TECHNIQUES OF INTEGRATION WEBINAR #4
SIX PHASES OF INTEGRATION
(Pages 350-352)
Abstract
|
Techniques of Integration Webinar Commentary 4 covers pages 350-352, and is about one hour and thirty minutes long. Topics include: 1): the progress of humanity is from one realised integration to another; 2): man’s basic integrity is in the realm of consciousness; 3): Six Phases of Integration: a., Lemurian—vital/physical; b., Atlantean—sensitivity/astral; c., Aryan—lower mental; d., early Path of Probation—integration of the personality within itself; e., higher Path of Probation—integrated personality serves; f., integration into the Kingdom of God until the third degree initiate; g., other integrations follow; 4): these ray techniques are imposed by the soul upon the personality after it has been somewhat integrated into a functioning entity; 5): at least slight responsiveness of the personality to the soul is required before a specific Technique of Integration can be applied by the soul; 6): analysis and interpretation of the ray 1 Technique of Integration from The Old Commentary. |
Webinar về Kỹ thuật Tích hợp 4 bao gồm các trang 350-352 và dài khoảng một giờ ba mươi phút. Các chủ đề bao gồm: 1): sự tiến bộ của nhân loại là từ sự tích hợp này sang sự tích hợp khác; 2): tính toàn vẹn cơ bản của con người nằm trong lĩnh vực tâm thức; 3): Sáu Giai Đoạn Tích Hợp: a., Lemurian—sinh lực/thể chất; b., Atlantean—sự nhạy cảm/cảm dục; c., Aryan—hạ trí; d., Con đường Dự bị, giai đoạn đầu—sự tích hợp của phàm ngã vào trong chính nó; e., Con đường Dự bị cao hơn—phàm ngã tích hợp phụng sự; f., tích hợp vào Thiên Giới cho đến khi được điểm đạo lần thứ ba; g., các tích hợp khác theo sau; 4): những kỹ thuật cung này được linh hồn áp đặt lên phàm ngã sau khi nó đã được tích hợp phần nào vào một thực thể tích cực; 5): cần có ít nhất sự đáp ứng nào đó của phàm ngã đối với linh hồn trước khi linh hồn có thể áp dụng một Kỹ thuật Tích hợp cụ thể; 6): phân tích và giải thích Kỹ thuật Tích hợp Cung 1 từ Cổ Luận. |
Text
Text with notes
|
The progress of humanity is from one realised integration to another; {it is not sufficient that these integrations take place only in the realm of activity—the second aspect of divinity must be involved—the consciousness aspect… man’s basic integrity is, however, in the realm of consciousness. [1a] This is a statement of importance. It might be remarked—speaking loosely and generally—that [1b] |
Sự tiến bộ của nhân loại là từ sự tích hợp được nhận thức này sang sự tích hợp khác; {Những sự tích hợp này chỉ diễn ra trong lĩnh vực hoạt động thì chưa đủ—khía cạnh thứ hai của thiên tính phải được tham gia, khía cạnh tâm thức… tuy nhiên, tính toàn vẹn cơ bản của con người là ở lĩnh vực tâm thức. [1a] Đây là một phát biểu quan trọng. Có thể nhận xét—nói một cách lỏng lẻo và tổng quát—rằng [1b] |
|
{The first integrations are within the vehicles of the human being—and along with such integrations come partial integrations with the environment… |
{Sự tích hợp đầu tiên nằm trong các thể của con người—và cùng với sự tích hợp như vậy là sự tích hợp một phần với môi trường… |
|
1. In Lemurian times, humanity achieved the integration of the vital or etheric body with the physical body. [1c] {To what extent was this realized—Laya Yoga had its birth at this time… |
1. Vào thời Lemurian, nhân loại đã đạt được sự hợp nhất của thể sinh lực hoặc thể dĩ thái với thể xác. [1c] {Điều này đã được nhận ra ở mức độ nào? Laya Yoga đã ra đời vào thời điểm này… |
|
2. In Atlantean times, humanity added to the already achieved synthesis {the word “synthesis” is used for “integration” still another part, that of the astral nature, and psychic man came definitely into being. [1d] {Before that time we had physical-vital man… He was alive {as a result of the first integration and at the same time sensitive and responsive to his environment in a wider and more specialised sense. [1e] {He could attune with the attractive or repulsive qualities of the environment and of other human beings… |
2. Vào thời Atlantis, nhân loại đã bổ sung thêm vào sự tổng hợp đã đạt được {từ “tổng hợp” được dùng để chỉ “sự tích hợp” một phần khác nữa, đó là bản chất cảm dục, và con người tâm linh chắc chắn đã xuất hiện. [1d] {Trước thời điểm đó, chúng ta có con người có sinh lực, vật chất… Y sống động {là kết quả của sự tích hợp đầu tiên, đồng thời nhạy cảm và phản ứng với môi trường của y theo nghĩa rộng hơn và chuyên biệt hơn. [1e] {Y có thể hòa hợp với những đặc tính hấp dẫn hoặc xua đẩy của môi trường và của con người khác… |
|
3. Today, in our Aryan race, humanity is occupied with the task of adding still another aspect, that of the mind. [1f] {No longer just a vital/feeling one, but one who is vitaI/feeling/and thinking. To the achieved facts of livingness {etheric vitality as it affects the physical body and sensitivity, he is rapidly adding reason, mental perception and other qualities of mind and thought life. [1g] |
3. Ngày nay, trong giống dân Aryan của chúng ta, nhân loại đang bận rộn với nhiệm vụ bổ sung thêm một khía cạnh khác, đó là trí tuệ. [1f] {Không còn chỉ là một con người sống động/có cảm giác, mà là một người có sức sống/cảm giác/và suy nghĩ. Thêm vào các sự kiện đã đạt được về sự sống động (sinh lực dĩ thái vì nó ảnh hưởng đến thể vật lý và nhạy cảm, y nhanh chóng bổ sung thêm lý trí, nhận thức trí tuệ và các tính chất khác của đời sống trí tuệ và tư tưởng. [1g] |
|
{a triple man—living/sensitive/thoughtful… mentally awakening… |
{một con người tam phân: sống động/nhạy cảm/tư duy… thức tỉnh về mặt trí tuệ... |
|
4. Advanced humanity upon the Probationary Path is fusing these three divine aspects into one whole, which we call the personality. [1h] {IF we are in the process of fusing the three aspects into one whole, we are in the ranks of “advanced humanity” … Many hundreds of thousands stand at this time upon that Path, {but not yet millions… hundreds of thousands are unfolding the fifth petal and are acting, feeling and thinking simultaneously, making of these functions one activity, [1i] |
4. Nhân loại tiến bộ trên Con Đường Dư Bị đang tích hợp ba khía cạnh thiêng liêng này thành một tổng thể mà chúng ta gọi là phàm ngã. [1h] {NẾU chúng ta đang trong quá trình tích hợp ba khía cạnh thành một tổng thể, chúng ta đang ở trong hàng ngũ “nhân loại tiến bộ”… Vào thời điểm này, hàng trăm ngàn người đang ở trên Con đường đó, {nhưng chưa phải là hàng triệu… hàng trăm hàng ngàn người đang khai mở cánh hoa thứ năm đang hành động, cảm nhận và suy nghĩ cùng một lúc, biến những chức năng này thành một hoạt động duy nhất. [1i] |
|
{this can take place on the Path of Aspiration—but when the progressing integration is consciously directed by the soul, then we are on the Path of Discipleship {all at the same time and not in any rigid sequence… {This is a fine definition of the integrated personality… {Let us also use the term “spiritually integrated personality”, as opposed to the selfishly integrated personality… This personality synthesis comes upon the Path of Discipleship, under the direction of the indwelling entity, the spiritual man. [1j] {It is an integration DIRECTED by the soul, and not just developing in the field of the personality itself… |
{Điều này có thể diễn ra trên Con đường Khát vọng—nhưng khi sự tích hợp đang tiến triển này được linh hồn hướng dẫn một cách có ý thức, chúng ta đang trên Con đường Đệ tử {tất cả cùng một lúc và không theo bất kỳ trình tự cứng nhắc nào… {Đây là một định nghĩa hay về phàm ngã tích hợp… {Chúng ta cũng hãy sử dụng thuật ngữ “phàm ngã tích hợp tinh thần”, trái ngược với phàm ngã tích hợp ích kỷ… Sự tổng hợp phàm ngã này xuất hiện trên Con đường Đệ tử, dưới sự chỉ đạo của thực thể nội tại, con người tinh thần. [1j] {Đó là sự tích hợp ĐƯỢC ĐỊNH HƯỚNG bởi linh hồn, chứ không chỉ phát triển trong lĩnh vực phàm ngã… |
|
{There are different phases of relationship between the integrating personality and the soul… |
{Có những giai đoạn khác nhau trong mối quan hệ giữa phàm ngã tích hợp và linh hồn… |
|
This integration constitutes alignment and—when a man has achieved this—he passes eventually through a process of reorientation. [1k] {The normally integrating man is not necessarily aligned especially consciously with the soul, but a reversal begins to occur when there is sufficient alignment to indicate the will and direction of the soul… Until there is sufficient alignment there CAN BE NO REORIENTATION… {As a result of alignment there follows gradual reorientation… This reveals to him, as he slowly [Page 351] changes his direction, {the “Reversal of the Wheel” the still greater Whole of humanity. {A stage of decentralization begins… one is no longer the most important item in one’s content of consciousness. [1l] Later, upon the Path of Initiation, there will dawn upon his vision, the Whole of which humanity itself is only an expression. [2a] {The planetary Whole… {The ajna center is always a DIRECTOR—and humanity will become a director of the lower three kingdoms and thus fulfill the ajna center function which is even now attributed to it… Maybe the assignment of ajna or throat center depends upon which type of humanity we are discussing-whether the avant guard or the normal mass of humanity… This is the subjective world of reality, into which we begin definitely to enter as we become members of the Kingdom of God. [2b] {More or less at the time of the first initiation and the approach to the first initiation… |
Sự tích hợp này tạo nên sự chỉnh hợp, và—khi một người đã đạt được điều này—cuối cùng y sẽ trải qua một quá trình tái định hướng. [1k] {Con người đang tích hợp bình thường không nhất thiết phải chỉnh hợp có ý thức một cách đặc biệt với linh hồn, nhưng một sự đảo ngược bắt đầu xảy ra khi có đủ sự chỉnh hợp để chỉ ra Ý Chí và Định hướng của linh hồn… Cho đến khi có đủ sự chỉnh hợp, bằng không thì KHÔNG THỂ CÓ SỰ TÁI ĐỊNH HƯỚNG... {Kết quả của sự chỉnh hợp là sự tái định hướng dần dần… Điều này tiết lộ cho y, khi y dần dần [Trang 351] thay đổi phương hướng của mình, {Sự “Đảo ngược của Bánh xe” là một Tổng thể nhân loại còn vĩ đại hơn nữa. {Một giai đoạn phi tập trung bắt đầu… con người không còn là thành phần quan trọng nhất trong nội dung tâm thức của con người nữa. [1l] Sau đó, trên Con đường Điểm đạo, trong tầm nhìn của y sẽ ló dạng Tổng thể mà chính nhân loại chỉ là một biểu hiện. [2a] {Toàn bộ hành tinh… {Trung tâm ajna luôn là NGƯỜI CHỈ ĐẠO—và nhân loại sẽ trở thành người điều khiển ba giới thấp hơn, và do đó hoàn thành chức năng trung tâm ajna mà ngay cả bây giờ vẫn được gán cho nó… Có thể gán cho nhân loại chức năng của ajna hoặc trung tâm cổ họng, nó phụ thuộc vào loại nhân loại mà chúng ta đang thảo luận, là người tiên phong hay khối nhân loại bình thường… Đây là thế giới bên trong của thực tại mà chúng ta chắc chắn bắt đầu bước vào khi trở thành thành viên của Thiên Giới. [2b] {Ít nhiều vào thời điểm bắt đầu lần điểm đạo đầu tiên và lân cận lần điểm đạo đầu tiên… |
|
5. Upon the Probationary Path, {the later stage of the Path of Probation though only during its later stages, {upon the Path of Probation at first man is not yet a servant of other human beings… he begins to serve humanity consciously through the medium of his integrated personality, {relatively integrated personality and thus the consciousness of the larger and wider whole gradually supersedes his individual and separative consciousness. He knows himself to be but a part. [2c] {Moving beyond the first stage of Leo—beyond “I am” … the Whole gradually becomes more important than the hitherto all-important part, the separative personality… The most sensitive factor within our field of consciousness is at first the little self… but later we begin to feel within others and eventually just as strongly as within the hitherto most sensitive factor—the lower, personal self… |
5. Trên Con đường Dự bị, {giai đoạn sau của Con đường Dự bị mặc dù chỉ trong những giai đoạn sau của nó, {trên Con đường Dự bị giai đoạn đầu, con người chưa phải là người phụng sự cho những người khác… y bắt đầu phụng sự nhân loại một cách có ý thức thông qua phàm ngã tích hợp của y, phàm ngã được tích hợp tương đối và do đó tâm thức của một tổng thể lớn hơn và rộng hơn dần dần thay thế tâm thức cá nhân và tách biệt của y. Y biết mình chỉ là một phần. [2c] {Vượt qua giai đoạn đầu tiên của Leo—vượt qua giai đoạn “Tôi hiện hữu”… Tổng thể dần dần trở nên quan trọng hơn cái vẫn quan trọng nhất cho đến nay, phàm ngã cách biệt và tách biệt… Yếu tố nhạy cảm nhất trong lĩnh vực tâm thức của chúng ta đầu tiên là cái tôi nhỏ bé… nhưng sau đó chúng ta bắt đầu cảm nhận được bên trong người khác, và cuối cùng cũng mạnh mẽ như bên trong yếu tố nhạy cảm nhất cho đến nay—cái tôi cá nhân thấp kém hơn, phàm ngã… |
|
6. Upon the Path of Discipleship, the process of integration into the Kingdom of God, the Kingdom of Souls, proceeds until the third initiation is undergone. [2d] {At which point the disciple is no longer the disciple but the initiate |
6. Trên Con đường Đệ tử, quá trình tích hợp vào Thiên Giới (Vương quốc của Thượng Đế), Giới Linh hồn, diễn ra cho đến khi trải qua cuộc điểm đạo thứ ba. [2d] {Lúc này đệ tử không còn là đệ tử nữa mà là điểm đạo đồ |
|
{Integration of |
Tích hợp của |
|
{Integration with |
Tích hợp với |
|
{Integration into… |
Tích hợp vào… |
|
{Integration AS that something into which we are merging… |
Sự tích hợp NHƯ cái gì đó mà chúng ta đang tích hợp vào… |
|
{Re-becoming consciously part of something larger and eventually identifying with that larger something or AS that larger something… |
Tái trở thành một phần có ý thức của một cái gì đó lớn hơn và cuối cùng xác định với cái gì đó lớn hơn hoặc NHƯ cái gì đó lớn hơn… |
|
{Six stages of integration-Lemurian, Atlantean, Early Aryan, Later Aryan, Discipleship—which converges upon the state of consciousness of the sixth rootrace |
{Sáu giai đoạn tích hợp—Lemurian, Atlantean, Aryan sơ kỳ, Aryan hậu kỳ, Đệ tử—hội tụ vào trạng thái tâm thức của căn chủng thứ sáu |
|
All these various integrations work out into some definite form of activity, {interactivity with our environment… [2e] First, there is the service of the personality, selfish and separative, {an early Aquarian phase… wherein man sacrifices much in the interests of his own desire. [2f] {Until this is no longer the case, he cannot take the second initiation Then comes the stage of service of humanity, and, finally, the service of the Plan. [2g] {Service of the self; service of humanity; service of Divine Plan However, the integration with which we shall primarily deal as we study the seven Techniques of Integration is that of the personality {the spritualizing personality… as it integrates into the whole of which it is a part, through service to the race and to the Plan. [2h] {Service of the self is not our focus… Bear in mind that these ray techniques are imposed by the soul upon the personality after it has been somewhat integrated into a functioning entity {the first stage of personality integration are not the direct concern of the intervening soul… and is, therefore, becoming slightly responsive to the soul, the directing Intelligence. [2i] {This type of imposition will not occur before the personality is upon the Path of Probation… |
Tất cả những sự tích hợp khác nhau này tạo thành một số dạng hoạt động nhất định, {tương tác với môi trường của chúng ta… [2e] Đầu tiên, có sự phụng sự của phàm ngã, ích kỷ và tách biệt, {giai đoạn đầu của Bảo Bình… trong đó con người hy sinh nhiều vì lợi ích của ham muốn riêng của mình. [2f] {Chỉ khi điều này không còn xảy ra nữa, y không thể đạt được cuộc điểm đạo thứ hai. Sau đó sẽ đến giai đoạn phụng sự nhân loại, và cuối cùng là phụng sự Thiên Cơ. [2g] {phụng sự bản thân; phụng sự nhân loại; phụng sự Thiên Cơ Tuy nhiên, sự tích hợp mà chúng ta sẽ đề cập chủ yếu khi nghiên cứu bảy Kỹ thuật Tích Hợp là sự tích hợp của phàm ngã {phàm ngã tinh thần hóa… khi nó tích hợp vào tổng thể mà nó là một phần, thông qua việc phụng sự nhân loại và Thiên cơ. [2h] {phụng sự bản thân không phải là trọng tâm của chúng ta… Hãy nhớ rằng các kỹ thuật cung này được linh hồn áp đặt lên phàm ngã sau khi nó đã phần nào được tích hợp vào một sự thống nhất hoạt động {giai đoạn đầu tiên của quá trình tích hợp phàm ngã không phải là mối quan tâm trực tiếp của linh hồn… và do đó, trở nên hơi đáp ứng với linh hồn, Trí Thông tuệ chỉ đạo. [2i] {Việc áp đặt này sẽ không xảy ra trước khi phàm ngã bước vào Con đường Dự bị… |
|
The love of power must dominate. [2j] {This appears within the personality of the first ray soul even before the soul has begun to direct the integration process… There must also be repudiation of those forms which wield no power. [2k] {Rejecting of the powerless and powerless states… despising of weakness in the realm of form, and also as regards people who are weak… |
Tình yêu quyền lực phải thống trị. [2j] {Điều này xuất hiện bên trong phàm ngã của linh hồn cung một ngay cả trước khi linh hồn bắt đầu điều khiển quá trình tích hợp… Cũng phải có sự chối bỏ những hình tướng không vận dụng quyền lực. [2k] {Từ chối những trạng thái bất lực và yếu đuối… khinh thường sự yếu đuối trong lĩnh vực hình tướng, và cả đối với những người yếu đuối… |
|
{This is the first stage of integration with and not just of… There is some receptivity to the voice of the soul, because there is some aspiration. The word {this term is NOT capitalized but probably should be… as happens it seems randomly in the other stanzas… goes forth from soul to form; ‘Stand up. [2l] {This type of bodily position is specifically related to the first ray… whilst sitting is related to the second ray… Press [Page 352] outward into life, [3a] {into life circumtances… Press and pressure-the first ray applies pressure… a forcing power is applied, this is not a gentle movement forward-a deliberate moving forward in strength and repelling obstacles… Accomplishment must occur upon the outer planes… The application of pressure at a point is a Vulcanian act… Vulcan a powerful first ray planet… Achieve a goal. For you, there must be not a circle, but a line. [3b] {A line which moves directly towards the fulfillment of the will which you intend… |
{Đây là giai đoạn đầu tiên của sự tích hợp với, chứ không chỉ tích hợp của… Có một số khả năng tiếp thu tiếng nói của linh hồn, bởi vì có một số khát vọng. Linh Từ {thuật ngữ này KHÔNG viết hoa nhưng có lẽ nên được viết hoa… như đã xảy ra, nó có vẻ ngẫu nhiên trong các khổ thơ khác… phát ra từ linh hồn đến hình tướng; ‘Hãy đứng lên. [2l] {Tư thế ‘đứng’ này có liên quan cụ thể đến cung một… trong khi ngồi có liên quan đến cung hai… Hãy xông ra ngoài, vào cuộc sống, [3a] {vào những hoàn cảnh của cuộc sống… Xông tới trước (press forward) và áp lực (pressure)—cung một tạo áp lực… một sức mạnh cưỡng bức được áp dụng, đây không phải là một chuyển động nhẹ nhàng về phía trước—một sự tiến lên có chủ ý bằng sức mạnh và đẩy lùi những trở ngại… Sự thành tựu phải xảy ra trên cõi giới bên ngoài… Việc áp dụng áp lực tại một điểm là một hành động Vulcan… Vulcan một hành tinh mạnh mẽ của cung một… Hãy đạt được mục tiêu. Đối với ngươi, không phải một vòng tròn mà là một đường thẳng. [3b] {Một đường hướng thẳng đến việc thực hiện ý muốn mà bạn dự định… |
|
Prepare the form. [3c] {This is Just what the Manu and His department does… Let the eyes look forward, not on either side. [3d] {Unbroken, intent concentration—not emotional… {Concentration is not broken by side-issues… First things first… Let the ears be closed to all the outer voices, [3e] {Closed to distraction… one must not be deviated from one’s intent… the second ray types have the listening ear… take in from all sides… they try to be receptive… this for the first ray is a posture of temporary NON-RECEPTIVITY… {Doing all to repel or not to recive that which would prevent full IMPACT on the objective… and the hands clenched, [3f] {the fist as a hammer… Vulcan like—clenched hands represent the concentration of power… and non-dissipation of power., {let there be concentrated power in the hands… no waste no dispersion., the body braced, [3g] {in readiness and also against the counter-energy… tense alertness… in let us say the runner, the vaulter, in athletic events… and mind alert. {The commando has to be so mentally alert… Emotion is not used in furthering of the Plan. [3h] {Can distract, can take one aside, can prevent proportional measurement of forces which are needed in the proposed achievement… Love takes its place.’ |
Hãy chuẩn bị hình tướng. [3c] {Đây chính là điều Đức Bàn Cổ và bộ phận của Ngài làm… Đôi mắt hãy nhìn về phía trước, không nhìn ở hai bên. [3d] {Không phân tán, tập trung ý định-không cảm xúc… {Sự tập trung không bị phá vỡ bởi các vấn đề phụ… Việc nào trước, làm trước… Đôi tai hãy đóng lại với mọi tiếng nói bên ngoài, [3e] {Đóng lại để tránh xao lãng… con người không được đi chệch khỏi ý định của mình… những người cung hai có đôi tai biết lắng nghe… tiếp thu từ mọi phía… họ cố gắng tiếp thu… điều này đối với cung một là tư thế KHÔNG TIẾP NHẬN tạm thời… {Làm tất cả để đẩy lùi hoặc không nhận điều gì đó sẽ cản trở TÁC ĐỘNG hoàn toàn đến mục tiêu… bàn tay nắm chặt, [3f] {nắm đấm như một chiếc búa… Giống như Vulcan—bàn tay nắm chặt tượng trưng cho sự tập trung quyền lực… và quyền lực không phân tán., {tập trung quyền lực vào nắm tay…không lãng phí, không phân tán., cơ thể gồng cứng, [3g] {trong trạng thái sẵn sàng và cũng chống lại năng lượng phản kháng… sự tỉnh táo căng thẳng… chẳng hạn như người chạy bộ, vận động viên nhảy cầu, trong các sự kiện thể thao… và thể trí tỉnh táo. {Người biệt kích phải thật tỉnh táo… Cảm xúc không được sử dụng trong việc xúc tiến Thiên Cơ. [3h] {Có thể làm lạc hướng, có thể làm con người phân tâm, có thể ngăn cản việc đo lường các mãnh lực cần thiết để đạt được thành tựu được đề xuất… Bác ái sẽ thay chỗ của nó.’ |
|
{Purposeful action under the influence of a greater love—that is the motive for the developed first ray types [Will serves a larger type of love… realized eventually… |
{Hành động có mục đích dưới ảnh hưởng của một tình thương lớn lao hơn (Bác Ái)—đó là động cơ thúc đẩy người cung một phát triển [Ý Chí phục vụ một loại tình thương lớn hơn… cuối cùng cũng được nhận ra… |
|
The symbol of a moving point of light appears above the brow. [3i] {Brow has so much to do with the sense of direction… straight Direction is so important for the first ray type… The symbolic horn of power and direction of the unicorn… The keynote of the life though uttered not, {ofttimes first ray types are men of few words… action takes the place of talk and Vulcan, their planet, is not a verbal planet… {The keynote is demonstrable through one’s actions… yet still is clearly heard: [3j] {Speaking through action… ‘I move to power. {Without POWER the Will cannot be accomplished… I am the One. [3k] {A later stage of realization—one must be quite integrated and fused before one can say, “I am the One” We {because I am functioning as a soul, I know that I am We… We unite ourselves better to express power and achieve the Plan… I am no longer solo—I work with others who share in the soul sense the same objective… are a Unity in power. [3l] And all is for the power and glory of the One.’” {We are serving the Planetary Logos, the One… When the Will of the One is achieved through the right use of Power, we have the Great Glory… |
Biểu tượng của một điểm sáng di động xuất hiện trên trán. [3i] {Trán liên quan rất nhiều đến khả năng định hướng… Phương hướng rất quan trọng đối với người cung một… Chiếc sừng tượng trưng cho sức mạnh và sự định hướng của kỳ lân… Chủ âm của sự sống mặc dù không được nói ra, {thường những người cung một là những người ít nói… hành động thay thế cho việc nói, và Vulcan, hành tinh của họ, không phải là một hành tinh của lời nói… {Chủ âm có thể được chứng minh thông qua hành động của một người… nhưng vẫn được nghe rõ ràng: [3j] {Nói bằng hành động… ‘Ta di chuyển tới quyền lực. {Không có SỨC MẠNH thì Ý chí không thể thành tựu được… Ta là Đấng duy nhất. [3k] {Giai đoạn nhận thức sau này—con người phải hoàn toàn tích hợp và hợp nhất trước khi có thể nói “Tôi là Đấng Duy Nhất” Chúng ta là Hợp Nhất trong quyền lực. {bởi vì tôi đang hoạt động như một linh hồn nên tôi biết rằng tôi là ‘Chúng ta’… Chúng ta đoàn kết với nhau tốt hơn để thể hiện sức mạnh và đạt được Thiên Cơ… Tôi không còn đơn độc—Tôi làm việc với những người khác có chung mục tiêu của linh hồn… là một sự thống nhất về quyền lực. [3l] Và tất cả là vì quyền lực và vinh quang của Đấng Duy Nhất’” {Chúng ta đang phụng sự các Hành Tinh Thượng đế, Đấng duy nhất… Khi đạt được Ý chí của Đấng duy nhất thông qua việc sử dụng Quyền lực đúng đắn, chúng ta có được Vinh quang vĩ đại… |
|
{END of TOIWC 4 EP II p. 352 |
{KẾT THÚC TOIWC 4 EP II p. 352 |
|
{Beginning of TOIWC 5 EP II p. 352 |
Bắt đầu TOIWC 5 EP II tr. 352 |
Commentary 4
|
Hi, everybody. Today is September the 9th 2013. Actually, I’m thinking that the Seven rays Institute was founded 28 years ago. Today, we’ve been doing what we can to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom and especially to help develop Esoteric Psychology. This seems to be the area of our effort which has had the greatest success and the most interest because it is so very important for disciples and aspirants to do their personal work as has been said by the great psychologist Roberto Assagioli. He was said to have said when he was getting ready to pass on, make sure they do their personal work. |
Chào mọi người. Hôm nay là ngày 9 tháng 9 năm 2013. Thực ra, tôi đang nghĩ rằng Viện Bảy Cung đã được thành lập cách đây 28 năm. Ngày nay, chúng ta đang làm những gì có thể để giảng dạy và truyền bá kiến thức Minh Triết Thiêng Liêng và đặc biệt là giúp phát triển tâm lý học nội môn. Đây dường như là lĩnh vực nỗ lực của chúng ta có thành công lớn nhất và được quan tâm nhiều nhất bởi vì nó rất quan trọng đối với các đệ tử và những , để thực hiện công việc cá nhân của họ như nhà tâm lý học vĩ đại Roberto Assagioli đã nói. Người ta cho rằng Ông đã nói khi sắp qua đời, “Hãy đảm bảo rằng các bạn sẽ làm công việc cá nhân của mình”. |
|
here we are dealing with that kind of thing, and we are in the Techniques of Integration webinar commentaries. We’re in number 4 on page 350 in Esoteric Psychology 2, and we did notice I put it in such big letters that the focus of the soul activity, the unselfish, the integrated man has the focus of soul activity in terms of contribution and not in terms of acquisition which the selfishly integrated personality is oriented towards. |
Vâng, ở đây chúng ta đang giải quyết vấn đề đó và chúng ta đang thảo luận trên web các kỹ thuật tích hợp. Chúng ta đang ở webinar số 4, trang 350 trong Tâm lý học nội môn II, và chúng ta nhận thấy rằng—tôi đã đặt những chữ này trong cỡ chữ thật lớn—trọng tâm của hoạt động linh hồn, con người vị tha, tích hợp, trọng tâm là đóng góp chứ không phải ở khía cạnh đạt được mà phàm ngã tích hợp ích kỷ hướng tới. |
|
The progress of humanity is from one realized integration to another; man’s basic integrity is, however, in the realm of consciousness. [1a] This is a statement of importance. It might be remarked—speaking loosely and generally—that, [1b] |
Sự tiến bộ của nhân loại là từ sự tích hợp được nhận thức này sang sự tích hợp khác; tuy nhiên, tính toàn vẹn cơ bản của con người là ở lĩnh vực tâm thức. [1a] Đây là một phát biểu quan trọng. [1b] Có thể nhận xét—nói một cách lỏng lẻo và tổng quát—rằng: |
|
1. In Lemurian times, humanity achieved the integration of the vital or etheric body with the physical body. |
1. Vào thời Lemurian, nhân loại đã đạt được sự tích hợp giữa thể sinh lực hoặc thể dĩ thái với thể vật lý. |
|
The progress of humanity is from one realized integration to another; |
Sự tiến bộ của nhân loại là từ sự tích hợp được nhận thức này sang sự tích hợp khác; |
|
We would say that it is not sufficient that these integrations take place only in the in the realm of activity and in accordance with the third aspect. The second aspect of Divinity must be involved, the consciousness aspect. |
Chúng ta có thể nói rằng nếu những sự tích hợp này chỉ diễn ra trong lĩnh vực hoạt động và phù hợp với phương diện thứ ba thì chưa đủ. Khía cạnh thứ hai của thiên tính, khía cạnh tâm thức, phải được tham gia,. |
|
man’s basic integrity is, however, in the realm of consciousness |
Tuy nhiên, tính toàn vẹn (integrity) cơ bản của con người nằm trong lĩnh vực tâm thức |
|
And I suppose that is what it means when we’re talking about one realized integration after another. We have to understand what it is that we have included and harmonized and properly related within our energy system and in terms of our relationship to the ever-increasing encompassing wholes or contexts in which we find ourselves. |
Đây chính là điều chúng ta muốn nói đến khi đề cập đến quá trình tích hợp được nhận thức này đến sự tích hợp khác. Chúng ta cần hiểu rõ những gì đã được bao gồm, hài hòa và liên hệ đúng đắn trong hệ thống năng lượng của mình, cũng như trong mối quan hệ với bối cảnh tổng thể ngày càng mở rộng mà chúng ta đang tồn tại.” |
|
This is a statement of importance. It might be remarked—speaking loosely and generally—that |
Đây là một phát biểu quan trọng. Có thể nhận xét – nói một cách lỏng lẻo và tổng quát – rằng |
|
1. In Lemurian times, humanity achieved the integration of the vital or etheric body with the physical body [1c] |
1. Vào thời Lemurian, loài người đã đạt được sự tích hợp của thể năng lượng hoặc thể dĩ thái với thể vật lý [1c] |
|
And we can ask to what extent was this realized? Laya had its birth at this time, which is the yoga of the etheric body, the yoga of the centers. And there were somewhat advanced civilizations toward the end of the Lemurian times at which point the Solar Angels knew that their divine intervention had succeeded, because they, we are told, were not certain of the success of their intervention at the time of individualization. |
Và chúng ta có thể hỏi điều này đã được thực hiện ở mức độ nào? Laya đã ra đời vào thời điểm này, đó là yoga của thể dĩ thái, yoga của các trung tâm lực. Và có những nền văn minh khá tiên tiến vào cuối thời kỳ Lemurian, vào thời điểm đó các Thái dương Thiên Thần biết rằng sự can thiệp thiêng liêng của các Ngài đã thành công, bởi vì, như chúng ta được biết, các Ngài không chắc chắn về sự thành công của sự can thiệp của mình vào thời điểm biệt ngã hóa. |
|
So, there is this integration within the vehicles of man. Let’s just say, the first integrations are within the vehicles of the human being, and along with such integrations, come a partial integration with the environment, based on life vitality activity. This first integration would have that type of orientation, not an integration with the emotional life around him, no, because the integration with the astral body had not yet occurred within the energy system of man. So, Lemurian times were physical vital times, not times when emotional sensitivity was predominant. |
Vì vậy có sự tích hợp này bên trong các phương tiện của con người. Có thể nói rằng, những sự tích hợp đầu tiên bên trong các phương tiện của con người, và cùng với những sự tích hợp như vậy là sự tích hợp một phần với môi trường, dựa trên hoạt động sống sinh động. Sự tích hợp đầu tiên này sẽ có dạng định hướng đó, không phải là sự tích hợp với đời sống tình cảm xung quanh y, bởi vì sự tích hợp với thể cảm dục vẫn chưa xảy ra trong hệ thống năng lượng của con người. Vì vậy, thời kỳ Lemurian là thời kỳ quan trọng về thể chất chứ không phải thời kỳ mà sự nhạy cảm về mặt cảm xúc chiếm ưu thế. |
|
2. In Atlantean times, humanity added to the already achieved synthesis [1d] |
2. Vào thời Atlantis, loài người đã bổ sung thêm vào sự tổng hợp đã đạt được [1d] |
|
Notice how here the word synthesis is used for integration. So, we oftentimes have this use of different words for something similar. This is not the specific definition of synthesis as used when it relates to the Spirit per se. |
Lưu ý ở đây từ tổng hợp được sử dụng trong ý nghĩa của sự tích hợp. Vì vậy, chúng ta thấy, những từ khác nhau được sự dụng cho những điều tương tự. Ở đây, sự tổng hợp không phải là ý nghĩa khi được sử dụng liên quan đến chính Tinh thần. |
|
In Atlantean times, humanity added to the already achieved synthesis still another part, that of the astral nature, and psychic man came definitely into being. [1e] |
Vào thời Atlantis, loài người đã bổ sung thêm vào sự tổng hợp đã đạt được một phần khác nữa, đó là bản chất cảm dục, và con người tâm linh chắc chắn đã xuất hiện. [1e] |
|
And we could say that before that time we had physical-vital man. |
Chúng ta có thể nói rằng trước thời điểm đó, chúng ta đã có con người có sống động về mặt vật chất. |
|
He was alive |
Y sống (alive), |
|
and that’s as a result of the first integration because oftentimes being alive means being vitally alive, a vital being, and probably a very strong being physically with great endurance |
và đó là kết quả của sự tích hợp đầu tiên bởi vì đôi khi sống (alive) có nghĩa là sống một cách đầy sức sống, một con người sinh động, và có lẽ là một sinh vật rất khỏe mạnh về mặt thể chất với sức chịu đựng lớn lao. |
|
he was alive and at the same time sensitive and responsive to his environment in a wider and more specialized sense |
Y sống, đồng thời nhạy cảm và phản ứng với môi trường của y theo nghĩa rộng hơn và chuyên biệt hơn. |
|
So, he could attune with the attractive or repulsive qualities of the environment and of other human beings. |
Vì vậy, y có thể hòa hợp với những phẩm chất hấp dẫn hoặc xua đầy của môi trường và của con người khác. |
|
3. Today in our Aryan race, |
3. Ngày nay, trong giống dân Aryan |
|
We remind ourselves this term Aryan is in terms of consciousness and not in terms of any lesser and separative meaning of the word as applied by the Axis powers, especially the German powers, |
Từ Aryan này được dùng theo nghĩa tâm thức, chứ không phải có bất kỳ ý nghĩa riêng biệt và thấp kém nào của từ này như được áp dụng bởi các quốc gia phe Trục, đặc biệt là Đức. |
|
Today in our Aryan race humanity is occupied with the task of adding still another aspect to that of the mind, [1f] |
3. Ngày nay, trong giống dân Aryan của chúng ta, nhân loại đang bận rộn với nhiệm vụ bổ sung thêm một khía cạnh khác, đó là trí tuệ. [1f] |
|
So, no longer just a vital-feeling being, but one who is vital, feeling, and thinking at the same time. We don’t realize, those of us who are here in the West, that perhaps living the life of thought is not as common in the mass of humanity as we might suspect. So, |
Vì vậy, con người khi đó không chỉ đơn thuần là một sinh vật sinh động có cảm xúc, mà là một sinh vật sinh động, cảm nhận và suy nghĩ cùng một lúc. Chúng ta, những người ở phương Tây như chúng ta, có lẽ không nhận ra rằng việc sống đời sống tư duy là không phổ biến trong đám đông nhân loại. |
|
To the achieved facts of livingness |
Thêm vào các sự kiện đã đạt được về sự sống động sống, |
|
Notice how he refers to etheric vitality as it effects the physical body |
Hãy chú ý cách Ngài đề cập đến sức sống dĩ thái vì nó ảnh hưởng đến thể vật chất. |
|
to the achieve fact of livingness and sensitivity, he is rapidly adding reason, mental perception, and other qualities of mind and thought life [1g] |
Thêm vào các sự kiện đã đạt được về sự sống động sống, y nhanh chóng bổ sung thêm lý trí, nhận thức trí tuệ và các tính chất khác của đời sống trí tuệ và tư tưởng. [1g] |
|
So, what do we have? We have a triple man, living, sensitive, and thoughtful, mentally awakening. In other words, unfolding the third petal of the egoic Lotus. And finally, no, not finally at all, because we have several additions that we are speaking of here. We have the next phase. |
Bây giờ, chúng ta có gì? Chúng ta có một con người tam phân, sống động, nhạy cảm và có tư duy, thức tỉnh về mặt trí tuệ. Nói cách khác, đang khai mở cánh hoa thứ ba của Hoa sen Chân ngã. |
|
4. Advanced humanity upon the Probationary Path |
4. Nhân loại tiến bộ trên Con Đường Dự Bị |
|
Sometimes there is the discrimination where advanced humanity may not yet be upon the Probationary Path, certain advanced human beings are not yet consciously at least upon the Probationary Path |
Đôi khi có sự phân biệt giữa nhân loại tiến bộ và những người trên Con Đường Dự Bị. Ít nhất, một số người tiến bộ chưa hữu thức ở trên Con đường Dự bị. |
|
Advanced humanity upon the probationary path is fusing these three divine aspects into one whole which we call personality, [1h] |
4. Nhân loại tiến bộ trên Con Đường Dự Bị đang tích hợp ba khía cạnh thiêng liêng này thành một tổng thể mà chúng ta gọi là phàm ngã. [1h] |
|
So, it seems to be saying that if we are in the process of fusing the three aspects into one whole, we are in the ranks of “advanced humanity”. As I say, there’s no cut-and-dried discrimination between advanced humanity and those who are upon the probationary path, but generally speaking, [for people on the probationary path] the quality of aspiration is higher and directed towards what many advanced human beings would consider to be intangible and therefore unreal. |
Câu này có vẻ như muốn nói rằng nếu chúng ta đang trong quá trình tích hợp ba khía cạnh thành một tổng thể thì chúng ta thuộc loại “nhân loại tiến bộ”. Như tôi đã nói, không có sự phân biệt rõ ràng giữa nhân loại tiến bộ và những người đang trên con đường dự bị, nhưng nói chung, trên Con Đường Dự Bị, những phẩm chất của khát vọng cao cả, hướng tới điều mà nhiều người tiến bộ sẽ coi là không hiện diện và do đó không có thực. |
|
So, sometimes these two terms can be equated and sometimes they are discriminated. |
Do đó, đôi khi hai thuật ngữ này có thể được xem tương đương, đôi khi không. |
|
Many hundreds of thousands stand at this time upon that path [1i] |
Vào thời điểm này, hàng trăm ngàn người đang ở trên Con đường đó, [1i] |
|
And this is interesting when it was written in the 30s, I suppose, but not about millions, not yet millions. So, he’s giving us an idea of the numbers of human beings in different categories as there is the integration of the personality—We’re talking about the unfoldment of the fifth petal. So, in a way he’s also saying that hundreds of thousands are unfolding the fifth petal, this is such a good definition of the integrated personality. I want to really somehow emphasize for that. This is a fine definition of the integrated personality, |
Và điều này thật thú vị nếu xét đến việc đoạn này được viết vào thập niên 30, tôi cho là vậy, nhưng chưa nói đến hàng triệu, vẫn chưa phải là hàng triệu. Vì thế, y đang cho chúng ta một ý niệm về số lượng những con người thuộc các phân loại khác nhau khi có sự tích hợp của phàm ngã—chúng ta đang nói đến sự khai mở của cánh hoa thứ năm. Do đó, theo một nghĩa nào đó, y cũng đang nói rằng hàng trăm ngàn người đang khai mở cánh hoa thứ năm; đây là một định nghĩa thật sự rất hay về phàm ngã tích hợp. Tôi thực sự muốn bằng cách nào đó nhấn mạnh điều đó. Đây là một định nghĩa tinh tế về phàm ngã tích hợp, |
|
{acting, feeling, thinking simultaneously and not sequentially. |
{hành động, cảm nhận, suy nghĩ cùng lúc, không phải tuần tự |
|
First, I have to act, then I have to feel, then I have to think. No, it’s all at the same time. It’s not in any rigid sequence. Sometimes you have to say, “Well let me think about that”. Right, and you suspend your feelings perhaps. Or let me think about how I feel about that. I mean these kinds of separations of a focus can occur even in the modern advanced man. let me take action upon that, but oftentimes they are a mixture of interrelated activities, and what is feeling thinking and acting all at the same time is what the truly integrated personality can do, not necessarily being spiritually integrated personality. I think that’s another good term and let us also use the term spiritually integrated personality, spiritually integrated personality as opposed to the selfishly integrated personality. |
Giống như trước tiên tôi phải hành động, sau đó tôi cảm nhận, sau đó tôi suy nghĩ. Không phải thế, tất cả đều cùng một lúc. Nó không theo một trình tự cứng nhắc. Đôi khi bạn nói, hãy để tôi suy nghĩ về điều đó, và có lẽ bạn tạm dừng cảm xúc của mình để suy nghĩ. Hoặc để tôi nghĩ xem tôi cảm thấy thế nào về điều đó. Ý tôi là những kiểu chia tách sự tập trung như thế này có thể xảy ra ngay cả ở con người tiến bộ hiện đại. “Hãy để tôi hành động dựa trên điều đó”. Nhưng đôi khi chúng là sự kết hợp của các hoạt động liên quan đến nhau, và cảm giác, suy nghĩ, hành động cùng lúc là điều mà phàm ngã thực sự tích hợp có thể làm, nhưng đó không nhất thiết là một phàm ngã tích hợp về mặt tinh thần. Tôi nghĩ đó là một thuật ngữ hay, và chúng ta hãy sử dụng nó, phàm ngã tích hợp về mặt tinh thần, đối lập với phàm ngã tích hợp ích kỷ. |
|
this personality synthesis comes upon the path of discipleship under the direction of the indwelling entity, the spiritual man. [1j] |
Sự tổng hợp phàm ngã này xuất hiện trên Con đường Đệ tử, dưới sự chỉ đạo của thực thể nội tại, con người tinh thần. [1j] |
|
It is an integration directed by the soul, and not just developing in the field of the personality itself. We have to be very careful how we switch around and talking about what factors are integrated together, integrated with. So, simultaneously acting, feeling, thinking unit of consciousness, is not necessarily a spiritually integrated personality, not necessarily, but on the path of discipleship this can take place. We can say, this can take place on the path of aspiration, but when the progressing integration is consciously directed by the soul, then we are on the path of discipleship. |
Đó là sự tích hợp được linh hồn dẫn dắt, chứ không chỉ đơn thuần phát triển trong phạm vi bản thân phàm ngã. Chúng ta cần phải rất cẩn thận khi nói về việc các yếu tố nào được tích hợp với nhau, được tích hợp với. Do đó, một đơn vị tâm thức đồng thời hành động, cảm nhận, suy nghĩ, chưa chắc đã là một cá nhân tích hợp về mặt tinh thần, hoàn toàn không. Nhưng trên Con Đường Đệ Tử, điều này xảy ra. Điều này có thể xảy ra trên Con Đường của Khát Vọng, nhưng khi quá trình tích hợp tiến triển và được linh hồn hướng dẫn một cách có ý thức, thì chúng ta đang bước trên Con Đường Đệ Tử. |
|
this personality synthesis comes upon the path of discipleship under the direction of the indwelling entity, the spiritual man. |
Sự tổng hợp phàm ngã này xuất hiện trên Con Đường Địa vị đệ tử dưới sự chỉ đạo của thực thể nội tại, con người tinh thần. |
|
I suppose there are different phases of the synthesis and different phases of interrelation with the soul. Let’s put it this this way. |
Tôi cho rằng có những giai đoạn tích hợp khác nhau và những giai đoạn khác nhau của mối liên hệ qua lại với linh hồn. |
|
{there are different phases of relationship between the integrating personality and the soul |
{có những giai đoạn khác nhau của mối quan hệ giữa phàm ngã tích hợp và linh hồn |
|
And on the path of aspiration, there is a growing interrelationship and receptivity to and following of the soul, and on the path of discipleship, the following of the soul is well established, and the relationship between the integrated personality which is now becoming spiritual life and the soul is really proceeding apace. It’s not complete because then we would be an initiate of the third degree moving towards the fourth degree. That would be the complete integration of the soul and personality. |
Trên Con Đường của Khát Vọng, mối quan hệ tương tác và khả năng tiếp nhận, tuân theo linh hồn ngày càng tăng. Trên Con Đường Đệ Tử, việc tuân theo linh hồn được thiết lập vững chắc, và mối quan hệ giữa cá nhân tích hợp (nay đang trở thành một sự sống tinh thần) và linh hồn thực sự đang phát triển nhanh chóng. Quá trình này chưa hoàn tất, vì khi hoàn tất, chúng ta sẽ trở thành điểm đạo đồ bậc ba đang hướng tới bậc bốn. Khi đó sẽ là sự tích hợp hoàn toàn giữa linh hồn và phàm ngã. |
|
this integration constitutes alignment and when a man has achieved this, he passes eventually through a process of reorientation [1k] |
Sự tích hợp này tạo nên sự chỉnh hợp (alignment), và—khi một người đã đạt được điều này—cuối cùng y sẽ trải qua một quá trình tái định hướng. [1k] |
|
We can say the normally integrating man is not necessarily aligned especially, consciously with the soul, but a “Reversal” begins to occur when there is sufficient alignment to indicate the will and direction of the soul, |
Con người bình thường đạt được sự tích hợp không nhất thiết phải có sự kết nối đặc biệt có ý thức với linh hồn. Nhưng một sự “Đảo ngược” bắt đầu xảy ra khi có đủ sự chỉnh hợp để chỉ ra ý chí và định hướng của linh hồn. |
|
{Until there is sufficient alignment, there CAN BE NO REORIENTATION… |
{Cho đến khi có đủ sự chỉnh hợp, KHÔNG THỂ CÓ SỰ TÁI ĐỊNH HƯỚNG… |
|
I think that’s fairly clear. And at certain moments, alignment does occur, and a higher stream of energy enters one that is headed in a different direction away from identification with matter, form, and then an attraction towards this newly sensed energy source begins to occur, because it is after all attractive in its own essence, having so much of the second aspect in it, and promises fulfillment, the will to fulfilment on the second aspect of the will, and then there will be a reorientation of the otherwise materially inclined personality towards this intangible something which draws it toward fuller life. |
Tôi nghĩ điều đó khá rõ ràng. Vào những thời điểm nhất định, sự chỉnh hợp diễn ra, và một dòng năng lượng cao hơn đi vào cá nhân đang hướng đến một hướng khác ra khỏi sự đồng nhất với vật chất, hình tướng. Sau đó, sự hấp dẫn đối với nguồn năng lượng mới được cảm nhận này bắt đầu xuất hiện, bởi vì bản chất của nguồn năng lượng này là sự thu hút, mang nhiều tính chất của phương diện thứ hai, hứa hẹn sự hoàn thành, ý chí hoàn thành về khía cạnh thứ hai của ý chí. Sau đó, sẽ có một sự định hướng lại của phàm ngã vốn nghiêng về vật chất sang điều vô hình này, cái đangthu hút nó đến với cuộc sống trọn vẹn hơn. |
|
So, as a result of alignment comes reorientation—I just want to put that down— |
Vì vậy, kết quả của sự chỉnh hợp là sự định hướng lại, và tôi muốn nhấn mạnh điều đó. |
|
{as a result of alignment there follows gradual reorientation. |
{kết quả của sự chỉnh hợp là sự định hướng lại dần dần. |
|
So, this I suppose |
|
|
This reveals to him, as he slowly [Page 351] changes his direction, [1l] |
Điều này tiết lộ cho y, khi y dần dần [Trang 351] thay đổi phương hướng của mình, một Tổng thể nhân loại còn vĩ đại hơn nữa. [1l] |
|
and let’s call this, |
|
|
{what we call this the “reversal of the wheel”. |
Đây là điều mà chúng ta gọi đây là “sự đảo ngược của bánh xe”. |
|
The still greater whole of humanity. |
|
|
and so, what settles in a stage of decentralization begins, and one is no longer the most important item in one’s content of consciousness, because the ego itself, the lower ego, is an item in the content of consciousness. We are somehow aware of our Self or what we take to be ourselves and we give unusual prominence or privileged place to this particular item in our content of consciousness that we call our Self. when humanity itself begins to loom large in the field of consciousness, this little hitherto all-important item begins to be reduced in its importance and its attractiveness. And we finally are, let to say, this is for the welfare of humanity, what matters if I, the little I, suffer as a result. I’m willing to make that sacrifice. |
Giai đoạn “phi tập trung” bắt đầu hình thành, và “cái tôi” không còn là yếu tố quan trọng nhất trong nội dung tâm thức. Bởi vì bản ngã thấp kém, hay phàm ngã, chỉ là một yếu tố trong nội dung tâm thức. Chúng ta phần nào nhận thức được cái tôi hay bản ngã của mình, hoặc những gì chúng ta coi đó là chính mình, và chúng ta thường đặc biệt nhấn mạnh hoặc dành vị trí đặc quyền cho yếu tố này trong nội dung tâm thức mà chúng ta gọi là Bản ngã. Tuy nhiên, khi chính nhân loại bắt đầu chiếm vị trí quan trọng trong lĩnh vực tâm thức, thì tầm quan trọng và sự hấp dẫn của yếu tố nhỏ bé này bắt đầu giảm đi. Cuối cùng, chúng ta có thể nói rằng, vì lợi ích của nhân loại thì việc bản ngã nhỏ bé này, cái “tôi” nhỏ bé có phải chịu đựng hậu quả gì cũng không thành vấn đề. Tôi sẵn sàng hy sinh điều đó. |
|
Later, upon the Path of Initiation, there will dawn upon his vision, the Whole of which humanity itself is only an expression [2a] |
Sau đó, trên Con đường Điểm đạo, trong tầm nhìn của y sẽ ló dạng Tổng thể mà chính nhân loại chỉ là một biểu hiện. [2a] |
|
And what will we mean by that [whole] particularly? I suppose the planetary Whole, not so much the Solar Systemic Whole. I mean that Solar Systemic Whole will come eventually. but the human race plays a particular function within the chakric system of Sanat Kumara or within the chakric system of the Planetary Logos, a kind of throat center in a way, and from other perspectives, a kind of ajna center as humanity advances to become and identifies perhaps more with the fifth ray and also the fourth ray, the ajna center function of humanity, a directing function. Let’s put it this way, |
Vậy thì cụ thể chúng ta sẽ hiểu “Tổng thể” là như thế nào? Tôi cho rằng đó là Tổng thể hành tinh, không quá nhấn mạnh đến Tổng thể của Hệ mặt trời. Tất nhiên, Tổng thể Hệ mặt trời sẽ xuất hiện sau đó, nhưng loài người đóng một vai trò đặc biệt trong hệ thống luân xa của Sanat Kumara hoặc trong hệ thống luân xa của Hành Tinh Thượng đế giống như trung tâm cổ họng, và từ góc nhìn khác, giống như trung tâm Ajna khi con người tiến bộ để trở thành và có thể đồng nhất hóa nhiều hơn với cung năm và cũng cung bốn. Chức năng trung tâm Ajna của nhân loại là chức năng dẫn dắt. Nói cách khác, |
|
{the Ajna Center is always a director, and humanity will become a director of the lower three kingdoms and thus fulfill the Ajna Center function which is even now attributed to it. |
{Trung tâm Ajna luôn là NGƯỜI DẪN DẮT, và con người sẽ trở thành người dẫn dắt cho ba giới thấp hơn, do đó hoàn thành chức năng Trung tâm Ajna, vốn ngay cả bây giờ đã được gán cho nó. |
|
Sometimes the the animal kingdom is moved up into the position of the throat center, but really it seems to me that humanity is very much a kind of throat center in the Planetary Logos, although as I say in some of the assignments, it is given the place of the Ajna center. Let’s search “humanity throat Center”. humanity, it is planetary throat center. |
Đôi khi giới động vật được chuyển vào vị trí trung tâm cổ họng, nhưng thực sự đối với tôi, nhân loại thực sự giống như một trung tâm cổ họng của Hành Tinh Thượng đế, mặc dù như tôi đã nói, một số nơi nó được gán cho chức năng của trung tâm Ajna. Chúng ta hãy tìm xem có tham chiếu nào nói về nhân loại và trung tâm cổ họng không. |

|
This is in the Destiny of The Nations (p. 23) but elsewhere it is given the role of the ajna center, and I suppose maybe the assignment of ajna or throat center depends upon which type of humanity that we are discussing, whether the avant-garde or the normal mass of humanity. |
Trích dẫn này trong Vận Mệnh Của Các Quốc Gia, trang 23, nhưng ở những nơi khác, nó được giao vai trò của trung tâm Ajna, và tôi cho rằng có lẽ việc gán cho nó chức năng của trung tâm ajna hoặc cổ họng phụ thuộc vào loại nhân loại mà chúng ta đang thảo luận, đó là những người tiên phong hay khối nhân loại những người bình thường. |
|
So, right away I found a reference that showed us the throat center, but we may remember that when we were working in Esoteric Astrology in the signs of triangles we found that the human group had a particular connection with the ajna center, certainly advanced humanity does and the New Group of World Servers as the symbol of advanced humanity, or as really the collection of the most advanced humanity does fulfill the role of the ajna center within Sanat-Kumara. |
Tôi đã tìm thấy một tham chiếu cho chúng ta biết Nhân loại và Trung tâm cổ họng, nhưng chúng ta có thể nhớ rằng khi nghiên cứu Chiêm tinh học Bí truyền về các tam giác, chúng ta đã phát hiện rằng nhân loại chắc chắn có một mối liên hệ đặc biệt với trung tâm ajna—nhân loại tiến bộ và Nhóm Người Mới Phụng Sự Thế Gian là biểu tượng của nhân loại tiến bộ, hay thực sự là tập hợp của nhân loại tiến bộ nhất thực hiện vai trò của trung tâm ajna bên trong Đức Sanat Kumara |
|
This is the subjective world of reality, into which we begin definitely to enter as we become members of the Kingdom of God [2b] |
Đây là thế giới bên trong của thực tại mà chúng ta chắc chắn bắt đầu bước vào khi trở thành thành viên của Thiên Giới. [2b] |
|
And when is that? It’s more or less at the time time of the first initiation and the approach to the first initiation, because then we become the true disciple, we have entered the Hall of Wisdom. Initially, we are initial members of the Kingdom of God, and then the wholeness of things begins to dawn upon us, a decentralization begins to take place from that time on, and the soul becomes the major center in the field field of consciousness eventually. |
Đó là khi nào? Đó ít nhiều là vào thời điểm của cuộc điểm đạo đầu tiên và sự tiếp cận cuộc điểm đạo đầu tiên, bởi vì khi chúng ta trở thành đệ tử được chấp nhận chúng ta đã bước vào Phòng Minh triết. Ban đầu, chúng ta là thành viên ban đầu của Thiên Giới hay Vương quốc của Chúa, và sau đó tổng thể của sự vật bắt đầu hé lộ với chúng ta, và từ thời điểm đó, sự phi tập trung bắt đầu diễn ra, và cuối cùng, linh hồn trở thành trung tâm chính trong lĩnh vực tâm thức.” |
|
5. Upon the probationary path, though only in his later stages, he begins to serve humanity [2c] |
5. Trên Con đường Dự bị, mặc dù chỉ trong những giai đoạn sau của nó, y bắt đầu phụng sự nhân loại một cách có ý thức thông qua phàm ngã tích hợp của y, và do đó tâm thức của một tổng thể lớn hơn và rộng hơn dần dần thay thế tâm thức cá nhân và tách biệt của y. Y biết mình chỉ là một phần. [2c] |
|
And then we’re also talking about integration on the Probationary Path, the later stages of the Path of Probation. Apparently, it can last a long time. This Probationary Path in a way can go all the way to the first initiation, and maybe even beyond in a sense, because in a way we are probationary disciples before we are accepted disciples. It’s as if discipleship includes these two phases: probationary and accepted. Sometimes, we insert in the middle the idea of simply being a pledged disciple. So, we are talking about successive integrations as a human being includes one aspect of his energy system after another, one faculty after another. |
Chúng ta đang nói về sự tích hợp trên Con đường Dự bị, các giai đoạn sau của Con đường Dự bị. Rõ ràng, Con Đường Dự Bị có thể tồn tại trong một thời gian dài. Theo một cách nào đó, Con đường Dự bị có thể đi đến cuộc điểm đạo đầu tiên, và thậm chí có thể vượt xa hơn nữa theo một nghĩa nào đó, bởi vì chúng ta là đệ tử dự bị trước khi là Đệ tử Chính Thức. Dường như vị trí đệ tử bao gồm hai giai đoạn: dự bị và được chấp nhận (công thức). Đôi khi, chúng ta chèn vào giữa ý tưởng đơn giản là một đệ tử đã thệ nguyện. Vì vậy, ở đây chúng ta đang nói về sự tích hợp liên tục khi một con người tích hợp hết khía cạnh này đến khía cạnh khác của hệ thống năng lượng của mình, hết khả năng này đến khả năng khác. |
|
Upon the probationary path, though only in his later stages, he begins to serve humanity, so at first, man is not yet a servant of other human beings. |
Ở giai đoạn đầu của Con Đường Dự Bị, con người chưa phụng sự người khác, mà chỉ ở giai đoạn sau này, |
|
He begins to serve humanity consciously through the medium of his integrated personality |
y mới bắt đầu phụng sự nhân loại một cách có ý thức thông qua phàm ngã tích hợp của mình. |
|
And I always have to say relatively integrated personality, through his relatively integrated personality because there are these early phases of personality integration which are not spiritual at all. Then we are becoming integrated personality integrated with the soul, all the way up to the fourth initiation. So, you kind of wonder when we are completely integrated personalities, completely integrated with the soul? For all practical purposes, it would be at the third degree, but even that is not quite complete. There’s still a further soul infusion which can occur. We have to remember that in a way soul infusion is the ending of the integration process. They are seamlessly leading one into the other, from progressive integration with the soul into the state of soul infusion of the personality. So, words tend to make us think in terms of sequence, but there are many overlapping factors occurring here. |
Ở đây tôi luôn phải nói rằng đó là phàm ngã tích hợp tương đối, bởi vì có những giai đoạn đầu của quá trình tích hợp phàm ngã không mang tính tinh thần chút nào, mà sau đó, chúng ta trở thành phàm ngã tích hợp được tích hợp với linh hồn, cho đến cuộc điểm đạo thứ tư. Bạn có thể tự hỏi khi nào chúng ta trở thành những cá nhân được tích hợp hoàn toàn, tích hợp hoàn toàn với linh hồn? Xét về mặt thực tế, điều đó sẽ xảy ra ở cấp điểm đạo thứ ba, nhưng ngay cả điều đó cũng chưa hoàn toàn hoàn chỉnh. Vẫn có thể có thêm một sự dung hợp với (fusion) linh hồn nữa. Chúng ta cần nhớ rằng theo một cách nào đó, sự dung hợp với linh hồn là kết thúc của quá trình tích hợp. Chúng liền mạch dẫn dắt từ nhau, từ tích hợp dần dần với linh hồn đến trạng thái linh hồn dung hợp vào phàm ngã. Ngôn từ thường khiến chúng ta nghĩ theo trình tự, nhưng có nhiều yếu tố chồng chéo xảy ra ở đây. |
|
later on the Path of Probation |
Sau này trên Con Đường Dự Bị, |
|
then when that would be around the period before the first initiation, and even what if we take the whole idea of the Path of Probationary discipleship beyond the first degree? Maybe it’s not so often done. But then of course you would have a servant, increasingly conscious server of humanity. |
Đó là khoảng thời gian trước cuộc điểm đạo đầu tiên, và thậm chí điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đưa ý tưởng về Con đường Đệ Tử Dự bị vượt quá cấp độ đầu tiên? Có lẽ nó không được thực hiện thường xuyên lắm, nhưng tất nhiên khi đó bạn sẽ có một người phụng sự ngày càng có ý thức hơn cho nhân loại. |
|
later he begins to serve humanity consciously through the medium of his integrated personality and thus the consciousness of the larger and wider whole supersedes his individual and separative consciousness. He knows himself to be but a part |
y bắt đầu phụng sự nhân loại một cách có ý thức thông qua phàm ngã tích hợp của y, và do đó tâm thức của một tổng thể lớn hơn và rộng hơn dần dần thay thế tâm thức cá nhân và tách biệt của y. Y biết mình chỉ là một phần. |
|
And this is already moving beyond the first stage of Leo, beyond the “I am”, the Whole becomes gradually more important than the hitherto all-important part, the separative and separated personality. It all depends on the direction of our thinking and what we tend to identify as of greatest importance within our field of consciousness, where our real interest lies. Is our interest always reflexively returned to that sensitive center we call our Self? |
Điều này vượt ra ngoài giai đoạn đầu tiên của Leo, vượt ra ngoài cái “I am—Tôi là”, Tổng thể dần dần trở nên quan trọng hơn điều quan trọng nhất cho đến nay là phàm ngã chia rẻ và tách biệt. Tất cả phụ thuộc vào chiều hướng suy nghĩ của chúng ta, và điều gì chúng ta coi là quan trọng nhất trong lĩnh vực tâm thức của mình, nơi mà mối quan tâm thực sự của chúng ta đặt để. Liệu mối quan tâm của chúng ta có luôn tự động quay trở lại với trung tâm nhạy cảm mà chúng ta gọi là bản ngã của chúng ta không? |
|
It’s interesting about Leo, it is a sign of sensitivity, and the most sensitive factor at first within our field of consciousness is the “little self”, |
Điều thú vị về Sư Tử là nó là một dấu hiệu của sự nhạy cảm, và yếu tố nhạy cảm nhất trong lĩnh vực tâm thức của chúng ta lúc ban đầu chính là “cái tôi nhỏ bé”. |
|
{most sensitive factor within our field of consciousness is at first the little self… but later we begin to feel within others and eventually just as strongly as within the hitherto most sensitive factor—the lower, personal self… |
{yếu tố nhạy cảm nhất trong lĩnh vực tâm thức của chúng ta lúc đầu là cái tôi nhỏ bé… nhưng sau đó chúng ta bắt đầu cảm nhận được bên trong người khác, và sau rốt, cũng cảm nhận mạnh mẽ như bên trong yếu tố nhạy cảm nhất cho đến nay—cái tôi cá nhân thấp kém hơn… |
|
So, one is reminded, I’ve used it before, but there’s the story of the great sage Ramakrishna crossing a river, being taken across a river, and he suddenly starts to say, “Who is beating me, who is beating me!” and such was the state of identification. Apparently, cross on the other side of river was a master beating his slave, and such was the sensitivity of this stage, that sage that he was as much inside the other and feeling as much inside the other individual as he felt within the supposedly all-important center of being which is the lower personality. |
Người ta có kể câu chyện nhà hiền triết vĩ đại Ramakrishna băng qua sông, được đưa qua sông, và Ngài đột nhiên kêu lên “Ai đang đánh tôi, ai đang đánh tôi!” và đó là trạng thái đồng nhất. Rõ ràng, bên kia sông là một người chủ đang đánh đập nô lệ của mình, và chính sự nhạy cảm của giai đoạn này mà nhà hiền triết cho rằng Ngài cũng ở bên trong người kia và cảm thấy bên trong cá nhân đó y như Ngài cảm thấy bên trong chính Ngài, bên trong trung tâm quan trọng của con người là phàm ngã. |
|
So, one can think then of what the Christ said as “As much as ye have done it unto the least of these, you have done it unto me”. So, there’s this extended Neptunian sensitivity which pervades the sentient system of other human beings such that one finds oneself to be increasingly decentralized and finds one’s center of identity as much in them, the apparent them, as in oneself. This is something to be worked for, and I suppose a lot of suffering in the lower three worlds sensitizes us until we are no longer that hard, encapsulated early Capricornian ego which can feel nothing, to the time when we have had our shells worn away, the Cancerian energies there—our shells—are worn away and our sensitivity extends beyond our own as localized energy system into the energy system of others, apparent others, that we learn are really not others at all. |
Vì vậy, chúng ta có thể nghĩ đến lời Đức Christ đã nói: ‘Các ngươi đã làm điều đó cho người nhỏ bé nhất trong những người này, thì cũng như đã làm cho Ta vậy’. Do đó, tồn tại một sự nhạy cảm Neptune mở rộng thấm nhuần vào hệ thống cảm nhận của những người khác, khiến một người nhận thấy bản thân mình ngày càng phi tập trung và tìm thấy trung tâm bản sắc của mình trong họ cũng như trong chính mình. Đây là điều cần nỗ lực hướng đến, và tôi cho rằng nhiều đau khổ trong ba cõi thấp sẽ làm chúng ta nhạy cảm hơn cho đến khi chúng ta không còn là cái bản ngã cứng nhắc, đóng kín của thời kỳ đầu Ma Kết, vốn không thể cảm nhận được gì. Tới lúc đó, lớp vỏ của chúng ta (năng lượng Cự Giải) sẽ bị bào mòn và sự nhạy cảm của chúng ta sẽ mở rộng ra ngoài bản thân, vượt ra khỏi hệ thống năng lượng cục bộ của chính mình, hòa nhập vào hệ thống năng lượng của những người khác, những người bề ngoài là khác, mà cuối cùng chúng ta nhận ra thực sự không phải là những người khác chút nào. |
|
Ok so this is integration upon the later stages of the Probationary Path, and the earlier stages, it is simply integrating the personality. So, pretty much upon the Probationary Path considered here in the general sense, the integration of the personality goes on, and in the later stages, there is conscious service. |
Trên đây là sự tích hợp ở các giai đoạn sau của Con đường Dự bị và các giai đoạn trước đó chỉ đơn giản là sự tích hợp phàm ngã. Trên Con đường Dự bị sự tích hợp của phàm ngã tiếp tục, và trong các giai đoạn sau của nó có sự phụng sự có ý thức. |
|
And now, |
Bây giờ, |
|
6. Upon the Path of Discipleship, the process of integration into the Kingdom of God, the Kingdom of Souls, proceeds until the third initiation is undergone. [2d] |
6. Trên Con đường Đệ tử, quá trình tích hợp vào Vương quốc của Thượng Đế, Giới Linh hồn, diễn ra cho đến khi trải qua cuộc điểm đạo thứ ba. [2d] |
|
We can say at which point the disciple is no longer the disciple but the initiate. So, Integration of, Integration with, Integration into… These are all words which can tell us something about the stage of integration that we are undergoing, and basically it means, let us call, re-becoming part of something larger and eventually identifying with that larger something or as that larger something. |
Ở thời điểm đó, người đệ tử không còn là người đệ tử nữa mà là điểm đạo đồ. Vì vậy, chúng ta có các sự tích hợp lần lượt: tích hợp của, tích hợp với, tích hợp vào… Đây đều là những từ có thể cho chúng ta biết điều gì đó về giai đoạn tích hợp mà chúng ta đang trải qua, và về cơ bản, nó có nghĩa là tái trở thành một phần của một cái gì đó lớn hơn, và cuối cùng là đồng hóa với cái gì đó lớn hơn, hoặc như với cái gì đó lớn hơn. |
|
First, we integrate with, and integrate into, and then integration as could even follow. I oftentimes use that word identification as, integration as that something into which we are merging, but we always have been part of something larger we’ve just forgotten it, and we are then re becoming consciously part of something larger and more encompassing and eventually identifying as that something. |
Đầu tiên, chúng ta tích hợp với, sau đó tích hợp vào, và tiếp theo nữa là tích hợp như. Tôi thường sử dụng từ đồng nhất như (identication as), tích hợp như một cái gì đó mà chúng ta đang tích hợp vào. Chúng ta luôn là một phần của cái gì đó lớn hơn mà chúng ta đã quên, và sau đó chúng ta tái trở thành một phần có ý thức của một cái gì đó lớn hơn, bao trùm hơn, và cuối cùng là đồng nhất như cái đó. |
|
So, what have we had here? We have had six stages of integration, all the way from the physical, vital, astral, mental then initial probationary, later probationary, and then discipleship. Six stages of integration, the Lemurian, Atlantean, putting it in in other ways, early Aryan, later Aryan, and discipleship which converges upon the state of consciousness of the sixth root race. The sixth root race not yet materialized within humanity, but disciples are supposed to anticipate that which is coming |
Chúng ta đã trải qua sáu giai đoạn tích hợp, từ thể chất, sinh lực, thể cảm dục, trí tuệ rồi đến giai đoạn dự bị ban đầu, sau đó là giai đoạn dự bị, và rồi giai đoạn đệ tử. Sáu giai đoạn tích hợp, Lemurian, Atlantean, Aryan bắt đầu, Aryan sau này, và địa vị đệ tử hội tụ vào trạng thái tâm thức của căn chủng thứ sáu. Giống dân chánh thứ sáu chưa hình thành trong nhân loại, nhưng các đệ tử phải đoán trước điều sắp xảy ra |
|
All these various integrations work out into some definite form of activity. [2e] |
Tất cả những sự tích hợp khác nhau này tạo thành một số dạng hoạt động nhất định. [2e] |
|
We can say interactivity with our environment, our surroundings. |
Chúng ta có thể nói sự tương tác với môi trường của chúng ta, môi trường xung quanh chúng ta. |
|
First, there is the service of the personality, selfish and separative, |
Đầu tiên, có sự phụng sự của phàm ngã, ích kỷ và tách biệt, |
|
Now, of course we can call this in a way an early Aquarian phase, |
Bây giờ, tất nhiên chúng ta có thể gọi đây là giai đoạn đầu của Bảo Bình, |
|
First, there is the service of the personality, selfish and separative, wherein man sacrifices much in the interests of his own desire. [2f] |
Đầu tiên, có sự phụng sự của phàm ngã, ích kỷ và tách biệt, trong đó con người hy sinh nhiều vì lợi ích của ham muốn riêng của mình. [2f] |
|
And if this is the case, |
Và nếu đây là trường hợp |
|
{Until this is no longer the case, he cannot take the second initiation |
và cho đến khi điều này không còn xảy ra nữa, y không thể thực hiện cuộc điểm đạo thứ hai. |
|
He cannot sacrifice others for his own desires in that initiation and for his own ideals and his idealism |
Y không thể hy sinh người khác vì những ham muốn của riêng y ở cuộc điểm đạo đó, cũng như vì lý tưởng và chủ nghĩa lý tưởng của chính mình. |
|
Then comes the stage of service of humanity, and, finally, the service of the Plan. [2g] |
Sau đó sẽ đến giai đoạn phụng sự nhân loại, và cuối cùng là phụng sự Thiên Cơ. [2g] |
|
{Service of the self, the lower self; service of humanity; service of Divine Plan |
{Phụng sự bản thân, cái tôi thấp kém; phụng sự nhân loại; phụng sự Thiên Cơ… |
|
We might say. why is not service of humanity more important than serving the Divine Plan? But if one really serves the Divine Plan, all of humanity benefits in a still greater way and all will be elevated. |
Chúng ta có thể thắc mắc tại sao việc phụng sự nhân loại không quan trọng bằng việc phục vụ Thiên Cơ? Nếu một người thực sự phụng sự Thiên Cơ thì toàn thể nhân loại sẽ được hưởng lợi theo cách còn lớn lao hơn, và tất cả sẽ được nâng cao. |
|
However, the integration with which we shall primarily deal as we study the seven Techniques of Integration is that of the personality as it integrates into the whole of which it is a part, through service to the race and to the Plan [2h] |
Tuy nhiên, sự tích hợp mà chúng ta sẽ đề cập chủ yếu khi nghiên cứu bảy Kỹ thuật Tích Hợp là sự tích hợp của phàm ngã khi nó tích hợp vào tổng thể mà nó là một phần, thông qua việc phụng sự nhân loại và Thiên cơ. [2h] |
|
This is the type of study we are undertaking here. We are not interested in service of the self that is an earlier stage and it is not our point. |
Đó là loại nghiên cứu chúng ta đang thực hiện ở đây. Chúng ta không quan tâm đến việc phụng sự bản thân ở giai đoạn trước, và đó không phải là quan điểm của chúng ta. |
|
{Service of the self is not our focus… |
{Phụng sự bản thân không phải là trọng tâm của chúng ta… |
|
The average human being will naturally do, and for many millions of years. So, it is the personality at beginning as it integrates into the whole of which it is a part, “Look up along the line and not along the many lines which for ages have held the prisoner”[i], but look up along the antahkaranic line and begin to embrace the whole through service to the race first and then to the Plan. So, this is we are dealing here with the spiritualizing personality, we’re not interested in the personality simply in its own right. |
Con người bình thường sẽ tự nhiên làm như vậy trong nhiều triệu năm. Chính phàm ngã ngay từ đầu khi nó tích hợp vào tổng thể mà nó là một bộ phận, “Nhìn lên theo đường thẳng, không nhìn theo nhiều con đường mà từ lâu đã giam giữ tù nhân”, nhìn lên dọc theo đường antahkarana và bắt đầu ôm lấy toàn thể thông qua việc trước tiên phụng sự nhân loại, và sau đó là phụng sự Thiên cơ. Vì vậy, ở đây chúng ta đang đề cập đến phàm ngã tinh thần hóa, chúng ta không quan tâm đến phàm ngã theo đúng nghĩa của nó. |
|
Bear in mind that these ray techniques are imposed by the soul upon the personality after it has been somewhat integrated into a functioning unity [2i] |
Hãy nhớ rằng các kỹ thuật cung này được linh hồn áp đặt lên phàm ngã sau khi nó đã phần nào được tích hợp vào một sự thống nhất hoạt động, và do đó hơi đáp ứng với linh hồn, Trí Thông tuệ chỉ đạo. [2i] |
|
This is so important. When can this be applied, and by what or by whom is it applied? And it is applied by the soul at a certain stage of personality development. |
Điều này rất quan trọng. Khi nào Kỹ thuật này có thể được áp dụng, và nó được áp dụng bởi ai? Nó được linh hồn áp dụng ở một giai đoạn phát triển phàm ngã nhất định. |
|
These ray techniques are imposed by the soul upon the personality after it has been somewhat integrated into a functioning entity, |
Những kỹ thuật cung này được linh hồn áp đặt lên phàm ngã sau khi phàm ngã đã được tích hợp ở một mức độ nào đó thành một thực thể hoạt động. |
|
{the first stages of personality integration are not the direct concern of the intervening soul, |
{các giai đoạn đầu tiên của sự hợp nhất phàm ngã không phải là mối quan tâm trực tiếp của linh hồn, |
|
and is, therefore, becoming slightly responsive to the soul, the directing Intelligence. |
và do đó hơi đáp ứng với linh hồn, Trí Thông tuệ chỉ đạo. |
|
So, this type of imposition will not occur before the personality is upon the Path of Probation. Earlier we saw that the Path of Probation and that of the Path of Advanced Man were considered similar. In this context, they are considered to be the same. So, some degree of aspiration must be rising within the personality before these Techniques of Integration can be applied |
Việc áp đặt này sẽ không xảy ra trước khi phàm ngã bước vào Con đường Dự bị. Trước đây chúng ta đã thấy rằng Con đường Dự bị và Con Người Tiến Bộ được coi là tương tự nhau. Trong bối cảnh này, chúng được coi là giống nhau. Vì vậy, một mức độ nguyện vọng tinh thần nào đó phải nảy sinh trong phàm ngã trước khi các Kỹ thuật Tích Hợp này có thể được áp dụng. |
|
Now we have actually come to the First ray Integration Formula. I would like of course to give one program to each one of these old commentary sections, but I’m not really sure that will be possible in the flow of discussion about the integration techniques. So, I’ll read it first then we’ll analyze it, and then read it again |
Bây giờ chúng ta thực sự đã đến với Công thức Tích hợp cung một. Tôi sẽ đọc nó qua trước một lần, sau đó chúng ta sẽ phân tích nó, rồi đọc lại một lần nữa. |
|
ray One. |
Cung Một. |
|
“The love of power must dominate. There must also be repudiation of those forms which wield no power. |
Tình yêu quyền lực phải thống trị. Cũng phải chối bỏ những hình tướng không nắm giữ quyền lực. |
|
The word goes forth from soul to form; ‘Stand up. Press [Page 352] outward into life. Achieve a goal. For you, there must be not a circle, but a line. |
Linh Từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: ‘Hãy đứng lên. Hãy xông ra ngoài, vào trong cuộc sống. Hãy đạt đến mục tiêu. Đối với ngươi, không phải một vòng tròn, mà là một đường thẳng. |
|
Prepare the form. Let the eyes look forward, not on either side. Let the ears be closed to all the outer voices, and the hands clenched, the body braced, and mind alert. Emotion is not used in furthering of the Plan. Love takes its place.’ |
Hãy chuẩn bị hình tướng. Đôi mắt hãy nhìn về phía trước, không nhìn ở hai bên. Đôi tai hãy đóng lại với mọi tiếng nói bên ngoài, bàn tay nắm chặt, cơ thể gồng cứng, và thể trí tỉnh táo. Cảm xúc không được sử dụng trong việc xúc tiến Thiên Cơ. Bác ái sẽ thay chỗ của nó’. |
|
The symbol of a moving point of light appears above the brow. The keynote of the life though uttered not, yet still is clearly heard: ‘I move to power. I am the One. We are a Unity in power. And all is for the power and glory of the One.’” |
Biểu tượng của một điểm sáng di động xuất hiện trên trán. Chủ âm của sự sống mặc dù không được nói ra, nhưng vẫn được nghe rõ ràng: ‘Ta di chuyển tới quyền lực. Ta là Đấng Duy Nhất. Chúng ta là Hợp Nhất trong quyền lực. Và tất cả là vì quyền lực và vinh quang của Đấng Duy Nhất’”. |
|
Now as we move through this, we are moving through different stages of evolution. |
Bây giờ khi chúng ta đi qua các điều này, chúng ta đang trải qua các giai đoạn tiến hóa khác nhau. |
|
The love of power must dominate. [2j] |
Tình yêu quyền lực phải thống trị. [2j] |
|
This appears within the personality of the first ray soul even before the soul has begun to direct the integration process. So, there will be always under the impression or the appropriation of the First ray soul energy by the personality, even though the soul may not yet have a directing role. There will be through this appropriation of soul energy by the personality a growing love of power. Power is energy expressed in such a way that it will overcome all obstacles. The power to make an impact according to desire or will. The power to overcome all resistance, a directed flow of energy of a sufficient strength to fulfill either desire or will, and at first this can be quite selfish. |
Điều này xuất hiện bên trong phàm ngã của linh hồn cung một ngay cả trước khi linh hồn bắt đầu điều khiển quá trình hợp nhất. Vì vậy, phàm ngã sẽ luôn bị ấn tượng hoặc chiếm đoạt năng lượng của Cung một, mặc dù linh hồn có thể chưa có vai trò chỉ đạo. Thông qua việc chiếm đoạt năng lượng linh hồn của phàm ngã, tình yêu quyền lực ngày càng tăng. Sức mạnh là năng lượng được thể hiện theo cách có thể vượt qua mọi trở ngại. Sức mạnh để tạo ra tác động theo mong muốn hoặc ý chí. Sức mạnh vượt qua mọi sự kháng cự. Một dòng năng lượng được định hướng, có đủ sức mạnh để đáp ứng mong muốn hoặc ý chí, và lúc đầu, điều này có thể khá ích kỷ. |
|
There must also be repudiation of those forms which wield no power [2k] |
Cũng phải chối bỏ những hình tướng không nắm giữ quyền lực. [2k] |
|
So, the rejecting of the powerless and powerless states, they do not serve. This is the despising of weakness in the realm of form, and also perhaps as regards of people who are weak. They are put to the side. If you are a General in an army, you want to set up your commanders in such a way that they will actually achieve your objectives. You do not choose the weak ones. You do not choose to be associated with people who cannot hold the impress of the will which you seek to impose or through which you seek to accomplish. |
Vì vậy, việc chối bỏ những người bất lực và những trạng thái bất lực, họ không phục vụ. Đây là sự khinh thường sự yếu kém trong lĩnh vực hình tướng, và có lẽ cũng liên quan đến những người yếu đuối. Họ được đặt sang một bên. Nếu bạn là một vị tướng trong quân đội, bạn muốn sắp xếp các chỉ huy của mình sao cho họ thực sự đạt được mục tiêu của bạn. Bạn không chọn những người yếu đuối. Bạn không chọn kết giao với những người không thể chịu được ấn tượng của ý chí mà bạn tìm cách áp đặt, hoặc thông qua đó bạn tìm cách hoàn thành. |
|
The love of power must dominate there must also be repudiation of those forms which wield no power |
Tình yêu quyền lực phải thống trị. Cũng phải chối bỏ những hình tướng không nắm giữ quyền lực. |
|
This is growing. Many kinds of personalities in the process of integrating will appropriate this first ray power, and it will be true of them even though there will be a second ray of the personality, because there will be the self-centered appropriation of soul power before that soul power is used for soul ends. This is important because we can use this great source of power in a way that the source itself would not sanction, and this is an earlier stage when we are simply ignorant really of where that power is coming from. We just feel it within and yet the personality is the center of our field of consciousness, and all important to us, the most important, sensitive, and then we use everything we are given for the sake of this most important center which we feel to be our personal self. |
Điều này đang gia tăng. Nhiều kiểu phàm ngã trong quá trình tích hợp sẽ chiếm đoạt sức mạnh của cung một. Điều này vẫn đúng ngay cả khi phàm ngã thuộc cung hai, bởi vì sẽ có sự chiếm đoạt năng lượng linh hồn cung một trước khi năng lượng đó được sử dụng cho mục đích của linh hồn. Điều này quan trọng vì chúng ta có thể sử dụng nguồn năng lực vĩ đại này theo cách mà bản thân nguồn năng lượng không cho phép. Đây là giai đoạn đầu khi chúng ta thực sự không biết nguồn gốc của sức mạnh đó đến từ đâu. Chúng ta chỉ cảm nhận nó bên trong, nhưng phàm ngã vẫn là trung tâm của lãnh vực tâm thức của chúng ta, và là cái quan trọng nhất, nhạy cảm nhất đối với chúng ta. Khi đó, chúng ta sử dụng mọi thứ được ban tặng cho mục đích của cái “tôi” cá nhân này, thứ mà chúng ta cảm nhận là bản thân chúng ta. |
|
Repudiation. This scattering. This rejection. The rejecting energy is related to the first ray, and earlier in the book, He discusses the rejecting, repulsing, scattering energy of the first ray. |
Sự chối bỏ. Sự phân tán. Sự từ chối. Năng lượng chối bỏ liên quan đến cung một, và trước đó trong quyển sách, Ngài đã thảo luận về năng lượng bác bỏ, đẩy lùi, phân tán của cung một. |
|
Now, the soul does speak because we are reaching the stage of integration with, so |
Bây giờ linh hồn lên tiếng vì chúng ta đang ở giai đoạn tích hợp với nó. |
|
{this is the first stage of integration with and not just of |
{đây là giai đoạn đầu tiên của sự tích hợp với, không chỉ tích hợp của |
|
The word goes forth [2l] |
Linh Từ phát ra [2l] |
|
There is some receptivity to the voice of the soul because there is some aspiration. Earlier, he says it must be becoming slightly responsive to the soul, a search for something higher is occurring |
Có một khả năng tiếp thu theo tiếng nói của linh hồn, vì đã có một khát vọng nào đó. Ở phần trước, Ngài nói rằng nó hơi đáp ứng với linh hồn, khi một cuộc tìm kiếm điều gì đó cao hơn đang diễn ra. |
|
{a search for something higher is occurring. |
{một cuộc tìm kiếm điều gì đó cao hơn đang diễn ra. |
|
So, this gives us some responsiveness to the soul, sufficient to hear it. |
Điều này mang đến cho chúng ta một khả năng đáp ứng với linh hồn, đủ để nghe tiếng nói của nó. |
|
The word goes forth from soul to form. Stand up |
Linh Từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: Hãy đứng lên |
|
to stand up. The sitting is of the second ray, and standing is of the first. |
Hãy đứng dậy, huấn lệnh từ linh hồn phát ra, ngồi thuộc về cung hai và đứng là của cung một. |
|
{This type of bodily position is specifically related to the first ray whilst sitting is related to the second ray. |
{Loại tư thế thể chất này có liên quan cụ thể đến cung một, trong khi ngồi có liên quan cụ thể đến cung hai. |
|
You sit for enlightenment, as it has been told, whether or not it’s a good idea in the old Theosophical sense, it is belonging to the second ray, if you think about it. |
Bạn ngồi để đạt đến giác ngộ, như người ta đã nói—cho dù đó có phải là một ý tưởng hay hay không theo nghĩa Thông Thiên Học cũ—nó thuộc về cung hai, nếu bạn suy nghĩ về nó. |
|
The story goes the Buddha sat under the Bodhi tree. He did not stand under the Bodhi tree for 48 hours. You may have gotten up now and then, but the principal approach with the use of the body was the the attitude of sitting, and mostly when we see meditators, we find them not standing. Meditation is specifically related to the second ray and the sixth ray. I mean, all will meditate on every ray, but it’s particularly the second and the sixth day which approach Divinity through meditation as the major means, and meditation is accomplished usually by sitting. Sometimes third ray types like what’s called walking meditations. I’ve been among them, and I’ve tried that. It kind of satisfies the love of activity which is hard to suppress y. So, they say, “I can meditate and walk at the same time”, and to a certain extent, it may be true. And then there are the Taichi types of meditations which have to do with certain formal actions, and that might be well used by the seventh ray type. And maybe performance is a type of meditation for the fourth ray type. I often think of the singer or the artist or the dancer along the fourth ray line involved in a meditation which is a form of performance, through the form performance or expression. The fourth and seventh rays have a lot in common in that respect. So, |
Chuyện kể rằng Đức Phật ngồi tham thiền dưới gốc cây bồ đề, Ngài không đứng dưới cây bồ đề, suốt 48 giờ. Thỉnh thoảng bạn có thể đứng dậy, nhưng cách tiếp cận chính với việc sử dụng cơ thể là thái độ ngồi, và hầu hết khi chúng ta thấy người tham thiền, chúng ta thấy họ ngồi, không đứng. Tham thiền liên quan đặc biệt đến cung hai và cung sáu. Ý tôi là, tất cả sẽ tham thiền trên mọi cung, nhưng đặc biệt cung hai và cung sáu mới tiếp cận thiên tính thông qua thiền định như phương tiện chính, và tham thiền thường được thực hiện bằng cách ngồi. Đôi khi các loại cung ba thực hành “thiền hành”. Tôi đã ở trong số đó và tôi đã thử điều đó. Nó gần như thỏa mãn sự yêu thích hoạt động vốn khó có thể kìm nén được của cung ba. Họ nói: “Tôi có thể vừa thiền, vừa đi bộ cùng lúc”, và ở một mức độ nào đó, điều đó có thể đúng. Ngoài ra, còn có các kiểu thiền Thái Cực Quyền (Taichi) liên quan đến một số hành động theo nghi thức, có thể phù hợp với kiểu người cung bảy. Và biểu diễn nghệ thuật (performance) là một dạng thiền cho kiểu người cung bốn. Tôi thường liên tưởng đến các ca sĩ, nghệ sĩ hoặc vũ công thuộc nhóm cung bốn tham gia vào một kiểu thiền thông qua biểu diễn nghệ thuật, thể hiện bản thân qua hình thức trình diễn. Cung bốn và cung bảy có nhiều điểm chung về mặt đó. |
|
The word goes forth from soul to form |
Linh Từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: |
|
And it’s really interesting, sometimes this term word is capitalized, sometimes not. I think it always should be. |
Và điều này thật sự rất thú vị, đôi khi thuật ngữ này được viết hoa, đôi khi thì không. Tôi nghĩ rằng nó luôn luôn nên được viết hoa. |
|
{This term is not capitalized but probably should be… as happens it seems randomly in the other stanzas. |
{Thuật ngữ này không được viết hoa nhưng có lẽ nên được viết hoa… như điều dường như xảy ra một cách ngẫu nhiên trong các đoạn kệ khác. |
|
So, it is the Word of the soul. It is the communication from the soul to the personality, and it doesn’t seem to be justified when the word goes forth to have it sometimes in the lower case and sometimes in the higher case. It always seems, to me, to be the same word or directive of the soul. It’s not the full appreciation of the Divine Word but at least it’s an aspect of that. |
Vì vậy, đó chính là Linh từ của linh hồn. Đó là sự truyền thông từ linh hồn đến phàm ngã, và dường như không hợp lý khi Linh từ phát ra mà lại có lúc được viết thường, có lúc được viết hoa. Với tôi, nó dường như luôn luôn là cùng một Linh từ hay một chỉ dẫn của linh hồn. Nó chưa phải là sự lĩnh hội trọn vẹn về Linh từ Thiêng liêng, nhưng ít nhất nó là một phương diện của Linh từ ấy. |
|
The Word goes forth from soul to form. “Stand up”. |
Linh Từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng. “Hãy đứng lên”. |
|
To assume the position of the first ray type who stands in spiritual being, |
Hãy đảm nhận vị trí của cung một trong bản thể tinh thần, |
|
Press [Page 352] outward into life [3a] |
Hãy xông ra ngoài, vào trong cuộc sống. [3a] |
|
{into life circumtances… Press and pressure—the first ray applies pressure… a forcing power is applied; this is not a gentle movement forward—a deliberate moving forward in strength and repelling obstacles. |
{vào hoàn cảnh cuộc sống… Press và pressure—cung một áp dụng áp lực… một sức mạnh cưỡng bức được áp dụng; đây không phải là một chuyển động nhẹ nhàng về phía trước—một bước tiến có chủ ý bằng sức mạnh và đẩy lùi các chướng ngại vật. |
|
If you press forward in life, watch out for what’s in the way. |
Nếu bạn tiến về phía trước trong cuộc sống, hãy coi chừng những gì đang cản đường bạn. |
|
So, and it’s outward to the accomplishment that must occur upon the outer planes. And if you think about it, the one-three-seven is a ray line which has to do with objectivity in the form and with matter. The strictly subjective ray is the two -four – six. This doesn’t mean that the one-three-five-seven types will not turn inward, will not meditate, will not seek subjective counsel, but at first their work is within the outer world, even if you think about the Manu who is on this first ray of great abstraction, his work is to strengthen the forms of matter so that they can withstand the Spirit. His work is definitely upon the Vulcanian physical plane. So, when you apply pressure at a point, it is a Vulcanian First ray act |
Vì vậy, trọng tâm là hướng ra ngoài để đạt được thành tựu trên các cõi giới bên ngoài. Nếu chúng ta suy nghĩ kỹ, đường hướng cung 1-3-7 liên quan đến tính khách quan trong hình tướng và vật chất. Ngược lại, đường hướng cung hoàn toàn chủ quan hay nội tại là 2-4-6. Điều này không có nghĩa là những người thuộc nhóm cung 1-3-5-7 sẽ không hướng nội, không tham thiền, không tìm kiếm sự hướng dẫn nội tâm, nhưng ban đầu công việc của họ tập trung vào thế giới bên ngoài. Ngay cả vị Manu thuộc cung một với tính trừu tượng cao, công việc của Ngài là củng cố các dạng vật chất để chúng có thể chịu đựng được Tinh thần. Công việc của Ngài chắc chắn diễn ra trên Cõi Vật chất Vulcan. Vì vậy, khi bạn tạo áp lực tại một điểm, đó là hành động của Cung một Vulcan. |
|
{The application of pressure at a point is a Vulcanian act… Vulcan a powerful first ray planet… |
{Việc áp dụng áp lực tại một điểm là một hành động của Vulcanian… Vulcan một hành tinh mạnh mẽ của cung một… |
|
Achieve a goal |
Hãy đạt đến mục tiêu. |
|
In a very one-pointed way. The first and the sixth ray have a lot of one pointedness, but usually the one-pointedness of the first ray is rather wiser and more effective. |
Một cách rất nhất tâm. Cung một và cung sáu có nhiều tính nhất tâm, nhưng thông thường tính nhất tâm của cung một khá sáng suốt và hiệu quả hơn. |
|
Achieve a specific goal in the outer world. Do not worry about embracing the many at this point, that may come later. |
Hãy đạt được một mục tiêu cụ thể ở thế giới bên ngoài. Đừng lo nghĩ về việc ôm lấy nhiều người vào thời điểm này, điều đó có thể đến sau. |
|
For you, there must be not a circle, but a line [3b] |
Đối với ngươi, không phải một vòng tròn, mà là một đường thẳng.[3b] |
|
{a line which moves directly towards the fulfillment of the will which you intend, |
{một đường hướng trực tiếp tới việc thực hiện ý muốn mà bạn dự định, |
|
There is an objective, there is a configuration to be achieved. Master Morya said, I always recall it, he said, “Bring me an achievement, bring me an achievement”. So, you move in a forward manner directly toward the goal and destroying all obstacles. “I will destroy all obstacles”, says the first ray type in the Blessed One Stanzas that we have worked on before. |
Có một mục tiêu, một cấu hình cần đạt được. Tôi luôn nhớ lời Chân sư Morya nói, “Hãy mang cho ta một thành tựu, mang đến cho ta một thành tựu”. Bạn tiến thẳng về phía trước và hướng tới mục tiêu và phá bỏ mọi chướng ngại vật. “Ta sẽ tiêu diệt mọi chướng ngại”, như các Chân thần cung một trong các Stanza Blessed Ones nói. |
|
For you there must be not a circle |
Đối với ngươi, không phải một vòng tròn |
|
Not the embracing circle. We will see that the great opposites are the line and the circle in a sense. The second ray type will always work with the circle as an important symbol, and method of motion is circling, encompassing, embracing, and including… All of these are circular functions. But the first ray goes straight to the goal, and later when it begins to absorb some second ray qualities, may become more embracing of those that it has oftentimes destroyed along the way. |
Không phải vòng tròn bao gồm. Chúng ta sẽ thấy rằng theo một ý nghĩa nào đó, sự đối lập lớn nhất là đường thẳng và đường tròn. Người cung hai sẽ luôn hoạt động với hình tròn là biểu tượng quan trọng, và phương thức chuyển động là xoay tròn, bao trùm, ôm lấy và bao gồm. Tất cả đều là những chức năng tuần hoàn. Nhưng cung một đi thẳng đến mục tiêu, và sau đó, khi nó bắt đầu hấp thụ một số phẩm chất của cung hai, có thể trở nên dễ chấp nhận hơn những gì mà nó thường xuyên phá hủy trên đường đi. |
|
But the first ray is not really going to destroy consciousness but is going to destroyed some of the forms through which consciousness was working, so as to restore better, more powerful, more suitable forms. |
Nhưng cung một không thực sự tiêu diệt được tâm thức, mà sẽ phá hủy một số hình tướng qua đó tâm thức đang hoạt động để khôi phục lại những hình tướng tốt đẹp hơn, mạnh mẽ hơn, phù hợp hơn. |
|
So, follow your vision and achieve a goal directly, so move directly, and we do know that the first ray is called, in its Monadic aspect, the Director; the second ray the Teacher; the third ray the Manipulator on those monadic levels. Direction, moving directly straight, straight is another one of those words, straight to the point, don’t beat around the bush. There’s not so much tact involved here, there is not wasting time. A movement directly towards the objective. So, the circle and the line, and think of these two. Think of the circle and the line as representative of the second ray and first ray methods respectively. |
Vì vậy, hãy đi theo tầm nhìn của bạn và trực tiếp đạt được mục tiêu, hãy di chuyển một cách trực tiếp, và chúng ta biết rằng cung một, ở khía cạnh Chân thần của nó, được gọi là Người Chỉ Đạo (Director) ; cung hai là Huấn Sư; cung ba Kẻ Vận Dụng (Manipulator) ở các cấp độ chân thần. Định hướng, đi thẳng tới—thẳng (straight) là một trong những từ khác của cung một—đi thẳng vào vấn đề, đừng vòng vo. Ở đây không có quá nhiều sự khéo léo, không lãng phí thời gian. Một sự chuyển động trực tiếp hướng tới mục tiêu. Vì vậy, hãy nghĩ về hai biểu tượng này, hình tròn và đường thẳng, và hãy xem hình tròn và đường thẳng tương ứng là đại diện cho các phương pháp của cung hai và cung một. |
|
So, the soul has spoken, and it says stand up and receive the impress of the will and be ready to act, because in a state of standing, you’re much more ready to act at a moment’s notice than you are in the state of sitting. How it is when you’re sitting? You say, well let me get up and then I can do that. When you’re standing, you’re ready to do you’re ready for action and press outward, press away from yourself, press forward in order to impress upward into circumstance, achieve a goal which is conceived by your vision and to be implemented by your will, and go straight there and do not waste time by circling around. |
Vì vậy, Linh hồn đã lên tiếng, ra lệnh phàm ngã hãy đứng dậy và nhận ấn tượng của ý chí, sẵn sàng hành động, bởi vì trong trạng thái đứng, bạn sẵn sàng hành động ngay lập tức hơn so với khi bạn ở trạng thái ngồi. Khi bạn đang ngồi và cần hành động, bạn sẽ bảo hãy để tôi đứng dậy và sau đó tôi có thể làm điều đó. Khi bạn đang đứng, bạn đã sẵn sàng hành động và xông ra bên ngoài, hướng về phía trước để gây ấn tượng với hoàn cảnh, đạt được mục tiêu mà tầm nhìn của bạn đã hình thành và được ý chí thực thi, đạt được mục tiêu mà tầm nhìn của bạn hình thành và được ý chí thực thi. Hãy đi thẳng đến đó và đừng lãng phí thời gian loanh quanh. |
|
Now, there’s still more soul’s advise. |
Bây giờ, vẫn còn nhiều lời khuyên của linh hồn. |
|
Prepare the form [3c] |
Hãy chuẩn bị hình tướng. [3c] |
|
And we might say this is just what the Manu and His department does. They prepare the racial form, they oversee the evolution of the form, so it becomes ever more suited and sensitive even to carrying the subjective energies. We don’t want the form to give way to fall apart, to disntegrate when the soul and spirit come closer to it, and this of course is a great possibility. DK warned us that many our human forms in the western world which is not suited yet for the carrying of occult energies, because they had been improperly raised with the wrong diet and even the unsuitable exercise. They could not bear the inner fire. |
Có thể nói đây chính xác là nhiệm vụ của Đức Manu và Phân Bộ của Ngài. Các Ngài chuẩn bị hình thể của chủng tộc, giám sát quá trình tiến hóa của hình thể để nó ngày càng phù hợp và nhạy bén hơn, ngay cả khi mang năng lượng chủ quan. Chúng ta không muốn hình thể bị hủy hoại, sụp đổ hay tan rã khi linh hồn và tinh thần đến gần hơn. Tất nhiên, đây là một khả năng. Chân sư DK đã cảnh báo rằng nhiều hình thể con người ở phương Tây hiện chưa phù hợp để mang năng lượng huyền linh, do chúng được nuôi dưỡng không đúng cách bợi chế độ ăn uống và tập luyện không phù hợp. Chúng không thể chịu đựng được ngọn lửa bên trong. |
|
Prepare the form |
Hãy chuẩn bị hình tướng. |
|
So that when there’s an attempt to bring spirit into matter, the matter does not just fall apart, not disintegrate. |
Để khi có nỗ lực đưa tinh thần vào vật chất, vật chất không tan rã. |
|
Let the eyes look forward |
Đôi mắt hãy nhìn về phía trước, |
|
Sometimes third ray eyes are looking from side to side, and often to the great beyond. The second ray eyes are looking on more compassionately and in embracing manner. But no, the first ray eyes simply look towards the fulfillment of the goal, and concentration is not broken by side issues, we might say, first things first, and there is always with the first ray this great sense of what is priority, not all things at once, but one thing after another, and done in such a way that the thing done supports the next thing, and that thing done supports the next thing, so there is not a crumbling of the edifice. |
Con mắt của cung ba đôi khi nhìn từ bên này sang bên kia, và thường là nhìn xa hơn. Đôi mắt của cung hai nhìn với vẻ từ bi và trìu mến hơn. Nhưng đôi mắt của cung một chỉ đơn giản hướng tới việc hoàn thành mục tiêu, không bị chi phối bởi các vấn đề bên lề. Việc cần làm trước sẽ được làm trước. Có thể nói, họ luôn có ý thức rõ ràng về những gì cần được ưu tiên. Họ không giải quyết tất cả mọi thứ cùng lúc, mà từng việc một, theo thứ tự sao cho việc này hỗ trợ việc kia, việc kia hỗ trợ việc tiếp theo, để tránh “xây dựng nền móng không vững chắc” |
|
This is the Vulcanian method of building, the building aspect of the first ray. So, |
Đây là phương pháp kiến tạo của Vulcan, phương diện xây dựng của cung một. Vì vậy, |
|
let the eyes look forward and not on either side [3d] |
Đôi mắt hãy nhìn về phía trước, không nhìn ở hai bên. [3d] |
|
Just have this unbroken, intent concentration, which is not emotional intent, because the sixth ray can also look forward with intensity but also with a great deal of that magnetic energy of emotion, devotion. |
Chỉ cần duy trì sự tập trung kiên định, không bị gián đoạn. Đó không phải là sự tập trung cảm xúc, bởi vì cung sáu cũng có thể nhìn về phía trước một cách mãnh liệt nhưng với rất nhiều năng lượng từ tính của cảm xúc, của lòng sùng kính. |
|
Not on either side |
không nhìn ở hai bên |
|
Let your concentration not be broken because let the will be applied with fullness, undiluted fullness, upon the accomplishment of the objective, and for the ears, it’s the same thing. Generally, that is such an intent concentration that |
Hãy để sự tập trung của bạn không bị phá vỡ, và hãy để ý chí được áp dụng một cách trọn vẹn, sự trọn vẹn không bị pha loãng, cho đến khi hoàn thành mục tiêu. Với đôi tai cũng vậy. Nói chung, đó là sự tập trung ý định đến mức, |
|
the ear be closed to all the outer voices [3e] |
Đôi tai hãy đóng lại với mọi tiếng nói bên ngoài, [3e] |
|
Which means close to distraction. One must not be deviated from one’s intent. |
Nghĩa là tránh bị sao nhãng. Con người không nên bị lệch hướng khỏi mục tiêu của mình. |
|
The second ray types have the listening ear, and they take in from all sides. They try to be receptive. But this for the first ray is a posture of temporary non receptivity, because it will distract, dilute, reflect in some way, prevents full impact. So, doing all to repel or not to receive that which would prevent full impact on the objective, the impact of all the powers at the disposal of the first ray type directly upon the objective, so there is no dilution of strength and the accomplishment can occur expeditiously. |
Người thuộc cung hai có khả năng lắng nghe và tiếp thu thông tin từ mọi phía. Họ luôn cố gắng cởi mở và tiếp nhận những góc nhìn khác nhau. Tuy nhiên, đối với người thuộc cung một, sự cởi mở này chỉ là tạm thời. Họ chọn trạng thái tạm thời không tiếp thu bởi vì những ảnh hưởng bên ngoài có thể gây mất tập trung. Mất tập trung có thể làm giảm hiệu quả, khiến năng lượng của họ bị phân tán, và cản trở tác động tối đa của hành động. |
|
I sometimes tell my first ray friend, there’s no need to use a sledgehammer[ii] to squash[iii] a flea[iv]. There has to be some kind of measurement of forces, and of course Shambala is tremendous for co-measurement of forces. It is the power that touches and then withdraws, and the touching and withdrawal is exquisitely timed, and so is the amount of force for these. But in the early first ray experience there can be a kind of use of too much force for the particular objective. That has to be measured. |
Đôi khi tôi nói với người bạn cung một của tôi rằng không cần dùng đến búa tạ để đập bọ chét. Cần phải có cách nào đó để đo lường mãnh lực, và dĩ nhiên Shambala có sự đo lường mãnh lực tuyệt vời. Thần lực Shambala chạm vào rồi rút đi, thời điểm chạm và rút ra được tính toán chính xác, cũng như mãnh lực cần thiết. Nhưng trong những trải nghiệm ban đầu của người cung một, đôi khi họ có thể sử dụng quá nhiều mãnh lực cho một mục tiêu cụ thể. Điều đó cần được cân chỉnh. |
|
But anyway, not to be distracted and |
|
|
the hands clenched [3f] |
bàn tay nắm chặt [3f] |
|
Now, this is the Vulcanian attitude. It’s the hammer, the fist as a hammer, a Vulcan-like as the hands clenched. When you clench your fist, clenched hands represent the concentration of power and the non dissipation of power. If your fingers are giving, if they’re open, if they’re doing all different kinds of things, the power is spread around. But now with clenched fists, you have the maximum impact. This may not be very skillful and manipulative, but at least you can make the maximum impact with the fist. If you compare, let’s say, punching someone or slapping someone, the punch is obviously more powerful. So, let there be concentrated power in the hands. Right, and there be concentrated power in the hands and no waste, no dispersion, because the fist in a way holds in. |
Đây là thái độ của Vulcan. Bàn tay nắm lại giống như một chiếc búa, một tư thế của Vulcan khi bàn tay nắm chặt lại. Khi bạn nắm chặt nắm tay, nó tượng trưng cho sự tập trung quyền lực và không phân tán quyền lực. Nếu các ngón tay của bạn dang ra, nếu bàn tay xòe ra, nếu chúng làm các việc khác không nắm lại, sức mạnh sẽ bị phân tán. Nhưng với bàn tay siết chặt, bạn có sức tác động tối đa. Khi nắm chặt, bàn tay có thể không khéo léo và vận dụng linh hoạt lắm, nhưng ít nhất bạn có thể tạo ra tác động tối đa bằng nắm đấm. Nếu bạn thử so sánh, chẳng hạn như đấm ai đó hoặc tát ai đó, thì cú đấm rõ ràng là mạnh hơn. Vì vậy, cần sức mạnh tập trung trong bàn tay, không lãng phí, không phân tán, bởi vì bàn tay nắm chặt giữ lại sức mạnh bên trong. |
|
I remember one of the teachers did say, “a clenched fist has naught to give”, and of course the true giving hand is something else, isn’t it? You open the hand to give. The clenched fist is holding the power within for the sake of some specific objective where the full impact is required for the achievement, the accomplishment. Then, |
Tôi nhớ một trong những vị huấn sư đã nói: “Một nắm đấm siết chặt không thể cho đi bất cứ thứ gì”, và dĩ nhiên bàn tay cho đi thực sự lại khác, đúng không? Bạn mở rộng bàn tay để cho đi. Bàn tay nắm chặt giữ sức mạnh bên trong vì một mục tiêu cụ thể nào đó đòi hỏi tác động toàn lực để đạt được, để hoàn thành. |
|
the body braced [3g] |
cơ thể gồng cứng,[3g] |
|
In readiness, and also against the counter energy, because it will happen. The body can be braced in readiness. there is a certain tense alertness, we might call it tense alertness, in the runner, the vaulter, or in athletic events. One does not go from a relaxed position immediately into action. No one goes from a tensed position into action. So, the body is braced for action. At the same time the body can be braced against the impact of the counter blow, but maybe that has not yet happened here. And |
Gồng cứng để trong tư thế sẵn sàng và cũng chống lại năng lượng phản kháng, bởi vì nó sẽ xảy ra. Giống như một vận động viên chạy nước rút, người nhảy xà, hoặc trong các sự kiện thể thao, có một trạng thái cảnh giác căng thẳng nhất định. Vận động viên không thể từ tư thế thư giãn ngay lập tức chuyển sang hành động. Không ai chuyển từ trạng thái căng thẳng hoàn toàn sang hành động. Vì vậy, cơ thể cần được siết chặt để sẵn sàng, đồng thời thể có thể chống đỡ được trước tác động của đòn phản công, nhưng có lẽ điều đó vẫn chưa xảy ra ở đây. |
|
the mind alert [3h] |
và thể trí tỉnh táo. [3h] |
|
So, alert to every step that has to be taken to achieve the goal. I sometimes have read about these Navy SEALs and how they carry out a mission of course so much is instinctive with them. But the commando has to be so mentally alert, and every minute the mind is occupied with the goal and with what the environment offers, either to facilitate that goal or to interrupt it. So, there is a very powerful executive mind, alert, instantaneously alert to all changes in the environment as those changes affect the accomplishment of the goal. The mind alert, emotion is distraction as DK has told us that the first ray people tend to despise emotion. But sometimes have to be brought into a condition of emotion if they are going to learn to live a fuller life. We sometimes see that. |
Cảnh giác với từng bước phải thực hiện để đạt được mục tiêu. Đôi khi tôi đọc về những biệt kích hải quân SEAL, cách họ thực hiện một nhiệm vụ. Tất nhiên, đó gần như là bản năng của họ, nhưng người biệt kích phải thật tỉnh táo, tâm trí từng phút luôn tập trung vào mục tiêu và những gì môi trường mang lại, cho dù là thuận lợi hay cản trở việc đạt được mục tiêu. Do đó, cần có một thể trí điều hành mạnh mẽ, luôn tỉnh táo, phản ứng tức thời với mọi thay đổi trong môi trường khi những thay đổi đó ảnh hưởng đến việc hoàn thành mục tiêu. Trí cần tỉnh táo, cảm xúc sẽ gây xao nhãng, như Chân sư DK nói, những người thuộc cung một thường coi thường cảm xúc, nhưng đôi khi họ cần được đưa vào trạng thái cảm xúc nếu muốn học cách sống một cuộc sống trọn vẹn hơn. |
|
I remember, maybe no commander in the Second World War was more feared by the Axis powers than General Patton, so, some kind of reincarnated Roman warrior and actually having the memory of those battles, so he was a great moving machine irresistible. He was always having to be held back by the field commanders superior to him because he would have run on ahead. And yet he was a very emotional man. He easily burst into tears, and he was known for his spontaneous displays of emotion. But in the case of this executive action, emotion is not used in furthering of the Plan because emotion can distract, can take one aside, can prevent a proportional measurement of forces which are needed in the proposed achievement. |
Tôi nhớ, có lẽ không một vị tướng nào trong Thế chiến thứ II khiến phe Trục (Axis) khiếp sợ hơn Tướng Patton. Ông được cho là sự tái sinh của chiến binh La Mã và mang ký ức về những trận chiến khốc liệt. Do đó, ông giống như một cỗ máy chiến tranh hùng mạnh không thể cưỡng lại. Các sĩ quan chỉ huy cấp trên trên chiến trường luôn phải kiềm chế ông ta vì ông có xu hướng lao lên phía trước. Tuy nhiên, Patton lại là một người rất giàu cảm xúc. Ông dễ dàng bật khóc và nổi tiếng với những biểu lộ cảm xúc bộc phát. Nhưng trong trường hợp thực hiện nhiệm vụ, cảm xúc không được sử dụng để thúc đẩy Thiên Cơ bởi vì cảm xúc có thể gây mất tập trung, khiến người ta đi chệch hướng, và cản trở việc đánh giá mãnh lực phù hợp, điều cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra. |
|
So, there is often times with the first ray active suppression of emotion, nothing but the facts and the job to be done, because feeling for or against will be an interference. DK talks also about the relation of the first ray to the onset of cancer, and how there were so many abuses in Lemurian times of the sexual energy that the Atlanteans used the first ray to suppress that energy, realizing that it had led to all kinds of excesses and disease and great trouble, and in that suppression in which the first ray plays a big part, the disease cancer arose because there was not a proper outlet for the suppressed energies. |
Vì vậy, khi cung một hoạt động, thường có sự kìm nén cảm xúc, chỉ tập trung vào sự thật và nhiệm vụ cần hoàn thành, bởi vì cảm xúc tích cực hay tiêu cực đều có thể gây cản trở. DK cũng đề cập đến mối liên hệ giữa cung một với sự khởi phát của bệnh ung thư. Trong thời Lemuria, năng lượng tình dục đã bị lạm dụng quá mức, và giống dân Atlantis đã sử dụng cung một để kìm nén năng lượng này. Họ nhận ra rằng nó dẫn đến những hành vi thái quá, bệnh tật và những khó khăn thể chất. Chính sự kìm nén này với sự tham gia của cung một đã khiến bệnh ung thư xuất hiện do không có lối thoát thích hợp cho năng lượng bị kìm nén. |
|
Anyway, emotion is oftentimes suppressed, and what did you feel like when you were carrying out this commando ray? Let us say, I didn’t feel anything. I just did my job, one thing after another. There may have been a sense of excitement but no other feelings per se, not reactions to this and reactions against that. |
Dù sao, cảm xúc thường xuyên bị kìm nén. Vậy bạn cảm thấy như thế nào khi thực hiện nhiệm vụ theo cung một? “Tôi không cảm nhận gì, tôi chỉ muốn hoàn thành nhiệm vụ, từng việc một”. Có thể có một chút phấn khích nhưng không có cảm xúc nào khác, không phản ứng theo cảm xúc trước tình huống này hay tình huống khác. |
|
Instead Love which the first ray type has to cultivate takes its place. |
Cảm xúc không được sử dụng trong việc xúc tiến Thiên Cơ. Bác ái sẽ thay chỗ của nó. |
|
So, “purposeful action under the influence of a greater love” is the motive for the developed first ray types. |
Vì vậy, hành động có mục đích dưới ảnh hưởng của một tình thương yêu lớn lao hơn chính là động lực cho các người cung một tiến hóa. |
|
So, Love of the heart. Remember the heart has this quality of the first ray and of the second ray. The heart is a great center for the first ray type—they do have to cultivate that wide embracing love, and one of the words of power for the first ray here in these Integration Techniques will be found to be the word Inclusion which is really a second ray word. Each tendency of the ray types has its own antidote, and it often comes from a ray which is quite different from itself. Just the way as we will see, the second ray word of power, which is centralization, takes its root in the first ray, something the first ray can do so well is to centralize, and something the second ray type can do so well is to Include. So, they are antidotes to each other. These first two rays which are in a way like pairs of opposites. |
Đó là tình thương của trái tim. Hãy nhớ rằng trái tim có đặc tính của cung một và của cung hai. Trái tim là một trung tâm tuyệt vời cho người cung một—họ phải nuôi dưỡng tình thương bao trùm rộng rãi đó, và một trong những quyền lực từ của cung một trong Kỹ thuật Tích hợp là từ Bao gồm, vốn thực sự là một từ thuộc cung hai. Vì vậy, mỗi xu hướng của các cung cung đều có thuốc ‘giải độc’ riêng, và nó thường đến từ một cung hoàn toàn khác với chính nó. Theo cách này, chúng ta sẽ thấy từ quyền lực của cung hai là ‘tập trung hóa’ bắt nguồn từ cung một. Điều cung một có thể làm rất tốt là tập trung hóa, và điều mà người cung thứ hai có thể làm rất tốt là bao gồm. Vì vậy, chúng là thuốc ‘giải’ cho nhau. Hai cung này, theo cách nào đó, giống như một cặp đối lập. |
|
So, it’s not these solar plexus distractions of for and against, and a bias of some kind that he is used in furthering the Plan, but a larger type of love which will serves. So, let’s just say that here, |
Vì vậy, người cung một không sử dụng những cảm xúc tùng thái dương, những cảm xúc ủng hộ và chống lại một điều gì đó để thúc đẩy Thiên Cơ, mà thay vào đó là một Tình Thương rộng lớn hơn sẽ phục vụ. |
|
{that will serve a larger type of love, realized not immediately, realized eventually under the impulse of the soul |
{điều đó sẽ phục vụ cho một loại tình thương rộng lớn hơn, không được chứng nghiệm ngay tức thì, mà sẽ được chứng nghiệm về sau dưới xung lực của linh hồn |
|
We will see here when we study this first ray integration formula, how the first ray type regains love. maybe as a monad on higher planes, all of these qualities are part of the possession of these Great Spiritual Beings, but it is forgotten in the lower worlds. |
Chúng ta sẽ thấy khi nghiên cứu công thức tích hợp của cung một, cách người cung một lấy lại được tình thương. Có thể, với tư cách là chân thần trên cõi cao hơn, tất cả những phẩm chất này đều là một phần thuộc sở hữu của những Sinh Mệnh tinh thần Vĩ đại này, nhưng nó bị lãng quên ở cáccõi giới thấp. |
|
And then we noticed something else that |
|
|
a symbol of a moving point of light appears above the brow [3i] |
Biểu tượng của một điểm sáng di động xuất hiện trên trán. [3i] |
|
Now, the brow [ajna center] has so much to do with the sense of direction. We have seen straight direction is so important for the first ray type. This doesn’t mean they don’t have strategy and cannot learn to wait until the right moment, because the Will has a strong connection with patience when that will is properly exhibited, one does not want to hastily ride into the jaws of death like General Custer did, when a more prudent or rational type that might have assessed the circumstance. |
Trán và luân xa ajna có liên quan mật thiết đến khả năng định hướng. Chúng ta đã thấy hướng thẳng phía trước rất quan trọng đối với người cung một. Điều này không có nghĩa là họ không có chiến lược và không thể học cách chờ đợi đến thời điểm thích hợp, bởi Ý Chí có mối liên hệ mật thiết với sự kiên nhẫn khi ý chí đó được thể hiện đúng cách, người ta không vội lao vào miệng tử thần như Tướng Custer đã làm, khi một người thận trọng hơn hoặc hợp lý hơn có thể đã đánh giá được tình hình. |
|
the symbol of a moving point of light appears above the brow |
Điểm sáng di động xuất hiện trên trán |
|
And it’s almost like the unicorn’s horn, we might say, think of it as the symbolic horn of power and direction of the unicorn. It has to do with seeing the vision and having the power to move towards the fulfillment of that vision. Oftentimes the stare of the first ray type involving the Ajna Center is very powerful. It’s undeflectable. So, a certain undeflectable power develops here at the brow center. there are many centers here as we are told in some of the books on Laya Yoga, so are we talking about the Ajna Center only. it cannot be sure, but anyway there is a brow force here, and one can think of the initiate of the first ray really having the tendency to become the unicorn which has this extremely potent directed force, and in its going, it illuminates the goal, it illuminates the objective, it goes straight to the objective. It has the strength to achieve the objective. Sometimes if you look at the area around the eyes and the brow of those who are specifically first ray types, you will perhaps see the kind of expression that I’m talking about. |
gần giống như chiếc sừng của kỳ lân, giống như chiếc sừng biểu tượng cho quyền lực và chỉ đạo của kỳ lân. Nó liên quan đến việc đạt được tầm nhìn và có sức mạnh để hướng tới việc thực hiện tầm nhìn đó. Thông thường cái nhìn chằm chằm của người cung một liên quan đến Trung tâm Ajna rất mạnh mẽ, không thể thay đổi được. Vì vậy, một sức mạnh không thể lay chuyển nào đó phát triển ở luân xa trán này. Có rất nhiều luân xa ở đây, như chúng ta được cho biết trong một số sách về Laya Yoga, do đó chúng ta chỉ nói về Trung tâm Ajna mà thôi. Điều đó có thể không chắc chắn, nhưng dù sao thì ở đây có một mãnh lực ở trán, và chúng ta có thể nghĩ rằng điểm đạo đồ cung một thực sự có xu hướng trở thành kỳ lân có mãnh lực định hướng cực kỳ mạnh mẽ, và trong quá trình đó, nó chiếu sáng mục tiêu, nó soi sáng mục tiêu, nó đi thẳng tới mục tiêu. Nó có sức mạnh để đạt được mục tiêu. Đôi khi nếu bạn nhìn vào khu vực xung quanh mắt và lông mày của những người thuộc cung một, có lẽ bạn sẽ thấy kiểu biểu hiện mà tôi đang nói đến ở đây. |
|
The keynote of the life though uttered not |
Chủ âm của sự sống mặc dù không được nói ra, |
|
Because, let’s just say, ofttimes first ray types are men of few words. They don’t need always to be talking. |
Thường khi những người cung một là những người ít nói. Họ không cần phải luôn nói chuyện. |
|
{action takes the place of talk, and Vulcan, their planet, the planet of men of will, is not a verbal planet. |
Hành động thay thế cho lời nói, và Vulcan, hành tinh của họ, hành tinh của những người có ý chí, không phải là một hành tinh của lời nói. |
|
As a matter of fact, DK talked about Vulcan being involved with some centers near the throat center which had more to do with the inarticulate[v] types and which went out of power when the greater articulation of the throat center came in. Of course, this doesn’t mean the first ray types do not speak. They can be great orators—look at Churchill, some combination there between the first and the fourth ray and the sixth ray involved with his strong Sagittarius energy, a great, great orator, and obviously a first ray type. |
Chân sư DK đã đề cập đến Vulcan liên quan đến một số trung tâm gần cổ họng, có liên quan nhiều đến những kiểu người ít nói, và nó mất dần sức ảnh hưởng khi khả năng diễn đạt của vùng họng được cải thiện. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là những người thuộc cung một không nói. Họ có thể là những nhà hùng biện tài ba. Hãy nhìn vào Churchill, ở ông có sự kết hợp giữa cung một, cung bốn, và cung sáu do ảnh hưởng mạnh mẽ của dấu hiệu Nhân Mã, một nhà hùng biện vĩ đại và rõ ràng thuộc cung một. |
|
But let’s just say, that one doesn’t need to be telling others what one’s keynote is. The keynote is demonstrable through one’s actions, and the the first ray type is the true occultist, the true man of action, as it has been said. We don’t just sit around thinking about it all the time, or pondering what it might be like if we did act. One of our colleagues talks about the cafe at the edge of the cliff, where it’s kind of like a coffee house, and you sit around drinking your cappuccino, discussing what it might be like to jump off the cliff. maybe that’s more for the third ray and second ray types. The first ray type walks up to the cliff and jumps off the cliff, doesn’t have to talk so much about what it might be like if he did jump off the cliff. |
Tuy nhiên, người thuộc cung một không cần phải nói cho người khác biết về chủ âm của mình là gì. Chủ âm đó được thể hiện rõ ràng qua hành động. Như đã được đề cập, người thuộc cung một là những nhà huyền linh học thực thụ, những người hành động thực tế. Nếu chúng ta hành động, chúng ta không ngồi quanh suy nghĩ về mọi thứ, hay băn khoăn về việc mọi thứ sẽ như thế nào. Một đồng nghiệp của tôi có kể về một quán cà phê gần vách đá, nơi mọi người ngồi nhâm nhi cappuccino, bàn tán về việc nhảy xuống vách đá sẽ như thế nào. Có lẽ điều đó phù hợp hơn với những người thuộc cung ba và cung hai. Người thuộc cung một sẽ bước đến vách đá và nhảy xuống, không cần nói quá nhiều về việc liệu họ có nên nhảy hay không. |
|
The keynote of the life though uttered not yet still is clearly heard [3j] |
Chủ âm của sự sống mặc dù không được nói ra, nhưng vẫn được nghe rõ ràng: [3j] |
|
In other words, let’s call it, |
Nói cách khác, đó là “nói bằng hành động”. |
|
{speaking through action. |
“nói bằng hành động”. |
|
I move to power |
‘Ta di chuyển tới quyền lực. |
|
And that line above the brow is a movement towards POWER. I move towards the acquisition of power to accomplish the higher will. Let’s just say, |
Và đường kẻ phía trên trán là sự chuyển động hướng tới QUYỀN LỰC. Tôi hướng tới việc đạt được quyền lực để hoàn thành ý chí cao hơn. |
|
{Without power the Will cannot be accomplished |
{Không có sức mạnh thì ý chí không thể thực hiện được |
|
I move to power. I am the One. [3k] |
‘Ta di chuyển tới quyền lực. Ta là Đấng Duy Nhất. [3k] |
|
and this of course is coming at a much later stage, |
Và tất nhiên điều này sẽ đến ở giai đoạn muộn hơn nhiều, |
|
{A later stage of realization—one must be quite integrated and fused before one can say “I am the One” |
{Người ta phải hoàn toàn tích hợp và hợp nhất trước khi có thể nói “Tôi là Đấng duy nhất” |
|
It’s a later stage of realization because one must be quite integrated and fused before one can say, “I am the One”. one can say, in lowercase, I am the one, I’m the one at the center. I am. Let other forms exist, I rule because I am”. But if one says, “I am the One”, that’s Isolated Unity, that’s beyond the third degree. That’s actually consummated at the fifth degree. |
Đó là giai đoạn nhận thức sau này bởi vì người ta phải hoàn toàn tích hợp và hợp nhất trước khi có thể nói “Tôi là Đấng Duy Nhất”. Vâng, người ta có thể nói, bằng chữ thường, Tôi là duy nhất, tôi là người ở trung tâm, tôi là tôi. Hãy để các hình tướng khác tồn tại, tôi cai trị bởi vì Tôi hiện hữu”. Nhưng nếu một người nói “Tôi là Đấng Duy Nhất” thì đó là Sự thống nhất Biệt Lập (Isolated Unity) vượt quá cấp điểm đạo thứ ba. Điều đó thực sự đã hoàn thành ở cấp độ thứ năm, cấp độ Chân sư. |
|
So, you see in these these stanzas, we oftentimes move through a great deal of time. It’s not as if we are speaking of a process that is occurring in one localized moment. It often spans the developmental period. |
Bạn thấy, trong những stanzas này, chúng ta thường di chuyển qua thời gian dài, chúng ta đang nói về một quá trình đang xảy ra tại một thời điểm cục bộ, mà là một quá trình phát triển kéo dài. |
|
I am the One, we are a unity in Power |
Ta là Đấng Duy Nhất. Chúng ta là Hợp Nhất trong quyền lực. |
|
So, because I am functioning as a soul, I know that I am we. So, I and my colleagues, we are a unity on the plane of soul, and we’re working under the first ray and we unite ourselves better to express power. We unite ourselves if I could the better to express power and achieve the Plan. |
Vì tôi đang hoạt động như một linh hồn nên tôi biết rằng tôi là ‘chúng ta’. Tôi và các cộng sự của tôi, chúng ta là một thể thống nhất trên cõi giới linh hồn, và chúng ta đang làm việc dưới cung một, chúng ta đoàn kết tốt hơn để thể hiện sức mạnh. Chúng ta đoàn kết lại nếu chúng ta muốn thể hiện được quyền lực và đạt được Thiên Cơ tốt hơn. |
|
We are a Unity in Power [3l] |
Chúng ta là Hợp Nhất trong quyền lực [3l] |
|
In other words, I am no longer solo—I work with others who share in the soul sense the same objective. So, it’s like the team, it’s like the commando team or the army. We together united by the Divine Power descending, and |
Nói cách khác, tôi không còn hoạt động đơn độc nữa—tôi làm việc với những người khác có cùng mục tiêu trong linh hồn. Nó giống như đội biệt kích hoặc một đoàn quân. Chúng ta cùng nhau hợp nhất bởi Quyền năng thiêng liêng giáng xuống, |
|
And all is for the power and glory of the One |
Và tất cả là vì quyền lực và vinh quang của Đấng Duy Nhất. |
|
The One who we’re serving. We are not serving our lower ego anymore. We are serving the Planary Logos, the one. Of course, eventually we will serve the Solar Logos and so forth, but in soul, I unite with my comrades on the same ray, we in the same ashram, we dedicated to the same task using the same first ray energy. |
Đấng Duy Nhất mà chúng ta phụng sự. Chúng ta không còn phục vụ cái tôi nhỏ bé của mình nữa. Chúng ta phụng sự Hành Tinh Thượng đế, và cuối cùng chúng ta sẽ phụng sự Thái Dương Thượng Đế. Nhưng trong linh hồn, tôi hợp nhất với những đồng đội của mình trên cùng một cung. Chúng ta ở trong cùng một Ashram, chúng ta cống hiến cho cùng một nhiệm vụ bằng cách sử dụng cùng năng lượng của cung một. |
|
We are a unity in power |
Chúng ta là Hợp Nhất trong quyền lực |
|
The power of the first ray soul and all that we do is not for selfish personal objectives, but we are in a state of Isolated Unity and we perceive the One and the will of the One, and when the will of the One is achieved in power, we have the glory when the will of the One is achieved through the right use of of power, we have the Great Glory shining forth. |
Quyền Lực của linh hồn cung một, và tất cả những gì chúng ta làm không nhằm cho những mục tiêu cá nhân ích kỷ, mà chúng ta đang ở trong trạng thái Thống nhất Cô lập, và chúng ta nhận thức được Đấng Duy nhất và Ý Chí của Đấng Duy nhất, và khi ý chí của Đấng Duy Nhất đó đạt được bằng quyền lực, chúng ta có được Vinh Quang Vĩ Đại tỏa sáng. |
|
I know I’m well over but I did want to do this, and I’m not finished yet. I have to read this for us. I’ll read it and maybe I’ll just say a couple of things, and then read it straight through even at the early phases, |
Tôi biết mình đã quá giờ, nhưng tôi thực sự muốn làm thêm điều này, và tôi vẫn chưa hoàn thành. Tôi đọc các stanzas này lại, và có lẽ tôi sẽ chỉ nói đôi điều, rồi chỉ đọc nó thôi, ngay cả ở những giai đoạn đầu, |
|
ray One |
Cung Một |
|
“The love of power must dominate. There must also be repudiation of those forms which wield no power. |
Tình yêu quyền lực phải thống trị. Cũng phải chối bỏ những hình tướng không nắm giữ quyền lực. |
|
The word goes forth from soul to form; ‘Stand up. Press [Page 352] outward into life. Achieve a goal. For you, there must be not a circle, but a line. |
Linh Từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: ‘Hãy đứng lên. Hãy xông ra ngoài, vào trong cuộc sống. Hãy đạt đến mục tiêu. Đối với ngươi, không phải một vòng tròn, mà là một đường thẳng. |
|
Prepare the form. Let the eyes look forward, not on either side. Let the ears be closed to all the outer voices, and the hands clenched, the body braced, and mind alert. Emotion is not used in furthering of the Plan. Love takes its place.’ |
Hãy chuẩn bị hình tướng. Đôi mắt hãy nhìn về phía trước, không nhìn ở hai bên. Đôi tai hãy đóng lại với mọi tiếng nói bên ngoài, bàn tay nắm chặt, cơ thể gồng cứng, và thể trí tỉnh táo. Cảm xúc không được sử dụng trong việc xúc tiến Thiên Cơ. Bác ái sẽ thay chỗ của nó’. |
|
The symbol of a moving point of light appears above the brow. The keynote of the life though uttered not, yet still is clearly heard: ‘I move to power. I am the One. We are a Unity in power. And all is for the power and glory of the One.’” |
Biểu tượng của một điểm sáng di động xuất hiện trên trán. Chủ âm của sự sống mặc dù không được nói ra, nhưng vẫn được nghe rõ ràng: ‘Ta di chuyển tới quyền lực. Ta là Đấng Duy Nhất. Chúng ta là Hợp Nhất trong quyền lực. Và tất cả là vì quyền lực và vinh quang của Đấng Duy Nhất’”. |
|
The love of power must dominate |
Tình yêu quyền lực phải thống trị |
|
And it will, as we appropriate power from the inner first ray soul. |
Và điều đó sẽ xảy ra khi chúng ta chiếm hữu được sức mạnh từ linh hồn cung một bên trong. |
|
The love of power must dominate |
Tình yêu quyền lực phải thống trị |
|
Otherwise, the task cannot be accomplished. There will be insufficient applied energy to accomplish. The will, either our personal will or the higher will of which we are becoming aware. |
Nếu không có quyền lực, nhiệm vụ không thể hoàn thành. Sẽ không có đủ năng lượng áp dụng để hoàn thành Ý chí—Ý chí cá nhân của chúng ta hoặc ý chí cao hơn mà chúng ta đang nhận thức được. |
|
There must also be repudiation of those forms which wield no power |
Cũng phải bác bỏ những hình tướng không có quyền lực |
|
Because they do not serve the achievement of the objective. The objective will fail, and the one thing that the first ray type does not want is to fail in his direct path towards a specific achievement. |
Vì chúng không phục vụ cho việc đạt được mục tiêu. Mục tiêu sẽ thất bại, và điều mà loại cung một không mong muốn là thất bại trên con đường trực tiếp hướng tới một thành tựu cụ thể. |
|
The word of the soul goes forth from soul to form; |
Linh từ Của linh hồn phát ra từ linh hồn đến hình tướng; ‘Hãy đứng lên. |
|
It is carrying a certain energy. It’s not just advice like “do this”. It’s actually carrying the energy to do it because it’s the first ray that is coming through any particular personality. |
Nó mang một năng lượng nào đó. Đó không chỉ là lời khuyên, như “hãy làm điều này”. Nó thực sự mang lại năng lượng để làm điều đó bởi vì đó là cung một tuôn đổ qua bất kỳ phàm ngã cụ thể nào của linh hồn đó. |
|
Stand up; |
Hãy đứng lên; |
|
As the first ray types receive the energy straight through the head center and all the way down to the base of the spine, |
Như người cung một nhận được năng lượng thẳng từ trung tâm đầu và xuống tới đáy cột sống, |
|
press outward into life, |
Hãy xông ra ngoài, vào cuộc sống, |
|
Use Vulcan to press forward, get rid of all obstacles if anything in your way. Press forward and get it out of the way, |
Sử dụng Vulcan để tiến về phía trước, loại bỏ mọi chướng ngại vật cản đường bạn. Xông về phía trước và loại nó ra khỏi đường đi, |
|
Achieve a specific goal |
Hãy đạt được mục tiêu.. |
|
A directive, |
Một chỉ thị, |
|
For you, there must be not a circle but a line |
Đối với ngươi, không phải một vòng tròn mà là một đường thẳng |
|
And the circle will come later when there is a rounding out of the being. |
Vòng tròn sẽ tới sau đó, khi có sự “làm tròn đầy” (hoàn chỉnh) bản thể. |
|
Prepare the form |
Hãy chuẩn bị hình tướng. |
|
So, it’s strong enough to withstand the subjective energies. |
Để nó đủ mạnh để tiếp nhận những năng lượng bên trong. |
|
Let the eyes look forward, not on either side |
Đôi mắt hãy nhìn về phía trước, không nhìn ở hai bên. |
|
Not to be distracted by other possible visions or objectives. |
Không bị phân tâm bởi những tầm nhìn hoặc mục tiêu khác có thể có. |
|
Let the ears be closed to all the outer voices |
Đôi tai hãy đóng lại với mọi tiếng nói bên ngoài, |
|
Because many voices can give different directions to what is your direction, because it’s coming from within you, |
Bởi vì nhiều tiếng nói có thể đưa ra những hướng đi khác với hướng đi đến từ bên trong bạn, |
|
and the hands clenched, |
bàn tay nắm chặt |
|
For the concentration of power and maximum impact, |
Để tập trung quyền lực và có sức tác động tối đa |
|
the body braced and readiness, and mind alert. |
cơ thể gồng cứng, sẵn sàng, và trí tỉnh táo. |
|
To sense all possible deviations in the environment, all possible interferences. The mind is alert so that one thing after another, the mind can be used to accomplish the objective. |
Để cảm nhận được mọi sai lệch có thể xảy ra trong môi trường, mọi sự cản trở có thể xảy ra. Trí tỉnh táo để làm hết việc này đến việc khác, chúng ta sử dụng tâm trí để hoàn thành mục tiêu. |
|
Emotion is not used in furthering of the Plan. Love takes its place |
Cảm xúc không được sử dụng trong việc xúc tiến Thiên Cơ. Bác Ái thế chỗ của nó |
|
Emotion which is often so attractive or repulsive is not used in the furthering of the Plan. It would just get in the way, where we’re on. We are serving the Plan, not just a personal plan. We’re serving the God’s Plan. |
Cảm xúc thường hấp dẫn hoặc ghét bỏ sẽ không được sử dụng để thúc đẩy Thiên Cơ. Nó chỉ cản đường, và chúng ta đang trên con đường phụng sự Thiên Cơ, không chỉ là phục vụ kế hoạch cá nhân. Chúng ta đang phụng sự Kế hoạch của Thượng đế. |
|
Love of the heart, and in a larger sense, eventually takes its place |
Tình Thương của trái tim, và theo nghĩa rộng hơn, cuối cùng cũng thế chỗ của nó |
|
We destroy and we serve in Will for the sake of a larger sense love which comes in because we are listening to the word of the soul, and the soul is always Love regardless of what its ray may be. |
Chúng ta hủy diệt và phụng sự trong Ý Chí cho một Tình thương có ý nghĩa lớn hơn, bởi vì chúng ta đang lắng nghe lời của linh hồn, mà linh hồn luôn là Tình Thương, bất kể cung của nó là gì. |
|
The symbol of a moving point of light appears above the brow |
Biểu tượng điểm sáng chuyển động xuất hiện phía trên trán |
|
A thought about which way this light moves, but I think it’s straightforward, and there’s a great power concentrated at the brow. So, our objective is illumined and the strength to achieve the objective comes oftentimes right from this radiating center, the undeflectability of the individual from this radiating directing center. |
Tôi đang suy nghĩ về cách ánh sáng này di chuyển, nhưng tôi nghĩ nó là đường thẳng. Một nguồn năng lượng mạnh mẽ tập trung ở vùng trán. Mục tiêu của chúng ta được soi sáng và sức mạnh để đạt được mục tiêu thường đến từ chính trung tâm tỏa sáng này, sự kiên định bất di dịch của cá nhân xuất phát từ trung tâm dẫn hướng rực rỡ này.” |
|
The keynote of the life |
Chủ âm của sự sống mặc dù không được nói ra |
|
Which is going to be stated |
sẽ được nêu ra, |
|
though uttered not, |
dù không được nói ra, |
|
Not, because why waste words instead put your intention into action |
Tại sao lãng phí thời gian trong lời nói mà không biến ý định của bạn thành hành động |
|
yet still is clearly heard |
nhưng vẫn nghe rõ ràng |
|
By all who really observe how the individual acts. |
Bởi tất cả những người thực sự quan sát cách cá nhân hành động. |
|
I move to power |
Tôi di chuyển đến quyền lực |
|
To accumulate greater power because that power will help me. I have sufficient energy to accomplish the inner directive which is my responsibility. |
Để tích lũy sức mạnh lớn hơn, vì sức mạnh đó sẽ giúp ích cho tôi. Tôi có đủ năng lượng để hoàn thành sự chỉ dẫn bên trong vốn là trách nhiệm của tôi. |
|
I am the One |
Tôi là Đấng Duy Nhất |
|
Isolated Unity has come. I am identifying not just with my little oneness but with a greater Oneness and it’s as if I act with the strength of the One and on behalf of the One, and even as the One. |
Sự Thống Nhất Biệt Lập đã đến. Tôi đang đồng nhất không chỉ với sự đồng nhất nhỏ bé của mình mà còn với sự đồng nhất lớn hơn, và dường như tôi hành động với sức mạnh của Đấng Duy Nhất, và nhân danh Đấng Duy Nhất, và thậm chí với tư cách là Đấng Duy NHất. |
|
I am the One |
Tôi là Đấng Duy Nhất |
|
This it’s almost like the Master speaking but if we cover a lot of ground here, at least the initiate is speaking by this point. |
Điều này gần giống như một Chân sư đang nói, nhưng nếu chúng ta đề cập nhiều vấn đề ở đây, thì ít nhất đến thời điểm này, một điểm đạo đồ cũng đang nói. |
|
We are a unity in power |
Chúng ta là một sự thống nhất về sức mạnh |
|
The soul and my personal self are unity in power, and all my comrades on the plane of soul with whom I act are unity in power, but at least soul and personality. I didn’t mention this before, but soul and personality being integrated together, are unified, and together a great power on behalf the Plan can be exerted because soul and personality united. And |
Linh hồn và phàm ngã cá nhân của tôi là sự thống nhất về quyền lực, và tất cả những người đồng đội của tôi trên cõi linh hồn mà tôi hành động cùng đều thống nhất về quyền lực, nhưng ít nhất là linh hồn và phàm ngã. Tôi chưa đề cập đến điều này trước đây, nhưng linh hồn và phàm ngã được tích hợp với nhau sẽ hợp nhất và cùng nhau. Một sức mạnh to lớn thay mặt cho Thiên Cơ có thể được phát huy vì linh hồn và phàm ngã hợp nhất, và |
|
all |
tất cả |
|
that I do and all that we do together, soul and personality, |
mà tôi làm và tất cả những gì chúng ta làm cùng nhau, linh hồn và phàm ngã, |
|
is for the power and glory of the One |
là vì sức mạnh và vinh quang của Đấng duy nhất |
|
Which I am. |
Mà tôi là. |
|
It is inspiring and we will go on here. It’s already almost an hour and a half on this program, but yeah it is, and it didn’t seem right somehow to break it. You don’t want to break the first ray. I was forced to do that earlier because the internet failed when I was right in the midst of the first ray Stantza. It didn’t want to break it at all. |
Nó thật đầy cảm hứng và chúng ta sẽ tiếp tục ở đây. Chương trình này đã gần một tiếng rưỡi rồi, nhưng đúng là như vậy, và bằng cách nào đó, có vẻ như không đúng khi phá vỡ nó. Bạn không muốn làm vỡ cung đầu tiên. Tôi buộc phải làm điều đó sớm hơn vì internet bị lỗi khi tôi đang ở ngay giữa Stantza cung đầu tiên. Nó không muốn phá vỡ nó chút nào, nhưng hãy lắng nghe. |
|
This is the end of Techniques of Integration webinar commentaries number four Esoteric Psychology II, and page 352, and we’ll be getting of Techniques of Integration webinar commentary number five EPII page 352. |
Đây là phần cuối của các kỹ thuật bình luận hội thảo trực tuyến tích hợp số bốn Tâm lý bí truyền II, và trang 352, và chúng ta sẽ có các kỹ thuật bình luận hội thảo trực tuyến tích hợp số năm EPII trang 352. |
|
All right, every one of us can apply these stanzas to our own process. You can see here that. You say, I’ve already integrated personality. I’m already integrated with the soul. But remember, of course that doesn’t really complete until the fourth degree and to a degree if maybe. So, you may already be integrated with the soul, but toward the ends of these stanzas, we get some very high directive, some very high possible realizations which are appropriate for initiate consciousness, and if you think about it, the truly integrated personality doesn’t even complete until one is already a true initiate—a true initiate is the third degree—and still there is more fusion and more integration of the systems going on all the time, even up to the fourth degree. |
Mỗi người trong chúng ta đều có thể áp dụng những khổ thơ này vào quá trình của riêng mình. Bạn có thể thấy điều đó ở đây. Bạn có thyể nói, tôi đã tích hợp phàm ngã. Tôi đã tích hợp phàm ngã với linh hồn. Nhưng hãy nhớ rằng điều đó không thực sự hoàn thiện cho đến cấp độ thứ tư. Vì vậy, bạn có thể đã tích hợp với linh hồn, nhưng ở phần cuối của những khổ thơ này, chúng ta nhận được một số chỉ dẫn rất cao siêu, một số nhận thức có khả năng rất cao phù hợp với tâm thức điểm đạo, và nếu bạn nghĩ về điều đó, phàm ngã thực sự tích hợp thậm chí còn chưa hoàn thiện cho đến khi một người đã là một điểm đạo đồ thực sự—một điểm đạo đồ thực sự là điểm đạo đồ bậc ba—và vẫn luôn còn nhiều sự hợp nhất và tích hợp nhiều hơn của các hệ thống diễn ra mọi lúc, thậm chí lên đến cấp độ thứ tư. |
|
So, this integration of the two energy systems into one energy system, out of the two consciousnesses into one fused consciousness, proceeds until we are ready to dispense with that treasured limitation that we call the causal body. |
Vì vậy, sự tích hợp của hai hệ thống năng lượng thành một hệ thống năng lượng, từ hai tâm thức thành một tâm thức hợp nhất, tiếp tục cho đến khi chúng ta sẵn sàng loại bỏ giới hạn quý giá mà chúng ta gọi là thể nguyên nhân. |
|
So, these stanzas have a wide and good application for all. We cannot say we’ve outgrown that. |
Vì vậy, những khổ thơ này có ứng dụng rộng rãi và tốt đẹp cho tất cả mọi người. Chúng ta không thể nói rằng chúng ta đã vượt qua điều đó. |
|
Alright so we’ll see you soon and we’ll keep going with number five. |