Trị Liệu Nội môn I – Phần 2 (Douglas Baker)

📘 Sách: Trị Liệu Huyền Môn I (Douglas Baker) – Tác giả: Douglas Baker

The Occult Anatomy and Physiology of the Heart— Giải phẫu học và Sinh lý học Huyền môn của Trái tim

Any attention paid to the special properties of the heart is always rewarding to the esoteric healer. It should always be remembered that, through its link with the Vagus Nerve, the heart is the mediator of the energies of Solar Fire and their capacity to solarise (make of the same nature as their source) the organs with which it comes in contact. The heart, as the prime circulator of the blood, distributes in that blood, to every organ of the body, the qualities flowing from the Heart Chakra as they are modified by the Vagus Nerve.

Bất kỳ sự chú ý nào được dành cho các đặc tính đặc biệt của trái tim đều luôn mang lại lợi ích cho người chữa lành huyền môn. Cần luôn ghi nhớ rằng, thông qua mối liên kết với Dây thần kinh phế vị (Vagus Nerve), trái tim chính là trung gian của các năng lượng Lửa Thái Dương và năng lực của chúng trong việc “thái dương hoá” (làm cho đồng nhất với bản chất nguồn gốc) các cơ quan mà nó tiếp xúc. Trái tim, với vai trò là cơ quan tuần hoàn chính của máu, phân phối trong dòng máu ấy đến mọi cơ quan của cơ thể các phẩm tính tuôn ra từ luân xa Tim, được điều chỉnh bởi Dây thần kinh phế vị.

The axiom of esoteric healing which states, “When in doubt, heal through the Heart Chakra,” is based on sound knowledge of occult anatomy and physiology of the heart. The heart and its chakra are the doorway into the aura of the forces of Buddhi, and they become a floodgate for the compassionate energies of Buddhi as the healer treads the Path of Initiation. Inseparable from the flow of healing energies that stem from this region are the qualities of the Christ-force. As He Himself once said, “Behold, I stand at the door and knock.” Place your forefinger on the skin one inch below your left nipple, and you will feel the thud of His knock as the apex of the heart strikes the wall of the thoracic cage just there.

Châm ngôn của trị liệu huyền môn: “Khi còn nghi ngờ, hãy chữa qua luân xa Tim,” được đặt trên nền tảng của sự hiểu biết vững chắc về giải phẫu và sinh lý học huyền môn của tim. Trái tim và luân xa của nó là cánh cửa dẫn vào hào quang của các mãnh lực Bồ đề, và chúng trở thành cánh cổng mở ra cho các năng lượng từ bi của Bồ đề tuôn tràn khi người chữa lành bước lên Con Đường Điểm Đạo. Không thể tách rời khỏi dòng năng lượng chữa lành xuất phát từ vùng này là các phẩm tính của mãnh lực Christ. Như chính Ngài từng nói: “Này, Ta đứng ngoài cửa mà gõ.” Hãy đặt ngón tay trỏ lên da, cách đầu ti bên trái khoảng một inch, và các bạn sẽ cảm nhận được nhịp gõ của Ngài khi đỉnh tim đập vào thành ngực ngay tại đó.

A careful study of the diagram of the anatomy of the opened heart (see diagram page 69) will reveal much by way of help to the esoteric healer if he uses the following statements to help him in his observations:-

Một nghiên cứu cẩn trọng về sơ đồ giải phẫu trái tim khi mở ra (xem sơ đồ trang 69) sẽ mang lại nhiều trợ giúp cho người chữa lành huyền môn, nếu người ấy biết vận dụng các phát biểu sau để hỗ trợ trong quan sát:

The circled region shows the anatomical area which is of critical importance in heart transplants. It is also a region of great esoteric importance. Here, there flows into the sinuatrial node etheric energies from the heart of the sun. Here also is the meeting place of vagal and sympathetic fibres which regulate the rate of the heart. This region is generally retained in the recipient, and the donor’s tissue is built around it. The truth in the esoteric teaching is emphasised when the heart is seen as a receiver of energies in the same way that its microcosm, the anu (ultimate physical atom), receives energies into its vortex from higher planes. The similarity is taken further in the illustrations shown on the last image.

Vùng được khoanh tròn là khu vực giải phẫu có tầm quan trọng then chốt trong các ca ghép tim. Nó cũng là một khu vực có ý nghĩa huyền môn to lớn. Tại đây, năng lượng dĩ thái từ trái tim của Thái Dương tuôn vào nút xoang nhĩ (sinuatrial node). Cũng tại đây, các sợi thần kinh phế vị và thần kinh giao cảm hội tụ để điều hoà nhịp tim. Khu vực này thường được giữ lại trong cơ thể người nhận, và các mô của người hiến được ghép quanh nó. Chân lý trong giáo lý huyền môn được nhấn mạnh khi trái tim được nhìn nhận như một bộ thu năng lượng — tương tự như nguyên tử vi vật chất anu – tiếp nhận năng lượng vào xoáy của nó từ các cõi cao hơn. Sự tương đồng này còn được mở rộng trong các hình ảnh minh hoạ ở phần cuối sách.

All this takes place under the guidance of the Heart Chakra. The Heart Chakra energises, among other organs, the thymus gland which is able to produce lymphocytes which initiate the main reaction to transplanted organs. The actors producing rejection of a transplant, just when it seems that the body is accepting the graft, stem basically from the astral body acting as it does preponderantly through the blood stream and the white cells.

Tất cả những điều này diễn ra dưới sự hướng dẫn của luân xa Tim. Luân xa Tim tiếp sinh lực cho nhiều cơ quan, trong đó có tuyến ức – nơi sản sinh lymphocyte, là thành phần khởi phát phản ứng chính chống lại cơ quan được ghép. Những yếu tố tạo nên sự từ chối cấy ghép, ngay cả khi tưởng chừng cơ thể đang chấp nhận phần ghép, bắt nguồn về căn bản từ thể cảm dục, hoạt động chủ yếu thông qua dòng máu và các bạch cầu.

Although figures as yet do not show it, I venture to prophesy that those most likely to accept a heart transplant will be the least developed on the scale of esoteric evolution, other immunological problems aside, for these (the younger souls in incarnation) have the lowest powers, on all levels, of discriminating between self and not-self. They are most likely to accept transplants of not-self. I would say or agree that heart transplants at this stage should be regarded as palliative rather than as permanent or a cure.

Dù các số liệu hiện nay chưa phản ánh rõ điều này, tôi mạo muội tiên đoán rằng những người có khả năng chấp nhận ca ghép tim tốt nhất sẽ là những người có mức tiến hoá huyền môn thấp nhất, chưa xét đến các vấn đề miễn dịch khác, bởi những người này (các linh hồn trẻ đang nhập thể) có khả năng phân biệt giữa cái ngã và cái phi-ngã rất thấp ở mọi cấp độ. Họ dễ dàng chấp nhận sự cấy ghép từ cái phi-ngã. Tôi cho rằng hiện tại, các ca ghép tim nên được xem là giải pháp tạm thời chứ không phải vĩnh viễn hay mang tính chữa lành triệt để.

I would also say that the measure of success so far gained has, in the main, been the result of the surgical technique of retaining a large amount of the recipient’s right atrium which holds the all-important sinus node. The sinus node is the most important anatomical part, esoterically speaking, of the heart and for very good reasons.

Tôi cũng xin nói thêm rằng, phần lớn thành công đạt được cho đến nay chủ yếu nhờ vào kỹ thuật phẫu thuật – đặc biệt là việc giữ lại một phần lớn nhĩ phải của người nhận, nơi chứa nút xoang – phần giải phẫu quan trọng nhất của tim nếu xét trên bình diện huyền môn, và điều đó hoàn toàn có lý do.

Heart muscle has extraordinary powers not shared by ordinary muscle. It is possible to remove cardiac muscle and place it in a special solution of ions and salts, whereupon it will continue its contractions for a long time.

Cơ tim có năng lực phi thường mà các cơ bình thường không có. Ta có thể lấy cơ tim ra và đặt vào một dung dịch đặc biệt gồm ion và muối, và nó sẽ tiếp tục co bóp trong một thời gian dài.

“The cardiac fibre has the power of originating within itself the impulse that makes it contract. This is one of the first properties to appear in the course of (embryonic) development. As soon as the heart is formed in the embryo… it contracts rhythmically and this rhythmic beat persists even after it has been separated from the organism.” (1)

“Sợi cơ tim có khả năng tự tạo ra xung lực khiến nó co bóp. Đây là một trong những đặc tính xuất hiện sớm nhất trong quá trình phát triển (phôi thai). Ngay khi tim được hình thành trong phôi, nó bắt đầu co bóp nhịp nhàng, và nhịp đập nhịp nhàng này vẫn tiếp tục ngay cả khi tim đã bị tách rời khỏi cơ thể.” (1)

(1) Human Physiology by Houssey.

(1) Human Physiology, của Houssey.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-35.webpesoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-36.webp

The part of the heart which beats the fastest and initiates the contraction of all other fibres is called the sinus node. From this strange tissue waves of electrical excitation pass to all parts of the heart and it imposes its rhythm on all so that it is known as the ‘pacemaker’. It is I through this very ‘sacred’ piece of tissue that waves of etheric impulses descend into the purely physical atoms. The sinus node of the heart of every organism is linked by an etheric ‘umbilicus5 to the etheric body of mother earth and thence to the Sun itself.

Phần của trái tim đập nhanh nhất và khởi phát sự co bóp của tất cả các sợi cơ khác được gọi là nút xoang (sinus node). Từ mô kỳ lạ này, các làn sóng kích thích điện lan truyền đến mọi phần của tim và áp đặt nhịp điệu của nó lên tất cả – do đó nó được gọi là “bộ tạo nhịp tim.” Chính qua mảnh mô “thiêng liêng” này mà các làn sóng xung lực dĩ thái giáng nhập vào các nguyên tử vật chất thuần tuý. Nút xoang của trái tim mỗi sinh vật đều được liên kết bằng một dây rốn dĩ thái với thể dĩ thái của Mẹ Đất, rồi từ đó nối với Thái Dương.

This is also the site of anchorage of the Life Force. It is here the Physical Permanent Atom builds around itself the very first atoms, in embryo, and which dictates the quality of physical form adopted thereafter. It is through this permanent atom that the physical karma of the individual is mediated. The Lords of Karma are related to the four cavities of the heart, i.e., two atria and two ventricles.

Đây cũng là nơi lưu trú của Lực Sống. Chính tại đây, Nguyên tử Trường tồn Vật lý xây dựng xung quanh nó những nguyên tử đầu tiên trong thời kỳ phôi thai và định hình phẩm chất của hình thể vật chất về sau. Chính qua nguyên tử trường tồn này mà nghiệp quả thể xác của cá nhân được chuyển hoá. Các Đấng Cai Quản Nghiệp Quả có liên quan đến bốn khoang của tim – tức là hai tâm nhĩ và hai tâm thất.

The rod of the caduceus may be compared to the A. V Bundle of His, which conducts the electrical forces of the sinus node to all parts of the heart muscle. The negative and positive acting forces of the sympathetic and vagal fibres would then correspond to those of Ida and Pingala. The clairvoyant perception of the Heart Chakra is relevant here:-

Trục của Caduceus có thể được so sánh với Bó His nhĩ thất (A.V Bundle of His), bộ phận dẫn truyền lực điện từ nút xoang đến mọi phần của cơ tim. Các lực âm và dương hoạt động qua các sợi giao cảm và phế vị tương ứng với các dòng Ida và Pingala. Nhận thức thông nhãn về luân xa Tim cũng liên quan ở đây:

When studied clairvoyantly the heart is found to be truly the Sun of the body.

Khi được quan sát bằng thông nhãn, trái tim thực sự được nhận ra là Thái Dương của cơ thể.

As the Earth, which is outwardly dark, is composed of nine layers with a central light flaming always at its core, so the heart possesses nine etheric layers with a luminous rose or lotus blossom in their midst. When a life is set to the rhythms of universal consciousness this heart flower expands and its petals gleam and sparkle with lights of blue and gold. When, however, the love life of the individual is impure or selfish, these flower petals tend to bend backwards and curl upon themselves. This stultification of the heart-flower reacts physically as heart trouble in this or later lives. Paracelsus well says that disease can be intelligently studied only in connection with Karma and the invisible bodies of man…

Giống như Trái Đất – bên ngoài là tối tăm – được cấu tạo bởi chín lớp với một ánh sáng rực cháy luôn tồn tại ở trung tâm, thì trái tim cũng có chín lớp dĩ thái với một đóa hoa sen hay hoa hồng phát sáng ở trung tâm. Khi đời sống được hoà điệu với các nhịp điệu của tâm thức vũ trụ, đoá hoa trái tim ấy nở rộng và các cánh hoa của nó rực sáng, lấp lánh những ánh sáng màu vàng kim và màu xanh lam. Tuy nhiên, khi đời sống tình cảm của cá nhân thiếu trong sạch hay mang tính ích kỷ, những cánh hoa này có khuynh hướng cong ngược và xoắn vào bên trong. Sự co rút này của hoa tim biểu hiện ra thể chất dưới dạng các rối loạn tim trong đời này hoặc những đời sau. Paracelsus từng nói rất rõ rằng bệnh tật chỉ có thể được nghiên cứu một cách thông minh nếu gắn liền với nghiệp quả và các thể vô hình của con người…

Heart consciousness is most active during hours of sleep. The important work of the aspirant is to impress this heart memory upon the brain mind. Man must learn to think with his heart. This will only be possible as love becomes the animating motive power of life. David, the poet-seer, understood these inner truths when he sang: “As a man thinketh in his heart so he is.”

Tâm thức trái tim hoạt động mạnh nhất trong các giờ ngủ. Công việc quan trọng của người chí nguyện là in dấu ký ức trái tim lên trí não ý thức. Con người phải học cách suy nghĩ bằng trái tim. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi tình thương trở thành mãnh lực thúc đẩy sự sống. David – nhà thơ, nhà tiên kiến – đã thấu hiểu những chân lý nội tâm này khi ông hát rằng: “Tâm nghĩ sao thì người là vậy.”

Paracelsus Writes: “As the Sun worketh in the planet, so does the heart in the body and the Moon in the brain.” The mystic marriage is alchemically described as the uniting of the Sun and Moon. When complete regeneration is accomplished, a stream or nerve current of light will flow along the pneumogastric (vagus) nerve, coordinating the powers of head and heart. This is the mystic highway traversed so often by Mary and Joseph between Bethlehem and Jerusalem. All the principal events in the Bible are also found within the body of man. (1)

Paracelsus viết: “Như mặt trời vận hành trong hành tinh, trái tim vận hành trong thân xác và mặt trăng trong bộ não.” Cuộc hôn nhân huyền nhiệm được mô tả trong thuật luyện kim là sự hợp nhất giữa Mặt Trời và Mặt Trăng. Khi sự tái sinh hoàn toàn được thành tựu, một dòng chảy thần kinh hay ánh sáng sẽ lưu thông dọc theo thần kinh phế vị (pneumogastric – vagus), phối hợp các mãnh lực của đầu và tim. Đây chính là con đường huyền nhiệm mà Maria và Giuse đã từng đi qua không biết bao nhiêu lần giữa Bethlehem và Jerusalem. Tất cả các sự kiện trọng yếu trong Kinh Thánh cũng đều tồn tại trong thân thể con người.

(1) Occult Anatomy And The Bible by Corinne Heline (The Rosicrucian Fellowship Press, California, U.S.A.).

(1) Occult Anatomy And The Bible by Corinne Heline (The Rosicrucian Fellowship Press, California, U.S.A.).

This chakram has twelve spokes or radiations, and is a glowing golden colour. It receives the yellow ray from the spleen centre; when the current is full and strong, it produces strength and regularity in the heart action. Flowing round the heart chakram, the yellow ray also interpenetrates the blood and thus is carried all over the body. It also passes on to the brain and permeates it, though directing itself principally to the twelve, petalled flower in the middle of the seventh or highest centre. In the brain it confers the power of high philosophical and metaphysical thought.

Luân xa Tim có mười hai tia hay nan hoa, toả ánh sáng màu vàng kim rực rỡ. Nó tiếp nhận tia vàng từ luân xa Lách; khi dòng chảy mạnh và đầy đủ, nó tạo nên sức mạnh và sự điều hoà trong hoạt động của tim. Dòng tia vàng lưu chuyển quanh luân xa Tim này cũng thấm nhập vào dòng máu và được mang đi khắp cơ thể. Nó cũng lan truyền đến não và thấm nhập vào đó, dù chủ yếu hướng về đoá hoa mười hai cánh ở trung tâm của luân xa cao nhất – luân xa thứ bảy. Trong não, nó mang lại năng lực tư duy triết lý và siêu hình học cao cấp.

The corresponding astral centre, when awakened, endows a man with the power to comprehend and sympathise with, and so instinctively understand, the feelings of other astral entities.

Luân xa tương ứng ở cõi cảm dục, khi được đánh thức, ban cho con người năng lực cảm thông và thấu hiểu các cảm xúc của những thực thể ở cõi cảm dục.

The etheric centre, therefore, makes a man aware, in his physical consciousness, of the joys and sorrows of others, and sometimes even causes him to reproduce in himself by sympathy their physical aches and pains.(2)

Luân xa dĩ thái nhờ vậy sẽ khiến con người trong ý thức thể chất cảm nhận được niềm vui và nỗi buồn của người khác, thậm chí đôi khi tái tạo trong chính mình – qua sự cảm thông – những đau đớn thể xác của người khác.

(2) The Etheric Double by Major Arthur E. Powell (Theosophical Publishing House, London).

(2) The Etheric Double by Major Arthur E. Powell (Theosophical Publishing House, London).

The heart is traditionally spoken of as the seat of courage. After thirty years of harsh, bittersweet struggle on the Path, I would rate the qualities of Courage, Persistence and Detachment as being the prerequisites for scaling the cliff-face. Each of these three qualities supplements the other two, for they are reflections of the Higher Triad of Atma, Buddhi and Manas—Courage (the “courage of the lion”, Leo rules the Heart) is related to Budhhi. Energies rush into the lower triad when courage is being practiced. They come from the Buddhic plane and enter the lower triad through the Solar Plexus Chakra of the Mental Body and the Heart Chakra of the Astral Body. Reciprocity is via the petals of love into the Egoic Lotus. (1)

Trái tim truyền thống được xem là nơi ngự trị của lòng can đảm. Sau ba mươi năm tranh đấu cam go, ngọt bùi lẫn lộn trên Con Đường, tôi đánh giá Ba phẩm tính: Can Đảm, Kiên Trì và Ly Tham là những điều kiện tiên quyết để chinh phục được vách đá dốc đứng này. Mỗi phẩm tính này hỗ trợ cho hai phẩm tính kia, vì chúng là phản ánh của Tam nguyên Tinh Thần: Atma, Bồ đề và Manas — Can đảm (sự “can đảm của sư tử,” vì dấu hiệu Sư Tử cai quản trái tim) liên hệ đến Bồ đề. Các mãnh lực sẽ dồn xuống Tam phân thấp khi đức can đảm được thực hành. Chúng đến từ cõi Bồ đề và nhập vào Tam phân thấp qua luân xa Tùng Thái Dương của thể Trí và luân xa Tim của thể Cảm xúc. Sự giao hoà được truyền trở lại qua các cánh hoa của tình thương trong Hoa Sen Chân Ngã.

(1) See The Jewel In The Lotus by Douglas Baker, page 199, Baker Publications.

(1) See The Jewel In The Lotus by Douglas Baker, page 199, Baker Publications.

An example of extreme courage affects the observer greatly, and there is a flow of force reciprocally between both. This mirrors almost exactly the forces at play when healing is directed from the Heart Chakra of the healer to the Heart Chakra of the patient. This experience is superbly described in Gerard Manley Hopkins’ sonnet “The Windhover” (2) and again in “The River And The Rope“. (3)

Một ví dụ về lòng can đảm phi thường gây ảnh hưởng lớn lao cho người quan sát, và một dòng mãnh lực sẽ lưu chuyển qua lại giữa cả hai. Điều này phản ánh rất chính xác các mãnh lực vận hành khi chữa lành được hướng từ luân xa Tim của người chữa sang luân xa Tim của bệnh nhân. Trải nghiệm này được mô tả một cách tuyệt vời trong bài sonnet The Windhover của Gerard Manley Hopkins, và thêm một lần nữa trong The River And The Rope.

(2) Ibid.

(2) Ibid.

(3) Meditation, The Theory And Practice by Douglas Baker, page 85, Baker Publications.

(3) Meditation, The Theory And Practice by Douglas Baker, page 85, Baker Publications.

The sensitivity of the whole heart area to impacts of high emotional content has shown itself in a variety of ways. The businessman is notoriously susceptible to coronary thrombosis, and in many instances this stems from his becoming literally the “Heart Centre” of his business organization. It is he that must worry himself over the company policy, the pension scheme, the trade union concerned, sick employees, finance, supplies of raw material, etc. In actual fact, his own Heart Chakra takes up much of the stress and this is transmitted inevitably to the heart tissues and he becomes vulnerable to those conditions which produce heart disease.

Tính nhạy cảm của toàn bộ vùng tim trước các tác động cảm xúc mãnh liệt đã biểu hiện ra theo nhiều cách. Người doanh nhân đặc biệt dễ mắc phải huyết khối động mạch vành, và trong nhiều trường hợp, điều này bắt nguồn từ việc người ấy trở thành trung tâm trái tim thực sự của tổ chức doanh nghiệp mình. Chính người ấy phải lo lắng về chính sách công ty, chế độ hưu trí, công đoàn, nhân viên đau ốm, tài chính, nguồn nguyên liệu, v.v. Thực tế là luân xa Tim của chính người ấy gánh chịu phần lớn áp lực, và điều này tất yếu ảnh hưởng đến các mô tim, khiến người ấy dễ bị các bệnh lý về tim.

At a British Medical Association meeting, an even more historic correlation of the heart’s sensitivity was referred to:-

Tại một hội nghị của Hiệp hội Y khoa Anh, một mối liên hệ còn quan trọng hơn nữa về tính nhạy cảm của tim đã được đề cập:

People do die of broken hearts, more men than women, doctors indicated yesterday. Dr. D. Murray Parkes, research psychiatrist, told a British Medical Association meeting at Bristol about figures which showed a “relationship between bereavement and heart disease.” He said that out of 4,511 men who lost their wives, 214 dies within six months of the bereavement, 77 of them from a coronary thrombosis or from arteriosclerotic disease.

Con người thật sự có thể chết vì trái tim tan vỡ – nam giới nhiều hơn phụ nữ – các bác sĩ cho biết ngày hôm qua. Tiến sĩ D. Murray Parkes, chuyên gia tâm thần học nghiên cứu, đã trình bày tại cuộc họp của Hiệp hội Y khoa Anh ở Bristol về những con số cho thấy một “mối liên hệ giữa tang chế và bệnh tim.” Ông cho biết, trong số 4.511 người đàn ông mất vợ, có 214 người chết trong vòng sáu tháng sau khi vợ mất, trong đó có 77 người chết vì huyết khối động mạch vành hoặc bệnh xơ cứng động mạch.

“This is a fifty per cent increase over the expected number of deaths from these diseases,” Dr. Parkes said. “Perhaps the older physicians were not so far wrong when they said it is possible to die from a broken heart.”

“Đây là mức tăng 50% so với số tử vong dự kiến từ các bệnh này,” Tiến sĩ Parkes nói. “Có lẽ các thầy thuốc xưa không sai khi nói rằng, có thể chết vì trái tim tan vỡ.”

A husband is more affected by losing his wife than a wife by the death of her husband, according to a survey reported by Dr. William Rees of Llanidloes, Montgomery. The risk of a husband dying soon after the death of his wife was five to six times greater than the usual risk of death if the wife had died suddenly.

Một khảo sát khác do Tiến sĩ William Rees ở Llanidloes, Montgomery công bố cũng cho thấy: Rủi ro tử vong của một người chồng sau khi vợ qua đời cao gấp năm đến sáu lần so với nguy cơ tử vong thông thường nếu vợ chết đột ngột.

Daily Express, 13th. July 1967

(Daily Express, 13 tháng 7 năm 1967)

Psoriasis[87]— Bệnh vẩy nến

Karmic Causes—Nguyên nhân Nghiệp Quả

“I was consumed with embarrassment.” “I nearly died on the spot.” These are common phrases used to express the uncomfortable feelings of not infrequent individuals who live lives of great emotional sensitivity, who seem to eternally be discomforted by every situation that develops. This is carried from life to life until it becomes a serious impediment in the Souls aim of ‘personality integration’ as a preliminary to the Path of Initiation.

“Tôi đã bị nỗi xấu hổ thiêu đốt.” “Tôi suýt chết ngay tại chỗ.” Đây là những cụm từ phổ biến được dùng để diễn tả cảm giác khó chịu của những người vốn sống trong sự nhạy cảm cảm xúc cao độ, những người dường như luôn cảm thấy không thoải mái trong mọi tình huống xảy ra. Trạng thái này tiếp tục từ kiếp này sang kiếp khác cho đến khi nó trở thành một chướng ngại nghiêm trọng đối với mục tiêu ‘hợp nhất phàm ngã’ của linh hồn như là bước chuẩn bị cho Con Đường Điểm Đạo.

This condition of life-long embarrassment often characterises a soul’s emergence from a period of recession, of working inwardly at consolidating the subtler vehicles before undertaking a series of incarnations. It may also signal that a change of Soul Ray has recently been accomplished. Thus a First Ray Soul, leading inwardly an extrovert life with perhaps a series of thirty-odd incarnations having predominantly introverted personalities, now changes its qualities. The inner life becomes introverted and the outer personalities must become extroverted.

Trạng thái xấu hổ kéo dài suốt đời này thường đặc trưng cho sự xuất hiện của một linh hồn sau một giai đoạn thu mình lại, làm việc nội tâm để củng cố các thể vi tế trước khi bước vào một chuỗi luân hồi mới. Nó cũng có thể cho thấy rằng một sự thay đổi về Cung của Linh Hồn vừa mới diễn ra. Do đó, một Linh Hồn Cung Một — vốn sống đời sống hướng ngoại bên trong, với khoảng ba mươi kiếp sống có phàm ngã phần lớn là hướng nội — nay đã thay đổi các phẩm chất của mình. Đời sống nội tâm trở nên hướng nội và các phàm ngã bên ngoài phải trở nên hướng ngoại.

Ray Factors—Yếu tố về Cung

An example of this shift of polarity from an introverted personality can be given in terms of Ray equipment. The patient, in the previous life, could have had a First Ray Soul with a Second Ray personality, a Fourth Ray mind and a Second Ray astral body. In this case the physical body would probably have been on the Seventh Ray:-

Một ví dụ về sự chuyển đổi phân cực từ một phàm ngã hướng nội có thể được minh họa dưới dạng trang bị Cung. Trong kiếp sống trước, người bệnh có thể đã có một Linh Hồn Cung Một với phàm ngã Cung Hai, thể trí Cung Bốn và thể cảm xúc Cung Hai. Trong trường hợp này, thể xác có thể thuộc Cung Bảy.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-37.webp

A change of Soul Ray to Ray Two would necessitate a more extrovert personality on a Will Ray in order to balance the Love Ray of the Soul:-

Một sự thay đổi Cung của Linh Hồn sang Cung Hai sẽ đòi hỏi một phàm ngã hướng ngoại hơn thuộc một Cung của Ý Chí nhằm cân bằng với Cung Bác Ái của Linh Hồn.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-38.webp

This transition would be difficult and a few intervening lives with a combination of Rays less harsh and intermediate to these would be helpful, and transition could be effected with more facility. The Sixth Ray, though also a Love Ray, is far more extrovert than the Second Ray:-

Sự chuyển tiếp này sẽ rất khó khăn và một vài kiếp sống xen kẽ với sự kết hợp các Cung ít gay gắt hơn và có tính trung gian sẽ hữu ích, nhờ đó quá trình chuyển đổi có thể được thực hiện dễ dàng hơn. Cung Sáu, dù cũng là một Cung Bác Ái, lại hướng ngoại nhiều hơn rất nhiều so với Cung Hai.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-39.webp

The Third Ray physical body would be a stronger and less sensitive vehicle, capable of supporting the transition Such a process of transition from introvert personalities (and extrovert soul) to extrovert personalities (and introvert soul) would be assisted by a life or two in which psoriasis ensures progress. Thus, movement from A to B is via C:-

Thể xác Cung Ba sẽ là một thể mạnh mẽ và ít nhạy cảm hơn, có khả năng hỗ trợ quá trình chuyển tiếp. Như vậy, quá trình chuyển tiếp từ các phàm ngã hướng nội (với linh hồn hướng ngoại) sang các phàm ngã hướng ngoại (với linh hồn hướng nội) sẽ được hỗ trợ bởi một hoặc hai kiếp sống trong đó bệnh vẩy nến đảm bảo sự tiến bộ. Do đó, chuyển động từ A đến B là thông qua C:

A ––-► B ––-► C

A ––► B ––► C

The change is not effected without some difficulties. Where there is an unwillingness of the personality to conform to the Soul’s Purpose in this respect, i.e., to become outgoing as a personality, psoriasis may manifest out of such a conflict. Usually the life is not completely unbearable. Supporting personalities (as a mother or husband) will be present. The lesions of psoriasis, often present in places which are conspicuous, e.g., the scalp, do attract attention. If the patient can, with his psoriasis, face up to the harsh scrutiny of society for but a single life time, this is usually sufficient to round out the serious defect obstructing personality integration.

Sự thay đổi không diễn ra mà không có một số khó khăn. Khi phàm ngã không sẵn sàng tuân theo Thiên Ý của Linh Hồn trong khía cạnh này, tức là trở thành một phàm ngã hướng ngoại, bệnh vẩy nến có thể biểu lộ do xung đột này. Thông thường, cuộc sống không hoàn toàn không thể chịu đựng được. Những phàm ngã hỗ trợ (như mẹ hoặc chồng) sẽ có mặt. Những tổn thương của bệnh vẩy nến, thường hiện diện ở những nơi dễ thấy như da đầu, sẽ thu hút sự chú ý. Nếu người bệnh có thể, với bệnh vẩy nến, đối diện với sự soi xét khắc nghiệt của xã hội chỉ trong một kiếp sống, điều đó thường là đủ để làm tròn khuyết điểm nghiêm trọng đang cản trở sự hợp nhất phàm ngã.

This karmic explanation is hardly likely to be accepted by the patient as a substitute for treatment or cure, but it may be supportive during those dread periods of exacerbation. The condition should be treated, for even in treatment there is focus of the healer’s attention on the lesions and the personality of the patient, which is therapeutic both at karmic as well as at personality levels. However, it is important to remember that the overcoming of excessive emotional response to life situations is the most important hurdle, not the signs and symptoms of the disease itself. If the patient can achieve calm and poise in a life of psoriasis, he will never be ruffled by the ‘slings and arrows’ of the lives that lie ahead and the ‘outrageous fortune’ that awaits him, for instance, in Scorpio, such as those trials imposed on the hero-initiate/mythological and historical figures like Hercules and Rustum.

Cách lý giải nghiệp quả này khó lòng được người bệnh chấp nhận như một sự thay thế cho việc điều trị hay chữa lành, nhưng nó có thể là một nguồn động viên trong những giai đoạn bùng phát đáng sợ. Tình trạng này nên được điều trị, vì ngay cả trong quá trình điều trị cũng có sự tập trung chú ý của người chữa lành vào các tổn thương và phàm ngã của bệnh nhân, điều này có tác dụng chữa lành cả ở cấp độ nghiệp quả lẫn cấp độ phàm ngã. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là việc vượt qua phản ứng cảm xúc quá mức trước các tình huống sống mới là trở ngại quan trọng nhất, chứ không phải là các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh. Nếu bệnh nhân có thể đạt được sự bình thản và quân bình trong một cuộc sống với bệnh vẩy nến, y sẽ không bao giờ bị khuấy động bởi những “mũi tên và hòn đá” của những kiếp sống sắp tới và “vận mệnh trớ trêu” đang chờ đợi y — chẳng hạn trong dấu hiệu Hổ Cáp — như những thử thách từng được áp đặt lên các hình mẫu điểm đạo đồ hay các nhân vật huyền thoại và lịch sử như Hercules và Rustum.

The karmic factor underlying psoriasis is, therefore, a series of lives which developed extreme emotional sensitivity, a sensitivity deriving its energies from the higher astral sub-planes. This refinement of feeling led to an inordinate sensitivity to everything in the environment—people, places, conditions—which frequently shows as embarrassment in the presence of those who are lacking in emotional sophistication. The disease derives from neo-Atlantean periods when such high emotional sensitivity became possible. It is related to the Solar Plexus Chakra and to that major group of diseases deriving from Atlantis which come under the heading of cancer. These are never contagious, but they are most frequently genetic and inherited.

Yếu tố nghiệp quả nằm sau bệnh vẩy nến, vì thế, là một chuỗi các kiếp sống đã phát triển sự nhạy cảm cảm xúc cực độ, một sự nhạy cảm lấy năng lượng từ các cõi phụ cảm dục cao hơn. Sự tinh luyện của cảm xúc này dẫn đến sự nhạy cảm quá mức với mọi thứ trong môi trường — con người, nơi chốn, hoàn cảnh — điều này thường biểu lộ thành sự xấu hổ khi hiện diện trước những người thiếu sự tinh tế cảm xúc. Căn bệnh này bắt nguồn từ thời kỳ hậu-Atlantis khi loại nhạy cảm cảm xúc cao như vậy trở nên khả thi. Nó liên quan đến Luân Xa Tùng Thái Dương và đến nhóm bệnh lớn có nguồn gốc từ Atlantis, nằm dưới danh mục ung thư. Những bệnh này không bao giờ lây nhiễm, nhưng chúng thường mang tính di truyền và được thừa hưởng.

Care is needed in determining the karmic situation in psoriasis. Only when highly sensitive, emotional beings were being evolved was it possible for the disease to thrive. Atlantean stock with the potential for psoriasis began to be used as vehicles for incarnation, and the reasons for certain souls with many Atlantean qualities choosing such bodies is given above in terms of Ray energies.

Cần có sự cẩn trọng khi xác định tình huống nghiệp quả trong bệnh vẩy nến. Chỉ khi những thực thể cảm xúc nhạy cảm cao được tiến hóa thì bệnh này mới có điều kiện phát triển. Dòng giống Atlantean có tiềm năng mắc bệnh vẩy nến đã bắt đầu được sử dụng làm phương tiện cho sự nhập thể, và lý do khiến một số linh hồn có nhiều phẩm tính Atlantean chọn những thể xác như vậy đã được nêu ở trên theo phương diện các năng lượng Cung.

Treatment—Điều Trị

There is no cure for psoriasis which is inherited through a genetic pattern we understand very poorly. Therapy has been known, however, to keep the skin clear of psoriasis for up to ten months. Each year 8 million Americans spend SI billion on messy and often dangerous therapies. In some, hospitalisation clears the condition only for it to emerge once more on discharge.

Không có phương pháp chữa khỏi bệnh vẩy nến khi nó được di truyền qua một mẫu hình gien mà chúng ta hiểu rất ít. Tuy nhiên, người ta đã biết rằng các liệu pháp có thể giữ cho làn da không có vẩy nến trong thời gian lên đến mười tháng. Mỗi năm có 8 triệu người Mỹ chi một tỷ đô-la cho các liệu pháp bẩn thỉu và thường nguy hiểm. Trong một số trường hợp, việc nhập viện giúp làm sạch tình trạng này, chỉ để nó xuất hiện trở lại sau khi xuất viện.

New and promising methods of treatment are emerging within orthodox medicine, and they are hopeful to the esoteric sufferers because they employ a more natural type of therapy. Recently, attention has been focused on the use of ultraviolet light in conjunction with a powdered weed taken from the banks of the Nile. In ancient days, the material was swallowed by Egyptians who then exposed their bodies to sunlight. It is interesting to remember that ancient Egypt was a colony of Atlantis.

Những phương pháp điều trị mới đầy hứa hẹn đang xuất hiện trong y học chính thống và đem lại hy vọng cho những người bệnh theo quan điểm huyền môn bởi vì chúng sử dụng các liệu pháp có tính tự nhiên hơn. Gần đây, người ta chú ý đến việc sử dụng ánh sáng cực tím kết hợp với một loại thảo dược dạng bột mọc bên bờ sông Nile. Vào thời cổ đại, người Ai Cập từng uống loại dược liệu này rồi phơi mình dưới ánh nắng. Điều thú vị là Ai Cập cổ đại từng là một thuộc địa của Atlantis.

The use of magnetism has been effective as treatment where low intensity fields pulsating at about 256 cycles per second produce remission but, let this be emphasised, no cure. The use of cortisone ointments is now in disfavour because of side-effects, and to this the science of esoteric healing would add its own Amen!

Việc sử dụng từ lực đã cho thấy hiệu quả như một phương pháp điều trị, khi các trường từ cường độ thấp dao động ở khoảng 256 chu kỳ mỗi giây tạo ra sự thuyên giảm, nhưng — cần nhấn mạnh — không phải là chữa khỏi. Việc sử dụng thuốc mỡ cortisone hiện không còn được ưa chuộng do các tác dụng phụ, và về điều này, khoa học trị liệu huyền môn cũng xin nói lời Amen!

In the end, the lesson which the Soul of the psoriasis patient teaches must be learned, or a later life will have to be used up once more in forcing the karmic lesson on the individual. The lesson is very straight forward in terms of Rays—the transfer of energies from the Solar Plexus to the Heart accompanied by extroversion of the personality. The Ray of the personality should change to a Will Ray (First, Third, Fifth or Seventh). The manual of spiritual disciplines, Discipleship In The New Age, (1) gives techniques for achieving such Ray realignments.

Sau cùng, bài học mà Linh Hồn của bệnh nhân vẩy nến dạy phải được học, nếu không thì một kiếp sống tương lai sẽ lại phải bị sử dụng để buộc cá nhân học bài học nghiệp quả đó. Bài học này rất rõ ràng xét theo các Cung — sự chuyển năng lượng từ Tùng Thái Dương đến Tim, kèm theo việc hướng ngoại hoá phàm ngã. Cung của phàm ngã nên được chuyển sang một Cung Ý Chí (Cung Một, Ba, Năm hoặc Bảy). Bộ sách chỉ dẫn về các kỷ luật tâm linh, Discipleship In The New Age (1) đưa ra các kỹ thuật để đạt được những chỉnh hợp Cung như vậy.

(1) Discipleship In The New Age, Vols, I and II, By Alice A. Bailey

(1) Discipleship In The New Age, Tập I và II, Tác giả Alice A. Bailey

In ordinary language this means the development of a personality that faces up to all the demands of ‘living in the world’ as well as maintaining the emotional sensitivity won during Atlantean incarnations. Preciseness in everything embarked upon, accurateness in detail, completion of tasks, mental polarisation of consciousness, and right human relationships are the keynotes for those 75,000,000 afflicted with psoriasis on this planet. All other therapy should be applied with these factors as governing consideration.

Nói theo ngôn ngữ thông thường, điều này có nghĩa là phát triển một phàm ngã có thể đối diện với mọi yêu cầu của “sống trong thế gian” trong khi vẫn duy trì được sự nhạy cảm cảm xúc đã đạt được trong các kiếp sống tại Atlantis. Tính chuẩn xác trong mọi công việc được bắt đầu, chính xác trong từng chi tiết, hoàn tất các nhiệm vụ, phân cực trí tuệ trong tâm thức và các mối quan hệ đúng đắn với nhân loại là những đặc điểm chủ chốt đối với 75 triệu người đang mắc bệnh vẩy nến trên hành tinh này. Mọi phương pháp trị liệu khác nên được áp dụng với những yếu tố này là căn bản hướng dẫn.

A variety of treatments within the bounds of ‘natural therapy’ can alleviate the worst symptoms of psoriasis, including homoeopathy, biochemics and diet. Far more important, however, is the encouragement that can be given to the patient through the karmic explanation for the condition, as outlined above. This will help to lift the patient’s attitude to the level of the mental plane and prevent over-energisation of the Solar Plexus Chakra, which lies at the root of the psoriatic exacerbations[88].

Nhiều phương pháp điều trị khác nhau trong phạm vi “liệu pháp tự nhiên” có thể giúp làm giảm bớt các triệu chứng nghiêm trọng nhất của bệnh vẩy nến, bao gồm vi lượng đồng căn, hóa sinh và chế độ ăn uống. Tuy nhiên, quan trọng hơn nhiều là sự khích lệ có thể được mang đến cho bệnh nhân thông qua lời giải thích nghiệp quả cho tình trạng này như đã nêu ở trên. Điều này sẽ giúp nâng cao thái độ của bệnh nhân lên cấp độ cõi trí và ngăn chặn sự quá kích hoạt của Luân Xa Tùng Thái Dương — nguyên nhân nằm sau những đợt bùng phát nghiêm trọng của bệnh vẩy nến.

Chakras

During the periods of exacerbation treatment should be directed towards drawing off energy from the Solar Plexus Chakra. This can be done by suggesting to the patient methods of transmutation of energy of that region to the Heart Chakra, the normal disciplines of Yoga involved here being: not selfish love, but selfless love: harmlessness in thought, word and deed: not attachment but detachment towards pain, the attitude of others, the demands of the marriage partner, the psoriasis lesions, etc.

Trong các giai đoạn bùng phát, việc điều trị nên hướng đến việc rút bớt năng lượng khỏi Luân Xa Tùng Thái Dương. Điều này có thể được thực hiện bằng cách gợi ý cho bệnh nhân các phương pháp chuyển hoá năng lượng từ vùng này lên Luân Xa Tim. Những kỷ luật Yoga thông thường liên quan ở đây bao gồm: không phải tình yêu vị kỷ, mà là tình yêu vô kỷ; vô tổn hại trong tư tưởng, lời nói và hành động; không chấp trước mà là buông xả đối với nỗi đau, thái độ của người khác, những đòi hỏi từ người phối ngẫu, các tổn thương do vẩy nến, v.v.

During remissions[89], treatment should be maintained because the disease is still there. Now there should be direction of healing energy from Head Chakra to Head Chakra. The strengthening of the patient’s will, his initiative, his capacity not only to start but to finish projects, his confidence, etc., can be enhanced by this energy transfer. The evoking of the Will instead of the strengthening of the emotions will make each attack thereafter less important in the eyes of the patient. The karmic problem will be slowly but surely resolved, and the patient will be fulfilling the Soul’s Purpose.

Trong các giai đoạn thuyên giảm, việc điều trị vẫn nên được duy trì vì căn bệnh vẫn còn đó. Khi ấy, nên hướng năng lượng chữa lành từ Luân Xa Đầu của người chữa lành đến Luân Xa Đầu của bệnh nhân. Việc tăng cường ý chí của bệnh nhân, sáng kiến của y, khả năng không chỉ bắt đầu mà còn hoàn tất các dự án, sự tự tin của y, v.v., có thể được nâng cao nhờ sự chuyển giao năng lượng này. Việc khơi dậy Ý Chí thay vì tăng cường cảm xúc sẽ khiến mỗi đợt phát bệnh về sau trở nên kém quan trọng hơn trong con mắt của bệnh nhân. Vấn đề nghiệp quả sẽ được giải quyết từ từ nhưng chắc chắn, và bệnh nhân sẽ đang thực hiện Thiên Ý của Linh Hồn.

Head Chakra (of Healer) —► Head Chakra (of Patient) =

Luân Xa Đầu (của Người chữa lành) —► Luân Xa Đầu (của Bệnh nhân) =

Extroversion of Patient = Soul’s Purpose —► Remission of Psoriasis

Hướng ngoại hóa Bệnh nhân = Mục đích của Linh Hồn —► Sự Thuyên giảm của Bệnh vẩy nến

Prevention of Colds in the Head—Ngăn ngừa cảm lạnh ở đầu

Whilst we all await eagerly a cure for the common cold, it is helpful to know how to avoid infection of the upper respiratory tract. Not all the advice given here is practicable, but it does give valuable suggestions and guidelines for how to keep free of head colds.

Trong Khi Chúng Ta Đều Đang Mong Đợi Một Phương Thuốc Chữa Cảm Lạnh Thông Thường, việc biết cách tránh nhiễm trùng đường hô hấp trên sẽ rất hữu ích. Không phải mọi lời khuyên dưới đây đều có thể thực hiện được trong thực tế, nhưng chúng cung cấp những gợi ý và chỉ dẫn giá trị về cách giữ gìn sức khỏe khỏi các cơn cảm lạnh đầu.

We should first remember that an enormous amount of heat is lost through radiation from the exposed head, of perhaps as much as thirty per cent of all body head produced. This may even increase in unusual circumstances, like exercise or when the surface arteries are dilated by hot baths, radiators, etc. For the esotericist, there is also dilation of superficial arteries in the head as a result of meditation. Whilst diversion of blood to the skin and scalp surface may cause increased loss of heat, at the same time this increased flow of blood to the surface area of the head is usually at the expense of deeper organs, especially the throat, palate, sinuses and nasopharynx, just at the time when cold air is suddenly inhaled. This means that those surface areas deep within the nose and throat are deprived of oxygen, warmth and vitality at the very moment that cold air plus atmospheric bacteria and viruses are being inhaled. This increases their vulnerability. Therefore, do not go out in the cold after a hot bath. If the Swedes can plunge into a tank of freezing water after a hot sauna bath, it is because they have done it for years and their vascular systems are suitably attuned. We can in some measure copy them, which brings me to a valuable hint.

Trước hết, chúng ta cần nhớ rằng một lượng nhiệt rất lớn bị mất đi thông qua sự bức xạ từ phần đầu để trần — có thể lên đến ba mươi phần trăm tổng lượng nhiệt cơ thể tạo ra. Lượng này có thể tăng thêm trong những hoàn cảnh bất thường như khi vận động hoặc khi các động mạch bề mặt bị giãn ra do tắm nước nóng, máy sưởi, v.v. Đối với người theo huyền môn, còn có sự giãn nở các động mạch nông ở đầu do kết quả của tham thiền. Trong khi sự phân phối máu đến da và da đầu có thể làm tăng sự mất nhiệt, đồng thời điều này cũng khiến lưu lượng máu chảy về bề mặt đầu tăng lên lại thường làm giảm lượng máu đến các cơ quan sâu hơn, đặc biệt là cổ họng, vòm miệng, xoang và vòm họng sau — đúng lúc không khí lạnh được hít vào đột ngột. Điều này có nghĩa là các vùng bề mặt sâu bên trong mũi và họng bị thiếu hụt oxy, hơi ấm và sinh lực ngay tại thời điểm không khí lạnh kèm vi khuẩn và virus trong không khí được hít vào. Điều đó làm tăng tính dễ tổn thương của chúng. Vì thế, đừng ra ngoài trời lạnh sau khi tắm nước nóng. Người Thụy Điển có thể nhảy vào bể nước lạnh sau khi tắm hơi nóng là vì họ đã làm điều đó trong nhiều năm và hệ thống mạch máu của họ đã thích nghi tốt. Chúng ta có thể phần nào bắt chước họ, điều này dẫn đến một mẹo nhỏ hữu ích.

Whenever you can, put your head under the cold water tap or shower for some minutes; then dry it vigorously. Be sure never to have your bath too hot or too cold, both are equally disturbing not only to structures described above, but to more sensitive organs like the vagus nerve, which have important esoteric functions for Man on the Path. I remember as a child finding it almost impossible to paddle in cold water at the seaside. I experienced pain which radiated up into the jaw and teeth. It was only when I began the study of medicine that I understood this pain to be the result of reduction of blood supply to the heart region—a vaso-vagal reaction to cold water. When the weather is cold outside, I always rest for twenty minutes under blankets after a hot bath.

Bất cứ khi nào có thể, hãy đưa đầu của bạn vào nước lạnh từ vòi hay vòi sen trong vài phút, rồi lau khô thật mạnh. Hãy chắc chắn không bao giờ để nước tắm quá nóng hoặc quá lạnh, vì cả hai đều gây rối loạn như nhau không chỉ với các cấu trúc đã mô tả ở trên mà còn với các cơ quan nhạy cảm hơn như dây thần kinh phế vị, vốn có các chức năng huyền môn quan trọng đối với Con Người trên Đường Đạo. Tôi nhớ khi còn nhỏ, tôi gần như không thể dẫm chân xuống nước lạnh ở bãi biển. Tôi cảm thấy đau lan lên hàm và răng. Chỉ khi bắt đầu học y khoa, tôi mới hiểu rằng cơn đau đó là kết quả của việc giảm lưu lượng máu đến vùng tim — một phản ứng thần kinh-phế vị với nước lạnh. Khi trời lạnh, tôi luôn nghỉ ngơi dưới chăn trong hai mươi phút sau khi tắm nước nóng.

Don’t sleep in a confined room, especially if you are not alone. A room that is not ventilated is one in which you will continually exchange air that has been breathed in by others in the room. Everyone has his own preference for the temperature of the bedroom. Usually it is two or three degrees below that of the lounge. The generally accepted temperature for living rooms, offices, etc., is about 18 degrees Centigrade. Whatever it is, the temperature should be kept even. A hot bedroom can affect a sensitive thyroid gland; a cold bedroom can lead to head colds and asthma.

Đừng ngủ trong một căn phòng kín, đặc biệt nếu bạn không ở một mình. Một căn phòng không được thông gió là nơi bạn sẽ liên tục hít vào không khí đã được người khác trong phòng thở ra. Mỗi người đều có sở thích riêng về nhiệt độ phòng ngủ. Thông thường, nó thấp hơn từ hai đến ba độ so với phòng khách. Nhiệt độ được chấp nhận chung cho các phòng sinh hoạt, văn phòng, v.v., là khoảng 18 độ C. Dù nhiệt độ là bao nhiêu, nó cần được giữ ổn định. Phòng ngủ quá nóng có thể ảnh hưởng đến tuyến giáp nhạy cảm; phòng ngủ quá lạnh có thể dẫn đến cảm lạnh đầu và hen suyễn.

If you are prone to head colds, then avoid emotional involvements; avoid family rows, worry and anxiety. If you become an emotional wastepaper basket for other people’s excess, you will soon be receptive to their bacteria and viruses as well. Cultivate poise and detachment; avoid people who live a life of emotional brinkmanship, i.e., who constantly issue threats, directly or by implication.

Nếu bạn dễ bị cảm lạnh đầu, hãy tránh những rối loạn cảm xúc; tránh cãi vã gia đình, lo lắng và bất an. Nếu bạn trở thành “thùng rác cảm xúc” cho cảm xúc dư thừa của người khác, bạn cũng sẽ nhanh chóng dễ bị nhiễm vi khuẩn và virus từ họ. Hãy nuôi dưỡng sự bình thản và buông xả; tránh xa những người sống với phong cách cảm xúc cận kề bờ vực — tức là những người luôn phát ra những lời đe dọa, dù trực tiếp hay ngụ ý.

Practise the ‘bellows breath’, (l) a breathing exercise which not only wards off head colds and sinusitis, but strengthens the heart (via the vagus nerve) and regenerates, even as you do the breathing, the etheric body which is always more sensitive to the viral attack of the common cold than the grosser physical structures.

Hãy thực hành ‘hơi thở ống bễ’ (1), một bài tập hô hấp không những giúp phòng ngừa cảm lạnh đầu và viêm xoang, mà còn làm mạnh tim (qua dây thần kinh phế vị) và tái tạo, ngay trong lúc bạn đang thở, thể dĩ thái — vốn luôn nhạy cảm hơn với sự tấn công của virus cảm lạnh thông thường so với các cấu trúc vật lý thô trọng.

Learn to detect the earliest signs of an infection. Sometimes, if you are developing the sort of sensitivity that comes with esoteric disciplines, you will experience, for instance, itchiness in the soft palate which makes you want to rub it with the surface of your tongue. It is here, where fibers of the vagus nerve supply this region and the uvula, that this psychic aerial can warn you of an impending head cold. If a small dose of penicillin or even a homoeopathic remedy, like Arnica, is taken at that time, it can abort the bacterial attack.

Hãy học cách phát hiện những dấu hiệu sớm nhất của một sự nhiễm trùng. Đôi khi, nếu bạn đang phát triển loại nhạy cảm đi kèm với các kỷ luật huyền môn, bạn sẽ cảm thấy, chẳng hạn, ngứa ở vòm miệng mềm khiến bạn muốn chà xát nó bằng lưỡi. Chính tại đây — nơi các sợi của dây thần kinh phế vị cung cấp cho vùng này và lưỡi gà — mà “ăng-ten tâm linh” này có thể cảnh báo bạn về một cơn cảm lạnh đầu sắp xảy ra. Nếu vào thời điểm đó bạn dùng một liều nhỏ penicillin hoặc một phương thuốc vi lượng đồng căn như Arnica, có thể ngăn chặn cuộc tấn công của vi khuẩn.

(1) See Meditation, The Theory and Practice by Dr. Douglas Baker, Baker Publications

(1) Xem Meditation, The Theory and Practice của Tiến sĩ Douglas Baker, Baker Publications

The use of sea water drawn up through the nostrils is a favourite Zulu nostrum for dealing with upper respiratory infection. A little salt water is put into the palm of the right hand and drawn up through both nostrils at the same time. It feels a little unpleasant at first but this soon passes if it is done each morning with the ablutions. Gargling with salt water is very beneficial to those who have to do a lot of speaking (in this respect, see “Carbonated Water” elsewhere in this work).

Việc sử dụng nước biển hít qua lỗ mũi là một phương thuốc truyền thống ưa thích của người Zulu để điều trị nhiễm trùng đường hô hấp trên. Một ít nước muối được đổ vào lòng bàn tay phải và hít lên cùng lúc qua cả hai lỗ mũi. Ban đầu cảm giác hơi khó chịu nhưng nếu thực hiện mỗi sáng cùng với việc rửa mặt thì cảm giác này sẽ nhanh chóng biến mất. Súc miệng với nước muối rất có lợi cho những người phải nói nhiều (về vấn đề này, xem phần “Nước có gas” ở nơi khác trong tài liệu này).

If you suffer from a drying out of the nasal mucus membrane, either through living in a dry climate or through mild infection, then the salt solution should be strengthened. An isotonic solution of salt is nine per cent sodium chloride. If the concentration of salt is doubled, then osmosis will occur when the solution is brought into contact with body cells. There will be a flow of liquid from the cells into the salt water. Using such a solution drawn up through the nostrils only once, will promote a flow of cellular fluid from nasal mucus membrane and will tend to reduce any engorgement there which tends to obstruct nostril breathing.

Nếu bạn bị khô màng nhầy mũi — do sống trong khí hậu khô hoặc nhiễm trùng nhẹ — thì dung dịch muối nên được pha đặc hơn. Một dung dịch muối đẳng trương là 9% natri chloride. Nếu nồng độ muối được nhân đôi, thì hiện tượng thẩm thấu sẽ xảy ra khi dung dịch tiếp xúc với các tế bào cơ thể. Sẽ có dòng chất lỏng di chuyển từ các tế bào ra ngoài dung dịch muối. Sử dụng một dung dịch như vậy và hít vào qua mũi chỉ một lần sẽ kích thích dòng dịch tế bào từ màng nhầy mũi chảy ra, đồng thời giúp làm giảm sự sung huyết vốn cản trở việc hô hấp qua mũi.

One Hundred Years Exposure To Electricity— Một Trăm Năm Phơi Nhiễm Với Điện

The Effects On ManẢnh Hưởng Đối Với Con Người

Man has become exposed increasingly to electricity in the last one hundred years. The time has come when the effects of such exposure can be adequately assessed and commented on by a Master of the Wisdom who has lived both as a mortal and as an Adept during that century.

Con người ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với điện trong một trăm năm qua. Giờ đây đã đến lúc những ảnh hưởng của sự tiếp xúc này có thể được đánh giá một cách đầy đủ và bình luận bởi một Chân sư Minh Triết, người đã sống như một phàm nhân và như một Chân Sư trong suốt thế kỷ đó.

That electricity and electric light will produce effects is inevitable since most of its manifestations arise from etheric levels where Man is most sensitive. Electric light and some of our more sophisticated modern devices, like television, are producing changes in the retina of the eye. These are anatomical effects which will lead to the ability in perfectly normal, non-clairvoyant individuals to perceive the etheric body and etheric phenomena of the higher physical planes normally barred to ordinary vision. The discovery and use of etheric vitamins will hasten this process. The energy changes which accompany death will become, for example, a phenomenon seen by increasing numbers, and this combined with the development of more sensitive photographic plates capable of registering astral phenomena, will herald[90] acceptance that death is a transitional process in which consciousness, though somewhat changed, survives.

Việc điện và ánh sáng điện tạo ra ảnh hưởng là điều không thể tránh khỏi, vì phần lớn các biểu lộ của nó phát sinh từ các tầng dĩ thái nơi con người nhạy cảm nhất. Ánh sáng điện và một số thiết bị hiện đại tinh vi hơn như truyền hình đang tạo ra những thay đổi trong võng mạc của mắt. Đây là những ảnh hưởng mang tính giải phẫu, sẽ dẫn đến khả năng nơi những người hoàn toàn bình thường, không có khả năng thông nhãn, có thể nhận thấy thể dĩ thái và các hiện tượng dĩ thái của các cõi hồng trần cao hơn — những điều vốn bị ngăn cản đối với thị giác thông thường. Việc phát hiện và sử dụng các loại sinh tố dĩ thái sẽ thúc đẩy tiến trình này. Những thay đổi năng lượng đi kèm với cái chết sẽ trở thành một hiện tượng được ngày càng nhiều người chứng kiến, và điều này, kết hợp với sự phát triển của các tấm phim nhạy hơn có khả năng ghi nhận các hiện tượng cảm dục, sẽ mở đường cho sự chấp nhận rằng cái chết là một tiến trình chuyển tiếp, trong đó tâm thức — dù có thay đổi đôi chút — vẫn tiếp tục tồn tại.

One hundred years in close contact with electricity has stimulated increase in the size of the human physical body. The mechanism has acted via the etheric body which acts as a matrix to the gas, liquid and solid structures. Man’s outer vehicle has changed in this way before, not through exposure to electricity but due to the proximity of the Moon and its gravitational field. In earlier days, the Moon was much closer to the Earth and men were giants. The Moon, brought back to such close proximity today, would make most seaports uninhabitable; tides would be tremendous; alterations normal to the shrinking of the Earth’s crust would be exaggerated through earthquakes. The earlier races of Man, which included the Titans, were immense. The discoveries in China of huge, human-like jawbones with intact, equally massive molars, testify to these earlier lunar effects.

Một trăm năm tiếp xúc gần gũi với điện đã kích thích sự gia tăng kích thước của thể xác con người. Cơ chế này hoạt động thông qua thể dĩ thái, vốn đóng vai trò khuôn mẫu cho các cấu trúc khí, lỏng và rắn. Thể ngoài của con người đã từng thay đổi theo cách này trước kia, không phải do tiếp xúc với điện, mà là do sự gần gũi với Mặt Trăng và trường hấp dẫn của nó. Trong thời kỳ xa xưa, Mặt Trăng gần Trái Đất hơn rất nhiều và loài người khi ấy là những người khổng lồ. Nếu Mặt Trăng được đưa trở lại gần như vậy ngày nay, phần lớn các hải cảng sẽ không thể ở được; thuỷ triều sẽ trở nên khổng lồ; những biến đổi vốn là bình thường do sự co rút của vỏ Trái Đất sẽ bị phóng đại bởi các trận động đất. Các giống dân thời kỳ đầu của nhân loại, bao gồm cả các Titan, có kích thước rất lớn. Những khám phá ở Trung Quốc về các xương hàm khổng lồ giống người cùng với các răng hàm lớn tương ứng còn nguyên vẹn là minh chứng cho những ảnh hưởng của Mặt Trăng trong thời kỳ đó.

The increase in bulk of modern Man’s physical body has been accelerated by his contact with electricity and has emphasised the same growth effects exercised on him by better nutrition. Unfortunately, as students of the esoteric sciences would expect, the process has not been confined to the physical vehicle alone. There have been even more marked effects on Man’s etheric body. The etheric counterpart of the human spinal cord contains three narrow tracts up which certain fires, originating at the Base of the Spine, circulate. Their unimpeded flow assures the spiritual growth of the individual, the opening of chakras above the diaphragm and a physical body sufficiently subtle to express the soul’s purpose.

Sự gia tăng khối lượng của thể xác con người hiện đại đã được đẩy nhanh bởi sự tiếp xúc với điện và cũng làm nổi bật những tác động tương tự đã được thể hiện qua dinh dưỡng tốt hơn. Đáng tiếc thay, như các sinh viên của các khoa học huyền môn sẽ dự đoán, tiến trình này không chỉ giới hạn ở thể xác. Thể dĩ thái của con người đã bị ảnh hưởng rõ rệt hơn nữa. Bản sao dĩ thái của tuỷ sống con người chứa ba ống dẫn hẹp mà qua đó những ngọn lửa nhất định, khởi phát từ Đáy Cột Sống, lưu thông. Dòng chảy không bị cản trở của các ngọn lửa này đảm bảo sự phát triển tinh thần của cá nhân, sự khai mở các luân xa phía trên cơ hoành và một thể xác đủ tinh tế để biểu lộ mục đích của linh hồn.

Exposure to electricity tends to narrow these pathways, making circulation of the fires more difficult. The effect has been to make spiritual expression harder for Man, especially in the West where exposure is greatest. The supposed luxury of the electric blanket in Winter and the electric fan in Summer have, for instance, not only eaten away at Man’s previous independence of such foppery, but have served to entrench him further in his materialistic setting. The same effects produced here by innocent exposure to the electrical emissions of endless devices has the same effect as that produced by corrupt practices like smoking, alcoholic indulgence, etc., practices which are bad because of their occult implications, rather than anything moral. Pollution of the etherico-physical body, whether through close proximity to electricity sources or through other abuses, leads to the narrowing of these important tracts.

Sự tiếp xúc với điện có xu hướng làm hẹp các ống dẫn này, khiến dòng lưu thông của các ngọn lửa trở nên khó khăn hơn. Hệ quả là việc biểu lộ tinh thần trở nên khó khăn hơn đối với con người, đặc biệt là ở phương Tây, nơi có mức độ tiếp xúc cao nhất. Những tiện nghi tưởng chừng xa xỉ như chăn điện vào mùa Đông và quạt điện vào mùa Hè, chẳng hạn, không chỉ làm mất đi sự độc lập vốn có của con người trước những thứ xa hoa như vậy, mà còn khiến con người bám chặt hơn vào môi trường vật chất của mình. Những ảnh hưởng tương tự do sự tiếp xúc vô tội với các bức xạ điện từ của vô số thiết bị cũng gây ra hiệu quả tương đương với những hành vi sa đoạ như hút thuốc, nghiện rượu, v.v…, những hành vi này bị coi là tiêu cực không phải vì lý do đạo đức mà vì những hàm ý huyền môn của chúng. Sự ô nhiễm nơi thể etherico-vật lý — dù do ở gần các nguồn điện hay do các lạm dụng khác — đều dẫn đến sự thu hẹp của những ống dẫn quan trọng này.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-40.webp

Image below: Force Field Around The Heart.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-41.webp

The immediate effects on the astral body would be an enhancement of the emotional drives and appetites that emanate from chakras below the diaphragm. The present preoccupation with sexual matters of modern and not-so-modern youth, is not just an illusion. It arises, in part, through exposure to electricity. The personalities of sensitive people, even those oriented towards the soul by virtue of spiritual status earned in previous lives, are hard pressed and frequently exhausted in trying to deal with these drives. These effects have never been produced in this way before, and the Masters of the Wisdom are watching the situation carefully, aware of its grave implications for which there is no precedent.

Ảnh hưởng tức thời lên thể cảm xúc sẽ là sự gia tăng các thúc đẩy và ham muốn mang tính cảm dục, xuất phát từ các luân xa nằm dưới cơ hoành. Việc giới trẻ hiện đại và cả không quá hiện đại bị cuốn vào các vấn đề tình dục không phải là một ảo tưởng. Một phần nguyên nhân xuất phát từ sự tiếp xúc với điện. Nhân cách của những người nhạy cảm, kể cả những người đã hướng về linh hồn nhờ vào địa vị tâm linh đạt được trong các kiếp sống trước, thường bị dồn ép và kiệt sức trong nỗ lực đối phó với các thúc đẩy này. Những ảnh hưởng như vậy chưa từng xuất hiện theo cách này trước đây, và các Chân sư Minh Triết đang theo dõi tình hình một cách cẩn trọng, nhận thức rõ các hệ quả nghiêm trọng của nó — những điều chưa từng có tiền lệ.

This is one of the many reasons why the West must evolve its own Yoga, its own sciences of spiritual unfoldment, because conditions exist in the Occident which are peculiar to it and these idiosyncrasies have to be countered by spiritual disciplines which are appropriate to them. India cannot provide a panacea for the spiritual problems peculiar to the Western environment, but the new Yoga, fashioned in the West by Westerners, can and ultimately will.

Đây là một trong nhiều lý do vì sao phương Tây phải phát triển một hệ thống Yoga của riêng mình, một nền khoa học khai mở tâm linh đặc thù, bởi vì những điều kiện tồn tại ở phương Tây là những điều kiện riêng biệt, và các đặc tính dị biệt đó cần được hóa giải bằng các kỷ luật tâm linh phù hợp với chúng. Ấn Độ không thể cung cấp một phương thuốc toàn năng cho những vấn đề tâm linh riêng biệt của môi trường phương Tây, nhưng một hệ thống Yoga mới, được hình thành tại phương Tây bởi chính những người phương Tây, có thể và cuối cùng sẽ làm được điều đó.

It should never be forgotten that Man’s bodies, at all levels, are composed of electrical fields, themselves susceptible to electrical fields imposed upon them by the environment. The two most vital organs, the brain and heart, are veritable vortices of electrical activity (see last diagram). The beating heart may be regarded as an electrical generator immersed in a conducting medium (the body fluids). Leads from the heart measure its electrical activity. In the same way, the electrical activity of the brain can be measured. Alterations to electrical-magnetic patterns in either organ can be diagnostic of disease.

Không bao giờ nên quên rằng các thể của con người, ở mọi cấp độ, đều được cấu thành từ các trường điện, và các trường này lại chịu ảnh hưởng bởi các trường điện từ được áp đặt từ môi trường xung quanh. Hai cơ quan quan trọng nhất — bộ não và trái tim — thực chất là những xoáy lốc của hoạt động điện (xem sơ đồ cuối cùng). Trái tim đang đập có thể được xem như một máy phát điện chìm trong một môi trường dẫn điện (các dịch thể của cơ thể). Các dây dẫn nối từ tim đo lường hoạt động điện của nó. Tương tự, hoạt động điện của não cũng có thể được đo. Những thay đổi trong các mẫu điện-từ ở bất kỳ cơ quan nào đều có thể dùng để chẩn đoán bệnh.

It is interesting that the anchorage of the two sutratmas are in these organs. The life Force is anchored in the heart, and the sutratma bearing consciousness is anchored in the third ventricle of the brain.

Thật thú vị khi biết rằng điểm neo của hai sợi dây (sutratma) nằm ở hai cơ quan này. Sinh lực được neo vào nơi trái tim, và sợi dây mang tâm thức được neo vào não thất thứ ba.

The impact of emotional drives aggravated through the narrowing of the spinal tracts upon the more refined urges emanating from chakras in the thoracic region, inevitably meet headlong at the diaphragm. The disciple often feels elements of panic, especially in confined spaces, or when he feels that he is surrounded by a materialistic setting, a crowded shopping precinct, a noisy restaurant, banal television programs, beat music or radio, etc. He experiences a phrenic[91] (I choose my words with care) urge to be free of it all, to go into the ‘alone’ and breathe deeply of spiritual airs, to be freed from the narrowing effects of material things: “Drink deep or taste not the Pierian spring. A little knowledge is a dangerous thing.”

Sự va chạm giữa các thúc đẩy cảm xúc — bị gia tăng do sự thu hẹp của các ống dẫn trong cột sống — với các xung lực tinh tế hơn phát ra từ các luân xa ở vùng ngực, tất yếu gặp nhau dữ dội tại cơ hoành. Người đệ tử thường cảm thấy những yếu tố hoảng loạn, đặc biệt khi ở trong không gian kín hoặc khi y cảm thấy mình bị bao vây bởi một môi trường vật chất — như một khu mua sắm đông đúc, một nhà hàng ồn ào, các chương trình truyền hình vô bổ, nhạc beat hay đài phát thanh, v.v… Y trải nghiệm một thúc đẩy phrenic (tôi chọn từ này một cách cẩn trọng) để thoát khỏi tất cả những điều đó, để được bước vào trạng thái ‘một mình’, để hít thở sâu làn khí tâm linh, để được giải thoát khỏi những ảnh hưởng gây co hẹp của các điều kiện vật chất: “Hãy uống thật sâu hoặc chớ nếm thử suối nguồn Pieria. Một chút tri thức là điều nguy hiểm.”

It is through knowledge of the hidden forces of nature, the hidden springs of life, as well as the grossening forces of electrical exposure, that brings discrimination and independence from disease.

Chính nhờ hiểu biết về các mãnh lực ẩn tàng của thiên nhiên, các suối nguồn ẩn giấu của sự sống, cũng như các mãnh lực làm thô trược do tiếp xúc điện, mà con người có thể phát triển khả năng phân biện và sự độc lập khỏi bệnh tật.

It is more difficult to trace the subtler effects of electrical exposure. There is hyperalgesia[92], a growing sensitivity to pain. This phenomenon is experienced even by domesticated animals. There is lowering of the will-to-be as it expresses itself in human individuality. People in the West are doing things increasingly mechanically. This is fortunate in some respects because of the increasing complexity of the environment. We no longer remember switching on the light as we go into a room, or when and where to brake as we drive our automobiles, but there are insidious side-effects of living an increasingly automated life. We prefer to type a letter rather than to write it; to accept an opinion than to voice our own; to eat what is put in front of us; to accept what we read in newspapers or hear on radios. In truth, this is part of the system but, insidiously, it is partly due to the effects of exposure to electricity.

Khó hơn để lần ra các ảnh hưởng vi tế hơn của sự tiếp xúc điện. Có hiện tượng tăng cảm đau — một sự nhạy cảm với đau đớn ngày càng tăng. Hiện tượng này thậm chí cũng được trải nghiệm bởi các loài vật đã được thuần hoá. Có sự suy giảm của ý chí sống khi nó biểu hiện qua cá tính nhân loại. Con người phương Tây ngày càng hành động một cách máy móc. Điều này, ở một số mặt, là điều may mắn vì môi trường sống ngày càng phức tạp. Chúng ta không còn nhớ việc bật đèn khi bước vào phòng, hay lúc nào và ở đâu cần đạp phanh khi lái xe — nhưng có những hệ quả tiềm ẩn của việc sống một đời sống ngày càng tự động hoá. Chúng ta thích đánh máy một lá thư hơn là viết tay; chấp nhận một ý kiến hơn là bày tỏ quan điểm riêng; ăn những gì được bày sẵn trước mặt; tin vào những gì báo chí viết hoặc radio phát thanh. Thật ra, đó là một phần của hệ thống, nhưng một cách âm thầm, điều này cũng phần nào bắt nguồn từ ảnh hưởng của sự tiếp xúc điện.

Independence is a prime requisite for Man treading the Path and, more especially, if he is engaged in esoteric healing. Emerson knew well the importance of it:-

Tính độc lập là điều kiện tiên quyết cho người bước trên Thánh đạo, và đặc biệt hơn nữa nếu y đang hành xử trong lĩnh vực trị liệu huyền môn. Emerson đã hiểu rõ tầm quan trọng của điều này:

We want men and women who shall renovate life and our social state, but we see that most natures are insolvent; cannot satisfy their own wants, have an ambition out of all proportion to their practical force, and do so lean and beg, day and night, continually. Our housekeeping is mendicant; our arts, our occupations, our marriages, our religion, we have not chosen, but society has chosen for us. We are parlour soldiers. The rugged battle of fate where strength is born, we shun.

“Chúng ta cần những người nam và nữ có thể làm sống lại đời sống và xã hội của chúng ta, nhưng chúng ta thấy rằng phần lớn bản chất con người là khánh tận; không thể tự đáp ứng những nhu cầu của chính mình, có những tham vọng vượt quá sức mạnh thực tế, và vì thế cứ phải cầu cạnh, ngày đêm, không ngừng. Cách chúng ta tổ chức cuộc sống thật ăn xin; nghệ thuật, nghề nghiệp, hôn nhân, tôn giáo của chúng ta — không phải do chúng ta chọn lựa, mà là do xã hội chọn cho. Chúng ta là những chiến binh nơi phòng khách. Trận chiến cam go của định mệnh — nơi sinh ra sức mạnh — thì chúng ta né tránh.

If our young men miscarry in their first enterprise, they lose all heart. If the young merchant fails, men say he is ruined. If the finest genius studies at one of our colleges, and is not installed in office, it seems to his friends and to himself he is right in complaining the rest of his life. A sturdy lad… who in turn tries all the professions, who teams it, farms, it, peddles, keeps a school, preaches, edits a newspaper, goes to congress, buys a township, and so forth, in successive years, and always, like a cat, falls on his feet is worth a hundred of these city dolls. He has not one, but a hundred chances.

Nếu người thanh niên thất bại trong lần khởi nghiệp đầu tiên, y mất hết nhuệ khí. Nếu người thương nhân trẻ tuổi phá sản, người ta nói y đã tiêu tan. Nếu thiên tài rạng ngời theo học tại một trong những đại học của chúng ta mà không được bổ nhiệm vào chức vụ nào, thì dường như với y và bạn bè, y có quyền than vãn cả phần đời còn lại. Một chàng trai cứng cỏi… người từng thử qua mọi nghề, từ làm xe tải, canh tác, buôn bán, dạy học, giảng đạo, biên tập báo, làm chính trị, mua đất đai, v.v… qua từng năm, và luôn như mèo, rơi xuống đất bằng bốn chân — người ấy giá trị gấp trăm lần những búp bê phố thị kia. Người ấy không chỉ có một, mà cả trăm cơ hội.

Regret calamities if you can thereby help the sufferer; if not, attend your own work, and already the evil begins to be repaired. Our sympathy is just as base. We comfort them who weep foolishly, and sit down and cry for company, instead of imparting to them truth and health in rough electric shocks, putting them once more in communication with the soul. Welcome ever more to gods and men is the self-helping man. For him all doors are flung open.

Hãy tiếc thương những tai ương nếu nhờ đó bạn có thể giúp đỡ kẻ đau khổ; nếu không, hãy làm phần việc của bạn, và cái ác đã bắt đầu được chữa lành. Sự cảm thông của chúng ta cũng thấp kém như vậy. Chúng ta an ủi kẻ than khóc một cách dại khờ, và ngồi xuống cùng than khóc, thay vì truyền cho họ chân lý và sức khoẻ bằng những cú sốc điện thô ráp, đưa họ trở lại liên lạc với linh hồn. Người tự lực, đối với cả thần linh lẫn nhân loại, luôn được chào đón nhiều hơn. Mọi cánh cửa đều mở rộng cho y.

Yea, even the Door of Initiation!Vâng, kể cả Cánh Cửa Điểm Đạo!”

The overall effect is probably most serious at spiritual levels where spiritual disciplines that were once easily manageable to us in centuries past become onerous[93] and even anathema[94]. One of these is the facility to leave the physical body and its anchoring environment. At this time, more people are having out-of-body experiences than ever before, (1) but these are at an astral level. The detachment of awareness, in meditation in full consciousness, from the physical surroundings, is a practice that should be a matter of comparative ease for the Fifth Sub-race where consciousness is increasingly being focussed in the Brow Chakra. Instead, it remains a very difficult and almost impossible task for the most earnest of aspirants. Electricity has played a heavy part in creating this anomaly.[95]

Ảnh hưởng tổng thể có lẽ nghiêm trọng nhất ở các cấp độ tâm linh, nơi mà các kỷ luật tâm linh từng dễ dàng đối với chúng ta trong các thế kỷ trước thì nay trở nên nặng nề và thậm chí gây ác cảm. Một trong các kỷ luật đó là khả năng rời khỏi thể xác và môi trường gắn kết của nó. Ngày nay, nhiều người đang có các trải nghiệm xuất vía hơn bao giờ hết (1), nhưng những trải nghiệm đó chỉ diễn ra ở mức cảm dục. Việc tách biệt nhận thức ra khỏi hoàn cảnh vật chất trong khi tham thiền với đầy đủ tâm thức lẽ ra phải là điều tương đối dễ dàng đối với Phân chủng thứ năm, khi mà tâm thức ngày càng được tập trung nơi luân xa Ấn Đường. Thay vào đó, điều này vẫn là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và gần như không thể đối với cả những người chí nguyện tận tâm nhất. Điện đã góp phần lớn trong việc tạo ra tình trạng nghịch lý này.

(1) The Techniques of Astral Projection by Dr. Douglas Baker (1995).

(1) The Techniques of Astral Projection, của Dr. Douglas Baker (1995).

The Effects of Electric LightẢnh Hưởng của Ánh Sáng Điện

What then of the effects of electric light? It is an aspect of electricity which has become so much a part of our lives that we are inclined to overlook its possible effects. They are profound but insidious[96]; not all are harmful. Almost none of them can be isolated and proved, if only for the simple fact that we have all been exposed so long to electric light that it would be hard to find subjects to participate in experiments as controls. Worse than this, young people who have had maximum exposure are seeing things which their elders, less exposed, are not. But only in isolated instances do young people stand by their observations. Usually the weight of common opinion makes them ignore what is manifest before their eyes. They are being talked out of it. The older elements of the population, the more pragmatic[97] and materialistic, would have none of it anyway.

Vậy còn ảnh hưởng của ánh sáng điện thì sao? Đó là một khía cạnh của điện đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của chúng ta, đến mức chúng ta có xu hướng bỏ qua các ảnh hưởng khả dĩ của nó. Những ảnh hưởng ấy rất sâu sắc nhưng ngấm ngầm; không phải tất cả đều có hại. Gần như không có ảnh hưởng nào có thể được cô lập và chứng minh, đơn giản chỉ vì tất cả chúng ta đều đã tiếp xúc với ánh sáng điện quá lâu, đến nỗi rất khó tìm được các đối tượng làm nhóm đối chứng cho các thí nghiệm. Tệ hơn nữa, những người trẻ tuổi — vốn đã tiếp xúc nhiều nhất — đang nhìn thấy những điều mà những người lớn tuổi hơn, ít tiếp xúc hơn, không nhìn thấy. Nhưng chỉ trong một số trường hợp đơn lẻ, những người trẻ ấy mới giữ vững các quan sát của mình. Thông thường, sức nặng của dư luận khiến họ bỏ qua điều đang hiện hữu trước mắt. Họ bị thuyết phục từ bỏ điều đó. Những thành phần lớn tuổi hơn trong xã hội, vốn thực dụng và vật chất hơn, thì lại hoàn toàn không chấp nhận những điều đó.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-42.webp

It is just like the old subject of dreams. There was a time when only a small section of humanity dreamed at all, perhaps only ten per cent. One can imagine what the other ninety percent of the population thought of them! Today ninety percent of people dream and nasty things are being said about people who don’t. The same situation holds in the case of visual experiences due to exposure to electric light. It is not just what young people are seeing per se, but also what they are seeing into things. They are ‘seeing’ compassion into situations involving animals. They are ‘seeing’ relationships between themselves and all nature. Seventh Ray souls especially have ‘eyes’ for pollution. Fourth Ray souls have ‘eyes’ for beauty. And these are not just figurative expressions. They really are seeing into things. They are seeing the endeavour and the heartbreak behind effort: the quality behind the obvious: the noumen behind the phenomenon: the synthesis behind the parts.

Điều này cũng giống như chủ đề cũ về giấc mơ. Đã từng có thời chỉ một phần nhỏ nhân loại có mộng mị — có lẽ chỉ khoảng mười phần trăm. Người ta có thể tưởng tượng phần còn lại, chín mươi phần trăm dân số, đã nghĩ gì về những người nằm mơ! Ngày nay, chín mươi phần trăm con người có giấc mơ, và những điều khó nghe lại đang được nói ra về những người không có mộng mị. Tình huống tương tự cũng đang diễn ra đối với các trải nghiệm thị giác do sự tiếp xúc với ánh sáng điện. Không chỉ là những gì giới trẻ nhìn thấy một cách đơn thuần, mà còn là điều họ “nhìn thấu” vào bên trong sự vật. Họ đang “nhìn thấy” lòng từ bi trong các tình huống liên quan đến động vật. Họ đang “nhìn thấy” mối liên hệ giữa bản thân và toàn thể thiên nhiên. Những linh hồn Cung Bảy đặc biệt có “đôi mắt” để thấy ô nhiễm. Những linh hồn Cung Bốn có “đôi mắt” để thấy vẻ đẹp. Và đây không chỉ là những cách nói ẩn dụ. Họ thật sự đang nhìn thấu vào bản chất sự vật. Họ đang thấy được nỗ lực và nỗi đau sau mỗi cố gắng; phẩm chất đằng sau những điều hiển lộ; thực thể nội tại đằng sau hiện tượng; sự tổng hợp đằng sau các phần tách rời.

And no wonder of it, when we realise the specialised and higher functions of the human eyes. We should always remember that the eyes very rapidly replaced the functions of the third eye or pineal gland fifteen million years ago in old Lemuria, and that in Rounds ahead of our Fourth the pineal gland will begin to reassert its latent properties of intuitive and abstract observation. Electric light is stimulating this slow awakening of vestigial[98] optical powers abnormally. Whether it is ‘good’ or ‘bad’ will depend no doubt on the use to which it is put and whether such a shortcut is desirable in terms of the karma involved. The reader is referred to the well-known occult and special qualities related to the right eye and the left eye, and that which is the fusion of both.

Và điều đó chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ta nhận ra các chức năng chuyên biệt và cao cấp của đôi mắt con người. Ta nên luôn ghi nhớ rằng, cách đây mười lăm triệu năm trong thời Lemuria cổ xưa, đôi mắt đã rất nhanh chóng thay thế chức năng của con mắt thứ ba hay tuyến tùng, và rằng trong các Cuộc Tuần Hoàn phía trước Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư của chúng ta, tuyến tùng sẽ bắt đầu tái khẳng định các năng lực tiềm tàng về quan sát trực giác và trừu tượng. Ánh sáng điện đang kích thích sự thức tỉnh chậm rãi của các năng lực thị giác còn sót lại này một cách bất thường. Việc điều đó là “tốt” hay “xấu” chắc chắn sẽ phụ thuộc vào mục đích sử dụng nó và liệu một con đường tắt như vậy có đáng mong muốn xét về mặt nghiệp quả hay không. Người đọc được khuyến khích tham khảo các đặc tính huyền môn và chuyên biệt vốn gắn liền với mắt phải, mắt trái, và sự dung hợp của cả hai.

The right eye was shown to be related to Buddhi, the intuitive processes, the right cerebral hemisphere both in its receptivity and also in its outpourings. The left eye is related to Manas, to the analytical, the intellectual, and even to abstract thought and to the left hemisphere, which in most people today is dominant over the right hemisphere.

Mắt phải được cho là liên hệ với Bồ đề, các tiến trình trực giác, bán cầu đại não phải — cả trong tiếp nhận lẫn trong sự tuôn đổ. Mắt trái liên hệ với Manas, với tư duy phân tích, trí tuệ, thậm chí là tư duy trừu tượng, và với bán cầu trái — vốn là bán cầu chiếm ưu thế ở phần lớn con người hiện nay.

Perhaps it will be through errors of judgment, especially when driving at night, that evidence will accumulate to show that Man is not just sensitive to the headlights of oncoming cars, from the glare inflicted by them, but rather because of the electrical nature of their light. Everyone knows how unpleasant driving on a wet night can be because of reflections and added glare and perhaps we overlook what our higher selves are trying to tell us through this discomfort, that these effects are harmful to mind and emotion. Certainly, in the next century, neurological symptoms of ataxia[99] and even brain damage will be related to electrical light. Accompanying these effects there is over-stimulation of the parasympathetic nervous system and in some people, especially sensitive by virtue of their Ray composition, vaso-vagal syncope manifests with tremulousness, paleness and drop in blood pressure.

Có lẽ chính qua những sai lầm trong phán đoán — đặc biệt là khi lái xe ban đêm — mà các bằng chứng sẽ dần tích tụ để chỉ ra rằng con người không chỉ nhạy cảm với ánh đèn pha của các xe đi ngược chiều, hay với ánh chói do chúng gây ra, mà thực ra là do bản chất điện của nguồn sáng đó. Ai cũng biết cảm giác khó chịu khi lái xe vào ban đêm có mưa — do ánh phản chiếu và độ chói gia tăng — và có lẽ chúng ta đã bỏ qua những gì mà bản ngã cao hơn đang cố nói với ta qua sự khó chịu đó: rằng những ảnh hưởng này gây hại cho thể trí và cảm xúc. Chắc chắn, trong thế kỷ tới, các triệu chứng thần kinh như mất điều hợp vận động, thậm chí tổn thương não, sẽ được liên hệ đến ánh sáng điện. Đi kèm với các ảnh hưởng này là sự kích thích quá mức hệ thần kinh phó giao cảm, và ở một số người — đặc biệt là những người nhạy cảm do thành phần Cung của họ — chứng ngất do phản xạ phế vị sẽ xuất hiện với các biểu hiện như run rẩy, tái nhợt và tụt huyết áp.

It will also be discovered that electric light contributes to hypoglycemia[100] in individuals who are sensitive to vagus nerve stimulation. Years ago, the author went into self-imposed isolation to study and meditate for three years and developed such sensitivity that he did all his reading by the light of a single candle, so reactive did he become to electric light. Even now, he will not have overhead or intrusive lighting in his home. It is interesting that in former years journalists, having to review a book overnight, frequently read by candle-light because the non-flickering nature of candle-light was said to favour the eyes.

Cũng sẽ được phát hiện rằng ánh sáng điện góp phần gây ra chứng hạ đường huyết ở những cá nhân nhạy cảm với sự kích thích dây thần kinh phế vị. Nhiều năm trước, tác giả đã tự nguyện sống ẩn dật để nghiên cứu và tham thiền trong ba năm và đã phát triển mức độ nhạy cảm đến mức chỉ đọc sách dưới ánh sáng của một cây nến duy nhất, vì y trở nên quá nhạy cảm với ánh sáng điện. Cho đến nay, y vẫn không dùng đèn trần hay ánh sáng chói lọi trong nhà. Thật thú vị khi biết rằng trước đây, các nhà báo — khi cần đọc và viết bài bình luận sách xuyên đêm — thường dùng ánh sáng nến vì ánh sáng nến không nhấp nháy được cho là có lợi cho mắt.

It will also be found in the years ahead that electric light affects the pineal gland and the pituitary gland, that it plays a part in upsetting body rhythms, even sexual drives and cycles, and that the lurch of modern society towards matters sexual and to inversions of those matters can be related to electric light, as will also, to some extent, the increasing precociousness[101] of children in that direction.

Cũng sẽ được phát hiện trong những năm tới rằng ánh sáng điện ảnh hưởng đến tuyến tùng và tuyến yên, rằng nó đóng vai trò trong việc làm rối loạn các nhịp sinh học của cơ thể, thậm chí cả các thúc đẩy và chu kỳ tình dục, và rằng sự nghiêng lệch của xã hội hiện đại về các vấn đề tình dục cũng như các lệch lạc trong lĩnh vực này có thể được liên hệ đến ánh sáng điện — cũng như, ở một mức độ nào đó, sự phát dục sớm ngày càng gia tăng nơi trẻ em cũng vậy.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-43.webp

The Divine Physiognomy—“Nhân tướng học” thiêng liêng

AJNA expresses itself outwardly through the LEFT EYE. This is not just a symbolic interpretation of some esoteric mechanism. It is a statement of fact! At this time in human development, very few individuals exercise their consciousness through the Brow Chakra and even those who do, use that chakra mainly as a vehicle for outward expression rather than for receptiveness. Such disciples must, like anyone else, rely on other mechanisms than Ajna for psychic receptivity. Only in a very few, in whom Sahasrara, the Thousand Petalled Lotus, is functioning, is there passive function of Ajna in the sense that it becomes a centre of reception as well as for outward expression.

AJNA biểu lộ ra bên ngoài qua CON MẮT TRÁI. Điều này không chỉ là một cách diễn giải mang tính biểu tượng về một cơ chế huyền môn nào đó. Đây là một khẳng định về sự thật! Ở thời điểm hiện tại trong sự phát triển của nhân loại, rất ít người vận dụng tâm thức thông qua luân xa Ấn Đường, và ngay cả những ai làm được điều đó thì cũng chủ yếu sử dụng luân xa này như một phương tiện để biểu lộ ra ngoài hơn là để tiếp nhận. Những đệ tử như vậy, cũng giống như bất kỳ ai khác, phải dựa vào các cơ chế khác ngoài Ajna để có thể tiếp nhận mang tính thông linh. Chỉ trong số rất ít người mà Sahasrara — Hoa Sen Ngàn Cánh — đang hoạt động, mới có sự vận hành mang tính thụ động của Ajna, theo nghĩa rằng nó trở thành một trung tâm tiếp nhận cũng như biểu lộ ra ngoài.

The human face is divine in origin, and through it is expressed those qualities of divinity which are incorporated in the Higher Triad, viz., Atma, Buddhi and Manas. Years ago, a Dr. Oscar Brunler demonstrated that the human eyes pour out creative genius. Thus Brunler showed that the works of Leonardo da Vinci, his manuscripts, his paintings, his sculptures are still impregnated with the creative qualities of energy emissions from that artist’s eyes. This might be hard to swallow were it not for the recent discoveries of Russian scientists who have shown that the human eyes DO emit energy, an energy which can be recorded with scientific instruments. Traditionally, this has been an esoteric teaching. It is also the origin of the old concept of ‘the evil eye’ wherein Ajna is put to creative uses of an infernal order (Black Magic). The phenomenon of psychokinesis, the ability to move objects at a distance, as demonstrated in scientific laboratories by Swami Rama, is linked to this faculty which involves powerful concentration.

Gương mặt con người có nguồn gốc thiêng liêng, và thông qua đó được biểu lộ những phẩm chất thiêng liêng vốn được tích hợp trong Tam nguyên Cao Cả, tức là Atma, Bồ đề và Manas. Nhiều năm trước, một bác sĩ tên là Oscar Brunler đã chứng minh rằng đôi mắt con người phóng xuất thiên tài sáng tạo. Theo đó, Brunler cho thấy rằng các tác phẩm của Leonardo da Vinci — những bản thảo, tranh vẽ, tượng điêu khắc của ông — cho đến nay vẫn thấm đẫm các phẩm chất sáng tạo phát ra từ năng lượng nơi đôi mắt của nghệ sĩ này. Điều này có thể khó tin nếu không có những khám phá gần đây của các nhà khoa học Nga, những người đã chứng minh rằng đôi mắt con người THẬT SỰ phát ra năng lượng — một loại năng lượng có thể được ghi nhận bằng các thiết bị khoa học. Truyền thống huyền môn từ lâu đã dạy điều này. Đây cũng là nguồn gốc của khái niệm cổ xưa về “tà nhãn” — trong đó Ajna bị sử dụng vào các mục đích sáng tạo của một trật tự hắc ám (Hắc Thuật). Hiện tượng tâm năng động (psychokinesis) — khả năng di chuyển vật thể từ xa — như đã được Swami Rama chứng minh trong các phòng thí nghiệm khoa học, có liên quan đến năng lực này, vốn đòi hỏi sự tập trung mãnh liệt.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-44.webp

Similarly, it may be said that the RIGHT EYE is the vehicle for the creative outpouring of Buddhi, of compassion, of inclusiveness, of holism. There is, correspondingly, a relationship of Buddhi with the right cerebral hemisphere. The ‘third eye’ is the eye within, focussed near the pineal gland, but expressing outwardly through the point between the brows, as Atma or divine persistent Will. This triad of energies is symbolised by the three planets, indicating something of their qualities:-

Tương tự, có thể nói rằng CON MẮT PHẢI là phương tiện cho sự tuôn đổ sáng tạo của Bồ đề — của lòng bi mẫn, của tính bao dung, của cái nhìn toàn thể. Có một mối liên hệ tương ứng giữa Bồ đề và bán cầu não phải. “Con mắt thứ ba” là con mắt nội tại, tập trung gần tuyến tùng, nhưng biểu lộ ra ngoài qua điểm giữa hai lông mày như là Atma hay Ý Chí Thiêng Liêng kiên định. Bộ ba năng lượng này được tượng trưng qua ba hành tinh, phần nào thể hiện các phẩm chất của chúng:

Venus……Left Eye…..Higher Manas…..The Lords of Flame

– Kim Tinh (Venus)……Mắt Trái…..Thượng Manas…..Các Đấng Chúa Tể Lửa

Mercury……Right Eye……Buddhi…The Buddhas of Compassion

– Thuỷ Tinh (Mercury)……Mắt Phải……Bồ đề…Các Đức Phật của Lòng Bi Mẫn

Uranus……The Inner Eye….Atma.…The Kumaras

– Thiên Vương Tinh (Uranus)……Con Mắt Nội Tại….Atma.…Các Kumaras

In encouraging the opening of Ajna, the left eye and the left hemisphere of the brain are the physical targets for attention and all their Ray correspondences, in that Ajna is related to the Fifth Ray of Concrete Knowledge and Analytical Science. The relationship of the eyes with symbols has been often a site where blinds are used, red herrings to decoy the curious. Therefore, during the arduous process of awakening Ajna, an important signpost that is always revealed is the symbol of the eye. It might relate to any of the three spiritual qualities elaborated above, hence the need for discrimination and acuity of perception. When the eye is seen at the hub of the wheel with ninety-six petals, it is surely Ajna but not, I repeat NOT, the Third Eye.

Khi khuyến khích việc khai mở Ajna, thì con mắt trái và bán cầu não trái là những mục tiêu vật chất cần chú ý — cùng với tất cả các tương ứng Cung của chúng, vì Ajna có liên hệ với Cung Năm của Tri Thức Cụ Thể và Khoa Học Phân Tích. Mối liên hệ giữa các con mắt và biểu tượng thường là nơi có nhiều màn che được sử dụng, những cái mồi đánh lạc hướng để dụ dỗ những kẻ tò mò. Do đó, trong tiến trình gian khổ của việc đánh thức Ajna, một dấu hiệu quan trọng luôn được hé lộ là biểu tượng của con mắt. Biểu tượng này có thể liên hệ đến bất kỳ phẩm tính tâm linh nào trong ba phẩm tính đã nêu trên, vì vậy cần có khả năng phân biện và nhạy bén trong nhận thức. Khi con mắt được nhìn thấy ở trung tâm của bánh xe có chín mươi sáu cánh hoa, thì đó chắc chắn là Ajna, nhưng — tôi nhấn mạnh — KHÔNG PHẢI là Con Mắt Thứ Ba.

(Extracted from Meditation, The Theory and Practice, Dr. Douglas M. Baker, pages 64-65. See also The Jewel In The Lotus, Dr. Douglas M. Baker, page 132.)

(Trích từ Meditation, The Theory and Practice, Dr. Douglas M. Baker, trang 64–65. Xem thêm The Jewel In The Lotus, Dr. Douglas M. Baker, trang 132.)

********************************************

Asthma[102]—Hen Suyển

This is predominantly a childhood condition, but no age is exempt. There are episodes of difficulty with breathing accompanied by adventitious[103] sounds which are the result of a narrowing of the bronchial[104] tubes. The narrowing is due to spasm[105] or collections of mucus[106] or swelling of the tube linings[107]. The problem is more one of exhalation rather than inhalation and an important factor when searching for the esoteric aetiology of the condition. That it is more prevalent in children and in males also points to its origins.

Đây chủ yếu là một tình trạng thường gặp ở tuổi thơ, nhưng không độ tuổi nào được miễn trừ. Có những cơn khó thở đi kèm với các âm thanh bất thường, là kết quả của sự co hẹp các ống phế quản. Sự co hẹp này là do co thắt hoặc do chất nhầy tích tụ, hoặc do sưng viêm lớp niêm mạc của ống dẫn khí. Vấn đề chủ yếu là thở ra hơn là hít vào, và đây là một yếu tố quan trọng khi tìm hiểu căn nguyên huyền môn của tình trạng này. Việc nó phổ biến hơn ở trẻ em và ở nam giới cũng chỉ ra nguồn gốc của nó.

The condition is of very ancient aetiology. Unlike tuberculosis, where the site of expression is also usually the lungs, asthma goes back to Lemuria. In tuberculosis, where there is frequently lung involvement, effort is felt in breathing in; there is gasping for air, a sense of wanting to be free, and this is a condition of comparative recent derivation. It is associated with increasing orientation of mankind towards things material and, therefore, confining, concretising and consolidating.

Tình trạng này có căn nguyên rất cổ xưa. Không giống như lao phổi — trong đó vị trí biểu lộ cũng thường là phổi — hen suyễn bắt nguồn từ thời Lemuria. Trong bệnh lao, khi phổi bị ảnh hưởng, nỗ lực được cảm nhận khi hít vào; có cảm giác ngột ngạt, muốn được tự do, và đây là một tình trạng phát sinh tương đối gần đây. Nó gắn liền với xu hướng ngày càng tăng của nhân loại hướng về những điều vật chất, và do đó, có tính ràng buộc, làm cụ thể hóa và củng cố.

The growth of mankind through Seven Races is marked by expressions of friction which we call the major diseases in esoteric parlance. Those which fall into the major disease group for Lemuria were concerned with the Sacral Chakra, the eight-petalled lotus related to the organs of procreation, the gonads. Lemuria marked the emergence of true men from the etheric state and from his primitive links with the animal kingdom.

Sự phát triển của nhân loại qua Bảy Giống Dân được đánh dấu bằng các biểu hiện của ma sát — mà trong thuật ngữ huyền môn, chúng ta gọi là các bệnh lớn. Những bệnh rơi vào nhóm bệnh lớn của Lemuria có liên quan đến Luân xa xương cùng, hoa sen tám cánh gắn liền với các cơ quan sinh sản, các tuyến sinh dục. Lemuria đánh dấu sự xuất hiện của con người đích thực từ trạng thái dĩ thái và từ mối liên kết nguyên sơ với giới động vật.

Mankind was young and asthma is a disease of the young and of those who are immature in some aspect or other of the lower triad, i.e., in the physical, emotional or mental bodies. The problem of Lemuria was to stabilise the energies of the inchoate physico-etheric body in the sacral region so that:-

Nhân loại còn trẻ, và hen suyễn là một căn bệnh của tuổi trẻ và của những người chưa trưởng thành ở một khía cạnh nào đó thuộc bộ ba thấp — tức là trong thể xác, thể cảm xúc hoặc thể trí. Vấn đề của thời Lemuria là làm ổn định các năng lượng của thể lý–dĩ thái chưa định hình nơi vùng xương cùng, sao cho:

1. separation of the sexes could be achieved, and

1. Việc phân hóa giới tính có thể đạt được, và

2. the inflow of emotional energies from the astral world could temper the purely animal-magnetic qualities of mankind at that time.

2. Dòng năng lượng cảm xúc từ cõi cảm dục có thể làm dịu bớt các phẩm tính mang tính từ lực–thuần vật chất nơi con người vào thời điểm đó.

The Sacral Chakra, the Third Root Race (Lemuria), and the planet Earth are all strongly related to the Third Ray of Active Intelligence, the major quality of which is diversification. Separation of the sexes led away from birth by budding, opening up opportunities for diversification of the human forms. It was-a period of great instability and insecurity. Still to this day Lemurian strains are present in our population.

Luân xa xương cùng, Giống Dân Gốc Thứ Ba (Lemuria), và hành tinh Trái Đất đều có mối liên hệ mạnh mẽ với Cung Ba của Trí Tuệ Linh Hoạt — phẩm tính chính yếu của nó là sự đa dạng hóa. Sự phân hóa giới tính dẫn đến việc từ bỏ sinh sản bằng hình thức nẩy chồi, mở ra cơ hội cho sự đa dạng hóa các hình tướng nhân loại. Đó là một thời kỳ bất ổn và bất an lớn. Cho đến ngày nay, những dòng máu Lemuria vẫn còn tồn tại trong dân số của chúng ta.

Those souls who have chosen incarnation in bodies tinctured still with the qualities of Lemurian stock are most susceptible to the venereal diseases, to arthritis and, amongst other conditions, to asthma, and patients with asthma which starts in childhood or adolescence are most likely to have a family history of the condition.

Những linh hồn đã chọn đầu thai vào các thể xác còn nhuốm phẩm chất của chủng Lemuria dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các bệnh lây truyền qua đường tình dục, viêm khớp, và trong số các tình trạng khác — hen suyễn. Những bệnh nhân bị hen từ thời thơ ấu hay thanh thiếu niên rất có khả năng có tiền sử gia đình mắc căn bệnh này.

The growth of Man’s brain was rapid in Lemuria, but the brain-stem, the most primitive part of the thinking apparatus, was still by far the most dominating influence. Lemurian Man sensed things through breathing, the astral body being hardly formed at that stage. Through breath and the common etheric matrix he shared with all members of his tribe, (1) he was aware immediately of dangers or stress that involved others. In those early days, the respiratory centre in the medulla or brain-stem was powerfully influenced, even monitored, by the vagus nerve, itself in the process of rapid development. Even to this day, prematurely born babies rely on the vagus nerve to maintain their breathing rhythms.

Sự phát triển của não người diễn ra nhanh chóng trong thời Lemuria, nhưng thân não — phần nguyên sơ nhất của bộ máy tư duy — vẫn là yếu tố chi phối mạnh nhất. Con người Lemuria cảm nhận mọi thứ thông qua hơi thở, vì thể cảm dục khi đó hầu như chưa được hình thành. Thông qua hơi thở và ma trận dĩ thái chung mà y chia sẻ với tất cả các thành viên trong bộ lạc của mình (1), y ngay lập tức cảm nhận được những nguy hiểm hoặc căng thẳng liên quan đến người khác. Vào thời kỳ đầu đó, trung tâm hô hấp nơi hành não hoặc thân não bị ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí được điều tiết bởi dây thần kinh phế vị — chính dây thần kinh này cũng đang trong quá trình phát triển nhanh chóng. Cho đến ngày nay, các trẻ sơ sinh sinh non vẫn dựa vào dây thần kinh phế vị để duy trì nhịp thở.

(1) The author points out in his work The Jewel In The Lotus, Postulate Four, page 39, that: There is a continuum which links all living things together so that the smallest cell does not pulsate without its effects being felt in the furthest reaches of the solar system. In hearing something of Man’s origin we soon feel the continuum that links all mankind. This linkage is very real even today when nationalism and materialism create separative tendencies. In Lemuria the link was far more powerful, and it still is in all primitive tribes and anywhere, in fact, where men and women live close to nature. The continuum was so strong that no man suffered severe pain in the tribe without all men in the tribe being at least faintly aware of it, some more than others. The link between the ‘leaves’ of the tribe were strong enough for the whole tribe to ‘feel as one’ so that there was no tremor of the parent bough that was not felt by all. Earlier races on the planet were thus ‘psychic’, but for very different reasons from the emergent psychic powers of present-day spiritually oriented people. The latter produce their powers through the opening of force centres above the diaphragm, as we shall see in the sections of this book which follow, but Lemurian Man produced his psychic capacities through a strong continuum of etheric and astral matter which linked him to all his tribe and to the forests, streams and mountains in the neighborhoods with which he had established a pantheistic relationship. To this day, where there is strong affinity between people, animals and plants and even places, there remains, as part of our early heritage, a strong continuum of subtle matter and energy.

(1) Tác giả chỉ ra trong tác phẩm The Jewel In The Lotus, Định Đề Bốn, trang 39, rằng: “Có một dòng liên tục kết nối tất cả sinh linh lại với nhau, đến mức một tế bào nhỏ nhất cũng không rung động mà không ảnh hưởng đến những giới hạn xa nhất của hệ mặt trời. Khi nghe về nguồn gốc của nhân loại, ta sớm cảm nhận được dòng kết nối đó giữa toàn thể loài người.” Sự kết nối này vẫn rất thật cho đến ngày nay, ngay cả khi chủ nghĩa dân tộc và vật chất đang tạo ra những xu hướng chia rẽ. Trong Lemuria, mối liên kết này còn mạnh mẽ hơn nhiều, và nó vẫn hiện diện trong tất cả các bộ tộc nguyên sơ và bất kỳ nơi đâu mà những người nam và nữ sống gần gũi với thiên nhiên. Dòng liên kết này mạnh đến mức không ai trong bộ lạc chịu đau đớn nghiêm trọng mà những người khác lại không ít nhiều cảm nhận được, một số người cảm nhận nhiều hơn những người khác. Mối liên kết giữa các “lá” của bộ lạc mạnh đến nỗi toàn bộ bộ lạc “cảm nhận như một,” đến mức không có một rung động nào nơi “cành cha mẹ” mà không được tất cả cảm nhận. Các giống dân thời kỳ đầu trên hành tinh vì thế là những “người thông linh”, nhưng vì những lý do rất khác so với các năng lực thông linh đang phát triển nơi những người hiện đại có định hướng tâm linh. Những người sau phát triển năng lực thông linh thông qua sự khai mở các trung tâm lực phía trên cơ hoành — như chúng ta sẽ thấy trong các phần tiếp theo của quyển sách này — còn người Lemuria phát triển năng lực đó thông qua một dòng liên kết mạnh mẽ từ chất dĩ thái và cảm dục nối kết y với cả bộ lạc và với rừng cây, suối nguồn, núi non — những nơi mà y đã thiết lập một mối liên hệ phiếm thần. Cho đến ngày nay, nơi nào có sự đồng cảm mạnh mẽ giữa con người, động vật, thực vật và cả địa điểm, thì nơi đó vẫn còn tồn tại — như một phần của di sản sớm — dòng liên kết mạnh mẽ của chất vi tế và năng lượng.

Today, the same difficulties peculiar to the struggle of early Lemurians to develop mature and independent sensory equipment divorced from the breathing apparatus assail those who suffer from asthma. In Yoga, Man is taught to control his emotions by controlling his breath. The asthmatic has to learn to control his emotions if he would breathe more freely (independently of them). In all asthma patients there is vagal involvement, whether clinically obvious or not. The bronchial tubes are supplied by the vagus nerve, and in many asthmatics various stimuli may induce attacks by a reflex mechanism. Some examples of these are exposure to cold air, laughing, severe exertion and heavy meals.

Ngày nay, những khó khăn tương tự trong cuộc đấu tranh của người Lemuria thuở ban đầu nhằm phát triển một bộ máy cảm giác trưởng thành và độc lập, tách khỏi hệ hô hấp, lại đang tấn công những người mắc hen suyễn. Trong Yoga, con người được dạy cách kiểm soát cảm xúc bằng cách kiểm soát hơi thở. Người mắc hen suyễn phải học cách kiểm soát cảm xúc nếu muốn thở một cách tự do hơn (tách khỏi sự chi phối của cảm xúc). Trong tất cả bệnh nhân hen suyễn đều có sự liên quan đến dây thần kinh phế vị — dù có biểu hiện lâm sàng rõ rệt hay không. Các ống phế quản được chi phối bởi dây thần kinh phế vị, và ở nhiều người mắc hen suyễn, các kích thích khác nhau có thể gây ra cơn hen qua một cơ chế phản xạ. Một vài ví dụ bao gồm tiếp xúc với không khí lạnh, cười lớn, gắng sức nặng và ăn no.

However, by far the most important part in asthma is played by psychological influences. They may not start the episode of difficult breathing, but they frequently cause it to be maintained. Where there have been unsatisfactory circumstances in the home environment of the asthmatic when he was a child, the vagus nerve will have been inhibited in its development, especially in regard to the control of the bronchial tubes.

Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất trong hen suyễn là các ảnh hưởng tâm lý. Chúng có thể không khởi phát cơn khó thở, nhưng thường làm cho nó kéo dài. Khi có những hoàn cảnh không thuận lợi trong môi trường gia đình lúc người bệnh còn nhỏ, dây thần kinh phế vị có thể đã bị ức chế trong quá trình phát triển — đặc biệt liên quan đến chức năng kiểm soát các ống phế quản.

If the child has had to make his own decisions too early in life, if he has been separated or alienated even temporarily from the mother or confronted with situations that have thrown him back on himself, on his own diminutive resources, then the growth in maturity of the vagus nerve will be affected. The Throat Chakra which automatically receives increasingly the energies of the Sacral Chakra as the child grows may become stimulated too early in life. The chakra that lies between the shoulder blades and which forms part of the pranic triangle (see diagram page 93) is affected, and through it the thymus gland. The latter has a very close relationship with the vagus nerve, and science will discover in the years ahead that this relationship is not only one of proximity. The two organs affect each other profoundly. Involution of the thymus gland, a normal process in the growing child, may be inhibited. It is through the thymus gland that the asthmatic becomes super-sensitive or allergic to foods, as well as to airborne materials like pollen and dust. The thymus gland plays an enormous part in antigen-antibody reactions in the body.

Nếu đứa trẻ phải tự mình đưa ra quyết định quá sớm trong đời, nếu nó từng bị tách khỏi hoặc xa cách người mẹ, dù chỉ tạm thời, hoặc nếu nó phải đối mặt với những tình huống buộc nó quay về với chính mình, với nguồn lực bé nhỏ của riêng nó, thì sự trưởng thành của dây thần kinh phế vị sẽ bị ảnh hưởng. Luân xa Cổ Họng — vốn tự động tiếp nhận ngày càng nhiều năng lượng từ Luân xa xương cùng khi đứa trẻ lớn lên — có thể bị kích thích quá sớm. Luân xa nằm giữa hai bả vai và là một phần của tam giác sinh khí (xem sơ đồ trang 93) sẽ bị ảnh hưởng, và thông qua đó là tuyến ức. Tuyến này có mối liên hệ rất gần với dây thần kinh phế vị, và trong những năm tới, khoa học sẽ khám phá ra rằng mối liên hệ này không chỉ đơn thuần là sự gần gũi về vị trí. Hai cơ quan này ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau. Sự thoái hóa của tuyến ức — một tiến trình bình thường trong quá trình phát triển của trẻ em — có thể bị ức chế. Chính thông qua tuyến ức mà người mắc hen suyễn trở nên quá nhạy cảm hoặc dị ứng với thức ăn, cũng như với các chất trong không khí như phấn hoa và bụi. Tuyến ức đóng vai trò to lớn trong các phản ứng kháng nguyên–kháng thể trong cơ thể.

Forces at play in this region, produce in the asthmatic a sensation that the air is always too ratified during attacks, no matter what the oxygen content. States of anxiety, insecurity, emotional tension in the home and frustration sensitise the child early in life and maintain him thereafter, always at the mercy of the factors described above which make him, with his inherited Lemurian qualities, more susceptible than any others to asthmatic attack.

Các lực đang hoạt động trong khu vực này tạo ra nơi người mắc hen suyễn cảm giác rằng không khí luôn loãng một cách bất thường trong các cơn hen, bất chấp lượng oxy trong đó là bao nhiêu. Trạng thái lo âu, bất an, căng thẳng cảm xúc trong gia đình và sự thất vọng làm cho đứa trẻ nhạy cảm từ rất sớm và khiến nó về sau luôn nằm trong vòng ảnh hưởng của các yếu tố đã mô tả ở trên — những yếu tố khiến nó, với các phẩm chất Lemuria di truyền, dễ bị hen suyễn hơn bất kỳ ai khác.

Treatment of the condition is long term, and the psychological factors should be the target of attention. Relief of these will ease the asthma. The direction of healing energies should be to the chakras of the pranic triangle, viz. the Throat Centre, the centre between the shoulder blades and the centre at the diaphragm, and the triangle as a whole should be visualised, circulating the healing forces.

Việc điều trị tình trạng này cần có định hướng dài hạn, và các yếu tố tâm lý nên là trọng tâm được quan tâm. Việc làm thuyên giảm các yếu tố này sẽ giúp làm dịu chứng hen. Việc dẫn truyền năng lượng chữa lành nên được hướng về các luân xa trong tam giác sinh khí, tức là Trung tâm Cổ Họng, trung tâm giữa hai bả vai, và trung tâm nơi cơ hoành — và tam giác này nên được hình dung là đang luân chuyển các mãnh lực chữa lành.

The patient should, at the same time, be encouraged to maintain contact with his medical doctor for treatment of the physical organs involved when attacks occur. The latter can be dangerous and severe status asthmaticus is no time to be messing around with chakras!

Đồng thời, bệnh nhân cũng nên được khuyến khích duy trì liên lạc với bác sĩ điều trị của mình để được chữa trị các cơ quan thể chất liên quan mỗi khi cơn hen xảy ra. Những cơn hen này có thể nguy hiểm, và khi hen suyễn chuyển sang giai đoạn nặng — trạng thái hen ác tính (status asthmaticus) — thì không phải là lúc để mạo hiểm với các luân xa!

Magnetic therapy is also effective in many instances, but it is long term and should accompany all the above treatments. It is described in the last section herein under Systemic Treatment.

Liệu pháp từ trường cũng có hiệu quả trong nhiều trường hợp, nhưng đó là một tiến trình dài hạn và nên được thực hiện song song với tất cả các phương pháp điều trị kể trên. Liệu pháp này được mô tả ở phần cuối trong tài liệu hiện tại, dưới mục Điều Trị Toàn Thân (Systemic Treatment).

Early Experiments with Magnetic Treatment of AsthmaThử Nghiệm Sớm Với Liệu Pháp Từ Trường Cho Bệnh Hen

In 1967, working in conjunction with the late George de la Warr at his laboratories in Oxford, we produced the following results :-

Vào năm 1967, trong quá trình cộng tác với cố George de la Warr tại phòng thí nghiệm của ông ở Oxford, chúng tôi đã thu được các kết quả sau:

During our early experiments on reducing blood cholesterol the possibility of using magnetic therapy on asthma first presented itself. One of the subjects in the cholesterol experiments reported that his breathing was very much easier during and after magnetic treatment. He had been troubled by asthma for years and the sudden improvement brought sustained relief.

Trong những thí nghiệm ban đầu về việc giảm cholesterol trong máu, khả năng áp dụng liệu pháp từ trường cho hen suyễn lần đầu tiên được nhận thấy. Một trong các đối tượng trong thí nghiệm về cholesterol báo cáo rằng hơi thở của ông trở nên dễ dàng hơn nhiều trong và sau khi điều trị từ trường. Ông đã bị hen suyễn trong nhiều năm và sự cải thiện đột ngột này đã mang lại sự thuyên giảm kéo dài.

As a result, an advertisement was inserted in an Oxford newspaper which ultimately produced seven cases of asthma suitable for treatment. These were chosen because of their willingness to commit themselves to treatment twice a week, whatever the weather. The trial was carried out over a period of five months, starting in December, 1966.

Do đó, một quảng cáo đã được đăng trên một tờ báo ở Oxford, và cuối cùng thu hút được bảy trường hợp hen suyễn phù hợp để điều trị. Những người này được chọn vì cam kết sẵn sàng điều trị hai lần mỗi tuần, bất kể thời tiết. Cuộc thử nghiệm được tiến hành trong vòng năm tháng, bắt đầu từ tháng 12 năm 1966.

The treatment technique for the asthmatics approximated that used for cholesterol reduction viz. seven solenoids placed at strategic anatomical sites using a magnetic tape with mixed frequencies.

Kỹ thuật điều trị cho những người mắc hen suyễn gần giống với kỹ thuật được dùng để giảm cholesterol, cụ thể là sử dụng bảy cuộn dây điện từ (solenoids) được đặt tại các vị trí giải phẫu chiến lược, sử dụng băng từ có tần số hỗn hợp.

A total of 158 treatments were given, an average of 22 per patient. Each session lasted for half an hour and was made on a bi-weekly basis, using the M. T.3 Magnetic Therapy Unit. At each visit the patient’s own view of his progress was carefully noted and an independent clinical assessment made at the same time. Special attention was paid to the severity of breathing difficulties such as wheezing and whether or not the patient was able to have an uninterrupted night’s sleep. Progressive improvement was noted by the clinician and confirmed by the patient’s own statements in each of the seven cases.

Tổng cộng đã thực hiện 158 buổi điều trị, trung bình mỗi bệnh nhân được điều trị 22 lần. Mỗi buổi kéo dài nửa giờ và được tiến hành đều đặn hai lần mỗi tuần, sử dụng thiết bị Liệu Pháp Từ Trường M.T.3. Trong mỗi lần điều trị, quan điểm chủ quan của bệnh nhân về tiến trình hồi phục được ghi nhận cẩn thận, đồng thời có đánh giá lâm sàng độc lập. Đặc biệt chú ý đến mức độ nghiêm trọng của khó thở như khò khè và khả năng có ngủ được một đêm trọn vẹn hay không. Những tiến triển tích cực được ghi nhận bởi bác sĩ điều trị và được xác nhận qua lời tự thuật của bệnh nhân trong cả bảy trường hợp.

Apart from localised effects on the bronchial tubes, magnetic treatment appears to have a general relaxing effect upon the patient who becomes less exhausted and sleeps better.

Ngoài các tác động tại chỗ lên ống phế quản, điều trị bằng từ trường còn tạo ra một hiệu ứng thư giãn tổng thể đối với bệnh nhân — người bệnh cảm thấy ít kiệt sức hơn và ngủ ngon hơn.

These beneficial effects of electromagnetism on asthma have not been substantiated elsewhere, but supportive evidence has been provided by the World Meteorological Organisation. In its report, published in 1954, the Organisation states that the amount of electricity in the atmosphere has a profound effect on breathing. Positive ions cause nasal obstruction and other difficulties, and breathing capacity is reduced by a total of 30 per cent. But giving negative ions reverses the effect. Research work done by Doctor S. Tromp of Leiden, Holland, also suggests that the electricity in the atmosphere is important in asthma, and he has had promising results by moving patients from one environment to another.

Những tác động có lợi này của điện từ đối với bệnh hen suyễn chưa được xác minh ở nơi nào khác, nhưng đã có bằng chứng hỗ trợ từ Tổ chức Khí tượng Thế giới. Trong một báo cáo được công bố vào năm 1954, Tổ chức này tuyên bố rằng lượng điện trong bầu khí quyển có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hô hấp. Các ion dương gây ra sự tắc nghẽn mũi và các khó khăn khác, đồng thời làm giảm năng lực hô hấp tới 30 phần trăm. Nhưng việc cung cấp các ion âm có thể đảo ngược ảnh hưởng này. Nghiên cứu của Tiến sĩ S. Tromp ở Leiden, Hà Lan, cũng cho thấy điện trong khí quyển đóng vai trò quan trọng đối với hen suyễn, và ông đã thu được những kết quả hứa hẹn bằng cách di chuyển bệnh nhân từ môi trường này sang môi trường khác.

Ions For AsthmaIon Đối Với Hen Suyễn

The medical application of ions of the atmosphere is poorly understood. That positive ions, in general, have a deleterious effect on Man and negative ions a benign one, however, is an established conclusion. Asthma is a difficult condition to subject to scientific testing at the best of times, and it will be perhaps another twenty years before the effectiveness of inhaling negatively charged particles of ‘air’ can be shown without doubt to be therapeutic in the case of asthma.

Việc ứng dụng y khoa của các ion trong khí quyển vẫn còn ít được hiểu rõ. Tuy nhiên, kết luận đã được xác lập rằng các ion dương, nói chung, gây tác hại cho con người, trong khi các ion âm lại có ảnh hưởng tích cực. Hen suyễn là một tình trạng rất khó kiểm nghiệm bằng phương pháp khoa học ngay cả trong điều kiện tốt nhất, và có lẽ sẽ cần thêm hai mươi năm nữa trước khi hiệu quả điều trị của việc hít thở các hạt ‘không khí’ mang điện tích âm có thể được chứng minh một cách chắc chắn.

It is worth remembering that the uptake of air on the surface of the lungs lies within the central part of the electrical field of the body as it is created by the heart’s action. Also, the narrowing of any passageway through which air passes, accentuates its electrical effects and, the respiratory passages are narrowed frequently in the nostrils and in the bronchial tubes, pathologically, in asthma. The author did some research work using a negative ioniser in a treatment room with powerful magnetic fields (50 cycles) applied to the wall of the thoracic cage of asthmatics. There was a beneficial result, but not enough work was done to warrant any sort of emphatic claim about effects produced.

Cần nhớ rằng vùng hấp thu không khí trên bề mặt phổi nằm trong phần trung tâm của trường điện trong cơ thể, vốn được tạo ra bởi hoạt động của trái tim. Hơn nữa, việc co hẹp bất kỳ đường dẫn nào mà không khí đi qua sẽ làm tăng cường các hiệu ứng điện, và trong bệnh hen suyễn, các đường dẫn hô hấp như lỗ mũi và ống phế quản thường bị co hẹp một cách bệnh lý. Tác giả đã thực hiện một số nghiên cứu bằng cách sử dụng máy tạo ion âm trong một phòng điều trị, nơi các trường từ mạnh (50 chu kỳ) được áp dụng lên thành ngực của bệnh nhân hen suyễn. Kết quả mang lại một số lợi ích, nhưng chưa đủ để đưa ra tuyên bố dứt khoát nào về các hiệu ứng đạt được.

The ultimate resolution of asthma will come when medical science understands the important role played by the thymus gland and its effects on the vagus nerve. Both of these are throat structures and remain, in many ways, related to the Throat Chakra, itself the ruler of respiratory disorders and the receiver of energies from the Sacral Chakra to which it acts as an alter ego. Medical science will discover methods of stimulating the thymus gland, and through an increasing comprehension of the role of the Heart Chakra there will come also fuller control of those reactions in the body to the not-self (e.g., bacteria, viruses, toxins) which we now call inflammation and shock (especially anaphylactic) and which are the basis of allergic asthma. In the meantime, we must resort to interim measures of treatment.

Giải pháp cuối cùng cho bệnh hen suyễn sẽ đến khi y học hiểu được vai trò quan trọng của tuyến ức và tác động của nó lên dây thần kinh phế vị. Cả hai đều là các cấu trúc nằm trong vùng cổ họng và vẫn còn, ở nhiều khía cạnh, liên hệ với Luân xa Cổ Họng — vốn là kẻ cai quản các rối loạn hô hấp và là nơi tiếp nhận năng lượng từ Luân xa xương cùng mà nó hoạt động như một bản ngã thay thế. Y học sẽ tìm ra các phương pháp kích thích tuyến ức, và thông qua sự hiểu biết ngày càng sâu rộng về vai trò của Luân xa Tim, sẽ đạt được khả năng kiểm soát toàn diện hơn đối với các phản ứng của cơ thể trước những yếu tố không phải là tự ngã (ví dụ: vi khuẩn, virus, độc tố) — những điều mà hiện nay ta gọi là viêm và sốc (đặc biệt là phản vệ), vốn là nền tảng của bệnh hen suyễn dị ứng. Trong khi chờ đợi, chúng ta vẫn phải sử dụng các biện pháp điều trị tạm thời.

Below: The Pranic Triangle, Site of Treatment for Asthma

Bên dưới: Tam giác Sinh khí, Vị trí điều trị đối với bệnh Hen Suyễn.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-45.webp

CÁC NĂNG LƯỢNG CỦA TAM GIÁC PRANA — Các năng lượng của bộ ba thấp được hỗ trợ trong tiến trình đi lên bởi một tam giác năng lượng mới, được thúc đẩy bởi các năng lượng của prana, vươn tới ba luân xa tạo thành tam giác quyền năng này. Một trong ba luân xa này tập trung tại vị trí cơ hoành, chính giữa phần phải và trái của lồng ngực. Luân xa thứ hai nằm giữa hai xương bả vai và liên quan đến các đám rối thần kinh gần gốc của hai lá phổi (đám rối phổi) và tim. Luân xa thứ ba nằm ở phần cổ trên. Cả ba đều có mối liên hệ mật thiết với hô hấp và dây thần kinh Vagus. (Xem Meditation, The Theory And Practice của Tiến sĩ Douglas Baker, trang 280.)

Tam Giác Prana, Vị Trí Điều Trị Hen Suyễn.

Energies of the Pranic Triangle

Các năng lượng của Tam Giác Prana

The energies of the lower triad are assisted in their upward progression by a new triangle of energies driven by the energies of prana, reaching into three chakras which form this powerful triangle. One of the three is centered at the level of the diaphragm, centrally between the right and left parts of the rib cage. A second one lies between the shoulder blades and is related to the plexi of nerves near the roots of the lungs (pulmonary plexus) and the heart. A third centre lies in the upper neck. All three are intimately related to respiration and to the Vagus Nerve. (See Meditation, The Theory And Practice by Dr. Douglas Baker, page 280.)

Các năng lượng của bộ ba thấp được hỗ trợ trong tiến trình đi lên bởi một tam giác năng lượng mới, được thúc đẩy bởi các năng lượng của prana, vươn tới ba luân xa tạo thành tam giác quyền năng này. Một trong ba luân xa này tập trung tại vị trí cơ hoành, chính giữa phần phải và trái của lồng ngực. Luân xa thứ hai nằm giữa hai xương bả vai và liên quan đến các đám rối thần kinh gần gốc của hai lá phổi (đám rối phổi) và tim. Luân xa thứ ba nằm ở phần cổ trên. Cả ba đều có mối liên hệ mật thiết với hô hấp và với dây thần kinh Vagus. (Xem Meditation, The Theory And Practice của Tiến sĩ Douglas Baker, trang 280.)

Drugs And Their Side-Effects—Thuốc và tác dụng phụ

Beware the poisoned cup!Hãy Cẩn Thận Với Chiếc Cốc Nhiễm Độc!

“The justification for the use of a drug lies in the fact that its potential benefits outweigh its potential hazards.”

“Lý do biện minh cho việc sử dụng một loại thuốc nằm ở chỗ lợi ích tiềm năng của nó vượt qua các mối nguy hại tiềm tàng.”

Lord Cohen of Birkenhead

— Lord Cohen xứ Birkenhead

The author of the above quotation also says, “Penicillin also happens to kill guinea pigs, but does not happen to kill human beings.” Leading from this directly I wish to add that some drugs may not affect most human beings, but they may well affect certain humans-who have, by various means, chosen to extend their awareness beyond ordinary levels and by the latter, I mean mystics, occultists, esotericists, etc., and all others who may form the intelligentsia of the planet in its esoteric sense.

Tác giả của lời trích dẫn trên cũng phát biểu rằng: “Penicillin cũng có thể giết chết chuột lang, nhưng lại không giết chết con người.” Từ nhận định đó, tôi muốn bổ sung rằng có một số loại thuốc có thể không ảnh hưởng đến phần lớn nhân loại, nhưng chúng hoàn toàn có thể gây ảnh hưởng đến một số cá nhân—những người đã, bằng nhiều cách khác nhau, lựa chọn mở rộng nhận thức vượt khỏi các mức độ bình thường, tức là các nhà thần bí, nhà huyền bí học, các nhà nghiên cứu nội môn, v.v… và tất cả những ai cấu thành tầng lớp trí thức theo nghĩa nội môn của hành tinh.

Time and again, we have been warned by occultists and mystics, who teach in the true traditions of Ancient Wisdom, against the harmful effects of drugs, their actions not confined to measurable physical effects only, but reaching into the subtler vehicles as well. We were warned fifty years ago, and even before that, by those who have fought their way into a greater measure of light than we, to heed the harmful effects of tobacco and of excessive red meat, etc. Their knowledge has enabled many of them to live man’s natural span of life of one hundred fifty years. The curse of tobacco is not well recognised. Later will come better understanding about the barbarity of dispensing some of what are known as the ‘safe’ drugs of today.

Hết lần này đến lần khác, chúng ta đã được các nhà huyền bí và thần bí, những người giảng dạy theo truyền thống đích thực của Minh Triết Cổ Đại, cảnh báo về các tác hại của thuốc—với tác động không chỉ giới hạn trong phạm vi có thể đo lường bằng vật lý, mà còn lan rộng đến các thể tinh tế hơn. Cách đây năm mươi năm, thậm chí từ trước đó, những ai đã tự mình chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng cao hơn đã cảnh báo về các tác hại của thuốc lá, thịt đỏ quá mức, v.v… Kiến thức của họ đã giúp nhiều người trong số họ sống được khoảng đời tự nhiên của con người là một trăm năm mươi năm. Hiểm họa từ thuốc lá vẫn chưa được nhận thức đúng mức. Về sau, sự hiểu biết sâu sắc hơn sẽ đến liên quan đến sự tàn bạo trong việc phân phát một số loại thuốc hiện nay được coi là ‘an toàn’.

In general, the justification for penicillin goes without saying but very, very few other drugs fall into this happy category. The poisonous or harmful side-effects of drugs is a subject which needs the utmost ventilation. The following true account of dosage incongruity happened to a close friend of the author, after which the reader can draw his own conclusions. It is made more horrible by the fact that it could easily have happened to you; especially if you fall into the category of those individuals who follow esoteric disciplines from vegetarianism right up to prolonged meditation, from mild self-medication up to rigorous rhythmic breathing, who in fact, though they may know it not, seek to impose a Fifth Round consciousness on a Fourth Round body.

Nói chung, việc sử dụng penicillin hầu như không cần tranh cãi, nhưng rất, rất ít loại thuốc khác được xếp vào hạng phúc lành như vậy. Các tác dụng phụ độc hại của thuốc là một chủ đề cần được đưa ra công khai một cách tối đa. Sau đây là một câu chuyện có thật về sự không tương thích trong liều lượng thuốc đã xảy ra với một người bạn thân của tác giả, sau đó bạn đọc có thể tự rút ra kết luận cho riêng mình. Câu chuyện càng rùng rợn hơn bởi vì điều đó hoàn toàn có thể xảy ra với bạn—đặc biệt nếu bạn thuộc nhóm những cá nhân thực hành các kỷ luật nội môn, từ ăn chay cho đến tham thiền kéo dài, từ tự điều trị nhẹ cho đến các bài tập thở nhịp nhàng nghiêm ngặt—những người, dù không biết điều đó, đang tìm cách áp đặt một tâm thức của Vòng Tiến Hóa Thứ Năm lên một thể xác thuộc Vòng Thứ Tư.

The use of most drugs has the effect on the etheric chakras of either dulling the consciousness to those other vibrations which come to the spiritually developed-vibrations which lie outside the normal range perceived by our five senses in terms of light, heat and magnetism, etc.,—or the even worse effect of distorting these vibrations with resulting mental and emotional suffering.

Việc sử dụng hầu hết các loại thuốc thường có tác động lên các luân xa dĩ thái theo hai cách: hoặc làm mờ đi tâm thức trước các rung động khác vốn đến với những người phát triển tâm linh—những rung động nằm ngoài phạm vi thông thường mà năm giác quan có thể cảm nhận được dưới dạng ánh sáng, nhiệt, từ tính, v.v…—hoặc tệ hơn là bóp méo những rung động đó, gây ra đau khổ về mặt tinh thần và cảm xúc.

The warning has been underlined recently by the tragedy of Thalidomide, which was not without its divine providence. The whole medical profession became alerted to the appalling evidence accumulating as to the poisonous side-effects of many drugs, some of which had been almost household words, from aspirin right up to some of the latest antibiotics. Vast numbers of drugs are being hastily abandoned because of their dreadful side-effects. Even in the medical schools, the knowledge of a drug’s side-effects is now considered as important as the action for which the drug is used.

Gần đây, cảnh báo này được nhấn mạnh bởi thảm kịch Thalidomide—một thảm họa không nằm ngoài sự an bài thiêng liêng. Toàn bộ giới y học đã được cảnh tỉnh trước bằng chứng kinh hoàng tích lũy về các tác dụng phụ độc hại của nhiều loại thuốc—một số đã từng là những cái tên quen thuộc trong mọi gia đình, từ aspirin cho đến các loại kháng sinh mới nhất. Hàng loạt thuốc đang bị loại bỏ gấp rút do tác dụng phụ nghiêm trọng. Ngay cả trong các trường y, kiến thức về tác dụng phụ của thuốc giờ đây được xem là quan trọng ngang bằng với công dụng điều trị của nó.

Someone takes a drug like amphetamine (benzedrene or dexadrine) as a central nervous system stimulant—a pep-pill[108]—or to help in the reduction of weight (through depressing the appetite). A side-effect may be a persistent clenching[109] of the teeth. The following winter, the patient presents with an osteoarthritis of the jawbone (of the tempero-mandibular joint)—a painful condition and probably far more serious, and difficult to get rid of, than the mild depression for which amphetamine was originally prescribed. Someone may take the antibiotic Tetracycline to ward off some infection like a boil[110] or carbuncle[111]. The infection disappears like magic, but the patient may be left with a pruritis[112] that is far more persistent and annoying than the original infection. And so on, and so on….

Một người dùng amphetamine (benzedrine hoặc dexadrine) như một chất kích thích hệ thần kinh trung ương—một loại “thuốc tăng lực”—hoặc để giảm cân (vì làm giảm cảm giác thèm ăn). Một tác dụng phụ có thể là việc nghiến răng kéo dài. Mùa đông tiếp theo, người bệnh bị viêm xương khớp ở khớp hàm dưới—một tình trạng đau đớn, có thể nghiêm trọng hơn và khó chữa hơn nhiều so với chứng trầm cảm nhẹ mà amphetamine được kê ban đầu. Một người khác dùng kháng sinh Tetracycline để chống lại nhiễm trùng như nhọt hay hậu bối. Nhiễm trùng biến mất nhanh chóng, nhưng bệnh nhân có thể bị ngứa dai dẳng hơn cả nhiễm trùng ban đầu. Và cứ thế…

It was the early recognition of these dangers that brought about Homoeopathy, the use of the Twelve Biochemic Salts, (1) the Flower Remedies of Dr. Edward Bach., (2) etc., and the use of herbs and other natural remedies has and always will have its ardent supporters and not without reason.

Chính sự nhận thức sớm về các nguy cơ đó đã dẫn đến sự hình thành của phương pháp Vi lượng Đồng căn (Homoeopathy), việc sử dụng Mười Hai Muối Sinh Hóa (1), các Phương thuốc Hoa của Bác sĩ Edward Bach (2), cùng với việc dùng thảo dược và các phương pháp chữa bệnh tự nhiên khác—những phương pháp luôn có những người ủng hộ nhiệt thành, và điều đó không phải là không có lý do.

(1) See Dr. Schuessler’s Biochemistry by J. B. Chapman, M.D. (New Era Laboratories Ltd. 1973).

(1) Xem Dr. Schuessler’s Biochemistry của J.B. Chapman, M.D. (New Era Laboratories Ltd. 1973).

(2) See Esoteric Healing, Part III: Flower Remedies and Medical Astrology by Dr. Douglas Baker, Baker Publications

(2) Xem Esoteric Healing, Phần III: Flower Remedies and Medical Astrology của Dr. Douglas Baker, Baker Publications.

However, this is no condemnation of Medicine in general and less so of Surgery. The great hospitals planned and built years ago in Britain for cases of infectious diseases stand practically empty or given over to geriatrics[113] (care of the aged). Diptheria, consumption and other dread names of the past are becoming rarities. The achievements of Surgery are no less commendable. The ancient science stands on the threshold of a glorious New Age in which even the human heart may become replaceable within our own lifetimes. Having said all this, let me tell you my story: –

Tuy nhiên, điều này không phải là sự kết án y học nói chung và càng không phải là phẫu thuật. Những bệnh viện lớn từng được xây dựng ở Anh để điều trị các bệnh truyền nhiễm giờ đây hầu như trống rỗng hoặc chuyển sang chăm sóc người già. Bạch hầu, lao phổi và những tên gọi kinh hoàng khác trong quá khứ đang dần trở nên hiếm hoi. Thành tựu của ngành phẫu thuật cũng đáng ca ngợi không kém. Khoa học cổ xưa ấy đang đứng trước ngưỡng cửa của một Kỷ Nguyên Mới huy hoàng—trong đó thậm chí trái tim người có thể được thay thế trong chính cuộc đời của chúng ta. Nhưng sau tất cả những điều này, hãy để tôi kể bạn nghe câu chuyện sau:

I shall refer here to my friend as Roderick R. At a very early age in South Africa, Roderick suffered several attacks of Rheumatic Fever and ended up with a ‘weak’ heart. I met him some ten years ago and was impressed by certain of his qualities which not only made him stand out amongst his associates and his very large family, but also indicated that he was someone well advanced upon the Path. He showed an early interest in matters esoteric but had been so severely crowded by the excessive concern of his family for his heart condition that he fled to England, determined to make the most of what he had been (quite justifiably) led to believe was a short life.

Tôi sẽ gọi người bạn của tôi là Roderick R. Từ khi còn rất nhỏ tại Nam Phi, Roderick đã mắc nhiều cơn sốt thấp khớp và hậu quả là bị một “trái tim yếu”. Tôi gặp anh khoảng mười năm trước và rất ấn tượng với một số phẩm chất nơi anh, những phẩm chất không chỉ khiến anh nổi bật giữa bạn bè và đại gia đình đông đúc, mà còn cho thấy anh là người đã tiến xa trên Con Đường. Anh sớm bộc lộ sự quan tâm đến các vấn đề nội môn, nhưng do bị gia đình quá lo lắng về tình trạng tim của mình vây quanh, anh đã rời đến Anh quốc, quyết tâm tận dụng những gì mà anh (hoàn toàn chính đáng) được tin rằng sẽ là một đời sống ngắn ngủi.

Here in England I renewed my acquaintance with him, but was markedly concerned by the deterioration in his health. It had become a vicious circle. A severe lesion of the aortic valve of the heart restricted him considerably. Conscious of the increasing deterioration of his condition he snatched at every opportunity to ‘burn the candle at both ends’. It is inevitable that someone with a sentence of death upon his head must consider the life hereafter. I made every effort to enlighten him as to what lay ahead. I was quite staggered by his esoteric qualities. For one thing, he had progressed considerably towards the ability to maintain continuity of consciousness. This might measurably have been assisted by the enforced periods of rest he had been used to taking. Discussion concerning his dream life also revealed advanced development. Between us, we once conducted a series of experiments during which I projected astrally to him during the night. The following day he was able in each instance to describe the event in detail. His dream symbology was extensive and he used it in planning his life.

Tại Anh, tôi gặp lại anh, nhưng rất lo lắng trước sự suy giảm rõ rệt trong sức khỏe của anh. Một vòng luẩn quẩn đã hình thành. Một tổn thương nghiêm trọng ở van động mạch chủ đã khiến tim anh hoạt động rất hạn chế. Có ý thức về sự suy yếu ngày càng tăng của tình trạng này, anh nắm lấy mọi cơ hội để “đốt cháy cả hai đầu ngọn nến”. Không thể tránh khỏi rằng một người mang bản án tử treo trên đầu sẽ suy nghĩ về đời sống bên kia. Tôi đã cố hết sức để khai sáng cho anh về những gì đang chờ đón phía trước. Tôi thật sự ngạc nhiên trước các phẩm chất nội môn của anh. Một trong số đó là khả năng duy trì liên tục tâm thức mà anh đã tiến triển rõ rệt. Điều này có thể phần nào được hỗ trợ bởi những khoảng thời gian nghỉ ngơi bắt buộc mà anh đã quen thuộc. Những cuộc trò chuyện về đời sống giấc mơ của anh cũng hé lộ sự phát triển nội tâm cao. Chúng tôi từng thực hiện một chuỗi thí nghiệm, trong đó tôi xuất vía đến với anh vào ban đêm. Sáng hôm sau, mỗi lần như thế, anh đều có thể mô tả chi tiết sự kiện đó. Biểu tượng trong mộng của anh rất phong phú và anh sử dụng nó để hoạch định cuộc đời mình.

Naturally, studying medicine during this period aroused my concern even more, and I introduced him to heart specialists in Sheffield. At that time the prognosis was very bad indeed. To compensate for the defective valve, the heart had grown enormously. Its action could sometimes be heard the length of the room. It produced the worst noises and murmers that I and my student friends had heard in our short careers. There was but one hope and a slender one at that. Surgery for replacing the aortic[114] valve had not been very successful but was improving all the time. It was possible that if Roderick’s condition did not deteriorate too rapidly, an operation could be risked in a few years and a plastic valve inserted.

Tự nhiên, việc tôi học y khoa trong thời gian này càng làm tôi lo lắng hơn nữa, và tôi đã giới thiệu anh với các chuyên gia tim mạch ở Sheffield. Lúc đó, tiên lượng rất xấu. Để bù đắp cho van tim bị tổn thương, trái tim anh đã phình to một cách đáng kể. Nhịp đập của nó đôi khi vang khắp căn phòng. Nó tạo ra những tiếng động và âm thổi kinh khủng nhất mà tôi và bạn học của tôi từng nghe được trong sự nghiệp ngắn ngủi. Chỉ còn một hy vọng, và đó cũng là một tia hy vọng mong manh. Phẫu thuật thay van động mạch chủ vẫn chưa có nhiều thành công, nhưng đang dần cải thiện. Có khả năng, nếu tình trạng của Roderick không xấu đi quá nhanh, thì vài năm sau có thể thực hiện ca mổ và lắp đặt một van nhựa.

During the next three years, deterioration became accelerated. I asked a medical friend to send him into one of London’s largest hospitals for examination in the special unit for cardiac surgery. It was immediately decided to operate. The operation is an extensive one, as can be imagined—a cleavage of the breastbone being necessary and the use of the heart-lung machine which takes over circulation in place of the heart. The operation, lasting some four hours was a great success and all praise goes to the surgeons. But there was a snag and this is the point of my story.

Trong ba năm kế tiếp, tình trạng của anh xấu đi nhanh chóng. Tôi nhờ một người bạn trong ngành y sắp xếp để anh được nhập viện tại một trong những bệnh viện lớn nhất ở London, vào khoa chuyên phẫu thuật tim. Ngay lập tức, các bác sĩ quyết định phẫu thuật. Đó là một ca phẫu thuật lớn như bạn có thể hình dung—phải tách xương ức và dùng máy tim-phổi nhân tạo để thay thế chức năng tuần hoàn trong khi tim bị ngưng. Ca mổ kéo dài khoảng bốn giờ và rất thành công, các bác sĩ phẫu thuật xứng đáng được khen ngợi. Nhưng có một trở ngại, và đó là điểm then chốt của câu chuyện.

Many such operations had been performed. The technique of anaesthesia was quite straightforward. It involved the use of a certain drug which has the effect of curare, the drug used by South American Indians on the tips of their arrows which caused a temporary paralysis of all the muscles of the victim. Roderick had been anaesthetised in the normal way, but the action of the other drug which was supposed to ‘put him to sleep’ was ineffective or partly so. He felt every part of the operation and described to me some of the manipulations to his chest. He could feel the tearing of tissues and the instruments cutting through the bone. Far away, he could hear the drone of voices in the theatre. But the curare had done its work well, and though he struggled desperately to make some sign, he could not. Not even the muscles of the eyelids could be moved. I will spare you other details.

Rất nhiều ca mổ tương tự đã được thực hiện trước đó. Kỹ thuật gây mê được thực hiện một cách tiêu chuẩn. Nó bao gồm việc sử dụng một loại thuốc có tác dụng giống curare—loại thuốc mà người da đỏ Nam Mỹ dùng bôi lên mũi tên để gây tê liệt tạm thời toàn bộ cơ bắp của nạn nhân. Roderick đã được gây mê theo cách thông thường, nhưng loại thuốc khác vốn có nhiệm vụ “ru ngủ” anh thì lại không có tác dụng, hoặc chỉ có tác dụng một phần. Anh cảm nhận được toàn bộ ca phẫu thuật và kể lại cho tôi một số thao tác mà các bác sĩ đã thực hiện trên ngực anh. Anh cảm thấy rõ sự xé rách các mô và dụng cụ cắt xuyên qua xương. Anh nghe thấy tiếng rì rầm của các giọng nói trong phòng mổ. Nhưng curare đã hoàn thành công việc của nó quá tốt, và dù anh cố gắng tuyệt vọng để ra dấu, anh không thể cử động được gì—thậm chí cả cơ mí mắt. Tôi sẽ không kể chi tiết thêm nữa.

Later, he learnt that only once previously had such a thing happened with the same operation. In no way was his admiration for the actual surgical attention diminished. He has a new lease on life and only the surgeons to thank for it, but by his own confession he would never go through it again.

Sau đó, anh được biết rằng trước đó chỉ mới có một trường hợp tương tự xảy ra với cùng loại phẫu thuật. Sự ngưỡng mộ của anh đối với tay nghề phẫu thuật vẫn không hề suy giảm. Anh có một cơ hội sống mới và chỉ có thể cảm ơn các bác sĩ phẫu thuật, nhưng theo lời thú nhận của chính anh, anh sẽ không bao giờ trải qua điều đó lần nữa.

Now, we have to ask ourselves, was this just a chance occurrence? Or had the esoteric development something to do with it? It is my personal belief that the action of drugs varies enormously from person to person. Drugs acting on the central nervous system will almost certainly be less predictable in persons of high esoteric development. I have had other reports, especially of experiences in the dentist’s chair, from esotericists under training and discipline. I know of highly developed disciples who can snore their heads off and yet be capable of telling you all that has been going on in the room during their sound sleep. Continuity of consciousness is the inevitable transition between the Fourth and Fifth Kingdoms. It is to be cultivated whenever possible.

Giờ đây, chúng ta phải tự hỏi: liệu đây chỉ là một biến cố ngẫu nhiên? Hay sự phát triển nội môn của anh có liên quan đến chuyện này? Tôi tin rằng tác dụng của thuốc khác nhau rất lớn giữa các cá nhân. Những loại thuốc tác động đến hệ thần kinh trung ương gần như chắc chắn sẽ khó lường hơn ở những người có sự phát triển nội môn cao. Tôi đã từng nghe những báo cáo khác, đặc biệt là các trải nghiệm trong ghế nha sĩ, từ những người nội môn đang trong giai đoạn luyện tập và kỷ luật. Tôi biết một số đệ tử phát triển cao có thể ngủ ngáy rất to nhưng sau đó vẫn có thể kể lại mọi việc đã diễn ra trong phòng trong khi họ “ngủ say”. Sự liên tục của tâm thức là chuyển tiếp tất yếu giữa Giới Thứ Tư và Giới Thứ Năm. Điều này nên được trau dồi bất cứ khi nào có thể.

What I have written here is not meant to be an outright condemnation of all drugs. Such a condemnation would be ridiculous, but this is a warning that there are unexpected side-effects which can never be measured, arising from some drugs and that this hazard is accentuated for those treading the Path.

Những gì tôi viết ở đây không nhằm lên án tất cả các loại thuốc. Một sự kết án như thế sẽ là điều phi lý, nhưng đây là một lời cảnh báo rằng có những tác dụng phụ không lường trước được từ một số loại thuốc, và rằng mối nguy này càng rõ rệt hơn với những người đang bước đi trên Đường Đạo.

Roderick says that he had a prevision that he would feel everything, and I don’t doubt him, In fact it is arguable, from the esoteric standpoint, whether one should go to great lengths to avoid pain, My own experience is that if pain is your due, it will come to you sooner or later and that it is better to spend your energy in strengthening your equipment to stand the pain, rather than in trying to avoid it.

Roderick nói rằng anh đã có linh cảm trước rằng anh sẽ cảm nhận mọi thứ, và tôi không nghi ngờ điều đó. Thật vậy, từ quan điểm nội môn, còn có thể tranh luận rằng liệu một người có nên cố gắng tránh né đau đớn hay không. Kinh nghiệm cá nhân của tôi là nếu nỗi đau là phần của bạn, nó sẽ đến với bạn sớm hay muộn, và tốt hơn là bạn nên dồn sức để rèn luyện thiết bị của mình nhằm chịu đựng được đau đớn, hơn là tìm cách tránh né nó.

What evidence is there that the physical body of man varies in any way according to development of intellectual and higher qualities? Recently there has been considerable experimentation with the human brain, especially through use of the electroencephalogram which records, on a moving piece of paper, electrical potentials emitted by the brain, An uneven sort of pattern of waves is recorded, and each person has a distinctive pattern, In the more highly evolved persons, there is a definite flattening of the patterns, especially in the extremely intelligent, All this is the borderland of the unknown as far as science is concerned, but that borderland is charted territory to the occultist or at least its highroads are clearly marked out, if not its backwaters.

Có bằng chứng nào cho thấy thân xác của con người thay đổi theo sự phát triển trí tuệ và các phẩm tính cao hơn không? Gần đây đã có nhiều nghiên cứu trên não người, đặc biệt là thông qua việc sử dụng điện não đồ (EEG), ghi lại trên giấy cuộn các điện thế phát ra từ não. Một dạng sóng gợn đều không đồng nhất được ghi lại, và mỗi người có một mẫu hình riêng biệt. Ở những người tiến hóa cao hơn, có sự làm phẳng rõ rệt của mẫu sóng, đặc biệt là ở người cực kỳ thông minh. Tất cả điều này vẫn còn là biên giới mơ hồ đối với khoa học, nhưng biên giới đó đã được người huyền bí đồ vạch rõ—ít nhất là những con đường chính đã được định vị, dù các lối nhỏ chưa hẳn đã rõ ràng.

The duty of the doctor becomes even more impelling, for it is he who must shoulder the responsibility for the dispensing of drugs, Baroness Summerskill made a pointed remark in the House of Lords some time ago:-

Trách nhiệm của bác sĩ vì vậy càng trở nên cấp thiết hơn, vì chính họ là người phải gánh vác trách nhiệm khi kê đơn thuốc. Nam Tước phu nhân Summerskill đã từng phát biểu một cách châm biếm tại Thượng viện:

“The doctor who tells an obese patient that the best treatment is to reduce his diet, and refuses to give slimming tablets, may lose that patient and his family, But a doctor who gives slimming pills can get all the fat women in the street on his list.”

“Vị bác sĩ nào nói với bệnh nhân béo phì rằng phương pháp điều trị tốt nhất là giảm ăn, và từ chối cho thuốc giảm béo, có thể sẽ mất bệnh nhân đó cùng cả gia đình họ. Nhưng một bác sĩ cho thuốc giảm béo có thể được tất cả những phụ nữ béo phì trên cả con phố ghi danh.”

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-46.webp

Penicillin

Effects of Penicillin

Tác Động của Penicillin

Whilst the physical effects of penicillin are well known, those related to the astral and mental bodies are not.

Trong khi các tác động vật lý của penicillin đã được biết đến rộng rãi, những tác động liên quan đến thể cảm dục và thể trí thì chưa được biết nhiều.

The English Master is of the opinion that almost all faculties are impaired—visual, audio—a blunting of the sensory equipment is paralleled by increase in reaction time. The sense of judgment is impaired as in alcohol, except that the accompanying state is depressed rather than manic, The depression accompanying penicillin dosage can lead to panic, baseless fears, lack of will and staying power, anti-social attitudes and behaviour bordering on paranoia. The patient feels he cannot face anything that demands effort. The main experience claustrophobia, irritation with everything and everyone about you, gloom and depression.

Chân sư người Anh cho rằng hầu như tất cả các năng lực đều bị suy giảm — thị giác, thính giác — sự cùn mòn của các thiết bị cảm giác đi song song với sự gia tăng thời gian phản ứng. Khả năng phán đoán cũng bị suy yếu giống như khi uống rượu, ngoại trừ trạng thái kèm theo là trầm cảm thay vì hưng cảm. Sự trầm cảm đi kèm với việc dùng penicillin có thể dẫn đến hoảng loạn, những nỗi sợ vô căn cứ, sự thiếu ý chí và sức bền, thái độ phản xã hội và hành vi gần như hoang tưởng. Bệnh nhân cảm thấy không thể đối mặt với bất cứ điều gì đòi hỏi nỗ lực. Trải nghiệm chính là cảm giác ngột ngạt, dễ bực bội với mọi thứ và mọi người xung quanh, u ám và trầm cảm.

The highly evolved are more susceptible to these side-effects because the impact of standard dosage is more devastating, Contrary to current medical theory and practice with regard to administering penicillin only on rare occasions and in massive doses, Man on the Path can exact the same help from the antibiotic when it is taken in much smaller doses, of the order administered to children. The usefulness of the above information to the disciple is that the onset of the symptoms described can, when recognised, help the patient to assess the dosage suitable for him on an existential basis, which incorporates another of the axioms of Esoteric Healing, i.e., “Man on the Path reacts to disease and responds to esoteric healing as rapidly as a child.”

Những người tiến hóa cao nhạy cảm hơn với các tác dụng phụ này vì tác động của liều tiêu chuẩn đối với họ hủy hoại hơn nhiều. Trái ngược với lý thuyết và thực hành y học hiện nay vốn cho rằng chỉ nên sử dụng penicillin trong những trường hợp hiếm hoi và với liều lượng lớn, Người Trên Đường Đạo có thể thu được sự trợ giúp tương tự từ kháng sinh này khi dùng với liều lượng nhỏ hơn nhiều, tương đương với liều dành cho trẻ em. Lợi ích của thông tin trên đối với người đệ tử là việc nhận biết sự khởi phát của các triệu chứng được mô tả có thể giúp bệnh nhân đánh giá liều lượng phù hợp với mình trên cơ sở hiện hữu, điều này kết hợp với một định lý khác của Chữa Lành Nội Môn, đó là: “Người Trên Thánh đạo phản ứng với bệnh tật và đáp ứng với chữa lành nội môn nhanh như một đứa trẻ.”

Homoeopathic quantities of penicillin are effective, especially for the disciple. The writer has a deep respect for penicillin. In the Second World War, grievously wounded, he was one of the first ever treated with penicillin. It undoubtedly saved his life. When the antibiotic is properly understood in terms of its correct dosage for you and used at the appropriate time, it can be a wonderful remedy. Unfortunately, wrong dosage is usually administered and far too late. The sensitive esotericist should be able to detect an upper respiratory tract infection at least 36 hours before the average man.

Liều lượng vi lượng penicillin đặc biệt hiệu quả, nhất là đối với người đệ tử. Người viết rất kính trọng penicillin. Trong Thế Chiến Thứ Hai, khi bị thương nặng, ông là một trong những người đầu tiên được điều trị bằng penicillin. Không nghi ngờ gì, nó đã cứu sống ông. Khi kháng sinh này được hiểu đúng về liều lượng phù hợp với từng người và được sử dụng vào thời điểm thích hợp, nó có thể là một phương thuốc tuyệt vời. Thật không may, liều lượng sai thường được kê đơn và lại thường kê quá muộn. Người nhạy cảm trên con đường nội môn nên có khả năng phát hiện ra nhiễm trùng đường hô hấp trên ít nhất 36 giờ trước người bình thường.

It is claimed that drugs must be tested on animals to see if they are safe for use on humans. The truth is that all the recent drugs are poisonous to some extent and, despite tests on animals, all have harmed human beings. Here are a few examples of the bad effects—called ‘side-effects’—on humans of certain modern drugs in common use:-

Người ta tuyên bố rằng các loại thuốc phải được thử nghiệm trên động vật để xem chúng có an toàn cho con người không. Thực tế là tất cả các loại thuốc mới đây đều có mức độ độc hại nhất định và, bất chấp việc thử nghiệm trên động vật, tất cả đều đã gây hại cho con người. Dưới đây là một số ví dụ về những tác động xấu — được gọi là “tác dụng phụ” — trên người của một số loại thuốc hiện đại phổ biến:

PENICILLIN:

PENICILLIN:

has caused sudden death and other lesser consequences from shock (anaphylaxis), skin diseases of various kinds, heart symptoms, blood diseases.

Đã gây tử vong đột ngột và nhiều hậu quả nhẹ hơn do sốc (phản vệ), các bệnh ngoài da khác nhau, triệu chứng tim, bệnh máu.

SULPHONAMIDES:

SULPHONAMIDES:

have caused rashes of many kinds, kidney damage, sterility, heart damage, attacks of confusion and insanity, sudden death.

Đã gây ra các loại phát ban khác nhau, tổn thương thận, vô sinh, tổn thương tim, các cơn lú lẫn và mất trí, tử vong đột ngột.

STREPTOMYCIN:

STREPTOMYCIN:

has caused abscesses, deafness (sometimes permanent), damage to the mechanism of balancing, convulsions, delirium, madness.

Đã gây áp-xe, điếc (đôi khi vĩnh viễn), tổn thương cơ chế cân bằng, co giật, mê sảng, loạn trí.

CORTISONE and ACTH:

CORTISONE và ACTH:

have caused perforation of peptic and other ulcers, the lighting up of latent tuberculosis, sudden death from abdominal damage, insanity, diabetes, sudden death from shock.

Đã gây thủng loét dạ dày và các loét khác, làm bùng phát bệnh lao tiềm ẩn, tử vong đột ngột do tổn thương ổ bụng, loạn trí, tiểu đường, tử vong đột ngột do sốc.

AUREOMYCIN:

AUREOMYCIN:

has caused internal hemorrhages, development of diseases due to killing of necessary germs, neuritis, liver damage, death.

Đã gây xuất huyết nội bộ, phát triển các bệnh do tiêu diệt vi khuẩn cần thiết, viêm dây thần kinh, tổn thương gan, tử vong.

CHLORAMPHENICOL:

CHLORAMPHENICOL (CHLOROMYCETIN):

(CHLOROMYCETIN) has caused symptoms similar to Aureomycin, blood disease, double vision, fatal shock.

Đã gây ra các triệu chứng tương tự Aureomycin, bệnh máu, song thị, sốc gây tử vong.

TERRAMYCIN:

TERRAMYCIN:

has caused allergic reactions and death from gastric disease.

Đã gây phản ứng dị ứng và tử vong do bệnh lý dạ dày.

It is not suggested that these consequences invariably follow the use of these drugs, but all these and many other consequences have occurred despite tests on animals. Perhaps the most horrifying of all the drug tragedies concerned Thalidomide which, when administered to women in the early stages of pregnancy, resulted in the birth of thousands of dreadfully deformed babies, including about 400 in Britain. Every year, in England and Wales, about 150 people are killed by medical treatments, mostly drugs. Thousands more are made seriously ill.

Không có ý cho rằng những hậu quả này luôn xảy ra khi sử dụng những loại thuốc này, nhưng tất cả những hậu quả này và nhiều hậu quả khác đã xảy ra bất chấp các thử nghiệm trên động vật. Có lẽ bi kịch kinh hoàng nhất liên quan đến thuốc là trường hợp Thalidomide, khi được sử dụng cho phụ nữ trong giai đoạn đầu của thai kỳ, đã dẫn đến sự ra đời của hàng ngàn em bé bị dị tật kinh hoàng, trong đó có khoảng 400 trường hợp ở Anh. Mỗi năm, tại Anh và xứ Wales, khoảng 150 người chết do các phương pháp điều trị y tế, chủ yếu là do thuốc. Hàng ngàn người khác trở nên ốm nặng.

Space Medicine

The Problems of WeightlessnessNhững Vấn Đề của Tình Trạng Không Trọng Lực

We live in the Age in which flight to nearby planets has become a reality. The Age ahead will be confronted with the problems of space exploration. Not the least of those will be the effects on Man’s physical body, his emotional nature and his thinking mechanisms. Despite excursions of brave individuals into water tanks which simulated weightlessness and equally daring astronauts on a planet one-fifth the gravity of our own, we have little evidence of long-term effects of weightlessness. With the construction of enormous space platforms and research laboratories, it is but a matter of time before medical science begins to see the possible implications of treating, say, arthritis in conditions of weightlessness where mobilisation of the arthrosed joints might become less of a problem. There will be many problems to deal with.

Chúng ta đang sống trong Kỷ Nguyên mà việc bay đến các hành tinh gần đã trở thành hiện thực. Kỷ Nguyên sắp tới sẽ phải đối mặt với các vấn đề của công cuộc thám hiểm không gian. Một trong những vấn đề quan trọng đó là ảnh hưởng lên thể xác con người, bản chất cảm xúc và cơ chế tư duy của y. Dù đã có những người dũng cảm tham gia vào các bể nước mô phỏng trạng thái không trọng lực, và những phi hành gia không kém phần can đảm đã đáp xuống một hành tinh có trọng lực chỉ bằng một phần năm của Trái Đất, chúng ta vẫn có rất ít dữ liệu về các tác động lâu dài của tình trạng không trọng lực. Với việc xây dựng các trạm không gian khổng lồ và các phòng thí nghiệm nghiên cứu, chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi y học bắt đầu nhận ra những hàm ý tiềm năng trong việc điều trị, chẳng hạn như bệnh viêm khớp, trong điều kiện không trọng lực—nơi việc vận động các khớp bị cứng có thể bớt khó khăn hơn. Nhưng sẽ có rất nhiều vấn đề khác phải giải quyết.

If the teachings of esoteric science mean anything, then we can expect a multiple of disorders to present themselves in men penetrating the Solar System in depth. Some of these will result from weightlessness; others from breaking that extraordinary barrier which we, the students of esoteric science, call the Ring-Pass-Not. (1)

Nếu các giáo lý của khoa học nội môn có ý nghĩa gì, thì chúng ta có thể kỳ vọng sẽ có hàng loạt rối loạn xuất hiện nơi những người khám phá sâu vào Hệ Mặt Trời. Một số trong những rối loạn đó sẽ là hệ quả của tình trạng không trọng lực; số khác đến từ việc vượt qua rào chắn phi thường mà chúng tôi—các học viên của khoa học nội môn—gọi là Vòng-Giới-Hạn (Ring-Pass-Not).

(1) The Ring-Pass-Not of an individual may never be stretched to its ultimate potential. He may live with his three interpenetrating force fields depressed and unexpressed, narrowly confined about him by various factors in his environment or personality. Esoteric training extends the Ring-Pass-Not to its ultimate. Space exploration would do the same, but in what ways and to what extent we are not certain. Hence the need for the helpful advice of a Master of the Wisdom.

(1) Vòng-Giới-Hạn của một cá nhân có thể không bao giờ được mở rộng đến tiềm năng tối hậu của nó. Y có thể sống với ba trường năng lượng xuyên thấu lẫn nhau bị kìm hãm và không được biểu lộ, bị giới hạn chặt chẽ bởi các yếu tố thuộc môi trường hoặc phàm ngã của y. Huấn luyện nội môn giúp mở rộng Vòng-Giới-Hạn đến cực hạn. Thám hiểm không gian cũng sẽ làm điều tương tự, nhưng theo những cách nào và đến mức độ nào thì chúng ta chưa rõ. Do đó cần có sự hướng dẫn từ một Chân sư Minh triết.

A Ring-Pass-Not is a sphere of interpenetrating force fields which accompanies the consciousness of all men. It is a composite of several spheres, i.e., etheric, astral and mental, the mental being the largest. The size of this sphere is determined by the spiritual status of the individual. It should not be confused with the Auric Egg. The savage with a young soul will have a small Ring-Pass-Not, mainly composed of etheric and astral energies, and it might extend but a few miles. An advanced man would have a Ring-Pass-Not as large as the planet Earth, meaning that in his mental consciousness he might extend his awareness telepathically to include anyone on the Earth. Emotionally his Ring-Pass-Not might not extend further than the area comprising his national boundaries. Initiates of the Third Degree normally encompass a spherical region which includes the Moon as part of their Ring-Pass-Not. The question arose during recent flights to the Moon whether movement in a physical body beyond the limit of the Ring-Pass-Not of an astronaut would not lead to problems or even advantageous experiences.

Vòng-Giới-Hạn là một hình cầu gồm các trường lực xuyên thấu lẫn nhau đi theo tâm thức của mọi người. Nó là sự tổng hợp của nhiều hình cầu—dĩ thái, cảm dục và thể trí—trong đó thể trí là lớn nhất. Kích thước của hình cầu này được quyết định bởi cấp độ tâm linh của cá nhân. Nó không nên bị nhầm lẫn với Noãn Hào Quang. Người man dã với linh hồn còn non trẻ sẽ có Vòng-Giới-Hạn nhỏ, chủ yếu gồm các năng lượng dĩ thái và cảm dục, và nó có thể chỉ kéo dài vài dặm. Một người tiến bộ sẽ có Vòng-Giới-Hạn lớn bằng hành tinh Trái Đất, nghĩa là trong tâm thức thể trí của mình, y có thể mở rộng nhận thức viễn cảm để bao trùm bất kỳ ai trên Trái Đất. Về cảm xúc, Vòng-Giới-Hạn của y có thể không vượt quá ranh giới quốc gia. Những điểm đạo đồ cấp ba thường bao trùm một vùng hình cầu có cả Mặt Trăng trong Vòng-Giới-Hạn của họ. Câu hỏi đã được đặt ra trong các chuyến bay lên Mặt Trăng gần đây: liệu việc di chuyển bằng thể xác vượt quá giới hạn của Vòng-Giới-Hạn của một phi hành gia có dẫn đến vấn đề, hay thậm chí là những trải nghiệm có lợi?

In 1963 I wrote a paper on weightlessness and its implications, to which I have now the observations of the English Master to add.

Vào năm 1963, tôi đã viết một bài luận về tình trạng không trọng lực và các hệ quả của nó, và giờ đây tôi muốn bổ sung thêm các quan sát của Chân sư người Anh.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-47.webp

My task here is to bring the light of the ancient sciences to bear on the problem of weightlessness. Perhaps you have seen, in earlier days, science manuals depicting the effects which living on a larger planet would have on its inhabitants. You have seen animals and men of such planets depicted with enormous muscles and bony structures to cope with the increase of gravity. Or perhaps you have seen astronauts shown leaping about on planets in which gravity is much less than our own. And so there has grown up the generally held idea that human life on other planets in our system is practically impossible because of extremes of gravity, heat and cold, lack of oxygen, etc. One such planet is often quoted in this respect and it is Jupiter, and no exoteric scientist of our day holds out much hope for life on Jupiter.

Nhiệm vụ của tôi ở đây là đem ánh sáng của các khoa học cổ xưa chiếu rọi lên vấn đề không trọng lực. Có thể bạn đã từng thấy trong những sách khoa học xưa mô tả tác động của việc sống trên một hành tinh lớn hơn đối với cư dân của nó. Bạn đã thấy hình ảnh động vật và con người trên những hành tinh ấy với các khối cơ bắp và cấu trúc xương khổng lồ để thích nghi với trọng lực tăng cao. Hoặc bạn từng thấy hình ảnh các phi hành gia nhảy nhót trên những hành tinh có trọng lực nhỏ hơn của chúng ta. Từ đó đã hình thành một quan niệm phổ biến rằng đời sống con người trên các hành tinh khác trong hệ Mặt Trời là hầu như không thể, do sự cực đoan của trọng lực, nhiệt độ, lạnh giá, thiếu oxy, v.v… Một hành tinh thường được trích dẫn như vậy là sao Mộc, và không nhà khoa học ngoại môn nào trong thời đại chúng ta đặt nhiều hy vọng về sự sống trên sao Mộc.

Before considering weightlessness, let us pause to consider how some of the very ancient sages looked at the universe. Amongst their concepts they held the belief that space and time were limitless. They never spoke much of the age of the Earth (H.P .B. gave it as about 4,300 million years), but rather of its cycles of manifestation or manvantaras, cycles which run into thousands of millions of years. Our own Earth was never considered a particularly important planet in the great scheme of Life. In fact, if anything, life on our planet is said by these ancients to be somewhat inferior to the average development of life in the universe as a whole. And this is the great conceit of our age, that we Earthly beings believe ourselves to be the highest form of life in the universe. Here is a pointer to the new system which is to emerge with the certainty of Copernicus’ new system, a system which places our Earth and its Solar System as a relatively unimportant centre in a vast, thriving, living universe. It will be a shift of focus equally as important as that from Ptolemy to Copernicus. It will be as if for years we have been obsessed with the finger and must now look for the head.

Trước khi bàn về tình trạng không trọng lực, hãy dừng lại để xem xét cách nhìn của các hiền triết cổ xưa về vũ trụ. Trong các quan niệm của họ, không gian và thời gian là vô tận. Họ không nói nhiều về tuổi đời của Trái Đất (H.P.B. đưa ra con số khoảng 4.300 triệu năm), mà nói về các chu kỳ biểu hiện hay manvantara—những chu kỳ kéo dài hàng tỉ năm. Hành tinh của chúng ta chưa bao giờ được xem là một hành tinh đặc biệt quan trọng trong đại kế hoạch của Sự Sống. Trên thực tế, theo các hiền triết cổ đại, sự sống trên hành tinh chúng ta còn ở mức độ thấp hơn so với sự phát triển trung bình của sự sống trong toàn vũ trụ. Và đây chính là sự tự cao lớn lao của thời đại chúng ta—khi nhân loại trên Trái Đất tự cho mình là hình thái sống cao nhất trong vũ trụ. Đây là một dấu hiệu cho thấy một hệ thống mới sắp xuất hiện với sự chắc chắn như hệ thống của Copernicus, một hệ thống đặt Trái Đất và Hệ Mặt Trời của nó vào một trung tâm tương đối không quan trọng trong một vũ trụ sống động và bao la. Sự chuyển dịch trọng tâm này sẽ quan trọng chẳng kém gì bước chuyển từ hệ thống Ptolemy sang Copernicus. Nó giống như trong nhiều năm chúng ta đã quá tập trung vào ngón tay và giờ đây phải bắt đầu nhìn vào cái đầu.

There are, according to the same Traditional Teachings, millions of planets capable of supporting life, but no two planets are alike. They differ in their age, their grossness and degree of condensation, their outward and inner development, and in their overall quality, not very unlike the way men differ.

Theo cùng Giáo Lý Truyền Thống, có hàng triệu hành tinh có thể hỗ trợ sự sống, nhưng không có hai hành tinh nào giống nhau. Chúng khác nhau về tuổi đời, mức độ đậm đặc và ngưng tụ, sự phát triển bên ngoài và bên trong, cũng như phẩm chất tổng thể—khá giống cách mà con người khác biệt nhau.

Now instead of man having to be distorted in his outline, shape or form to fit the varying conditions on these planets, Nature has another plan. The Wisdom of the Ages teaches that man is as old as the universe itself. He is in fact as much a principle of the universe as is light. But just as there is light on the physical plane with its colour and other innate qualities, there is also a light seen in the dream world of the Astral plane. There is also the light, the glorious light of the Buddhic plane. So too are the manifestations of humanity at various levels of grossness and quality.

Thay vì con người phải bị biến dạng về hình thể, hình dáng hay cấu trúc để thích nghi với các điều kiện khác nhau trên các hành tinh đó, thì Thiên Nhiên có một kế hoạch khác. Minh Triết Ngàn Đời dạy rằng con người cổ xưa ngang với vũ trụ. Con người chính là một nguyên lý của vũ trụ, như ánh sáng. Nhưng cũng như có ánh sáng trên cõi vật lý với màu sắc và các đặc tính riêng, thì cũng có ánh sáng trong thế giới mộng mơ của cõi cảm dục. Cũng có ánh sáng, ánh sáng rực rỡ của cõi Bồ Đề. Và tương tự, có những biểu lộ của nhân loại ở nhiều cấp độ đậm đặc và phẩm chất khác nhau.

Because a planet may be much greater in mass than the Earth, man on that planet need not have to possess gargantuan muscles to drag himself about, nor need he have bones reminiscent of the prehistoric monsters of the Earth. Instead, man on such a planet is made more tenuous, less dense, more etherial. His form remains the same, but per cubic inch of flesh he is lighter than we are. He has less mass to hold upright. His bones are consequently less calcified. In fact, at the most, he might possess cartilage in the place of bone. A six-foot human by our standards might only weigh some fifty pounds on such a planet, and yet be perfectly rounded out.

Dù một hành tinh có thể lớn hơn Trái Đất nhiều lần, con người trên hành tinh đó không nhất thiết phải có các cơ bắp khổng lồ để kéo lê thân xác, cũng không cần có xương như các quái vật thời tiền sử. Thay vào đó, con người trên hành tinh như vậy được tạo ra mảnh mai hơn, ít đậm đặc hơn, có tính dĩ thái cao hơn. Hình thể của họ vẫn giữ nguyên, nhưng trọng lượng trên mỗi inch khối thịt lại nhẹ hơn chúng ta. Xương của họ ít canxi hóa hơn. Trên thực tế, họ có thể chỉ có sụn thay vì xương. Một người cao sáu foot theo tiêu chuẩn của chúng ta có thể chỉ nặng khoảng năm mươi pound trên hành tinh ấy, mà vẫn có hình thể đầy đặn.

Actually, life on Jupiter in human form compensates even further. The men on Jupiter grow enormous by our standards, perhaps ten or more feet tall, and the men of Jupiter are what they are because they are a product of Jupiter modeled to the archetype of Man, the human principle. Jupiter has peculiar properties. Its diameter is 89,000 miles, or more than eleven times that of the Earth. Yet, this enormous planet rotates (at the equator) 28,000 miles an hour, whilst our own planet rotates at 1,000 m.p.h. No wonder its human life is different, but different only within the matrix of the Divine Human Archetype, Whom some of us call God. All men are made in the image of God, but they possess tremendous powers of adaptability. Thus, the men of Jupiter are older than us, in age and in age of origin. They are bigger than us. They are more advanced. They are not as heavy relatively. But they are essentially human in form.

Thật ra, đời sống con người trên sao Mộc còn có những đặc tính bù trừ đặc biệt hơn. Con người trên sao Mộc cao lớn theo tiêu chuẩn của chúng ta—có thể mười foot hoặc hơn—và họ là sản phẩm của sao Mộc được tạo hình theo nguyên mẫu của con người, nguyên lý nhân loại. Sao Mộc có những đặc tính kỳ lạ: đường kính 89.000 dặm—lớn hơn Trái Đất hơn mười một lần. Tuy vậy, nó quay quanh trục ở xích đạo với tốc độ 28.000 dặm mỗi giờ, trong khi Trái Đất chỉ quay ở tốc độ 1.000 dặm/giờ. Không lạ gì mà đời sống con người trên sao Mộc lại khác biệt—nhưng khác biệt chỉ trong khuôn mẫu của Nguyên Mẫu Thiêng Liêng của Con Người, Đấng mà một số chúng ta gọi là Thượng Đế. Mọi người đều được tạo ra theo hình ảnh của Thượng Đế, nhưng có khả năng thích nghi vô cùng lớn. Vì thế, con người trên sao Mộc già hơn chúng ta—về tuổi đời và về thời điểm khởi nguyên. Họ to lớn hơn chúng ta. Họ tiến hóa hơn. Họ không nặng như chúng ta theo tỷ lệ. Nhưng về bản chất, họ vẫn là con người.

The rationale of adaptabilityLý lẽ của sự thích nghi

Apart from the visible stars and planets of our universe, there are, of course, millions of etheric planets which, although not visible, yet transmit radio waves. In our solar system alone, there are some sixty planets of very subtle substance which have lives on them of their own. On these planets, whose emanations are being recorded by the great radio-telescope at Jodrell Bank, there is subtle life forms with aether bodies similar to the aether parts of our own bodies photographed by radionic cameras in the de la Warr laboratories at Oxford and seen through the screens of Kilner. According to the structure of the planet, its qualities and its degree of development along the scale of spiritual evolution, will the structure of the inhabitants be dictated, but all its human forms are essentially man-like in their shape and as symmetrical as we are.

Ngoài những ngôi sao và hành tinh hữu hình trong vũ trụ, còn có hàng triệu hành tinh dĩ thái—dù không thể nhìn thấy, nhưng vẫn truyền sóng vô tuyến. Trong hệ Mặt Trời của chúng ta thôi, đã có khoảng sáu mươi hành tinh bằng chất liệu rất tinh tế, trên đó có những dạng sống riêng. Trên các hành tinh này—mà các sóng phát ra đang được kính thiên văn vô tuyến khổng lồ tại Jodrell Bank ghi nhận—có những dạng sống vi tế với các thể dĩ thái tương tự như phần dĩ thái của chính thân thể chúng ta, vốn đã được chụp lại bởi các máy ảnh radionic tại phòng thí nghiệm de la Warr ở Oxford và nhìn thấy qua các màn hình Kilner. Tùy vào cấu trúc của hành tinh, phẩm chất và mức độ phát triển theo nấc thang tiến hóa tinh thần, mà cấu trúc của cư dân được quyết định. Nhưng tất cả các hình thái con người ấy đều mang hình dáng người về bản chất, và cân đối như chính chúng ta.

The organs of the body have evolved over vast periods of time. Some of them have atrophied, like the pineal gland, to become vestigial. Others have lost their function, like the appendix. Some are enlarged in the foetus and regress during adolescence, like the thymus gland. The veins of the leg have evolved valves to cope with gravity that increased as the Moon became further from the Earth. Some have retained some functions and lost others, have become smaller as Root Race succeeded Root Race, like the spleen.

Các cơ quan trong cơ thể đã tiến hóa qua những thời kỳ vô cùng dài lâu. Một số trong chúng đã bị teo lại, như tuyến tùng, trở thành cơ quan tàn tích. Một số khác đã mất chức năng, như ruột thừa. Một số thì phát triển to lớn trong bào thai rồi thoái hóa trong giai đoạn thiếu niên, như tuyến ức. Các tĩnh mạch ở chân đã tiến hóa các van để thích nghi với trọng lực ngày càng tăng khi Mặt Trăng dần rời xa Trái Đất. Một số cơ quan giữ lại một số chức năng và mất đi các chức năng khác, đã trở nên nhỏ hơn khi các Giống dân gốc kế tiếp nhau xuất hiện, như lá lách.

All organs play a part in the grand scheme of things, in which Man is the central piece. Of special importance in relation to our subject here are the spleen and thymus gland, not just because these are endocrine glands and therefore are related to chakras of major importance, but because they assist, in their changes, the adaptation of Man to a new planetary environment.

Tất cả các cơ quan đều đóng một vai trò trong đại đồ án, trong đó Con Người là yếu tố trung tâm. Đặc biệt quan trọng đối với chủ đề của chúng ta ở đây là lá lách và tuyến ức, không chỉ vì đây là các tuyến nội tiết và do đó liên hệ với các luân xa có tầm quan trọng lớn, mà còn vì chúng hỗ trợ, qua sự thay đổi của mình, cho sự thích nghi của Con Người với môi trường hành tinh mới.

The SpleenLá Lách

In the early Lemurian Root Races, the spleen was enormous, occupying most of the abdominal cavity. At that time, Man possessed only a primitive blood system with a low hemoglobin content incapable of absorbing and carrying much oxygen. The Spleen Chakra, the most closely related to the etheric body of all the endocrines, was the main site of intake for prana which was absorbed directly as vitality globules into the etheric body. Today, with a very efficient blood system high in hemoglobin content, Man uses the Spleen Chakra less than before. It has become smaller and its functions somewhat different to those of earlier days. With long periods of weightlessness (years at least), there will be severe changes to the etheric body, and this will entail a resorting to uptake of prana more through the Spleen Chakra and less so via the blood. There will, therefore, tend to be hypertrophy of the spleen, mirroring what we sometimes see in anaemias when the enlargement may be many times more than what we now call ‘normal’.

Trong các Giống dân gốc Lemuria sơ kỳ, lá lách rất lớn, chiếm phần lớn khoang bụng. Khi đó, Con Người chỉ sở hữu một hệ tuần hoàn máu nguyên thủy với hàm lượng hemoglobin thấp, không thể hấp thụ và chuyên chở nhiều oxy. Luân xa lá lách, luân xa có mối liên hệ mật thiết nhất với thể dĩ thái trong số các tuyến nội tiết, là nơi thu nhận chính prana được hấp thu trực tiếp dưới dạng sinh khí cầu vào thể dĩ thái. Ngày nay, với một hệ tuần hoàn máu rất hiệu quả và hàm lượng hemoglobin cao, Con Người sử dụng luân xa lá lách ít hơn trước. Nó đã trở nên nhỏ hơn và chức năng của nó phần nào đã thay đổi so với thời xưa. Với các giai đoạn dài không trọng lực (ít nhất là nhiều năm), sẽ có những thay đổi nghiêm trọng đối với thể dĩ thái, và điều này sẽ kéo theo việc thu nhận prana nhiều hơn qua luân xa lá lách và ít hơn qua máu. Do đó, sẽ có khuynh hướng phì đại lá lách, phản ánh điều đôi khi chúng ta thấy trong các chứng thiếu máu, khi mà sự phì đại có thể lớn gấp nhiều lần cái mà ngày nay chúng ta gọi là ‘bình thường.’

The Thymus GlandTuyến Ức

Enlargement of this gland will also parallel that of the spleen. This will happen anyway in the Sixth and Seventh Root Races on the Earth. With mimicry of this situation through weightlessness, the thymus will grow to the size it reaches in the foetal state before regressing after birth. Such enlargement would accompany strong inner development towards Sixth Root Race qualities, e.g., intuition, harmlessness, non-separativeness, divine unrest, spiritual aspiration, etc.

Sự phì đại của tuyến này cũng sẽ song song với lá lách. Dù sao đi nữa, điều này sẽ xảy ra trong các Giống dân gốc Thứ Sáu và Thứ Bảy trên Trái Đất. Khi tình huống này được mô phỏng qua trạng thái không trọng lực, tuyến ức sẽ phát triển đến kích thước mà nó đạt được trong bào thai trước khi thoái hóa sau khi sinh. Sự phì đại như vậy sẽ đi kèm với sự phát triển nội tâm mạnh mẽ hướng tới các phẩm chất của Giống dân gốc Thứ Sáu, như: trực giác, tính vô tổn hại, tính không phân rẽ, sự bất an thiêng liêng, khát vọng tinh thần, v.v.

The Versatility of the Human ArchetypeTính Linh Hoạt của Nguyên Hình Con Người

Man develops physically into bone and muscle out of a soft, watery protoplasm in the embryo. It is only years later that his heavy bones, originally cartilage, become fully calcified. On a vaster scale, Man repeats this process in the formation of his early Root Races (i.e., in the First, Second and half of the Third). This is why the earliest traces of human life on the Earth are missing: because they contained no true bone. Just as the human skeleton undergoes decalcification in the latter part of its existence, so do the last two and a half Root Races of Man. Herein lies the clue to the extremely subtle nature of human life on Jupiter, looking at the subject from an evolutionary point of view.

Con Người phát triển về mặt thể chất thành xương và cơ bắp từ một chất nguyên sinh mềm và nước trong bào thai. Phải nhiều năm sau đó, các xương nặng nề của y, ban đầu là sụn, mới hoàn toàn bị vôi hóa. Trên một quy mô lớn hơn, Con Người lặp lại tiến trình này trong sự hình thành các Giống dân gốc đầu tiên của y (tức là trong Giống dân gốc Thứ Nhất, Thứ Hai và nửa đầu Giống dân gốc Thứ Ba). Đây là lý do tại sao các dấu tích sớm nhất của sự sống con người trên Trái Đất lại bị mất đi: vì chúng không có xương thật sự. Cũng giống như bộ xương người trải qua quá trình khử canxi trong giai đoạn cuối đời, hai Giống dân gốc rưỡi cuối cùng của Con Người cũng vậy. Chính trong đây, em sẽ tìm thấy manh mối về bản chất cực kỳ tinh tế của sự sống con người trên sao Mộc, xét từ quan điểm tiến hóa.

There are men, human beings, representatives of the One Archetype or Universal Principle, all over the universe. Some are even grosser than we are. Some are as large as we are, but weighing only a few pounds. Some are made of purely aetheric substance. Some are even astral in substance. Some are purely mental. But whatever the planet, hot or cold, large or small, dense or subtle, mental or etheric, there is a corresponding human shape capable of inhabiting it, provided the life force is still playing upon it.

Có những con người, những thực thể con người, là đại diện của Nguyên Hình Duy Nhất hoặc Nguyên Lý Vũ Trụ, tồn tại khắp vũ trụ. Một số còn thô trược hơn chúng ta. Một số có kích thước bằng chúng ta nhưng chỉ nặng vài cân. Một số được cấu thành từ chất liệu hoàn toàn dĩ thái. Một số thậm chí có bản chất cảm dục. Một số hoàn toàn là thể trí. Nhưng dù là hành tinh nóng hay lạnh, lớn hay nhỏ, đậm đặc hay vi tế, trí tuệ hay dĩ thái, luôn có một hình dạng con người tương ứng có thể cư ngụ nơi đó, miễn là mãnh lực sự sống vẫn còn vận hành trên đó.

You won’t believe this until you too are confronted with human forms constructed out of subtle substance, materialised into ectoplasm, upright and identical to ourselves only less dense. This is why the phenomenon of materialisation is so important, not because of the activating entities, but because of what such a phenomenon implies—the versatility of the Human Archetype.

Các bạn sẽ không tin điều này cho đến khi các bạn tận mắt đối diện với các hình tướng con người được cấu thành từ chất liệu vi tế, hiện hình thành ectoplasm, đứng thẳng và giống hệt chúng ta chỉ trừ việc ít đậm đặc hơn. Đây là lý do vì sao hiện tượng hiện hình lại quan trọng đến vậy, không phải vì các thực thể đang hoạt động mà bởi vì điều mà hiện tượng ấy hàm ý—chính là tính linh hoạt của Nguyên Hình Con Người.

Why do we Earth-beings have such heavy, gross bodies? Our Earth is the densest planet in the solar system. More than this, it is a small planet which holds within its gravitational field an enormous moon which is pulling on the Earth every moment of the day and night. It is doubtful whether any other planet in our solar system, large as some of them may be, has such a burden relatively. One might compare the stress placed upon the Earth to a man of some 180 pounds weight swinging a two-pound weight about him on the end of a thirty foot rope. It is due partly to this stress and partly to the density of the Earth that we are what we are. The human body makes special allowances for the stress placed upon it, and Earth-men are no exception to this rule. The veins in our legs have special valves and thick walls to cope with the gravitational pull on the columns of blood within them. It is a process of nature to strengthen, thicken and coarsen any part of its living substance placed under stress. We get callouses on our hands and feet when we give them rough work to do. We grow bigger muscles when we subject those parts to stress. Plants do the same. Put a plant out into windy conditions. If it survives, it will alter the structure of its leaves and stalks enormously. They will become more fibrous and less fleshy in order the better to contend with the continuous stress of bending to the wind.

Tại sao chúng ta—các sinh thể trên Trái Đất—lại có các thân thể nặng nề, thô trược như vậy? Trái Đất của chúng ta là hành tinh đậm đặc nhất trong Thái Dương Hệ. Hơn nữa, nó là một hành tinh nhỏ nhưng lại giữ trong trường trọng lực của mình một Mặt Trăng khổng lồ đang kéo nó mỗi giây ngày đêm. Khó có thể tin rằng hành tinh nào khác trong Thái Dương Hệ của chúng ta, dù có lớn đến đâu, lại mang một gánh nặng tương đương như vậy. Có thể so sánh áp lực đặt lên Trái Đất như một người nặng chừng 180 pound đang quay một vật nặng 2 pound quanh mình bằng một sợi dây dài 30 feet. Một phần vì áp lực này và một phần vì mật độ của Trái Đất, chúng ta đã trở thành những gì chúng ta đang là. Cơ thể người phải có những điều chỉnh đặc biệt để thích nghi với áp lực đặt lên nó, và người Trái Đất cũng không ngoại lệ với quy luật này. Các tĩnh mạch ở chân chúng ta có các van đặc biệt và thành mạch dày để đối phó với sức hút trọng lực tác động lên các cột máu bên trong chúng. Đó là một tiến trình của tự nhiên—tăng cường, làm dày và thô bất kỳ phần nào của chất sống đang bị đặt dưới áp lực. Chúng ta phát triển các vết chai trên tay và chân khi làm việc nặng nhọc. Chúng ta phát triển các cơ lớn hơn khi đặt các phần đó dưới áp lực. Cây cỏ cũng vậy. Hãy đem một cây ra môi trường gió. Nếu nó sống sót, nó sẽ thay đổi cấu trúc của lá và thân một cách to lớn. Chúng sẽ trở nên nhiều sợi và ít thịt hơn để đối phó tốt hơn với áp lực liên tục của việc bị gió thổi nghiêng.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-48.webpesoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-49.webp

Now, what happens when we remove stress and effort from our human bodies? They become soft and flabby; there is a loss of muscle and changes in bone structure. Go further than this. What happens when the physical stress of gravity is reduced or removed when at the same time plenty of activity and movement is maintained, as for instance in a space capsule projected into weightlessness? Nothing obvious may be detected in the structure of a human physical body at first. With such conditions maintained into periods of many weeks and even months, what then? Will the body cut down on its muscle-size? No. Muscles are still needed for movement. Every part is required as before, but with less stress. The muscles and bones have just the same amount of movement to perform, but require less effort. What then happens?

Vậy điều gì xảy ra khi chúng ta loại bỏ căng thẳng và nỗ lực khỏi cơ thể con người? Cơ thể trở nên mềm nhũn và nhão; có sự mất mát cơ bắp và thay đổi trong cấu trúc xương. Hãy tiến xa hơn nữa. Điều gì xảy ra khi áp lực vật lý từ trọng lực bị giảm hoặc bị loại bỏ trong khi vẫn duy trì đầy đủ hoạt động và chuyển động, chẳng hạn như trong một khoang tàu vũ trụ được phóng vào trạng thái không trọng lực? Ban đầu, có thể không phát hiện thấy điều gì rõ ràng trong cấu trúc của thân thể vật lý con người. Nhưng nếu các điều kiện này được duy trì trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng, thì sao? Liệu cơ thể có cắt giảm kích thước cơ bắp không? Không. Các cơ vẫn cần thiết cho sự chuyển động. Mỗi bộ phận vẫn cần như trước, chỉ là với ít áp lực hơn. Các cơ và xương vẫn thực hiện lượng chuyển động tương đương, nhưng cần ít nỗ lực hơn. Vậy điều gì sẽ xảy ra?

If the esoteric teachings of old mean anything, then the human form will not alter its shape but will, instead, begin to lose its grossness. It will become more tenuous, lighter, but the same size. There will be less deposition of calcium, less emphasis on the reticulo-endothelial contribution to the body structure. The walls of the leg veins will not remain so thick when there is less gravity to contend with. And so on. Man becomes subtler.

Nếu các giáo lý huyền môn cổ xưa có ý nghĩa gì, thì hình tướng con người sẽ không thay đổi về hình dáng mà thay vào đó, sẽ bắt đầu mất đi tính thô trược. Nó sẽ trở nên tinh tế hơn, nhẹ hơn, nhưng vẫn giữ nguyên kích thước. Sẽ có ít sự lắng đọng canxi hơn, ít nhấn mạnh hơn vào sự đóng góp của hệ võng nội mô đối với cấu trúc cơ thể. Thành tĩnh mạch chân sẽ không còn dày như trước khi có ít trọng lực hơn để đối phó. Và tương tự như vậy. Con Người trở nên tinh tế hơn.

Now, whether or not this process can be endured by our spacemen without gross pathological disorders occurring in the physical, emotional and mental vehicles, is a different matter. The writer forecasts that this will be one of the barriers which Man will find nigh insuperable as he reaches out towards other planets. And even if he reaches them, will he be able to survive, for very long, the altered conditions of gravity, etc., on those planets? Certainly he will not without the most careful consideration given to the problems outlined herein. What, for instance, would be the effect of space conditions of weightlessness on a human foetus developing within a pregnant woman projected into space? The embryo development is largely dependent on stress, and the slightest alteration to optimum conditions should wreak havoc in its tissue building and formation.

Giờ đây, liệu tiến trình này có thể được các phi hành gia chịu đựng mà không gây ra các rối loạn bệnh lý nghiêm trọng đối với các thể vật lý, cảm dục và trí tuệ hay không, lại là một vấn đề khác. Tác giả dự đoán rằng đây sẽ là một trong những rào cản mà Con Người sẽ thấy gần như không thể vượt qua khi y vươn tới các hành tinh khác. Và ngay cả khi y tới được chúng, liệu y có thể sống sót trong thời gian dài trước các điều kiện trọng lực thay đổi, v.v., trên các hành tinh đó không? Chắc chắn là không, nếu không có sự cân nhắc kỹ lưỡng nhất dành cho các vấn đề được trình bày trong phần này. Thí dụ, điều gì sẽ xảy ra với một bào thai con người đang phát triển trong bụng một người phụ nữ mang thai được phóng vào không gian? Sự phát triển của phôi phần lớn phụ thuộc vào áp lực, và chỉ cần một thay đổi nhỏ nhất đối với các điều kiện tối ưu cũng có thể gây tàn phá nghiêm trọng trong việc hình thành và kiến tạo các mô.

One of the first symptoms that Man subjected to prolonged weightlessness will report is that the mind tends to wander. This will present immediate problems the moment space exploration to the nearest of planets is undertaken. This will be due to the increasing tendency of subtler vehicles to vacate the physical body the moment the brain’s attention is withdrawn from very definite or specific tasks. The same phenomenon is characteristic of schizophrenia, except that here there will be also desire to dramatise thought experience to which the mind has wandered. A minute-by-minute schedule will have to be elaborated to hold the attention, with a buzzer operated by computer to remind the space navigator when he wanders.

Một trong những triệu chứng đầu tiên mà Con Người trải qua tình trạng không trọng lực kéo dài sẽ báo cáo là tâm trí có khuynh hướng lạc đi. Điều này sẽ tạo ra các vấn đề tức thì ngay từ khoảnh khắc việc thám hiểm không gian tới các hành tinh gần nhất được tiến hành. Điều này là do khuynh hướng ngày càng tăng của các thể vi tế hơn có xu hướng rời khỏi thể xác ngay khi sự chú ý của não bộ không còn tập trung vào các nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng. Hiện tượng tương tự cũng là đặc trưng của bệnh tâm thần phân liệt, ngoại trừ việc ở đây còn có mong muốn kịch tính hóa các trải nghiệm tư tưởng mà tâm trí đã lạc đến. Một lịch trình từng phút sẽ phải được xây dựng để giữ cho sự chú ý được duy trì, với một thiết bị báo hiệu được vận hành bằng máy tính để nhắc nhở người điều khiển tàu vũ trụ khi tâm trí y lạc hướng.

In prolonged weightlessness there will be very rapid regeneration of the etheric body. Shorn of its physical load, it will quickly become ‘super-charged’ and over-reactive to stimuli from without and from within. The subject will note electrical phenomena accompanying many physiological activities which require any sort of effort. Sneezing will produce an experience of exploding light. Hyperaesthesia and a lowering of the threshold to most sensory stimuli will also be a feature accompanying the prolonged reduction of gravity.

Trong trạng thái không trọng lực kéo dài, sẽ có sự tái sinh rất nhanh của thể dĩ thái. Được giải thoát khỏi gánh nặng thể xác, thể này sẽ nhanh chóng trở nên ‘siêu nạp’ và phản ứng quá mức với các kích thích từ bên ngoài lẫn bên trong. Người trải nghiệm sẽ nhận thấy các hiện tượng điện đi kèm với nhiều hoạt động sinh lý đòi hỏi bất kỳ hình thức nỗ lực nào. Việc hắt hơi sẽ tạo ra một trải nghiệm của ánh sáng bùng nổ. Tăng cảm giác và ngưỡng kích thích đối với hầu hết các tác nhân cảm giác bị hạ thấp cũng sẽ là đặc điểm đi kèm với việc giảm trọng lực kéo dài.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-50.webpesoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-51.webpesoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-52.webp

Errors of judgment will feature in behaviour, and generally there will be over-stimulation of the parasympathetic nervous system and the many symptoms that accompany that physiological phenomenon, including the tendency to faint and other aspects of vaso-vagal syncope. Sudden extension and emphasis of the dream life with out-of-body experiences typical of those described by Dr. John Lilly, M.D., will be a common feature.

Các sai lầm trong phán đoán sẽ xuất hiện trong hành vi, và nói chung sẽ có sự kích thích quá mức của hệ thần kinh phó giao cảm cùng nhiều triệu chứng đi kèm với hiện tượng sinh lý này, bao gồm khuynh hướng ngất xỉu và các biểu hiện khác của hội chứng ngất mạch-vagal. Sự mở rộng và nhấn mạnh đột ngột của đời sống giấc mơ cùng với các trải nghiệm xuất hồn, điển hình như những gì được mô tả bởi bác sĩ John Lilly, M.D., sẽ trở thành hiện tượng phổ biến.

There will also be some disorders of the eyes. Astigmatism with loss of shape to the eyeballs and the eye lens will make ability to produce a consistent image that fits on the retina difficult. Muscular pains of unknown cause will also be experienced.

Cũng sẽ có một số rối loạn ở mắt. Loạn thị với sự mất hình dạng của nhãn cầu và thủy tinh thể sẽ khiến khả năng tạo ra một hình ảnh nhất quán, phù hợp với võng mạc trở nên khó khăn. Các cơn đau cơ không rõ nguyên nhân cũng sẽ được trải nghiệm.

Is there a way out? Can these obstacles be anticipated and countered? The answer to this lies in the field of Man’s oldest science, the science of the Self which some call Yoga. This is not yet the time and place to elaborate on the matter, but it is worthwhile to remember that the human body has amazing powers of adapt ion providing it is permitted this function. Generally, it is not. We abuse the body in a thousand different ways and yet expect it to maintain health and vigour.

Liệu có lối thoát nào không? Liệu những chướng ngại này có thể được tiên liệu và hóa giải? Câu trả lời nằm trong lĩnh vực khoa học cổ xưa nhất của Con Người, khoa học về Bản Ngã mà một số người gọi là Yoga. Đây chưa phải là thời điểm và nơi chốn để triển khai chi tiết về vấn đề này, nhưng đáng để ghi nhớ rằng cơ thể con người có những năng lực thích nghi phi thường, miễn là nó được cho phép thực hiện chức năng này. Nhưng nhìn chung, điều đó lại không xảy ra. Chúng ta lạm dụng cơ thể theo hàng nghìn cách khác nhau nhưng lại kỳ vọng nó vẫn duy trì sức khỏe và sinh lực.

One way in which it can be brought into a state of sensitive balance to face the problem of weightlessness is through correct nutrition. Yogis assert that man is really a fruit-eating creature, that his resorting to cruder diets has brought him many illnesses and a constitutional sluggishness and grossness. Those who have changed to a fruit diet often bear testimony to the assertion that while there is a loss of weight, there is no corresponding shrinkage of the parts of the body which are essential. Thus, there may be loss of needless fat, but even though the bones and muscles may be reduced in weight; they remain more or less the same size. In fact, the body becomes more subtle without reduction in size.

Một trong những cách có thể đưa cơ thể vào trạng thái quân bình nhạy cảm để đối mặt với vấn đề không trọng lực là thông qua dinh dưỡng đúng đắn. Các đạo sĩ Yoga khẳng định rằng con người thực ra là sinh vật ăn trái cây, và việc y quay sang các chế độ ăn thô thiển hơn đã mang đến cho y nhiều bệnh tật cùng với sự trì trệ và thô trược trong cấu trúc cơ thể. Những người đã chuyển sang chế độ ăn trái cây thường làm chứng cho nhận định rằng tuy có sự sút cân, nhưng không có sự teo lại tương ứng ở các phần cơ thể thiết yếu. Như vậy, có thể có sự mất đi lượng mỡ dư thừa, nhưng dù xương và cơ có giảm khối lượng, chúng vẫn giữ kích thước gần như không đổi. Thật vậy, cơ thể trở nên tinh tế hơn mà không bị giảm kích thước.

Be this as it may, it would be well to remember that whatever the treatment for those preparing for a bout of weightlessness of some duration, the mental and emotional equipment of the individual would have to be equally considered, for they too have a physiology and anatomy of their own which has been carefully adapted to conditions presented on the Earth during its evolution. The strictest disciplines would have to be observed in order to produce the required sensitivity to forces which operate the cosmic laws of human adaptability.

Dù sao đi nữa, điều cần ghi nhớ là bất kể phương pháp điều trị dành cho những người chuẩn bị trải qua một thời kỳ không trọng lực kéo dài là gì, thì phương tiện trí tuệ và cảm xúc của cá nhân ấy cũng phải được xem xét tương đương, bởi vì chúng cũng có sinh lý học và giải phẫu học riêng đã được điều chỉnh kỹ lưỡng với các điều kiện của Trái Đất trong suốt tiến trình tiến hóa. Các kỷ luật nghiêm ngặt nhất sẽ cần được tuân thủ để tạo ra độ nhạy cần thiết đối với các mãnh lực vận hành theo các định luật vũ trụ về khả năng thích nghi của con người.

The answer to these problems will lie, as I have already emphasised, in space travellers undergoing a prolonged period of preparation in advance of the flight. Attention to diet, the practice of meditation (the ability to control the mind in absence of sensory stimuli) and certain breathing exercises will make the transition into the prolonged period of weightlessness less traumatic.

Câu trả lời cho những vấn đề này, như tôi đã nhấn mạnh, sẽ nằm ở việc các nhà du hành không gian phải trải qua một thời kỳ chuẩn bị kéo dài trước chuyến bay. Sự chú ý đến chế độ ăn uống, thực hành tham thiền (khả năng kiểm soát tâm trí trong trạng thái thiếu vắng các kích thích giác quan) và một số bài tập thở nhất định sẽ giúp quá trình chuyển tiếp vào giai đoạn không trọng lực kéo dài trở nên bớt chấn thương hơn.

Zone Therapy.

(See image below)

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-53.webp

Of all the organs, the feet bear the greatest load of the Earth’s gravitational pull. Gravity has played such an important part in the evolution of form that there is a correspondence between the body organs and the various areas of the soles of the feet. Out of this relationship has arisen a whole therapeutic system whereby massage of the feet is able to correct imbalances in related organs.

Surgery Without Reason

Stop This Bloody Business!

Dừng lại cái trò đẫm máu này!

“….And on thy blade and dudgeon gouts of blood,

“….Và trên lưỡi dao cùng cán kiếm là những vệt máu,

Which was not so before… .

Trước đó chẳng hề có…

It is the bloody business which informs

Chính cái trò đẫm máu này đã hiện lên

Thus to mine eyes.

Trước mắt ta như thế.

Now o’er the one half-world

Giờ đây, khắp nửa bán cầu thế giới,

Nature seems dead….”

Thiên nhiên dường như đã chết…”

Macbeth by William Shakespeare

— Macbeth, William Shakespeare

This title aptly fits an appalling practice which is capable of slipping by under our very noses—endlessly and without comment. I refer to the indiscriminate use of the surgeon’s knife on the flower of the human race.

Tựa đề này hoàn toàn phù hợp với một tập tục khủng khiếp đang âm thầm diễn ra — ngay trước mắt chúng ta — không ngừng nghỉ và không một lời bình phẩm. Tôi muốn nói đến việc sử dụng dao mổ một cách bừa bãi trên tinh hoa của nhân loại.

Science is very quick to jeer at anything smacking of quackery, of custom, of taboo and of any practise which has no scientific or experimental basis to back it or which might have been unhitched from a totem pole. But pray, where comes the scientific rationale to support the continuous mutilation of the human race in mass removals of tonsils, in circumcision, in appendectomies and suchlike?

Khoa học rất nhanh chóng chế nhạo bất cứ điều gì có mùi hương của sự lang băm, của tập tục, của điều cấm kỵ và của bất kỳ hành vi nào không có cơ sở khoa học hay thực nghiệm để hậu thuẫn, hay có thể từng được gắn liền với một cột totem. Nhưng xin hỏi, đâu là lý lẽ khoa học để biện minh cho việc không ngừng làm biến dạng thân thể con người qua các cuộc cắt bỏ hàng loạt amidan, bao quy đầu, ruột thừa và những phần tương tự?

Except in rare instances, usually concerned with congenital malformation or heredity, the wisdom of the ages advises man to leave well alone amputation of his bodily organs, vestigial or immature, active or dormant though they may be. Where sufficient justification exists, let the scalpel rip. Where a life is at stake—note we stress life (not existence)—then call the surgeon by all means as in days of yore. Where no just cause (not result) of physical imbalance can be truly and scientifically demonstrated, let the physical sanctuary of the soul remain undefiled.

Ngoại trừ những trường hợp hiếm hoi, thường liên quan đến dị tật bẩm sinh hoặc di truyền, trí tuệ cổ xưa luôn khuyên con người nên để yên các cơ quan cơ thể, dù là cơ quan thoái hóa, chưa phát triển, đang hoạt động hay đang ngủ yên. Nếu có đủ lý do chính đáng, hãy để dao mổ làm việc của nó. Nếu một mạng sống đang bị đe dọa — lưu ý là chúng tôi nhấn mạnh đến “mạng sống” (không phải chỉ là sự tồn tại) — thì hãy gọi bác sĩ phẫu thuật, như thời xưa vẫn làm. Nhưng nếu không thể chứng minh một cách thực sự và khoa học về nguyên nhân (không phải là kết quả) của sự mất cân bằng thể chất, thì hãy để nơi trú ngụ vật lý của linh hồn được nguyên vẹn.

Many have tried to call a halt to this blood-letting, including our best scientists and clinicians, but without avail. The problem requires a public outburst to bring effective termination to its unmitigated barbarism, all practised in the name of science. I protest as one who underwent tonsillectomy[115] at nine years of age on no other pretext than, “Well, he may as well go in with his brother and have his done too.” I protest as a witness to circumcision, which can be a revolting, almost horrifying experience (I’d prefer to watch a Caesarian any day), especially when the subject is a child.

Nhiều người đã cố gắng chấm dứt việc đổ máu này, bao gồm cả những nhà khoa học và bác sĩ lâm sàng hàng đầu của chúng ta, nhưng đều không thành công. Vấn đề này cần đến một sự bùng nổ công luận để chấm dứt hiệu quả sự man rợ không khoan nhượng này — tất cả đều được thực hiện dưới danh nghĩa khoa học. Tôi phản đối với tư cách là người từng trải qua phẫu thuật cắt amidan khi mới chín tuổi mà không có lý do gì khác ngoài: “Ờ, thôi cho nó đi cùng anh nó cắt luôn cho tiện.” Tôi phản đối với tư cách là người từng chứng kiến một ca cắt bao quy đầu, điều vốn có thể là một trải nghiệm gây ghê sợ, thậm chí rùng mình (tôi thà xem một ca sinh mổ còn hơn), nhất là khi nạn nhân là một đứa trẻ.

Out of the many organ-loppings[116], let us consider the two just mentioned which, apart from the removal of the appendix, represent the greatest defilers of the human physical vehicle. As my scientific authority I choose no less than one of my own teachers, England’s well-known authority on pediatrics, Professor Ronald S. Illingworth, professor of child health at Sheffield University. His classic The Normal Child (1) is a book that every mother and father should study as their children develop.

Giữa rất nhiều thủ thuật cắt bỏ cơ quan, hãy cùng xem xét hai ví dụ vừa nêu — ngoài việc cắt ruột thừa — là những hành vi làm hoen ố nhất phương tiện thể chất của con người. Với tư cách là nguồn tham khảo khoa học, tôi chọn không ai khác ngoài chính một trong những người thầy của mình — một chuyên gia hàng đầu về nhi khoa tại Anh, Giáo sư Ronald S. Illingworth, giáo sư về sức khỏe trẻ em tại Đại học Sheffield. Tác phẩm kinh điển của ông, The Normal Child, là cuốn sách mà bất kỳ người mẹ hay người cha nào cũng nên đọc khi con cái họ đang lớn lên.

(1) The Normal Child, Professor Ronald S. Illingworth, Published by J & A Churchill Ltd. London.

(1) The Normal Child, Giáo sư Ronald S. Illingworth, Nhà xuất bản J & A Churchill Ltd., London.

Circumcision

This operation was practised by the ancient Egyptians, as is shown by wall carvings in the Temple of Karnak, near Luxor. According to Voltair, circumcision amongst the Jews arose from an earlier Egyptian religious custom, and later it became a blood covenant. It was a form of tribal marking, enabling the nomadic Jews to produce a secret sign of the fact of belonging to one tribe. The Arabs practised it before the time of Mohammed, though there is no reference to the operation in the Koran. It is said that Pythagoras had to submit to circumcision before he was allowed the privilege of studying in the Egyptian temples.

Thủ thuật này đã được người Ai Cập cổ đại thực hành, điều này được minh chứng qua các bức chạm khắc trên tường tại Đền Karnak, gần Luxor. Theo Voltaire, việc cắt bao quy đầu trong giới Do Thái xuất phát từ một phong tục tôn giáo của Ai Cập cổ xưa, và về sau trở thành một giao ước bằng máu. Đó là một hình thức đánh dấu bộ lạc, cho phép người Do Thái du mục đưa ra một dấu hiệu bí mật chứng minh họ thuộc về một bộ lạc nhất định. Người Ả Rập cũng đã thực hành thủ thuật này trước thời Mohammed, mặc dù không có đề cập đến thủ thuật đó trong kinh Koran. Có lời kể rằng Pythagoras đã phải trải qua nghi thức cắt bao quy đầu trước khi được phép học tập trong các ngôi đền Ai Cập.

Bergmann holds that circumcision was originally a method of marking slaves, which was a development from an earlier practice of amputating the organ. Saul instructed David to bring one hundred foreskins as evidence of killing that number of Philistines, in order that he should prove that he was worthy to be his son-in-law (I Samuel xviii:25). He brought two hundred. In various African tribes and in New Guinea, circumcision is part of an initiation ceremony at puberty. It is part of the ritual of mutilation by which the young male, and less often the young female, is called upon to give proof of courage, after which they are admitted to the privileges of the tribe or estate of manhood or womanhood.

Bergmann cho rằng cắt bao quy đầu ban đầu là một phương pháp đánh dấu nô lệ, phát triển từ một tập tục trước đó là cắt bỏ toàn bộ cơ quan sinh dục. Vua Saul đã ra lệnh cho David mang về một trăm bao quy đầu làm bằng chứng đã giết số lượng tương ứng người Philistine, để chứng tỏ y xứng đáng trở thành con rể của ông (I Samuel 18:25). David đã mang về hai trăm. Trong nhiều bộ lạc ở châu Phi và tại New Guinea, việc cắt bao quy đầu là một phần của nghi lễ nhập môn khi đến tuổi dậy thì. Đó là một phần trong nghi lễ hành xác, trong đó nam thanh niên (và ít hơn là nữ thanh niên) được yêu cầu thể hiện lòng can đảm, sau đó họ được công nhận là thành viên chính thức của bộ lạc hoặc bước vào giai đoạn trưởng thành của người nam hoặc nữ.

Circumcision is practised over a wide area of the world by about one-sixth of its population and is probably the oldest surgical operation known to man, dating some 6,000 years back to antiquity. It is not clear when the operation largely changed from being a religious rite to a widespread surgical procedure.

Cắt bao quy đầu được thực hiện trên phạm vi rộng lớn trên thế giới, khoảng một phần sáu dân số toàn cầu, và có lẽ là thủ thuật phẫu thuật cổ xưa nhất được biết đến, có niên đại khoảng 6.000 năm. Người ta không rõ khi nào thủ thuật này chuyển đổi từ một nghi lễ tôn giáo sang một thủ thuật y khoa phổ biến rộng rãi.

Professor Illingworth goes on to describe embryological factors which show that the prepuce is not fully developed at birth and not normally separated from the glans penis. It is therefore wrong to suppose that the foreskin can or should be retractable at birth. One study involving one hundred new-born babies and two hundred boys of varying ages up to five years found that only four per cent of the new-borns had a fully retractable prepuce; the prepuce is non-retractable in four out of five normal males of six months and in half of the normal males at one year. By two years about twenty per cent, and after three years about ten per cent of the boys still have a non-retractable prepuce.

Giáo sư Illingworth mô tả thêm các yếu tố phôi học cho thấy bao quy đầu chưa phát triển hoàn chỉnh khi sinh và thường không tách rời khỏi quy đầu dương vật. Vì vậy, cho rằng bao quy đầu có thể hoặc nên tụt ra ngay từ lúc mới sinh là một nhận định sai. Một nghiên cứu trên một trăm trẻ sơ sinh và hai trăm bé trai từ sơ sinh đến năm tuổi cho thấy chỉ có bốn phần trăm trẻ sơ sinh có bao quy đầu hoàn toàn tụt được; bốn trong năm bé trai bình thường ở sáu tháng tuổi không thể tụt bao quy đầu, và một nửa số bé trai bình thường ở một tuổi cũng vậy. Đến hai tuổi khoảng hai mươi phần trăm, và sau ba tuổi khoảng mười phần trăm các bé trai vẫn chưa thể tụt bao quy đầu.

In a national sample of 2,428 children, twenty-four per cent had had the operation by the age of four years. It is likely that 100,000 operations for circumcision are carried out in the United Kingdom every year. It is interesting that the operation has the same social incidence as that of tonsillectomy, affecting as it does the upper classes more than the lower ones: eighty-four per cent of seventy-three students at Cambridge, coming from the best-known public schools, had been circumcised, compared with only fifty per cent of 174 coming from grammar or secondary schools.

Trong một mẫu khảo sát quốc gia với 2.428 trẻ em, có 24% đã được cắt bao quy đầu trước bốn tuổi. Có khả năng mỗi năm tại Vương quốc Anh có đến 100.000 ca cắt bao quy đầu được thực hiện. Điều thú vị là thủ thuật này có tỷ lệ xảy ra về mặt xã hội giống như phẫu thuật cắt amidan, ảnh hưởng nhiều hơn đến tầng lớp thượng lưu so với tầng lớp bình dân: 84% trong số 73 sinh viên tại Cambridge (xuất thân từ các trường công danh tiếng) đã được cắt bao quy đầu, so với chỉ 50% trong số 174 sinh viên đến từ các trường phổ thông trung học hoặc trung học phổ thông.

Every year there are about sixteen deaths from the operation in the United Kingdom alone from the operation. There has been partial amputation of the glans during the operation, severe haemorrhage[117] or prolonged sepsis[118], and various strange cosmetic results. In the Thousand Family Survey at Newcastle, twenty-two per cent of children circumcised developed complications from the operation, including infections and hemorrhages severe enough to necessitate transfusion (see section on “Blood Transfusion” later in this book).

Mỗi năm tại Vương quốc Anh có khoảng 16 ca tử vong do phẫu thuật này. Đã có những trường hợp cắt cụt một phần quy đầu trong khi mổ, chảy máu nghiêm trọng hoặc nhiễm trùng kéo dài, và nhiều biến chứng thẩm mỹ kỳ lạ. Trong khảo sát “Một Ngàn Gia Đình” tại Newcastle, 22% trẻ em được cắt bao quy đầu gặp biến chứng, bao gồm nhiễm trùng và chảy máu nghiêm trọng đến mức cần phải truyền máu (xem thêm phần “Truyền máu” sau trong sách).

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-54.webp

It is a common practice to perform circumcision on young babies without an anaesthetic. This is a cruel practice in view of the fact that enthusiastic efforts to stretch or withdraw the foreskin cause bleeding and are equally unjustified and unnecessary, considering that it is not usual for separation of the prepuce from the glans to have been completed by the time the baby is born. It should not be done just because the foreskin is a long one; it should never be done because the mother or the father or the general practitioner has asked that it should be done, and certainly it should never be done on account of masturbation. It will make no difference. The child is the only one that matters in this regard. It is he who should be considered and no one else. If it is in his interests that the operation should be performed, it should be done. If there is no particular reason from his point of view for doing the operation, it is quite unjustifiable to do it. The child has to suffer the pain and discomfort of the operation and the unpleasantness of the anaesthetic.

Việc thực hiện cắt bao quy đầu cho trẻ sơ sinh mà không dùng thuốc gây tê là một tập tục phổ biến. Đây là một hành vi tàn nhẫn, bởi vì những nỗ lực đầy nhiệt tình nhằm kéo căng hoặc rút bao quy đầu có thể gây chảy máu, và điều này hoàn toàn không chính đáng và không cần thiết, nhất là khi xét đến thực tế là sự tách rời giữa bao quy đầu và quy đầu thường chưa hoàn tất khi trẻ được sinh ra. Việc cắt bao quy đầu không nên được thực hiện chỉ vì bao quy đầu dài; càng không nên thực hiện chỉ vì yêu cầu của người mẹ, người cha hay bác sĩ gia đình, và tuyệt đối không bao giờ nên tiến hành chỉ vì lý do thủ dâm. Điều đó hoàn toàn không tạo ra sự khác biệt nào. Đứa trẻ là nhân tố duy nhất quan trọng trong vấn đề này. Chính y mới là người cần được xem xét và không ai khác. Nếu việc phẫu thuật là vì lợi ích của y, thì hãy thực hiện. Nếu không có lý do cụ thể nào xét từ góc độ của đứa trẻ, thì hoàn toàn không có lý do chính đáng để làm thủ thuật. Đứa trẻ là người phải chịu đựng cơn đau và sự khó chịu của ca phẫu thuật, cũng như sự khó chịu khi gây mê.

The only serious argument in favour of routine circumcision is the theory that the presence of the prepuce predisposes to penile[119] cancer. It is agreed that circumcision in the first five years of life protects from penile cancer, but Gairdner concludes:-

Lý do nghiêm túc duy nhất được đưa ra để ủng hộ việc cắt bao quy đầu theo thói quen là lý thuyết cho rằng sự hiện diện của bao quy đầu làm tăng nguy cơ ung thư dương vật. Có sự đồng thuận rằng việc cắt bao quy đầu trong năm năm đầu đời có tác dụng bảo vệ khỏi ung thư dương vật, nhưng Gairdner kết luận rằng:

It may reasonably be contended that if the uncircumcised male has a prepuce which he can retract and which he keeps clean, he is likely to enjoy the same immunity from penile cancer as his circumcised brother. Other reasons I have seen adduced for circumcision include the prevention of venereal disease and the reduction of sexual desire. It used to be performed to make men better warriors, to make men more chaste husbands, to increase their libido, or reduce masturbation, to give them longevity and increased physical vigour. Some consider the operation has to be done because the prepuce causes objection to the flow of urine. In the last 15,000 babies born in thejessop Hospital, Sheffield (England), there was not one such case.

Có thể lập luận một cách hợp lý rằng nếu người nam không cắt bao quy đầu có thể tự tụt bao và giữ gìn sạch sẽ, thì y sẽ có khả năng miễn nhiễm với ung thư dương vật tương tự như người anh em đã được cắt bao của mình. Những lý do khác được viện dẫn để biện minh cho việc cắt bao quy đầu bao gồm việc phòng ngừa bệnh hoa liễu và giảm ham muốn tình dục. Trước kia, người ta từng thực hiện thủ thuật này để khiến đàn ông trở thành chiến binh tốt hơn, trở thành người chồng trinh khiết hơn, để tăng hoặc giảm ham muốn tình dục, để kéo dài tuổi thọ và tăng cường sinh lực thể chất. Một số người cho rằng phải thực hiện thủ thuật vì bao quy đầu gây cản trở dòng tiểu. Tuy nhiên, trong số 15.000 trẻ sơ sinh gần đây tại Bệnh viện Jessop, Sheffield (Anh), không có trường hợp nào như vậy được ghi nhận.

More than a third of circumcisions are performed in the first month of life at a time when faults or diseases of the prepuce itself are practically nonexistent. There are only rare instances in which circumcision is indicated.

Hơn một phần ba số ca cắt bao quy đầu được thực hiện trong tháng đầu đời — thời điểm mà các khuyết tật hoặc bệnh lý của bao quy đầu hầu như không tồn tại. Chỉ trong những trường hợp hiếm hoi việc cắt bao quy đầu mới thực sự là cần thiết.

Esoteric Effect of Circumcision

The subject will receive little sympathy in countries where circumcision has become the established practice. In fact, in the U.S.A. the uncircumcised, even among school boys, is regarded as the abnormal so that in some places a boy with a foreskin is viewed as a phenomenon to his own chagrin. The adult boys are hardly likely to listen to any reason under such circumstances, especially when it comes to a matter so symbolic of his masculinity and dominance.

Chủ đề này sẽ khó nhận được sự cảm thông tại những quốc gia mà việc cắt bao quy đầu đã trở thành thông lệ. Thực tế, tại Hoa Kỳ, những người không cắt bao quy đầu, kể cả các học sinh nam, thường bị coi là bất thường, đến mức ở một số nơi, một cậu bé còn bao quy đầu lại trở thành điều kỳ lạ — khiến bản thân em cảm thấy xấu hổ. Trong hoàn cảnh như vậy, các nam thanh niên khó có thể lắng nghe bất kỳ lập luận nào, nhất là khi điều đó liên quan đến một biểu tượng nam tính và sự thống trị của họ.

But how dominant? As a detached observer familiar with homes in fifty different North American cities, I cannot vouch for any sort of dominance of the male there. He is usually a runner-up to the matron of the establishment and is lucky sometimes if he can hold that place against his children. This is not so in the United Kingdom. If you would have listened to two aunts of mine (both octogenarians) in the 1960’s, you would soon learn that (in England anyway) “it’s a man’s world”. Reluctantly, I have to agree with them, for esoteric science makes little headway in societies thus organised socially. Generally in Britain, men wear the pants and marriages last longer, and marriage usually lasts longer when there is satisfactory sexual adjustment.

Nhưng thực sự có thống trị không? Với tư cách là một người quan sát khách quan và quen thuộc với đời sống trong các gia đình tại năm mươi thành phố khác nhau ở Bắc Mỹ, tôi không thể xác nhận sự thống trị nào từ phía người nam tại đó. Người nam thường chỉ là người về nhì sau người nữ chủ gia đình, và đôi khi nếu may mắn, anh ta mới giữ được vị trí đó trước các con của mình. Điều này không xảy ra tại Vương quốc Anh. Nếu các bạn từng nghe hai người cô của tôi (cả hai đều trên tám mươi tuổi) vào những năm 1960, các bạn sẽ sớm nhận ra rằng (ít nhất là tại Anh) “đây là thế giới của đàn ông”. Miễn cưỡng, tôi phải đồng tình với họ, bởi vì khoa học huyền môn ít có cơ hội phát triển trong các xã hội được tổ chức theo kiểu xã hội như vậy. Nói chung, tại Anh, người đàn ông giữ quyền chủ đạo và hôn nhân kéo dài lâu hơn — và hôn nhân thường bền vững hơn khi có sự điều chỉnh tình dục thỏa đáng.

Having consulted with women in both continents on matters spiritual (and inevitably, otherwise as well), I must confirm what appears to be a general complaint of many North American women that come the forties, husband has greater affinity for golf and business than the more intimate aspects of home life. This usually suits most esoteric women but does not lend to enduring marriages. It is strange that a high divorce rate plagues the U.S.A., whereas in countries where circumcision is not the rule and which have the same racial background, e.g., Europe, the divorce rate is very much lower, leaving aside considerations of religion and the strictness of laws pertaining to divorce.

Sau khi tham khảo ý kiến của nhiều phụ nữ trên cả hai lục địa về các vấn đề tâm linh (và tất yếu là cả những vấn đề khác), tôi phải xác nhận một điều mà dường như là lời phàn nàn chung của nhiều phụ nữ Bắc Mỹ: khi bước vào tuổi bốn mươi, người chồng thường cảm thấy gần gũi hơn với môn đánh golf và công việc kinh doanh hơn là với những khía cạnh thân mật trong đời sống gia đình. Điều này thường hợp với những phụ nữ có khuynh hướng huyền môn, nhưng lại không giúp duy trì những cuộc hôn nhân lâu dài. Thật kỳ lạ là tỷ lệ ly hôn tại Hoa Kỳ lại rất cao, trong khi ở những quốc gia mà việc cắt bao quy đầu không phải là thông lệ — dù có cùng nền tảng chủng tộc, như các nước châu Âu — thì tỷ lệ ly hôn lại thấp hơn rất nhiều, chưa cần xét đến yếu tố tôn giáo hay sự nghiêm khắc của luật ly hôn.

Then there are the Muslim countries where, again, circumcision is the general rule. Here we have again divorce made very easy and, amongst the wealthy, more than one female partner at a time.

Lại có các quốc gia Hồi giáo, nơi mà cắt bao quy đầu cũng là điều phổ biến. Tại đây, ly hôn lại trở nên rất dễ dàng và, trong tầng lớp giàu có, có thể có nhiều bạn tình nữ cùng lúc.

In the light of all these considerations, what are the unrevealed or esoteric truths about the matter? Circumcision leaves severed nerve endings which reduces considerably the ultimate acuity of sensation in the retained tissue. What tissue does remain does not lend itself to sustaining interest in sexual matters, either through enjoyment or through variations in the basic theme of sex play. A lessening of interest quickly occurs after the initial bliss of conjugal life. Variety, not available because of mutilation of the organ, is sought elsewhere in new partners. The attitude of male aggressiveness is directed towards new fields of conquest rather than to the sexual act.

Dưới ánh sáng của tất cả những điều đã đề cập, vậy đâu là những sự thật chưa được tiết lộ hay mang tính huyền môn xoay quanh vấn đề này? Việc cắt bao quy đầu để lại các đầu dây thần kinh bị cắt đứt, làm giảm đáng kể độ nhạy cảm tối đa của các mô còn lại. Phần mô còn lại này cũng không hỗ trợ cho việc duy trì hứng thú trong các vấn đề tình dục, dù là qua sự hưởng thụ hay thông qua những biến hoá trong chủ đề cơ bản của hành vi tình dục. Hứng thú sẽ giảm nhanh chóng sau khoái cảm ban đầu của đời sống vợ chồng. Sự đa dạng, vốn không thể có được do cơ quan bị cắt bỏ, sẽ được tìm kiếm nơi những bạn tình mới. Tính hiếu chiến của người nam sẽ được hướng đến những lĩnh vực chinh phục mới, thay vì vào hành vi tình dục.

Shyness in courting and indeed in matters concerning private parts is more characteristic of the uncircumcised male, but many affirm, usually correctly, that shy men usually make more passionate and enduring lovers.

Sự e dè trong việc tán tỉnh và, nói chung, trong những vấn đề liên quan đến vùng kín là đặc điểm thường thấy ở những người nam không cắt bao quy đầu, nhưng nhiều người khẳng định — và thường là đúng — rằng những người đàn ông nhút nhát lại thường là những người tình đam mê và bền bỉ hơn.

Lastly, there is the factor of the operation itself. The side-effects cannot be assessed because they cannot be described except by such a few (adolescents or adults who submit to circumcision) as to amount to no evidence at all. There are phantom effects from amputation which work out in the child in such ways as to cause upsets of digestion and appetite, irritation, nervousness, etc. These latter should be enough to make a mother pause even if other considerations fall, as they are bound to, on deaf ears.

Cuối cùng, còn có yếu tố về bản thân cuộc phẫu thuật. Các tác dụng phụ không thể đánh giá được, bởi vì chúng không thể mô tả trừ bởi một số rất ít người (vị thành niên hoặc người trưởng thành tự nguyện cắt bao quy đầu) — một số quá ít để có thể xem là bằng chứng. Có những ảnh hưởng bóng ma từ việc đoạn chi, biểu hiện nơi trẻ nhỏ qua các rối loạn tiêu hóa, biếng ăn, kích thích thần kinh, bồn chồn v.v… Chính những điều này đã đủ để một người mẹ phải dừng lại suy nghĩ, ngay cả khi những lý lẽ khác bị bỏ ngoài tai.

Tonsils[120] and Adenoids[121]

The same story is repeated in the removal of tonsils and adenoids. Professor Illingworth has made a close study of the situation in Great Britain and elsewhere. In the United Kingdom over 200,000 tonsillectomies are carried out each year at a probable cost of over three million pounds, in spite of profound disagreement as to indications for the operation. This disagreement is reflected in the geographical and social variations in the incidence of tonsillectomy. In East Ham, a district of London, the operation is distinctly fashionable, as compared with parts of Wales and the North. At East Ham fifty-one times more school entrants have had their tonsils removed than those at Merthyr Tydfil, and thirty-two times more than school entrants at St. Helens. There are similar wide variations in the incidence of the operation in all parts of the country, obviously dependent on differences of opinion between doctors in the town concerned. One should remember that in England and elsewhere, where the National Health Service operates, the question of expense does not arise for the parents concerned. This makes the figures even more startling.

Câu chuyện tương tự cũng được lặp lại trong việc cắt amidan và nạo VA. Giáo sư Illingworth đã tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình này tại Vương quốc Anh và các nơi khác. Tại Anh Quốc, mỗi năm có hơn 200.000 ca cắt amidan được thực hiện với chi phí ước tính hơn ba triệu bảng, mặc dù có sự bất đồng sâu sắc về các chỉ định cho phẫu thuật này. Sự bất đồng đó được phản ánh qua sự khác biệt về địa lý và xã hội trong tỷ lệ cắt amidan. Tại East Ham, một quận của London, phẫu thuật này đặc biệt phổ biến, so với các vùng của xứ Wales và miền Bắc. Tại East Ham, số học sinh nhập học đã từng được cắt amidan cao gấp 51 lần so với những học sinh tại Merthyr Tydfil, và cao gấp 32 lần so với học sinh tại St. Helens. Những khác biệt rộng như vậy trong tỷ lệ phẫu thuật cũng xuất hiện ở tất cả các vùng trong cả nước, hiển nhiên phụ thuộc vào sự khác biệt trong quan điểm của các bác sĩ tại từng thị trấn. Cần lưu ý rằng tại Anh và những nơi khác nơi có hệ thống Dịch vụ Y tế Quốc gia, cha mẹ không phải lo đến chi phí. Điều này khiến cho các con số thống kê càng thêm đáng ngạc nhiên.

There are some further odd findings. It has long been known that the incidence of tonsillectomy is higher in the well-to-do than in the poor, and in the children of professional parents than those of unskilled workers. In Newcastle-upon-Tyne it was found that tonsillectomy had been carried out in fifteen per cent of circumcised boys, as compared with only two per cent of the uncircumcised, and elsewhere that it was twice as frequent in boys who had had their appendix removed as in those who had their appendix intact. “It is clear that there is something highly irrational about the above facts,” says Professor Illingworth.

Còn có những phát hiện lạ lùng khác. Từ lâu người ta đã biết rằng tỷ lệ cắt amidan cao hơn ở tầng lớp khá giả so với người nghèo, và cao hơn ở con cái của các bậc phụ huynh có học thức so với con cái của những người lao động phổ thông. Tại Newcastle-upon-Tyne, người ta phát hiện rằng cắt amidan đã được thực hiện trên 15% số bé trai đã cắt bao quy đầu, so với chỉ 2% ở những bé trai chưa cắt. Và ở nơi khác, tỷ lệ phẫu thuật cao gấp đôi ở những bé trai đã từng cắt ruột thừa so với những người chưa từng. “Rõ ràng là có điều gì đó hết sức phi lý trong các số liệu trên,” Giáo sư Illingworth nói.

There is always a long waiting list for tonsillectomy, but commonly the child has lost his symptoms by the time he is operated on. This emphasises the fact that the peak incidence of throat infections occurs at about five years of age when the child starts school and thereafter begins to fall off. The peak age for tonsillectomy is six. Some of the apparent benefits of tonsillectomy may be confused with a natural immunity which the child has acquired by the time he is seven. In 1952 a study was made of 681 children on the waiting list for the operation. Over one-third of the children no longer required it (after waiting eighteen months). Professor Illingworth then shows up some of the false indications for the operation.

Luôn có một danh sách dài những người chờ được cắt amidan, nhưng thường thì đứa trẻ đã hết các triệu chứng trước khi được mổ. Điều này càng nhấn mạnh thực tế rằng thời điểm đỉnh cao của các bệnh viêm họng xảy ra vào khoảng năm tuổi, khi trẻ bắt đầu đến trường và sau đó bắt đầu giảm dần. Tuổi đỉnh cao cho việc cắt amidan là sáu tuổi. Một số lợi ích tưởng chừng của việc cắt amidan có thể bị nhầm lẫn với khả năng miễn dịch tự nhiên mà trẻ đã đạt được vào khoảng bảy tuổi. Năm 1952, một nghiên cứu được thực hiện trên 681 trẻ em trong danh sách chờ phẫu thuật. Hơn một phần ba trong số đó không còn cần thiết phải phẫu thuật (sau khi chờ 18 tháng). Giáo sư Illingworth sau đó đã chỉ ra một số chỉ định sai lầm cho phẫu thuật này.

He points out that it is untrue to say that large tonsils are more likely to become infected and that it is quite normal for children at the age of five to seven to have large tonsils. Even though the tonsils may appear to be infected, one cannot tell merely by inspection that this is the case. In a study of 540 Chicago children, it was shown that there is no correlation at all between the size of the tonsil and the effectiveness of the operation. Quite often the supposed pus expressed from an enlarged tonsil is no more than a shedding of epithelial cells common to all organs. The appearance of tonsils conveys no evidence for their removal. Furthermore, there is no evidence or reason to suggest that removal of the tonsils will reduce the incidence of virus infections, and it has been repeatedly shown that tonsillectomy does not reduce the incidence of colds. Most children have palpable lymph nodes, often giving an impression of cervical Adenitis, but so long as they are not suppurating, there is no cause for alarm. Again, Professor Illingworth stresses the point made with circumcision and applies it here, too :-

Ông chỉ rõ rằng không đúng khi cho rằng amidan lớn thì dễ bị nhiễm trùng hơn, và hoàn toàn bình thường khi trẻ từ năm đến bảy tuổi có amidan lớn. Ngay cả khi amidan có vẻ bị nhiễm trùng, người ta cũng không thể chỉ bằng quan sát mà khẳng định điều đó. Trong một nghiên cứu trên 540 trẻ em ở Chicago, người ta cho thấy không hề có mối tương quan nào giữa kích thước amidan và hiệu quả của cuộc phẫu thuật. Rất thường khi chất được cho là mủ chảy ra từ amidan phì đại thực ra chỉ là sự bong tróc của các tế bào biểu mô, điều vốn phổ biến ở mọi cơ quan. Hình dạng của amidan không nói lên lý do gì để loại bỏ chúng. Hơn nữa, không có bằng chứng hay lý do nào để cho rằng việc cắt amidan sẽ làm giảm tỷ lệ nhiễm virus, và đã nhiều lần chứng minh rằng cắt amidan không làm giảm tỷ lệ bị cảm lạnh. Hầu hết trẻ em đều có các hạch bạch huyết có thể sờ thấy, thường gây cảm giác giống viêm hạch cổ, nhưng miễn là chúng không bị mưng mủ, thì không có gì đáng lo. Một lần nữa, Giáo sư Illingworth nhấn mạnh quan điểm đã nêu về việc cắt bao quy đầu và áp dụng cho trường hợp này:

I feel very strongly that no operation (except circumcision for religious purposes) should be performed on a child because the parents ask that it should be done. Neither should it be done because the family doctor, school nurse or grandmother asks for it. It should be done if it is in the interests of the patient. It is the patient alone that matters. It is the child who has to tolerate the unpleasantness of the operation and possible sequelae, emotional or physical.

Tôi cảm thấy rất mạnh mẽ rằng không nên thực hiện bất kỳ ca phẫu thuật nào (ngoại trừ cắt bao quy đầu vì lý do tôn giáo) chỉ vì cha mẹ yêu cầu. Cũng không nên thực hiện vì bác sĩ gia đình, y tá trường học hay bà ngoại yêu cầu. Nó chỉ nên được thực hiện nếu điều đó vì lợi ích của bệnh nhân. Chỉ có bệnh nhân mới quan trọng. Chính đứa trẻ là người phải chịu đựng sự khó chịu của cuộc phẫu thuật và những hệ lụy có thể xảy ra, dù là về mặt cảm xúc hay thể chất.

In the U.S.A. about three hundred children die per year from the operation. Many papers have stressed the emotional effects of the operation in the way of bed-wetting and other behavioural problems. Innumerable and fantastic reasons supporting tonsillectomy emphasise the irrational and irresponsible approach to the subject. They include such nonsense as masturbation, enuresis, pigeon chest, nightmares, kidney infections, etc.

Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng ba trăm trẻ em tử vong do phẫu thuật này. Nhiều công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh các tác động cảm xúc của phẫu thuật như chứng đái dầm và các vấn đề hành vi khác. Vô số lý do kỳ lạ và vô lý được đưa ra để biện minh cho việc cắt amidan, cho thấy cách tiếp cận thiếu lý trí và vô trách nhiệm với chủ đề này. Chúng bao gồm những điều vô lý như thủ dâm, đái dầm, ngực lồi, ác mộng, nhiễm trùng thận, v.v.

There is always the opposite extreme to contend with, too. Opposition to the operation can be just as irrational. The Calderolis regarded it as partial castration. They reported functional losses in 25,000 patients in “change of personality, the joy of living was decreased, chronic fatigue developed, women became frigid and men indifferent. The pangs of love and jealousy disappear. An army of soldiers without tonsils is an army of cowards.”

Luôn tồn tại thái cực đối lập, đó là sự phản đối phẫu thuật cũng có thể phi lý như vậy. Gia đình Calderolis coi đó là một hình thức thiến một phần. Họ báo cáo những mất mát chức năng ở 25.000 bệnh nhân qua các thay đổi về nhân cách, niềm vui sống giảm sút, phát triển tình trạng mệt mỏi mãn tính, phụ nữ trở nên lãnh cảm và đàn ông trở nên thờ ơ. Những cơn đau của tình yêu và sự ghen tuông biến mất. Một đội quân không có amidan là một đội quân của những kẻ hèn nhát.

Reasons for RemovalLý Do Cắt Bỏ

The true indications for the removal of tonsils and adenoids are as follows:-

Các chỉ định thực sự để cắt bỏ amidan và VA là như sau:

Tonsils:

Amidan:

1. Frequently recurring attacks of tonsilitis with fever which cannot be prevented by continuous penicillin. Four severe attacks of tonsilitis may be regarded as frequent.

1. Các đợt viêm amidan tái phát thường xuyên kèm sốt mà không thể phòng ngừa bằng penicillin liên tục. Bốn đợt viêm amidan nặng có thể được coi là thường xuyên.

2. Gross enlargement of the tonsils which makes breathing difficult. This is a rare occurrence.

2. Amidan phì đại nghiêm trọng gây khó thở. Đây là trường hợp hiếm.

3. A tonsillar abscess.

3. Áp-xe amidan.

Adenoids:

VA:

1. Deafness ascribed to adenoids.

1. Điếc được cho là do VA gây ra.

2. Recurrent infections of the middle ear associated with adenoids.

2. Các đợt viêm tai giữa tái phát liên quan đến VA.

3. Obstruction of the nasal passages.

3. Tắc nghẽn đường mũi.

4. A nasal speech due to adenoids.

4. Giọng nói mũi do VA.

5. A postnasal discharge due to adenoids

5. Dịch sau mũi do VA.

“In no case,” says the professor, “should the operation be done unless the surgeon under the same circumstances would have it done to his own child.”

“Trong bất kỳ trường hợp nào,” giáo sư nói, “không nên thực hiện phẫu thuật nếu chính bác sĩ phẫu thuật, trong hoàn cảnh tương tự, sẽ không thực hiện điều đó cho chính con mình.”

Breast Cancer

The death rate for cancer of the breast has not changed in thirty-five years. Its incidence of seven per cent makes it the most common form of female cancer and the greatest cancer-killer of women in America today.

Tỷ lệ tử vong do ung thư vú đã không thay đổi trong suốt ba mươi lăm năm. Với tỷ lệ mắc bệnh ở mức bảy phần trăm, đây là dạng ung thư phổ biến nhất ở nữ giới và là nguyên nhân tử vong do ung thư hàng đầu ở phụ nữ tại Hoa Kỳ ngày nay.

The possible reduction of these statistics lies only in the improvement of current methods of detection of the lump earlier, as well as better ways of applying surgery, X-ray therapy and hormones. These methods have been current stock in trade for many years past and the only prospect in the future. No wonder there is gloom. Suggestions that a vaccine can be produced to fight breast cancer are doomed because cancer is not caused by virus. In fact, more American women are developing breast cancer so that its incidence has risen more than thirty per cent in the last thirty years.

Khả năng làm giảm các con số thống kê này chỉ nằm ở việc cải thiện các phương pháp hiện tại để phát hiện khối u sớm hơn, cũng như những cách tốt hơn trong việc áp dụng phẫu thuật, trị xạ và nội tiết tố. Những phương pháp này đã là công cụ chủ yếu trong nhiều năm qua và cũng là triển vọng duy nhất trong tương lai. Không có gì lạ khi người ta cảm thấy bi quan. Những đề xuất rằng có thể sản xuất một loại vắc-xin để chống lại ung thư vú là điều vô vọng vì ung thư không phải do virus gây ra. Trên thực tế, ngày càng có nhiều phụ nữ Mỹ mắc ung thư vú, đến mức tỷ lệ mắc bệnh đã tăng hơn ba mươi phần trăm trong ba mươi năm qua.

Though surgery has seemed the obvious way out, especially when there is early detection, hopes of survival with surgery have not been so much greater than without it… in terms of time, about seven weeks—not much to show for such a ghastly mutilation as radical mastectomy.

Dù phẫu thuật có vẻ là con đường rõ ràng, đặc biệt khi phát hiện sớm, nhưng hy vọng sống sót nhờ phẫu thuật cũng không cao hơn bao nhiêu so với khi không phẫu thuật… về mặt thời gian, chỉ khoảng bảy tuần—không đáng là bao nếu so với sự hủy hoại khủng khiếp của phẫu thuật đoạn nhũ triệt để.

Surely, with this sort of history, other methods for dealing with the condition, at least over a long term, would be to spend more time and some more of that incredible sum of money yearly given to cancer research, in seeking out causes. All causes may not be easy to eradicate—in fact they won’t be for many centuries—but to know them is to commence research on a true and sound basis.

Chắc chắn, với lịch sử như vậy, các phương pháp khác để xử lý tình trạng này, ít nhất về lâu dài, nên được dành thêm thời gian và một phần của khoản tiền khổng lồ hàng năm dành cho nghiên cứu ung thư để truy tìm các nguyên nhân. Không phải mọi nguyên nhân đều dễ loại trừ—thực tế là không thể trong nhiều thế kỷ tới—nhưng biết được chúng là khởi điểm cho một nền tảng nghiên cứu thực sự đúng đắn.

The author writes not entirely with dispassion about this condition. He watched, from the age of eleven, his own mother go through all the traumatic and classical stages of surgery, to no avail, so that he was orphaned at fourteen—the lump in the arm … the radium needles… the lump in the breast… radical mastectomy… the metastasis to the abdomen… the long, lingering processes of cachexia and death, the final act, a happy release—and he feels certain now, after many years of introspection, that the organ lopping and all the other paraphernalia of treatment made not the slightest difference to the prognosis.

Tác giả viết về tình trạng này không hoàn toàn với sự vô tư. Từ khi lên mười một tuổi, ông đã chứng kiến mẹ mình trải qua tất cả những giai đoạn chấn thương và cổ điển của phẫu thuật mà không có kết quả gì, để rồi ông mồ côi khi mới mười bốn—khối u ở tay… kim phóng xạ… khối u ở vú… phẫu thuật đoạn nhũ triệt để… di căn tới bụng… tiến trình suy kiệt kéo dài và cái chết, hồi kết là một sự giải thoát hạnh phúc—và sau nhiều năm nội quán, ông cảm thấy chắc chắn rằng việc cắt bỏ cơ quan và tất cả những thứ liên quan đến điều trị ấy hoàn toàn không tạo ra khác biệt nào đối với tiên lượng bệnh.

Causes of Breast CancerNguyên Nhân của Ung Thư Vú

These exist at various levels. The most widespread and deep-seated cause is karmic in the sense that all cancers form part of the group disease which resulted from the excesses of the Atlantean Root Race as it struggled with the progressive opening and control of the Solar Plexus Chakra, that centre which receives the emotional impacts of both the astral world (within) and the world of activity (without).

Những nguyên nhân này tồn tại ở nhiều cấp độ. Nguyên nhân phổ biến và ăn sâu nhất là nghiệp lực, theo nghĩa rằng mọi loại ung thư đều là một phần của căn bệnh tập thể phát sinh từ sự thái quá của Giống dân gốc Atlantis trong cuộc vật lộn với việc khai mở và kiểm soát dần luân xa Tùng Thái Dương—trung tâm tiếp nhận các tác động cảm xúc từ cả thế giới cảm dục (bên trong) lẫn thế giới hoạt động (bên ngoài).

Many of us have incarnated in bodies of Atlantean stock, especially, under the Laws of Karma, those races which formed part of the colonial remnants of Atlantis that survived the destruction of the mother continent, viz. North America and Western Europe. We carry within us (the author included) taints of that stock, which predisposes us to that major group of diseases (one of three) into which category falls that of Cancer. Whether the cancer will express itself physically in this life or will remain latent until the next or subsequent lives, depends on the karma of the individual and the presenting stimuli of this life. Those stimuli may be minor ones, such as a high saturated fat diet, underarm deodorant spray, excessive sunlight, high blood oestrogen levels, etc., or the major one which is emotional indiscipline.

Nhiều người trong chúng ta đã đầu thai trong những thể xác thuộc chủng Atlantis, đặc biệt là theo các Định luật của Nghiệp quả, trong những giống dân từng là tàn dư thuộc địa của Atlantis sống sót sau sự hủy diệt của lục địa mẹ, như Bắc Mỹ và Tây Âu. Chúng ta mang trong mình (tác giả cũng vậy) những vết ô nhiễm của chủng đó, khiến chúng ta dễ bị mắc các căn bệnh nhóm lớn ấy (một trong ba nhóm), mà ung thư là một. Liệu ung thư sẽ biểu lộ ra thân thể trong đời này hay vẫn tiềm ẩn đến đời sau hoặc nhiều đời sau nữa, phụ thuộc vào nghiệp quả cá nhân và các kích thích trong đời sống hiện tại. Những kích thích ấy có thể là các yếu tố nhỏ như chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa, sử dụng thuốc xịt khử mùi vùng nách, ánh nắng mặt trời quá mức, nồng độ estrogen trong máu cao, v.v., hoặc yếu tố chính là sự vô kỷ luật về cảm xúc.

In breast cancer there is inability of the Heart Chakra to accept the excessive output of energies from the Solar Plexus as that centre acts as a channel for emotional drives.

Trong ung thư vú, có sự bất lực của luân xa Tim trong việc tiếp nhận lượng năng lượng quá mức từ luân xa Tùng Thái Dương, vốn hoạt động như một kênh dẫn của các xung lực cảm xúc.

At the outset it must be said that at the moment, this is a planetary problem with planetary karma seizing an opportunity to express itself through Sagittarius and its esoteric ruler, the Earth. In simpler terms this manifests through emotional blocks, inhibitions, irritations which stimulate cancer in the region of the breasts, etc.

Phải nói ngay từ đầu rằng vào thời điểm hiện tại, đây là một vấn đề mang tính hành tinh, với nghiệp quả hành tinh đang nắm bắt cơ hội để biểu lộ qua dấu hiệu Nhân Mã và chủ tinh nội môn của nó—Trái Đất. Nói đơn giản hơn, điều này biểu hiện qua những tắc nghẽn cảm xúc, những ức chế, bực dọc kích thích ung thư ở vùng vú, v.v.

The soul would count the cost as being well worth it if one incarnation could be sacrificed to obtain emotional integration and discipline, but would regard it even more recommendable if that integration could be obtained by such processes as would not involve the loss of the physical vehicle. All that can be done, here, is to list some of the emotional factors, the lack of control of which lead to the inherent cancer condition expressing itself through the breast.

Linh hồn sẽ cho rằng việc hy sinh một kiếp sống để đạt được sự tích hợp và kỷ luật cảm xúc là điều xứng đáng, nhưng sẽ càng khuyến khích hơn nếu sự tích hợp đó có thể đạt được bằng những phương thức không dẫn đến mất đi thể xác. Điều có thể làm ở đây là liệt kê một số yếu tố cảm xúc mà sự thiếu kiểm soát của chúng dẫn đến tình trạng ung thư tiềm ẩn biểu lộ qua tuyến vú.

Of course, there are also predisposing factors at the level of the etheric body which will decide what part of the body the cancer will express itself through. This might be through the cervix of the uterus if there were inability to transfer energy from the Sacral Chakra to the Throat Chakra, or as cancer of the throat or thyroid if energy could not be received in the Throat Chakra.

Tất nhiên, cũng có các yếu tố khiến dễ phát bệnh ở mức độ thể dĩ thái, những yếu tố này sẽ quyết định phần nào trong cơ thể ung thư sẽ biểu lộ. Điều này có thể xảy ra ở cổ tử cung nếu có sự bất lực trong việc chuyển năng lượng từ luân xa Xương Cùng lên luân xa Cổ Họng, hoặc là ung thư cổ họng hay tuyến giáp nếu năng lượng không thể được tiếp nhận ở luân xa Cổ Họng.

An innate shyness and embarrassment with the sexual act may be present (despite perhaps years of married life). There may be a deep and unexpressed distaste for the marriage partner so that the sexual demands and conjugal rights are (at least subconsciously) regarded with deep loathing. This inner emotional inhibition may be emphasised through regarding the sexual activities of other women in the same way.

Có thể tồn tại sự nhút nhát và lúng túng bẩm sinh với hành vi tình dục (mặc dù đã kết hôn nhiều năm). Có thể có sự ghét bỏ sâu sắc nhưng không được bộc lộ đối với người bạn đời, đến mức các yêu cầu tình dục và quyền lợi hôn nhân bị coi là điều kinh tởm (ít nhất là trong tiềm thức). Sự ức chế cảm xúc nội tâm này có thể càng bị nhấn mạnh qua việc nhìn nhận các hành vi tình dục của những phụ nữ khác theo cách tương tự.

Every case of rape read about in the newspaper may, through deep sympathetic rapport or revulsion, centre energies in the breast so that overstimulation of physical and etheric tissue results. How often will you not see a woman clutch at her breasts when she hears of or sees something emotionally stimulating, perhaps her favourite actor or some horrible tragedy. ‘Beating the breast’ in despair is a practice not long lost from our folkways. Any acts like sexual perversions or miscegenation on the part of others can lead to deep apprehensions and fear, felt mainly around the heart region. ‘Putting oneself in her position’ would sum it up.

Mỗi vụ hiếp dâm được đọc trên báo có thể, qua sự đồng cảm sâu sắc hay sự ghê tởm, tập trung năng lượng vào vùng ngực, khiến mô thể chất và thể dĩ thái bị kích thích quá mức. Có bao nhiêu lần các bạn thấy một người phụ nữ ôm lấy ngực mình khi nghe hay chứng kiến điều gì đó gây xúc động mạnh—có thể là một nam diễn viên yêu thích hay một bi kịch kinh hoàng. “Đấm ngực trong tuyệt vọng” là một thói quen chưa mất đi khỏi tập tục dân gian của chúng ta. Những hành vi như sự lệch lạc tình dục hay hôn nhân dị chủng do người khác gây ra có thể dẫn đến cảm giác bất an sâu sắc và sợ hãi, thường tập trung quanh vùng tim. “Đặt mình vào vị trí người khác” là một cụm từ tóm gọn điều đó.

Any sort of emotional insecurity produces the same sort of effect, especially when it is associated with the husband or breadwinner. The emotional insecurity frequently arises through marrying what might be regarded as someone socially inferior, a basic horror of being polluted. Women tend to react emotionally in the breast region. From an early age, from adolescence on, tests show that women aspire to large breasts. All this may seem very mundane and a matter-of-fact part of life, but to highly sensitive women, incarnated in bodies of Atlantean stock, it can be death-dealing.

Bất kỳ hình thức bất an cảm xúc nào cũng tạo ra hiệu ứng tương tự, đặc biệt khi nó liên quan đến người chồng hay trụ cột tài chính trong gia đình. Sự bất an cảm xúc thường phát sinh khi kết hôn với người bị xem là kém địa vị xã hội, kèm theo một nỗi khiếp đảm cơ bản về sự “ô uế hóa.” Phụ nữ thường phản ứng cảm xúc ở vùng ngực. Từ tuổi mới lớn trở đi, các khảo sát cho thấy phụ nữ ao ước có bộ ngực lớn. Tất cả điều này có thể nghe rất trần tục và như một phần bình thường của cuộc sống, nhưng đối với những phụ nữ cực kỳ nhạy cảm, đầu thai trong các thể xác thuộc chủng Atlantis, nó có thể là yếu tố gây tử vong.

The Hidden Effects of Inoculation

The first smallpox epidemic in Europe was recorded towards the end of the sixteenth century, but from then on, it spread with murderous rapidity. Soon it became a word that brought terror and despair to all people. There was one ray of hope in a world darkened by the shadow of smallpox. A person who once had it could not catch it again. This gave rise to a desperate attempt to outwit the disease by deliberately giving a mild case of it to children before they could catch it in the normal manner. The process was called inoculation. It was first practised in the orient a thousand years before Christ. Like smallpox itself, it spread westward until it reached Europe.

Đại dịch đậu mùa đầu tiên tại châu Âu được ghi nhận vào cuối thế kỷ mười sáu, nhưng kể từ đó, nó lan truyền với tốc độ tàn sát khủng khiếp. Chẳng bao lâu sau, nó trở thành một từ ngữ mang lại nỗi kinh hoàng và tuyệt vọng cho tất cả mọi người. Trong một thế giới bị bóng đen của bệnh đậu mùa phủ lên, có một tia hy vọng le lói. Một người nếu đã từng mắc bệnh thì sẽ không bị tái nhiễm. Điều này dẫn đến một nỗ lực tuyệt vọng nhằm đánh lừa căn bệnh bằng cách cố ý gây ra một ca bệnh nhẹ ở trẻ em trước khi các em có thể bị nhiễm bệnh theo cách tự nhiên. Quá trình này được gọi là chủng ngừa. Chủng ngừa lần đầu được thực hành ở phương Đông từ một nghìn năm trước Công nguyên. Cũng giống như chính bệnh đậu mùa, nó lan về phương Tây cho đến khi tới châu Âu.

Inoculation was introduced into England by Lady Mary Wortley Montagu, wife of the British ambassador to the Turkish court in the early 1700’s. One day she heard about a strange practice among the Turks whereby children were deliberately given smallpox. This was done by scratching their arms with a needle and placing a small amount of matter taken from the sore or pocks of a patient with a mild case of the disease. At first Lady Mary was horrified. “This is barbarous,” she remarked to a Turkish nobleman. “Why do they purposely inflict such a loathsome disease on children?” The man smiled. “To save their lives, Your Ladyship, to save their lives.”

Chủng ngừa được giới thiệu vào Anh Quốc bởi Lady Mary Wortley Montagu, phu nhân của đại sứ Anh tại triều đình Thổ Nhĩ Kỳ vào đầu những năm 1700. Một ngày nọ, bà nghe về một tập tục lạ lùng của người Thổ: cố ý truyền bệnh đậu mùa cho trẻ em. Việc này được thực hiện bằng cách rạch da tay của các em bằng kim và đưa một lượng nhỏ chất mủ lấy từ vết thương của một bệnh nhân mắc bệnh ở thể nhẹ. Ban đầu Lady Mary kinh hãi. “Thật là man rợ,” bà nói với một quý tộc Thổ Nhĩ Kỳ. “Tại sao lại cố ý gây ra một căn bệnh ghê tởm như vậy cho trẻ em?” Người đàn ông mỉm cười. “Để cứu mạng chúng, thưa phu nhân, để cứu mạng chúng.”

Times change and smallpox is well controlled in the West, yet the practice of inoculation of the loathsome material of the disease continues. Only recently have the youngest children been spared the ordeal till later years. Many students of esoteric medicine have noticed that children with an atopic[122] eczema frequently present with a history of onset[123] beginning immediately after inoculation for smallpox whilst but a few months old or even later.

Thời thế thay đổi và bệnh đậu mùa hiện đã được kiểm soát tốt ở phương Tây, vậy mà việc chủng ngừa bằng vật chất ghê tởm của căn bệnh này vẫn tiếp tục. Chỉ gần đây, trẻ nhỏ nhất mới được miễn khỏi trải nghiệm khủng khiếp này cho đến những năm sau đó. Nhiều học giả về y học huyền môn đã nhận thấy rằng những trẻ bị chàm thể tạng (atopic eczema) thường có tiền sử khởi phát bệnh ngay sau khi được chủng ngừa đậu mùa lúc chỉ mới vài tháng tuổi hoặc muộn hơn một chút.

Effects of InoculationTác Động của Việc Chủng Ngừa

This is always said to be of greater concern to Man on the Path than to others. The reasons lie within and at deep levels, rather than superficially with the problems of the physical body. These are ultimately taken care of by the latter’s defense mechanisms, antibodies, etc., and at an etheric level by the mechanism of destruction and renewal of the etheric matrix (see section on “Etheric Vitamins”). What is referred to here is in the realm of mental, emotional and even higher aspects of creativity.

Điều này luôn được xem là vấn đề đáng lo ngại hơn đối với Con Người trên Con Đường hơn là đối với những người khác. Nguyên nhân nằm ở bên trong và ở các tầng sâu, hơn là chỉ giới hạn bề mặt ở các vấn đề của thể xác. Các vấn đề thể chất cuối cùng sẽ được xử lý bởi các cơ chế phòng vệ của thân thể như kháng thể, v.v., và ở cấp độ dĩ thái bởi cơ chế phá hủy và tái tạo mạng lưới dĩ thái (xem phần “Vitamin Dĩ Thái”). Điều được đề cập ở đây thuộc về lĩnh vực của thể trí, cảm dục và thậm chí các khía cạnh cao hơn của sự sáng tạo.

It should not be forgotten that those blessed streams and impulses of higher thought, of inspiration, of insight which the most creative men always treasure, stem from[124] causal levels, often depicted as a many-faceted jewel. The impact of emanations from this region in which Man overlaps with his Godhead are’ extremely subtle, and their receipt in the personality is via the most delicate mechanisms of which the etheric nadis and tracts, fine as they are, are but the coarsest outer manifestations.

Không nên quên rằng những dòng chảy và xung lực phước lành của tư tưởng cao siêu, của cảm hứng, của trực nhận mà những con người sáng tạo nhất luôn trân quý, xuất phát từ các tầng nhân thể, thường được mô tả như một viên ngọc nhiều mặt. Tác động của các luồng phát xạ từ vùng này—nơi Con Người giao thoa với Thượng Ngã của y—vô cùng tinh tế, và khả năng tiếp nhận của phàm ngã là qua những cơ chế vi tế nhất mà các nadis và kênh dĩ thái, dù mảnh mai đến đâu, cũng chỉ là những biểu hiện thô thiển nhất bên ngoài.

Inoculation may well be life-saving and recommendably preventative on the very rare occasions that may present themselves, but we should never forget to count the cost of them in terms of creativity. These inner Pierian springs[125] dry up[126] very easily in vehicles flooded with toxins, with that which is not-self. Many a child faces a drying up, albeit temporarily, of this fountainhead so that creative effort becomes almost impossible at a time when the establishment of patterns of behaviour and thinking habits are important.

Chủng ngừa có thể là cứu cánh cho sinh mạng và được khuyến nghị trong những tình huống rất hiếm gặp, nhưng chúng ta không bao giờ nên quên tính đến cái giá phải trả dưới phương diện sáng tạo. Những dòng suối Pierian nội tại này rất dễ bị khô cạn trong các thể bị ngập đầy độc tố, bị tràn ngập bởi những gì không phải là chân ngã. Nhiều trẻ em đối mặt với sự khô cạn, dù chỉ là tạm thời, của nguồn suối này, khiến cho nỗ lực sáng tạo gần như không thể, vào thời điểm mà việc hình thành các khuôn mẫu hành vi và thói quen tư duy lại rất quan trọng.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-55.webp

At school the child may find creative effort of his own extremely difficult to summon up and to maintain. The easy way out is chosen, if there is a choice. He will shy away from mental effort with a laziness that is not and was not characteristic. This may pass unnoticed except to the close observer. It may all be aggravated by the degree of intoxication and the reaction of defense mechanisms to it. The webs that separate the chakras on the spine, at the subtlest levels, become thickened and coarse, impervious[127] to the progressive upwardly surging, triple-natured forces that emerge from the Base of the Spine. That goes for all bodily intoxications: alcoholic, nicotinic, alimentary[128] and inoculatory. These webs act like the nicitating membrane of a bird or reptile, the third eyelid that automatically moves across the path of vision from the side, to clear it of dust and obstruction.

Tại trường học, đứa trẻ có thể thấy việc nỗ lực sáng tạo từ chính mình là điều vô cùng khó khăn để khơi gợi và duy trì. Trẻ sẽ chọn con đường dễ dàng hơn nếu có thể lựa chọn. Trẻ sẽ né tránh các nỗ lực trí tuệ bằng một sự lười biếng không phải là tính cách vốn có. Điều này có thể không được chú ý trừ khi có một người quan sát kỹ lưỡng. Mọi việc có thể trở nên nghiêm trọng hơn do mức độ nhiễm độc và phản ứng của các cơ chế phòng vệ đối với nó. Những mạng lưới ngăn cách các luân xa dọc theo xương sống, ở cấp độ vi tế nhất, trở nên dày và thô hơn, không cho phép các mãnh lực ba chiều đang dâng lên từ đáy xương sống xuyên qua. Điều này đúng với mọi dạng nhiễm độc cơ thể: do rượu, nicotine, thực phẩm, và do chủng ngừa. Những mạng lưới này hoạt động giống như màng nháy của chim hay bò sát—miếng mí mắt thứ ba tự động trượt ngang qua đường nhìn để làm sạch bụi bặm và vật cản.

Now the above considerations may not carry much weight with the average parents and most educational bodies, but recognition of the value of creativeness as supremely important is to be found materialised in the Waldorf Steiner schools, quickly spreading across North America and Europe.

Giờ đây, những cân nhắc trên có thể không mang nhiều trọng lượng với các bậc phụ huynh thông thường và đa số các tổ chức giáo dục, nhưng việc công nhận giá trị của sự sáng tạo như một điều cực kỳ quan trọng lại đang được thể hiện một cách cụ thể tại các trường học Waldorf Steiner—những ngôi trường đang nhanh chóng lan rộng khắp Bắc Mỹ và châu Âu.

We have to remember, however, that inoculation is one of the dharmic obligations which we must meet at this time through living in close communities and the overall obvious advantages which this presents. Communities have isolated themselves in the past, and they are well known. The Essenes in Biblical days lived in isolation and undertook severe acts of purification. The Mormons, the Jehovah Witnesses and other communities have done the same.

Tuy nhiên, chúng ta cần ghi nhớ rằng chủng ngừa là một trong những nghĩa vụ dharma mà chúng ta phải đáp ứng vào thời điểm hiện tại khi sống trong các cộng đồng khép kín và hưởng lợi từ những ưu điểm rõ ràng mà điều đó mang lại. Các cộng đồng đã từng tự cô lập mình trong quá khứ, và điều này đã được ghi nhận. Các tu sĩ Essenes thời Kinh Thánh đã sống biệt lập và thực hành các nghi lễ thanh lọc nghiêm ngặt. Người Mormon, Nhân Chứng Giê-hô-va và các cộng đồng khác cũng đã làm như vậy.

All esoteric people, medically qualified ones included, don’t like inoculation, especially that of the cow pox into babies, and feel that there should be higher methods of controlling disease than this. If the Tibetan Master D.K. is to be believed, then new, less toxic methods will be evolved in due course. (1) He also points out that these methods of inoculation have contributed to the production of healthier races in the West than in the East.

Tất cả những người theo huyền môn—bao gồm cả các bác sĩ có chuyên môn y khoa—đều không thích việc chủng ngừa, đặc biệt là việc đưa virus đậu mùa bò vào trẻ sơ sinh, và cảm thấy rằng cần phải có những phương pháp cao hơn để kiểm soát bệnh tật. Nếu lời dạy của Chân sư Tây Tạng DK là đúng, thì những phương pháp mới, ít độc hại hơn, sẽ được phát triển theo thời gian. Ngài cũng chỉ ra rằng các phương pháp chủng ngừa đã góp phần tạo nên những giống dân khỏe mạnh hơn ở phương Tây so với phương Đông.

(1) The Tibetan, Esoteric Healing, pages 322-324

(1) Chân sư Tây Tạng, Trị Liệu Huyền Môn, trang 322–324.

Some esoteric students over-emphasise the effects of inoculation and blood transfusion, forgetting the way they (or others) may be polluting themselves with the industrially contaminated air they breathe, the fluoridated water they drink, the comestibles tainted with antibiotics they eat, the electric light by which they read, the television screen that they stare into, etc., etc., etc. What is probably the most valid criticism of the use of inoculations and serums (as distinct from blood transfusion) is the use of animals in any way that results in suffering and cruelty. No sane man would agree that the blood of animals be used in transfusion, yet we don’t present the same opposition to serums and inoculation.

Một số học viên huyền môn lại quá nhấn mạnh đến tác động của chủng ngừa và truyền máu, quên mất rằng họ (hoặc người khác) có thể đang làm ô nhiễm chính mình qua không khí nhiễm công nghiệp mà họ hít thở, nước có fluoride mà họ uống, thực phẩm bị nhiễm kháng sinh mà họ ăn, ánh sáng điện mà họ đọc sách dưới đó, màn hình TV mà họ chăm chú nhìn vào, v.v. và v.v. Có lẽ lời phê bình xác đáng nhất về việc sử dụng chủng ngừa và huyết thanh (phân biệt với truyền máu) chính là việc sử dụng động vật theo bất kỳ cách nào dẫn đến sự đau đớn và tàn nhẫn. Không một người tỉnh táo nào lại đồng ý truyền máu lấy từ động vật, nhưng chúng ta lại không phản đối tương tự khi nói đến huyết thanh và chủng ngừa.

It is all very bewildering, and the esotericist has the comfort of knowing that the effect on the inner bodies of inoculation is not so devastating as the disease itself would have been.

Tất cả điều này thật rối rắm, và người huyền môn có thể an ủi rằng tác động của việc chủng ngừa lên các thể nội tại không tàn phá như chính căn bệnh nếu để nó xảy ra.

Personally, I am inclined to withhold small pox from a baby for as long as possible, but not from the school-going child and thereafter unless there is a special reason.1 In this day and age where air travel presents special problems in human relationships, we are bound to have to meet the dharmic implications of such internationalism.

Về phần cá nhân, tôi có xu hướng trì hoãn việc chủng ngừa đậu mùa cho trẻ sơ sinh càng lâu càng tốt, nhưng không phải cho trẻ đã đến tuổi đi học hoặc sau đó, trừ khi có lý do đặc biệt. Trong thời đại ngày nay, khi việc di chuyển bằng đường hàng không gây ra những vấn đề đặc biệt trong các mối quan hệ giữa con người với nhau, chúng ta buộc phải đối mặt với các hàm ý dharma của chủ nghĩa quốc tế như thế này.

If inoculation is inevitable, then in the child, the inner bodies can be more quickly restored through careful attention to the home environment. Encouragement of creativeness in sensitive hobbies, music and art will maintain the pathways of inspiration until the inner effects of inoculation are corrected.

Nếu chủng ngừa là điều không thể tránh khỏi, thì nơi đứa trẻ, các thể nội tại có thể được phục hồi nhanh hơn thông qua sự chú ý cẩn trọng đến môi trường sống tại gia đình. Khuyến khích sự sáng tạo qua những sở thích tinh tế, âm nhạc và nghệ thuật sẽ duy trì những con đường cảm hứng cho đến khi các ảnh hưởng nội tại của chủng ngừa được điều chỉnh lại.

(1) In the United Kingdom special permission can still be sought for a child being made exempt.

(1) Tại Vương quốc Anh, vẫn có thể xin phép đặc biệt để trẻ được miễn chủng ngừa.

Downs Syndrome

Recently, two Pakistani doctors were discussing the incidence of Downs Syndrome in England. Both felt that this was on the increase and that in their own land there was nothing like the incidence of the condition as found in England. This may be true. Patterson (1) put it at one in 600 defectives held in institutions. What esoteric implications are conveyed by the condition? Some have said that this genetic abnormality heralds a new sub-race in the making. Others feel that it acts as a warning against radio-active fallout[129]. There is no truth in either of these propositions.

Gần đây, hai bác sĩ người Pakistan đã thảo luận về tỷ lệ mắc hội chứng Down tại Anh. Cả hai đều cảm thấy rằng tỷ lệ này đang gia tăng, và rằng tại quê hương họ, không hề có tỷ lệ mắc cao như ở Anh. Điều này có thể là sự thật. Patterson (1) đã ước tính tỷ lệ này là một trên 600 người khuyết tật đang được chăm sóc tại các cơ sở chuyên biệt. Vậy, những hàm ý huyền môn nào được hàm chứa trong tình trạng này? Một số người cho rằng sự bất thường về di truyền này là dấu hiệu báo trước cho sự hình thành của một giống dân phụ mới. Những người khác lại cho rằng đó là lời cảnh báo chống lại hậu quả của bụi phóng xạ. Tuy nhiên, cả hai giả thuyết này đều không có cơ sở sự thật.

(1) Sick Children by Donal Patterson (Cassell).

(1) Sick Children, Donal Patterson (Cassell).

From tissue cultures[130] of white cells from sufferers of Downs Syndrome, it has been found that chromosome No. 21 (see diagrams below) is triple in nature, instead of the usual duality. The extra chromosome (giving 47 instead of 46) arises by non-disjunction during germ cell formation. The incidence increases in the ova[131] of older mothers. Because the span of fertility seems to be increasing, especially in Britain, this may account for the increase in Britain and the West.

Từ các mẫu nuôi cấy mô lấy từ bạch cầu của những người mắc hội chứng Down, người ta phát hiện rằng nhiễm sắc thể số 21 (xem các sơ đồ bên dưới) có dạng bộ ba, thay vì dạng kép như thông thường. Nhiễm sắc thể thừa (dẫn đến tổng cộng 47 nhiễm sắc thể thay vì 46) phát sinh do hiện tượng không phân ly trong quá trình hình thành tế bào mầm. Tỷ lệ mắc hội chứng này gia tăng ở trứng của những người mẹ lớn tuổi. Vì thời gian sinh sản dường như đang kéo dài hơn — đặc biệt là ở Anh — điều này có thể giải thích cho sự gia tăng các ca mắc hội chứng Down tại Anh và phương Tây.

esoteric-healing-1-song-ngu_upscaled_20260719_093937-56.webp

The esotericist may say with certainty, however, that the condition is peculiarly karmic. Congenital[132] heart conditions are the most karmic of all physical aberrations[133], there being a most special affinity between the anatomy of the heart with its four main cavities and the Four great Lords of Karma. Downs Syndrome carries with it congenital heart disease in some fifteen per cent of instances. Both parents are involved in the karma. The nervous system is also involved, with the brain being small, its cortex thinned and its convolutions[134] simple. The endocrine system is not generally affected. In fact, ruled as it is by the Second Ray of Love-Wisdom, it is not surprising to find that Downs Syndrome children are usually very lovable and affectionate, and the soul chooses the most unaffected system through which to express itself: –

Nhà huyền môn có thể khẳng định chắc chắn rằng tình trạng này mang tính nghiệp lực đặc biệt. Các dị tật bẩm sinh về tim là biểu hiện mang tính nghiệp lực rõ rệt nhất trong mọi sai lệch thể chất, vì có một mối liên hệ đặc biệt giữa cấu trúc giải phẫu của trái tim với bốn buồng chính và Bốn Đấng Đại Diêm Vương. Hội chứng Down mang theo bệnh tim bẩm sinh trong khoảng mười lăm phần trăm trường hợp. Cả cha lẫn mẹ đều liên quan đến nghiệp lực này. Hệ thần kinh cũng bị ảnh hưởng, với não nhỏ, vỏ não mỏng và các khúc cuộn đơn giản. Tuy nhiên, hệ nội tiết nói chung không bị ảnh hưởng. Thật vậy, dưới sự chi phối của Cung Hai — Bác Ái-Minh Triết — không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng trẻ mắc hội chứng Down thường rất đáng yêu và trìu mến, và linh hồn chọn hệ thống ít bị ảnh hưởng nhất để biểu lộ chính mình:

“The soul is not where it lives but where it loves.”

“Linh hồn không ở nơi nó sống mà ở nơi nó yêu.”

H.G.Bohn

H.G. Bohn

I stress the endocrine system because some parents of Downs Syndrome children go to endless expense exploring every conceivable avenue of therapy in the hope of “doing something” for the child. Some never abandon the secret belief that the child can be miraculously delivered of his or her abnormality. Some have even had the expensive Niehans therapy, in which the eminent Swiss doctor injects animal cells or grafts animal glands into his patients. This may produce temporary rejuvenation for some, but nothing can be done for the Downs Syndrome individual whose endocrines are, as already stated, quite normal. The karmic retribution for use of animal grafts[135] should dissuade[136] unwary esotericists at least from resorting to his abomination in the eyes of the Lord of Evolution.

Tôi nhấn mạnh đến hệ nội tiết vì có những bậc cha mẹ của trẻ Down sẵn sàng bỏ ra chi phí vô cùng tốn kém để khám phá mọi con đường trị liệu có thể, với hy vọng “làm điều gì đó” cho đứa trẻ. Một số người không bao giờ từ bỏ niềm tin thầm kín rằng đứa trẻ có thể được chữa lành một cách kỳ diệu khỏi tình trạng bất thường của mình. Một số người còn từng sử dụng liệu pháp Niehans đắt đỏ, trong đó một bác sĩ người Thụy Sĩ nổi tiếng tiêm tế bào động vật hoặc ghép tuyến động vật vào bệnh nhân. Phương pháp này có thể mang lại sự trẻ hoá tạm thời cho một số người, nhưng không thể giúp gì cho người mắc hội chứng Down, bởi hệ nội tiết của họ — như đã nói — là hoàn toàn bình thường. Hậu quả nghiệp lực từ việc sử dụng mô ghép từ động vật nên đủ để khiến các nhà huyền môn thận trọng tránh xa hành vi bị xem là ghê tởm trước mắt Đấng Tiến Hóa.

The Downs Syndrome individual is very susceptible to various diseases, and infections, and tonsils[137] and adenoids assist nature to place the child at risk. Yet, despite the wide and unusual range of abnormalities which go to make up a Downs Syndrome child, there is not a single defect which could not be found at some time or the other in some normal human being.

Người mắc hội chứng Down rất dễ bị các bệnh khác nhau và nhiễm trùng, và amidan cùng VA góp phần khiến cơ thể yếu hơn trước nguy cơ bệnh tật. Tuy nhiên, mặc dù có một loạt các bất thường rộng lớn và khác thường cấu thành một đứa trẻ mắc hội chứng Down, thì không có khuyết tật nào mà không từng xuất hiện ở một số người bình thường vào một thời điểm nào đó trong đời.

The question arises, what to do for these youngsters? The question of euthanasia[138] does not even remotely suggest itself here. Nor is there any likelihood of reproduction. What can be done is to treat the child in such a way as to reduce the hypo-tonicity[139] of the muscles and joints and to bring the constitution up to its maximum level of possible efficiency so that the child may function more harmoniously in his environment. With homoeopathic treatment, some significant improvement has been found in general alertness, and an increase in vocabulary over a period of six months has been noted. However, it must be stressed that treatment can only be successful from the point of view of bringing the child to his maximum functional capacity within the limits of his genetic condition.

Câu hỏi đặt ra là: phải làm gì cho những đứa trẻ này? Câu hỏi về việc an tử hoàn toàn không đặt ra ở đây. Cũng không có khả năng sinh sản. Điều có thể làm là điều trị sao cho giảm thiểu tình trạng nhão cơ và khớp, và nâng cao thể trạng lên mức tối đa có thể để đứa trẻ có thể thích nghi hài hoà hơn với môi trường sống. Với điều trị vi lượng đồng căn, một số cải thiện đáng kể đã được ghi nhận trong mức độ tỉnh táo tổng thể, và vốn từ vựng tăng lên trong vòng sáu tháng. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng điều trị chỉ có thể thành công trong phạm vi đưa đứa trẻ đến mức độ khả năng chức năng tối đa nằm trong giới hạn của điều kiện di truyền.

Treatment: Halibut Liver Oil, daily by capsule. Homoeopathic, dose: c.200

Phác đồ điều trị: Dầu gan cá tuyết, mỗi ngày 1 viên. Vi lượng đồng căn liều: c.200

Sodium Pentothal. Vitamin A administered antenatally to mother.

Sodium Pentothal. Vitamin A được tiêm cho người mẹ từ giai đoạn tiền sản.

Very little can be done for the Downs Syndrome child, and they rarely reach adulthood. Any treatment that helps to integrate them with their home, whether that be shared with their parents or with other mongols in an institution, is recommendable. The use of music has been successful in bringing out some sort of personality expression. The Downs Syndrome child derives great pleasure from music therapy, co-operates and responds to the therapist and to other children. (1) This leads to greater independence without necessarily any mental growth, nor should the latter be expected. Mental growth is not in the karma.

Rất ít điều có thể làm cho trẻ mắc hội chứng Down, và các em hiếm khi sống đến tuổi trưởng thành. Bất kỳ phương pháp điều trị nào giúp trẻ hội nhập với gia đình — dù sống cùng cha mẹ hay trong cơ sở với những trẻ tương tự — đều nên được áp dụng. Việc sử dụng âm nhạc đã chứng minh là có hiệu quả trong việc khơi dậy một phần biểu hiện nhân cách. Trẻ Down rất thích thú với liệu pháp âm nhạc, hợp tác và phản ứng tốt với nhà trị liệu và các trẻ khác. (1) Điều này dẫn đến sự độc lập cao hơn mà không nhất thiết là có sự phát triển về trí tuệ — điều mà không nên kỳ vọng. Phát triển trí tuệ không nằm trong nghiệp lực.

(1) Music Therapy for Severely Subnormal Boys by Juliette Alvin (published by the British Society for Music Therapy).

(1) Music Therapy for Severely Subnormal Boys, Juliette Alvin, do Hội Âm Nhạc Trị Liệu Anh Quốc xuất bản.

The Karma of Downs Syndrome

Nghiệp lực của Hội chứng Down

The previous life of the mongol child was one in which there was severe mental involvement in a variety of matters which produced mental stress to the point of breakdown. There was overloading of the nervous system and mental body—“The Fires of Mind consumed the physical tenure of the Soul,” as Browning puts it. This demands, in the next life (or lives), periods of enforced mental rest so that the various related permanent atoms of the mental, emotional and physical vehicles have time to assimilate, co-ordinate and effectively ‘digest’, store, file and integrate the lessons learnt from the life of excessive mental preoccupation.

Cuộc sống trước đây của đứa trẻ mắc hội chứng Down là một đời sống có sự dính líu tâm trí sâu sắc với nhiều vấn đề, gây ra căng thẳng tinh thần đến mức suy sụp. Hệ thần kinh và thể trí bị quá tải — “Ngọn Lửa của Trí Tuệ đã thiêu rụi chỗ ngụ thể xác của Linh Hồn”, như Browning đã nói. Điều này đòi hỏi trong kiếp sau (hoặc các kiếp tiếp theo), phải có những giai đoạn nghỉ ngơi bắt buộc về tinh thần để các nguyên tử trường tồn tương ứng trong thể trí, thể cảm xúc và thể xác có thời gian để hấp thụ, phối hợp và thực sự “tiêu hóa”, lưu trữ, sắp xếp và tích hợp những bài học từ một đời sống bị chi phối quá mức bởi tâm trí.

Life as a Downs Syndrome child removes all possible chance of mental stress, processing or stimulation. The rest is enforced. Downs Syndrome children are loving, but not mental; pleasure-seeking but not capable of moralising. We should remember the karmic factors involved and help the young soul through its period of ‘physical’ convalescence[140] after its brutal experiences in a mentally polarised and stressful series of lives.

Cuộc đời của một đứa trẻ Down loại bỏ hoàn toàn khả năng chịu đựng căng thẳng, xử lý hay kích thích tinh thần. Việc nghỉ ngơi được áp đặt. Trẻ mắc hội chứng Down có lòng yêu thương, nhưng không có trí tuệ; thích thú nhưng không có khả năng lý luận đạo đức. Chúng ta cần ghi nhớ các yếu tố nghiệp lực liên quan và giúp đỡ linh hồn non trẻ này trong giai đoạn “dưỡng bệnh thể xác” sau những trải nghiệm tàn khốc trong chuỗi các kiếp sống phân cực trí tuệ và đầy căng thẳng.

Mongolism (Downs Syndrome), a type of idiocy[141], with some similarities to myxedema[142] and cretinism[143]. The name apparently derives from the slightly oriental look, due to the obliquity[144] of the eye slit, mongoloids have. However, mongoloids[145] occur throughout the world. Three mongoloids are born in every thousand births, all resembling one another. They are small, rarely reaching the height of a normal twelve-year-old child. They have broad faces with flat or stubby[146] noses, and an open, apparently undeveloped mouth with large protruding lips. Their legs and arms are abnormally short, the hands thick and the muscles flabby. In most instances the senses are deficient, with weak eyesight, impaired hearing, and an undeveloped sense of smell. Mongoloids have speech difficulties and very limited vocabularies and are usually only able to utter unintelligible sounds. They reach puberty exceedingly late and may learn to walk as late as the age of eleven or twelve. Frequently mongoloids show little or no interest in their environment, live in a stupor[147], and seem unable to perform even simple tasks or to take care of themselves. Thus their retardation is pronounced enough for them to be considered true idiots.

Hội chứng Down (mongolism) là một loại thiểu năng trí tuệ, có nét tương đồng với phù niêm (myxedema) và bệnh đần độn (cretinism). Tên gọi này xuất phát từ vẻ ngoài hơi giống người phương Đông, do khe mắt xếch, thường thấy ở người mắc hội chứng này. Tuy nhiên, người mắc hội chứng Down xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới. Có ba trẻ mắc hội chứng Down trên mỗi nghìn ca sinh, và tất cả đều có ngoại hình rất giống nhau. Các em nhỏ bé, hiếm khi đạt chiều cao của một đứa trẻ mười hai tuổi bình thường. Mặt các em rộng, mũi tẹt hoặc ngắn, miệng há và có vẻ như chưa phát triển với môi lớn, trề ra. Tay chân ngắn bất thường, bàn tay dày, cơ nhão. Trong hầu hết các trường hợp, các giác quan bị suy giảm — thị lực yếu, thính lực kém, khứu giác không phát triển. Trẻ mắc hội chứng Down nói khó, vốn từ hạn chế và thường chỉ phát ra âm thanh khó hiểu. Các em dậy thì rất trễ và có thể chỉ học được cách đi đứng ở tuổi mười một hoặc mười hai. Thường thì các em hầu như không quan tâm đến môi trường xung quanh, sống trong trạng thái u mê và dường như không thể thực hiện những công việc đơn giản hay tự chăm sóc bản thân. Do đó, sự chậm phát triển của các em đủ rõ để được xem là thiểu năng nghiêm trọng.

Often organic defects are present. Mongoloids may have a faulty circulatory system, or underdeveloped brain, liver and kidney. Physical weakness and a susceptibility to lung and intestinal infections have always been high contributing factors to the high death rate among mongoloids before the age of maturity. However, antibiotics and other drugs have increased their life span considerably.

Thường có các khuyết tật về mặt thể chất. Trẻ mắc hội chứng Down có thể có hệ tuần hoàn bất thường, hoặc não, gan, thận kém phát triển. Thể trạng yếu và dễ bị viêm phổi hoặc nhiễm trùng đường ruột luôn là những yếu tố góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong trước tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, kháng sinh và các loại thuốc khác đã cải thiện đáng kể tuổi thọ của các em.

A specific cure for mongolism is not known. Even under the most ideal circumstances, mongoloids will only become about thirty per cent normal. Yet the attitude that nothing can be done and that efforts are useless is rather severe. Glandular remedies and calcium phosphate are used; but the greatest help is patience, compassion, and love. Dr. Thomas Benda, an authority on this subject and author of Mongolism and Cretinism, reports that mongoloids can learn to do simple manual chores such as household or farm work. He points out that they learn by imitating others. (1)

Hiện chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu cho hội chứng Down. Ngay cả trong những điều kiện lý tưởng nhất, trẻ Down cũng chỉ có thể đạt khoảng ba mươi phần trăm so với mức bình thường. Tuy vậy, thái độ cho rằng “không thể làm gì” và “mọi nỗ lực đều vô ích” là quá khắt khe. Các biện pháp điều trị bằng tuyến và phosphate canxi được sử dụng; nhưng sự trợ giúp lớn nhất vẫn là kiên nhẫn, lòng trắc ẩn và tình thương. Bác sĩ Thomas Benda — chuyên gia trong lĩnh vực này và là tác giả của Mongolism and Cretinism — cho biết rằng trẻ Down có thể học làm các công việc thủ công đơn giản như việc nhà hoặc việc đồng áng. Ông nhấn mạnh rằng các em học bằng cách bắt chước người khác. (1)

(1) Encyclopedia of Medical Health, Odhams Books Ltd., London.

(1) Encyclopedia of Medical Health, Odhams Books Ltd., London.

Leave a Comment

Scroll to Top