TECHNIQUES OF INTEGRATION WEBINAR # 9 – R3
(Pages 360-362)
Abstract
|
Techniques of Integration Webinar Commentary 9 covers page 360, and is about two hours long. Topics include: 1): continued analysis and interpretation of the Technique of Integration for the R3 soul; 2): the “enforced quiet” applied to the R3 soul brings about the Stage of Alignment; 3): the third ray type has to bring about not the quiet of meditation as in the case of the first ray but the “quiet of living”; 4): the third ray type is guilty of much waste of energy; 5): he often fails to achieve his goal because of his constant running hither and thither; 6): he is occupied with the distant objective and overlooks the immediate steps; 7): futility is the result of his unplanned, wasted motion; 8): to offset this tendency he must learn to stand quiet, awaiting opportunities which present themselves to him and not rushing forth to make opportunities for himself; 9): through a willingness to achieved “divine idleness” he achieves alignment; 10): this alignment produces a crisis with two principle effects: deep distress because of his realization of the futility of his life and the trouble he has caused others; determination to stand and study the spider who is not entangled in his own web; 11): through the crisis the light of understanding is evoked; he sees the nature of his entanglement and how to begin extricating himself; 12): in the disentanglement phase he must release himself from his own ideas; 13): he is slow to start but finishes the task with eventual rapidity; 14): the third ray type is slowest to learn; the second ray type learns faster; the first ray type learns still faster; 15): the second and third ray type have to achieve different types of quietude: for the second ray type it is the quiet at the center of the storm; for the third ray type is the quiet of the millpond; 16): Revelation comes to the third ray type as he works in the growing light; 17): integration follows, especially as he achieves the necessary quietude; 18): three words embody the simplest phases of the first three Techniques of Integration; 19): it is INCLUSION for the first ray type; it is CENTRALIZATION for the second ray type; it is STILLNESS for the third ray type; 20): the type of alignment taught in the meditation process is different from the alignment which features in these formulas; 21): the alignment formulas is a starting point; 22): a continuity of consciousness within the aligned forms is required of the properly aligned disciple who is using these formulas; 23): a review of the formula, word and ACLRI process for those upon the first three rays, the rays of Aspect;. |
Hội thảo trực tuyến về Kỹ thuật Tích hợp 9, bao gồm trang 360 và dài khoảng hai giờ. Các chủ đề bao gồm: 1): tiếp tục phân tích và giải thích Kỹ thuật Tích hợp cho linh hồn Cung 3; 2): “sự im lặng bắt buộc” được áp dụng cho linh hồn R3 sẽ mang lại Giai đoạn Chỉnh hợp; 3): người cung ba phải mang lại sự yên tĩnh không phải của việc tham thiền như trong trường hợp của cung một mà là “sự yên tĩnh của cuộc sống”; 4): người cung ba lãng phí nhiều năng lượng; 5): y thường không đạt được mục tiêu của mình vì liên tục chạy đi chạy lại; 6): y bận rộn với mục tiêu xa xôi và bỏ qua những bước đi trước mắt; 7): sự vô ích là kết quả của hành động lãng phí, không có kế hoạch của y; 8): để khắc phục khuynh hướng này, y phải học cách im lặng, chờ đợi những cơ hội đến với mình và không vội vàng tạo cơ hội cho mình; 9): qua sự sẵn sàng đạt đến “sự nhàn rỗi thiêng liêng”, y đạt được sự chỉnh hợp; 10): sự chỉnh hợp này tạo ra một cuộc khủng hoảng với hai tác động chính: đau khổ sâu sắc vì nhận ra sự vô ích của cuộc đời mình và những rắc rối mà mình đã gây ra cho người khác; quyết tâm đứng nhìn như con nhện không vướng vào lưới của chính mình; 11): qua cuộc khủng hoảng, ánh sáng thấu hiểu được khơi dậy; y nhìn thấy bản chất của sự vướng mắc của mình và cách bắt đầu giải thoát bản thân; 12): trong giai đoạn gỡ rối y phải giải phóng mình khỏi những ý tưởng của chính mình; 13): y bắt đầu chậm nhưng cuối cùng lại hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh chóng; 14): người cung ba học chậm nhất; người cung hai học nhanh hơn; người cung một học còn nhanh hơn nữa; 15): người cung hai và cung ba phải đạt được những loại yên tĩnh khác nhau: đối với người cung hai, đó là sự yên tĩnh ở trung tâm cơn bão; đối với người cung ba là sự yên tĩnh của ao nước; 16): Sự mặc khải đến với người cung ba khi y làm việc trong ánh sáng ngày càng tăng; 17): sự tích hợp theo sau, đặc biệt là khi y đạt được sự yên tĩnh cần thiết; 18): ba từ thể hiện những giai đoạn đơn giản nhất trong ba Kỹ thuật Tích hợp đầu tiên; 19): đó là BAO GỒM cho người cung một; đó là TẬP TRUNG cho người cung hai; đó là TĨNH LẶNG đối với người cung ba; 20): kiểu chỉnh hợp được dạy trong quá trình tham thiền khác với kiểu chỉnh hợp đặc trưng trong các công thức này; 21): các công thức chỉnh hợp là điểm khởi đầu; 22): sự liên tục của tâm thức trong các hình thức được tích hợp là cần thiết đối với đệ tử được chỉnh hợp đúng cách đang sử dụng các công thức này; 23): ôn lại công thức, từ ngữ và quy trình ACLRI dành cho những người thuộc ba cung, các cung trạng thái. |
Text
|
Ray One |
Inclusion. |
|
Ray Two |
Centralisation. |
|
Ray Three |
Stillness. |
|
The above will suffice for the techniques of integration of these three major rays. We will now take the formulas which will embody the techniques of integration for the four minor rays, and glimpse the possibilities which they may unfold. We will emphasize in connection with each of them the same five stages of the technique we are studying: |
Những điều trên sẽ đủ cho các kỹ thuật tích hợp của ba cung chính này. Bây giờ chúng ta sẽ lấy các công thức sẽ thể hiện các kỹ thuật tích hợp cho bốn cung phụ, và thoáng thấy những khả năng mà chúng có thể mở ra. Chúng ta sẽ nhấn mạnh liên quan đến mỗi một trong số chúng cùng năm giai đoạn của kỹ thuật mà chúng ta đang nghiên cứu: |
|
1. Alignment. |
1. Sự chỉnh hợp. |
|
2. A crisis of evocation. |
2. Một cuộc khủng hoảng gợi lên. |
|
3. Light. |
3. Ánh sáng. |
|
4. Revelation. |
4. Sự mặc khải. |
|
5. Integration. |
5. Sự tích hợp. |
|
At the same time, we will bear in mind that the alignment with which we have hitherto been occupying ourselves is that of a form of expression and that this is achieved through discipline, meditation, and service. These techniques of integration, however, refer to the establishing of a continuity of consciousness, within the aligned forms. Therefore we begin with alignment in these cases and do not end with it. [363] |
Đồng thời, chúng ta sẽ ghi nhớ rằng sự chỉnh hợp mà chúng ta đã bận rộn cho đến nay là của một hình thức biểu lộ và rằng điều này đạt được thông qua kỷ luật, tham thiền, và phụng sự. Tuy nhiên, những kỹ thuật tích hợp này đề cập đến việc thiết lập một tính liên tục của tâm thức, bên trong các hình tướng đã được chỉnh hợp. Do đó, chúng ta bắt đầu với sự chỉnh hợp trong những trường hợp này và không kết thúc với nó. [363] |
Text with notes
|
Be still. Learn to stand silent, quiet, unafraid [1a] |
Hãy yên lặng. Học cách đứng im lặng, yên tĩnh và không sợ hãi. [1a] |
|
I, at the centre, Am. [1b] {I the Higher Power in which you do not believe, do really exist… {You range in your thought around the periphery of life—and yet, I, the true reality, exist at the center of your life which you do not know exists… Change your perspective… {What is needed is a belief in the intangible Center of Existence—in this case, the soul… Look up [1c] {to look up, to believe, to credit the invisible with existence—this is difficult—-to credit invisible Entities with existence… along the line {the antahkarana… which leads to the intangible realities… and not along the many lines [1d] {of speculative thought which you hope will lead to reality… which, in the space of aeons, you have woven, [1e] {concentrate the many lines into the One Line, which can actually lead to the center, because the many lines have led only to ‘eccentricity’ —out from or away from the center… These {many hold you prisoner, and you are bewildered and there is futility leading no where… DK warns against the following of obscure trails, as if they could lead to truth hold thee prisoner, [1f] {held prisoner by the many and released by the One… Be still. [1g] Rush {the sixth ray type runs to the periphery and the third ray type rushes around with no discernible order, and goes into motion on the basis of impulse… not from point to point, [1h] {in a chaotic and uncoordinated way… {one does not accomplish in the midst of all this chaos—-not true pattern is built, and no true relationship discovered… Breathlessly, fearfully running from here to there… The sixth ray type is the “frenzied follower”, and the third ray type degenerates into a ‘frenzy of activity’, and where is the room for wise or considered thought in the midst of all this… nor be deluded by the outer forms [1i] {as if one’s immortality is related to the perpetuation of forms which one has created… and that which disappears, {we have the glamor of the reality of the lower 18 subplanes… and only later does one realize are not real but are derivative of the True Platonic Forms in the archetypal worlds… Consciousness captivated by the tangible… {fear related to the disappearance for form… So, keep creating forms to ward off the fear… keep generating forms and be ahead of the inevitable disappearance… {The third ray type fears the vanishing of the forms with which he is identified… for the third ray type, form is life… Behind the forms, the Weaver [1j] {the True Weaver who is the soul stands and silently {with the Divine Plan clearly in mind, he weaves.”‘ {Learn the same wise, percipient, acute consciousness of the Weaver and weave only the forms which the Plan needs for its right expression… |
Ta, ở trung tâm, hiện diện. [1b] {Ta, Quyền lực cao hơn mà bạn không tin, thực sự tồn tại… {Bạn suy nghĩ quanh vùng ngoại vi của cuộc sống—tuy nhiên, ta, thực tại thực sự, tồn tại ở trung tâm cuộc sống của bạn mà bạn không biết đến sự sự tồn tại này… Hãy thay đổi quan điểm của bạn… {Điều cần thiết là niềm tin vào Trung tâm tồn tại vô hình—trong trường hợp này là linh hồn… Hãy nhìn lên [1c] {nhìn, tin tưởng, công nhận sự tồn tại của những gì vô hình—điều này thật khó—-công nhận sự tồn tại của các Thực thể vô hình… dọc theo đường thẳng {đường antahkarana… dẫn đến những thực tại vô hình… chứ không phải dọc theo nhiều con đường [1d] {của những suy nghĩ suy đoán mà bạn hy vọng sẽ dẫn đến thực tại… mà ngươi đã dệt trong thời gian của vô số kiếp. [1e] {tập trung nhiều đường vào Một Con Đường, điều này thực sự có thể dẫn đến trung tâm, bởi vì nhiều đường chỉ dẫn đến ‘sự lệch tâm’ — ra khỏi trung tâm… Những thứ này cầm giữ ngươi làm tù nhân. [1f] {Nhiều con đường cầm giữ bạn làm tù nhân, bạn bị hoang mang và cảm thấy vô ích, chẳng dẫn đến đâu… Chân sư DK cảnh báo không nên đi theo những con đường mòn tối tăm, như thể chúng có thể dẫn đến sự thật {Cái nhiều giam giữ, và Cái Duy Nhất giải thoát bạn… Hãy tĩnh lặng. [1g] Đừng vội vã {người cung sáu chạy ra ngoại vi và người cung ba chạy vòng quanh không có trật tự rõ ràng, và chuyển động trên cơ sở xung lực… từ điểm này sang điểm khác, [1h] {một cách hỗn loạn và không có sự phối hợp… {người ta không thể đạt được thành tựu giữa tất cả sự hỗn loạn này—-không có khuôn mẫu thực sự nào được xây dựng, và không có mối quan hệ thực sự nào được phát hiện… hổn hển, sợ hãi chạy từ đây đến đó… Người cung sáu là “người theo đuổi điên cuồng”, và người cung ba thoái hóa thành ‘hoạt động điên cuồng’, và đâu là chỗ cho những suy nghĩ khôn ngoan hoặc cân nhắc giữa tất cả những điều này… cũng đừng bị mê hoặc bởi những hình tướng bên ngoài [1i] {như thể sự bất tử của một người có liên quan đến sự tồn tại của các hình tướng mà người ta đã tạo ra… và những gì biến mất. {chúng ta có ảo cảm về tính thực tại của 18 cảnh giới thấp hơn… và chỉ sau này người ta mới nhận ra rằng chúng không có thật, chỉ là dẫn xuất của các Hình thể Platon đích thực trong các thế giới nguyên mẫu… Tâm thức bị mê hoặc bởi những gì hữu hình… {nỗi sợ hãi liên quan đến sự biến mất của hình tướng… Vì vậy, hãy tiếp tục tạo ra các hình tướng để xua đuổi nỗi sợ hãi… tiếp tục tạo ra các hình tướng và đi trước sự biến mất không thể tránh khỏi… {Người cung ba sợ sự biến mất của các hình tướng mà y đã đồng hóa… đối với người cung ba, hình tướng là sự sống… Đằng sau các hình tướng, Người thợ dệt đứng [1j] {Người thợ dệt đích thực là linh hồn và lặng lẽ dệt {với Thiên Cơ rõ ràng trong trí {Hãy học hỏi tâm thức khôn ngoan, nhận thức nhạy bén của Người thợ dệt, chỉ dệt những hình tướng mà Thiên Cơ cần cho sự biểu hiện đúng đắn… |
|
It is this enforced quiet which brings about the true alignment. [1k] {Towards the later stages of this process, we enter into the ACLRI Process… This is the quiet not of meditation but of living. [1l] {The second ray type achieved the alignment through pondering, meditation, reflection… but not the third ray type… a different kind of activity supervenes… Dispersing the Maya—-and becoming conscious of what one does, instead of doing it simply on the basis of habit or impulse… {Stop living noisily… Idle words will each produce effect… {If the third ray type follows Be still, an alignment with the soul will be produced… The aspirant upon the third ray is apt to waste much energy in perpetuating the glamourous forms with which he persistently surrounds himself. [2a] {This is not the magical process, because with true magic, there will not be a continued need for the creator to perpetuate what he has created… We have to trust that if the form created is useful, the environment which it is meant to serve will perpetuate it… How can he achieve his goal when he is ceaselessly running hither and thither—weaving, manipulating, planning and arranging? [2b] {futility of action. The goal is obscured in the activity engaged in to get to the obscured goal. Action takes the place of achievement of the objective… means becomes more important than the End… He manages to get nowhere. [2c] {All I have done leads nowhere… A frenzy of activity which blocks one’s own way by tangling oneself up in the energies one is using… or in the objects which one is perpetuating… Ever he is occupied with the distant objective, [2d] {there is an abstract tendency and not a realistic look at the immediate condition… he does not engage in the proper and profitable concrete steps along the way… The third ray type is ABSENT from the ‘here and now’, and is interested in the eventual and in the distant… which has to be better, so he thinks, than the here and now… with that which may {possibility thinking… materialise in some dim and distant future, [2e] {Neptune for vagueness… and he fails ever to achieve the immediate objective, [2f] {does not pay attention to details… the foundation cannot be built securely… He is often the expression and example of waste energy. [2g] {Michael-motion is not action… self-exhaustion can be the result… of waste activity, activity to no good plan or purpose… {The foolish milkmade—also the one who counted his chickens before they were hatched. This type does not PAY ATTENTION to the present… He weaves for the future, [2h] forgetting that his tiny bit of weaving is an intrinsic part of a great Whole [2i] and that time may enter in and frustrate-by change of circumstance-his carefully laid plans, and the dreams of earlier years, [2j] {man is not yet master of the science of cycles… and unpredicted cycles may enter in and frustrate… until there is All – Knowledge on the third subplane of the third systemic plane, the atmic, there will be insufficient knowledge to weave with full cognizance of all the energies and cycles involved… Therefore, futility is the result. [2k] {Not manifesting what has been planned… not achieving, not getting anywhere, being all over the place… |
Chính sự im lặng bị ép buộc này đã mang lại sự chỉnh hợp thực sự. [1k] {Đang hướng tới các giai đoạn sau của tiến trình ACLRI, chúng ta đang bước vào Tiến trình ACLRI… Đây là sự yên tĩnh không phải của tham thiền mà là của cuộc sống. [1l] {Người cung hai đạt được sự chỉnh hợp thông qua suy ngẫm, tham thiền, quán chiếu… nhưng người cung ba thì không… một loại hoạt động khác xuất hiện… Xua tan hay phân tán Maya, và trở nên ý thức về những gì mình làm, thay vì chỉ đơn giản làm vì thói quen hoặc sự thôi thúc… {Đừng sống ồn ào… Những lời nói tầm phào sẽ tạo ra hậu quả… {Nếu người cung ba thực hành “tĩnh lặng”, sự chỉnh hợp với linh hồn sẽ được tạo ra… Người chí nguyện trên cung ba có khuynh hướng lãng phí nhiều năng lượng vào việc duy trì các hình tướng ảo cảm mà y thường xuyên bao quanh mình. [2a] {Đây không phải là quá trình huyền thuật, bởi vì với huyền thuật thực sự, người sáng tạo sẽ không cần phải tiếp tục duy trì những gì mình đã tạo ra… Chúng ta phải tin tưởng rằng nếu hình tướng được tạo ra là hữu ích thì môi trường mà nó dự định phụng sự sẽ kéo dài nó… Làm thế nào y có thể đạt được mục tiêu của mình khi y không ngừng chạy đi chạy lại—thêu dệt, thao túng, lập kế hoạch và sắp xếp? [2b] {sự vô ích của hành động—mục tiêu bị che khuất trong hoạt động được thực hiện để đạt được mục tiêu bị che khuất—hành động thay thế cho việc đạt được mục tiêu… phương tiện trở nên quan trọng hơn Mục đích… Y không đi đến đâu cả. [2c] {Tất cả những gì tôi đã làm chẳng dẫn đến đâu… Một hoạt động điên cuồng cản trở con đường của một người, bằng cách mắc kẹt vào những nguồn năng lượng mà y đang sử dụng... hoặc vào những đối tượng mà y đang duy trì… Y luôn bận tâm đến mục tiêu xa xôi, [2d] {có một xu hướng trừu tượng và không có cái nhìn thực tế về tình trạng trước mắt… y không tham gia vào các bước cụ thể thích hợp và có lợi trên đường đi… Người cung ba vắng mặt ở “tại đây và bây giờ”, quan tâm đến cái cuối cùng và xa xôi… cái mà y nghĩ tốt hơn so với “ở đây và bây giờ”… với điều có thể {suy nghĩ khả năng… hiện thực hóa trong một tương lai mờ mịt và xa xôi nào đó, [2e] {Neptune cho sự mơ hồ… và y không bao giờ đạt được mục tiêu trước mắt, [2f] {không chú ý đến chi tiết… nền tảng không thể được xây dựng một cách an toàn… Y thường là biểu hiện và ví dụ về sự lãng phí năng lượng. [2g] {chuyển động không phải là hành động… sự kiệt sức có thể là kết quả… của hoạt động lãng phí, hoạt động không có kế hoạch hay mục đích tốt… {Cô gái bán sữa ngu ngốc —cũng như người đếm gà trước khi chúng nở. Những loại người này KHÔNG QUA TÂM đến hiện tại… Y dệt cho tương lai [2h] mà quên mất rằng công việc dệt nhỏ bé của y chỉ là một phần nội tại của Tổng thể vĩ đại, [2i] và thời gian có thể chen vào và phá vỡ — do sự thay đổi của hoàn cảnh — những kế hoạch đã được vạch ra cẩn thận cũng như những ước mơ của những năm trước đó của y. [2j] {con người chưa phải là bậc thầy về khoa học của các chu kỳ… và các chu kỳ không thể đoán trước được có thể xuất hiện và làm thất bại... cho đến khi có được quyền năng Toàn Tri thuộc cảnh giới phụ thứ ba của cõi hệ thống thứ ba, cõi atma, con người sẽ không có đủ kiến thức để dệt nên nhận thức đầy đủ về tất cả các năng lượng và chu kỳ liên quan… Do đó, kết quả là sự vô ích. [2k] {Không thực hiện được những gì đã hoạch định… không đạt được, không đi đến đâu, ở khắp nơi… |
|
{Forced quiet produced alignment… |
{Sự im lặng bắt buộc dẫn đến chỉnh hợp … |
|
To offset this, he must stand quiet at the centre and (for a time at any rate) cease from weaving; [2l] {cease from thinking, planning, speaking, creating forms… he must no longer make opportunities for himself but {cease theorizing and instead receive the impressions of truth, intuitively… —meeting the opportunities which come his way (a very different thing)—apply himself to the need to be met[i]. [3a] {Observing carefully the environment and detecting the need to be met and the opportunity to meet it—instead of rushing forth to generate new circumstance… a study of the circumstance that is and meeting it with well-ordered intelligent action… {This is the allowing of impression to get through to one’s consciousness instead of being deflected by all that activity and thought… Being sensitive to the NEED which the environment presents… This is a very different matter and [Page 361] swings into activity a very different psychology. [3b] {Waiting instead of rushing forth… When he can do this and be willing to achieve divine idleness (from the angle of a glamoured {the attitude which is incapable of perceiving truth, and which distorts truth… third ray attitude), he will discover that he has suddenly achieved alignment. [3c] {So much emphasis on the many and on variety that alignemt is particularly difficult for the third ray type to achieve… This alignment naturally produces a crisis which is characterised by two qualities: [3d] {Under soul-influence there will be a CLASH between the way of the soul and the way of the personality… a dissonance which is perceived as crisis… |
Để hóa giải điều này, y phải đứng yên ở trung tâm, và (ít nhất là trong một thời gian) ngừng dệt; [2l] {ngừng suy nghĩ, lập kế hoạch, nói năng, tạo hình tướng… y không còn phải tạo cơ hội cho mình nữa mà {ngưng lý thuyết và thay vào đó hãy nhận những ấn tượng về sự thật, bằng trực giác… mà—đáp ứng với những cơ hội đến với mình (một điều rất khác) —phải nỗ lực đáp ứng nhu cầu cần thiết. [3a] {Quan sát cẩn thận môi trường và phát hiện nhu cầu cần đáp ứng cũng như cơ hội để đáp ứng nó—thay vì lao vào tạo ra hoàn cảnh mới… nghiên cứu về hoàn cảnh hiện tại và đáp ứng nó bằng hành động thông minh được sắp xếp hợp lý… {Đây là việc cho phép ấn tượng đi vào tâm thức của một người thay vì bị chệch hướng bởi tất cả hoạt động và suy nghĩ đó… Nhạy cảm với NHU CẦU mà môi trường đưa ra… Đây là một vấn đề rất khác và [Trang 361] kích hoạt một tâm lý rất khác.. [3b] {Chờ đợi thay vì lao tới… Khi y có thể làm được điều này và sẵn sàng đạt được sự nhàn rỗi thiêng liêng (từ góc độ của thái độ ảo cảm của cung ba),{thái độ không có khả năng nhận thức sự thật và bóp méo sự thật… y sẽ khám phá ra rằng y đã bất ngờ đạt được sự chỉnh hợp. [3c] {Quá nhiều sự nhấn mạnh vào sự phong phú và đa dạng mà sự chỉnh hợp đặc biệt khó đạt được đối với người cung ba… Sự chỉnh hợp này tự nhiên tạo ra một cuộc khủng hoảng được đặc trưng bởi hai tính chất: [3d] {Dưới ảnh hưởng của linh hồn sẽ có sự Đụng độ giữa con đường của linh hồn và con đường của phàm ngã… một sự bất hòa được coi là khủng hoảng… |
|
{The Light has come in as a result of the crisis—the drawing near of the soul has produced soul light… and this light deepens the crisis. |
{Ánh sáng đã đến do cuộc khủng hoảng—sự tiếp cận của linh hồn đã tạo ra ánh sáng của linh hồn… ánh sáng này càng làm cho cuộc khủng hoảng trở nên sâu sắc hơn. |
|
{CLASH induces CRISIS. |
{XUNG ĐỘT gây ra KHỦNG HOẢNG. |
|
To offset this, he must stand quiet at the centre and (for a time at any rate) cease from weaving; he must no longer make opportunities for himself but—meeting the opportunities which come his way (a very different thing)—apply himself to the need to be met. This is a very different matter and [Page 361] swings into activity a very different psychology. When he can do this and be willing to achieve divine idleness (from the angle of a glamoured third ray attitude), he will discover that he has suddenly achieved alignment. This alignment naturally produces a crisis which is characterised by two qualities: |
Để hóa giải điều này, y phải đứng yên tại trung tâm và (dù sao trong một thời gian) chấm dứt việc dệt; y không còn phải tạo cơ hội cho bản thân nữa mà—đáp ứng những cơ hội đến với y (một điều rất khác)—áp dụng bản thân vào nhu cầu cần được đáp ứng. Đây là một vấn đề rất khác và [361] đưa vào hoạt động một tâm lý rất khác. Khi y có thể làm điều này và sẵn sàng đạt được sự nhàn rỗi thiêng liêng (từ góc độ của một thái độ cung ba đầy ảo cảm), y sẽ khám phá ra rằng y đã đột nhiên đạt được sự chỉnh hợp. Sự chỉnh hợp này tự nhiên tạo ra một cuộc khủng hoảng được đặc trưng bởi hai phẩm tính: |
|
{CLASH induces CRISIS… |
{XUNG ĐỘT gây ra KHỦNG HOẢNG. |
|
a. The quality of deep distress. [3e] This is a period of difficulty and of real concern because it dawns upon his consciousness how useless, relatively, are his weaving and his manipulations, and how much of a problem he presents to the other Weavers. |
a. Tính chất của sự đau khổ sâu sắc. [3e] Đây là một giai đoạn khó khăn và thực sự đáng lo ngại vì nó khiến y nhận ra rằng việc dệt và thao tác của y tương đối vô dụng như thế nào cũng như mức độ rắc rối mà y gây ra cho các Thợ dệt khác. |
|
{I am getting nowhere and making disturbing waves for others… hence I’m not appreciated… there is a lowering in one’s own estimation… |
{Tôi chẳng đi đến đâu và tạo ra làn sóng lo lắng cho người khác… do đó tôi không được đánh giá cao… sự đánh giá của chính tôi đang bị hạ thấp… |
|
b. The quality which might be expressed as the determination to stand in spiritual being and to comprehend the significance of the ancient aphorism, given frequently to third ray aspirants: [3f] {STAND STILL—Can one affirm one’s being through standing… perhaps… |
b. Tính chất có thể được biểu hiện như sự quyết tâm đứng vững trong bản thể tinh thần và hiểu được ý nghĩa của câu cách ngôn cổ xưa, thường được đưa ra cho những người chí nguyện cung ba [3f] {ĐỨNG YÊN—Liệu con người có thể khẳng định sự tồn tại của mình thông qua việc đứng yên… có lẽ… |
|
{With the second ray we were given six steps concerning that which light revealed… |
{Với cung hai, chúng ta được hướng dẫn sáu bước liên quan đến điều mà ánh sáng tiết lộ… |
|
“Cease from thy doing. {Be still… Walk not on the Path until thou hast learnt the art of standing still, {in this stillness you can receive a true impression of the next step… [3g] |
“Hãy ngừng làm việc của ngươi. {Hãy tĩnh lặng… Đừng đi trên Thánh đạo cho đến khi ngươi học được nghệ thuật đứng yên.{trong sự tĩnh lặng này bạn có thể nhận được ấn tượng thực sự về bước tiếp theo… [3g] |
|
Study the spider, brother, entangled not in its own web, as thou art today entangled in thine own.” [3h] |
Hỡi huynh đệ, hãy nghiên cứu con nhện, không vướng vào mạng lưới của nó như hôm nay ngươi đang vướng vào mạng lưới của mình.” [3h] |
|
{The spider is skilful in passing through and over the pattern (web) he has woven, and does not become entangled… |
{Con nhện rất khéo léo trong việc đi qua mạng lưới mà nó đã dệt và không bị vướng víu… |
|
This crisis evokes understanding, [3i] which is, as many will recognise, an aspect of light, {the Law of Repulse tells us what to DO about the crisis… {Light is thrown upon how the entanglement occurred through excessive activity and thoughtform generation… and form generation Light is cast upon the tangle… this will help {The distress of being futile evokes understanding of one’s entanglement and enmeshment The aspirant slowly begins to work with the Plan as it is, and not as he thinks it is. [3j] {We lay our thought upon reality… and then take our thought for the reality we have failed to perceive… As he works, {in the light of understanding revelation comes, and he sees clearly what he has to do. [3k] {in the larger context… Usually this entails first of all a disentangling and a release from his own ideas. {Unknotting of the Gordian Knot… This process takes much time, being commensurate with the time wasted in building up the agelong glamour. [3l] {The age long misinterpretation. The third ray aspirant is always slower to learn than the second ray, just as the first ray aspirant learns more rapidly than the second ray. {Analogy of the duration of solar systems based upon rays 1, 2, 3… How did we get ourselves in this tangle… how did I get all knotted up… When, however, he has learnt to be quiet and still, he can achieve his goal with greater rapidity. [4a] {When not entangled the third ray is the ‘ray of Speed’… The second ray aspirant has to achieve the quiet which is ever [Page 362] present at the heart of a storm or the centre of a whirlpool. [4b] {This is done through detachment and standing back from the storm-disengaging, abstracting… The still Center… The third ray aspirant has to achieve the quiet which is like to that of a quiet mill pond, {this is reflective of reality which had been repelled by activity… which he much dislikes to do. [4c] |
Cuộc khủng hoảng này gợi lên sự thấu hiểu, như nhiều người sẽ nhận ra, là một khía cạnh của Ánh Sáng. [3i] {Định luật Đẩy lùi cho chúng ta biết phải LÀM gì đối với cuộc khủng hoảng… {Ánh sáng chiếu lên sự vướng víu đã xảy ra như thế nào thông qua hoạt động quá mức và việc tạo các hình tư tưởng… và qua việc tạo ra các hình tướng. Ánh sáng chiếu lên mớ rối rắm… điều này sẽ giúp ích {Nỗi đau khổ vì vô ích gợi lên sự thấu hiểu về sự vướng mắc và vướng mắc của một người Người chí nguyện dần dần bắt đầu làm việc với Thiên Cơ như nó vốn là chứ không phải như y nghĩ. [3j] {Chúng ta áp đặt suy nghĩ của mình lên thực tại… và sau đó lấy suy nghĩ của mình thay cho thực tại, cái mà chúng ta đã không nhận thức được… Khi y làm việc, {dưới ánh sáng của sự thấu hiểu, sự mặc khải đến và y thấy rõ điều mình phải làm. [3k] {trong bối cảnh rộng hơn… Thông thường, điều này trước hết đòi hỏi sự tháo gỡ và giải phóng khỏi những ý tưởng của chính y. {Tháo nút Gordian… Quá trình này mất nhiều thời gian, tương xứng với thời gian lãng phí trong việc xây dựng ảo cảm lâu đời. [3l] {Sự giải thích sai lầm lâu đời. Người chí nguyện cung ba luôn học chậm hơn cung hai, cũng như người chí nguyện cung một học nhanh hơn cung hai. {Tương tự như thời gian quay của các hành tinh cung 1, 2, 3… trong hệ mặt trời. Làm sao tôi lại mắc kẹt vào mớ rắc rối này… làm sao tôi lại rối tung lên thế nay? Tuy nhiên, khi y đã học được cách im lặng và tĩnh lặng, y có thể đạt được mục tiêu của mình nhanh hơn. [4a] {Khi không bị mắc kẹt, cung ba là ‘cung của Tốc độ’… Người chí nguyện cung hai phải đạt được sự yên tĩnh vốn luôn hiện diện ở tâm bão hoặc tâm xoáy nước. [4b] {Điều này được thực hiện thông qua sự tách rời và đứng lùi lại khỏi cơn bão, tách rời, trừu xuất… Trung tâm tĩnh lặng… Người chí nguyện cung ba phải đạt được sự yên tĩnh giống như sự yên tĩnh của một hồ nước yên tĩnh, điều mà y rất không thích làm. {Đây là sự phản ánh yên tĩnh của thực tại, đã bị đẩy lùi bởi hoạt động… [ 4 c] |
|
{Enforced quiet… leading to alignment |
{Sự im lặng bắt buộc… dẫn đến chỉnh hợp |
|
{Alignment leading to the impression of the soul which reveals futility and the embarrassment embarrassment of being a trouble to others… This is a crisis… very uncomfortable… Being nowhere and all entangled and rebelling against this non accomplishment. |
Sự chỉnh hợp dẫn đến ấn tượng về linh hồn tiết lộ sự vô ích và sự bối rối, hoang mang khi làm phiền người khác… Đây là một cuộc khủng hoảng… rất khó chịu… Không đến đâu cả, tất cả đều vướng mắc… nổi loạn chống lại việc không thành tựu này. |
|
{As the soul draws nearer and as the one line is formed of the many, the light of understanding breaks forth… and in this light the method of disentanglement, a personal matter, is revealed… |
Khi linh hồn đến gần hơn và khi một đường được hình thành từ nhiều đường, ánh sáng của sự thấu hiểu chiếu vào… và trong ánh sáng này, phương pháp tháo gỡ, một vấn đề cá nhân, được tiết lộ… |
|
{And the slow disentanglement proceeds. |
Và quá trình tháo gỡ dần dần diễn ra. |
|
{And as it continues, the glamor and illusion subside, and a bigger picture is seen and it is revealed to the man what he must do within this larger context… he begins to sense a larger Plan and he seeks to cooperate with it… doing so in the quiet of living rather than running hither and thither… no more waste action… |
Và khi nó tiếp tục, ảo cảm và ảo tưởng lắng xuống, một bức tranh rộng lớn hơn được nhìn thấy, và nó tiết lộ cho con người biết y phải làm gì trong bối cảnh rộng lớn hơn này… y bắt đầu cảm nhận được một Kế hoạch lớn hơn và y tìm cách hợp tác với nó… làm như vậy trong cuộc sống tĩnh lặng hơn là chạy lăng xăng… không còn hành động lãng phí… |
|
{When like a mill pond, he is still and truly reflects the Plan, then integration of the soul’s energy system and the energy system of the personality occurs… |
{Khi giống như một mặt hồ phẳng lặng, y đứng yên và phản chiếu Thiên Cơ một cách chân thực, thì sự tích hợp giữa hệ thống năng lượng của linh hồn và hệ thống năng lượng của phàm ngã sẽ diễn ra… |
|
{Right and accurate interplay between the soul and personality and that which the soul knows becomes that which the personality also knowns… |
{Sự tương tác đúng đắn và chính xác giữa linh hồn và phàm ngã, và điều mà linh hồn biết sẽ trở thành điều mà phàm ngã cũng biết… |
|
Having, however, learned to do it, integration then takes place. The man stands ready to play his part. [4d] {In LIGHT, within the Divine Plan… |
Tuy nhiên, sau khi đã học được cách làm điều đó thì sự tích hợp sẽ diễn ra. Con người sẵn sàng đóng vai trò của mình. [4d] {Trong ÁNH SÁNG, trong Thiên Cơ… |
|
It is interesting to note that the first result {This is not the final but has some final implications… of the use of these three formulas can each be summed up in one word, for the sake of clarity. [4e] These words embody the first and simplest steps upon the way of at- one-ment. {some of the clearest… They embody the simplest aspects of the necessary technique. [4f] {Worth remembering when we need a summary… |
Thật thú vị khi lưu ý rằng kết quả đầu tiên {Đây không phải là kết quả cuối cùng, nhưng có một số hàm ý cuối cùng… của việc sử dụng ba công thức này có thể được tóm tắt trong một từ, vì mục đích làm cho rõ ràng. [4e] Những từ này thể hiện những bước đầu tiên và đơn giản nhất trên con đường hợp nhất. {một số điều rõ ràng nhất… Chúng thể hiện những khía cạnh đơn giản nhất của kỹ thuật cần thiết. [4f] {Đáng ghi nhớ khi chúng ta cần một bản tóm tắt… |
|
ray One… .. … .. … .. .. Inclusion. |
cung Một.……. Bao gồm. |
|
ray Two… .. … .. … .. … Centralisation. |
cung Hai.……. Tập trung hóa. |
|
ray Three… .. … .. … .. . Stillness. |
cung Ba.……. Sự tĩnh lặng. |
|
{These words though simple are epitomes and useful in remembering that which is definitely NECESSARY in each process… |
{Những từ này tuy đơn giản nhưng lại là những hình ảnh thu nhỏ và hữu ích trong việc ghi nhớ những điều chắc chắn CẦN THIẾT trong mỗi quá trình… |
|
The above will suffice for the Techniques of Integration of these three major rays. We will now take the formulas which will embody the Techniques of Integration for the four minor rays, and glimpse the possibilities which they may unfold. [4g] We will emphasize in connection with each of them the same five stages of the technique we are studying: [4h] |
Những điều trên sẽ đủ cho các kỹ thuật tích hợp ba cung chính này. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét các công thức thể hiện các kỹ thuật tích hợp cho bốn cung phụ và xem qua những khả năng mà chúng có thể bộc lộ. [4g] Chúng ta sẽ nhấn mạnh khi xem xét các kỹ thuật này, năm giai đoạn tương tự của kỹ thuật mà chúng ta đang nghiên cứu: [4h] |
|
1. Alignment. |
1. Chỉnh hợp. |
|
2. A crisis of evocation. {The soul is evoked… |
2. Một cuộc khủng hoảng gợi lên. {Linh hồn được khơi dậy… |
|
3. Light, {revealing the problem and the next step ahead |
3. Ánh sáng, {tiết lộ vấn đề và bước tiếp theo phía trước |
|
4. Revelation, {of the Plan… |
4. Sự mặc khải, {của Kế hoạch… |
|
5. Integration, {not only of the personality itself but of the personality With the soul. |
5. Sự tích hợp, {không chỉ của bản thân phàm ngã mà còn của phàm ngã Với linh hồn. |
|
At the same time, we will bear in mind that the alignment with which we have hitherto been occupying ourselves is that of a form of expression and that this is achieved through discipline, meditation, and service. [4i] {Contact with the soul… occasional contact… These Techniques of Integration, however, refer to the establishing of a continuity of consciousness, within the aligned forms. [4j] {Always knowing what is the soul’s perspective on whatever may be happening… what’s going on in the world of consciousness… And in any of the vehicles which are in alignment… So, this is leading to a Fusion of the consciousness of the soul with the consciousness of the personality, until they become one… Therefore we begin with alignment in these cases and do not end with it. [4k] |
Đồng thời, chúng ta sẽ ghi nhớ rằng sự chỉnh hợp mà chúng ta đang thực hiện cho đến nay chỉ là một hình thức thể hiện và điều này đạt được thông qua kỷ luật, tham thiền và phụng sự. [4i] {Tiếp xúc với linh hồn… thỉnh thoảng tiếp xúc… Tuy nhiên, những Kỹ thuật Tích hợp này đề cập đến việc thiết lập tính liên tục của tâm thức, trong các hình tướng chỉnh hợp. [4j] {Luôn biết quan điểm của linh hồn về bất cứ điều gì có thể xảy ra… điều gì đang diễn ra trong thế giới ý thức… Và trong bất kỳ hiện thể nào đang thẳng hàng… Vì vậy, điều này dẫn đến sự Hợp nhất ý thức của linh hồn với ý thức của phàm ngã, cho đến khi chúng trở thành một… Vì vậy, chúng ta bắt đầu bằng việc chỉnh hợp trong những trường hợp này và không kết thúc ở đó. [ 4k ] |
|
{END of TOIWC 9 EP II p. 363 |
{KẾT THÚC TOIWC 9 EP II p. 363 |
|
{Beginning of TOIWC 10 EP II p. 363 |
Bắt đầu TOIWC 10 EP II p. 363 |
Commentary
|
Hello friends. I had a little mishap there, the last program was truncated in the middle of ray three, what a fitting place for truncation 😊. It involved me in a tangle from which it was difficult for me to extricate myself. Suddenly there was no audio, and I was talking to the ethers 😊 Anyway, it still is a useful program, just about 35 minutes long, and I was in the middle of talking about the third ray stanza where the voice of the soul is speaking and telling |
Xin chào các bạn. Tôi đã gặp một chút trục trặc ở chương trình trước, chương trình đã bị cắt ở giữa cung ba, thật là một nơi thích hợp để cắt bớt 😊. Nó khiến tôi vướng vào một rắc rối mà tôi khó có thể thoát ra được. Đột nhiên không có âm thanh, và tôi đang nói chuyện với hư vô. 😊Dù sao, đây vẫn là một chương trình hữu ích, chỉ dài khoảng 35 phút, và tôi đang nói dở về Stanza của cung ba nơi linh hồn đang cất tiếng và nói |
||
|
Be still. Learn to stand silent, quiet, unafraid [1a] |
Hãy yên lặng. Học cách đứng im lặng, yên tĩnh và không sợ hãi [1a] |
||
|
And I talked about the connection of the sixth ray and the third ray, the fear that involves both, because both are so, in a way, attached to form. So, there needs to be an identification with something which is not of the form, but this is only hesitantly realized by the third ray type. |
Tôi đã nói về mối liên hệ giữa cung ba và cung sáu, nỗi sợ hãi liên quan đến cả hai cung, bởi vì, theo một cách nào đó, cả hai đều gắn liền với hình tướng. Vì vậy, cần phải có sự đồng hóa với một điều gì đó không thuộc về hình tướng, nhưng điều này người thuộc cung ba rất e ngại chấp nhận. |
||
|
I at the center am. [1b] |
Ta, ở trung tâm, hiện diện. [1b] |
||
|
The voice speaks, the voice of the soul, but maybe it will be disbelieved. There are so many lines of thought that the third ray type has created over the eons. So, once there is a belief in a particular center, what it needed here is a belief in the intangible center of existence, in this case the soul. |
Tiếng nói lên tiếng, tiếng nói của linh hồn, nhưng có thể con người sẽ không tin. Người cung ba đã tạo ra rất nhiều dòng suy nghĩ qua nhiều thời đại. Vì vậy, điều cần thiết ở đây là niềm tin vào trung tâm vô hình của sự tồn tại, trong trường hợp này là linh hồn. |
||
|
So, the third ray type is told now, |
Bây giờ, linh hồn cất tiếng. |
||
|
Look up [1c] |
Hãy nhìn lên [1c] |
||
|
And not simply into your own world of thought, look up and look in that which is often disbelieved. |
Không chỉ đơn giản là nhìn vào hay đi vào thế giới suy nghĩ của riêng bạn, hãy nhìn lên và nhìn vào trong, điều mà người ta thường không tin tưởng. |
||
|
I’m reminded a little bit of recent book by Stephen Hawking, very much on the fifth ray and third ray, and it seems a very expansive mind, dealing with that which is tangible and also with the mathematics of the tangible, and to a certain extent, with that which is etheric, but not with anything spiritual per se, or having to do with the higher planes. And he says really there’s no need for God. All of this could have been created without some supreme intelligence. It could have come along, I suppose, simply through the laws which exist. But who knows why they exist, if they were not created. Laws which exist and through the factor of chance. |
Tôi nhớ đôi chút về cuốn sách gần đây của Stephen Hawking, người rất nhiều về cung năm và cung ba, và đó dường như là một tâm trí rất rộng mở, đề cập toán học về những thứ hữu hình, và đến một ở một mức độ nhất định, với cấp độ dĩ thái, nhưng không liên quan đến bất cứ điều gì thuộc về tâm linh, hoặc liên quan đến các cõi giới cao hơn. Ông nói thực sự không cần có Chúa. Tất cả những điều này có thể đã được tạo ra mà không cần trí thông minh tối cao nào đó. Ông cho rằng nó có thể xảy ra đơn giản thông qua các Định luật tồn tại. Nhưng ai biết tại sao chúng tồn tại nếu chúng không được tạo ra? Định luật tồn tại và thông qua yếu tố may rủi. |
||
|
Anyway, it is difficult for the third ray and fifth ray type to look within and give any kind of credit to the existence of an inner center, and especially to the inner or invisible entities. There are certainly types of matter which are invisible to everything except our instruments. They should be invisible to our normal senses, and these the third ray and the fifth ray can believe in very but it’s a very, very mental bias, you might say, which discounts the reality of the intangible or that which appears to be unreasonable at the present point of development of thoughts. |
Rất khó để người cung ba và cung năm nhìn vào bên trong và có bất kỳ sự tin tưởng hay công nhận nào về sự tồn tại của một trung tâm bên trong, đặc biệt là đối với các thực thể bên trong hoặc vô hình. Chắc chắn có những loại vật chất không thể nhìn thấy được ngoại trừ qua các dụng cụ của chúng ta. Chúng vô hình đối với các giác quan bình thường của chúng ta, nhưng những điều này mà cung ba và cung năm có thể tin tưởng rất tốt, nhưng bạn có thể nói rằng đó là một thành kiến trí tuệ rất nặng nề, phủ nhận thực tế của những thứ vô hình hoặc những gì dường như có vẻ không hợp lý ở thời điểm phát triển tư tưởng hiện nay. |
||
|
Look up along the line and not along the many [1d] |
Hãy nhìn lên dọc theo đường thẳng chứ không phải dọc theo nhiều con đường [1d] |
||
|
What is that line? it’s obviously the antahkarana, look up along the antahkarana which leads to the intangible realities, and not along the many lines of speculative which you hope will lead to reality, which in the space of eons you have woven. You have woven many approaches to the fulfillment of your desires and you have created many speculations about the nature of reality. |
Đường thẳng đó là gì? Đó là đường antahkarana. Hãy nhìn lên theo đường antahkarana dẫn đến những thực tại vô hình, chứ không phải dọc theo nhiều con đường suy đoán mà bạn đã dệt ra và hy vọng sẽ dẫn đến thực tại. Những con đường đó bạn đã dệt nên trong không gian của vô số thời đại. Bạn đã dệt nên nhiều cách tiếp cận để thỏa mãn những ham muốn của mình và bạn đã tạo ra nhiều suy đoán về bản chất của thực tại. |
||
|
Look up along the line |
Hãy nhìn lên dọc theo đường thẳng |
||
|
The one line, and as I quoted before from the Blessed Ones: |
Một trích dẫn từ Cổ Luận (Blessed Ones) thích hợp ở đây: |
||
|
The rending of the blinding veil, the clear pronouncing of the truth, and practice right will render to the Blessed One that golden thread which will provide release from all the maze of earth existence.’” EPII 37 |
Việc xé bỏ bức màn che đậy, tuyên bố rõ ràng về sự thật và thực hành đúng đắn sẽ mang lại cho Đức Chân Phúc sợi chỉ vàng giúp giải thoát khỏi mọi mê cung của sự tồn tại trên trần gian.’” EPII 37 |
||
|
So, from the many, what are we being told, concentrate the many lines into the one line which can actually lead to the center, because the many lines have led only to ‘eccentricity’. let’s call it ‘eccentricity’ in a literal sense, out from or away from the center. These many lines like many ropes or threads hold you prisoner, and you are bewildered, and there is futility leading nowhere. [1e] |
Vì vậy, chúng ta được dạy, từ nhiều đường hãy tập trung lại vào một đường vốn thực sự có thể dẫn đến trung tâm, bởi vì nhiều đường chỉ dẫn đến ‘sự lệch tâm’. Tôi dùng từ ‘lệch tâm’ theo nghĩa đen, lệch khỏi trung tâm. Nhiều sợi dây này giống như những sợi dây trói buộc bạn, giữ bạn làm tù nhân, và bạn bối rối, bạn chẳng được dẫn đến đâu cả. [1e] |
||
|
DK warns against the following of obscure trails as if they could lead to truth. There are many dead ends. You may be climbing a mountain or in the wilderness, let’s say, and you see a trail or another trail, and you have to choose which one to go on, and some of those trails lead really nowhere. They’re just cul-de-sacs or dead ends, or they even may lead in a circle and bring you right back to where you started from. |
Chân sư DK cảnh báo về việc đi theo những lối mòn tối tăm vì chúng không dẫn đến sự thật. Có rất nhiều ngõ cụt. Chẳng hạn, bạn có thể đang leo núi hoặc ở nơi hoang dã, và bạn nhìn thấy một con đường nhỏ hoặc một con đường mòn khác, và bạn phải chọn con đường nào để đi tiếp, và một số con đường mòn đó thực sự chẳng dẫn đến đâu cả. Chúng chỉ là những ngõ cụt, hoặc thậm chí chúng có thể dẫn bạn đi theo một vòng tròn và đưa bạn quay trở lại nơi bạn đã xuất phát. |
||
|
So, you are held prisoner by the many, you will be released by the One. Let’s put it that way, |
Vì vậy, nhiều thứ đã giam hãm bạn thành tù nhân, và bạn sẽ được giải thoát bởi Cái Một. |
||
|
{held prisoner by the many and released by the one [1f] |
{Cái nhiều giam giữ và Cái Duy Nhất giải thoát bạn… [1f] |
||
|
And again |
|||
|
Be still [1g] |
|||
|
Again, there is this cautionary note sounded. It is an impressive mantram. Let’s just say, when you have a dog and you say, “sit!”, and the dog sits for a while, then becomes restless, starts to move, and we will say, “Sit, sit!” again. So, we’re speaking to our elemental nature here, the tendency of the vehicles to be in motion, |
Một lần nữa, lưu ý cảnh báo này vang lên. Đó là một câu mantram ấn tượng. Giả sử, bạn có một con chó và bạn ra lệnh, “Này, ngồi yên!”, con chó ngồi yên một lúc, sau đó trở nên bồn chồn, bắt đầu cử động, và chúng ta sẽ lại nói, “Ngồi yên!” lần nữa. Vì vậy, ở đây chúng ta đang nói đến bản chất hành khí của chúng ta, xu hướng chuyển động của các vận cụ hay các thể, |
||
|
Be still |
Hãy tĩnh lặng |
||
|
Again, I repeat |
Tôi lặp lại, lần nữa |
||
|
Be still |
Hãy tĩnh lặng |
||
|
Says the soul, and just as the 6th ray type runs straight to the periphery, the third ray type rushes. So, |
Linh hồn nói, và trong khi người cung sáu chạy thẳng đến ngoại vi thì người cung ba lại lao vòng quanh, |
||
|
{the sixth ray type runs to the periphery and the third ray type rushes around with no discernible order and goes into motion on the basis of impulse, |
{người cung sáu chạy thẳng đến vùng ngoại vi và người cung ba chạy quanh không có trật tự rõ ràng và bắt đầu chuyển động dựa trên xung lực, |
||
|
Goes into motion based on evasive impulse. |
bắt đầu chuyển động dựa trên xung lực, |
||
|
Be still, rush not from point to point [1h] |
Đừng vội vã từ điểm này sang điểm khác, [1h] |
||
|
In a chaotic and uncoordinated way. That’s the tendency. There are all these points that have to be covered and there’s no particular order in covering of them, point to point to point to point, depending on one’s impulse. It’s chaotic movement and it doesn’t accomplish anything. |
Một cách hỗn loạn và không có sự phối hợp. Đó là xu hướng. Có tất cả những điểm này phải được đề cập đến và không có thứ tự cụ thể nào trong việc đề cập đến chúng, hối hả từ điểm này tới điểm khác tùy theo sự thôi thúc của mỗi người. Đó là sự chuyển động hỗn loạn và không đạt đến điều gì cả. |
||
|
{One does not accomplish in the midst of all this chaos |
{Người ta không thể hoàn thành được giữa tất cả sự hỗn loạn này, |
||
|
No true pattern is built and no true relationship discovered. |
Không có khuôn mẫu thực sự nào được xây dựng và không có mối quan hệ thực sự nào được phát hiện. |
||
|
So, don’t rush about as if you had lost your sense of direction, breathlessly, fearfully, running from here to there. Don’t rush about in this way but rather have a more ordered process. “The love of the ordered process must control”[ii]. We have an ordered process, we know why we go from point to point, we are much more in control of it. |
Vì vậy, đừng hối hả như thể bạn đã lạc mất phương hướng—hổn hển, sợ hãi, chạy từ điểm này đến điểm khác. Đừng hối hả theo cách này mà hãy rgeo một quy trình có trật tự hơn. “Tình yêu quá trình trật tự phải kiểm soát”. Chúng ta có một quy trình có trật tự, chúng ta biết lý do tại sao chúng ta đi từ điểm này đến điểm khác, và chúng ta kiểm soát quá trình nhiều hơn. |
||
|
So, the whole idea of the frenzy[iii], frenzy of activity, let’s just say. The third ray is in such a close relation to sixth ray. The sixth ray type is what’s called ‘frenzied follower’, and the third ray type degenerates into a what we call ‘frenzy of activity’, and where is the room for wise or considered thought in the midst of all this? |
Vì vậy, chúng ta có thể nói toàn bộ ý tưởng là về sự điên cuồng (frenzy) của hoạt động. Người cung ba có mối quan hệ mật thiết với cung sáu. Người cung sáu được gọi là “người theo đuổi điên cuồng”, và người cung ba thoái hóa thành cái mà chúng ta gọi là “hoạt động điên cuồng”, và đâu là chỗ cho những suy nghĩ khôn ngoan hoặc cân nhắc giữa tất cả những điều này? |
||
|
Nor be deluded by the outer forms [1i] |
cũng đừng bị mê hoặc bởi những hình tướng bên ngoài |
||
|
Anything within the lower three worlds |
Bất cứ điều gì trong ba cõi thấp |
||
|
and that which disappears. |
và những gì biến mất. [1i] |
||
|
This is what makes the third ray type afraid of the vanishing of the forms with which he has identified. And we’ll put this here, |
Đây là điều khiến người cung ba sợ, y sợ sự biến mất của những hình tướng mà y đã đồng bao đời đồng hóa với. |
||
|
{The third ray type fears the vanishing of the forms with which he is identified… |
{Người cung ba sợ sự biến mất của những hình tướng mà y đã đồng hóa với… |
||
|
Because there’s so much connection with form—form is life, |
Bởi vì người cung ba có rất nhiều mối liên hệ với hình tướng—hình tướng là sự sống, |
||
|
{for the third ray type, form is life… |
{đối với người cung ba, hình tướng là sự sống… |
||
|
and even DK has used the term life in terms of vitality and activity. It is one of the expressions of life. |
Ngay cả Chân sư DK cũng đã sử dụng thuật ngữ sự sống trong ý nghĩa sinh lực và hoạt động. Đó là một trong những biểu hiện của sự sống. |
||
|
So, there is a great attachment to the forms which one has made, as if one can achieve one’s immortality is related to the perpetuation of forms which one has created. |
Vì vậy, có một sự gắn bó lớn lao với những hình tướng mà một người đã tạo ra, như thể người ta có thể đạt được sự bất tử của mình thông qua duy trì hình tướng. |
||
|
{như thể sự bất tử của một người có liên quan đến sự tồn tại của các hình tướng mà người ta đã tạo ra. |
|||
|
In other words, there is the constant sense of evanescence, of the vanishing of that which is apparently real, and humanity has this particular bias even now. Humanity knows that it as a form will disappear, and there is fear, fear about the disappearance of form, |
Nói cách khác, luôn có cảm giác phù du, về sự biến mất của những thứ dường như có thật, và nhân loại thậm chí còn có thiên kiến đặc biệt này ngay cả bây giờ. Nhân loại biết rằng hình tướng sẽ biến mất, và có sự sợ hãi về sự biến mất của hình tướng, |
||
|
{fear related to the disappearance of form, |
{sợ hãi liên quan đến sự biến mất của hình tướng, |
||
|
So, keep creating forms to ward off the fear. If you keep generating forms, you will be ahead of the disappearance, |
Vì vậy, hãy tiếp tục tạo ra các hình tướng để xua tan nỗi sợ hãi. Nếu bạn tiếp tục tạo ra các hình tướng, bạn sẽ đi trước sự biến mất, |
||
|
{keep generating forms and be ahead of the inevitable disappearance |
{tiếp tục tạo ra các hình tướng và đi trước sự biến mất không thể tránh khỏi |
||
|
So, do not let your consciousness be captured by the outer form. The Buddha of course having a very powerful third ray and sixth ray also helped to dissuade the people of his time and in later generations from attachment to that which disappears, because all that aggregates will deaggregate. There is no real security in that which must decompose. There is no aggregation in the world, the mosaic world, I call it, in the world of particles. There is no security there. It’s just a reflection of the true inner forms which are the archetypes. |
Vì vậy, đừng để tâm thức của bạn bị hình tướng bên ngoài cầm giữ. Tất nhiên, Đức Phật có cung ba và cung sáu rất mạnh mẽ đã giúp ngăn cản những người ở thời của Ngài và các thế hệ sau này không gắn bó với những gì vô thường, bởi vì tất cả các tập hợp uẩn đó sẽ tan rã. Không có sự an toàn thực sự trong cái sẽ phải phân hủy. Không có sự kết hợp nào trên thế giới, thế giới mà tôi gọi là thế giới của những mảnh ghép, thế giới của các hạt mà có sự an toàn ở đó. Nó chỉ là sự phản ánh của những hình tướng thực sự bên trong vốn là nguyên mẫu. |
||
|
It takes a while though for the third ray type to look within and find it to be reasonable to go there |
Tuy nhiên, phải mất một thời gian để người cung ba nhìn vào bên trong và thấy việc đi đến đó là hợp lý. |
||
|
Nor be deluded |
cũng đừng bị mê hoặc |
||
|
So, it’s so often the glamour of materiality, the glamour of the reality of the eighteen lower subplanes. This is what the third ray types suffer from, and even the number 18 sums to nine which is the cyclic number of the third ray. So, we have |
Đó là ảo cảm của vật chất, ảo cảm về thực tại của mười tám cảnh giới thấp. Đây là điều mà các người cung ba mắc phải, và thậm chí con số 18 cộng lại thành chín là số chu kỳ của cung ba. Vì vậy chúng ta có, |
||
|
{the glamour of the reality of the lower 18 subplanes, and only later does one realize they are not real but are deriviative of the True Platonic Forms in the archetypal worlds… |
{ảo cảm về thực tại của 18 cảnh giới thấp, và chỉ sau này người ta mới nhận ra rằng chúng không có thật mà chỉ bắt nguồn từ những hình tướng Plato đích thực trong thế giới nguyên mẫu… |
||
|
But first the consciousness is captivated by the tangible |
Nhưng trước hết tâm thức bị mê hoặc bởi cái hữu hình |
||
|
{the consciousness captivated by the tangible |
{tâm thức bị mê hoặc bởi cái hữu hình |
||
|
So, don’t be deluded by that which is outer but learn to look within about which disappears because |
Vì vậy, đừng bị lừa dối bởi những gì ở bên ngoài mà hãy học cách nhìn vào bên trong, về những gì đã biến mất bởi vì |
||
|
Behind the forms, the Weaver [1j] |
Đằng sau các hình tướng, Người thợ dệt.[1j] |
||
|
The true weaver who is the soul |
Người thợ dệt thực sự là linh hồn |
||
|
stands and silently he weaves |
đứng và lặng lẽ dệt |
||
|
Silently, with the Divine Plan clearly in mind, he weaves. So, |
Im lặng, với ý định rõ ràng về Thiên Cơ. Vì thế, |
||
|
{Learn the same wise, percipient, acute consciousness of the Weaver and weave only the forms which the Plan needs for its right expression… |
{Hãy học tâm thức sáng suốt, nhạy bén, minh triết của Người Thợ Dệt, chỉ dệt những hình tướng mà Thiên Cơ cần để thể hiện đúng đắn… |
||
|
So, it is almost interesting to me how very verbal and off of the mouth some Sagittarian touch can be, and how later it is said to be the sign of silence, the Stymphalian birds are killed, and the wild thought form generating activity is subdued, and there is this perceptive silence or silent perception of truth. It’s very much like the third ray and from this noisy excessive use of the throat center all the way to something quite different, a wide consciousness which is aware of all the many contributing threads to any situation, and the refusal to use the creative power of thought and of mind and of word to create any form but the kind of form which will be immediately useful in the expression of the Divine Plan. |
Vì vậy, tôi thấy rất thú vị về cách một số người cung Nhân Mã có thể rất nhiều lời và bộc trực, và sau này dấu hiệu này lại được cho là dấu hiệu của sự im lặng. Những con chim Stymphalian bị tiêu diệt, hoạt động tạo ra các hình thức tư tưởng hoang dã bị chế ngự, và đạt đến trạng thái im lặng thấu suốt hoặc nhận thức im lặng về chân lý. Điều này rất giống với cung ba, chuyển từ việc sử dụng trung tâm cổ họng quá mức và ồn ào sang một trạng thái hoàn toàn khác, một tâm thức rộng lớn nhận thức được tất cả các yếu tố góp phần vào bất kỳ tình huống nào, và từ chối sử dụng sức mạnh sáng tạo của suy nghĩ, của tâm trí và lời nói để tạo ra bất kỳ hình tướng nào ngoài những hình tướng hữu ích trực tiếp trong việc thể hiện Thiên Cơ. |
||
|
But it’s quite a journey, isn’t it, from the noisy inconsequential use of the throat center to a deliberate Saturnian magical uranusian use of the throat center for specific purpose only and towards a kind of silence which is very uncharacteristic of the early expression of the third ray. |
Nhưng đó quả là một cuộc hành trình, phải không, từ việc sử dụng trung tâm cổ họng một cách ồn ào, vụn vặt, đến việc sử dụng trung tâm cổ họng có chủ ý kiểu của Sao Thổ, kiểu huyền thuật của sao Thiên Vương, chỉ cho mục đích cụ thể và hướng tới một loại im lặng rất khác với biểu hiện ban đầu của cung ba. |
||
|
So, we’ve moved into a state of integration now when we can weave as the weaver weaves, and integrate all of our activities accordingly. |
Đến giờ chúng ta đã chuyển sang trạng thái Tích Hợp khi chúng ta có thể dệt như người thợ dệt và tích hợp tất cả các hoạt động của chúng ta cho phù hợp. |
||
|
I regret that I had to split the analysis here that I don’t want to go back and pretend that what was said earlier was not on target. Maybe at some point these can be put together and the little segue eliminated. What I’d like to do is to go here to Esoteric Psychology II, I suppose about page 360 or so. Yes, and I’d like to simply go over this section, says see what comes to mind, and then simply read it. |
Tôi lấy làm tiếc vì đã phải chia tách phần phân tích ở đây; tôi không muốn quay lại và giả vờ như những gì đã nói trước đó là không trúng trọng tâm. Có lẽ vào một lúc nào đó, những phần này có thể được ghép lại với nhau và đoạn chuyển tiếp nhỏ này được loại bỏ. Điều tôi muốn làm bây giờ là chuyển sang *Esoteric Psychology* II, tôi nghĩ là khoảng trang 360 hay gần đó. Vâng, và tôi chỉ muốn lướt qua phần này, xem điều gì nảy ra trong tâm trí, rồi sau đó đơn giản là đọc nó. |
||
|
Summary |
Tóm tắt về Stanza của Công Thức Tích Hợp cung ba |
||
Pulling the threads of life |
Kéo những sợi chỉ của sự sống |
||
|
The threads of life are the many qualities of energy, the many streams of energy coming on rapport with, many streams of energy applying them in a concrete form, objectified energies or applying them in a more subtle sense, as there are many who can pull in, let us say, subtle energies and somehow combine them. But anyway, having many, many energy types, vibrations, qualities, strands in hand, and I suppose in mind, in a way. |
Các sợi chỉ của sự sống chính là những phẩm chất năng lượng đa dạng, là những dòng năng lượng hội tụ, là những dòng năng lượng được áp dụng vào một hình tướng cụ thể, năng lượng được cụ thể hóa hoặc được sử dụng theo một cách tinh tế hơn, vì nhiều người có thể hấp thụ các năng lượng tinh tế và kết hợp chúng lại. Nhưng dù sao, có rất nhiều loại năng lượng, rung động, phẩm chất, sợi chỉ trong tay, và theo một cách nào đó là trong tâm trí. |
||
|
I’ve been doing this for a long time, millions of years. maybe not millions. It all depends when one can become a true third ray soul. I think millions of years are spent upon the rays of attributes before there is a widening out towards the rays of Aspect and a change of soul ray polarization. |
Tôi đã làm điều này trong một thời gian dài, hàng triệu năm. Có lẽ không phải hàng triệu. Tất cả đều phụ thuộc vào thời điểm người ta có thể trở thành một linh hồn cung ba thực sự. Tôi nghĩ rằng hàng triệu năm đã được dành cho các cung thuộc tính trước khi có sự mở rộng về phía các cung Trạng thái và có sự thay đổi về sự phân cực của cung linh hồn. |
||
|
But anyway, I’m all tangled up because I pulled so many threads in a wild and often irrational desire-prompted way. I’m all bound and entangled by the threads. I have pulled in many, many energies in the forms that I’ve created out of those energies, make it impossible for me to move, and of course the movement is what I love the most, being the third ray type. |
Nhưng dù sao, tôi cũng rối tung lên vì đã kéo quá nhiều sợi chỉ theo một cách hoang dã, thường là do ham muốn thúc đẩy. Tôi bị trói buộc và vướng víu bởi những sợi dây đó. Tôi đã kéo vào quá nhiều năng lượng, vào những hình tướng mà tôi tạo ra từ những năng lượng đó, khiến tôi không thể di chuyển, và tất nhiên, chuyển động là thứ tôi yêu thích nhất, vì là kiểu người cung ba. |
||
|
I stand tangled up, enmeshed, almost woven into my own fabric. I can’t disdentify from it. I stand enmeshed within my self-created glamour. Nobody did this to me. It’s my own irresponsible unplanned purposeless creativity, desire-prompted creativity that has done this, and it’s glamour because it distorts the vision of reality entirely. |
Tôi đứng chôn chân trong sự rối ren, vướng mắc, gần như bị dính vào chính tấm vải của mình. Tôi không thể tách biệt khỏi nó. Tôi đứng chôn chân trong ảo cảm do chính mình tạo ra. Không ai làm điều này với tôi. Chính sự sáng tạo vô trách nhiệm, thiếu kế hoạch và vô mục đích của tôi, sự sáng tạo được thúc đẩy bởi ham muốn đã gây ra điều này, và đó là ảo cảm bởi nó hoàn toàn bóp méo tầm nhìn về thực tại. |
||
|
I don’t know what’s real anymore because my own thoughts masquerade the real, or I take my own thoughts as the real. Surrounded am I by the fabric, by the thought-form substance which I have woven, by the chitta I have shaped in some way, woven into form, and also by the many forms of a more tangible kind which represents my thoughts, my ideas. |
Tôi không còn phân biệt được đâu là thật nữa bởi vì những suy nghĩ của chính tôi đã ngụy trang là thật, hoặc tôi coi những suy nghĩ của mình là thật. Tôi bị bao bọc bởi tấm vải, bởi vật chất do những hình thức tư tưởng mà tôi đã dệt nên, bởi chitta mà tôi đã định hình theo một cách nào đó, được dệt thành hình dạng, và cả bởi nhiều hình tướng khác mang tính hữu hình hơn, đại diện cho những suy nghĩ, ý tưởng của tôi. |
||
|
So, I’m surrounded by my many creations, by a lot of stuff. I’m surrounded by a lot of stuff or a lot of thoughts. I can even joke on all of my thoughts. [I hope I’m not telling the truth here and about myself 😊] |
Vì vậy, tôi đang bị bao quanh bởi vô vàn sáng tạo của mình, bởi rất nhiều thứ. Tôi bị bao quanh bởi rất nhiều thứ, hoặc rất nhiều suy nghĩ. Tôi thậm chí có thể đùa cợt về tất cả những suy nghĩ của mình. [Hy vọng tôi đang không nói sự thật về chính tôi.] 😊 |
||
|
Surround the mind by the fabric of thoughts and of more dense substance which I had woven and created, and I see nothing else. I don’t see reality… Maybe I love what I’ve made, but it’s not the thing in itself. I’m caught in the world of symbols, and the symbols I can’t interpret them. They don’t lead to reality. I’ve just made a lot of forms which are blocking the light of truth and the light of reality. They are repelling the intuition, and that I can’t apprehend the true patterns because I see so many of my rather ugly patterns, not knowing they are ugly. |
Bị bao bọc bởi tấm vải của những suy nghĩ, và bởi vật chất đậm đặc hơn do chính tôi dệt nên và tạo ra, tôi không thấy gì khác. Tôi không thấy thực tại… Có lẽ tôi yêu những gì mình tạo ra, nhưng nó không phải là bản chất của sự vật. Tôi bị kẹt trong thế giới của những biểu tượng, và tôi không thể giải thích ý nghĩa những biểu tượng đó. Chúng không dẫn đến thực tại. Tôi tạo ra rất nhiều hình tướng che khuất ánh sáng của chân lý và ánh sáng của thực tại. Chúng đẩy lùi trực giác, và tôi không thể nắm bắt được những kiểu mẫu thực sự vì tôi đang thấy quá nhiều kiểu mẫu khá xấu xí của mình, nhưng tôi không biết chúng xấu xí. |
||
|
The love of truth |
Tình yêu chân lý |
||
|
Is the voice or some receiver says. It’s not the man. It’s not the aspirant who’s in this mess, maya mess. The word mess is used for Maya, unthinking emotional mess. Mess is related to the third ray, mixing everything together. the fourth ray can help too, is the ray of the mix. |
Là tiếng nói của Linh hồn, không phải của người chí nguyện đang ở trong tình trạng lộn xộn này, trong mớ hỗn độn maya. Từ ‘mess’ mờ hỗn độn được dùng để chỉ Maya, tình trạng hỗn loạn về mặt cảm xúc không suy nghĩ. Sự lộn xộn có liên quan đến cung ba, trộn lẫn mọi thứ lại với nhau, và cung bốn cũng có thể giúp ích, đó là cung hỗn hợp. |
||
|
The love of truth must dominate |
Tình yêu chân lý phải thống trị |
||
|
So, it’s not how things are now. Truth comes from a higher world and represents a higher pattern which I did not make. Someone else made it. The Deity made it. I’m only interested in my own creativity and not in the creativity of the Deity at first. The Plan is the creativity of the Deity but I’m not interested in that. I’m just interested in my own wild creativity, unregulated creativity. |
Đó không phải mọi thứ như bây giờ là. Sự thật đến từ một thế giới cao hơn và đại diện cho một khuôn mẫu cao hơn mà tôi không tạo ra. Một ai đó khác đã làm điều đó. Thượng đế đã làm điều đó. Lúc đầu tôi chỉ quan tâm đến sự sáng tạo của chính tôi chứ không phải sự sáng tạo của Thượng đế. Thiên Cơ là sự sáng tạo của Thượng đế nhưng tôi không quan tâm đến điều đó. Tôi chỉ quan tâm đến sự sáng tạo hoang dã của riêng tôi, sự sáng tạo không bị điều tiết. |
||
|
The love of truth must dominate, not love of my own thoughts |
Tình yêu chân lý phải thống trị, không phải tình yêu tư tưởng của riêng mình |
||
|
Which make me think, at least, I’m doing something, and if I’m doing something I must be alive. And if I’m alive, I’m not dead, and I’m not fading away out of tangibility, and I’m not disappearing, the existential angst[iv] concerning annihilation or disappearance. In other words, if form exists, I am. If I make forms, I am and I persist because the forms are made are there, and even after I’m dead, I persist because somehow I lived through the forms I had created. We understand very human thinking in this respect. |
Điều đó khiến tôi nghĩ rằng, ít nhất tôi đang làm gì đó, và nếu tôi đang làm gì đó thì tôi hẳn phải còn sống. Và nếu tôi còn sống, tôi không chết, và tôi không mất đi tính hữu hình, tôi không biến mất, nỗi lo âu tồn tại liên quan đến sự hủy diệt hoặc biến mất. Nói cách khác, nếu hình tướng tồn tại, thì tôi tồn tại. Nếu tôi tạo ra các hình tướng, thì tôi tồn tại, và tôi tiếp tục tồn tại bởi vì các hình tướng được tạo ra vẫn còn đó, và ngay cả sau khi tôi chết, tôi vẫn tồn tại vì bằng cách nào đó tôi đã sống qua những hình tướng tôi đã tạo ra. Chúng ta hiểu cách suy nghĩ rất ‘con người’ ở khía cạnh này. |
||
|
The love of truth must dominate, not love of my own thoughts, or love of my ideas or forms; |
Tình yêu sự thật phải thống trị, không phải tình yêu những suy nghĩ của riêng tôi, hay tình yêu những ý tưởng hay hình tướng của tôi; |
||
|
Not real ideas here, but thoughts as I think they may represent ideas. And I work in the world of thought, and I work in the world of reality, maybe I even put certain things together on the astral plane as well. I’m busy arranging, rearranging according to my desire. I’m busy fabricating, you might say, a fabrication somehow meant to be a lie, and the third ray type is at first not known for its truthfulness, rather it fabricates, it makes things up. How I’d like to see this is, it’s not how things are, it’s how we represent things, and our attachment to how we represent things rather than how things are. |
Ở đây, không phải những ý tưởng thực sự, mà tôi nghĩ là những suy nghĩ, chúng có thể đại diện cho những ý tưởng. Tôi làm việc trong thế giới của suy nghĩ và tôi làm việc trong thế giới của thực tại, và tôi thậm chí còn kết hợp một số thứ nhất định lại với nhau trên cõi cảm dục. Tôi bận rộn sắp xếp, sắp xếp lại, theo ý muốn của mình. Tôi bận thêu dệt, và bạn có thể nói, thêu dệt có nghĩa là dối trá, và người cung ba lúc đầu không được biết đến vì tính trung thực của họ, mà đúng hơn là sự thêu dệt, thêu dệt mọi việc. Tôi muốn thấy những điều này như tôi muốn, không phải như chúng là, mà là cách tôi thể hiện sự vật, và sự bám chấp của chúng ta vào cách chúng ta thể hiện sự vật hơn là cách sự vật thật sự là. |
||
|
So, we almost consider the intrusion of the truth as unwelcome because it breaks up our own limited perceptions, and it threatens the thoughts we have created to preserve our own immortality. |
Do đó, chúng ta coi sự xâm nhập của sự thật là điều không mong muốn vì nó phá vỡ những nhận thức hạn chế của chính chúng ta, đồng thời nó đe dọa những suy nghĩ mà chúng ta đã tạo ra để bảo toàn sự bất tử của chính mình. |
||
|
The love of truth must dominate, not love of my own thoughts, or love of my ideas or forms; love of the ordered process must control, not love of my own wild activity |
Tình yêu sự thật phải thống trị, không phải tình yêu những suy nghĩ của riêng tôi, hay tình yêu những ý tưởng hay hình tướng của tôi; tình yêu của quá trình có trật tự phải kiểm soát, không phải tình yêu hoạt động hoang dã của riêng tôi |
||
|
A very seventh ray type of love, the love of sequential purposeful well-planned process, not wild activity, and that seventh ray must come in and somehow rescue the wildly entangled creative individual from his own creations. |
Một loại tình yêu của cung bảy, tình yêu của một quá trình có kế hoạch rõ ràng, có mục đích tuần tự, không phải hoạt động hoang dã, và cung bảy phải xuất hiện và bằng cách nào đó giải cứu cá nhân sáng tạo đang rối tung khỏi những sáng tạo của chính y. |
||
|
We know, in the magical process, we are in danger from our own creations unless we can liberate them from our own aura. They can drain away our vitality. They demand to be fed and they will take our energy. |
Chúng ta biết, trong quá trình huyền thuật, chúng ta gặp nguy hiểm từ những sáng tạo của chính mình trừ khi chúng ta có thể giải phóng chúng khỏi hào quang của chúng ta. Chúng có thể làm cạn kiệt sức sống của chúng ta. Chúng yêu cầu được nuôi dưỡng và chúng sẽ lấy năng lượng từ chính chúng ta. |
||
|
So, love of the ordered process instead of my wild activity must control, not love of my own wild activity making me think that somehow, I’m alive and therefore immortal because I am in motion. “I move therefore I am” 😊 |
Vì vậy, tình yêu dành cho quá trình có trật tự thay vì hoạt động hoang dã của tôi phải kiểm soát, chứ không phải tình yêu dành cho hoạt động hoang dã của chính tôi, khiến tôi nghĩ rằng bằng cách nào đó, tôi đang sống và do đó bất tử vì tôi đang chuyển động. “Tôi chuyển động nên tôi tồn tại”😊 |
||
|
I guess to some extent that’s true because the universe is a movement, is a pulsation, and the Absolute Be-ness has no movement. It simply is, has no parts. Without parts there can be no movement. That’s one thing to say about it, but probably the opposite is also true when dealing with the great paradox. |
Tôi đoán ở một mức độ nào đó điều đó đúng bởi vì vũ trụ là một chuyển động, là một xung động, và Bản thể Tuyệt đối không chuyển động. Nó đơn giản là vậy, không có bộ phận nào cả. Không có bộ phận thì không thể có chuyển động. Đó là một điều để nói về nó, nhưng có lẽ điều ngược lại cũng đúng khi giải quyết nghịch lý lớn. |
||
|
Anyway, the word from the soul goes forth, the word goes forth from soul to form, very good advice counteracts everything you’ve done before. Just stop, stop it. Just stop it. Be still. These are strong commanding words because your activities and your motions are just an obscuration of that which you seek to achieve, namely the truth. You obscure reality through your activity. |
Dù sao đi nữa, lời nói phát ra từ linh hồn, lời nói đi từ linh hồn đến hình tướng, lời khuyên hữu ích sẽ chống lại mọi điều bạn đã làm trước đây. Dừng lại, dừng lại. Đứng yên. Đây là những mệnh lệnh mạnh mẽ bởi vì các hoạt động và chuyển động của bạn chỉ che khuất điều mà bạn tìm cách đạt được, đó là sự thật. Bạn che khuất thực tại thông qua hoạt động của bạn. |
||
|
Learn to stand silent. |
Học cách đứng im lặng. |
||
|
Keep throat center in stillness, |
Giữ trung tâm cổ họng trong sự tĩnh lặng, |
||
|
quiet, |
yên tĩnh, |
||
|
Cause no commotion of disturbance |
Không gây náo loạn, xáo trộn |
||
|
unafraid. |
không sợ hãi. |
||
|
You’re afraid that if you cease acting you will cease to be. I’m looking at this as deeply, as essentially as I can, why is the third ray type afraid, why here’s the 6th ray type is afraid of getting lost and being excluded from the opposite polarity which is Heaven, and somehow being trapped on the outer periphery, excommunicated, you might say, the great penalty from the sixth ray church. |
Bạn sợ rằng nếu ngừng hành động, bạn sẽ ngừng tồn tại. Tôi đang nhìn nhận điều này một cách sâu sắc nhất có thể, tại sao người cung ba lại sợ hãi, tại sao người cung sáu ở đây lại sợ bị lạc lối và bị loại trừ khỏi cực đối diện là Thiên đường, và bằng cách nào đó bị mắc kẹt ở ngoại vi, bị vạ tuyệt thông, như bạn có thể nói, hình phạt lớn từ nhà thờ cung sáu. |
||
|
Learn to stand silent, quiet, and unafraid |
Học cách đứng im lặng, yên tĩnh và không sợ hãi |
||
|
As if somehow motion could calm your fears, and assess the situation as it is, rather than through the thoughts you put upon it. Be receptive. The mind like a spinning wheel, DK tells us in A treatise on White Magic, can cast off all who approach it. It’s not love, so it banishes the approaching one rather be receptive. With a barrage of words and thoughts, the mind is so filled that there can be no real receptivity in silence, because we have to be receptive to the center which we are and have not detected. The soul says, I am at the center. You didn’t know that I’m at the center. You were so engrossed, immersed, enmeshed in your own irresponsible creativity that you completely blinded yourself to what can only be appreciated in silence and quiet, and with the fear vibration subdued. |
Như thể bằng cách nào đó, chuyển động có thể xoa dịu nỗi sợ hãi của bạn. Hãy đánh giá tình hình theo thực tế, thay vì thông qua những suy nghĩ bạn áp đặt lên nó. Hãy tiếp nhận. Chân sư DK, trong Luận về Chánh Thuật, nói với chúng ta rằng tâm trí giống như một bánh xe quay, có thể loại bỏ mọi thứ tiếp cận nó[v]. Nó không phải là tình thương, vì vậy nó xua đuổi những gì tiếp cận thay vì tiếp nhận. Với một loạt các từ ngữ và suy nghĩ, tâm trí trở nên đầy ắp đến nỗi nó không thể thực sự tiếp nhận trong im lặng, bởi vì chúng ta cần phải tiếp nhận trung tâm bên trong của chúng ta, cái mà chúng ta thực sự là và chưa nhận ra. Linh hồn nói, tôi ở trung tâm. Bạn không biết rằng tôi là trung tâm. Bạn quá mải mê, đắm chìm trong sự sáng tạo vô trách nhiệm của chính mình đến mức bạn hoàn toàn mù quáng trước những gì chỉ có thể được nhận ra trong im lặng, tĩnh lặng và với rung động của sợ hãi bị khuất phục. |
||
|
Look up along the line |
Hãy nhìn lên dọc theo đường thẳng |
||
|
Which is now your connection to the center. Remember how that ray one line connected to the center. The ray one part of the process resolves the many into the One, and your many lines of approach to whatever you want to be, and even to what you thought the truth, all have to be gathered together, the many threads into one thread, into one strong cable which leads to the center. You are in desperate need of oneness. |
Đường thằng là kết nối của bạn với trung tâm. Hãy nhớ cách đường thẳng cung một đó kết nối với trung tâm như thế nào. Phân đoạn cung một của quá trình đưa cái nhiều thành Một, và nhiều đường lối tiếp cận của bạn với bất cứ điều gì mà bạn muốn, thậm chí với những gì bạn nghĩ là sự thật, tất cả phải được tập hợp lại với nhau, nhiều sợi chỉ thành một sợi, thành một sợi cáp chắc chắn dẫn đến trung tâm. Bạn đang rất cần sự hợp nhất. |
||
|
Many of us is born of the three, maybe in a way Pythagorean thought, it was born into two, but the two is one of the three, we learn. |
Nhiều người trong chúng ta được sinh ra từ bộ ba — có lẽ theo một cách nào đó là tư tưởng Pythagoras — được sinh ra trong bộ hai; nhưng chúng ta học rằng bộ hai ấy lại là một phần của bộ ba. |
||
|
So, bring the many together into the one and find the center. Look up along the line, the antahkaranic line, and not along your many lines of thought that really lead nowhere, which in the space of eons you have woven. You have tried to go this way, you try to go that way… And the sixth rays similar says, I try always, I try this way, and try these force that way… It’s very similar to the third ray in this respect. So, you can understand why the sixth ray does resolve—some of them—into the third ray types. |
Vì vậy, hãy tập hợp nhiều cái lại thành một và tìm ra trung tâm. Hãy nhìn lên dọc theo đường đó, đường antahkarana, chứ không phải dọc theo nhiều dòng suy nghĩ của bạn vốn thực sự chẳng dẫn tới đâu cả, những đường mà bạn đã dệt trong không gian của vô số kiếp. Bạn đã cố gắng đi theo hướng này, bạn cố gắng đi theo hướng kia… Người cung sáu cũng nói tương tự rằng, tôi luôn cố gắng, tôi cố gắng theo cách này, thử những mãnh lực này theo cách kia… Nó rất giống với cung ba về mặt này. Vì vậy, bạn có thể hiểu tại sao cung sáu—một số trong chúng— phân giải vào cung ba. |
||
|
So, find that one line which is the golden thread which leads through the maze which you have created with your own thought, or through your own interpretations of that which God has create. |
Hãy tìm đường thẳng là sợi chỉ vàng dẫn qua mê cung mà bạn đã tạo ra bằng suy nghĩ của chính mình hoặc thông qua những diễn giải của riêng bạn về điều mà Thượng đế đã tạo ra… |
||
|
In a way whatever God has created is utterly transparent when we achieve the intuition but not when we’re caught thotting all the time. I owe that to my friend Michael Weisenberger who’s a deep thinker from Australia. I’ll always remember the difference between thinking and thotting. |
Theo một cách nào đó, bất cứ điều gì Thượng đế đã tạo ra đều hoàn toàn trong suốt khi chúng ta đạt được trực giác, nhưng không phải khi chúng ta bị vướng vào việc suy tưởng liên miên suốt thời gian. Tôi nợ điều đó từ người bạn Michael Eisenberger của mình, một thức giả sâu sắc đến từ Úc. Tôi sẽ luôn nhớ sự khác biệt giữa tư duy và suy tưởng liên miên. |
||
|
These are many many lines that you have generated hold thee prisoner. |
Nhiều con đường mà bạn đã tạo ra giam giữ bạn. |
||
|
You’re held away from the real. You’re held in your own self created glamour and illusion. You are banished from reality, and you are the one who’s holding yourself there, because of all of your errant creations. You know how a knight errant may be often on the sixth ray rides off around a particular mission that it may lead nowhere, and it is also with the third ray speculation. I have a theory. what about your theory a week later? Did it lead anywhere? I’m reminded of Einstein. He works so hard, very much third ray of course. And he worked to create a unified field theory. it never really did work out for him, but there were times in his life, “A ha, I have it. I have it”, and he’d work on it, he work on it. I have it. And then maybe a week later—I don’t know, some time later—it disappeared. It was a trail that led nowhere, really. It was a kind of an intuition maybe that spawned the theory, but he couldn’t find his way. The path that he thought he was on didn’t lead there, and I’m sure that’s the experience of many creative thinkers. |
Bạn bị ngăn cách khỏi thực tại. Bạn bị giam hãm trong ảo cảm và ảo tưởng mà chính bạn tạo ra. Bạn bị tách rời khỏi thực tại và chính bạn là người giam giữ mình ở đó vì tất cả những sáng tạo sai lầm của bạn. Bạn biết một hiệp sĩ phiêu lưu, thường thuộc cung sáu, phiêu du khắp nơi vì một nhiệm vụ cụ thể nhưng có thể chẳng đi đến đâu, và điều đó cũng xảy ra với sự suy đoán của cung ba. Tôi có một lý thuyết, nhưng lý thuyết của bạn một tuần sau đó thì sao? Nó có dẫn tới đâu không? Tôi nhớ đến Einstein. Ông làm việc rất chăm chỉ, tất nhiên là rất nhiều. Ông nỗ lực tạo ra một lý thuyết trường thống nhất, và điều đó chưa bao giờ thực sự có kết quả với ông. Nhưng đã có lúc Ông reo lên, “A ha, tôi có nó rồi. Tôi có nó rồi”, và ông sẽ nỗ lực thực hiện nó. Tôi có nó. Và có lẽ một tuần sau—tôi không biết, một thời gian sau— nó biến mất. Đó thực sự là một con đường không dẫn tới đâu cả. Có lẽ một trực giác nào đó đã hình thành nên lý thuyết này, nhưng ông không thể tìm ra con đường của mình, và con đường mà ông nghĩ ông có không dẫn tới đó, và tôi chắc chắn đó là kinh nghiệm của nhiều nhà tư tưởng sáng tạo. |
||
|
So, your maniness holds you prisoner, and again admonition[vi] from the soul. |
Vì vậy, nhiều suy nghĩ của bạn đang giam giữ bạn. Và một lần nữa lời khuyên từ linh hồn. |
||
|
Be still and rush not from point to point |
|||
|
Because you’re rushing under the impulse of fear. There’s a certain breathlessness here. The throat center rules the lungs. It involves adrenaline, I suppose, related to the base of the spine in some way. It’s the fear of annihilation really, maybe that is the great existential fear, but if you’re so bound to form as the third ray types are bound to one type of form or another, what are you doing if they’re all gone? You cease to exist in your own eyes. |
Bởi vì bạn đang lao đi dưới sự thôi thúc của nỗi sợ hãi. Có một sự liều lĩnh nhất định ở đây. Tôi cho rằng trung tâm cổ họng điều khiển phổi, nó liên quan đến adrenaline, và theo một cách nào đó, liên quan đến đáy cột sống. Đó thực sự là nỗi sợ hãi về sự hủy diệt, có thể đó là nỗi sợ hãi về sự hiện tồn lớn nhất, nhưng nếu bạn quá bị ràng buộc vào hình tướng giống như các người cung ba bị ràng buộc vào một loại hình tướng này hay hình tướng khác, thì bạn sẽ làm gì nếu tất cả chúng đều biến mất? Bạn không còn tồn tại trong mắt bạn nữa. |
||
|
So, don’t rush chaotically from point to point with no real program or plan or sequence. There has to be instead love of the ordered process and proceed from point the next rational point, the next needed point, instead of just “I have all this to cover, here, here, here, here, here, here, and somehow through my activities will all get covered, things get done”. See, maybe there’s the difference between how seventh ray people pack a suitcase and how third ray people pack a suitcase. It may be scattered over the house with the things that have to be packed, not folded and put in an orderly manner in this suitcase, but thrown into the suitcase. Rush here rush there, gather this, gather that, …. throw it all in there. It is a mess but it’s all there… I am speaking from experience 😊 |
Vì vậy, đừng vội vàng chạy tán loạn từ điểm này sang điểm khác mà không có chương trình, kế hoạch hoặc trình tự thực sự. Thay vào đó, phải có tình yêu với quá trình có trật tự và tiến hành từ điểm này sang điểm hợp lý tiếp theo, điểm cần thiết tiếp theo, thay vì chỉ nghĩ “Tôi phải giải quyết tất cả những việc này, đây, đây, đây, đây, đây, đây, và bằng cách nào đó thông qua các hoạt động của tôi, mọi thứ sẽ được giải quyết, mọi việc sẽ được hoàn thành”. Có lẽ đó là sự khác biệt giữa cách người cung bảy đóng vali và cách người cung ba đóng vali. Đối với người cung ba, đồ đạc cần đóng gói có thể nằm rải rác khắp nhà, không được gấp lại và xếp gọn gàng vào vali, mà bị quăng vào vali. Vội vàng chỗ này, vội vàng chỗ kia, gom thứ này, gom thứ kia,… nhét tất cả vào đó. Nó lộn xộn nhưng mọi thứ đều có ở đó… Tôi đang nói từ kinh nghiệm của bản thân. 😊 |
||
|
Anyway, rush not from point to point, nor be deluded, misled by the apparent reality of other forms because they’re not real. You’re holding on to that which disappears. You’re thinking the most important thing is the tangible thing, but it’s not. It’s what’s behind the tangibility. It is to form the true form, the Platonic form, the standing wave of cosmic etheric energy within the world of being. This is the true form, but you don’t know about that. You’re deluded and you think that reality is what you see and it’s not. It’s something else. |
Dù sao đi nữa, đừng vội vã từ điểm này sang điểm khác, cũng đừng để bị ảo tưởng, đánh lừa bởi thực tế bề ngoài của những hình tướng bởi vì chúng không có thật. Bạn đang bám vào cái sẽ biến mất. Bạn nghĩ điều quan trọng nhất là những gì hữu hình, nhưng không phải vậy. Chính là những gì đằng sau sự hữu hình. Nó đối với hình tướng là hình tướng thực sự, các hình Platon, các sóng đứng của năng lượng dĩ thái vũ trụ đứng trong thế giới hiện hữu. Đây là hình tướng thực sự nhưng bạn không biết về điều đó. Bạn đang bị lừa dối và bạn nghĩ rằng thực tại là những gì bạn nhìn thấy nhưng thực tại không phải vậy. Đó là một cái gì đó khác. |
||
|
So, don’t try to hang on to that which disappears, go with the Buddha on this one. He’s the great third ray Monad with the sixth ray mind who is telling us that there’s no hope and hanging on to what appears to be tangible. |
Vì vậy, đừng cố bám vào những gì biến mất, hãy đồng hành cùng Đức Phật về vấn đề này. Ngài là Chơn thần cung ba vĩ đại với thể trí cung sáu, Ngài nói với chúng ta rằng không có hy vọng và bám chặt vào những gì có vẻ hữu hình. |
||
|
Behind the forms is where you should seek, the Weaver, the true soul stands, and cognizant of all the many energy threads, and how they must be precisely and artistically and elegantly woven together in order to create a manifestation that is in line with the Divine Plan. That the Weaver stand weaving in that way, not simply creating a lot of thought simply for the sake of creating thoughts. He knows he’s immortal and he is in alignment with the substance of the Plan, with the Plan as a particular pattern which must emerge. And he knows that in these lower worlds, he must take his fingers, his hands, his throat, his mind, and bring together that which must be brought together to provide the proper clothing or expression for that which must be. And his own lower thought forms generating powers will simply get in the way unless they are in perfect alignment with that which he sees must manifest in time and in space, entirely different perception. |
Đằng sau các hình tướng là nơi bạn nên tìm kiếm, Người thợ dệt, linh hồn thực sự đứng vững và nhận thức được tất cả những sợi chỉ năng lượng, cũng như cách chúng phải được dệt lại với nhau một cách chính xác, nghệ thuật và tinh tế để tạo ra một biểu hiện phù hợp với Thiên Cơ. Người Thợ Dệt dệt theo cách đó, không chỉ đơn giản là tạo ra vô số suy nghĩ chỉ vì mục đích tạo ra suy nghĩ. Người ấy biết mình bất tử và Người ấy hành động theo Thiên Cơ, phù hợp với Kế hoạch như một mô hình cụ thể cần xuất hiện. Người Thợ Dệt biết rằng trong những cõi giới này, Người ấy phải sử dụng ngón tay, bàn tay, cổ họng và tâm trí của mình để tập hợp những thứ cần thiết nhằm tạo ra bộ trang phục hoặc biểu hiện phù hợp cho những gì cần có. Và năng lực tạo ra những hình tư tưởng thấp hơn của Người Thợ Dệt sẽ chỉ đơn giản cản trở Người ấy trừ khi chúng hoàn toàn phù hợp với những gì Người ấy nhìn thấy cần biểu hiện trong thời gian và không gian. Đây là một nhận thức hoàn toàn khác biệt. |
||
|
And silently he weaves. |
Và lặng lẽ dệt |
||
|
It’s a very different psychology, and we see how far we’ve come from this ‘mad pulling entangles’ and all that to this beautiful, orderly, silent, all cognizing process of the Silent Weaver who is arranging all things in line with the Divine Plan without any sense of rush or hurry, but in a well-timed manner. Of course, Saturn is the main ruler of or the distributor of the third ray, and it is the planet of timing also. That’s the Mercury part, this rushing here and there. Mercury has, I think, a ray three personality, and I think ultimately a ray three monad, that’s my guess anyway, and is involved with going from here to there, and maybe irrationally. |
Đây là một tâm lý học rất khác biệt, và chúng ta thấy sự khác biệt biết bao giữa cách ‘kéo cuồng loạn và rối ren’ này để đến với quá trình nhận thức thầm lặng, trật tự, đẹp đẽ này của Người Thợ Dệt Thầm lặng, người đang sắp xếp mọi thứ theo Thiên Cơ mà không có cảm giác vội vàng hay gấp gáp, nhưng theo một cách thức được tính toán kỹ lưỡng. Tất nhiên, Sao Thổ là chủ tinh cai quản chính hoặc là người phân phối cung ba, và nó cũng là hành tinh của thời gian. Sự vội vàng thuộc về Sao Thủy. Sao Thủy, theo tôi nghĩ, có phàm ngã thuộc cung ba, và có lẽ cuối cùng có chân thần cung ba, đó chỉ là phỏng đoán của tôi, và nó liên quan đến việc di chuyển từ nơi này sang nơi khác một cách không hợp lý. |
||
|
So, in the beginning it is the Mercury part to which the frenzied thinker, the frenzied creator of thoughts, is responding. |
Vì vậy, ngay từ đầu, nhà tư tưởng cuồng nhiệt, người sáng tạo cuồng nhiệt, đã đáp ứng với phần thuộc Sao Thủy. |
||
|
Behind the forms the Weaver stand and silently he weaves. |
Đằng sau những hình tướng, Người thợ dệt đứng và lặng lẽ dệt. |
||
|
So, let me read this limb because it is after all I think important for humanity, intelligent humanity, which has been under the impression of this ray, for a long time… |
Vì vậy, hãy để tôi đọc lại Stanza này vì xét cho cùng, tôi nghĩ nó quan trọng đối với nhân loại, những con người thông minh, đã chịu ấn tượng của cung này trong một thời gian dài… |
||
|
This has been quite an experience, having the whole system go down about, I know, half hour into the process, then having to pick up the threads again, and discuss them. |
Đây quả là một trải nghiệm đáng kể, khi toàn bộ hệ thống bị sập vào khoảng, tôi biết là chừng nửa giờ sau khi quá trình bắt đầu, rồi sau đó lại phải nhặt lại các sợi dây và tiếp tục bàn luận. |
||
|
We have a very materialistic humanity at the moment and whatever the ray may be. the majority of personalities at the moment are either on the sixth ray or the third ray, hence the glamour and illusion. We are talking here about the third ray soul working through no matter what type of personality—it’s simply a subray— but it is a problem for humanity mistaking the form for the reality, and not understanding the relationship of the externalized form to that which externalized it. We have to through spiritual discernment trace the form back to its source, and then we will achieve a kind of spiritual abstraction which will allow us in a encompassing perspective which is a silent perspective to do what must be done to bring the energies together, which must manifest the Divine Plan as we understand it through our acute intelligence, that’s what we must learn to do. |
Hiện tại, chúng ta có một nhân loại rất vật chất bất kể họ ở cung nào. Phần lớn các phàm ngã hiện nay đều thuộc cung sáu hoặc cung ba, do đó có ảo cảm và ảo tưởng. Ở đây chúng ta đang nói về linh hồn thuộc cung ba đang hoạt động qua phàm ngã ở bất kể cung nào—nó chỉ đơn giản là một cung phụ—nhưng đó là vấn đề đối với nhân loại khi nhầm lẫn hình tướng với thực tại và không hiểu được mối quan hệ của hình tướng được biểu hiện đó với cái biểu hiện nó. Thông qua phân biện tinh thần, chúng ta phải truy tìm nguồn gốc của hình tướng, và sau đó chúng ta sẽ đạt được một kiểu trừu tượng tinh thần cho phép chúng ta có một quan điểm bao quát, một quan điểm im lặng để làm những gì phải làm để tập hợp các năng lượng lại với nhau, điều này phải thể hiện Thiên Cơ như chúng ta hiểu nó thông qua trí thông minh nhạy bén của mình, đó là điều chúng ta phải học cách làm. |
||
|
Well going back here. All right, so where are we, where we’re a little bit farther in and we’re about to see what DK says about all this. Let’s see what it is, he does say. So, now master DK’s interpretation here |
|||
|
It is this enforced quiet which brings about the true alignment. This is the quiet not of meditation but of living. The aspirant upon the third ray is apt to waste much energy in perpetuating the glamourous forms with which he persistently surrounds himself. How can he achieve his goal when he is ceaselessly running hither and thither—weaving, manipulating, planning and arranging? He manages to get nowhere. Ever he is occupied with the distant objective, with that which may materialise in some dim and distant future, and he fails ever to achieve the immediate objective. He is often the expression and example of waste energy. He weaves for the future, forgetting that his tiny bit of weaving is an intrinsic part of a great Whole and that time may enter in and frustrate—by change of circumstance—his carefully laid plans, and the dreams of earlier years. Therefore futility is the result. |
Chính sự im lặng bị ép buộc này đã mang lại sự chỉnh hợp thực sự. Đây là sự yên tĩnh không phải của tham thiền mà là của việc sống. Người chí nguyện trên cung ba có khuynh hướng lãng phí nhiều năng lượng vào việc duy trì các hình tướng ảo cảm mà y thường xuyên bao quanh mình. Làm thế nào y có thể đạt được mục tiêu của mình khi y không ngừng chạy đi chạy lại—thêu dệt, thao túng, lập kế hoạch và sắp xếp? Y không đạt đến đâu cả. Y luôn bận tâm đến mục tiêu xa xôi, với điều có thể thành hiện thực trong một tương lai mờ mịt và xa xôi nào đó, và y không bao giờ đạt được mục tiêu trước mắt. Y thường là biểu hiện và ví dụ về sự lãng phí năng lượng. Y dệt cho tương lai mà quên mất rằng công việc dệt nhỏ bé của y chỉ là một phần nội tại của Tổng thể vĩ đại, và thời gian có thể chen vào và phá vỡ — do sự thay đổi của hoàn cảnh — những kế hoạch đã được vạch ra cẩn thận cũng như những ước mơ của những năm trước đó của y. Vì vậy kết quả là sự vô ích.. |
||
|
It is this enforced quiet which brings about the true alignment [1k] |
Chính sự im lặng bị ép buộc này đã mang lại sự chỉnh hợp thực sự [1k] |
||
|
Now we’re toward the later stages of this process. We enter into the ACLRI process. We’ve seen what the problem is—rushing hither and thither and not listening to the words “Be still” but rushing from point to point. Now, we’re ready to realize through a new way of being, the work of the Silent Weaver, and also to identify with and become the Silent Weaver. We’re ready for that now, and we have not been in the past. So alignment. That’s the very first thing. |
Bây giờ, chúng ta đang hướng tới các giai đoạn sau của quá trình ACLRI. Chúng ta đang đi vào quá trình ACLRI. Chúng ta đã thấy vấn đề là gì—chạy tới lui, không nghe lời khuyên Hãy đứng yên, thay vào đó là lao từ điểm này sang điểm khác. Giờ đây, chúng ta đã sẵn sàng nhận ra công việc của Người Thợ Dệt im lặng thông qua một cách tồn tại mới, đồng thời cũng đồng nhất với và trở thành Người Thợ dệt im lặng. Bây giờ, chúng ta đã sẵn sàng cho điều đó, và trước đây chúng tôi chưa từng có. Do đó, sự Chỉnh Hợp. Đó là điều đầu tiên. |
||
|
This is the quiet not of meditation but of living [1l] |
Đây là sự yên tĩnh không phải của tham thiền mà là của cuộc sống [1l] |
||
|
So, very interesting because the second ray type achieves the alignment through pondering, meditation, reflection, but not the third ray. No, this is a different kind of activity, |
Do đó, đó là điều rất thú vị. Người cung hai đạt được sự chỉnh hợp thông qua suy ngẫm, tham thiền, phản chiếu, nhưng điều này không đúng cho người cung ba. Đây là một loại hoạt động khác, |
||
|
{a different kind of activity supervenes |
{một loại hoạt động khác xuất hiện |
||
|
And instead of rushing about, one actually sees through the unconsciousness of Maya. Maya is doing things for no reason, just doing. “Why did you do that?” “Just a habit. I don’t know what I do. I was unconscious of what I was doing…” So, this is dispersing the Maya and becoming conscious of what one does instead of doing it simply on the basis of habit or impulse. |
Và thay vì vội vã, người ta thực sự nhìn thấu được sự vô ý thức của Maya. Maya là làm những hàh động mà không có lý do, chỉ làm để mà làm thôi. “Tại sao bạn lại làm vậy?” Chỉ là một thói quen. Tôi không biết mình đã làm gì. Tôi vô ý thức về những gì mình đang làm. Vì vậy, điều này là phá bỏ Maya và trở nên ý thức về những gì mình đang làm, thay vì chỉ làm đơn giản dựa trên thói quen hoặc những xung động. |
||
|
So, what was it that created the alignment? Maybe the driving one pointedness of the first ray didn’t really say so, particularly what created that type of alignment. But for the second ray, meditation; for the third ray, the quiet of living. In other words, we’re told here or the souls is saying here, “Stop living noisily”. Many people in our civilization are running about, talking, creating idle words. there are selfish words and those hateful words as but the idle words can each produce effect[vii]… We are told idle words will each produce effect, and I suppose the third ray type at first with the throat center overstimulated talking all the time, or at least under the influence of Mercury is producing many idle, useless, non-applicable forms. |
Vậy, điều gì đã tạo nên sự chỉnh hợp ở đây? Có lẽ tính nhất tâm của cung một không giúp ích vào điều này. Với cung hai, đó là tham thiền; với cung ba, sự yên tĩnh của cuộc sống. Nói cách khác, chúng ta được bảo ở đây, hoặc linh hồn đang nói ở đây, “Đừng sống ồn ào nữa”. Nhiều người trong nền văn minh của chúng ta đang lăng xăng tới lui, nói chuyện, nói những lời vô tích sự. Có những lời nói ích kỷ và những lời thù hận, nhưng những lời nói vô tích sự đều có thể tạo ra hiệu quả… Chúng ta được biết những lời nói vô tích sự sẽ tạo ra hậu quả, và tôi cho rằng người cung ba, lúc đầu với trung tâm cổ họng bị kích thích quá mức, nói vu vơ, tầm phào mọi lúc, hoặc ít nhất dưới ảnh hưởng của sao Thủy đang tạo ra nhiều hình tướng vô tích sự, vô dụng, không áp dụng được. |
||
|
So, it is quiet, basically what DK is saying, if you follow, if the third ray type follows Be still, an alignment with the soul will be produced. |
Vì vậy, về cơ bản những gì Chân sư DK đang nói là hãy yên tĩnh, và nếu bạn tuân theo Hãy tĩnh lặng, sự chỉnh hợp với linh hồn sẽ được tạo ra. |
||
|
Now, we really are dealing with the aspirant here. We are moving from a difficult situation and the aspirant to get out of that situation. We’re moving into something quite different. |
Bây giờ, chúng ta thực sự đang đề cập đến người chí nguyện ở đây. Chúng ta đang di chuyển từ một tình huống khó khăn và mong muốn thoát khỏi tình huống đó. Chúng ta đang chuyển sang một điều gì đó hoàn toàn khác. |
||
|
The aspirant upon the third ray is apt to waste much energy in perpetuating the glamourous forms with which he persistently surrounds himself. [2a] |
Người chí nguyện trên cung ba có khuynh hướng lãng phí nhiều năng lượng vào việc duy trì các hình tướng ảo cảm mà y thường xuyên bao quanh mình. [2a] |
||
|
{This is not the magical process because with true magic, there will not be a continued need for the creator to perpetuate what he has created, |
{Đây không phải là quá trình huyền thuật vì với huyền thuật thực sự, người sáng tạo sẽ không cần tiếp tục duy trì những gì mình đã tạo ra, |
||
|
I keep on using the example here, the Beethoven’s fifth symphony is perpetuated by the love which others have for it, for Beethoven has long gone since 1827 or so, not been with us, unless he’s coming back, maybe in the great fourth ray age. He’s not perpetuating his form, and yet it is perpetuated. |
Tôi sẽ lấy ví dụ về bản giao hưởng số 5 của Beethoven để minh họa. Bản giao hưởng này tồn tại mãi mãi nhờ tình yêu của mọi người dành cho nó, bởi Beethoven đã qua đời từ năm 1827, không còn ở với chúng ta nữa, trừ khi ông ấy tái sinh, có lẽ là trong thời đại cung bốn vĩ đại. Ông ấy không còn duy trì sự tồn tại của bản giao hưởng, nhưng bản giao hưởng vẫn tồn tại. |
||
|
But other people say, “Oh, I created this. So, I have to keep it going, have to keep it going!”. “A failing business, I made it. It’s failing. I have to keep it going”, not learning how to detach from that which we have created. |
Tuy nhiên, nhiều người lại nói, “Ồ, tôi đã tạo ra thứ này. Vì vậy, tôi phải duy trì nó, phải tiếp tục duy trì nó!”. Giống như, “Đây là một doanh nghiệp đang thua lỗ. Tôi đã tạo ra nó và nó đang thất bại. Tôi phải duy trì nó”. Họ không học cách tách rời khỏi thứ mình đã tạo ra. |
||
|
So, we have to trust—a very difficult thing for the third ray for it isn’t as much have to trust—that if the form created is useful, the environment which it is meant to serve will perpetuate it, and one does not have to continue to invest one’s energies in lost causes, that’s the sixth ray type, or in useless forms, that’s the third ray type. |
Vì vậy, chúng ta cần phải tin tưởng—một điều rất khó khăn đối với người cung ba, vì nó không chỉ đơn giản là cần phải tin tưởng— rằng nếu hình tướng được tạo ra có ích, môi trường mà nó phục vụ sẽ duy trì nó, và người ta không cần phải tiếp tục đầu tư năng lượng vào những thứ vô ích, đó là với người cung sáu, hoặc vào những hình thức vô dụng, với người cung ba. |
||
|
How can he achieve his goal when he is ceaselessly running hither and thither—weaving, manipulating, planning and arranging? [2b] |
Làm thế nào y có thể đạt được mục tiêu của mình khi y không ngừng chạy đi chạy lại – thêu dệt, thao túng, lên kế hoạch và sắp xếp? [2b] |
||
|
This is the futility of action, I think, futility of action very much. |
Tôi nghĩ đây là sự vô ích của hành động, rất nhiều sự vô ích của hành động. |
||
|
He manages to get nowhere [2c] |
Y không đi đến đâu cả. [2c] |
||
|
Because it’s almost as if the sense of the true goal is missing, and the love of the activity to get to the goal takes place of the goal. The goal is obscured in the activity engaged in to get to the obscured goal, that action takes the place of achievement of the objective. So, the means becomes more important than the end. |
Bởi vì dường như cảm giác về mục tiêu thực sự đang thiếu vắng, và tình yêu dành cho hoạt động để đạt được mục tiêu đã thay thế cho mục tiêu đó. Mục tiêu bị che khuất trong hoạt động để đạt được mục tiêu bị che khuất đó, hành động thay thế cho việc đạt được mục tiêu. Vì vậy, phương tiện trở nên quan trọng hơn mục đích. |
||
|
He manages to get nowhere |
Y không đi đến đâu cả. |
||
|
Really the sense of futility hovers over the third ray type. In other words, |
Thực sự, cảm giác vô ích luôn bao trùm lên người thuộc cung thứ ba. Nói cách khác, |
||
|
{All I have done leads nowhere |
{Tất cả những gì tôi đã làm chẳng dẫn tới đâu |
||
|
That is, has done no good, has not achieved my end. I’ve thrown so much energy, so much money, so much activity into all this, and where am I? I have not achieved my goal because it’s not a well-planned progressive movement towards a clear objective, clearly held in mind, but rather of a frenzy of activity which blocks one’s own way, we can call it that, |
Nghĩa là chưa làm được điều gì, chưa đạt được mục đích của mình. Tôi đã ném quá nhiều năng lượng, quá nhiều tiền bạc, quá nhiều hoạt động vào tất cả việc này, và tôi đang ở đâu? Tôi chưa đạt được mục tiêu của mình bởi vì đó không phải là một tiến trình được lên kế hoạch kỹ càng, hướng tới một mục tiêu rõ ràng, có ý định rõ ràng, mà chỉ là một hoạt động điên cuồng cản trở con đường của chính mình. |
||
|
{a frenzy of activity which blocks one’s own way by tangling oneself up in the energies one is using or in the objects which one is perpetuating. |
{một hoạt động điên cuồng cản trở con đường của chính mình bằng cách tự vướng vào những nguồn năng lượng mà mình đang sử dụng hoặc vào những hình tướng mà mình đang duy trì. |
||
|
Ever he is occupied with the distant objective, [2d] |
Y luôn bận tâm đến mục tiêu xa xôi, [2d] |
||
|
Because he does have an abstract tendency and not a realistic look at the immediate condition, oftentimes bewildered by the actuality of the immediate, and hoping, wishing a bit like the sixth ray in this way for some grand climax to all of his activity. But he loses the way because he does not engage in the proper steps along the way. Let’s put that there, |
Bởi vì y có khuynh hướng trừu tượng và không có cái nhìn thực tế về tình trạng trước mắt, hoang mang trước thực tế của điều ngay trước mắt, và hy vọng, mong ước, một chút giống như cung sáu, về một đỉnh cao huy hoàng cho tất cả các hoạt động của mình. Nhưng y lạc lối vì không thực hiện các bước đúng đắn trên hành trình. |
||
|
{that he does not engage in the proper and profitable concrete steps along the way |
{y không thực hiện các bước cụ thể thích hợp và có lợi trên đường đi |
||
|
Of course, more highly developed type and one who has absorbed the other rays as kind of antidotes to the wildness of the third ray can move forward properly because the love of the ordered process has come into his life, and maybe some first ray come in and he can concentrate on the immediate next step instead of on the grand and glorious and distant horizon. |
Tất nhiên, người phát triển cao hơn và đã hấp thụ các cung khác như một loại thuốc giải cho sự hoang dã của cung ba có thể tiến lên một cách thích hợp bởi vì lòng yêu mến quy trình có trật tự đã xuất hiện trong cuộc sống của y, và có lẽ cung một xuất hiện và y có thể tập trung vào bước tiếp theo trước mặt thay vì hướng đến chân trời rộng lớn, vinh quang và xa vời. |
||
|
The word glory is associated with various of the rays, Glorious Creations is one connected with the third ray; the love of being Bound for Glory on the sixth ray. And the fourth ray has it too with “Let the Outer Glory pass away; and the beauty of the inner life reveal the One”. Then there is the second ray displayer of glory. Maybe we can find it in relation to all the rays, but some of them have a particular connection with concept of the full release, coherent and magnificent release of energy in a way that almost blinds, overcomes the senses of those who observe. |
Từ vinh quang được liên kết với nhiều cung khác nhau. Sáng tạo Vinh quang là một cụm từ liên kết với cung ba; tình yêu được ràng buộc vì vinh quang ở cung thứ sáu. Và cung bốn cũng có điều đó với câu “Hãy để Vinh quang Bên ngoài qua đi; và vẻ đẹp của đời sống nội tâm bộc lộ Đấng duy nhất”. Sau đó là sự phô bày vinh quang của cung hai. Có lẽ chúng ta có thể tìm thấy nó liên quan đến tất cả các cung, nhưng một số trong chúng có mối liên hệ đặc biệt với khái niệm giải phóng năng lượng đầy đủ, mạch lạc và tuyệt vời theo cách gần như làm mù mắt, lấn át giác quan của những người quan sát. |
||
|
So, there is this abstract thing looking into the great beyond, about what’s going on in cosmos, what’s going on in the higher planes, perhaps once a certain stage of evolution is reached, not what’s here, absent from the here, we might say. The third ray type is absent from the ‘here and now’ and is interested in the eventual and in the distant, which has to be better, so he thinks, than here and now. |
Vì vậy, có một sự trừu tượng nhìn vào thế giới bên kia, về những gì đang diễn ra trong vũ trụ, những gì đang diễn ra ở những cõi giới cao hơn, có lẽ một khi đạt đến một giai đoạn tiến hóa nhất định, không phải những gì ở đây, vắng mặt ở nơi chốn hiện tại này . Người cung ba vắng mặt ‘ở đây và bây giờ’ và quan tâm đến những gì cuối cùng và xa xôi, mà y nghĩ nó phải tốt hơn ‘ở đây và bây giờ’. |
||
|
So, we’ve never occupied with the distant objective. I mean you can imagine some of the great astrophysicists and philosophers sort of scanning the great abstract wondering about things. They can never touch but theorizing about them. What’s going on here? maybe I didn’t tie my shoelaces. Maybe I forgot to eat. Maybe I’m wearing one sock different from another sock, the sort of Einstein complex, pondering the great beyond and the world of energies, the world of higher thoughts and abstractions and ignoring the ‘here and now’, as DK says, hardly balancing, hardly bothering to balance his checkbook, as he says. |
Bạn có thể tưởng tượng một số nhà vật lý thiên văn và triết gia vĩ đại đang tìm kiếm sự trừu tượng vĩ đại và thắc mắc về mọi thứ. Họ không bao giờ có thể chạm vào nhưng lý thuyết về chúng. Những gì đang xảy ra ở đây? Có lẽ tôi đã quên buộc dây giày. Có lẽ tôi đã quên ăn. Có lẽ tôi đang mang hai chiếc tất khác màu, một dạng phức cảm Einstein, suy ngẫm về thế giới bên kia và thế giới năng lượng, thế giới của những suy nghĩ cao siêu và những điều trừu tượng, đồng thời phớt lờ ‘ở đây và bây giờ’, như Chân sư DK nói, hầu như không cân bằng được, hầu như không thèm cân đối sổ séc của mình, như Ngài nói. |
||
|
Ever he is occupied with the distant objective, with that which may materialise in some dim and distant future, [2e] |
Y luôn bận tâm đến mục tiêu xa xôi, với điều có thể thành hiện thực trong một tương lai mờ mịt và xa xôi nào đó, [2e] |
||
|
Given distant future, the word may be important because there is the possibility thinking in some dim and distant future. Here we have a bit of the Neptune for vagueness, don’t we? Neptune has a trident, it’s got a three-pronged end, it’s connected with the third ray and with matter—water, Neptune; water matter, third ray. Neptune for vagueness |
Tương lai xa xôi, từ này có thể quan trọng vì có khả năng suy nghĩ về một tương lai mờ mịt và xa xôi nào đó. Ở đây, chúng ta có một chút gì đó về Sao Hải Vương cho sự mơ hồ, đúng không? Sao Hải Vương có một chiếc đinh ba, có một đầu có ba mũi nhọn, được kết nối với cung ba và với vật chất—nước, vật chất; nước, sao Hải Vương, cung ba. Vâng, sao Hải Vương cho sự mơ hồ |
||
|
materialise in some dim and distant future, and he fails ever to achieve the immediate objective. [2f] |
với điều có thể thành hiện thực trong một tương lai mờ mịt và xa xôi nào đó, và y không bao giờ đạt được mục tiêu trước mắt. [2f] |
||
|
Because he just, what can we say, does not pay attention to details, and without that close attention to detail, the immediate path cannot be trodden, the immediate structure cannot be built, the foundation cannot be built securely. |
Bởi vì y không chú ý đến chi tiết, và nếu không chú ý đến chi tiết, không thể bước lên con đường trước mắt, cấu trúc trước mắt không thể được xây dựng, nền móng không thể được xây dựng một cách an toàn. |
||
|
He is often the expression and example of waste energy [2g] |
Y thường là biểu hiện và ví dụ về sự lãng phí năng lượng. [2g] |
||
|
I had a wonderful uncle and like a father to me, and he said, “Michael, motion is not action!” So, I guess I was displaying those tendencies in early days. |
Tôi có một người chú tuyệt vời, giống như một người cha của tôi, và ông thường nói: “Michael, chuyển động không phải là hành động!” Vì vậy, tôi đoán rằng tôi đã thể hiện những xu hướng đó trong những ngày đầu của cuộc đời. |
||
|
So, simply to be in motion does not mean that you are acting in any intelligent way which is going to take you toward your goal. In fact, it may inhibit the reaching of the goal. You may exhaust yourself. So, |
Vì vậy, chỉ chuyển động không có nghĩa là bạn đang hành động theo bất kỳ cách thông minh nào mà sẽ đưa bạn tới mục tiêu của mình. Trong thực tế, nó có thể cản trở việc đạt được mục tiêu. Bạn có thể kiệt sức. Vì thế, |
||
|
{self exhaustion can be the result of waste activity |
{kiệt sức có thể là kết quả của hoạt động lãng phí, |
||
|
Activity to no good plan or purpose. |
hoạt động không có kế hoạch hay mục đích tốt. |
||
|
He weaves for the future, [2h] |
Y dệt cho tương lai, [2h] |
||
|
How grand and glorious it will be |
Nó sẽ vĩ đại và huy hoàng biết bao |
||
|
forgetting that his tiny bit of weaving is an intrinsic part of a great Whole and that time may enter in and frustrate—by change of circumstance—his carefully laid plans, and the dreams of earlier years. [2i] |
Y dệt cho tương lai mà quên mất rằng công việc dệt nhỏ bé của y chỉ là một phần nội tại của Tổng thể vĩ đại, và thời gian có thể chen vào và phá vỡ — do sự thay đổi của hoàn cảnh — những kế hoạch đã được vạch ra cẩn thận cũng như những ước mơ của những năm trước đó của y. [2i] |
||
|
What’s the Scots phrase? … Man plans, and God laughs. It’s the story of the milkmaid, the foolish milkmaid, carrying her milk and planning her future. I will sell the milk, and then I will do this with the money, and this will lead me to this lesson… and she has a grand glorious future before her, and she trips and stumbles on a stone and spills all the milk. That’s the story of the foolish milkmaid, and there’s also another one about the one who counted his chickens before they were hatched, and the same kind of idea. Really one thing will lead to another lead to another lead to another. I’m scheming. I’m planning. I’m thinking of the distance, the distance that all bomb and I fail in the present and my whole concatenation, little chain of eventualities just vanishes in the air, ‘castles in the air’, Master Morya tells us, “We are tired of castles in the air”. |
Cụm từ tiếng Scotland mà người ta thường nói là “Kế hoạch của người, tiếng cười của Chúa.” Giống như câu chuyện về cô gái bán sữa, một cô gái ngốc nghếch, vừa đi bán sữa vừa lên kế hoạch cho tương lai. “Mình sẽ bán sữa, rồi sẽ dùng tiền này để làm điều này, làm điều kia, điều đó sẽ dẫn mình đến bài học này…” và cô ấy vẽ ra một tương lai rực rỡ trước mắt, nhưng rồi vấp phải hòn đá, ngã nhào và đổ hết sữa. Đó chính là câu chuyện về cô gái bán sữa ngốc nghếch. Và cũng có một câu chuyện khác về người đàn ông đếm gà trước khi nở. Ý tưởng của cả hai câu chuyện đều giống nhau: Dự tính xa xôi, cho rằng việc này sẽ dẫn đến việc khác, việc khác sẽ dẫn đến việc khác nữa. Tôi đang toan tính, đang lên kế hoạch, đang nghĩ về tương lai xa xôi, kết quả là tôi thất bại ngay tại hiện tại, và cả chuỗi dự định, chuỗi sự kiện nối tiếp nhau của tôi tan biến mất, “lâu đài trên không trung”, như Chân sư Morya nói, “Chúng tôi đã quá mệt mỏi với những lâu đài trên không trung”.. |
||
|
those who are always building for the future |
những người luôn xây dựng cho tương lai |
||
|
This type does not pay attention to the present. Of course, this can be modified depending there’s a more material part of the Third ray which really sticks to business as it were, and if the other rays are there to assist, then all the plans can materialize because sufficient caution in the present moment is taken. |
Nhưng không chú ý đến hiện tại. Tất nhiên, điều này có thể được sửa đổi, nó tùy thuộc vào việc có một phần tính vật chất hơn của Cung ba thực sự gắn bó với công việc kinh doanh, và nếu các cung khác cũng ở đó để hỗ trợ, thì tất cả các kế hoạch có thể thành hiện thực vì có quan tâm thận trọng đầy đủ đến hiện tại. |
||
|
He weaves for the future, forgetting that his tiny bit of |
Y dệt cho tương lai mà quên mất rằng công việc dệt nhỏ bé của y chỉ là một phần nội tại của Tổng thể vĩ đại, |
||
|
It’s just his own. He forgets that there’s a Weaver behind the entire process, and he’s not identified with that. It’s just his own weaving |
Nó chỉ là của riêng y. Y quên rằng có một Người Thợ Dệt đằng sau toàn bộ quá trình, và y không đồng hóa với điều đó. Đó chỉ là sự dệt của riêng y. |
||
|
his tiny bit of weaving is an intrinsic part of the great whole |
công việc dệt nhỏ bé của y chỉ là một phần nội tại của Tổng thể vĩ đại, |
||
|
If you’ve got a business plan, if you’ve got a game plan, what’s your strategy, all that? |
Nếu bạn có một kế hoạch kinh doanh, nếu bạn có một kế hoạch trò chơi, chiến lược của bạn là gì, tất cả những điều đó? |
||
|
It is an intrinsic part of the great whole and that time may enter in and frustrate—by change of circumstance—his carefully laid plans, and the dreams of earlier years. [2j] |
và thời gian có thể chen vào và phá vỡ — do sự thay đổi của hoàn cảnh — những kế hoạch đã được vạch ra cẩn thận cũng như những ước mơ của những năm trước đó của y. [2j] |
||
|
man is not yet Master of the science of cycles, and unpredicted cycles may enter in and frustrate. So, |
Con người vẫn chưa phải là bậc thầy về khoa học chu kỳ, và những chu kỳ không lường trước được có thể xâm nhập và gây thất vọng. Vì thế, |
||
|
{until there is all knowledge on the third subplane of the third systemic plane, the Atmic, there will be insufficient knowledge to weave with full cognizance of all the energies and cycles involved |
{cho đến khi có quyền năng Toàn Tri trên cảnh giới phụ thứ ba của cõi thứ ba, cõi Atma, sẽ không có đủ kiến thức để dệt nên nhận thức đầy đủ về tất cả các năng lượng và chu kỳ liên quan |
||
|
Therefore futility is the result. [2k] |
Vì vậy kết quả là sự vô ích. [2k] |
||
|
That we are not manifesting what has been planned, not achieving, not getting anywhere, and being, as they say, all over the place, but finally getting aware of accomplishing nothing. |
Chúng ta không thể hiện những gì đã được lên kế hoạch, không đạt được, không đi đến đâu, và như người ta nói, ở khắp mọi nơi, nhưng cuối cùng nhận ra rằng mình chẳng đạt được gì cả. |
||
|
so let us see can this be antidote it, and this be offset… And yes, here DK is wrapping this all up for us. Let’s see if we can get this far in this particular over the extended program. |
Chúng ta hãy xem liệu đây có phải là thuốc giải không, và điều này có thể hóa giải được không… Vâng, Chân sư DK đang gói gọn tất cả những điều này cho chúng ta. |
||
|
To offset this, he must stand quiet at the centre and (for a time at any rate) cease from weaving; he must no longer make opportunities for himself but—meeting the opportunities which come his way (a very different thing)—apply himself to the need to be met. This is a very different matter and [Page 361] swings into activity a very different psychology. When he can do this and be willing to achieve divine idleness (from the angle of a glamoured third ray attitude), he will discover that he has suddenly achieved alignment. This alignment naturally produces a crisis which is characterised by two qualities: |
Để hóa giải điều này, y phải đứng yên ở trung tâm, và (ít nhất là trong một thời gian) ngừng dệt; y không còn phải tạo cơ hội cho mình nữa, mà—đáp ứng với những cơ hội đến với mình (một điều rất khác) —phải nỗ lực đáp ứng nhu cầu cần thiết. Đây là một vấn đề rất khác và [Trang 361] kích hoạt một tâm lý rất khác. Khi y có thể làm được điều này và sẵn sàng đạt được sự nhàn rỗi thiêng liêng (từ góc độ của thái độ ảo cảm của cung ba), y sẽ khám phá ra rằng y đã bất ngờ đạt được sự chỉnh hợp. Sự chỉnh hợp này đương nhiên tạo ra một cuộc khủng hoảng được đặc trưng bởi hai đặc điểm: |
||
|
To offset this, he must stand quiet at the centre and (for a time at any rate) cease from weaving; [2l] |
Để hóa giải điều này, y phải đứng yên ở trung tâm và (ít nhất là trong một thời gian) ngừng dệt; [2l] |
||
|
Cease from thinking, planning, speaking, creating forms. We already saw that the forced quiet produced alignment, and in this quietude, there will come a crisis, there was an alignment and as a result of the alignment, there were coming crisis. |
Ngừng suy nghĩ, lập kế hoạch, nói năng, tạo các hình tướng. Chúng ta đã thấy rằng sự im lặng bị ép buộc tạo ra sự chỉnh hợp, và trong sự im lặng sẽ dẫn đến khủng hoảng, có sự chỉnh hợp và kết quả của sự chỉnh hợp là khủng hoảng sắp xảy ra. |
||
|
he must no longer make opportunities for himself |
y không còn phải tạo cơ hội cho mình nữa |
||
|
DK asked us to make crises for ourselves, but this is different. This is out there in the field of business, trying to drum up business[viii] by making opportunities. They’re doing this and that which will bring advantage to you, and this would also work out in the realm of thought. To cease theorizing and receive the impression of truth |
Chân sư DK yêu cầu chúng ta tự tạo ra những khủng hoảng cho chính mình, nhưng điều này thì khác. Trong lĩnh vực kinh doanh, con người cố gắng thúc đẩy hoạt động kinh doanh bằng cách tạo ra các cơ hội. Họ làm điều này điều kia sẽ mang lại lợi ích cho họ, và điều này cũng sẽ có tác dụng trong lĩnh vực tư tưởng. Nhưng hãy ngừng lý thuyết và tiếp nhận ấn tượng về sự thật. |
||
|
{cease theorizing and instead receive the impressions of truth intuitively |
{ngưng lý thuyết và thay vào đó hãy tiếp nhận những ấn tượng về sự thật bằng trực giác |
||
|
but—meeting the opportunities which come his way (a very different thing)—apply himself to the need to be met. [3a] |
mà—đáp ứng với những cơ hội đến với mình (một điều rất khác) —phải nỗ lực đáp ứng nhu cầu cần thiết. [3a] |
||
|
So, observing carefully the environment and detecting the need to be met, the opportunity to meet it, instead of rushing forth to generate new circumstances… It’s a study of the circumstance that is and meeting it with a well-ordered intelligent action. |
Vì vậy, hãy quan sát cẩn thận môi trường và phát hiện nhu cầu cần đáp ứng, cơ hội để đáp ứng nó, thay vì lao vào tạo ra hoàn cảnh mới. Đó là nghiên cứu về hoàn cảnh hiện tại và đáp ứng nó bằng một hành động thông minh có trật tự. |
||
|
This is a very different matter and [Page 361] swings into activity a very different psychology [3b] |
Đây là một vấn đề rất khác và [Trang 361] kích hoạt một tâm lý rất khác. [3b] |
||
|
Waiting instead of rushing forth. |
Hãy chờ đợi thay vì lao tới. |
||
|
Now, DK has not really given the integrative word for the sixth ray. I’ve suggested Restraint, and one of my associates, exactly Lansdowne, has suggested Dissociation. I think is a good point and DK does mention the need for the sixth ray to dissociate himself from the objects of his devotion. But here there is a kind of a dissociation from the tendency to generate new circumstances, filled with new opportunities, but instead to be more sensitive. Now, how it is the first ray type has to be sensitive, the third ray type has to be sensitive, to allow the reception of impression to get through all of that usual flurry of activity, |
Đến hiện tại, DK chưa thực sự đưa ra từ ngữ Tích Hợp cho cung sáu. Tôi đã đề xuất Kiềm chế, và một trong những cộng sự của tôi, chính xác là Lansdowne, đã đề xuất Tách ra (Disassociationi). Tôi nghĩ đó là một điểm tốt và Chân sư DK có đề cập đến sự cần thiết của người cung sáu tách mình ra khỏi các đối tượng sùng tín của mình. Nhưng ở đây có một sự tách rời khỏi xu hướng tạo ra những hoàn cảnh mới, những cơ hội mới, nhưng thay vào đó lại trở nên nhạy cảm hơn. Bây giờ, người cung một phải nhạy cảm như thế nào, người cung ba phải nhạy cảm như thế nào, để cho phép việc tiếp nhận ấn tượng vượt qua tất cả hoạt động sôi nổi thông thường đó, |
||
|
{this is the allowing of impression to get through to one’s consciousness instead of being deflected by all that activity and thought |
{đây là việc cho phép ấn tượng đi vào tâm thức của một người thay vì bị chệch hướng bởi tất cả hoạt động và suy nghĩ đó |
||
|
Sometimes we can be so very busy, so generative of forms that the real truth can’t get through, and the real need of the environment, even the reality of the environment, just can’t be get through. |
Đôi khi chúng ta có thể quá bận rộn, tạo ra quá nhiều hình tướng đến mức không thể hiểu được sự thật thực sự và nhu cầu thực sự của môi trường, thậm chí cả thực tế của môi trường cũng không thể hiểu được. |
||
|
Standing still and allowing true impression |
Đứng yên lặng và cho phép ấn tượng thực sự |
||
|
And also becoming sensitive to the need which the environment presents… |
Và cũng trở nên nhạy cảm với nhu cầu mà môi trường đưa ra… |
||
|
This is a very different matter and [Page 361] swings into activity a very different psychology. When he can do this and be willing to achieve divine idleness (from the angle of a glamoured third ray attitude), [3c] |
Đây là một vấn đề rất khác và [Trang 361] kích hoạt một tâm lý rất khác. Khi y có thể làm được điều này và sẵn sàng đạt được sự nhàn rỗi thiêng liêng (từ góc độ của thái độ ảo cảm của cung ba), [3c] |
||
|
The attitude which is incapable of perceiving truth, and which distorts truth |
Thái độ không có khả năng nhận thức sự thật và bóp méo sự thật |
||
|
he will discover that he has suddenly achieved alignment |
y sẽ khám phá ra rằng y đã bất ngờ đạt được sự chỉnh hợp |
||
|
We said a lot about alignment, he is so much going along the many lines that alignment must be difficult for the third ray type to achieve. So, |
Chúng ta đã nói rất nhiều về sự chỉnh hợp, y đi theo nhiều con đường đến mức sự chỉnh hợp chắc hẳn là khó khăn đối với người cung ba. Vì thế, |
||
|
{there’s so much emphasis on the many and on variety that alignment is particularly difficult for the third ray types to achieve |
{có quá nhiều sự nhấn mạnh vào tính đa dạng đến nỗi sự chỉnh hợp đặc biệt khó đạt được đối với những người thuộc cung ba. |
||
|
Sometimes, you know can the third ray type achieve sacrifice because there’s all so many ways of getting out of the slipping away from the need to sacrifice. The second ray type has the third ray petal unfold more slowly, the first ray type has the love petal unfold more slowly, and the third ray type, I think, has the sacrifice petal, the one connected with the first ray, unfold more slowly. |
Đôi khi, chúng ta thắc mắc liệu người cung ba có thể đạt được sự hy sinh không bởi vì có rất nhiều cách để thoát khỏi nhu cầu hy sinh. Người cung hai có cánh hoa thứ ba của Hoa Sen Chân Ngã mở ra chậm hơn, người cung một có cánh hoa bác ái mở ra chậm hơn, và tôi nghĩ người cung ba có cánh hoa hy sinh, cánh hoa được kết nối với cung một, mở ra chậm hơn. |
||
|
This alignment naturally produces a crisis [3d] |
Sự chỉnh hợp này đương nhiên tạo ra một cuộc khủng hoảng [3d] |
||
|
If we achieve alignment we’re going to get soul influence, and we have soul influence, there’s going to be a clash. So, |
Nếu chúng ta đạt được sự chỉnh hợp, chúng ta sẽ có được ảnh hưởng của linh hồn, và khi chúng ta có ảnh hưởng của linh hồn, sẽ có xung đột. Vì thế, |
||
|
{under soul influence there will be a clash between the way of the soul and the way of the personality—a dissonance which is perceived as crisis always after alignment |
{dưới ảnh hưởng của linh hồn sẽ có sự xung đột giữa con đường của linh hồn và con đường của phàm ngã—một sự xung đột luôn được coi là khủng hoảng sau khi chỉnh hợp |
||
|
The first ray type is not spoken much about how he achieves the alignment, but he’s so one pointed and one pointedly pursues his quite selfish and destructive objectives that the crisis comes quickly as a counter blow to his one pointedly aligned methods of producing destruction. But finally, when everything settles down and look up along the line and not along the many lines which in the space of eons you have woven, that comes through the soul perspective which clashes with his own thoughts, and we can just say in general here that |
Chân sư DK không nói nhiều về cách người cung một đạt được sự chỉnh hợp, nhưng người cung một nhất tâm theo đuổi những mục tiêu khá ích kỷ và mang tính hủy diệt của mình đến nỗi cuộc khủng hoảng nhanh chóng xảy đến như một đòn giáng trả các phương pháp tạo ra sự hủy diệt của y. Với người cung ba, cuối cùng khi mọi thứ lắng xuống và nhìn lên theo một đường thẳng chứ không theo nhiều con đường mà y đã dệt nên trong không gian của vô số kiếp, những gì xuất hiện thông qua góc nhìn của linh hồn xung đột với suy nghĩ của chính y, và chúng ta chỉ có thể nói một cách tổng quát ở đây rằng, |
||
|
{clash induces crisis, |
{xung đột gây ra khủng hoảng, |
||
|
This crisis is characterized by: |
Cuộc khủng hoảng này được đặc trưng bởi: |
||
|
a. The quality of deep distress. This is a period of difficulty and of real concern because it dawns upon his consciousness how useless, relatively, are his weaving and his manipulations, and how much of a problem he presents to the other Weavers. |
a. Tính chất của sự đau khổ sâu sắc. Đây là một giai đoạn khó khăn và thực sự đáng lo ngại vì nó khiến y nhận ra rằng việc dệt và thao tác của y tương đối vô dụng như thế nào cũng như mức độ rắc rối mà y gây ra cho các Thợ dệt khác. |
||
|
b. The quality which might be expressed as the determination to stand in spiritual being and to comprehend the significance of the ancient aphorism, given frequently to third ray aspirants: |
b. Tính chất có thể được biểu hiện như sự quyết tâm đứng vững trong bản thể tinh thần và hiểu được ý nghĩa của câu cách ngôn cổ xưa, thường được đưa ra cho những người chí nguyện cung ba: |
||
|
This crisis is characterized by: [3e] |
|||
|
a. The quality of deep distress. This is a period of difficulty and of real concern because it dawns upon his consciousness how useless, relatively, are his weavings and his manipulations, and how much of a problem |
a. Tính chất của sự đau khổ sâu sắc. Đây là một giai đoạn khó khăn và thực sự đáng lo ngại vì nó khiến y nhận ra rằng việc dệt và thao tác của y tương đối vô dụng như thế nào cũng như mức độ rắc rối mà y gây ra cho các Thợ dệt khác. |
||
|
A disturbance, |
Một sự xáo trộn. Hãy |
||
|
he has presented to other Weavers |
|||
|
Learn to stand silent, quiet, and unafraid. You are disturbing. Your noise is disturbing the other creators. You somehow interfering with them. You’re making waves. |
học cách đứng im lặng, yên lĩnh và không sợ hãi. Bạn đang gây rắc rối. Tiếng ồn của bạn làm phiền những người sáng tạo khác. Theo một cách nào đó, bạn đang can thiệp vào họ. Bạn đang tạo ra làn sóng ảnh hưởng đến họ. |
||
|
So, I’m getting nowhere and I’m making waves |
Vì vậy, tôi chẳng đi đến đâu cả và tôi đang tạo ra những làn sóng rắc rối cho người khác. |
||
|
{I am getting nowhere and making disturbing waves for others… hence I’m not appreciated… there is a lowering in one’s own estimation |
{Tôi chẳng đi đến đâu và tạo ra làn sóng lo lắng cho người khác… do đó tôi không được đánh giá cao… đánh giá của chính mình đang bị hạ thấp |
||
|
and also |
Và tiếp theo là một tính chất tích cực hơn. |
||
|
b. The quality |
b. Tính chất |
||
|
First distress, and then a more positive reaction |
Đầu tiên là đau khổ và sau đó là phản ứng tích cực. |
||
|
which might be expressed as the determination to stand in spiritual being and to comprehend the significance of the ancient aphorism, given frequently to third ray aspirants [3f] |
b. Tính chất có thể được biểu hiện như sự quyết tâm đứng vững trong bản thể tinh thần và hiểu được ý nghĩa của câu cách ngôn cổ xưa, thường được đưa ra cho những người chí nguyện cung ba: [3f] |
||
|
we often hear the statement “Stand still”. It’s hard for the third ray type to stand there, a dodger,[ix] they go here, they go there, they duck[x] the dodge, they go around, they’ve move… and that they affirm their being through movement. Can one affirm one’s being through standing? Perhaps. |
Chúng ta thường nghe câu nói “Hãy đứng yên”, và thật khó cho người cung ba đứng yên. Họ di chuyển chỗ này chỗ nọ, họ né tránh, họ tiếp tục, họ di chuyển vòng quanh. Họ khẳng định sự tồn tại của mình thông qua chuyển động. Liệu người cung ba có thể khẳng định sự tồn tại của mình thông qua việc đứng yên không? |
||
|
So, we do see, however, that crisis is characterized by two qualities. What has happened? The light has come in as a result of the crisis—the drawing near of the soul has produced soul light, and this light deepens the crisis. Sometimes, when you’re looking at these stages, ACLRI, Alignment Crisis Light Revelation Integration, it is not one two three four … there are loops between them. Alignment Crisis, Crisis Alignment, Alignment Crisis, Crisis Light, Light Crisis, Crisis Light, and so forth. They reinforce each other. |
Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng cuộc khủng hoảng đó được đặc trưng bởi hai đặc điểm. Ánh sáng đã xuất hiện do cuộc khủng hoảng – linh hồn đến gần đã tạo ra ánh sáng của linh hồn, và ánh sáng này làm cho cuộc khủng hoảng trở nên sâu sắc hơn. Đôi khi, khi bạn đang xem xét các giai đoạn của tiến trình ACLRI—Sự Chỉnh Hợp, Khủng Hoảng, Ánh Sáng, Mặc Khải, Tích Hợp, nó không phải là một trật tự tuyến tính một, hai, ba, bốn … có những vòng lặp giữa chúng. Chỉnh Hợp Khủng hoảng, Khủng hoảng Chỉnh hợp, Chỉnh hợp Khủng Hoảng, Khủng hoảng Ánh sáng, Ánh sáng Khủng hoảng, Khủng hoảng Ánh sáng, v.v. Chúng củng cố lẫn nhau. |
||
|
The more the light, the deeper the crisis, |
Càng nhiều ánh sáng, khủng hoảng càng sâu sắc, |
||
|
{the deeper the crisis and the tension produced by it… |
{Càng nhiều ánh sáng, cuộc khủng hoảng và sự căng thẳng do nó tạo ra càng sâu sắc … |
||
|
The more one draws near the soul, the greater the light. So, we do not have specifically and only a linear approach toward the center. So, first |
Vì vậy, chúng ta không chỉ có một cách tiếp cận cụ thể và tuyến tính về trung tâm. [không phải 1-2-3-4-5, mà có thể có những vòng lặp trong đó] |
||
|
the quality of deep distress |
tính chất của sự đau khổ sâu sắc, |
||
|
And it’s always been this way. And then something more positive. I think this was also given in the second ray, the realization [with the second ray] of one’s defects. He actually gave us six revelations in the light. So, |
Vì vậy, đầu tiên là tính chất của sự đau khổ sâu sắc, và nó luôn là như vậy. Sau đó là một cái gì đó tích cực hơn. Tôi nghĩ điều này cũng đúng ở cung hai, lúc đầu là một sự nhận thức về những khiếm khuyết, và Ngài đã đưa cho chúng ta sáu điều mặc khải trong Ánh Sáng. |
||
|
{with the second ray we were given six steps in concerning that which light revealed, and towards the latter part of it, it became Revelation |
{với cung hai, chúng ta được hướng dẫn sáu bước liên quan đến điều mà ánh sáng tiết lộ, và với phần sau của nó, nó trở thành sự mặc khải |
||
|
Here we were given two, |
Ở đây chúng ta được trao hai điều. |
||
|
and the determination to stand in Spiritual Being |
b. Tính chất có thể được biểu hiện như sự quyết tâm đứng vững trong bản thể tinh thần |
||
|
The Weaver stands silently. The Weaver stands behind the forms. The Weaver stands and silently he weaves. |
Người thợ dệt đứng im lặng. Người thợ dệt đứng đằng sau các hình tướng. Người thợ dệt đứng và lặng lẽ dệt. |
||
|
and here is the |
|||
|
the attempt to comprehend the significance of the ancient aphorism: [3g] |
và hiểu được ý nghĩa của câu cách ngôn cổ xưa, thường được đưa ra cho những người chí nguyện cung ba: |
||
|
“Cease from thy doing. Walk not on the Path until thou hast learnt the art of standing still. |
“Hãy ngừng làm việc của ngươi. Đừng đi trên Thánh đạo cho đến khi ngươi học được nghệ thuật đứng yên. [3g] |
||
|
Study the spider, brother, entangled not in its own web, as thou art today entangled in thine own.” |
Hỡi huynh đệ, hãy nghiên cứu con nhện, không vướng vào mạng lưới của nó như hôm nay ngươi đang vướng vào mạng lưới của mình.” |
||
|
These must be very shocking words or revelatory words to the third ray type. The spider is very skillful in negotiating the pattern that he has woven and doesn’t get tangled up in it. The spider is skillful in passing through and over the pattern web he has woven and does not become entangled. |
Đây phải là những lời gây sốc hoặc những lời mặc khải cho người cung ba. Con nhện rất khéo léo trong việc điều chỉnh hoa văn mà chúng đã dệt và không bị vướng vào đó. Con nhện khéo léo đi xuyên qua mạng lưới hoa văn mà nó đã dệt và không bị vướng víu. |
||
|
Maybe some of you have the experience of getting on the internet and just going surfing one thing to another, rush from point to point, going from point to point till you don’t need to know where you started from and how you got where you are now. You weren’t going anyplace. Really, you were wandering. You were going from place to place as you were prompted to do by your interest or desire, and before you know where you were. Certainly not at any particular goal. That’s quite different from research undertaken deliberately on the web. |
Có thể, một số bạn có trải nghiệm truy cập internet, các bạn chỉ lướt từ chỗ này sang chỗ khác, vội vã từ điểm này sang điểm khác, đi từ trang web này sang trang web khác cho đến khi bạn không biết mình đã bắt đầu từ đâu và làm cách nào bạn đến chỗ này. Bạn sẽ không đến đâu cả nếu bạn lang thang. Bạn đang đi từ nơi này đến nơi khác theo sự thôi thúc của sở thích hoặc mong muốn của bạn, trước khi bạn biết mình đang ở đâu. Chắc chắn không có một mục tiêu cụ thể nào cả. Điều đó hoàn toàn khác với nghiên cứu được thực hiện có chủ đích trên web. |
||
|
Study the spider, brother, entangled not in its own web, as thou art today entangled in thine own [3h] |
Hỡi huynh đệ, hãy nghiên cứu con nhện, không vướng vào mạng lưới của nó như hôm nay ngươi đang vướng vào mạng lưới của mình. [3h] |
||
|
And “Be still”. |
Và “Hãy yên lặng”. |
||
|
“Cease from thy doing. Walk not on the Path until thou hast learnt the art of standing still. |
Hãy ngừng làm việc của ngươi. Đừng đi trên Thánh đạo cho đến khi ngươi học được nghệ thuật đứng yên. |
||
|
Be still and do not wander along the Path, going this way or that way because you’re not really on the path at all until you have learned the art of standing still and receiving a true impression of the next step. |
Hãy đứng tĩnh lặng và đừng lang thang trên con đường, đi hướng này hay hướng kia, bởi vì bạn hoàn toàn không ở trên Con Đường cho đến khi bạn học được nghệ thuật đứng yên và nhận được ấn tượng thực sự về bước tiếp theo. |
||
|
{In this stillness you can receive a true impression of the next step forward… |
{Trong sự tĩnh lặng, bạn có thể nhận được ấn tượng thực sự về bước tiếp theo… |
||
|
This crisis evokes understanding, which is, as many will recognise, an aspect of light. The aspirant slowly begins to work with the Plan as it is, and not as he thinks it is. As he works, revelation comes, and he sees clearly what he has to do. Usually this entails first of all a disentangling and a release from his own ideas. This process takes much time, being commensurate with the time wasted in building up the agelong glamour. The third ray aspirant is always slower to learn than the second ray, just as the first ray aspirant learns more rapidly than the second ray. When, however, he has learnt to be quiet and still, he can achieve his goal with greater rapidity. The second ray aspirant has to achieve the quiet which is ever [Page 362] present at the heart of a storm or the centre of a whirlpool. The third ray aspirant has to achieve the quiet which is like to that of a quiet mill pond, which he much dislikes to do. |
Cuộc khủng hoảng này gợi lên sự thấu hiểu, như nhiều người sẽ nhận ra, là một khía cạnh của Ánh Sáng. Người chí nguyện dần dần bắt đầu làm việc với Thiên Cơ như nó vốn là chứ không phải như y nghĩ. Khi y làm việc thì sự mặc khải đến và y thấy rõ điều mình phải làm. Thông thường, điều này trước hết đòi hỏi phải gỡ rối và giải phóng khỏi những ý tưởng của chính mình. Quá trình này mất nhiều thời gian, tương xứng với thời gian lãng phí trong việc xây dựng ảo cảm lâu đời. Người chí nguyện cung ba luôn học chậm hơn cung hai, cũng như người chí nguyện cung một học nhanh hơn cung hai. Tuy nhiên, khi y đã học được cách im lặng và tĩnh lặng, y có thể đạt được mục tiêu của mình nhanh hơn. Người chí nguyện cung hai phải đạt được sự yên tĩnh vốn luôn hiện diện ở tâm bão hoặc tâm xoáy nước. Người chí nguyện cung ba phải đạt được sự yên tĩnh giống như sự yên tĩnh của một hồ nước yên tĩnh, điều mà y rất không thích làm. |
||
|
This crisis evokes understanding [3i] |
Cuộc khủng hoảng này gợi lên sự thấu hiểu [3i] |
||
|
The crisis of perceived futility, |
Cuộc khủng hoảng của việc nhận ra sự vô ích, |
||
|
which is, as many will recognise, an aspect of light. |
như nhiều người sẽ nhận ra, là một khía cạnh của Ánh Sáng. |
||
|
So, there is an understanding. Light is thrown upon how the entanglement occurred. |
Vì vậy, có sự thấu hiểu. Ánh sáng soi rọi vào sự vướng mắc cho thấy nó xảy ra như thế nào. |
||
|
{Light is thrown upon how the entanglement occurred through excessive activity… and thought form generation… and form generation |
{Ánh sáng giải thích cho thấy sự vướng mắc đã xảy ra như thế nào, thông qua hoạt động quá mức… qua việc tạo hình tư tưởng… và qua việc tạo ra các hình tướng |
||
|
So, light is cast upon the tangle, and this will help the aspirant slowly—slowly first, anyway— |
Vì vậy, ánh sáng được chiếu vào mớ rối rắm, và điều này sẽ giúp ích cho người chí nguyện một cách chậm rãi—trước tiên, chậm rãi— |
||
|
slowly begins to work with the Plan as it is [3j] |
Người chí nguyện dần dần bắt đầu làm việc với Thiên Cơ như nó vốn là chứ không phải như y nghĩ. [3j] |
||
|
The voice is heard. It’s in the Law of Repulse, and the same way |
Trong Định luật Đẩy lùi, có một đoạn tương tự: |
||
|
A voice proclaims: ‘Look from out thy window, Weaver, and see the pattern in the skies, the model of the plan, the colour and the beauty of the whole. Destroy the carpet which you have for ages wrought. It does not meet your need… Then weave again, Weaver. Weave in the light of day. Weave, as you see the plan.” EPII 168 |
Một giọng nói tuyên bố: ‘Này Người Thợ Dệt, hãy nhìn ra ngoài từ cửa sổ của người, và nhìn xem các kiểu mẫu trên bầu trời, mô hình của kế hoạch, màu sắc và vẻ đẹp của tổng thể. Hãy phá hủy tấm thảm mà ngươi đã dệt từ lâu. Nó không đáp ứng được nhu cầu của ngươi… Này Người Thợ Dệt, hãy dệt lại đi. Dệt trong ánh sáng ban ngày. Dệt, như ngươi thấy Thiên Cơ. Trang 168 |
||
|
So, the final stanzas of the Law of Repulse slot in very nicely here to this stage of crisis. And what to do about the crisis? We might say the Law of Repulse tells us what to do about the crisis— |
Vì vậy, những khổ thơ cuối cùng của Định Luật Đẩy lùi rất phù hợp với giai đoạn khủng hoảng này. Và ta phải làm gì với cuộc khủng hoảng? Chúng ta có thể nói, Định luật Đẩy lùi cho chúng ta biết phải làm gì với cuộc khủng hoảng— |
||
|
the voice proclaims, look from out the window |
Một giọng nói tuyên bố, Này Người Thợ Dệt, hãy nhìn ra ngoài từ cửa sổ |
||
|
Look at the larger picture and don’t just be preoccupied with the contents within your room but look out the window. DK gave some kind of antidote to one of his third ray old disciples who was filled with glamour and illusion. He had a window in the room. The window was pretty foggy at first, and the disciple had to clear away the fog, maybe from his own breath, from his own excitement, his own desire. Clear away. Stand back. Clear way of the window and look through the window and see the pattern in the skies, see what’s actually going on out there instead of what you think is going on… |
Hãy nhìn vào bức tranh lớn hơn, đừng chỉ bận tâm đến những đồ đạc trong phòng, mà hãy nhìn ra ngoài cửa sổ. Chân sư DK đã đưa một loại thuốc giải nào đó cho một trong những đệ tử thuộc cung ba của Ngài, người đang tràn ngập trong ảo cảm và ảo tưởng. Y có một cửa sổ trong phòng. Lúc đầu, cửa sổ khá mờ đục, và người đệ tử phải xua tan sương mù—sương mù có thể từ hơi thở, từ sự phấn khích, từ ham muốn của chính y. Đứng lại. Hãy xóa đi sương mù. Hãy dọn sạch cửa sổ và nhìn qua cửa sổ và nhìn thấy các kiểu mẫu trên bầu trời, xem những gì thực sự đang diễn ra ngoài kia thay vì những gì bạn nghĩ đang diễn ra… |
||
|
This crisis evokes understanding, which is, as many will recognise, an aspect of light. |
Cuộc khủng hoảng này gợi lên sự thấu hiểu, như nhiều người sẽ nhận ra, là một khía cạnh của Ánh Sáng. |
||
|
So, the distress of being futile evokes understanding of one’s entanglement and enmeshment, |
Vì vậy, nỗi đau khổ vì nhận ra sự vô ích gợi lên sự thấu hiểu về sự vướng mắc và bị trói buộc của con người, |
||
|
and slowly the aspirant begins to work with the Plan as it is |
Người chí nguyện dần dần bắt đầu làm việc với Thiên Cơ như nó vốn là |
||
|
He looks from out his window and not as he thinks it is. That’s the problem. We lay our thought upon reality and then in self-congratulatory manner take our thoughts for the reality. We have failed to perceive. |
Y nhìn ra ngoài cửa sổ và Thiên Cơ không như y nghĩ. Đó chính là vấn đề. Chúng ta áp đặt suy nghĩ của mình vào thực tại, và sau đó coi suy nghĩ của mình là thực tại. Chúng ta không nhận thức được điều sai lầm đó. |
||
|
As he works, |
Khi y làm việc, |
||
|
As he works in the light of understanding |
Khi y làm việc trong ánh sáng của sự thấu hiểu |
||
|
revelation comes, |
sự mặc khải đến, |
||
|
Here DK is giving a specific sequence. He doesn’t always do that in the second ray method. He didn’t tell us when revelation actually came, but the revelation of light or the impression of light led to revelation. So, here |
Ở đây Chân sư DK đang đưa ra một trình tự cụ thể. Không phải lúc nào Ngài cũng làm được điều đó theo phương pháp của cung hai. Ngài không cho chúng ta biết khi nào sự Mặc khải thực sự đến, nhưng sự mặc khải của ánh sáng hay ấn tượng của ánh sáng đã dẫn đến sự Mặc khải. |
||
|
as he works |
Khi y làm việc |
||
|
Say, in the light of understanding |
Chúng ta hãy nói, trong ánh sáng của sự thấu hiểu |
||
|
revelation comes and he sees clearly what he has to do [3k] |
sự mặc khải đến và y thấy rõ mình phải làm gì [3k] |
||
|
Let us say in the larger context |
Chúng ta có thể nói, làm việc trong bối cảnh rộng lớn hơn. |
||
|
Usually this entails first of all a disentangling and a release from his own ideas |
Thông thường, điều này trước hết đòi hỏi phải gỡ rối và giải phóng khỏi những ý tưởng của chính mình. |
||
|
And the unknotting of the Gordian knot which we have created through our own irresponsible creativity, or through our misinterpretation of the universe that all appears knotted and we don’t understand what came from where. |
Và việc tháo nút thắt Gordian mà chúng ta đã tạo ra thông qua sự sáng tạo vô trách nhiệm của chính mình, hoặc do sự hiểu sai về vũ trụ, khiến tất cả có vẻ như bị thắt nút lại vào nhau, và chúng ta không hiểu điều gì đến từ đâu. |
||
|
This process takes much time, being commensurate with the time wasted in building up the agelong glamour [3l] |
Quá trình này mất nhiều thời gian, tương xứng với thời gian lãng phí trong việc xây dựng ảo cảm lâu đời. [3l] |
||
|
Let’s call it age long misinterpretation |
Đó là sự hiểu sai lầm lâu đời. |
||
|
The third ray aspirant is always slower to learn |
Người chí nguyện cung ba luôn học chậm hơn |
||
|
And you can kind of say that about the sixth ray aspirant as well |
Và bạn cũng có thể nói điều đó về người chí nguyện cung sáu |
||
|
than the second ray, just as the first ray aspirant learns more rapidly than the second ray |
Chậm hơn người cung hai, cũng như người chí nguyện cung một học nhanh hơn người cung hai |
||
|
There’s an analogy here with the analogy of solar systems, analogy of the duration of solar systems based upon rays one, two, three. Those based upon the first ray are shortest in duration second ray a bit longer; third ray longest. So, we move from a slow process but at the end it turns fast. |
Có một sự tương đồng ở đây với chu kỳ quay của các hành tinh trong hệ mặt trời, Những hành tinh cung một có thời gian quay quanh mặt trời ngắn nhất, cung hai dài hơn một chút; cung ba dài nhất. Vì vậy, chúng ta bắt đầu từ một quá trình chậm nhưng cuối cùng sẽ nhanh hơn. |
||
|
The third way aspirant is always slower to learn |
Người chí nguyện cung ba luôn học chậm hơn cung hai, |
||
|
So, “How did we get ourselves in this tangle?” |
Y thắc mắc, “Làm sao chúng ta lại vướng vào mớ rắc rối này?” |
||
|
{How did we get ourselves in this tangle… How did I get all knotted up? |
{Làm sao chúng ta lại vướng vào mớ rắc rối này… Làm sao tôi bị rối tung thế này? |
||
|
As it said. |
|||
|
When, however, he has learnt to be quiet and still, [4a] |
Tuy nhiên, khi y đã học được cách im lặng và tĩnh lặng, [4a] |
||
|
And unafraid, let us not forget that one, |
Và đừng sợ hãi, chúng ta đừng quên điều đó, |
||
|
he can achieve his goal with greater rapidity |
y có thể đạt được mục tiêu của mình với tốc độ nhanh hơn |
||
|
Because, let’s say, when not entangled, the third ray is, let’s call it, the “ray of speed” —running about hither and thither. And I think the first ray and the sixth ray types involved athletically with speed—seeing the goal, running towards it, giving one’s all in the particular athletic event. |
Bởi vì, khi không bị vướng víu, người cung ba là “người của tốc độ” —chạy tới lui. Và tôi nghĩ người cung một và cung sáu cũng liên quan đến tốc độ trong thể thao – nhìn thấy mục tiêu, chạy về phía nó, nỗ lực hết mình trong một sự kiện thể thao cụ thể. |
||
|
It wouldn’t be surprised if third ray types are involved in what you might call the “dash”, able to achieve a short-term goal with great speed. Later the strategy can come in, the plan for the long run. |
Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu người cung ba liên quan đến cái mà bạn có thể gọi là “dash”, có thể đạt được mục tiêu ngắn hạn với tốc độ nhanh chóng. Sau này, chiến lược có thể đến, trong kế hoạch lâu dài. |
||
|
The second ray aspirant has to achieve the quiet which is ever [Page 362] present at the heart of a storm or the centre of a whirlpool [4b] |
Người chí nguyện cung hai phải đạt được sự yên tĩnh vốn luôn có [Trang 362] ở tâm bão hoặc trung tâm xoáy nước [4b] |
||
|
This is done through detachment and standing back from the storm, disengaging, abstracting, retreating… how does it say? |
Điều này được thực hiện thông qua việc tách ra và lùi lại khỏi cơn bão, thảnh thơi, trừu tượng, rút lui… |
||
|
Release thyself from all that stands around, for it has naught for thee, so look to me. I am the One who builds, sustains and draws thee on and up. Look unto me with eyes of love, and seek the path which leads from the outer circle to the point. |
Hãy giải phóng bản thân khỏi tất cả những gì xung quanh, vì nó chẳng ích gì cho ngươi, vì vậy hãy nhìn ta. Ta là Đấng xây dựng, duy trì và lôi kéo ngươi đi lên. Hãy nhìn ta bằng đôi mắt yêu thương và tìm kiếm con đường dẫn từ vòng tròn bên ngoài đến điểm. |
||
|
So, there is the detachment there, and finding the still center. |
Vì vậy, có sự tách rời và việc tìm ra trung tâm tĩnh lặng. |
||
|
Isn’t a good when he gives us the contrast between the rays, some of the contrast he may give, some we have to notice. |
Đôi khi Ngài cho chúng ta sự tương phản giữa các cung, và điều đó thật tốt cho chúng ta, nhưng một số khác Ngài không đưa ra và chúng ta phải chú ý. |
||
|
The third ray aspirant has to achieve the quiet which is like to that of a quiet mill pond 😊 [4c] |
Người chí nguyện cung ba phải đạt được sự yên tĩnh giống như sự yên tĩnh của một hồ nước yên tĩnh, 😊 [4c] |
||
|
This is reflective of reality which had been repelled by activity, he says humorously here |
Sự phản ánh hiện thực đã bị hoạt động đẩy lùi, giống như mặt hồ phản chiếu bị xáo động không phản ánh được thực tại. Ở đây, Ngài nói một cách hài hước rằng |
||
|
which he much dislikes to do |
điều mà y rất không thích làm |
||
|
So, what we have so far? |
Tóm lại, những gì chúng ta có cho đến nay? |
||
|
We have |
Chúng ta có |
||
|
{Enforced quiet… leading to alignment |
{Sự im lặng bắt buộc … dẫn đến chỉnh hợp |
||
|
{Alignment leading to the impression of the soul which reveals futility and the embarrassment of being a trouble to others… |
{Sự chỉnh hợp dẫn đến ấn tượng về linh hồn, bộc lộ sự vô ích và sự bối rối khi trở thành rắc rối cho người khác… |
||
|
This is also the case for the sixth ray, a lot of things in common between the second and the fourth, and between the third and the sixth. Then one can ask where are the points in common between those great pairs of opposites—the first ray and the second ray? Maybe they also can be found. |
Điều này cũng xảy ra với cung sáu. Có rất nhiều điểm chung giữa cung hai và cung bốn, giữa cung ba và cung sáu. Và chúng ta có thể hỏi đâu là điểm chung giữa các cặp đối lập lớn đó – cung một và cung hai? Có lẽ chúng cũng có thể được tìm thấy. |
||
|
{This is a crisis… very uncomfortable… Being nowhere and all entangled and rebelling against this non accomplishment. |
{Đây là một cuộc khủng hoảng… rất khó chịu… Không đến đâu cả, vướng mắc, và nổi loạn chống lại việc không đạt được thành tựu này. |
||
|
{As the soul draws nearer and as the one line is formed of the many, the light of understanding breaks forth… and in this light the method of disentanglement, a personal matter, is revealed… |
{Khi linh hồn đến gần hơn và khi một đường thẳng được hình thành từ nhiều đường, ánh sáng của sự thấu hiểu soi vào… và trong ánh sáng này, phương pháp tháo gỡ, một vấn đề cá nhân, được tiết lộ… |
||
|
{And the slow disentanglement proceeds. |
{Và quá trình gỡ rối dần dần diễn ra. |
||
|
{And as it continues, the glamor and illusion subside and a bigger picture is seen and it is revealed to the man what he must do within this larger context… he begins to sense a larger Plan and he seeks to cooperate with it… doing so in the quiet of living rather than running hither and thither… no more waste action… |
{Và khi quá trình tiếp tục, ảo cảm và ảo tưởng lắng xuống và một bức tranh lớn hơn được nhìn thấy, nó tiết lộ cho con người biết y phải làm gì trong bối cảnh rộng lớn hơn này… y bắt đầu cảm nhận được một Kế hoạch lớn hơn và y tìm cách hợp tác với nó… Y làm như vậy trong sự tĩnh lặng của cuộc sống thay vì chạy lăng xăng… không còn những hành động lãng phí… |
||
|
and this will lead to integration probably. He’ll tell us that in just a moment |
Và điều này có lẽ sẽ dẫn đến sự Tích hợp. Ngài sẽ nói với chúng ta điều đó chỉ trong chốc lát |
||
|
Having, however, learned to do it, integration then takes place. The man stands ready to play his part. |
Tuy nhiên, sau khi đã học được cách làm điều đó thì sự tích hợp sẽ diễn ra. Con người sẵn sàng đóng vai trò của mình. |
||
|
It is interesting to note that the first result of the use of these three formulas can each be summed up in one word, for the sake of clarity. These words embody the first and simplest steps upon the way of at-one-ment. They embody the simplest aspects of the necessary technique. |
Thật thú vị khi lưu ý rằng kết quả đầu tiên của việc sử dụng ba công thức này có thể được tóm tắt trong một từ, vì mục đích làm cho rõ ràng. Những từ này thể hiện những bước đầu tiên và đơn giản nhất trên con đường hợp nhất. Chúng thể hiện những khía cạnh đơn giản nhất của kỹ thuật cần thiết. |
||
|
Having, however, learned to do it, integration then takes place [4d] |
Tuy nhiên, sau khi đã học được cách làm điều đó thì sự tích hợp sẽ diễn ra. [4d] |
||
|
The third ray, when he is still and truly can reflect the Plan, let’s say, |
Cung ba, khi tĩnh lặng và thực sự có thể phản ánh Thiên cơ, chúng ta hãy nói: |
||
|
{When like a mill pond, he is still and truly reflecting the plan, then integration of the soul’s energy system and the energy system of the personality occurs… |
{Khi giống như một cái ao nước, y tĩnh lặng và thực sự phản ánh Thiên Cơ, khi đó sự tích hợp giữa hệ thống năng lượng của linh hồn và hệ thống năng lượng của phàm ngã xảy ra… |
||
|
{Right and accurate interplay between the soul and personality and that which the soul knows becomes that which the personality also knows… |
{Sự tương tác đúng đắn và chính xác giữa linh hồn và phàm ngã, và điều mà linh hồn biết sẽ trở thành điều mà phàm ngã cũng biết… |
||
|
the man stands ready to play his part |
con người sẵn sàng đóng vai của mình |
||
|
{in LIGHT… within the Divine Plan |
{trong ÁNH SÁNG… trong Thiên Cơ |
||
|
That is the process. In each case, and what we have to do is look at the relationship of the formula and the integrative word, and how the disciple passes through the accurate process and finally achieves his integration. It’s different in each case, and when we are advising people who we may find in one of these stages or another, we have to see who they are, where they stand, what the next step might be, and help to convey to them some sense of the process in which they are engaged. |
Đó là tiến trình. Trong mỗi trường hợp, điều chúng ta phải làm là xem xét mối quan hệ giữa công thức và từ tích hợp, cũng như cách vị đệ tử trải qua quá trình chính xác và cuối cùng đạt được sự tích hợp của mình. Mỗi trường hợp đều khác nhau, và khi chúng ta tư vấn cho những người mà chúng ta có thể tìm thấy ở giai đoạn này hay giai đoạn khác, chúng ta phải xem họ là ai, đang đứng ở đâu, bước tiếp theo có thể là gì, và giúp truyền đạt cho họ một cảm nhận về quá trình mà họ đang trải qua. |
||
|
It is interesting to note that the first result of the use of these three formulas can each be summed up in one word, for the sake of clarity. [4e] |
Thật thú vị khi lưu ý rằng kết quả đầu tiên của việc sử dụng ba công thức này có thể được tóm tắt trong một từ, vì mục đích làm cho rõ ràng. [4e] |
||
|
The first result, this is not the final [result] but it has some final implications because it occurs at a couple of different phases and a couple of different levels. |
Kết quả đầu tiên, không phải là kết quả cuối cùng nhưng nó có một số hàm ý cuối cùng vì nó xảy ra ở một vài giai đoạn khác nhau và ở một số cấp độ khác nhau. |
||
|
These words embody the first and simplest steps upon the way of at-one-ment |
Những từ này thể hiện những bước đầu tiên và đơn giản nhất trên con đường hợp nhất. |
||
|
And maybe some of the clearest, and they epitomize for us the process. They encapsulate for us the process which the different ray types must follow. Of course, we haven’t really been given the word for the sixth and seventh ray, and we’ll see I chose a couple when I wrote Tapestry of the Gods a long time ago, and there may be other alternatives. |
Và có thể là rõ ràng nhất, và chúng là hình ảnh thu nhỏ cho chúng ta về quá trình này. Chúng gói gọn cho chúng ta quá trình mà con người trên các cung khác nhau phải tuân theo. Tất nhiên, chúng ta chưa thực sự có từ dành cho cung sáu và thứ bảy, và tôi đã chọn một số từ khi viết “Tấm thảm của Thượng đế” cách đây đã lâu, và có thể có những lựa chọn thay thế khác. |
||
|
These words embody the first and simplest steps upon the way of at-one-ment. They embody the simplest aspects of the necessary technique [4f] |
Những từ này thể hiện những bước đầu tiên và đơn giản nhất trên con đường hợp nhất. Chúng thể hiện những khía cạnh đơn giản nhất của kỹ thuật cần thiết [4f] |
||
|
But worth remembering when we need a summary. |
Nhưng đáng ghi nhớ khi chúng ta cần một bản tóm tắt. |
||
|
{worth remembering when we need a summary |
{đáng ghi nhớ khi chúng ta cần một bản tóm tắt |
||
|
ray Two Centralisation. |
cung Hai Tập trung hóa. |
||
|
ray Three Stillness. |
cung Ba Sự tĩnh lặng. |
||
|
The above will suffice for the Techniques of Integration of these three major rays. We will now take the formulas which will embody the Techniques of Integration for the four minor rays and glimpse the possibilities which they may unfold. We will emphasize in connection with each of them the same five stages of the technique we are studying: |
Những điều trên sẽ đủ cho các Kỹ thuật Tích Hợp của ba cung chính này. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét các công thức thể hiện các kỹ thuật tích hợp cho bốn cung phụ và xem qua những khả năng mà chúng có thể bộc lộ. Chúng ta sẽ nhấn mạnh khi xem xét các kỹ thuật này, năm giai đoạn tương tự của kỹ thuật mà chúng ta đang nghiên cứu: |
||
|
ray One … Inclusion |
cung Một … Bao gồm |
||
|
Standing with the arms outstretched in the form of the cross, embracing those who may come, establishing the right relations and learning somehow to be a willful servant of the energy of love… |
Đứng với đôi tay dang rộng theo hình thập giá, ôm lấy những người có thể đến, thiết lập những mối quan hệ đúng đắn và học cách nào đó để trở thành người phụng sự có chủ ý cho năng lượng của tình thương… |
||
|
ray Two … Centralisation |
cung Hai … Tập trung hóa |
||
|
Go to the quiet center, detach from all of your involvement on the periphery of life where you are taking forms for realities. You engage magnetically with all these forms so you hardly can find your center… |
Hãy đi đến trung tâm yên tĩnh, tách khỏi mọi dính mắc của bạn ở ngoại vi cuộc sống, nơi bạn đang lấy những hình tướng thay cho thực tại. Bạn tương tác một cách từ tính với tất cả các hình dạng này nên bạn khó có thể tìm thấy trung tâm của mình… |
||
|
But the ray One Word is a kind of a second ray word, and the second ray word is a kind of a first ray word. |
Nhưng từ của cung một là một từ thuộc cung hai, và từ của cung hai là một từ của cung một. |
||
|
ray Three … Stillness |
cung Ba … Sự tĩnh lặng |
||
|
When it comes to the third ray, we have stillness, and as a result of this stillness there can be a registration of that which the soul knows, there can be registration of the light for the disentanglement, a closer approach to the soul and its knowledge, and then direct understanding of the souls knowledge and of the method of bringing that knowledge into manifestation. The stillness leads to all these good things; centralization leads to that proper magnetic center which attracts others as Souls to itself and then moves forward with those attracted others towards the great Point of Centralization which is attracting—the centralized disciple, the centralized Master in the Ashram, the centralized Christ, the centralized Sanat Kumara, and on and on and on… Always there is a great Attractor to attract the centralized Being. |
Khi nói đến cung ba, chúng ta có sự tĩnh lặng, và kết quả của sự tĩnh lặng này là có thể có sự ghi nhận những gì mà linh hồn biết, ghi nhận ánh sáng để tháo gỡ vướng mắc, một cách tiếp cận gần hơn với linh hồn và các mối quan hệ của nó. Kiến thức, rồi sau đó là sự thấu hiểu trực tiếp về kiến thức của linh hồn và về phương pháp đưa kiến thức đó vào biểu hiện. Sự tĩnh lặng dẫn đến tất cả những điều tốt đẹp này; sự tập trung hóa dẫn đến trung tâm từ tính thích hợp thu hút những người khác như những Linh hồn đến với chính nó, và sau đó cùng với những linh hồn đã được thu hút tiến về điểm Vĩ Đại của sự tập trung hóa đang thu hút—thu hút đệ tử tập trung hóa, Chân sư tập trung hóa trong Ashram, Đức Christ tập trung, Đức Sanat Kumara, vân vân… Luôn luôn có một Điểm thu hút Vĩ Đại để thu hút sinh mệnh đã tập trung hóa. |
||
|
The above will suffice for the Techniques of Integration of these three major rays. We will now take the formulas which will embody the Techniques of Integration for the four minor rays, and glimpse the possibilities which they may unfold [4g] |
Những điều trên sẽ đủ cho các kỹ thuật tích hợp ba cung chính này. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét các công thức thể hiện các kỹ thuật tích hợp cho bốn cung phụ và xem qua những khả năng mà chúng có thể bộc lộ.[4g] |
||
|
So, we have covered something of importance for the three major rays |
Vì vậy, chúng ta đã đề cập đến một điều gì đó quan trọng đối với ba cung chính. |
||
|
We will emphasize in connection with each of them the same five stages of the technique we are studying [4h] |
Chúng ta sẽ nhấn mạnh khi xem xét các kỹ thuật này, năm giai đoạn tương tự của kỹ thuật mà chúng ta đang nghiên cứu [4h] |
||
|
{These words though simple are epitomes and useful in remembering that which is definitely NECESSARY in each process… |
{Những từ này tuy đơn giản nhưng lại là những hình ảnh thu nhỏ và hữu ích trong việc ghi nhớ những điều chắc chắn CẦN THIẾT trong mỗi quá trình… |
||
|
Without these particular attitudes of mind and of consciousness, the higher parts of the formula could not be fulfilled, the confirmations in integration could not be fulfilled, and the eventual fusion can not be fulfilled. |
Không có những thái độ cụ thể này của tâm trí và tâm thức, các phần cao hơn của công thức không thể được thực hiện, các xác nhận trong sự tích hợp không thể được thực hiện và sự hợp nhất cuối cùng không thể được thực hiện. |
||
|
The above will suffice for the techniques of integration of these three major rays. We will now take the formulas which will embody the techniques of integration for the four minor rays, and glimpse the possibilities which they may unfold. We will emphasize in connection with each of them the same five stages of the technique we are studying: |
Những điều trên sẽ đủ cho các kỹ thuật tích hợp của ba cung chính này. Bây giờ chúng ta sẽ lấy các công thức sẽ thể hiện các kỹ thuật tích hợp cho bốn cung phụ, và thoáng thấy những khả năng mà chúng có thể mở ra. Chúng ta sẽ nhấn mạnh liên quan đến mỗi một trong số chúng cùng năm giai đoạn của kỹ thuật mà chúng ta đang nghiên cứu: |
||
|
1. Alignment. |
1. Sự chỉnh hợp. |
||
|
2. A crisis of evocation. |
2. Một cuộc khủng hoảng gợi lên. |
||
|
3. Light. |
3. Ánh sáng. |
||
|
4. Revelation. |
4. Sự mặc khải. |
||
|
5. Integration. |
5. Sự tích hợp. |
||
|
So, we will emphasize Alignment, the Crisis of evocation. We have to remember that the soul is evoked, the Light which reveals the problem and the next step ahead, the Revelation of the Plan, we would say right revelation of the Plan, and Integration, not only of the personality itself but of the personality with the soul. So, five steps and every one of us should be able at the end of studying these things to know what is the condition in which the not yet integrated person finds himself, the state which must be achieved, the word that goes forth, telling how it must be achieved, the particular epitomizing word which essentializing the whole process, and the five steps which lead to integration through particular types of expression of these steps for each one of the rays. We should know that and especially be able to apply that to our own soul ray, and to see where we are with that process, within that process. |
Vì vậy, chúng ta sẽ nhấn mạnh đến Chỉnh hợp, Cuộc khủng hoảng của sự gợi lên. Chúng ta phải nhớ rằng linh hồn được khơi dậy, Ánh sáng tiết lộ vấn đề và bước tiếp theo phía trước, Sự mặc khải về Thiên Cơ, chúng ta có thể nói rằng sự mặc khải đúng đắn về Thiên Cơ, và Sự Tích Hợp, không chỉ của bản thân phàm ngã mà còn của phàm ngã với linh hồn. Vì vậy, năm bước, và mỗi chúng ta khi kết thúc việc nghiên cứu những điều này sẽ có thể biết được tình trạng mà một người chưa tích hợp tìm thấy chính mình là gì, trạng thái phải đạt được, Linh từ phát ra cho biết làm thế nào nó phải đạt được, từ tóm tắt cụ thể vốn thiết yếu hóa toàn bộ quá trình, và năm bước dẫn đến sự tích hợp thông qua các kiểu biểu hiện cụ thể của các bước này đối với mỗi cung. Chúng ta nên biết điều đó và đặc biệt là có thể áp dụng điều đó vào cung linh hồn của chính mình, và xem chúng ta đang ở đâu với quá trình đó. |
||
|
At the same time, we will bear in mind that the alignment with which we have hitherto been occupying ourselves is that of a form of expression and that this is achieved through discipline, meditation, and service. These Techniques of Integration, however, refer to the establishing of a continuity of consciousness, within the aligned forms. Therefore we begin with alignment in these cases and do not end with it. |
Đồng thời, chúng ta sẽ ghi nhớ rằng sự chỉnh hợp mà chúng ta đang thực hiện cho đến nay chỉ là của hình tướng biểu hiện, và điều này đạt được thông qua kỷ luật, tham thiền và phụng sự. Tuy nhiên, những kỹ thuật tích hợp này đề cập đến việc thiết lập tính liên tục của tâm thức trong các hình tướng chỉnh hợp. Vì vậy, chúng ta bắt đầu bằng việc chỉnh hợp trong những trường hợp này và không kết thúc ở đó. |
||
|
At the same time, we will bear in mind that the alignment with which we have hitherto been occupying ourselves is that of a form of expression and that this is achieved through discipline, meditation, and service [4i] |
Đồng thời, chúng ta sẽ ghi nhớ rằng sự chỉnh hợp mà chúng ta đang thực hiện cho đến nay chỉ là của hình tướng biểu hiện, và điều này đạt được thông qua kỷ luật, tham thiền và phụng sự. [4i] |
||
|
This is simply contact with the soul but occasional contact, I suppose |
Tôi cho rằng đây chỉ đơn giản là sự tiếp xúc với linh hồn, nhưng chỉ là sự tiếp xúc thỉnh thoảng. |
||
|
These Techniques of Integration, however, refer to the establishing of a continuity of consciousness, within the aligned forms [4j] |
Tuy nhiên, những kỹ thuật tích hợp này đề cập đến việc thiết lập tính liên tục của tâm thức trong các hình tướng chỉnh hợp. [4j] |
||
|
In other words, let’s say, always knowing what is the souls perspective on whatever may be happening, let’s say, |
Nói cách khác, luôn biết quan điểm của linh hồn về bất cứ điều gì có thể xảy ra sử, |
||
|
{what’s going on in the world of consciousness and in any of the vehicles which are in alignment |
{điều gì đang xảy ra trong thế giới tâm thức và trong bất kỳ hiện thể nào đang chỉnh hợp. |
||
|
So, this is leading to a Fusion of the consciousness of the soul with the consciousness of the personality until they become one… so the Fusion process is really in a way a continuation of the Integration process, and in the book, they’re listed one after another. |
Vì vậy, điều này dẫn đến sự Dung Hợp giữa tâm thức của linh hồn với tâm thức của phàm ngã cho đến khi chúng trở thành một… vì vậy, quá trình Dung Hợp thực sự là một sự tiếp nối của quá trình Tích Hợp, và trong quyển sách này, chúng được liệt kê lần lượt, cái này tiếp sau cái kia. |
||
|
Therefore we begin with alignment in these cases and do not end with it [4k] |
Vì vậy, chúng ta bắt đầu bằng việc chỉnh hợp trong những trường hợp này và không kết thúc ở đó.[4k] |
||
|
So, in our average spiritual disciplines, alignment is a great objective but we begin here with the alignment achieved and work our way to a true integration with the soul, and as the soul, because that type of identification can come in. |
Vì vậy, trong các nguyên tắc tinh thần thông thường của chúng ta, sự chỉnh hợp là một mục tiêu lớn, nhưng ở đây chúng ta bắt đầu với sự chỉnh hợp đã đạt được và nỗ lực hướng tới sự tích hợp thực sự với linh hồn, và như là linh hồn, bởi vì kiểu đồng hóa đó có thể xuất hiện. |
||
|
So, that’s where we are, and of course this is, I know, I’m being a little bit undisciplined here. I don’t exactly think I’m rushing from point to point. I think what I’m trying to do is get this material out to you, and I dislike the technical pauses in which become necessary with changing every hour, and if I don’t change every hour and I go on for five in a row, as if each one were a new program which has to be taken apart into one hour segments, then I present an impossible situation to my colleague Brett who has to spend hours and hours dividing up the program. |
Vì vậy, đó là tình hình hiện tại của chúng ta; và dĩ nhiên, tôi biết là mình đang hơi thiếu kỷ luật một chút ở đây. Tôi không thực sự nghĩ rằng mình đang chạy vội từ điểm này sang điểm khác. Tôi nghĩ điều tôi đang cố gắng làm là chuyển tải tài liệu này đến các bạn, và tôi không thích những khoảng ngắt kỹ thuật vốn trở nên cần thiết khi phải thay đổi mỗi giờ một lần. Nếu tôi không thay đổi mỗi giờ, mà tiếp tục liền năm giờ như thể mỗi giờ là một chương trình mới phải được tháo rời thành các đoạn một giờ, thì tôi sẽ đặt người đồng nghiệp Brett của tôi vào một tình thế bất khả thi, khi ông ấy phải dành hàng giờ liền để chia nhỏ chương trình. |
||
|
So, I’ve decided to be maybe a little bit less hard on myself, a little bit less disciplined, and instead offer slightly longer programs somewhat on the 15 minute places. |
Vì vậy, tôi đã quyết định sẽ bớt khắt khe với bản thân mình một chút, bớt kỷ luật cứng nhắc hơn một chút, và thay vào đó đưa ra những chương trình dài hơn đôi chút, xoay quanh các mốc khoảng mười lăm phút. |
||
|
So, this is the end of Techniques of Integration Webinar Commentaries number 9, EP 2 page 362 and beginning of Techniques of Integration Webinar Commentaries number 10 VP page 363. We’re going on with the rays of attribute, the fourth fifth sixth and seventh, and maybe having gathered somewhat the understanding of the first three rays in brief review. |
Vì thế, đây là phần kết thúc của Techniques of Integration Webinar Commentaries số chín, Esoteric Psychology II, trang 362, và cũng là phần mở đầu của Techniques of Integration Webinar Commentaries số mười, EP II, trang 363. Chúng ta sẽ tiếp tục với các cung thuộc tính — cung bốn, năm, sáu và bảy — có lẽ sau khi đã phần nào tập hợp được sự hiểu biết về ba cung đầu tiên qua một bản điểm lại ngắn gọn. |
||
Summary of first three rays
|
One-pointed driving destructive force, the kind of alignment leading to the crisis of repercussion where the driving Destroyer is destroyed himself, leading in this crisis to the Light that shocks, where all videos destroyed is revealed to him, and then leading to the next step ahead in the rebuilding process. So, he can reveal that which has been destroyed, and as he reveals, the light intensifies. It was a growing revelation, and he sees the context in which he lives, and why he must rebuild, and how he must rebuild, and he becomes integrated with his context through love and the heart and relationship which is given to him through the soul’s choice of certain personality rays which make him at last love. Emotion is not used in the furtherance of the Plan. Love takes its place. He becomes an inclusive, encompassing, lovingly related uplifter of the race, building that which will raise his culture and his civilization. He does this in an interested manner, in an impersonal manner, yet still filled with the love that he has gained. |
Mãnh lực hủy diệt nhất tâm, và sự chỉnh hợp dẫn đến khủng hoảng hậu quả ở chính Kẻ hủy diệt, y bị hủy diệt bởi những gì y đã hủy diệt, dẫn đến Ánh sáng gây sốc trong cuộc khủng hoảng này, nơi tất cả những thước phim tàn phá được tiết lộ cho y, và sau đó dẫn đến bước tiếp theo trong quá trình xây dựng lại. Vì vậy, y có thể tiết lộ những gì đã bị hủy diệt, và khi y tiết lộ, ánh sáng càng mãnh liệt hơn. Đó là một sự tiết lộ ngày càng gia tăng, và y nhìn thấy bối cảnh mà y đang sống, và tại sao y phải tái thiết, và tái thiết như thế nào, và y trở nên tích hợp vào bối cảnh của y thông qua tình yêu, trái tim và mối quan hệ được ban tặng cho y thông qua sự lựa chọn cung phàm ngã của linh hồn khiến y cuối cùng có thể yêu thương. Cảm xúc không được sử dụng để thúc đẩy Thiên Cơ. Bác ái thay thế vị trí của nó. Y trở thành người nâng cao chủng tộc toàn diện, bao trùm, yêu thương, xây dựng những gì sẽ nâng tầm văn hóa và nền văn minh của hắn. Hắn làm điều này một cách quan tâm, vô tư, nhưng vẫn tràn ngập tình yêu thương mà y đã có được. |
|
I’m very interestingly the first ray personality can accompany the expression of the first ray soul at some point. |
Tôi rất thú vị là phàm ngã cung một có thể đi kèm với sự biểu hiện của linh hồn cung một vào một thời điểm nào đó. |
|
Then for the second ray, we have the love of form, the sense of being with others and yet being apart and always being within a certain ring-pass-not, a circle but always including the love of the form of others. It is through pondering one’s limitations, one’s attachments that the meditatively alignment comes, and with this alignment comes a crisis of disinterest or a lack of interest in all that had been familiar and which one had been attached. There is a kind of repulsion. The Law of Repulse maybe acting here, a repulsion against one’s encumbering attachments, and this crisis forces the man to detach from all that had captured his interest. |
Với cung thứ hai, chúng ta có tình yêu hình tướng, cảm giác ở bên người khác nhưng vẫn tách biệt, và luôn ở trong một vòng-giới-hạn, một vòng tròn nhưng luôn bao gồm tình yêu đối với hình tướng của người khác. Chính bằng cách suy ngẫm về những hạn chế, những ràng buộc của bản thân mà sự chỉnh hợp thông qua tham thiền đến, và cùng với sự chỉnh hợp này là sự khủng hoảng thờ ơ hoặc thiếu quan tâm với tất cả những gì đã quen thuộc và từng gắn bó. Có một sự xua đẩy, và Định Luật Đẩy lùi có lẽ đang hoạt động ở đây, sự xua đẩy chống lại những ràng buộc cản trở, và khủng hoảng này buộc con người phải tách khỏi tất cả những gì đã thu hút sự quan tâm của họ. |
|
The soul is drawing nearer, and because of the alignment, there is a line drawn to the center, and the soul’s power is magnetic and pulling him away, and yet something’s still pulling him: |
Linh hồn đang đến gần hơn, và nhờ vào sự chỉnh hợp, một đường thẳng được thu hút về trung tâm, sức mạnh của linh hồn có từ tính kéo y ra xa, nhưng có điều gì đó vẫn đang kéo y: |
|
“Myriads of voices speak and halt me in my tracks. The thunder of the sounds of earth shuts out the voice of God. I turn me on my forward path, and vision once again the long held joys of earth, and flesh and kin. I lose the vision of eternal things. The voice of God dies out.” DINA I 679 |
“Vô số tiếng nói vang lên khiến tôi dừng bước. Tiếng sấm sét của thế giới vật chất lấn át tiếng nói của Thượng đế. Tôi quay lại con đường trước đây của mình, và một lần nữa hình dung về những niềm vui lâu dài của thế giới vật chất, của thân xác và của người thân. Tôi đánh mất tầm nhìn về những điều vĩnh cửu. Tiếng nói của Thượng đế tắt dần.” DINA I 679 |
|
God is the soul at the center. So, it’s backward and forward but the very strong pull of the soul at the center approaching through alignment draws him away from all of his attachments, and then the Light shines in, and he sees his many defects, but he also sees the next step ahead towards the center, pursuit along the antahkaranic line, and he further detaches himself from all that had been familiar, and the light is revealing many things. In fact, it finally reveals a revelation of the larger picture of the Guardian Angel, of the Solar Angel or Angel of Presence, of the Master, and this makes it possible for him to work with the Plan that has been revealed in the Light, and with the what the angel would have him do, and with what the Master in the ashram and the Plan would have him do. Then he finds his way to the center where he functions as a soul and can work with the personality ray as if it is a sub ray of the soul. The energy system of the personality and the soul merge, and eventually there’s a fusion of consciousness. He learns that to center himself in detachment from all form but in attachment to the Being/Consciousness of others, attachment to the soul, and this is according to the Law of Magnetic Impulse. It is a relationship between souls. |
Thượng đế là linh hồn ở trung tâm. Vì vậy, đó là sự di chuyển qua lại, nhưng lực hút rất mạnh của linh hồn ở trung tâm đang đến gần qua sự chỉnh hợp, kéo y ra khỏi tất cả những ràng buộc của y. Sau đó, Ánh sáng chiếu vào, y nhìn thấy nhiều khuyết điểm của mình, nhưng y cũng nhìn thấy bước tiếp theo hướng về trung tâm, theo đuổi dọc theo đường antahkarana, và tiếp tục tách mình khỏi tất cả những gì đã quen thuộc. Ánh sáng đang tiết lộ nhiều điều. Thực tế, cuối cùng nó tiết lộ một sự mặc khải về bức tranh lớn hơn về Thiên thần Hộ mệnh, về Thái dương Thiên Thần hoặc Thiên thần Hiện diện, về Chân sư, và điều này giúp y có thể làm việc với Thiên Cơ được tiết lộ trong Ánh sáng, và với những gì mà Thiên thần muốn y làm, và với những gì Chân sư trong ashram và Thiên Cơ muốn y làm. Sau đó, y tìm thấy con đường đến trung tâm nơi y ta hoạt động như một linh hồn và có thể làm việc với cung phàm ngã như thể nó là một cung phụ của cung linh hồn. Hệ thống năng lượng của phàm ngã và linh hồn hòa nhập, và cuối cùng có sự dung hợp của tâm thức. Y học được rằng tập trung bản thân vào sự tách rời khỏi tất cả hình tướng, nhưng gắn kết với Bản thể/Tâm thức của người khác, gắn kết với linh hồn, và điều này phù hợp với Định Luật Xung Động Từ tính. Đây là một mối quan hệ giữa các linh hồn.” |
|
So, in this detached center which DK tells us is like the calm in the middle of the hurricane, he can gather to himself, in the spiritual sense, all that to which he had been attached in the formal sense, and indeed “into the worlds of form that power of love must one day failed to penetrate”. There is an integration within the field of love achieved, and he can lovingly attract others who are also seeking, and move forward in this deeper search with all of them towards a great and inclusive Point. He becomes integrated with others and into one center after another—all of the members of the Ashram are integrated into the circle of the Master; the master himself and other Masters are integrated into the circle of Hierarchy; the circle of Hierarchy is integrated into the circle of Shambala, maybe we should use the word spheres, and on and on and on… this joining in a well-organized and properly related wholeness continues… |
Tại trung tâm tách rời này mà Chân sư DK nói giống như sự tĩnh lặng giữa tâm bão, y có thể tập hợp lại cho mình, theo nghĩa tinh thần, tất cả những gì y ta từng gắn bó về mặt hình tướng, và thực sự “nhưng sức mạnh của tình thương một ngày nào đó sẽ không thể xuyên thấu thế giới hình tướng được”. Sự tích hợp đạt được bên trong trường năng lượng của tình thương, và y có thể yêu thương thu hút những người khác cũng đang tìm kiếm, và cùng với họ tiến về phía trước trong hành trình tìm kiếm sâu sắc hơn, hướng tới Điểm Vĩ đại và toàn diệnbao gồm. Y trở nên tích hợp với những người khác và các trung tâm khác —tất cả các thành viên trong Ashram đều được tích hợp vào vòng tròn của Chân sư; bản thân Chân sư và các Chân sư khác được tích hợp vào vòng tròn của Thánh đoàn; vòng tròn của Thánh đoàn được tích hợp vào vòng tròn của Shamballa, có lẽ chúng ta nên dùng từ “các lĩnh vực”, và cứ thế tiếp tục… Sự tích hợp này trong một tổng thể được tổ chức tốt và có mối liên hệ đúng đắn vẫn tiếp diễn… |
|
Then the third ray. All tied up in his own creations, and there is a word that comes forth from the soul that tells him to Be Still. The stillness creates an alignment. The alignment allows the approach of the soul. The approach of the soul energy always creates a crisis because there’s a clash, a clash of what the soul is compared to what you’ve been doing, and that’s true of the first ray and the second ray and all the rays. The clash occurs and this is a distressful clash because in this clash, it is revealed how very futile and non accomplishing all of his efforts have been. He’s been engaged in motion and not real spiritual useful action. |
Sau đó là cung ba. Tất cả đều bị trói buộc bởi sự sáng tạo của chính y, và lời nói phát ra từ linh hồn bảo Hãy Im Lặng. Sự tĩnh lặng tạo ra sự chỉnh hợp, và sự chỉnh hợp cho phép linh hồn tiếp cận. Sự tiếp cận của năng lượng linh hồn luôn tạo ra một cuộc khủng hoảng bởi vì có sự xung đột, sự xung đột giữa những gì linh hồn là so sánh với những gì y đã và đang làm, và điều đó đúng với cung một, cung hai và tất cả các cung. Cuộc xung đột xảy ra, và đó là một cuộc xung đột đau khổ bởi vì trong cuộc xung đột này, mọi nỗ lực của y đều vô ích và không đạt được thành tựu nào. Y đang chuyển động chứ không phải hành động hữu ích về mặt tinh thần thực sự. |
|
So, the light has come as a result of crisis, and the light does reveal his full entanglements. He’s very distressed—light crisis; crisis light; light crisis; crisis light… they are the circle with each other, feeding each other… |
Vì vậy, ánh sáng đã đến như một kết quả của cuộc khủng hoảng, và ánh sáng đã bộc lộ toàn bộ những vướng mắc của y. Y đau khổ—Khủng Hoảng Ánh sáng; Ánh Sáng Khủng Hoảng; Khủng Hoảng Ánh Sáng; Ánh Sáng Khủng Hoảng… chúng xoay vòng với nhau, nuôi sống nhau… |
|
But he sees the extent of his entrapment, but he also sees how to begin disentangling himself from his own thoughts, from his own forms. He learns how to extricate himself, this takes a long time, but later in the process, he goes quite quickly just as the spider moves quickly over the web without becoming entangled in his web because he ‘knows the ropes’, we might say. |
Nhưng y nhìn thấy mức độ bị mắc kẹt của mình, nhưng y cũng nhìn thấy cách bắt đầu thoát khỏi những suy nghĩ của chính mình, khỏi hình tướng của chính mình. Y học cách tự thoát ra, việc này mất nhiều thời gian, nhưng về sau trong quá trình, y đi khá nhanh giống như con nhện di chuyển nhanh chóng trên mạng mà không bị vướng vào mạng của nó vì nó ‘biết các sợi chỉ’, chúng ta có thể nói như thế. |
|
The third ray type gets to know the ropes and not get all tangled up in them. When you’re on a ship and you’re climbing into the high end of the mast, you don’t necessarily get tangled up in the rope cords, which ropes come from where, which ropes to pull, and what to do. That’s called knowing the ropes. So, this disentanglement proceedes, and as it proceeds, the light becomes more intense. Then the light becomes the next stage of Revelation, and the Plan no longer being blocked by the perception of his own glamors and illusions. The Plan can be seen and he’s intelligent enough to knows how to cooperate with it. He’s now developed a sense of order, a sense of timing, and he sees the larger picture, and he’s learned when to stop creating, when to achieve Divine Idleness. He’s learned and then can work in an intelligent way, really manifesting the Plan, “The Plan proceeds upon the outer Way; it shews itself. The Whole will stand revealed. That Plan I know. I will, with love and mind, to serve that Plan.”[xi]. This is from the Angel of Presence stanzas. |
Người cung ba làm quen với các sợi chỉ và không bị vướng vào chúng. Khi bạn ở trên một con tàu và đang leo lên đỉnh của cột buồm, bạn không nhất thiết phải bị vướng vào những sợi dây. Bạn biết dây nào từ đâu ra, dây nào để kéo và phải làm gì. Đó gọi là ‘biết các sợi dây’. Vì vậy, sự tháo gỡ này diễn ra, và khi nó diễn ra, ánh sáng trở nên mãnh liệt hơn. Sau đó, ánh sáng trở thành giai đoạn Mặc khải tiếp theo, và Thiên Cơ không còn bị cản trở bởi nhận thức về ảo cảm và ảo tưởng của chính y. Thiên Cơ có thể được nhìn thấy và y đủ thông minh để biết cách hợp tác với nó. Giờ đây, y đã phát triển ý thức về trật tự, ý thức về thời gian, và y nhìn thấy bức tranh toàn cảnh hơn, đồng thời y biết khi nào nên ngừng sáng tạo, khi nào nên đạt được Sự Nhàn rỗi Thiêng liêng. Y đã học và sau đó có thể làm việc một cách thông minh, thực sự thể hiện Thiên Cơ. “Thiên Cơ tiến hành theo Con đường bên ngoài; nó hiển thị chính nó. Toàn bộ sẽ được tiết lộ. Tôi biết Thiên Cơ đó. Tôi muốn, với tình yêu và trí tuệ, phụng sự Thiên Cơ đó.” Đây là trích dẫm từ Stanza của Thiên thần hiện diện. |
|
And now the revelation in the larger sense of the Plan is his, and he knows that he’s a little bit of weaving as part of a greater weaving of the Great Weaver who is the Planetary Logos, or it’s the Master, it’s the Christ, it’s the Sanat Kumara, or from the Planetary Logos himself who is the Weaver. |
Và bây giờ, sự mặc khải Thiên Cơ theo nghĩa rộng hơn là của y, và y biết rằng y đang dệt một phần nhỏ của sự dệt lớn hơn của Người thợ dệt vĩ đại, tức Hành tinh Thượng đế, hoặc Chân sư, hoặc Đức Christ, Đức Sanat Kumara, hoặc từ chính Hành tinh Thượng đế là Người Thợ dệt. |
|
And he is definitely now achieving his central point. He’s learned how to stand in the center, silent, just the way the Weaver does on his own little level. He stands silent at his own center and he listens sensitively and is attune to the coming and going of the energies… he’s attuned to the science of cycles, he knows when to do what and in what context. He doesn’t create anything unnecessary. Silently he weaves in accordance with the requirements of the Plan. |
Bây giờ y chắc chắn đạt được mục tiêu trọng tâm của mình. Y đã học được cách đứng ở trung tâm, im lặng, giống như cách Người Thợ Dệt vẫn làm. Ở mức độ nhỏ bé của mình, y đứng im lặng ở trung tâm của chính mình và y lắng nghe một cách nhạy cảm và hòa hợp với sự đến và đi của các năng lượng… y thuận theo khoa học về các chu kỳ, y biết khi nào nên làm gì và trong bối cảnh nào. Y không tạo ra bất cứ điều gì không cần thiết. Y âm thầm dệt vải theo yêu cầu của Thiên Cơ. |
|
Those are the first three rays, and probably many of us who are students of these things find ourselves in our soul upon one of these three rays, maybe some of us. There are those, not so many, in our groups to find themselves on the fifth ray in terms of the soul, not so many. And maybe even not so many on the fourth ray in our types of groups, but on the sixth ray and seventh ray, yes. The sixth ray types being in transition of course, and the seventh ray types may stick it out through the entire seventh ray age, doing much work upon that ray for resolving, perhaps onto the first ray, or some resolution onto the second occurs, and could be even onto the third. The first ray is the line for the seventh ray resolution mainly… |
Đó là ba cung đầu tiên, và có lẽ nhiều người trong chúng ta, những người nghiên cứu những điều này, có linh hồn mình trên một trong ba cung này. Có những người, không nhiều lắm, trong nhóm của chúng ta thấy mình thuộc cung năm về mặt linh hồn, và thậm chí có thể không nhiều ở cung bốn trong các nhóm của chúng ta, nhưng cung sáu và cung bảy thì có. Tất nhiên, người cung sáu đang trong quá trình chuyển đổi, và người cung bảy có thể tồn tại trong suốt thời đại của cung bảy, thực hiện nhiều công việc trên cung đó để nhập vào, có thể là cung một, hoặc cung hai, và thậm chí có thể vào cung ba. Cung một chủ yếu là con đường dành cho cung bảy đi vào. |
|
So, now indeed it is the end of the Techniques of Integration number nine page 362, and maybe since we finished the ray, we can do the Great Invocation from time to time… |
Vì vậy, giờ đây quả thực là kết thúc Techniques of Integration số chín, trang 362, và có lẽ vì chúng ta đã hoàn tất một cung, nên thỉnh thoảng chúng ta có thể thực hiện Đại Khấn Nguyện… |
|
Friends, we’ll go on to number ten and for coming one of the rays of attribute. S we’ll see you soon and these are longer programs I realize. I hope you have too patients but I’m doing them so that I don’t waste time and hopefully it’s not a waste of your time either. We’ll see you soon. Bye bye. |
Các bạn thân mến, chúng ta sẽ tiếp tục sang số mười và bước vào một trong các cung thuộc tính. Vậy chúng ta sẽ gặp lại các bạn sớm thôi; và tôi biết đây là những chương trình dài hơn. Tôi hy vọng các bạn đủ kiên nhẫn, nhưng tôi thực hiện theo cách này để không lãng phí thời gian, và hy vọng rằng điều đó cũng không làm lãng phí thời gian của các bạn. Chúng ta sẽ gặp lại sớm. Tạm biệt. |