệt nhau, cho đến khi cuối cùng chúng ta thành công trong việc thực hiện bước đi thiết yếu sẽ giải phóng chúng ta để tiến lên. |
|
No wonder the average person rejects it as either too terrible or too dreary to be contemplated. But how could such a fate be possible? How can we literally go back in time, into a past historical setting which no longer exists and into utterly changed social conditions? Moreover how can we re-meet the same people who will almost certainly themselves have changed in the interim and be quite different with different reactions? Even those of us— and they must be few—who have not profited from their experiences at all, must have still learned something, have absorbed new impressions even if only at subconscious levels, which would modify to some extent their thought and emotional patterns; so by this much they would have changed. |
Không lạ gì người bình thường bác bỏ điều đó như hoặc quá khủng khiếp hoặc quá tẻ nhạt đến mức không thể suy ngẫm nổi. Nhưng một số phận như thế làm sao có thể xảy ra được? Làm sao chúng ta có thể theo nghĩa đen quay ngược thời gian, trở vào một bối cảnh lịch sử quá khứ không còn tồn tại và vào những điều kiện xã hội đã hoàn toàn thay đổi? Hơn nữa, làm sao chúng ta có thể gặp lại cùng những con người ấy, những người gần như chắc chắn bản thân họ cũng đã thay đổi trong khoảng thời gian xen giữa và trở nên hoàn toàn khác với những phản ứng khác? Ngay cả những người trong chúng ta—và hẳn là rất ít—không hề thu lợi gì từ các kinh nghiệm của mình, thì cũng vẫn phải học được điều gì đó, đã hấp thụ những ấn tượng mới dù chỉ ở các cấp độ tiềm thức, điều này sẽ làm biến đổi phần nào các mô hình tư tưởng và cảm xúc của họ; vì thế, chỉ riêng ở mức ấy thôi, họ cũng đã thay đổi. |
|
But as there can be no evasion of debts contracted in association with others or of the results of actions breaking moral laws, we shall almost inevitably find ourselves in similar, though not identical, circumstances and be presented with the same kind of problems until we do succeed in dealing with them from a higher level. |
Nhưng vì không thể trốn tránh những món nợ đã kết tạo trong liên hệ với người khác hay những kết quả của các hành động vi phạm các luật đạo đức, nên gần như chắc chắn chúng ta sẽ thấy mình ở trong những hoàn cảnh tương tự, dù không giống hệt, và được đặt trước cùng loại vấn đề cho đến khi cuối cùng chúng ta thành công trong việc xử lý chúng từ một cấp độ cao hơn. |
|
One of the ancient spiritual axioms declares that: As it is in the inner, so it is in the outer. If we are perceptive we can soon discover that indeed it is true that we make our “world” by what we are in ourselves. The psychiatrist has proved to us that indubitably: |
Một trong những châm ngôn tinh thần cổ xưa tuyên bố rằng: Trong sao, ngoài vậy. Nếu có năng lực nhận biết, chúng ta sẽ sớm khám phá rằng quả thật đúng là chúng ta tạo nên “thế giới” của mình bằng chính điều chúng ta là trong bản thân mình. Nhà tâm thần học đã chứng minh cho chúng ta một cách không thể chối cãi rằng: |
|
The mind is its own place |
Tâm trí là nơi chốn của chính nó |
|
And of itself doth make a heaven of hell, a hell of heaven. |
Và tự nó có thể biến địa ngục thành thiên đường, thiên đường thành địa ngục. |
|
The whole concept of Karma, the idea that causes from previous lives produce effects in others far removed in time, must continue to present many difficulties to the thoughtful, for it is obviously so profound, so subtle, so infinitely complex that we can only hope to recognize the more obvious and easily discernable repercussions. So it is always important to remind ourselves that we are seeking to understand spiritual laws and what we perceive here are only faint reflections of inner Realities. |
Toàn bộ quan niệm về nghiệp quả, ý niệm rằng những nguyên nhân từ các kiếp trước tạo ra hậu quả ở những thời điểm rất xa cách về sau, hẳn vẫn sẽ tiếp tục gây ra nhiều khó khăn cho người suy tư, vì hiển nhiên nó quá sâu xa, quá vi tế, quá phức tạp vô hạn đến nỗi chúng ta chỉ có thể hy vọng nhận ra những phản ứng dội lại rõ ràng và dễ phân biệt hơn mà thôi. Vì vậy, điều luôn luôn quan trọng là phải nhắc mình rằng chúng ta đang tìm cách thấu hiểu các định luật tinh thần, và điều chúng ta nhận thấy ở đây chỉ là những phản ánh mờ nhạt của các Thực Tại bên trong. |
|
This is exemplified by another misconception regarding reincarnation and Karma. Some people think that the idea of “an eye for an eye and a tooth for a tooth” is to be taken literally. Here again we are judging divine law by human standards and are thinking of Karma either as a punishment for wrong-doing, one that fits the crime, or as a reward for virtue. It is neither. There is no such thing as divine punishment. This is one of the most terrible and pernicious dogmas to be found in any religion. Nor are there any rewards. And we will get only one judge—our own Higher Self. It is said that after death there comes a stage when we see every forgotten detail of our lives, every act and thought and motive, freed from the delusions with which we guard ourselves from self- knowledge. This is the hour of judgement; the real “moment of truth”. |
Điều này được minh hoạ bởi một ngộ nhận khác liên quan đến luân hồi và nghiệp quả. Một số người nghĩ rằng ý niệm “mắt đền mắt, răng đền răng” phải được hiểu theo nghĩa đen. Ở đây một lần nữa chúng ta đang phán xét định luật thiêng liêng bằng những tiêu chuẩn nhân loại và đang nghĩ về nghiệp quả hoặc như một sự trừng phạt cho hành vi sai trái, một sự trừng phạt tương xứng với tội lỗi, hoặc như một phần thưởng cho đức hạnh. Nó không phải là cả hai. Không có cái gọi là sự trừng phạt thiêng liêng. Đây là một trong những giáo điều khủng khiếp và tai hại nhất có thể tìm thấy trong bất kỳ tôn giáo nào. Cũng không có phần thưởng nào cả. Và chúng ta sẽ chỉ có một vị phán quan—Bản Ngã Cao Siêu của chính mình. Người ta nói rằng sau cái chết sẽ đến một giai đoạn khi chúng ta nhìn thấy mọi chi tiết đã quên trong đời mình, mọi hành động, tư tưởng và động cơ, được giải thoát khỏi những ảo tưởng mà chúng ta dùng để che chắn mình khỏi sự tự tri. Đó là giờ phán xét; “khoảnh khắc của chân lý” thực sự. |
|
We may punish ourselves here, as we often do, out of an exaggerated sense of guilt or punish others for even less admirable reasons. Virtue is literally its own reward for it builds into our being qualities and insights which will be our inheritance for all time. |
Chúng ta có thể tự trừng phạt mình ở đây, như chúng ta thường làm, vì một cảm giác tội lỗi bị phóng đại, hoặc trừng phạt người khác vì những lý do còn kém đáng trọng hơn. Đức hạnh theo nghĩa đen là phần thưởng của chính nó, vì nó xây dựng vào trong bản thể chúng ta những phẩm tính và linh thị sẽ là gia tài của chúng ta mãi mãi. |
|
Life is our school. We reincarnate in order to learn that love plus wisdom—so far as we are concerned the two are not, unfortunately, always synonymous—are the only keys to open the doors to a future of genuine happiness and inner peace. All the great teachers have repeated this over and over again, but only a few have listened. |
Sự sống là trường học của chúng ta. Chúng ta luân hồi để học rằng tình thương cộng với minh triết—đối với chúng ta, thật không may, hai điều ấy không phải lúc nào cũng đồng nghĩa—là những chiếc chìa khóa duy nhất mở ra cánh cửa đến một tương lai của hạnh phúc chân chính và bình an nội tâm. Tất cả các bậc huấn sư vĩ đại đã lặp đi lặp lại điều này hết lần này đến lần khác, nhưng chỉ có ít người lắng nghe. |
|
There is one misapprehension which revolts people— and rightly. This is the belief that we can be reincarnated in animal form. As it stands it is nonsense. Once the spark of divinity has been lit in the darkness of the unselfconscious animal, it has become Man who can choose good or evil; who says “I am” and unlike the animal knows that he knows. So how can there be any turning back? However long it may take him, henceforth he is destined to become what, in the deepest sense, he is, a son of God, a Light-bearer, a living soul. He may often appear to stand still, even sometimes to retrogress, but he will be expanding his higher consciousness all the time, whether, in his personality, he is aware of it or not. |
Có một sự hiểu lầm khiến người ta phẫn nộ—và đúng như vậy. Đó là niềm tin rằng chúng ta có thể tái sinh trong hình thức động vật. Hiểu theo nguyên văn thì điều đó là vô nghĩa. Một khi tia lửa thiên tính đã được thắp lên trong bóng tối của con vật vô ngã thức, nó đã trở thành Con Người, kẻ có thể chọn thiện hay ác; kẻ nói “Tôi là” và khác với con vật, biết rằng mình biết. Vậy thì làm sao có thể quay ngược trở lại? Dù có thể mất bao lâu đi nữa, từ đây trở đi y được định sẵn sẽ trở thành điều mà theo nghĩa sâu xa nhất y vốn là, một Con của Thượng đế, một Kẻ Mang Ánh Sáng, một linh hồn sống. Y có thể thường có vẻ đứng yên, thậm chí đôi khi thoái bộ, nhưng y vẫn sẽ mở rộng tâm thức cao hơn của mình suốt mọi lúc, dù trong phàm ngã của mình y có nhận biết điều đó hay không. |
|
But as with many such misapprehensions this one may well express a symbolical truth. Man remains an animal so far as his body and its functions are concerned and at an early stage he still possesses some animal attributes. These must eventually be transmuted into their higher counterparts; instinct, for instance, into intuition; the sex urge into pure love expressing compassion and sacrifice. To some extent these lower forces control and dominate the personality for long ages. But he who allows and even encourages them will inevitably become increasingly the slave of his animal nature in life after life. We know that there exist men and women who exhibit the worst forms of such retrogressive characteristics which, when conjoined with some measure of intellect, can make them a serious danger to their kind though most of all to themselves. In this sense only can human beings sink to almost subhuman levels. But the divine spark, however obscured, is still a part of their being; it £r the source of their humanity. One day something may happen. Perhaps it will be an awakening of love for a bird or an animal which will stir within the hard carapace with which selfishness and blindness have imprisoned and stifled that eternal flame within; a turning-point will have been reached and its power will begin to operate. The tiny spark will slowly become a guiding beam increasing in strength in life after life, drawing the man up from the darkness and the slime, from among the “swine”, towards liberation, glory and love in his Father’s house. |
Nhưng cũng như nhiều sự hiểu lầm như thế, điều này rất có thể biểu đạt một chân lý biểu tượng. Con người vẫn là một động vật xét về thể xác và các chức năng của nó, và ở giai đoạn đầu y vẫn còn sở hữu một số thuộc tính động vật. Cuối cùng những thuộc tính này phải được chuyển hoá thành các đối phần cao hơn của chúng; chẳng hạn bản năng thành trực giác; xung lực tính dục thành tình thương thanh khiết biểu hiện lòng từ bi và sự hi sinh. Ở một mức độ nào đó, những mãnh lực thấp này kiểm soát và chi phối phàm ngã trong nhiều thời đại dài lâu. Nhưng kẻ cho phép và thậm chí còn khuyến khích chúng thì tất yếu sẽ ngày càng trở thành nô lệ của bản chất động vật của mình từ kiếp này sang kiếp khác. Chúng ta biết rằng có những người nam và nữ biểu lộ những hình thức tồi tệ nhất của các đặc tính thoái hóa như thế, mà khi kết hợp với một mức độ trí tuệ nào đó, có thể khiến họ trở thành một mối nguy nghiêm trọng cho đồng loại của mình, nhưng trên hết là cho chính họ. Chỉ theo nghĩa này mà con người có thể sa xuống gần như dưới mức người. Nhưng tia lửa thiêng liêng, dù bị che mờ đến đâu, vẫn là một phần của bản thể họ; nó là nguồn cội của tính người nơi họ. Một ngày nào đó điều gì đó có thể xảy ra. Có lẽ đó sẽ là sự thức tỉnh của tình thương đối với một con chim hay một con vật, điều sẽ khuấy động bên trong lớp mai cứng mà sự ích kỷ và mù quáng đã dùng để giam hãm và bóp nghẹt ngọn lửa vĩnh cửu ấy ở bên trong; một bước ngoặt sẽ được đạt tới và quyền năng của nó sẽ bắt đầu vận hành. Tia lửa nhỏ bé ấy sẽ chậm rãi trở thành một tia dẫn đường ngày càng mạnh hơn từ kiếp này sang kiếp khác, kéo con người lên khỏi bóng tối và bùn lầy, khỏi đám “heo lợn”, hướng đến giải thoát, vinh quang và tình thương trong nhà Cha của mình. |
|
One great obstacle to acceptance of the reincarnation hypothesis, particularly for the more scientifically minded, is that the demand for proof cannot so easily be satisfied. It is, of course, very diflicult to obtain and there can be many other explanations for claims put forward by individuals who believe they remember past lives: although the appearance in very young children of what are normally acquired skills or even of genius, as with Mozart and very many others, is almost impossible to explain by any other means. |
Một trở ngại lớn đối với việc chấp nhận giả thuyết luân hồi, đặc biệt đối với những người có đầu óc khoa học hơn, là đòi hỏi về bằng chứng không thể được thỏa mãn dễ dàng đến thế. Dĩ nhiên, điều đó rất khó đạt được, và có thể có nhiều cách giải thích khác cho những lời khẳng định do những cá nhân tin rằng họ nhớ được các kiếp trước đưa ra; mặc dù sự xuất hiện nơi những trẻ còn rất nhỏ của những kỹ năng vốn bình thường phải được thủ đắc, hoặc thậm chí của thiên tài, như trường hợp Mozart và rất nhiều người khác, hầu như không thể được giải thích bằng bất kỳ cách nào khác. |
|
But of recent years much research has been carried out by numbers of unbiased people possessed of scientific training and integrity in an attempt to prove or disprove this proposition. They have examined hundreds of cases, sifting all available evidence, particularly when historical clues in the form of little known contemporary facts have been given. But the most convincing evidence comes from those few who claim to recall a very recent life, having obviously returned to a new body shortly after having quitted the old one. Here details of the past life in a specific country or district which the child—for it is nearly always a young person—can “remember”, can be checked and have been found in a number of cases which have been rigorously investigated for fraud, conscious or unconscious, to be correct in every detail. Here again no other explanation except reincarnation seems possible. |
Nhưng trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện bởi nhiều người vô tư, có đào luyện khoa học và liêm chính, trong nỗ lực chứng minh hoặc bác bỏ mệnh đề này. Họ đã khảo sát hàng trăm trường hợp, sàng lọc mọi bằng chứng hiện có, đặc biệt khi các đầu mối lịch sử dưới dạng những sự kiện đương thời ít được biết đến đã được nêu ra. Nhưng bằng chứng thuyết phục nhất đến từ số ít người tuyên bố nhớ lại một kiếp sống rất gần đây, rõ ràng đã trở lại trong một thể mới ngay sau khi rời bỏ thể cũ. Ở đây, những chi tiết của kiếp sống trước tại một quốc gia hay khu vực cụ thể mà đứa trẻ—vì hầu như luôn là một người trẻ—có thể “nhớ”, có thể được kiểm chứng, và trong một số trường hợp đã được điều tra nghiêm ngặt về sự gian dối, hữu thức hay vô thức, đã được thấy là đúng trong từng chi tiết. Ở đây nữa, dường như không có cách giải thích nào khác ngoài luân hồi là khả hữu. |
|
An increasing number of books examining the whole case for the theory of rebirth and Karma are now appearing, many of which go very deeply into the subject in all its aspects. |
Hiện nay ngày càng có nhiều sách khảo sát toàn bộ cơ sở của lý thuyết tái sinh và nghiệp quả xuất hiện, nhiều cuốn trong số đó đi rất sâu vào đề tài này trong mọi phương diện của nó. |
|
This introduction is no more than a superficial review of the subject generally, but any readers who wish to know more of the whole vast field which the subject opens up will find a list of authors and titles in the bibliography at the end of this book. |
Lời dẫn nhập này không hơn gì một cái nhìn khái quát khá hời hợt về đề tài nói chung, nhưng bất kỳ độc giả nào muốn biết thêm về toàn bộ lĩnh vực bao la mà đề tài này mở ra sẽ tìm thấy một danh sách tác giả và nhan đề trong thư mục ở cuối cuốn sách này. |
PROLOGUE—LỜI MỞ ĐẦU
|
It had been exceptionally hot that summer. Day after day the sun rose in a cloudless sky over the still sea and sank in roseate mists behind the blue of the distant hills. Day by day the heat increased. The marsh where cattle huddled in sparse shade by the dykes took on the same golden colour as the waste of sands and shingle and was half veiled by the same shimmering dance of fiery particles. Once there was a mirage over the distant headland; strange shapes like primeval giants walked the sea, ships hung in the void and a sense of unreality and menace brooded over the empty land. |
Mùa hè năm ấy nóng khác thường. Hết ngày này sang ngày khác, mặt trời mọc lên trong bầu trời không gợn mây trên mặt biển lặng và lặn xuống trong những làn sương hồng phía sau màu xanh của những ngọn đồi xa. Ngày qua ngày, sức nóng tăng lên. Đầm lầy nơi đàn gia súc tụ lại trong chút bóng râm thưa thớt bên các con đê mang cùng màu vàng óng như bãi cát và sỏi hoang vu, và bị che phủ một nửa bởi cùng điệu múa rung rinh của những hạt lửa lấp lánh. Có lần một ảo ảnh hiện lên trên mũi đất xa; những hình thù kỳ lạ như các người khổng lồ nguyên thủy bước đi trên biển, tàu thuyền treo lơ lửng trong khoảng không, và một cảm giác không thực cùng điềm dữ bao trùm vùng đất trống vắng. |
|
Our bungalow stood on a ridge of shingle between the marsh and the sea. The older part was reputed to be haunted by a French sailor who appeared usually before some crisis. He was seen that year twice by one of our trio, but this did not trouble us for, owing perhaps to the extraordinary vitality of the air, we were filled with an almost reckless abandonment to the forces of nature and cared for nothing that might threaten us. We seemed, indeed, more and more to partake of the elements themselves, to be drawn ever closer, as day succeeded day in unbroken glory, into their very essence. The earth burned under our feet, vibrant with energy; at evening soft airs scented with hay, thyme, and seaweed whispered along the ridge; the water, advancing and receding in trancelike stillness, was so warm and buoyant that to float in it was like being suspended in liquid air. At night we would swim far out into a black and mysterious sea, afterwards running naked along the stretch of empty sands. We felt as if we had actually taken on once again the physical glory of some Greek incarnation; here the modern world was remote and the stress of living almost forgotten. |
Ngôi bungalow của chúng tôi đứng trên một doi sỏi giữa đầm lầy và biển. Phần cũ hơn được đồn là có ma ám bởi một thủy thủ người Pháp, kẻ thường xuất hiện trước một cơn khủng hoảng nào đó. Năm ấy, một người trong nhóm ba chúng tôi đã thấy ông ta hai lần, nhưng điều này không làm chúng tôi bận tâm vì, có lẽ do sinh lực phi thường của không khí, chúng tôi tràn đầy một sự buông mình gần như liều lĩnh cho các mãnh lực của bản chất và chẳng bận lòng đến bất cứ điều gì có thể đe dọa mình. Quả thật, dường như chúng tôi ngày càng dự phần nhiều hơn vào chính các nguyên tố, bị kéo ngày càng gần hơn, khi ngày nối tiếp ngày trong vẻ huy hoàng không gián đoạn, vào tận tinh chất của chúng. Đất cháy bỏng dưới chân chúng tôi, rung động năng lượng; về chiều, những luồng gió nhẹ thơm mùi cỏ khô, xạ hương và rong biển thì thầm dọc theo doi đất; nước, tiến rồi lùi trong sự tĩnh lặng như xuất thần, ấm và nâng đỡ đến mức nổi trên đó giống như được treo lơ lửng trong không khí lỏng. Ban đêm chúng tôi bơi rất xa ra biển đen huyền bí, rồi sau đó chạy trần truồng dọc theo dải cát trống vắng. Chúng tôi cảm thấy như thể mình thực sự đã khoác lại vẻ huy hoàng hồng trần của một lần lâm phàm Hy Lạp nào đó; ở đây thế giới hiện đại thật xa xôi và áp lực của đời sống hầu như bị lãng quên. |
|
I had come to this place intending to start work seriously on a new novel, but so potent was the drive of sheer physical energy that I found I could do nothing. As the moon waxed, so did this sensation of strange unrest increase; it was almost as if one were being influenced by some elemental force. |
Tôi đã đến nơi này với ý định bắt đầu nghiêm túc công việc viết một cuốn tiểu thuyết mới, nhưng xung lực của năng lượng hồng trần thuần túy mạnh đến nỗi tôi thấy mình không thể làm gì cả. Khi trăng dần tròn, cảm giác bất an kỳ lạ này cũng tăng lên; gần như thể người ta đang bị một mãnh lực hành khí nào đó tác động. |
|
At that time I was quite ignorant of astrology, else I might have realized that I was approaching some unusual crisis in my life. A similar event, we discovered later, was also mirrored in the horoscopes of my companions. |
Lúc ấy tôi hoàn toàn không biết gì về chiêm tinh học, nếu không hẳn tôi đã có thể nhận ra rằng mình đang tiến gần đến một cơn khủng hoảng khác thường trong đời. Về sau chúng tôi khám phá ra rằng một biến cố tương tự cũng được phản chiếu trong các lá số chiêm tinh của những người bạn đồng hành của tôi. |
|
But of this we knew nothing; only as the days passed we became disturbed by a new factor which began to impinge upon our lives. Phenomena started to manifest all over the bungalow, and soon we realized that this mysterious force was becoming so powerful as almost to be inimical. |
Nhưng chúng tôi không biết gì về điều đó; chỉ là khi ngày tháng trôi qua, chúng tôi bắt đầu bị xáo động bởi một yếu tố mới đang bắt đầu xâm nhập vào đời sống của mình. Các hiện tượng bắt đầu biểu lộ khắp ngôi bungalow, và chẳng bao lâu chúng tôi nhận ra rằng mãnh lực bí ẩn này đang trở nên mạnh đến mức gần như thù nghịch. |
|
Now phenomena, as such, had never interested us. It seemed to me then—as it does now—a waste of valuable energy which should be turned to better account. We had none of us ever “sat for development”, and I, at least, was perfectly convinced that I had no mediumistic abilities, being far more interested in the line of development which, through meditation and self-control, should bring discrimination and enhanced intuition, rather than what are loosely termed psychic powers. For to my mind the study of occultism, to be of any real use in this present age, should make men and women capable of dealing with the multitudinous problems of modern life from a spiritual point of view, rather than cause people to go off on mystic flights bearing little or no relation to the activities of the physical plane whereon they have been placed. |
Bản thân các hiện tượng, với tư cách là hiện tượng, chưa bao giờ khiến chúng tôi quan tâm. Khi ấy—cũng như bây giờ—đối với tôi, đó dường như là một sự phí phạm năng lượng quý giá, lẽ ra nên được dùng vào việc tốt hơn. Không ai trong chúng tôi từng “ngồi để phát triển”, và ít nhất riêng tôi hoàn toàn tin chắc rằng mình không có khả năng đồng tử, vì tôi quan tâm nhiều hơn đến đường phát triển mà qua tham thiền và tự chủ sẽ đem lại sự phân biện và trực giác được tăng cường, hơn là những gì thường được gọi một cách lỏng lẻo là các năng lực thông linh. Vì theo tôi, việc nghiên cứu huyền bí học, nếu muốn có ích thực sự trong thời đại hiện nay, phải làm cho những người nam và nữ có khả năng xử lý vô số vấn đề của đời sống hiện đại từ một quan điểm tinh thần, thay vì khiến người ta bay bổng vào những cơn xuất thần thần bí ít hoặc không liên hệ gì với các hoạt động của cõi hồng trần nơi họ đã được đặt vào. |
|
Before I speak further of the events which brought about the writing of this book I must explain that four of us were involved. |
Trước khi nói thêm về những biến cố đã dẫn đến việc viết cuốn sách này, tôi phải giải thích rằng có bốn người chúng tôi liên quan. |
|
One had died several years previously. We had all been greatly attached to her, but we had never made any serious attempt to get in touch with her through mediums, as we none of us cared for this type of communication. |
Một người đã qua đời vài năm trước đó. Tất cả chúng tôi đều rất gắn bó với bà, nhưng chúng tôi chưa bao giờ thực hiện bất kỳ nỗ lực nghiêm túc nào để liên lạc với bà qua các đồng tử, vì không ai trong chúng tôi ưa thích kiểu giao tiếp này. |
|
Of the others, one was the owner of the bungalow and had studied occultism with me for a considerable time, and the third was a very practical man of business who, although he knew very little of such subjects at that stage, was a natural psychic and occasionally passed out of his body in full consciousness at night. He had often seen our dead friend at these times and had brought back messages and instructions. In fact it was partly under her guidance that this bungalow had been built in a lonely place with a view to using it for spiritual study where higher energies might be tapped undiluted, as it were, by too many human contacts. |
Trong số những người còn lại, một người là chủ ngôi bungalow và đã cùng tôi nghiên cứu huyền bí học trong một thời gian khá lâu, còn người thứ ba là một doanh nhân rất thực tế, tuy ở giai đoạn ấy biết rất ít về những đề tài như vậy, nhưng lại là một người thông linh bẩm sinh và đôi khi ban đêm ra khỏi thể mình trong trạng thái hoàn toàn tỉnh thức. Vào những lúc ấy, ông thường thấy người bạn đã khuất của chúng tôi và đã mang về những thông điệp cùng chỉ dẫn. Thật ra, chính một phần dưới sự hướng dẫn của bà mà ngôi bungalow này đã được xây ở một nơi hẻo lánh, với mục đích dùng cho việc nghiên cứu tinh thần, nơi các năng lượng cao hơn có thể được khai thác, có thể nói như vậy, mà không bị pha loãng bởi quá nhiều tiếp xúc nhân loại. |
|
We were none of us of the type given to hysterical imaginings and were always on our guard against selfdeception. Now, however, we found ourselves up against something we could neither control nor explain away. |
Không ai trong chúng tôi thuộc loại dễ có những tưởng tượng cuồng loạn, và chúng tôi luôn cảnh giác trước sự tự lừa dối. Nhưng giờ đây, chúng tôi thấy mình đang đối diện với một điều gì đó mà mình không thể kiểm soát cũng không thể giải thích cho qua. |
|
For as the moon grew to its full, so did the phenomena increase. |
Vì khi trăng dần tròn, các hiện tượng cũng gia tăng. |
|
Looking back with my present knowledge, I realize that the forces at work there must have been terrific. Even then, beginners though we were, we could sense Powers moving majestically over the wide stretches of marshland, brooding over the house, filling the air with their soundless voices. Since that time I have been permitted to visualize their shapes, to glimpse, however imperfectly, a faint shadow of their strength and their wisdom. Then I could only vaguely feel their presence. They were indeed gathering closer about us, forming a vortex of energy over this small centre, Powers of the air, the sea, and the earth; in their essence beneficent rather than malevolent; but to any who, like ourselves, had invoked them wrongly in past lives and were, through the mysterious compulsion of the Law, about to repay some of those ancient debts, they could represent a very real menace. |
Nhìn lại với hiểu biết hiện nay của mình, tôi nhận ra rằng các mãnh lực hoạt động ở đó hẳn phải khủng khiếp. Ngay cả khi ấy, dù chỉ là những người mới bắt đầu, chúng tôi cũng có thể cảm nhận được các Quyền Năng đang uy nghi di chuyển trên những khoảng đầm lầy rộng lớn, bao trùm ngôi nhà, làm đầy không khí bằng những tiếng nói không âm thanh của các Ngài. Kể từ đó, tôi đã được phép hình dung các hình thể của các Ngài, được thoáng thấy, dù rất bất toàn, một cái bóng mờ nhạt của sức mạnh và minh triết của các Ngài. Khi ấy tôi chỉ có thể mơ hồ cảm thấy sự hiện diện của các Ngài. Quả thật các Ngài đang tụ lại gần chúng tôi hơn, hình thành một xoáy năng lượng trên trung tâm nhỏ bé này, các Quyền Năng của không khí, của biển và của đất; trong tinh chất của các Ngài thì từ thiện hơn là ác ý; nhưng đối với bất kỳ ai, như chính chúng tôi, đã từng khẩn cầu các Ngài sai lầm trong những kiếp trước và nay, qua sự thôi thúc huyền nhiệm của Định luật, sắp phải hoàn trả một số món nợ cổ xưa ấy, thì các Ngài có thể tượng trưng cho một mối đe dọa rất thực. |
|
And as the vortex increased, the surplus of psychic energy began to take effect in physical matter. Its actual manifestations were trivial, but since we were all by this time unwittingly like small dynamos giving off power, objects in our immediate vicinity became affected by it. |
Và khi xoáy lực tăng lên, phần dư thừa của năng lượng thông linh bắt đầu tác động trong vật chất hồng trần. Những biểu hiện thực tế của nó thì tầm thường, nhưng vì đến lúc này tất cả chúng tôi đều vô tình giống như những máy phát điện nhỏ đang phát ra năng lượng, nên các vật ở gần chúng tôi bị ảnh hưởng bởi nó. |
|
Bedclothes were torn off the beds. Ink was thrown on to the wall. Messages were even found scribbled on any bit of paper which had been left lying about. Once a threatening sentence was written in the dust on a mirror in a disused room. |
Chăn màn bị giật khỏi giường. Mực bị hắt lên tường. Thậm chí người ta còn thấy những thông điệp được nguệch ngoạc trên bất kỳ mẩu giấy nào bị bỏ nằm quanh đó. Có lần một câu đe dọa được viết trong lớp bụi trên một tấm gương trong căn phòng bỏ không. |
|
That room, indeed, soon became a focus for this alien influx of life. The dog refused absolutely to go into it and slunk miserably about, puzzled and alarmed. |
Quả thật, căn phòng ấy chẳng bao lâu đã trở thành một tiêu điểm cho luồng sự sống xa lạ này. Con chó tuyệt đối không chịu vào đó và lủi thủi đi quanh trong vẻ khổ sở, bối rối và hoảng sợ. |
|
The one clairvoyant member of our group occasionally caught glimpses of these activities; once he saw white figures marching round the little room which was always kept apart for meditation. He saw the sailor again. He saw the small garden full of moving lights and, what was more alarming, one evening he informed us that there was a gigantic toad seated on the back of a chair. |
Thành viên thông nhãn duy nhất trong nhóm chúng tôi đôi khi thoáng thấy những hoạt động này; có lần ông thấy những hình trắng diễu hành quanh căn phòng nhỏ luôn được dành riêng cho việc tham thiền. Ông lại thấy người thủy thủ. Ông thấy khu vườn nhỏ đầy những ánh sáng chuyển động và, điều đáng báo động hơn, một buổi tối ông báo cho chúng tôi biết rằng có một con cóc khổng lồ đang ngồi trên lưng ghế. |
|
But we were not seriously worried; we treated it all rather as a joke, slightly irritated by the seeming irrelevancy of these occurrences, but not in the least aware of their real significance. |
Nhưng chúng tôi không thực sự lo lắng; chúng tôi xem tất cả khá như một trò đùa, hơi bực mình vì tính có vẻ vô nghĩa của những sự việc ấy, nhưng hoàn toàn không nhận thức được ý nghĩa thực sự của chúng. |
|
Then one night when the moon was almost full I had a dream; and from that dream dates the beginning of what was undoubtedly the turning-point of my own life. |
Rồi một đêm khi trăng gần tròn, tôi có một giấc mơ; và từ giấc mơ ấy bắt đầu điều chắc chắn là bước ngoặt trong chính đời tôi. |
|
Now I have found—and this has been confirmed for me by others, even by a practising psychotherapist—that there are two definite types of dreams. One is the ordinary mixture of symbols and images, nearly all arising from the activities of the subconscious mind, motivated by the desires, repressions, waking thoughts, and experiences of the personality; that happy hunting-ground, in fact, wherein the disciple of any of the innumerable schools of psychotherapy disports himself, without realizing that he is probing into that most illusive of all realms, the emotional or “astral” plane. |
Giờ đây tôi nhận thấy—và điều này đã được những người khác xác nhận cho tôi, kể cả một nhà tâm lý trị liệu đang hành nghề—rằng có hai loại giấc mơ rõ rệt. Một loại là hỗn hợp thông thường của các biểu tượng và hình ảnh, gần như tất cả đều phát sinh từ các hoạt động của tiềm thức, được thúc đẩy bởi những ham muốn, dồn nén, tư tưởng lúc thức và kinh nghiệm của phàm ngã; nói cách khác, đó là bãi săn vui vẻ nơi đệ tử của bất kỳ trường phái tâm lý trị liệu vô số nào cũng tung tăng hoạt động, mà không nhận ra rằng y đang thăm dò vào cõi khó nắm bắt nhất trong mọi cõi, tức cõi cảm xúc hay “cõi cảm dục”. |
|
The other kind of dream, which I believe to be rare as yet with the majority of mankind, is so different that for one who has experienced it no confusion can arise. |
Loại giấc mơ kia, mà tôi tin rằng cho đến nay vẫn còn hiếm đối với đa số nhân loại, khác biệt đến mức đối với người đã từng trải nghiệm nó thì không thể có sự nhầm lẫn nào. |
|
Not only have such dreams a vividness, a logical sequence and an actuality lacking in the most logical even of the others, but they have another quality which, because of its very subtlety, is practically impossible to explain— just as it would be impossible to explain colour to a blind man, sound to a deaf one, or love to one who had never experienced it. These dreams inevitably have a powerful effect upon one’s waking life and fill it with new significance, for they are actually memories of activities out of the body rather than anything connected with it during its conscious state. |
Những giấc mơ như thế không những có một sự sống động, một trình tự hợp lý và một tính hiện thực mà ngay cả những giấc mơ hợp lý nhất trong loại kia cũng thiếu, mà còn có một phẩm tính khác, do chính sự vi tế của nó, hầu như không thể giải thích được—cũng như không thể giải thích màu sắc cho người mù, âm thanh cho người điếc, hay tình yêu cho người chưa từng trải nghiệm nó. Những giấc mơ này tất yếu có một tác động mạnh mẽ lên đời sống lúc thức của một người và làm cho nó đầy thâm nghĩa mới, vì chúng thực sự là những ký ức về các hoạt động ngoài thể chứ không phải bất cứ điều gì liên quan đến thể trong trạng thái hữu thức của nó. |
|
Such a dream did I have that night. I found myself in Atlantis; I walked through the streets of the forgotten City of the Golden Gate, engaged in the consideration of a problem vital to my very existence; for I was at a crisis which was as clear and personal to me as my twentiethcentury life is in my waking state. I woke before the problem was solved and slept again to find myself once more the same man. But now the scene had changed; my whole destiny had altered. I was engaged in the practice of a magical rite, the horror of which was such that I awoke abruptly as if afraid of being forced to re-enact that dead but still vivid episode of the past. |
Đêm ấy tôi đã có một giấc mơ như vậy. Tôi thấy mình ở Atlantis; tôi đi qua các đường phố của Thành phố Cổng Vàng bị lãng quên, đang bận suy xét một vấn đề sống còn đối với chính sự tồn tại của mình; vì tôi đang ở trong một cơn khủng hoảng rõ ràng và riêng tư đối với tôi cũng như đời sống thế kỷ hai mươi của tôi rõ ràng trong trạng thái thức. Tôi tỉnh dậy trước khi vấn đề được giải quyết và lại ngủ tiếp để thấy mình một lần nữa vẫn là chính người đàn ông ấy. Nhưng giờ đây cảnh tượng đã thay đổi; toàn bộ định mệnh của tôi đã đổi khác. Tôi đang thực hành một nghi lễ huyền thuật mà nỗi kinh hoàng của nó lớn đến mức tôi bừng tỉnh đột ngột như thể sợ bị buộc phải tái diễn lại giai đoạn quá khứ đã chết nhưng vẫn còn sống động ấy. |
|
The next morning I took out my neglected typewriter and attempted to write the experience down in dramatic form. The words flowed with amazing ease. Every writer knows that rush of inspiration which carries him out of his normal self, surprising him often, using him when he fondly imagines that he is using it. But on that morning there was no doubt as to who had the upper hand. I felt myself to be no more than an instrument. |
Sáng hôm sau tôi lấy chiếc máy đánh chữ bị bỏ quên của mình ra và cố gắng ghi lại trải nghiệm ấy dưới hình thức kịch tính. Từ ngữ tuôn ra dễ dàng đến kinh ngạc. Mọi nhà văn đều biết cơn tuôn trào cảm hứng ấy, thứ cuốn y ra khỏi bản thân bình thường của mình, thường làm y ngạc nhiên, sử dụng y khi y trìu mến tưởng rằng mình đang sử dụng nó. Nhưng sáng hôm ấy không còn nghi ngờ gì về việc ai là bên nắm quyền chủ động. Tôi cảm thấy mình không hơn gì một công cụ. |
|
Scenes built themselves up magically, even the language was not my own. So for several hours I wrote, then abruptly the flow ceased like a river suddenly dammed, and I was left with a story only half finished. What intrigued me in this connection was that the black magic episode of my dream did not appear to fit in anywhere here, but obviously belonged to a later date in the life of this man who had, in these few hours, become somehow so intimately myself that I could almost feel his mind merging with my modern one. |
Các cảnh tự dựng lên một cách huyền diệu, ngay cả ngôn ngữ cũng không phải của riêng tôi. Vì thế trong nhiều giờ tôi viết, rồi đột ngột dòng chảy ngừng lại như một con sông bỗng bị đắp đập, và tôi bị bỏ lại với một câu chuyện mới chỉ hoàn thành một nửa. Điều khiến tôi thấy kỳ lạ trong mối liên hệ này là giai đoạn hắc thuật trong giấc mơ của tôi dường như không ăn khớp ở đâu cả ở đây, mà rõ ràng thuộc về một thời điểm muộn hơn trong đời của người đàn ông này, kẻ trong vài giờ ấy bằng cách nào đó đã trở nên thân mật với chính tôi đến mức tôi gần như có thể cảm thấy trí tuệ của ông hòa lẫn với trí tuệ hiện đại của mình. |
|
I imagined I would get the rest of the story that night in sleep, but nothing of the sort happened. It then occurred to my friend that I should try what could be done with automatic writing. I was not hopeful. I had only once or twice attempted it, but the pencil had always remained motionless. Yet although I was actually in resistance to any such methods of communication, now I felt a strong urge to try what could be done. |
Tôi tưởng rằng đêm ấy trong giấc ngủ mình sẽ nhận được phần còn lại của câu chuyện, nhưng chẳng có chuyện gì như thế xảy ra. Khi ấy người bạn tôi nảy ra ý nghĩ rằng tôi nên thử xem có thể làm được gì bằng lối viết tự động. Tôi không hy vọng gì. Tôi chỉ mới thử một hai lần, nhưng cây bút chì luôn bất động. Tuy vậy, dù thực sự tôi đang chống lại bất kỳ phương pháp giao tiếp nào như thế, giờ đây tôi lại cảm thấy một thôi thúc mạnh mẽ muốn thử xem có thể làm được gì. |
|
One of our number had gone away for a few days on business, so the two of us who were left went that night into the sun-room, as the meditation room was called. We turned on the gramophone—it was Cesar Franck’s Symphony in D Minor, I remember—and I settled down with a pencil and block of paper in an extremely sceptical mood. |
Một người trong nhóm chúng tôi đã đi vắng vài ngày vì công việc, nên hai người còn lại tối hôm ấy vào phòng kính, như cách gọi căn phòng tham thiền. Chúng tôi bật máy hát đĩa—đó là Bản Giao Hưởng Rê thứ của Cesar Franck, tôi còn nhớ—và tôi ngồi xuống với một cây bút chì và một xấp giấy trong tâm trạng cực kỳ hoài nghi. |
|
But to my amazement within a few minutes the pencil began to move. Like a thing possessed it rushed over the paper. I had deliberately not made myself too negative, and now I attempted to follow its movements with my mind, for the room was in darkness. After about half an hour I knocked off. |
Nhưng điều làm tôi kinh ngạc là chỉ trong vài phút cây bút chì bắt đầu chuyển động. Như một vật bị nhập, nó lao trên mặt giấy. Tôi cố ý không để mình trở nên quá thụ động, và giờ đây tôi cố gắng theo dõi các chuyển động của nó bằng trí tuệ mình, vì căn phòng đang tối. Sau khoảng nửa giờ tôi dừng lại. |
|
“Nothing,” I said; “scribbles—pure waste of good time.” |
“Chẳng có gì cả,” tôi nói; “toàn những nét nguệch ngoạc—phí hoài thời giờ quý báu.” |
|
And so it was—not even an attempt at a word anywhere. |
Và đúng là như vậy—thậm chí không có lấy một cố gắng tạo thành từ nào ở bất cứ đâu. |
|
However, I thought I would give it one more trial, and the next night the same performance was repeated, except that this time it seemed to me that the pencil had formed, however crudely, the name of our dead friend. |
Tuy nhiên, tôi nghĩ mình sẽ thử thêm một lần nữa, và đêm hôm sau cùng một màn trình diễn ấy lặp lại, ngoại trừ lần này tôi có cảm giác rằng cây bút chì đã tạo thành, dù rất vụng về, tên của người bạn đã khuất của chúng tôi. |
|
This was found to be correct. The next evening a fragmentary message came through. Within four days I was writing fluently; but unlike the usual automatic writer, I always knew what was being written—hand and brain receiving the message simultaneously. |
Điều này được thấy là đúng. Tối hôm sau một thông điệp rời rạc được truyền qua. Chỉ trong bốn ngày tôi đã viết trôi chảy; nhưng khác với người viết tự động thông thường, tôi luôn biết điều gì đang được viết—tay và não cùng lúc tiếp nhận thông điệp. |
|
I am perfectly aware that to many this method will be dismissed as suspect, a mere projection from the subconscious mind or something of the sort. As a matter of fact, no one could have been more sceptical than I was myself. I had studied psychology too long to accept any such manifestations blindly. In any case I had always considered automatic writing more open to conscious or unconscious fraud than other forms of communication, and I think so still. I cannot even now prove that what I got then did not come from my subconscious mind—I can only say that in view of later events, of much careful investigation and proofs which satisfied me and others completely, I believe them to have been genuine messages. |
Tôi hoàn toàn ý thức rằng đối với nhiều người, phương pháp này sẽ bị gạt bỏ như điều đáng ngờ, chỉ là một sự phóng chiếu từ tiềm thức hay điều gì đó tương tự. Thực ra, không ai có thể hoài nghi hơn chính tôi. Tôi đã nghiên cứu tâm lý học quá lâu để chấp nhận mù quáng bất kỳ biểu hiện nào như thế. Dù sao đi nữa, tôi luôn xem viết tự động là dễ bị gian dối hữu thức hay vô thức hơn các hình thức giao tiếp khác, và tôi vẫn nghĩ như vậy. Ngay cả bây giờ tôi cũng không thể chứng minh rằng điều tôi nhận được khi ấy không đến từ tiềm thức của mình—tôi chỉ có thể nói rằng xét theo các biến cố về sau, theo nhiều cuộc điều tra cẩn trọng và những bằng chứng đã làm tôi và những người khác hoàn toàn thỏa mãn, tôi tin đó là những thông điệp chân thực. |
|
An important point which should be taken into consideration is that they could have been due to no sort of wish fulfilment. Neither my emotions nor my desires were involved. As I have said, I had never wished to communicate with our dead friend. I had started writing fired by the extraordinary manner in which my Atlantean life had come through, and hoping to get some more information about that or other incarnations; I got nothing of the sort. My story remained incomplete, but instead, now, at any time of the day or night, whether alone or with my companions, information of all sorts poured through; some of it obviously of importance to our development, some of it merely mirroring the interest and affection of our dead friend for all of us. |
Một điểm quan trọng cần được cân nhắc là chúng không thể là kết quả của bất kỳ kiểu thỏa mãn ước muốn nào. Cảm xúc lẫn ham muốn của tôi đều không dính líu. Như tôi đã nói, tôi chưa bao giờ mong muốn giao tiếp với người bạn đã khuất của chúng tôi. Tôi đã bắt đầu viết vì được khơi lửa bởi cách thức phi thường mà đời sống Atlantis của mình đã hiện ra, và hy vọng có thêm thông tin về điều đó hoặc về những lần lâm phàm khác; tôi chẳng nhận được gì như thế cả. Câu chuyện của tôi vẫn dang dở, nhưng thay vào đó, giờ đây vào bất cứ lúc nào trong ngày hay đêm, dù một mình hay cùng các bạn đồng hành, đủ loại thông tin tuôn qua; một phần rõ ràng quan trọng đối với sự phát triển của chúng tôi, một phần chỉ đơn thuần phản chiếu sự quan tâm và tình cảm của người bạn đã khuất dành cho tất cả chúng tôi. |
|
About a week later she informed us that with her was a teacher from the other side who wished to get into touch with us. This, if true, was decidedly more interesting. We had, of course, no method of testing the veracity of this statement, save by sensing up to the best of our ability the utterances that the so-called teacher might think fit to put through; for in such a contingency judging a tree by its fruit is still, to my mind, the safest and only method of protection open to beings as limited as ourselves. |
Khoảng một tuần sau, bà cho chúng tôi biết rằng ở cùng bà có một huấn sư từ phía bên kia muốn liên lạc với chúng tôi. Nếu điều này là thật thì quả là thú vị hơn hẳn. Dĩ nhiên, chúng tôi không có phương pháp nào để kiểm tra tính chân thực của lời khẳng định ấy, ngoại trừ việc cảm nhận, hết sức mình, những lời phát biểu mà vị huấn sư được gọi như thế có thể thấy thích hợp để truyền qua; vì trong một tình huống như vậy, theo tôi, xét cây qua quả của nó vẫn là phương pháp an toàn nhất và duy nhất để tự bảo vệ mà những hữu thể hạn chế như chúng tôi có thể có. |
|
The teacher gave his message, and even as I wrote it, I sensed a change in the vibrations which flowed through my hand. There was immense power there, but also something more, something I cannot put into mere words. |
Vị huấn sư đã đưa ra thông điệp của mình, và ngay khi tôi viết nó, tôi cảm nhận được một sự thay đổi trong các rung động chảy qua tay mình. Ở đó có một quyền năng mênh mông, nhưng còn có điều gì hơn thế nữa, điều gì đó tôi không thể diễn đạt bằng lời thường. |
|
I can only explain it by saying that I had an overwhelming sense of being flooded with protective calm, with love, austerity, and remoteness mingled. No masquerading spook, no one of the dark forces of illusion, could have evoked this change. Others have experienced this heightening of vibration, this supercharging of the atmosphere as with the essence of those great qualities which we may show forth feebly and in part, but which, when manifested so perfectly their contact alone results in an immediate amplification of one’s own powers, so that for an instant one seems to participate in a superhuman consciousness. |
Tôi chỉ có thể giải thích bằng cách nói rằng tôi có một cảm giác áp đảo như bị tràn ngập bởi sự bình an che chở, bởi tình thương, sự nghiêm khắc và sự xa cách hòa lẫn. Không một hồn ma giả dạng nào, không một kẻ nào thuộc các mãnh lực đen tối của ảo tưởng, có thể gợi lên sự thay đổi này. Những người khác cũng đã trải nghiệm sự nâng cao rung động này, sự nạp đầy bầu khí quyển như bằng tinh chất của những phẩm tính vĩ đại ấy, những phẩm tính mà chúng ta có thể biểu lộ một cách yếu ớt và từng phần, nhưng khi được biểu lộ hoàn hảo đến thế thì chỉ riêng sự tiếp xúc với chúng cũng dẫn đến sự khuếch đại tức thì các năng lực của chính mình, đến mức trong một khoảnh khắc người ta dường như dự phần vào một tâm thức siêu nhân. |
|
This teacher was brief and to the point, as true teachers invariably are. They know the value of the economy of force; they obey a law which commands that no atom of energy may be wasted on any plane, no word used, no action performed, except in direct ratio to the value of the result to be achieved. Those whose work it is to teach humanity train their pupils with the same severity mingled with loving understanding that a competent teacher on the physical plane gives to the children under his charge. They have no time for idle talk and flattery, they look for results; if these results are not forthcoming in a specified time they will inevitably abandon the pupil to his own devices until he is ready to submit himself to that discipline which is necessary to all progress, spiritual as well as material. |
Vị huấn sư này ngắn gọn và đi thẳng vào điểm chính, như các huấn sư chân chính luôn luôn như vậy. Các Ngài biết giá trị của sự tiết kiệm mãnh lực; các Ngài tuân theo một định luật ra lệnh rằng không một nguyên tử năng lượng nào được phép bị lãng phí trên bất kỳ cõi nào, không một lời nào được dùng, không một hành động nào được thực hiện, trừ phi tương xứng trực tiếp với giá trị của kết quả cần đạt tới. Những ai có công việc là giáo huấn nhân loại sẽ đào luyện học trò của mình với cùng sự nghiêm khắc hòa lẫn thấu hiểu đầy yêu thương như một người thầy có năng lực trên cõi hồng trần dành cho những đứa trẻ dưới sự chăm nom của ông. Các Ngài không có thời giờ cho chuyện tán gẫu vô ích và nịnh hót, các Ngài tìm kiếm kết quả; nếu những kết quả ấy không xuất hiện trong một thời gian xác định, các Ngài tất yếu sẽ bỏ mặc học trò cho các phương tiện riêng của y cho đến khi y sẵn sàng tự đặt mình dưới kỷ luật cần thiết cho mọi tiến bộ, cả tinh thần lẫn vật chất. |
|
This is not the place to give a detailed account of all he told us then, suffice it to say that, having informed us that through our efforts in this and in other lives we had reached a stage where it was possible to hasten our development, he proceeded to give us a very clear idea of the probable difficulties, dangers, and sacrifices which we, as pupils, would inevitably be called upon to face. We had freewill in the matter. It was for us to choose, but that choice once made, there could be no turning back save at great loss to ourselves. It were better, indeed, to struggle on quietly at our own pace and to leave any attempt to hasten forward until another incarnation. He left us to consider the matter at our leisure before he would accept any decision. |
Đây không phải chỗ để kể chi tiết tất cả những gì Ngài đã nói với chúng tôi khi ấy; chỉ cần nói rằng, sau khi cho chúng tôi biết rằng qua những nỗ lực của mình trong kiếp này và các kiếp khác, chúng tôi đã đạt đến một giai đoạn mà ở đó có thể thúc đẩy nhanh sự phát triển của mình, Ngài tiếp tục cho chúng tôi một ý niệm rất rõ ràng về những khó khăn, nguy hiểm và hy sinh có thể xảy ra mà chúng tôi, với tư cách học trò, tất yếu sẽ được kêu gọi đối diện. Chúng tôi có tự do ý chí trong vấn đề này. Việc lựa chọn là ở chúng tôi, nhưng một khi sự lựa chọn ấy đã được thực hiện thì sẽ không thể quay lui, trừ phi phải chịu tổn thất lớn cho chính mình. Quả thật, tốt hơn là cứ lặng lẽ phấn đấu theo nhịp độ riêng của mình và để bất kỳ nỗ lực nào nhằm tiến nhanh hơn sang một lần lâm phàm khác. Ngài để chúng tôi tự do suy xét vấn đề trước khi chấp nhận bất kỳ quyết định nào. |
|
After he had gone, our friend spoke to us again and gave us a description of the teacher. What was my astonishment to find that it tallied with that of a guide who had been seen standing behind me by a medium some time previously. The medium had informed me that this particular individual was interested in my work and hoped to be able to impress me in the near future for various purposes. Since I did not think I had any mediumistic powers, I had entirely disbelieved the whole story and had forgotten it until that moment. |
Sau khi Ngài rời đi, người bạn của chúng tôi lại nói chuyện với chúng tôi và mô tả vị huấn sư. Tôi kinh ngạc biết bao khi thấy điều đó trùng khớp với mô tả về một vị hướng đạo đã từng được một đồng tử thấy đứng sau lưng tôi một thời gian trước đó. Người đồng tử ấy đã cho tôi biết rằng cá nhân đặc biệt này quan tâm đến công việc của tôi và hy vọng có thể gây ấn tượng lên tôi trong tương lai gần vì nhiều mục đích khác nhau. Vì tôi không nghĩ mình có bất kỳ năng lực đồng tử nào, tôi đã hoàn toàn không tin toàn bộ câu chuyện và quên bẵng nó cho đến khoảnh khắc ấy. |
|
Two days later the third of our trio returned from town. He was very interested in all that had occurred. He, by his own methods, had also quite independently brought through a very curious episode in which the four of us were engaged again in some magical practices in Atlantis; and talking the matter over, we became convinced that this episode too must be another disjointed fragment of an Atlantean incarnation in which we had contacted each other and which was being re-projected into our consciousness. But at present it was like a jigsaw puzzle of which many of the most important parts were lacking. I felt, for some reason which I could not then define, that it was essential for us to get through the story complete— that in some strange way what we had done then bore a direct relationship to what we were attempting to do now, and that in all probability until this past was cleared up we would not be able to make the desired progress, on the same principle that in psychotherapy a patient’s inhibitions and repressions must be brought up into the conscious mind before there can be any hope of a permanent cure. |
Hai ngày sau, người thứ ba trong nhóm ba chúng tôi trở về từ thành phố. Ông rất quan tâm đến tất cả những gì đã xảy ra. Bằng những phương pháp riêng của mình, ông cũng đã hoàn toàn độc lập đưa ra được một giai đoạn rất kỳ lạ trong đó cả bốn chúng tôi lại cùng tham gia vào một số thực hành huyền thuật ở Atlantis; và khi cùng nhau bàn bạc vấn đề, chúng tôi đi đến chỗ tin chắc rằng giai đoạn này cũng phải là một mảnh rời khác của một lần lâm phàm Atlantis trong đó chúng tôi đã tiếp xúc với nhau và hiện đang được phóng chiếu trở lại vào tâm thức của mình. Nhưng hiện tại nó giống như một trò ghép hình mà nhiều phần quan trọng nhất còn thiếu. Vì một lý do nào đó mà khi ấy tôi chưa thể xác định, tôi cảm thấy điều cốt yếu là chúng tôi phải nhận được câu chuyện trọn vẹn—rằng bằng một cách kỳ lạ nào đó, điều chúng tôi đã làm khi ấy có liên hệ trực tiếp với điều chúng tôi đang cố làm bây giờ, và rất có thể cho đến khi quá khứ này được làm sáng tỏ, chúng tôi sẽ không thể đạt được sự tiến bộ mong muốn, theo cùng nguyên tắc như trong tâm lý trị liệu, những ức chế và dồn nén của bệnh nhân phải được đưa lên trí tuệ hữu thức trước khi có thể hy vọng vào một sự chữa lành bền vững. |
|
We therefore determined to sit together in the sunroom and see if we could deliberately project ourselves back into this past. I realize now all the dangers involved in such an experiment. Fortunately, perhaps, we none of us had the slightest conception of the powers we were light-heartedly about to invoke. However, we did feel ourselves in some measure protected and under guidance —as indeed we were. |
Vì vậy chúng tôi quyết định cùng ngồi trong phòng kính và xem liệu có thể cố ý phóng chiếu mình trở lại quá khứ ấy hay không. Giờ đây tôi nhận ra mọi nguy hiểm liên quan đến một thí nghiệm như vậy. Có lẽ may mắn thay, không ai trong chúng tôi có chút khái niệm nào về những quyền năng mà mình sắp vô tư khẩn cầu. Tuy nhiên, chúng tôi có cảm thấy mình phần nào được che chở và được hướng dẫn—và quả thật là như vậy. |
|
That night the moon was full. We bathed directly it was dark. The sea was phosphorescent; as our arms cleaved the black water, silver globules rolled from our fingers and washed round our heads. The warm night enfolded us; sea and sky and earth merged in one blue profundity, only the gold light from our bungalow hung in the void, marking for us the boundaries of earth. I swam far out, following the path of the moon—ancient goddess of magic; the water seemed to mingle with my very substance, cooling the fiery particles of the sun which had vitalized my limbs during the long August day. |
Đêm ấy trăng tròn. Chúng tôi đi tắm ngay khi trời tối. Biển phát quang; khi cánh tay chúng tôi rẽ làn nước đen, những cầu bạc lăn khỏi các ngón tay và cuộn quanh đầu chúng tôi. Đêm ấm áp bao bọc chúng tôi; biển, trời và đất hòa vào một vực sâu xanh thẳm, chỉ có ánh đèn vàng từ ngôi bungalow của chúng tôi treo trong khoảng không, đánh dấu cho chúng tôi ranh giới của đất liền. Tôi bơi rất xa, theo con đường của mặt trăng—nữ thần cổ xưa của huyền thuật; nước dường như hòa lẫn với chính chất liệu của tôi, làm dịu những hạt lửa của mặt trời đã tiếp sinh lực cho tay chân tôi trong suốt ngày tháng Tám dài. |
|
I remember that, after our bathe, we put on the gramophone and sat for a while on the step looking towards the invisible sea over the little garden where the flowers glowed, dimly silver. The earth was so still that the tides of life might have all receded, leaving us in a dark void full of music. I think we must each have experienced the same feeling of expectancy of great events pending, but it was muted by a curious calm, as of something destined and inevitable. |
Tôi nhớ rằng sau khi tắm, chúng tôi bật máy hát đĩa và ngồi một lúc trên bậc thềm nhìn về phía biển vô hình qua khu vườn nhỏ nơi những bông hoa phát sáng mờ bạc. Đất tĩnh lặng đến mức những thủy triều của sự sống dường như đã rút hết, để lại chúng tôi trong một khoảng không tối đầy âm nhạc. Tôi nghĩ hẳn mỗi người chúng tôi đều đã trải qua cùng một cảm giác mong đợi những biến cố lớn lao đang chờ đợi, nhưng nó được làm dịu bởi một sự bình an kỳ lạ, như của điều gì đó đã được định sẵn và không thể tránh. |
|
Presently we went into the sun-room and put out the light. All the windows were wide open; the stillness was so intense one could hear, as if from infinite distances, the sibilant whisper of the little waves against the shingle. And as we sat there, so did the silence grow. It closed down on us now like a living presence. It became vibrant with unseen power. The power increased until it was as if every particle in the atmosphere, in our bodies, in our thoughts even, were supercharged, speeded up to an almost unbearable voltage.’ |
Chẳng bao lâu sau chúng tôi vào phòng kính và tắt đèn. Tất cả các cửa sổ đều mở rộng; sự tĩnh lặng mãnh liệt đến mức người ta có thể nghe, như từ những khoảng cách vô tận, tiếng thì thầm rì rào của những con sóng nhỏ trên bãi sỏi. Và khi chúng tôi ngồi đó, sự im lặng cũng lớn dần. Giờ đây nó khép xuống trên chúng tôi như một sự hiện diện sống động. Nó trở nên rung động với quyền năng vô hình. Quyền năng ấy tăng lên cho đến khi dường như mọi hạt trong bầu khí quyển, trong thân thể chúng tôi, thậm chí trong cả tư tưởng của chúng tôi, đều được nạp đầy quá mức, được tăng tốc đến một điện thế gần như không thể chịu nổi.’ |
|
Then suddenly, as if some alchemical process which had been long maturing were in that moment perfected, from one second to the next the process of time was reversed and we were back in an age dead thousands of years ago. |
Rồi đột nhiên, như thể một tiến trình luyện kim đã chín muồi từ lâu nay trong khoảnh khắc ấy được hoàn tất, từ giây này sang giây khác tiến trình của thời gian bị đảo ngược và chúng tôi trở lại một thời đại đã chết từ hàng ngàn năm trước. |
|
Of what followed I can speak but inadequately, and only from my personal point of view. Each man is the architect of his own edifice, no two have built alike, even though their acts may have appeared in essence similar. What my companions felt, I do not know; these things can seldom be described for they take place in a dimension for which mankind has as yet no words; but I make the attempt here because without some explanation all that follows will be meaningless. |
Về những gì tiếp theo, tôi chỉ có thể nói một cách bất toàn, và chỉ từ quan điểm cá nhân của mình. Mỗi người là kiến trúc sư của tòa nhà riêng mình, không hai người nào xây giống nhau, dù hành động của họ về bản chất có thể có vẻ tương tự. Những người bạn đồng hành của tôi đã cảm thấy gì, tôi không biết; những điều này hiếm khi có thể được mô tả vì chúng diễn ra trong một chiều kích mà nhân loại cho đến nay vẫn chưa có từ ngữ; nhưng tôi cố gắng làm điều đó ở đây vì nếu không có một vài giải thích thì tất cả những gì tiếp theo sẽ vô nghĩa. |
|
Undoubtedly all four of us—for our dead friend was with us in this—each in a way peculiar to himself and his development, participated then, through some process of egoic memory which I do not pretend to understand, in the reflection of these ancient events. |
Không nghi ngờ gì, cả bốn chúng tôi—vì người bạn đã khuất của chúng tôi cũng ở cùng chúng tôi trong việc này—mỗi người theo cách riêng phù hợp với chính mình và với sự phát triển của mình, đã tham dự vào lúc ấy, qua một tiến trình ký ức chân ngã mà tôi không dám giả vờ thấu hiểu, vào sự phản chiếu của những biến cố cổ xưa ấy. |
|
Thus the past was recreated; we were back in that temple in Atlantis, engaged in a magical rite of which I have written more fully later on in this book. |
Như vậy quá khứ đã được tái tạo; chúng tôi trở lại ngôi đền ấy ở Atlantis, đang tham gia vào một nghi lễ huyền thuật mà tôi đã viết đầy đủ hơn ở phần sau của cuốn sách này. |
|
As for me, I became at that moment dual. Half of me went back and took on the consciousness of this Atlantean, Cheor; but the other half, my modern self, remained all the while aloof and surveyed the scene with a detached, almost scientific interest. |
Còn về phần tôi, trong khoảnh khắc ấy tôi trở nên kép. Một nửa tôi quay trở lại và mang lấy tâm thức của người Atlantis ấy, Cheor; nhưng nửa kia, bản thân hiện đại của tôi, suốt thời gian ấy vẫn đứng tách rời và quan sát cảnh tượng với một sự quan tâm tách rời, gần như khoa học. |
|
However, I would have it clearly understood that I— for I identify myself solely with that part which stood aloof—never lost control of the personality which had rebecome Cheor, nor did I seek through any effort of will to evade the experience. I knew it had to be faced, that it was necessary and might not be avoided. I did not even fear it, for all the while I was conscious of that same exquisite and calm vibration which had enfolded us on the day the teacher had spoken. This was my anchorage despite the fact that on the physical and emotional planes where my body functioned the psychic turmoil increased with every moment and was gradually changing, so that at last it became the very quintessence of evil, corresponding to the nature of thost Atlanteans which we once had been. It grew; now it took on form. The room was filled with Presences which this black, evil rite had once evoked. They swarmed about us, personified forces of lust, of hatred, of satanic pride released at last from the prisonhouse in which they had been incarcerated until we had become strong enough consciously to contact them. They hurled themselves upon us, seeking in our present bodies any vibrations which, answering still to theirs, would allow them entry and offer them the opportunity of possession. |
Tuy nhiên, tôi muốn nói thật rõ rằng tôi—vì tôi chỉ đồng hoá với phần đứng tách rời ấy—không bao giờ mất kiểm soát đối với phàm ngã đã trở lại thành Cheor, cũng không tìm cách né tránh trải nghiệm ấy bằng bất kỳ nỗ lực ý chí nào. Tôi biết nó phải được đối diện, rằng nó cần thiết và không thể tránh khỏi. Tôi thậm chí không sợ nó, vì suốt thời gian ấy tôi vẫn ý thức được cùng rung động tinh tế và bình an đã bao bọc chúng tôi vào ngày vị huấn sư lên tiếng. Đó là chỗ neo của tôi mặc dù trên các cõi hồng trần và cảm xúc, nơi thể tôi hoạt động, cơn hỗn loạn thông linh tăng lên theo từng khoảnh khắc và dần dần biến đổi, đến cuối cùng trở thành chính tinh chất của điều ác, tương ứng với bản chất của những người Atlantis mà chúng tôi đã từng là. Nó lớn dần; giờ đây nó mang lấy hình tướng. Căn phòng đầy những Hiện Diện mà nghi lễ đen tối, tà ác này đã từng khẩn cầu. Chúng vây kín quanh chúng tôi, những mãnh lực được nhân cách hóa của dục vọng, của hận thù, của kiêu ngạo satan được giải phóng sau cùng khỏi ngục thất nơi chúng đã bị giam giữ cho đến khi chúng tôi trở nên đủ mạnh để hữu thức tiếp xúc với chúng. Chúng lao vào chúng tôi, tìm kiếm trong các thể hiện tại của chúng tôi bất kỳ rung động nào vẫn còn đáp ứng với rung động của chúng, để cho phép chúng xâm nhập và trao cho chúng cơ hội chiếm hữu. |
|
At that time, fortunately, I did not realize what was happening; I was aware only of tremendous conflict, unseen but vitally experienced and knew that, at all costs, I must retain control. But at last, when the horror of the experience reached its climax, when the converging forces broke with a shattering vibration over our heads, in extremity I called upon the teacher. Almost on the instant the tension lessened; like waves receding at the turn of the tide, the psychic forces grew weaker, gradually diminishing until they faded out and the room became like an empty shell. |
May thay, lúc ấy tôi không nhận ra điều gì đang xảy ra; tôi chỉ ý thức được một cuộc xung đột ghê gớm, vô hình nhưng được trải nghiệm một cách sống động, và biết rằng bằng mọi giá tôi phải giữ được sự kiểm soát. Nhưng cuối cùng, khi nỗi kinh hoàng của trải nghiệm đạt đến cực điểm, khi các mãnh lực hội tụ vỡ xuống trên đầu chúng tôi với một rung động chấn động, trong cơn cùng cực tôi đã kêu cầu vị huấn sư. Gần như ngay tức khắc, sự căng thẳng giảm bớt; như những con sóng rút đi khi thủy triều đổi chiều, các mãnh lực thông linh yếu dần, từ từ giảm xuống cho đến khi tan biến và căn phòng trở nên như một cái vỏ rỗng. |
|
We turned on the light. We were all considerably shaken. I remember my forehead was pearled with cold sweat, my teeth were chattering, and try as I might I was unable to control the occasional bursts of shivering which ran over me like jets of icy water. I would have given a lot for a stiff whisky at that moment, but drinks and smokes had already gone the way of meat diet and were strictly taboo, so we had to make the best of what seemed an extremely inadequate cup of tea. |
Chúng tôi bật đèn lên. Tất cả đều bị chấn động mạnh. Tôi nhớ trán mình lấm tấm mồ hôi lạnh, răng va lập cập, và dù cố đến đâu tôi cũng không thể kiểm soát được những cơn run thỉnh thoảng chạy khắp người như những tia nước băng giá. Lúc ấy tôi sẵn sàng đánh đổi rất nhiều để có một ly whisky mạnh, nhưng rượu và thuốc lá đã cùng chung số phận với chế độ ăn thịt và bị nghiêm cấm, nên chúng tôi đành phải bằng lòng với thứ có vẻ là một tách trà cực kỳ không tương xứng. |
|
I imagined that my night would be shattered by alarming dreams and visions, but I slept heavily and awoke quite fit and prepared for any other surprising events that might be waiting for us. |
Tôi tưởng rằng đêm ấy của mình sẽ bị phá nát bởi những giấc mơ và linh ảnh đáng sợ, nhưng tôi ngủ rất say và thức dậy hoàn toàn khỏe khoắn, sẵn sàng cho bất kỳ biến cố đáng ngạc nhiên nào khác có thể đang chờ chúng tôi. |
|
But that extraordinary experience seemed for the time being to have exhausted the psychic forces involved. |
Nhưng trải nghiệm phi thường ấy dường như, ít nhất trong lúc ấy, đã làm cạn kiệt các mãnh lực thông linh liên quan. |
|
This last sitting had taken place just ten days before our party was due to break up, for I had to return to my work in London and another friend was coming down to stay at the bungalow instead of me. There was thus a short interim for readjustment, and looking back on these events, one marvels at the perfect timing of their activities by those on the other side. These ten days were absolutely essential in order that we should be enabled to settle down and prepare ourselves for renewed contacts with the outer world, since inevitably we were bewildered and shaken by the spectacular suddenness of these occurrences and still confused by contact with this new dimension into which we had all been hurled. |
Buổi ngồi cuối cùng này diễn ra đúng mười ngày trước khi nhóm chúng tôi phải giải tán, vì tôi phải trở về công việc ở Luân Đôn và một người bạn khác sẽ xuống ở bungalow thay tôi. Như vậy có một khoảng ngắn để tái chỉnh hợp, và khi nhìn lại những biến cố này, người ta phải kinh ngạc trước sự định thời hoàn hảo trong hoạt động của những người ở phía bên kia. Mười ngày ấy tuyệt đối cần thiết để chúng tôi có thể lắng xuống và chuẩn bị cho mình tái tiếp xúc với thế giới bên ngoài, vì tất yếu chúng tôi bị bối rối và chấn động bởi tính đột ngột ngoạn mục của những sự việc này và vẫn còn hoang mang do tiếp xúc với chiều kích mới mà tất cả chúng tôi đã bị ném vào. |
|
For, as I have said, the very foundations of our lives had been affected; we none of us were, nor could we ever be, entirely the same as hitherto: and it was not going to be an easy matter to take up one’s everyday existence from such a supercharged atmosphere of abnormality. Indeed it was a very long time before any of us came to view this episode with unbiased and wholly detached minds. |
Vì, như tôi đã nói, chính những nền móng của đời sống chúng tôi đã bị tác động; không ai trong chúng tôi còn là, hay có thể mãi mãi là, hoàn toàn như trước nữa: và việc quay lại với đời sống thường nhật từ một bầu khí quyển dị thường được nạp đầy như thế sẽ không phải là chuyện dễ dàng. Quả thật, phải rất lâu sau đó bất kỳ ai trong chúng tôi mới có thể nhìn biến cố này bằng một trí tuệ vô tư và hoàn toàn tách rời. |
|
In those ten days the psychic forces slowly decreased. I still, however, received messages in automatic writing, but these were to continue for many months to come. |
Trong mười ngày ấy, các mãnh lực thông linh chậm rãi giảm xuống. Tuy nhiên, tôi vẫn nhận được các thông điệp bằng viết tự động, nhưng điều này còn tiếp tục trong nhiều tháng sau nữa. |
|
We were, as a matter of fact, rather disappointed at the return to normal conditions, for we were beginning to accept marvels almost as a commonplace; but had we not been extremely ignorant of the inner significance of such phenomena generally and indeed of all occult matters and the laws governing the subtler planes, we should have realized that we had already been subjected to a strain which was as great—or even greater—than most normal people could possibly stand. |
Thực ra, chúng tôi khá thất vọng trước sự trở lại của những điều kiện bình thường, vì chúng tôi đang bắt đầu chấp nhận những điều kỳ diệu gần như chuyện thường; nhưng nếu chúng tôi không cực kỳ thiếu hiểu biết về ý nghĩa bên trong của những hiện tượng như vậy nói chung, và thật ra về mọi vấn đề huyền bí cùng các định luật chi phối các cõi vi tế hơn, thì hẳn chúng tôi đã nhận ra rằng mình đã phải chịu một sự căng thẳng lớn bằng—hoặc thậm chí lớn hơn—mức mà phần lớn người bình thường có thể chịu đựng. |
|
No explanations were at that time forthcoming, but I have since been made to realize the danger of the experiment. No such probing, indeed, into previous lives should ever be undertaken except under the supervision of such a teacher as ours, one who can see every weakness and every potential danger-point in the make-up of the pupils in his charge, and who can gauge what their power of resistance is likely to be to those emotional forces which are bound to sweep in through this opening of doors which, in the majority of cases, had better remain closed. For these forces can be of such a nature as actually to destroy the rash experimenter. |
Lúc ấy không có lời giải thích nào được đưa ra, nhưng từ đó tôi đã được làm cho nhận ra sự nguy hiểm của thí nghiệm ấy. Quả thật, không một sự thăm dò nào như vậy vào các kiếp trước nên được thực hiện trừ phi dưới sự giám sát của một vị huấn sư như vị của chúng tôi, một Đấng có thể thấy mọi điểm yếu và mọi điểm nguy hiểm tiềm tàng trong cấu tạo của các học trò dưới sự chăm nom của Ngài, và có thể đo lường sức đề kháng của họ có lẽ sẽ ra sao trước những mãnh lực cảm xúc chắc chắn sẽ tràn vào qua sự mở cửa này, những cánh cửa mà trong đa số trường hợp tốt hơn nên cứ để đóng. Vì những mãnh lực ấy có thể mang bản chất đến mức thực sự hủy diệt kẻ thí nghiệm liều lĩnh. |
|
Even under such supervision as we were given there remains still a strong element of danger; but as no rapid development is ever made without risks, the care and overshadowing of a wise teacher can mitigate them and keep them within the limits of the law of past Karma, so that no fresh karmic causes, due to ignorance, may be set in motion. |
Ngay cả dưới sự giám sát như chúng tôi đã được nhận, vẫn còn một yếu tố nguy hiểm mạnh; nhưng vì không có sự phát triển nhanh chóng nào từng đạt được mà không có rủi ro, nên sự chăm sóc và phủ bóng của một vị huấn sư minh triết có thể làm giảm nhẹ chúng và giữ chúng trong giới hạn của định luật nghiệp quả quá khứ, để không có những nguyên nhân nghiệp quả mới nào, do vô minh, bị khởi động. |
|
In our own case, for example, had there been in one of us if only for a second, what, for lack of a better word, I must call a short-circuit, so that the Higher Self or Soul lost contact with its vehicle of consciousness, those entities which our evil past had created might have swept in, seized upon the body and, once in possession, might never again have been dislodged, with the result that the person in question would have spent the rest of the incarnation in a mental home. Again, had there been some unsuspected or repressed vicious streak in our characters having a close affinity with the evil vibration of these entities, they could, once they had thus obtained a foothold, eventually have come to dominate the personality by playing upon and stimulating that weakness. This type of possession not infrequently occurs in connection with seances in which well-meaning but ignorant mediums, through succumbing to this intensification of some personal weakness, sink lower and lower, sometimes to end insane. |
Trong trường hợp của chính chúng tôi, chẳng hạn, giả sử nơi một người trong chúng tôi, dù chỉ trong một giây, đã xảy ra điều mà, vì không có từ nào hay hơn, tôi buộc phải gọi là một sự đoản mạch, khiến Bản Ngã Cao Siêu hay linh hồn mất liên lạc với vận cụ tâm thức của nó, thì những thực thể mà quá khứ xấu ác của chúng tôi đã tạo ra hẳn đã có thể tràn vào, chiếm lấy thể xác và, một khi đã chiếm hữu, có thể không bao giờ còn bị trục xuất nữa, với kết quả là người ấy sẽ phải sống phần còn lại của kiếp lâm phàm trong một nhà thương điên. Lại nữa, giả sử trong tính cách của chúng tôi có một khuynh hướng xấu ác nào đó không được ngờ tới hoặc bị dồn nén, có sự tương hợp gần gũi với rung động xấu ác của các thực thể này, thì một khi đã giành được chỗ đứng như thế, cuối cùng chúng có thể đi đến chỗ thống trị phàm ngã bằng cách tác động vào và kích thích điểm yếu ấy. Loại nhập xác này không phải hiếm khi xảy ra liên quan đến các Buổi gọi hồn, trong đó những đồng tử có thiện ý nhưng vô minh, do khuất phục trước sự tăng cường của một điểm yếu cá nhân nào đó, sa sút ngày càng thấp hơn, đôi khi kết thúc trong điên loạn. |
|
Later on it was explained to me that for the particular work we had each undertaken to do it was essential for us to make this close contact with our Atlantean incarnation; moreover, by thus permitting us to have so vivid and almost shattering an experience, our teachers were enabled to test our calibre, emotional, mental, and physical in order that they might correlate our future training to the result of the experiment upon our various bodies; for as no two persons react to a similar event in the same way, so for no two persons can the same method of training be applied. |
Về sau, người ta giải thích cho tôi rằng đối với công việc đặc thù mà mỗi chúng tôi đã đảm nhận, điều cốt yếu là chúng tôi phải tạo được sự tiếp xúc gần gũi này với kiếp lâm phàm Atlantis của mình; hơn nữa, bằng cách cho phép chúng tôi có một kinh nghiệm sống động và gần như chấn động đến thế, các huấn sư của chúng tôi có thể thử nghiệm tầm vóc của chúng tôi về cảm xúc, trí tuệ và hồng trần, để nhờ đó các Ngài có thể liên hệ việc huấn luyện tương lai của chúng tôi với kết quả của cuộc thử nghiệm trên các thể khác nhau của chúng tôi; vì cũng như không có hai người nào phản ứng trước cùng một biến cố theo cùng một cách, thì cũng không thể áp dụng cùng một phương pháp huấn luyện cho hai người nào. |
|
It is for this reason that it would be of little value were I to speak in detail of my own training which began as soon as I returned to London and the comparative Seclusion of ‘ my own flat. It was directed, of course, to the attainment of a certain sensitivity needed for the particular work I had to do. Almost immediately a series of drawings began to come through; some were pictures of Atlanteans and their ceremonies, some depicted nature spirits and devas and others were symbolical figures which I, who had had no artistic training, could not possibly have drawn by myself. But this, I was soon to learn, was only a preliminary. Gradually the more powerful type of automatic control lessened and was replaced by a type of mental clairaudi- ence used in conjunction with different vibrations, so that in time I could differentiate between my teachers and could hear inwardly what I was to do or to write. It was then that I was told that my first task was to be shown certain past lives in order to write a book that would illustrate and explain that great fundamental law of Karma— of cause and effect—which governs men’s lives and decides their fate in any incarnation. |
Chính vì lý do này mà việc tôi nói chi tiết về sự huấn luyện riêng của mình, bắt đầu ngay khi tôi trở về Luân Đôn và sống trong sự ẩn cư tương đối của căn hộ riêng, sẽ có rất ít giá trị. Dĩ nhiên, nó hướng đến việc đạt được một sự nhạy cảm nào đó cần thiết cho công việc đặc thù mà tôi phải làm. Gần như ngay lập tức, một loạt hình vẽ bắt đầu xuất hiện; có hình là chân dung người Atlantis và các nghi lễ của họ, có hình mô tả các tinh linh tự nhiên và các thiên thần, còn những hình khác là các hình tượng biểu trưng mà tôi, một người chưa từng được đào tạo nghệ thuật, tuyệt đối không thể tự mình vẽ ra. Nhưng điều này, tôi sớm được biết, mới chỉ là phần mở đầu. Dần dần, loại kiểm soát tự động mạnh mẽ hơn giảm bớt và được thay thế bằng một loại thông nhĩ trí tuệ được dùng phối hợp với những rung động khác nhau, đến nỗi theo thời gian tôi có thể phân biệt được các huấn sư của mình và có thể nghe bên trong điều tôi phải làm hay phải viết. Chính khi ấy tôi được bảo rằng nhiệm vụ đầu tiên của tôi là được cho thấy một số kiếp sống quá khứ để viết một cuốn sách minh họa và giải thích định luật nền tảng vĩ đại của nghiệp quả — của nhân và quả — vốn chi phối đời sống con người và quyết định số phận của họ trong bất kỳ kiếp lâm phàm nào. |
|
These lives were later given to me and as I received them, so I have written them here, with some of the explanations which my teacher also gave to me at the time. |
Về sau những kiếp sống này đã được trao cho tôi, và khi tôi tiếp nhận chúng thế nào, thì tôi đã viết chúng ở đây như thế, cùng với một số lời giải thích mà huấn sư của tôi cũng đã cho tôi vào lúc ấy. |
|
Unfortunately it has been necessary, through lack of space, to cut out one or two of these which were not so closely correlated with the Atlantean magic and its effects and to give a slighter sketch of several others. |
Đáng tiếc là do thiếu chỗ, cần phải cắt bỏ một hay hai trong số đó, là những trường hợp không liên hệ chặt chẽ đến huyền thuật Atlantis và các hậu quả của nó, và chỉ phác họa sơ lược hơn vài trường hợp khác. |
|
It will no doubt be objected by many readers that these episodes sound too much like fiction or the result an over- stimulated and unbalanced imagination to be taken seriously. It would be a reasonable criticism coming from anyone who had never had the experience of being precipitated back into past lives; yet those who, even momentarily, have stepped as it were out of time, will know that it is no more impossible to record the past than to record memories of one’s present existence. |
Chắc chắn nhiều độc giả sẽ phản đối rằng những tình tiết này nghe quá giống hư cấu hoặc là kết quả của một sự tưởng tượng bị kích thích quá mức và mất quân bình để có thể được xem trọng. Đó sẽ là một lời phê bình hợp lý nếu đến từ bất kỳ ai chưa từng có kinh nghiệm bị phóng ngược trở lại các kiếp sống quá khứ; tuy nhiên, những ai, dù chỉ trong chốc lát, đã bước ra khỏi thời gian, có thể nói như vậy, sẽ biết rằng việc ghi lại quá khứ không hề bất khả hơn việc ghi lại những ký ức của đời sống hiện tại của chính mình. |
|
The ability to read the past or to cognize the future is latent in all human beings, since all living things must of necessity partake in every cell of their being of that allpervading Mind from which manifestation is derived. That few can as yet either remember or foresee beyond certain limits is due to the fact that they are not yet consciously aware of their unity with the Whole and have not, therefore, attempted to develop their potentialities. But undoubtedly this capacity to exercise greatly extended powers of more subtle sight and vision is increasing and one day will be universal. |
Khả năng đọc được quá khứ hay nhận biết tương lai vốn tiềm ẩn trong mọi con người, vì mọi sinh vật sống tất yếu đều dự phần, trong từng tế bào của bản thể mình, vào Trí của Thượng đế bao trùm khắp nơi mà từ đó sự biểu hiện được phát sinh. Việc cho đến nay chỉ có ít người có thể nhớ lại hay thấy trước vượt quá những giới hạn nhất định là do họ chưa hữu thức nhận biết sự hợp nhất của mình với Toàn Thể và vì thế chưa cố gắng phát triển các tiềm năng của mình. Nhưng chắc chắn năng lực vận dụng những quyền năng được mở rộng rất lớn của loại thị giác và tầm nhìn tinh tế hơn này đang gia tăng và một ngày kia sẽ trở thành phổ quát. |
|
It has been said that all things are “but thoughts in the Mind of God”. If this is true it must follow that the entire past must still exist in some aspects of the divine mind. It then becomes a matter of knowing how to tune in to the dimension where this memory may be said to operate. We take for granted what once were considered to be the marvels of cinema and radio. One day perhaps we will take for granted the existence of this other dimension of consciousness which contains, or records—both words utterly inadequate and open to misconception—every event, thought and action from the beginning of creation to the end of manifestation. |
Người ta đã nói rằng mọi sự vật đều “chỉ là những tư tưởng trong Trí của Thượng đế”. Nếu điều này là đúng thì tất yếu toàn bộ quá khứ vẫn phải tồn tại trong một số phương diện của trí tuệ thiêng liêng. Khi ấy, vấn đề trở thành biết cách điều chỉnh để bắt được chiều kích nơi ký ức này, có thể nói, đang vận hành. Chúng ta xem là đương nhiên những gì xưa kia từng bị coi là những kỳ quan của điện ảnh và vô tuyến. Có lẽ một ngày kia chúng ta cũng sẽ xem là đương nhiên sự hiện hữu của chiều kích tâm thức khác này, chiều kích chứa đựng, hay ghi lại — cả hai từ đều hoàn toàn không đầy đủ và dễ gây ngộ nhận — mọi biến cố, tư tưởng và hành động từ khởi đầu sáng tạo cho đến tận cùng biểu hiện. |
|
There, for him who has learnt to perfect his own responsive apparatus so that he can evoke from, or tune in to, aspects of this universal record, lie all the answers to the questions and problems man is seeking so laboriously in the many branches of scientific research to wring from nature. There, in the past which might be called God’s memory and the future which hides his intention, they await man’s discovery. But how few must consciously have achieved even a modicum of the ability to do this. As for the majority, occasionally here and there are to be found men who, having developed intuition and the powers of creative imagination, are capable of receiving flashes of insight from this realm. Reading in the book of the past and the future, they make discoveries or accurate pronouncements while remaining unconscious of the true source of their inspiration. |
Ở đó, đối với y là người đã học cách hoàn thiện bộ máy đáp ứng của chính mình để có thể gợi lên từ, hay điều chỉnh bắt được, các phương diện của hồ sơ phổ quát này, có tất cả những câu trả lời cho các vấn đề và nan đề mà con người đang tìm kiếm một cách nhọc nhằn trong nhiều ngành nghiên cứu khoa học để cưỡng bức rút ra từ bản chất. Ở đó, trong quá khứ có thể gọi là ký ức của Thượng đế và trong tương lai che giấu ý định của Ngài, chúng chờ đợi sự khám phá của con người. Nhưng biết bao ít người hẳn đã hữu thức đạt được dù chỉ một phần nhỏ năng lực làm điều này. Còn đối với đại đa số, thỉnh thoảng đây đó có thể tìm thấy những người nam và nữ, những người đã phát triển trực giác và các quyền năng của Sự tưởng tượng sáng tạo, có khả năng tiếp nhận những tia chớp linh thị từ cõi này. Đọc trong cuốn sách của quá khứ và tương lai, họ đưa ra những khám phá hay những lời tuyên bố chính xác trong khi vẫn không ý thức được nguồn gốc đích thực của cảm hứng mình. |
|
But without having any access to these records a student can if necessary be shown at second hand, as it were, events it is desirable that he should know by one who, at a higher level of consciousness, has perfected the ability to obtain information from this source at will. |
Nhưng ngay cả khi không có quyền tiếp cận nào với các hồ sơ này, một đạo sinh vẫn có thể, nếu cần, được cho thấy gián tiếp, có thể nói như vậy, những biến cố mà y cần biết, bởi một người ở cấp độ tâm thức cao hơn đã hoàn thiện khả năng thu nhận thông tin từ nguồn này theo ý muốn. |
|
This clearly is what must have happened in my case; my teacher adapting himself, of course, to my limitations and using whatever method was most suited to the occasion. Thus some of the episodes were revealed to me in dreams, some were shown in a friend’s crystal, some were given clairaudiently, while others came in rushes of inspirational writing; but one and all were summarized for me in a brief outline which was put through by the same type of automatic writing of which I have spoken already. |
Rõ ràng đây hẳn là điều đã xảy ra trong trường hợp của tôi; dĩ nhiên huấn sư của tôi đã thích ứng với những giới hạn của tôi và dùng bất cứ phương pháp nào thích hợp nhất với hoàn cảnh. Vì thế, một số tình tiết được mặc khải cho tôi trong mộng, một số được cho thấy trong quả cầu pha lê của một người bạn, một số được truyền bằng thông nhĩ, còn những điều khác đến trong những đợt viết đầy cảm hứng; nhưng tất cả đều được tóm lược cho tôi trong một dàn ý ngắn gọn được truyền qua cùng loại lối viết tự động mà tôi đã nói đến trước đây. |
|
In every case at the time of writing the episode I was so mentally attuned to it that my present life became almost unreal and I lived through those old distresses and emotions as vividly as if they had actually occurred within my present memory. It is for this reason that they appear here in so dramatic and vital a form. The past temporarily became my present, so that I was enabled to put down these lives much as a man writes his autobiography; to me they are no less than this. All the same a great deal has for obvious reasons been left out; only the chief event or events of each life—that event which in some way marked a crisis in my evolution—has been recalled; only the people closely connected with that event have been described. |
Trong mọi trường hợp, vào lúc viết lại tình tiết ấy, tôi đã được chỉnh hợp về mặt trí tuệ với nó đến mức đời sống hiện tại của tôi trở nên gần như không thật, và tôi sống lại những đau khổ và cảm xúc xưa kia ấy một cách sống động như thể chúng thực sự đã xảy ra trong ký ức hiện tại của tôi. Chính vì lý do này mà chúng xuất hiện ở đây dưới một hình thức đầy kịch tính và sinh động đến vậy. Quá khứ tạm thời trở thành hiện tại của tôi, nhờ đó tôi có thể ghi lại những kiếp sống này gần như cách một người viết tự truyện của mình; đối với tôi, chúng không kém gì điều đó. Dẫu vậy, vì những lý do hiển nhiên, rất nhiều điều đã bị lược bỏ; chỉ biến cố hay những biến cố chính của mỗi kiếp sống — biến cố đã bằng cách nào đó đánh dấu một cơn khủng hoảng trong tiến hoá của tôi — mới được nhớ lại; chỉ những người liên hệ mật thiết với biến cố ấy mới được mô tả. |
|
Of my companions during this journey through time I cannot speak with any certainty. I believe that I and those three others who were with me in Atlantis met very often, usually in hate, but ultimately, as now, in love and companionship; but I do not pretend to be able to identify them throughout in the welter of personalities which crowd these visions of recollection. I only know that all through the particular lives I was shown, I was doing battle with the elemental forces I had evoked in Atlantis, and that in one form or another they will continue to return to me until they are utterly destroyed—or rather transmuted into beings of light. |
Về những bạn đồng hành của tôi trong cuộc hành trình xuyên thời gian này, tôi không thể nói gì với sự chắc chắn nào. Tôi tin rằng tôi và ba người kia đã ở cùng tôi tại Atlantis gặp nhau rất thường xuyên, thường là trong thù hận, nhưng cuối cùng, như hiện nay, trong tình thương và tình bạn; nhưng tôi không dám nhận là có thể nhận diện họ xuyên suốt trong mớ hỗn độn các phàm ngã chen chúc trong những linh ảnh hồi tưởng này. Tôi chỉ biết rằng xuyên suốt những kiếp sống đặc thù mà tôi được cho thấy, tôi đã chiến đấu với các mãnh lực hành khí mà tôi đã gợi lên tại Atlantis, và rằng dưới hình thức này hay hình thức khác chúng sẽ còn tiếp tục trở lại với tôi cho đến khi bị hủy diệt hoàn toàn — hay đúng hơn, được chuyển hoá thành những hữu thể ánh sáng. |
|
Errors of course are inevitable in any attempt such as this to recreate the past, particularly when the instrument of transmission is necessarily still imperfect. Therefore if faults there be, they are not due to my teacher but to my own inadequacy in reporting his words and in recording the events I was shown. |
Dĩ nhiên, sai lầm là điều không thể tránh khỏi trong bất kỳ nỗ lực nào như thế này nhằm tái tạo quá khứ, đặc biệt khi công cụ truyền đạt tất yếu vẫn còn bất toàn. Vì vậy, nếu có sai sót nào, chúng không phải do huấn sư của tôi mà do sự bất cập của chính tôi trong việc truyền đạt lời của Ngài và ghi lại những biến cố tôi được cho thấy. |
|
Fortunately, since these events occurred some forty years ago, I have been brought into touch with a number of people possessing unusual occult gifts. One, an advanced student, P. G. Bowen, read the book before we met and tested it in his own way to see whether or not it was genuine. He came to the conclusion that it was, as others have also done. To him and all those who have helped me by “pointing the way” I owe sincere gratitude. |
May mắn thay, kể từ khi những biến cố này xảy ra cách đây chừng bốn mươi năm, tôi đã được tiếp xúc với một số người sở hữu những năng khiếu huyền bí học khác thường. Một người, một đạo sinh tiến bộ, P. G. Bowen, đã đọc cuốn sách trước khi chúng tôi gặp nhau và đã kiểm nghiệm nó theo cách riêng của ông để xem nó có chân thực hay không. Ông đi đến kết luận rằng nó là chân thực, cũng như những người khác đã làm. Đối với ông và tất cả những ai đã giúp tôi bằng cách “chỉ đường”, tôi mang lòng biết ơn chân thành. |
