Esoteric Healing—Part 1
By
Dr. Douglas Baker
First published in Great Britain in 1975
Second printing 1981
This Printed Edition 2007
ISBN 1 0 906006 00 7
© Copyright Dr. Douglas Baker
“Little Elephant”
High Road, Essendon
Hertfordshire, UK
This is the only authorized eBook of the printed edition.
ISBN 9781901754
© Copyright Dr. Douglas M. Baker 2011
This book is sold subject to the condition that it shall not, by way of trade or otherwise, be lent, resold, hired out, or otherwise circulated without the publisher’s prior consent in any form, binding or cover other than that in which it is published and without a similar condition including this condition being imposed on the subsequent purchaser.
Dedicated to ARTHUR BLAIR
******************************************
Foreword
|
If a man speaks from his heart, he will attract attention; if he speaks from experience, then what he says will have a dynamic effect on those who are receptive He will have made available to them the quality and force of the energy which was transmitted to him by his experience. This applies in our mundane activities, but also applies in the realm of spiritual endeavour. Here the energy released is of a more subtle nature and penetrates closer to the centre of our being, dealing with causes rather than effects. Our purpose is to get beneath the surface and in so doing, perceive and grasp the inner causes of our sufferings. It is this great and noble ideal to which we aspire in attempting to undertake an investigation into the subject which is embraced by this book. |
Nếu một người nói ra từ trái tim mình, y sẽ thu hút sự chú ý; nếu y nói từ kinh nghiệm, thì điều y nói sẽ có tác động sinh động đến những ai sẵn lòng tiếp nhận. Y sẽ mang đến cho họ phẩm tính và mãnh lực của năng lượng đã được truyền đạt cho y thông qua kinh nghiệm ấy. Điều này đúng trong các hoạt động thường nhật của chúng ta, nhưng cũng đúng trong lĩnh vực nỗ lực tinh thần. Trong lĩnh vực này, năng lượng được giải phóng mang tính vi tế hơn và xuyên thấu sâu hơn đến trung tâm bản thể chúng ta, đề cập đến nguyên nhân hơn là kết quả. Mục đích của chúng ta là đi sâu xuống dưới bề mặt và bằng cách đó, nhận ra và nắm bắt các nguyên nhân bên trong của khổ đau của chúng ta. Chính lý tưởng cao cả và cao quý này là điều mà chúng ta khao khát khi cố gắng thực hiện cuộc khảo sát về chủ đề được bao hàm trong cuốn sách này. |
|
There are many pitfalls on this Path and we are told to exercise great care in how much of our inner experiences we relate to others, with the one exception of our Master. It is said when we tell others of these experiences that the energy which is meant to assist us in our purpose is dissipated and lost to us. The result is frequently that unless an experience is well-founded it will bid us farewell and only return reluctantly after some years, if ever. |
Có nhiều cạm bẫy trên Thánh đạo, và chúng ta được dạy phải hết sức cẩn trọng trong việc kể lại cho người khác những kinh nghiệm nội tâm của mình, ngoại trừ với Chân sư của mình. Người ta nói rằng khi chúng ta kể lại những kinh nghiệm này cho người khác thì năng lượng vốn được dành để trợ giúp chúng ta trong mục tiêu của mình sẽ bị làm tiêu tan và mất đi. Hệ quả thường thấy là, trừ khi một kinh nghiệm được đặt nền tảng vững chắc, nó sẽ rời bỏ chúng ta và chỉ quay trở lại một cách miễn cưỡng sau vài năm, nếu có quay lại. |
|
It is a basic principle underlying the scientific method that every effect has a cause, and it is in an attempt to unravel these two that the physiologists, pathologists, biochemists and pharmacologists have made their contribution to western medicine, for which we are greatly indebted. It is widely accepted amongst clinicians and medical practitioners that the great bulk of orthodox medicine is empirical: “We do this because we find it works.” So that even on a purely physical plane, there is much that is unknown. |
Một nguyên lý cơ bản làm nền tảng cho phương pháp khoa học là: mỗi kết quả đều có nguyên nhân, và chính trong nỗ lực tháo gỡ hai điều này mà các nhà sinh lý học, bệnh lý học, hóa sinh học và dược lý học đã đóng góp vào nền y học phương Tây, điều mà chúng ta vô cùng biết ơn. Trong giới y khoa lâm sàng và các bác sĩ điều trị, người ta chấp nhận rộng rãi rằng phần lớn nền y học chính thống là theo kinh nghiệm: “Chúng ta làm điều này vì thấy rằng nó có hiệu quả.” Do đó, ngay cả trên bình diện thuần vật lý, vẫn còn rất nhiều điều chưa được biết. |
|
In the last ten to twenty years, there has been a gradual acceptance that there is an interplay between the different planes of our being, for example the “psychosomatic” conditions where the “psyche” or emotions affect the “soma” or body and vice versa. But there are other planes of our being and their intricate interactions do not reveal themselves under the feeble light of the objective, externalised, mechanistic, scientific mind. |
Trong mười đến hai mươi năm qua, người ta dần dần chấp nhận rằng có một sự tương tác giữa các cõi khác nhau trong bản thể của chúng ta, ví dụ như các trạng thái “tâm thể” nơi mà “tâm lý” hay cảm xúc ảnh hưởng đến “thể xác” và ngược lại. Nhưng vẫn còn những cõi khác của bản thể chúng ta và sự tương tác tinh vi giữa chúng không thể hiện rõ ràng dưới ánh sáng yếu ớt của cái trí khoa học cơ giới hóa, khách quan và hướng ngoại. |
|
Great advances have been made in “somatic” or organic medicine as a result of the development of new instruments and techniques, not the least of which is the electron microscope. We have now reached a turning point in psychological medicine where the crying need is for the introduction of an equally ‘new’ instrument with a greater comprehension, breadth of vision, subtlety and penetration if we are to dissect and lay bare the anatomy of our forever unfolding psyche, using the word in its widest sense. That instrument is the Silent Mind. |
Nền y học “thể xác” hay y học hữu cơ đã đạt được những tiến bộ lớn nhờ sự phát triển của các thiết bị và kỹ thuật mới, trong đó có thể kể đến kính hiển vi điện tử. Giờ đây chúng ta đã đến điểm ngoặt trong y học tâm lý nơi mà nhu cầu bức thiết là phải đưa vào một công cụ cũng “mới” tương tự, với sự thấu hiểu rộng lớn hơn, tầm nhìn bao quát hơn, tinh tế hơn và khả năng xuyên thấu sâu hơn nếu chúng ta muốn mổ xẻ và phơi bày giải phẫu của tâm hồn luôn luôn mở rộng của mình, dùng từ “tâm hồn” theo nghĩa rộng nhất. Công cụ đó là Tâm trí Tĩnh Lặng. |
|
She is the Goddess whose feet we should kiss. Here the compassion which brings tears to our eyes. One glimpse of Her vision stills our heart with awe. With Her magic, She transforms this little mind of ours from a chattering monkey into an eagle soaring high above in shimmering immobility, seeing all and missing nothing. In Her presence our breath melts into a speechless delight. All this, in moments of Her Grace and at times when we are told that we have not even scratched the surface. |
Nàng là Nữ Thần mà chúng ta nên hôn dưới chân. Nơi đây là lòng bi mẫn khiến nước mắt tuôn rơi. Chỉ một cái thoáng nhìn thấy Hình ảnh của Nàng cũng đủ khiến tim chúng ta lặng đi vì kính sợ. Với phép màu của Nàng, Nàng biến hóa cái trí nhỏ bé lắm lời của chúng ta thành một đại bàng lặng yên lượn bay cao vút, nhìn thấy tất cả và không bỏ sót điều gì. Trong sự hiện diện của Nàng, hơi thở của chúng ta tan chảy thành niềm hân hoan không thể diễn tả thành lời. Tất cả điều này xảy ra trong những khoảnh khắc ân sủng của Nàng, vào những thời điểm mà chúng ta được bảo rằng mình thậm chí còn chưa chạm được đến bề mặt. |
|
With unerring skill She puts a finger on the cause of our anguish. Her occult touch heals our festering sores. She gives us the discrimination to sieve the True from the False, and warns us to take care of the “traders in the Truth”. For in this field there are no credentials and we are crucified by our doubting intellect and our need to have faith in those who wish to teach us. |
Với kỹ năng không sai lầm, Nàng đặt một ngón tay lên nguyên nhân của khổ đau nơi ta. Sự đụng chạm huyền bí của Nàng chữa lành các vết thương lở loét của chúng ta. Nàng trao cho ta khả năng phân biện để sàng lọc Chân Lý khỏi Hư Vọng, và cảnh báo chúng ta hãy cẩn thận với những “người buôn bán Chân Lý.” Vì trong lĩnh vực này không có giấy chứng nhận nào, và chúng ta bị đóng đinh bởi cái trí hoài nghi của mình cùng nhu cầu đặt niềm tin nơi những kẻ muốn dạy dỗ ta. |
|
There is one sure way of distinguishing the True from the False, and this cannot be put more concisely than in the quotation cited by Sri Krishna Prem in his book The Yoga Of The Kathopanishad. He heard it from an old Sufi who said, “That which makes one out of two is truth; that which makes two out of one is falsehood.” The second leads us to duality, division, argument and disharmony, while the first guides us to the central truth underlying all religions, yogas and esoteric schools. This is the Oneness of man with his own Self or God and through Him Oneness with all Life. Our Quest is to realise That, by whatever means. |
Có một cách chắc chắn để phân biệt Chân Thật khỏi Giả Dối, và điều này không thể được diễn đạt ngắn gọn hơn câu trích dẫn mà Sri Krishna Prem nêu trong cuốn sách The Yoga of the Kathopanishad. Ông nghe điều đó từ một đạo sĩ Sufi già: “Cái gì làm một từ hai là chân lý; cái gì làm hai từ một là giả dối.” Vế thứ hai dẫn chúng ta đến nhị nguyên, chia rẽ, tranh luận và bất hòa, trong khi vế đầu hướng ta đến chân lý trung tâm bao hàm mọi tôn giáo, yoga và các trường phái huyền môn. Đó là sự Hợp Nhất giữa con người với Chính Bản Ngã của mình hay với Thượng đế, và qua đó là sự Hợp Nhất với toàn thể Sự Sống. Cuộc Tầm Đạo của chúng ta là nhằm đạt được điều ấy, bằng bất kỳ phương tiện nào. |
B.M.Higginson
M.B., B.S. (London). D.O.*
England March 1975
* Bachelor of Medicine, Bachelor of Surgery (London), Diploma of Opthalmology.
Author’s Note
|
For centuries men have sought healing, and obtained it, long before our methods of treatment were elaborated. The methods used then have remained esoteric or veiled and only the outer shell, mainly nonsensical, has survived for history to ridicule. In centuries to come men will also marvel at how we healed in our own day with so many drugs that were later put on the poison list. |
Trong nhiều thế kỷ, con người đã tìm kiếm sự chữa lành, và đã đạt được điều đó, từ lâu trước khi các phương pháp điều trị của chúng ta được phát triển chi tiết. Những phương pháp được sử dụng khi ấy vẫn còn mang tính huyền môn hoặc được che giấu, và chỉ có lớp vỏ bên ngoài—phần lớn là vô nghĩa—là còn sót lại để lịch sử chế nhạo. Trong những thế kỷ tới, nhân loại cũng sẽ kinh ngạc về cách chúng ta chữa bệnh trong thời đại này bằng rất nhiều loại thuốc mà sau đó bị xếp vào danh sách chất độc. |
|
Now, for the first time, the field of the esoteric healer is being revealed by Kirlian photography and other scientific devices. This field of operation for the esoteric healer is the etheric body, the vitalising matrix underlying all tissue described by contemporary yogis who, even at this moment, are revealing facts about man’s nature which are not only able to be demonstrated in the neurophysiological laboratories of such esteemed medical establishments as the Meninger Foundation at Topeka and the World Health Organisation, but facts which don’t yet exist in our medical, physiology and anatomy textbooks. |
Giờ đây, lần đầu tiên, lĩnh vực của nhà chữa lành huyền môn đang được hé lộ qua nhiếp ảnh Kirlian và các thiết bị khoa học khác. Lĩnh vực hoạt động của nhà chữa lành huyền môn là thể dĩ thái, tức là ma trận tiếp sinh lực nằm bên dưới mọi mô tế bào, đã được các đạo sĩ yoga đương đại mô tả—những người mà ngay trong thời khắc này đang tiết lộ các sự thật về bản chất con người, không chỉ có thể được minh chứng trong các phòng thí nghiệm thần kinh sinh lý học của những cơ sở y tế danh tiếng như Quỹ Meninger tại Topeka và Tổ chức Y tế Thế giới, mà còn là những sự thật hiện vẫn chưa có trong các giáo trình y học, sinh lý học và giải phẫu học của chúng ta. |
|
Animals suffer intense stress but do not die from coronaries, duodenal ulcers and hypertension because of it. Many a man will suffer stress persistently and not die from it. Disciples all suffer stress, but their disciplines enable them to thrive on such situations. Only those who are unable to cope or to receive feedback on their reactions to stress, or are unable to stop thinking about their troubles or believe themselves to be continuously subject to them, go down. The difference between all these is not physical; it is supraphysical. It lies in those realms whose laws are understood, obeyed and used by esoteric healers. |
Các loài động vật chịu đựng căng thẳng nghiêm trọng nhưng không chết vì các bệnh động mạch vành, loét tá tràng hay cao huyết áp do điều đó. Nhiều người cũng chịu căng thẳng kéo dài mà không chết vì nó. Tất cả các đệ tử đều trải qua căng thẳng, nhưng kỷ luật của họ giúp họ phát triển mạnh trong những hoàn cảnh như vậy. Chỉ những ai không thể đương đầu hoặc không thể tiếp nhận phản hồi về phản ứng của mình trước áp lực, hoặc không thể ngừng suy nghĩ về những rắc rối của mình hay tin rằng mình liên tục là nạn nhân của chúng—mới suy sụp. Sự khác biệt giữa tất cả những người này không nằm ở thể chất; nó vượt lên thể chất. Nó nằm trong những cảnh giới mà các định luật nơi đó được hiểu, tuân theo và sử dụng bởi các nhà chữa lành huyền môn. |
|
After twenty-five years of patient research in the ways of Orthodox Medicine and its esoteric counterpart, I have no reason to change my firm belief that the cause of ninety per cent of all disease lies in the inability of Man to express himself according to the purposes of his own Soul whether he be aware of these purposes or not… the inability to express in his way of life Truth, Beauty and Goodness which, after all, is not saying anything new, for this was the belief of Socrates and Plato twenty-five centuries ago. What will eventually be practised as Preventive Medicine is already established, in great measure, in the daily living of students of esoteric sciences, i.e. care about diet and nutrition, breathing exercises, relaxation and meditation. |
Sau hai mươi lăm năm kiên nhẫn nghiên cứu về các phương pháp của Y học Chính thống và đối trọng huyền môn của nó, tôi không có lý do gì để thay đổi niềm tin vững chắc rằng nguyên nhân của chín mươi phần trăm mọi bệnh tật nằm ở sự bất lực của Con người trong việc biểu lộ bản thân theo các mục đích của chính Linh hồn y—dù y có ý thức về những mục đích này hay không… sự bất lực trong việc biểu lộ qua lối sống của mình Chân lý, Cái đẹp và Thiện lành—rốt cuộc, điều này không phải là một điều gì mới mẻ, vì đó chính là niềm tin của Socrates và Plato từ hai mươi lăm thế kỷ trước. Những gì sau này sẽ được thực hành như Y học Dự phòng thì phần lớn đã được thiết lập trong đời sống hằng ngày của các sinh viên khoa học huyền môn—tức là: chú trọng đến chế độ ăn uống và dinh dưỡng, các bài tập hít thở, thư giãn và tham thiền. |
|
This book, Part 1 of Esoteric Healing, is a brief introduction to what follows. Indeed, in Sections 1, 2 and 4, I have selected from a wide variety of subjects which will be dealt with in the subsequent Parts. |
Cuốn sách này, Phần 1 của Trị Liệu Huyền Môn, là phần giới thiệu ngắn gọn cho những phần tiếp theo. Thật vậy, trong các Phần 1, 2 và 4, tôi đã chọn lọc từ một loạt chủ đề đa dạng sẽ được bàn luận chi tiết hơn trong những Phần sau. |
Douglas M. Baker
B.A., M.R.C.S., L.R.C.P, F.Z.S.
England, March 1975
Section One—The Origin and Nature of Esoteric Healing
The Origins of Esoteric Healing
|
From the earliest days there was prevalent a belief that healing was divine, that it came from the gods or through their chosen channels the king, the high priest of the temple where the gods were worshipped or, much later, through the ‘medicine man’. At some time or the other, depending on the culture, medicine grew away from its link with religion, although, as we shall see in the case of the Greeks, this was very late. Whether we are talking about orthodox medicine or esoteric healing, we imply a common origin. Perhaps the greatest testimony that exists to this common inheritance is found in the caduceus, referred to by the Greeks as the “staff and serpent of Aeculapius” and, in our own days, modified to become the current insignia of orthodox medicine.— |
Từ những ngày đầu tiên, đã tồn tại phổ biến một niềm tin rằng sự chữa lành là thiêng liêng, rằng nó đến từ các vị thần hoặc thông qua những kênh được các thần lựa chọn—vị vua, vị thượng tế của đền thờ nơi các thần được tôn thờ, hoặc về sau này là thông qua “người thuốc.” Vào một thời điểm nào đó, tuỳ theo từng nền văn hoá, y học đã tách rời khỏi mối liên hệ với tôn giáo, mặc dù, như chúng ta sẽ thấy trong trường hợp người Hy Lạp, điều này xảy ra rất muộn. Dù chúng ta đang nói về y học chính thống hay trị liệu huyền môn, thì đều hàm ý một nguồn gốc chung. Có lẽ minh chứng lớn nhất còn tồn tại cho di sản chung này được tìm thấy ở biểu tượng caduceus, được người Hy Lạp gọi là “gậy và rắn của Aesculapius” và trong thời đại của chúng ta, đã được chỉnh sửa trở thành huy hiệu hiện nay của y học chính thống. |
The Staff and Serpent of Aesculapius—Gậy và Rắn của Aesculapius
|
The earliest rudiments of medicine go back much further than Hippocrates to whom it is said we owe our much-vaunted emblem of the serpent entwining a rod. |
Những dấu tích sơ khai nhất của y học còn được truy về xa hơn cả Hippocrates—người mà người ta cho rằng chúng ta nợ biểu tượng rắn quấn quanh cây gậy nổi tiếng của y học. |
|
“There seems to be a vague idea that Greek Medicine sprang full-fledged into being with the coming of Hippocrates. This is really not the case, and there is as much reason for so thinking as to suppose Greek art, architecture and sculpture started in the time of Pericles, and that the preceding culture of Mynos and Mycenae counted for naught.” (1) |
“Dường như có một quan niệm mơ hồ rằng Y học Hy Lạp xuất hiện một cách trọn vẹn cùng với sự ra đời của Hippocrates. Thật ra điều này không đúng, và cũng giống như cho rằng nghệ thuật, kiến trúc và điêu khắc Hy Lạp bắt đầu từ thời Pericles, và rằng nền văn hoá trước đó của Mynos và Mycenae chẳng có giá trị gì.” (1) |
|
(1) Essays In The History Of Medicine, by George Gask. F.R.C.S. |
(1) Essays In The History Of Medicine, George Gask, F.R.C.S. |
|
We must search further back than Greece, further even than Egypt, for the first systematic Medicine. It is to the very cradles of civilisation that we must go, to the Indus Valley and to the Yellow River Valley of China where, in both, so-called sage-kings are credited with the development of agriculture, river conservancy and Medicine, 3,000 or more years before Christ. By sage, or rishi, is meant a highly developed mortal who might be a priest, hero or hierophant. History has always linked mental and spiritual giants with the name of Medicine. Even Aesculapius, the father of ‘modern’ Medicine, was regarded as a sage, as divinely inspired. |
Chúng ta cần truy xa hơn cả Hy Lạp, thậm chí xa hơn cả Ai Cập, để tìm ra nền Y học có hệ thống đầu tiên. Chúng ta phải quay về những cái nôi thực sự của văn minh nhân loại—thung lũng sông Ấn và thung lũng sông Hoàng Hà ở Trung Quốc, nơi cả hai đều ghi nhận công lao của các bậc thánh vương trong việc phát triển nông nghiệp, trị thuỷ và y học, hơn 3.000 năm trước Công nguyên. Từ “thánh vương” hay “rishi” chỉ những con người phàm tục nhưng phát triển cao, có thể là tu sĩ, anh hùng hay giáo sĩ huyền môn. Lịch sử luôn gắn liền những vĩ nhân về trí tuệ và tâm linh với tên gọi Y học. Ngay cả Aesculapius—người cha của Y học “hiện đại”—cũng được xem là một bậc hiền triết, là người được thần linh soi dẫn. |
|
So then, to India and China, but it was not at these sites that the fullest and truest records of earliest traditional Medicine were best preserved. Just as the elements of our modern European culture were retained, almost intact within the sanctuary of the Catholic monasteries whilst Europe was being constantly overrun by Vandal and Hun, so were the rudiments of man’s earliest arts and sciences best preserved in the comparatively inaccessible mountain retreats of territories bordering upon China and India. It is to Tibet or ‘the Roof of the World’, therefore, that we can trace man’s oldest language Sanskrit, said to have been once the universal language from which all others derived. It is to Tibet with its vast monasteries, some of them once housing ten thousand monks, that we must ultimately go to find the clearest exposition of ancient Medicine. Here learned monks and lamas, isolated in the most mountainous region of the world, preserved ancient records whilst the great plains of India and China fell constantly prey to marauding hillsmen. |
Vậy nên, phải kể đến Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng không phải ở hai nơi này mà các ghi chép trọn vẹn và xác thực nhất về nền Y học truyền thống cổ xưa được bảo tồn tốt nhất. Cũng giống như những yếu tố của nền văn hóa châu Âu hiện đại được gìn giữ gần như nguyên vẹn trong các tu viện Công giáo khi châu Âu liên tục bị xâm lược bởi người Vandal và Hun, thì các dấu tích sơ khai của nghệ thuật và khoa học nhân loại cũng được bảo tồn tốt nhất trong những nơi ẩn dật trên núi, khó tiếp cận, nằm giáp ranh giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Vì vậy, chính tại Tây Tạng—“Nóc nhà của thế giới”—mà chúng ta có thể truy nguyên ngôn ngữ cổ nhất của nhân loại, tiếng Phạn, vốn từng được cho là ngôn ngữ phổ quát mà từ đó mọi ngôn ngữ khác phát sinh. Chính tại Tây Tạng, với những tu viện rộng lớn, từng có tu viện chứa đến mười nghìn tăng sĩ, chúng ta cần quay về để tìm thấy lời trình bày rõ ràng nhất về Y học cổ đại. Tại đây, các tăng sĩ và lạt ma học thức, sống biệt lập giữa vùng núi cao nhất thế giới, đã gìn giữ các ghi chép cổ trong khi những vùng đồng bằng rộng lớn của Ấn Độ và Trung Quốc liên tục bị các tộc người miền núi xâm lấn. |
|
It is no wonder that the earliest traditions of Medicine are inextricably interwoven with concepts of Divinity, Astrology and Mysticism, for all these fell under the domain of the only ‘scientists’ that civilisation knew in its early days, the priests. |
Không có gì ngạc nhiên khi những truyền thống đầu tiên của Y học lại gắn bó mật thiết với các khái niệm về Thần linh, Chiêm tinh và Thần bí, vì tất cả những điều này đều thuộc về lĩnh vực của những “nhà khoa học” duy nhất mà nền văn minh sơ khai từng biết đến: các tu sĩ. |
|
“The profession of the human healer is radically a sacred one, and connected with the higher priesthoods and divinest conquests of the human intellect here below… as will appear one day.”(1) |
“Nghề nghiệp của người chữa lành về bản chất là một nghề nghiệp thiêng liêng, và gắn liền với các chức tư tế cao cả và những chinh phục thần thánh nhất của trí tuệ con người nơi hạ giới… điều này một ngày nào đó sẽ hiển lộ.” (1) |
|
“With our modern ideas it may seem astonishing to find Medicine and magic united under the same heading. However, the ancient Egyptians thought otherwise and usually a single word designates both physician and magician.”(2) |
“Với tư duy hiện đại, có thể thấy kỳ lạ khi tìm thấy Y học và ma thuật cùng tồn tại dưới một danh xưng. Tuy nhiên, người Ai Cập cổ đại không nghĩ vậy, và thường một từ duy nhất dùng để chỉ cả thầy thuốc và pháp sư.” (2) |
|
The writer later presents other evidence that this was archaically so and will show how the association arose. |
Tác giả sau đó sẽ tiếp tục đưa ra thêm bằng chứng cho thấy điều này vốn đã có từ thời cổ đại, và sẽ cho thấy sự liên kết này hình thành như thế nào. |
|
(1) History Of Medicine, by Alexander Wilder, M.D. |
(1) History Of Medicine, Alexander Wilder, M.D. |
|
(2) The History Of Medicine by C. G. Cumston, M.C. |
(2) The History Of Medicine, C. G. Cumston, M.C. |
Medicine in Early Greece—Y học ở Hy Lạp cổ đại
|
Despite the widespread employment of the staff and serpent of Aesculapius as an emblem of Medicine in its many aspects, there are very few within the profession who have the vaguest idea as to the derivation or meaning of these symbols. This is not for lack of theories advanced. There have been many weird and wonderful interpretations of the staff and serpent but few have taken into consideration the psychology of the Greeks and their cultural heritage at the time when Aesculapius practised the sacred art of Medicine. Aesculapius is generally represented as a handsome, mature or elderly man with a staff in his hand and accompanied by a snake. It seems certain that in the Greek temples where healing was practised, large yellow snakes of non-poisonous variety played some part. Some say they licked the wounds of the patients. Infected eyes especially, received the same treatment from the serpents.(3) This seems to be one sound basis for the Greek use of the symbol, but does not explain how it has come to be used by all races throughout recorded history. |
Dù biểu tượng cây gậy và con rắn của Aesculapius được sử dụng rộng rãi như một biểu tượng của Y học ở nhiều phương diện, rất ít người trong giới chuyên môn có một ý niệm mơ hồ nào về nguồn gốc hay ý nghĩa thực sự của các biểu tượng ấy. Điều này không phải do thiếu các giả thuyết được đưa ra. Đã có nhiều cách giải thích kỳ lạ và hấp dẫn về cây gậy và con rắn, nhưng rất ít người xem xét đến tâm lý học Hy Lạp và di sản văn hóa của họ vào thời Aesculapius hành nghề nghệ thuật thiêng liêng của Y học. Aesculapius thường được mô tả như một người đàn ông đẹp lão hoặc trưởng thành, cầm một cây gậy trong tay và đi cùng một con rắn. Có vẻ chắc chắn rằng tại các đền thờ Hy Lạp nơi chữa bệnh được thực hành, những con rắn màu vàng, không có nọc độc, đã đóng một vai trò nào đó. Có người cho rằng chúng liếm các vết thương của bệnh nhân. Đặc biệt là các đôi mắt bị nhiễm trùng, cũng nhận được phương pháp chữa trị tương tự từ những con rắn. (3) Đây có vẻ là một cơ sở xác thực cho việc người Hy Lạp sử dụng biểu tượng đó, nhưng không lý giải được vì sao nó lại được sử dụng rộng khắp bởi tất cả các chủng tộc xuyên suốt lịch sử được ghi nhận. |
|
(3) British Medical Journal, May 1960. |
(3) British Medical Journal, tháng 5 năm 1960. |
|
“By a significant unanimity, the serpent upon the staff has been generally accepted as the symbol of the medical art. Egyptians, Greeks, Germans, South American Indians and North Americans employed it alike. The asp on the crown of Queen Isis, the Fire Serpent on the signpost of Assyrian physicians, the rattlesnake hieroglyphic of Mexico and Brazil, and the Ophidian on the Magis Staff of Apollo, Aesculapius and Hippocrates, all meant the same thing. |
“Thật đáng chú ý, con rắn quấn quanh cây gậy đã được chấp nhận một cách nhất quán như biểu tượng của nghệ thuật y học. Người Ai Cập, người Hy Lạp, người Đức, các bộ lạc da đỏ Nam Mỹ và Bắc Mỹ đều sử dụng nó. Con rắn độc trên vương miện của Nữ hoàng Isis, Con rắn Lửa trên biển hiệu của các thầy thuốc Assyria, ký hiệu rắn chuông ở Mexico và Brazil, và con rắn trên Gậy của các đạo sĩ Apollo, Aesculapius và Hippocrates—tất cả đều mang cùng một ý nghĩa. |
|
“The serpent was the signifier of the occult life principle, and of that knowledge of it which rendered the possessor as a divine or prenaturally endowed being. |
Con rắn là biểu tượng của nguyên lý sự sống huyền bí, và của tri thức về nguyên lý đó—thứ tri thức khiến người sở hữu trở nên thiêng liêng hay được phú cho năng lực siêu việt. |
|
Even the brazen seraph coiled on the pole or staff and set up by Moses in the wilderness, we are told, possessed such power that anyone about to die, when he beheld it, recovered from his extreme peril.”(1) |
Ngay cả con rắn bằng đồng quấn quanh cột hay cây gậy được ông Moses dựng lên trong sa mạc, theo lời kể, cũng mang năng lực chữa lành: bất kỳ ai sắp chết mà nhìn thấy nó đều hồi phục khỏi cơn nguy kịch.” (1) |
|
(1) History Of Medicine, by Alexander Wilder, M.D |
(1) History Of Medicine, Alexander Wilder, M.D. |

|
It would seem, therefore, that there is an underlying occult principle behind the symbol of the serpent and staff, that they are outer symbols of some latent healing power and knowledge contained within the human frame itself… a force so powerful for good or evil that knowledge of it was jealously guarded by a special caste of physicians and priests, or handed down from father to son, or to those eligible through some test of initiation into its mystery. This was certainly the practice and belief of the Egyptians, Chaldeans and Hindus who anteceded Greek medicine by more than a thousand years. Much later, Jesus of Nazareth spoke of and demonstrated such a healing force, employing the safeguards of analogy and parable when describing it. The Greek Aesculapius and his initiate priests were no less careful in guarding it, as Alexander Wilder says :- |
Vì vậy, dường như có một nguyên lý huyền bí tiềm ẩn phía sau biểu tượng con rắn và cây gậy—rằng chúng là những biểu tượng bên ngoài của một năng lực chữa lành tiềm tàng và tri thức ẩn chứa bên trong chính cấu trúc con người… một mãnh lực có thể mạnh mẽ đến mức mang lại điều thiện hoặc điều ác, đến nỗi tri thức về nó đã được một tầng lớp đặc biệt gồm các thầy thuốc và tu sĩ giữ gìn một cách ghen tị, hoặc được truyền từ cha sang con, hay chỉ truyền lại cho những ai đủ điều kiện thông qua một cuộc thử thách điểm đạo vào huyền nhiệm của nó. Đây chắc chắn là phương pháp và niềm tin của người Ai Cập, người Chaldea và người Ấn Độ, những nền y học có trước y học Hy Lạp hơn một nghìn năm. Về sau rất lâu, Chúa Jesus thành Nazareth đã nói về và thể hiện một năng lực chữa lành như vậy, sử dụng các biện pháp bảo vệ thông qua các phép ẩn dụ và dụ ngôn khi mô tả nó. Aesculapius của Hy Lạp và các vị tư tế điểm đạo của ông cũng cẩn trọng không kém trong việc bảo vệ tri thức ấy, như Alexander Wilder nói: |
|
“The priests of Aesculapius, the Aesculapiads, took sole charge of everything relating to his temples. They were hereditary orders, professing to be lineal descendants of the divinity. Even the Romans… asserted that they possessed occult knowledge imparted by Aesculapius himself. Parents communicated the art to their children, but to impart to anyone not of the race and duly initiated was regarded as an act of impiety. ‘The holy word may only be revealed to the initiated’ was the law recorded by Hippocrates; ‘the profane may not receive it before initiation.’ The traditional form of the oath contains an execration of short life, calamity and opprobium, if the candidate should profane or popularize the knowledge by revealing it to anyone except the children of his teachers, and disciples were obligated by this oath and stipulation according to the laws of the medical caste.” |
“Các tư tế của Aesculapius—các Aesculapiads—nắm toàn quyền đối với mọi thứ liên quan đến các đền thờ của ông. Họ là những dòng tộc kế thừa, tự nhận là hậu duệ trực tiếp của vị thần. Ngay cả người La Mã… cũng khẳng định rằng họ sở hữu tri thức huyền linh do chính Aesculapius truyền dạy. Cha mẹ truyền lại nghệ thuật này cho con cái của mình, nhưng việc truyền dạy cho bất kỳ ai không thuộc chủng tộc hoặc không được điểm đạo một cách chính đáng bị xem là một hành vi phạm thánh. ‘Lời linh thiêng chỉ có thể được tiết lộ cho người đã được điểm đạo’ là điều luật được Hippocrates ghi chép lại; ‘kẻ phàm tục thì không được tiếp nhận nó trước khi được điểm đạo.’ Hình thức truyền thống của lời thệ nguyện bao hàm cả sự nguyền rủa về một cuộc sống ngắn ngủi, tai hoạ và sự ô nhục nếu người thụ giới phạm thánh hoặc phổ biến tri thức đó bằng cách tiết lộ nó cho bất kỳ ai ngoài con cháu của các huấn sư của mình, và các đệ tử phải bị ràng buộc bởi lời thề và điều kiện này theo luật của tầng lớp y sĩ.” |
|
One would be forgiven at this stage, for asking whether the profession is any the less guarded today or less jealous of its ‘secrets’. Any medical student in his final year will appreciate the point as will those who, qualified, have felt the weighty disciplines of the ethical code. |
Ở giai đoạn này, người ta có thể được tha thứ nếu hỏi liệu nghề y ngày nay có còn giữ kín như trước không, hay còn ghen tị với các “bí mật” của mình chăng? Bất kỳ sinh viên y khoa nào đang trong năm cuối cũng sẽ hiểu được điều này, cũng như những người đã tốt nghiệp và cảm nhận được sức nặng của kỷ luật đạo đức. |
|
The alternative is to choose one of the many ‘meanings’ assigned to the rod and serpent which the writer has culled from numerous literature and listed briefly below :- |
Lựa chọn khác là chấp nhận một trong những “ý nghĩa” được gán cho cây gậy và con rắn mà tác giả đã sưu tầm từ nhiều tài liệu và liệt kê ngắn gọn dưới đây: |
|
– The staff, thickened on one end, as a club may revert to the custom of castigation which for centuries was believed to be a remedy for body ailments as well as for moral failings. |
– Cây gậy, phình to ở một đầu như một cây chùy, có thể bắt nguồn từ phong tục dùng đòn roi—thứ từng được tin là phương thuốc chữa bệnh thân thể lẫn đạo đức trong nhiều thế kỷ. |
|
– The serpent is the male sex organ. |
– Con rắn tượng trưng cho cơ quan sinh dục nam. |
|
– The staff is the male sex organ ensheathed by the female (serpent). |
– Cây gậy là cơ quan sinh dục nam được bao phủ bởi cơ quan sinh dục nữ (con rắn). |
|
– The staff is the Tree of Knowledge in the Garden of Eden. |
– Cây gậy là Cây Tri Thức trong Vườn Địa Đàng. |
|
– As the Tree of Life, the staff may remind patients of the medical virtues inherent in trees and plants. |
– Là Cây Sự Sống, cây gậy có thể nhắc bệnh nhân nhớ đến những dược tính y học tồn tại trong cây cỏ. |
|
– As a crutch, the staff signifies the help a physician brings. |
– Là một cây nạng, cây gậy biểu thị cho sự giúp đỡ mà một thầy thuốc mang lại. |
|
– The staff is a wand indicating magic or sorcery behind medicine. |
– Cây gậy là một cây đũa thần, biểu thị sự hiện diện của pháp thuật hoặc phù phép đằng sau y học. |
|
– The knots on the staff indicate the knotty problems faced in medicine. |
– Các nút thắt trên cây gậy biểu thị những vấn đề rắc rối mà y học phải đối mặt. |
|
– The staff is a replica of the Crux Ansatta or Egyptian Ankh.(2) |
– Cây gậy là bản sao của Crux Ansatta hay biểu tượng Ankh Ai Cập. (2) |
|
(2) (Albert Einstein Medical Centre Journal, July 1962, p. 108.) |
(2) Albert Einstein Medical Centre Journal, Tháng 7 năm 1962, tr. 108. |

|
– The upper end of the staff was really a mirror into which the serpent spat. The Poison was used for therapeutic purposes. (British Medical Journal, May, 1960.) |
– Đầu trên của cây gậy thực chất là một chiếc gương mà con rắn phun nọc vào. Nọc độc đó được dùng vào mục đích trị liệu. (British Medical Journal, Tháng 5, 1960.) |
|
– The staff indicates the perambulating nature of the physician. (Albert Einstein Medical Journal, May 1960) |
– Cây gậy biểu thị cho bản chất hay di chuyển của thầy thuốc. (Albert Einstein Medical Journal, Tháng 5, 1960) |
|
– The serpent capacity for shedding its skin indicates longevity (conveyed through healing) or immortality. |
– Khả năng lột da của con rắn biểu thị cho sự trường thọ (được truyền đạt qua sự chữa lành) hoặc sự bất tử. |
|
– The shedding of the skin indicates the power of regeneration (through medicine). |
– Việc lột da biểu trưng cho quyền năng tái sinh (thông qua y học). |
|
So much for contemporary speculation on the staff and serpent. Let us now examine the early Greek traditions themselves in order to unravel the origin of the symbol with its universal medical application. |
Chừng đó là đủ cho các suy đoán đương đại về cây gậy và con rắn. Giờ đây, chúng ta hãy khảo sát các truyền thống Hy Lạp cổ đại để làm sáng tỏ nguồn gốc của biểu tượng này cùng với tính ứng dụng y học phổ quát của nó. |

The Early Greek Traditions of Medicine—Những Truyền Thống Hy Lạp Cổ Đại về Y Học
|
At the far, eastern end of the Mediterranean, separated from the mainland by an arm of sea, lies the island of Cos. Facing it on a promontory of Asia Minor is all that is left of Cos, the town. These two Greek settlements showed, more than any, a remarkable leaning towards medicine. This was said to be the result of an influx among the early settlers of members of the family known as the Asclepidae, the descendants of Aesculapius who was said to be the son of Apollo. They had formed themselves into a medical guild, the members of which were bound by what is known as the Hippocratic Oath. Many generations of these Asclepidae lived in Cos and Cnidos, the most famous of all being Hippocrates. |
Ở điểm cực đông của Địa Trung Hải, bị tách khỏi đất liền bởi một nhánh biển, nằm hòn đảo Cos. Đối diện với nó, trên một mũi đất của Tiểu Á, là tàn tích còn sót lại của thành phố Cos. Hai khu định cư Hy Lạp này, hơn bất kỳ nơi nào khác, đã thể hiện một khuynh hướng đặc biệt mạnh mẽ đối với y học. Người ta cho rằng điều này là kết quả của sự gia nhập, trong số những người định cư ban đầu, của các thành viên thuộc dòng tộc được biết đến với tên gọi Asclepidae—hậu duệ của Aesculapius, người được cho là con trai của Apollo. Họ đã hình thành nên một phường hội y học, các thành viên của phường hội này bị ràng buộc bởi điều được biết đến là Lời Thề Hippocrates. Nhiều thế hệ của dòng tộc Asclepidae đã sống tại Cos và Cnidos, và nổi bật nhất trong số đó là Hippocrates. |

|
There is no real evidence that Aesculapius ever lived as a mortal. He is mentioned by Homer in the Iliad, and there referred to as a man. He appears frequently in Greek literature thereafter. It is certain that if ever he lived as a mortal, he became deified. He was the god of Health and was worshipped in temples by patients who went there for cures. In ancient days, both in Greece and Egypt, and for that matter in China and India, any sage or wise man of esteem soon became to be regarded, at the very least as a minor god. But it was not just on the basis of hero-worship that this occurred. As we shall later see, there were, in the traditions of Medicine especially, other factors which established sages as gods in the eyes of their fellow-men. Many early historians say it was the practice for the Greeks to borrow gods from earlier and more mature civilisations. This seems to have been the case with Aesculapius. |
Không có bằng chứng xác thực nào cho thấy Aesculapius từng sống như một con người phàm tục. Ông được Homer nhắc đến trong Iliad, và ở đó được gọi là một người trần. Về sau ông xuất hiện thường xuyên trong văn học Hy Lạp. Tuy nhiên, nếu ông từng sống như một phàm nhân, thì chắc chắn ông đã được thần thánh hóa. Ông là vị thần của Sức Khỏe và được thờ phượng trong các đền thờ bởi những bệnh nhân đến đó để tìm sự chữa lành. Vào thời cổ đại—ở Hy Lạp, Ai Cập, và cả Trung Quốc và Ấn Độ—bất kỳ bậc hiền triết hay người thông thái nào được kính trọng cũng sớm được xem, ít nhất, như một vị thần cấp thấp. Nhưng điều này không đơn thuần là do sùng bái anh hùng. Như chúng ta sẽ thấy sau này, đặc biệt trong các truyền thống y học, còn có những yếu tố khác khiến các bậc hiền triết được xem như những vị thần trong mắt đồng loại. Nhiều sử gia thời kỳ đầu cho rằng người Hy Lạp có thói quen vay mượn các vị thần từ những nền văn minh trước đó và trưởng thành hơn. Có vẻ điều này đã xảy ra với Aesculapius. |
|
It is certain that he was initiated into the Medicine of lands beyond the borders of Greece and then assumed a dominant role in Greek Medicine to become later deified as the god of Healing. This almost exactly paralleled the earlier example of Imhotep of Egypt who became Egypt’s god of Healing in an earlier era, having been inspired by the medical traditions of Thoth-Hermes. An enormous number of other Greek scholars, philosophers, astrologers, sculptors and playwrights had spent their days in Egypt and elsewhere. Pythagoras even submitted to the Egyptian practice of circumcision in order to obtain access to knowledge gained only by initiation into the Egyptian Mysteries. |
Điều chắc chắn là ông đã được điểm đạo vào nền y học của các vùng đất bên ngoài biên giới Hy Lạp và sau đó đảm nhận vai trò chủ chốt trong y học Hy Lạp để rồi được thần thánh hóa thành vị thần Chữa Lành. Điều này gần như phản ánh chính xác trường hợp trước đó của Imhotep ở Ai Cập—người đã trở thành vị thần chữa lành của Ai Cập trong một thời đại sớm hơn, sau khi được cảm hứng từ truyền thống y học của Thoth-Hermes. Rất nhiều học giả, triết gia, chiêm tinh gia, nhà điêu khắc và kịch tác gia Hy Lạp đã từng sinh sống tại Ai Cập và các nơi khác. Pythagoras thậm chí đã chấp nhận thực hành lễ cắt bì theo kiểu Ai Cập để được tiếp cận với tri thức chỉ được truyền qua nghi lễ điểm đạo vào các Huyền môn Ai Cập. |
|
“Into Egypt and the East went Herodotus, Thales, Parmenides, Empendocles, Orpheus and Pythagoras to instruct themselves in Natural Philosophy and Theology.”(1) |
“Vào Ai Cập và phương Đông đã đến Herodotus, Thales, Parmenides, Empedocles, Orpheus và Pythagoras để học hỏi về Triết học Tự nhiên và Thần học.” (1) |
|
(1) Isis unveiled and The Secret Doctrine by H.P. Blavatsky |
(1) Isis Unveiled và The Secret Doctrine của H.P. Blavatsky |
|
Alexander Wilder in his History Of Medicine, seeks even further than Egypt for the antecedents and instructors of Aesculapius :- |
Alexander Wilder, trong History Of Medicine, còn tìm kiếm xa hơn cả Ai Cập để truy nguyên những người thầy và tiền thân của Aesculapius: |
|
“Aesculapius appears to have superseded all the other hero-gods as patron of the healing art. Although the name as well as traditions imply a Pelasgic origin, he originated beyond the Mediterranean. His asiatic character is indicated by the symbol or totem by which he was often represented: the serpent upon the tree of life. In all the East, in Africa and aboriginal America, the healing art was denoted by this figure, the coluber, royal asp, the hooded snake or the rattlesnake. Even the Greek artists who changed the archaic methods, represented the god as an old man with a staff or wand encircled by the sacred animal. … In Greece his temples had always a serpent and its progeny for tenants… . Grecian vanity, however, required that the god should be naturalised.” (2) |
“Aesculapius dường như đã vượt trên tất cả các anh hùng-thần khác để trở thành vị bảo trợ của nghệ thuật chữa lành. Dù cái tên cũng như các truyền thống gợi ý nguồn gốc Pelasgic, nhưng ông có nguồn gốc bên ngoài Địa Trung Hải. Tính chất Á châu của ông được thể hiện qua biểu tượng hay vật tổ mà ông thường được đại diện: con rắn trên Cây Sự Sống. Ở khắp phương Đông, tại châu Phi và châu Mỹ bản địa, nghệ thuật chữa lành đều được biểu trưng bằng hình tượng này: con coluber, rắn hoàng gia, rắn có mũ hay rắn chuông. Ngay cả các nghệ sĩ Hy Lạp, dù đã thay đổi phong cách nguyên thủy, vẫn thể hiện vị thần như một ông lão cầm gậy hay đũa phép được quấn quanh bởi con vật thiêng. … Tại Hy Lạp, các đền thờ của ông luôn có một con rắn và đàn con của nó trú ngụ… Tuy nhiên, lòng tự tôn Hy Lạp đòi hỏi vị thần phải được ‘bản địa hóa’.” (2) |
|
(2) History Of Medicine by Alexander Wilder M.D. |
(2) History Of Medicine, Alexander Wilder, M.D. |
|
Aesculapius seems to have possessed the religious and occult learning, as well as skill, from practice. The former had been jealously and ferociously guarded and handed down to the privileged few since time immemorial. |
Aesculapius dường như sở hữu tri thức tôn giáo và huyền môn, cũng như kỹ năng thực hành. Tri thức tôn giáo này đã được gìn giữ một cách ghen tị và khắt khe, chỉ truyền lại cho số ít người được đặc quyền từ thời xa xưa. |
|
Originally, this symbol of healing comprised two serpents wound around the rod, which itself was a serpent—a winged serpent—and all three heads were in contact. In ancient India this was the Trident of Siva: the rod was Asvatta, the Tree of Life, and the serpents Spirit and Matter; all three were symbols of energies in the human body which we shall consider later. |
Ban đầu, biểu tượng của sự chữa lành bao gồm hai con rắn quấn quanh cây gậy—bản thân cây gậy cũng là một con rắn có cánh—và cả ba cái đầu đều tiếp xúc với nhau. Ở Ấn Độ cổ đại, đây chính là cây Đinh Ba của thần Siva: cây gậy là Asvatta, Cây Sự Sống, còn hai con rắn là Tinh thần và Vật chất; cả ba đều là biểu tượng của các năng lượng trong cơ thể con người mà chúng ta sẽ đề cập đến sau này. |
|
Later in the West, the symbol became known as the Gadeus of Mercury, the Messenger of the Gods. The wonderful powers of the Caduceus, whether modified by Greek or Hindu into the single serpent and rod, or as the triple entity, were sung by all the ancient poets, for the very good reasons stated later. It was found in the hand of the Egyptian Cynocephalus (1), the Assyrian Cybele, the Grecian Hercules and the medieval Mercury-Hermes. |
Về sau ở phương Tây, biểu tượng này được biết đến với tên gọi Caduceus của thần Mercury, Sứ giả của các vị thần. Những quyền năng kỳ diệu của Caduceus, dù được Hy Lạp hay Ấn Độ biến đổi thành một con rắn quấn quanh cây gậy, hay vẫn giữ hình thức tam nguyên, đều được ca ngợi bởi mọi thi sĩ cổ đại, vì những lý do quan trọng sẽ được trình bày sau. Biểu tượng này từng xuất hiện trên tay của Cynocephalus Ai Cập (1), của Cybele Assyria, Hercules Hy Lạp và Mercury-Hermes thời trung cổ. |
|
(1) The Egyptian Cynocephalus was the dog-headed ape or god Thoth-Hermes. |
(1) Cynocephalus Ai Cập là vị thần khỉ đầu chó hay chính là thần Thoth-Hermes. |
Origin of Medicine in Ancient Egypt—Nguồn gốc của Y học trong Ai Cập cổ đại
|
Traditionally, all Egyptian medicine is traced back to Thoth-Hermes. He may originally have been a sage, but more likely, the god represented a group of sages of the Hermetic tradition who originated the first teachings in ancient Egypt or brought them to Egypt from elsewhere. Thoth signifies in the Egyptian language a group or assembly of wise men. Thoth was accredited with the invention of language and writing which was brought by him from the heavens and communicated to man. His Greek counterpart, Mercury-Hermes, was the Messenger of the Gods. |
Theo truyền thống, toàn bộ nền y học Ai Cập đều được truy nguyên về Thoth-Hermes. Có thể thuở đầu Ngài là một bậc hiền triết, nhưng có khả năng hơn, vị thần này đại diện cho một nhóm các hiền triết thuộc truyền thống Hermetic—những người đã khởi xướng các giáo lý đầu tiên tại Ai Cập cổ hoặc mang chúng từ nơi khác đến. Trong ngôn ngữ Ai Cập, “Thoth” có nghĩa là một nhóm hay hội đồng những người thông thái. Thoth được cho là người đã phát minh ra ngôn ngữ và chữ viết, mang từ các cõi trời xuống và truyền lại cho nhân loại. Tương ứng với Ngài trong thần thoại Hy Lạp là Mercury-Hermes—Sứ giả của các vị thần. |
|
Both Mercury-Hermes and Thoth-Hermes carried the Caduceus. Thoth was the inventor of geometry, arithmetic, astronomy, medicine, music, rhythm and numerous other arts. The teachings of Thoth were jealously guarded from the layman or uninitiated by the priests of his many temples of learning. At the time of Iamblichus (A.D. 363), the priests of Egypt showed 42 books which they attributed to Hermes. Of these, 36 contained the history of all human knowledge, and the last six treated anatomy, pathology, affections of the eye, instruments of surgery, and medicine. Much other evidence exists in various other papyri to testify to the skill of the Egyptians. Commenting on one such Papyrus of Hermetic Medicine, the New York Tribune once aptly remarked :- |
Cả Mercury-Hermes và Thoth-Hermes đều mang biểu tượng Caduceus. Thoth là người phát minh ra hình học, số học, thiên văn học, y học, âm nhạc, nhịp điệu và vô số bộ môn nghệ thuật khác. Các giáo lý của Thoth được các tu sĩ tại nhiều đền thờ học thuật của Ngài giữ gìn chặt chẽ, không truyền cho người thế tục hay những ai chưa được điểm đạo. Vào thời Iamblichus (năm 363 sau Công nguyên), các tu sĩ Ai Cập trưng ra 42 cuốn sách được cho là của Hermes. Trong số đó, 36 cuốn chứa đựng toàn bộ lịch sử tri thức nhân loại, còn 6 cuốn cuối bàn về giải phẫu, bệnh lý, các chứng bệnh về mắt, dụng cụ phẫu thuật và y học. Nhiều bằng chứng khác trong các bản giấy cói cũng cho thấy trình độ y học cao của người Ai Cập. Bình luận về một bản Papyrus Y học Hermetic, tờ New York Tribune từng nhận xét một cách xác đáng: |
|
“Verily, there is nothing new under the sun… (the papyrus shows) that hair invigorators, hair dyes, pain killers, and flea powders were disiderata 3,400 years ago.” |
“Quả thật, chẳng có gì là mới dưới mặt trời… (bản giấy cói cho thấy) thuốc mọc tóc, thuốc nhuộm tóc, thuốc giảm đau và bột diệt bọ chét đều là những thứ được săn tìm cách đây 3.400 năm.” |
|
An interesting observation by Professor Karl Jung on Thoth as the cynocephalus draws attention to the underlying meaning of this form (the dog-headed ape) assumed by Thoth. The ape symbol represents “that part of the unconscious which transcends the conscious level”, lung confirms also that “the Helenistic figure Hermes Trismegistus, who, while standing sponsor to the medieval Mercury, derives from the Egyptian Thoth.”(2) In this respect, the cynocephalic form assumed by Thoth points to the Egyptian understanding of the existence of a subconscious, at least to the extent of using it extensively in dream analysis and hypnosis, which were characteristic of techniques used by the later Aesculapius and Hippocrates and their Greek medical schools. |
Một nhận xét thú vị từ Giáo sư Carl Jung về Thoth trong hình dạng cynocephalus (khỉ đầu chó) đã hé lộ ý nghĩa tiềm ẩn của hình dạng này. Biểu tượng con khỉ ám chỉ “phần vô thức vượt lên trên tầng ý thức,” và Jung cũng xác nhận rằng “nhân vật Hermes Trismegistus thời Hellenistic, người đóng vai trò là tổ phụ cho thần Mercury thời Trung Cổ, có nguồn gốc từ thần Thoth Ai Cập.” (2) Do đó, hình dạng cynocephalus mà Thoth khoác lên mình cho thấy người Ai Cập đã nhận thức được sự tồn tại của vô thức—ít nhất là ở mức độ vận dụng nó rộng rãi trong phân tích giấc mơ và thôi miên—những kỹ thuật đặc trưng từng được Aesculapius và Hippocrates sử dụng trong các trường phái y học Hy Lạp sau này. |
|
(2) Psychology And Alchemy, C.G. Jung |
Early Indian Medicine—Y học Ấn Độ cổ đại
|
Before attempting an explanation of the Caduceus, we must go further back than Egypt to her only rival in Medicine so far as its antiquity and skill are concerned. This was India and in the carefully guarded records still remaining in Tibet, we can still find the clearest exposition of it. But in truth, whether it is Greece, Egypt, Chaldea, India or China, all these possessed a medical tradition that had so much in common with each other that it seems certain they derived it from a common antecedent about which practically nothing is known. Each had a caste ‘of physicians included in its sacerdotal order. They had a common philosophy and almost identical symbols. But evidence points to India as being older than Egypt in medicine :- |
Trước khi tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng Caduceus, chúng ta cần quay về thời kỳ xa xưa hơn cả Ai Cập—nơi duy nhất có thể sánh vai cùng Ai Cập về độ cổ xưa và trình độ y học: đó là Ấn Độ. Trong những bản ghi chép được gìn giữ cẩn mật còn tồn tại tại Tây Tạng, ta vẫn có thể tìm thấy phần trình bày rõ ràng nhất về nền y học này. Nhưng thực tế, dù là Hy Lạp, Ai Cập, Chaldea, Ấn Độ hay Trung Quốc—tất cả đều sở hữu những truyền thống y học có nhiều điểm chung đến mức có thể tin chắc rằng chúng bắt nguồn từ một cội nguồn chung, mà đến nay gần như không ai biết rõ. Mỗi nơi đều có một tầng lớp “thầy thuốc” được xếp vào hàng tư tế. Họ cùng chia sẻ một triết lý chung và có những biểu tượng gần như giống hệt nhau. Tuy nhiên, các bằng chứng cho thấy Ấn Độ là quốc gia có nền y học lâu đời hơn cả Ai Cập: |
|
“The sacred books of the Hindus indicate a very thorough conception and knowledge of the healing art. The Yajur Veda is itself a treatise upon medicine and surgery, and the commentaries on it by later writers reveal the existence of a code and regulations sufficiently stringent to satisfy the most exclusive champion of medical ethics. The whole authority of the Brahmanic hierarchy was put to uphold the sacerdotal dignity of the profession, and to exclude laymen… from ever becoming physicians… Surgery evidently attained the highest degree of perfection. The Indian practitioners were superior to the Egyptian.” (1) |
“Các kinh sách thiêng liêng của người Ấn Độ cho thấy một sự hiểu biết và nhận thức rất sâu sắc về nghệ thuật chữa bệnh. Yajur Veda tự thân là một luận thuyết về y học và phẫu thuật, và những phần chú giải về sau của các học giả cho thấy sự hiện hữu của một bộ luật và các quy tắc đủ nghiêm ngặt để làm hài lòng ngay cả những người bảo thủ nhất trong giới đạo đức y học. Toàn bộ uy quyền của giai cấp Bà-la-môn được huy động để duy trì phẩm giá tư tế của ngành y, và để ngăn cản người thế tục… không được trở thành thầy thuốc… Phẫu thuật rõ ràng đã đạt đến mức độ hoàn hảo cao nhất. Các y sĩ Ấn Độ vượt trội hơn người Ai Cập.” (1) |
|
(1) The History of Medicine by Alexander Wild, MD |
(1) The History of Medicine, Alexander Wilder, M.D. |
|
The Hindu Vedas are teachings which were revealed orally thousands of years ago to sages who interpreted them in an esoteric commentary known as the Upanishads. These are said to be the oldest teachings known to man. In its medical commentaries lithotomy, abdominal section, hysterectomy, as well as various plastic operations, are described with very precise directions. |
Các bộ Veda của người Hindu là những giáo lý được truyền khẩu từ hàng ngàn năm trước cho các bậc hiền triết, và được diễn giải thành các chú giải huyền môn gọi là Upanishads. Đây được xem là những giáo lý cổ xưa nhất mà nhân loại từng biết đến. Trong các chú giải y học này, những kỹ thuật như mổ lấy sỏi bàng quang, mổ bụng, cắt bỏ tử cung, và các ca phẫu thuật tạo hình đều được mô tả với hướng dẫn rất chi tiết. |
|
About the time of the death of Alexander, Megasthenes, the historian, visited the centre of Indian medicine at Patna and wrote a book describing the healing art as taught and practised there and this corresponded very closely with the conditions in medicine in Greece at that time. Later, Asoka, the most distinguished monarch of India who had embraced the Buddhist philosophy and had filled India with hospitals to which the destitute and diseased repaired, sent 80,000 missionaries to the different countries of Asia and to Greece and Egypt. |
Vào khoảng thời điểm Alexander Đại Đế qua đời, sử gia Megasthenes đã đến trung tâm y học Ấn Độ ở Patna và viết một cuốn sách mô tả nghệ thuật chữa bệnh như đã được giảng dạy và thực hành tại đó—và điều này tương ứng rất gần với tình trạng y học ở Hy Lạp cùng thời điểm. Về sau, vua Asoka—vị quân vương kiệt xuất nhất của Ấn Độ, người đã tiếp nhận triết lý Phật giáo và dựng lên hàng loạt bệnh viện để cưu mang người nghèo và bệnh tật—đã cử 80.000 vị sứ giả truyền giáo đến khắp các quốc gia châu Á, bao gồm cả Hy Lạp và Ai Cập. |
|
Some have drawn attention to the resemblance of Buddha to Mercury. The mother of Mercury and Buddha was Maya. The fourth day of the week was called “Mercury’s Day” by the Celtic nations, as it is now by the French (Mercredi). In Buddhist nations the same day is called “Buddha’s Day”. The planet Mercury is also called Buddha by the Hindus. Mercury was often represented by conical black stones. So is Buddha. Mercury was the conductor of the dead. So was the Buddha in his character as Naravahana. Buddha’s teachings are still described today as a religion of enlightenment. Mercury was the god of Wisdom. Both Buddha and Mercury were symbolised by a serpent. 2 The lotus was the sacred flower of the Egyptians as well as the Hindus. No temple in Tibet is without it. It had a deep and significant meaning to both as the symbol of well-understood energies in the human body which form vortices. This was part of an occult body of teachings concerned with the Life (healing) force which was interpreted alike by both ancient Egypt and India, as well as Greece, through the sacred symbol of the Caduceus. |
Một số học giả đã chú ý đến sự tương đồng giữa Đức Phật và thần Mercury. Mẹ của cả Mercury và Đức Phật đều mang tên Maya. Ngày thứ tư trong tuần được gọi là “Ngày của Mercury” bởi các dân tộc Celtic, và hiện nay vẫn được người Pháp gọi là Mercredi. Tại các quốc gia theo Phật giáo, ngày này cũng được gọi là “Ngày của Phật”. Trong văn hóa Ấn Độ giáo, hành tinh Mercury cũng được gọi là Buddha. Mercury thường được thể hiện bằng các hòn đá đen hình nón—cũng là cách thể hiện Đức Phật. Mercury là người dẫn đường cho những linh hồn đã chết, cũng như Đức Phật trong khía cạnh Naravahana. Giáo lý của Đức Phật ngày nay vẫn được mô tả là tôn giáo của sự Giác ngộ. Mercury là vị thần của Minh triết. Cả Đức Phật và Mercury đều được biểu tượng hóa bằng hình tượng con rắn. Hoa sen là loài hoa thiêng liêng đối với cả người Ai Cập lẫn người Ấn Độ. Không có ngôi đền nào ở Tây Tạng mà lại thiếu hình tượng hoa sen. Đối với cả hai nền văn hóa, hoa sen mang ý nghĩa sâu sắc như là biểu tượng của các năng lượng được hiểu rõ trong cơ thể con người—những năng lượng tạo nên các xoáy lực. Đây là một phần trong hệ thống giáo lý huyền bí liên quan đến Lực Sống (chữa lành), vốn được diễn giải tương tự nhau trong Ai Cập cổ đại, Ấn Độ và Hy Lạp thông qua biểu tượng thiêng liêng Caduceus. |
The Meaning of The Caduceus——Ý nghĩa của Caduceus
|
The principles of the philosophy underlying the ancients’ approach to Medicine as symbolised by the Caduceus are abstruse to any European investigator because of the almost complete absence of appropriate western language to interpret them. To satisfy the occidental mind, especially the scientifically trained one, and for the sake of brevity, clarity and simplicity, some generalisations, omissions and over-simplifications have been resorted to in the exposition that follows. |
Các nguyên lý triết học làm nền tảng cho cách tiếp cận y học của người xưa, như được biểu trưng qua Caduceus, là điều trừu tượng đối với bất kỳ nhà nghiên cứu châu Âu nào bởi vì gần như không có từ vựng phù hợp trong ngôn ngữ phương Tây để diễn đạt. Để làm hài lòng tư duy phương Tây, đặc biệt là tư duy khoa học, và nhằm mục đích ngắn gọn, rõ ràng và đơn giản, phần trình bày sau đây đã phải sử dụng một số cách tổng quát hoá, lược bỏ và đơn giản hoá quá mức. |
|
There is no such thing as a vacuum. All space, even that beyond our solar system, is filled with something. That ‘something’ is very real. In fact, it is matter of a very rare order, subtle or so fine and intangible in texture that it may be compared to a gas, as gas compares with solid. This subtle matter, being mainly neutral in charge, interpenetrates and fills all space and even flows through the ‘wide-open spaces’ within the atom itself. It is a root-substance, material or medium from which all elements are derived and through which the physical forces of light, heat and magnetism are able to operate. In the West there has been a similar proposition put forward by several scientists. Sir Oliver Lodge has dealt with it extensively in his book Ether And Reality. Henceforth, in this exposition, we shall refer to this subtle medium of rarefied matter in its various grades of density as etheric substance, whereas the gas, liquid and solid states of ordinary matter we shall refer to as physical matter. |
Không hề tồn tại cái gọi là chân không tuyệt đối. Mọi không gian—ngay cả không gian vượt ra ngoài hệ mặt trời—đều được lấp đầy bởi một thứ gì đó. “Thứ gì đó” ấy là một thực thể rất thực. Thực ra, đó là một dạng vật chất cực kỳ vi tế, tinh tế đến mức không thể nắm bắt được, có thể so sánh với khí, như khí so với rắn. Loại vật chất vi tế này—do hầu hết mang điện trung tính—xuyên thấu và lấp đầy mọi không gian, thậm chí cả những “khoảng trống rộng mở” bên trong nguyên tử. Đây là nguyên chất—chất liệu hay môi trường căn bản—từ đó mọi nguyên tố phát sinh và qua đó các mãnh lực vật lý như ánh sáng, nhiệt và từ tính có thể hoạt động. Tại phương Tây, đã có một số nhà khoa học đưa ra đề xuất tương tự. Sir Oliver Lodge đã bàn luận chi tiết về điều này trong cuốn Ether And Reality. Từ đây, trong phần trình bày này, chúng ta sẽ gọi môi trường vi tế của vật chất tinh luyện này với các mức độ đậm đặc khác nhau là “chất dĩ thái,” trong khi các trạng thái khí, lỏng và rắn của vật chất thông thường sẽ được gọi là “vật chất vật lý.” |
|
It is further proposed that in the region of the earth (and, for that matter, other planets as well) there is a heavier concentration of etheric substance. Also, there are several stages of combination of the simplest etheric substance into ‘particles’ which lie in mass somewhere between the electron and the Hydrogen atom. Because these ‘pre-physical’ stages are neutral in charge, they are not easily detectable. We say ‘pre-physical’ because they are in dynamic equilibrium with the gaseous, liquid and solid states of physical matter. The latter, in the human body, are constantly being broken down into etheric states and rebuilt from them, a state of dynamic equilibrium being maintained. This process goes on at a tremendous pace in and around living organisms. |
Người ta còn đề xuất rằng trong vùng không gian quanh Trái Đất (và cả các hành tinh khác), có sự tập trung lớn hơn của chất dĩ thái. Cũng có nhiều giai đoạn kết hợp của chất dĩ thái đơn giản tạo thành các “hạt” nằm ở mức trung gian giữa điện tử và nguyên tử Hydro. Vì các giai đoạn “tiền vật lý” này có điện tích trung tính nên khó bị phát hiện. Chúng ta gọi là “tiền vật lý” bởi vì chúng đang ở trạng thái cân bằng động với các trạng thái khí, lỏng và rắn của vật chất vật lý. Trong cơ thể con người, những vật chất này liên tục bị phá vỡ để chuyển thành trạng thái dĩ thái, rồi lại được tái cấu trúc từ đó—một trạng thái cân bằng động được duy trì. Quá trình này diễn ra với tốc độ cực nhanh trong và xung quanh các sinh thể. |
|
These postulates go back thousands of years. The ancient Hindus could hardly have foreseen the very recent discoveries of new fundamental particles of the mesons, neutrinos, positrons, etc. (1) Around every living organism there is a cloud of etheric substance, interpenetrating it and constantly replacing physical substance with ‘new’ and vitalised atoms. Living tissue breaks up and decays when the underlying and interpenetrating etheric cloud or network disperses: contra-wisely, living tissue regenerates where an etheric network has persisted. In some of the lower orders, like starfish, the etheric network is especially persistent so that there is regeneration of a whole limb. This etheric network, therefore, acts as a matrix for growth and repair. It emits a corona or ‘aura’ which has been investigated by several western scientists, including Dr. Walter Kilner of St. Thomas’ in London. He was chief electrician at the hospital just before World War I and had noted the aura when his sight had become sensitised to light at the violet end of the spectrum by peering through a screen stained in dicyanin blue. He even maintained that he could detect a change in the health of his patients through alterations in their auras. |
Những giả thuyết này đã tồn tại từ hàng ngàn năm trước. Người Ấn cổ xưa khó lòng dự đoán được các khám phá gần đây về những hạt cơ bản mới như meson, neutrino, positron v.v. (1) Bao quanh mỗi sinh thể là một đám mây chất dĩ thái xuyên thấu vào cơ thể và liên tục thay thế vật chất vật lý bằng những nguyên tử “mới” được tiếp sinh lực. Các mô sống sẽ phân hủy và hoại tử khi mạng lưới dĩ thái nền tảng và xuyên thấu đó tan biến; ngược lại, các mô sống sẽ tái tạo nếu mạng lưới dĩ thái vẫn tồn tại. Ở một số loài thấp như sao biển, mạng lưới dĩ thái đặc biệt bền vững đến mức toàn bộ chi thể có thể được tái sinh. Do đó, mạng lưới dĩ thái này hoạt động như một ma trận cho sự tăng trưởng và phục hồi. Nó phát ra một vầng hào quang hay “aura,” vốn đã được một số nhà khoa học phương Tây nghiên cứu, trong đó có Tiến sĩ Walter Kilner tại bệnh viện St. Thomas ở London. Ông là kỹ sư điện trưởng của bệnh viện trước Thế Chiến I và đã quan sát được hào quang khi thị giác của ông trở nên nhạy cảm với ánh sáng ở đầu tím của quang phổ bằng cách nhìn qua màn lọc được nhuộm thuốc nhuộm dicyanin blue. Ông thậm chí khẳng định rằng có thể phát hiện sự thay đổi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân qua sự thay đổi trong các vầng hào quang của họ. |
|
(1) Are There Some New Fundamental Particles by Professor Salam in New Scientist. |
(1) “Are There Some New Fundamental Particles” của Giáo sư Salam, New Scientist |
|
Other observers have reported on emission and dispersal of clouds of electrons from the bodies of animals at the time of death. The recent work of a radionic laboratory at Oxford under the late Mr. George de la Warr in registering an emission of energy from the human body which can be photographed, although vibrating at wave lengths other than those of light, is becoming better known and has been commented upon favourably by such men as the surgeon Kenneth Walker. (2) But it is very difficult to come to grips with these etheric networks because of their neutral charge. |
Một số nhà quan sát khác cũng đã ghi nhận hiện tượng phát xạ và tản mát của các đám mây điện tử từ thân thể động vật vào thời điểm tử vong. Công trình gần đây của một phòng thí nghiệm radionic tại Oxford dưới sự dẫn dắt của cố George de la Warr trong việc ghi nhận hiện tượng phát xạ năng lượng từ cơ thể người—có thể chụp ảnh được dù rung ở bước sóng khác với ánh sáng—đang ngày càng được biết đến rộng rãi hơn và được các nhà chuyên môn như bác sĩ phẫu thuật Kenneth Walker đánh giá tích cực. (2) |
|
(2) North Wing, Autumn 1962 |
(2) North Wing, Mùa thu năm 1962. |

|
The etheric substance of the human body acts as a unified whole and in many instances obeys certain laws. It is in an understanding of these laws that so much of the phenomena of Yoga are performed because etheric substance is especially reactive to mental and emotional impact. The belief that ‘energy follows thought’ is the principle underlying many feats of healing and physical prowess on the part of the Yogis who, with the ancients, believe that ninety per cent of disease has its causes in the mind and emotion. Vital force can be directed to a diseased part through the focus of attention upon it. The science of Raja Yoga deals explicitly with the training of the mind with the aim of focusing it at will. If the etheric matrix is closely examined it will be found that it is made up of minute tracts called nadis which are more concentrated around the nervous system than elsewhere. A healthy etheric matrix is able to vitalise the whole nervous system and there and elsewhere quickly replaces or revitalises ‘exhausted’ or tired tissue. The regeneration of severed nerves between sheath ends would presumably be dependent upon the state and health of the etheric matrix. Some of the phenomena of wound-healing might well be explained by such a proposition. |
Chất dĩ thái trong cơ thể con người hoạt động như một thể thống nhất và trong nhiều trường hợp tuân theo các định luật nhất định. Chính nhờ sự hiểu biết về các định luật này mà nhiều hiện tượng Yoga được thực hiện, vì chất dĩ thái đặc biệt nhạy cảm với tác động của tư tưởng và cảm xúc. Niềm tin rằng “năng lượng đi theo tư tưởng” là nguyên lý nền tảng của nhiều kỳ công về chữa lành và năng lực thể chất nơi các đạo sĩ Yoga—những người, cùng với người xưa, tin rằng 90% bệnh tật có nguyên nhân từ tâm trí và cảm xúc. Sinh lực có thể được hướng về một bộ phận bị bệnh thông qua sự tập trung chú ý. Khoa học Raja Yoga chuyên biệt xử lý việc huấn luyện tâm trí nhằm mục đích tập trung nó theo ý muốn. Nếu khảo sát kỹ ma trận dĩ thái, ta sẽ thấy nó được cấu thành từ các ống vi tế gọi là nadis, tập trung nhiều nhất quanh hệ thần kinh. Một ma trận dĩ thái khỏe mạnh có khả năng tiếp sinh lực cho toàn bộ hệ thần kinh và nhanh chóng thay thế hay phục hồi các mô bị mệt mỏi hoặc suy kiệt. Việc tái tạo lại các dây thần kinh bị đứt có lẽ phụ thuộc vào trạng thái và sức khỏe của ma trận dĩ thái. Một số hiện tượng lành vết thương có thể được lý giải dựa trên giả thuyết này. |
|
If we momentarily accept this proposition and regard the etheric network of the human body as just another bodily system… the vital system, then we can proceed further to an understanding of the true and ancient meaning of the Caduceus or rod and serpent of Aesculapius and Hippocrates. |
Nếu tạm thời chấp nhận giả thuyết này và xem mạng lưới dĩ thái trong cơ thể như một hệ thống cơ thể khác—hệ thống sinh lực—thì chúng ta có thể tiến thêm một bước trong việc thấu hiểu ý nghĩa chân thực và cổ xưa của Caduceus, hay cây gậy và con rắn của Aesculapius và Hippocrates. |
|
The interplay between the etheric matrix and its gas, liquid and solid physical counterpart is well demonstrated in the figure of young Hercules at grips with both. The epitomy of health and vitality, Hercules maintains a dynamic equilibrium, balancing the serpent of vital regeneration (the forces of the etheric matrix) with the serpent of degeneration and decay (the physical forces of the environment). Were he not able to maintain the two under his control, disease would supervene. In itself, the age-old legend of the infant Hercules is but another version of the Caduceus. |
Sự tương tác giữa ma trận dĩ thái và các trạng thái khí, lỏng và rắn của vật chất vật lý được thể hiện sinh động qua hình tượng chàng Hercules trẻ tuổi vật lộn với cả hai. Là hiện thân của sức khỏe và sinh lực, Hercules duy trì một trạng thái cân bằng động—giữ cho con rắn của sự tái sinh (mãnh lực của ma trận dĩ thái) và con rắn của sự phân rã và suy tàn (các mãnh lực vật lý từ môi trường) nằm trong tầm kiểm soát. Nếu không làm được như vậy, bệnh tật sẽ xuất hiện. Chính truyền thuyết lâu đời về Hercules thuở ấu thơ cũng là một phiên bản khác của Caduceus. |
|
In the East, especially in Tibet, the nature of these forces was even better understood and a whole science, concerning their interaction and the nature of the vital system which they comprise, was elaborated. |
Tại phương Đông, đặc biệt là Tây Tạng, bản chất của các mãnh lực này còn được hiểu sâu sắc hơn và cả một khoa học đã được phát triển xoay quanh sự tương tác của chúng cùng với bản chất của hệ thống sinh lực mà chúng cấu thành. |
|
There are three main tracts in the vital or etheric system of the body. These were called by the Hindus: Ida, Sushumna and Pingala. The two snakes of the Caduceus represent Ida and Pingala, and Sushumna is the rod or central entity about which the snakes entwine. |
Có ba ống năng lượng chính trong hệ dĩ thái hay hệ sinh lực của cơ thể. Theo Ấn Độ giáo, chúng được gọi là: Ida, Sushumna và Pingala. Hai con rắn trong biểu tượng Caduceus đại diện cho Ida và Pingala, còn Sushumna là cây gậy trung tâm mà hai con rắn quấn quanh. |
|
Anatomically, Sushumna runs in the centre of the spinal cord and Pingala and Ida lie on either side. The other essential component of the etheric matrix or vital system is the Chakra. This is an energy centre for forces which flow through the etheric matrix. There are alleged to be some forty-nine smaller chakras or vital energy centres and seven major ones. The minute ether tracts or nadis radiate like spokes into and out from these force centres. Symbolically, these chakras or centres are spoken of in the East as ‘lotuses’. When a force centre is fully functioning, healthy and coordinated with other chakras, the lotus is said to be fully opened. Buddha was said to have attained a state in which all the force-centres of His ether body were fully functional and coordinated. He attained this through meditation which requires the focusing of attention to a point between the eyes at the anatomical position of a lotus called Ajna. Some believe that Jesus was initiated into the Mysteries of the Essenes who were originally a sect of monks from Tibet. Be that as it may, it is hard to find an explanation from Christian teachings for Christ’s remark in the New Testament :- |
Về mặt giải phẫu, Sushumna chạy dọc giữa tủy sống, còn Pingala và Ida nằm hai bên. Thành phần quan trọng khác của ma trận dĩ thái là luân xa—các trung tâm năng lượng cho các mãnh lực chảy qua ma trận dĩ thái. Có khoảng 49 luân xa nhỏ và 7 luân xa chính. Các ống vi tế dĩ thái hay nadis tỏa ra và hội tụ lại các trung tâm năng lượng này như các nan hoa. Về mặt biểu tượng, các luân xa này ở phương Đông được gọi là hoa sen. Khi một trung tâm năng lượng vận hành đầy đủ, khỏe mạnh và hài hòa với các luân xa khác, người ta nói rằng hoa sen đó “nở hoàn toàn.” Đức Phật được cho là đã đạt đến trạng thái mà tất cả các trung tâm năng lượng trong thể dĩ thái của Ngài đều hoạt động đầy đủ và phối hợp nhịp nhàng. Ngài đạt được điều đó thông qua thiền định—một quá trình đòi hỏi sự tập trung chú ý vào điểm giữa hai mắt—tương ứng với vị trí giải phẫu của một hoa sen gọi là Ajna. Một số người tin rằng Đức Jesus đã được điểm đạo vào các Huyền môn của phái Essene—một giáo phái tu sĩ có nguồn gốc từ Tây Tạng. Dù sự thật thế nào, thì cũng khó mà lý giải lời dạy của Đức Christ trong Tân Ước: |
|
“If thine eye be single, thy whole body shall be full of light,” |
“Nếu con mắt ngươi đơn nhất, thì toàn thân ngươi sẽ đầy ánh sáng,” |
|
without implicating the process of meditation and its preliminary discipline of mental focus. Like the Buddha, Jesus was a healer because He, too, had perfect control of His vital body-system and could therefore be capable of transferring vital force to others in the act of healing. |
mà không liên hệ đến tiến trình tham thiền và kỷ luật sơ khởi của việc tập trung tư tưởng. Cũng như Đức Phật, Đức Jesus là một nhà chữa lành vì Ngài cũng có quyền kiểm soát hoàn hảo hệ thống thể sinh lực của mình, nhờ đó có thể truyền sinh lực đến người khác khi chữa bệnh. |
|
The spokes of the etheric lotuses or chakras vary from force-centre to force-centre and are described as ‘petals’ of the lotus. The number of petals in a lotus increases from that one at the base of the spine to the ‘Thousand Petalled Lotus’ in the head. The latter is seen over the head of every Buddha and its corona was the halo about the head of Jesus and of the saints. Each chakra overlies a nerve plexus and is related through it to the neighbouring organs. Thus, the chakra overlying the coeliac plexus vitalises the stomach, liver, duodenum and pancreas. |
Các nan hoa của những hoa sen dĩ thái hay luân xa thay đổi theo từng trung tâm năng lượng, và được mô tả là “cánh hoa” của hoa sen. Số lượng cánh hoa gia tăng từ luân xa ở đáy cột sống cho đến Hoa Sen Ngàn Cánh ở đỉnh đầu. Luân xa sau cùng này thường được thể hiện tỏa sáng trên đầu các bức tượng Phật, và vầng hào quang của nó chính là vòng sáng trên đầu Đức Jesus và các vị thánh. Mỗi luân xa nằm chồng lên một đám rối thần kinh và liên kết thông qua nó với các cơ quan lân cận. Do đó, luân xa nằm trên đám rối thái dương tiếp sinh lực cho dạ dày, gan, tá tràng và tuyến tụy. |
|
The illustration below (The Chakras and The Three Tracts—Ida, Sushumna and Pingala) shows the three etheric tracts linking the various chakras or force centres. The petals of each centre are shown along with the symbols of their peculiar qualities. Thus, emotional energy is most strongly correlated to the lotus of ten petals, the coeliac plexus, and the organs already mentioned. Sexual libido reacts vitally on the lotus with six petals and its organs of sympathy, the gonads. |
Hình minh họa (Chakras và Ba ống năng lượng—Ida, Sushumna và Pingala) cho thấy ba ống dĩ thái kết nối các luân xa hay trung tâm năng lượng. Các cánh hoa của mỗi trung tâm được minh họa kèm với các biểu tượng đại diện cho phẩm tính riêng của chúng. Ví dụ, năng lượng cảm xúc tương ứng mạnh mẽ nhất với hoa sen mười cánh—tức đám rối thái dương và các cơ quan liên quan đã nêu. Dục năng phản ứng mãnh liệt lên hoa sen sáu cánh cùng với các cơ quan cảm ứng của nó, tức tuyến sinh dục. |

|
The technique of healing in ancient days was to apply a herb, drug, pressure, acupuncture, etc., with a view to stimulating or depressing the activity of the chakra responsible for vitalising the offending organ. In this way, the etheric matrix in that region was strengthened and regeneration of tissue of the diseased part resulted. The ancients believed that it is the etheric part of the body which actually registers pain and sensation, not the gas-liquid-solid part, and they maintained it was possible to put the etheric part out of alignment with the latter. |
Kỹ thuật chữa bệnh trong thời cổ đại là áp dụng một loại thảo dược, dược phẩm, áp lực, châm cứu, v.v., nhằm mục đích kích thích hoặc làm suy giảm hoạt động của luân xa chịu trách nhiệm tiếp sinh lực cho cơ quan đang gặp vấn đề. Bằng cách này, khuôn mẫu dĩ thái ở vùng đó được củng cố và sự tái tạo mô của phần bị bệnh diễn ra. Người xưa tin rằng chính phần dĩ thái của cơ thể mới thực sự ghi nhận cảm giác đau đớn và cảm thọ, chứ không phải phần khí–lỏng–rắn, và họ cho rằng hoàn toàn có thể làm cho phần dĩ thái này lệch khỏi sự chỉnh hợp với phần kia. |
|
The feat of fire-walking, of being buried alive and many other phenomena seen frequently in the east can be explained in this way. In sleep and in extreme exhaustion this misalignment occurs naturally and the whole vital system is able in this way to re-charge itself. Pain and sensation are lost but the organs continue to be revitalised and at a greater rate than during the full alignment of normal, consciousness. In self-hypnosis, the mechanism is basically the same. |
Việc đi trên lửa, bị chôn sống và nhiều hiện tượng khác thường thấy ở phương Đông có thể được giải thích theo cách này. Trong giấc ngủ và trong tình trạng kiệt sức tột độ, sự lệch chỉnh hợp này xảy ra một cách tự nhiên và toàn bộ hệ thống sinh lực nhờ đó có thể tự nạp lại. Cảm giác đau đớn và cảm thọ bị mất đi nhưng các cơ quan vẫn tiếp tục được tiếp sinh lực và ở tốc độ lớn hơn so với khi có sự chỉnh hợp đầy đủ của ý thức thông thường. Trong trạng thái tự thôi miên, cơ chế cũng tương tự. |
|
But our concern here is with the Caduceus and what it represents and not with the fascinating phenomena of the east. In its totality, the Caduceus represents the main tracts of the etheric matrix, especially the tracts which are concerned with the energising of that matrix. For purposes of investigating these theories we shall call the energising quality the ‘life force’. This life force which pours through the etheric matrix and hence into the physical form, is responsible for the impetus behind repair, regeneration and healing. Without it, the physical form disintegrates. In the East it is called ‘prana’. |
Tuy nhiên, mối quan tâm của chúng ta ở đây là với Biểu tượng Thần Trượng (Caduceus) và những gì nó tượng trưng chứ không phải là các hiện tượng hấp dẫn của phương Đông. Trong toàn thể của mình, Biểu tượng Thần Trượng đại diện cho các đường dẫn chính của khuôn mẫu dĩ thái, đặc biệt là các đường dẫn liên quan đến việc tiếp sinh lực cho khuôn mẫu đó. Để tiện cho việc khảo sát các lý thuyết này, chúng ta sẽ gọi phẩm chất tiếp sinh lực đó là “sinh lực”. Sinh lực này tuôn chảy xuyên qua khuôn mẫu dĩ thái và từ đó vào thể xác, là yếu tố thúc đẩy việc sửa chữa, tái tạo và chữa lành. Thiếu nó, thể xác sẽ tan rã. Ở phương Đông, nó được gọi là “prana”. |
|
Disease implies a restriction or excess of this force in some region of the body. In the West, we know that energy of some sort is required to combine simple molecules into more complex ones. The building up of our proteins, carbohydrates and fats is not unlike the way in which the finer ‘particles’ of ether are linked together through the aid of prana to form the nadis and other etheric tracts already mentioned. The Caduceus shows in its symbology the manner in which the life-force flows continually into the body and how it circulates. |
Bệnh tật có nghĩa là sự giới hạn hay dư thừa của mãnh lực này ở một khu vực nào đó của cơ thể. Ở phương Tây, chúng ta biết rằng một dạng năng lượng nào đó là cần thiết để kết hợp các phân tử đơn giản thành những phân tử phức tạp hơn. Việc cấu thành các chất đạm, carbohydrate và chất béo trong cơ thể chúng ta không khác mấy so với cách mà các “hạt” vi tế của dĩ thái được kết nối với nhau nhờ prana để hình thành các nadis và các đường dẫn dĩ thái đã nói đến. Biểu tượng Thần Trượng cho thấy trong biểu tượng học của nó cách mà sinh lực tuôn chảy liên tục vào cơ thể và lưu thông ra sao. |
|
The main intake of prana is through the respiratory system. The atmosphere is loaded with prana especially in regions of concentrated sunlight. By a clearly explained mechanism, which can be omitted here, prana is built in loosely (attached) to the oxygen atom so that whilst the physical body is maintained with oxygen respiration, the ether bodywork is maintained with prana at the same time. In some regions—especially where there are dry, warm conditions at a high altitude and where there is a marked degree of negative ionisation of the atmosphere—atmospheric oxygen will be laden with prana. Inside the body, oxygen therefore serves a dual function, viz., oxygenisation of the blood and vitalisation of the tissues via prana and the etheric matrix underlying them. |
Nguồn hấp thu prana chủ yếu là qua hệ hô hấp. Bầu khí quyển đầy prana, đặc biệt ở những nơi có ánh sáng mặt trời tập trung. Thông qua một cơ chế đã được giải thích rõ ràng mà ở đây có thể bỏ qua, prana được gắn kết lỏng lẻo với nguyên tử oxy, sao cho trong khi thể xác được duy trì nhờ hô hấp oxy thì công việc của thể dĩ thái cũng được duy trì đồng thời bằng prana. Ở một số nơi — đặc biệt là nơi có khí hậu khô, ấm ở độ cao và nơi có mức độ ion âm cao trong khí quyển — oxy trong không khí sẽ chứa đầy prana. Trong cơ thể, oxy do đó có hai chức năng: oxy hoá máu và tiếp sinh lực cho các mô thông qua prana và khuôn mẫu dĩ thái nằm bên dưới chúng. |
|
There is a whole science (Hatha Yoga) which deals with the most efficient techniques of breathing and vitalisation of the nervous system and viscera. Prana is said to be of two types, male and female, or positive and negative. On entering the nostrils, positive prana is spiraled to the right and negative to the left. The turbinates of the nose are said to help in this process. The two streams of prana thus separated are directed down the two ether tracts of Ida and Pingala. These tracts lie on either side of the spine and meet in the chakra at the base of the spine. These are the two serpents of the Caduceus. In their course down the spine, they energise their relevant chakras and thence the organs that overlie them. The endocrine glands especially, are said to be most sensitive to changes in etheric vitalisation and through them changes occur in the body systems. |
Có cả một khoa học (Hatha Yoga) chuyên nghiên cứu những kỹ thuật hiệu quả nhất của việc thở và tiếp sinh lực cho hệ thần kinh và nội tạng. Người ta cho rằng prana có hai loại, dương và âm, hoặc tích cực và tiêu cực. Khi đi vào các lỗ mũi, prana tích cực xoắn về phía bên phải và prana tiêu cực xoắn về bên trái. Các xương xoăn trong mũi được cho là giúp vào quá trình này. Hai dòng prana sau khi được phân tách như vậy sẽ đi xuống hai đường dẫn dĩ thái Ida và Pingala. Hai đường dẫn này nằm ở hai bên xương sống và gặp nhau tại luân xa ở đáy cột sống. Đây chính là hai con rắn trong Biểu tượng Thần Trượng. Trong hành trình đi xuống cột sống, chúng tiếp sinh lực cho các luân xa liên hệ và từ đó là các cơ quan tương ứng. Các tuyến nội tiết, đặc biệt, được cho là nhạy cảm nhất với những thay đổi trong tiếp sinh lực dĩ thái và thông qua đó, các biến đổi xảy ra trong các hệ thống của cơ thể. |
|
What then is the central piece of the triple-natured Caduceus? The rod or staff is even more abstruse in its purpose and function. It commences in the chakra at the base of the spine where the two serpents Ida and Pingala have met. The rod or etheric tract is called Sushumna. It exactly underlies the spinal canal and reaches into the brain itself. This is the third serpent or rod of consciousness which cannot be present and functioning without Ida and Pingala. If Ida and Pingala fail to balance each other or, if you like, the negative and positive forces of the body are in a state of imbalance, then Sushumna is unstable and will fly as easily from the body in coma as it does in sleep. The two wings growing from the head of Sushumna demonstrate the fact of such ‘flights of consciousness’ during the dream-state, coma and telepathy. The thickened portion of the staff represents the brain. Some say that the wings are the lateral ventricles underlying the cortex, which is the home of consciousness. |
Vậy thì phần trung tâm của Biểu tượng Thần Trượng ba phần là gì? Cái gậy hoặc trượng còn trừu tượng hơn về mục đích và chức năng của nó. Nó khởi đầu từ luân xa ở đáy cột sống, nơi hai con rắn Ida và Pingala gặp nhau. Cái gậy hay đường dẫn dĩ thái đó được gọi là Sushumna. Nó nằm ngay bên dưới ống sống và kéo dài đến tận bộ não. Đây là con rắn thứ ba hay cái trượng của tâm thức, vốn không thể hiện hữu và hoạt động nếu không có Ida và Pingala. Nếu Ida và Pingala không quân bình nhau, hay nói cách khác, nếu các mãnh lực âm và dương trong cơ thể ở trong trạng thái mất quân bình, thì Sushumna sẽ không ổn định và có thể dễ dàng thoát khỏi cơ thể trong hôn mê cũng như trong giấc ngủ. Hai cánh mọc ra từ đầu của Sushumna minh họa cho sự “bay vút của tâm thức” như vậy trong trạng thái mộng mị, hôn mê và viễn cảm. Phần phình ra của cái gậy đại diện cho bộ não. Một số người cho rằng hai cánh đó là hai não thất bên dưới vỏ não, nơi được xem là ngôi nhà của tâm thức. |
|
Students of the history of Medicine will remember how patients seeking help in the temples of Aesculapius were put to sleep and dreamed. What they dreamt was considered an indication of the diagnosis and treatment of their condition. Thus the ability to project one’s consciousness, either in sleep or by an act of the will, was said to link man with his gods. Mercury was the winged Messenger of the Gods. He carried the Caduceus, which is the symbol of both consciousness and the life force in man. In other words, all ancient beliefs in healing are centered around a mechanism within ourselves through which Divine powers of regeneration can reach the gross physical body. |
Những học viên nghiên cứu lịch sử y học sẽ nhớ rằng các bệnh nhân tìm đến các đền thờ của Aesculapius thường được cho ngủ và mơ. Những gì họ mơ thấy được xem là chỉ dẫn cho chẩn đoán và phương pháp điều trị tình trạng của họ. Do đó, khả năng phóng chiếu tâm thức của mình, dù là trong giấc ngủ hay bằng một hành động ý chí, được cho là giúp con người nối kết với các vị thần. Hermes là Sứ Giả có cánh của các Thần linh. Ngài mang theo Biểu tượng Thần Trượng, biểu tượng của cả tâm thức lẫn sinh lực trong con người. Nói cách khác, tất cả những tín ngưỡng cổ đại về chữa lành đều xoay quanh một cơ chế nằm trong chính chúng ta, nhờ đó mà quyền năng tái tạo của Thần linh có thể chạm đến thể xác thô trược. |
|
The control of the two serpents by the will or consciousness mounting in the central rod was sometimes undertaken by the leaders of mankind, of whom many were physicians. A whole science developed with this in mind, called Raja Yoga in the East and variously elsewhere. It was this knowledge that was so esoteric and jealously guarded in the profession. Through perfect understanding of the occult nature of the human frame came the power to heal. Knowledge of the processes of healing was passed on only to those who proved themselves morally eligible by means of initiation. |
Việc điều khiển hai con rắn bằng ý chí hay tâm thức thăng lên trong trục trung tâm đôi khi được đảm trách bởi những nhà lãnh đạo của nhân loại, nhiều người trong số đó là các thầy thuốc. Cả một nền khoa học đã phát triển dựa trên điều này, gọi là Raja Yoga ở phương Đông và với những tên gọi khác ở nơi khác. Chính kiến thức này là điều huyền môn và được giới chuyên môn giữ gìn một cách cẩn mật. Thông qua sự thấu hiểu hoàn hảo về bản chất huyền bí của cơ cấu con người mà quyền năng chữa lành xuất hiện. Kiến thức về các tiến trình chữa lành chỉ được truyền cho những ai chứng tỏ được phẩm chất đạo đức xứng đáng thông qua sự điểm đạo. |
|
The Twelve Labours (or Initiations) of Hercules, successfully performed, gave him the right to the esoteric knowledge leading to control of Ida and Pingala and thus power over disease. When the energy of Sushumna rises up the spine, unimpeded, into the chakra in the head known as the Thousand Petalled Lotus in the East—or the laurel wreath in Rome and Greece, or crown of thorns and halo in Christian lore—then comes the power to channel life force to another in the act of spiritual healing, so characteristic of a Christ or Buddha. |
Mười Hai Công Tác (hay Cuộc Điểm Đạo) của Hercules, được hoàn tất thành công, đã cho chàng quyền được tiếp cận tri thức huyền môn dẫn đến sự kiểm soát Ida và Pingala và do đó, quyền năng đối với bệnh tật. Khi năng lượng của Sushumna dâng lên theo cột sống, không bị cản trở, đến luân xa trong đầu được gọi là Đài Sen Ngàn Cánh ở phương Đông — hoặc là vòng nguyệt quế ở La Mã và Hy Lạp, hay mão gai và hào quang trong truyền thống Cơ Đốc — thì khi ấy quyền năng truyền sinh lực cho kẻ khác trong hành động chữa lành tinh thần xuất hiện, một đặc điểm đặc trưng nơi một vị Christ hay Đức Phật. |
|
We have considered so far the origins of the energies of healing, but only insofar as they emerge into the physical body from its etheric counterpart. The origins of the healing force and, in fact, that which it heals go back further into higher levels of subtlety, where the tangible becomes inseparable from the energies of which it is composed, where as Einstein observed, “Matter and energy are interchangeable.” |
Cho đến đây, chúng ta mới chỉ khảo xét nguồn gốc của các năng lượng chữa lành, nhưng chỉ trong phạm vi mà chúng đi vào thể xác từ thể dĩ thái của nó. Nguồn gốc của mãnh lực chữa lành và, trên thực tế, cả những gì được chữa lành còn đi xa hơn, đến các cấp độ vi tế cao hơn, nơi mà cái hữu hình không thể tách rời khỏi những năng lượng cấu thành nó, nơi mà như Einstein đã quan sát, “Vật chất và năng lượng là hoán đổi cho nhau.” |
|
Whilst the Asclepidae were working on their patients in the temples of Cos, away on the mainland of Greece the great philosophers were probing the Olympian heights of the human mind and, in the case of the initiated few such as Pythagoras, Socrates and Plato those heights brought them into contact with the phenomena of pure energy or, as it is called, to my mind less appropriately, the realm of the spirit. According to these, the truly great amongst the scores of sophists, all matter, all energy, all that is, derives from a common origin. This origin, not yet trammeled or sullied by its lower counterpart (matter) exists, as far back/up as we can interpret it, as three qualities of the one original energy of the monad. These are Truth, Beauty and Goodness. |
Trong khi các Asclepidae đang làm việc với bệnh nhân trong các đền thờ ở đảo Cos, thì tại đất liền Hy Lạp, các triết gia vĩ đại đang thăm dò các đỉnh Olympus của tâm trí con người, và trong trường hợp của một số ít người được điểm đạo như Pythagoras, Socrates và Plato, những đỉnh cao ấy đưa họ tiếp xúc với hiện tượng năng lượng thuần khiết hay, theo cách gọi mà tôi cho là ít thích hợp hơn, cõi tinh thần. Theo những vị vĩ đại này, giữa hàng loạt các nhà biện sĩ, mọi vật chất, mọi năng lượng, tất cả những gì hiện hữu, đều xuất phát từ một nguồn gốc chung. Nguồn gốc này, chưa bị ràng buộc hay vẩn đục bởi phần thấp của nó (vật chất), tồn tại, xét đến mức xa nhất mà chúng ta có thể hiểu được, như ba phẩm tính của một nguyên khí duy nhất của Chân Thần. Đó là Chân lý, Cái đẹp và Thiện lành. |
|
The descent of these three qualities brings their modification into what the Greeks called ‘the gods’. Still further ‘down’ in their manifestation come the legendary or semi-historic figures of Greek mythology, and these, being in some cases corrupt and impure, show at the material level as the afflictions and diseases of mankind. |
Sự giáng hạ của ba phẩm tính này mang đến sự biến đổi của chúng thành những gì mà người Hy Lạp gọi là “các thần”. Càng đi xuống sâu hơn trong biểu hiện của chúng là các nhân vật huyền thoại hay bán lịch sử của thần thoại Hy Lạp, và những nhân vật này, trong một số trường hợp, bị tha hoá và không tinh khiết, nên ở cấp độ vật chất chúng biểu hiện thành các bệnh tật và khổ đau của nhân loại. |
|
In the history of psychiatry we once again start from the high degree of enlightenment about mental illnesses in Grecian times. The myths of the Greeks, it is true, suggest that madnesses were afflictions imposed upon men by the gods, usually as punishment. Hippocrates, however, living in a period of cultural, philosophical and scientific progress, was able to rebel against this idea of divine origin and to view mental illness as arising from natural causes in the same way as did physical afflictions. On the basis of his humoral classification of temperament, he attributed mental illnesses to excesses of these humors. In particular the bile (both yellow and black) was considered to be of importance in mental illness. A sudden flow of yellow bile to the brain would produce nightmares and anxiety. An excess of black bile would produce melancholia. These early views have their counterparts in sophisticated biochemical, metabolic, endocrine and pharmacological approaches in contemporary psychiatry. |
Trong lịch sử tâm thần học, một lần nữa chúng ta bắt đầu từ mức độ giác ngộ cao về bệnh tâm thần vào thời Hy Lạp cổ đại. Các thần thoại của người Hy Lạp, đúng là có gợi ý rằng điên loạn là những tai hoạ do các thần giáng xuống con người, thường là để trừng phạt. Tuy nhiên, Hippocrates, sống vào thời kỳ phát triển về văn hóa, triết học và khoa học, đã có thể phản bác lại ý tưởng về nguồn gốc thần linh đó và xem bệnh tâm thần như phát sinh từ các nguyên nhân tự nhiên, cũng giống như bệnh thể chất. Dựa trên sự phân loại tính khí theo học thuyết thể dịch của ông, ông cho rằng bệnh tâm thần là do sự dư thừa của các thể dịch này. Đặc biệt, mật (vàng và đen) được xem là có vai trò quan trọng trong bệnh tâm thần. Một dòng chảy đột ngột của mật vàng lên não sẽ gây ra ác mộng và lo âu. Sự dư thừa mật đen sẽ gây nên chứng u sầu. Những quan điểm sơ khai này có sự tương đồng với các tiếp cận tinh vi hơn trong hóa sinh, chuyển hoá, nội tiết và dược lý học hiện đại trong ngành tâm thần học ngày nay. |

|
Unfortunately, the natural views on aetiology and the associated humanitarian ideals which the Greeks developed in the treatment of mental illness tended to decline with the spread of Christianity. The Dark Ages, with their theological concern, brought about the demonological concepts of mental disease and the belief that cures and alleviations had necessarily to be cruel and drastic measures such as flogging and burning at the stake. Descriptions of witchcraft and its manifestations are to be found in the Malleus Malleficarum written by Kraemer and Sprenger in 1846. This particular work with its scholarly, sadistic thoroughness became the Inquisitors’ handbook and refers to phenomena which we now recognise to be symptoms of mental illness. Hysterical anaesthesia of certain parts of the body was interpreted as the witch’s satanic powers to resist feeling pain. Hallucinations were taken to be evidence that the witch was in touch with the powers of darkness. The demonological influence in attitudes to mental illness lasted a long time and vestiges of it are still regarded by many as possession by the devil. (l) |
Thật không may, những quan điểm tự nhiên về căn nguyên bệnh và các lý tưởng nhân đạo đi kèm mà người Hy Lạp đã phát triển trong việc điều trị bệnh tâm thần có xu hướng suy giảm khi Kitô giáo lan rộng. Thời kỳ Tăm Tối, với mối bận tâm thần học của nó, đã đưa đến những quan niệm quỷ ám về bệnh tâm thần và niềm tin rằng việc chữa trị và làm thuyên giảm bắt buộc phải là những biện pháp tàn bạo và khắc nghiệt như đánh đập hay thiêu sống. Những mô tả về tà thuật và các biểu hiện của nó được tìm thấy trong cuốn Malleus Malleficarum do Kraemer và Sprenger viết năm 1846. Tác phẩm này, với sự tỉ mỉ học thuật và tàn bạo của nó, đã trở thành cẩm nang của các giáo sĩ Tòa án Dị giáo và đề cập đến các hiện tượng mà ngày nay chúng ta nhận ra là triệu chứng của bệnh tâm thần. Tình trạng tê liệt cảm giác một số bộ phận của cơ thể do chứng cuồng loạn gây ra được diễn giải là quyền năng ma quỷ của phù thủy nhằm chống lại cảm giác đau đớn. Ảo giác bị xem là bằng chứng cho thấy phù thủy đang liên hệ với các mãnh lực hắc ám. Ảnh hưởng của tư tưởng quỷ ám trong thái độ đối với bệnh tâm thần kéo dài một thời gian dài và tàn dư của nó vẫn còn được nhiều người xem là sự quỷ ám. |
|
(1) Psychology In Relation To Medicine by R. M. Mobray and T. Ferguson Rodger, E. & S. Livingstone Ltd., 1963 |
(1) Psychology In Relation To Medicine của R. M. Mobray và T. Ferguson Rodger, E. & S. Livingstone Ltd., 1963 |
|
Stripping away the veils of mythological and religious concepts that are renewed and modified by each New Age, we have the concept of the human soul manifesting itself through a personality We (the personalities) sense the nature of that unit of divine energy within each of us (the soul) as Truth, Beauty and Goodness, and we know that these three should always be our guide in the relationships which we establish with each other and with our environment. Where the soul—the real and truly eternal part of us—is unable to express itself adequately in its progressive growth through a particular personality, we get dis-ease. Where energies, streaming from within, are misappropriated for wrong purposes of expression diverted into channels that are involutionary or choked into submission we have the birth of disease. The personality expressing the soul’s purpose adequately is not a candidate for disease. A personality knowing the soul’s purpose and expressing it consciously is the born healer, who has a superfluity of soul energy channeling through him which he makes available to others less enlightened or not able to tap the fountain within them. |
Gỡ bỏ các tấm màn của thần thoại và tôn giáo vốn được tái sinh và điều chỉnh bởi mỗi Kỷ Nguyên Mới, chúng ta có khái niệm về linh hồn con người biểu lộ chính nó qua một phàm ngã. Chúng ta (các phàm ngã) cảm nhận bản chất của đơn vị năng lượng thiêng liêng trong mỗi người (linh hồn) như là Chân lý, Cái đẹp và Thiện lành, và chúng ta biết rằng ba phẩm tính này luôn phải là kim chỉ nam trong các mối quan hệ mà chúng ta thiết lập với nhau và với môi trường quanh ta. Khi linh hồn—phần chân thật và thực sự vĩnh cửu trong chúng ta—không thể biểu hiện đầy đủ trong quá trình tăng trưởng tuần tự qua một phàm ngã nhất định, thì khi ấy bệnh–tật xuất hiện. Khi các năng lượng tuôn chảy từ bên trong bị sử dụng sai mục đích, bị chuyển hướng vào những kênh lạc lối hay bị ép nén tới mức khuất phục, thì chúng ta chứng kiến sự khởi sinh của bệnh tật. Một phàm ngã biểu hiện đúng đắn mục đích của linh hồn sẽ không là đối tượng của bệnh tật. Một phàm ngã biết được mục đích của linh hồn và biểu hiện điều đó một cách có ý thức chính là người chữa lành bẩm sinh, người mà trong y có một sự dư dật năng lượng linh hồn đang tuôn chảy và y có thể chia sẻ nguồn suối này cho những ai kém khai mở hoặc chưa thể tiếp cận được nguồn mạch bên trong họ. |
|
The processes of meditation and initiation, dealt with in detail in other works by the author,(2) are sciences which lead one to the release of the soul’s energies so that they may be expressed in a sevenfold way to the glory and benefit of mankind as a whole. The seven paths of soul expression are called the Seven Rays, and all men express, or should express, these qualities in their lives, depending on their spiritual unfoldment or, to put it more aptly, their soul’s growth. |
Các tiến trình tham thiền và điểm đạo, được bàn chi tiết trong các tác phẩm khác của tác giả,(2) là những khoa học giúp con người giải phóng các năng lượng của linh hồn để chúng có thể được biểu hiện theo bảy phương diện nhằm tôn vinh và phục vụ lợi ích của toàn thể nhân loại. Bảy con đường biểu lộ của linh hồn được gọi là Bảy Cung, và mọi người đều thể hiện, hoặc nên thể hiện, các phẩm tính này trong đời sống của họ, tùy theo sự khai mở tinh thần của họ, hay nói chính xác hơn, tùy theo sự trưởng thành của linh hồn họ. |
|
(2) The Jewel In The Lotus and Meditation, The Theory And Practice by Dr. Douglas Baker, Baker Publications. |
(2) The Jewel In The Lotus và Meditation, The Theory And Practice của Tiến sĩ Douglas Baker, Baker Publications. |

|
The colour illustration below gives expression to these perennial concepts initiated as Wisdom… teachings or Gnosis by mystery schools, of which the Pythagorian and Platonic were but late-comers, having derived from Egypt and the Far East where the same body of teachings are still called the Gupta Vidya. We begin to understand the concept of disease as stemming from energies unable to express themselves, and we can begin to accept the rationale behind the axiom of esoteric healing that states :- |
Minh họa màu bên dưới thể hiện những khái niệm vĩnh cửu này, được khởi xướng như là các giáo lý Minh Triết… hay Gnosis bởi các trường huyền môn, trong đó trường phái Pythagore và Platon chỉ là những kẻ đến sau, vì đã tiếp nhận từ Ai Cập và Viễn Đông, nơi mà cùng một hệ thống giáo lý này vẫn còn được gọi là Gupta Vidya. Chúng ta bắt đầu hiểu được khái niệm bệnh tật như là hệ quả của những năng lượng không thể tự biểu hiện, và chúng ta có thể bắt đầu chấp nhận lý do đằng sau châm ngôn của trị liệu huyền môn phát biểu rằng: |
|
“Disease is a purifying process… the healer helps |
“Bệnh tật là một tiến trình thanh lọc… người chữa lành giúp |
|
the patient to endure whilst the disease purifies.” |
bệnh nhân chịu đựng trong khi bệnh tật thanh lọc.” |
|
Disease is the way in which the soul adjusts its personality vehicles so that they can remain in contact with the environment or, through disease, the soul is able to terminate its need for expression in that particular life, or finally, through disease the soul may deliberately end a personality situation which offers to it nothing but the opposite of its intent. |
Bệnh tật là cách mà linh hồn điều chỉnh các thể biểu hiện của phàm ngã để chúng có thể duy trì sự liên hệ với môi trường, hoặc thông qua bệnh tật, linh hồn có thể chấm dứt nhu cầu biểu hiện trong kiếp sống cụ thể đó, hoặc cuối cùng, thông qua bệnh tật, linh hồn có thể cố ý kết thúc một tình huống phàm ngã vốn không mang lại cho nó điều gì ngoài sự đối nghịch với ý định của nó. |

|
With this very brief introduction to the subject, we can now state the axioms on which esoteric healing as it derives from Higher Knowledge (Manas) is based: |
Với phần dẫn nhập rất ngắn gọn vào chủ đề này, giờ đây chúng ta có thể nêu ra các định đề làm nền tảng cho trị liệu huyền môn, như được dẫn xuất từ Tri Thức Cao Siêu (Manas): |
|
1. Energy follows thought. |
1. Năng lượng đi theo tư tưởng. |
|
2. Esoteric healing first restores symmetry to the inner bodies. |
2. Trị liệu huyền môn trước hết phục hồi sự đối xứng cho các thể bên trong. |
|
3. Heal through the related chakra, not the organ itself. |
3. Chữa lành thông qua luân xa liên quan, không phải qua chính cơ quan thể chất. |
|
4. Magnetism, animal or otherwise, “will not let lie”. Any defect is made to expose itself. |
4. Từ lực, dù là từ động vật hay không, “sẽ không để yên.” Bất kỳ khiếm khuyết nào cũng bị buộc phải tự phơi bày. |
|
5. Man on the Path reacts to disease and responds to esoteric healing as rapidly as a child. |
5. Người trên Thánh đạo phản ứng với bệnh tật và đáp ứng với trị liệu huyền môn nhanh như một đứa trẻ. |
|
6. Treat the cause, not the symptoms. |
6. Hãy chữa nguyên nhân, không phải triệu chứng. |
|
7. Where possible, use natural energies instead of drugs. |
7. Nếu có thể, hãy dùng các năng lượng tự nhiên thay vì dược phẩm. |
|
8. Disease results from the inability of the Soul to express itself. |
8. Bệnh tật phát sinh từ việc linh hồn không thể biểu hiện chính nó. |
|
9. Disease is a purifying process the healer helps the patient to endure whilst the disease purifies. |
9. Bệnh tật là một tiến trình thanh lọc — người chữa lành giúp bệnh nhân chịu đựng trong khi bệnh tật thanh lọc. |
|
10. When in doubt, heal through the Heart Chakra. |
10. Khi phân vân, hãy chữa lành thông qua Luân xa Tim. |
|
11. Better for the undesirable to work itself out in the physical vehicle than inthe astral or mental bodies. |
11. Tốt hơn để những điều không mong muốn được tự biểu hiện ra ngoài qua thể xác hơn là qua thể cảm xúc hay thể trí. |
|
12. The aura is by nature magnetic—all healing is, in the end, therefore, magnetic. |
12. Hào quang vốn mang tính từ — do đó, mọi sự chữa lành, rốt cùng, đều là từ tính. |
|
13. When the positive radiation of the healer overcomes the negative condition of the patient, healing will result. |
13. Khi bức xạ dương tính của người chữa lành vượt qua được tình trạng âm tính của bệnh nhân, việc chữa lành sẽ xảy ra. |
|
14. Planned recreation for everyone, young and old. |
14. Cần có những hoạt động giải trí có kế hoạch cho mọi người, cả trẻ lẫn già. |
|
15. The patient should join a healing group. Masters work more effectively through a group. |
15. Bệnh nhân nên tham gia một nhóm chữa lành. Các Chân sư làm việc hiệu quả hơn thông qua một nhóm. |
|
16. Self-knowledge from the earliest age leads to self-healing esoteric healing. |
16. Sự tự hiểu biết từ tuổi sớm nhất sẽ dẫn đến khả năng tự chữa lành và trị liệu huyền môn. |
|
17. Esoteric healing brings body, mind and Soul into closer union. |
17. Trị liệu huyền môn đưa thể xác, thể trí và linh hồn vào sự hợp nhất mật thiết hơn. |
|
18. Will Rays heal from the head; Love Rays heal from the heart. |
18. Các Cung Ý Chí chữa lành từ đầu; Các Cung Tình Thương chữa lành từ tim. |
|
Man is a composite being. His gross physical body is but one of the numerous facets of his self-expression. He possesses other inner vehicles which together make up something of a ‘spectrum’ reflecting his true nature. It is as if two great streams of energy had been brought together in the formation of man. One great electrode carries the energy of material manifestation; the other brings that of the world of spirit. These negative and positive forces are brought into apposition at rebirth and there is a flash of form. Man’s personality results: |
Con người là một thực thể tổng hợp. Thể xác thô trược của y chỉ là một trong nhiều khía cạnh biểu lộ của bản thể y. Y sở hữu các thể nội tại khác nhau hợp lại thành một loại “quang phổ” phản ánh bản chất chân thật của y. Có thể hình dung như hai dòng năng lượng vĩ đại được mang lại cùng nhau trong tiến trình hình thành con người. Một điện cực lớn mang năng lượng của sự biểu hiện vật chất; điện cực kia mang năng lượng của thế giới tinh thần. Hai mãnh lực âm và dương này được đưa vào vị thế đối xứng trong lúc tái sinh và một tia chớp của hình tướng xảy ra. Phàm ngã của con người hình thành: |

The personality of man is a composite of three vehicles which, as they integrate, form a fourth.—Phàm ngã của con người là một tổ hợp gồm ba thể, khi được tích hợp, sẽ tạo thành thể thứ tư.
But the personality is but a reflection of the soul which, in it’s turn, has been formed out of three vehicles:-—Tuy nhiên, phàm ngã chỉ là một phản ảnh của linh hồn, mà linh hồn, đến lượt nó, lại được hình thành từ ba thể:
|
The link between personality and soul is called the antakarana … the rainbow thread… rainbow because it has many qualities which are formless but can be interpreted or ‘seen’ by their qualities which correspond also to colours and sounds. Causal matter is formless but has quality. By infusing similar qualities in ourselves, mainly through meditation techniques, through serving mankind and through certain rhythms of breath, we can attract the matter’ of the planes of Atma, Buddhi and Manas into the aura. It is from this substance that both the antakarana and the streams of natural healing energy present in the disciple and esoteric healer. The picture opposite depicts the Antakarana as a purposefully constructed bridge between the upper and lower triads. |
Mối liên kết giữa phàm ngã và linh hồn được gọi là antakarana… sợi dây cầu vồng… gọi là cầu vồng vì nó mang nhiều phẩm tính vốn vô hình nhưng có thể được diễn giải hoặc “thấy được” qua các phẩm tính tương ứng với màu sắc và âm thanh. Chất liệu nhân thể là vô hình nhưng có phẩm tính. Bằng cách thấm nhuần các phẩm tính tương tự vào chính chúng ta, chủ yếu thông qua các kỹ thuật tham thiền, thông qua phụng sự nhân loại và qua một số nhịp thở nhất định, chúng ta có thể thu hút “chất liệu” của các cõi Atma, Bồ đề và Manas vào trong hào quang. Chính từ chất liệu này mà cả antakarana lẫn các dòng năng lượng chữa lành tự nhiên có mặt nơi đệ tử và nhà trị liệu huyền môn đều được tạo thành. Hình ảnh đối diện mô tả Antakarana như một cây cầu được kiến tạo có chủ đích nối liền giữa tam nguyên cao và tam phân thấp. |


|
The antakarana is a channel between the spiritual and enduring part of Man and his personality vehicles which are temporary, pertaining to this life only. Alignment between the silent mind and the soul leads to a growth of the antakarana. It becomes a Rainbow Bridge across which flow those spiritualising energies which are at the root of Man’s evolution towards the perfect and which are the active components in esoteric healing. |
Antakarana là một kênh nối giữa phần tinh thần và trường tồn của con người với các thể phàm ngã của y, vốn chỉ mang tính tạm thời, chỉ liên hệ đến kiếp sống này mà thôi. Sự chỉnh hợp giữa tâm trí tĩnh lặng và linh hồn dẫn đến sự tăng trưởng của antakarana. Nó trở thành một Cầu Vồng qua đó tuôn chảy những năng lượng tinh thần hóa, là căn nguyên của tiến trình tiến hóa của con người hướng đến sự toàn hảo và là các thành phần hoạt động trong trị liệu huyền môn. |

|
The natural current of Prana takes the mind to Spiritual Illumination, but the disturbing winds of desires and thoughts divert it. The material world and its pleasures upset the balance and peace of the Soul with its vehicles. |
Dòng chảy tự nhiên của Prana đưa tâm trí đến với sự Soi Sáng Tâm Linh, nhưng các luồng gió nhiễu loạn của ham muốn và tư tưởng làm nó chệch hướng. Thế giới vật chất và những lạc thú của nó phá vỡ sự quân bình và an bình giữa linh hồn và các thể của nó. |
|
The energy may be expressed outwardly in all men as Truth, Beauty and Goodness or in anger, hate, lust, vanity, revenge and greed. The latter produce friction and stress with the environment; the Soul becomes ill-at-ease with its personality expression, and this expresses as dis-ease. Disease, as we know it, is but an attempt to purify the personality bodies—the mental, emotional and physical—so that they may express the Soul’s purpose more fully. |
Năng lượng có thể được biểu hiện ra bên ngoài nơi mọi người như là Chân lý, Cái đẹp và Thiện lành hoặc như là giận dữ, thù hận, dục vọng, tự phụ, báo thù và tham lam. Những biểu hiện sau tạo ra ma sát và căng thẳng với môi trường; linh hồn trở nên không thoải mái với sự biểu hiện qua phàm ngã của nó, và điều này biểu hiện thành bệnh–tật. Bệnh tật, như chúng ta biết, chỉ là một nỗ lực nhằm thanh lọc các thể phàm ngã — thể trí, thể cảm xúc và thể xác — để chúng có thể biểu hiện mục đích của linh hồn một cách trọn vẹn hơn. |

Section Two—Some Common Disorders
Rheumatoid Arthritis Virus, Probable Path of Infection.
|
At the outset we should distinguish between rheumatoid[1] and osteoarthritis[2]. Rheumatoid arthritis is an inflammatory condition which leads to ankylosis[3] (stiffening) of the joints with variable degrees of immobility and pain. Osteoarthritis, on the other hand, is a degenerative disease in which there is erosion[4] of joint surfaces again with degrees of pain and immobility. From the esoteric standpoint, they have an entirely different aetiology[5]. Rheumatoid arthritis goes back to Lemuria and forms part of that group of diseases related to the Sacral Chakra as it became the focus of attention for the Third Root Race. Osteoarthritis is linked to the Atlantean Root Race and forms part of that group of diseases which are of astral origin in that the inflow of emotional energies from the astral via the Solar Plexus Chakra produces friction which reflects as the disease condition. Emotional imbalance in this or previous lives has led to self-consolation in the form of gluttony or in poor metabolism through ignorance of the finer points of nutrition. |
Ngay từ đầu, chúng ta cần phân biệt giữa viêm khớp dạng thấp và thoái hóa khớp. Viêm khớp dạng thấp là một tình trạng viêm dẫn đến tình trạng dính khớp (cứng khớp) với các mức độ khác nhau của sự bất động và đau đớn. Ngược lại, thoái hóa khớp là một bệnh thoái hóa trong đó có hiện tượng bào mòn bề mặt khớp, cũng đi kèm với các mức độ đau và bất động. Từ quan điểm huyền môn, chúng có nguồn gốc hoàn toàn khác nhau. Viêm khớp dạng thấp bắt nguồn từ thời Lemuria và là một phần của nhóm bệnh liên quan đến Luân xa Xương cùng, khi luân xa này trở thành tiêu điểm chú ý của Giống dân gốc thứ ba. Thoái hóa khớp có liên hệ với Giống dân gốc Atlantis và là một phần của nhóm bệnh có nguồn gốc cảm dục, bởi vì dòng chảy năng lượng cảm xúc từ cõi cảm dục thông qua Luân xa Tùng thái dương gây ra ma sát và biểu hiện thành tình trạng bệnh lý. Sự mất quân bình cảm xúc trong kiếp sống hiện tại hoặc các kiếp sống trước đã dẫn đến xu hướng tự an ủi qua hình thức tham ăn hoặc do quá trình chuyển hóa kém vì thiếu hiểu biết về những điểm tinh tế của dinh dưỡng. |

|
The cause of rheumatoid arthritis is not known to medical science. Many theories have been advanced about its aetiology, but these have not helped to stem[6] the appalling havoc[7] which this horrifying condition wreaks on[8] such a large percentage of the population. A spectrum of suffering ranges from those who merely suffer discomfort in a single joint through those who are prevented occasionally by exacerbations[9] of the disease from working full-time up to completely crippled, helpless, grotesquely[10] deformed, pain-stricken invalids[11]. The toll of man-hours lost in industrial production in Great Britain alone is staggering but it hardly gives sufficient testimony to the millions of sufferers who have little hope of effective treatment, let alone cure. |
Nguyên nhân của viêm khớp dạng thấp vẫn chưa được y học hiện đại biết đến. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra về căn nguyên của nó, nhưng những giả thuyết đó chưa giúp ngăn chặn được sự tàn phá khủng khiếp mà tình trạng bệnh đáng sợ này gây ra cho một tỷ lệ lớn dân số. Mức độ đau khổ trải dài từ những người chỉ cảm thấy khó chịu ở một khớp đơn lẻ, đến những người đôi khi bị đợt bùng phát của bệnh ngăn cản không thể làm việc toàn thời gian, cho đến những người hoàn toàn bị tàn phế, bất lực, dị dạng nghiêm trọng và sống trong đau đớn. Tổng số giờ lao động bị mất trong ngành công nghiệp tại riêng Vương quốc Anh là con số đáng kinh ngạc, nhưng điều đó vẫn chưa phản ánh đầy đủ hàng triệu người đang chịu đựng căn bệnh này mà gần như không có hy vọng điều trị hiệu quả, chứ chưa nói đến chữa khỏi. |
|
In giving out to the world the cause of this disease for the first time, I make no claims for having discovered it myself. Tribute for this must go to the English Master, who has been so deeply concerned through the years for the plight of His own people and all those many sufferers who live in temperate lands. |
Trong việc công bố nguyên nhân của căn bệnh này ra thế giới lần đầu tiên, tôi không tự cho rằng mình là người đã phát hiện ra nó. Công trạng này thuộc về Chân sư người Anh, Đấng đã quan tâm sâu sắc suốt nhiều năm về hoàn cảnh khó khăn của dân tộc Ngài và của vô số người đang đau khổ sống tại những vùng khí hậu ôn đới. |
|
The disease is caused by a virus and therefore, like most diseases of viral origin, is extremely old. The soil of the earth is grossly infected with many old diseases, some of which have not yet been inflicted on mankind. Since our history was recorded, dying men have been buried in the soil of the earth for millions of years. Some ancient civilisations are buried deeply and only through geographical cataclysms are the virus-crystals that decimated[12] them brought to the surface. Epidemics then result. Not every race succumbs to every disease, nor do members of an affected race all succumb. Some are immune; others are susceptible[13]. Susceptibility to rheumatoid arthritis is governed by numerous factors elaborated here but basically those who have physical bodies tinged with Lemurian stock are more susceptible than others, all other conditions being equal. |
Căn bệnh này là do một loại virus gây ra, và vì vậy, giống như hầu hết các bệnh có nguồn gốc virus khác, nó có tuổi đời cực kỳ lâu đời. Đất của trái đất bị nhiễm nặng bởi nhiều loại bệnh cổ xưa, một số trong đó vẫn chưa bùng phát đối với nhân loại. Từ khi lịch sử được ghi lại, con người hấp hối đã được chôn trong lòng đất suốt hàng triệu năm. Một số nền văn minh cổ xưa bị chôn vùi sâu dưới lòng đất và chỉ qua những biến động địa lý, các tinh thể virus từng tàn phá họ mới được đưa lên bề mặt. Từ đó dẫn đến dịch bệnh. Không phải chủng tộc nào cũng nhiễm tất cả các bệnh, cũng không phải tất cả thành viên của một chủng tộc bị nhiễm đều bị mắc bệnh. Một số người miễn dịch; những người khác dễ bị nhiễm. Tính dễ bị viêm khớp dạng thấp chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố được trình bày ở đây, nhưng về cơ bản, những ai có thể xác mang yếu tố di truyền của giống dân Lemuria thì dễ mắc bệnh hơn những người khác, trong điều kiện còn lại là như nhau. |
|
The author now describes the causative factors as they exist in England. The portal of entry into the body is through the skin. In England this is usually through breaks in the skin of the fingers and the feet, especially in the clefts[14] between the toes[15]. The damp weather and general lack of care for the feet provide ideal conditions for athlete’s foot (tinea pedis). The virus is spread around by domestic animals and the dog is the main culprit[16]. No other nation loves dogs more than the English. The dogs pass the rheumatoid arthritis virus to the master’s fingers. The fingers pass the virus to towels[17] and a shared towel rubbed[18] vigorously into the skin spreads the infection throughout the family. It is no wonder there is a familial[19] tendency about the condition, especially if the dog is regarded as one of the family as he usually is! Anyone who has kept dogs in cold climates will have noted how racked[20] with rheumatic pain and stiffness they can become, especially in old age. |
Tác giả hiện mô tả các yếu tố gây bệnh như chúng tồn tại ở nước Anh. Cửa ngõ xâm nhập vào cơ thể là qua da. Ở Anh, điều này thường thông qua các vết nứt trên da ở các ngón tay và bàn chân, đặc biệt là ở các kẽ giữa các ngón chân. Thời tiết ẩm ướt và sự thiếu chăm sóc cho bàn chân tạo điều kiện lý tưởng cho bệnh nấm bàn chân (tinea pedis). Virus này được lan truyền bởi động vật nuôi trong nhà, và chó là thủ phạm chính. Không quốc gia nào yêu chó hơn người Anh. Những con chó truyền virus viêm khớp dạng thấp sang tay của chủ. Những bàn tay ấy lại truyền virus sang khăn tắm, và khi một chiếc khăn được dùng chung và chà mạnh vào da thì sự nhiễm trùng lan khắp gia đình. Không có gì ngạc nhiên khi căn bệnh này thường có xu hướng mang tính gia đình, nhất là khi con chó được xem là thành viên trong nhà — như nó thường được xem vậy! Bất kỳ ai đã từng nuôi chó trong khí hậu lạnh đều có thể nhận thấy chúng bị đau khớp và cứng đờ như thế nào, đặc biệt khi về già. |
|
Infection and re-infection will go on indefinitely in this way. Exacerbations[21] and effective treatment frequently coincide with two most important factors: so-called rest, always recommendable with inflammatory conditions, especially when the patient goes to hospital or is confined to her room, usually removes the main causative factor at least temporarily, i.e. the dog. The other important consideration is dry weather. Like the bacteria which produce gonorrhea[22], the rheumatoid arthritis virus needs moist and temperate conditions to be most effective. Sleeping in damp conditions, wet shoes, socks and other clothing all contribute to make entry of the virus easier perhaps through the continually dampened skin becoming more permeable to them. |
Sự nhiễm trùng và tái nhiễm sẽ tiếp diễn vô hạn theo cách này. Các đợt bùng phát và việc điều trị hiệu quả thường trùng khớp với hai yếu tố quan trọng nhất: cái gọi là nghỉ ngơi — luôn được khuyến nghị với các tình trạng viêm, đặc biệt khi bệnh nhân nhập viện hoặc bị hạn chế trong phòng riêng — thường tạm thời loại bỏ được yếu tố gây bệnh chính, tức là con chó. Yếu tố quan trọng thứ hai là thời tiết khô ráo. Giống như vi khuẩn gây bệnh lậu, virus viêm khớp dạng thấp cần điều kiện ẩm và ôn hòa để hoạt động hiệu quả nhất. Ngủ trong điều kiện ẩm thấp, giày, tất và quần áo bị ướt đều góp phần khiến virus dễ dàng xâm nhập hơn, có thể là do da bị ẩm liên tục trở nên dễ thẩm thấu hơn. |
|
From the portal of entry in the skin the virus passes down the lymphatic[23] ducts into the blood stream and after a considerable prodromal[24] period lasting weeks or even months the arthritis shows itself. It is during the prodromal period that the organism is establishing itself and like all virus infections the etheric or vital body suffers first. There is fatigue, malaise[25], weight loss, sweating especially in the hands and feet (thus vitiating[26] the athlete’s foot, if present), tachycardia[27], pains and stiffness. There are alterations in the erythrocytes[28] sedimentation rate. (1) This has significance in the conduct of treatment for rheumatoid arthritis. A generalised infection develops, and then one or more joints will be the target of attention, usually the finger joints suffering first. The joints become tender and swollen, while nodules[29] may form in the tendons[30] of the wrists[31]. |
Từ cửa ngõ trên da, virus đi xuống các ống bạch huyết vào máu và sau một giai đoạn tiền triệu kéo dài hàng tuần hoặc thậm chí hàng tháng, bệnh viêm khớp biểu hiện ra bên ngoài. Chính trong giai đoạn tiền triệu này mà sinh vật gây bệnh thiết lập vị thế, và giống như mọi bệnh do virus, thể dĩ thái hay thể sinh lực là nơi bị ảnh hưởng trước tiên. Có hiện tượng mệt mỏi, khó chịu, sụt cân, ra mồ hôi đặc biệt ở bàn tay và bàn chân (do đó làm trầm trọng thêm bệnh nấm bàn chân nếu đã có), tim đập nhanh, đau và cứng khớp. Có những thay đổi trong tốc độ lắng của hồng cầu. (1) Điều này có ý nghĩa trong việc điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp. Một sự nhiễm trùng toàn thân phát triển, và sau đó một hay nhiều khớp trở thành đối tượng bị tác động, thường thì các khớp ngón tay bị ảnh hưởng trước tiên. Các khớp trở nên đau và sưng, trong khi các nốt có thể hình thành trong các gân ở cổ tay. |
|
(1) About this time the erythrocytes sedimentation rate rises, i.e.. the rate at which the red cells of the blood settle when an anticoagulant is added. In this test, blood to which an anticoagulant[32] has been added is placed in a long, narrow tube, and the speed at which the red cells settle is observed. Various methods of determining the rate have been devised. Some pathologists determine the time required for the cells to settle a certain distance (sedimentation time), while others determine the distance the cells settle in a given time (sedimentation rate), both normally about five minutes per millimeter. The speed at which the cells settle depends upon the size of the clumps into which the red cells aggregate, and the size of the clumps appears to depend upon the amount of fibrinogen in the blood. The speed of settling is increased in a variety of infections, in cancer and in pregnancy, and may be decreased in liver disease. |
(1) Vào thời điểm này, tốc độ lắng hồng cầu tăng, tức là tốc độ mà các hồng cầu trong máu lắng xuống khi một chất chống đông được thêm vào. Trong xét nghiệm này, máu có chất chống đông được đặt trong một ống dài và hẹp, và tốc độ lắng của các hồng cầu được quan sát. Nhiều phương pháp xác định tốc độ đã được phát triển. Một số nhà bệnh học xác định thời gian cần để các tế bào lắng xuống một khoảng cách nhất định (thời gian lắng), trong khi những người khác xác định khoảng cách mà các tế bào lắng trong một thời gian nhất định (tốc độ lắng), cả hai đều thường khoảng năm phút mỗi milimét. Tốc độ lắng phụ thuộc vào kích thước của các cụm hồng cầu, và kích thước này dường như phụ thuộc vào lượng fibrinogen trong máu. Tốc độ lắng tăng trong nhiều bệnh nhiễm trùng, trong ung thư và khi mang thai, và có thể giảm trong bệnh gan. |
Karmic Factors—Yếu tố nghiệp quả
|
One asks what sort of karma has produced this chemical picture? Rigidness of thought, emotions, word and deed in past lives. The arthritis imposes such a burden of effort on the patient that he inevitably longs to be free (from his rigidity). This is helpful to the soul, and in the lives ahead concretised attitudes in the personality vehicle become undermined, and freer expression of the soul results. |
Người ta hỏi: nghiệp quả nào đã tạo ra bức tranh hóa học này? Đó là sự cứng nhắc trong tư tưởng, cảm xúc, lời nói và hành động trong các kiếp sống quá khứ. Bệnh viêm khớp đặt lên bệnh nhân một gánh nặng nỗ lực đến mức y không thể không khao khát được tự do (khỏi sự cứng nhắc của mình). Điều này có ích cho linh hồn, và trong các kiếp sống tương lai, những thái độ đã kết tinh trong thể phàm ngã sẽ bị làm xói mòn, dẫn đến sự biểu hiện tự do hơn của linh hồn. |
Treatment for Rheumatoid Arthritis—Điều trị viêm khớp dạng thấp
Steroid Hormones versus Aspirin—Hormone Steroid và Aspirin
|
In 1969, Hench and his colleagues reported dramatic improvement in patients suffering from rheumatoid arthritis who had been treated with cortisone. But the years have shown that the side-effects of this and other steroid hormones have outweighed the benefits of the therapy. Eminent bodies in Great Britain have shown through experimental research that the advantages of cortisone-like materials are not significantly better than those achieved by the common aspirin, and they have recommended the latter as the lesser of two evils. |
Năm 1969, Hench và các cộng sự đã báo cáo sự cải thiện rõ rệt ở những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp khi được điều trị bằng cortisone. Nhưng theo thời gian, các tác dụng phụ của cortisone và các hormone steroid khác đã vượt quá lợi ích của liệu pháp này. Các tổ chức y tế danh tiếng tại Anh Quốc đã chứng minh qua nghiên cứu thực nghiệm rằng hiệu quả của các chất tương tự cortisone không vượt trội đáng kể so với aspirin thông thường, và họ khuyến nghị nên sử dụng aspirin như là giải pháp ít nguy hại hơn giữa hai lựa chọn. |
|
For reasons given in many parts of this book, endocrine glands are of special importance in reflecting the energies derived from the inner life of the patient via his chakras. Any gross interference with these glands are (with certain exceptions from the point of view of the individual seen as a composite being of many vehicles) a disaster and outweigh any purely physical effects. When given in effective doses, steroids depress the adrenal glands which are related to a variety of functions and at the same time to the chakra at the base of the spine. This chakra, unlike all other chakras, must function in atom, plant, animal, man and even Masters of the Wisdom. Aspirin has side effects which are more variable than steroids, but less obnoxious[33] in general. They are the lesser of the two evils. |
Vì các lý do được nêu trong nhiều phần khác nhau của cuốn sách này, các tuyến nội tiết đặc biệt quan trọng trong việc phản ánh các năng lượng phát ra từ đời sống nội tâm của bệnh nhân thông qua các luân xa của y. Bất kỳ sự can thiệp thô bạo nào vào các tuyến này (ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ từ góc nhìn của một cá thể được nhìn như một tổng thể nhiều thể) đều là một thảm họa và sẽ vượt trội hơn bất kỳ hiệu ứng thuần vật lý nào. Khi được dùng với liều lượng hiệu quả, steroid làm suy giảm tuyến thượng thận — vốn có liên hệ với nhiều chức năng và đồng thời với luân xa ở đáy cột sống. Luân xa này, không giống các luân xa khác, phải hoạt động trong nguyên tử, thực vật, động vật, con người và ngay cả các Chân sư Minh Triết. Aspirin có các tác dụng phụ thay đổi hơn steroid nhưng nhìn chung ít gây hại hơn. Đây là sự lựa chọn ít nguy hại hơn giữa hai điều xấu. |
Drug Therapy—Liệu pháp dùng thuốc
|
The majority of drugs claimed to have a specific effect in rheumatoid arthritis have proved valueless and have now been discarded. (2) |
Phần lớn các loại thuốc được cho là có hiệu quả đặc hiệu đối với viêm khớp dạng thấp đã chứng minh là vô giá trị và hiện đã bị loại bỏ. |
|
(2) Textbook of Medical Treatment, Dunlop, Davidson, Alstead (Livingstone, London). |
(2) Textbook of Medical Treatment, Dunlop, Davidson, Alstead (Livingstone, London). |
Recommended Treatment—Phác đồ điều trị được khuyến nghị
|
1. Counseling on the karmic nature of the disorder along the lines described above should bring out a more positive attitude, and this itself lends to treatment. |
1. Tư vấn về bản chất nghiệp quả của bệnh như mô tả ở trên nhằm giúp người bệnh có thái độ tích cực hơn, điều này tự thân đã hỗ trợ cho tiến trình điều trị. |
|
2. The general advice of the patient’s medical doctor pertaining to the physical body parts and the curtailment[34] of their mobility should be acted upon. |
2. Tuân theo lời khuyên chung của bác sĩ điều trị liên quan đến các bộ phận thể chất và hạn chế vận động cần thiết. |
|
3. Removal of the cause of infection. This in itself will test the rigidness of the patient and the hold which karma has on him! |
3. Loại bỏ nguyên nhân gây nhiễm. Điều này tự thân sẽ kiểm nghiệm sự cứng nhắc của bệnh nhân và mức độ chi phối của nghiệp quả lên y! |
|
4. Prevention of re-infection through strict hygiene; the maintenance of dry, warm environment or removal to more equable[35] sunny climes[36]. |
4. Ngăn ngừa tái nhiễm thông qua vệ sinh nghiêm ngặt; duy trì môi trường khô ráo, ấm áp hoặc di chuyển đến những nơi có khí hậu nắng ấm ôn hòa hơn. |
|
5. A due consideration of the side-effects of aspirin should be made by the patient. He should weigh these against the ennobling[37] effects which pain can bestow and so long as no self-blame or guilt is allowed to arise, he should make his own choice. |
5. Bệnh nhân nên cân nhắc kỹ về các tác dụng phụ của aspirin. Y nên cân nhắc giữa các ảnh hưởng phụ đó với tác dụng nâng cao phẩm giá mà cơn đau có thể mang lại và miễn là không có cảm giác tự trách hay mặc cảm tội lỗi phát sinh, y nên tự đưa ra lựa chọn. |
|
6. Natural herbs should be used where possible. The writer, an Englishman, has known only mild arthritis in one ankle joint on rare occasions. In his garden there grows wild the extremely poisonous herb belladonna[38]. He has taken this wild herb and rubbed its leaves into his ankle until only a green stain remained. Relief always comes, and it is almost immediately. Possibly belladonna in creams or a salve can be obtained from a nearby herbalist. |
6. Nên dùng các thảo dược tự nhiên nếu có thể. Tác giả, một người Anh, chỉ mắc chứng viêm khớp nhẹ ở một khớp cổ chân trong những dịp hiếm hoi. Trong khu vườn của ông mọc hoang loại thảo dược cực độc belladonna. Ông đã hái lá cây đó và xoa lên cổ chân cho đến khi chỉ còn lại vết màu xanh. Sự giảm đau luôn xảy ra, gần như ngay lập tức. Có thể tìm thấy belladonna dưới dạng kem hay thuốc xoa ở các tiệm thuốc nam gần đó. |
|
7. Magnetism. In earlier days when experimenting with pulsating magnetic fields, we noted that the sedimentation rate of the patient (E.S.R.) was lowered significantly when normal subjects were exposed to magnetic fields in our ‘systemic’ treatment. (See section herein on Cholesterol.) Later the same effect was produced on the greatly elevated E.S.R. of arthritic patients. As a lowering of the E.S.R. is taken to be an indication of effective treatment, we used this as a gauge in our treatment of arthritis with magnetic fields. Where there was a lowering of E.S.R., we were encouraged to proceed with treatment and sure enough, reduction of swelling as well as increased mobility and lessening of pain would soon follow. Alas, not all patients responded in this way. Only too frequently a positive and cooperative attitude on the part of the patient indicated a good prognosis. Hence the importance of item 1 above. The general procedure for magnetic therapy was to give a systemic treatment (similar to that described in the section on ‘Cholesterol’) twice a week for one hour. Then, little by little, local treatment was added. Solenoids were placed close to and even around affected parts (see diagram of the leg further on). |
7. Từ lực. Trong những ngày đầu thử nghiệm với các trường từ dao động, chúng tôi nhận thấy rằng tốc độ lắng máu (E.S.R.) của bệnh nhân giảm đáng kể khi các đối tượng bình thường được tiếp xúc với các trường từ trong liệu pháp “toàn thân” của chúng tôi. (Xem phần về Cholesterol.) Sau đó, hiệu ứng tương tự cũng xảy ra với E.S.R. rất cao của bệnh nhân viêm khớp. Vì việc giảm E.S.R. được coi là một chỉ dấu điều trị hiệu quả, chúng tôi đã sử dụng điều này như một thước đo trong việc điều trị viêm khớp bằng trường từ. Khi E.S.R. giảm, chúng tôi tiếp tục liệu pháp, và thật vậy, sưng giảm, vận động tăng và cơn đau cũng giảm. Tiếc thay, không phải tất cả bệnh nhân đều đáp ứng theo cách này. Rất thường xuyên, một thái độ tích cực và hợp tác của bệnh nhân là dấu hiệu dự báo tốt. Do đó, điều số 1 trên đây rất quan trọng. Thủ tục điều trị bằng từ trường thường là thực hiện liệu pháp toàn thân (tương tự như mô tả trong phần ‘Cholesterol’) hai lần mỗi tuần, mỗi lần một giờ. Sau đó, từng chút một, điều trị tại chỗ được thêm vào. Cuộn dây từ được đặt gần hoặc quấn quanh các bộ phận bị ảnh hưởng (xem sơ đồ phần chân về sau). |
|
For those who are interested in this form of therapy, the substance of a paper published in Italy is reproduced below which shows the results of experiments made with magnetic fields of greater strength but lower frequency. The treatment described above uses weaker fields of higher frequency. |
Đối với những ai quan tâm đến liệu pháp này, nội dung của một bài báo được công bố tại Ý được trích lại dưới đây, cho thấy kết quả các thí nghiệm với trường từ có cường độ lớn hơn nhưng tần số thấp hơn. Phác đồ điều trị nêu trên sử dụng trường yếu hơn với tần số cao hơn. |
Low Frequency long waves in the therapy of Rheumatic Illness |
Sóng dài tần số thấp trong điều trị bệnh thấp khớp |
|
In the field of low frequency waves we have tried out in the Institute of Rheumatology at Rome University a generator of ultra-long waves with a frequency of 50 Hertz, known as the Magnetiser (Made by the firm of Kawasaki, Tokyo.) |
Trong lĩnh vực sóng tần số thấp, chúng tôi đã thử nghiệm tại Viện Thấp khớp của Đại học Rome một thiết bị phát sóng siêu dài với tần số 50 Hertz, được gọi là Magnetiser (do hãng Kawasaki, Tokyo sản xuất). |


|
The Magnetiser’s principle is to generate a magnetic field round the emitting electrodes. These electrodes, being in opposition, start vibrating when the current is passed. Impulses are set up by a central block, into which further electrodes can be plugged with the possibility of treating multiple areas of the same patient simultaneously. |
Nguyên lý hoạt động của Magnetiser là tạo ra một trường từ quanh các điện cực phát xạ. Các điện cực này, khi được đặt ở vị trí đối kháng, sẽ bắt đầu rung động khi dòng điện chạy qua. Các xung từ được thiết lập bởi một khối trung tâm, vào đó có thể cắm thêm các điện cực khác với khả năng điều trị nhiều khu vực của cùng một bệnh nhân cùng lúc. |
|
The physical characteristics have been checked by us at the Physics Institute of Rome University under the following conditions: supply tension 30 Volts, Alternating Current (AC), consumption 300 milliamps. The following operations were carried out at different distances from the electrodes with these results: (see diagram below) |
Các đặc tính vật lý của thiết bị đã được chúng tôi kiểm tra tại Viện Vật lý của Đại học Rome trong các điều kiện sau: điện áp cung cấp 30 Volts, dòng xoay chiều (AC), tiêu thụ 300 milliampere. Các phép đo sau đây được thực hiện ở các khoảng cách khác nhau so với các điện cực với các kết quả như sau: (xem sơ đồ bên dưới) |
|
Further, given that the apparatus consisted of two magnets in opposition, beyond the magnetic field there was also set up by the attraction and repulsion of these same two magnets, a vibration at each reversal of polarity. |
Hơn nữa, vì thiết bị bao gồm hai nam châm đặt ở vị trí đối kháng, nên ngoài trường từ, còn có sự rung động được tạo ra do lực hút và đẩy của hai nam châm này, xảy ra mỗi khi có sự đảo cực. |
|
The equipment is composed of a fixed part and movable parts. The fixed part consists of an armchair in which are inserted at the height of the nape, back, pelvis and feet emitting blocks capable of functioning simultaneously or separately at two intensities: weak and strong. At the maximum intensity the physical performance is as already shown and at the weak the values are about halved. The moving part consists of a series of insulated blocks, each comprising two magnets in opposition, with the same conditions of functioning and control and which can be applied to the respective areas of the limbs. |
Thiết bị bao gồm một phần cố định và các phần di động. Phần cố định là một chiếc ghế có chèn các khối phát xạ tại các vị trí: gáy, lưng, vùng xương chậu và bàn chân. Các khối này có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ ở hai cường độ: yếu và mạnh. Ở cường độ tối đa, hiệu suất vật lý đúng như đã trình bày; ở chế độ yếu, các giá trị này giảm xuống khoảng một nửa. Phần di động bao gồm một loạt các khối cách điện, mỗi khối có hai nam châm đối kháng, với các điều kiện vận hành và điều khiển tương tự, có thể được áp dụng lên các vùng tương ứng của chi thể. |

|
Our observations concern 40 patients with various rheumatoid conditions and at different stages, chosen in such a way as to make the therapeutic possibilities of the Magnetizer ascertainable. The treatments were applied once a day, using the armchair and one or more of the blocks in pairs, at maximum intensity. The use of the blocks in pairs was suggested to effect a better or more intense penetration of the tissues by the electromagnetic waves. The length of each application varied from a minimum of 15 to a maximum of 30 minutes, and the optimum number of treatments was established as between 20 and 30 sessions. In 25 patients, the pain reduction varied from moderate to total. With 20 patients it was noted at the start of treatment, as a side effect, a sharpening of the pain which then disappeared as the treatment progressed. In the only two cases of rheumatoid arthritis the pain was satisfactorily reduced with a slight lessening of the swelling of the hands. Of the nine patients with cervical [39]osteo-arthritis two showed no improvement from the treatment while the other seven experienced a slight lessening of pain. Of the two patients with periarthritis of the shoulder, one showed very good results and even the return of articulation, while the second showed no improvement. The two patients with lumbar pain showed a good result both in increased mobility and decreased pain. Of the ten patients with lumbar osteo-arthritis, one showed no improvement while, of the other nine, eight experienced a decrease in pain and one a good result. Of the three patients with pain due to disc pathology, two showed no improvement, while a third felt a good reduction in pain. Of three patients with arthritis of the knee joint, one of which had an effusion[40], the first showed no improvement, the second a good result with the ending of effusion, the third a poor result. |
Các quan sát của chúng tôi được tiến hành trên 40 bệnh nhân mắc các chứng viêm khớp dạng thấp ở các giai đoạn khác nhau, được chọn lọc sao cho có thể xác định khả năng trị liệu của thiết bị Magnetiser. Các liệu pháp được áp dụng mỗi ngày một lần, sử dụng ghế chuyên dụng và một hoặc nhiều cặp khối từ, ở cường độ tối đa. Việc sử dụng các khối từ theo cặp được đề xuất nhằm đạt được sự thâm nhập tốt hơn hoặc mạnh hơn vào mô bằng các sóng điện từ. Thời lượng mỗi lần điều trị dao động từ tối thiểu 15 phút đến tối đa 30 phút, và số lần điều trị tối ưu được xác định là từ 20 đến 30 buổi. Trong số 25 bệnh nhân, mức độ giảm đau từ trung bình đến hoàn toàn. Với 20 bệnh nhân, ở giai đoạn đầu của điều trị xuất hiện cảm giác đau tăng (tác dụng phụ), nhưng sau đó biến mất khi điều trị tiếp tục. Trong hai trường hợp viêm khớp dạng thấp, cơn đau đã được giảm một cách thỏa đáng, cùng với sự giảm nhẹ sưng tấy ở bàn tay. Trong số chín bệnh nhân bị thoái hóa đốt sống cổ, hai người không cải thiện, bảy người giảm đau nhẹ. Hai bệnh nhân bị viêm quanh khớp vai: một người cải thiện rõ rệt và có sự phục hồi cử động, người còn lại không cải thiện. Hai bệnh nhân đau vùng thắt lưng cho thấy kết quả tốt: cải thiện vận động và giảm đau. Mười bệnh nhân bị thoái hóa cột sống thắt lưng: một người không cải thiện; chín người còn lại, tám người giảm đau, một người đạt kết quả tốt. Ba bệnh nhân bị đau do thoát vị đĩa đệm: hai người không cải thiện, một người giảm đau rõ rệt. Ba bệnh nhân bị viêm khớp gối (một người có tràn dịch): một người không cải thiện, một người đạt kết quả tốt với hiện tượng tràn dịch chấm dứt, người còn lại kết quả kém. |
|
At the level of articular[41] and periarticular[42] tissues, in which acute inflammation was present, the beneficial effect of the therapy which we employed was particularly evident. The positive effects noted in several arthritic conditions are certainly the result of the analgesic[43] and anti-inflammatory effect of the ultra-long electromagnetic waves and the vibromassage. During the experiments no disturbing side-effects, signs of intolerance, or reactions of a toxic or lesive[44] order showed themselves. One may therefore affirm that the action of the ultra-long waves is to be considered harmless. Indeed, we may say that broadly speaking the patients who were treated with more blocks showed an improvement in general well-being. On the whole the patients felt more tranquil, became more mobile and increased their resistance to fatigue. This effect has already been demonstrated by Japanese writers in experiments carried out on fatigue in air pilots treated with ultra-long waves. |
Ở cấp độ mô khớp và mô quanh khớp có viêm cấp tính, tác dụng tích cực của liệu pháp mà chúng tôi áp dụng đặc biệt rõ ràng. Những hiệu quả tích cực trong nhiều tình trạng viêm khớp chắc chắn là kết quả của tác dụng giảm đau và kháng viêm từ các sóng điện từ siêu dài kết hợp với hiệu ứng rung–xoa bóp (vibromassage). Trong suốt quá trình thí nghiệm, không ghi nhận bất kỳ tác dụng phụ gây rối loạn, dấu hiệu không dung nạp, hay phản ứng độc hại hay tổn thương nào. Do đó, có thể khẳng định rằng sóng siêu dài là vô hại. Trên thực tế, chúng tôi có thể nói rằng, nhìn chung, các bệnh nhân được điều trị bằng nhiều khối từ ghi nhận sự cải thiện về cảm giác khỏe mạnh tổng thể. Nhìn chung, bệnh nhân cảm thấy bình tâm hơn, vận động tốt hơn và gia tăng sức chống chịu với sự mệt mỏi. Hiệu ứng này đã từng được chứng minh bởi các nhà nghiên cứu Nhật Bản trong các thí nghiệm với phi công bị mệt mỏi khi điều trị bằng sóng siêu dài. |
|
The mechanism whereby such therapeutic action might be explained is not yet clearly known. One can assume an action on the circulatory system causing an active hyperaemia[45] and consequently a better blood-flow in the tissues, better nutrition from the increase in cellular metabolism, modifications of the tissue PH and general analgesic action on the nervous system. It is to be noted, furthermore, that the vibration produced by the apparatus could bring about a process of vasodilation[46], improving the peripheral blood-flow and consequently the cellular metabolism. The analysis of the therapeutic effects observed by us leads us to the conclusion that clinically the very long waves carry out their action principally by resolving local muscular contraction, thus attenuating the pain, though the intervention of other as yet unidentified mechanisms is not precluded. Such mechanisms would be explained by a better knowledge of the biological action of the long waves at a cellular level. |
Cơ chế trị liệu cụ thể vẫn chưa được hiểu rõ. Có thể giả định rằng tác động xảy ra trên hệ tuần hoàn, gây hiện tượng sung huyết chủ động (hyperaemia), từ đó cải thiện tuần hoàn mô, tăng cường dinh dưỡng nhờ gia tăng chuyển hóa tế bào, thay đổi độ pH mô và tác dụng giảm đau chung trên hệ thần kinh. Ngoài ra, sự rung động do thiết bị tạo ra có thể thúc đẩy quá trình giãn mạch, cải thiện tuần hoàn ngoại biên và do đó nâng cao chuyển hóa tế bào. Phân tích các hiệu ứng trị liệu quan sát được khiến chúng tôi đi đến kết luận rằng, trên phương diện lâm sàng, sóng siêu dài hoạt động chủ yếu bằng cách làm giãn các co rút cơ cục bộ, nhờ đó làm giảm đau — mặc dù không loại trừ sự tham gia của các cơ chế khác vẫn chưa được nhận diện, những cơ chế mà chỉ có thể được giải thích thông qua sự hiểu biết sâu hơn về tác động sinh học của sóng dài ở cấp độ tế bào. |
|
The above report, authored by F. Dainotto and D. Tognazi, was published in the Recetia Medica, Vol. No. 4, April 1966 |
Báo cáo trên được soạn bởi F. Dainotto và D. Tognazi, đăng trên tạp chí Recetia Medica, Số 4, Tháng 4 năm 1966. |

How Magnetism Works
|
The mechanism by which magnetism works is not understood clearly. There appears to be a dampening down of inflammatory reaction, and this may possibly be effected by the two solenoids placed in systemic treatment over the adrenal glands. |
Cơ chế hoạt động của từ tính vẫn chưa được hiểu rõ. Có vẻ như có sự làm dịu phản ứng viêm, và điều này có thể xảy ra nhờ hai cuộn cảm từ (solenoid) được đặt trong liệu pháp toàn thân tại vùng tuyến thượng thận. |
|
There may also be mechanical factors at play. The effect of magnetism on the red cells of the blood is to produce orientation of the cells in their North-South axes. |
Ngoài ra, cũng có thể tồn tại các yếu tố cơ học đóng vai trò trong quá trình này. Tác động của từ tính lên các hồng cầu là làm cho các tế bào này định hướng theo trục Bắc–Nam. |
|
The coloured photograph below of ‘magnetic orientation by sickled red blood cells’ illustrates this dramatically. Cells that have been distorted in sickle cell anemia have been magnetised. Because they are elongated and have lost their roundness, they arc easily seen in orientation. This effect may make circulation of the blood through capillaries in inflamed joints easier, with resulting reduction of pain and increase of mobility. The same mechanism may prevent the clumping together of red cells and, through this, better circulation and a lowering of E.S.R. |
Bức ảnh màu dưới đây về “sự định hướng từ tính của các hồng cầu hình liềm” minh hoạ điều này một cách rõ ràng. Những tế bào đã bị biến dạng trong bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm đã được từ hoá. Do chúng bị kéo dài và mất đi hình tròn vốn có, nên chúng rất dễ được quan sát trong trạng thái định hướng. Hiệu ứng này có thể giúp máu lưu thông qua các mao mạch ở các khớp bị viêm dễ dàng hơn, nhờ đó giảm đau và tăng cường khả năng vận động. Cơ chế tương tự cũng có thể ngăn ngừa sự kết tụ của các hồng cầu, và thông qua đó cải thiện tuần hoàn và làm giảm tốc độ lắng máu (E.S.R.). |

Anorexia Nervosa[47]—Chứng biếng ăn tâm thần (Anorexia Nervosa)
|
This is a comparatively rare condition, but one which bears lessons for the esoteric healer, for the disciple and for the would-be martyr. |
Đây là một tình trạng tương đối hiếm gặp, nhưng lại mang đến nhiều bài học cho nhà trị liệu huyền môn, cho người đệ tử, và cho những ai có khát vọng trở thành người tử đạo. |
|
Many of us have witnessed the emaciation[48] of someone with a terminal illness like cancer or with an equally debilitating[49] condition like tuberculosis or have seen the newsreels[50] of victims in concentration camps. It is a harrowing[51] sight, and one wonders about the karma behind such an experience. However, in anorexia nervosa we are confronted with an individual without any evidence of disease refusing food and having no political, social or other comprehensible motive for doing so. The patient will refuse food or, accepting it, will hide it and make every effort to avoid eating. This leads to progressive starvation, malnutrition and death. |
Nhiều người trong chúng ta đã chứng kiến sự tiều tuỵ của những người mắc bệnh nan y như ung thư hoặc một căn bệnh suy kiệt tương đương như lao phổi, hoặc đã từng xem các đoạn phim tư liệu về những nạn nhân trong các trại tập trung. Đó là một cảnh tượng đau lòng, khiến người ta không khỏi thắc mắc về nghiệp lực ẩn sau trải nghiệm như vậy. Tuy nhiên, trong chứng biếng ăn tâm thần, chúng ta phải đối mặt với một cá nhân hoàn toàn không có dấu hiệu bệnh tật nào, lại từ chối ăn uống và không có bất kỳ động cơ chính trị, xã hội hay lý do dễ hiểu nào khác cho hành vi này. Bệnh nhân sẽ từ chối thức ăn hoặc, nếu chấp nhận, sẽ giấu thức ăn đi và nỗ lực hết sức để tránh việc ăn uống. Điều này dẫn đến tình trạng đói dần, suy dinh dưỡng và tử vong. |
|
One wonders whether the so-called heroic fasting of individuals for political reasons or in social protest are entirely altruistic and whether devotion to the political ideal behind the fast has not become a cause of hysteria[52], that the rejection of food is part of the hysteria. I stress the example of deliberate starvation for political reasons because, basically, the karma involved here is group karma to the extent of it being national karma. |
Người ta tự hỏi liệu việc nhịn ăn “anh hùng” vì lý do chính trị hay như một hành động phản kháng xã hội có hoàn toàn vị tha không, và liệu sự tận hiến cho lý tưởng chính trị đằng sau hành động nhịn ăn đó có trở thành nguồn cơn của một cơn cuồng loạn—rằng sự từ chối thực phẩm là một phần của cơn cuồng loạn đó. Tôi nhấn mạnh ví dụ về sự nhịn ăn có chủ ý vì lý do chính trị vì căn bản, nghiệp lực liên quan ở đây là nghiệp lực tập thể ở mức độ quốc gia. |
|
Some dreadful events, especially in the last 150 years, have been associated with nationalistic, separative tendencies or, to put it more esoterically, group karma on a racial scale. Some souls choose to shoulder this burden and accept incarnations in which there are conditions imposed by the environment of sustained fear, not necessarily through the presence of violence like the threat of air raids, but possibly through a domestic situation where perhaps the father of the family is an alcoholic or the mother has narrow, entrenched views or puritanical attitudes or lives on an insecure income. |
Một số sự kiện kinh hoàng, đặc biệt trong vòng 150 năm qua, có liên quan đến các khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa mang tính chia rẽ hoặc, nói một cách huyền môn hơn, là nghiệp lực nhóm ở quy mô chủng tộc. Một số linh hồn chọn gánh vác gánh nặng này và chấp nhận đầu thai vào những hoàn cảnh mà môi trường sống áp đặt các điều kiện của sự sợ hãi dai dẳng — không nhất thiết là qua sự hiện diện của bạo lực như mối đe dọa từ các cuộc không kích, mà có thể là qua một hoàn cảnh gia đình nơi người cha là kẻ nghiện rượu, hoặc người mẹ có các quan điểm cố chấp, hẹp hòi, mang tính đạo đức khắt khe, hoặc sống với một nguồn thu nhập bấp bênh. |
|
Emotional loneliness plays a part in this condition. Most people turn towards food in such states, but in the case of anorexia nervosa the individual turns away from it. It is an occult fact that powerful sex drives have to be sustained with large appetites for food or, conversely, a large appetite for food can demand expression in powerful sex drives. If the presence of fear is powerful enough, unremittent and begins early in life, sexual expression or, for that matter, all expressions become inhibited. There is nothing to ‘spend’ the energy of food on Self-denial becomes a way of life. The isolation becomes confused with independence, and eating less implies less dependence. |
Nỗi cô đơn cảm xúc đóng một vai trò trong tình trạng này. Hầu hết mọi người sẽ tìm đến thực phẩm trong những trạng thái như thế, nhưng trong trường hợp của chứng biếng ăn tâm thần, cá nhân lại quay lưng với thực phẩm. Đây là một sự thật huyền môn rằng các xung lực tình dục mạnh mẽ cần được duy trì song hành với những cơn thèm ăn lớn hoặc, ngược lại, một cơn thèm ăn lớn có thể yêu cầu sự biểu lộ dưới dạng xung lực tình dục mãnh liệt. Nếu sự hiện diện của nỗi sợ đủ mạnh, kéo dài không dứt và bắt đầu từ sớm trong đời, thì sự biểu lộ tình dục—hay nói chung là mọi biểu lộ—đều bị ức chế. Không còn gì để “tiêu hao” năng lượng từ thực phẩm. Việc khước từ bản thân trở thành một lối sống. Sự cô lập bị nhầm lẫn với tính độc lập, và việc ăn ít đi ngụ ý mức độ lệ thuộc thấp hơn. |
|
There is always an idee fixe, and according to the psychological outlook, the anorexia patient will become cachexic in distinctive ways:- |
Luôn tồn tại một “ý tưởng cố định” (idée fixe), và theo quan điểm tâm lý học, bệnh nhân biếng ăn sẽ trở nên suy kiệt (cachexic) theo những cách rất đặc trưng: |
|
Characteristically different classes of patients will achieve their cachexia[53] in different ways, although the overlap may be considerable and exceptions are not rare. Typically the adolescent anorexic will worry about obesity, and will diet excessively to escape the ridicule of family and friends. The hysteric will develop somatic[54] disturbances which interfere with the ingestion of food. The phobic[55] will fear obesity and refuse to eat. The obsessional[56] will ruminate about[57] food and obesity, pursue a diet ritualistically[58], and may indecisively fluctuate between bulimia (insatiable hunger) and abstinence. The depressed patient will lose his appetite and develop a disinterest in food, whereas the schizophrenic will develop delusions about food and most typically decide it is contaminated and poisoned.1 |
Các nhóm bệnh nhân khác nhau sẽ đạt đến trạng thái suy kiệt theo các cách khác nhau, mặc dù giữa các nhóm có sự giao thoa đáng kể và ngoại lệ không hiếm gặp. Điển hình, thanh thiếu niên mắc chứng biếng ăn sẽ lo lắng về việc béo phì và ăn kiêng quá mức để tránh bị bạn bè và gia đình chế giễu. Người mắc chứng cuồng loạn (hysteric) sẽ phát triển các rối loạn cơ thể làm cản trở việc ăn uống. Người mắc chứng ám ảnh (phobic) sẽ sợ bị béo phì và từ chối ăn. Người bị rối loạn ám ảnh cưỡng chế (obsessional) sẽ luôn suy nghĩ về thực phẩm và béo phì, ăn kiêng theo một nghi lễ cứng nhắc và có thể dao động thiếu quyết đoán giữa sự thèm ăn vô độ (bulimia) và việc kiêng ăn. Bệnh nhân trầm cảm sẽ mất cảm giác thèm ăn và trở nên thờ ơ với thực phẩm, trong khi người tâm thần phân liệt (schizophrenic) sẽ phát triển những hoang tưởng về thực phẩm và thường cho rằng thực phẩm bị nhiễm bẩn hoặc đầu độc. |
|
(1) Textbook of Abnormal Psychology by N. H. Pronko, Ph.D. (Bailliere, Tindall and Cox, London), 1963. |
(1) Trích từ “Textbook of Abnormal Psychology” của N. H. Pronko, Tiến sĩ, Nhà xuất bản Bailliere, Tindall and Cox, London, 1963. |


Treatment— Chữa trị chứng biếng ăn tâm thần (Anorexia Nervosa)
|
The treatment aims at reducing the stranglehold which the fixed idea has upon the patient by constantly emphasising the need to release oneself from it. The idee fixe should be debunked[59] and reasons given for it. More important than anything should be the repetition and emphasis of the advice. |
Việc điều trị nhằm mục tiêu làm giảm sự kìm kẹp mà ý tưởng cố định (idée fixe) áp đặt lên bệnh nhân, bằng cách liên tục nhấn mạnh đến nhu cầu giải phóng bản thân khỏi ý tưởng đó. Cần làm sáng tỏ ý tưởng cố định này và đưa ra các lý do giải thích cho nó. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết là việc lặp lại và nhấn mạnh các lời khuyên. |
|
Anorexia nervosa and its treatment always calls to mind an old but effective method used in Africa by the native inhabitants for catching monkeys. A small hole just large enough to take a monkey’s paw[60] is made in a melon[61] or kalabash and left as bait. The monkey sticks his paw into the fruit to grasp the sweet pips at its centre. The natives charge the monkey, who in his panic cannot release his hold on the pips. The fist, being much enlarged, will not pass out through the apperture and the monkey cannot move away with the melon attached to him and is thus easily caught. The relationship of the monkey’s plight and the anorexia’s attachment to his idee fixe is obvious. |
Chứng biếng ăn tâm thần luôn gợi nhớ đến một phương pháp cổ xưa nhưng hiệu quả, từng được người bản địa ở Châu Phi dùng để bắt khỉ. Họ khoét một cái lỗ nhỏ đủ cho bàn tay khỉ thò vào bên trong một quả dưa hay trái calabash, rồi bỏ lại đó làm mồi. Con khỉ thò tay vào quả để lấy những hạt ngọt ở giữa. Khi người bản địa xuất hiện, con khỉ hoảng sợ nhưng không buông tay khỏi những hạt đó. Bàn tay đang nắm chặt trở nên to ra và không thể rút ra khỏi lỗ. Con khỉ không thể chạy trốn với quả dưa dính chặt vào tay, nên bị bắt dễ dàng. Tình trạng của con khỉ và sự gắn bó của người mắc chứng biếng ăn với ý tưởng cố định của họ có một mối liên hệ rõ ràng. |
|
Anorexia nervosa makes an interesting example of emotional or astral energies directed entirely into one specific project to the exclusion of all else, to the formation of an attachment so strong and so negative to the point of hysteria, so that life and limb are threatened. One can understand that the same forces at play here could send Christians into the arena and to martyrdom. |
Chứng biếng ăn tâm thần là một ví dụ sinh động về việc năng lượng cảm xúc hay năng lượng cảm dục được dồn toàn bộ vào một mục tiêu cụ thể đến mức loại trừ mọi điều khác, hình thành nên một sự gắn bó mạnh mẽ và tiêu cực đến mức cuồng loạn, đến mức sinh mệnh bị đe dọa. Ta có thể hiểu rằng, những năng lượng tương tự cũng có thể khiến các tín đồ Kitô giáo bước vào đấu trường và chấp nhận tử đạo. |
|
Compare also the condition with that one in which the Will is invoked and applied, the divine persistent will of Atma, where a powerfully motivated spiritual person fasts as a heroic example to others—a highly integrated personality, unruffled by emotions, cool and with full awareness of consequences. This calls to mind Mahatma Ghandi (see previous illustration) |
Hãy so sánh điều này với tình trạng trong đó Ý Chí được triệu hồi và vận dụng—Ý chí bền bỉ thiêng liêng của Atma—nơi một cá nhân được thúc đẩy bởi động cơ tâm linh mạnh mẽ, nhịn ăn như một hành vi anh hùng nhằm làm gương cho người khác — một phàm ngã tích hợp cao độ, không bị lay chuyển bởi cảm xúc, điềm tĩnh và hoàn toàn ý thức được hệ quả. Điều này gợi nhớ đến Mahatma Gandhi (xem hình minh họa trước). |
|
It also makes us recall the ‘superman’ effort of the rare athlete who, under severe stress, drives the physical body along the last few desperate yards to the winning post against all the contra-urges of his physical body, mind and emotions, when blood lactic acid is rising, when oxygen lack, the accumulation of carbon dioxide and muscle cramps scream out for relief. This is when Atma is called down from the higher triad. It is seen descending sometimes in the last despairing gesture of a Soul to retain its physical vehicle in what we call the ‘Will to live’! No esoteric healer should be unaware of its presence in a patient and evidence of it should make the healer redouble his efforts. Equally so, the complete absence of it should be noted with concern, for it most frequently indicates the Soul’s desire to withdraw from its vehicle, the physical body. (2) |
Nó cũng khiến ta nhớ đến nỗ lực “siêu nhân” của một vận động viên điền kinh hiếm hoi, người trong hoàn cảnh áp lực tột độ, đã thúc đẩy thể xác mình vượt qua những bước cuối cùng đến đích chiến thắng, bất chấp mọi lực phản kháng từ thân xác, trí tuệ và cảm xúc—khi lượng axit lactic trong máu tăng cao, khi cơ thể thiếu oxy, carbon dioxide tích tụ và chuột rút cơ bắp khiến thân thể gào thét đòi được nghỉ ngơi. Đây là lúc Atma được triệu hồi từ tam nguyên cao hơn. Atma có thể được nhìn thấy như đang hạ xuống trong cử chỉ tuyệt vọng cuối cùng của một Linh hồn nhằm giữ lại thể xác, điều mà chúng ta gọi là “Ý chí sống còn”! Không một nhà trị liệu huyền môn nào nên bỏ qua sự hiện diện của nó nơi một bệnh nhân, và nếu thấy bằng chứng về nó, người chữa trị cần phải nỗ lực gấp đôi. Ngược lại, sự vắng mặt hoàn toàn của nó nên được xem là điều đáng lo ngại, vì điều đó thường là dấu hiệu cho thấy Linh hồn đang muốn rút khỏi thể xác. |
|
(2) Anorexia Nervosa by Bliss and Branch, 1960 |
(2) Trích từ “Anorexia Nervosa” của Bliss và Branch, 1960 |
|
Dr. Roger Bannister was the first man to run the mile in under four minutes. He had this to say of his effort:- |
Bác sĩ Roger Bannister là người đầu tiên trên thế giới chạy một dặm trong thời gian dưới bốn phút. Ông đã nói về nỗ lực của mình như sau: |
|
“The secret of a champion runner is mental power; by tapping this source, the champion takes more out of himself than he knew he possessed. This mental source is at the root of most great athletic performances.” (See previous illustration.) |
“Bí quyết của một vận động viên điền kinh vô địch chính là sức mạnh tinh thần; bằng cách khai thác nguồn lực này, nhà vô địch có thể vượt qua chính mình, lấy ra từ bản thân nhiều hơn những gì mình từng biết là mình sở hữu. Nguồn lực tinh thần này chính là cội rễ của hầu hết các màn trình diễn thể thao vĩ đại.” |
Déjà vu[62] |
|
|
There are many popular misconceptions amongst esoterists and one of the most common is the phenomenon of déjà vu. Déjà vecu phenomena are characterised by a recall of an event in our lives which takes us by surprise. The sound of the wind howling always takes me back to an event in my life when my mother and I stood alone on a windswept outcrop looking out over Land’s End into the Atlantic. Sounds similar to that conjure up impressions of loneliness and especially the loneliness I experienced on my mother’s death a few years after our visit to Land’s End. The smell of a flower may bring back romantic memories; the touch of certain linens may recall events in childhood. |
Có rất nhiều quan niệm sai lầm phổ biến trong giới huyền môn, và một trong những điều thường bị hiểu nhầm nhất là hiện tượng déjà vu. Các hiện tượng déjà vecu được đặc trưng bởi ký ức về một sự kiện trong đời sống khiến ta ngạc nhiên. Tiếng gió hú luôn khiến tôi nhớ lại một kỷ niệm khi mẹ tôi và tôi đứng đơn độc trên một mỏm đá gió lộng, nhìn ra Land’s End hướng về Đại Tây Dương. Những âm thanh tương tự gợi lên cảm giác cô đơn, đặc biệt là nỗi cô đơn mà tôi trải qua khi mẹ mất vài năm sau chuyến đi đó. Mùi của một bông hoa có thể khơi lại ký ức lãng mạn; cảm giác của một loại vải lanh nào đó có thể làm sống dậy những ký ức thời thơ ấu. |
|
Wilder Penfield, the Canadian neurosurgeon, carried out classical experiments on the exposed surface of the temporal cortex of the brain with electrical stimulation while the patient was under local anesthesia. These induced the patient to recall vividly events from the past according to the area of the brain touched. Many memories seem to be lost to us, but these experiments showed that they merely become inaccessible rather than lost forever. |
Wilder Penfield, nhà giải phẫu thần kinh người Canada, đã thực hiện các thí nghiệm kinh điển trên bề mặt vỏ não thuỳ thái dương bằng cách kích thích điện khi bệnh nhân được gây tê tại chỗ. Những kích thích này khiến bệnh nhân sống lại một cách sinh động những ký ức trong quá khứ, tuỳ thuộc vào khu vực não bị chạm đến. Nhiều ký ức tưởng như đã mất thực chất chỉ bị khóa lại và không thể truy cập, chứ không hề biến mất hoàn toàn. |
|
Occasionally, due to some outside stimulus like a fragrance or a sound, or even the scenery on the edge of a bend in the road, may bring recall of some ‘lost’ event. Or there may be pressure on the brain through some temporary and unimportant physiological event which would bring the same recall. The way in which the remembered event ‘surfaces’ into consciousness may make us believe there was something supernatural about it. As we round the bend in an automobile, the scene that presents itself coincides with the moment that a ‘lost’ memory of some event is recalled and we say to ourselves: “Déjà vu—I have been here before !” |
Đôi khi, do một kích thích bên ngoài như một mùi hương, một âm thanh, hoặc cảnh quan nơi một khúc quanh trên đường, những ký ức “bị mất” có thể quay lại. Hoặc cũng có thể do một tác động sinh lý tạm thời và không quan trọng nào đó lên não bộ cũng dẫn đến việc hồi tưởng này. Cách mà ký ức này “nổi lên” trong ý thức khiến chúng ta tin rằng có điều gì đó siêu nhiên đang xảy ra. Khi chúng ta ôm cua trong xe hơi và một khung cảnh hiện ra trùng khớp với một ký ức bất chợt hiện về, ta sẽ thốt lên: “Déjà vu – Mình từng đến đây rồi!” |
|
It is rare for me to concur with the current established views on such matters. When I asked the English Master to give me a visual symbol of the nature of deja vecu phenomena he called to my mind the following scene:- |
Tôi hiếm khi đồng tình với quan điểm chính thống hiện nay về những hiện tượng như thế. Khi tôi hỏi Chân sư người Anh hãy cho tôi một biểu tượng hình ảnh về bản chất của hiện tượng déjà vecu, Ngài đã gợi cho tôi khung cảnh sau: |
|
… A crowded hall with a large assemblage of medieval English barons and knights seated before a glittering throne… The king (the centre of consciousness) is speaking and as he utters a certain phrase there is a tumult amongst a party of barons (the various brain areas) as if they were under pressure to demonstrate their loyalty with loud acclamations, a pounding on the floor and a waving of banners … the king’s voice is momentarily drowned and attention is on the noisy barons… then there is silence and the king is heard again… |
… Một đại sảnh chật kín các lãnh chúa và hiệp sĩ Anh thời Trung cổ ngồi trước ngai vàng lấp lánh… Nhà vua (trung tâm của tâm thức) đang nói, và khi Ngài phát ra một cụm từ nhất định, có sự náo loạn trong một nhóm lãnh chúa (tượng trưng cho các khu vực não bộ) như thể họ đang chịu áp lực phải biểu lộ lòng trung thành bằng những tiếng tung hô lớn, đập chân xuống sàn và vẫy cờ… tiếng của nhà vua bị lấn át trong chốc lát… rồi im lặng, và tiếng nhà vua lại được nghe rõ… |
|
Déjà vu has no esoteric significance. It is not recall of events from past lives; it is not mystical warning or prophecy; it is merely a physiological phenomenon bound to occur at some time or the other in everyone’s life. |
Déjà vu không có ý nghĩa huyền môn. Nó không phải là ký ức từ kiếp trước; không phải là điềm báo thần bí hay lời tiên tri; nó chỉ đơn giản là một hiện tượng sinh lý học chắc chắn sẽ xảy ra vào một lúc nào đó trong đời mỗi người. |
|
But there is an interesting implication. It shows that, although we would deny it, memory is retained long after our ability to surface it into consciousness has been lost. This provides Higher Beings with opportunities to apply the slightest electrical stimulus to our brains in order to make us recall an old event, the nature of which might contain a lesson for us or guidance on a problem besetting us or posited for their consideration in a spiritual diary or in meditation. They, the Masters, can only give answers visually in terms of symbols contained within the brain. These symbols are, in fact, memories buried deep in the cortex of the temporal lobe. Deja vu brings them to the surface. |
Tuy nhiên, điều này mang một hàm ý thú vị. Nó cho thấy rằng, dù ta phủ nhận, ký ức vẫn được lưu giữ rất lâu sau khi khả năng ý thức tiếp cận nó đã bị mất. Điều này mở ra cơ hội cho các Đấng Cao Cả tác động vào não bộ bằng những kích thích điện nhẹ nhàng để làm sống lại một sự kiện xưa cũ nào đó—sự kiện mà bản chất của nó có thể chứa đựng một bài học, một hướng dẫn cho vấn đề mà chúng ta đang gặp phải hoặc đã đặt ra cho các Ngài trong nhật ký tâm linh hay khi tham thiền. Các Ngài chỉ có thể trả lời bằng hình ảnh biểu tượng tồn tại trong não bộ của chúng ta. Những biểu tượng đó thực ra là những ký ức được chôn sâu trong vỏ não vùng thái dương. Déjà vu đưa chúng lên bề mặt. |
|
Image below: The Masters can apply electrical stimulus to the brain. |
(Hình ảnh minh họa bên dưới: Các Chân sư có thể tác động kích thích điện lên não bộ.) |

Diseases of Ageing—Bệnh tật do tuổi già
|
Probably no subject has earned for itself such lasting and perspicuous[63] attention through the centuries as that of ageing. Whilst emphasis is placed on the importance of material living in an equally material body, this will inevitably be so. Every age produces some new nostrums[64] and disillusionment with old ones. But the search goes on at all levels, not the least of which is the scientific one. |
Không có đề tài nào qua nhiều thế kỷ lại nhận được sự quan tâm bền bỉ và rõ ràng như vấn đề lão hoá. Khi mà đời sống vật chất và thể xác vật chất vẫn còn được đề cao, thì điều này sẽ tất yếu tiếp diễn. Mỗi thời đại đều sản sinh ra những phương thuốc mới và rồi lại vỡ mộng với những phương thuốc cũ. Tuy vậy, cuộc tìm kiếm vẫn tiếp diễn ở mọi cấp độ, và không ít trong số đó là ở cấp độ khoa học. |
|
The Egyptians, like the Tibetans, offered probably the soundest advice of all which was that one should learn how to die and what to do after death in order to ensure eternal life. The Greeks made no great efforts to prolong life, either amongst themselves or to attribute longevity to any of their hero figures or gods. But Hebrew mythology, as we know it from the Old Testament, was fascinated by the longevity of such characters as Methuselah and the descendants of Adam. |
Người Ai Cập, cũng như người Tây Tạng, có lẽ đã đưa ra lời khuyên xác đáng nhất: rằng con người nên học cách chết và biết phải làm gì sau khi chết để đảm bảo được sự sống đời đời. Người Hy Lạp không nỗ lực nhiều để kéo dài tuổi thọ, cả trong dân chúng của họ lẫn khi mô tả tuổi thọ của các nhân vật anh hùng hay chư thần. Nhưng trong huyền thoại Do Thái, như ta biết từ Cựu Ước, lại đầy những ám ảnh về sự trường thọ của các nhân vật như Methuselah và dòng dõi của Adam. |
|
Almost all those cultures refer at some time or other to the immense physical bodies of early men. The Tibetans talk of the remains of such a giant-like figure still preserved in the passages under the Potala; the Greeks talk of the Titans; the Polynesians indicate traditions concerning them in the giant human-like statues on Easter Island. In China immense teeth said to be human molars[65] are evidence of a period of giants. Size and longevity seem to be related. |
Gần như tất cả các nền văn hoá ấy đều từng nhắc đến vào một thời điểm nào đó về những thân thể khổng lồ của con người thời xưa. Người Tây Tạng kể rằng vẫn còn lưu giữ thi hài của một hình nhân khổng lồ như vậy dưới các hành lang của Potala; người Hy Lạp nói về các vị Thần Khổng Lồ (Titans); người Polynesia bảo lưu các truyền thuyết về họ qua các tượng người khổng lồ trên đảo Phục Sinh. Ở Trung Hoa, những chiếc răng khổng lồ được cho là răng hàm người, là bằng chứng cho một thời kỳ của những người khổng lồ. Vẻ lớn lao và tuổi thọ dường như có liên hệ với nhau. |
|
The esoteric teachings have given out support for these contentions. Men were huge in earlier times and part of the reason for it was the closer proximity to the Earth in those days of the Moon. Men were larger because gravity was less, but they lived longer for other reasons. For one thing, the races from which they derived, under cyclic and cosmic law, survived much longer than our own Root Race will, and we merely reflect the qualities of these immense cosmic entities which we call the Root Races. The other factor of importance was that of the mental and emotional development of such giant people. They were mentally and emotionally embryonic and, as we shall shortly discover, the rapidity with which we age is greatly dependent on the activity of our mental and emotional natures. |
Các giáo lý huyền môn đã xác nhận các luận điểm ấy. Người xưa có thân hình khổng lồ, và một phần nguyên nhân là do trong những ngày ấy, Mặt Trăng còn ở gần Trái Đất hơn. Người ta lớn hơn vì trọng lực khi ấy nhỏ hơn, nhưng họ sống lâu vì những nguyên nhân khác nữa. Một nguyên nhân là vì những giống dân mà họ xuất thân từ đó, theo định luật chu kỳ và vũ trụ, sống lâu hơn rất nhiều so với giống dân gốc của chúng ta ngày nay; và chúng ta chỉ là sự phản ánh các phẩm tính của những thực thể vũ trụ bao la ấy mà chúng ta gọi là các giống dân gốc. Một yếu tố quan trọng khác là sự phát triển trí tuệ và cảm xúc của những người khổng lồ đó. Họ còn ở trạng thái phôi thai về mặt trí tuệ và cảm xúc, và như chúng ta sắp phát hiện ra, tốc độ mà chúng ta lão hoá có liên hệ mật thiết với mức độ hoạt động của bản chất trí tuệ và cảm xúc của chúng ta. |
|
So vast is the literature on the subject of factors affecting ageing and methods adopted or experimented with to prolong life that we can do no more here than list a fraction of them. No matter, most of them are irrelevant, and to place them in a long list only serves to emphasise that irrelevance: |
Có quá nhiều tài liệu viết về các yếu tố ảnh hưởng đến sự lão hoá và các phương pháp được áp dụng hay thử nghiệm để kéo dài tuổi thọ đến nỗi ở đây chúng ta chỉ có thể liệt kê một phần nhỏ. Dù sao đi nữa, hầu hết những phương pháp đó là không liên quan, và việc liệt kê một danh sách dài chỉ càng làm nổi bật sự không liên quan ấy: |
|
Hormone Therapy, Auto-intoxication, Sexual Abstinence, Dehydration, Sexual Continence, Hydration, Sexual “Gymnastics”, Tissue Irrigation, Sexual Fetishes, Gerontal Hygiene and another list like the one below: |
Liệu pháp hoóc-môn, Tự nhiễm độc, Kiêng dục, Mất nước, Tiết dục, Bổ sung nước, “Thể dục” tình dục, Tưới rửa mô, Tính dục kỳ quặc, Vệ sinh lão niên và một danh sách khác như sau: |

|
Khoa học tình dục (Tantra Yoga) |
Hòn đá của Nhà giả kim |
|
Ăn kiêng |
Thuật giả kim |
|
Nhịn ăn |
Liệu pháp lạnh |
|
Bỏ đói (đặc biệt khi còn trẻ) |
Đá quý |
|
Ẩn dật |
Các chế phẩm kỳ lạ khác nhau |
|
Về hưu |
Thiến |
|
Béo phì |
Âm và Dương |
|
Không về hưu |
Đời sống tu viện |
|
Chiêm tinh học |
Chủ nghĩa khổ hạnh |
|
Chu kỳ 7 năm |
Truyền máu |
|
Thiếu dinh dưỡng |
Sữa ong chúa |
|
Ăn chay |
Nước cứng và nước mềm |
|
Di truyền |
Cấy ghép nội tạng |
|
Độ cao |
Tốc độ lành vết thương |
|
Hình dáng cơ thể |
Số lần tim đập |
|
Vitamin |
|
There are too many contradictions in these lists to indicate any single panacea[66] for ageing. Granted that one third of the lists in some way prolongs life, we would be occupied most of our time in maintaining the requirements of a regime incorporating the factors involved, spending (like many vegetarians do) most of their finest energies in being vegetarians instead of being fully creative. |
Có quá nhiều mâu thuẫn trong các danh sách này để có thể chỉ ra một phương thuốc toàn năng cho sự lão hoá. Giả sử rằng một phần ba trong số các danh sách đó có phần nào kéo dài tuổi thọ, thì chúng ta sẽ phải dành phần lớn thời gian của mình để duy trì những yêu cầu của một chế độ bao gồm những yếu tố được nêu ra, tương tự như nhiều người ăn chay dành phần lớn năng lượng tốt nhất của họ chỉ để là người ăn chay, thay vì sáng tạo một cách trọn vẹn. |
|
Human organs grow old unevenly. Our organs should last 150 years but there is always an exception. One or two organs let us down and the rest have to die with them. The main culprits in this respect are the blood vessels. If we could replace all our arteries regularly, say once every 25 years, we could probably live comfortably to 150 or 200 years of age. Unfortunately, this is the very organ of the body that cannot be replaced. We might be able to do everything else, but not replace the blood vessels which run into many thousands of miles in extent in their ramification. Cardio-vascular diseases cause more deaths today than any other disease. |
Các cơ quan của con người lão hoá không đồng đều. Các cơ quan của chúng ta lẽ ra có thể tồn tại 150 năm, nhưng luôn có ngoại lệ. Một hoặc hai cơ quan suy yếu và các cơ quan còn lại phải chết theo chúng. Thủ phạm chính trong vấn đề này là các mạch máu. Nếu chúng ta có thể thay thế toàn bộ các động mạch của mình một cách định kỳ, ví dụ mỗi 25 năm một lần, thì có lẽ chúng ta có thể sống thoải mái đến 150 hoặc 200 năm tuổi. Không may, đây lại chính là bộ phận của cơ thể không thể thay thế được. Chúng ta có thể làm đủ mọi thứ, nhưng không thể thay thế được các mạch máu với hàng ngàn dặm chiều dài trong mạng lưới phân nhánh của chúng. Các bệnh tim mạch gây ra nhiều cái chết hơn bất kỳ loại bệnh nào khác hiện nay. |
|
The heart is merely a large blood vessel with a great deal of muscle in its walls. But it is not the deterioration of the heart muscle that brings cardio-vascular death to so many. It is the arteries which feed blood to the heart muscle that are the main cause of the trouble. We call these the coronary[67] arteries and any blockage or occlusion[68] of them leads to a heart attack. Medical Science tells us that we are as old as our arteries. The ageing of arteries is called atheroma[69], a process whereby there is deposition of calcium in the walls of the arteries with fatty degeneration. There is a furring[70] up of the walls as in old drain pipes, or there is damage to the walls causing blood clots[71] to form. This narrowing and stiffening of the arteries is accelerated by certain conditions. It leads to reduced blood flow to all the tissues of the body. A reduction in the flow of blood to the brain causes early senility[72]; to the eyes, poor vision; to the ears, poor hearing. We call this the process of ageing. |
Tim chỉ là một mạch máu lớn với rất nhiều cơ bắp trên thành của nó. Nhưng không phải sự suy yếu của cơ tim là nguyên nhân chính gây ra cái chết vì bệnh tim mạch cho nhiều người như vậy. Mà chính là các động mạch cung cấp máu cho cơ tim – chúng ta gọi là động mạch vành – là nguyên nhân chính của vấn đề. Bất kỳ sự tắc nghẽn hay nghẽn mạch nào của chúng đều dẫn đến cơn đau tim. Y học hiện đại cho chúng ta biết rằng chúng ta già đi theo tuổi của các động mạch. Sự lão hoá của các động mạch được gọi là xơ vữa động mạch, một quá trình trong đó có sự lắng đọng canxi trong thành động mạch kèm theo sự thoái hoá chất béo. Các thành mạch bị đóng cặn giống như trong những ống thoát nước cũ, hoặc bị tổn thương gây ra sự hình thành các cục máu đông. Sự thu hẹp và cứng lại của các động mạch này bị thúc đẩy nhanh bởi một số điều kiện nhất định. Nó dẫn đến việc giảm lưu lượng máu tới các mô trên khắp cơ thể. Giảm lượng máu lên não gây ra chứng lão suy sớm; tới mắt gây ra thị lực kém; tới tai gây ra khả năng nghe kém. Chúng ta gọi đây là quá trình lão hoá. |
|
Before we consider arterio-sclerosis[73], the narrowing of arteries which occurs in all mankind, let us ponder briefly on factors which act to accelerate the ageing process as it works out through arterio-sclerosis. Those individuals who are predominantly on the Rays of Will are more likely to develop atheroma earlier than those predominantly on Love Rays:- |
Trước khi xét đến chứng xơ cứng động mạch – hiện tượng thu hẹp động mạch xảy ra với toàn nhân loại – chúng ta hãy xem xét ngắn gọn các yếu tố thúc đẩy quá trình lão hoá khi nó biểu hiện qua chứng xơ cứng động mạch. Những người chủ yếu thuộc về các Cung của Ý chí dễ phát triển xơ vữa động mạch sớm hơn những người chủ yếu thuộc về các Cung của Tình thương: |
|
Will Rays: |
Các Cung của Ý chí: |
|
I ¾ Will and Power |
I — Ý chí và Quyền năng |
|
III ¾ Active Intelligence |
III — Trí tuệ Linh hoạt |
|
V ¾ Concrete Knowledge and Analytical Science |
V — Tri thức Cụ thể và Khoa học Phân tích |
|
VII ¾ Ceremonial, Order and Ritual |
VII — Nghi lễ, Trật tự và Nghi thức |
|
Love Rays: |
Các Cung của Tình thương: |
|
II ¾ Love Wisdom |
II — Tình thương – Minh triết |
|
IV ¾ Art and Harmony through Conflict |
IV — Nghệ thuật và Sự hoà hợp qua xung đột |
|
VI ¾ Devotion and Idealism |
VI — Sùng tín và Lý tưởng hoá |
|
When the energies of Will are accentuated and focussed in the region of Ajna, the Brow Chakra, and unrelieved by Love Energies/Rays, then the ageing process acting via the pituitary gland in the ways described hereafter is accelerated, becoming almost rampant. In Volume II of the Seven Pillars of Ancient Wisdom (1) the Ajna Chakra, including its vices and faults, is described at length. There is also included the description of the Earl of Shaftesbury from John Dryden’s poem “Absolem and Architophel” … a candidate if ever there was one for early ageing:- |
Khi các năng lượng của Ý chí được gia tăng và tập trung vào vùng Ajna, luân xa giữa hai chân mày, và không được giải toả bởi các Năng lượng/Cung của Tình thương, thì quá trình lão hoá – tác động thông qua tuyến yên theo cách sẽ được mô tả sau – sẽ bị đẩy nhanh, đến mức gần như trở nên dữ dội. Trong Tập II của Bảy Trụ Minh Triết Cổ Đại, luân xa Ajna, bao gồm cả những khuyết điểm và tệ xấu của nó, được mô tả một cách chi tiết. Ở đó cũng có mô tả về Bá tước Shaftesbury trong bài thơ “Absolem and Architophel” của John Dryden… một ứng cử viên rõ ràng cho chứng lão hoá sớm: |
|
(1) Meditation—The Theory and Practice, by Dr. D. M. Baker, Baker Publications. |
|
|
“A name to all succeeding ages cursed, |
“Một cái tên bị nguyền rủa cho mọi thời đại sau này, |
|
For close designs and crooked councils fit; |
Phù hợp với những mưu đồ kín đáo và những mưu mẹo quanh co; |
|
Sagacious, bold and turbulent of wit: |
Sắc sảo, táo bạo và trí tuệ hỗn loạn: |
|
Restless, unfixed in principles and place; |
Bất an, vô định trong nguyên tắc và vị trí; |
|
In power unpleased, impatient of disgrace. |
Trong quyền lực thì không hài lòng, không chịu đựng nổi sự sỉ nhục. |
|
A fiery soul, which working out its way, |
Một linh hồn rực lửa, tự đào con đường của nó, |
|
Fretted the pigmy body to decay: |
Bào mòn thân thể nhỏ bé cho đến suy tàn: |
|
And o’er informed the tenement of clay. |
Và làm cho thân xác bằng đất sét ấy quá tải. |
|
A daring pilot in extremity; |
Một hoa tiêu gan dạ giữa hiểm nguy; |
|
Pleased with the danger, when the waves went high |
Hứng thú với nguy hiểm khi sóng dâng cao |
|
He sought the storms; but, for a calm unfit, |
Y tìm cơn bão; nhưng lại không thích hợp với sự yên tĩnh, |
|
Would steer too nigh the sands, to boast his wit. |
Y sẽ chèo quá gần bãi cát, chỉ để khoe khoang trí tuệ. |
|
Great wits are surely to madness allied; |
Những trí tuệ lớn thường gần kề sự điên loạn; |
|
And thin partitions do their bounds divide: |
Và ranh giới của chúng là những vách ngăn mỏng manh: |
|
Else, why should he, with wealth and honour blest, |
Nếu không, vì sao người này, có đầy của cải và danh dự, |
|
Refuse his age the needful hours of rest? |
Lại từ chối tuổi già của mình những giờ nghỉ ngơi cần thiết? |
|
Punish a body which he could not please, |
Trừng phạt thân xác mà y chẳng thể làm vừa ý, |
|
Bankrupt of life, yet prodigal of ease? |
Phá sản về sự sống, nhưng lại phung phí sự an nhàn? |
|
In friendship false, implacable in hate, |
Trong tình bạn thì phản trắc, trong thù hận thì không khoan nhượng, |
|
Resolved to ruin or to rule the State.” |
Quyết tâm hoặc huỷ diệt hoặc cai trị quốc gia.” |
|
When I asked the English Master if he would list one example of ageing factors affecting each of Man’s personality bodies, He gave the following: – |
Khi tôi hỏi Chân sư người Anh liệu Ngài có thể liệt kê một ví dụ về các yếu tố lão hoá ảnh hưởng lên mỗi thể của phàm ngã con người không, Ngài đã đưa ra như sau: |
|
Personality |
Phàm ngã |
|
Fixed ideas or thoughts that are persistently acted upon to the point of obsession. The Earl of Shaftesbury had one unequalled rival and that was Theophrastus Bombastus Paracelsus, the sixteenth century Prince of Physicians, a Fifth Rounder who in the space of a short life of 47 years, acting alone, changed the course of Medicine for all time and burnt himself out in the process. Robert Browning was fascinated by this personality and was inspired to write his great poem “Paracelsus” (1) based upon it. |
Những tư tưởng hay ý tưởng cố định được lặp đi lặp lại đến mức trở thành ám ảnh. Bá tước Shaftesbury có một đối thủ xứng tầm duy nhất, đó là Theophrastus Bombastus Paracelsus, vị Hoàng tử Y học thế kỷ 16, một người của Chu kỳ thứ năm, người đã một mình làm thay đổi dòng chảy của Y học mãi mãi chỉ trong 47 năm cuộc đời và đã thiêu cháy chính mình trong tiến trình ấy. Nhà thơ Robert Browning bị mê hoặc bởi nhân cách này và đã cảm hứng viết nên bài thơ vĩ đại “Paracelsus” dựa trên nhân vật đó. |
|
(1) The Jewel in The Lotus, by Dr. D. M. Baker, Baker Publications, 1972 |
|
|
Mental Body |
Thể trí |
|
Self-blame and guilt… constant self-recrimination sometimes over matters of comparative unimportance, e.g., ‘evil’ thoughts, attitude towards parents prior to their death, masturbation, etc. |
Tự trách và mặc cảm… sự tự lên án dai dẳng đôi khi vì những điều tương đối không quan trọng, như: “tư tưởng xấu,” thái độ với cha mẹ trước khi họ mất, thủ dâm, v.v. |
|
Emotional Body |
Thể cảm xúc |
|
Impatience, pining or grief over some ideal not achieved, or for opportunities lost, the inability to materialise one’s dearest hopes and wishes, etc. |
Sốt ruột, sầu muộn hay đau buồn vì một lý tưởng chưa đạt được, hay vì những cơ hội đã đánh mất, sự bất lực trong việc hiện thực hoá những hy vọng và ước muốn tha thiết nhất, v.v. |
|
Physical Body |
Thể xác |
|
Living in climates deprived of warmth and sunlight… eternally damp weather. If the reader will look carefully into the subject of prana, mentioned in various parts of this book and in other volumes of the Seven Pillars of Ancient Wisdom, he will see why the English Master stressed this factor. |
Sống trong khí hậu thiếu ấm áp và ánh sáng mặt trời… thời tiết luôn ẩm ướt. Nếu độc giả nghiên cứu kỹ chủ đề về prana, được đề cập trong nhiều phần khác nhau của quyển sách này và trong các tập khác của Bảy Trụ Minh Triết Cổ Đại, họ sẽ hiểu vì sao Chân sư người Anh lại nhấn mạnh đến yếu tố này. |
Retarding of the ageing process—Làm chậm tiến trình lão hoá
|
The Master also gave the following hints on factors which slow down the action of arteriosclerosis: Interspersing of work with planned recreation: relaxation whenever possible: gentle occupations that bring joy to the mind: music, especially rhythm as background music (and here He gave an example which must wait for description and expression in a later work): identification of the way of life with teachings of the oriental philosophers, especially, He emphasised, as described in the latter part of His book The Jewel In The Lotus (1). Having been given these suggestions, I was left with the words of Dylan Thomas in my mind:- |
Chân sư cũng đưa ra các gợi ý sau về những yếu tố giúp làm chậm quá trình xơ cứng động mạch: Đan xen công việc với các hoạt động giải trí có kế hoạch; thư giãn bất cứ khi nào có thể; làm những công việc nhẹ nhàng mang lại niềm vui cho tâm trí; âm nhạc, đặc biệt là nhịp điệu trong vai trò nhạc nền (và ở đây Ngài đã đưa ra một ví dụ, nhưng điều này phải chờ được mô tả và diễn đạt trong một tác phẩm sau); đồng nhất lối sống với các giáo lý của các triết gia phương Đông, đặc biệt, Ngài nhấn mạnh, như đã mô tả ở phần sau của cuốn sách Viên Ngọc Trong Đoá Sen của Ngài (1). Sau khi nhận được những gợi ý ấy, trong tâm trí tôi vang vọng lời thơ của Dylan Thomas: |
|
“The force that through the green fuse drives the Flower… .” (2) |
“Quyền năng xuyên qua dòng nhựa xanh đẩy bông hoa trổ nụ…” |
|
(1) The Jewel in The Lotus, by Dr. D. M. Baker, Baker Publications, 1972 |
(1) The Jewel in The Lotus, của Dr. D. M. Baker, Nhà xuất bản Baker, 1972 |
|
(2) Dylan Thomas, The Oxford Book of Twentieth Century Verse |
(2) Dylan Thomas, The Oxford Book of Twentieth Century Verse |
|
To this I must also add that dwelling on thoughts of eternal, persisting things brings calm, relaxation and the sense of immortality. Things eternal are not found in material forms as the great King Ozymandias, if he lived today, might well remark ruefully:- |
Tôi cũng phải thêm rằng, việc thường xuyên suy tưởng đến những điều vĩnh cửu, trường tồn sẽ mang lại sự bình an, thư giãn và cảm thức về sự bất tử. Những điều vĩnh cửu không thể tìm thấy trong các hình tướng vật chất – như vị vua vĩ đại Ozymandias, nếu còn sống ngày nay, có lẽ cũng sẽ chua xót thốt lên như thế: |
|
“I met a traveler from an antique land, |
“Tôi đã gặp một lữ khách đến từ vùng đất cổ, |
|
Who said: Two vast and trunk-less legs of stone |
Người kể: Hai chân đá to lớn và không thân |
|
Stand in the desert. Near them, on the sand, |
Đứng trơ trọi giữa sa mạc. Gần đó, trên cát, |
|
Half sunk, a shattered visage lies, whose frown |
Nửa khuôn mặt vỡ vụn nằm nghiêng, với cái cau mày, |
|
And wrinkled lip and sneer of cold command, |
Môi mím chặt và cái nhìn khinh bỉ đầy quyền uy, |
|
Tell that its sculptor well those passions read, |
Cho thấy nhà điêu khắc đã hiểu rõ những cảm xúc đó, |
|
Which yet survive stamped on these lifeless things, |
Những điều ấy vẫn còn in đậm trên hình hài vô tri, |
|
The hand that mocked them, and the heart that fed: |
Bàn tay từng chế giễu, và trái tim từng nuôi dưỡng. |
|
And on the pedestal these words appear: |
Trên bệ đá có khắc dòng chữ này: |
|
‘My name is Ozymandias, King of Kings: |
‘Ta tên là Ozymandias, Vua của các Vị Vua: |
|
Look on my works, ye Mighty, and despair!’ |
Hỡi những ai hùng mạnh, hãy nhìn công trình của ta và tuyệt vọng!’ |
|
Nothing beside remains. Round the decay |
Ngoài ra chẳng còn gì. Quanh đống đổ nát vĩ đại ấy, |
|
Of that colossal wreck, boundless and bare |
Là cát vàng mênh mông, hoang vu và phẳng lặng, |
|
The lone and level sands stretch far away.”(3) |
Trải dài vô tận về phía xa.” |
|
(3) Ozymandias Of Egypt, by P.B. Shelley, Francis T. Palgrave, ed. (1824-1897). The Golden Treasury, 1875. |
(3) Ozymandias xứ Ai Cập, của P.B. Shelley, biên tập bởi Francis T. Palgrave (1824–1897), The Golden Treasury, 1875. |

Arteriosclerosis[74]— Xơ cứng động mạch
|
The English Master, Robert Browning, taught me that a hormone from the anterior pituitary gland, as yet undiscovered, is released with protein deprivation and this acts on the walls of the arteries in such a way that they begin to fix or take up nitrogen from the blood. There is a vast amount of nitrogen in solution continuously in the blood through its exposure to air in the lungs. The amounts of nitrogen taken up by the endothelial[75] cells of arteries is minute but will one day, with even greater improvements in chemical analysis and methodology, be measureable. Not all the arteries are thus affected. Those in the region of the heart chakra are most sensitive and those that supply the brain are the next most receptive to the nitrogen. In this way, nature tries to compensate for deprivation of protein from the diet. |
Chân sư người Anh, Robert Browning, đã dạy tôi rằng có một loại hoóc-môn từ thuỳ trước của tuyến yên – hiện vẫn chưa được khám phá – sẽ được tiết ra khi cơ thể bị thiếu hụt protein, và loại hoóc-môn này tác động lên thành các động mạch theo cách khiến chúng bắt đầu cố định hoặc hấp thụ nitrogen từ máu. Có một lượng lớn nitrogen luôn tồn tại ở trạng thái hoà tan trong máu do sự tiếp xúc của nó với không khí trong phổi. Lượng nitrogen được các tế bào nội mô của động mạch hấp thu là rất nhỏ, nhưng một ngày nào đó, với những tiến bộ vượt bậc hơn nữa trong phân tích hoá học và phương pháp luận, điều này sẽ có thể đo lường được. Không phải tất cả các động mạch đều bị ảnh hưởng theo cách này. Những động mạch ở vùng luân xa tim là nhạy cảm nhất, và sau đó là các động mạch cung cấp máu cho não – chúng tiếp nhận nitrogen mạnh mẽ nhất. Theo cách đó, thiên nhiên cố gắng bù đắp cho sự thiếu hụt protein từ chế độ ăn uống. |
|
It would be nice to leave the matter there, but there are factors of even greater implication involved else the subject would not have been released to me, as a medical doctor, by the English ashram in the first place. |
Sẽ thật tốt nếu có thể dừng lại ở đây, nhưng có những yếu tố với hàm ý sâu xa hơn liên quan, nếu không, đề tài này đã không được tiết lộ cho tôi – một bác sĩ y khoa – bởi Ashram người Anh ngay từ đầu. |
|
Where there is excessive protein in the diet, and insufficient capacity of the individual to express himself fully (physically, emotionally and mentally) in conditions which we might group loosely under the expression of ‘stress’, there will occur over-stimulation of the Ajna or Brow Chakra with resultant excessive release of the hormonal factor indicated above, and the consequence is the uptake of nitrogenous materials of dietary and atmospheric origin to such an extent in the walls of the arteries, especially those in the Heart Chakra region (including the coronaries), that these deposits, along with calcium and fatty materials like cholesterol, would cause or accelerate deterioration of the artery walls and contribute to arterio-sclerosis and all of its death-dealing concomitants[76]. |
Khi có quá nhiều protein trong chế độ ăn, mà cá nhân lại không đủ khả năng để biểu lộ bản thân một cách trọn vẹn (trên phương diện thể chất, cảm xúc và trí tuệ) trong những điều kiện mà ta có thể gọi chung là “căng thẳng”, thì sẽ xảy ra hiện tượng kích thích quá mức luân xa Ajna hoặc luân xa giữa hai chân mày, dẫn đến việc tiết quá mức loại hoóc-môn được đề cập ở trên. Hậu quả là các vật chất chứa nitrogen có nguồn gốc từ thực phẩm và khí quyển sẽ bị hấp thu quá mức vào thành các động mạch – đặc biệt là những động mạch ở vùng luân xa tim (bao gồm cả các động mạch vành) – và các chất lắng đọng này, cùng với canxi và các chất béo như cholesterol, sẽ gây ra hoặc làm trầm trọng thêm sự thoái hoá của thành động mạch và góp phần vào chứng xơ cứng động mạch cùng tất cả các hệ quả chết người kèm theo. |
|
This does not mean that the reader should foolishly rush into protein deprivation. Far from it. Common sense in all such matters should prevail. Use all gently, as Shakespeare would say. Have periodic check-ups with your medical practitioner if you undertake any sort of vegetarianism. Accompany all physical disciplines with meditation. Do not undertake any disciplines at all, along these lines, if you are ill, mentally or physically. Get yourself well first, and then you are eligible for a serious treading of the Path. |
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là độc giả nên dại dột chạy theo chế độ ăn thiếu protein. Hoàn toàn không phải như vậy. Lý trí cần được đề cao trong tất cả những vấn đề như thế này. Như Shakespeare từng nói: “Hãy dùng mọi thứ một cách nhẹ nhàng.” Nếu bạn có ý định ăn chay, hãy kiểm tra sức khoẻ định kỳ với bác sĩ của mình. Hãy đi kèm tất cả các kỷ luật về thể chất với việc tham thiền. Nếu bạn đang bị bệnh, dù là về thể chất hay tinh thần, thì đừng theo đuổi bất kỳ kỷ luật nào trong những hướng này. Hãy chữa lành cho bản thân trước, rồi sau đó bạn mới có thể đủ điều kiện để bước lên Con Đường một cách nghiêm túc. |
The effects of magnetising water—Tác động của việc từ hoá nước
|
The reader is referred to the classical magnetic therapy for lowering blood cholesterol elsewhere in this volume (Magnetism at the end of this book). This systemic treatment is most appropriate also to counteract arteriosclerosis. By gently magnetising the ferrous part of red blood cells, calcium is removed from artery walls as the blood cells circulate. Of course, there are and will be physical devices which will increase longevity in Man. We already have evidence of the success which scientific discoveries in the fields of Medicine and Nutrition have won for Man. People in Britain today, where free Medicine operates, can look forward to living to the age of 76. At the turn of the century, this life expectancy was less than 50 years. |
Độc giả được dẫn chiếu đến phương pháp trị liệu từ cổ điển nhằm hạ cholesterol máu được đề cập ở phần khác trong tập sách này (chương “Từ tính” ở cuối sách). Phương pháp trị liệu hệ thống này cũng đặc biệt thích hợp để chống lại chứng xơ cứng động mạch. Bằng cách từ hoá nhẹ phần có chứa sắt của các tế bào hồng cầu, canxi sẽ được loại bỏ khỏi thành động mạch khi các tế bào máu lưu thông trong cơ thể. Tất nhiên, đã có và sẽ còn có những thiết bị vật lý giúp gia tăng tuổi thọ cho con người. Chúng ta hiện đã có bằng chứng về những thành công mà các phát minh khoa học trong lĩnh vực Y học và Dinh dưỡng đã mang lại cho nhân loại. Người dân ở Anh ngày nay – nơi y tế miễn phí được áp dụng – có thể hy vọng sống đến 76 tuổi. Vào đầu thế kỷ, tuổi thọ này chỉ chưa đến 50 năm. |

|
The scaling of water pipes with calcium salts is well known to everyone. What few people know, however, is that by magnetising water this scaling (e.g. in the boilers of ships) can be prevented. Magnetic treatment, as evolved and practised by the author, applies magnetic fields to affect the blood cholesterol and the passage of blood through the arteries. |
Việc đóng cặn của các ống dẫn nước do muối canxi là điều mà ai cũng biết. Tuy nhiên, điều mà ít người biết là việc từ hoá nước có thể ngăn ngừa hiện tượng đóng cặn này (ví dụ, trong các nồi hơi của tàu). Phương pháp xử lý bằng từ trường, được tác giả phát triển và thực hành, áp dụng các từ trường để ảnh hưởng đến cholesterol trong máu và sự lưu thông máu qua các động mạch. |
|
The Picture Above . . . |
Hình ảnh phía trên… |
|
After passing through a water conditioner which applies magnetic fields, the hard salts in solution are affected in such a way as to prevent a hard deposit on boiler plates and pipes. Top figure shows scale from unconditioned water. Bottom figure shows the effect of installing the water conditioner. |
Sau khi đi qua một thiết bị xử lý nước sử dụng từ trường, các muối cứng trong dung dịch sẽ bị ảnh hưởng theo cách giúp ngăn ngừa sự lắng đọng cứng trên các tấm và ống nồi hơi. Hình đầu tiên cho thấy lớp cặn hình thành từ nước chưa được xử lý. Hình phía dưới thể hiện hiệu quả sau khi lắp đặt thiết bị xử lý nước. |
|
Image below: The pathway of the anterior pituitary hormone that acts on the endothelial cells of the inner lining of arteries. The latter will take up nitrogen during protein deprivation and/or during conditions of stress in the face of high protein diet. |
Hình ảnh bên dưới: Con đường của hormone tuyến yên trước tác động lên các tế bào nội mô của lớp trong thành động mạch. Các tế bào này sẽ hấp thụ nitơ trong điều kiện thiếu protein và/hoặc trong tình trạng căng thẳng khi đối mặt với chế độ ăn giàu protein. |

Image below: External View of Mammalin Heart.

|
The arteries most affected by the hormone are those lying in close association with the Heart Chakra. Of these, the most susceptible are the coronary arteries which supply the heart muscle with oxygen. |
Những động mạch bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi loại hoóc-môn này là những động mạch nằm gần với luân xa Tim. Trong số đó, nhạy cảm nhất là các động mạch vành – những mạch máu cung cấp ôxy cho cơ tim. |
|
The real problem before mankind is not so much the necessity to live longer, but to live life more abundantly. As Alexis Carrel wrote:- |
Vấn đề thực sự của nhân loại không hẳn là nhu cầu sống lâu hơn, mà là sống một cuộc đời trọn vẹn và phong phú hơn. Như Alexis Carrel đã viết: |
|
“Why make life longer for people who are unhappy, egotistical, stupid and useless? It is the kind of people who matter, not the quantity.” |
“Tại sao lại kéo dài đời sống cho những người bất hạnh, vị kỷ, ngu dốt và vô dụng? Vấn đề nằm ở chất lượng con người, không phải số lượng.” |
|
Esoteric science does not accept that old age necessarily implies loss of creative ability:- |
Khoa học huyền môn không chấp nhận quan điểm cho rằng tuổi già đồng nghĩa với sự mất đi khả năng sáng tạo: |
|
Isocrates wrote his Panathenaicus when he was ninety-four. Plato, it is said, philosophized with his last breath. Sophocles was an octogenarian when he wrote his Oedipus. Democritus and Gorgias of Leontini are said to have spent their long lives brimming with vitality. Milton did not begin his greatest poems until he was about fifty and blind. At about the same age the whimsical[77] and optimistic Bernardin de St. Pierre wrote Paul de Virginie. Voltaire and Rousseau both gave expression to their very different geniuses right up to the end of their lives. Geothe did not complete the second part of Faust until he was eighty and then continued to be active until his death (like Alexander von Humboldt, his compatriot, whose Cosmos was published when he was seventy-six.) (1) |
Isocrates đã viết tác phẩm Panathenaicus khi ông đã 94 tuổi. Người ta kể rằng Plato vẫn còn triết luận cho đến hơi thở cuối cùng. Sophocles là một cụ ông tám mươi khi viết Oedipus. Democritus và Gorgias xứ Leontini được cho là đã sống trọn cuộc đời dài lâu của họ với sinh lực dồi dào. Milton không bắt đầu những bài thơ vĩ đại nhất của mình cho đến khi ông khoảng năm mươi tuổi và đã bị mù. Cũng vào độ tuổi đó, nhà văn Bernardin de St. Pierre – đầy dí dỏm và lạc quan – đã viết Paul et Virginie. Cả Voltaire và Rousseau đều tiếp tục biểu lộ thiên tài rất khác biệt của họ cho đến cuối đời. Goethe không hoàn thành phần hai của Faust cho đến khi ông tám mươi tuổi, và sau đó vẫn tiếp tục sáng tạo cho đến khi qua đời (giống như người đồng hương Alexander von Humboldt, người đã xuất bản Cosmos khi ông 76 tuổi). |
|
(1) Longevity by Jacques Guillerme (Walker and Company, 1963). |
(1) Longevity, Jacques Guillerme (Walker and Company, 1963) |
|
Esoteric science teaches that the sutures[78] of the human skull may remain patent[79] until very late in life and that when this is so, the brain constantly alters its shape and remains creative till the last. The sutures are maintained parted and prevented from knitting or closing by the action of the head chakras as they act through the pituitary and pineal glands. |
Khoa học huyền môn dạy rằng các đường khớp sọ (sutures) của con người có thể vẫn còn mở cho đến rất muộn trong đời, và khi điều đó xảy ra, não bộ không ngừng thay đổi hình dạng và duy trì sự sáng tạo cho đến cuối cùng. Các đường khớp sọ được giữ không dính lại hoặc không đóng kín là nhờ vào tác động của các luân xa vùng đầu khi chúng hoạt động thông qua tuyến yên và tuyến tùng. |
|
This mechanism operated eighteen million years ago when the pineal gland operated as a ‘third eye’ through the posterior fontanelle of the skull and will do so again in later Root Races. |
Cơ chế này đã từng hoạt động cách đây mười tám triệu năm, khi tuyến tùng hoạt động như một “con mắt thứ ba” thông qua khe thóp sau của sọ, và cơ chế này sẽ lại được tái lập trong các giống dân gốc tương lai. |

How to stay young—Làm sao để vẫn duy trì trẻ
|
Youth is not a time of life… it is a state of mind. Nobody grows old by merely living a number of years; people grow old only by deserting their ideals. Years wrinkle the skin, but to give up enthusiasm wrinkles the soul. Worry doubt, self-distrust, fear and despair… these are the long, long years that bow the head and turn the growing spirit back to dust. Whether seventy or sixteen, there is in every beings heart the love of wonder the sweet amazement at the stars and the star-like things and thoughts, the undaunted challenge of events, the unfailing childlike appetite for what next, and the joy and the game of life. You are as young as your faith, as old as your doubt; as young as your self-confidence, as old as your fear; as young as your hope, as old as your despair. |
Tuổi trẻ không phải là một giai đoạn của đời người… mà là một trạng thái của tâm thức. Không ai trở nên già đi chỉ vì sống qua một số năm; con người chỉ trở nên già đi khi họ từ bỏ các lý tưởng của mình. Năm tháng làm nhăn làn da, nhưng sự từ bỏ nhiệt huyết mới làm nhăn linh hồn. Lo lắng, nghi ngờ, thiếu tự tin, sợ hãi và tuyệt vọng… đó mới là những năm tháng dài dằng dặc khiến đầu cúi xuống và tinh thần đang lớn mạnh trở lại thành bụi đất. Dù ở tuổi bảy mươi hay mười sáu, trong trái tim mỗi người đều có tình yêu đối với điều kỳ diệu, sự ngạc nhiên ngọt ngào trước các vì sao và những điều – những tư tưởng – tựa như sao, thách thức không nao núng trước các biến cố, lòng ham sống như trẻ thơ trước điều gì sắp đến, niềm vui và trò chơi của cuộc sống. Các bạn trẻ trung bằng chính đức tin của mình, và già cỗi bằng chính hoài nghi của mình; trẻ trung bằng sự tự tin của mình, và già nua bằng nỗi sợ hãi của mình; trẻ trung bằng hy vọng, và già cỗi bằng tuyệt vọng. |
Heart Transplantation and its Esoteric Significance—Ghép tim và ý nghĩa huyền môn của nó
|
“Two souls with but a single thought, |
“Hai linh hồn chỉ có một tư tưởng, |
|
Two hearts that beat as one,” |
Hai trái tim cùng nhịp đập,” |
|
Ingomar the Barbarian, Act III |
Ingomar the Barbarian, Hồi III |
|
The problem of heart transplantation is essentially one of energy, the energy from within. Energy from within is constant, but most marked during the natural and refreshing act of sleep, Any deliberate attempt to draw on the energy consciously by undergoing tremendous disciplines involved in such feats as meditation, one-pointed concentration and selfless acts of service, produce a shortening of the path of evolution for the person concerned. Any other interference with the natural processes of drawing on this energy is hazardous and bound to produce the most appalling toll. |
Vấn đề ghép tim, về bản chất, là một vấn đề năng lượng – năng lượng từ bên trong. Năng lượng từ bên trong là hằng định, nhưng biểu hiện rõ nhất trong hành động tự nhiên và phục hồi như giấc ngủ. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm tiếp cận có ý thức nguồn năng lượng này bằng cách thực hành các kỷ luật gian khổ như tham thiền, tập trung nhất tâm, và các hành động vị tha đều rút ngắn con đường tiến hoá của người thực hành. Còn mọi sự can thiệp khác vào tiến trình tự nhiên của việc tiếp nhận năng lượng này đều là nguy hiểm và chắc chắn sẽ gây ra những tổn thất khủng khiếp nhất. |
|
Anatomically speaking, the heart is an ordinary enough organ, a mere pump made out of unusual muscle capable of contracting at sufficient strength to pump the blood under pressure through the arteries to every tissue in the body. In theory, it should have been even easier to transplant the heart than a liver or kidney, wherein toxic substances abound and compatibility between donor and recipient might be a very difficult problem to overcome. The surgery is more difficult in the case of the heart, but this has not been the obstacle. |
Xét về mặt giải phẫu, trái tim là một cơ quan khá đơn giản – một chiếc bơm làm bằng loại cơ đặc biệt, có thể co bóp đủ mạnh để bơm máu dưới áp lực qua các động mạch đến từng mô của cơ thể. Về lý thuyết, việc ghép tim lẽ ra còn dễ hơn ghép gan hay thận – nơi chứa nhiều chất độc và đòi hỏi sự tương thích cao giữa người hiến và người nhận. Việc phẫu thuật tim có thể khó hơn, nhưng đó không phải là trở ngại chính. |
|
The real truth of the matter lies deeper. It lies in the esoterically-known anatomy of the heart as the basic organ of bodily vital force. It is the primary energiser of the body and no mere pump. It is the advanced power station through which the planetary Lord expresses His Life. It is the meeting point for forces of mind, body and emotions (vagus, sympathetic nerves and sinus node). It is the point through which the soul begins to grasp the vehicle whilst in its embryonic stage of development. It is the point of attachment and detachment of a thread of etheric and subtler material, withdrawn at death. It is strongly linked to the actions of the thymus gland as an outward expression of the Heart Chakra. The etheric energies that pour into it express the Ray qualities of subtler bodies and higher Beings. |
Sự thật thực sự nằm sâu hơn. Nó nằm trong giải phẫu học theo quan điểm huyền môn – nơi trái tim được biết đến là cơ quan nền tảng của sinh lực thân xác. Nó là nguồn năng lượng chủ đạo của thân xác và không chỉ là một chiếc bơm. Nó là trạm phát điện cao cấp mà qua đó, Đấng Thái Dương Thượng đế hành xử Sự Sống của Ngài. Nó là điểm gặp gỡ của các mãnh lực trí tuệ, thể xác và cảm xúc (dây thần kinh phế vị, hệ thần kinh giao cảm và nút xoang). Nó là điểm mà tại đó linh hồn bắt đầu nắm lấy thể xác trong giai đoạn phát triển còn phôi thai. Nó là điểm bám nối và tách rời của một sợi dây dĩ thái và vật chất tinh tế hơn, được rút đi khi chết. Nó có mối liên kết mạnh mẽ với tuyến ức – vốn là biểu hiện ra ngoài của luân xa Tim. Các năng lượng dĩ thái tuôn vào tim phản ánh phẩm tính của các Cung của những thể tinh tế và các Đấng Cao Cả. |
Heart Energy Force—Lực Năng Lượng Của Tim
|
The heart is the seat of the soul traditionally, but there are very definite qualities which are associated with the energies which pour through this region from higher planes. Compassion—the ability to feel for all life in its many forms and to identify oneself with those forms is a soul and especially a heart characteristic. The ability to work in groups is an outward manifestation of this. Love of one’s neighbour and of all humanity, inclusiveness as opposed to separativeness … these are heart qualities. Also associated with the heart is the all-important quality of recognising what is not-self, i.e. not-Self. There is no other more important quality to be cultivated in the aspirant on the Path of Return. |
Tim từ lâu được xem là nơi ngự trị của linh hồn, nhưng còn có những phẩm chất rất xác định gắn liền với các năng lượng tuôn qua vùng này từ các cõi cao. Lòng bi mẫn – khả năng cảm nhận mọi sự sống trong muôn hình thức và đồng nhất hoá với các hình thức đó – là đặc tính của linh hồn, và đặc biệt là của tim. Khả năng làm việc theo nhóm là sự biểu hiện ra ngoài của phẩm tính ấy. Tình thương đối với tha nhân và toàn thể nhân loại, tính bao gồm thay vì chia rẽ… đó là những phẩm tính của tim. Gắn liền với tim còn có một phẩm chất vô cùng quan trọng: sự nhận biết cái không phải là ngã, tức là cái “phi-Ngã”. Không có phẩm chất nào quan trọng hơn để người chí nguyện trên Con Đường Trở Về cần phải rèn luyện. |

|
Image below: The Thyroid Gland (Throat Chakra) and the Thymus Gland (Heart Chakra) with their relationship to the Heart and Lungs |
Hình ảnh bên dưới: Tuyến giáp (luân xa cổ họng) và tuyến ức (luân xa tim) cùng mối liên hệ của chúng với tim và phổi. |

|
When we talk of the Self, we mean ultimately the Soul, the eternal and undying I within, the possessor of the body, the point of consciousness which directs the bodily kingdom, that migrates in sleep and departs in death. In forming the antakarana with the soul, in strengthening the soul’s grip on our outward sheaths, we learn to discriminate between the real, which is the eternal, and the unreal which is the unenduring part of us, the material or false. This discrimination, which leads on to rejection of the unreal, lies at the root of rejection of organ implants, for discrimination exists at all levels. |
Khi chúng ta nói về Chân ngã, điều chúng ta thực sự đề cập đến chính là Linh hồn — bản thể vĩnh cửu và bất diệt bên trong, là cái “Tôi” đích thực, chủ thể sở hữu thể xác, là điểm tâm thức điều khiển vương quốc thể xác, di chuyển trong giấc ngủ và lìa khỏi thân xác khi chết. Khi xây dựng antahkarana với linh hồn, khi tăng cường sự kiểm soát của linh hồn lên các lớp vỏ bên ngoài của chúng ta, chúng ta học được cách phân biệt giữa cái thật — tức cái vĩnh cửu — và cái không thật — tức phần không bền vững nơi chúng ta, tức là phần vật chất hay giả tạm. Sự phân biệt này, dẫn đến sự loại bỏ cái không thật, chính là gốc rễ của sự từ chối các cơ quan cấy ghép, bởi vì sự phân biệt tồn tại ở mọi cấp độ. |
|
We learn to reject first at the emotional level, but already, since long before actual birth, we have been rejecting at a physical level in embryo as well as subsequently. Rejection of not-self starts early in the cells and molecules, far below our awareness, and is almost reflex in action. For centuries the surgeons have been dealing with these problems of rejection… assisting the patient in his fight between self and not-self. Not-self, in this respect, is the germ and virus and their products. |
Chúng ta học cách từ chối trước tiên ở cấp độ cảm xúc, nhưng từ lâu trước khi được sinh ra, chúng ta đã bắt đầu từ chối ở cấp độ thể xác trong giai đoạn phôi thai, và cả về sau nữa. Việc từ chối cái phi-ngã bắt đầu rất sớm ở cấp độ tế bào và phân tử — dưới mức nhận thức của chúng ta — và gần như là một phản xạ tự nhiên. Trong nhiều thế kỷ qua, các bác sĩ phẫu thuật đã phải đối mặt với các vấn đề về sự từ chối này… giúp bệnh nhân trong cuộc chiến giữa cái ngã và cái phi-ngã. Ở đây, cái phi-ngã là mầm bệnh, vi rút và các sản phẩm của chúng. |
|
But now attention has shifted to the battle going on at a higher level, and this time the surgeons are fighting to get the self to accept a piece, a whole organ, of not-self… a far more difficult task. |
Nhưng giờ đây sự chú ý đã chuyển sang cuộc chiến ở cấp độ cao hơn, và lần này, các bác sĩ phẫu thuật đang nỗ lực để khiến cái ngã chấp nhận một phần — thậm chí là toàn bộ cơ quan — của cái phi-ngã… một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều. |
|
We are experiencing more and more auto-immune diseases in which the body fights off or rejects even parts which it is elaborating itself (Hashimoto’s disease). We are becoming more and more sensitive to invasion of our bodily kingdoms. This is going on at all levels. Eventually, our surgeons and doctors will be giving much attention to the fight against schizophrenia[80]… where there is rejection of personality at a mental and emotional level. |
Chúng ta ngày càng chứng kiến nhiều bệnh tự miễn, trong đó cơ thể từ chối hoặc chống lại chính các phần mà nó đang tạo ra (như bệnh Hashimoto). Chúng ta ngày càng trở nên nhạy cảm hơn trước sự xâm nhập vào vương quốc thể xác của mình. Hiện tượng này đang xảy ra ở mọi cấp độ. Cuối cùng, các bác sĩ và chuyên gia y tế sẽ phải chú trọng đến cuộc chiến chống lại chứng phân liệt tâm thần… nơi mà sự từ chối xảy ra ở cấp độ tâm trí và cảm xúc của phàm ngã. |
|
Heart transplants have made the public more aware of this active rejection of tissue or invasion by the body. The body fights off transplants as if they were foreign bodies or groups of germs. The white cells of the blood are mainly concerned with this task. Drugs are therefore given to reduce the activity of these cells. If an insufficient dose of the particular drug is given, the white cells produce massive rejection of the transplanted organ. If too much of the drug is given, the white cells may be depressed too far and the body becomes the target of any invading organism, and without enough white cells to defend itself the body succumbs to massive overwhelming infection. This is the outward story. |
Các ca ghép tim đã khiến công chúng nhận thức rõ hơn về sự từ chối chủ động của mô, hay sự xâm nhập do chính cơ thể gây ra. Cơ thể chống lại cơ quan ghép như thể chúng là các vật thể lạ hay các nhóm vi khuẩn. Các bạch cầu là thành phần chính đảm nhận nhiệm vụ này. Do đó, thuốc được sử dụng để giảm hoạt động của các bạch cầu này. Nếu liều thuốc được dùng không đủ, các bạch cầu sẽ tạo ra phản ứng từ chối mạnh mẽ đối với cơ quan được cấy ghép. Nếu dùng quá liều, các bạch cầu có thể bị ức chế quá mức và cơ thể sẽ trở thành mục tiêu dễ tổn thương cho mọi sinh vật xâm nhập, và khi không có đủ bạch cầu để tự bảo vệ, cơ thể sẽ bị nhiễm trùng nghiêm trọng và không thể chống đỡ nổi. Đó là câu chuyện bên ngoài. |
|
But there are inner factors at play which escape the attention of the surgeons, and these are linked to the heart’s esoteric functions. Before considering them, let us first look once again at these white cells of the blood on which so much depends. More than half of them are what we call ‘polymorphs’. They have strange nuclei which change their shape almost as fast as the cell changes its outline. By changing their shapes, they engulf foreign particles, including germs. They have traditionally been correlated with the astral nature of man and the astral plane of the emotions, partly because of their amoeboid characteristics, their ever-changing shape, their elusive nature and ghost-like forms. |
Nhưng có những yếu tố nội tại đang vận hành mà các bác sĩ phẫu thuật không để ý đến — và những yếu tố này có liên hệ mật thiết đến các chức năng huyền môn của tim. Trước khi xem xét những yếu tố đó, chúng ta hãy một lần nữa nhìn lại các bạch cầu – yếu tố quyết định sống còn trong quá trình này. Hơn một nửa số bạch cầu là loại được gọi là “đa hình nhân” (polymorphs). Chúng có nhân kỳ lạ thay đổi hình dạng gần như nhanh bằng tốc độ thay đổi hình dạng của chính tế bào. Bằng cách thay đổi hình dạng, chúng bao vây và tiêu diệt các hạt lạ, bao gồm cả vi khuẩn. Chúng từ lâu đã được liên hệ với bản chất cảm dục của con người và cõi cảm dục, một phần vì đặc tính giống amip của chúng, hình dạng luôn thay đổi, bản chất khó nắm bắt và hình dáng như ma. |
|
The other white cell is the lymphocyte. Lymphocytes don’t change shape. Their work is to produce minute antibodies which counteract foreign, not-self particles, including the organ transplants of donors! These cells are produced by the thymus gland, a strange organ lying beneath the breastbone close to the heart, with which it has very strong esoteric links. Lymphocytes go to populate the lymph nodes of the body and the spleen. |
Loại bạch cầu còn lại là lymphocyte. Lymphocyte không thay đổi hình dạng. Chức năng của chúng là sản sinh ra các kháng thể rất nhỏ nhằm chống lại các hạt lạ – cái phi-ngã – bao gồm cả các cơ quan ghép từ người hiến! Các tế bào này được tạo ra bởi tuyến ức – một cơ quan kỳ lạ nằm dưới xương ức, gần với trái tim – và có mối liên kết huyền môn rất mạnh với tim. Lymphocyte sau đó sẽ di chuyển đến các hạch bạch huyết và lá lách của cơ thể. |
|
Image below: Anatomy of the Heart |

|
The thymus gland is an endocrine gland and therefore of special esoteric significance because each endocrine gland in the body is closely related to an etheric chakra. The thymus normally atrophies around the stage of adolescence. In some people it persists, to produce “thymic types” who very frequently are either criminal psychopaths[81] or highly developed “soul” types. We shall come back to the thymus again. |
Tuyến ức là một tuyến nội tiết và do đó mang ý nghĩa huyền môn đặc biệt, bởi mỗi tuyến nội tiết trong cơ thể đều có mối liên hệ mật thiết với một luân xa dĩ thái. Tuyến ức thường teo lại vào giai đoạn thanh thiếu niên. Ở một số người, tuyến này vẫn tiếp tục tồn tại, tạo ra các “kiểu người tuyến ức” mà rất thường rơi vào một trong hai loại: hoặc là những kẻ loạn thần phạm tội, hoặc là những người “linh hồn cao phát triển.” Chúng ta sẽ quay lại nói thêm về tuyến ức. |
|
It is a very well-known scientific fact that we are constantly replacing the tissues of our bodies, right down to the very molecules and atoms which make up our cells. What is not generally known is that even atoms and molecules are alive and possess a consciousness of their own, highly or lowly developed according to that of the one of which they are a part the one in whom they live and move and have their being. (1) Thus, according to the esoteric development of the soul, the “I” or possessor of the body, so will atoms of carbon, oxygen, hydrogen and trace elements be attracted into the body tissues. |
Một thực tế khoa học đã được công nhận rộng rãi là chúng ta liên tục thay thế các mô trong cơ thể, đến tận cả các phân tử và nguyên tử cấu thành tế bào. Điều chưa được biết đến rộng rãi là ngay cả các nguyên tử và phân tử cũng là những thực thể sống và có tâm thức riêng của chúng – phát triển cao hay thấp tuỳ theo thực thể mà chúng là một phần của – Đấng mà trong đó chúng sống, chuyển động và có hiện hữu của mình. (1) Như vậy, tuỳ theo mức phát triển huyền môn của linh hồn – cái “Tôi,” hay chủ thể sở hữu thể xác – mà các nguyên tử carbon, oxy, hydro và các nguyên tố vi lượng sẽ được thu hút vào các mô cơ thể. |
|
(1) The Jewel in The Lotus, page 25, Dr. D. M. Baker, 1972 |
(1) The Jewel in The Lotus, trang 25, Dr. D. M. Baker, 1972 |
|
According to our consciousness, we accept or reject the more enlightened atoms or less enlightened, and tend to reject all else. The highest atoms in esoteric development are found in the Plant Kingdom, less so in animals and even less so in minerals. We can therefore supply our bodies with atoms (food) of the highest order or of lesser orders, and these living beings are incorporated into us, thus permitting the organism as a whole a larger or lesser awareness and potential for esoteric development. |
Tuỳ theo mức độ tâm thức của chúng ta mà chúng ta tiếp nhận hay loại bỏ những nguyên tử khai sáng hơn hay kém khai sáng, và có xu hướng từ chối tất cả những gì khác biệt. Những nguyên tử phát triển cao nhất về mặt huyền môn được tìm thấy trong Giới Thảo Mộc, ít hơn trong Giới Động Vật và còn ít hơn nữa trong khoáng vật. Do đó, chúng ta có thể nuôi dưỡng cơ thể bằng các nguyên tử (thức ăn) thuộc cấp cao hay thấp hơn, và những thực thể sống này sẽ được tích hợp vào ta, từ đó cho phép cơ thể như một tổng thể có mức nhận thức và tiềm năng phát triển huyền môn lớn hơn hay thấp hơn. |
|
Thus, the life force wells up within the heart from the earliest stages of development in the embryo right through life until withdrawn at death. At death, life is said to be withdrawn in two stages, according to ancient teachings. Thus, consciousness leaves the head first and the diminished life forces pause for awhile in the region of the heart and its chakra. From here, life is finally withdrawn. If there is a rallying[82], the life force retakes possession of the body and consciousness is re-asserted. This is one reason for the occult insistence on cremation. |
Vì vậy, lực sống dâng trào từ tim ngay từ giai đoạn đầu của phôi thai và tiếp tục xuyên suốt cuộc đời cho đến khi rút lui vào lúc chết. Theo các giáo lý cổ xưa, sự sống rút lui theo hai giai đoạn. Ý thức rút khỏi đầu trước tiên, và phần sinh lực còn lại tạm ngưng lại một thời gian ngắn ở vùng tim và luân xa của nó. Từ đó, sự sống mới hoàn toàn rút đi. Nếu có sự hồi phục, sinh lực sẽ trở lại chiếm hữu thể xác và ý thức được tái khẳng định. Đây là một trong những lý do khiến các truyền thống huyền môn luôn nhấn mạnh việc hoả táng. |
|
And so, whilst other organs which are transplanted carry the normal hazards[83], the heart transplant has special ones, esoterically speaking. The heart rate is decided by the sensitive tissue of the sirius node or any other cardiac muscle cells that will accept the task as receiving and transmitting station for planetary etheric energy. This station is related to forces welling from the centre of the Earth and thence from the centre of the Sun. If you are very still[84], you can sometimes feel the sun’s gentle impulses modifying the action of the heart. They are slower than the heart and cannot be confused with pulse beats, which are shorter and more abrupt. (Swedenborg describes them, and I have felt them often.) One day, they will be “discovered” and measured accurately, and about this time a new type of electrical force will be discovered: a third type, not negative, not positive, but without which negative and positive cannot exist. |
Và như thế, trong khi các cơ quan khác khi được ghép chỉ mang theo các nguy cơ thông thường, thì việc ghép tim lại mang theo những nguy cơ đặc biệt xét trên phương diện huyền môn. Nhịp tim được quyết định bởi mô nhạy cảm của nút xoang (sirius node) hoặc bất kỳ tế bào cơ tim nào chấp nhận nhiệm vụ làm trạm tiếp nhận và truyền dẫn năng lượng dĩ thái hành tinh. Trạm này liên hệ với các mãnh lực dâng lên từ trung tâm của Trái Đất và từ đó đi tới trung tâm của Thái Dương. Nếu các bạn hoàn toàn tĩnh lặng, đôi khi các bạn có thể cảm nhận được các xung lực dịu nhẹ từ mặt trời điều chỉnh hoạt động của tim. Chúng chậm hơn nhịp tim và không thể nhầm lẫn với nhịp mạch vốn ngắn hơn và đột ngột hơn. (Swedenborg từng mô tả điều này, và tôi cũng đã cảm nhận được điều ấy nhiều lần.) Một ngày nào đó, những xung lực ấy sẽ được “phát hiện” và đo lường chính xác, và vào khoảng thời gian đó, một loại năng lượng điện mới sẽ được phát hiện: một loại thứ ba – không âm, không dương – nhưng là loại năng lượng mà nếu thiếu nó thì âm và dương không thể tồn tại. |
|
Whilst the heart of the donor functions in the recipient, there will be effects felt on the astral plane where the remainder of the donor’s living self is temporarily in residence, and whilst this situation exists, it will be more difficult for the donor to free himself from the earthly terrain. To this extent, there may be some slight effect of overshadowing of the recipient by the donor’s astral consciousness, but it would be very mild and confused, spasmodic[85] and ever-weakening. The recipient, on the other hand, has a great gap in his etheric body which takes time to adjust. This weakness brings to his chest and lungs, in particular, the hazards of insufficient etheric vitalisation. |
Khi tim của người hiến vẫn còn hoạt động trong cơ thể người nhận, sẽ có các hiệu ứng xảy ra ở cõi cảm dục – nơi phần còn lại của chân ngã người hiến tạm trú – và trong khi tình trạng này còn tồn tại, người hiến sẽ khó lòng hoàn toàn thoát khỏi cõi trần. Ở mức độ này, có thể xảy ra một ảnh hưởng nhẹ của việc người hiến phủ bóng lên người nhận qua tâm thức cảm dục, nhưng nó sẽ rất mờ nhạt, rối rắm, ngắt quãng và ngày càng yếu đi. Ngược lại, người nhận lại có một lỗ hổng lớn trong thể dĩ thái của mình, điều này cần có thời gian để thích nghi. Sự suy yếu đó mang đến cho vùng ngực và phổi của người nhận nguy cơ không được sinh lực dĩ thái tiếp tế đầy đủ. |

|
The Heart and the Anu compared to the Cadeus as units for the reception, conduction and dissemination of higher energies. |
Tim và hạt Anu so với hình tượng Caduceus như là các đơn vị tiếp nhận, dẫn truyền và phân phối các năng lượng cao cấp |

|
I hazard a forecast that only when the atoms and molecules of the donated heart are all replaced by normal processes with atoms and molecules of an order and quality in harmony with the receiver and his bodies, will this threat of devitalisation and infection be overcome so that the rent in the etheric is thus repaired and the link with the donor finally broken (and the influences reaching the recipient via his blood from that astral quarter terminated). Until then, doctors will have to maintain a strict vigil[86] applying constantly all their genius for immunological therapy. I have seen the fight put up by one of these dying heart recipients on the astral plane, and I don’t ever want to see such a hopeless struggle again. |
Tôi mạo muội tiên đoán rằng: chỉ khi các nguyên tử và phân tử của trái tim được hiến tặng đã hoàn toàn được thay thế bằng các nguyên tử và phân tử thông qua tiến trình tự nhiên – với cấp độ và phẩm tính hài hòa với người nhận và các thể của họ – thì mối nguy mất sinh lực và nhiễm trùng mới được vượt qua, lỗ hổng trong thể dĩ thái mới được chữa lành và mối liên kết với người hiến mới thực sự chấm dứt (và các ảnh hưởng từ cõi cảm dục còn ràng buộc qua dòng máu người nhận cũng sẽ được cắt đứt). Cho đến lúc đó, các bác sĩ vẫn sẽ phải canh giữ nghiêm ngặt, không ngừng ứng dụng mọi tài năng về liệu pháp miễn dịch. Tôi đã từng thấy cuộc chiến của một người đang hấp hối sau khi được ghép tim diễn ra trên cõi cảm dục, và tôi không bao giờ muốn chứng kiến một cuộc giằng co tuyệt vọng đến vậy thêm một lần nào nữa. |