Program 12 – Rule 8.6 (Pages 250-253)
Abstract
|
Content for ATOWM Series II, Rules of Magic for the Astral Plane, Video Commentary, Program Twelve, 8.6 continuing Rule VIII, CYCLIC EBBS AND FLOWS, 1:03 hr.: pages 250-253. |
Nội dung cho Loạt bài ATOWM Phần II, Các Quy luật Huyền thuật dành cho Cõi Cảm dục, Bình luận Video, Chương trình Thứ mười hai, 8.6 tiếp tục Quy luật VIII, TRIỀU THĂNG TRẦM GIÁNG TUẦN HOÀN, 1:03 giờ: trang 250-253. |
|
The place where land, water and air meet is the head centre. When the personality is lifted and the soul descends, the lives meet and merge and the magical work may commence. This is the plane of mind and fire. The magician must register impressions correctly and accurately in order to create the thoughtforms that will be received by the brain and can bring these “vital airs” in the brain cavity into photographic forms of the plan and purpose “seen clearly” and interpreted accurately. The soul will provide the image, and this will be reflected on the mind and be transferred by the ethers for dense physical plane expression. Air represents the Christ principle. This higher principle must control and dominate. Consciousness continues to grow and the veils are lifted with ever-wider and deeper penetration of the higher planes. |
Nơi đất, nước và không khí gặp nhau chính là luân xa đầu. Khi phàm ngã được nâng lên và linh hồn hạ xuống, các sự sống gặp gỡ và hợp nhất, và công việc huyền thuật có thể bắt đầu. Đây là cõi của trí tuệ và của lửa. Nhà huyền thuật phải ghi nhận các ấn tượng một cách đúng đắn và chính xác để tạo ra những hình tư tưởng sẽ được bộ não tiếp nhận và có thể đưa những “luồng khí sinh động” này trong khoang não thành những hình ảnh chụp lại Thiên Cơ và Thiên Ý được “nhìn thấy rõ ràng” và diễn giải chính xác. Linh hồn sẽ cung cấp hình ảnh, và điều này sẽ được phản chiếu trên thể trí và được chuyển tải qua các dĩ thái để biểu lộ trên cõi hồng trần đậm đặc. Không khí tượng trưng cho nguyên khí Christ. Nguyên khí cao siêu hơn này phải kiểm soát và thống trị. Tâm thức tiếp tục phát triển và các tấm màn được vén lên với sự thâm nhập ngày càng rộng lớn và sâu sắc hơn vào các cõi cao hơn. |
|
There are three stages in the form-making process. First, from the jewel in the lotus, outside of the element of time and space, the soul consciousness stands and visions the completed work. Second, in the egoic lotus the impression then sweeps the mind into thoughtform making activity. The quality of the chitta or mind stuff if illumined, can produce the proper interpretation and response, congruent with its prototype. If not, the result will be imbalanced and incorrect, full of distortion. |
Có ba giai đoạn trong tiến trình tạo hình. Thứ nhất, từ viên ngọc trong hoa sen, bên ngoài yếu tố thời gian và không gian, tâm thức linh hồn đứng và hình dung công việc đã hoàn thành. Thứ hai, trong hoa sen chân ngã, ấn tượng sau đó cuốn thể trí vào hoạt động tạo hình tư tưởng. Phẩm tính của chitta hay chất liệu thể trí nếu được soi sáng, có thể tạo ra sự diễn giải và đáp ứng phù hợp, tương ứng với nguyên mẫu của nó. Nếu không, kết quả sẽ mất cân đối và không chính xác, đầy rẫy méo mó. |
|
Meditation is the foundation of correct impression and of accurate response to egoic intent. The aspirant builds the vision of the perfected man and the lower nature is subordinated so that over time, the disciple appears as the ideal man, the true server on the physical plane, coordinating all towards this ideal image, making this image a reality by forcing conformity to the ideal. The third stage in the form-making process, the thoughtform created in the brain becomes a focussing point for the soul expression. Through the right eye the “vital energy of the spirit can express itself.” (The eyes open.) The throat centre expresses the soul or second aspect. (The voice proclaiming.) Then the hands through which the third aspect can work serve in helpfulness to deliver the creative energy. (The hands conferring.) The unique triangle of distribution is complete. |
Tham thiền là nền tảng của sự ghi nhận đúng đắn và của đáp ứng chính xác đối với ý định của chân ngã. Người chí nguyện xây dựng linh ảnh của con người được hoàn thiện và bản chất thấp kém bị lệ thuộc để theo thời gian, đệ tử xuất hiện như con người lý tưởng, người phụng sự chân chính trên cõi hồng trần, phối hợp tất cả hướng tới hình ảnh lý tưởng này, biến hình ảnh này thành hiện thực bằng cách buộc phải tuân theo lý tưởng. Giai đoạn thứ ba trong tiến trình tạo hình, hình tư tưởng được tạo ra trong bộ não trở thành điểm tập trung cho sự biểu lộ của linh hồn. Qua con mắt phải, “năng lượng sinh động của tinh thần có thể tự biểu lộ.” (Đôi mắt mở ra.) Luân xa cổ họng biểu lộ linh hồn hay phương diện thứ hai. (Giọng nói tuyên bố.) Sau đó, đôi bàn tay mà qua đó phương diện thứ ba có thể làm việc phục vụ trong sự trợ giúp để truyền tải năng lượng sáng tạo. (Đôi bàn tay ban tặng.) Tam giác phân phối độc đáo đã hoàn tất. |
|
These instructions were given or intended for aspirants in the Tibetan’s group and originally sent out as lesson units. This program concludes on page 253 of A Treatise on White Magic. |
Những hướng dẫn này được Chân sư Tây Tạng đưa ra hoặc dành cho những người chí nguyện trong nhóm của Ngài và ban đầu được gửi đi dưới dạng các bài học. Chương trình này kết thúc ở trang 253 của Luận về Chánh Thuật. |
Text
|
The dangers incident to a premature and uncontrolled pouring in of pure spiritual energy to the mechanism of the personality. That vital spiritual force enters through the cranial aperture, and pours into the head centres. From them will follow the line of least resistance which is determined by the daily trend of the aspirant’s thought life. |
Những nguy hiểm gắn liền với sự tuôn đổ quá sớm và không được kiểm soát của năng lượng tinh thần thuần khiết vào bộ máy của phàm ngã. Quyền năng tinh thần sinh động ấy đi vào qua lỗ mở ở sọ và tuôn đổ vào các trung tâm trong đầu. Từ đó, nó sẽ đi theo con đường ít trở ngại nhất, vốn được quyết định bởi xu hướng đời sống tư tưởng hằng ngày của người chí nguyện. |
|
Another and rather potent danger is the result, literally, of the bringing together of the land and water. It demonstrates as the pouring into the brain consciousness (the land aspect) of the knowledges of the astral plane. One of the first things an aspirant becomes aware of is a tendency to the lower psychism. It is a reaction from the solar plexus centre. But this midway point can be utilised as a “jumping off place” into the world of astral phenomena. This will produce “death by drowning”, [250] for the aspirant’s spiritual life can be swamped and entirely submerged in the interests of the lower psychical experiences. It is here that many worthy aspirants go astray—temporarily it may be, but the times are so critical that it is a matter to be deplored if any time is lost in futile experimentation and the retracing of any path chosen. |
Một mối nguy hiểm khác, và khá mạnh mẽ, thực sự là kết quả của việc kết hợp đất và nước. Nó biểu hiện như sự tuôn đổ vào tâm thức bộ não (phương diện đất) những tri thức của cõi cảm dục. Một trong những điều đầu tiên mà một người chí nguyện trở nên nhận biết là một khuynh hướng hướng về thông linh thấp. Đó là một phản ứng xuất phát từ luân xa tùng thái dương. Nhưng nơi ở giữa này có thể được sử dụng như một “điểm phóng ra” vào thế giới của các hiện tượng cảm dục. Điều này sẽ tạo ra “cái chết vì chết đuối”, vì đời sống tinh thần của người chí nguyện có thể bị nhấn chìm và hoàn toàn bị bao phủ trong những mối quan tâm về các kinh nghiệm thông linh thấp. Chính tại đây mà nhiều người chí nguyện xứng đáng đi lạc hướng—có thể chỉ là tạm thời, nhưng thời điểm hiện nay quá ư hệ trọng đến mức bất kỳ sự mất thời gian nào vào những thử nghiệm vô ích và việc phải quay lại con đường đã chọn đều là điều đáng tiếc. TWM 249–250 |
|
A clue to the significance of these words is to be found in the recognition of the following occult fact. The place where water and land meet is the solar plexus centre. The place where water, land and air meet is in the head. Land is the symbol of the physical plane life, and of the exoteric form. Water is the symbol of the emotional nature. It is from the great centre of the personality life, the solar plexus, that the life is usually ruled and government administered. When the centre of direction lies below the diaphragm there is no magic possible. The animal soul controls and the spiritual soul is perforce quiescent. Air is the symbol of the higher life in which the Christ principle dominates, in which freedom is experienced and the soul comes to full expression. It is the symbol of the buddhic plane, as water is of the emotional. When the life of the personality is carried up into Heaven, and the life of the soul comes down on to earth, there is the place of meeting, and there the work of transcendental magic becomes possible. |
Một manh mối về thâm nghĩa của những lời này có thể được tìm thấy khi nhận ra sự kiện huyền linh sau đây. Nơi mà nước và đất gặp nhau là luân xa tùng thái dương. Nơi mà nước, đất và khí gặp nhau là ở trong đầu. Đất là biểu tượng của đời sống cõi hồng trần và của hình tướng phổ truyền. Nước là biểu tượng của bản chất cảm dục. Chính từ đại trung tâm của đời sống phàm ngã, tức tùng thái dương, mà đời sống thường được cai quản và điều hành. Khi trung tâm điều khiển nằm bên dưới cơ hoành thì không thể có huyền thuật. Linh hồn thú vật cai quản và linh hồn tinh thần buộc phải yên lặng. Khí là biểu tượng của đời sống cao hơn, trong đó nguyên lý Christ chi phối, trong đó tự do được kinh nghiệm và linh hồn bộc lộ trọn vẹn. Nó là biểu tượng của cõi Bồ đề, giống như nước là biểu tượng của cảm dục. Khi đời sống của phàm ngã được nâng lên Thiên Đàng, và đời sống của linh hồn đi xuống trần gian, đó là nơi gặp gỡ, và tại đó công việc của huyền thuật siêu việt trở nên khả hữu. |
|
This meeting place is the place of fire, the plane of mind. Fire is the symbol of the intellect and all magical work is an intelligent process, carried out in the strength of the soul, and by the use of the mind. To make itself felt on the physical plane, a brain is required which is receptive to higher impulses and which can be impressed by the soul utilizing the “chitta” or mental substance in order to create the needed thought forms, and so express the ideas and purposes of the intelligent loving soul. These are recognized by the brain and are photographed upon the “vital airs” found in the brain cavity. When these vital airs can be sensed by the magician in meditation, and the thought-forms imprinted on this miniature reflection of the astral light, then the real potency in magic can begin to make itself felt. The brain has “heard” occultly the injunctions and instructions of the mind as it relays the behests of the soul. The vital airs are swept into form-making activity just as their higher correspondence, the “modifications of the thinking principle, the mind stuff” (as Patanjali calls it), are thrown into an analogous form-making activity. These can then be seen interiorly by the man who is seeking to perform the magical work and much of his success is dependent upon his ability to register impressions exactly, and to see with clarity the forms of the process in magic which he is seeking to demonstrate as magical work in the outer world. TWM 250-251 |
Nơi gặp gỡ này là nơi của lửa, tức cõi trí. Lửa là biểu tượng của trí tuệ, và mọi công việc huyền thuật đều là một tiến trình trí tuệ, được thực hiện bằng sức mạnh của linh hồn và bằng sự sử dụng thể trí. Để khiến cho nó được cảm nhận trên cõi hồng trần, cần có một bộ não có khả năng tiếp nhận các xung lực cao hơn và có thể được ấn tượng bởi linh hồn thông qua việc sử dụng “chitta” hay chất liệu trí tuệ nhằm tạo ra các hình tư tưởng cần thiết, và nhờ đó diễn đạt các ý tưởng và mục đích của linh hồn thông tuệ đầy bác ái. Những điều này được bộ não nhận biết và được “chụp lại” trên “các luồng khí sinh động” được tìm thấy trong khoang não. Khi nhà huyền thuật có thể cảm nhận được các luồng khí sinh động này trong lúc tham thiền, và khi các hình tư tưởng được in dấu trên phản ảnh thu nhỏ của ánh sáng cảm dục này, thì khi ấy quyền năng thực sự trong huyền thuật mới có thể bắt đầu tự biểu lộ. Bộ não đã “nghe” một cách huyền linh những chỉ dẫn và huấn lệnh của thể trí khi thể trí truyền đạt các lệnh truyền của linh hồn. Các luồng khí sinh động bị cuốn vào hoạt động tạo hình, giống như tương ứng cao hơn của chúng—“các biến động của nguyên tắc tư duy, chất liệu thể trí” (như Patanjali gọi)—được cuốn vào một hoạt động tạo hình tương tự. Những điều này sau đó có thể được người đang tìm cách thực hiện công việc huyền thuật thấy được từ bên trong, và phần lớn thành công của y tùy thuộc vào khả năng ghi nhận chính xác các ấn tượng, và thấy rõ ràng các hình thức của tiến trình trong huyền thuật mà y đang tìm cách biểu lộ như công việc huyền thuật trên thế gian bên ngoài. TWM 250–251 |
|
It might therefore be said that there are three stages in the form-making process. First, the soul or spiritual man, centered in the soul consciousness and functioning in “the secret place of the Most High”, visualizes the work to be done. This is not a sequential act, but the finished completed work of magic is visioned by a process that does not involve the time element or spatial concepts at all. Secondly, the mind responds to the soul (calling attention to the work to be performed), and is swept into thought-form making activity by this impression. According to the lucidity and illumination of the mind-stuff so will be the response to the impression. If the mind is a true reflector and receiver of soul impress, the corresponding thought-form will be true to its prototype. If it is not true (as is usually the case in the early stages of the work) then the thought-form created will be distorted and incorrect, unbalanced and “out of drawing”. TWM 251 |
Vì vậy, có thể nói rằng có ba giai đoạn trong tiến trình tạo hình. Trước hết, linh hồn hay con người tinh thần, tập trung trong tâm thức linh hồn và hoạt động trong “chốn bí mật của Đấng Tối Cao”, hình dung công việc cần được thực hiện. Đây không phải là một hành động tuần tự, mà công việc huyền thuật hoàn tất trọn vẹn được nhìn thấy bằng một tiến trình không hề liên quan đến yếu tố thời gian hay các khái niệm về không gian. Thứ hai, thể trí đáp ứng với linh hồn (gọi sự chú ý đến công việc phải được thực hiện), và bị cuốn vào hoạt động tạo hình tư tưởng bởi ấn tượng này. Sự đáp ứng với ấn tượng sẽ tương ứng tuỳ theo sự sáng tỏ và soi sáng của chất liệu trí tuệ. Nếu thể trí là một bộ phản chiếu và tiếp nhận đúng ấn tượng của linh hồn, thì hình tư tưởng tương ứng sẽ đúng với nguyên mẫu của nó. Nếu không đúng (như thường xảy ra trong các giai đoạn đầu của công việc) thì hình tư tưởng được tạo ra sẽ bị méo mó và không chính xác, mất cân bằng và “lệch khỏi thiết kế”. TWM 251 |
|
It is in meditation that this work of accurate reception and correct building is learnt and hence the emphasis laid in all true schools of esoteric training upon a focussed mind, a capacity to visualize, an ability to build thought-forms, and an accurate grasp of egoic intent. Hence also the need of the magician beginning the practical work of magic with himself as the subject of the magical experiment. He begins to grasp the vision of the spiritual man, as he is in essence. He realizes the virtues and reactions which that spiritual man would evidence in physical plane life. He builds a thought-form of himself as the ideal man, the true server, the perfect master. He gradually coordinates his forces so that power to be these things in external reality begins to take shape so that all men can see. He creates a pattern in his mind which hews as true as he can make it to the prototype, and which serves to model the lower man and force conformity to the ideal. As he perfects his technique he finds a transmuting, transforming power at work upon the energies which constitute his lower nature, until all is subordinated and he becomes in practical manifestation what he is esoterically and essentially. As this takes place, he begins to be interested in the magical work in which it is the function of all true souls to participate. TWM 251-252 |
Chính trong tham thiền mà công việc tiếp nhận chính xác và kiến tạo đúng đắn này được học hỏi, và do đó trong mọi trường phái huấn luyện huyền môn chân chính đều nhấn mạnh vào một thể trí được tập trung, vào năng lực hình dung, vào khả năng kiến tạo các hình tư tưởng, và vào sự nắm bắt chính xác ý định của chân ngã. Vì vậy cũng có nhu cầu đối với nhà huyền thuật—khi bắt đầu công việc huyền thuật thực hành—phải bắt đầu với chính mình như là đối tượng của thí nghiệm huyền thuật. Y bắt đầu nắm bắt linh ảnh về con người tinh thần, như là bản chất thật sự của y. Y nhận ra những đức tính và phản ứng mà con người tinh thần ấy sẽ thể hiện trong đời sống cõi hồng trần. Y kiến tạo một hình tư tưởng về chính mình như con người lý tưởng, người phụng sự chân chính, bậc huấn sư hoàn hảo. Y dần dần phối hợp các năng lực của mình sao cho quyền năng để trở thành những điều này trong hiện thực bên ngoài bắt đầu hình thành để tất cả mọi người đều có thể thấy. Y tạo ra một mô hình trong thể trí, được đẽo gọt đúng nhất có thể theo nguyên mẫu, và mô hình này phục vụ để khuôn định phàm nhân thấp và buộc nó phải tương hợp với lý tưởng. Khi kỹ thuật của y được hoàn thiện, y nhận thấy một quyền năng chuyển hoá và biến đổi đang hoạt động trên các năng lượng cấu thành bản chất thấp của y, cho đến khi mọi thứ đều được đặt dưới sự phục tùng, và y trở thành—trong sự biểu lộ thực tế—những gì y là về mặt huyền bí và trong bản chất. Khi điều này xảy ra, y bắt đầu quan tâm đến công việc huyền thuật mà trong đó chức năng của mọi linh hồn chân chính là tham gia vào. TWM 251–252 |
|
Then the third aspect of the form-making process can manifest. The brain is synchronized with the mind, and the mind with the soul, and the plan is sensed. The vital airs in the head can be modified and respond to the force of the building magical work. A thought-form exists then as the result of the previous two activities, but it exists in the place of the brain activity and becomes a focussing centre for the soul, and a point through which energy can flow for the performance of the magical work. TWM 252 |
Khi đó phương diện thứ ba của quá trình tạo hình tướng có thể biểu hiện. Bộ não được đồng bộ hóa với thể trí, và thể trí với linh hồn, và Thiên Cơ được cảm nhận. Các luồng sinh lực trong đầu có thể được điều chỉnh và đáp ứng với mãnh lực của công việc xây dựng huyền thuật. Một hình tư tưởng khi đó tồn tại như kết quả của hai hoạt động trước đó, nhưng nó tồn tại ở nơi hoạt động của bộ não và trở thành một trung tâm tập trung cho linh hồn, và một điểm mà qua đó năng lượng có thể tuôn chảy để thực hiện công việc huyền thuật. TWM 252 |
|
This magical work, carried out under the direction of the soul (inspiring the mind which in its turn impresses the brain), leads then (as the result of this triple coordinated activity) to the creation of a focussing centre, or form, within the head of the magician. The energy which flows through this focal point acts through three distributing agents, and hence all three are involved in all magical work. |
Công việc huyền thuật này, được thực hiện dưới sự chỉ đạo của linh hồn (đang truyền cảm hứng cho thể trí, và thể trí lại in ấn lên bộ não), dẫn đến (như là kết quả của hoạt động phối hợp tam phân này) sự tạo thành một trung tâm tập trung, hay một hình tướng, bên trong đầu của nhà huyền thuật. Năng lượng tuôn chảy qua điểm tập trung này hoạt động thông qua ba cơ quan phân phối, và bởi thế cả ba đều được huy động trong mọi công việc huyền thuật. |
|
1. The right eye, through which the vital energy of the spirit can express itself. |
1. Con mắt phải, qua đó sinh lực của tinh thần có thể biểu lộ. |
|
2. The throat centre, through which the Word, the second aspect or the soul expresses itself. |
2. Luân xa cổ họng, qua đó Linh từ, phương diện thứ hai hay linh hồn, biểu hiện. |
|
3. The hands, through which the creative energy of the third aspect works. |
3. Đôi bàn tay, qua đó năng lượng sáng tạo của phương diện thứ ba vận hành. |
|
“The White Magician” works “with the eyes open, the voice proclaiming and the hands conferring.” |
“Nhà Huyền Thuật chánh đạo” làm việc “với đôi mắt mở, với giọng nói tuyên xướng và với đôi tay ban phát.” |
|
These points are of technical interest to the experienced worker in magic, but of symbolic interest only to the aspirants for whom these letters are intended. |
Những điểm này có ý nghĩa mang tính kỹ thuật đối với người đã kinh nghiệm trong huyền thuật, nhưng chỉ mang ý nghĩa biểu tượng đối với những người chí nguyện mà các thư này được gửi đến. |
|
That the inner vision may be ours, the eye see clearly the glory of the Lord, and the voice speak only in benediction, and the hands be used only in helpfulness, may well be the prayer of each of us. TWM 252-253 |
Mong rằng nội nhãn có thể là của chúng ta, mong con mắt nhìn thấy rõ vinh quang của Thượng đế, mong giọng nói chỉ cất lên lời ban phước, và mong đôi tay chỉ được dùng để trợ giúp — đó có thể là lời nguyện cầu của mỗi người chúng ta. |
Transcript
|
Hi everybody, well, it’s past midnight here, but we have to take our moments when they present themselves. |
Chào mừng tất cả các bạn, vâng, đã quá nửa đêm ở đây, nhưng chúng ta phải nắm bắt những khoảnh khắc khi chúng xuất hiện. |
|
We are working on the second part of series in the A Treatise on White Magic. One series already exists, about 50 programs you can find on https://makara.us; that’s the introduction of the rules for the mental plane. |
Chúng ta đang thực hiện phần thứ hai của loạt bài trong Luận về Chánh Thuật, một loạt bài đã tồn tại, khoảng 50 chương trình mà các bạn có thể tìm thấy trên https://makara.us; đó là phần giới thiệu về các quy luật cho cõi trí. |
|
Now we are doing the rules for magic for the astral plane. This is our twelfth video commentary, and we are on page 250 or so. We’re dealing with rule eight and this is the sixth program in that series on the eighth rule, a very important one, Master DK tells us. |
Bây giờ chúng ta đang thực hiện các quy luật về huyền thuật cho cõi cảm dục. Đây là bình luận video thứ mười hai của chúng ta, và chúng ta đang ở trang 250 hoặc gần như vậy. Chúng ta đang đề cập đến quy luật tám và đây là chương trình thứ sáu trong loạt bài đó về quy luật thứ tám, một quy luật rất quan trọng, Chân sư DK nói với chúng ta. |
|
Khi đó phương diện thứ ba của quá trình tạo hình tướng có thể biểu hiện. Bộ não được đồng bộ hóa với thể trí, và thể trí với linh hồn, và Thiên Cơ được cảm nhận. Các luồng sinh lực trong đầu có thể được điều chỉnh và đáp ứng với mãnh lực của công việc xây dựng huyền thuật. Một hình tư tưởng khi đó tồn tại như kết quả của hai hoạt động trước đó, nhưng nó tồn tại ở nơi hoạt động của bộ não và trở thành một trung tâm tập trung cho linh hồn, và một điểm mà qua đó năng lượng có thể tuôn chảy để thực hiện công việc huyền thuật. TWM 252 |
|
|
Khi đó phương diện thứ ba của quá trình tạo hình tướng có thể biểu hiện. Bộ não được đồng bộ hóa với thể trí, và thể trí với linh hồn, và Thiên Cơ được cảm nhận. Các luồng sinh lực trong đầu có thể được điều chỉnh và đáp ứng với mãnh lực của công việc xây dựng huyền thuật. Một hình tư tưởng khi đó tồn tại như kết quả của hai hoạt động trước đó, nhưng nó tồn tại ở nơi hoạt động của bộ não và trở thành một trung tâm tập trung cho linh hồn, và một điểm mà qua đó năng lượng có thể tuôn chảy để thực hiện công việc huyền thuật. TWM 252 |
Khi đó phương diện thứ ba của quá trình tạo hình tướng có thể biểu hiện. Bộ não được đồng bộ hóa với thể trí, và thể trí với linh hồn, và Thiên Cơ được cảm nhận. Các luồng sinh lực trong đầu có thể được điều chỉnh và đáp ứng với mãnh lực của công việc xây dựng huyền thuật. Một hình tư tưởng khi đó tồn tại như kết quả của hai hoạt động trước đó, nhưng nó tồn tại ở nơi hoạt động của bộ não và trở thành một trung tâm tập trung cho linh hồn, và một điểm mà qua đó năng lượng có thể tuôn chảy để thực hiện công việc huyền thuật. TWM 252 |
|
We’ve been looking at the dangers of psychism, and how it’s possible to, as it were, jump off into the world of astral phenomena, and it runs the risk of producing death by drowning. Of course, it’s a kind of a spiritual consciousness death, or death of spiritual consciousness. It will be swamped, the spiritual life will be swamped and entirely submerged in the interests of the lower psychical experiences in which so many psychics tend to believe implicitly. |
Chúng ta đã xem xét những nguy hiểm của thông linh, và cách mà người ta có thể phóng mình vào thế giới của các hiện tượng cảm dục, và điều đó mang theo nguy cơ tạo ra cái gọi là cái chết vì chết đuối. Dĩ nhiên, đó là một dạng chết của tâm thức tinh thần, hay sự chết của tâm thức tinh thần. Đời sống tinh thần sẽ bị nhấn chìm — nó sẽ bị ngập úng hoàn toàn bởi những mối quan tâm liên quan đến các kinh nghiệm thông linh thấp, mà rất nhiều nhà thông linh có khuynh hướng tin tưởng một cách tuyệt đối. |
|
So, if they’ve experienced some sort of thought form, or some sort of a living presentation, they assume that it’s true, just because it’s actual. Yes, it happened on that level, but whether or not it’s true, well, that has to be tested in various ways, and so often it is not. So, death by drowning. |
Vì vậy, nếu họ đã trải qua một số loại hình tư tưởng, hoặc một số loại trình bày sống động, họ cho rằng điều đó là đúng, chỉ vì nó có thật. Vâng, nó đã xảy ra ở cấp độ đó, nhưng liệu nó có đúng hay không, điều đó phải được kiểm tra theo nhiều cách khác nhau, và rất thường thì không phải vậy. Vì vậy, cái chết do chết đuối. |
|
A clue to the significance of these words is to be found in the recognition of the following occult fact. The place where water and land meet is the solar plexus centre. The place where water, land and air meet is in the head. Land is the symbol of the physical plane life, and of the exoteric form. Water is the symbol of the emotional nature. It is from the great centre of the personality life, the solar plexus, that the life is usually ruled and government administered. When the centre of direction lies below the diaphragm there is no magic possible. The animal soul controls and the spiritual soul is perforce quiescent. Air is the symbol of the higher life in which the Christ principle dominates, in which freedom is experienced and the soul comes to full expression. It is the symbol of the buddhic plane, as water is of the emotional. When the life of the personality is carried up into Heaven, and the life of the soul comes down on to earth, there is the place of meeting, and there the work of transcendental magic becomes possible. |
Một manh mối về thâm nghĩa của những lời này có thể được tìm thấy khi nhận ra sự kiện huyền linh sau đây. Nơi mà nước và đất gặp nhau là luân xa tùng thái dương. Nơi mà nước, đất và khí gặp nhau là ở trong đầu. Đất là biểu tượng của đời sống cõi hồng trần và của hình tướng phổ truyền. Nước là biểu tượng của bản chất cảm dục. Chính từ đại trung tâm của đời sống phàm ngã, tức tùng thái dương, mà đời sống thường được cai quản và điều hành. Khi trung tâm điều khiển nằm bên dưới cơ hoành thì không thể có huyền thuật. Linh hồn thú vật cai quản và linh hồn tinh thần buộc phải yên lặng. Khí là biểu tượng của đời sống cao hơn, trong đó nguyên lý Christ chi phối, trong đó tự do được kinh nghiệm và linh hồn bộc lộ trọn vẹn. Nó là biểu tượng của cõi Bồ đề, giống như nước là biểu tượng của cảm dục. Khi đời sống của phàm ngã được nâng lên Thiên Đàng, và đời sống của linh hồn đi xuống trần gian, đó là nơi gặp gỡ, và tại đó công việc của huyền thuật siêu việt trở nên khả hữu. |
|
The place where water and land meet is the solar plexus centre. The place where water, land and air meet is in the head. |
Nơi nước và đất gặp nhau là trung tâm tùng thái dương. Nơi nước, đất và không khí gặp nhau là ở trên đầu. |
|
And this, I think, I’ve been emphasizing as we go along. Air is the symbol not only of the Buddhic plane, but on a lower turn of the spiral is the symbol of the systemic etheric body. Land is the symbol, he says, of the physical plane life and of the exoteric form. Notice how much of these rules may be put in symbolic terms, perhaps to guard them, let us say, and also perhaps to reveal certain things that can be revealed to those who are ready for them and concealed from those who are not. |
Tôi nghĩ tôi đã nhấn mạnh điều này khi chúng ta tiếp tục. Không khí không chỉ là biểu tượng của cõi Bồ đề, mà ở một vòng xoắn ốc thấp hơn là biểu tượng của thể dĩ thái toàn thân. Ngài nói, đất là biểu tượng của đời sống trên cõi trần và của hình tướng ngoại môn. Hãy chú ý xem có bao nhiêu quy luật này có thể được đặt trong các thuật ngữ tượng trưng, có lẽ để bảo vệ chúng, và có lẽ cũng để tiết lộ những điều nhất định có thể được tiết lộ cho những người đã sẵn sàng và che giấu khỏi những người chưa sẵn sàng. |
|
Land is the symbol of the physical plane life, and of the exoteric form. Water is the symbol of the emotional nature. It is from the great centre of the personality life, the solar plexus, that the life is usually ruled and government administered. |
Đất là biểu tượng của sự sống trên cõi trần, và của hình tướng ngoại môn. Nước là biểu tượng của bản chất cảm dục. Chính từ đại trung tâm của đời sống phàm ngã, tức tùng thái dương, mà đời sống thường được cai quản và điều hành. |
|
At least, let us say, that is the case for so many human beings, maybe 80 percent at this time. I offer a speculation, only a speculation, that that may be the case. I mean, so many of us are directed in what we do by promptings which come from the lower nature, the lower aspect of the personality, below the diaphragm, solar plexus is one of those centers below the diaphragm. |
Ít nhất đó là trường hợp của rất nhiều người, có thể là 80% vào thời điểm này. Tôi đưa ra một suy đoán, chỉ là một suy đoán, rằng đó có thể là trường hợp. Ý tôi là, rất nhiều người trong chúng ta được hướng dẫn trong những gì chúng ta làm bởi những thúc đẩy đến từ bản chất thấp hơn, khía cạnh thấp hơn của phàm ngã, bên dưới cơ hoành, tùng thái dương là một trong những trung tâm đó bên dưới cơ hoành. |
|
When the centre of direction lies below the diaphragm there is no magic possible. The animal soul controls and the spiritual soul is perforce quiescent |
Khi trung tâm chỉ đạo nằm dưới cơ hoành thì không có huyền thuật nào có thể xảy ra. Linh hồn động vật kiểm soát linh hồn tinh thần buộc phải im lặng |
|
Let us just say, for sure, no white magic is possible. Maybe certain psychic effects are possible, but these should not be called “magic”. |
Chúng ta hãy chỉ nói rằng, chắc chắn không có chánh thuật nào là khả hữu. Có thể một số hiệu ứng thông linh nào đó là khả dĩ, nhưng chúng không nên được gọi là “huyền thuật”. |
|
The animal soul controls, that is the kind of consciousness which is found within the lower vehicles, because below the diaphragm, ruled by Mars, man is very much the animal. |
Linh hồn thú vật cai quản — đó là loại tâm thức tồn tại trong các vận cụ thấp, vì bên dưới cơ hoành, dưới sự cai quản của Sao Hỏa, con người rất nhiều phần vẫn là thú vật. |
|
Interestingly, even until his third initiation and passing that, he is considered to be the animal. Mars is still very powerful. Mars rules the entire animal nature, and it is the contest between the ruler of the animal kingdom in general, which is ruled by Mars, and then the ruler of the human kingdom, maybe which is more Mercury, Venus, that is controlling so much of the conflict in humanity’s life. Anyway, |
Điều thú vị là, ngay cả cho đến lần điểm đạo thứ ba và vượt qua ngưỡng đó, con người vẫn được xem là thú vật. Sao Hỏa vẫn còn rất mạnh mẽ. Sao Hỏa cai quản toàn bộ bản chất thú vật, và chính cuộc tranh đấu giữa kẻ cai quản giới thú vật nói chung (được cai quản bởi Sao Hỏa) và kẻ cai quản giới nhân loại — có lẽ là Sao Thủy hoặc Sao Kim — đang chi phối hầu hết các xung đột trong đời sống nhân loại. Dù sao thì, |
|
the spiritual soul is perforce quiescent. |
linh hồn tinh thần buộc phải yên lặng. |
|
The spiritual soul, which is the consciousness which exists within the causal body and beyond, including into the spiritual triad, is perforce quiescent. Why perforce? Because it is subdued by the animal soul, just the way glamour prevents the realization of truth, the psychic phenomena rule out the true apprehension of the intuition, and here the animal soul subdues the higher type of human soul. |
Linh hồn tinh thần — tức tâm thức tồn tại trong thể nguyên nhân và vượt lên trên, bao gồm cả vào trong Tam nguyên tinh thần — buộc phải yên lặng. Vì sao “buộc phải”? Vì nó bị linh hồn thú vật chế ngự, giống như cách mà ảo cảm ngăn cản sự chứng nghiệm chân lý; các hiện tượng thông linh ngăn chặn sự lĩnh hội đúng đắn trực giác; và ở đây linh hồn thú vật khuất phục loại linh hồn con người cao hơn. |
|
For people of our type maybe that happens now and then in some kind of lapse or other, but in general it’s not so. The human soul is at least operative and hopefully the spiritual soul is coming into greater and greater power. |
Đối với những người thuộc loại của chúng ta, có thể điều đó xảy ra đôi khi trong một vài lúc sa sút nào đó, nhưng nhìn chung thì không phải vậy. Linh hồn con người tối thiểu vẫn còn đang hoạt động, và hy vọng rằng linh hồn tinh thần đang ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. |
|
Air is the symbol of the higher life in which the Christ principle dominates, |
Không khí là biểu tượng của sự sống cao hơn trong đó nguyên lý Christ thống trị, |
|
Let’s call this the buddhic plane, |
Chúng ta hãy gọi đây là cõi Bồ đề, |
|
…in which freedom is experienced … |
…trong đó sự tự do được trải nghiệm… |
|
Freedom from what? Even the causal body? |
Tự do khỏi cái gì? Ngay cả tự do khỏi thể nguyên nhân? |
|
…and the soul comes to full expression. |
…và linh hồn đi đến sự thể hiện đầy đủ. |
|
Let’s just say even freedom from the causal body, and the real soul or ego is the spiritual triad, and when it is unsheathed and removed from the egoic lotus, then it experiences really full expression around the time of the fourth initiation. But of course, consciousness continues to grow, and the monad has consciousness, the monad has awareness, and on and on the veils are lifted, and we experience ever wider and deeper sensitivity, consciousness, etc. |
Chúng ta hãy chỉ nói rằng, ngay cả sự giải thoát khỏi thể nguyên nhân. Linh hồn thật sự hay chân ngã chính là Tam nguyên tinh thần, và khi nó được rút khỏi và gỡ bỏ khỏi Hoa Sen Chân Ngã, thì nó mới thật sự kinh nghiệm được sự biểu lộ trọn vẹn — điều này xảy ra vào khoảng lần điểm đạo thứ tư. Nhưng dĩ nhiên, tâm thức vẫn tiếp tục tăng trưởng, và Chân Thần có tâm thức, Chân Thần có nhận thức, và rồi từng tấm màn tiếp tục được vén lên, và chúng ta kinh nghiệm sự nhạy cảm, tâm thức… ngày càng rộng lớn và sâu sắc hơn. |
|
0:09:20 So anyway here, air, |
0:09:20 Dù sao thì ở đây, không khí, |
|
It is the symbol of the buddhic plane, as water is of the emotional. |
Nó là biểu tượng của cõi Bồ đề, như nước là của cõi cảm xúc. |
|
I think sometimes when intuitions are received but not understood, they can whip the emotional body into quite a state of turbulence, white caps and all. |
Tôi nghĩ đôi khi, khi trực giác được tiếp nhận nhưng không được hiểu, chúng có thể cuốn thể cảm dục vào một trạng thái khá hỗn loạn, những ngọn sóng bạc và tất cả mọi thứ. |
|
When the life of the personality is carried up into Heaven, and the life of the soul comes down on to earth, there is the place of meeting, and there the work of transcendental magic becomes possible. |
Khi cuộc sống của phàm ngã được đưa lên Thiên đường, và cuộc sống của linh hồn giáng xuống trần giant, thì có nơi gặp gỡ, và ở đó công việc của phép thuật siêu việt trở nên khả thi. |
|
The word transcendental suggests the buddhic plane. Mercury, the ruler or one ruler of the buddhic plane, is called— when it relates to buddhi—transcendental mind. That’s not exactly spiritual mind, not exactly soul mind or higher mind. It is something that really transcends those, although maybe there’s another. There are many states of mind, but even on the cosmic physical plane, there’s still a higher state of mind, a kind of atmic state of mind, a nirvanic state of mind, which can be assumed the Buddha experienced and expressed. |
Từ *transcendental* gợi ý đến cõi Bồ đề. Sao Thủy, kẻ cai quản — hay một trong những kẻ cai quản — của cõi Bồ đề, được gọi là trí tuệ siêu việt khi nó liên hệ đến Bồ đề. Điều đó không hẳn là trí tuệ tinh thần, cũng không hẳn là trí tuệ linh hồn hay thượng trí. Nó là một điều gì thật sự vượt lên trên những cấp đó, mặc dù có lẽ còn có một cấp khác nữa. Có nhiều trạng thái của trí tuệ, nhưng ngay cả trên cõi vũ trụ hồng trần, vẫn còn một trạng thái trí tuệ cao hơn, một loại trạng thái trí tuệ thuộc atma, một trạng thái trí tuệ thuộc Niết Bàn, mà ta có thể cho rằng Đức Phật đã kinh nghiệm và biểu lộ. |
|
This meeting place is the place of fire, the plane of mind. Fire is the symbol of the intellect and all magical work is an intelligent process, carried out in the strength of the soul, and by the use of the mind. To make itself felt on the physical plane, a brain is required which is receptive to higher impulses and which can be impressed by the soul utilizing the “chitta” or mental substance in order to create the needed thought forms, and so express the ideas and purposes of the intelligent loving soul. These are recognized by the brain and are photographed upon the “vital airs” found in the brain cavity. When these vital airs can be sensed by the magician in meditation, and the thought-forms imprinted on this miniature reflection of the astral light, then the real potency in magic can begin to make itself felt. The brain has “heard” occultly the injunctions and instructions of the mind as it relays the behests of the soul. The vital airs are swept into form-making activity just as their higher correspondence, the “modifications of the thinking principle, the mind stuff” (as Patanjali calls it), are thrown into an analogous form-making activity. These can then be seen interiorly by the man who is seeking to perform the magical work and much of his success is dependent upon his ability to register impressions exactly, and to see with clarity the forms of the process in magic which he is seeking to demonstrate as magical work in the outer world. TWM 250-251 |
Nơi gặp gỡ này là nơi của lửa, tức cõi trí. Lửa là biểu tượng của trí tuệ, và mọi công việc huyền thuật đều là một tiến trình trí tuệ, được thực hiện bằng sức mạnh của linh hồn và bằng sự sử dụng thể trí. Để khiến cho nó được cảm nhận trên cõi hồng trần, cần có một bộ não có khả năng tiếp nhận các xung lực cao hơn và có thể được ấn tượng bởi linh hồn thông qua việc sử dụng “chitta” hay chất liệu trí tuệ nhằm tạo ra các hình tư tưởng cần thiết, và nhờ đó diễn đạt các ý tưởng và mục đích của linh hồn thông tuệ đầy bác ái. Những điều này được bộ não nhận biết và được “chụp lại” trên “các luồng khí sinh động” được tìm thấy trong khoang não. Khi nhà huyền thuật có thể cảm nhận được các luồng khí sinh động này trong lúc tham thiền, và khi các hình tư tưởng được in dấu trên phản ảnh thu nhỏ của ánh sáng cảm dục này, thì khi ấy quyền năng thực sự trong huyền thuật mới có thể bắt đầu tự biểu lộ. Bộ não đã “nghe” một cách huyền linh những chỉ dẫn và huấn lệnh của thể trí khi thể trí truyền đạt các lệnh truyền của linh hồn. Các luồng khí sinh động bị cuốn vào hoạt động tạo hình, giống như tương ứng cao hơn của chúng—“các biến động của nguyên tắc tư duy, chất liệu thể trí” (như Patanjali gọi)—được cuốn vào một hoạt động tạo hình tương tự. Những điều này sau đó có thể được người đang tìm cách thực hiện công việc huyền thuật thấy được từ bên trong, và phần lớn thành công của y tùy thuộc vào khả năng ghi nhận chính xác các ấn tượng, và thấy rõ ràng các hình thức của tiến trình trong huyền thuật mà y đang tìm cách biểu lộ như công việc huyền thuật trên thế gian bên ngoài. TWM 250–251 |
|
This meeting place is the place of fire, the plane of mind. |
Nơi gặp gỡ này là nơi của lửa, cõi trí. |
|
The meeting place, what place is that? That is when personality ascends and the life of the soul descends. |
Nơi gặp gỡ, nơi đó là nơi nào? Đó là khi phàm ngã thăng lên và sự sống của linh hồn giáng xuống. |
|
The plane of mind, the plane of fire. Now we have definitely the association of fire and mind. |
Cõi trí, cõi lửa, bây giờ chúng ta chắc chắn có sự liên kết giữa lửa và trí tuệ. |
|
Fire is the symbol of the intellect and all magical work is an intelligent process, |
Lửa là biểu tượng của trí tuệ và tất cả công việc huyền thuật là một quá trình thông minh, |
|
Intellect is needed to make all real magical work possible. People do spout mumbo-jumbo, they get a hold of a mantra, and they start repeating it, and it’s kind of a mindless repetition. It may have some effects, and maybe not good ones. Maybe the mind or intellect doesn’t know anything about it, but that’s not the real magic. So fire is a symbol of the intellect with all of its many properties. |
Trí tuệ là điều cần thiết để làm cho mọi công việc huyền thuật chân chính trở nên khả hữu. Người ta thường tuôn ra những câu thần chú mơ hồ, họ biết được một mantram nào đó rồi bắt đầu lặp đi lặp lại, và đó là một sự lặp lại gần như vô trí. Nó có thể tạo ra một số hiệu quả, và có lẽ không phải những hiệu quả tốt. Có thể thể trí hay trí tuệ chẳng biết gì về điều ấy, nhưng đó không phải là huyền thuật thật sự. Vì vậy, lửa là một biểu tượng của trí tuệ với tất cả những phẩm tính đa dạng của nó. |
|
When I was taking a course in psychological testing, I can’t remember the Frenchman’s name, but was it Piaget? I can’t remember. It was long ago, 40 years ago or more. He identified some 120 plus faculties of the mind. So maybe it’d be worth getting into those at some point. But we do know that it compares, it analyzes, it synthesizes, it reasons. It does a number of things that are fairly straightforward. That is the normal concrete intelligence. |
khi tôi đang tham gia một khóa học về kiểm tra tâm lý, tôi không thể nhớ tên của người Pháp đó, nhưng có phải là Piaget không? Tôi không thể nhớ. Đó là từ rất lâu rồi, 40 năm trước hoặc hơn, Ông đã xác định được hơn 120 năng lực của trí tuệ. Vì vậy, có thể sẽ đáng để đi sâu vào những điều đó vào một thời điểm nào đó, nhưng chúng ta biết rằng nó so sánh, phân tích, tổng hợp, lập luận. Nó thực hiện một số điều khá đơn giản. Đó là trí thông minh cụ thể bình thường. |
|
Fire is the symbol of the intellect, and all magical work is an intelligent process, |
Lửa là biểu tượng của trí tuệ, và tất cả công việc huyền thuật là một quá trình thông minh, |
|
Although Sagittarius, a fire sign, is one of the intuitive signs, and fire is associated with the great fire God Agni, who is operative on the cosmic physical plane, but also stands in a way for the personality of the Solar Logos, and who knows how far that goes. Agni can have to do with the cosmic mental and beyond, and we just don’t know. But right now, we keep it in the area of the human capacities. |
Mặc dù Nhân Mã, một dấu hiệu hành hỏa, là một trong những dấu hiệu trực giác, và lửa được liên kết với vị Thần Lửa vĩ đại Agni, Đấng vận hành trên cõi hồng trần vũ trụ, nhưng Ngài cũng — theo một nghĩa nào đó — đại diện cho phàm ngã của Thái dương Thượng đế, và ai mà biết được điều ấy mở rộng đến đâu. Agni có thể liên quan đến cõi trí tuệ vũ trụ và còn vượt xa hơn nữa, và chúng ta đơn giản là không biết. Nhưng ngay lúc này, chúng ta giữ sự bàn luận trong phạm vi các năng lực của con người. |
|
…it is a symbol of the intellect … |
…nó là biểu tượng của trí tuệ… |
|
And all magical work is an intelligent process, |
Và tất cả công việc huyền thuật là một quá trình thông minh, |
|
…carried out in the strength of the soul, and by the use of the mind. |
…được thực hiện với sức mạnh của linh hồn, và bằng cách sử dụng trí tuệ. |
|
Again, if it’s in the strength of the soul, we are talking about white magic. We’re told that in the coming age there will be strictly mental magicians. They will not have soul contact, really, and they will be working very much for the satisfaction of their own personal desires. And that we who work in the field of white magic, or at least are learning to do so, must be able to counter that tendency, because it could be very dangerous. |
Một lần nữa, nếu đó là sức mạnh của linh hồn, chúng ta đang nói về Chánh thuật. Chúng ta được cho biết rằng trong thời đại sắp tới sẽ có những nhà huyền thuật trí tuệ nghiêm ngặt. Họ sẽ không thực sự có sự tiếp xúc với linh hồn, và họ sẽ làm việc rất nhiều vì sự thỏa mãn những ham muốn cá nhân của họ. Và rằng chúng ta, những người làm việc trong lĩnh vực Chánh thuật, hoặc ít nhất đang học cách làm như vậy, phải có khả năng chống lại xu hướng đó, bởi vì nó có thể rất nguy hiểm. |
|
When you look at the combination of the seventh and fifth ray, already, they’re sort of fooling around with the attempt to possibly violate certain laws of genetics, and to make combinations of animals and humans and things like that. It takes us back to the Atlantean days, I think, when that kind of experimentation went on, maybe under a fifth ray, which was unregulated, and it could be very dangerous. We sometimes see movies about that kind of thing. The God of our planet has ordained certain regulations, and certain mixtures are just not allowed. If you mate the donkey and the horse, you get a mule. It’s infertile. Doesn’t seem too bad. You mate the lion and the tiger, they’re pretty close, you get a liger, or something like that. There are certain crossings which seem to occur in nature, perhaps, or maybe the human being is responsible for them. They don’t seem too nefarious, but it’s really possible for experimenters to create some sort of race of minimum intelligence and maximum brute force, with the object in mind of producing slave labor, all kinds of unpleasant thoughts there, and there’s no belief in the Divine Plan or Divine Purpose to regulate such experimentation. |
Khi bạn nhìn vào sự kết hợp của cung bảy và cung năm, các nhà khoa học đang mày mò với một nỗ lực có thể vi phạm một số quy luật di truyền nhất định, và tạo ra sự kết hợp giữa động vật và con người và những thứ tương tự. Tôi nghĩ rằng điều đó đưa chúng ta trở lại thời kỳ Atlantis, khi kiểu thử nghiệm đó diễn ra, có thể dưới một cung năm không được kiểm soát, và có thể rất nguy hiểm. Đôi khi chúng ta thấy những bộ phim như vậy. Thượng đế của hành tinh chúng ta đã quy định một số quy định nhất định, và một số hỗn hợp nhất định không được phép. Nếu bạn giao phối lừa và ngựa, bạn sẽ có một con la, và nó sẽ vô sinh. Điều đó không quá tệ. Bạn giao phối sư tử và hổ, chúng khá gần nhau, bạn sẽ có một con liger, hay đại loại như vậy. Có một số sự lai tạo nào đó dường như xảy ra trong tự nhiên, hoặc cũng có thể con người là kẻ chịu trách nhiệm cho chúng. Chúng không có vẻ quá độc hại, nhưng thật sự là những nhà thực nghiệm có thể tạo ra một giống dân nào đó có trí tuệ tối thiểu và sức mạnh thú tính tối đa, với mục đích tạo ra lao động nô lệ — đủ mọi ý nghĩ khó chịu theo sau đó — và hoàn toàn không có niềm tin nào vào Thiên Cơ hay Thiên Ý để điều hòa hay kiểm soát những cuộc thử nghiệm như vậy. |
|
So, we have to be on the lookout as the tendency to manipulate matter for personal or selfish ends, gains in its efficiency, and what will stop it? Maybe the presence of the Christ, the presence of the Hierarchy, and the demonstration of what is a real goal of humanity. |
Vì vậy, chúng ta phải cảnh giác khi xu hướng thao túng vật chất cho mục đích cá nhân hoặc mục đích ích kỷ đạt được hiệu quả, và điều gì sẽ ngăn chặn nó? Có thể là sự hiện diện của Đức Christ, sự hiện diện của Thánh đoàn, và sự thể hiện mục tiêu thực sự của nhân loại. |
|
Anyway, carried out in the strength of the soul and by the use of the mind. |
Dù sao, được thực hiện với sức mạnh của linh hồn và bằng cách sử dụng trí tuệ. |
|
To make itself felt on the physical plane, a brain is required which is receptive to higher impulses… |
Để tự cảm nhận được trên cõi trần, cần có một bộ não tiếp thu các xung động cao hơn… |
|
The brain of the white magician, |
Bộ não của nhà Chánh thuật, |
|
…and which can be impressed by the soul utilizing the “chitta” or mental substance in order to create the needed thought forms, and so express the ideas and purposes of the intelligent loving soul. |
…và có thể bị linh hồn gây ấn tượng bằng cách sử dụng “chitta” hay chất liệu trí tuệ để tạo ra các hình tư tưởng cần thiết, và do đó thể hiện ý tưởng và mục đích của linh hồn yêu thương thông minh. |
|
All of this is very much the method of white magic, from soul to mind and to brain and to hands. So, the method will have so many instances of having to somehow prove that there is a Plan and there is a Purpose, and there are higher Intelligences, and they are hierarchicalized, and there is a Hierarchy. “I assert the fact there is a Hierarchy and there’s a Head of a Hierarchy, and there is a Sanat Kumara and a Planetary Logos, all these things”. These assertions will have to be backed up by that which convinces the intelligent. |
Tất cả những điều này chính là phương pháp của chánh thuật: từ linh hồn đến thể trí, rồi đến bộ não và đến đôi tay. Vì vậy, phương pháp ấy sẽ có vô số trường hợp phải bằng cách nào đó chứng minh rằng có một Thiên Cơ và có một Thiên Ý, và có những Trí Tuệ cao cả hơn, và các Ngài được tổ chức theo hệ thống đẳng cấp, và có một Thánh Đoàn. “Tôi khẳng định sự thật rằng có một Thánh Đoàn, và có một Người Đứng đầu Thánh Đoàn, và có một Sanat Kumara và một Hành Tinh Thượng đế, tất cả những điều này”. Những lời khẳng định ấy sẽ phải được hậu thuẫn bởi những gì có thể thuyết phục được những người có trí tuệ. |
|
Anyway, the brain is required to receive the higher impulses, and do we have the mind held steady in the light? If we do, then our actions are along the line of white magic. When we start to use the particular mantrams, controlling particular types of lives, then we’re into the technical part of white magic. |
Dù sao, bộ não được yêu cầu để tiếp nhận các xung động cao hơn, và chúng ta có giữ thể trí ổn định trong ánh sáng không? Nếu chúng ta làm vậy, thì hành động của chúng ta là theo đường lối của Chánh thuật. Khi chúng ta bắt đầu sử dụng các câu thần chú cụ thể, kiểm soát các loại sự sống cụ thể, thì chúng ta đang đi vào phần kỹ thuật của Chánh thuật. |
|
These are recognized by the brain … |
Những điều này được bộ não nhận ra… |
|
These thought forms, these ideas, purposes, |
Những hình tư tưởng này, những ý tưởng, mục đích này, |
|
…and are photographed upon the “vital airs” found in the brain cavity. |
…và được chụp ảnh trên “những luồng sinh khí” được tìm thấy trong khoang não. |
|
This is an important hint about inner anatomy, physiology. So, the photograph of the design of the Plan, or even more Purpose. |
Đây là một gợi ý quan trọng về giải phẫu, sinh lý học bên trong. Vì vậy, bức ảnh về thiết kế của Thiên Cơ, hay thậm chí là Thiên Ý. |
|
When these vital airs can be sensed by the magician in meditation, and the thought-forms imprinted on this miniature reflection of the astral light, … |
Khi những luồng sinh khí này có thể được nhà huyền thuật cảm nhận trong thiền định, và các hình tư tưởng được in dấu trên hình ảnh thu nhỏ này của ánh sáng cảm dục, … |
|
Probably from the astral body, |
Có lẽ là từ thể cảm xúc, |
|
…then the real potency in magic can begin to make itself felt. |
…thì năng lực thực sự trong huyền thuật có thể bắt đầu tự cảm nhận được. |
|
I saw a demonstration by a Japanese boy who impressed film with his thought, and interesting, the film held the image which came from what he thought. So if he can do that, then certainly the vital layers can be impressed. |
Tôi đã thấy một màn trình diễn của một cậu bé người Nhật, cậu ấy in dấu phim bằng tư tưởng của mình, và điều thú vị là cuộn phim giữ lại hình ảnh xuất phát từ điều cậu nghĩ. Vì vậy, nếu cậu ấy có thể làm được điều đó, thì chắc chắn các lớp sinh khí cũng có thể được ấn tượng. |
|
0:21:30 |
0:21:30 |
|
The brain has “heard” occultly the injunctions and instructions of the mind as it relays the behests of the soul. |
Bộ não đã “nghe thấy” một cách huyền bí các mệnh lệnh và hướng dẫn của thể trí khi nó chuyển tiếp các mệnh lệnh của linh hồn. |
|
Those words of the soul, as the mind repeats the word. It relates also to the word of death, and then the soul can stand free because the form is released. But the word comes from the soul first, and then the mind repeats that word. |
Những lời đó của linh hồn, khi thể trí lặp lại lời nói. Nó cũng liên quan đến lời nói của cái chết và sau đó linh hồn có thể đứng tự do bởi vì hình tướng được giải phóng. Nhưng lời nói đến từ linh hồn trước, và sau đó thể trí lặp lại lời nói đó. |
|
I guess the proper thing to do, since I’m mentioning it, is to go to mind repeats word. I guess that’s it right there. And it appears to be the Law number 10, |
Tôi đoán điều thích hợp để làm, vì tôi đang đề cập đến nó, là đi đến trích dẫn đó trong Esoteric Healing, Quy luật số 10, |

|
Hearken, O Chela, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its purpose. The principle of mind (the fifth principle) then organizes itself, and then repeats the Word. The waiting form responds and drops away. The soul stands free. |
Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, lời kêu gọi đến từ Con đến Mẹ, và sau đó vâng lời. Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phục vụ mục đích của nó. Nguyên lý trí tuệ (nguyên lý thứ năm) sau đó tự tổ chức, và sau đó lặp lại Linh từ. Hình tướng đang chờ đợi đáp lại và rơi rụng. Linh hồn đứng tự do. |
|
That’s the first part of Law Ten. |
Đó là phần đầu tiên của Định luật thứ Mười. |
|
Anyway, the brain has heard occultly the injunctions and instructions of the mind as it relays the behest of the soul. |
Dù sao, bộ não có nghe thấy một cách huyền bí các mệnh lệnh và hướng dẫn của thể trí khi nó chuyển tiếp mệnh lệnh của linh hồn. |
|
The vital airs are swept into form-making activity just as their higher correspondence, the “modifications of the thinking principle, the mind stuff” (as Patanjali calls it), are thrown into an analogous form-making activity. |
Sinh khí bị cuốn vào hoạt động tạo hình giống như sự tương ứng cao hơn của chúng, “sự biến đổi của nguyên lý tư duy, chất liệu trí tuệ” (như Patanjali gọi nó), bị ném vào một hoạt động tạo hình tương tự. |
|
I suppose, the etheric area within the head and around the pineal glad and involving the reception of image and word, are thrown into activity in reflection. This reflects what is happening in the mind. These are the technical kinds of things, and obviously we have to be pretty clear about the image, don’t we? |
Tôi cho rằng vùng dĩ thái trong đầu và quanh tuyến tùng, và có liên quan đến việc tiếp nhận hình ảnh và ngôn từ, được kích hoạt trong sự phản chiếu. Điều này phản chiếu điều đang diễn ra trong thể trí. Đây là những điều thuộc kỹ thuật, và rõ ràng chúng ta phải thật sự minh bạch về hình ảnh, đúng không? |
|
I’m recalling some of this work from the Finnish epic the Kalevala. This is full of occult hints, and there’s apparently a whirlpool in the head, and when the magician can control the whirlpool, the connection between the brain and the astral plane will be uninterrupted, because otherwise this whirlpool scrambles the impressions, and no memories come through. Anyway, the mind stuff has an analogous activity and a higher activity, really. |
Tôi đang nhớ lại một phần công việc này từ sử thi Phần Lan Kalevala. Tác phẩm này đầy những gợi ý huyền linh, và dường như có một xoáy nước trong đầu, và khi nhà huyền thuật có thể kiểm soát xoáy nước ấy, thì mối liên kết giữa bộ não và cõi cảm dục sẽ không bị gián đoạn, bởi nếu không thì xoáy nước này sẽ làm rối loạn các ấn tượng, và không ký ức nào có thể xuyên qua. Dù sao thì, chất liệu thể trí có một hoạt động tương tự và thực sự ở một cấp cao hơn. |
|
These can then be seen interiorly by the man who is seeking to perform the magical work and much of his success is dependent upon his ability to register impressions exactly, and to see with clarity the forms of the process in magic which he is seeking to demonstrate as magical work in the outer world. |
Những điều này sau đó có thể được người đang tìm cách thực hiện công việc huyền thuật thấy được từ bên trong, và phần lớn thành công của y tùy thuộc vào khả năng ghi nhận chính xác các ấn tượng, và thấy rõ ràng các hình thức của tiến trình trong huyền thuật mà y đang tìm cách biểu lộ như công việc huyền thuật trên thế gian bên ngoài. |
|
So, coherence of vision and accurate reception are vitally necessary, and this requires some calmness and firmness and control of the modifications of the versatile psychic nature, as Patanjali would call it modifications. |
Vì vậy, sự gắn kết của tầm nhìn và sự tiếp nhận chính xác là cực kỳ cần thiết, và điều này đòi hỏi sự bình tĩnh, vững chắc và kiểm soát những biến thái của bản chất thông linh linh hoạt, như Patanjali gọi. |
|
Anyway, we have to bring through [the impression of the soul], the soul will probably provide the image, it will be reflected upon the mind, which will be reflected upon the vital airs of the brain, and will transfer itself then via these ethers into the possibility of outer dense physical plane expression. |
Dù sao, chúng ta phải mang [ấn tượng của linh hồn] qua, linh hồn có thể sẽ cung cấp hình ảnh, nó sẽ được phản chiếu lên trí tuệ, sẽ được phản chiếu lên sinh khí của não bộ, và sẽ tự chuyển mình sau đó thông qua các dĩ thái này vào khả năng của mật độ bên ngoài biểu hiện trên cõi trần. |
|
This is a very technical kind of process, and I think we can understand why we have to be so well trained to really be a white magician, and why it’s so foolish to kind of rush in, fools rushing in and try to do things before we have our vehicles, our faculties really under control. |
Đây là một loại quá trình rất kỹ thuật, và tôi nghĩ chúng ta có thể hiểu tại sao chúng ta phải được đào tạo bài bản như vậy để thực sự trở thành một nhà Chánh thuật, và tại sao lại quá ngu ngốc khi lao vào, cố gắng làm những điều trước khi chúng ta có các thể, các năng lực của chúng ta thực sự được kiểm soát. |
|
It might therefore be said that there are three stages in the form-making process. First, the soul or spiritual man, centered in the soul consciousness and functioning in “the secret place of the Most High”, visualizes the work to be done. This is not a sequential act, but the finished completed work of magic is visioned by a process that does not involve the time element or spatial concepts at all. Secondly, the mind responds to the soul (calling attention to the work to be performed), and is swept into thought-form making activity by this impression. According to the lucidity and illumination of the mind-stuff so will be the response to the impression. If the mind is a true reflector and receiver of soul impress, the corresponding thought-form will be true to its prototype. If it is not true (as is usually the case in the early stages of the work) then the thought-form created will be distorted and incorrect, unbalanced and “out of drawing”. TWM 251 |
Vì vậy, có thể nói rằng có ba giai đoạn trong tiến trình tạo hình. Trước hết, linh hồn hay con người tinh thần, tập trung trong tâm thức linh hồn và hoạt động trong “chốn bí mật của Đấng Tối Cao”, hình dung công việc cần được thực hiện. Đây không phải là một hành động tuần tự, mà công việc huyền thuật hoàn tất trọn vẹn được nhìn thấy bằng một tiến trình không hề liên quan đến yếu tố thời gian hay các khái niệm về không gian. Thứ hai, thể trí đáp ứng với linh hồn (gọi sự chú ý đến công việc phải được thực hiện), và bị cuốn vào hoạt động tạo hình tư tưởng bởi ấn tượng này. Sự đáp ứng với ấn tượng sẽ tương ứng tuỳ theo sự sáng tỏ và soi sáng của chất liệu trí tuệ. Nếu thể trí là một bộ phản chiếu và tiếp nhận đúng ấn tượng của linh hồn, thì hình tư tưởng tương ứng sẽ đúng với nguyên mẫu của nó. Nếu không đúng (như thường xảy ra trong các giai đoạn đầu của công việc) thì hình tư tưởng được tạo ra sẽ bị méo mó và không chính xác, mất cân bằng và “lệch khỏi thiết kế”. TWM 251 |
|
It might therefore be said that there are three stages in the form-making process. |
Do đó, có thể nói rằng có ba giai đoạn trong quá trình tạo hình. |
|
So D.K., great teacher that he is, he’s going to review this for us, and we need it. |
Vì vậy, Chân sư DK, bậc thầy vĩ đại của Ngài, Ngài sẽ xem xét lại điều này cho chúng ta, và chúng ta cần nó. |
|
First, the soul or spiritual man, centered in the soul consciousness and functioning in “the secret place of the Most High”, visualizes the work to be done. |
Đầu tiên, linh hồn hay con người tinh thần, tập trung trong tâm thức linh hồn và hoạt động trong “nơi bí mật của Đấng Tối Cao”, hình dung công việc cần được thực hiện. |
|
And the most high is the Sanat Kumara, but not in this instance. The most high is here, the soul, and the inner center of the soul may provide a standing place for those who can achieve it, the true initiate, and there is no white magic unless one is really an initiate. |
Và Đấng tối cao là Đức Sanat Kumara, nhưng không phải trong trường hợp này. Đấng tối cao ở đây, linh hồn, và trung tâm bên trong của linh hồn có thể cung cấp một chỗ đứng cho những ai có thể đạt được nó, người điểm đạo thực sự, và không có Chánh thuật nào trừ khi người ta thực sự là một người điểm đạo. |
|
This is not a sequential act, but the finishedcompleted work of magic is visioned by a process that does not involve the time element or spatial concepts at all. |
Đây không phải là một hành động tuần tự, mà là công việc huyền thuật đã hoàn thành được hình dung bởi một quá trình hoàn toàn không liên quan đến yếu tố thời gian hoặc không gian khái niệm. |
|
This is not a sequential act, but the finished completed work of magic is visioned by a process that does not involve the time element or spatial concepts at all. So this is coming from one who knows, and we have to experience this ourselves. Okay, so that’s the first thing that happens… |
Đây không phải là một hành động tuần tự, mà là công việc huyền thuật đã hoàn thành được hình dung bởi một quá trình không liên quan đến yếu tố thời gian hoặc khái niệm không gian. Vì vậy, điều này đến từ một người biết, và chúng ta phải tự mình trải nghiệm điều này. Được rồi, đó là điều đầu tiên xảy ra… |
|
This is first a soul act, right? … This is an act of the soul, the secret place of the Most-High. Well I have a feeling I want to call that, calling this the jewel in the lotus, visualizes the work to be done. It’s the finished completed work, which must manifest itself. The end is visioned, the end is seen from the beginning, and when the Planetary Logos envisions what his creative demonstration will be. Well, who knows in what detail it is visioned, probably from the purposeful angle. It is completely visioned as an archetype, but how we get there, given the principle of free will and so forth, maybe those methods are not all visioned, although within absolute infinitude they would have to be, but that’s another matter, really virtually inconceivable to us. |
Đây trước tiên là một hành động của linh hồn, phải không? … Đây là một hành động của linh hồn, nơi bí mật của Đấng Tối Cao. Vâng, tôi có cảm giác rằng tôi muốn gọi điều đó, gọi đây là viên ngọc trong hoa sen, hình dung công việc cần được thực hiện. Đó là công việc đã hoàn thành, phải tự biểu hiện. Phần cuối được hình dung, phần cuối được nhìn thấy từ đầu, và khi Hành tinh Thượng đế hình dung sự thể hiện sáng tạo của Ngài sẽ như thế nào. Vâng, ai biết được nó được hình dung chi tiết đến mức nào, có lẽ từ góc độ có mục đích. Nó hoàn toàn được hình dung như một nguyên mẫu, nhưng làm thế nào chúng ta đạt được điều đó, với nguyên tắc tự do ý chí, v.v., có thể những phương pháp đó không phải là tất cả đều được hình dung, mặc dù trong vô hạn tuyệt đối, chúng sẽ phải như vậy, nhưng đó là một vấn đề khác, thực sự hầu như chúng ta không thể hiểu được. |
|
Secondly, the mind responds to the soul (calling attention to the work to be performed) and is swept into thought-form making activity by this impression. |
Thứ hai, trí tuệ đáp lại linh hồn (gọi sự chú ý đến công việc cần được thực hiện) và bị cuốn vào hoạt động tạo hình tư tưởng bởi ấn tượng này. |
|
The mind responds. |
Trí tuệ đáp lại. |
|
What we have here is Spiritual soul visualizes the work to be done. The mind responds to the soul, calling attention within the mind to the work to be performed, and is swept into thought-form-making activity by this impression. In other words, how does it happen? You have to think sequentially, you have to use Saturn, you have to use Mercury, you’re entering into time and space, and there have to be steps, linear. Even though in a Uranian fashion you may see the end from the beginning in a flash, in a moment, there’s a, in time and space, there’s a sequentiality that has to be followed. |
Những gì chúng ta có ở đây là Linh hồn tinh thần hình dung công việc cần được thực hiện. Trí tuệ đáp lại linh hồn, kêu gọi sự chú ý trong trí tuệ đến công việc cần được thực hiện, và bị cuốn vào hoạt động tạo hình tư tưởng bởi ấn tượng này. Nói cách khác, nó xảy ra như thế nào? Bạn phải suy nghĩ theo trình tự, bạn phải sử dụng Sao Thổ, bạn phải sử dụng Sao Thủy, bạn đang bước vào thời gian và không gian, và phải có các bước, tuyến tính. Mặc dù theo kiểu Sao Thiên Vương, bạn có thể thấy kết thúc từ đầu trong một tia sáng, trong một khoảnh khắc, có một, trong thời gian và không gian, có một trình tự phải được tuân theo. |
|
According to the lucidity and illumination of the mind-stuff so will be the response to the impression. |
Theo sự sáng suốt và soi sáng của chất liệu trí tuệ thì sẽ là sự đáp lại ấn tượng. |
|
Now this is where illusion can enter in. So much of illusion is simply misinterpretation. The original source of impression can be high, but the mind is not ready if the mind is not of a quality and luminosity to correctly interpret. |
Bây giờ đây là nơi ảo tưởng có thể đi vào. Rất nhiều ảo tưởng chỉ đơn giản là sự hiểu sai. Nguồn ấn tượng ban đầu có thể cao, nhưng trí tuệ chưa sẵn sàng nếu trí tuệ không có phẩm chất và độ sáng để diễn giải chính xác. |
|
If the mind is a true reflector and receiver of soul impress, the corresponding thought-form will be true to its prototype. |
Nếu trí tuệ là một tấm gương phản chiếu và tiếp nhận thực sự ấn tượng của linh hồn, thì hình tư tưởng tương ứng sẽ đúng với nguyên mẫu của nó. |
|
So here we have the principle of congruence. This is really important to be faithful to the original and originating impression. And there’s so much opportunity for deviation, so that that which originates on the higher planes may not really come through. |
Vì vậy, ở đây chúng ta có nguyên tắc đồng dạng. Điều này thực sự quan trọng để trung thành với ấn tượng ban đầu và khởi nguồn. Và có rất nhiều cơ hội để đi chệch hướng, do đó, những gì bắt nguồn từ các cõi cao hơn có thể không thực sự đi qua. |
|
0:32:15 |
0:32:15 |
|
If it is not true (as is usually the case in the early stages of the work) then the thought-form created will be distorted and incorrect, unbalanced and and using an old term, out of drawing. |
Nếu nó không đúng (như thường lệ trong các giai đoạn đầu của công việc) thì hình tư tưởng được tạo ra sẽ bị bóp méo và không chính xác, mất cân bằng và sử dụng một thuật ngữ cũ, lệch lạc. |
|
Now we have CAD, computer assisted design, we have tremendous computer facility in rendering what we might conceive either in the mind or from a higher source, but in those old days, unbalanced, incorrect, distorted, out of drawing, not faithful to the original design. … |
Bây giờ chúng ta có CAD, thiết kế hỗ trợ máy tính, chúng ta có cơ sở máy tính to lớn trong việc kết xuất những gì chúng ta có thể hình dung trong trí tuệ hoặc từ một nguồn cao hơn, nhưng trong những ngày xưa, mất cân bằng, không chính xác, bị bóp méo, lệch lạc, không trung thành với thiết kế ban đầu. … |
|
It is in meditation that this work of accurate reception and correct building is learnt and hence the emphasis laid in all true schools of esoteric training upon a focussed mind, a capacity to visualize, an ability to build thought-forms, and an accurate grasp of egoic intent. Hence also the need of the magician beginning the practical work of magic with himself as the subject of the magical experiment. He begins to grasp the vision of the spiritual man, as he is in essence. He realizes the virtues and reactions which that spiritual man would evidence in physical plane life. He builds a thought-form of himself as the ideal man, the true server, the perfect master. He gradually coordinates his forces so that power to be these things in external reality begins to take shape so that all men can see. He creates a pattern in his mind which hews as true as he can make it to the prototype, and which serves to model the lower man and force conformity to the ideal. As he perfects his technique he finds a transmuting, transforming power at work upon the energies which constitute his lower nature, until all is subordinated and he becomes in practical manifestation what he is esoterically and essentially. As this takes place, he begins to be interested in the magical work in which it is the function of all true souls to participate. TWM 251-252 |
Chính trong tham thiền mà công việc tiếp nhận chính xác và kiến tạo đúng đắn này được học hỏi, và do đó trong mọi trường phái huấn luyện huyền môn chân chính đều nhấn mạnh vào một thể trí được tập trung, vào năng lực hình dung, vào khả năng kiến tạo các hình tư tưởng, và vào sự nắm bắt chính xác ý định của chân ngã. Vì vậy cũng có nhu cầu đối với nhà huyền thuật—khi bắt đầu công việc huyền thuật thực hành—phải bắt đầu với chính mình như là đối tượng của thí nghiệm huyền thuật. Y bắt đầu nắm bắt linh ảnh về con người tinh thần, như là bản chất thật sự của y. Y nhận ra những đức tính và phản ứng mà con người tinh thần ấy sẽ thể hiện trong đời sống cõi hồng trần. Y kiến tạo một hình tư tưởng về chính mình như con người lý tưởng, người phụng sự chân chính, bậc huấn sư hoàn hảo. Y dần dần phối hợp các năng lực của mình sao cho quyền năng để trở thành những điều này trong hiện thực bên ngoài bắt đầu hình thành để tất cả mọi người đều có thể thấy. Y tạo ra một mô hình trong thể trí, được đẽo gọt đúng nhất có thể theo nguyên mẫu, và mô hình này phục vụ để khuôn định phàm nhân thấp và buộc nó phải tương hợp với lý tưởng. Khi kỹ thuật của y được hoàn thiện, y nhận thấy một quyền năng chuyển hoá và biến đổi đang hoạt động trên các năng lượng cấu thành bản chất thấp của y, cho đến khi mọi thứ đều được đặt dưới sự phục tùng, và y trở thành—trong sự biểu lộ thực tế—những gì y là về mặt huyền bí và trong bản chất. Khi điều này xảy ra, y bắt đầu quan tâm đến công việc huyền thuật mà trong đó chức năng của mọi linh hồn chân chính là tham gia vào. TWM 251–252 |
|
It is in meditation that this work of accurate reception and correct building is learnt and hence the emphasis laid in all true schools of esoteric training upon a focussed mind, a capacity to visualize, an ability to build thought-forms, and an accurate grasp of egoic intent. |
Chính trong thiền định mà công việc tiếp nhận chính xác và xây dựng chính xác này được học hỏi, và do đó sự nhấn mạnh được đặt ra trong tất cả các trường phái đào tạo nội môn thực sự về một thể trí tập trung, khả năng hình dung, khả năng xây dựng các hình tư tưởng và nắm bắt chính xác ý định của chân ngã. |
|
You know, Master DK’s use of the word ego, not in the modern psychological sense meaning the lower personality. He simply calls personality the personality or the lower self, and the ego, even if it has no capital E, is meant to relate to the higher mind, to the structures found on the higher mental plane. |
Các bạn biết, Chân sư DK sử dụng từ ego, không phải theo nghĩa tâm lý hiện đại có nghĩa là phàm ngã. Ngài chỉ đơn giản gọi phàm ngã là phàm ngã hoặc bản ngã thấp, và ego, ngay cả khi nó không có chữ E viết hoa, có nghĩa là liên quan đến thượng trí, đến các cấu trúc được tìm thấy trên cõi thượng trí. |
|
So, all of our occult training, our training in esotericism, is part of this preparation for accurate transmission of that which the soul knows. And remember, the soul knows the Plan. We, somehow as extensions of the monad in combinations with the projection of the Solar Angel, its Presence, its mind, into our causal body, we know something of the Divine Plan, and this has to be brought down. We know much more than we think within our personality mind that we know. |
Vì vậy, tất cả sự đào tạo huyền bí học của chúng ta, sự đào tạo của chúng ta về nội môn, là một phần của sự chuẩn bị này để truyền tải chính xác những gì linh hồn biết. Và chúng ta hãy nhớ rằng, linh hồn biết Thiên Cơ. Chúng ta, trong một cách nào đó ,là sự mở rộng của Chân thần kết hợp với sự phóng chiếu của Thái dương Thiên thần, Hiện diện của Ngài, trí tuệ của Ngài, vào thể nguyên nhân của chúng ta, chúng ta biết một chút về Thiên Cơ, và điều này phải được đưa xuống. Chúng ta biết nhiều hơn những gì chúng ta, trong thể trí phàm ngã của mình, nghĩ rằng chúng ta biết. |
|
Really, in the last analysis, we know everything in universe. But that’s a big stretch and involves such an amazing change of perceived Identity as we usually approach what I consider to be a fact here, incredulously, like it just can’t be true. |
Thật vậy, xét cho cùng thì chúng ta biết mọi thứ trong vũ trụ. Nhưng đó là một bước nhảy quá lớn và hàm chứa một sự thay đổi phi thường về Bản thể mà chúng ta tri nhận. Thông thường, khi tiếp cận điều mà tôi cho là một sự thật ở đây, chúng ta lại đầy hoài nghi, như thể điều đó không thể nào đúng được. |
|
Hence also the need of the magician beginning the practical work of magic with himself as the subject of the magical experiment. |
Do đó, nhà huyền thuật cũng cần bắt đầu công việc huyền thuật thực tế với chính mình là đối tượng của thí nghiệm huyền thuật. |
|
What would we say to such a magician? You say, ‘magician, recreate thyself’. Let’s see those changes in our character, in our personality, in our vehicles. Let’s see transmutation, transformation, transfiguration, that’s a good place to start. Then once we’re more successful at doing that and become a demonstration of what we think is good, then maybe we’re ready to work in the larger picture successfully. |
Chúng ta sẽ nói gì với một nhà huyền thuật như vậy? Bạn nói, ‘Hỡi nhà huyền thuật, hãy tái tạo lại chính mình’. Chúng ta hãy xem những thay đổi đó trong tính cách, trong phàm ngã, trong các thể của chúng ta. Chúng ta hãy xem sự chuyển hóa, biến đổi, biến hình, đó là một nơi tốt để bắt đầu. Sau đó, một khi chúng ta thành công hơn trong việc đó và trở thành minh chứng cho những gì chúng ta nghĩ là tốt, thì có thể chúng ta đã sẵn sàng để làm việc trong bức tranh lớn hơn một cách thành công. |
|
He begins to grasp the vision of the spiritual man, as he is in essence. |
Y bắt đầu nắm bắt được hình ảnh của con người tinh thần, như y vốn là. |
|
That is, what can we say, our higher nature begins to be seen. And usually, in the personality mind, we only suspect it exists, and do not know much about its nature from first-hand experience. |
Đó là bản chất cao hơn của chúng ta bắt đầu được nhìn thấy. Và thông thường, trong tâm trí phàm ngã, chúng ta chỉ nghi ngờ nó tồn tại, và không biết nhiều về bản chất của nó từ kinh nghiệm trực tiếp. |
|
He realizes the virtues |
Y nhận ra các đức tính |
|
They are even in the causal body, many virtues are stored, which perhaps do not yet manifest in any one life until as we approach the third degree, they start to, |
Chúng thậm chí còn ở trong thể nguyên nhân. Nhiều đức tính được lưu trữ ở đó, có lẽ vẫn chưa biểu hiện trong bất kỳ kiếp sống nào cho đến khi chúng ta đạt đến cấp độ thứ ba, |
|
…he realizes the virtues and reactions which the spiritual man would evidence in physical plane life. |
…Y nhận ra các đức tính và phản ứng mà con người tinh thần sẽ thể hiện trong cuộc sống trên cõi trần. |
|
This means the beginning of living as a soul. It’s one thing to have these realizations on higher planes, it’s another to bring them right down a manifesting through the lower planes through the physical, astral, mental, etc. |
Điều này có nghĩa là bắt đầu sống như một linh hồn. Nhận thức những điều này trên các cõi cao hơn là một chuyện, mang chúng xuống vào biểu hiện thông qua các cõi thấp —cõi trần, cảm dục, trí tuệ—là một chuyện khác. |
|
He builds a thought-form of himself as the ideal man, the true server, the perfect master. |
Y xây dựng một hình tư tưởng về chính y như một con người lý tưởng, người phụng sự thực sự, vị thầy hoàn hảo. |
|
This is a Master in the Heart meditation … |
Đây là bài Thiền Đức Thầy trong Trái tim… |
|
DK says, you can build the master in the heart, or you can build yourself. Maybe you’re not the devotional type, so you build an image of yourself as the ideal man, and you see that in the midst of your heart center. |
Chân sư DK nói, bạn có thể xây dựng Chân sư trong trái tim, hoặc bạn có thể xây dựng chính mình. Có thể bạn không phải là người sùng đạo, vì vậy bạn xây dựng hình ảnh về bản thân như một con người lý tưởng, và bạn thấy điều đó ở giữa trung tâm tim của bạn. |
|
He gradually coordinates his forces so that power to be these things in external reality begins to take shape so that all men can see. |
Y dần dần phối hợp các năng lực của mình sao cho quyền năng để trở thành những điều này trong hiện thực bên ngoài bắt đầu hình thành để tất cả mọi người đều có thể thấy. |
|
Gradually we work towards the ideal image. We work towards making the ideal image real. |
Dần dần chúng ta hướng tới hình ảnh lý tưởng. Chúng ta nỗ lực để biến hình ảnh lý tưởng thành hiện thực. |
|
He creates a pattern in his mind which hews as true as he can make it to the prototype, and which serves to model the lower man and force conformity to the ideal. |
Y tạo ra trong thể trí mình một mô hình được y gọt giũa sao cho sát với nguyên mẫu nhất có thể, và mô hình ấy dùng để đúc khuôn phàm nhân và cưỡng bức nó tuân hợp với lý tưởng. |
|
Notice this principle again, I would call it, principle of congruence. He forces the outer to conform to the inner. Now, if we have a good imagination, we can really shape things. If we’re inspired by the soul and we can see what we could be or would be, maybe we’ll be more successful in forcing the outer man to be as the inner man is. |
Hãy chú ý đến nguyên lý này một lần nữa, nguyên lý mà tôi gọi là nguyên lý đồng dạng. Y buộc cái bên ngoài phải phù hợp với cái bên trong. Nếu chúng ta có một sự tưởng tượng tốt, chúng ta thực sự có thể định hình mọi thứ. Nếu chúng ta được linh hồn truyền cảm hứng và chúng ta có thể thấy mình có thể trở thành gì hoặc sẽ trở thành gì, có thể chúng ta sẽ thành công hơn trong việc buộc con người bên ngoài phải giống như con người bên trong. |
|
As he perfects his technique he finds a transmuting, |
Khi y hoàn thiện kỹ thuật của mình, y thấy một sự chuyển hóa, |
|
Elevating matter and his vibration |
Nâng cao vật chất và rung động của y |
|
…transforming power at work… |
…sức mạnh biến đổi đang hoạt động… |
|
Having to do more with the emotional plane and creating ideal forms which are properly related. |
Liên quan nhiều hơn đến cõi cảm xúc và tạo ra các hình thức lý tưởng được liên kết đúng cách. |
|
As he perfects his technique, he finds a transmuting transforming power at work upon the energies, which constitute his lower nature, until all is subordinated, and he becomes in practical manifestation what he is esoterically and essentially. |
Khi y hoàn thiện kỹ thuật của mình, y tìm thấy một sức mạnh chuyển hóa biến đổi đang hoạt động trên các năng lượng tạo thành bản chất thấp hơn của y, cho đến khi tất cả đều bị khuất phục, và y trở thành biểu hiện thực tế những gì y là về mặt nội môn và trong bản chất. |
|
Well, it’s work, right? It’s difficult and takes the factor of time, which seems real, even if it ultimately is not. |
Vâng, đó là công việc huyền thuật, phải không? Nó khó khăn và cần thời gian, điều này có vẻ có thật, ngay cả khi cuối cùng nó không phải vậy. |
|
As this takes place, he begins to be interested in the magical work in which it is the function of all true souls to participate. |
Khi điều này diễn ra, y bắt đầu quan tâm đến công việc huyền thuật trong đó tất cả các linh hồn thực sự đều có chức năng tham gia. |
|
So, maybe, well, what can we say that every member of the Hierarchy is a white magician. He may not be technically working with the seventh ray in a specialized manner, but somehow, because of his very position within the Hierarchy, and because he has subordinated the personality to the inner and higher man, he’s able to externalize his true nature through the personality. And then whatever he touches, wherever he goes, he’s able to find some kind of Plan or archetype, which is divinely intended and to which he can contribute successfully in terms of the externalization of that divine intent. |
Vâng, chúng ta có thể nói rằng mọi thành viên của Thánh đoàn đều là một nhà huyền thuật chánh đạo. Ngài có thể không làm việc một cách kỹ thuật với cung bảy theo cách chuyên biệt, nhưng bằng cách nào đó, do vị trí của Ngài trong Thánh đoàn, và bởi vì Ngài đã khuất phục phàm ngã trước con người bên trong và cao hơn, Ngài có thể ngoại hiện bản chất thực sự của mình thông qua phàm ngã. Và sau đó, bất cứ thứ gì Ngài chạm vào, bất cứ nơi nào Ngài đến, Ngài đều có thể tìm thấy một loại Thiên Cơ hoặc nguyên mẫu nào đó, được dự định một cách thiêng liêng, mà Ngài có thể đóng góp thành công vào việc ngoại hiện ý định thiêng liêng đó. |
|
Then the third aspect of the form-making process can manifest. The brain is synchronized with the mind, and the mind with the soul, and the plan is sensed. The vital airs in the head can be modified and respond to the force of the building magical work. A thought-form exists then as the result of the previous two activities, but it exists in the place of the brain activity and becomes a focussing centre for the soul, and a point through which energy can flow for the performance of the magical work. TWM 252 |
Sau đó, khía cạnh thứ ba của quá trình tạo hình có thể biểu hiện. Não bộ được đồng bộ hóa với trí tuệ, và trí tuệ với linh hồn, và Thiên Cơ được cảm nhận. Các luồng khí sinh động trong đầu có thể được biến đổi và đáp ứng lại sức mạnh của công việc huyền thuật đang xây dựng. Khi đó, một hình tư tưởng tồn tại như kết quả của hai hoạt động trước đó, nhưng nó tồn tại ở nơi hoạt động của não bộ và trở thành một trung tâm tập trung cho linh hồn, và một điểm mà qua đó năng lượng có thể chảy cho việc thực hiện công việc huyền thuật. TWM 252 |
|
Then the third aspect of the form-making process can manifest. |
Sau đó, khía cạnh thứ ba của quá trình tạo hình có thể biểu hiện. |
|
Well, so far, as we’ve been through the soul, and we’ve been through the mind. So far, soul and mind has been discussed. |
Vâng, cho đến nay, khi chúng ta đã đi qua linh hồn, và chúng ta đã đi qua trí tuệ. Cho đến nay, linh hồn và trí tuệ đã được thảo luận. |
|
The brain is synchronized with the mind, and the mind with the soul, |
Não bộ được đồng bộ hóa với trí tuệ, và trí tuệ với linh hồn, |
|
Synchronization to make sure that whatever occurs is not out of drawing as it were |
Đồng bộ hóa để đảm bảo rằng bất cứ điều gì xảy ra đều không bị lệch lạc |
|
…and the plan is sensed. |
…và Thiên Cơ được cảm nhận. |
|
Within the personality brain. |
Trong não bộ phàm ngã. |
|
The vital airs in the head can be modified and respond to the force of the building magical work. |
Luồng khí sinh động trong đầu có thể được biến đổi và đáp ứng lại sức mạnh của công việc huyền thuật đang xây dựng. |
|
So that a true form reflecting the soul’s intent is impressed upon these airs and can manifest. |
Để một hình tướng thực sự phản ánh ý định của linh hồn được in dấu trên những luồng khí sinh động này và có thể biểu hiện. |
|
A thought-form exists then as the result of the previous two activities, but it exists in the place of the brain activity and becomes a focussing centre for the soul, |
Khi đó, một hình tư tưởng tồn tại như kết quả của hai hoạt động trước đó, nhưng nó tồn tại ở nơi hoạt động của não bộ và trở thành một trung tâm tập trung cho linh hồn, |
|
The initiate focused within the soul can work through this place within the brain |
Điểm đạo đồ tập trung trong linh hồn có thể làm việc thông qua nơi này trong não bộ |
|
…and a point through which energy can flow for the performance of the magical work. |
…và một điểm mà qua đó năng lượng có thể chảy cho việc thực hiện công việc huyền thuật. |
|
So, we really do need that place where land, water and air meet, and we really need the moment, the timing when they can meet, which depends upon our process and how faithfully we follow that. |
Vì vậy, chúng ta thực sự cần nơi mà đất, nước và không khí gặp nhau, và chúng ta thực sự cần khoảnh khắc, thời điểm mà chúng có thể gặp nhau, điều này phụ thuộc vào quá trình của chúng ta và mức độ trung thực của chúng ta làm theo điều đó. |
|
So this is the magic through and through soul, mind, brain, and somewhat in this process as we’re reviewing it, skipping the astral body, but as we actually examine the white magical process, the astral body provides motivation, a certain charge, a certain urgency, a certain aspiration, a certain livingness, which is necessary to make sure that the mental form is not unpropelled, that the mental form is really motivated towards manifestation rather than just being another thing which is not coming into manifestation. |
Vì vậy, đây là tiến trình huyền thuật xuyên suốt qua linh hồn, thể trí, bộ não, và phần nào trong tiến trình này — khi chúng ta đang ôn lại — thì bỏ qua thể cảm dục; tuy nhiên, khi thật sự khảo sát tiến trình huyền thuật trắng, thể cảm dục cung cấp động lực, một sức thúc đẩy nhất định, một sự khẩn thiết, một khát vọng nào đó, một sinh khí nhất định, vốn là điều cần thiết để bảo đảm rằng hình tướng trí tuệ không bị thiếu lực đẩy; rằng hình tướng trí tuệ thật sự được thúc đẩy hướng đến sự biểu lộ, chứ không chỉ là một điều gì đó không đi tới sự biểu lộ. |
|
A thought-form exists then as the result of the previous two activities, |
Khi đó, một hình tư tưởng tồn tại như kết quả của hai hoạt động trước đó, |
|
What does he mean, of soul and mind, |
Ý Ngài là gì? Hai hoạt động của linh hồn và của thể trí, |
|
… but it exists in the place of the brain activity and becomes a focusing center for the soul… |
…nhưng nó tồn tại ở nơi hoạt động của não bộ và trở thành trung tâm tập trung cho linh hồn… |
|
So, can we get the sense of being focused within the soul, but still somehow working through this area within the light in the head, this etheric luminosity around the pineal gland or between the pituitary and pineal gland? Can we get the sense of working within the ethers of the head while we still remain focused within the soul |
Vậy, liệu chúng ta có thể có được cảm giác là mình đang tập trung trong linh hồn, nhưng đồng thời vẫn làm việc qua khu vực này bên trong “ánh sáng trong đầu”, tức là quầng sáng dĩ thái quanh tuyến tùng hoặc ở giữa tuyến yên và tuyến tùng? Liệu chúng ta có thể có được cảm giác đang làm việc trong các dĩ thái của vùng đầu trong khi vẫn giữ sự tập trung bên trong linh hồn hay không? |
|
…and a point through which energy can flow for the performance of the magical work. |
…và một điểm mà qua đó năng lượng có thể chảy cho việc thực hiện công việc huyền thuật. |
|
Wow, this is really technical stuff, and we don’t want to just sort of blunder in and say, “Now I have a few words and a few images and a few mantrams, I’m just going to begin”. Such caution, such seventh ray caution, step-by-step caution is needed in the area where we intend to work within our own etheric instrument, or through it anyway. |
Đây thực sự là những yếu tố kỹ thuật, và chúng ta không muốn chỉ lao vào và nói, “Bây giờ tôi có một vài từ và một vài hình ảnh và một vài câu thần chú, tôi sẽ bắt đầu”. Sự thận trọng của cung bảy, sự thận trọng từng bước một là cần thiết trong lĩnh vực mà chúng ta dự định làm việc trong công cụ dĩ thái của chính mình, hoặc thông qua nó. |
|
This magical work, carried out under the direction of the soul (inspiring the mind which in its turn impresses the brain), leads then (as the result of this triple coordinated activity) to the creation of a focussing centre, or form, within the head of the magician. The energy which flows through this focal point acts through three distributing agents, and hence all three are involved in all magical work. |
Công việc huyền thuật này, được thực hiện dưới sự chỉ đạo của linh hồn (đang truyền cảm hứng cho thể trí, và thể trí lại in ấn lên bộ não), dẫn đến (như là kết quả của hoạt động phối hợp tam phân này) sự tạo thành một trung tâm tập trung, hay một hình tướng, bên trong đầu của nhà huyền thuật. Năng lượng tuôn chảy qua điểm tập trung này hoạt động thông qua ba cơ quan phân phối, và bởi thế cả ba đều được huy động trong mọi công việc huyền thuật. |
|
1. The right eye, through which the vital energy of the spirit can express itself. |
1. Con mắt phải, qua đó sinh lực của tinh thần có thể biểu lộ. |
|
2. The throat centre, through which the Word, the second aspect or the soul expresses itself. |
2. Luân xa cổ họng, qua đó Linh từ, phương diện thứ hai hay linh hồn, biểu hiện. |
|
3. The hands, through which the creative energy of the third aspect works. |
3. Đôi bàn tay, qua đó năng lượng sáng tạo của phương diện thứ ba vận hành. |
|
“The White Magician” works “with the eyes open, the voice proclaiming and the hands conferring.” |
“Nhà Huyền Thuật chánh đạo” làm việc “với đôi mắt mở, với giọng nói tuyên xướng và với đôi tay ban phát.” |
|
These points are of technical interest to the experienced worker in magic, but of symbolic interest only to the aspirants for whom these letters are intended. |
Những điểm này có ý nghĩa mang tính kỹ thuật đối với người đã kinh nghiệm trong huyền thuật, nhưng chỉ mang ý nghĩa biểu tượng đối với những người chí nguyện mà các thư này được gửi đến. |
|
That the inner vision may be ours, the eye see clearly the glory of the Lord, and the voice speak only in benediction, and the hands be used only in helpfulness, may well be the prayer of each of us. TWM 252-253 |
Mong rằng nội nhãn có thể là của chúng ta, mong con mắt nhìn thấy rõ vinh quang của Thượng đế, mong giọng nói chỉ cất lên lời ban phước, và mong đôi tay chỉ được dùng để trợ giúp — đó có thể là lời nguyện cầu của mỗi người chúng ta. |
|
This magical work, carried out under the direction of the soul (inspiring the mind which in its turn impresses the brain), leads then (as the result of this triple coordinated activity) to the creation of a focussing centre, or form, within the head of the magician. |
Công việc huyền thuật này, được thực hiện dưới sự chỉ đạo của linh hồn (truyền cảm hứng cho thể trí, đến lượt nó gây ấn tượng với não bộ), sau đó dẫn đến (như kết quả của hoạt động phối hợp tam phân này) để tạo ra một trung tâm tập trung, hoặc hình thức, bên trong đầu của nhà huyền thuật. |
|
That’s a wonderful summary, isn’t it? That’s a wonderful summary, and I’m going to read it again after I make it a little bigger. |
Đó là một bản tóm tắt tuyệt vời, phải không? Đó là một bản tóm tắt tuyệt vời, và tôi sẽ đọc lại sau khi tôi làm cho nó lớn hơn một chút. |
|
This magical work, carried out under the direction of the soul |
Công việc huyền thuật này, được thực hiện dưới sự chỉ đạo của linh hồn |
|
And that of course is the key of white magical work |
Và đó tất nhiên là chìa khóa của công việc Chánh thuật |
|
(inspiring the mind which in its turn impresses the brain), leads then (as the result of this triple coordinated activity) |
(truyền cảm hứng cho thể trí, đến lượt nó gây ấn tượng với não bộ), sau đó dẫn đến (như kết quả của hoạt động phối hợp tam phân này) |
|
Hence, such important need for integration. This critical coordinated activity |
Do đó, nhu cầu quan trọng như vậy cho sự tích hợp. Hoạt động phối hợp quan trọng này |
|
…to the creation of a focussing centre, or form, within the head of the magician. |
…để tạo ra một trung tâm tập trung, hoặc hình thức, bên trong đầu của nhà huyền thuật. |
|
And this is the work within the cave, as some people call it, within the light in the head, within that magnetic area, within the etheric area surrounding the etheric correspondence to the pineal gland, this is where the work is carried out. |
Và đây là công việc bên trong hang động, như một số người gọi nó, bên trong ánh sáng trong đầu, bên trong vùng từ tính đó, bên trong vùng dĩ thái bao quanh sự tương ứng dĩ thái với tuyến tùng, đây là nơi công việc được thực hiện. |
|
The energy which flows through this focal point acts through three distributing agents, and hence all three are involved in all magical work. |
Năng lượng chảy qua điểm tiêu cự này hoạt động thông qua ba tác nhân phân phối, và do đó cả ba đều tham gia vào tất cả các công việc huyền thuật. |
|
And now, this is important. So, now we go forward with the means of further distribution. |
Và bây giờ, điều này rất quan trọng. Vì vậy, bây giờ chúng ta tiếp tục với phương tiện phân phối tiếp theo. |
|
1. The right eye, through which the vital energy of the spirit can express itself. |
1. Con mắt phải, mà qua đó sinh lực của tinh thần có thể tự thể hiện. |
|
Not just for soul, note the use of the word spirit, but as it works through the soul, I suspect. |
Không chỉ cho linh hồn, hãy lưu ý cách sử dụng từ tinh thần, nhưng tôi nghi ngờ là khi nó hoạt động thông qua linh hồn. |
|
2. The throat centre, through which the Word, the second aspect or the soul expresses itself. |
2. Trung tâm cổ họng, mà qua đó Linh từ, khía cạnh thứ hai hoặc linh hồn tự thể hiện. |
|
Right eye and throat center. This is a kind of a different triangle |
Mắt phải và trung tâm cổ họng. Đây là một loại tam giác khác |
|
3. The hands, through which the creative energy of the third aspect works. |
3. Bàn tay, mà qua đó năng lượng sáng tạo của khía cạnh thứ ba hoạt động. |
|
Normally the throat center is not associated with the second aspect of divinity, but in this case, it is. |
Thông thường, trung tâm cổ họng không được liên kết với khía cạnh thứ hai của thiên tính, nhưng trong trường hợp này thì có. |
|
The right eye, usually associated with the soul, left eyes of Manas, is in this case associated with the spirit. Ultimately, whatever comes through the soul really is engineered by the power of the spirit, and by its name, and by its place, and by its function within the Divine Will. Probably our whole Identity is not contained in the soul, or in the jewel in the lotus, our greater Identity, which will make us one day sort of a jewel in the crown of the Planetary Logos. If that is our fate, is found within the monad, the secret name, which we will become more in touch with as we learn our various groups and groupings, and the various groups of which we are part climbing on the way to the seven great circles one day of the monadic plane. |
Con mắt phải, thường được liên kết với linh hồn, mắt trái của Manas, trong trường hợp này được liên kết với tinh thần. Cuối cùng, bất cứ điều gì đi qua linh hồn thực sự đều được tạo ra bởi sức mạnh của tinh thần, và bởi tên của nó, và bởi vị trí của nó, và bởi chức năng của nó trong Thiên ý. Có lẽ toàn bộ Bản Sắc của chúng ta không được chứa đựng trong linh hồn, hoặc trong viên ngọc trong hoa sen, Bản Sắc vĩ đại hơn của chúng ta, điều này sẽ khiến chúng ta một ngày nào đó trở thành một loại viên ngọc trong vương miện của Hành tinh Thượng đế. Nếu đó là số phận của chúng ta, được tìm thấy trong Chân thần, cái tên bí mật, mà chúng ta sẽ tiếp xúc nhiều hơn khi chúng ta tìm hiểu các nhóm và nhóm khác nhau của mình, và các nhóm khác nhau mà chúng ta là một phần đang leo lên trên đường đến bảy vòng tròn vĩ đại một ngày nào đó của cõi Chân thần. |
|
So, this is an unusual triangle, not the one usually discussed which would be like ther ajna center and the two eyes perhaps, or the third eye and the other two eyes, or the centers before the eyes, the head center above the head, and the alta major center. These are more commonly discussed triangles, but here’s one that is of interest. |
Vì vậy, đây là một tam giác bất thường, không phải là tam giác thường được thảo luận, có thể giống như trung tâm ajna và hai mắt chẳng hạn, hoặc con mắt thứ ba và hai mắt kia, hoặc các trung tâm trước mắt, trung tâm đầu phía trên đầu và trung tâm alta major. Những điều này là những tam giác được thảo luận phổ biến hơn, nhưng đây là một tam giác thú vị. |
|
The energy which flows through this focal point acts as through three distributing agents. |
Năng lượng chảy qua điều này điểm tiêu cự hoạt động như thông qua ba tác nhân phân phối. |
|
So, from the cave or area of the etheric brain around the pineal gland; through the right eye, through which the vital energy of spirit can express itself; through the throat center, through which the word, I guess, which is the sounding of the soul as it reflects the monad, through which the word, the second aspect of the soul expresses itself, and through the hands. |
Vì vậy, từ hang động hoặc khu vực của não dĩ thái xung quanh tuyến tùng; qua mắt phải, qua đó sinh lực của tinh thần có thể tự thể hiện; thông qua trung tâm cổ họng, thông qua đó, tôi đoán, là âm thanh của linh hồn khi nó phản chiếu Chân thần, mà qua đó Linh từ, khía cạnh thứ hai của linh hồn tự thể hiện, và qua bàn tay. |
|
The hands of the white magician are very important, and one of the interesting things is that, sometimes magic is considered to be a third ray expression, sometimes the seventh, or the seventh ray giving the attitude of the ritualist, but he tells us that when we have the seventh ray physical body, we have the tendency to work with our hands, and maybe that’s why the seventh ray with the fourth ray, these are the two practically artistic rays. You do need the hand power, the handy craft, craft the power of the hand. |
Bàn tay của nhà Chánh thuật rất quan trọng, và một trong những điều thú vị là, đôi khi huyền thuật được coi là biểu hiện của cung ba, đôi khi là cung bảy, hoặc cung bảy mang đến thái độ của người làm nghi lễ, nhưng Ngài nói với chúng ta rằng khi chúng ta có thể xác cung bảy, chúng ta có xu hướng làm việc bằng tay của mình, và có thể đó là lý do tại sao cung bảy với cung bốn, đây là hai cung thực tế mang tính nghệ thuật. Bạn thực sự cần sức mạnh của bàn tay, sự khéo léo của bàn tay, tạo ra sức mạnh của bàn tay. |
|
0:53:00 |
0:53:00 |
|
“The White Magician” works “with the eyes open, the voice proclaiming and the hands conferring.” |
“Nhà Chánh thuật” làm việc “với đôi mắt mở, giọng nói tuyên bố và bàn tay ban tặng.” |
|
Bestowing, giving, creating, making real, making manifest. So, this is such a great statement and something upon which we can really ponder, really ponder. The white magician works with the eyes open, even though in this particular triangle, one eye is emphasized, but each eye has several assignments. The right eye can be the astral body, can be the soul, can be the spirit. The left eye can be the mind, it can be an aspect of the will, maybe it can be something even higher. So, it’s not just that each eye has only one association with one type of energy which can work through it. It all depends upon the elevation of the individual. |
Ban tặng, cho đi, sáng tạo, tạo ra thực tế, biểu hiện. Vì vậy, đây là một tuyên bố tuyệt vời và là điều mà chúng ta có thể thực sự suy ngẫm. Nhà Chánh thuật làm việc với đôi mắt mở, mặc dù trong tam giác cụ thể này, một mắt được nhấn mạnh, nhưng mỗi mắt có một số nhiệm vụ. Mắt phải có thể là thể cảm xúc, có thể là linh hồn, có thể là tinh thần. Mắt trái có thể là trí tuệ, nó có thể là một khía cạnh của ý chí, có thể nó có thể là một cái gì đó thậm chí cao hơn. Vì vậy, không phải chỉ là mỗi mắt chỉ có một liên kết với một loại năng lượng có thể hoạt động thông qua nó. Tất cả phụ thuộc vào sự thăng tiến của cá nhân. |
|
These points are of technical interest to the experienced worker in magic, but of symbolic interest only to the aspirants for whom these letters are intended. |
Những điểm này là mối quan tâm kỹ thuật đối với những người có kinh nghiệm làm việc trong huyền thuật, nhưng chỉ mang tính biểu tượng đối với những người chí nguyện mà những bức thư này dành cho. |
|
That’s how they went out as a lesson sets and not yet as a complete book. But can we transform symbolic interest into practical technical interest. … |
Đó là cách chúng được đưa ra như một bộ bài học chứ không phải như một cuốn sách hoàn chỉnh. Nhưng chúng ta có thể biến sự quan tâm mang tính biểu tượng thành sự quan tâm kỹ thuật thực tế không. … |
|
That the inner vision may be ours, the eye see clearly the glory of the Lord, |
Mong rằng tầm nhìn bên trong có thể là của chúng ta, mắt nhìn rõ ràng vinh quang của Chúa, |
|
And we’re not talking of the synthetic third eye, but of the right eye, interestingly enough, |
Và chúng ta không nói về con mắt thứ ba tổng hợp, mà là con mắt phải, thú vị là, |
|
…and the voice speak only in benediction, and the hands be used only in helpfulness, may well be the prayer of each of us. |
…và giọng nói chỉ nói trong lời cầu phúc, và bàn tay chỉ được sử dụng trong sự hữu ích, cũng có thể là lời cầu nguyện của mỗi chúng ta. |
|
I think Master DK, I don’t know what His rays would be right now, but certainly He came up with a lot of the sixth ray. He had great zeal, as they say, and some stories are told of His great zeal and what it may have led to untoward events. |
Tôi nghĩ rằng Chân sư DK—tôi không biết hiện nay các cung của Ngài là gì—nhưng chắc chắn Ngài từng mang rất nhiều phẩm chất của cung sáu. Ngài có một nhiệt huyết lớn lao, như người ta vẫn nói, và có những câu chuyện được kể lại về nhiệt huyết mãnh liệt của Ngài và những điều bất lợi mà nó có thể đã dẫn đến. |
|
There’s really no point in going any further, we’ve just about at an hour. We have finished Rule 7. We’ve finished Rule 8. When I say finished, this is only the most cursory commentary, indicative, maybe, and indicative of lines of inquiry that you yourself can follow. And in this incarnation, and in incarnations to come, when perhaps you will be involved in the new esoteric schools and will have more time karmically granted for very deep research into these matters, and for esoteric expression. |
Thực sự không có ích gì khi đi xa hơn nữa, chúng ta đã gần đến một giờ. Chúng ta đã hoàn thành Quy luật 7. Chúng ta đã hoàn thành Quy luật 8. Khi tôi nói hoàn thành, đây chỉ là lời bình luận sơ sài nhất, có thể là dấu hiệu, và dấu hiệu của các hướng nghiên cứu mà chính bạn có thể làm theo, trong kiếp sống này và trong những kiếp sống sắp tới, khi có lẽ bạn sẽ tham gia vào các trường phái nội môn mới và sẽ có nhiều thời gian hơn về mặt nghiệp quả để nghiên cứu rất sâu về những vấn đề này, và để thể hiện nội môn. |
|
I think we still have quite a bit of Sixth Ray and Pisces to clean up. It may be that there is this Great Conclave in 2025, and new aspects of the teaching will come forward. And that is very good, but we cannot assume that 2025 will be the moment that the Christ reappears, because He is the Aquarian Christ, and we have by no means accomplished the things which he will need, nor does it seem possible that in the next seven years we will, in terms of world peace and sharing and housecleaning, which is so badly needed. |
Tôi nghĩ chúng ta vẫn còn khá nhiều Cung Sáu và Song Ngư để dọn dẹp. Có thể là có Đại Mật nghị này vào năm 2025, và các khía cạnh mới của giáo lý sẽ được đưa ra. Và điều đó rất tốt, nhưng chúng ta không thể cho rằng năm 2025 sẽ là thời điểm Đức Christ tái xuất, bởi vì Ngài là Đức Christ của Thời đại Bảo Bình, và chúng ta không có nghĩa là đã hoàn thành những điều mà Ngài sẽ cần, cũng như dường như không thể trong bảy năm tới, chúng ta sẽ làm được, về hòa bình thế giới, chia sẻ và dọn dẹp nhà cửa, điều rất cần thiết. |
|
Basically, we’ll be strengthened in 2025, I believe, and we will have a new teaching, and He calls it a bridging teaching, so that in itself shows you we are not solidly into the Aquarian age, and we will have much of the cleanup work to do with respect to the recrudescence of the Sixth Ray and certain Piscean factors. People who are affected very much by those energies will have some kind of last-ditch stand expressing these energies in which they fully believe and without which they think they cannot live significantly. |
Về cơ bản, tôi tin rằng chúng ta sẽ được củng cố vào năm 2025, và chúng ta sẽ có một giáo lý mới, và Ngài gọi đó là giáo lý bắc cầu, vì vậy, bản thân điều đó cho bạn thấy rằng chúng ta không hoàn toàn bước vào Kỷ nguyên Bảo Bình, và chúng ta sẽ phải làm nhiều công việc dọn dẹp liên quan đến sự hồi sinh của Cung Sáu và một số yếu tố Song Ngư nhất định. Những người bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những năng lượng đó sẽ có một số loại lập trường cuối cùng thể hiện những năng lượng này mà họ hoàn toàn tin tưởng và nếu không có chúng, họ nghĩ rằng họ không thể sống một cách có ý nghĩa. |
|
So it could get quite intense, and even after 2025, but at least I think Hierarchy can assess. Hopefully we’ll have sufficient disciples in the field too and the new teaching will help us, and we’ll make that transition towards the real fading out of the Sixth Ray on the particular cycle on which it’s demonstrating now, and the fading out of the Piscean energies mostly by the end of this 21st century, and I think pretty well by 2125 or maybe earlier, the Sixth Ray will fade out. And in the year 2117, DK has given some indications that the true age of Aquarius actually begins, untainted, uncontaminated, not held back by the retrogressive pull of the last vestiges of the Piscean Sixth Ray civilization. |
Vì vậy, nó có thể trở nên khá căng thẳng, và ngay cả sau năm 2025, nhưng ít nhất tôi nghĩ Thánh đoàn có thể đánh giá. Hy vọng rằng chúng ta cũng sẽ có đủ các đệ tử trong lĩnh vực này và giáo lý mới sẽ giúp chúng ta, và chúng ta sẽ thực hiện quá trình chuyển đổi đó hướng tới sự phai mờ thực sự của Cung Sáu trên chu kỳ cụ thể mà nó đang thể hiện bây giờ, và sự phai mờ của các năng lượng Song Ngư chủ yếu vào cuối thế kỷ 21 này, và tôi nghĩ khá tốt vào năm 2125 hoặc có thể sớm hơn, Cung Sáu sẽ biến mất. Và trong năm 2117, Chân sư DK đã đưa ra một số dấu hiệu cho thấy kỷ nguyên thực sự của Bảo Bình thực sự bắt đầu, không bị vấy bẩn, không bị ô nhiễm, không bị kìm hãm bởi sức kéo thoái lui của tàn dư cuối cùng của nền văn minh Cung Sáu Song Ngư. |
|
Anyway, this is the end of A Treatise on White Magic Video Commentary Number 12, and we have three more rules, and one of them’s a really big one. |
Dù sao, đây là phần cuối của Luận về Chánh Thuật Bình luận Video Số 12, chúng ta còn ba quy luật nữa, và một trong số đó là một quy luật thực sự lớn. |