TECHNIQUES OF INTEGRATION WEBINAR #6 – R2
(Page 355)
Abstract
|
Techniques of Integration Webinar Commentary 6 covers page 355, and is about one hour and 15 minutes long. This program analyses and interprets the following stanza describing the Second ray Technique of Integration. |
Webinar bình giảng Kỹ thuật tích hợp số 6 bao gồm trang 355 và dài khoảng một giờ 15 phút. Chương trình này phân tích và giải thích đoạn thơ sau đây mô tả Kỹ thuật Tích hợp cung hai. |
|
ray Two |
|
|
“‘Again I stand; a point within a circle and yet myself.’ |
“‘Một lần nữa tôi đứng; một điểm trong một vòng tròn, và tuy vậy vẫn riêng tôi.’ |
|
The love of love must dominate, not love of being loved. The power to draw unto oneself must dominate, but into the worlds of form that power must some day fail to penetrate. This is the first step towards a deeper search. |
Sự yêu mến bác ái phải thống trị, chứ không phải yêu mến được yêu. Năng lực thu hút vào chính mình phải chiếm ưu thế, nhưng năng lực đó một ngày nào đó phải không thể xâm nhập vào trong các thế giới hình tướng. Đây là bước đầu tiên hướng tới một sự tìm kiếm sâu hơn. |
|
The word goes forth from soul to form: ‘Release thyself from all that stands around, for it has naught for thee, so look to me. I am the One who builds, sustains and draws thee on and up. Look unto me with eyes of love, and seek the path which leads from the outer circle to the point. |
Linh Từ xuất phát từ linh hồn đến hình tướng: “Hãy giải thoát ngươi khỏi tất cả những gì đứng xung quanh, vì nó không có gì cho ngươi, vì vậy hãy hướng vào ta. Ta là Đấng xây dựng, duy trì và thu hút ngươi tiến lên và hướng thượng. Hãy ngước nhìn ta với đôi mắt yêu thương, và hãy tìm kiếm con đường dẫn từ ngoại vi tới điểm [bên trong]. |
|
I, at the point, sustain. I, at the point, attract. I, at the point, direct and choose and dominate. I, at the point, love all, drawing them to the centre and moving forward with the travelling points towards that great Centre where the One Point stands. What mean you by that Word?” (EP II 355); |
Ta, ở tại điểm, duy trì. Ta, ở tại điểm, thu hút. Ta, ở tại điểm, điểu khiển, lựa chọn và thống trị. Ta, ở tại điểm, yêu thương tất cả, thu hút họ đến trung tâm và di chuyển về phía trước với các điểm du hành hướng tới Trung Tâm vĩ đại, nơi mà Điểm Duy Nhất đứng. Linh Từ đó có ý nghĩa gì với ngươi?” |
|
Đối với những người tin bản thân mình có linh hồn Cung Hai, đây là công thức mà nếu nghiên cứu, tham thiền về nó và hành động theo nó, sẽ đưa họ vào tích hợp gần hơn với các linh hồn của họ và với Thánh Đoàn Tinh Thần. |
|
|
(EP II 355); |
Text
Text with notes
|
‘“Again {this has been going on for some time—a recognition which is repeated… I stand; a point within a circle {an attachment to a taking-with of the surroundings… {the circle of environment is not the Great Circle… and yet myself.’ [1a] {This is not yet the central point—simply a point and perhaps a decentralized point… as there are many points noticed within this circle… {the tendency to think of oneself in the midst of others… [1b] To sense the whole and yet remain apart… One has not yet become the circle, one is still oneself within the circle… There is not yet integration with the circle and all its other points… the circle is the ‘Circle of Consciousness’… [1c] Eventually we have first inclusion (quite naturally) and then identification… There is a contrast—think of the first ray—for you there must be not a circle but a line… the reverse for the second ray type—at the center of the circle is the point of being/sentiency… being/consciousness. [1d] Again—tells us of a repetitive perception, perceived in more or less the same way during every incarnation… I am within my own circle of awareness and yet I am not yet identified AS the circle of awareness… [1e] |
‘“Một lần nữa {điều này đã diễn ra được một thời gian—một sự nhận thức được lặp đi lặp lại… một điểm trong một vòng tròn, {sự gắn bó với môi trường xung quanh… {vòng tròn môi trường này không phải là Vòng Tròn Vĩ Đại… và tuy vậy vẫn riêng tôi. [1a] {Đây chưa phải là điểm trung tâm—đó chỉ đơn giản là một điểm và có lẽ là một điểm phi tập trung… vì có rất nhiều điểm được nhận ra trong vòng tròn này… {xu hướng nghĩ về mình ở giữa những người khác… [1b] Đã cảm nhận được tổng thể nhưng vẫn tách biệt… Con người chưa trở thành vòng tròn, con người vẫn là chính mình trong vòng tròn… Chưa có sự tích hợp với vòng tròn và tất cả các điểm khác của nó… vòng tròn là ‘ Vòng Tròn Tâm Thức’… [1c] Cuối cùng, đầu tiên chúng ta có sự bao gồm (hoàn toàn tự nhiên) và sau đó là đồng hóa với… Có một sự tương phản—hãy nghĩ đến cung một— “Đối với ngươi, không phải là một vòng tròn mà là một đường thẳng”... điều ngược lại đối với người cung hai—tại tâm của vòng tròn là điểm của hiện hữu-có tri giác… hiện hữu/tâm thức. [1d] Một lần nữa—cho chúng ta biết về một nhận thức lặp đi lặp lại, được nhận thức ít nhiều giống nhau trong mỗi lần tái sinh… Tôi ở trong vòng tâm thức của chính mình nhưng tôi vẫn chưa đống hóa NHƯ LÀ vòng tròn tâm thức… [1e] |
|
{Ahamkara is still prevailing… and the sense of being a separated self is still with us. |
Ahamkara vẫn còn hiện diện… và cảm giác về một cái tôi tách biệt vẫn còn tồn tại trong chúng ta. |
|
The love of love {this is NOT a form. Love is an energy must dominate, [1f] {think of the dominant in music, which is vibratorily 3/2, and which is always associated with the second aspect of divinity—musically there is the need of the “dominant” not love of being loved. [1g] {Which reinforces the separative sensitive center—reinforces the lower ego, and the sense of being an appreciated point of selfhood… The love of being loved works against decentralization… [1h] The Four Relinquishments, among which is the relinquishment of recognition. Recognition reinforces Ahamkara—on the second ray so many have the love of being in love and the related glamor of the love of being loved… The power to draw unto oneself {one’s TRUE SELF must dominate, {which self? rather the Self, the immaterial Self… and not the tangible self… but into the worlds of form that power must some day fail to penetrate. [1i] {We do not want to draw others to our form and engage them in the love of our form… This is NOT personal magnetism … [1j] a glamour of the first ray, {but there is the glamour of personal lovability… {We do not want to attract others to our personhood, to our personal self… [1k] This is the first step towards a deeper search. {Beyond the form… what will be found… a search for the intangible reality of Selfhood, and it is this Self which must draw others onto Its-Self… [1l] Our deeper search is for the Core of Love, for the real loving soul/consciousness within each form… We seek to attract to the inner Self which is the same Self as that of our brother/sister… |
Lòng yêu mến Bác ái phải thống trị, [1f] {tình thương (Love) KHÔNG phải là một hình tướng. Tình thương là một năng lượng {hãy nghĩ đến nốt ‘dominant’ (“át âm”) trong âm nhạc có độ rung động là 3/2, và luôn gắn liền với Phương diện thứ hai của thiên tính—về mặt âm nhạc cần có sự “thống trị” chứ không phải lòng yêu mến được yêu thương. [1g] {Điều này củng cố trung tâm nhạy cảm tách biệt, củng cố cái tôi thấp kém (phàm ngã), và cảm giác mình là một điểm phàm ngã được đánh giá cao của… Lòng yêu mến được yêu có tác dụng chống lại sự phi tập trung… [1g ] Có bốn sự từ bỏ được nêu ra trong Rule XI của Qui Luật Điểm đạo[i], trong đó có sự từ bỏ sự được công nhận. Sự công nhận củng cố Ahamkara—trên cung hai, rất nhiều người có sự yêu thích được yêu và bị ảo cảm liên quan đến sự yêu thích được yêu… [1h] Năng lực thu hút vào chính mình {cái Ngã THẬT của một người phải chiếm ưu thế, {cái tôi nào? đúng hơn là Bản ngã, Bản ngã phi vật chất… chứ không phải bản ngã hữu hình… nhưng năng lực đó một ngày nào đó phải không thể xâm nhập vào trong các thế giới hình tướng. [1i] {Chúng ta không muốn thu hút người khác bởi hình tướng của chúng ta và khiến họ yêu thích hình tướng của chúng ta… [1j] Đây KHÔNG phải là từ tính cá nhân… vốn là một ảo cảm của cung một, {nhưng có ảo cảm của sự đáng yêu cá nhân… {Chúng ta không muốn thu hút người khác đến với tư cách con người của chúng ta, đến với cái tôi cá nhân của chúng ta… [1k] Đây là bước đầu tiên hướng tới một tìm kiếm sâu hơn. {Vượt ngoài hình tướng… cái gì sẽ được tìm thấy… một cuộc tìm kiếm thực tại Bản ngã vô hình, và chính Bản Ngã này phải thu hút những người khác vào chính Nó… [1l] Cuộc tìm kiếm sâu hơn của chúng ta là tìm kiếm Cốt Lõi của Bác Ái, là linh hồn/tâm thức yêu thương thực sự trong mỗi hình tướng… Chúng ta tìm cách thu hút họ đến Bản ngã Bên Trong, vốn giống như Bản Ngã của huynh đệ chúng ta… |
|
The word {should this be capitalized because it is the Word of the soul or the word is an aspect of the Word… goes forth from soul to form: [2a] {when the Word goes forth then the integration process with the soul is proceeding… ‘Release thyself {this is disengagement from the environment-to which the unit it too attached… from all that stands around, [2b] {circum-stance, for it has naught for thee, [2c] {any more… maybe it used to, but now the time of freedom has arrived… So, look to me. {The soul is talking—and the soul is the more real Self, on the higher mental plane… I am the One {capitalized because spiritual/divine who builds, {I the soul have built the personality through which you the Monad-in-attenuation are expressing… sustains and draws thee on and up. [2d] Look unto me with eyes of love, and seek the path which leads from the outer circle to the point. |
Linh từ {điều này nên viết hoa vì nó là Lời của linh hồn hay từ này là một khía cạnh của Linh Từ (vốn là Linh hồn)… đi từ linh hồn đến hình tướng: [2a] {khi Linh từ phát ra thì quá trình tích hợp với linh hồn đang diễn ra… ‘Hãy giải thoát bản thân {đây là sự tách rời khỏi môi trường, đơn vị mà nó gắn bó… khỏi tất cả những gì đứng xung quanh, {hoàn cảnh, vì nó không có gì cho ngươi [2b] {không còn có gì cho ngươi nữa… có lẽ nó đã từng như vậy, nhưng bây giờ thời điểm tự do đã đến… Vì vậy, Hãy hướng vào ta. {Linh hồn đang nói—và linh hồn là Bản ngã thực hơn, trên cõi thượng trí… Ta là Đấng {viết hoa vì đó là tinh thần/thiêng liêng đã xây dựng, {Ta, Linh hồn, đã xây dựng nên phàm ngã mà qua đó Chân thần-trong suy giảm (Monad-in-attenuation) thể hiện… duy trì và thu hút ngươi tiến lên và hướng thượng. [2c] Hãy nhìn ta bằng đôi mắt yêu thương và tìm kiếm con đường dẫn từ vòng tròn bên ngoài đến điểm. [2d] |
|
I am the One {capitalized because spiritual/divine who builds, {I the soul have built the personality through which you the Monad-in-attenuation are expressing… sustains [2e] {I the soul keep you in incarnation—through the sounding of the Word you are… and when I stop sounding you disappear… the you you think you are, disappears, and you become the you you have always been… and draws thee on {towards the greater Light—when we are drawn onward, we are really drawn inward… towards our own Central Reality… and up. [2f] {The second aspect of divinity draws upon the third, the soul draws upon the personality… onward, inward, upwards… towards a higher vibratory state. [2g] |
Ta là Đấng {từ Đấng được viết hoa vì đó là Đấng tinh thần/thiêng liêng xây dựng, [2e] {Ta, Linh hồn, đã xây dựng nên phàm ngã mà qua đó ngươi, Chân thần-trong-suy giảm, đang biểu hiện… duy trì {Ta là linh hồn giữ ngươi trong sự nhập thế—thông qua việc lên xướng lên LINH TỪ mà chính là ngươi… và khi ta ngừng xướng lên âm thanh thì ngươi biến mất… con người mà ngươi nghĩ ngươi là, sẽ biến mất, và ngươi trở thành con người mà ngươi luôn là… và thu hút ngươi [2f] {hướng tới Ánh sáng vĩ đại hơn— khi chúng ta bị hút về phía trước, chúng ta thực sự bị thu hút vào trong… hướng tới Thực tại Trung tâm của chính chúng ta… và hướng lên trên. {Khía cạnh thứ hai của Thiên tính dựa vào khía cạnh thứ ba, linh hồn dựa vào phàm ngã… hướng tới, hướng nội, hướng lên… hướng tới trạng thái rung động cao hơn. [2g] |
|
Look unto me {not unto the outer forms, which really are less lovable… with eyes of love, {love the soul which IS LOVE… and seek the path which leads from the outer circle to the point, [2h] {this leads from identification with the periphery and with formal superficialities to identification with the real Being, who is Myself, the real You… [2i] Seek the Path which leads from involvement or identification with peripheral things to the Main Point which is ME… I, in the larger sense, AM the Main Point… [2j] |
Hãy ngước nhìn Ta {không phải những hình thức bên ngoài, những gì thực sự kém đáng yêu hơn… với đôi mắt yêu thương, {Hãy yêu linh hồn VỐN LÀ TÌNH THƯƠNG… và tìm kiếm con đường dẫn từ vòng tròn bên ngoài đến điểm, [2h] {điều này dẫn từ việc đồng nhất hóa với ngoại vi và với những hình thức hời hợt đến đồng nhất hóa với Bản thể thực sự, là Chính ta… [2i] Tìm kiếm Con đường dẫn từ sự tham gia hoặc đồng nhất hóa với những thứ ngoại vi đến Điểm Chính là TA… TA theo nghĩa rộng hơn là Điểm chính… [2j] |
|
{We could say that many points are included within the circle or just one point within one’s own circle which is intersecting with other circles… Find the conscious essence within the many forms with which you have identified yourself… [2k] |
Chúng ta có thể nói rằng có nhiều điểm nằm trong đường tròn hoặc chỉ một điểm nằm trong đường tròn của chính mình và giao với các đường tròn khác….. Tìm kiếm bản chất tâm thức trong nhiều hình tướng mà con người đã đồng hóa chính mình với… [2k] |
|
{We will see here the need for CENTRALIZATION… |
Ở đây chúng ta sẽ thấy sự cần thiết của TẬP TRUNG HÓA… |
|
{Disengagement from the Periphery… [2l] |
Sự tách rời khỏi ngoại vi… [2l] |
|
I, {the living soul—find the Higher Self within the obvious self—we move from identification with the self which is ‘close at hand’ to the Self which is apparently more remote, but with which we are essentially even more intimate, in fact identical… at the point, sustain [3a]. I, at the point, attract, [3b] {towards the higher planes and towards higher realizations, and towards a higher state of identity… I, at the point, direct and choose and dominate. [3c] {I direct the personality along its proper path which I have conceived for it before incarnation… I sound the dominant and overcome the third, whether minor or major… The first ray type has to decentralize; the second ray type has to centralize… [3d] I, at the point, love all {in their essence and not only in their form… I am VERY INCLUSIVE… attract the souls of all, because I do not venture into the worlds of form—-, drawing them to the centre [3e] |
Ta, {linh hồn—tìm thấy Bản Thể cao hơn trong cái tôi hiển nhiên bên ngoài—chúng ta chuyển từ việc đồng nhất với Cái Tôi ‘gần gũi’ sang Cái Tôi có vẻ xa xôi hơn, nhưng Nó thậm chí còn thân thiết hơn với chúng ta, trên thực tế là chúng ta ở tại điểm, duy trì. [3a] Ta, ở tại điểm, thu hút, [3b] {hướng tới những cõi giới cao hơn và hướng tới những nhận thức cao hơn, và hướng tới trạng thái đồng hóa cao hơn… Ta, ở tại điểm, điểu khiển, lựa chọn và thống trị. [3c] {Ta hướng phàm ngã đi theo con đường mà Ta đã hình dung cho nó trước khi nhập thế... Ta ngân lên note “Át Âm” (Dominant) và vượt qua note Trung Hòa (mediant) thứ ba, dù là trưởng hay thứ… Người cung một phải Phi Tập Trung; người cung hai phải Tập trung hóa… Ta, ở tại điểm, yêu thương tất cả, [3d] {ở bản thể của họ chứ không chỉ ở hình tướng… Ta RẤT BAO GỒM… thu hút linh hồn của tất cả mọi người, bởi vì ta không dấn thân vào thế giới hình tướng—, thu hút họ đến trung tâm [3e] |
|
{Towards their OWN Center… |
Hướng tới Trung tâm RIÊNG của họ… |
|
{Towards myself as a soul—soul to soul |
Hướng đến Ta như một linh hồn—linh hồn với linh hồn |
|
{Towards great centers around which they should gather—Ashram, Hierarchy, eventually Shamballa… |
Hướng đến những trung tâm lớn hơn mà họ nên tập hợp xung quanh—Ashram, Thánh Đoàn, cuối cùng là Shamballa… |
|
{Ultimately to that Center which is the very Heart of the Universe… [3f] |
Cuối cùng, đến Trung tâm chính là Trái Tim của Vũ trụ… [3f] |
|
and moving forward {a first ray type of motion—progress onwards… with the travelling points {they are like stars which have their “proper motion” … The travelling points of light are making spiritual progress… they are souls like Myself. towards that great Centre where the One Point stands. [3g] {This could be, for our planet, Shamballa itself where the One Point the Planetary Logos, stands… leading towards the One Initiator… What mean you by that Word?” [3h] {A method for the achievement of integration is given—and it is the Questioning of MEANING… This “Word” is the Name of the soul—and one’s penultimate identity |
và tiến về phía trước { loại chuyển động của cung một—tiến về phía trước… với các điểm di hành {họ giống như những ngôi sao có “chuyển động riêng” của mình… Những điểm sáng đang di chuyển về phía trước về mặt tinh thần... họ là những linh hồn giống như Chính Ta. hướng tới Trung tâm vĩ đại nơi mà Điểm Duy Nhất đứng. [3g] {Điều này, đối với hành tinh của chúng ta, chính là Shamballa, nơi Điểm Duy Nhất, Hành Tinh Thượng đế đang đứng… dẫn tới Đấng Điểm đạo Duy nhất… Linh Từ đó có ý nghĩa gì với ngươi?” [3h] {Một phương pháp để đạt được sự tích hợp được đưa ra —và đó là Câu hỏi về Ý NGHĨA… “Linh Từ” này là Tên của linh hồn—và danh tính áp chót của một người |
|
{END of TOIWC 6 EP II p. 355 |
{KẾT THÚC TOIWC 6 EP II tr. 355 |
|
{Beginning of TOIWC 6 EP II p. 355 |
Bắt đầu TOIWC 6 EP II tr. 355 |
Commentary 6
|
Hi everybody. We are on the Techniques of Integration webinar commentaries number six, and we have been working on the first ray up to this point. The first ray soul integrating its personality of whatever nature, and this is taking place for on page 354, and we concluded with some speculations about the same type of pattern that might be found with the reorientation of any soul ray type, because every soul ray type has to in a way reverse the wheel and begin counteracting the tendencies which had kept it attached to personal material satisfaction—satisfactions to be found in the three lower world. So, a type of reorientation is needed, and what is apparent is that these reorientations occur through the use of different personality rays, even at last the same personality ray as the soul ray, though the example is given for the first ray soul type only. We can perhaps assume that it would also occur for the other soul ray types. We do not know for sure, but the analogy would be there, and the various rays other than the soul ray would be of use in helping with that reorientation a way from the personal expression of soul ray energy seeking personal satisfactions towards integration into a wider context in service of the Plan. |
Chào mọi người. Chúng ta đang bình giảng các Kỹ thuật Tích hợp, chúng ta đang ở trong webinar số sáu, và chúng ta đã nghiên cứu cung một cho đến thời điểm này. Linh hồn cung một tích hợp phàm ngã của nó ở bất kỳ cung nào, và chúng ta kết luận bằng suy đoán về cùng một kiểu mẫu có thể được tìm thấy khi tái định hướng của bất kỳ cung linh hồn nào, bởi vì mọi cung linh hồn, theo một cách nào đó, “đảo ngược bánh xe” và bắt đầu chống lại những khuynh hướng đã khiến nó gắn bó với sự thỏa mãn vật chất cá nhân—những sự thỏa mãn được tìm thấy trong ba cõi giới thấp. Vì vậy, cần có một sự tái định hướng, và điều hiển nhiên là những sự tái định hướng này xảy ra thông qua việc sử dụng các cung phàm ngã khác nhau, thậm chí cuối cùng phàm ngã có cùng cung như cung linh hồn, mặc dù ví dụ được đưa ra chỉ dành cho kiểu linh hồn cung một. Có lẽ chúng ta có thể cho rằng điều đó cũng xảy ra với các loại cung linh hồn khác. Chúng ta không biết chắc chắn, nhưng có một sự tương đồng ở đó, và các cung khác nhau, khác với cung linh hồn, sẽ được sử dụng để giúp tái định hướng sự biểu hiện cá nhân của năng lượng linh hồn đang tìm kiếm sự thỏa mãn cá nhân, hướng tới sự hòa nhập vào một bối cảnh thế giới rộng lớn hơn nhằm phụng sự Thiên Cơ. |
|
So, in any case there is much to learn about these sequences of lives, much to learn, and perhaps before too long we will be put in a position where we can study them with accuracy and understand what the Plan is in a deeper sense. |
Vì vậy, có nhiều điều cần tìm hiểu về chuỗi kiếp sống này, và có lẽ chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ được đặt vào vị trí có thể nghiên cứu chúng một cách chính xác và hiểu được Thiên Cơ theo nghĩa sâu sắc hơn. |
|
Let’s go on ray 2. Here we have the ray 2 Technique of Integration. So, let’s read it first and then analyze it again. |
Chúng ta hãy tiếp tục với cung 2, chúng ta hãy đọc qua trước một lần rồi phân tích sau. |
|
“‘Again I stand; a point within a circle and yet myself.’ |
Một lần nữa tôi đứng; một điểm trong một vòng tròn, và tuy vậy vẫn riêng tôi. |
|
The love of love must dominate, not love of being loved. The power to draw unto oneself must dominate, but into the worlds of form that power must some day fail to penetrate. This is the first step towards a deeper search. |
Lòng yêu mến thương yêu phải thống trị, chứ không phải lòng yêu mến được yêu. Năng lực thu hút vào chính mình phải chiếm ưu thế, nhưng năng lực đó một ngày nào đó phải không thể xâm nhập vào trong các thế giới hình tướng. Đây là bước đầu tiên hướng tới một sự tìm kiếm sâu hơn. |
|
The word goes forth from soul to form: ‘Release thyself from all that stands around, for it has naught for thee, so look to me. I am the One who builds, sustains and draws thee on and up. Look unto me with eyes of love, and seek the path which leads from the outer circle to the point. |
Linh Từ xuất phát từ linh hồn đến hình tướng: “Hãy giải thoát ngươi khỏi tất cả những gì đứng xung quanh, vì nó không có gì cho ngươi, vì vậy hãy hướng vào ta. Ta là Đấng xây dựng, duy trì và thu hút ngươi tiến lên và hướng thượng. Hãy ngước nhìn ta với đôi mắt yêu thương, và hãy tìm kiếm con đường dẫn từ ngoại vi tới điểm [bên trong]. |
|
I, at the point, sustain. I, at the point, attract. I, at the point, direct and choose and dominate. I, at the point, love all, drawing them to the centre and moving forward with the travelling points towards that great Centre where the One Point stands. What mean you by that Word?” |
Ta, ở tại điểm, duy trì. Ta, ở tại điểm, thu hút. Ta, ở tại điểm, điểu khiển, lựa chọn và thống trị. Ta, ở tại điểm, yêu thương tất cả, thu hút họ đến trung tâm và di chuyển về phía trước với các điểm du hành hướng tới Trung Tâm vĩ đại, nơi mà Điểm Duy Nhất đứng. Linh Từ đó có ý nghĩa gì với ngươi?” |
|
We noticed that the capitalization of the term Word here and the lack of capitalization of it a little earlier on. Let’s see if we can find this. Here it is. Yes, here we see that the word ‘word’ is not capitalized, and yet it seems to be the same word, although we might say that this word goes forth which goes forth from soul to form is not the completeness of the word as we find it here, at least is not a completeness of the word which the second aspect is. The word is formative through sound. It creates a patterns through sound and the second ray is especially the pattern creating ray. This is at least in the subtle sense, and in the more concrete sense, the seventh ray creates the patterns or make sure that the patterns appear in matter. It has the skill to do that. So, |
Chúng ta đã nhận thấy rằng ở đây thuật ngữ Linh từ được viết hoa, trong khi ở đoạn trước đó lại không viết hoa. Chúng ta hãy xem liệu có thể tìm thấy chỗ này không. Đây rồi. Vâng, ở đây chúng ta thấy rằng từ “word” không được viết hoa, tuy vậy dường như vẫn là cùng một từ, mặc dù chúng ta có thể nói rằng Linh từ phát ra — Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng — không phải là sự viên mãn của Linh từ như chúng ta thấy ở đây, hay ít nhất không phải là sự viên mãn của Linh từ thuộc về phương diện thứ hai. Linh từ có tính tạo hình thông qua âm thanh. Nó tạo ra các mô thức thông qua âm thanh, và cung hai đặc biệt là cung tạo mô thức. Điều này đúng ít nhất là theo nghĩa vi tế; còn theo nghĩa cụ thể hơn, thì cung bảy tạo ra các mô thức hoặc bảo đảm rằng các mô thức ấy xuất hiện trong vật chất. Cung này có khả năng để làm điều đó. Vì vậy, |
|
Một lần nữa tôi đứng; [1a] |
|
|
We have to ask why the word again is used. So, this has been going on for some time, a recognition which is repeated because the consciousness has not moved on from the stage in which it recognizes itself as a point within a circle, not these circles. There were many, many circles, and at least it recognizes that the circle of this environment is not the entirety. So, |
Chúng ta phải tự hỏi tại sao lại “một lần nữa”? Đó là vì điều này đã diễn tiến một thời gian, một sự nhận biết được lặp đi lặp lại bởi tâm thức vẫn chưa khỏi giai đoạn mà nó nhận ra chính mình là một điểm trong một vòng tròn, không phải của những vòng tròn này. Có rất nhiều vòng tròn, và ít nhất nó nhận ra rằng vòng tròn của nó, của môi trường mà nó là một điểm không phải là toàn bộ. Vì thế, |
|
{the circle of environment is not the Great Circle, but it is a sphere or a circle within which the life is lived |
{vòng tròn môi trường không phải là Vòng tròn lớn, mà là một lãnh vực, hoặc một vòng tròn trong đó cuộc sống được diễn ra |
|
So, one recognizes oneself as a point but always the idea of the circle is found. There is, from the first, the sense of something greater than the point itself. There is an attachment to taking-with of these surroundings, attachment to the surroundings, because always there is the environment. There is not the tendency to think of oneself alone, but to think of oneself in the midst of others. |
Con người nhận ra mình là một điểm, nhưng luôn luôn có ý tưởng về một vòng tròn bao quanh. Ngay từ đầu, đã có cảm giác về một cái gì đó lớn hơn bản thân của điểm, có một sự gắn bó với những gì xung quanh, với môi trường, bởi vì luôn luôn có môi trường. Không có khuynh hướng chỉ nghĩ đến bản thân đơn độc, mà là sự hiện diện giữa những người khác. |
|
So, the tendency to think of oneself in the midst of others who are other points, perhaps within the same circle. So, there is the glamour connected with the second ray, the ability to sense the whole and yet remain apart. |
Vì vậy, có xu hướng nghĩ về mình giữa những người khác, vốn là những điểm khác, có lẽ trong cùng một vòng tròn. “Khả năng cảm nhận được tổng thể nhưng vẫn tách rời”— và đây là ảo cảm cung hai. |
|
{to sense the whole and yet remain apart |
{cảm nhận được toàn bộ nhưng vẫn tách biệt. |
|
So, although the encompassing enveloping circle is sensed, there is still this Ahamkaric principle. One has not yet become the circle. |
Mặc dù cảm nhận được vòng tròn bao bọc, nhưng vẫn có nguyên lý “Ahamkara” này, y vẫn chưa trở thành vòng tròn. |
|
{At the beginning here, one has not yet become the circle, one is still oneself within the circle. [1b] |
{Lúc đầu, con người chưa trở thành vòng tròn, con người vẫn là chính mình trong vòng tròn đó. [1b] |
|
Later there will be the idea that I am this larger circle and all that is contained within the circle, and the ring-pass-not will continue to expand, and with each expansion one may think of oneself as all that is contained within the circle. One begins to pervade all that the circle includes, and one becomes, in a sense, a relinquished point as in Leo, or one becomes all points equally. |
Sau này, sẽ đến lúc con người có ý tưởng rằng y là vòng tròn lớn hơn này và tất cả những gì được chứa trong vòng tròn đó, và vòng-giới-hạn sẽ tiếp tục mở rộng, và với mỗi lần mở rộng, người ta có thể nghĩ về bản thân mình như tất cả những gì được chứa trong vòng tròn đó. Người ta bắt đầu thấm nhập vào tất cả những gì vòng tròn bao gồm, và người ta trở thành, theo một nghĩa nào đó, một “điểm luôn lùi lại” (relinquished point) như ở Leo, hoặc một người trở thành tất cả các điểm một cách bình đẳng. |
|
So, there is still a stage of isolation, let’s say, there is not yet complete integration with the circle and all other points of the circle which is, let’s call it, the “Circle of Consciousness”, and thus it continues to expand as consciousness expands, and this is of course the great theme of the second ray and those upon it. The expansion of consciousness and with that expansion, the inclusion in the field of consciousness of all who are touched by that consciousness, and that inclusion becomes eventually identification. So, we have to say, |
Vì vậy, vẫn còn một sự cô lập, chưa có sự tích hợp hoàn toàn với vòng tròn và tất cả các điểm khác của vòng tròn. Vòng tròn, chúng ta có thể gọi đó là “Vòng tròn tâm thức”. Nó tiếp tục mở rộng khi tâm thức mở rộng, và tất nhiên đây là chủ đề lớn của cung hai và những người thuộc cung đó. Sự mở rộng tâm thức và cùng với sự mở rộng đó, sự bao gồm trong lĩnh vực tâm thức của tất cả những người được tâm thức đó chạm đến, và sự bao gồm đó cuối cùng trở thành sự đồng nhất hóa. |
|
{eventually we have first inclusion (quite naturally, though not so natural for the first ray types) and then identification afterwards. [1c] |
{đầu tiên là bao gồm (hoàn toàn tự nhiên, mặc dù không quá tự nhiên đối với các loại cung một) và sau đó là đồng nhất hóa với. [1c] |
|
… We remember there’s a contrast here. Think of the first ray, “For you there must be not a circle but a but a line” and we might almost say the reverse for the second-ray type, “For you there must be not a line but a circle”. As a matter of fact, of first ray virtues, the line of course represents the number one geometrically, … and the circle represents in many ways the number two … |
… Chúng ta nhớ có sự tương phản ở đây. Hãy nghĩ đến cung một, “Đối với ngươi không phải là một vòng tròn mà là một đường thẳng “ và chúng ta gần như có thể nói ngược lại đối với cung hai, “Đối với ngươi không phải là một đường thẳng mà là một vòng tròn”. Thực tế là, trong các đức tính của cung một, tất nhiên đường thẳng tượng trưng cho số một về mặt hình học, và đường tròn tượng trưng cho số hai theo nhiều cách… |
|
Sometimes the point within the circle is considered to be the symbol of the first ray, but I don’t know if it is the best example of that. Certainly, the point of pure being is there, but the encompassness of the second ray it seems would be that which the point within the circle indicates, at least here we have it. |
Đôi khi điểm trong vòng tròn được coi là biểu tượng của cung một, nhưng tôi không biết liệu đó có phải là ví dụ tốt nhất về điều đó hay không. Chắc chắn, điểm của sự tồn tại thuần khiết là ở đó, nhưng có vẻ như tính bao trùm của cung hai là điều mà điểm bên trong vòng tròn chỉ ra, ít nhất như ở đây chúng ta có nó. |
|
‘Again I stand; a point within a circle and yet myself |
Một lần nữa tôi đứng; một điểm trong một vòng tròn, và tuy vậy vẫn riêng tôi. |
|
We have to notice that this is not yet the central point, simply a point, and perhaps a decentralized point. There are many points noticed within this circle. Of course, everybody in a sense is a point within a circle. There is the circle of consciousness or, maybe we should call it, |
Chúng ta phải lưu ý rằng đây chưa phải là điểm trung tâm (central point), chỉ đơn giản là một điểm, và có lẽ là một điểm phi tập trung (decentralised). Có rất nhiều điểm được chú ý trong vòng tròn này. Tất nhiên, theo một nghĩa nào đó, mọi người đều là một điểm trong một vòng tròn. Có vòng tròn tâm thức, hay có lẽ chúng ta nên gọi nó là, |
|
{the sphere of consciousness, |
{lĩnh vực tâm thức (realm of consciousness) |
|
and there is the point of ontological sentiency or the point of being-sentiency, if I can put it this way, |
và có điểm với khả năng tri giác bản thể, hoặc điểm về khả năng tri giác, nếu tôi có thể nói theo cách này, |
|
{at the center of the circle is the point of being-sentiency, being and sentiency together, I called it the point of being/consciousness [1d] |
{ở giữa vòng tròn là điểm tồn tại-có tri giác, tồn tại và nhận thức cùng nhau, tôi gọi đó là điểm tồn tại/tâm thức [1d] |
|
Anyway, how do we get out of this situation, because again tells us of a repetitive perception, perceived in more or less the same way during every incarnation— |
Làm thế nào để chúng ta thoát khỏi tình huống này, bởi vì “một lần nữa” cho chúng ta biết về một nhận thức được lặp đi lặp lại, nhận thức ít nhiều giống nhau trong mỗi lần tái sinh— |
|
Again I stand when I begin to wake up, a point within a circle some circle of awareness and yet not the circle of awareness. I am within my own circle of awareness, and yet I am not yet identified AS the circle of awareness that will come later, until there is this infusion of the developed consciousness through all forms within the planet, and eventually through the solar ring-pass-not, and eventually, at least theoretically, throughout the entire universe, although that is of course simply theoretical. Being the tiny mites we are in one sense; we are the entire expanse of the universe. We also are, from the point of view of encapsulation, tiny with respect to universal expanse, of course, universal expanse is really… As I’ve often said, I’m working out on the theme of what I call the ultimate negligibility, the ultimate negligibility meaning the smallest possible thing, the ever-lessening thing. |
Một lần nữa, tôi đứng khi tôi bắt đầu thức tỉnh, một điểm trong một vòng tròn, vòng tròn nào đó của nhận thức, tôi chưa đồng hóa như là vòng tròn nhận thức. Tôi đang ở trong vòng tròn nhận thức của chính mình, tuy nhiên tôi vẫn chưa đồng nhất hóa với vòng tròn nhận thức, điều sẽ đến sau này khi có có sự thấm nhập của tâm thức đã phát triển này qua mọi hình tướng trong hành tinh, và cuối cùng là qua vòng-giới-hạn của hệ mặt trời, và cuối cùng, ít nhất là về mặt lý thuyết, xuyên suốt toàn bộ vũ trụ, mặc dù điều đó tất nhiên chỉ đơn giản là lý thuyết. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta là những con bọ nhỏ bé, nhưng chúng ta cũng là toàn bộ vũ trụ. Tất nhiên, từ quan điểm đóng gói, chúng ta là rất nhỏ bé so với phạm vi phổ quát… Như tôi thường nói, tôi đang nghiên cứu chủ đề về cái mà tôi gọi là cái không đáng kể tối hậu, có nghĩa là điều không đáng kể điều nhỏ nhất có thể có, cái ngày càng giảm nhỉ lại. |
|
So, what do we do now when we discover ourselves to be a point within the circle of which we are always aware and yet myself? In other words, Ahamkara is still prevailing, and the sense of being a separated self is still with us. [1e] |
Thế, chúng ta phải làm gì khi phát hiện ra mình là một điểm trong vòng tròn, cái mà chúng ta luôn nhận thức được, nhưng lại vẫn là chính mình? Nói cách khác, Ahamkara (ý thức về bản ngã) vẫn đang chiếm ưu thế và cảm giác về một cái tôi tách biệt vẫn còn tồn tại trong chúng ta. [1e] |
|
The love of love must dominate [1f] |
Lòng yêu mến Bác ái phải thống trị [1f] |
|
Now, right away we see |
Bây giờ, chúng ta thấy ngay, |
|
The love of love |
Lòng yêu mến Bác ái |
|
This is not of form, let’s say, |
không phải là lòng yêu mấn hình tướng, |
|
{love is an energy |
{Tình thương là một năng lượng |
|
And it’s the love of the energy of love which must dominate. When we use the word dominate, I can’t help to think of the dominant in music which is vibratorily 3/2, and which is always associated with the second aspect of Divinity. So, there is here the need for the dominant, let’s call it musically, |
và chính sự yêu thương năng lượng của tình thương phải thống trị. Khi chúng ta sử dụng từ thống trị, tôi không thể không nghĩ đến note “át âm” (dominant) trong âm nhạc có độ rung động 3/2 và luôn gắn liền với phương diện thứ hai của thiên tính. Vì vậy, ở đây cần có sự thống trị, |
|
{there is the need for, technically speaking, the dominant note |
{về mặt kỹ thuật, cần có nốt “át âm” |
|
So, the love of the energy of love must dominate, and not the love of being loved which reinforces the separative sensitive center. So, |
Vì vậy, sự yêu mến năng lượng yêu thương phải thống trị, chứ không phải sự yêu thích được yêu vốn củng cố trung tâm nhạy cảm tách biệt. |
|
{it reinforces the lower ego and the sense of being an appreciated point of selfhood [1g] |
{nó củng cố phàm ngã và cảm giác mình là một điểm được đánh giá cao [1g] |
|
Nothing like appreciation to give oneself the sense that after all you do exist. |
Không gì mang lại cho con người cảm giác tồn tại mãnh liệt hơn sự được công nhận. |
|
I’m thinking of how the performer reacts to applause, at least in the early days when one is performing for the sake of the me—they will love me, they will adore me, they would like a media will adore as it says in the fourth ray Law of Repulse. So, the love of being loved reinforced the egoic center. |
Tôi đang nghĩ đến cách các nghệ sĩ phản ứng với tràng pháo tay, ít nhất là trong những ngày đầu tiên khi họ biểu diễn vì cái “tôi” —mọi người sẽ yêu mến tôi, họ sẽ tôn sùng tôi[ii]. Họ muốn được truyền thông tôn sùng, giống như Định luật Đẩy Lùi cung bốn nói. Vì vậy, việc khao khát được yêu thương củng cố phàm ngã. “Không gì bằng sự cảm kích khi mang lại cho bản thân cảm giác rằng sau tất cả thì bạn vẫn tồn tại. |
|
{The love of being loved works against decentralization. [1h] |
{Sự yêu thích được yêu có tác dụng chống lại sự phi tập trung. |
|
{So, we have to learn how to relinquish the love of recognition. |
{Vì vậy, chúng ta phải học cách từ bỏ sự yêu thích được công nhận. |
|
This is one of the four relinquishments found in the eleventh rule for disciples and initiates. So, |
Đây là một trong bốn sự từ bỏ được tìm thấy trong Qui luật thứ mười một dành cho đệ tử và điểm đạo. |
|
{the Four Relinquishments among which is the relinquishment of recognition |
{Bốn sự từ bỏ, trong đó có sự từ bỏ việc được công nhận[1h] |
|
As master DK says, so often it is their disciples that get the recognition for what the Masters basically have given to them, and the Masters work behind the scenes with no recognition at all, but they have given up the desire for recognition because recognition simply reinforces the Ahamkara. Maybe I’ll make a principle out of this, |
Như Chân sư DK nói, rất thường thì chính các đệ tử của các Chân sư nhận được sự công nhận cho những gì các Ngài đã thực sự trao tặng cho họ. Các Ngài làm việc thầm lặng mà không hề được ghi nhận, vì các Ngài đã buông bỏ ham muốn được công nhận, bởi sự công nhận chỉ đơn giản củng cố Ahamkara (ý thức về cái tôi). Có lẽ, tôi nên ghi điều này ra thành một nguyên tắc. |
|
{Recognition reinforces Ahamkara |
{Sự công nhận củng cố Ahamkara |
|
So, many of those on the fourth ray they have the love of being loved. That maybe is true too for the second ray types. |
Vì vậy, nhiều người thuộc cung bốn có tình yêu đối với việc được yêu thương. Điều đó có lẽ cũng đúng đối với các loại người thuộc cung hai. |
|
So, many have the love of being in love and the related glamour of the love of being loved, because generally one is in the love relationship because of the feeling of to be loved. But there comes a time when the giving of love is far more satisfying, let us say, than the receiving of love. The receiving of love is often very helpful and can lift one in moments when one is down and can give one the sense of being valued and being integrated into a larger system. But as the Christ said, it’s better to give than to receive, and of course the interesting thing is that when one gives love, one automatically receives it in time. |
Vì vậy, nhiều người thích được yêu thương và bị ảo cảm của việc yêu thích được yêu thương. Bởi vì nói chung, người ta ở trong một mối quan hệ tình cảm vì mong muốn được yêu thương. Tuy nhiên, sẽ đến lúc mà việc cho đi tình thương sẽ thỏa mãn hơn nhiều so với việc nhận lại tình thương. Việc nhận được tình thương chắc chắn có ích lợi, vì nó có thể nâng chúng ta lên trong những giai đoạn khó khăn, mang lại cảm giác được trân trọng và được hòa nhập vào một hệ thống lớn hơn. Nhưng như Đức Christ đã dạy, ‘cho thì tốt hơn nhận’. Điều thú vị là khi bạn trao đi tình thương, theo thời gian, bạn cũng sẽ tự động nhận lại được nó.” |
|
The power to draw unto oneself must dominate |
Năng lực thu hút vào chính mình phải chiếm ưu thế, |
|
But which self? Rather the SELF, the immaterial self and not the tangible self. So, if somebody loves you for what you look like or for what you are as a personality, it may be that they are simply loving the appearance and have not detected the soul that is the cause of the appearance. We must love each other as souls which means we must be aware of each other’s qualities. |
Nhưng thu hút vào “cái tôi” (self) nào? Đó là BẢN NGÃ (SELF), cái tôi phi vật chất chứ không phải cái tôi hữu hình. Vì vậy, nếu ai đó yêu bạn vì vẻ ngoài của bạn hoặc vì phàm ngã của bạn, có thể họ chỉ yêu vẻ bề ngoài và không phát hiện ra linh hồn là nguyên nhân của vẻ bề ngoài. Chúng ta phải yêu thương nhau như linh hồn, nghĩa là chúng ta phải nhận thức được những đức tính của nhau. |
|
The power to draw unto oneself must dominate |
Năng lực thu hút vào chính mình phải chiếm ưu thế, |
|
I want to call it here, one’s TRUE SELF |
Tôi muốn gọi “cái tôi” ở đây là Bản Ngã Thật Sự của một người |
|
must dominate, but into the worlds of form that power must someday fail to penetrate [1i] |
Năng lực thu hút vào chính mình phải chiếm ưu thế, nhưng năng lực đó một ngày nào đó phải không thể xâm nhập vào trong các thế giới hình tướng [1i] |
|
So, we do not want to draw others to our form and engage them in the love of our form. it’s almost inevitable at first before we learn with spiritual discernment to discriminate the true being behind the appearance. So, many people try to be personally magnetic. So, this is not personal magnetism which is a glamour of the second ray—the glamour of personal magnetism. I think I’m correct here, or it could be a glamour of the first ray. Let’s just check this out… the personal magnetism is the glamour of the first ray, but personal attractiveness, we might say, the glamour of personal attractiveness or personal lovability, I think, is a glamour of the second ray. |
Vì vậy, chúng ta không muốn lôi kéo người khác vào hình tướng của mình và cuốn họ vào tình yêu đối với hình tướng của mình. Điều này gần như là không thể tránh khỏi lúc ban đầu, trước khi chúng ta học được, với sự phân biện tinh thần, cách phân biệt thực thể chân thật ẩn sau sắc tướng. Vì thế, nhiều người cố gắng trở nên hấp dẫn về mặt cá nhân. Do đó, đây không phải là từ tính cá nhân — vốn là một ảo cảm của cung một — mà là ảo cảm của cung hai: ảo cảm của sức hấp dẫn cá nhân. Tôi nghĩ tôi nói đúng ở đây, hoặc cũng có thể đó là một ảo cảm của cung một. Chúng ta hãy kiểm tra lại điều này… từ tính cá nhân thực sự là ảo cảm của cung một; còn sức hấp dẫn cá nhân, chúng ta có thể nói, ảo cảm của sự đáng yêu cá nhân hay khả năng được yêu mến cá nhân, theo tôi nghĩ, là ảo cảm của cung hai. |
|
not personal magnetism, which is actually a glamour of the first ray, but let’s see here, there is the glamour of personal lovability. [1j] |
Không phải là từ tính cá nhân — vốn thực sự là ảo cảm của cung một — mà là ảo cảm của sự đáng yêu cá nhân. [1j] |
|
See how lovable I am, and how attractive and how magnetic, how radiant I am … The “See me game” which emphasizes, in the eyes of others, the personality, is just reinforced Ahamkara, and works against the centralization. It should be more “see thee” than “see me” unless the “me” is the one great ME. A word can be the same word and in different context means different things. |
“Hãy xem tôi đáng yêu biết bao, hấp dẫn biết bao, có từ lực biết bao, rạng rỡ biết bao…” Trò chơi “Hãy nhìn tôi” — vốn nhấn mạnh phàm ngã trong con mắt của người khác — chỉ càng củng cố Ahamkara và đi ngược lại tiến trình tập trung vào trung tâm. Lẽ ra phải là “hãy nhìn anh” hơn là “hãy nhìn tôi”, trừ khi cái “tôi” ấy là cái TÔI vĩ đại duy nhất. Một từ có thể vẫn là cùng một từ, nhưng trong những văn cảnh khác nhau thì lại mang những ý nghĩa khác nhau. |
|
So, but into the worlds of form that power must someday fail to penetrate |
nhưng năng lực đó một ngày nào đó phải không thể xâm nhập vào trong các thế giới hình tướng |
|
We don’t want to engage them in the love of our form. It’s not personal magnetism. |
Chúng ta không muốn lôi kéo họ vào sự yêu thích hình tướng của chúng ta. Đó không phải là sức hút cá nhân. |
|
{We do not want to attract others to our personhood, to our personal self, [1k] |
{Chúng ta không muốn thu hút người khác đến với con người của chúng ta, vào cái tôi cá nhân của chúng ta, [1j] |
|
this is the first step towards a deeper search beyond |
đây là bước đầu tiên hướng tới một tìm kiếm sâu hơn vượt ra ngoài. [1k] |
|
Beyond Ahamkara, beyond the form. What will we find beyond the form? |
Vượt ra ngoài hình tướng. Chúng ta sẽ tìm thấy gì ngoài hình tướng? |
|
{What will be found? |
{Chúng ta sẽ tìm thấy gì? |
|
So, learning the love of the energy of love and relinquishing the love of being loved which reinforces the Ahamkara, the sense of being the separated self at the center. |
Vì vậy, học lòng yêu thương năng lượng yêu thương và từ bỏ sự yêu mến được yêu, điều vốn củng cố Ahamkara, ý thức vầ cái tôi tách biệt ở trung tâm. |
|
This is all part of a step towards a deeper search, a search for the intangible reality of Selfhood, and it is this self which must draw others unto Its Self. [1l] |
Đây là bước đầu tiên hướng tới một tìm kiếm sâu hơn, cuộc tìm kiếm thực tại vô hình của Bản Ngã, và chính Bản Ngã này phải thu hút người khác đến với chính Bản Ngã của Nó. [1l] |
|
So, there are probably different phases here. One can seek to attract others to one’s personal self by emphasizing any of the vehicles, one’s vitality, one’s emotional responsiveness, one’s mental brilliance… all that, and it’s all part of attracting others to oneself for the outer qualities which one has. But to blend with another soul, blend with my brother soul and see him as he is… Only upon the plane of soul can this be done. Elsewhere, the blending feeds the fuel of the outer life, for the outer life, something of that nature. It’s in the treatise on white magic, we are allowed to enter our brothers heart, and, well how does it go |
Có lẽ có nhiều giai đoạn khác nhau ở đây. Người ta có thể tìm cách thu hút người khác đến với cái tôi cá nhân của mình bằng cách nhấn mạnh vào bất kỳ phương tiện nào, sức sống của một người, khả năng đáp ứng cảm xúc của một người, sự thông minh về trí tuệ của một người… tất cả những điều đó đều là một phần của việc thu hút người khác đến với chính mình vì những phẩm chất bên ngoài mà một người có. Nhưng hòa nhập với một linh hồn khác, hòa nhập với linh hồn huynh đệ của mình và nhìn thấy huynh đệ ấy như huynh đệ ấy thật sự là. Điều này chỉ có thể thực hiện được trên cõi giới linh hồn. Ở những nơi khác, sự hòa trộn cung cấp nhiên liệu cho cuộc sống hình tướng, cho cuộc sống bên ngoài, một thứ gì đó thuộc về bản chất đó. Trong Luận về Chánh Thuật, chúng ta được phép đi vào trái tim anh em mình, và mọi chuyện diễn ra sao? |
|
this is in A Treatise on White Magic (p.320) and it’s so important: |
Đây là trích dẫn trong Luận về Chánh Thuật (trang 320) và nó rất quan trọng: |
|
Rule I. Enter thy brother’s heart and see his woe. Then speak. Let the words spoken convey to him the potent force he needs to loose his chains. Yet loose them not thyself. Thine is the work to speak with understanding. The force received by him will aid him in his work. |
Qui Tắc 1. Hãy nhập vào tâm huynh đệ ngươi và xem xét nỗi khổ của y. Sau đó hãy nói. Hãy để cho những lời nói truyền cho y mãnh lực mà y đang cần để tháo lỏng các xiềng xích của y. Nhưng không phải ngươi tháo lỏng các xiềng xích đó. Công việc của ngươi là nói với sự hiểu biết. Sức mạnh mà y nhận được sẽ trợ giúp y trong công việc của y. |
|
Rule II. Enter thy brother’s mind and read his thoughts, but only when thy thoughts are pure. Then think. Let the thoughts thus created enter thy brother’s mind and blend with his. Yet keep detached thyself, for none have the right to sway a brother’s mind. The only right there is, will make him say: “He loves. He standeth by |
Qui Tắc 2. Hãy nhập vào trí của huynh đệ ngươi và đọc các tư tưởng của y, nhưng chỉ khi nào tư tưởng của ngươi được thanh khiết. Kế đó hãy suy nghĩ. Hãy để cho những tư tưởng được tạo ra như thế nhập vào trí của huynh đệ ngươi và pha trộn với tư tưởng của y. Tuy nhiên, hãy tự tách riêng ngươi ra, vì không một ai có quyền chế ngự thể trí của một huynh đệ. Có một quyền duy nhất, là sẽ làm cho y nói: “Anh ấy yêu thương. Anh ấy sẵn sàng hành động. Anh ấy hiểu biết. Anh ấy suy nghĩ như tôi và tôi mạnh mẽ để làm điều phải”. Hãy học cách nói như thế. Hãy học cách nghĩ như thế. |
|
Rule III. Blend with thy brother’s soul and know him as he is. Only upon the plane of soul can this be done. Elsewhere the blending feeds the fuel of his lower life. Then focus on the plan. Thus will he see the part that he and you and all men play. Thus will he enter into life and know the work accomplished. |
Qui Tắc 3. Hãy hòa trộn với linh hồn của huynh đệ ngươi và hiểu biết được y như y là. Chỉ trên cảnh giới của linh hồn mới có thể làm được điều này. Ở nơi khác, sự pha trộn này cung cấp nhiên liệu cho sự sống thấp kém của y. Sau đó hãy tập trung vào kế hoạch. Như thế y sẽ nhìn thấy vai trò mà y, và ngươi, và tất cả mọi người, đang tham gia. Nhờ đó y sẽ đi vào cuộc sống, và biết công việc đã được thành tựu. |
|
So, you’re allowed to enter that brother’s heart and enter that brother’s mind, enter, yes, but not blend with, otherwise we will feed the fuel of the lower life, and then it will obscure the real being. |
Vì vậy, bạn được phép đi vào trái tim, đi vào tâm trí của huynh đệ đó, đi vào nhưng không được hòa nhập với, bằng không chúng ta sẽ tiếp thêm nhiên liệu cho đời sống hạ đẳng, nó sẽ che khuất bản thể thật. |
|
So, our deeper search is for the Core of Love, for the real loving soul/consciousness within each form. That is what we somehow must find, and when we learn to use magnetism or the energy of love not to attract to our outer self, but to attract towards our inner self which is the same as the inner self of others, then we have achieved. |
Vì vậy, cuộc tìm kiếm sâu hơn của chúng ta là Cốt lõi của Tình Thương, là linh hồn/tâm thức yêu thương thực sự trong mỗi hình tướng. Đó là điều mà bằng cách nào đó chúng ta phải tìm ra, và khi chúng ta học cách sử dụng từ tính hoặc năng lượng của tình thương không phải để thu hút về bản ngã bên ngoài, mà để thu hút về bản ngã bên trong của chúng ta, vốn cũng là bản ngã bên trong của người khác, thì chúng ta đã đạt được điều mình tìm kiếm. |
|
So, we seek to attract to the inner self which is the same self as that of our brother-sister, the same self because if we attract to our inner self, at the same time we bring the one attracted closer to their own real selfhood, because our selfhood is the same as their selfhood. |
Vì vậy, khi chúng ta hướng đến việc thu hút vào bản ngã bên trong, cũng chính là bản chất của huynh đệ của chúng ta, bởi vì bản chất của họ cũng chính là bản chất của chúng ta. Khi thu hút vào bản ngã bên trong chúng ta, chúng ta đồng thời cũng đưa người bị thu hút đến gần hơn với bản chất thực sự của họ, bởi lẽ bản ngã của chúng ta và bản ngã của họ là một. |
|
So, this is a requirement from the soul perspective, the requirement |
Vì vậy, đây là một yêu cầu nhìn từ góc độ linh hồn. |
|
The love of love must dominate, not love of being loved. The power to draw unto oneself must dominate, but into the worlds of form that power must some day fail to penetrate. This is the first step towards a deeper search. |
Sự yêu mến bác ái phải thống trị, chứ không phải yêu mến được yêu. Năng lực thu hút vào chính mình phải chiếm ưu thế, nhưng năng lực đó một ngày nào đó phải không thể xâm nhập vào trong các thế giới hình tướng. Đây là bước đầu tiên hướng tới một sự tìm kiếm sâu hơn. |
|
The word goes forth from soul to form: ‘Release thyself from all that stands around, for it has naught for thee, so look to me. |
Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: “Hãy giải phóng mình khỏi tất cả những gì đang vây quanh, vì chúng chẳng có gì dành cho ngươi, vậy hãy hướng về Ta.” |
|
Then The word [2a] |
Linh từ [2a] |
|
And should it be capitalized because it is the Word of the soul, or the word is an aspect of the WORD |
Và từ này nên viết hoa vì đó là Lời của linh hồn |
|
The Word goes forth |
Linh Từ xuất phát từ linh hồn đến hình tướng: |
|
As it always does because when the word goes forward, integration will take place |
Bởi vì như mọi khi, khi Linh phát ra, sự tích hợp sẽ diễn ra |
|
{when the Word goes forth then the integration process with the soul is proceeding |
{khi Linh từ phát ra thì quá trình tích hợp với linh hồn đang diễn ra |
|
And this is interesting. The first ray type has to learn attachment, but in a way, the great pairs of opposites, or at least the major opposing energies of repulsion and attraction are epitomized in the 1st and 2nd ray, so the method is different. The method here is release. We’re not going to tell the first ray type to release himself because he already stands in a sort of splendid isolation, impervious to the feelings of those upon whom he has trampled, so he needs to engage in an emotional and sentient manner with his environment. But here |
Và điều này thật thú vị. Người cung một phải học cách gắn bó, và theo một cách nào đó, các cặp đối lập lớn, hoặc ít nhất là các năng lượng đối lập chính của lực đẩy và lực hút, được tóm tắt trong cung 1 và cung 2, vì vậy phương pháp sẽ khác ở đây. Phương phápvới cung hai ở đây là giải thoát, tách rời. Chúng ta không bảo người cung một hãy giải phóng bản thân khỏi môi trường vì y đã ở trong một trạng thái cô lập tuyệt vời, không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc của những người mà anh ta đã chà đạp, mà y cần phải thể hiện một cách cảm xúc và cảm tính với môi trường của mình. |
|
release thyself from all that stands around [2b] |
Hãy giải thoát ngươi khỏi tất cả những gì đứng xung quanh, [2b] |
|
It’s so difficult. I’m remembering the Tibetan speaking to one of his disciples Roberto Assagioli, FCD—freedom from ties, his first letter, Chelaship, and then Detachment. So, two of them being very similar, freedom from ties and detachment. One of his tasks was to discriminate between the meaning of Freedom from Ties and Detachment. |
Điều này rất khó khăn. Tôi nhớ Chân sư DK nói với một trong những đệ tử của Ngài là Roberto Assagioli, FCD – ký tự đầu tiên của ông là Freedom from tie, tự do khỏi những ràng buộc, kế đến là Chelaship, và sau đó là Detachment. Vì vậy, hai từ này rất giống nhau, Tách Rời Khỏi Những Ràng Buộc và Tách biệt hay Buông xả. Một trong những nhiệm vụ của ông là phân biệt ý nghĩa giữa chúng, của Tự do khỏi ràng buộc và Tách rời. |
|
Release thyself |
Hãy giải thoát ngươi |
|
From all your attachments, the Buddha would say the same |
khỏi tất cả sự gắn bó của ngươi, và Đức Phật cũng nói như vậy. |
|
from all that stands around |
khỏi tất cả những gì đứng xung quanh. |
|
So, the whole idea of the circum-stance that is that which stands around, circum-stance, and essentially He had a very strong second ray soul, maybe a second ray Monad, I cannot say, but certainly a second ray astral body in which both his soul and personality were focused, which is an amazing thing, and his very first requirement was Freedom from Ties. He was so tied to everyone around him. He was a psychologist and had many patients. He was trying to help them, and they he was attached to them, and they were also attached to him. He needed that first ray power of release from those magnetism which held him in the world of form and allowed other people to hold him there as well. |
Những gì đứng xung quanh là hoàn cảnh, môi trường. Từ hoàn cảnh, môi trường (circumstance) có thể tách thành Circum-stance, những gì đứng xung quanh. Về cơ bản, Assagioli là một linh hồn cung hai mạnh mẽ, có thể là một Chơn thần cung hai, tôi không chắc điều đó, nhưng chắc chắnông có thể cảm dục cung hai, qua đó cả linh hồn và phàm ngã của ông đều được tập trung, và đó là một điều đáng ngạc nhiên. Yêu cầu đầu tiên của ông là Tự do khỏi ràng buộc. Ông rất gắn bó với mọi người xung quanh. Ông là một nhà tâm lý học và có nhiều bệnh nhân. Ông cố gắng giúp đỡ họ, và ông đã gắn bó với họ và họ cũng gắn bó với ông. Chân sư DK nói Ông cần sức mạnh của cung một để giải phóng khỏi lực từ tính vốn đã giữ Ông trong thế giới hình tướng và cũng cho phép những người khác cũng giữ Ông ở đó. Vì vậy, |
|
So, ‘Release thyself from |
Hãy giải thoát ngươi |
|
All circumstance |
Khỏi hoàn cảnh xung quanh |
|
all that stands around, for it has naught for thee, [2c] |
khỏi tất cả những gì đứng xung quanh, vì nó không có gì cho ngươi, |
|
And we might say, anymore… Maybe it used to, but now the time of freedom has arrived, a time for disidentification with all that stands around. So, |
Và chúng ta có thể nói, nó không còn hữu ích nữa. Có lẽ, nó đã từng hữu ích như vậy, nhưng bây giờ thời điểm tự do đã đến, thời điểm để không còn đồng nhất với tất cả những gì xung quanh. |
|
look to me |
vì vậy hãy hướng vào ta. [2c] |
|
who’s talking? Let’s say, the soul is talking, and the soul is the more real Self on the higher mental plane. Actually, the real Self is more than that. The real Self is the point of Pure Being within any vehicle and on any plane. But there is the self in various guises, a lower guise within the personality, a higher guise within the soul, still a guise within the monadic vehicle, not the true and absolute self by any means. And so, through monadic retraction, these guises will become more and more attenuated until at the destruction of the universe, the true self will stand forth as the One and only without any medium or vehicle of expression. |
Đây là linh hồn đang nói, và linh hồn là Bản ngã thật hơn trên cõi thượng trí. Trên thực tế, Bản thể Thực sự còn hơn thế nữa, đó là điểm của Bản thể thuần túy (Pure Being) tồn tại trong bất kỳ phương tiện và trên bất kỹ cõi nào. Nhưng có bản thể dưới nhiều lớp vỏ (guise) khác nhau, một lớp vỏ thấp hơn trong phàm ngã, một lớp vỏ cao hơn trong linh hồn, và vẫn là một lớp vỏ trong thể Chân thần, vốn không phải là bản thể thật sự và tuyệt đối. Và vì vậy, thông qua sự thu rút của chân thần, những lớp vỏ này sẽ dần dần mỏng đi, cho đến khi vũ trụ bị hủy diệt, bản thể thực sự sẽ hiện ra như DUY NHẤT mà không cần bất kỳ phương tiện hay phương thức biểu đạt nào. |
|
So, look to me [2d] |
Hãy hướng vào Ta |
|
The soul is speaking, look to that inner part of yourself which resides upon the higher mental plane, and through which the Angel of Presence and the Solar Angel, really one thing, are speaking. |
Linh hồn đang nói, Hãy nhìn vào phần bên trong của chính bạn vốn an trụ trên cõi thượng trí, và qua đó Thiên thần Hiện diện, Thái dương Thiên Thần—thực sự chỉ là một—đang nói ra. |
|
I am the One |
Ta là Đấng |
|
And there’s a capitalized One, because it is spiritual/divine. |
Từ Đấng được viết hoa, bởi vì nó mang tính tinh thần/thiêng liêng. |
|
{We might say capitalized because spiritual/divine |
|
|
I am the One who builds |
Ta là Đấng xây dựng [2e] |
|
The great form Builder, builds your vehicles, has made your personality possible. I have built your personality. I, the soul, have built the personality through which you, the Monad-in-attenuation, are now expressing because it’s really one Monad speaking to another. I mean whenever we have any kind of conversation, it’s Monad to Monad. Really there’s only one person home, it’s the monad, although not recognize as such because of the vehicles surrounding it. |
Đấng xây dựng hình tướng tuyệt vời, xây dựng các phương tiện của bạn, biến phàm ngã của bạn thành hiện thực. “Ta đã xây dựng nên phàm ngã của ngươi. Ta, Linh hồn, đã xây dựng nên phàm ngã mà qua đó ngươi, Chân thần-trong-suy giảm đang biểu hiện”, bởi vì đó thực sự là một chân thần nói chuyện với một chân thần khác. Ý tôi là bất cứ khi nào chúng ta có bất kỳ cuộc trò chuyện nào, đó là cuộc trò chuyện giữa chân thần với chân thần. Thực sự chỉ có MỘT ở gốc rễ, đó là chân thần, mặc dù điều đó không được nhận ra vì những vận cụ bao quanh nó. |
|
I am the one who builds, sustains [2e] |
Ta là Đấng xây dựng, duy trì |
|
You, keeping you an incarnation through my meditation and through the divine breath. So, |
Duy trì ngươi trong kiếp lâm phàm bằng sự tham thiền của ta và thông qua Hơi Thở Thiêng Liêng. |
|
{I the soul keep you in in incarnation through the sounding of the Word, and when I stop sounding, you disappear, or the you who you think you are disappears, and you become the you you have always been. |
{Ta, Linh hồn, giữ ngươi nhập thế thông qua việc xướng lên Linh Từ, và khi ta ngừng phát ra âm thanh, ngươi biến mất, hoặc cái mà ngươi nghĩ rằng là ngươi biến mất, và ngươi trở thành con người như ngươi luôn là. |
|
But, anyway, I sustain you in the world, and I build and rebuild your personality processes so that the vehicles remain. |
Nhưng dù sao đi nữa, ta duy trì ngươi trên thế gian, đồng thời ta xây dựng và xây dựng lại các tiến trình phàm ngã của bạn để các vận cụ vẫn tồn tại. |
|
And I am the one who draws thee on |
thu hút ngươi tiến lên và [2f] |
|
Towards the greater light. |
Hướng tới ánh sáng vĩ đại hơn |
|
and up [2f] |
Hướng thượng |
|
Towards me. When we are drawn onward, we are really drawn inward towards our own Central Reality. |
Về phía Ta. Khi chúng ta bị thu hút về phía trước, chúng ta thực sự bị thu hút vào Thực tại Trung tâm của chính mình. |
|
So, it’s the soul that is asserting, the Solar Angel, the Angel of the Presence asserting its magnetism upon the person, then sending forth these streams of higher energy. It talks about it in a Treatise on White Magic. These streams of idealism, of higher impulses, all sent rhythmically from that Higher Being who has in part fused itself with us, with our egoic nature on the higher mental plane. These things are sent into our personality consciousness, and they are magnetic. So, there’s a constant drawing of the second aspect upon the third, |
Vì vậy, chính linh hồn đang khẳng định, Thái dương Thiên Thần, Thiên thần Hiện diện đang khẳng định sức hút từ tính của Ngài đối với con người, khi đó Ngài phóng ra những luồng năng lượng cao siêu này. Điều đó được nhắc đến trong Luận về Chánh Thuật. Những luồng thần lực của chủ nghĩa lý tưởng, những xung lực cao siêu, tất cả đều được gửi đi một cách tiết điệu từ Đấng Cao cả đó, Đấng đã phần nào hòa nhập với chúng ta, với bản chất Chân ngã của chúng ta trên cõi thượng trí. Những xung lực này được gửi vào tâm thức phàm ngã của chúng ta và chúng có sức hút từ tính. Vì vậy, có một sự thu hút liên tục của Phương diện thứ hai lên Phương diện thứ ba, |
|
{The second aspect of divinity draws upon the third, the soul draws upon the personality… onward, inward, upwards… towards a higher vibratory state. |
{Phương diện thứ hai của thiên tính dựa vào Phương diện thứ ba, linh hồn dựa vào phàm ngã… hướng tới, hướng nội, hướng lên… hướng tới trạng thái rung động cao hơn. |
|
So, look unto me with eyes of love, not to the outer forms [2g] |
Hãy ngước nhìn ta bằng đôi mắt yêu thương, [2g] |
|
Which really are less lovable. Look unto me because I am all things, I am found in everything. When you look to me, you are looking into the essence of all others as well. Look unto me with eyes of love so love the soul which is love no matter what the ray may be. The soul represents the second aspect of Divinity. The soul is Love, so |
Đừng nhìn hình dáng bên ngoài vốn thực sự ít đáng yêu hơn. Hãy nhìn ta bởi vì ta là tất cả mọi thứ, ta được tìm thấy trong mọi thứ. Khi bạn nhìn vào ta, bạn cũng đang nhìn vào bản chất của tất cả những người khác. Hãy ngước nhìn ta bằng đôi mắt yêu thương, vì vậy hãy yêu linh hồn vốn là tình thương cho dù cung linh hồn có thể là gì. Linh hồn đại diện cho phương diện thứ hai của Thiên tính. Linh hồn là Tình thương. |
|
Look to me with eyes of love and seek the path |
Hãy ngước nhìn ta với đôi mắt yêu thương, và hãy tìm kiếm con đường |
|
The way of thinking, the way of acting |
Đây là cách suy nghĩ, cách hành động |
|
which leads from the outer circle to the point [2h] |
dẫn từ từ ngoại vi tới Điểm [2h] |
|
This leads from identification with the periphery and with formal superficialities to identification with the real Being who is myself, really the real ‘You’. [2i] |
Điều này dẫn từ việc đồng hóa với những gì ở ngoại vi và với những hình tướng bên ngoài đến đồng hóa với Bản thể thực sự là chính ‘Tôi’, thực sự là Bạn. [2i] |
|
So, it’s almost as if the point is now at the center of the circle, a point within a circle and yet myself. |
Vì vậy, gần như bây giờ Điểm nằm ở tâm vòng tròn, “một điểm nằm trong vòng tròn và vẫn là chính tôi”. |
|
It is possible, we could say, as I have said, that many points are included within the circle or just one point within one’s own circle which is intersecting with other circles. [2j] |
Như tôi đã nói, rằng có nhiều điểm nằm trong vòng tròn, hoặc chỉ một điểm nằm trong vòng tròn của chính nó và giao nhau với các vòng tròn khác. [2j] |
|
There’s a couple of ways of looking at this, but it seems that one is becoming increasingly aware of all those within one circle of consciousness. It is true that one discovers oneself as a point within a circle, the circle of one’s energy system, the circle of one’s consciousness, but inevitably the contents of consciousness is larger than just this self-important sentient center and embraces others as even though the ability to identify with them is not yet achieved… [2k] |
Có một số cách để xem xét vấn đề này, nhưng có vẻ như con người ngày càng nhận thức được tất cả những người khác trong vòng tròn tâm thức. Đúng là con người khám phá chính mình như một điểm trong vòng tròn, vòng tròn của hệ thống năng lượng của con người đó, vòng tròn tâm thức của con người đó, nhưng chắc chắn nội dung của tâm thức lớn hơn trung tâm tri giác tự cho mình là quan trọng này, và còn bao gồm cả những trung tâm khác, mặc dù khả năng đồng nhất với chúng vẫn chưa đạt được…[2k] |
|
And seek the path which leads from peripheral things to the main point, we might say, so seek the path which leads from involvement or identification with peripheral things to the main point which is me, “Naught is but me. I am the main point”, I in the larger sense am the main point. Of course, all points are included within One Point, and that is the Great Point. [2l] |
Vì vậy hãy tìm kiếm con đường dẫn từ sự tham gia hoặc đồng nhất với những gì bên ngoài, với hình thức, đến điểm chính là TA. “Không có gì ngoài Ta. Ta là điểm chính”, ‘Ta’ theo nghĩa rộng hơn là điểm chính. Tất nhiên, tất cả các điểm đều được bao gồm trong Điểm Duy Nhất và đó là Điểm Vĩ Đại |
|
So, I won’t say that a point is infinitely divisible because it has no dimension really, but in some mysterious occult way, all points are contained within the MAIN POINT, everyone considers himself the main point, but by going more deeply into what that Point is, he discovers that it’s just an emanation or a fragment to the still Greater Point, and on and on and on, until we reach the one Main Point which is the Universal Logos, the very Point which manifests itself as a Universe. |
Tôi sẽ không nói rằng một điểm có thể phân chia vô hạn vì nó không có chiều kích. Nhưng thực ra, theo một cách huyền linh nào đó, tất cả các điểm đều được chứa đựng trong ĐIỂM CHÍNH, mọi người đều coi mình là điểm chính, nhưng khi đi sâu hơn vào điểm đó, họ phát hiện ra rằng đó chỉ là một xuất lộ hay một mảnh vỡ của Điểm Vĩ Đại hơn nữa, và cứ thế tiếp tục, cho đến khi chúng ta đạt đến một Điểm Chính duy nhất là Thượng đế Vũ Trụ, Điểm Chính biểu hiện như một vũ trụ. |
|
Look unto me with eyes of love |
Hãy nhìn ta bằng con mắt yêu thương |
|
Love the soul, love the Love within you, love the Energy of Love within you, and disengage from all peripheral matters, from all forms, and find the essence within those forms. So, |
Hãy yêu Linh Hồn, yêu Tình Thương bên trong bạn, yêu Năng Lượng Bác Ái bên trong bạn, và tách khỏi vật chất ngoại vi, khỏi mọi hình tướng, và tìm thấy bản chất bên trong những hình tướng đó. |
|
{find the conscious essence within the many forms with which you have identified yourself |
{tìm ra bản chất hữu thức bên trong những hình tướng mà bạn đã đồng hóa với nó |
|
come to the center. |
hãy đến trung tâm. |
|
Pretty soon we’re going to the need for Centralization, just as the Old Commentary told that the first ray who proceeded upon the line returns upon that line, comes back and stands and assumes the gesture of embracing which is an inclusive gesture. But now, he’s being told here, the second ray type is being told to centralize and to disengage from the periphery. I’ll call it |
Chúng ta sẽ sớm thấy cần sự Tập Trung Hóa ở cung hai, giống như Cổ luận đã nói rằng người cung một đi theo đường thẳng sẽ quay lại trên đường đó—quay lại, đứng, và vươn cánh tay ra ôm hôn, vốn là một cử chỉ bao gồm. Nhưng bây giờ ở đây, người cung hai được yêu cầu tập trung và tách ra khỏi ngoại vi. |
|
{disengagement from the periphery |
{thoát khỏi vùng ngoại vi |
|
And almost everything we involve ourselves with is peripheral unless we have the spiritual discernment to see the conscious life within the appearance. We have to move from the obvious to the subtle, to the inobvious. |
Và hầu hết mọi thứ chúng ta liên quan đến ngoại vi của anh ta trừ khi chúng ta có sự sáng suốt về mặt tâm linh để nhìn thấy đời sống ý thức bên trong vẻ bề ngoài. Chúng ta phải đi từ cái hiển nhiên đến cái tinh tế, đến cái không rõ ràng. Vì vậy, |
|
I, at the point, sustain. I, at the point, attract. |
Ta, ở tại điểm, duy trì. Ta, ở tại điểm, thu hút. |
|
I, at the point [3a] |
Ta, ở tại điểm, duy trì. [3a] |
|
So, I, the living soul, sustaining, building. I, the point, sustain. I, the point, attract. But here I am the One who builds, sustains, and draws thee on and up. So, we have to find the higher self within the obvious self, the self which is ‘close at hand’. We move from identification with the self which is ‘close at hand’ to the self which is apparently more remote but with which we are essentially more intimate, and in fact identical. |
Vì vậy: “Ta, linh hồn đang sống, duy trì, kiến tạo. Ta, điểm ấy, duy trì. Ta, điểm ấy, thu hút.” Nhưng ở đây: “Ta là Đấng kiến tạo, duy trì, và kéo em tiến lên và đi lên.” Do đó, chúng ta phải tìm ra bản ngã cao hơn bên trong cái bản ngã hiển nhiên, cái bản ngã vốn “ở rất gần”. Chúng ta chuyển dịch từ sự đồng nhất với cái bản ngã “ở rất gần” ấy sang cái bản ngã dường như xa hơn, nhưng với cái mà chúng ta về bản chất lại thân mật hơn rất nhiều, và trên thực tế là đồng nhất với nó. |
|
So, here’s what I, the higher Self, do in relation to my personality. I am the sustainer of the one with whom I have identified myself. I sustain that false self, that personality. |
Vì vậy, đây là những gì mà Tôi, chân ngã, làm liên quan đến phàm ngã của Tôi. Tôi là người duy trì cái mà tôi đã đồng hóa với. Tôi duy trì cái tôi giả tạo đó—là phàm ngã. |
|
I |
Ta, |
|
The soul |
Linh hồn |
|
at the point, sustain. I, at the point, attract [3b] |
Ta, ở tại điểm, duy trì. Ta, ở tại điểm, thu hút. [3b] |
|
Towards the higher planes and towards higher realizations and towards a higher state of identity. |
Hướng tới những cõi giới cao hơn, những chứng nghiệm cao hơn, và tới trạng thái đồng hóa cao hơn. |
|
I, at the point also have a certain dominant quality of directing, choosing, and dominating eventually. So, I direct the personality along its proper path, this proper path which I have conceived for it before incarnation. I ultimately am the dominating force. I’m sounding the dominant and I’m overcoming the third. I sound the dominant in music and overcome the third whether minor or major. When the major third is sounding, I don’t have so much work to overcome the third because the major third is blending nicely. It’s quite a buddhic note blending nicely with the soul note. [3c] |
Ta, ở tại điểm, điểu khiển, lựa chọn và thống trị. [3c] Tôi hay linh hồn cuối cùng cũng có phẩm chất nổi bật là chỉ đạo, lựa chọn và thống trị. Vì vậy, linh hồn hướng phàm ngã đi theo con đường đúng đắn của nó, con đường đúng đắn mà linh hồn đã hình thành cho nó trước khi lâm phàm. Tối hậu, tôi là mãnh lực thống trị. Tôi xướng lên âm “Át âm” và khuất phục note “trung hòa” thứ ba. Tôi xướng lên nốt “át âm” trong âm nhạc và vượt qua nốt thứ ba dù là thứ hay trưởng. Khi nốt thứ ba trưởng vang lên, Tôi không có nhiều việc phải làm để vượt qua nốt trung gian thứ ba vì nốt thứ ba trưởng hòa điệu rất tốt. Đó là một nốt “bồ đề” hòa quyện độc đáo với nốt linh hồn. |
|
And I choose a certain path, I choose the rays through which you the personality will manifest. I am the higher director, the one who chooses your equipment, and the one ultimately who is the dominant factor in your life once you reorient yourself. This is what I really am. |
Và tôi chọn con đường nhất định, những cung mà qua đó phàm ngã của tôi sẽ biểu hiện. Tôi là người chỉ đạo cấp cao, là người lựa chọn vận cụ cho bạn, phàm ngã, và là nhân tố tối hậu chi phối cuộc sống của bạn một khi bạn định hướng lại bản thân. |
|
So, I have certain first ray qualities. When I point the direction, when I use a Saturn to choose the nature of the instrument to which I, the higher self, manifest, and when I ultimately dominate that instrument, not allowing it to have its way. I become the sole luminary in the microcosmic sky. I the soul do this and the lesser luminary, the moon, which is the personality must shine with the light reflected from me. |
Vì vậy, tôi có một số phẩm chất của cung một. Khi tôi chỉ đạo, khi tôi sử dụng Sao Thổ để chọn bản chất của công cụ mà tôi, Chân ngã thể hiện, và khi cuối cùng tôi thống trị công cụ đó, không cho phép nó đi theo hướng của nó. Tôi trở thành ngôi sao sáng duy nhất trên bầu trời tiểu vũ trụ. Tôi, linh hồn, làm điều này, và vầng sáng nhỏ hơn, Mặt Trăng, tức phàm ngã, phải chiếu sáng bằng ánh sáng phản chiếu từ tôi. |
|
I the central point. |
|
|
So, I am the point at the center [3d] |
Ta, ở tại điểm ở trung tâm [3d] |
|
Now and It should be, and the second ray type has to realize this. The first ray type has all too much centrality and has to decentralize; the second ray type has to centralize. So, the first ray type has to decentralize; the second ray type has to centralize, and that will be used as the word of power. |
Giống như người cung một có quá nhiều sự tập trung và phải “Phi tập trung”, người cung hai phải nhận ra điều này: người cung hai phải tập trung vì có quá nhiều sự phân tán, và “Tập trung hóa” sẽ là quyền lực từ của cung hai. |
|
I know this is a still greater destiny for what I really am. I the soul. I am my higher nature. |
Tôi biết rằng đây là một định mệnh còn vĩ đại hơn nữa đối với con người thật sự của tôi — tôi, linh hồn. Tôi chính là bản tính cao hơn của mình. |
|
I at the point |
Tôi ở tại điểm |
|
In my central position |
Ở vị trí trung tâm của tôi, |
|
actually love all [3e] |
Yêu thương tất cả |
|
Love all in their essence and not only in their form. I don’t necessarily reject their form, but I love the essence which is within the form. So, I’m I am very inclusive. I love all. |
Yêu họ trong bản chất chứ không chỉ ở hình thức của họ. Tôi không nhất thiết phải từ chối hình thức của họ, nhưng tôi yêu bản chất bên trong hình tướng đó. Tôi là người rất bao gồm. |
|
I have magnetism and attraction for the souls of all. I attract the souls of all because I do not venture into the worlds of form. I can love within the worlds of form, but I do not love the form as if it were a separate thing. When I see the form, I see the soul in expression. So, there is no true love of the form. I love the form as an example and an extension of the soul. |
Tôi có từ tính và sức hấp dẫn đối với linh hồn của tất cả mọi người. Tôi thu hút linh hồn của tất cả mọi người bởi vì tôi không dấn thân vào thế giới hình tướng. Tôi có thể yêu trong thế giới hình tướng, nhưng tôi không yêu hình tướng như thể nó là một vật riêng biệt. Khi tôi nhìn thấy hình tướng, tôi nhìn thấy linh hồn đang biểu hiện. Vì vậy, không có tình yêu đích thực với hình tướng. Tôi yêu hình tướng như một biểu hiện và một phần mở rộng của linh hồn. |
|
I, the point, love all magnetically, drawing them to the center, and I would have to say here, towards their own center as and towards a center which should inspire them such as the Ashram or the Hierarchy whichever. |
Tôi, điểm chính, yêu tất cả mọi thứ một cách từ tính, thu hút họ vào trung tâm, [3e] Và ở đây tôi muốn nói là hướng tới trung tâm của chính họ, hướng tới một trung tâm sẽ truyền cảm hứng cho họ chẳng hạn như Ashram hoặc Thánh đoàn. |
|
So, I draw them towards myself as a center, soul to soul, let’s just say, towards myself as a soul, soul to soul, towards great centers around which they should gather—the Ashram, Hierarchy, eventually Shambhala, and ultimately, it all depends what we mean by the great Points, but ultimately to the very heart of the universe, ultimately to that Center which is the very heart of the universe. |
Tôi thu hút họ về tôi như là một trung tâm, linh hồn với linh hồn, hướng về tôi như một linh hồn, và hướng tới những trung tâm lớn mà họ nên tập hợp xung quanh— Ashram, Thánh đoàn, cuối cùng là Shambhala, tất cả đều phụ thuộc vào ý nghĩa của những điểm tuyệt vời mà chúng ta muốn nói, nhưng cuối cùng là đến chính Trái Tim của Vũ Trụ. |
|
We won’t get ahead of ourselves here, but clearly there are higher correspondences to this Technique of Integration which are operative in the dynamics of still Greater Beings in a sense the Solar Logos could be doing all these things as and other Logos beyond him and so forth. |
Chúng ta sẽ không đi quá xa ở đây, nhưng rõ ràng có những sự tương ứng cao hơn với Kỹ thuật Tích hợp hoạt động trong động lực của những Sinh Mệnh Vĩ đại hơn, theo nghĩa Thái dương Thượng Đế cũng có thể làm tất cả những điều này, và những Đấng Thượng đế vượt ngoài Ngài cũng thế. |
|
I at the point really love all |
Ta, ở tại điểm, thực sự yêu thương tất cả |
|
This is the great quality of the Christ’s unconditional love of the soul and essence, not necessarily of the form |
Đây là phẩm chất tuyệt vời của tình thương vô điều kiện của Đức Christ đối với linh hồn và bản thể, không nhất thiết đối với hình tướng. |
|
Drawing them to the center |
thu hút họ đến trung tâm |
|
Towards, I would say, I didn’t really include it, towards their own center, towards myself as a soul, soul to soul—this emphasizing that we are both centers in unitive relation with each other, and ultimately the same center; and towards great centers around which they must cluster into their groups, into their Ashrams, into the Hierarchy, ultimately into Shambhala |
đến trung tâm của chính họ, đây là điểm mà tôi chưa nhấn mạnh. Đến bản thân tôi như một linh hồn—linh hồn đối với linh hồn, và điều này nhấn mạnh rằng cả hai chúng ta đều là trung tâm trong mối quan hệ thống nhất với nhau, và cuối cùng là một trung tâm; và hướng tới những trung tâm vĩ đại mà họ phải tập hợp xung quanh vào các nhóm của họ, các Ashram, vào Thánh đoàn, cuối cùng là vào Shambhala. |
|
and moving forward with the travelling points of light |
và di chuyển về phía trước với các điểm sáng du hành hướng tới Trung Tâm vĩ đại [3f] |
|
Now, a first ray type of motion occurs, |
Bây giờ, một dạng chuyển động của cung một xảy ra, |
|
{a first ray type of motion—progress onwards, |
{một loại chuyển động của cung một—tiến về phía trước, |
|
Moving forwards with the travelling points of light because |
Di chuyển về phía trước với các điểm ánh sáng đang di chuyển vì |
|
{they are like stars which have their, what’s called, “proper motion”, |
{chúng giống như những ngôi sao, có cái gọi là “chuyển động riêng”, |
|
And that’s something we always seek to measure with the star, and what direction is it moving, and how fast is it moving? It seems to move laterally because of our own rotations and, revolutions but really each star has its own directed direction. Each star is a point of light moving towards amalgamation with another point of light, and on and on and on, until amalgamation is achieved with the One and only Point. |
Và đó là cái mà chúng ta luôn tìm cách đo lường đối với ngôi sao—nó đang chuyển động theo hướng nào, và nó chuyển động nhanh như thế nào? Nó dường như di chuyển do các chuyển động quay của chúng ta, nhưng thực ra mỗi ngôi sao đều có hướng định hướng riêng. Mỗi ngôi sao là một điểm sáng di chuyển theo hướng hợp nhất với một điểm sáng khác, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi đạt được sự hợp nhất với Điểm Duy Nhất. |
|
moving forward with the travelling points of light [3f] |
di chuyển về phía trước với các điểm sáng du hành |
|
They are travelling points of light, are making spiritual progress |
Họ là những điểm sáng du hành, đang tiến bộ về mặt tinh thần. |
|
{the travelling points of light are making spiritual progress |
{những điểm sáng du hành, đang tiến bộ về mặt tinh thần. |
|
Moving forward with these progressing points of light who are Souls like myself |
Tiến về phía trước với những điểm sáng di chuyển này, những Linh hồn giống như tôi . |
|
{they are Souls like myself |
{họ là những linh hồn giống như tôi |
|
They’re really being consciousness or whatever I called it a little earlier, |
Thật ra, đó chính là tâm thức, hay bất cứ cách gọi nào mà tôi đã dùng cho nó ở một chút trước đó. |
|
towards that great center where the one point stands [3g] |
hướng tới Trung Tâm vĩ đại, nơi mà Điểm Duy Nhất đứng [3g] |
|
this is relative as I said. It’s the very heart of the universe ultimately, but this could be for our planet, Shambhala itself where the One Point, the Planetary Logos stands. So, leading towards the One Initiator. “Come with me. I draw you to myself, but I’m moving too, and you want to move in the right direction. So, come with me and we will move together as a unit”. |
Điều này là tương đối, như tôi đã nói. Cuối cùng thì đó chính là Trung Tâm của vũ trụ, nhưng với hành tinh của chúng ta, điều này có thể là Shambhala, nơi có Điểm Duy Nhất, Hành tinh Thượng Đế. Vì vậy, hướng tới Đấng Điểm đạo độc nhất. “Hãy đến với tôi. Tôi thu hút bạn về phía tôi, nhưng tôi cũng đang di chuyển và bạn muốn đi đúng hướng. Vì vậy, hãy đi với tôi và chúng ta sẽ cùng nhau di chuyển như một đơn vị”. |
|
Ashrams are not just, I mean, if we’re a member of an ashram, that ashram is on the move. We’re not just static. It is a moving unit, moving into greater light and greater spiritual power, and the master is the point at the center, and he has drawn us to the center and towards his center, and we are now traveling points of light along with him because he is moving towards the still greater light, and on it goes, every point of light in the cosmos. It might be a galaxy, it might be a family of galaxies as a point of light. They’re all on the move towards still greater points of light into which they will be absorbed until finally they are absorbed into the One and Only Point, the One and Only Cosmic Point. |
Ashram không tĩnh tại. Nếu chúng ta là thành viên của một Ashram, thì Ashram đó cũng đang di chuyển. Chúng ta không tĩnh. Đó là một đơn vị chuyển động, di chuyển vào ánh sáng lớn hơn và sức mạnh tinh thần lớn hơn, và Chân sư là điểm ở trung tâm, Ngài đã thu hút chúng ta đến trung tâm và hướng về trung tâm của Ngài, và bây giờ chúng ta đang di chuyển những điểm sáng cùng với Ngài bởi vì Ngài đang di chuyển về phía ánh sáng còn lớn hơn nữa, và cứ thế tiếp tục với mọi điểm sáng trong vũ trụ. Nó có thể là một thiên hà, nó có thể là một nhóm thiên hà như là một điểm sáng. Tất cả đều đang tiến tới những điểm ánh sáng lớn hơn nữa mà chúng sẽ bị hấp thụ vào đó cho đến khi cuối cùng chúng được hấp thụ vào Điểm Duy nhất, Điểm Vũ trụ Duy nhất. |
|
So, they’re moving forward with the travelling points of light towards that great center with a one point at the center called the planetary center. It’s called Shambhala, Sanat Kumara, the planetary logos. |
Vì vậy, chúng đang di chuyển về phía trước với các điểm ánh sáng di chuyển về phía trung tâm vĩ đại đó với một điểm duy nhất ở trung tâm được gọi là trung tâm hành tinh. Nó được gọi là Shambhala, Sanat Kumara, Hành Tinh Thượng đế. |
|
And then comes a strange statement, and it is giving us a method to achieve integration, |
Và sau đó là một phát biểu lạ lùng, nó cho chúng ta một phương pháp để đạt được sự tích hợp, |
|
{A method for the achievement of integration is given—and it is the Questioning of MEANING… |
{Một phương pháp để đạt được sự tích hợp đã được đưa ra—đó là Đặt câu hỏi về Ý NGHĨA… |
|
what mean you by that “Word”? [3h] |
Linh Từ đó có ý nghĩa gì với ngươi? [3h] |
|
Was the Word of the soul which has come forth into the consciousness of the personality, and this gradually illumined personality is trying to fathom what is the nature of that all organizing Word which is the soul, and which come forth from the soul, maybe as a slightly lesser word, but behind the lesser word stands the Word which is the name of the soul. |
Phải chăng đó là Linh Từ của linh hồn đã xuất hiện trong tâm thức của phàm ngã, và phàm ngã dần được soi sáng này đang cố gắng tìm hiểu bản chất của mọi Từ tổ chức vốn là linh hồn và xuất phát từ linh hồn, có thể là một từ nhỏ hơn, nhưng đằng sau từ nhỏ hơn có một từ là danh tính (identity) của linh hồn. |
|
This Word, you could almost say, |
|
|
{This “Word” is the Name of the soul—and one’s penultimate identity |
{“Từ” này là Danh tính của linh hồn—và là danh tính áp chót của một người |
|
Because the monad is more one’s ultimate identity, but when you really get down to it, even if you think you found your ultimate identity, you will be absorbed as one of seven into another one, which is one of seven, will absorb into another one, until finally whatever ultimate identity is achieved at the dread point at the One and Only Point of Cosmos. |
Áp chót, bởi vì chân thần là Danh Tính tối hậu của một người, nhưng khi bạn thực sự đi sâu vào nó, ngay cả khi bạn nghĩ rằng bạn đã tìm thấy danh tính tối thượng của mình, bạn sẽ bị hấp thụ như ‘một trong bảy’ vào một cái khác, ‘một trong bảy’, và tuếp tục sẽ hấp thụ vào một cái khác, cho đến khi cuối cùng bạn đạt đến bất kỳ Danh tính cuối cùng nào tại Điểm duy nhất của vũ trụ. |
|
But anyway, this method of questioning meaning is the manner by which the deeper search of the second ray type proceeds. What does that mean? What’s that mean? I had a singing teacher once and he was a joker and a Leo fellow with a very strong fourth ray Leo and Scorpio, and he always would make fun of me because I was even then of a kind of a philosophical caste. I was trying to be a singer and I was interested in all the old German art song forms, and he was in Austria, and he was teaching me these things. But he would poke his head out of the door and say, “What does it mean? What’s the meaning of it?” 😊 |
Nhưng dù sao đi nữa, phương pháp truy vấn ý nghĩa này là cách mà cung hai thực hiện việc tìm kiếm sâu hơn. Điều đó nghĩa là gì? Điều đó nghĩa là gì? Tôi từng có một giáo viên dạy hát, và ông là một người thích pha trò và là một người với dấu hiệu Sư Tử, với cung bốn rất mạnh mẽ, Sư Tử và Hổ Cáp, và ông luôn chế nhạo tôi, vì lúc đó tôi còn thuộc tuýp người triết học. Tôi đang cố gắng trở thành một ca sĩ và tôi quan tâm đến tất cả các thể loại bài hát nghệ thuật cổ của Đức, và ông ở Áo, và ông đã dạy tôi những điều này. Nhưng ông sẽ thò đầu ra khỏi cửa và nói, “Điều đó có nghĩa là gì? Ý nghĩa của nó là gì?”😊 |
|
He was because he had understood my quest for meaning, and I had spoken to him about looking for the meaning of things, and so he joked about that. But that is the method of the quest, to search for meaning which means the right place according to Pure Reason of any entity within a series of entities, of any item, of any factor within a series of factors. What is the relationship of this factor to all of the factors? When you have that, you have its meaning because its proper place within the organized archetypal whole, this is meaning. |
Tôi đã nói với ông về việc tìm kiếm ý nghĩa của mọi việc, và vì vậy ông đã trêu đùa tôi về điều đó. Nhưng đó là phương pháp truy tìm, tìm kiếm ý nghĩa, vị trí phù hợp theo Lý trí thuần khiết của bất kỳ thực thể nào trong một chuỗi các thực thể, của bất kỳ mục nào, của bất kỳ yếu tố nào trong một chuỗi các yếu tố. Mối quan hệ của yếu tố này với tất cả các yếu tố là gì? Khi bạn có được điều đó, bạn có ý nghĩa của nó bởi vì nó có vị trí thích hợp trong tổng thể nguyên mẫu có tổ chức, và đây là ý nghĩa. |
|
So, the the second ray type who is the geometrizer always is seeking for that proper placement, proper function within the larger pattern. Then when that’s revealed, the meaning of any factor is revealed, and basically when you’re searching for meaning, you’re asking where does it fit, where does it fit within the whole? How can I relate this to the context with which I am familiar? What is its meaning within this context, this position displays its function. What does it mean? |
Cung hai là nhà tạo hình theo hình học luôn tìm kiếm vị trí thích hợp, chức năng thích hợp trong khuôn mẫu lớn hơn. Và khi điều đó được bộc lộ, ý nghĩa của bất kỳ yếu tố nào cũng được bộc lộ, và về cơ bản khi bạn đang tìm kiếm ý nghĩa, bạn đang hỏi nó phù hợp ở đâu trong tổng thể? Làm thế nào tôi có thể liên hệ điều này với bối cảnh mà tôi quen thuộc? Ý nghĩa của nó trong bối cảnh này là gì, vị trí này hiển thị chức năng của nó. Nó có nghĩa là gì? |
|
So, this is now I think we have analyzed this maybe not quite satisfactorily but certainly to some degree, and what I’ll do is what I’ve always been doing. I’m just going to read through this and then read through it in an uninterrupted way, just summarizing here, we might say. |
Tôi nghĩ chúng ta đã phân tích điều này có thể không hoàn toàn thỏa đáng nhưng chắc chắn ở một mức độ nào đó, và tôi sẽ đọc lại các khổ thơ này, đọc không gián đoạn, và sau đó nói thêm đôi điều. |
Summarization 6
|
ray Two |
cung Hai |
|
“‘Again I stand; a point within a circle and yet myself.’ |
“‘Một lần nữa tôi đứng; một điểm trong một vòng tròn, và tuy vậy vẫn riêng tôi.’ |
|
The love of love must dominate, not love of being loved. The power to draw unto oneself must dominate, but into the worlds of form that power must some day fail to penetrate. This is the first step towards a deeper search. |
Tình yêu Bác ái phải thống trị, chứ không phải yêu để được yêu. Năng lực thu hút vào chính mình phải chiếm ưu thế, nhưng năng lực đó một ngày nào đó phải không thể xâm nhập vào trong các thế giới hình tướng. Đây là bước đầu tiên hướng tới một sự tìm kiếm sâu hơn. |
|
The word goes forth from soul to form: ‘Release thyself from all that stands around, for it has naught for thee, so look to me. I am the One who builds, sustains and draws thee on and up. Look unto me with eyes of love, and seek the path which leads from the outer circle to the point. |
Linh Từ xuất phát từ linh hồn đến hình tướng: “Hãy giải thoát ngươi khỏi tất cả những gì đứng xung quanh, vì nó không có gì cho ngươi, vì vậy hãy hướng vào ta. Ta là Đấng xây dựng, duy trì và thu hút ngươi tiến lên và hướng thượng. Hãy ngước nhìn ta với đôi mắt yêu thương, và hãy tìm kiếm con đường dẫn từ ngoại vi tới điểm [bên trong]. |
|
I, at the point, sustain. I, at the point, attract. I, at the point, direct and choose and dominate. I, at the point, love all, drawing them to the centre and moving forward with the travelling points towards that great Centre where the One Point stands. What mean you by that Word?” |
Ta, ở tại điểm, duy trì. Ta, ở tại điểm, thu hút. Ta, ở tại điểm, điểu khiển, lựa chọn và thống trị. Ta, ở tại điểm, yêu thương tất cả, thu hút họ đến trung tâm và di chuyển về phía trước với các điểm du hành hướng tới Trung Tâm vĩ đại, nơi mà Điểm Duy Nhất đứng. Linh Từ đó có ý nghĩa gì với ngươi?” |
|
Again I stand; |
‘Một lần nữa tôi đứng; |
|
After repeated incarnations I stand in the same way, I am |
Sau nhiều lần tái sinh, tôi vẫn đứng như vậy, tôi |
|
a point within a circle and yet myself, |
một điểm trong một vòng tròn, và tuy vậy vẫn riêng tôi. |
|
There may be many points within the circle of my consciousness, or I may just be the point within a circle which tries to embrace other circles, intersects with them, expands and includes them. But basically, I am still very much the victim of Ahamkara, and I’m not yet identified with the full expanse of my consciousness, my awareness. |
Có thể có nhiều điểm trong vòng tròn tâm thức của tôi, hoặc có thể tôi chỉ là điểm trong vòng tròn cố gắng ôm lấy các vòng tròn khác, giao thoa với chúng, mở rộng và bao gồm chúng. Nhưng về cơ bản, tôi vẫn là nạn nhân của Ahamkara, và tôi vẫn chưa đồng nhất với toàn bộ tâm thức, ý thức của mình. |
|
The love of love |
Tình yêu Bác ái |
|
And so now comes how to correct this situation, because so often the first sentence tells us the state of how it is in the beginning before a real and progressive integration has occurred. |
Đây là cách khắc phục tình trạng này, bởi vì câu đầu tiên thường cho chúng ta biết trạng thái ban đầu như thế nào trước khi một sự tích hợp thực sự và tiến bộ xảy ra. |
|
The love of love must dominate |
Tình yêu Bác ái phải thống trị |
|
It’s an energy, and this must dominate my consciousness, |
Bác ái là năng lượng, và điều này phải thống trị tâm thức của tôi, |
|
and not the love of being loved |
chứ không phải lòng yêu thích được yêu. |
|
Being appreciated, of having my very important sentient self reinforced, of having my Ahamkara reinforced by the energy of love. In other words, my formal prison is reinforced by loving to be loved. |
Đánh giá cao, củng cố cái tôi rất quan trọng của tôi, củng cố Ahamkara của tôi bằng năng lượng tình yêu. Nói cách khác, nhà tù chính thức của tôi được củng cố bằng sự yêu thích được yêu. |
|
The power to draw unto oneself |
Năng lực thu hút vào chính mình |
|
Which is a true love, drawn to oneself as oneself |
Đó là một tình thương đích thực, thu hút vào chính mình như linh hồn hay chân ngã. |
|
must dominate |
phải chiếm ưu thế, |
|
The seeking the dominant in music here. This is the dominant note, it is a magnetic note, and it’s a drawing power. We’re not pressing outward into life. We’re standing at the center and we’re drawing others towards us on the basis of how we radiate. That must dominate. |
Việc tìm kiếm nốt “dominant” trong âm nhạc ở đây. Đây là nốt chủ đạo, nó là nốt từ tính, và nó là sức hút. Chúng ta không hướng ngoại vào cuộc sống. Chúng ta đang đứng ở trung tâm và thu hút người khác về phía mchúng ta dựa trên cách chúng ta tỏa sáng. Điều đó phải thống trị. |
|
But into the worlds of form that power to draw must someday fail to penetrate |
nhưng năng lực đó một ngày nào đó phải không thể xâm nhập vào các thế giới hình tướng. |
|
I don’t want to draw forms to me. I want to draw souls to me. I don’t want to draw forms to my form. That’s usually called “Falling in love”, in drawing one form to the form that I think I am, and then loving the form, and having my form being loved by others. But true soul love is something else. It is quite regardless, irrespective of form, and this one has to learn. |
Tôi không muốn thu hút về hình tướng của tôi. Tôi muốn thu hút linh hồn về phía tôi. Tôi không muốn vthu hút hình tướng vào hình tướng của mình. Thông thường, người ta gọi đó là “Falling in love” —thu hút một hình tướng vào một hình tướng mà ta nghĩ là mình, rồi yêu thích hình tướng đó và để hình tướng của mình được người khác yêu thích. Nhưng tình yêu đích thực của linh hồn lại là một điều gì đó khác. Nó hoàn toàn không phân biệt, không tùy thuộc hình tướng, và điều này phải được học. |
|
The power to draw unto oneself must dominate, but into the worlds of form that power to draw must someday fail to penetrate |
Năng lực thu hút vào chính mình phải chiếm ưu thế, nhưng năng lực đó một ngày nào đó phải không thể xâm nhập vào trong các thế giới hình tướng. |
|
And usually fail to penetrate when one is on the Path of the Probationary initiation and Initiation, then it will fail to penetrate, and one will love beyond the form. One will love that which one discerns within the form and |
Và thường không thâm nhập được khi một người đang trên Con đường điểm đạo Dự bị và Con Đường Điểm Đạo, nó sẽ không thể thâm nhập và người ta sẽ yêu thương vượt ra ngoài hình tướng. Người ta sẽ yêu cái mà người ta nhận biết được trong hình tướng. |
|
this is the first step |
Đây là bước đầu tiên |
|
This Deformalization |
Sự tách rời khỏi hình tướng này, |
|
towards the deeper search |
hướng tới tìm kiếm sâu hơn |
|
A search for the true soul, true Being within the true consciousness, that intangible something which is the Higher Self, and at least intangible to us. |
Một cuộc tìm kiếm linh hồn đích thực, Bản thể thực sự, tâm thức thực sự, điều vô hình vốn là Chân ngã, ít nhất là vô hình đối với chúng ta. |
|
The Word goes forth |
Linh Từ phát ra |
|
It is the word of the soul, whether it’s the full word of the soul. No, but it is a representative of the Word which the soul is |
Đó là lời của linh hồn, dù đó có là Lời trọn vẹn của linh hồn. Không, nhưng nó là đại diện cho Linh Từ mà linh hồn vốn là |
|
The word goes forth from soul to form, “Release thyself from all that stands around” |
Linh Từ xuất phát từ linh hồn đến hình tướng: “Hãy giải thoát ngươi khỏi tất cả những gì đứng xung quanh, |
|
Quite different to the first ray type. It might have said, “attach thyself to all that stands around”, but this is a different antidote, a different ray antidote, “Release thyself from all that stands around with which you are so very much engaged, so attached to, so unable to divorce yourself or separate yourself from”. |
Khác với loại cung một vốn có thể nói, “Hãy gắn bó với tất cả những gì xung quanh” 😊. Nhưng đây thuốc giải khác, một loại thuốc giải cung khác. “Hãy giải thoát bản thân khỏi tất cả những gì đứng xung quanh”, mà bạn rất gắn bó, quá gắn bó với nó., nên không thể tự ly dị hay tách mình ra khỏi. |
|
“Release thyself from all the stands around, for it has naught for thee” |
“Hãy giải thoát ngươi khỏi tất cả những gì đứng xung quanh, vì điều đó chẳng có ích gì cho ngươi” |
|
Not for the real thee, the ‘thee’ that is trying to find itself, the ‘thee’ that is the Self. It’s trying to find the seeker and the thought. “I am the seeker and the thought. I rest” as a sixth ray mantram. |
Không phải cho bản chất thực sự của bạn, cái “bạn” đang cố gắng tìm kiếm bản ngã, cái “bạn” chính là Bản Ngã. Nó đang cố gắng tìm kiếm “người tìm kiếm và tư tưởng. “Ta là người tìm kiếm và suy nghĩ. Ta an nghỉ” như một chân ngôn của cung sáu. |
|
Release thyself from all that stands around, for it has naught for thee, |
“Hãy giải thoát ngươi khỏi tất cả những gì đứng xung quanh, vì nó không có gì cho ngươi, |
|
For thy real spiritual progress, for thy real identification, for a real self-discovery or self realization. You’re not going to find it in the world of form, although certain forms have such an intuitive link with reality that they may wake the person up, like we’re told, the one Great Sage was awakened by a fly. It all depends how one sees the thing. If one sees the thing in God, then it might as well be God. But, if one sees the thing as just itself, then it may have no connection with the divinity from which it arose. |
Cho sự tiến bộ tinh thần thực sự của bạn, cho sự đồng hóa thật sự của bạn, cho sự khám phá hoặc nhận thức bản ngã thực sự. Bạn sẽ không tìm thấy nó trong thế giới hình tướng, mặc dù một số hình tướng nhất định có mối liên hệ trực quan với thực tại đến mức sau đó có thể đánh thức người đó thức tỉnh, như chúng ta được kể, một Đại hiền triết đã bị đánh thức bởi một con ruồi. Tất cả phụ thuộc vào cách người ta nhìn nhận sự việc. Nếu một người nhìn thấy Thượng đế ở điều đó, thì đó cũng có thể là Thượng đế. Tuy nhiên, nếu người ta coi sự vật chỉ là sự vật thì nó có thể không có mối liên hệ nào với Thiên tính mà từ đó nó đã nảy sinh. |
|
So, look unto me |
vì vậy hãy hướng vào ta. |
|
Look unto me, the soul, look unto yourself as the Higher Self who is speaking to you. It is really you that is speaking to yourself. |
Hãy nhìn vào tôi, linh hồn, hãy nhìn vào chính bạn như Chân ngã đang nói với bạn. Thực sự là bạn đang nói với chính mình. |
|
I, who I’m speaking to yourself. I’m really you |
Ta, chính là tôi đang nói với bạn, và thực sự là bạn |
|
I am the One |
Ta là Đấng xây dựng, duy trì và thu hút ngươi tiến lên và hướng thượng |
|
At least that on that level. I realize myself be the One who is related to all others, and they are no different from what I am even though their qualities may be different in that particular world of expression. |
Ít nhất ở cấp độ đó, tôi nhận ra mình là Đấng liên quan đến tất cả những người khác, và họ không khác gì tôi mặc dù phẩm chất của họ có thể khác trong thế giới biểu hiện cụ thể đó. |
|
I am the One who builds, sustains your vehicles and draws thee on and up draw the consciousness immersed within those vehicles onwards towards its goal, and upward towards a higher level of vibration, and inward towards reality. |
Ta là Đấng xây dựng, duy trì các phương tiện (vận cụ) của bạn và lôi kéo bạn tiến lên kéo tâm thức đắm chìm trong những hiện thể đó hướng tới mục tiêu của nó, hướng tới mức độ rung động cao hơn và hướng vào thực tại. |
|
Look unto me, love me |
Hãy ngước nhìn ta với đôi mắt yêu thương, và hãy tìm kiếm con đường dẫn từ ngoại vi tới điểm |
|
And not the outer forms |
không phải hình thức bên ngoài |
|
look unto me |
nhìn về phía tôi |
|
The true soul |
Linh hồn đích thực |
|
with eyes of love |
bằng đôi mắt yêu thương |
|
For if you love me, you will love all, because they are souls, and their soul are one with my soul. So, |
Vì nếu bạn yêu tôi, bạn sẽ yêu tất cả, bởi vì họ là linh hồn và linh hồn họ là một với linh hồn tôi. |
|
look unto me with eyes of love |
nhìn về phía tôi bằng đôi mắt yêu thương |
|
Love this inner magnetic, attractive drawing power, and not all the apparent evidence of this power in the outer world. Don’t confine your love to form, allow your love to expand into that which has been the cause of all the form. Love the essence and not the appearance. |
Yêu sức hút hấp dẫn, từ tính bên trong này, và không phải tất cả những thể hiện bên ngoài về sức mạnh này ở thế giới bên ngoài. Đừng giới hạn tình yêu của bạn trong hình tướng, hãy cho phép tình yêu của bạn mở rộng vào cái từng là nguyên nhân của mọi hình tướng. Yêu bản chất chứ không phải vẻ bề ngoài. |
|
Look unto me with eyes or love, and seek the path |
Hãy ngước nhìn ta với đôi mắt yêu thương, và hãy tìm kiếm con đường |
|
Seek to do those things, those sequential activities, those particular choices which will which |
Hãy tìm cách thực hiện những việc đó, những hoạt động tuần tự đó, những lựa chọn cụ thể sẽ |
|
leads from the outer circle |
dẫn từ ngoại vi |
|
Of your engagement with all kinds of things in a superficial and formal way |
sự tham gia của bạn với mọi thứ một cách hời hợt và hình thức |
|
to the point |
đến điểm |
|
Which I am, or at which I, the Voice, the Word, stand, and in which you, the Voice, the Word, stand. You are really a Point, you are really a point within a circle, but you don’t know that. |
Đó là Tôi, hay là nơi tôi, Âm thanh, Linh từ, đứng, và ở đó bạn, Âm thanh, Linh, đứng. Bạn thực sự là một điểm trong vòng tròn, nhưng bạn không biết điều đó. |
|
You as a point are really one with all other points and with the One Great Point that you don’t know. You think of yourself as an isolated point, but I’m speaking to you from a far more real point than the point you think you are. You’re an ego, encapsulated point in your own conception, where I am an embracing inclusive point which is the real ‘You’. |
Bạn với tư cách là một điểm thực sự là một với tất cả các điểm khác và là một với Điểm Vĩ Đại mà bạn không biết. Bạn nghĩ mình là một điểm cô lập, nhưng tôi đang nói với bạn từ một điểm thực hơn nhiều so với điểm mà bạn nghĩ bạn là. Bạn là Chân ngã, một điểm được đóng gói trong quan niệm của riêng bạn, trong đó tôi là một điểm bao gồm, chính là con người thật của bạn. |
|
I at the point sustain |
Ta, ở tại điểm, duy trì. |
|
All you are in the outer worlds. Through me the energy of the Monad comes, the life-giving energy. Through me all quality reaches you. I at the point attract your outer self so that its quality is raised, its vibratory level is raised, its quality is purified. I attract you into amalgamation with myself, into union with myself. I, who am ‘you’, are attracting the ‘you’ who you think you are towards the ‘you’ who you really are. |
Bao gồm tất cả các bạn ở thế giới bên ngoài. Thông qua tôi, năng lượng của Chơn thần xuất hiện, năng lượng mang lại sự sống. Thông qua tôi mọi phẩm chất đến với bạn. Ta, ở tại điểm, thu hút. Tôi thu hút cái tôi bên ngoài của bạn để phẩm chất của nó được nâng cao, độ rung động của nó được nâng lên, phẩm chất của nó được thanh lọc. Tôi thu hút bạn hòa hợp với chính tôi, hợp nhất với chính tôi. Tôi, vốn là bạn, đang thu hút con người mà bạn nghĩ bạn là đến con người thật của bạn. |
|
I, at the point, direct and choose and dominate. |
Ta, ở tại điểm, điểu khiển, tôi lựa chọn, tôi thống trị |
|
I, at the point, direct |
Ta, ở tại điểm, điểu khiển |
|
Your way forward progressively so you can learn. |
Con đường của bạn tiến dần dần để bạn có thể học hỏi. |
|
I choose |
tôi lựa chọn, |
|
For you the different energies you will use. I choose where you will be incarnated. I will choose what energies you will have—astrological, rayological, and planetary to express that incarnation. And ultimately, |
Những năng lượng khác nhau mà bạn sẽ sử dụng. Tôi chọn nơi bạn sẽ được tái sinh. Tôi sẽ chọn những năng lượng mà bạn sẽ có về phương diện chiêm tinh, cung, và hành tinh để thể hiện sự tái sinh đó. Và cuối cùng, |
|
I dominate |
tôi thống trị |
|
The whole situation. I am the dominant notes sounding over the third. |
Toàn bộ tình huống. Tôi là nốt chủ đạo (át âm) thống trị nốt thứ ba. |
|
I, at the point |
Tôi, ở tại điểm |
|
The central point which you must find, because in finding it you will find your higher self, higher point |
Điểm trung tâm mà bạn phải tìm ra, bởi vì khi tìm thấy nó bạn sẽ tìm thấy cái tôi cao hơn của mình, điểm cao hơn |
|
love all |
yêu tất cả |
|
all around me, all within the circle of consciousness, all this circle that I have been aware of, but yet kept viewed as if I was something different. |
tất cả xung quanh tôi, tất cả đều nằm trong vòng tròn ý thức, tất cả vòng tròn này mà tôi đã biết đến, nhưng vẫn bị coi như thể tôi là một thứ gì đó khác biệt. |
|
I, at the point, love all |
Tôi, ở điểm này, yêu tất cả |
|
At least all within my range, within my circle. I mean, I may love all but I cannot influence all. |
Ít nhất là tất cả đều nằm trong phạm vi của tôi trong vòng kết nối của tôi. Tôi không thể, ý tôi là, tôi có thể yêu tất cả nhưng tôi không thể ảnh hưởng đến tất cả. |
|
I at the point love all |
Tôi yêu tất cả mọi thứ |
|
Within my circle of consciousness, drawing them, the ones that can respond especially to the center which I am. |
Trong vòng tròn ý thức của tôi, vẽ ra chúng, những thứ có thể phản ứng đặc biệt với trung tâm mà tôi là. |
|
And then when they are within range and magnetized by me as a soul, soul to soul, I will move forward with them. And I will, in this case, be the magnetizing leader, moving forward with the travelling points because all points are actually travelling also in a straight line, according to progress, onward and progressive motion, moving forward. |
Và sau đó khi họ ở trong phạm vi và bị tôi thu hút như một linh hồn, linh hồn này với linh hồn khác, tôi sẽ tiến về phía trước cùng họ. Và trong trường hợp này, tôi sẽ là người dẫn đầu từ hóa, di chuyển về phía trước với các điểm di chuyển bởi vì tất cả các điểm thực sự cũng đang di chuyển theo một đường thẳng, theo sự tiến bộ, chuyển động hướng tới và lũy tiến, tiến về phía trước. |
|
But I will light the way under the ray of light bearing influence. I will travel forward to another great center, maybe into the ashram. Maybe I will help lead others into the ashram. Maybe, if more advanced, that will help lead them into the Hierarchy as a whole. Maybe, if you’re still more advanced, I will help lead them into Shambhala. |
Nhưng tôi sẽ soi đường dưới cung ảnh hưởng mang ánh sáng. Tôi sẽ đi tới một trung tâm lớn khác, có thể là vào đạo tràng. Có lẽ tôi sẽ giúp dẫn dắt người khác vào đạo tràng. Có thể, nếu tiến bộ hơn, điều đó sẽ giúp đưa họ vào Thánh Đoàn nói chung. Có lẽ, nếu bạn còn tiến bộ hơn nữa, tôi sẽ giúp dẫn họ vào Shambhala. |
|
But I have attracted points like myself and I am an illuminator of those points, and I’m sharing my light with them, and they with me. But, I in this case, I am the greater light because I’m the center, and I’ve attracted them, just the way the Sun attracts the planets, and so forth. And we will move all together towards that great center, in this case, ever onward toward Shambhala, and the Planetary Logos were the One Point who includes all points within our planetary ring-pass-not has his stand, his location. |
Nhưng tôi đã thu hút những điểm giống mình và tôi là người soi sáng những điểm đó, và tôi đang chia sẻ ánh sáng của mình với họ và họ với tôi. Nhưng, trong trường hợp này, tôi là ánh sáng lớn hơn vì tôi là trung tâm và tôi đã thu hút họ, giống như cách Mặt trời thu hút các hành tinh, v.v. Và tất cả chúng ta sẽ cùng nhau hướng tới trung tâm vĩ đại đó, trong trường hợp này, luôn hướng tới Shambhala, và Hành tinh Thượng Đế là Điểm duy nhất bao gồm tất cả các điểm trong vòng-pass-not hành tinh của chúng ta có chỗ đứng, vị trí của ngài. |
|
Then the method is given: What is this Word of the soul, the word as the soul which has come forth to me? I think I will ponder; I will ponder until I understand its true meaning, and then I will be in a position to know myself as that word. |
Sau đó phương pháp được đưa ra: Lời của linh hồn, lời của linh hồn đã đến với tôi là gì? Tôi nghĩ rằng tôi sẽ suy ngẫm, tôi sẽ suy ngẫm cho đến khi tôi hiểu được ý nghĩa thực sự của nó, và khi đó tôi sẽ có khả năng nhận biết chính mình là từ đó. |
|
The method then is given. It always seemed to me to be kind of a non sequitur[iii] but why it, why after all this should a question be asked except a great hint is being given as to the second ray method of approaching a deeper understanding and significance. |
Phương pháp sau đó được đưa ra. Đối với tôi, nó luôn có vẻ là một điều không cần thiết nhưng tại sao lại như vậy, tại sao rốt cuộc lại phải đặt ra một câu hỏi ngoại trừ một gợi ý tuyệt vời được đưa ra về phương pháp của cung hai để tiếp cận một sự hiểu biết và ý nghĩa sâu sắc hơn. |
|
So, let’s just read it… |
Vì vậy, chúng ta hãy đọc nó… |
|
I think this is relevant really to so many of us, because we have found in our soul nature pretty much upon the second ray. We have found upon the second ray, and we need this second ray integration technique and these integration techniques, as I said, the full and complete integration which is like a fully complete fusion of soul with personality doesn’t really occur until the fourth initiation, with the merging or the interplay, the fusion of two energy systems and two types of consciousness, fused into one type of consciousness. So, there are some pretty high states which are promised by these integration formulas. The formulas don’t begin that way, but they do end that way. If you are traveling towards the great center with the One Point stands, you really traveling not only into the Ashram with your group as an Ashram, but the Ashram is traveling into a closer connection with the center of the Hierarchy and the Hierarchy itself is in a way being absorbed into Shambhala. So, a very alternate kind of absorption is being discussed, and this little stanza, remember that these stanzas cover time. They begin at one point of time, and they moved through various other points of time, and finally end at a time which may be quite distant from the time which began with the first statements in the stanza. |
Được rồi, tôi nghĩ điều này thực sự có liên quan đến rất nhiều người trong chúng ta, bởi vì chúng ta đã tìm thấy bản chất linh hồn của mình khá nhiều ở cung hai. Được rồi, chúng ta đã tìm thấy ở cung hai, và chúng ta cần kỹ thuật tích hợp cung hai này và những kỹ thuật tích hợp này, như tôi đã nói, sự tích hợp đầy đủ và trọn vẹn giống như một sự hợp nhất hoàn toàn trọn vẹn của linh hồn với phàm ngã không thực sự xảy ra cho đến khi cuộc điểm đạo thứ tư, với sự hợp nhất hay tương tác, sự hợp nhất của hai hệ thống năng lượng và hai loại ý thức, hợp nhất thành một loại ý thức. Vì vậy, có một số trạng thái khá cao được hứa hẹn bởi các công thức tích phân này. Các công thức không bắt đầu theo cách đó, nhưng chúng kết thúc theo cách đó. Nếu bạn đang du hành về phía trung tâm vĩ đại với các khán đài Một Điểm, bạn thực sự du hành không chỉ vào Ashram cùng với nhóm của bạn với tư cách là một Ashram, mà Ashram đang du hành vào một mối liên hệ chặt chẽ hơn với trung tâm của Thánh Đoàn và chính Thánh Đoàn đó ở trong đó. một cách được hấp thụ vào Shambhala. Vì vậy, một loại hấp thụ rất khác đang được thảo luận, và khổ thơ nhỏ này, hãy nhớ rằng những khổ thơ này bao hàm thời gian. Chúng bắt đầu ở một thời điểm, rồi di chuyển qua nhiều thời điểm khác, và cuối cùng kết thúc ở một thời điểm có thể khá xa so với thời điểm bắt đầu bằng những câu đầu tiên trong khổ thơ. |
|
We’re over the mark. Of course, but this is end of Techniques of Integration webinar commentary 6, EP psychology, and we’re on page 355. We didn’t move very far because we just really worked in one particular Technique of Integration stanzas. So, and we’ll be having the beginning of Techniques of Integration webinar commentary number seven EP2 page 355. |
Được rồi, chúng ta đã vượt quá giới hạn rồi. Tất nhiên, nhưng đến đây là phần cuối của bài bình luận trong hội thảo trực tuyến về Kỹ thuật Tích hợp số 6, tâm lý học EP, và chúng ta đang ở trang 355. Chúng ta không tiến xa lắm vì chúng ta chỉ thực sự làm việc trong một khổ thơ Kỹ thuật Tích hợp cụ thể. Vì vậy, chúng ta sẽ bắt đầu phần bình luận hội thảo trên web về Kỹ thuật tích hợp số bảy EP2 trang 355. |
|
So, that will, and then we’ll go on, you know, because it’s so important what the Tibetan has said. We can interpret however we like here, you’ll have your own interpretation, I have mine, I just suggest to you how you might think about these things, but maybe you’re going to see something I just haven’t seen. So often it happens. But later, the Tibetan amplifies. He elaborates, he describes what he sees in these stanzas and so he gives it to us in ways that are not so symbolic, not so pictorial, not so mystical, but are more in the elucidating… English that we know him for, in all of its great clarity. So, we’ll move on. This has been an hour and 15 minutes. We’ll see you for Technique of Integration webinar commentary number seven, continuing with the elaboration of the second-ray technique. |
Điều đó sẽ xảy ra và sau đó chúng ta sẽ tiếp tục vì điều quan trọng là những gì Chân sư DK đã nói chúng ta có thể diễn giải theo cách chúng ta thích ở đây bạn sẽ có cách diễn giải của riêng mình Tôi là của tôi Tôi chỉ gợi ý cho bạn cách bạn có thể nghĩ về những điều này nhưng có thể bạn sẽ thấy điều gì đó mà tôi chưa từng thấy thường xuyên, nó xảy ra nhưng sau đó Chân sư DK khuếch đại, anh ấy giải thích thêm, anh ấy mô tả những gì anh ấy nhìn thấy trong những khổ thơ này và vì vậy anh ấy đưa nó cho chúng ta theo những cách không quá tượng trưng, bây giờ không phải vậy bức tranh không quá thần bí nhưng thiên về tiếng Anh mang tính giải thích hơn mà chúng ta biết về anh ấy với sự rõ ràng tuyệt vời này nên chúng ta sẽ tiếp tục. Đây là giờ ăn tối mười lăm phút nhưng được rồi, chúng ta sẽ gặp bạn trong Kỹ thuật Tích hợp bình luận hội thảo trực tuyến số bảy tiếp tục với việc xây dựng kỹ thuật cung hai. |