Letters on Occult Meditation — 5
Abstract
|
Letters on Occult Meditation Webinar Commentary 5: Michael continues his series with Letter II from Letters on Occult Meditation, pages 8-13 dealing with the importance of meditation and how it results in egoic contact and alignment, it brings about a state of equilibrium, it stabilizes vibration, and it assists in a transference of polarization. This program was recorded on 21 July 2020. Approximately 2.1 hours. |
Bình giảng Webinar Letters on Occult Meditation số 5: Michael tiếp tục loạt chương trình của mình với Thư thứ hai Letters on Occult Meditation, các trang 8–13, bàn về tầm quan trọng của tham thiền và cách thức tham thiền đưa đến sự tiếp xúc và chỉnh hợp với chân ngã; nó tạo ra một trạng thái quân bình, ổn định rung động, và hỗ trợ cho sự chuyển dịch phân cực. Chương trình này được ghi hình vào ngày 21 tháng 7 năm 2020. Thời lượng xấp xỉ 2,1 giờ |
Text
|
LETTER II – IMPORTANCE OF MEDITATION |
THƯ II – TẦM QUAN TRỌNG CỦA THAM THIỀN |
|
l—It results in egoic contact and alignment. |
1—Nó đưa đến sự tiếp xúc và chỉnh hợp với chân ngã. |
|
2—It brings about a state of equilibrium. |
2—Nó mang lại một trạng thái quân bình. |
|
3—It stabilises vibration. |
3—Nó ổn định rung động. |
|
4—It assists in a transference of polarisation. |
4—Nó hỗ trợ cho sự chuyển dịch phân cực. |
|
JUNE 3, 1920. |
NGÀY 3 THÁNG 6, 1920. |
|
[9] |
[9] |
|
Let me this morning give you some more thoughts on the subject of meditation; they will bear somewhat on the matter given yesterday, and on the 16th ultimo. |
Sáng nay, tôi muốn chia sẻ với bạn thêm một vài suy nghĩ về chủ đề tham thiền; chúng sẽ liên quan phần nào đến nội dung đã đưa ra hôm qua và vào ngày 16 tháng trước. |
|
Fundamentally, meditation is to assist alignment and so permit of contact with the Higher Self; hence its institution. I would, in order duly to elucidate, take up the study of this topic under the following heads: |
Về cơ bản, tham thiền là để hỗ trợ sự chỉnh hợp và từ đó cho phép tiếp xúc với Chân Ngã; đó chính là lý do cho sự thiết lập của nó. Để làm sáng tỏ một cách đúng đắn, tôi sẽ thực hiện việc nghiên cứu chủ đề này theo các đề mục sau: |
|
Points considered when assigning a Meditation. |
Các điểm cần xem xét khi chỉ định một Bài thiền. |
|
The use of the Sacred Word in Meditation. |
Việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng trong Tham thiền. |
|
Dangers to be avoided in Meditation. |
Các nguy hiểm cần tránh trong Tham thiền. |
|
The use of Form in Meditation. |
Việc sử dụng Hình tướng trong Tham thiền. |
|
The use of Colour and Sound in Meditation. |
Việc sử dụng Màu sắc và Âm thanh trong Tham thiền. |
|
Access to the Masters through Meditation. |
Tiếp cận với các Chân sư thông qua Tham thiền. |
|
Future Schools of Meditation. |
Các Trường Tham thiền trong Tương lai. |
|
Purification of the Vehicles. |
Sự Thanh tẩy các Vận cụ. |
|
The Exoteric Life of Service. |
Đời sống Phụng sự Ngoại môn. |
|
Let us today take up the consideration of the first point:—What makes Meditation of importance? |
Hôm nay chúng ta hãy cùng xem xét điểm đầu tiên:—Điều gì làm cho Tham thiền trở nên quan trọng? |
|
The emphasis upon the importance of meditation follows naturally upon the realisation by the student of the absolute necessity for the domination of the Personality by the Ego. |
Sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của tham thiền diễn ra một cách tự nhiên sau khi môn sinh nhận thức được sự cần thiết tuyệt đối của việc phàm ngã phải bị thống trị bởi Chân ngã. |
|
Points considered when assigning a Meditation. |
Các điểm cần xem xét khi chỉ định một Bài thiền. |
|
Man at this time is engaged in many pursuits and through the force of circumstances he is polarised entirely in the lower self, that polarisation being in either the emotional or mental body. One point of interest I would indicate:—as long as the polarisation is purely [10] physical or purely emotional, no need for meditation is ever felt. Even when the mental body is active, no urge arises until the man has run through many changes and many lives, has tasted the cup of pleasure and of pain through many incarnations, has sounded the depths of the life lived entirely for the lower self and found it unsatisfying. Then he begins to turn his thought to other things, to aspire to that which is unknown, to realize and sense within himself the pairs of opposites, and to contact within his consciousness possibilities and ideals undreamt of hitherto. He has come to a point where success, popularity and diverse gifts are his, and yet from their use he derives no content; always the urge within persists until the pain is so severe that the desire to reach out and up, to ascertain something and someone beyond, overcomes all obstacles. The man begins to turn within and to seek the source from whence he came. Then he begins to meditate, to ponder, to intensify vibration until in process of time he garners the fruits of meditation. |
Vào thời điểm hiện nay, con người đang dấn thân vào nhiều theo đuổi khác nhau, và do mãnh lực của hoàn cảnh, y hoàn toàn bị phân cực trong phàm ngã thấp, sự phân cực ấy nằm hoặc trong thể cảm dục, hoặc trong thể trí. Có một điểm đáng lưu ý mà tôi muốn chỉ ra: — chừng nào sự phân cực còn thuần túy [10] ở thể xác hoặc thuần túy ở thể cảm dục, thì nhu cầu tham thiền hoàn toàn không bao giờ được cảm nhận. Ngay cả khi thể trí hoạt động, vẫn không có thôi thúc nào khởi lên cho đến khi con người đã trải qua nhiều biến đổi và nhiều kiếp sống, đã nếm cốc khoái lạc và đau khổ qua vô số lần nhập thể, đã dò đến tận đáy của đời sống được sống hoàn toàn cho phàm ngã và nhận ra rằng điều ấy không đem lại sự thỏa mãn. Khi ấy, y bắt đầu hướng tư tưởng của mình sang những điều khác, bắt đầu khát vọng hướng đến cái chưa biết, bắt đầu nhận ra và cảm nhận bên trong chính mình các cặp đối cực, và bắt đầu tiếp xúc trong tâm thức của y những khả năng và những lý tưởng mà trước đây y chưa từng mơ tưởng. Y đã đi đến một điểm mà thành công, danh tiếng và nhiều ân huệ khác đều thuộc về y, thế nhưng từ việc sử dụng chúng, y không rút ra được chút mãn nguyện nào; luôn luôn, thôi thúc bên trong vẫn dai dẳng cho đến khi nỗi đau trở nên nghiêm trọng đến mức khát vọng vươn ra và vươn lên, khát vọng xác nhận điều gì đó và ai đó vượt ra ngoài, vượt lên trên, vượt thắng mọi chướng ngại. Con người bắt đầu quay vào nội tâm và tìm kiếm cội nguồn mà từ đó y đã đi ra. Khi ấy, y bắt đầu tham thiền, bắt đầu suy tư, bắt đầu gia tăng rung động cho đến khi, theo thời gian, y thu hoạch được những hoa trái của tham thiền. |
|
Bốn điều mà tham thiền thực hiện: |
|
|
l—It enables a man to contact the Ego and to align the three lower bodies. |
1—Nó cho phép một người tiếp xúc với Chân ngã và chỉnh hợp ba thể thấp. |
|
2—It puts a man into an attitude of equilibrium, neither utterly receptive and negative, nor utterly positive, but at the point of balance. Thus is afforded opportunity to the Ego, and later to the Master, to disturb that equilibrium and tune the quiescent vibration to a higher note than heretofore; to cause the consciousness to vibrate to a newer and higher measure, and to swing (if so I may express it) into the periphery of the threefold Spirit. By the constant practice of this, the whole point of equilibrium is gradually shifted higher and higher, until the time comes when the lower point of [11] attraction in the swinging and adjustment, is not the physical, touches not the emotional, contacts not the mental (the causal body even escaping) and the man is polarised in the spiritual consciousness from thenceforth. |
2—Nó đưa con người vào một thái độ thăng bằng, không hoàn toàn thụ động và tiêu cực, cũng không hoàn toàn tích cực, mà ở điểm cân bằng. Do đó tạo cơ hội cho Chân ngã, và sau này là Chân sư, làm xáo trộn sự thăng bằng đó và điều chỉnh rung động tĩnh lặng sang một âm điệu cao hơn trước đây; làm cho tâm thức rung động theo một nhịp độ mới hơn và cao hơn, và chuyển dịch (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) vào chu vi của Tinh thần tam phân. Bằng việc thực hành liên tục điều này, toàn bộ điểm thăng bằng dần dần được dịch chuyển ngày càng cao hơn, cho đến khi tới lúc điểm [11] thu hút thấp hơn trong sự dao động và điều chỉnh không còn là cõi hồng trần, không chạm đến cõi cảm dục, không tiếp xúc với cõi trí (ngay cả thể nguyên nhân cũng thoát khỏi) và con người được phân cực trong tâm thức tinh thần từ đó trở đi. |
|
This marks the fourth Initiation; after that Initiation, the Adept makes for Himself a body of manifestation, a free creation,—there is nothing in Him to call into objectivity a body for use in the three worlds and evolved under the Law of Causes. |
Điều này đánh dấu lần Điểm đạo thứ tư; sau lần Điểm đạo đó, vị Cao đồ tự tạo cho Ngài một thể biểu hiện, một sự sáng tạo tự do,— trong Ngài không có gì khiến phải dùng một thể trong tam giới và phát triển theo Luật Nhân quả. |
|
3—It stabilises the lower vibrations on the subplanes of the emotional and mental planes. It commences the work of attuning the self to the vibration of the third subplane on each of the three lower planes, until that subplane is dominated. The second subplane is then the next to be synchronised. |
3—Nó ổn định các rung động thấp trên các cõi phụ của cõi cảm dục và cõi trí. Nó bắt đầu công việc điều chỉnh phàm ngã theo rung động của cõi phụ thứ ba trên mỗi cõi trong ba cõi thấp, cho đến khi cõi phụ đó bị thống trị. Cõi phụ thứ hai sau đó là cõi tiếp theo được đồng bộ hóa. |
|
A man reaches the point of personality attainment in this cycle when he has the capacity to vibrate and move consciously on the fourth subplane. We might term the fourth subplane on the physical, emotional and mental planes (when dominated, aligned and functioning simultaneously in the same incarnation) the plane of perfected personality in the concrete sense of the word, and from the lower vision. That particular incarnation will be one in which the man achieves the fullest expression of his lower self,—physically perfect, emotionally vibrant, and mentally colossal. Then succeeding that, begins the transference to a higher vibration, the keying up to the Higher Self, and the attuning of the Personality, or the major third, to the dominant fifth of the Ego. |
Một người đạt đến điểm thành tựu phàm ngã trong chu kỳ này khi y có khả năng rung động và di chuyển một cách có ý thức trên cõi phụ thứ tư. Chúng ta có thể gọi cõi phụ thứ tư trên các cõi hồng trần, cảm dục và trí (khi được thống trị, chỉnh hợp và hoạt động đồng thời trong cùng một lần lâm phàm) là cõi của phàm ngã hoàn thiện theo nghĩa cụ thể của từ này, và từ tầm nhìn thấp. Lần lâm phàm cụ thể đó sẽ là lần mà con người đạt được sự biểu hiện đầy đủ nhất của phàm ngã mình,—hoàn hảo về thể xác, sống động về cảm xúc và vĩ đại về trí tuệ. Sau đó, bắt đầu sự chuyển dịch sang một rung động cao hơn, sự nâng lên với Chân Ngã, và sự điều hòa Phàm Ngã, hay bậc ba chính, với bậc năm chủ đạo của Chân Ngã. |
|
4—It assists in the transference of the polarisation from one of the permanent atoms of the Personality into the corresponding atom in the spiritual Triad. Later I will elucidate this further. [12] |
4—Nó hỗ trợ trong việc chuyển dịch sự phân cực từ một trong những nguyên tử trường tồn của Phàm ngã sang nguyên tử tương ứng trong Tam nguyên tinh thần. Sau này tôi sẽ làm rõ điều này hơn. [12] |
|
Hence may easily be seen the essential nature of Meditation and its wise, diligent and serious following. |
Do đó có thể dễ dàng thấy được bản chất cốt yếu của Tham thiền và việc tuân theo nó một cách khôn ngoan, siêng năng và nghiêm túc. |
|
Early in experience, after the attainment of the highest the lower nature has to offer, man begins to meditate. Disorderly at first are his attempts, and sometimes several incarnations may go by in which the Higher self only forces the man to think and seriously to meditate at rare and separated intervals. More frequently come the occasions of withdrawing within, until there arises for the man several lives given to mystic meditation and aspiration, culminating usually in a life given entirely to it. It marks the point of the highest emotional aspiration, apart from the scientific application of the law, via the mental body. These laws are those governing the true occult meditation. |
Giai đoạn đầu trong trải nghiệm, sau khi đạt được mức cao nhất mà bản chất thấp kém có thể mang lại, con người bắt đầu tham thiền. Những nỗ lực của y lúc đầu lộn xộn, và đôi khi vài kiếp sống có thể trôi qua trong đó Bản Ngã Cao Siêu chỉ buộc con người suy nghĩ và tham thiền một cách nghiêm túc vào những khoảng thời gian hiếm hoi và tách biệt. Thường xuyên hơn là những dịp rút lui vào bên trong, cho đến khi nảy sinh đối với con người một vài kiếp sống dành cho tham thiền thần bí và khát vọng, thường lên đến đỉnh điểm trong một kiếp sống hoàn toàn dành cho nó. Nó đánh dấu điểm khát vọng cảm xúc cao nhất, tách biệt khỏi việc áp dụng định luật một cách khoa học, thông qua thể trí. Những định luật này là những định luật chi phối tham thiền huyền môn chân chính. |
|
Behind each of you who are working definitely under one of the Masters, lie two lives of culmination:—the life of worldly apotheosis and the life of intensest meditation along the mystic or emotional-intuitional line. This meditative life was taken either in a monastery or nunnery in middle Europe by those linked with the Master Jesus and His disciples, or in India, Tibet or China by the pupils of the Master M. or the Master K. H. |
Đằng sau mỗi người trong các bạn đang làm việc dứt khoát dưới sự hướng dẫn của một trong các Chân sư, là hai kiếp sống tột đỉnh:—kiếp sống tôn vinh thế tục và kiếp sống tham thiền mãnh liệt nhất theo dòng thần bí hoặc cảm xúc-trực giác. Kiếp sống tham thiền này được thực hiện hoặc trong một tu viện hoặc ni viện ở trung tâm Châu Âu bởi những người liên kết với Chân sư Jesus và các đệ tử của Ngài, hoặc ở Ấn Độ, Tây Tạng hay Trung Hoa bởi các học trò của Chân sư M. hoặc Chân sư K. H. |
[13]
Commentary
|
Good morning or good early afternoon here from Finland. We have reached in our work of Letters On Occult Meditation Letter Number Two, and we’ve had so far our fifth program. We’ve had four programs and I’ve gone over quite a few interesting things, musical things that tell us something about the musical structure of the universe, and at least our local cosmos system and our solar system, and especially our planet. |
Chào buổi sáng hoặc đầu giờ chiều từ Phần Lan. Trong công việc của chúng ta về cuốn Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – Lá Thư Số Hai, chúng ta đã đạt đến chương trình thứ năm. Chúng ta đã có bốn chương trình và tôi đã điểm qua khá nhiều điều thú vị, những điều về âm nhạc cho chúng ta biết đôi chút về cấu trúc âm nhạc của vũ trụ, và ít nhất là hệ thống vũ trụ cục bộ của chúng ta cùng hệ mặt trời của chúng ta, và đặc biệt là hành tinh của chúng ta. |
|
Now, we’re ready to go on to the importance of meditation, and I’ll just get one of those little brackets in case there’s something to fill in. |
Giờ đây, chúng ta sẵn sàng tiếp tục với tầm quan trọng của việc tham thiền, và tôi sẽ chỉ mở một trong những dấu ngoặc nhỏ đó phòng khi có điều gì cần điền vào. |
|
Such a wonderful little book this is, maybe it’s not so little. It’s actually 300 pages long, and the Externalization of the Hierarchy was 701 pages long. That was a big one, and Cosmic Fire 1200 and something. We have finished with Cosmic Fire and now we’re trying to explain it a little more in depth. |
Cuốn sách nhỏ này thật tuyệt vời, có lẽ nó không quá nhỏ. Thực ra nó dài 300 trang, và cuốn Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn dài 701 trang. Đó là một cuốn sách lớn, và Lửa Vũ Trụ dài 1200 trang lẻ. Chúng ta đã hoàn thành Lửa Vũ Trụ và bây giờ chúng ta đang cố gắng giải thích nó sâu hơn một chút. |
|
Today is the 21st of July 2020, and we proceed The Importance of Meditation. Alice Bailey said so many people study but they may not learn to meditate. They ignore that, or at least don’t give it the attention they should. There’s just so many ways to meditate, but it really involves purification and the increasing of the point of tension to promote greater realization of higher states of consciousness, and also the ability to work within those higher states of consciousness, not only to receive that which they reveal, but to be able to do something with them, to help the lower worlds. So, with this importance of meditation, we’ll have a few sections. |
Hôm nay là ngày 21 tháng 7 năm 2020, và chúng ta tiến hành phần Tầm Quan Trọng của Tham Thiền. Bà Alice Bailey nói rằng rất nhiều người nghiên cứu nhưng họ có thể không học cách tham thiền. Họ lờ đi điều đó, hoặc ít nhất không dành cho nó sự chú ý cần thiết. Có quá nhiều cách để tham thiền, nhưng thực sự nó bao hàm sự thanh lọc và việc gia tăng điểm tập trung nhất tâm để thúc đẩy sự chứng nghiệm lớn hơn về các trạng thái tâm thức cao hơn, và cả khả năng làm việc bên trong các trạng thái tâm thức cao hơn đó, không chỉ để đón nhận những gì chúng tiết lộ, mà còn có thể làm điều gì đó với chúng, để giúp đỡ các cõi thấp. Vì vậy, với tầm quan trọng của việc tham thiền này, chúng ta sẽ có một vài phần. |
|
[1] |
|
|
THƯ II – TẦM QUAN TRỌNG CỦA THAM THIỀN |
|
|
l—It results in egoic contact and alignment. |
l—Nó mang lại sự tiếp xúc với chân ngã và sự chỉnh hợp. |
|
2—It brings about a state of equilibrium. |
2—Nó mang lại một trạng thái quân bình. |
|
3—It stabilises vibration. |
3—Nó ổn định rung động. |
|
4—It assists in a transference of polarisation. [9] |
4—Nó hỗ trợ sự chuyển dịch của phân cực. [9] |
|
THƯ II |
|
|
TẦM QUAN TRỌNG CỦA THAM THIỀN. |
|
|
June 3, 1920. |
Ngày 3 tháng 6 năm 1920. |
|
Let me this morning give you some more thoughts on the subject of meditation; they will bear somewhat on the matter given yesterday, and on the 16th ultimo. |
Sáng nay, tôi muốn chia sẻ với bạn thêm một vài suy nghĩ về chủ đề tham thiền; chúng sẽ liên quan phần nào đến nội dung đã đưa ra hôm qua và vào ngày 16 tháng trước. |
|
Fundamentally, meditation is to assist alignment and so permit of contact with the Higher Self; hence its institution. I would, in order duly to elucidate, take up the study of this topic under the following heads: |
Về cơ bản, tham thiền là để hỗ trợ sự chỉnh hợp và do đó cho phép tiếp xúc với Chân Ngã; vì vậy mà có sự thiết lập việc tham thiền. Để làm sáng tỏ một cách thích đáng, Tôi muốn thực hiện việc nghiên cứu chủ đề này dưới các tiêu đề sau: |
|
Number one. It results in egoic contact and alignment |
Thứ nhất, nó mang lại sự tiếp xúc với chân ngã và sự chỉnh hợp |
|
Which is, at our stage of evolution, the objective. |
Ở giai đoạn tiến hóa của chúng ta, đó là mục tiêu. |
|
2. It brings about a state of equilibrium. |
2. Nó mang lại một trạng thái quân bình. |
|
3. It stabilises vibration |
3. Nó ổn định rung động |
|
4. It assists in a transference of polarisation |
4. Nó hỗ trợ sự chuyển dịch của phân cực |
|
These will be subjects that DK will take up, and this is written or appears to be anyway within the Gemini of 1920, just about 100 years ago, a little more than a 100 years ago. |
Đây sẽ là những chủ đề mà Chân sư DK sẽ đề cập đến, và điều này được viết hoặc dường như xuất hiện trong khoảng thời gian Song Tử năm 1920, cách đây khoảng 100 năm, hơn 100 năm một chút. |
|
Now, what was it that Alice Bailey typed when she worked with the Tibetan, seven pages of single-spaced typing per session. That’s a lot. So, it’s hard to translate that into what has appeared in the books, but we have to be grateful that she could, in those days without computers, process information. |
Bà Alice Bailey đã đánh máy khi bà làm việc với Chân sư Tây Tạng, bảy trang đánh máy dòng đơn mỗi phiên làm việc. Đó là một khối lượng công việc rất lớn. Vì vậy, thật khó để chuyển ngữ điều đó thành những gì đã xuất hiện trong các cuốn sách, nhưng chúng ta phải biết ơn rằng Bà đã có thể xử lý thông tin trong những ngày tháng chưa có máy tính đó. |
|
Let me this morning give you some more thoughts on the subject of meditation; they will bear somewhat on the matter given yesterday, and on the 16th ultimo[1] |
Sáng nay, tôi muốn chia sẻ với bạn thêm một vài suy nghĩ về chủ đề tham thiền; chúng sẽ liên quan phần nào đến nội dung đã đưa ra hôm qua và vào ngày 16 tháng trước. |
|
Not quite sure what that means. Maybe it’s an obvious thing, but we’ll just have to skip over it for a minute unless that was the … Anyway, |
Không chắc lắm điều đó có nghĩa là gì. Có lẽ đó là một điều hiển nhiên, nhưng chúng ta sẽ phải bỏ qua nó trong chốc lát. |
|
Fundamentally, meditation is to assist alignment and so permit of contact with the Higher Self; |
Về cơ bản, tham thiền là để hỗ trợ sự chỉnh hợp và do đó cho phép tiếp xúc với Chân Ngã; |
|
Remember it, all begins with the attempt to achieve alignment, and in a way, the process ends with alignment, with the achieving of it, giving that clear vertical channel that allows the high to enter the low, and the low to supplicate[2] that which is higher. |
Hãy nhớ điều đó, tất cả bắt đầu bằng nỗ lực đạt được sự chỉnh hợp, và theo một cách nào đó, quá trình kết thúc bằng sự chỉnh hợp, bằng việc đạt được nó, tạo ra kênh dẫn thẳng đứng rõ ràng cho phép cái cao cả đi vào cái thấp kém, và cái thấp kém khẩn cầu cái cao cả hơn. |
|
and so permit of contact with the Higher Self; |
và do đó cho phép tiếp xúc với Chân Ngã; |
|
And by the Higher Self, He pretty much is going to mean mostly the consciousness within the causal body. But we’re also defining the Higher Self in a more appropriate manner as the Spiritual Triad. |
Với thuật ngữ Chân Ngã, Ngài hầu như muốn nói đến tâm thức bên trong thể nguyên nhân, nhưng chúng ta cũng đang định nghĩa Chân Ngã theo một cách thích hợp hơn là Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
hence its institution; |
vì vậy mà có sự thiết lập việc tham thiền; |
|
In other words, the reason that we apply it and use it. |
Nói cách khác, lý do mà chúng ta áp dụng và sử dụng nó. |
|
I would, in order duly to elucidate, take up the study of this topic under the following heads: |
Để làm sáng tỏ một cách thích đáng, Tôi muốn thực hiện việc nghiên cứu chủ đề này dưới các tiêu đề sau: |
|
and I’m just going to color this. I just like colors, and I wish I had more then I could make everything still more appropriate. Sometimes, I have to use colors in a way that is not necessarily meaningful, but just offers distinction, and sometimes they are meaningful. |
Tôi sẽ tô màu phần này. Tôi chỉ thích màu sắc, và tôi ước mình có nhiều màu hơn để tôi có thể làm cho mọi thứ phù hợp hơn nữa. Đôi khi, tôi phải sử dụng màu sắc theo cách không nhất thiết phải có ý nghĩa, mà chỉ để tạo sự khác biệt, và đôi khi chúng lại có ý nghĩa. |
|
[2] |
|
|
The Importance of Meditation. |
Tầm Quan Trọng của Tham Thiền. |
|
Points considered when assigning a Meditation. |
Các Điểm được xem xét khi chỉ định một bài Tham Thiền. |
|
The use of the Sacred Word in Meditation. |
Việc sử dụng Linh Từ trong Tham Thiền. |
|
Dangers to be avoided in Meditation. |
Những Nguy hiểm cần tránh trong Tham Thiền. |
|
The use of Form in Meditation. |
Việc sử dụng Hình Tướng trong Tham Thiền. |
|
The use of Colour and Sound in Meditation. |
Việc sử dụng Màu Sắc và Âm Thanh trong Tham Thiền. |
|
Access to the Masters through Meditation. |
Tiếp cận các Chân sư thông qua Tham Thiền. |
|
Future Schools of Meditation. |
Các Trường Tham Thiền trong Tương lai. |
|
Purification of the Vehicles. |
Sự Thanh lọc các Hiện thể. |
|
The Exoteric Life of Service. |
Đời sống Phụng sự Ngoại môn. |
|
Let us today take up the consideration of the first point:—What makes Meditation of importance? |
Hôm nay chúng ta hãy xem xét điểm đầu tiên:—Điều gì làm cho Tham Thiền trở nên quan trọng? |
|
The emphasis upon the importance of meditation follows naturally upon the realisation by the student of the absolute necessity for the domination of the Personality by the Ego. |
Việc nhấn mạnh vào tầm quan trọng của tham thiền diễn ra một cách tự nhiên sau khi người đạo sinh nhận thức được sự cần thiết tuyệt đối của việc Phàm ngã bị chế ngự bởi Chân Ngã. |
|
So under the following headings, |
Vì vậy, dưới các tiêu đề sau đây, |
|
The Importance of Meditation. |
Tầm Quan Trọng của Tham Thiền. |
|
Points considered when assigning a Meditation. |
Những Điểm cần cân nhắc khi ấn định một Bài Tham Thiền. |
|
The use of the Sacred Word in Meditation. |
Việc sử dụng Linh Từ trong Tham Thiền. |
|
Dangers to be avoided in Meditation. |
Những Hiểm nguy cần tránh trong Tham Thiền. |
|
The use of Form in Meditation. |
Việc sử dụng Hình Tướng trong Tham Thiền. |
|
The use of Colour and Sound in Meditation. |
Việc sử dụng Màu Sắc và Âm Thanh trong Tham Thiền. |
|
Access to the Masters through Meditation. |
Tiếp cận các Chân sư thông qua Tham Thiền. |
|
Future Schools of Meditation. |
Các Trường Tham Thiền Tương Lai. |
|
Purification of the Vehicles. |
Sự Thanh Luyện các Hiện Thể. |
|
The Exoteric Life of Service. |
Đời sống Phụng Sự Ngoại Môn. |
|
Really, it’s taking us all the way through the books. That’s actually what is happening here. All these subjects take us through the entire remainder. So, |
Thực sự, những chủ đề đó đưa chúng ta đi suốt qua các cuốn sách. Đó thực sự là những gì đang diễn ra ở đây. Tất cả các chủ đề này đưa chúng ta đi qua toàn bộ phần còn lại. Vì vậy, |
|
Let us today take up the consideration of the first point:—What makes Meditation of importance? |
Hôm nay chúng ta hãy xem xét điểm đầu tiên:—Điều gì làm cho Tham Thiền trở nên quan trọng? |
|
Sometimes, it really doesn’t hurt to go back to the fundamentals because it helps set more complicated matters raised later in a proper context. What makes meditation of importance? |
Đôi khi, thực ra không có hại gì khi quay trở lại những điều cơ bản bởi vì nó giúp đặt những vấn đề phức tạp hơn được nêu ra sau đó vào một bối cảnh thích hợp. Điều gì làm cho việc tham thiền trở nên quan trọng? |
|
The emphasis upon the importance of meditation follows naturally upon the realisation by the student of the absolute necessity for the domination of the Personality by the Ego |
Sự nhấn mạnh về tầm quan trọng của tham thiền diễn ra một cách tự nhiên sau khi đạo sinh chứng nghiệm được sự cần thiết tuyệt đối về việc Chân Ngã chế ngự Phàm Ngã |
|
Either by the Angel of Presence in the causal body, or by the Spiritual Triad. I suppose, really when you’re using the word Spiritual Triad it should be capitalized |
chế ngự bởi Chân ngã, hay bởi Thiên Thần của Hiện Diện trong thể nguyên nhân, hoặc bởi Tam Nguyên Tinh Thần. Khi bạn sử dụng từ Tam Nguyên Tinh Thần, nó nên được viết hoa |
|
absolute necessity for the domination of the Personality by the Ego, |
sự cần thiết tuyệt đối về việc Chân Ngã chế ngự Phàm Ngã, |
|
And if we are to achieve higher states. |
nếu chúng ta muốn đạt được các trạng thái cao hơn. |
|
[3] |
|
|
Man at this time is engaged in many pursuits and through the force of circumstances he is polarised entirely in the lower self, that polarisation being in either the emotional or mental body. One point of interest I would indicate:—as long as the polarisation is purely [10] physical or purely emotional, no need for meditation is ever felt. Even when the mental body is active, no urge arises until the man has run through many changes and many lives, has tasted the cup of pleasure and of pain through many incarnations, has sounded the depths of the life lived entirely for the lower self and found it unsatisfying. Then he begins to turn his thought to other things, to aspire to that which is unknown, to realize and sense within himself the pairs of opposites, and to contact within his consciousness possibilities and ideals undreamt of hitherto. He has come to a point where success, popularity and diverse gifts are his, and yet from their use he derives no content; always the urge within persists until the pain is so severe that the desire to reach out and up, to ascertain something and someone beyond, overcomes all obstacles. The man begins to turn within and to seek the source from whence he came. Then he begins to meditate, to ponder, to intensify vibration until in process of time he garners the fruits of meditation. |
Vào thời điểm hiện nay, con người đang dấn thân vào nhiều theo đuổi khác nhau, và do mãnh lực của hoàn cảnh, y hoàn toàn bị phân cực trong phàm ngã thấp, sự phân cực ấy nằm hoặc trong thể cảm dục, hoặc trong thể trí. Có một điểm đáng lưu ý mà tôi muốn chỉ ra: — chừng nào sự phân cực còn thuần túy [10] ở thể xác hoặc thuần túy ở thể cảm dục, thì nhu cầu tham thiền hoàn toàn không bao giờ được cảm nhận. Ngay cả khi thể trí hoạt động, vẫn không có thôi thúc nào khởi lên cho đến khi con người đã trải qua nhiều biến đổi và nhiều kiếp sống, đã nếm chén vui sướng và đau khổ qua vô số lần nhập thể, đã dò đến tận đáy của đời sống được sống hoàn toàn cho phàm ngã và nhận ra rằng điều ấy không đem lại sự thỏa mãn. Khi ấy, y bắt đầu hướng tư tưởng của mình sang những điều khác, bắt đầu khát vọng hướng đến cái chưa biết, bắt đầu nhận ra và cảm nhận bên trong chính mình các cặp đối cực, và bắt đầu tiếp xúc trong tâm thức của y những khả năng và những lý tưởng mà trước đây y chưa từng mơ tưởng. Y đã đi đến một điểm mà thành công, danh tiếng và nhiều ân huệ khác đều thuộc về y, thế nhưng từ việc sử dụng chúng, y không rút ra được chút mãn nguyện nào; luôn luôn, thôi thúc bên trong vẫn dai dẳng cho đến khi nỗi đau trở nên nghiêm trọng đến mức khát vọng vươn ra và vươn lên, khát vọng xác nhận điều gì đó và ai đó vượt ra ngoài, vượt lên trên, vượt thắng mọi chướng ngại. Con người bắt đầu quay vào nội tâm và tìm kiếm cội nguồn mà từ đó y đã đi ra. Khi ấy, y bắt đầu tham thiền, bắt đầu suy tư, bắt đầu gia tăng rung động cho đến khi, theo thời gian, y thu hoạch được những hoa trái của tham thiền. |
|
Man at this time is engaged in many pursuits and through the force of circumstances he is polarised entirely in the lower self, that polarisation being in either the emotional or mental body. |
Vào thời điểm hiện nay, con người đang dấn thân vào nhiều theo đuổi khác nhau, và do mãnh lực của hoàn cảnh, y hoàn toàn bị phân cực trong phàm ngã thấp, sự phân cực ấy nằm hoặc trong thể cảm dục, hoặc trong thể trí. |
|
And is this polarization in the mental body? Or at this stage is it the focus, because polarization, as he is telling us when He’s describing the sixth initiation in the Rays and the Initiations, occurs at the midway point between the second and third initiations[3]. So, by that time, a human being would not be entirely polarized in the lower self. There would be a partial polarization within the soul, and the ability to register streams of energy from the causal body |
Có phải đây là sự phân cực trong thể trí, hay chỉ là sự tập trung ở thể trí, bởi vì, như Ngài nói với chúng ta khi mô tả cuộc điểm đạo thứ sáu trong quyển Các Cung và các cuộc Điểm Đạo, sự phân cực trí tuệ chỉ xảy ra tại điểm giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba. Vì vậy, đến lúc đó, con người sẽ không hoàn toàn bị phân cực trong phàm ngã. Sẽ có một sự phân cực một phần bên trong linh hồn, và khả năng ghi nhận các dòng năng lượng từ thể nguyên nhân |
|
One point of interest I would indicate:—as long as the polarisation is purely physical or purely emotional, no need for meditation is ever felt, |
Tôi muốn chỉ ra một điểm đáng quan tâm:—chừng nào sự phân cực còn hoàn toàn thuộc về hồng trần hoặc hoàn toàn thuộc về cảm dục, thì nhu cầu tham thiền chưa bao giờ được cảm thấy, |
|
And that can still be even in the Hall of Ignorance because the ignorance is of the higher of the pairs of opposites. It doesn’t mean you don’t have a mind that can be used. So, |
Và điều đó vẫn có thể diễn ra ngay cả trong Phòng Vô Minh, bởi vì sự vô minh là vô minh về cái cao hơn của các cặp đối nghịch. Nó không có nghĩa là bạn không có một trí tuệ có thể sử dụng được. Vì vậy, |
|
Even when the mental body is active, no urge arises until the man has run through many changes and many lives, has tasted the cup of pleasure and of pain through many incarnations, |
Ngay cả khi thể trí đang hoạt động, không có sự thôi thúc nào nảy sinh cho đến khi con người đã trải qua nhiều thay đổi và nhiều kiếp sống, đã nếm trải chén của vui sướng và của đau khổ qua nhiều kiếp lâm phàm, |
|
Kind of idea of having to confront experience through the symbol of the cup, the finality of it being, at least for a human being, the cup of Karma. |
Điều này nghĩa là việc phải đối mặt với trải nghiệm thông qua biểu tượng chiếc chén, điểm cuối cùng của nó, ít nhất là đối với một con người, là chén Nghiệp quả. |
|
has sounded the depths of the life lived entirely for the lower self and found it unsatisfying. |
đã dò đến tận đáy của cuộc sống sống hoàn toàn vì phàm ngã và thấy nó không thỏa mãn. |
|
I’m sure this is somewhat the case with a number of us. I’ve sometimes stated and restated that madame Blavatsky said that for some Theosophy is their last hope. |
Tôi chắc chắn điều này phần nào đúng với một số người trong chúng ta. Đôi khi tôi đã nói và lặp lại rằng, bà Blavatsky đã nói, đối với một số người, Thông Thiên Học là niềm hy vọng cuối cùng của họ. |
|
Then he begins to turn his thought to other things, to aspire to that which is unknown, to realize and sense within himself the pairs of opposites, |
Khi đó y bắt đầu hướng tư tưởng của mình sang những điều khác, khát vọng tới cái chưa biết, chứng nghiệm và cảm nhận bên trong bản thân mình các cặp đối nghịch, |
|
Higher and lower self |
Chân ngã và phàm ngã |
|
and to contact within his consciousness possibilities and ideals undreamt of hitherto. |
và để tiếp xúc bên trong tâm thức y những khả năng và lý tưởng chưa từng mơ tới cho đến nay. |
|
I want to bring that out a bit to emphasize that. We don’t, most of us, don’t remember our many lives, and maybe some are just not worth remembering, maybe they contributed very little to the values content of the causal body. But we all have tasted of the cup of pleasure and pain, and we all have lived for the personality. And around us, we see those who still are, and we would say, “Wake up, and don’t live only for the lower self or personality”. But we find that they must, just as we have had to do, because it’s only when you sound the depths for yourself, that you’re ready to move on. If you’re forced to move on, then there’ll always be that nostalgia or that feeling of what if I had engaged still more in the other kind of life. |
[Tôi muốn highlight đoạn văn đó một chút để nhấn mạnh]. Hầu hết chúng ta không nhớ được nhiều kiếp sống của mình, và có lẽ một số kiếp không đáng nhớ, có lẽ chúng đóng góp rất ít vào nội dung giá trị của thể nguyên nhân. Nhưng tất cả chúng ta đều đã nếm trải chén vui sướng và đau khổ, và tất cả chúng ta đều đã sống cho phàm ngã. Xung quanh chúng ta hiện nay, chúng ta thấy những người vẫn đang như vậy, và chúng ta sẽ nói, “Hãy tỉnh dậy, và đừng chỉ sống cho phàm nhân hay phàm ngã”. Nhưng chúng ta thấy rằng họ phải làm thế, cũng như chúng ta đã từng phải làm thế, bởi vì chỉ khi bạn tự mình chạm đến tận cùng của chiều sâu, bạn mới sẵn sàng để bước tiếp. Nếu bạn bị ép buộc phải bước tiếp, thì sẽ luôn có nỗi luyến tiếc hoặc cảm giác rằng chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi đã tham gia nhiều hơn nữa vào loại cuộc sống kia. |
|
So, we can force up to a point, and especially when the times and the cycles make energy availability to promote the forcing a more doable[4] process. And then, maybe such is the case now, because the energies available are tremendous and the obstacles are there too. But I’m sure that we wouldn’t be reading the Tibetan and with any degree of deep attention unless we were aspiring to that which is unknown and had the sense of the Higher Self within ourselves, or the Higher Power as they call it, |
Vì vậy, chúng ta có thể thúc ép đến một mức độ nào đó, và đặc biệt là khi thời thế và các chu kỳ làm cho năng lượng sẵn có để thúc đẩy việc ép buộc trở thành một quy trình khả thi hơn. Và sau đó, có lẽ như hiện nay, bởi vì các năng lượng sẵn có rất to lớn và các trở ngại cũng ở đó. Nhưng tôi chắc chắn rằng chúng ta sẽ không đọc sách của Chân sư DK với bất kỳ mức độ chú tâm sâu sắc nào trừ khi chúng ta đang hướng đến điều gì đó chưa biết đến, bắt đầu có ý thức về Chân Ngã bên trong chính mình, hoặc là Quyền Năng Cao Cả, như cách con người. |
|
and to contact within his consciousness possibilities and ideals undreamt of hitherto. |
và để tiếp xúc bên trong tâm thức y những khả năng và lý tưởng chưa từng mơ tới cho đến nay. |
|
The Spirit always wants to move on until it re-identifies with Itself, Itself really being everything. |
Tinh thần luôn muốn bước tiếp cho đến khi nó tái đồng hóa với Chính Nó, Chính Nó thực sự là tất cả… |
|
He has come to a point where success, popularity and diverse gifts are his, |
Y đã đi đến một điểm mà thành công, danh tiếng và nhiều ân huệ khác đều thuộc về y, |
|
Maybe something like that apotheosis of the personality per se, |
Có lẽ giống như cực điểm tôn vinh của chính phàm ngã, |
|
and yet from their use he derives no content; |
thế nhưng từ việc sử dụng chúng, y không rút ra được chút mãn nguyện nào; |
|
As sometimes we see these cases of people who achieve what to them looked like the pinnacle of success, and they “Have it all” and then they commit suicide, because they’re in such despair, with that mantram, ‘Is that all there is to this? Is this all?’[5], and they don’t realize there are ways for them to go ahead |
Đôi khi, chúng ta thấy những trường hợp của những người đạt được điều mà đối với họ trông như là đỉnh cao của thành công, và họ “có tất cả”, rồi sau đó lại tự sát, bởi vì họ ở trong một trạng thái tuyệt vọng sâu sắc, với mantram ấy: “Chỉ có thế thôi sao? Chỉ có vậy thôi sao?”, và họ không nhận ra rằng vẫn còn những con đường để họ tiếp tục tiến lên. |
|
always the urge within persists until the pain is so severe that the desire to reach out and up, |
luôn luôn sự thôi thúc bên trong vẫn kiên trì cho đến khi nỗi đau trở nên nghiêm trọng đến mức mong muốn vươn ra và vươn lên, |
|
As master Morya says, you’re often surrounded by evil, and maybe you can break through it, but the only way is up or the likely way. |
Như Chân sư Morya đã nói, thường thì các bạn bị bao quanh bởi cái ác, và có thể các bạn sẽ xuyên phá được nó, nhưng con đường duy nhất là đi lên, hay ít nhất cũng là con đường có nhiều khả năng nhất. |
|
to ascertain something and someone beyond, overcomes all obstacles. |
khát vọng xác nhận điều gì đó và ai đó vượt ra ngoài, vượt lên trên, vượt thắng mọi chướng ngại. |
|
So, always. Yeah, |
Vâng, luôn luôn là thế. |
|
He has come to a point where success, popularity and diverse gifts are his, and yet from their use he derives no content; always the urge within persists until the pain is so severe that the desire to reach out and up, to ascertain something and someone beyond, overcomes all obstacles. |
Y đã đi đến một điểm mà thành công, danh tiếng và nhiều ân huệ khác đều thuộc về y, thế nhưng từ việc sử dụng chúng, y không rút ra được chút mãn nguyện nào; luôn luôn, thôi thúc bên trong vẫn dai dẳng cho đến khi nỗi đau trở nên nghiêm trọng đến mức khát vọng vươn ra và vươn lên, khát vọng xác nhận điều gì đó và ai đó vượt ra ngoài, vượt lên trên, vượt thắng mọi chướng ngại. |
|
I think, it’s true for everybody, and sometimes I think it’s especially true for the second ray type. If you turn to Esoteric Psychology Volume I, around page 203, there it is. |
Tôi nghĩ, điều đó đúng với tất cả mọi người, và đôi khi tôi nghĩ nó đặc biệt đúng với người cung hai. Nếu các bạn giở quyển Tâm Lý Học Nội Môn Tập I, khoảng trang 203, và đọc ở đó. |
|
The student on this ray is ever unsatisfied with his highest attainments; no matter how great his knowledge, his mind is still fixed on the unknown, the beyond, and on the heights as yet unscaled. |
Môn sinh thuộc cung này luôn không thỏa mãn với những thành tựu cao nhất của mình; bất kể kiến thức của y vĩ đại đến đâu, tâm trí y vẫn gắn chặt vào điều chưa biết, vào cái ở bên kia, và vào những đỉnh cao chưa từng được chinh phục. |
|
So that fits, doesn’t it? It fits very much, and that’s page 203 of Esoteric Psychology volume one. |
Vì vậy, điều đó rất phù hợp, phải không? Nó rất phù hợp, và đó là trang 203 của cuốn Tâm Lý Học Nội Môn tập một. |
|
The man begins to turn within and to seek the source from whence he came. |
Con người bắt đầu hướng vào bên trong và tìm kiếm nguồn cội từ đó y đến. |
|
This is the true spiritual introversion, not some unhealthy introverted attitude which does not allow you to make contact meaningfully with others. |
Đây là sự hướng nội tinh thần chân chính, không phải một thái độ hướng nội bệnh hoạn nào đó không cho phép bạn tiếp xúc một cách đầy ý nghĩa với những người khác. |
|
Then he begins to meditate, to ponder, to intensify vibration until in process of time he garners the fruits of meditation |
Sau đó y bắt đầu tham thiền, suy ngẫm, gia tăng rung động cho đến khi theo thời gian, y gặt hái những hoa trái của việc tham thiền |
|
And may it be so for each and every one of us. |
Và mong rằng điều đó sẽ như vậy đối với mỗi người và mọi người trong chúng ta. |
|
[4] |
|
|
Four things meditation does:— |
Bốn điều mà tham thiền thực hiện: |
|
l—It enables a man to contact the Ego and to align the three lower bodies. |
l—Nó cho phép một người tiếp xúc với Chân Ngã và chỉnh hợp ba thể thấp. |
|
2—It puts a man into an attitude of equilibrium, neither utterly receptive and negative, nor utterly positive, but at the point of balance. Thus is afforded opportunity to the Ego, and later to the Master, to disturb that equilibrium and tune the quiescent vibration to a higher note than heretofore; to cause the consciousness to vibrate to a newer and higher measure, and to swing (if so I may express it) into the periphery of the threefold Spirit. By the constant practice of this, the whole point of equilibrium is gradually shifted higher and higher, until the time comes when the lower point of [11] attraction in the swinging and adjustment, is not the physical, touches not the emotional, contacts not the mental (the causal body even escaping) and the man is polarised in the spiritual consciousness from thenceforth. |
2—Nó đưa một người vào một thái độ thăng bằng, không hoàn toàn thụ động và tiêu cực, cũng không hoàn toàn tích cực, mà ở tại điểm cân bằng. Do đó tạo cơ hội cho Chân Ngã, và sau đó là Chân sư, phá vỡ sự cân bằng đó và điều chỉnh rung động tĩnh lặng sang một nốt cao hơn trước đây; làm cho tâm thức rung động theo một nhịp điệu mới hơn và cao hơn, và xoay chuyển (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) vào chu vi của Tinh thần tam phân. Bằng việc thực hành liên tục điều này, toàn bộ điểm cân bằng dần dần được chuyển lên cao hơn và cao hơn, cho đến khi thời điểm đến khi điểm [11] thu hút thấp hơn trong sự dao động và điều chỉnh, không phải là thể xác, không chạm đến thể cảm dục, không tiếp xúc với thể trí (thậm chí thể nguyên nhân cũng thoát khỏi) và con người được phân cực trong tâm thức tinh thần từ đó trở đi. |
|
Four things meditation does |
Bốn điều mà việc tham thiền thực hiện |
|
If we have this really healthy respect for meditation, and we know what it really is from the occult perspective, we are going to garner the fruits of meditation. If we choose some method that is not sanctioned by the Hierarchy, we’ll find ourselves simply getting into trouble. |
Nếu chúng ta thực sự có sự tôn trọng lành mạnh này đối với việc tham thiền, và chúng ta biết nó thực sự là gì từ quan điểm huyền bí, chúng ta sẽ gặt hái được những hoa trái của việc tham thiền. Nếu chúng ta chọn một phương pháp nào đó không được Thánh Đoàn chấp thuận, chúng ta sẽ thấy mình đơn giản là gặp rắc rối. |
|
Number one. It enables a man to contact the Ego and to align the three lower bodies |
Trước tiên, nó cho phép một người tiếp xúc với Chân Ngã và chỉnh hợp ba thể thấp |
|
So, the beauties of the higher world can come through. Yes, that’s one thing. It does, and as we have been discussing, we are so often out of alignment, one or other of our bodies may be out of alignment, and the whole of the personality nature unfortunately out of alignment with the higher self or with the energies within the causal body. |
Nhờ vậy, những vẻ đẹp của thế giới cao cả có thể tuôn chảy qua. Điều đó quả thật vậy, và như chúng ta đã bàn luận, chúng ta thường xuyên bị mất chỉnh hợp, thể này hay thể khác của chúng ta có thể bị mất chỉnh hợp, và thật không may, toàn bộ bản chất phàm ngã bị mất chỉnh hợp với chân ngã hay với các năng lượng bên trong thể nguyên nhân. |
|
2. It puts a man into an attitude of equilibrium, neither utterly receptive and negative, nor utterly positive, but at the point of balance. |
2. Nó đặt con người vào một thái độ thăng bằng, không hoàn toàn thụ nhận và tiêu cực, cũng không hoàn toàn tích cực, mà ở tại điểm cân bằng. |
|
And obviously the signed Libra is involved, and it will have its effect at the first initiation bringing about this equilibrium and some kind of increasing balance between the sacral center and the throat center. It will also operate at the second initiation, bringing a degree of serenity and tranquility to the versatile psychic nature, and especially in the area of glamour which is the emotional plane, and maybe a balanced, more balanced state of mind, especially as we approach the third initiation. We can see, and I dealt with this in in my book on the Egoic Lotus, that every sign can have its contribution to a particular developmental phase leading towards initiation, |
Và hiển nhiên là dấu hiệu Thiên Bình có liên quan, và nó sẽ phát huy tác dụng của mình ở lần điểm đạo thứ nhất, mang lại sự quân bình này và một dạng cân bằng ngày càng gia tăng giữa luân xa xương cùng và luân xa cổ họng. Nó cũng sẽ hoạt động ở lần điểm đạo thứ hai, đem lại một mức độ điềm tĩnh và an hòa cho bản chất thông linh linh hoạt, đặc biệt là trong lĩnh vực ảo cảm vốn thuộc cõi cảm dục, và có lẽ là một trạng thái trí tuệ được quân bình hơn — đặc biệt khi chúng ta tiến gần đến lần điểm đạo thứ ba. Chúng ta có thể thấy, và tôi đã bàn đến điều này trong cuốn sách của tôi về Hoa Sen Chân Ngã, rằng mỗi dấu hiệu đều có thể đóng góp phần của mình vào một giai đoạn phát triển cụ thể dẫn tới điểm đạo. |
|
Thus is afforded opportunity to the Ego, and later to the Master, to disturb that equilibrium |
Do đó, cơ hội được tạo ra cho Chân Ngã, và sau này là cho Chân sư, để khuấy động sự thăng bằng đó |
|
when Mars and Scorpio intervene |
khi Sao Hỏa và Hổ Cáp can thiệp |
|
and tune the quiescent vibration to a higher note than heretofore; to cause the consciousness to vibrate to a newer and higher measure, and to swing (if so I may express it) into the periphery of the threefold Spirit. |
và điều chỉnh rung động đang tĩnh lặng lên một âm điệu cao hơn trước đây; làm cho tâm thức rung động theo một cung bậc mới mẻ hơn và cao hơn, và đu đưa (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) vào chu vi của Tinh thần tam phân. |
|
Which we can consider related to the Spiritual Triad and especially to the Monad. The Monad really is the threefold Spirit, and you can see Will – Wisdom and Activity are the keys there. |
Cái mà chúng ta có thể coi là liên quan đến Tam Nguyên Tinh Thần và đặc biệt là với Chân Thần. Chân Thần thực sự là Tinh thần tam phân, và các bạn có thể thấy Ý Chí – Minh Triết và Hoạt Động là những chìa khóa ở đó. |
|
So, we can never uphold this peaceful harmonious, rather pleasant equilibrium for long, or we just won’t move on. We have to stabilize the equilibrium, use it as a foundational plateau for further attainment, and then go through the pain of disturbance, either from the Ego or from our own inner longing for still higher experiences of release into more spiritual revelations and possibilities of enactment. We can do more from the higher planes. |
Vì vậy, chúng ta không bao giờ có thể duy trì sự thăng bằng hài hòa, khá dễ chịu này lâu dài, nếu không chúng ta sẽ không bước tiếp. Chúng ta phải ổn định trạng thái cân bằng, sử dụng nó như một nền tảng cơ bản cho những thành tựu xa hơn, và sau đó trải qua nỗi đau của sự xáo trộn, dù là từ chân ngã hay từ sự khao khát nội tại của chính chúng ta đối với những trải nghiệm cao siêu hơn về sự giải thoát vào các mặc khải tinh thần và khả năng thực hiện nhiều hơn. Chúng ta có thể làm được nhiều việc hơn từ các cõi cao. |
|
So, a newer and higher measure, if we ever stop wanting that, then we have stagnated, and it’s bad, and just as bad as the religious dogmas that think they are the last word in the revelation. Of course, when something about spiritual occultism, it is almost comical[6] to think in that way if it weren’t so terribly destructive. You fight and you kill others over the fact that they want to move farther than you are willing to move, and you put down an obstructive wall against the further possibility of growth. And dogma tends to do that, whether we’re talking about here in the West, the dogma of Christianity, or of Islam, maybe Judaism to a certain extent, but that has to be relinquished as soon as human beings relinquish their fear of the Light, their fear of further expansive possibilities, their suppression of the sublime and more insidiously their repression[7], unconscious suppression, their repression of the sublime. It’s amazing. We may think we long for the light and deep down we do, but there’s so much about our personal attitudes that recoils from the Light and delays the day when we can benefit from the greater light, delays the day when ‘in that Light we shall see Light’ |
Vì vậy, nếu chúng ta ngừng mong muốn một cung bậc mới mẻ hơn và cao hơn thì chúng ta đã trì trệ, và điều đó thật tệ, tồi tệ giống như các giáo điều tôn giáo vốn cho rằng các giáo điều đó là lời cuối cùng của sự mặc khải. Dĩ nhiên, khi các bạn biết chút ít về huyền bí học tinh thần, các bạn sẽ biết rằng thật nực cười khi suy nghĩ theo cách đó, nếu điều đó không quá mang tính hủy diệt. Bạn chiến đấu và bạn giết người khác vì thực tế là họ muốn tiến xa hơn mức bạn sẵn sàng di chuyển, và bạn dựng lên một bức tường cản trở chống lại khả năng phát triển xa hơn. Và giáo điều có xu hướng làm điều đó, cho dù chúng ta đang nói về ở đây tại phương Tây, giáo điều của Thiên Chúa giáo, hay của Hồi giáo, có lẽ Do Thái giáo ở một mức độ nào đó, nhưng điều đó phải được buông bỏ ngay khi con người buông bỏ nỗi sợ hãi Ánh Sáng của họ, nỗi sợ hãi về những khả năng mở rộng xa hơn, sự đè nén của họ đối với điều cao cả, và thâm độc hơn là sự dồn nén, sự đè nén vô thức, sự dồn nén của họ đối với điều cao cả. Thật đáng kinh ngạc. Chúng ta có thể nghĩ rằng mình khao khát ánh sáng và trong thâm tâm thì đúng là như vậy, nhưng có quá nhiều điều về thái độ cá nhân của chúng ta chùn bước trước Ánh Sáng và làm chậm trễ cái ngày mà chúng ta có thể hưởng lợi từ ánh sáng vĩ đại hơn, làm chậm trễ cái ngày khi ‘trong Ánh Sáng đó chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng’ |
|
By the constant practice of this, the whole point of equilibrium is gradually shifted higher and higher, |
Bằng việc thực hành liên tục điều này, toàn bộ điểm cân bằng dần dần được chuyển dịch ngày càng cao hơn, |
|
and I call that in a way, the point of tension being shifted higher and higher, and I think I’ll put it down, |
Và tôi gọi đó là điểm tập trung nhất tâm đang được chuyển dịch ngày càng cao hơn, và tôi sẽ ghi nó xuống đây, |
|
{equivalent to the point of tension being shifted higher}. |
{tương đương với điểm tập trung nhất tâm được chuyển dịch lên cao hơn}. |
|
until the time comes when the lower point of [Page 11] attraction in the swinging and adjustment, is not the physical, touches not the emotional, contacts not the mental (the causal body even escaping) and the man is polarised in the spiritual consciousness from thenceforth. |
cho đến khi điểm thu hút thấp hơn trong sự dao động và điều chỉnh không phải là thể xác, không chạm đến thể cảm dục, không tiếp xúc với thể trí (ngay cả thể nguyên nhân cũng thoát khỏi) và con người được phân cực trong tâm thức tinh thần từ đó trở đi. |
|
As the Masters polarized in the Spiritual Triad. |
Như các Chân sư phân cực trong Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
So, the point of equilibrium then rests in the spiritual state, and when we become the Chohan of the sixth degree, it abides in the Monadic state. There’s always a range above and below. You can aspire above, you can reach down and still assist below the point of equilibrium. We may have a customary point of tension, and for the masters it is within the Spiritual Triad, Buddhi and Atma. For every attainment of a new degree of initiation, that point of tension, that point of equilibrium, relocates itself in a higher vibrational state. So, point of tension equals point of equilibrium, |
Vì vậy, điểm quân bình sau đó nằm ở trạng thái tinh thần, và khi chúng ta trở thành vị Chohan ở cấp bậc thứ sáu, nó an trụ trong trạng thái Chân thần. Luôn luôn có một phạm vi bên trên và bên dưới. Bạn có thể khát vọng vươn lên trên, bạn có thể với xuống và vẫn hỗ trợ bên dưới điểm quân bình. Chúng ta có thể có một điểm tập trung nhất tâm thường xuyên, và đối với các Chân sư, điểm đó nằm trong Tam Nguyên Tinh Thần, Bồ đề và Atma. Mỗi lần đạt được một cấp bậc điểm đạo mới, điểm tập trung nhất tâm đó, điểm quân bình đó, tự tái định vị ở một trạng thái rung động cao hơn. Vì vậy, điểm tập trung nhất tâm bằng điểm quân bình, |
|
Point of tension = Point of equilibrium. |
Điểm tập trung nhất tâm = Điểm quân bình. |
|
The whole question about what is a point? Oh, it is a mystery, it is and yet it is not. It has no dimension and yet it is, and eventually in absoluteness, it is not. |
Toàn bộ câu hỏi về điểm là gì? Vâng, đó là một bí nhiệm, nó hiện hữu nhưng lại không hiện hữu. Nó không có kích thước nhưng lại hiện hữu, và rốt cuộc trong tính tuyệt đối, nó không hiện hữu. |
|
Anyway, higher and higher and polarizing after the destruction of the causal body onto or within the buddhic plane, no longer a point of tension or a point of equilibrium, even on the higher mental plane, and this is something to which we can look forward because obviously we’re not there yet. |
Dù sao đi nữa, càng lúc càng cao hơn và phân cực sau khi sự hủy hoại thể nguyên nhân diễn ra trên hoặc bên trong cõi bồ đề, không còn là một điểm tập trung nhất tâm hay một điểm cân bằng ngay cả trên cõi thượng trí, và đây là điều mà chúng ta có thể mong đợi vì hiển nhiên chúng ta vẫn chưa đạt đến đó. |
|
[5] |
|
|
This marks the fourth Initiation; after that Initiation, the Adept makes for Himself a body of manifestation, a free creation,—there is nothing in Him to call into objectivity a body for use in the three worlds and evolved under the Law of Causes. |
Điều này đánh dấu lần Điểm đạo thứ tư; sau lần Điểm đạo đó, Chân sư tạo cho Chính Ngài một thể biểu hiện, một sự sáng tạo tự do,—không có gì trong Ngài gọi ra tính khách quan một thể để sử dụng trong ba cõi giới và được phát triển theo Luật Nhân Quả. |
|
3—It stabilises the lower vibrations on the subplanes of the emotional and mental planes. It commences the work of attuning the self to the vibration of the third subplane on each of the three lower planes, until that subplane is dominated. The second subplane is then the next to be synchronised. |
3—Nó ổn định các rung động thấp hơn trên các cõi phụ của cõi cảm dục và cõi trí. Nó bắt đầu công việc điều chỉnh bản ngã theo rung động của cõi phụ thứ ba trên mỗi một trong ba cõi thấp, cho đến khi cõi phụ đó bị chi phối. Cõi phụ thứ hai sau đó là cõi tiếp theo được đồng bộ hóa. |
|
A man reaches the point of personality attainment in this cycle when he has the capacity to vibrate and move consciously on the fourth subplane. We might term the fourth subplane on the physical, emotional and mental planes (when dominated, aligned and functioning simultaneously in the same incarnation) the plane of perfected personality in the concrete sense of the word, and from the lower vision. That particular incarnation will be one in which the man achieves the fullest expression of his lower self,—physically perfect, emotionally vibrant, and mentally colossal. Then succeeding that, begins the transference to a higher vibration, the keying up to the Higher Self, and the attuning of the Personality, or the major third, to the dominant fifth of the Ego. |
Một người đạt đến điểm thành tựu phàm ngã trong chu kỳ này khi y có khả năng rung động và di chuyển một cách có ý thức trên cõi phụ thứ tư. Chúng ta có thể gọi cõi phụ thứ tư trên các cõi hồng trần, cảm dục và trí tuệ (khi bị chi phối, được chỉnh hợp và hoạt động đồng thời trong cùng một kiếp sống) là cõi của phàm ngã hoàn hảo theo nghĩa cụ thể của từ này, và từ tầm nhìn thấp hơn. Kiếp sống cụ thể đó sẽ là kiếp sống mà trong đó con người đạt được sự biểu hiện đầy đủ nhất của cái ngã thấp của mình,—hoàn hảo về thể chất, rực rỡ về cảm xúc, và khổng lồ về trí tuệ. Sau đó tiếp theo đó, bắt đầu sự chuyển dịch sang một rung động cao hơn, sự điều chỉnh lên Cái Ngã Cao Cả, và việc điều chỉnh Phàm ngã, hay quãng ba trưởng, theo quãng năm át của Chân Ngã. |
|
This marks the fourth Initiation; after that Initiation, the Adept |
Điều này đánh dấu lần điểm đạo thứ tư; sau cuộc Điểm đạo đó, vị Chân sư |
|
usually it’s a term for the fifth initiation |
thường đây là thuật ngữ chỉ lần điểm đạo thứ năm |
|
makes for Himself a body of manifestation, a free creation,—there is nothing in Him to call into objectivity a body for use in the three worlds and evolved under the Law of Causes. |
tự tạo cho Ngài một cơ thể biểu hiện, một sự sáng tạo tự do,— trong Ngài không có gì khiến phải dùng một thể trong tam giới và phát triển theo Luật Nhân quả. |
|
We might say, a normally created personality vehicle, nothing like that, calls to him, and so he instead, as you well know, he creates a mayavirupa, a vehicle of maya, but one that is definitely tangible. It reminds one of sort of doubting Thomas, I guess he had a lot of fifth ray, and the Christ, I suspect using the resurrected body of Jesus, but a body that seems to have had extra quality. He asked Thomas to put his finger within the wound, and it was a tangibility which Thomas could relate to. But we have to be grateful for these fifth ray people because they avoid the inaccuracies of the scholastic type who may just sit and dream things up, based on what he considers to be a higher perspective, but which is not correlated with the testimony of the senses which have to be used to check the accuracy of the hypotheses. And as matter of fact, they go beyond hypothesis all together, and just deductively declare. I’m speaking now of the scholastics or some philosophers deductively declare that this is so just because they’ve fought it up. I know what it is to be that type, and I also know the patience it might take to regulate that speculation with the proof the testimony of that which the senses actually reveal. |
Chúng ta có thể nói rằng đó là một phàm ngã được tạo ra theo cách thông thường. Không có gì giống như thế thúc giục Ngài, và thay vào đó, như các bạn đều biết, Ngài tạo ra một mayavirupa, một hiện thể của ảo lực, nhưng là một hiện thể hoàn toàn hữu hình. Điều này gợi nhớ đến sự nghi ngờ của Thomas—tôi đoán Thomas mang nhiều tính chất cung năm—và Đức Christ, tôi ngờ rằng đã sử dụng cơ thể phục sinh của Đức Jesus, nhưng là một cơ thể dường như có phẩm tính vượt trội. Ngài bảo Thomas đặt ngón tay vào vết thương, và đó là một sự hữu hình mà Thomas có thể tiếp xúc được. Nhưng chúng ta phải biết ơn những người cung năm này bởi vì họ tránh được những sự không chính xác của kiểu người kinh viện, những kẻ có thể chỉ ngồi và mơ mộng đủ điều, dựa trên những gì y coi là một quan điểm cao hơn, nhưng lại không phù hợp với bằng chứng của các giác quan vốn phải được sử dụng để kiểm chứng độ chính xác của các giả thuyết. Và thực tế là, những người đó hoàn toàn vượt ra ngoài giả thuyết và chỉ tuyên bố theo lối suy diễn. Tôi đang nói về những nhà kinh viện hay một số triết gia tuyên bố theo lối suy diễn rằng điều này là như vậy chỉ vì họ đã nghĩ ra nó. Tôi biết việc thuộc kiểu người đó là như thế nào, và tôi cũng biết sự kiên nhẫn cần thiết để điều chỉnh sự suy đoán đó bằng bằng chứng xác thực của những gì mà các giác quan thực sự tiết lộ. |
|
So, a body of manifestation comes about either by normal natural means or through the power of kriya shakti which I think is pertaining to the higher, to the monadic plane, a siddhi pertaining to the monadic plane, and let’s see if I do this and succeed. I don’t know if I will succeed here. |
Vì vậy, một cơ thể biểu hiện xuất hiện hoặc bằng các phương tiện tự nhiên thông thường hoặc thông qua quyền năng của kriya shakti mà tôi nghĩ là thuộc về cõi cao hơn, cõi chân thần, một siddhi thuộc về cõi chân thần. Hãy xem liệu tôi có làm điều này và thành công hay không. Tôi không biết liệu mình có thành công ở đây không. |

|
We have diagrams and these are the AAB diagrams, and let’s look at this, the liberated creative hierarchies, and I’m going to get a couple more for us… |
Chúng ta có các biểu đồ và đây là các biểu đồ của AAB, và chúng ta hãy xem xét điều này: các huyền giai sáng tạo đã được giải thoát, và tôi sẽ lấy thêm một vài cái nữa cho chúng ta… |
|
Here we have a place called Materializing the ideal. It is kind of the source of the shakti called kriya, and from here comes the power under Virgo interestingly to materialize the ideal form which is the mayavirupa. The Tibetan is not working through a mayavic rupa. He wasn’t. I don’t know about now, a mayavirupa, but master KH and master Morya are. |
Tại đây chúng ta có một nơi gọi là Hiện thực hóa lý tưởng. Đó là nguồn gốc của quyền năng được gọi là kriya, và điều thú vị là từ đây xuất phát quyền năng dưới chòm sao Xử Nữ để hiện thực hóa hình tướng lý tưởng, vốn là mayavirupa. Chân sư Tây Tạng không làm việc thông qua một Mayavi rupa. Ngài đã không dùng nó. Tôi không biết hiện tại thì sao, nhưng Chân sư KH và Chân sư Morya thì có. |
|
So, beyond a certain point, nothing calls to the high initiate, nothing in the lower world calls them in via desire. They simply materialize for the sake of service, materialize a vehicle that they can use, and which is, in every respect, usually identical to the one in which they have taken the fifth initiation if they have taken the fifth initiation in a normally generated vehicle. All of these shaktis are powers, and you can see them all the way down, from the topmost level of the cosmic physical, parashakti plane seven, six kriyashakti; plane five jnanashakti, that’s the shakti of mind; mantrikashakti the shakti of the word on the buddhic plane; and Ichchhashakti. I don’t know how to pronounce that exactly, it pertains to the mental plane, the will to manifest; the jnanashakti pertains to a kind of mental plane because the atmic plane is a kind of mental plane within the cosmic ethers; and then kundalinishakti having to do with the astral plane and the lunar lords, and then the inert baskets of nourishment and apparently no shaktis are connected with that level. They are the elemental lives, the baskets of nourishment, the blinded lives. They are moved about rather than impelling the movement. Just a little digression there… |
Vì vậy, vượt quá một điểm nhất định, không có gì thúc giục vị điểm đạo đồ cao cấp, không có gì trong cõi thấp thúc giục các Ngài đi vào lâm phàm thông qua dục vọng. Các Ngài đơn giản là hiện hình vì mục đích phụng sự, hiện hình ra một vận cụ mà các Ngài có thể sử dụng, và vận cụ đó, trên mọi phương diện, thường giống hệt với vận cụ mà trong đó các Ngài đã nhận lần điểm đạo thứ năm, nếu các Ngài đã nhận lần điểm đạo thứ năm trong một vận cụ được sinh ra một cách bình thường. Tất cả các shakti này đều là những quyền năng, và các bạn có thể thấy chúng dọc suốt xuống dưới, từ cấp độ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ, parashakti cõi thứ bảy, cõi thứ sáu kriyashakti; cõi thứ năm jnanashakti, đó là shakti của trí tuệ; mantrikashakti shakti của linh từ trên cõi bồ đề; và Ichchhashakti—tôi không biết phát âm từ đó chính xác như thế nào—nó thuộc về cõi trí, ý chí biểu hiện; jnanashakti thuộc về một loại cõi trí bởi vì cõi atma là một loại cõi trí bên trong các cõi dĩ thái vũ trụ; và sau đó là kundalinishakti liên quan đến cõi cảm dục và các nguyệt tinh quân, và tiếp đó là những giỏ dưỡng chất trơ ỳ và dường như không có shakti nào kết nối với cấp độ đó. Chúng là các sự sống hành khí, những giỏ dưỡng chất, những sự sống mù quáng. Chúng bị di chuyển thay vì thúc đẩy chuyển động. Đây chỉ là một chút lạc đề… |
|
And so, the fourth initiation and after that, if one becomes an adept—and I think it’s possible even as an arhat—to make a body of manifestation, a free creation, and there’s nothing to call him into objectivity. There’s nothing to call a normally created body into objectivity. Can you be born an initiate of the fourth degree? Maybe Yogananda was, maybe. He certainly became an initiate of the fourth degree, and he worked with shri Yukteswar who was a Master, a full Master. |
Vì vậy, tại lần điểm đạo thứ tư và sau đó, nếu một người trở thành một chân sư—và tôi nghĩ điều này cũng khả thi ngay cả ở cấp độ vị arhat—để tạo ra một thể biểu hiện, một sự sáng tạo tự do, và không có gì trong các cõi thấp thúc giục các Ngài biểu hiện thông qua một cơ thể được tạo ra một cách bình thường. Bạn có thể được sinh ra là một điểm đạo đồ cấp bốn không? Có lẽ Yogananda là vậy, có lẽ thế. Ông chắc chắn đã trở thành một điểm đạo đồ cấp bốn, và ông làm việc với shri Yukteswar, một Chân sư, một Chân sư thật sự. |
|
More here about what meditation does. |
Tiếp tục nói thêm ở đây về việc tham thiền làm gì. |
|
l—It enables a man to contact the Ego and to align the three lower bodies. |
1. Tiếp xúc. Nó cho phép chúng ta tiếp xúc với Chân ngã và chỉnh hợp ba thể thấp với Chân ngã. |
|
2—It puts a man into an attitude of equilibrium, neither utterly receptive and negative, nor utterly positive, but at the point of balance. |
2—Nó đưa con người vào một thái độ thăng bằng, không hoàn toàn thụ động và tiêu cực, cũng không hoàn toàn tích cực, mà ở điểm cân bằng. |
|
It’s a very Libran state. And number three, it stabilizes the lower vibrations on the subplanes of the emotional and mental planes, and usually that’s called the versatile psychic nature, and it’s filled with instability, such an instability that no real truth can penetrate if it remains in the unstable condition, just the way, let’s just say, if you’re out on the water and it’s perfectly calm, the sun reflects itself as an integrated whole. If the water gets choppy, the wind comes up and so forth, maybe an analogy to disturbing thoughts, then the image of the sun is broken up, maybe it’s found in the little wavelets, but there is a kind of division of the whole which prevents the true image from coming through. |
Đó là một trạng thái rất Thiên Bình. Và số ba, nó ổn định các rung động thấp trên các cõi phụ của cõi cảm dục và cõi trí, và thường thì điều đó được gọi là bản chất thông linh hay biến đổi, vốn đầy sự bất ổn, một sự bất ổn đến mức không chân lý thực sự nào có thể thâm nhập nếu nó vẫn ở trong trạng thái bất ổn ấy, cũng giống như, nếu các bạn ở trên mặt nước và mặt nước hoàn toàn lặng yên, thì mặt trời phản chiếu chính nó như một toàn thể hợp nhất. Nhưng nếu mặt nước trở nên gợn sóng, gió nổi lên, v.v., có lẽ là một ẩn dụ cho những tư tưởng xao động, thì hình ảnh của mặt trời bị vỡ vụn; có thể nó được thấy trong những gợn sóng nhỏ, nhưng lại có một sự phân chia của cái toàn thể, điều ngăn cản hình ảnh chân thực có thể hiển lộ trọn vẹn. |
|
So, stability upon the emotional and mental planes, and meditation can give us, and heavens knows[8], we need it because the psyche of man these days is really very unstable in general, and you see that working out on the physical plane. So many psychological afflictions are there, and we sort of force those on others simply by acting out what we are, and we don’t have the psychological insight to see these things, and we project these miserable conditions onto others who either don’t have them or don’t have them to the same extent. |
Vì vậy, sự ổn định trên cõi cảm dục và cõi trí, và tham thiền có thể mang lại cho chúng ta điều đó, và chúng ta cần sự ổn định, vì tâm lý con người ngày nay nói chung thực sự rất bất ổn, và các bạn thấy điều đó đang diễn ra trên cõi hồng trần. Có quá nhiều phiền muộn tâm lý ở đó, và chúng ta đại loại cưỡng ép những điều đó lên người khác chỉ bằng cách hành xử theo bản chất của mình, và chúng ta không có sự thấu suốt tâm lý để nhìn thấy những điều này, và chúng ta phóng chiếu những tình trạng khốn khổ này lên những người khác, những người hoặc không có chúng hoặc không có chúng ở cùng mức độ. |
|
Anyway, going on. |
Vâng, chúng ta tiếp tục. |
|
It commences the work of attuning the self to the vibration of the third subplane on each of the three lower planes, |
Nó bắt đầu công việc điều chỉnh phàm ngã theo rung động của cõi phụ thứ ba trên mỗi cõi trong ba cõi thấp, cho đến khi cõi phụ đó bị thống trị., |
|
And that will take us in actually into the knowledge petals, interestingly enough, on the mental plane, because right now at least the chakras which come from the vortices, I think of the Logoic plane, are not existing. The causal body is taking their place with its petals, but the three, the three of the three, and that will make intelligent man. The third subplane, let’s call it, the third ether, the third subplane of the astral plane which is sort of one of the etheric subplanes of the astral plane, etheric astrality, and then of course on the mental plane, we already have entered the higher mind if we deal with the third subplane which takes into consideration the knowledge petals of the egoic lotus. |
Khá thú vị, điều đó sẽ thực sự đưa chúng ta vào các cánh hoa tri thức trên cõi trí, bởi vì ngay lúc này, ít nhất là các luân xa xuất phát từ các xoáy lực thuộc cõi Thượng đế đang không hiện hữu. Thể nguyên nhân đang thay thế vị trí của các luân xa với các cánh hoa của nó, nhưng bộ ba, bộ ba, bộ ba, và điều đó sẽ tạo nên con người thông tuệ. Cõi phụ dĩ thái thứ ba, cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục, vốn là một loại cõi phụ dĩ thái của cõi cảm dục, và rồi dĩ nhiên trên cõi trí, chúng ta đã tiến vào thượng trí nếu chúng ta đề cập đến cõi phụ thứ ba vốn xem xét đến các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
So, the self is attuned to the vibration of the third subplane, and so you can’t really be taking incarnation at first on the third ray, and certainly not the second and first rays, both in terms of personality once personality begins to manifest, and in terms of soul. It’s got to be four, five, six, or seven. When there is a movement to the number three, it represents progress, and it tells us that we’re making in a way our first contact with the subplanes on which we find the egoic lotus. And I wonder if I can maybe show that in any way. |
Vì vậy, phàm ngã được điều chỉnh cho hòa hợp với rung động của cõi phụ thứ ba, và do đó bạn không thể thực sự lâm phàm ngay từ đầu trên cung ba, và chắc chắn không phải cung hai và cung một, xét về cả phàm ngã—một khi phàm ngã bắt đầu biểu lộ—và về linh hồn. Nó phải là cung bốn, năm, sáu hoặc bảy. Khi có một sự chuyển dịch sang cung ba, nó đại diện cho sự tiến bộ, và nó cho chúng ta biết rằng theo một cách nào đó, chúng ta đang thực hiện tiếp xúc đầu tiên với các cõi phụ nơi chúng ta tìm thấy Hoa Sen Chân Ngã. Và tôi tự hỏi liệu mình có thể chỉ ra điều đó theo bất kỳ cách nào chăng. |

|
As we’re going to see here, the knowledge petals would correlate with a polarization or a fixation of the Egoic Lotus, upon the third sublevel. The second sublevel correlates very much with the love petals, and as far as I know, there is no polarization of the egoic body upon the first subplane. That is already the province of the Spiritual Triad and the manasic permanent atom. |
Như chúng ta sẽ thấy ở đây, các cánh hoa tri thức sẽ tương quan với sự phân cực hoặc sự cố định của Hoa Sen Chân Ngã trên cõi phụ thứ ba. Cõi phụ thứ hai tương quan rất nhiều với các cánh hoa bác ái, và theo tôi biết, không có sự phân cực của thể chân ngã trên cõi phụ thứ nhất, đó đã là lãnh vực của Tam Nguyên Tinh Thần và nguyên tử manas trường tồn. |
|
these are technicalities, at some point they will be useful to us, and we will see and we will know and we have to see exactly what we’re talking about, and in order to be able to manipulate and make a difference. It just means to use the hand to rearrange things… The M.A.N is the hand, manual it’s manual. So, we use the outer hand and also the Mercurian inner hand to change the arrangement of things relative to each other so that they more closely resemble how they are supposed to be according to the archetype. I’ve said that I think many times. |
Đây là những vấn đề kỹ thuật, tại một lúc nào đó chúng sẽ hữu ích cho chúng ta, và chúng ta sẽ thấy và chúng ta sẽ biết và chúng ta phải thấy chính xác những gì chúng ta đang nói đến, và để có thể vận dụng và tạo ra sự khác biệt. Vận dụng (manipulate) có nghĩa là sử dụng bàn tay để sắp xếp lại mọi thứ… Chữ M.A.N là bàn tay, manual nghĩa là thuộc về tay. Vì vậy, chúng ta sử dụng bàn tay bên ngoài và cả bàn tay Sao Thủy bên trong (thể trí) để thay đổi sự sắp xếp của mọi thứ trong mối tương quan với nhau sao cho chúng giống hơn với cách chúng được định đoạt theo nguyên mẫu. Tôi nghĩ tôi đã nói điều đó nhiều lần rồi. |
|
So when we manage here to stabilize these lower vibrations, the work is commenced of attuning the self to the vibration of the third subplane on each of the three lower planes, until that subplane is dominated, and pretty much at the third initiation, we find the third subplane on the higher mental level or on the mental plane dominated, and we’re moving on into a cultivation of the intuition. |
Vì vậy khi chúng ta xoay sở ở đây để ổn định các rung động thấp hơn này, công việc bắt đầu bằng việc điều chỉnh bản thân cho hòa hợp với rung động của cõi phụ thứ ba trên mỗi cõi trong ba cõi thấp, cho đến khi cõi phụ đó bị chi phối, và hầu như tại kỳ điểm đạo thứ ba, chúng ta thấy cõi phụ thứ ba trên cấp độ thượng trí hoặc trên cõi trí bị chi phối, và chúng ta đang chuyển sang việc trau dồi trực giác. |
|
The second subplane is then the next to be synchronised |
Cõi phụ thứ hai sau đó là cõi tiếp theo được đồng bộ hóa |
|
And this is occurring around the time of the first initiation, at least initially. You see initiation and the word initially it means to be a beginning. I would say that people like yourself and myself and those avid students and meditators in master DK’s program have more than likely transferred the focus of their egoic lotus onto the second subplane, but we have to be able to look in there, and actually see it. |
Và điều này xảy ra vào khoảng thời gian của cuộc điểm đạo thứ nhất, ít nhất là ban đầu. Các bạn thấy từ initiation (điểm đạo) và từ initially (ban đầu) nó có nghĩa là một sự khởi đầu. Tôi muốn nói rằng những người như các bạn và tôi và những môn sinh cùng những người hành thiền nhiệt thành trong chương trình của Chân sư DK rất có thể đã chuyển sự tập trung của Hoa Sen Chân Ngã của mình lên cõi phụ thứ hai, nhưng chúng ta phải có khả năng nhìn vào đó, và thực sự thấy nó. |

|
Response To Group Vibration is the siddhi or the power associated with that second subplane, not just Spiritual Discernment of the third subplane down. That’s important, identifying what is spiritual in a mass of information. But the next step responds to group vibration, and then when we begin to be able to take advantage of the abstract mind by the manasic permanent atom then we have Spiritual Telepathy. Page 188 right around there in Cosmic Fire will give us the various siddhis or powers of the subplanes in relation to the senses, and we should memorize those, because although we may not be able to actually touch them in terms of the experience, yet they will open a door before us, and bring clarity to our striving, and show the relationships. We have, for instance, a siddhi we call Realization on the Atmic plane, and it correlates with Divine Vision on the buddhic plane, and that correlates with Mental Clairvoyance on the mental plane, and with, I think, with clairvoyance on the astral plane, and it correlates with the gaseous plane on the etheric-physical plane. Those correlations are of note, and we can learn about each of these powers or tendencies by comparing them. I mean, after all what is the difference between Realization and Divine Vision, an atmic and then a buddhic quality related to the fifth subplane. Vision is vision, there’s still a separation between the observer and that which is seen, but Realization is already beginning to embrace something deeper, some kind of identification, some kind of participation which vision does not give. |
Đáp ứng với Rung động Nhóm là siddhi hay quyền năng liên quan đến cõi phụ thứ hai đó, không chỉ là Phân biện Tinh thần từ cõi phụ thứ ba trở xuống. Điều đó quan trọng, xác định điều gì là tinh thần trong một khối lượng thông tin. Nhưng bước tiếp theo đáp ứng với rung động nhóm, và rồi khi chúng ta bắt đầu có thể tận dụng trí trừu tượng thông qua nguyên tử manas trường tồn thì chúng ta có Viễn cảm Tinh thần. Trang 188 hoặc loanh quanh đâu đó trong cuốn Luận về Lửa Vũ Trụ sẽ cho chúng ta biết các siddhi hay quyền năng khác nhau của các cõi phụ liên quan đến các giác quan, và chúng ta nên ghi nhớ những điều đó, bởi vì mặc dù chúng ta có thể không thực sự chạm vào chúng về mặt trải nghiệm, nhưng chúng sẽ mở ra một cánh cửa trước mắt chúng ta, và mang lại sự rõ ràng cho nỗ lực của chúng ta, và cho thấy các mối tương quan. Ví dụ, chúng ta có một siddhi mà chúng ta gọi là Chứng nghiệm trên cõi atma, và nó tương quan với Tầm Nhìn Thiêng Liêng trên cõi bồ đề, và điều đó tương quan với Thông Nhãn Cõi Trí trên cõi trí, và tôi nghĩ là, với thông nhãn trên cõi cảm dục, và nó tương quan với cõi phụ khí trên cõi dĩ thái-hồng trần. Những tương quan đó rất đáng lưu ý, và chúng ta có thể tìm hiểu về từng quyền năng hoặc khuynh hướng này bằng cách so sánh chúng. Suy cho cùng, sự khác biệt giữa Chứng nghiệm và Tầm Nhìn Thiêng Liêng là gì? Một phẩm tính atma và sau đó là một phẩm tính bồ đề liên quan đến cõi phụ thứ năm. Tầm nhìn là tầm nhìn, vẫn có sự tách biệt giữa người quan sát và cái được thấy, nhưng Chứng nghiệm đã bắt đầu bao hàm một cái gì đó sâu sắc hơn, một loại đồng nhất nào đó, một loại tham gia nào đó mà tầm nhìn không mang lại. |
|
I think none of us is really Adept at recognizing Divine Vision or Realization, but I think that’s the tendency, that’s the tendency in which we will be moving. So, |
Tôi nghĩ không ai trong chúng ta thực sự lão luyện trong việc nhận biết Tầm Nhìn Thiêng Liêng hay Chứng nghiệm, nhưng tôi nghĩ đó là khuynh hướng, đó là khuynh hướng mà chúng ta sẽ hướng tới. Vì vậy, |
|
The second subplane comes into focus, |
Cõi phụ thứ hai trở thành tâm điểm, |
|
Not just when we’re an intelligent human being the way the third subplane begins to come into focus, but when we are actually stepping into the Hall of Wisdom, and then we can have our first initiation. |
Không chỉ khi chúng ta là một con người thông minh—cách mà cõi phụ thứ ba bắt đầu trở thành tâm điểm—mà khi chúng ta thực sự bước vào Phòng Minh triết, và rồi chúng ta có thể trải qua lần điểm đạo thứ nhất của mình. |
|
We can have a personality on the first or second ray, whereas before we couldn’t really have.[9] That what we had was the first or second ray being delivered astrologically which is more of an indirect influence. I’ve been going through the Destiny Of The Nations and analyzing the horoscopes with DK, we’re seeing how he does it, analyzing the horoscopes of certain prominent nations, and he has direct influences and indirect, and no personality of the first or second ray can result from a direct influence before the first initiation. Now, if we want second ray in the personality, it’s maybe going to come through Gemini, Virgo, or Pisces, or maybe through one of the planets indirectly, but not a direct ray influence, and it’s also so for the soul. You cannot have a second or first ray soul until the first initiation is being taken at which time maybe transferences can occur according to the rules of transference, sixth and fourth ray souls can transfer onto the second ray, and there was one example of a seventh ray soul doing that, seems like an anomaly to me, and onto the first ray, seventh ray souls can transfer and fifth ray souls. |
Lúc đó, chúng ta có thể có một phàm ngã thuộc cung một hoặc cung hai, trong khi trước đó chúng ta thực sự không thể có. Rằng những gì chúng ta có là cung một hoặc cung hai được chuyển tải về mặt chiêm tinh vốn thiên về một ảnh hưởng gián tiếp hơn. Tôi đang xem xét cuốn Định Mệnh của Các Quốc Gia và xem cách Ngài phân tích các lá số chiêm tinh, chúng ta thấy cách Ngài thực hiện điều đó, phân tích lá số chiêm tinh của một số quốc gia nổi bật, và Ngài nêu ra những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp, và không một phàm ngã nào thuộc cung một hoặc cung hai có thể là kết quả từ một ảnh hưởng trực tiếp trước lần điểm đạo thứ nhất. Nếu chúng ta muốn cung hai trong phàm ngã, nó có thể đến thông qua Song Tử, Xử Nữ, hoặc Song Ngư, hoặc có thể thông qua một trong các hành tinh một cách gián tiếp, nhưng không phải là ảnh hưởng cung trực tiếp, và đối với linh hồn cũng vậy. Các bạn không thể có một linh hồn cung hai hoặc cung một cho đến khi lần điểm đạo thứ nhất được thực hiện, vào lúc mà có lẽ các sự chuyển dịch có thể xảy ra theo các quy luật chuyển dịch, các linh hồn cung sáu và cung bốn có thể chuyển sang cung hai, và có một ví dụ về một linh hồn cung bảy làm điều đó, đối với tôi dường như là một sự bất thường, và chuyển sang cung một, các linh hồn cung bảy có thể chuyển và các linh hồn cung năm. |
|
So, the first initiation is a really important line of demarcation, simply between knowledge and more customary forms of love, and real wisdom and the beginning in earnest of sacrificial love. A lot of our sacrificial love exists, but it can be unconscious as in the case of the animal or of the more primitive human being, just sacrificing for the children of the offspring, and having that be an instinctual response, and not knowing why one is doing it. An animal cannot know in that respect, but at least does. So, |
Vì vậy, lần điểm đạo thứ nhất thực sự là một ranh giới quan trọng, đơn giản là giữa tri thức và các hình thức tình cảm thông thường hơn, và minh triết thực sự cùng sự khởi đầu nghiêm túc của tình thương hy sinh. Rất nhiều tình thương hy sinh của chúng ta tồn tại, nhưng nó có thể là vô thức như trong trường hợp của loài vật hoặc của con người nguyên thủy hơn, chỉ hy sinh cho con cái của dòng dõi, và để điều đó là một đáp ứng bản năng, và không biết tại sao mình lại làm điều đó. Một con vật không thể biết ở khía cạnh đó, nhưng ít nhất nó thực hiện. Vì vậy, |
|
The second subplane is the next to become synchronized |
Cõi phụ thứ hai là cõi tiếp theo trở nên đồng bộ hóa |
|
And basically I’m saying that true aspirants and real disciples they do have the possibility of focusing on the second subplane of the mental plane. |
Và cơ bản, tôi đang nói rằng những người chí nguyện chân chính và các đệ tử thực thụ, họ có khả năng tập trung vào cõi phụ thứ hai của cõi trí. |
|
A man reaches the point of personality attainment in this cycle |
Một người đạt đến điểm thành tựu phàm ngã trong chu kỳ này |
|
Who knows how it will be in future cycles. I think he gives himself space |
Ai biết được nó sẽ như thế nào trong các chu kỳ tương lai. Tôi nghĩ Ngài tự dành cho mình dư địa |
|
When he has the capacity to vibrate and move consciously on the fourth subplane |
Khi y có khả năng rung động và di chuyển một cách có ý thức trên cõi phụ thứ tư |
|
That’s mentally, that’s the plane of discrimination, and I think it’s the fourth ether, the lowest of the ethers. And if we’re going to look here at a Treatise on Cosmic Fire page 188, it will be the plane of psychometry. I’ll just show that to you, and here it is the fourth subplane. The number four has everything to do with the personality which is a fourfoldness, the three vehicles plus the sum of the three which makes the four. So, |
Về mặt trí tuệ, đó là cõi của sự phân biện, và tôi nghĩ đó là dĩ thái thứ tư, dĩ thái thấp nhất trong các dĩ thái. Và nếu chúng ta xem xét trang 188 quyển Luận về Lửa Vũ Trụ, nó sẽ là cõi của thuật trắc tâm. Tôi sẽ chỉ cho các bạn thấy điều đó, và đây, nó là cõi phụ thứ tư. Số bốn có mọi mối liên hệ với phàm ngã, vốn là một tứ phân, ba vận cụ cộng với tổng hợp của ba thứ tạo nên cái thứ tư. Vì vậy, |
|
He reaches the point of personality attainment when he can, |
Y đạt đến điểm thành tựu phàm ngã khi y có thể, |
|
and this interesting idea, |
Và đây là ý tưởng thú vị, |
|
move consciously on, |
di chuyển một cách có ý thức trên, |
|
at least deal with in a somewhat natural way |
ít nhất là xử lý theo một cách tự nhiên nào đó |
|
the vibrations of the fourth subplane. We might term the fourth subplane on the physical |
các rung động của cõi phụ thứ tư. Chúng ta có thể gọi cõi phụ thứ tư trên cõi hồng trần |
|
that’s the fourth ether, |
đó là dĩ thái thứ tư, |
|
emotional |
cảm dục |
|
that’s psychometry |
đó là thuật trắc tâm |
|
and mental planes |
và các cõi trí |
|
that’s discrimination |
đó là phân biện |
|
(when dominated, aligned and functioning simultaneously in the same incarnation) the plane of perfected personality in the concrete sense of the word, and from the lower vision. |
(khi được chế ngự, chỉnh hợp và hoạt động đồng thời trong cùng một kiếp sống) cõi của phàm ngã hoàn thiện theo nghĩa cụ thể của từ này, và từ tầm nhìn thấp. |
|
So, it’s a technical matter that gives us the truly integrated personality, but integrated within itself, not integrated with the Egoic Lotus, much less significantly infused by the energy radiated through the Egoic Lotus. So, let’s read that again. |
Vì vậy, đây là một vấn đề mang tính kỹ thuật tạo nên phàm ngã thực sự tích hợp, nhưng là sự tích hợp ở ngay bên trong chính nó, chứ không phải là sự tích hợp với Hoa Sen Chân Ngã, lại càng chưa được thấm nhuần một cách đáng kể bởi năng lượng được toả chiếu qua Hoa Sen Chân Ngã. Chúng ta hãy đọc lại đoạn đó. |
|
We might term the fourth subplane on the physical, emotional and mental planes (when dominated, aligned and functioning simultaneously that’s the thing in the same incarnation) |
Chúng ta có thể gọi cõi phụ thứ tư trên các cõi hồng trần, cảm dục và trí tuệ (khi được chế ngự, chỉnh hợp và hoạt động đồng thời đó là vấn đề trong cùng một kiếp sống) |
|
Because so often we may have functioning in relation to this fourth level but it’ll be now and then and not simultaneously with the two others. We can call that |
Bởi vì rất thường xuyên chúng ta có thể hoạt động liên quan đến cấp độ thứ tư này nhưng chỉ là thỉnh thoảng và không đồng thời với hai cấp độ kia. Chúng ta có thể gọi đó là |
|
the plane of perfected personality in the concrete sense of the word, and from the lower vision. |
cõi của phàm ngã hoàn thiện theo nghĩa cụ thể của từ này, và từ tầm nhìn thấp. |
|
And I think at some point he talks about the magnificent personality or one that is really achieved and attained within its own right, and he uses the example of a fourth, maybe a fourth ray soul, and a fourth ray personality, or at least two fours involved in it maybe. We have three places where they can occur, soul personality and mind, and he looks at having two of them functioning simultaneously. He may even, when he’s discussing the great artist and scientist Leonardo, he may offer that example. I think it’s in Esoteric Psychology volume 1. |
Và tại một điểm nào đó Ngài nói về phàm ngã huy hoàng hoặc một phàm ngã thực sự đạt được và thành tựu theo đúng nghĩa của nó, và Ngài sử dụng một ví dụ về cung bốn, có lẽ là một linh hồn cung bốn và một phàm ngã cung bốn, hoặc ít nhất có hai số bốn liên quan trong đó. Chúng ta có ba nơi mà cung 4 có thể xuất hiện—linh hồn, phàm ngã và thể trí—và Ngài xem xét việc có hai trong số chúng hoạt động đồng thời. Có thể khi Ngài thảo luận về người nghệ sĩ và nhà khoa học vĩ đại Leonardo, Ngài đưa ra ví dụ đó. Tôi nghĩ nó nằm trong cuốn Tâm Lý Học Nội Môn quyển 1. |
|
That particular incarnation will be one in which the man achieves the fullest expression of his lower self,—physically perfect, emotionally vibrant, and mentally, and what a word, colossal. |
Kiếp sống cụ thể đó sẽ là kiếp mà con người đạt được sự biểu lộ trọn vẹn nhất của phàm ngã y,—hoàn hảo về thể xác, sống động về cảm xúc, và về trí tuệ thì, và đây thật là một từ, khổng lồ. |
|
And I think now it does make me want to find Leonardo if I can, and maybe I can’t, but let’s just see. |
Và bây giờ, điều đó khiến tôi muốn tìm xem ví dụ đó ở đâu… Leonardo, nhưng hãy xem. |
|
However, all that I am positing about a ray Life may be equally well posited anent a human life, but it should be borne in mind that the pure ray type does not as yet exist, for there is not to be found that perfect form, mechanism or expression of the ray quality, nor that absolutely purified appearance in the human family, except in such rare cases as the Buddha, or Christ, and (in another field of expression) an Alexander or Julius Caesar. Leonardo da Vinci was an analogous expression. |
Tuy nhiên, tất cả những điều tôi đang nêu giả định về một Sự Sống cung cũng có thể được nêu giả định tương tự đối với một đời sống con người; nhưng cần ghi nhớ rằng kiểu cung thuần khiết thì cho đến nay vẫn chưa hiện hữu, vì trong gia đình nhân loại chưa thể tìm thấy hình tướng, bộ máy hay sự biểu lộ nào hoàn hảo của phẩm tính cung, cũng như chưa có sắc tướng nào được thanh lọc một cách tuyệt đối, ngoại trừ trong những trường hợp rất hiếm hoi như Đức Phật hay Đức Christ, và (trong một lĩnh vực biểu lộ khác) một Alexander hay một Julius Caesar. Leonardo da Vinci là một sự biểu lộ tương tự. |
|
Probably by now he’s a Master, I would guess. |
Có lẽ bây giờ Ngài [Leonard da Vinci] đã là một Chân sư, tôi đoán vậy. |
|
Here he does say something interesting. |
Ở đoạn này, Ngài thực sự nói một điều thú vị. |
|
I have said that first ray energy works out as the destruction of forms; it must be remembered that a pure destroyer is utterly unknown, and mercifully for the race this is so. It is a beneficent condition that as yet a first ray ego is so handicapped and limited by the form nature and the quality of that form nature that it is unable to make adequate or intelligent use of its destructive force. |
Tôi đã nói rằng năng lượng cung một tác động như là sự hủy diệt các hình tướng; cần phải nhớ rằng một kẻ hủy diệt thuần túy là hoàn toàn chưa được biết đến, và may mắn cho nhân loại là như vậy. Đó là một điều kiện tốt lành khi mà cho đến nay, một chân ngã cung một bị hạn chế và giới hạn bởi bản chất hình tướng và phẩm tính của bản chất hình tướng đó đến mức nó không thể sử dụng thỏa đáng hay thông minh lực hủy diệt của nó. |
|
First ray personalities are oft destructive, as well but the energy generated is insufficient to work much harm. Again, pure love is incapable of expression today, its flow being impeded by the form nature. A consideration of these two cases will help the reader to appreciate the situation. But the time is near at hand wherein there will be a fuller expression of ray purpose, type or quality, and therefore a truer appearance. |
Các phàm ngã cung một cũng thường có tính hủy diệt, nhưng năng lượng được tạo ra không đủ để gây nhiều tác hại. Một lần nữa, tình thương thuần khiết không thể biểu lộ ngày nay, dòng chảy của nó bị cản trở bởi bản chất hình tướng. Việc xem xét hai trường hợp này sẽ giúp độc giả đánh giá đúng tình hình. Nhưng thời gian đang đến gần khi sẽ có sự biểu lộ trọn vẹn hơn của mục đích, loại hình hoặc phẩm tính của cung, và do đó một vẻ ngoài chân thực hơn. |
|
And here’s the one we’ve just been looking for. |
Và đây là đoạn mà chúng ta vừa tìm kiếm. |
|
It will be noted in this connection how accurate was the earlier statement that the artist is found upon all the rays, and that the so-called Ray of Harmony or Beauty is not the only ray upon which the creative worker is found. The mental body of every human being, at some time or another, is found upon the fourth ray and usually when the man is nearing the probationary path. This means that the mental vehicle is governed by an elemental of fourth ray nature or quality and that, therefore, creative, artistic activity is the line of least resistance. We then have a man with an artistic tendency or we have a genius along some line of creative work. When, at the same time, the soul or the personality is also upon the fourth ray, then we will find a Leonardo da Vinci or a Shakespeare. |
Cần lưu ý rằng trong mối liên hệ này, tuyên bố trước đó chính xác đến mức nào khi nói rằng người nghệ sĩ được tìm thấy trên tất cả các cung, và cái gọi là Cung của Sự Hài Hòa hay Cái Đẹp không phải là cung duy nhất mà trên đó người làm công việc sáng tạo được tìm thấy. Thể trí của mỗi con người, vào lúc này hay lúc khác, đều được tìm thấy trên cung bốn và thường là khi người đó đang đến gần Con Đường Dự Bị. Điều này có nghĩa là hiện thể trí được cai quản bởi một tinh linh có bản chất hoặc phẩm tính cung bốn và vì vậy, hoạt động sáng tạo, nghệ thuật là con đường ít trở ngại nhất. Khi đó, chúng ta có một người với khuynh hướng nghệ thuật hoặc chúng ta có một thiên tài trong một lĩnh vực công việc sáng tạo nào đó. Khi, cùng lúc đó, linh hồn hoặc phàm ngã cũng thuộc cung bốn, thì chúng ta sẽ tìm thấy một Leonardo da Vinci hoặc một Shakespeare. |
|
This is the one I was looking for. This is a very important statement, and if the mental elemental is upon the fourth ray, and either the soul or the personality is found upon the fourth ray, then you have the genius along some line of creative work. |
Đây là đoạn tôi đang tìm. Đây là một tuyên bố rất quan trọng, và nếu tinh linh trí tuệ thuộc cung bốn, và linh hồn hoặc phàm ngã được tìm thấy trên cung bốn, thì bạn có thiên tài trong một lĩnh vực công việc sáng tạo nào đó. |
|
And here he’s comparing caveman drawings to Leonardo’s, and great people on different rays including an Einstein. |
Và ở đây Ngài đang so sánh những bức vẽ của người hang động với của Leonardo, và những vĩ nhân trên các cung khác nhau bao gồm cả Einstein. |
|
In the retrospect of history, the picture of the emerging prisoner, Man, can be seen in clear delineation. Little by little he has mastered the planetary boundaries; little by little, he has grown from the stage of cave man to that of a Shakespeare, a Newton, a Leonardo da Vinci, an Einstein, a St. Francis of Assisi, to a Christ and a Buddha. WM 536 |
Nhìn lại lịch sử, bức tranh về người tù đang trỗi dậy, Con Người, có thể được thấy trong sự phác họa rõ ràng. Từng chút một, y đã làm chủ các giới hạn hành tinh; từng chút một, y đã phát triển từ giai đoạn người hang động đến giai đoạn của một Shakespeare, một Newton, một Leonardo da Vinci, một Einstein, một Thánh Francis thành Assisi, đến một Đức Christ và một Đức Phật. WM 536 |
|
Interestingly, the saint Francis along the sixth ray of Christ, the Buddha along the second ray, Leonardo and Shakespeare four, Newton upon the third and fifth, I would say. Yeah, well that I think tells us some important things. |
Thật thú vị, Thánh Francis theo cung sáu của Đức Christ, Đức Phật theo cung hai, Leonardo và Shakespeare cung bốn, Newton trên cung ba và cung năm, tôi cho là vậy. Vâng, tôi nghĩ điều đó cho chúng ta biết một số điều quan trọng. |
|
Now, let’s go back. Little digressions may be illuminating or maddening depends on how you see it. |
Giờ đây, hãy quay lại. Những đoạn lạc đề nhỏ có thể soi sáng hoặc gây bực mình tùy thuộc vào cách bạn nhìn nhận. 😊 |
|
So, he’s talking about that domination of the fourth subplane, and maybe that would mean having a fourth ray mind and some kind of emotional response along the fourth ray line, and be able to touch the lowest or fourth ether, |
Vì vậy, Ngài đang nói về sự chế ngự cõi phụ thứ tư đó, và có lẽ điều đó nghĩa là có một thể trí cung bốn và một loại đáp ứng cảm xúc nào đó theo dòng cung bốn và có thể chạm đến cõi dĩ thái thấp nhất hoặc dĩ thái thứ tư, |
|
then that particular incarnation will be one in which the man achieves the fullest expression of his lower self, physically perfect, emotionally vibrant, and mentally colossal. |
thì kiếp sống cụ thể đó sẽ là kiếp mà con người đạt được sự biểu lộ trọn vẹn nhất của phàm ngã y, hoàn hảo về thể xác, sống động về cảm xúc, và về trí tuệ thì khổng lồ. |
|
So, combine that with the statement about Leonardo and Shakespeare having a fourth ray mind apparently, and either along with it a fourth ray personality and or a fourth ray soul, my guess is that, whatever Shakespeare was, I suspect the fourth ray soul, I suspect also the fourth ray soul in the case of Leonardo, but the fifth ray was definitely there, and we have to find out how it was so. Not so much for Shakespeare, but for the inventor Leonardo definitely. |
Vì vậy, kết hợp điều đó với tuyên bố về việc Leonardo và Shakespeare dường như có thể trí cung bốn, và cùng với đó là một phàm ngã cung bốn và hoặc một linh hồn cung bốn, phỏng đoán của tôi là, bất kể Shakespeare là ai, tôi cho rằng Ông là linh hồn cung bốn, tôi cũng cho rằng linh hồn Leonardo cũng cung bốn, nhưng cung năm chắc chắn đã ở đó, và chúng ta phải tìm hiểu xem nó như thế nào. Không hẳn đối với Shakespeare, nhưng đối với nhà phát minh Leonardo thì chắc chắn. |
|
So, the estimation of the mental ray is very important matter. |
Vì vậy, việc đánh giá cung thể trí là vấn đề rất quan trọng. |
|
Then succeeding that, that 444 as it were begins the transference to a higher vibration, the keying up to the Higher Self, and the attuning of the Personality, or the major third, to the dominant fifth of the Ego. |
Sau đó, kế tiếp điều đó, cái gọi là 444 đó bắt đầu sự chuyển dịch sang một rung động cao hơn, sự nâng độ cao lên Chân Ngã, và sự hòa âm của Phàm ngã, hay quãng ba trưởng, với quãng năm át của Chân Ngã. |
|
We do remember [music audio] that’s the major third and [music audio] that’s the dominant fifth of the ego, and you might expect it to have some kind of connection with Leo. Now, the astonishing thing if you look chromatically at how this might work or maybe just five notes to Leo … |
Chúng ta nhớ rằng [file âm thanh] đó là quãng ba trưởng và [file âm thanh] đó là quãng năm át của chân ngã, và bạn có thể mong đợi nó có mối liên hệ nào đó với Sư Tử. Nay, điều đáng ngạc nhiên nếu bạn nhìn theo thang âm chromatic về cách điều này có thể hoạt động hoặc có thể chỉ là năm nốt nhạc đối với Sư Tử … |
|
[Giảng về Âm Nhạc] |
[Giảng về Âm Nhạc] |
|
Forgive me, the Lord’s Prayer, and forgive us our trespasses as we forgive those who trespass against us, and I have to modify the Lord’s Prayer in the case of these commentaries, and ask forgive me my digressions. 😊 So, anyway, |
Xin tha thứ cho tôi, Kinh Lạy Cha, và xin tha nợ chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi, và tôi phải điều chỉnh Kinh Lạy Cha trong trường hợp của những bài bình luận này, và xin hãy tha thứ cho những sự lạc đề của tôi. Dù sao thì, |
|
the transference to a higher vibration, the keying up to the Higher Self, and the attuning of the Personality, or the major third, to the dominant fifth of the Ego |
sự chuyển dịch sang một rung động cao hơn, sự nâng độ cao lên Chân Ngã, và sự điều hòa Phàm Ngã, hay bậc ba chính, với bậc năm chủ đạo của Chân Ngã. |
|
Now when we’re becoming soul-infused personalities that tuning up is going on, and a complete attunement of that, I think, the dominant fifth to the fundamental would be a Master, and then we start moving beyond that, or at least a soul-infused personality of the third degree. I’m sure we can find a place for every kind of initiate within the scale, probably the diatonic scale of seven notes, or the chromatic scale of twelve notes, but I don’t think the pentatonic scale of five notes, I don’t think. So, that’s more related to Brahma per se. |
Giờ đây, khi chúng ta đang trở thành những phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, quá trình hòa điệu đó đang diễn ra, và một sự hòa hợp hoàn toàn của quãng năm át âm so với âm cơ bản sẽ là một Chân sư, và sau đó chúng ta bắt đầu vượt xa hơn thế, hoặc ít nhất là một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần ở cấp độ thứ ba. Tôi chắc rằng chúng ta có thể tìm được vị trí cho mọi cấp điểm đạo đồ trong âm giai, có lẽ là âm giai bảy nốt, hoặc âm giai nửa cung mười hai nốt, nhưng tôi không nghĩ là âm giai ngũ cung năm nốt, vì âm giai đó liên quan nhiều hơn đến chính Brahma. |
|
Excuse my musical digressions. I keep on coming back to them that’s just an occupational hazard of working with me. |
Xin thứ lỗi cho những sự lạc đề về âm nhạc của tôi. Tôi cứ quay lại với chúng, đó chỉ là một tai nạn nghề nghiệp khi làm việc với tôi. |
|
So, then what else does meditation do? |
Bây giờ, tham thiền còn làm gì nữa? |
|
4—It assists in the transference of the polarisation from one of the permanent atoms of the Personality into the corresponding atom in the spiritual Triad. Later I will elucidate this further. [12] |
4—Nó hỗ trợ trong việc chuyển dịch sự phân cực từ một trong những nguyên tử trường tồn của Phàm ngã sang nguyên tử tương ứng trong Tam nguyên tinh thần. Sau này tôi sẽ làm rõ điều này hơn. [12] |
|
Hence may easily be seen the essential nature of Meditation and its wise, diligent and serious following. |
Do đó có thể dễ dàng thấy được bản chất cốt yếu của Tham thiền và việc tuân theo nó một cách khôn ngoan, siêng năng và nghiêm túc. |
|
Early in experience, after the attainment of the highest the lower nature has to offer, man begins to meditate. Disorderly at first are his attempts, and sometimes several incarnations may go by in which the Higher self only forces the man to think and seriously to meditate at rare and separated intervals. More frequently come the occasions of withdrawing within, until there arises for the man several lives given to mystic meditation and aspiration, culminating usually in a life given entirely to it. It marks the point of the highest emotional aspiration, apart from the scientific application of the law, via the mental body. These laws are those governing the true occult meditation. |
Giai đoạn đầu trong trải nghiệm, sau khi đạt được mức cao nhất mà bản chất thấp kém có thể mang lại, con người bắt đầu tham thiền. Những nỗ lực của y lúc đầu lộn xộn, và đôi khi vài kiếp sống có thể trôi qua trong đó Bản Ngã Cao Siêu chỉ buộc con người suy nghĩ và tham thiền một cách nghiêm túc vào những khoảng thời gian hiếm hoi và tách biệt. Thường xuyên hơn là những dịp rút lui vào bên trong, cho đến khi nảy sinh đối với con người một vài kiếp sống dành cho tham thiền thần bí và khát vọng, thường lên đến đỉnh điểm trong một kiếp sống hoàn toàn dành cho nó. Nó đánh dấu điểm khát vọng cảm xúc cao nhất, tách biệt khỏi việc áp dụng định luật một cách khoa học, thông qua thể trí. Những định luật này là những định luật chi phối tham thiền huyền môn chân chính. |
|
It assists in the transference of the polarisation from one of the permanent atoms of the Personality into the corresponding atom in the spiritual Triad. Later I will elucidate this further |
Nó hỗ trợ sự chuyển dịch của sự phân cực từ một trong những nguyên tử trường tồn của Phàm ngã vào nguyên tử tương ứng trong Tam Nguyên Tinh Thần. Sau này tôi sẽ làm sáng tỏ điều này thêm |
|
Now, we do have a problem. We can easily see how we can, without too many claims for initiatory rank, transfer from the mental unit which is the kind of permanent atom in the personality, it’s got four, to a polarization within the manasic permanent atom. Add those two together you get seven spiritually, and that kind of transference can be achieved by the time the third initiation is taken. |
Vào lúc này, chúng ta quả thật có một vấn đề. Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng, không cần đưa ra quá nhiều tuyên bố về cấp bậc điểm đạo, chúng ta có thể chuyển dịch từ đơn vị hạ trí — vốn là một loại nguyên tử trường tồn trong phàm ngã, và nó có bốn — sang một sự phân cực nằm trong nguyên tử trường tồn manas. Gộp hai yếu tố ấy lại với nhau, thì về mặt tinh thần, chúng ta có được con số bảy, và kiểu chuyển dịch như thế có thể đạt được vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba. |
|
The only the only trouble with the other transferences, the buddhic permanent atom correlates with the astral permanent atom, and the atmic permanent atom, like the buddhic having three, spiritually correlates with the etheric permanent atom. The only trouble is those first subplanes on the Atmic Buddhic plane are even beyond the reach of a master. Now I’m not exactly sure what that means, but the siddhi or the power found upon the first two subplanes of the buddhic and the first two subplanes of the atmic counting from above to below require an initiatory status higher than that of a Master. So, the question is how do we transfer polarization into a higher permanent atom found on one of those two subplanes. |
Vấn đề duy nhất với các sự chuyển dịch khác, nguyên tử trường tồn Bồ đề tương quan với nguyên tử trường tồn cảm dục, và nguyên tử trường tồn atma, giống như nguyên tử Bồ đề, mang số ba, tương quan về mặt tinh thần với nguyên tử trường tồn dĩ thái. Vấn đề duy nhất là những cõi phụ đầu tiên trên cõi Atma và cõi Bồ đề thậm chí còn vượt quá tầm với của một Chân sư. Tôi không hoàn toàn chắc điều đó có nghĩa là gì, nhưng siddhi hay quyền năng được tìm thấy trên hai cõi phụ đầu tiên của cõi Bồ đề và hai cõi phụ đầu tiên của cõi atma tính từ trên xuống dưới đòi hỏi một địa vị điểm đạo cao hơn địa vị của một Chân sư. Vì vậy, câu hỏi là làm thế nào chúng ta chuyển sự phân cực vào một nguyên tử trường tồn cao hơn được tìm thấy trên một trong hai cõi phụ đó. |
|
Just to remind us. Here are the permanent atoms of the buddhic and the atmic plane, so visually speaking, the first two subplanes of the buddhic and the first two subplanes of the atmic have siddhis or powers that are beyond the reach of a Master. So how do we then polarize within them? I mean, I think we can receive some kind of transformed flow or stream of energy from them. But to polarize within them, it escapes me yet. How that can be done by the average meditator even moving towards the third initiation? but anyway, I will put it down. |
[Nhìn hình vẽ] Chỉ để nhắc nhở chúng ta, đây là các nguyên tử trường tồn của cõi Bồ đề và cõi atma, vì vậy nói một cách trực quan, hai cõi phụ đầu tiên của cõi Bồ đề và hai cõi phụ đầu tiên của cõi atma có các siddhi hay quyền năng vượt quá tầm với của một Chân sư. Vậy thì làm thế nào chúng ta phân cực bên trong chúng? Tôi nghĩ chúng ta có thể nhận được một loại dòng chảy hoặc luồng năng lượng đã được chuyển đổi nào đó từ chúng, nhưng để phân cực bên trong chúng, tôi vẫn chưa hiểu được. Làm thế nào điều đó có thể được thực hiện bởi người hành thiền trung bình, dù thậm chí đang tiến tới lần điểm đạo thứ ba? Nhưng dù sao đi nữa, tôi sẽ ghi nó xuống. |
|
It assists in the transference of the polarisation from one of the permanent atoms of the Personality into the corresponding atom in the spiritual Triad. |
Nó hỗ trợ trong sự chuyển dịch của sự phân cực từ một trong những nguyên tử trường tồn của Phàm ngã vào nguyên tử tương ứng trong Tam Nguyên tinh thần. |
|
It assists meditation, assists maybe eventually in the transference of the polarization from one of the permanent atoms of the personality into the corresponding atom in the Spiritual Triad, lower mind to higher mind, astral to buddhic, etheric physical permanent atom to atmic permanent atom, interestingly 27 is the sum. Here’s how I will arrive at that. |
Nó hỗ trợ sự tham thiền, có lẽ cuối cùng hỗ trợ trong sự chuyển dịch của sự phân cực từ một trong những nguyên tử trường tồn của phàm ngã vào nguyên tử tương ứng trong Tam Nguyên Tinh Thần, hạ trí sang thượng trí, cảm dục sang Bồ đề, nguyên tử trường tồn dĩ thái hồng trần sang nguyên tử trường tồn atma, thật thú vị tổng số là 27. Đây là cách tôi sẽ đi đến con số đó. |
|
The seven-fold etheric permanent atom is added to the three-fold atmic permanent atom and that’s a 10. It’s a Kabbalistic kind of arrangement. The seven-fold astral permanent atom is added to the threefold buddhic permanent atom, another 10, and the four-fold mental unit, the way things are now with the solar angel intervening, the four-fold mental unit is added to the three-fold manasic permanent atom and that’s a seven. Ten plus ten plus seven equals twenty-seven, 27 being important. Look out, watch out for numerical affinity. It can be revealing in terms of the number of students and the three teachers in the Advanced Schools, and also the number of participants in the 10th or synthetic seed group. So, when you see commonality of numbers, that of the magical workers—I think they’re called or something like that, creative workers, magical workers—when you see those numbers being the same, there are lines of connection via numerical affinity. |
Nguyên tử trường tồn dĩ thái thất phân được cộng với nguyên tử trường tồn atma tam phân, và như thế thành mười. Đây là một kiểu sắp xếp mang tính Kabbala. Nguyên tử trường tồn cảm dục thất phân được cộng với nguyên tử trường tồn Bồ đề tam phân, lại là một con số mười nữa; và đơn vị hạ trí tứ phân — theo cách mọi sự hiện nay, với sự can thiệp của Thái dương Thiên Thần — đơn vị hạ trí tứ phân ấy được cộng với nguyên tử trường tồn manas tam phân, và như vậy thành bảy. Mười cộng mười cộng bảy là hai mươi bảy, mà con số 27 thì rất quan trọng. Hãy chú ý, hãy để ý đến sự tương hợp số học. Điều đó có thể mang tính tiết lộ, xét theo số lượng các môn sinh và ba huấn sư trong các Trường Tham Thiền Cao Cấp, và cả số lượng những người tham dự trong nhóm hạt giống thứ mười, hay nhóm hạt giống tổng hợp. Vì vậy, khi bạn thấy sự tương đồng của các con số — của những người hoạt động huyền thuật, tôi nghĩ họ được gọi như vậy, hay những người lao động sáng tạo, những người lao động huyền thuật — khi bạn thấy các con số ấy trùng nhau, thì sẽ có những đường dây liên kết thông qua sự tương hợp số học. |
|
So, just to review, what good is meditation? It assists the polarization, the transference of polarization from one of the permanent atoms of the personality into the corresponding atom, and that’s a matter of real initiation, and to a certain extent, I would say very high initiation. |
Vì vậy, hãy ôn lại, tham thiền có ích gì? Nó hỗ trợ sự phân cực, sự chuyển dịch của sự phân cực từ một trong những nguyên tử trường tồn của phàm ngã vào nguyên tử tương ứng, và đó là vấn đề của cuộc điểm đạo thực sự, và ở một mức độ nhất định, tôi muốn nói là cuộc điểm đạo rất cao. |
|
What else does meditation do? It stabilizes the lower vibrations on the subplanes of the emotional and mental planes. That’s another one of the necessities that meditation contributes to. What else does it do? It puts a man into an attitude of equilibrium, neither utterly receptive and negative, nor utterly positive, but at a point of balance, and that’s kind of a description of what Libra does. |
Tham thiền còn làm gì nữa? Nó ổn định các rung động thấp hơn trên các cõi phụ của cõi cảm dục và cõi trí. Đó là một trong những sự cần thiết khác mà tham thiền đóng góp vào. Nó còn làm gì nữa? Nó đưa con người vào một thái độ thăng bằng, không hoàn toàn thụ động và tiêu cực, cũng không hoàn toàn tích cực, mà tại một điểm cân bằng, và đó là một kiểu mô tả về những gì Thiên Bình thực hiện. |
|
And what else does it do? It enables a man to contact the Ego and to align the three lower bodies, not only among themselves, but with the Ego, considering the Ego in this case to be the causal center on the higher mental plane. We might also in another way consider it to be the threefold Spiritual Triad. |
Và nó còn làm gì nữa? Nó cho phép một người tiếp xúc với Chân ngã và chỉnh hợp ba thể thấp, không chỉ giữa chúng với nhau, mà còn với Chân ngã, trong trường hợp này xem Chân ngã là thể nguyên nhân trên cõi thượng trí. Chúng ta cũng có thể theo một cách khác xem nó là Tam Nguyên Tinh Thần tam phân. |
|
So that now we have four things which meditation contributes to, and can we memorize those four things which meditation contributes? |
Vì vậy nay chúng ta có bốn điều mà tham thiền đóng góp vào, và liệu chúng ta có thể ghi nhớ bốn điều mà tham thiền đóng góp đó không? |
|
Now, He will elucidate this further. |
Bây giờ Ngài sẽ làm sáng tỏ điều này thêm nữa. |
|
Now, the technicalities of the ageless wisdom are many, and yes, we do need a certain amount of the retentive memory, and the fifth ray discriminative tendency that focuses on facts and their relationship of one to another. We do need that as we proceed to work in the field of occultism, in the way that master DK presents it with meticulous entirety, |
Các bạn thấy các chi tiết kỹ thuật của Minh Triết Ngàn Đời thì rất nhiều, và chúng ta thực sự cần một trí nhớ tốt nhất định, cộng với khuynh hướng phân biện cung năm tập trung vào các sự kiện và mối quan hệ của chúng với nhau. Chúng ta thực sự cần điều đó khi chúng ta tiến hành làm việc trong lĩnh vực huyền bí học, theo cách mà Chân sư DK trình bày với sự trọn vẹn tỉ mỉ, |
|
Hence may easily be seen the essential nature of Meditation and its wise, diligent and serious following. |
Do đó có thể dễ dàng thấy được bản chất cốt yếu của sự Tham thiền và việc tuân theo nó một cách khôn ngoan, siêng năng và nghiêm túc. |
|
We don’t want to be, as master M. says, light-minded about it. We want to keep at it, and we don’t want to go too far unless we damage ourselves. The people who decide, “I’m going to meditate all day 10 hours”, whatever, they could be preparing for inflammation of the brain, the rending of the protective etheric veils, the inflow of very low levels of the astral plane… many things can happen when you disregard the protective procedures |
Như Chân sư M. nói, chúng ta không muốn trở thành hời hợt về điều đó. Chúng ta muốn kiên trì với nó, và chúng ta không muốn đi quá xa trừ khi chúng ta làm hại chính mình. Những người quyết định, “Tôi sẽ tham thiền cả ngày 10 tiếng”, hay bất cứ gì, họ có thể đang chuẩn bị cho sự viêm não, sự xé toạc các bức màn dĩ thái bảo vệ, sự tuôn vào của các cấp độ rất thấp của cõi cảm dục… nhiều điều có thể xảy ra khi bạn coi thường các quy trình bảo vệ |
|
Early in experience, after the attainment of the highest the lower nature has to offer, man begins to meditate. |
Vào giai đoạn đầu của trải nghiệm, sau khi đạt được điều cao nhất mà bản chất thấp kém có thể mang lại, con người bắt đầu tham thiền. |
|
the Spirit is always moving on, isn’t it? It can never be satisfied with anything but itself, and itself is Pure Being, Life, and Ultimately Absoluteness. |
Tinh thần luôn luôn tiến bước, phải không? Nó không bao giờ có thể thỏa mãn với bất cứ điều gì ngoài chính nó, và chính nó là Bản Thể Thuần Khiết, Sự Sống, và Cuối Cùng là Tính Tuyệt Đối. |
|
Early in experience, after the attainment of the highest the lower nature has to offer, man begins to meditate. |
Vào giai đoạn đầu của trải nghiệm, sau khi đạt được điều cao nhất mà bản chất thấp kém có thể mang lại, con người bắt đầu tham thiền. |
|
We don’t know, unless we really know our past lives, how much meditation we have done, and whether it has been, what can I say, mystical or somewhat mental occult. He did talk about great mystics. He also talked about ancient spiritual, but not too ancient, some hundreds of years ago, a student of occultism like Meister Eckhart. So funny. I used to read him and other mystics. I don’t know if I made the discrimination between what Eckhart was doing and some others which were maybe far more mystical, but he really talks about Eckhart as a mental occultist, and I was thinking the popular author who’s made so many videos Eckhart Tolle[10]. There’s some link there between the words Eckhart. They may not be spelled exactly the same, but they’re very close, |
Trừ khi chúng ta thực sự biết các kiếp sống quá khứ của mình, chúng ta không biết chúng ta đã tham thiền bao nhiêu, và liệu nó có tính thần bí hay đôi chút huyền bí thuộc trí tuệ. Chân sư DK đã nói về những nhà thần bí vĩ đại. Ngài cũng nói về những nhà thần bí tinh thần cổ xưa—không quá cổ xưa, vài trăm năm trước, một môn sinh của huyền bí học như Meister Eckhart. Thật buồn cười, tôi đã từng đọc ông ấy và các nhà thần bí khác. Tôi không biết liệu tôi có phân biệt được giữa những gì Eckhart đã làm và một số người khác có lẽ mang tính thần bí hơn nhiều hay không, nhưng Ngài thực sự nói về Eckhart như một nhà huyền bí học trí tuệ. Tôi cũng đang nghĩ đến tác giả nổi tiếng Eckhart Tolle, người đã làm rất nhiều video. Có một mối liên hệ nào đó ở đó giữa từ Eckhart, có thể chúng không được đánh vần chính xác giống nhau, nhưng chúng rất gần nhau, |
|
Disorderly at first are his attempts, and sometimes several incarnations may go by in which the Higher self only forces the man to think and seriously to meditate at rare and separated intervals. |
Thoạt đầu những nỗ lực của y thật lộn xộn, và đôi khi vài kiếp sống có thể trôi qua trong đó Chân ngã chỉ buộc con người suy nghĩ và tham thiền một cách nghiêm túc vào những khoảng thời gian hiếm hoi và tách biệt. |
|
We have a downward gazing soul here at this stage of development, and instead of looking in every what 300 years, every thousand years, maybe those are the kind of spans which at first relate to the Master getting a report on a student. That should be humbling when we realize what great consequence we really are, that every few hundred years, the Master may take a little bit of interest in a student, that will eventually be His. |
Ở giai đoạn phát triển này, chúng ta có một linh hồn đang nhìn xuống, và thay vì nhìn xuống từng mỗi 300 năm hay mỗi ngàn năm, có lẽ đó là những khoảng thời gian mà ban đầu liên quan đến việc Chân sư nhận được báo cáo về một đạo sinh. Điều đó hẳn sẽ khiến chúng ta thấy khiêm nhường khi nhận ra mình thực sự có tầm quan trọng lớn lao đến thế nào, rằng cứ sau vài trăm năm, Chân sư có thể quan tâm một chút đến một đạo sinh vốn cuối cùng sẽ là của Ngài. |
|
Anyway, Disorderly at first, but the Higher Self has its methods and can force thinking, and so there we go, the worse the better. Sometimes there are those really heavy moments when you just have to think, you just have to go deeper, and then with relief, you stop it, and go back to a lower point of tension. But it continues to improve… |
Dù sao thì, ban đầu mọi thứ vốn lộn xộn, nhưng Chân ngã có những phương pháp của Ngài và có thể thúc bách sự suy nghĩ. Và vì vậy, chúng ta thấy rằng tình trạng càng tồi tệ thì càng tốt, đôi khi có những khoảnh khắc thực sự nặng nề khi bạn buộc phải suy nghĩ, bạn buộc phải đi sâu hơn, và sau đó với sự nhẹ nhõm, bạn dừng lại và quay trở lại một điểm tập trung ít căng thẳng hơn. Nhưng nó vẫn tiếp tục được cải thiện. |
|
More frequently come the occasions of withdrawing within, |
Những dịp rút vào bên trong đến thường xuyên hơn, |
|
Have you ever felt that this? I’m sure you have this kind of discomfort, something demands, close attention, and there you are. |
Bạn đã bao giờ cảm thấy điều này chưa? Tôi chắc chắn các bạn có kiểu khó chịu này, thứ gì đó đòi hỏi sự chú ý chặt chẽ, và ở đó |
|
You discover they can only be relieved by deeper and deeper meditation. |
Bạn khám phá ra chúng chỉ có thể được xoa dịu bằng sự tham thiền ngày càng sâu hơn. |
|
This is that kind of, I would call it, Vulcanian pressure of the spiritual will, of the soul upon the personality. It does bring relief, and probably it has to do with an insight whose time has come. Of course, the personality will resist the Light. You wouldn’t think so, but it does, and then it gets more and more uncomfortable until you finally give in, and really go as deeply as you can. |
Đây là loại mà tôi sẽ gọi là áp lực mang tính Vulcan của ý chí tinh thần, của linh hồn, lên phàm ngã. Nó thực sự mang lại sự nhẹ nhõm, và có lẽ nó liên quan đến một cái nhìn sâu sắc mà thời điểm đã đến. Dĩ nhiên, phàm ngã sẽ kháng cự lại Ánh sáng. Bạn sẽ không nghĩ như vậy, nhưng nó là thế, và rồi nó trở nên ngày càng khó chịu hơn cho đến khi cuối cùng bạn đầu hàng, và thực sự đi sâu hết mức bạn có thể. |
|
More frequently come the occasions of withdrawing within, until there arises for the man several lives given to mystic meditation and aspiration, culminating usually in a life given entirely to it |
Những dịp rút vào bên trong đến thường xuyên hơn, cho đến khi nảy sinh đối với con người vài kiếp sống dành cho sự tham thiền thần bí và khát vọng, thường lên đến đỉnh điểm trong một kiếp sống hoàn toàn dành cho nó |
|
What can we call it? The monastery, the nunnery, the convent … whatever. There you are in the cloister, just meditating away. That was the medieval approach, and he talks about certain types of mystics that have a very, very strong Neptunian influence, and they’ve been very prominent over the last thousand years or so, |
Chúng ta có thể gọi nó là gì? Tu viện, nhà kín, nữ tu viện … hay bất cứ gì. Ở đó các bạn ở nơi ẩn tu, chỉ miệt mài tham thiền. Đó là cách tiếp cận thời trung cổ, và Ngài nói về một số loại nhà thần bí có ảnh hưởng rất mạnh của sao Hải Vương, và họ đã rất nổi bật trong khoảng một nghìn năm qua, |
|
culminating in a life given entirely to it, |
lên đến cực điểm trong một kiếp sống hoàn toàn hiến dâng cho điều đó, |
|
and what DK seems to be implying, hinting, suggesting, is that the people in His group, groups of some 50 students or so, they’ve had that life of personality apotheosis at a certain point in their development, maybe relatively recently, and then some lives which in which meditation begins spottily[11] to increase, and then a life in a convent, monastery, cloister, nunnery, whatever, where there is a life of meditation and prayer, prayer too. Then they’re ready for his group. |
Và điều Chân sư DK dường như đang ngụ ý, gợi ý, đề xuất, là những người trong nhóm của Ngài—có khoảng 50 đạo sinh—họ đã có kiếp sống đạt đến đỉnh cao phàm ngã đó tại một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển của mình, có lẽ là tương đối gần đây. Và sau đó là một số kiếp sống mà trong đó sự tham thiền bắt đầu tăng lên rải rác, và rồi một kiếp sống trong tu viện nam, tu viện nữ hay tu viện kín, nơi có một đời sống tham thiền và cầu nguyện. Sau đó, họ đã sẵn sàng cho nhóm của Ngài. |
|
So, if we go back far enough, hidden behind just a veil that we probably cannot easily detect, these lives of personality excellence—what did he say, mentally colossal, emotionally vibrant, physically perfect—they have existed for us, and the life of retreat, withdrawal, inner attitude, spiritual introspection, probably also for so many of us. And in the new schools, we’ll be given methods of accurately remembering certain past lives which are of importance. Not every little thing, you can get overloaded, but when there’s a line of connection between a certain past life and present circumstances, and when illumination could come because of it, then it’s useful to know how to get from point b to point a, a is where you are now. We’ve all been built up in a way that is logical. What we are now is the result of what we have thought, what we have done, how we have reacted to, how we have felt… It’s a human cumulative growth. It just doesn’t come out of nowhere. |
Vì vậy, nếu chúng ta quay ngược lại đủ xa, ẩn đằng sau chỉ một bức màn mà chúng ta có lẽ không thể dễ dàng phát hiện, những kiếp sống của sự hoàn hảo về phàm ngã này—Ngài đã nói gì nhỉ, khổng lồ về mặt trí tuệ, rung động về mặt cảm xúc, hoàn hảo về mặt thể chất—chúng đã tồn tại đối với chúng ta, và kiếp sống ẩn dật, rút lui, thái độ nội tâm, sự hướng nội tinh thần, có lẽ cũng vậy đối với rất nhiều người trong chúng ta. Và trong các Trường Nội môn mới, chúng ta sẽ được trao cho các phương pháp để nhớ lại chính xác một số kiếp sống quá khứ quan trọng. Không phải mọi điều nhỏ nhặt, bạn có thể bị quá tải, nhưng khi có một đường dây kết nối giữa một kiếp sống quá khứ nhất định và các hoàn cảnh hiện tại, và khi sự soi sáng có thể đến nhờ điều đó, thì thật hữu ích khi biết cách đi từ điểm b đến điểm a, a là nơi bạn đang ở hiện tại. Tất cả chúng ta đều được xây dựng theo một cách hợp lý. Những gì chúng ta là hiện nay là kết quả của những gì chúng ta đã nghĩ, những gì chúng ta đã làm, cách chúng ta đã phản ứng, cách chúng ta đã cảm nhận… Đó là sự tăng trưởng tích lũy của con người. Nó không chỉ đến từ hư vô. |
|
This is where people make a terrible mistake—They imagine that how they are is how God made them, God made me this way. Go deeper, and find the truth that you made yourself this way. That will be a big load of responsibility on your shoulders when you admit to that, and a lot of people, they don’t want to admit that at all. But when you take responsibility for what you are and responsibility for what you must do, it really is one of the very first indications that the soul is operative, soul contact is occurring, and the sense of responsibility maybe in both of those modes is the indication that it is so. |
Đây là nơi mọi người phạm một sai lầm khủng khiếp—Họ tưởng tượng rằng họ là thế nào là do Thượng đế tạo ra họ như vậy, Thượng đế tạo ra tôi theo cách này. Hãy đi sâu hơn, và tìm ra sự thật rằng bạn đã tự tạo ra mình theo cách này. Đó sẽ là một gánh nặng trách nhiệm lớn trên vai bạn khi bạn thừa nhận điều đó, và rất nhiều người, họ hoàn toàn không muốn thừa nhận điều đó. Nhưng khi bạn chịu trách nhiệm về những gì bạn là và trách nhiệm về những gì bạn phải làm, thì đó thực sự là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy linh hồn đang hoạt động, sự tiếp xúc linh hồn đang diễn ra, và ý thức về trách nhiệm có lẽ trong cả hai phương thức đó là dấu hiệu cho thấy điều đó là như vậy. |
|
If we try to escape from responsibility, we are tying ourselves in a notch and further progress is not possible. The responsibility we should have managed will just come back to us, be dumped upon us, and will seem to cause retardation because we haven’t dealt with it yet, as Daniel Rudyard called it karma, the unfinished business of the past, unfinished business. Do you have the sense of when you’re engaged in new business which is progressive, and when it’s unfinished business which is just a hangover, and needs to be dealt with, corrected. |
Nếu chúng ta cố gắng trốn tránh trách nhiệm, chúng ta đang tự trói mình vào một nút thắt và sự tiến bộ xa hơn là không thể. Trách nhiệm mà lẽ ra chúng ta phải quản lý sẽ chỉ quay trở lại với chúng ta, đổ lên đầu chúng ta, và dường như sẽ gây ra sự chậm trễ vì chúng ta chưa giải quyết nó, như Daniel Rudyard gọi đó là nghiệp quả, công việc chưa hoàn thành của quá khứ, công việc chưa hoàn thành. Các bạn có cảm giác về việc khi nào mình đang tham gia vào công việc mới mang tính tiến bộ, và khi nào đó là công việc chưa hoàn thành vốn chỉ là tàn dư, và cần phải được giải quyết, sửa chữa không. |
|
I think I can maybe discriminate a little bit that way, maybe you can too. What had its origins in the past, and what is along the line of progression, perhaps indicated somewhat by the past, but is certainly new in terms of your attempt to accomplish it and deal with it. |
Tôi nghĩ tôi có thể phân biện một chút theo cách đó, có lẽ các bạn cũng vậy. Điều gì có nguồn gốc trong quá khứ, và điều gì nằm dọc theo lộ trình tiến bộ, có lẽ được chỉ ra phần nào bởi quá khứ, nhưng chắc chắn là mới mẻ xét về nỗ lực của bạn để hoàn thành và giải quyết nó. |
|
So, anyway, mystic meditation, a good strong Neptune, helps with that Uranus being the sign of the occult mind, and given much more or related much more to the kind of occult meditation which we’re being taught, but not without the underpinning of Neptune. |
Vì vậy, thế nào đi nữa, tham thiền thần bí, một sao Hải Vương mạnh mẽ tốt đẹp, giúp ích cho điều đó với sao Thiên Vương là dấu hiệu của trí tuệ huyền môn, và được trao cho nhiều hơn hoặc liên quan nhiều hơn đến loại tham thiền huyền môn mà chúng ta đang được dạy, nhưng không phải là không có nền tảng của sao Hải Vương. |
|
It marks the point of the highest emotional aspiration, |
Nó đánh dấu điểm khát vọng cảm xúc cao nhất, |
|
By the way from which you can die. DK talks about people who have died of their aspiration, so intense that it just lifted them right out of the body and out of the opportunity to continue here and now in the managing of the karma. Maybe that’s why we have something called the veil of aspiration on the etheric plane. It’s kind of an escape, isn’t it? |
từ đó mà các bạn có thể chết. Chân sư DK nói về những người đã chết vì khát vọng của họ, khát vọng mãnh liệt đến nỗi nó nhấc bổng họ ra khỏi cơ thể và rời khỏi cơ hội để tiếp tục ở đây và lúc này trong việc quản lý nghiệp quả. Có lẽ đó là lý do tại sao chúng ta có thứ gọi là bức màn khát vọng trên cõi dĩ thái. Đó là một kiểu trốn thoát, phải không? |
|
It marks the point of the highest emotional aspiration, apart from the scientific application of the law, via the mental body. These laws are those governing the true occult meditation |
Nó đánh dấu điểm khát vọng cảm xúc cao nhất, tách biệt khỏi việc áp dụng định luật một cách khoa học, thông qua thể trí. Những định luật này là những định luật cai quản sự tham thiền huyền môn chân chính |
|
The Law of the Soul, let’s say, the Law of Magnetic Impulse, the Law of Service, the Law of Repulse, the Law of Group Progress. I always forget what the sixth one is. I have a picture of the symbol. The seventh one is Law of The Lower Four. And look it up, I always end up having to go back and look up number six. I think it has a lot to do with the Spiritual Triad, and different laws, systemic laws, and so forth. |
Định luật của Linh hồn, Định luật Xung Động Từ Tính, Định luật Phụng sự, Định luật Đẩy Lùi, Định luật Tiến Bộ Nhóm, và … Tôi luôn quên Định luật thứ sáu là gì. Tôi có một bức ảnh về biểu tượng này. Định luật thứ bảy là Định luật của Bộ Tứ Thấp. Và hãy tra cứu nó, tôi luôn phải quay lại và tra cứu Định luật thứ sáu… Tôi nghĩ nó có nhiều liên quan đến Tam Nguyên Tinh Thần, và các định luật khác nhau, các định luật hệ thống, v.v. |
|
One of our colleagues is doing or completing, a really exhaustive study on occult laws, good thing too. I mean he has so much seventh ray, and he’s beautifully equipped to do that. And then this is one of the ways in which the Morya Federation through the written projects of their students can help others who are also students of these deep matters. |
Một trong những đồng nghiệp của chúng tôi đang thực hiện hoặc hoàn thành một nghiên cứu thực sự thấu đáo về các định luật huyền môn, đó cũng là một điều tốt. Ý tôi là, anh ấy có rất nhiều cung bảy, và anh ấy được trang bị tuyệt vời để làm điều đó. Và rồi đây là một trong những cách mà Liên đoàn Morya thông qua các dự án của các đạo sinh của mình có thể giúp đỡ những người khác cũng là đạo sinh của các vấn đề sâu sắc này. |
|
But I’m kind of tempted—that’s the problem. I always get tempted—to go deeper into it. Does it have the word Magnetic Response or something. I’m not sure. Let’s see. |
Nhưng tôi hơi bị cám dỗ—đó là vấn đề. Tôi luôn bị cám dỗ—đi sâu hơn vào nó. Liệu nó có từ Đáp Ứng Từ Tính hay gì đó không. Tôi không chắc. Hãy xem nào. |
|
… |
… |
|
Here, it’s very interesting law and the very high, and he says very little. so there it is. It is the Law of Expansive Response, and then the Law of the Lower Four. They are advanced laws, and here later in Cosmic Fire (page 1220) and I hope you can see this. |
Đây rồi, nó là định luật rất thú vị và rất cao siêu, và Ngài nói rất ít. Đó là Định luật Đáp Ứng Mở Rộng, và sau đó là Định luật của Bộ Tứ Thấp. Chúng là các định luật nâng cao, và ở đây phần sau trong cuốn Luận về Lửa Vũ Trụ (trang 1220) và tôi hy vọng các bạn có thể thấy điều này. |
|
6. |
Law of Expansive Response. |
(Name not given) |
Flaming Rosy Sun. |
Expansive energy 3rd Ray. Adapting factor. |
|
These laws of the soul, the Law of Expansive Response, number six, the esoteric name is not given, and its symbols of Flaming Rosy Sun, kind of reminds you of the fourth of the formulas, a sun of many colors and cruder colors turning into more pastel and gentle and refined colors, and it’s Expansive Energy, and it’s the third ray, the adapting factor. We probably can tie all these things in. … |
Những định luật của linh hồn này, Định luật Đáp Ứng Mở Rộng, số sáu, không có tên nội môn được nêu ra, và biểu tượng của nó là Mặt Trời Hồng Rực, phần nào gợi nhớ đến công thức thứ tư, một mặt trời với nhiều màu sắc, trong đó những màu thô và đậm dần chuyển thành các màu nhạt hơn, dịu hơn và tinh tế hơn; và đó là năng lượng mở rộng, thuộc cung ba, yếu tố thích nghi. Có lẽ chúng ta có thể kết nối tất cả những điều này lại với nhau. … |
The Laws and Symbols— Các Định Luật và Biểu Tượng
|
No. |
Exoteric Name |
Esoteric Name |
Symbol |
Ray Energy |
|
|
Số |
Tên Ngoại Môn |
Tên Nội Môn |
Biểu tượng |
Năng lượng Cung |
|
|
1. |
Law of Sacrifice. |
The Law of Those Who Choose to Die. |
A Rosy Cross with Golden Birds. |
Outpouring |
4th Ray. |
|
1. |
Định luật Hi Sinh. |
Định luật của Những Ai Chọn Chết. |
Một Thánh Giá Hồng với Chim Vàng. |
Tuôn đổ |
Cung bốn. |
|
At-one-ing factor. |
|||||
|
Yếu tố hợp nhất. |
|||||
|
2. |
Law of Magnetic Impulse. |
The Law of the Polar Union. |
Two fiery balls and triangle. |
Radiatory energy |
2nd Ray. |
|
Định luật Xung Động Từ Tính. |
Định luật của Sự Hợp Nhất Hai Cực. |
Hai quả cầu lửa và tam giác. |
Năng lượng phóng xạ |
Cung hai. |
|
|
Manifesting factor. |
|||||
|
Yếu tố biểu lộ. |
|||||
|
3. |
Law of Service. |
The Law of Water and of Fishes. |
A Pitcher on the head of a man. |
Outgoing energy |
6th Ray. |
|
Định luật Phụng Sự. |
Định luật của Nước và Cá. |
Một Bình Nước trên đầu một người. |
Năng lượng đi ra |
Cung sáu. |
|
|
Vivifying factor. |
|||||
|
Yếu tố làm sống động. |
|||||
|
4. |
Law of Repulse. |
The Law of all Destroying Angels. |
An Angel with a flaming sword. |
Rejecting energy |
1st Ray. |
|
Định luật Đẩy Lùi. |
Định luật của tất cả Thiên Thần Hủy Diệt. |
Một Thiên Thần với thanh kiếm lửa. |
Năng lượng từ chối |
Cung một. |
|
|
Dispersing factor. |
|||||
|
Yếu tố phân tán. |
|||||
|
5. |
Law of Group Progress. |
The Law of Elevation. |
The Mountain and the Goat. |
Progressive energy |
7th Ray. |
|
Định luật Tiến Bộ Nhóm. |
Định luật Nâng Lên. |
Ngọn Núi và Con Dê. |
Năng lượng tiến bộ |
Cung bảy. |
|
|
Evolving factor. |
|||||
|
Yếu tố tiến hoá. |
|||||
|
6. |
Law of Expansive Response. |
(Name not given) |
Flaming Rosy Sun. |
Expansive energy |
3rd Ray. |
|
Định luật Đáp Ứng Mở Rộng. |
(Không cho tên) |
Mặt Trời Hồng Rực Lửa. |
Năng lượng mở rộng |
Cung ba. |
|
|
Adapting factor. |
|||||
|
Yếu tố thích ứng. |
|||||
|
7. |
Law of the Lower Four. |
The Law of Etheric Union. |
A Male and Female Form, placed back to back. |
Fiery energy |
5th Ray. |
|
Định luật của Bốn Thấp. |
Định luật Hợp Nhất Dĩ Thái. |
Một Hình thể Nam và Nữ, đặt lưng áp lưng. |
Năng lượng lửa |
Cung năm. |
|
|
Vitalizing factor. |
|||||
|
Yếu tố tràn đầy sinh lực. |
|
Then the lower four coming in under the fifth ray. Every one of these has its own ray, Sacrifice the fourth ray, Magnetic Impulse the second, the Law Of Service the sixth. So, there’s the 246 right there, and everything else is on the hard line. Law of Repulse the first ray, Law Of Group Progress the seventh ray, Law Of Expansive Response, the one I’m always forget, on the third ray, and then the Law Of The Lower Four on the fifth ray. Very deep things, and probably to be used in a new type of Masonry, I would guess. I mean they’re all kinds of analogical pictorial things going on in Masonry that help people get a handle on some higher thoughts. But these are the true occult images, and will be useful. |
Sau đó bộ tứ thấp thuộc cung năm. Mỗi Định luật trong số này đều có cung riêng của nó, Hy sinh cung bốn, Xung Động Từ Tính cung hai, Định luật Phụng sự cung sáu. Vì vậy, có 2-4-6 ngay tại đó, và mọi thứ khác đều nằm trên dòng cứng. Định luật Đẩy Lùi cung một, Định luật Tiến Bộ Nhóm cung bảy, Định luật Đáp Ứng Mở Rộng, cái mà tôi luôn quên, thuộc cung ba, và sau đó Định luật của Bộ Tứ Thấp thuộc cung năm. Những điều rất sâu sắc, và có lẽ được sử dụng trong Hội Tam Điểm mới, tôi đoán vậy. Ý tôi là có đủ loại hình ảnh tương đồng đang diễn ra trong Tam Điểm giúp mọi người nắm bắt một số tư tưởng cao hơn. Nhưng đây là những hình ảnh huyền môn chân thực và sẽ hữu ích. |
|
So, where was I? 😊 That’s always the question, isn’t it? Where was I? |
À, tôi đã ở đâu nhỉ? 😊 Đó luôn là câu hỏi, phải không? Tôi đã ở đâu? |
|
[7] |
|
|
Behind each of you who are working definitely under one of the Masters, lie two lives of culmination:—the life of worldly apotheosis and the life of intensest meditation along the mystic or emotional-intuitional line. This meditative life was taken either in a monastery or nunnery in middle Europe by those linked with the Master Jesus and His disciples, or in India, Tibet or China by the pupils of the Master M. or the Master K. H. |
Đằng sau mỗi người trong các bạn đang làm việc dứt khoát dưới sự hướng dẫn của một trong các Chân sư, là hai kiếp sống tột đỉnh:—kiếp sống tôn vinh thế tục và kiếp sống tham thiền mãnh liệt nhất theo dòng thần bí hoặc cảm xúc-trực giác. Kiếp sống tham thiền này được thực hiện hoặc trong một tu viện hoặc ni viện ở trung tâm Châu Âu bởi những người liên kết với Chân sư Jesus và các đệ tử của Ngài, hoặc ở Ấn Độ, Tây Tạng hay Trung Hoa bởi các học trò của Chân sư M. hoặc Chân sư K. H. |
|
Behind each of you who are working definitely under one of the Masters, lie two lives of culmination |
Đằng sau mỗi người trong các bạn, những người đang làm việc dứt khoát dưới quyền một trong các Chân sư, có hai kiếp sống tột đỉnh |
|
And he’s pretty much talking to his students, isn’t he? So, here it is. |
Và Ngài gần như đang nói chuyện với các đạo sinh của Ngài, phải không? |
|
Behind each of you who are working definitely under one of the Masters, lie two lives of culmination:—the life of worldly apotheosis and the life of intensest meditation along the mystic or emotional-intuitional line. |
Đằng sau mỗi người trong các bạn, những người đang làm việc dứt khoát dưới quyền một trong các Chân sư, có hai kiếp sống tột đỉnh:—kiếp sống của sự tôn vinh trần thế và kiếp sống của sự tham thiền mãnh liệt nhất theo đường lối thần bí hoặc cảm dục-trực giác. |
|
That’s so Neptunian, is it not? And then, the sun shines, the personality factor shines. The sun, being in a way the fifth of the non-sacred planets, is not really the sun, but the sun is considered strangely a non-sacred planet. So, the sun of worldly apotheosis shines here, that may have been a long time ago, maybe it’s easier for us to kind of remember the emotional life, the emotional intuitional mystical life. I think it’s easier, it’s more recent, isn’t it? |
Điều đó thật đậm chất sao Hải Vương, phải không? Và rồi, mặt trời tỏa sáng, yếu tố phàm ngã tỏa sáng. Mặt trời, theo một cách nào đó là hành tinh thứ năm trong các hành tinh không thiêng liêng, không thực sự là mặt trời, nhưng lạ lùng thay mặt trời được xem là một hành tinh không thiêng liêng. Vì vậy, mặt trời của sự tôn vinh trần thế tỏa sáng ở đây, điều đó có thể đã xảy ra từ rất lâu rồi, có lẽ dễ dàng hơn cho chúng ta để nhớ lại phần nào kiếp sống cảm xúc, kiếp sống thần bí cảm dục trực giác. Tôi nghĩ nó dễ hơn, nó gần đây hơn, phải không? |
|
This meditative life was taken either in a monastery or nunnery in middle Europe by those linked with the Master Jesus and His disciples, or in India, Tibet or China by the pupils of the Master M. or the Master K. H. |
Kiếp sống tham thiền này diễn ra hoặc trong một tu viện hay nhà kín ở trung Âu bởi những người có liên kết với Chân sư Jesus và các đệ tử của Ngài, hoặc ở Ấn Độ, Tây Tạng hay Trung Hoa bởi các đệ tử của Chân sư M. hoặc Chân sư K. H. |
|
There it is. I’m elaborating on things which are just about to come up in the book, but which I haven’t seen. So, for the moment, the memory is somewhat working. |
Tôi đang diễn giải những điều sắp xuất hiện trong sách, nhưng tôi chưa xem qua, vì vậy, vào lúc này, trí nhớ tôi đang hoạt động phần nào. |
|
We’ve been there, and depending upon the degree of our interest in these matters, that’s a confirmation. Our degree of interest, we’re all missing something. I mean we’re not rounded out in our causal body, not yet, otherwise we’d be pretty much ready to hand it in in that accolade of fire. But we’re not there yet, the third initiation is a high attainment, and it’s not the fourth, even though the two can be taken in the same life startlingly. The second, third, and fourth can be taken in the same life, and he uses the word usually in that connection. When you kind of look at yourself and other people and you wonder can that be so. Page 84 and 85 of Initiation Human And Solar right there, between those two pages, but progress is rapid once the second degree is established, and because new teachers and exemplars and leaders even of the fifth degree will be needed, many of them, the pressure is on to attain more rapidly, and maybe we can. I’m thinking we can as long as rapid attainment and ambition do not present themselves together. You can have rapid attainment and the urge can be service and helpfulness, and not your own grandiosity, no matter how grand you may think you are. All of us are just the tiniest, little infinitesimal blip, compared to what we really are. Every one of us, every perception, every perception indicates a being of some kind, and every being is one being. a platitude easily repeated, and a platitude maybe of the abstract mind, but the intuitional registering of it, that’s what we’re working on. |
Chúng ta đã ở đó, và tùy thuộc vào mức độ quan tâm của chúng ta đối với những vấn đề này, đó là một sự xác nhận. Mức độ quan tâm của chúng ta, tất cả chúng ta đều đang thiếu một cái gì đó. Ý tôi là chúng ta chưa hoàn thiện trong thể nguyên nhân của mình, chưa đâu, nếu không chúng ta đã sẵn sàng để dâng nó trong sự tôn vinh bằng lửa. Chúng ta chưa đến đó, lần điểm đạo thứ ba là một thành tựu cao cả, và nó không phải là lần điểm đạo thứ tư, mặc dù cả hai có thể được thực hiện trong cùng một kiếp sống. Lần thứ hai, thứ ba và thứ tư có thể được thực hiện trong cùng một kiếp sống, và Ngài sử dụng từ thường trong mối liên hệ đó. Khi các bạn nhìn vào chính mình và những người khác và tự hỏi liệu điều đó có thể như vậy không. Trang 84 và 85 của cuốn Điểm Đạo trong Nhân Loại và Thái Dương ngay đó, giữa hai trang đó, nhưng sự tiến bộ sẽ nhanh chóng một khi cấp độ thứ hai được thiết lập, và bởi vì những huấn sư mới và những tấm gương và những người lãnh đạo thậm chí ở cấp độ thứ năm sẽ được cần đến, nhiều người trong số họ, áp lực là phải thành tựu nhanh hơn, và có lẽ chúng ta có thể. Tôi nghĩ chúng ta có thể đạt được, miễn là sự thành tựu nhanh chóng và tham vọng không xuất hiện cùng nhau. Các bạn có thể thành tựu nhanh chóng và sự thôi thúc thành tựu là để phụng sự và cho sự hữu ích, chứ không phải sự vĩ đại của riêng các bạn, bất kể các bạn nghĩ mình vĩ đại đến mức nào. Tất cả chúng ta chỉ là một đốm nhỏ xíu, cực nhỏ, so với những gì chúng ta thực sự là. Mỗi người trong chúng ta, mọi nhận thức đều chỉ ra một thực thể thuộc loại nào đó, và mọi thực thể là một thực thể. Đó là một câu nói sáo rỗng dễ lặp lại, và có thể là một lời nói sáo rỗng của trí trừu tượng, nhưng việc ghi nhận bằng trực giác về nó, đó là điều chúng ta đang thực hiện. |
|
Now comes to all of you the most important series of lives to which the previous points of culmination were but stepping stones |
Giờ đây, đến với tất cả các bạn là chuỗi các kiếp sống quan trọng nhất mà những điểm cực điểm trước đó chỉ là những bước đệm |
|
It’s always that, one two three. It’s not personality grandeur. It’s not mystical emotional aspirational meditation. It’s something else. Now, |
Đó luôn là trình tự một-hai-ba. Đó không phải là sự vĩ đại của phàm ngã. Đó không phải là sự tham thiền đầy khát vọng cảm xúc thần bí. Nó là một cái gì đó khác. |
|
In the lives immediately ahead of those upon the Path will come final achievement through the instrumentality of the ordered occult meditation, based on law |
Thành tựu cuối cùng sẽ đến trong những kiếp sống ngay phía trước của những ai đang trên Thánh đạo thông qua công cụ của tham thiền huyền bí có trật tự, dựa trên định luật. |
|
Powerful statement and applying to all of us if we are of the type that really persists, really sticks with it. |
Một tuyên bố mạnh mẽ và áp dụng cho tất cả chúng ta nếu chúng ta thuộc loại người thực sự kiên trì, thực sự gắn bó với nó. |
|
In the lives immediately ahead of those upon the path will come final achievement through the instrumentality of the ordered occult meditation based on law. |
Thành tựu cuối cùng sẽ đến trong những kiếp sống ngay phía trước của những ai đang trên Thánh đạo thông qua công cụ của tham thiền huyền bí có trật tự, dựa trên định luật. |
|
there’s Uranus, right? And to a certain extent Saturn, law. Uranus is also law. It’s the breaking of the law, but it’s according to the law. I mean, conditioned laws are broken according to the laws which are presented by the archetype of purpose. It’s uncomfortable to break one’s conditioning which may not at all be reflective of the archetype, or always has deficiencies. But with the archetype under Uranus, the right arrangement of things under the seventh ray and first ray presents itself, and then we can modify our conditioned life so that our conditioning resembles as close as possible the fixed design, the inner arrangement, the inner archetype, which says this is how you are to be in the lower worlds as a reflection of how you already are in the higher worlds. |
Ở đó có sao Thiên Vương, và ở một mức độ nào đó là sao Thổ, Định luật. Sao Thiên Vương cũng là Định luật; đó là việc phá vỡ Định luật, nhưng nó tuân theo các Định luật—Ý tôi là, các định luật quy định bị phá vỡ theo các định luật được trình bày bởi nguyên mẫu của mục đích. Thật không thoải mái khi phá vỡ sự quy định của một người mà có thể hoàn toàn không phản ánh nguyên mẫu, hoặc luôn có những khiếm khuyết. Nhưng với nguyên mẫu, dưới sự dẫn dắt của sao Thiên Vương, sự sắp xếp đúng đắn của mọi thứ dưới cung bảy và cung một sẽ xuất hiện, và sau đó chúng ta có thể điều chỉnh đời sống có điều kiện của mình để sự điều kiện hóa của chúng ta giống nhất có thể với sự thiết lập cố định, sự sắp xếp bên trong, nguyên mẫu bên trong vốn nói rằng: đây là cách bạn phải tồn tại ở các cõi thấp, như một sự phản chiếu của việc bạn vốn đã hiện hữu ở các cõi cao hơn. |
|
For some few may come attainment in this life or the next; for others, shortly in other lives. |
Đối với một số ít người, thành tựu có thể đến trong kiếp này hoặc kiếp sau; đối với những người khác, sẽ sớm thôi trong các kiếp khác. |
|
It’s DK’s estimation of time. He says there are worse tragedies than to die. He knows and tells us that. When we die, we shall be confronted with a very familiar experience, probably we won’t realize the familiarity of it until it’s happening, and then we will re-realize it, and say, “Oh, yes, Oh this”. And in the future lives will be shorter if anything as the ability to execute purpose skillfully will be increased. So, |
Đó là ước tính thời gian của Chân sư DK. Ngài nói rằng có những bi kịch tồi tệ hơn là cái chết. Ngài biết và nói với chúng ta điều đó. Khi chúng ta chết, chúng ta sẽ đối mặt với một trải nghiệm rất quen thuộc, có lẽ chúng ta sẽ không nhận ra sự quen thuộc của nó cho đến khi nó đang xảy ra, và rồi chúng ta sẽ nhận ra lại nó, và nói, “Ồ, vâng, Ồ là cái này”. Và trong tương lai, các kiếp sống sẽ ngắn hơn, nếu có gì đó thay đổi, vì khả năng thực thi mục đích một cách khéo léo sẽ được gia tăng. Vì vậy, |
|
For some few may come attainment in this life or the next; for others, shortly in other lives. For a few there lies ahead |
Đối với một số ít người, thành tựu có thể đến trong kiếp này hoặc kiếp sau; đối với những người khác, sẽ sớm thôi trong các kiếp khác. Đối với một số ít người, |
|
Is he talking to his students? |
Có phải Ngài đang nói với các đệ tử của mình không? |
|
the attainment of the mystic method, to be the basis later on of the occult or mental method. |
Đối với một số ít, sự đạt được phương pháp thần bí đang chờ đợi phía trước, để trở thành nền tảng sau này cho phương pháp huyền bí hay phương pháp trí tuệ. |
|
The Alice Bailey’s students are so often accused of being too mental, but they have a very mental Master in that respect, who by the way is one whose ashram radiates the energy of right human relations. So, it’s not just mental. No, not at all. There’s a great compassion and patience, helpfulness behind all that mentality. When you really look at such a teacher as master DK and you compare him with just other normal teachers in the normal educational world, you can see what he has attained, something of it anyway, and you can see the deficiencies of more limited types of education. Here we have a real rounding out in this method of education of Knowledge, Wisdom, Love, and Will and Purpose, and that how often is that found in the normal methods of education. Not very often. So, what a great gift it is to have discovered this material given with all encouragement and with compassion and with inspiration to those human beings who can respond to it. |
Các môn sinh của Alice Bailey thường bị cáo buộc là quá thiên về trí tuệ, nhưng họ có một Chân sư rất trí tuệ ở khía cạnh đó, là Đấng mà ashram của Ngài tỏa ra năng lượng của quan hệ nhân loại đúng đắn. Vì vậy, nó không chỉ là trí tuệ. Không, hoàn toàn không. Có một lòng từ bi và kiên nhẫn vĩ đại, sự hữu ích đằng sau tất cả trí tuệ đó. Khi các bạn thực sự nhìn vào một huấn sư như Chân sư DK và so sánh Ngài với những huấn sư bình thường khác trong thế giới giáo dục bình thường, các bạn có thể thấy những gì Ngài đã đạt được, ít ra thì cũng một phần nào đó, và các bạn có thể thấy những khiếm khuyết của các loại hình giáo dục hạn chế hơn. Ở đây chúng ta có một sự hoàn thiện thực sự trong phương pháp giáo dục về Tri thức, Minh triết, Tình thương, Ý chí và Mục đích, và những điều đó được tìm thấy như thế nào trong các phương pháp giáo dục bình thường? Không thường xuyên lắm. Vì vậy, thật là một món quà tuyệt vời khi khám phá ra tài liệu này được ban tặng với tất cả sự khuyến khích và lòng từ bi cùng với cảm hứng cho những con người có thể đáp ứng với nó. |
|
We have to be grateful that we are among those human beings who can respond in some measure to what is given, I mean, more than we can ever absorb is given. He has told us, but we can respond in some measure, and it makes such a difference in how we live our life, the kind of example we are inclined to set, even if we don’t always succeed, and the general educational impact that we have upon others in the beginning. |
Chúng ta phải biết ơn rằng chúng ta nằm trong số những con người có thể đáp ứng ở một mức độ nào đó với những gì được ban tặng, và ý tôi là ban tặng nhiều hơn những gì chúng ta có thể hấp thụ được. Ngài đã nói với chúng ta như thế, nhưng chúng ta có thể đáp ứng ở một mức độ nào đó, và nó tạo ra sự khác biệt lớn trong cách chúng ta sống cuộc đời mình, loại tấm gương mà chúng ta có xu hướng thiết lập, ngay cả khi chúng ta không phải lúc nào cũng thành công, và tác động giáo dục chung mà chúng ta có đối với những người khác ngay từ đầu. |
|
Four points: Enquire the Way, Obey the inner Impulses of the soul, pay no attention to the worldly wisdom of even the wisest in the worldly sense, and set an example, those are the four methods of attaining Adeptship. And remember, it’s not about ambition because Adepts of the fifth degree, initiates of the fifth degree are really going to be needed in quantity during the Aquarian age. |
Bốn điểm: Hỏi về Con Đường, Tuân theo những Thôi thúc bên trong của linh hồn, không chú ý đến sự khôn ngoan thế gian của ngay cả những người khôn ngoan nhất theo nghĩa thế gian, và nêu gương, đó là bốn phương pháp để đạt được quả vị Chân sư. Và hãy nhớ rằng, điều đó không phải là về tham vọng bởi vì các Chân sư, các điểm đạo đồ bậc năm thực sự sẽ rất cần thiết về số lượng trong kỷ nguyên Bảo Bình. |
|
Now, given that the fifth ray which naturally by numerical resonance has a lot to do with the fifth initiation, even though it’s the first ray that’s normally given in connection with that initiation, given the fifth ray, given Leo, given the increasing strength of the first ray, we may wonder how in the world could we achieve Adeptship. When you accurately assess where you stand now, but without pride and without overestimation or whatever, there is a need, and when you’ve set yourself to fulfill the need, there’s a wind at your back. Or if you’re swimming in the stream, the current flows faster, and you are born along by other energies which hasten your achievement, and not for yourself of course, but for “the joy of doing the Master’s work”, increasingly the joy of doing the Master’s work. And more importantly, even the helpfulness that you can render when you’re in the position of doing the Master’s work, that we may not work specifically of the Master, but that which the Master has assigned to initiates of your caliber and my caliber, and we will find eventually, and maybe not so long, and maybe during the Aquarian age where those who really work assiduously at the task that mastership will be possible. |
Bây giờ, xét đến cung năm—do sự cộng hưởng số học, tự nhiên có liên quan nhiều đến lần điểm đạo thứ năm, mặc dù cung một thường được đưa ra trong mối liên hệ với lần điểm đạo đó—xét đến cung năm, xét đến Sư Tử, xét đến sức mạnh ngày càng tăng của cung một, chúng ta có thể tự hỏi làm thế nào trên thế gian này chúng ta có thể đạt được quả vị Chân sư. Khi các bạn đánh giá chính xác vị trí của mình hiện tại, nhưng không kiêu ngạo và không đánh giá quá cao hay bất cứ điều gì, thì có một nhu cầu, và khi các bạn đã đặt mình vào việc đáp ứng nhu cầu đó, sẽ có một luồng gió thổi sau lưng các bạn. Hoặc nếu các bạn đang bơi trong dòng sông, dòng chảy sẽ chảy nhanh hơn, và các bạn được mang đi bởi những năng lượng khác thúc đẩy thành tựu của các bạn, và tất nhiên không phải cho bản thân các bạn, mà cho “niềm vui được làm công việc của Chân sư”, ngày càng là niềm vui được làm công việc của Chân sư. Và quan trọng hơn, ngay cả sự hữu ích mà các bạn có thể trao đi khi các bạn ở vị thế làm công việc của Chân sư, rằng chúng ta có thể không làm việc cụ thể của Chân sư, mà là việc mà Chân sư đã giao cho các điểm đạo đồ ở tầm cỡ của các bạn và tầm cỡ của tôi, và chúng ta sẽ tìm thấy cuối cùng, và có lẽ không lâu lắm, và có lẽ trong kỷ nguyên Bảo Bình nơi những người thực sự làm việc siêng năng với nhiệm vụ thì quả vị chân sư sẽ khả thi. |
|
It’s just a drop in the bucket. I mean the Masters are amused, it is said, at how their students overestimate them. It’s a bit like calling Jesus the only Son of God in the entire universe. That sense of proportion is missing. But we can’t achieve through humility. An adjusted sense of proportion and know what is the scope and the possibility possibilities of each initiate, and what is our own scope, and how we can widen that and deepen that. |
Đó chỉ là một giọt nước trong thùng. Ý tôi là, người ta nói rằng các Chân sư cảm thấy buồn cười về việc các đệ tử đánh giá quá cao các Ngài. Nó hơi giống như gọi Đức Jesus là Người Con duy nhất của Thượng đế trong toàn bộ vũ trụ. Ý thức về tỉ lệ bị thiếu. Nhưng chúng ta không thể đạt được thông qua sự khiêm tốn giả tạo. Một ý thức về tỉ lệ đã được điều chỉnh và biết đâu là phạm vi và các khả năng của mỗi điểm đạo đồ, và đâu là phạm vi của riêng chúng ta, và làm thế nào chúng ta có thể mở rộng và làm sâu sắc thêm điều đó. |
|
So, the opportunity now is with us if we but realize it and do our best, like the Tibetan, for those who are called that way, to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever response can be found. Others will have a different dharma in all this. They may not be along the teaching line at all. They will be along an important Ashramic line, and they just have to carry out what that line is according to their ray. They don’t want to bark up the wrong tree as it were. I mean if you’re a leader in some political sense, you don’t want to be seeking out the destiny of a teacher, and vice versa, you want to stick to your own stream and then you’ll be supplemented by other qualities and abilities in the general rounding out process. But at least, you’ll be working along the right stream. |
Vì vậy, cơ hội hiện đang ở với chúng ta nếu chúng ta chỉ cần nhận ra nó và cố gắng hết sức, giống như Chân sư Tây Tạng, đối với những ai được gọi theo cách đó, để giảng dạy và truyền bá kiến thức về Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào có thể tìm thấy sự đáp ứng. Những người khác sẽ có một dharma khác trong tất cả những điều này. Họ có thể hoàn toàn không theo đường lối giảng dạy. Họ sẽ theo một đường lối Ashram quan trọng, và họ chỉ phải thực hiện đường lối đó theo cung của họ. Họ không muốn đi sai đường. Ý tôi là, nếu bạn là một nhà lãnh đạo chính trị nào đó, bạn không muốn tìm kiếm định mệnh của một huấn sư và ngược lại. Bạn muốn bám sát dòng chảy của chính mình, và sau đó bạn sẽ được bổ sung bởi các phẩm tính và khả năng khác trong quá trình hoàn thiện chung, nhưng ít nhất bạn sẽ làm việc theo đúng dòng chảy. |
|
So, it’s so important to determine what is your purpose at this time, given your abilities, and to stick to those indicated tasks which align with your purpose, takes a while in the meditative life to know what that should be. |
Vì vậy, thật quan trọng để xác định mục đích của các bạn vào lúc này là gì, dựa trên các khả năng của các bạn, và kiên trì với những nhiệm vụ được chỉ ra phù hợp với mục đích của các bạn, và cần một thời gian trong đời sống tham thiền để biết điều đó nên là gì. |
|
If I think of my own life, I sometimes use myself as an example, maybe it’s helpful, maybe it’s not, but what’s an opera director doing here, examining with as much meticulous entirety as he can, manage the details of the Ageless Wisdom. We go through transitions, and we move from the past to the future, past to the present to the future, and we learn that we exhaust personality indications and move on to that which the soul indicates. We stay alert and we suffer through the period of transition and change from something that is assured to something that is of great interest, but carries much less surety than the comfort zone. Probably in your life, you have had to leave certain comfort zones, maybe you’re still clinging to them to a certain extent, but already you’re being stretched into a new area where the exhilaration, the inspiration seem to lie, but the comfort of habitual involvement is not there, and yet the pressure within you pushes you in that direction, and you have to go hopefully wisely, because we don’t always make our transitions wisely. |
Nếu tôi nghĩ về cuộc đời của chính mình—đôi khi tôi sử dụng bản thân mình làm ví dụ—có thể nó hữu ích, có thể không, nhưng một đạo diễn opera đang làm gì ở đây, xem xét với sự trọn vẹn tỉ mỉ nhất có thể, quản lý các chi tiết của Minh Triết Ngàn Đời. Chúng ta trải qua các giai đoạn chuyển tiếp, và chúng ta chuyển từ quá khứ đến tương lai, quá khứ đến hiện tại đến tương lai, và chúng ta học được rằng chúng ta làm cạn kiệt các dấu hiệu của phàm ngã và chuyển sang những gì linh hồn chỉ ra. Chúng ta luôn tỉnh táo và chịu đựng đi qua giai đoạn chuyển tiếp và thay đổi từ một cái gì đó được đảm bảo sang một cái gì đó rất thú vị, nhưng mang lại ít sự chắc chắn hơn nhiều so với vùng an toàn. Có lẽ trong cuộc đời các bạn, các bạn đã phải rời bỏ những vùng an toàn nào đó, có thể các bạn vẫn đang bám víu vào chúng ở một mức độ nào đó, nhưng các bạn đã bị kéo căng vào một khu vực mới nơi sự phấn khích, cảm hứng dường như nằm ở đó, nhưng sự thoải mái của sự tham gia theo thói quen không còn ở đó, và tuy nhiên áp lực bên trong các bạn đẩy các bạn đi theo hướng đó, và các bạn phải đi hy vọng là một cách khôn ngoan, bởi vì chúng ta không phải lúc nào cũng thực hiện các chuyển tiếp của mình một cách khôn ngoan. |
|
I guess to look back upon your life that decisions you’ve made. Some of them very good, some of them very bad. Try to see what the consequences have been. Breathe a sigh of relief that when you had a choice between alternatives, and you chose the good one, you saved a lot of pain for yourself and others in the long run. We do have to be able to examine the life and see what the general shape has been as DK said that geometrical figure appears telling us summarizing, symbolizing, the nature of the incarnation we’ve just had, and becoming more definite, more regular, more beautiful as we move along. But we have to be able to assess what it is and how we’ve done. |
Tôi đoán là nhìn lại cuộc đời mình qua những quyết định mà các bạn đã đưa ra, một số rất tốt, một số rất tệ, cố gắng xem hậu quả là gì, thở phào nhẹ nhõm rằng khi các bạn có sự lựa chọn giữa các phương án thay thế và các bạn đã chọn phương án tốt, các bạn đã cứu vãn được rất nhiều nỗi đau cho chính mình và những người khác về lâu dài. Chúng ta thực sự phải có khả năng xem xét cuộc đời và xem hình dạng chung của nó là gì, như Đức DK đã nói, hình học đó xuất hiện, nói cho chúng ta biết, tóm tắt, biểu tượng hóa bản chất của kiếp sống mà chúng ta vừa trải qua và trở nên xác định hơn, đều đặn hơn, đẹp đẽ hơn khi chúng ta tiến bước. Nhưng chúng ta phải có khả năng đánh giá nó là gì và chúng ta đã làm như thế nào. |
|
I have to recommend that movie called Illusion[12] with Kirk Douglas[13]. He lived, I think, to be 103. He just recently passed on, but he must have believed in these things because it’s all about the akashic records, and altering them through wise choice, and we have the opportunity to examine each one of our decisions looming before us, and say It, as we go left or does it go right, and we want to choose what in occultism is called the right hand path which is not the same as the left and the right in politics necessarily. |
Tôi phải giới thiệu bộ phim có tên là Ảo Tưởng với Kirk Douglas. Tôi nghĩ ông ấy đã sống đến 103 tuổi. Ông ấy vừa mới qua đời gần đây, nhưng ông ấy hẳn phải tin vào những điều này bởi vì nó hoàn toàn là về hồ sơ akasha, và thay đổi chúng thông qua sự lựa chọn khôn ngoan, và chúng ta có cơ hội xem xét từng quyết định của chúng ta đang hiện ra trước mắt, và nói Nó, khi chúng ta đi sang trái hay nó đi sang phải, và chúng ta muốn chọn cái mà trong huyền bí học gọi là chánh đạo vốn không nhất thiết giống như cánh tả và cánh hữu trong chính trị. |
|
So, it takes a lot of alert observance living, to be that observer that lives the life as the liver and the observer. And as the observer, we find out finally that the monad is the observer, the true spirits. At first, it isn’t that, it doesn’t seem to be that. But eventually we realize we have been the Spirit all along in every capacity, and more and more wisely we choose according to the indications and the destiny of our Monad, our Spirit. |
Vì vậy, cần rất nhiều sự sống quan sát tỉnh táo, để trở thành người quan sát, sống cuộc đời như là người sống và người quan sát. Và với tư cách là người quan sát, cuối cùng chúng ta phát hiện ra rằng chân thần là người quan sát, các tinh thần chân thực. Lúc đầu, không phải là vậy, dường như không phải là vậy, nhưng cuối cùng chúng ta nhận ra chúng ta vẫn luôn là Tinh thần trong mọi năng lực, và ngày càng khôn ngoan hơn, chúng ta lựa chọn theo các dấu hiệu và định mệnh của Chân thần, Tinh thần của chúng ta. |