Bình Giảng Các Quy Luật Điểm đạo – 7

📘 Sách: Bình Giảng Các Quy Luật Điểm đạo (Dành Cho Ứng Viên) – Tác giả: Michael D. Robbins

Commentary on Rule VII for Applicants

A. For the first of the six months we will focus upon Rule VII for Applicants

A. Trong tháng đầu tiên của sáu tháng, chúng ta sẽ tập trung vào Quy Luật VII dành cho ứng viên điểm đạo

We might choose as theme for our meditation:

Chúng ta có thể chọn chủ đề cho bài thiền của mình:

1. Either the full sentence of the Rule for Applicants:

1. Hoặc là toàn bộ câu Quy Luật VII dành cho ứng viên điểm đạo:

“Rule VII for Applicants: Let the disciple turn his attention to the enunciating of those sounds which echo in the halls where walks the Master. Let him not sound the lesser notes which awaken vibration within the halls of Maya.” (IHS, p. 198)

Người đệ tử hãy chuyển sự chú ý của y đến việc phát ra các âm thanh vốn vang dội trong những phòng mà Chân sư bước đi. Y chớ nên phát ra những nốt thấp kém vốn đánh thức sự rung động bên trong các phòng Ảo ảnh”.

2. Or, additionally, sub-themes which DK refers to in His commentary to this Rule, such as (IHS, p. 198-200):

2. Hoặc, thêm vào đó, các chủ đề phụ mà Chân Sư DK nhắc đến trong bình luận của Ngài về Quy Luật này như là:

a. In order to enter the Portals of Initiation the disciple has to learn the power of speech and the power of silence. (cf. IHS, p. 198)

a. Để bước vào Cánh cổng Điểm đạo, người đệ tử phải học sức mạnh của lời nói và sức mạnh của sự im lặng. (xem IHS, trang 198)

b. The significance of the power of speech and the power of silence is that they hold the key to manifestation. (cf. IHS, p. 198)

b. Ý nghĩa sức mạnh của lời nói và sức mạnh của sự im lặng là chúng nắm giữ chìa khóa của biểu hiện. (xem IHS, trang 198)

c. The adept who has the power of speech and the power of silence is able to produce powerful results in matter of some kind, being energized by two dominant factors, (a) a powerful will, scientifically applied, (b) right motive, purified in the fires. (cf. IHS, p. 198)

c. Vị cao đồ có sức mạnh của lời nói và sức mạnh của sự im lặng có thể tạo ra kết quả mạnh mẽ trong dạng vật chất nào đó, được thúc đẩy bởi hai yếu tố chi phối, (a) ý chí mạnh mẽ, được áp dụng một cách khoa học, (b) động cơ đúng đắn, được thanh luyện trong lửa. (xem IHS, trang 198)

d. The adept is a creator in mental matter, an originator of impulses on the mental plane, thereby producing results in astral or physical manifestation. (cf. IHS, p. 198)

d. Vị cao đồ là người tạo ra vật chất trí tuệ, người khởi tạo các xung động trên cõi trí, do đó tạo ra kết quả trong biểu hiện trên cõi cảm dục hoặc cõi hồng trần. (xem IHS, trang 198)

e. The power of speech and the power of silence involve the necessity to be pure in thought, accurate in words, and skillful in action. (cf. IHS, p. 198-199)

e. Sức mạnh của lời nói và sức mạnh của sự im lặng liên quan đến sự cần thiết phải trong sáng trong suy nghĩ, chính xác trong lời nói và khéo léo trong hành động. (xem IHS, trang 198-199)

f. In order to achieve the power of speech and the power of silence, the Applicant has to bring about the following changes in his every day life:

f. Để đạt được sức mạnh của lời nói và sức mạnh của sự im lặng, Ứng viên phải thực hiện những thay đổi sau đây trong cuộc sống hàng ngày của mình:

i. He has to monitor and to control his motives. (cf. IHS, p. 199)

i. Anh ta phải theo dõi và kiểm soát các động cơ của mình. (xem IHS, trang 199)

ii. He has to watch his speech and study its effects upon the physical plane, and he has to eliminate all unkind, unnecessary and wasteful words. (cf. IHS, p. 199)

ii. Anh ta phải xem chừng lời nói của mình và nghiên cứu ảnh hưởng của nó trên cõi hồng trần, và anh ta phải loại bỏ tất cả những từ ngữ không tử tế, không cần thiết và lãng phí. (xem IHS, trang 199)

iii. He has to cultivate silence concerning himself, his occult work or knowledge, etc., but he also has to learn when he should, in fact, speak up. (cf. IHS, p. 199)

iii. Anh ta phải trau dồi sự im lặng liên quan đến bản thân, công việc huyền bí hoặc kiến thức của anh ta, v.v., nhưng anh ta cũng phải biết khi nào anh ta nên lên tiếng trên thực tế. (xem IHS, trang 199)

iv. He has to investigate the use of the Sacred Word, and its effects upon a particular esoteric center. (cf. IHS, p. 200)

iv. Anh ta phải khảo cứu việc sử dụng Lời thiêng, và ảnh hưởng của nó lên một trung tâm nội môn cụ thể. (xem IHS, trang 200)

g. The significance of sound and of words has to be studied not only by Applicants for Initiation, but must be faced strenuously by all eventuating occult groups too. (cf. IHS, p. 200)

g. Tầm quan trọng của âm thanh và ngôn từ không chỉ phải được nghiên cứu bởi những Ứng viên điểm đạo, mà cuối cùng tất cả các nhóm huyền môn đều cũng phải dày công nghiên cứu dày công. (xem IHS, trang 200)

Rule VII for Applicants:

Quy Luật VII dành cho ứng viên điểm đạo:

“Let the disciple turn his attention to the enunciating of those sounds which echo in the halls where walks the Master. Let him not sound the lesser notes which awaken vibration within the halls of Maya.”

“Người đệ tử hãy chuyển sự chú ý của y đến việc phát ra các âm thanh vốn vang dội trong những phòng mà các Chân sư bước đi. Y chớ nên phát ra những nốt thấp kém vốn đánh thức sự rung động bên trong các phòng Ảo ảnh”.

1. We are now dealing with Rule VII for applicants. The focus is sound and speech. The throat center is ruled in an interesting way by the number seven, as there are sixteen petals in that creative center of manifestation (and sixteen sums to seven).

1. Chúng ta hiện đang nói đến Quy Luật VII dành cho các ứng viên. Trọng tâm là âm thanh và lời nói. Trung tâm cổ họng được cai quản một cách thú vị bởi số bảy, vì có mười sáu cánh hoa trong trung tâm biểu hiện sáng tạo đó (và mười sáu tổng là bảy).

2. The third ray is also important in relation to the throat center, as it is the center utilized for creative thoughtform building. The two planets ruling the throat center are the Earth (R3) for average man and Saturn (R3) for the disciple. For the more advanced disciple, Uranus (R7) is the ruler. We should be learning to use Uranian energy in relation to throat center expression.

2. Cung ba cũng quan trọng liên quan đến trung tâm cổ họng, vì nó là trung tâm được sử dụng để xây dựng hình tư tưởng sáng tạo. Hai hành tinh cai quản trung tâm cổ họng là Trái đất (Cung 3) đối với người bình thường và sao Thổ (Cung 3) đối với người đệ tử. Đối với đệ tử cao cấp hơn, Thiên Vương Tinh (Cung 7) là hành tinh cai quản. Chúng ta nên học cách sử dụng năng lượng Thiên Vương Tinh khi liên quan đến biểu hiện trung tâm cổ họng.

3. We can see how the related numbers three and seven are involved in the functioning of the throat center.

3. Chúng ta có thể thấy các số liên quan ba và bảy có liên quan như thế nào đến hoạt động của trung tâm cổ họng.

Sentence I

Câu I

A. “Let the disciple turn his attention to the enunciating of those sounds which echo in the halls where walks the Master.”

“Người đệ tử hãy chuyển sự chú ý của y đến việc phát ra các âm thanh vốn vang dội trong những phòng mà các Chân sư bước đi.”

Points to Consider in Relation to the Above Sentence

Các điểm cần xem xét liên quan đến câu trên

4. The disciple is responsible for the speech he utters. Speech is perhaps his best instrument to build the structures which lead to spiritual progress and release. Speech can also imprison him.

4. Người đệ tử chịu trách nhiệm về lời nói của mình. Lời nói có lẽ là công cụ tốt nhất của y để xây dựng các cấu trúc dẫn đến sự tiến bộ và giải phóng tâm linh. Lời nói cũng có thể cầm tù y.

5. These statements from the counsels to be found in A Treatise on White Magic suggest the power of speech for good or ill in the life of the disciple:

5. Những tuyên bố này từ những lời khuyên được tìm thấy trong Luận về Huyền Linh Thuật gợi ý sức mạnh của lời nói dù là tốt hay xấu trong cuộc sống của người đệ tử:

12. Because the life is mostly centered on the plane of concrete life, thy words and speech will indicate thy thought. To these pay close attention.

12. Bởi vì cuộc sống chủ yếu tập trung vào cõi của sự sống cụ thể, ngôn từ và lời nói của bạn sẽ chỉ ra tư tưởng của bạn. Hãy chú ý kỹ đối với những điều này.

13. Speech is of triple kind. The idle words will each produce effect. If good and kind, naught need be done. If otherwise, the paying of the price cannot be long delayed.

13. Lời nói thuộc loại tam phân. Mỗi từ ngữ vô tích sự sẽ tạo ra hiệu quả . Nếu tốt và tử tế, không cần phải làm gì. Nếu không, việc trả giá không thể bị trì hoãn lâu.

The selfish words, sent forth with strong intent, build up a wall of separation. Long time it takes to break that wall and so release the stored-up, selfish purpose. See to thy motive, and seek to use those words which blend the little life with the large purpose of the will of God.

Những lời ích kỷ , được gửi ra với ý định mạnh mẽ, xây dựng nên một bức tường ngăn cách. Phải mất một thời gian dài để phá vỡ bức tường đó và như vậy giải phóng mục đích ích kỷ được tích trữ. Hãy xem xét động cơ của bạn, và tìm cách sử dụng những từ đó hòa trộn sự sống nhỏ bé với mục đích lớn là ý muốn của Thượng Đế.

The word of hate, the cruel speech which ruins those who feel its spell, the poisonous gossip, passed along because it gives a thrill—these words kill the flickering impulses of the soul, cut at the roots of life, and so bring death.

Lời nói căm thù, lời nói độc ác này hủy hoại những ai cảm nhận được câu chữ của nó, lời đồn đãi độc địa, được truyền đi vì nó gây cảm giác hồi hộp — những lời nói này giết chết những xung động chập chờn của linh hồn, cắt đứt tận gốc rễ của sự sống, và do đó mang đến cái chết.

If spoken in the light of day, just retribution will they bring; when spoken and then registered as lies, they strengthen that illusory world in which the speaker lives and holds him back from liberation.

Nếu được nói trong ánh sáng ban ngày, chúng sẽ chỉ mang lại quả báo; khi được nói và sau đó được coi là dối trá, chúng củng cố thế giới ảo tưởng mà người nói đang sống và giam giữ y khỏi sự giải thoát.

If uttered with intent to hurt, to bruise and kill, they wander back to him who sent them forth and him they bruise and kill.

Nếu được thốt ra với ý định làm tổn thương, làm bầm dập và giết người, chúng sẽ quay trở lại với người đã sai chúng đến và y sẽ bị đánh bầm dập và giết chết.

14. The idle thought, the selfish thought, the cruel hateful thought if rendered into word produce a prison, poison all the springs of life, lead to disease, and cause disaster and delay. Therefore, be sweet and kind and good as far as in thee lies. Keep silence and the light will enter in.

14. Tư tưởng vô tích sự, tư tưởng ích kỷ, tư tưởng thù hận độc ác nếu diễn đạt thành lời sẽ sinh ra ngục tù, đầu độc mọi suối nguồn của sự sống, sinh ra bệnh tật, gây ra tai họa và sự chậm trễ. Do đó, hãy ngọt ngào, tử tế và thiện lành chừng nào có thể trong những lời nói của bạn. Giữ im lặng và ánh sáng sẽ chiếu vào.

15. Speak not of self. Pity not thy fate. The thoughts of self and of thy lower destiny prevent the inner voice of thine own soul from striking upon thine ear. Speak of the soul; enlarge upon the plan; forget thyself in building for the world. Thus is the law of form offset. Thus can the rule of love enter upon that world. (TWM 474-475)

15. Không nói về bản thân. Không than thân trách phận. Những suy nghĩ về bản thân và về số phận thấp kém của bạn ngăn cản tiếng nói bên trong của chính linh hồn bạn chạm tới tai bạn. Tiếng nói của linh hồn; mở rộng theo kế hoạch; quên bản thân mình trong việc xây dựng cho thế giới. Đây là quy luật bù trừ hình tướng. Vì vậy, quy luật của tình yêu có thể xâm nhập vào thế giới đó. (TWM 474-475)

6. Yet to speak is such a common act that we may ignore its occult implications.

6. Tuy nhiên, nói là một hành động phổ biến đến mức chúng ta có thể bỏ qua những hàm ý huyền bí của nó.

7. It is obvious that “attention” is needed. If we proceed inattentively according to habit nothing with change for the better. Therefore, one has to watch his speech.

7. Rõ ràng là cần phải “chú ý”. Nếu chúng ta tiến hành một cách thiếu chú ý theo thói quen thì sẽ không có gì thay đổi để tốt hơn. Do đó, ta phải trông chừng lời nói của mình.

8. This may seem such a rudimentary injunction that it is easily overlooked or forgotten, but the one who has truly controlled his speech is thereby demonstrating his fitness for initiation.

8. Đây có vẻ là một huấn thị thô sơ đến mức dễ bị bỏ qua hoặc bị lãng quên, nhưng người thực sự kiểm soát được lời nói của mình qua đó chứng tỏ xứng đáng cho việc điểm đạo.

9. When preparing for initiation the following is required of the aspirant:

9. Khi chuẩn bị cho việc điểm đạo, những điều sau đây được yêu cầu đối với người chí nguyện:

b. To control his speech every minute of every day. This is a statement easily made, but most difficult to make practical. He who achieves it is rapidly nearing emancipation. This applies not to the reticence, the moroseness, the silence, and the voicelessness which often distinguishes natures but little evolved, and which are in reality an inarticulate condition. It refers to the controlled use of words to effect certain ends, and the retention of speech energy when not needed—a very different matter. It involves a realisation of cycles; of times and of seasons; it supposes a knowledge of the power of sound, and of the effects produced [Page 157] through the spoken word; it involves an apprehension of the building forces of nature and their due manipulation, and is based on an ability to wield mental matter, and to set it in motion, in order to produce results in physical matter, consonant with the clearly defined purpose of the inner God. It is the shining forth of the second aspect of the Self, the Vishnu, or form-building aspect, which is the prime characteristic of the Ego on its own plane. It would be well to ponder on this. (IHS 156-157)

b. Hằng ngày làm chủ lời nói trong từng giây phút. Điều này dễ nói nhưng rất khó thực hành, và người nào đạt được sẽ mau chóng đến gần mức giải thoát. Điều này không áp dụng cho tính kín miệng, lầm lì, im lặng, ít nói, thường là đặc trưng cho bản tính kém tiến hoá, và thực ra chỉ là tình trạng thiếu khả năng diễn đạt. Đây là việc cẩn thận sử dụng ngôn ngữ để đạt những mục tiêu nhất định, và tiết kiệm năng lượng lời nói khi không cần thiết,—một vấn đề khác hẳn. Điều này bao gồm sự nhận thức về chu kỳ, thời cơ và mùa tiết, kiến thức về quyền năng của âm thanh, và [157] các hiệu quả do lời nói tạo ra; gồm sự thấu hiểu các mãnh lực kiến tạo của thiên nhiên cũng như vận dụng chúng một cách đúng đắn, và dựa trên khả năng vận dụng vật chất trí tuệ, phát động nó để tạo trong vật chất hồng trần các kết quả phù hợp với mục đích đã minh định của Thượng Đế nội tâm. Đó là sự chói rạng của trạng thái thứ hai của Đại Ngã, là trạng thái Vishnu hay phương diện kiến tạo hình thể, vốn là đặc tính chủ yếu của Chân nhân trên cảnh giới của chính nó. Rất đáng nên suy ngẫm điều này.

10. Clearly there is a time to speak and a time not to speak. We note the importance of the planet Saturn (the planet of time and timing) in the matter of judging (Saturn/Libra) when to speak and when to refrain.

10. Rõ ràng là có thời điểm để nói và có thời điểm không nên nói. Chúng ta lưu ý tầm quan trọng của hành tinh Sao Thổ (hành tinh của thời gian và thời điểm) trong vấn đề phán đoán (Sao Thổ / Thiên Bình) khi nào nên nói và khi nào nên kiềm chế.

11. Interestingly, Uranus too is a planet related to precision of timing. We all know that speech in the magical process must be delivered with precise timing, motive, power, intonation, etc. Which one of us, as disciples, is not involved in a deeply white magical process?

11. Thật thú vị, sao Thiên Vương cũng là một hành tinh liên quan đến độ chính xác của thời gian. Tất cả chúng ta đều biết rằng lời nói trong quá trình huyền thuật phải được chuyển tải với thời gian, động cơ, sức mạnh, ngữ điệu chính xác, v.v. Ai trong chúng ta, với tư cách là đệ tử, không tham gia vào một quá trình huyền linh thuật sâu sắc?

12. The practicality of the matter and the availability of the means to one and all are set forth in the following selection:

12. Tính thực tế của vật chất và sự sẵn có của các phương tiện cho mỗi người và tất cả được quy định trong việc lựa chọn sau:

One of the greatest instruments for practical development lying in the hands of small and great, is the instrument of SPEECH. He who guards his words, and who only speaks with altruistic purpose, in order to carry the energy of Love through the medium of the tongue, is one who is mastering rapidly the initial steps to be taken in preparation for initiation. Speech is the most occult manifestation in existence; it is the means of creation and the vehicle for force. In the reservation of words, esoterically understood, lies the conservation of force; in the utilisation of words, justly chosen and spoken, lies the distribution of the love force of the solar system,—that force which preserves, strengthens, and stimulates. Only he who knows somewhat of these two aspects of speech can be trusted to stand before the Initiator and to carry out from that Presence certain sounds and secrets imparted to him under the pledge of silence. (IHS 74)

Một trong những khí cụ quan trọng nhất cho việc phát triển thực sự, nằm trong tay của mọi người từ thấp đến cao, là LỜI NÓI. Người nào biết giữ gìn lời nói của mình, và chỉ nói với mục đích vị tha, để dùng ngôn ngữ làm trung gian truyền năng lượng Bác ái, là người đang nhanh chóng đạt được các bước đầu cần thực hiện để chuẩn bị cho điểm đạo. Lời nói là biểu lộ huyền bí nhất đang hiện hữu; nó là phương tiện của sự sáng tạo và vận cụ của các mãnh lực. Hiểu theo nghĩa nội môn, giữ gìn được lời nói tức là giữ gìn được sức mạnh; sử dụng lời nói, đã chọn kỹ và thốt ra đúng đắn, tức là phân phối mãnh lực bác ái của thái dương hệ,—là mãnh lực bảo toàn, tăng cường và kích thích. Chỉ có người phần nào hiểu được hai khía cạnh này của lời nói, mới có thể được tín nhiệm để đứng trước Đấng Điểm Đạo, và từ sự Hội kiến với Ngài có thể áp dụng một số âm thanh và bí nhiệm được truyền đạt cho y với lời thệ nguyện giữ im lặng.

13. The disciple is to enunciate certain sounds. It takes careful attention to enunciate properly. Speech is not to be a casual matter, but to be accomplished with a degree of exactitude and even formality (as the rulership of the throat center by ray seven for advanced disciples suggests).

13. Đệ tử phải phát ra một số âm thanh nhất định. Cần phải chú ý cẩn thận để phát âm đúng cách. Lời nói không phải là một vấn đề ngẫu nhiên, mà phải được thực hiện với một mức độ nghiêm túc và thậm chí cả hình thức (như sự cai quản của trung tâm cổ họng bởi cung bảy đối với các đệ tử cao cấp cho thấy).

14. The disciple is to enunciate “sounds” not only “words”. Why was the term, “sounds”, used in the Rule and not the term “words”? Perhaps because the disciple is responsible not only for the words uttered but for a more occult factor—the sound or tone of them when they are uttered. One can say much through sound and tone. It is the energy within and behind the words that counts for more than we often realize.. We all know how it is possible to use the same form of words and yet say very different things through our tone of voice, our inflection and, generally, the sound of our voice.

14. Người đệ tử phải phát ra “âm thanh” không chỉ “lời nói”. Tại sao thuật ngữ, “âm thanh”, được sử dụng trong Quy luật mà không phải là thuật ngữ “lời nói”? Có lẽ bởi vì người đệ tử không chỉ chịu trách nhiệm về những lời nói được thốt ra mà còn về một yếu tố huyền bí hơn – âm thanh hoặc giai điệu của chúng khi chúng được thốt ra. Người ta có thể nói nhiều điều thông qua âm thanh và giai điệu. Đó là nguồn năng lượng bên trong và đằng sau những ngôn từ có giá trị hơn những gì chúng ta thường nhận ra . Tất cả chúng ta đều biết làm thế nào để có thể sử dụng cùng một dạng lời nói nhưng lại nói những điều rất khác nhau thông qua giọng nói, cách uốn giọng của chúng ta và nói chung , âm thanh của giọng nói của chúng ta.

15. Added to this must be the ‘sound of our thought’ which, in a way, is even more important.

15. Thêm vào điều này phải là ‘âm thanh tư tưởng của chúng ta’, theo một cách nào đó, thậm chí còn quan trọng hơn.

16. The sounds enunciated by the disciple are to “echo in the halls where walks the Master”. The “walk” of the Master is the habitual focus of His attention and work. Those sounds, because of their quality, are to gain entry to the higher planes where His attention is focussed. By resonance, the higher thoughts will reverberate in those dimensions. A higher form of echoing is involved—a kind of ‘echoing upwards’. It is presumed that when sound of a certain quality reaches His point of habitual focus, He will notice them and respond accordingly.

16. Những âm thanh do người đệ tử phát ra là “vang vọng trong những phòng nơi Chân sư dạo bước”. “Bước đi” của Chân sư là trọng tâm thường xuyên của sự chú ý và công việc của Ngài. Những âm thanh đó, bởi chất lượng của chúng, là để tiến nhập vào những cõi cao hơn, nơi tập trung sự chú ý của Ngài. Bằng cách cộng hưởng, những tư tưởng cao hơn sẽ vang vọng trong những không gian đó. Một dạng tiếng vọng cao hơn có liên quan – một loại ‘tiếng vọng hướng thượng’. Người ta cho rằng khi âm thanh có chất lượng nhất định đạt đến điểm tập trung theo thói quen của Ngài, Ngài sẽ chú ý đến chúng và đáp ứng tương ứng.

17. Probably in the days that these rules were written, the “halls where walks the Master” were on the higher mental plane. All that is changed now, and the buddhic plane is the focus of the majority of Ashrams. But if words/sounds are spoken under the right conditions of alignment (i.e., under the impress of the spiritual triad via the antahkarana) those words/sounds may also reach the buddhic plane. However, perhaps for our consolation, as Master DK has shown through His letters to disciples, He is also attentive to their psychological quality of his disciples and even their physical quality, when necessary.

17. Có thể là trong những ngày mà những quy luật này được viết ra, “các phòng nơi Chân sư đi dạo” còn ở trên cõi thượng trí. Giờ đây, tất cả những điều đó đã thay đổi, và cõi Bồ đề là trọng tâm của phần lớn các Đạo tràng. Nhưng nếu các từ ngữ / âm thanh được nói ra trong điều kiện phù hợp của sự chỉnh hợp (tức là, dưới ấn tượng của tam nguyên tinh thần thông qua antahkarana) thì những từ / âm thanh đó cũng có thể đạt đến cõi Bồ đề. Tuy nhiên, có lẽ để an ủi chúng ta, như Chân sư DK đã thể hiện qua những lá thư của Ngài gửi cho các đệ tử, Ngài cũng chú ý đến phẩm chất tâm lý của các đệ tử và thậm chí cả thể chất của họ, khi cần thiết.

18. Disciples must not, however, depend upon the Master’s capacity to enter their personality sphere. Rather they should seek to develop the highest form of thought/speech resonant with the will/thought of the Master. In this way they will carry out good service in the sight of the Ashram and move closer to the ‘portal of empowerment’.

18. Tuy nhiên, các đệ tử không được phụ thuộc vào năng lực của Chân sư để đi vào lĩnh vực phàm ngã của họ. Thay vào đó, họ nên tìm cách phát triển hình thức tư tưởng / lời nói cao nhất phù hợp với ý chí / tư tưởng của Ngài. Bằng cách này, họ sẽ thực hiện việc phụng sự tốt trước Ashram và tiến gần hơn đến ‘cánh cổng trao quyền’.

19. Additionally, when the correct words/speech are sounded, the causal body is properly built; such sounding enables the gifts of the causal body to be better expressed in service.

19. Ngoài ra, khi các từ / lời nói chính xác được phát ra, thể nguyên nhân được xây dựng đúng cách; âm thanh như vậy cho phép các tài năng của thể nguyên nhân được thể hiện tốt hơn trong việc phụng sự.

20. The factor of alignment is much involved in this process. The “sounds which echo in the halls where walks the Master” promote alignment with the Master and His Ashram. Contrary sounds prevent or disrupt that alignment.

20. Yếu tố chỉnh hợp có liên quan nhiều đến quá trình này. “Những âm thanh vang vọng trong phòng nơi Chân sư đi lại” thúc đẩy sự chỉnh hợp với Chân sư và Đạo tràng của Ngài. Âm thanh trái ngược ngăn cản hoặc phá vỡ sự chỉnh hợp đó.

21. Can we slow ourselves down sufficiently to notice with accuracy what we think and say, and the tone or sound with which we say it? Others will probably notice it before we do.

21. Liệu chúng ta có thể giảm tốc độ đủ để nhận thấy chính xác những gì chúng ta nghĩ và nói, cũng như giọng điệu hoặc âm thanh mà chúng ta nói không? Những người khác có thể sẽ nhận thấy điều đó trước khi chúng ta nhận ra.

Sentence II

Câu II

B. Let him not sound the lesser notes which awaken vibration within the halls of Maya.”

“Y chớ nên phát ra những nốt thấp kém vốn đánh thức sự rung động bên trong các phòng Ảo ảnh.”

Points to Consider in Relation to the Above Sentence

Các điểm cần xem xét liên quan đến câu trên

22. In a generic sense, the “halls of Maya” may be considered the eighteen lower subplanes of the cosmic physical plane. These are the lunar worlds whereon illusion/maya usually flourishes.

22. Theo nghĩa chung, “các phòng Ảo ảnh” có thể được coi là mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ. Đây là những thế giới thái âm, nơi mà ảo ảnh / maya thường phát triển mạnh mẽ.

23. Our speech is not to become engrossed in conditions in these worlds but is to bring higher patterns (from “the halls where walks the Master”) into these worlds.

23. Lời nói của chúng ta không phải để trở nên mải mê với những điều kiện trong những thế giới này mà là đưa những hình mẫu cao hơn (từ “những hội trường nơi Chân sư đi lại”) vào những thế giới này.

24. There are “sounds” and there are “notes”. These two contrasting words are apparently used purposefully in the Rule.

24. Có các “âm thanh” và có các “nốt”. Hai từ tương phản này rõ ràng được sử dụng có mục đích trong Quy luật.

25. May we say that “sounds” are more inclusive than “notes” and “notes” more fragmentary? “Notes” are but parts of a chord, and chords parts of phrases (of music). The overall sound of a disciple’s thought and speech contains many notes and phrases.

25. Chúng ta có thể nói rằng “âm thanh” bao hàm hơn “nốt” và “nốt” rời rạc hơn không? “Các nốt” chỉ là các phần của một hợp âm và các phần hợp âm của các cụm từ (của âm nhạc). Âm thanh tổng thể của tư tưởng và lời nói của một đệ tử chứa nhiều nốt và cụm từ.

26. There must necessarily also be ‘greater notes’, and the manner in which notes are combined (whether harmonious or otherwise) is also of the greatest importance.

26. Cũng cần phải có ‘các nốt lớn hơn’, và cách thức kết hợp các nốt (cho dù hài hòa hay không) cũng có tầm quan trọng nhất.

27. The second sentence in the Rule points to the fact that our speech is often fragmentary, filled with incomplete thoughts of no particular elevation.

27. Câu thứ hai trong Quy luật chỉ ra thực tế là lời nói của chúng ta thường rời rạc, chứa đầy những tư tưởng không hoàn chỉnh và không có tầm cao cụ thể.

28. Normal speech strengthens the illusory web in which we commonly live—this is the ‘Web of Maya’. The general meaning for the term “Maya”, we may remember, is “illusion”.

28. Lời nói bình thường củng cố mạng lưới ảo tưởng mà chúng ta thường sống — đây là ‘Mạng lưới của Maya’. Chúng ta có thể nhớ rằng nghĩa chung của thuật ngữ “Maya” là “ảo ảnh”.

29. When vibration is awakened within the “halls of Maya”, no coherent, purposeful, enlightened action is possible. A vision of the unity and wholeness of things is denied. The illusion of separation and fragmentation looms large.

29. Khi rung động được đánh thức trong “các phòng Ảo ảnh”, không hành động thống nhất, có mục đích và giác ngộ nào có thể thực hiện được. Một tầm nhìn về sự thống nhất và toàn vẹn của mọi thứ bị phủ nhận. Ảo ảnh về sự tách biệt và phân mảnh hiện lên rất lớn.

30. Another way of following the injunctions given in this Rules\ is to ‘speak only those words/sounds which promote unity and the entry of the light’. Common speech is not like this, therefore the attention of the disciple must be turned to the correct enunciation of sounds/words until habit reflects spiritual intention.

30. Một cách khác để tuân theo các huấn thị được đưa ra trong Quy luật này là ‘chỉ nói những ngôn từ / âm thanh thúc đẩy sự thống nhất và sự xâm nhập của ánh sáng’. Lời nói thông thường không giống như vậy, do đó sự chú ý của người đệ tử phải được chuyển sang cách phát âm chính xác các âm thanh / từ ngữ cho đến khi thói quen phản ánh ý định tâm linh.

Paragraph I

Đoạn I

C. The disciple who seeks to enter within the Portals of Initiation cannot do so until he has learnt the power of speech and the power of silence. This has a deeper and a wider significance than perhaps is apparent, for it holds, if rightly interpreted, the key to manifestation, the clue to the great cycles, and the revelation of the purpose underlying pralaya.

C. Người đệ tử nào muốn vào bên trong các Cửa Điểm Đạo, không thể làm thế cho đến khi y đã học được quyền năng của lời nói và quyền năng của sự im lặng. Điều này có một ý nghĩa sâu, rộng hơn là có lẽ ở vẻ bề ngoài, bởi vì nếu được diễn giải đúng đắn, nó nắm giữ chìa khóa cho cuộc biểu lộ, manh mối cho các đại chu kỳ, và sự tiết lộ mục đích nằm dưới chu kỳ hoàn nguyên (pralaya).

Points to Consider in Relation to the Above Paragraph

Các điểm cần xem xét liên quan đến đoạn trên

31. An appreciation of the power of speech (and silence) and their control is not a casual matter. Without such learning and control, it is not possible to enter the Portals of Initiation.

31. Việc đánh giá cao sức mạnh của lời nói (và sự im lặng) và khả năng kiểm soát chúng không phải là chuyện thường tình. Nếu không có sự hiểu biết và kiểm soát như vậy, không thể vào Cổng Điểm đạo.

32. Speech and silence are to be used purposefully and with the Divine Plan in mind.

32. Lời nói và sự im lặng phải được sử dụng có mục đích và ghi nhớ, lưu ý đến Thiên Cơ.

33. Earlier, we linked the throat center and speech (as well as thought) to manifestation.

33. Trước đó, chúng ta đã chỉnh hợp trung tâm cổ họng và lời nói (cũng như suy nghĩ) với biểu hiện.

34. DK tells us that if the power of speech and of silence is understood and rightly interpreted it holds:

34. Chân sư DK nói với chúng ta rằng nếu sức mạnh của lời nói và sự im lặng được hiểu và diễn giải đúng đắn thì nó sẽ nắm giữ:

a. The key to manifestation

a. Chìa khóa để biểu lộ

b. The clue to the great cycles

b. Manh mối đến các chu kỳ lớn

c. The revelation of the purpose underlying pralaya

c. Sự tiết lộ về mục đích cơ bản của chu kỳ quy nguyên – pralaya

35. Such statements give us pause to reflect:

35. Những tuyên bố như vậy khiến chúng ta tạm dừng để suy ngẫm:

a. All manifestation begins with a Sound or Note or Word.

a. Tất cả biểu hiện bắt đầu bằng Âm thanh hoặc Nốt hoặc Từ.

b. As the Word is sounded/sung, manifestation begins; when that Word ceases to be sounded/sung, manifestation ends.

b. Khi Lời được cất lên / hát lên, sự biểu lộ bắt đầu; khi Lời đó không còn được phát ra / hát, sự biểu lộ kết thúc.

c. Speech is really an instrument of manifestation and should be used to promote the manifestation of the Divine Plan. Do we use it in this way?

c. Lời nói thực sự là một công cụ biểu hiện và nên được sử dụng để thúc đẩy sự biểu lộ Thiên Cơ. Chúng ta có sử dụng nó theo cách này không?

d. The silences which precede and follow speech are important in relation to the meaning of the speech. All speech should arise out of a pralaya (interlude of silence) and resolve into a pralaya. Before speech silence; after speech silence. Practically, this can mean the apparent silence in which thought occurs—thinking before speaking; thinking after speaking. Of course thinking is only apparently silence. There is also the silence of assimilation which follows speech and the silence of attunement which precedes it.

d. Những khoảng lặng đứng trước và sau lời nói rất quan trọng liên quan đến ý nghĩa của lời nói. Tất cả lời nói nên phát sinh từ một pralaya (đoạn ngừng im lặng) và phân giải vào một pralaya. Trước khi nói, im lặng; sau khi nói, im lặng. Trên thực tế, điều này có thể có nghĩa là sự im lặng rõ ràng trong đó tư tưởng xuất hiện — suy nghĩ trước khi nói; suy nghĩ sau khi nói. Tất nhiên suy nghĩ dường như chỉ là sự im lặng. Ngoài ra còn có sự im lặng của sự đồng hóa theo sau lời nói và sự im lặng của sự hòa hợp đi trước nó.

e. The meaning of any sound or note is to be appreciated not only in relation to other sounds and notes but in relation to silence.

e. Ý nghĩa của bất kỳ âm thanh hoặc nốt nào được đánh giá cao không chỉ liên quan đến các âm thanh và nốt nhạc khác mà còn liên quan đến sự im lặng.

f. The ray cycles (for instance) have periods of active manifestation and periods of non-manifestation. These cycles (like all cycles) operate according to the Law of Periodicity.

f. Các chu kỳ cung (ví dụ) có các giai đoạn biểu hiện tích cực và các giai đoạn không biểu hiện. Các chu kỳ này (giống như tất cả các chu kỳ) hoạt động theo Định luật tuần hoàn.

g. The cyclic use of speech and thought can attune one with ray cycles, which span not only hundreds and thousands of years, but have much smaller reflections—even daily reflections.

g. Việc sử dụng lời nói và tư tưởng theo chu kỳ có thể hòa hợp một người với các chu kỳ cung, kéo dài không chỉ hàng trăm và hàng nghìn năm, mà còn có các phản ánh nhỏ hơn nhiều — thậm chí là các phản ánh hàng ngày .

h. In general the correct use of the powers of speech and silence attune one to the great rituals of the greater beings “in whom we live and move and have our being”, and facilitate our knowledgeable and rhythmic cooperation with those rituals.

h. Nói chung, việc sử dụng đúng các quyền năng của lời nói và sự im lặng sẽ giúp chúng ta tuân theo các nghi lễ vĩ đại của những đấng vĩ đại hơn “nơi chúng ta sống và chuyển động và hiện tồn”, đồng thời tạo điều kiện cho chúng ta hợp tác nhịp nhàng và hiểu biết với những nghi lễ đó.

D. Until a man comprehends the significance of the spoken word, and until he utilises the silence of the high places for the bringing about of desired effects on one plane or another, he cannot be admitted into those realms wherein every sound and every word spoken produces powerful results in matter of some kind, being energised by two predominant factors, (a) a powerful will, scientifically applied, (b) right motive, purified in the fires.

D. Cho đến khi hành giả thấu hiểu được ý nghĩa của lời được nói ra, và cho đến khi y sử dụng được sự im lặng của những chốn cao siêu để mang lại các kết quả mong muốn trên cõi này hay cõi khác, nếu không thì y không thể được nhận vào các lĩnh vực mà trong đó mỗi âm thanh và mỗi lời được thốt ra đều tạo nên những kết quả mạnh mẽ trong một loại vật chất nào đó, được làm sinh động bởi hai yếu tố chính, (a) ý chí mạnh mẽ, được áp dụng một cách khoa học, và (b) động cơ đúng đắn, được thanh luyện trong các lửa.

36. In the section above, the unbelievable power of speech is emphasized.

36. Trong phần trên, sức mạnh không thể tin được của lời nói được nhấn mạnh.

37. Right thought, sound, word and speech are not cultivated simply so that one may fulfill some moral standard. The extraordinary power of speech when uttered from the higher realms is the reason for correct cultivation. The possibility of damage to the creative process is too great to ignore the potency of thought and utterance.

37. Chánh tư duy, âm thanh, ngôn từ và lời nói không được trau dồi đơn giản để người ta có thể hoàn thành tiêu chuẩn đạo đức nào đó. Năng lực phi thường của lời nói khi được thốt ra từ các cõi cao là lý do cho việc tu dưỡng đúng đắn. Khả năng thiệt hại cho quá trình sáng tạo là quá lớn nếu bỏ qua năng lực của tư tưởng và lời phát biểu.

38. An interesting idea is here proposed: the “silence of the high places” are to used “for the bringing about of desired effects on one plane or another”. How shall this silence be used?

38. Một ý tưởng thú vị được đề xuất ở đây: “sự im lặng của những nơi cao” được sử dụng để “mang lại những hiệu ứng mong muốn trên cõi này hay cõi khác”. Sự im lặng này sẽ được sử dụng như thế nào?

39. May we say it is to be used to promote the reception of intuition which reveals that which really is and that which must be?

39. Liệu chúng ta có thể nói nó được sử dụng để thúc đẩy tiếp nhận trực giác tiết lộ cái thực sự là và cái phải là?

40. The “high places” are devoid of glamor and illusion and promote sight and correct understanding.

40. “Những nơi cao” không có ảo cảm và ảo tưởng, đồng thời thúc đẩy cái nhìn và hiểu biết đúng đắn.

41. There is also a tremendous power which descends from those “high places”; the power(s) of ideas themselves (as represented within the realm of the spiritual triad). Such powers arrange and drive the patterns of the lower planes. Those who would see the archetypal ideas descend in faithfulness to the original (i.e., in truth), must have access to the high silent places where such ideas reside. Only then will the ideas appear in clarity (second ray) and their power be accessible (first ray), after which there will be effectiveness in the lower worlds (third ray).

41. Cũng có một sức mạnh to lớn giáng xuống từ những “nơi cao” đó; (các) sức mạnh của bản thân các ý tưởng (được thể hiện trong lĩnh vực của tam nguyên tinh thần). Quyền hạn như vậy sắp xếp và điều khiển các mô hình của các cõi thấp hơn. Những người có thể nhìn thấy những ý tưởng nguyên mẫu đi xuống trung thành với nguyên bản (tức là, thật sự), phải có quyền truy cập vào những nơi yên tĩnh cao cả, nơi những ý tưởng đó cư trú. Chỉ khi đó các ý tưởng mới xuất hiện rõ ràng (cung hai) và sức mạnh của chúng có thể tiếp cận được (cung nhất), sau đó sẽ có hiệu lực trong các thế giới thấp hơn (cung ba).

42. Only those may pass through the portal whose motives have been purified in the fires and who have developed a powerful will, which is guided by purified motive. The scientific application of the will can be for good or ill, and so right and purified motive (based on love) is essential.

42. Chỉ những người có động cơ đã được thanh luyện trong lửa và những người đã phát triển một ý chí mạnh mẽ, được hướng dẫn bởi động cơ trong sáng mới có thể đi qua cánh cổng. Ứng dụng khoa học của ý chí có thể là tốt hoặc xấu, và vì vậy động cơ đúng đắn và trong sạch (dựa trên tình yêu thương) là điều cần thiết.

43. The use of sound, of word and speech is a testing ground to see whether a great force can be wielded wisely, scientifically and under the impulse of purified motive. We can judge of the results by what we have created in the world, and adjustments can be made to correct that which is amiss. All this must be done before further empowerment (initiation) can be allowed.

43. Việc sử dụng âm thanh, ngôn từ và lời nói là cơ sở thử nghiệm để xem liệu một sức mạnh to lớn có thể được sử dụng một cách khôn ngoan, khoa học và dưới sự thúc đẩy của động cơ trong sạch hay không. Chúng ta có thể đánh giá kết quả dựa trên những gì chúng ta đã tạo ra trên thế giới và có thể thực hiện các điều chỉnh để khắc phục những điều còn thiếu sót. Tất cả điều này phải được thực hiện trước khi có thể cho phép tiếp tục trao quyền (điểm đạo).

Paragraph II

Đoạn II

E. An adept is a creator in mental matter, an originator of impulses on the mental plane, thereby producing results in astral or physical manifestation. These results are powerful and effective, and hence the necessity for their originator to be pure in thought, accurate in word, and skilful in [Page 199] action. When these ideas are realised by applicants, the immediate consequence will be important changes in the life of every day.

E. Một vị Cao đồ là một vị sáng tạo trong vật chất cõi trí, một vị phát khởi các xung lực trên cõi trí, nhờ đó tạo ra các kết quả trong sự biểu lộ cảm dục hay hồng trần. Những kết quả này rất mạnh mẽ và hữu hiệu, do đó vị sáng tạo phải có tư tưởng thanh khiết, lời nói chính xác, và [199] hành động khéo léo. Khi ứng viên nhận thức được các ý niệm này, thì hậu quả tức thời sẽ là những thay đổi quan trọng trong đời sống hằng ngày.

Points to Consider in Relation to the Above Paragraph

Các điểm cần xem xét liên quan đến đoạn trên

44. An adept (a Master of the Wisdom) does the following:

44. Một Vị Cao đồ (một Chân sư Minh triết) làm những việc sau:

a. He creates in mental matter.

a. Ngài tạo ra vật chất trí tuệ.

b. He is an “originator of impulses on the mental plane”.

b. Ngài là “người khởi xướng các xung động trên cõi trí”.

c. This produces results in astral and physical manifestation.

c. Điều này tạo ra các kết quả biểu hiện trên cõi cảm dục và cõi hồng trần.

45. A Master is focussed largely in the realm of atma-buddhi. By some accounts He has dominated the atmic plane (which might be called ‘the plane of law-inspired mind’ due to its first ray/third ray energies).

45. Một vị Chân sư chủ yếu tập trung vào cõi atma-bồ đề. Theo một số tài liệu, Ngài đã thống trị cõi atma (có thể được gọi là ‘cõi của cái trí được cảm ứng theo luật’ do năng lượng cung một / cung ba của nó).

46. The mental plane is the third plane counting from the below and the fifth from above. The atmic plane is the third counting from above and the fifth from below. There is, therefore, a strong numerical resonance between these planes.

46. Cõi trí là cõi thứ ba tính từ dưới lên và cõi thứ năm tính từ trên xuống. Cõi atma (cõi niết bàn) là cõi thứ ba tính từ trên xuống và cõi thứ năm tính từ dưới lên. Do đó, có một sự cộng hưởng số mạnh mẽ giữa các cõi này.

47. We are told that on the plane of mind the Master may be “found”. Since the Master is focussed in atma, a strong mental focus (including the higher mind) will align the disciple, resonantly with the Master’s major focus. (The Master’s focus in buddhi, however, cannot be overlooked.)

47. Chúng ta được cho biết rằng trên cõi trí, có thể “tìm thấy” Chân sư. Vì Chân sư tập trung vào atma, nên sự tập trung trí tuệ mạnh mẽ (bao gồm cả thượng trí) sẽ chỉnh hợp người đệ tử, cộng hưởng với trọng tâm chính của Chân sư. (Tuy nhiên, không thể bỏ qua sự tập trung của Chân sư vào cõi bồ đề).

48. We see that a Master creates in mental matter and originates ‘impulses on the mental plane”. Is it important that the disciple find these creations and align with these impulses. He will then be a more effective server of the Plan.

48. Chúng ta thấy rằng một Chân sư tạo ra vật chất trí tuệ và khởi nguồn ‘các xung động trên cõi trí’. Điều quan trọng là người đệ tử phải tìm ra những sáng tạo này và chỉnh hợp với những xung lực này. Sau đó y sẽ là một người phụng sự Thiên cơ hiệu quả hơn.

49. When we think of our own individual process, do we find that we have found the Master’s creations in mental matter” Do we find that we feel the mental impulses emanating from Him? Let us pause to reflect.

49. Khi chúng ta nghĩ về quá trình cá nhân của chính mình, chúng ta có thấy rằng chúng ta đã tìm thấy những sáng tạo của Chân sư trong vật chất trí tuệ”? Chúng ta có thấy rằng chúng ta cảm thấy những xung động trí tuệ phát ra từ Ngài không? Chúng ta hãy tạm dừng để suy ngẫm.

50. It is required of a Master that He be:

50. Một Chân sư được yêu cầu rằng Ngài phải:

a. Pure in thought

a. Thuần khiết trong tư tưởng

b. Accurate in word

b. Chính xác trong ngôn từ

c. Skillful in action

c. Khéo léo trong hành động

51. We can see these requirements are all part of the white magical process. Purity in thought guarantees the ability to generate effects which impact the higher dimensions of life. No lower patterns will be deliberately energized by the Master’s powerful thought. From Him emanate no powerful low vibrations.

51. Chúng ta có thể thấy những yêu cầu này đều là một phần của quy trình huyền linh thuật. Sự thuần khiết trong tư tưởng đảm bảo khả năng tạo ra những tác động ảnh hưởng đến các chiều cao hơn của cuộc sống. Không có hình mẫu nào thấp hơn sẽ được tiếp thêm sức mạnh một cách chủ ý bởi tư tưởng mạnh mẽ của Chân sư. Từ Ngài không phát ra những rung động mạnh mẽ thấp.

52. Accuracy in word is required because a Master’s words are virtually mantrams, having an extraordinary effectiveness in producing results. This accuracy further guarantees the accurate manifestation of the patterns of the Plan.

52. Cần phải có sự chính xác trong từ ngữ bởi vì lời nói của Chân sư gần như là những câu thần chú, có một hiệu quả phi thường trong việc tạo ra kết quả. Độ chính xác này càng đảm bảo sự thể hiện chính xác các hình mẫu của Thiên cơ.

53. As for skillfulness in action, motives may be pure and thoughts clear and accurate, but if action is not commensurate to the results intended, there will be unfortunate mistakes on the lowest level of the manifestation process and the intended thought patterns will not come through as conceived.

53. Về sự khéo léo trong hành động, động cơ có thể trong sáng và suy nghĩ rõ ràng, chính xác, nhưng nếu hành động không tương xứng với kết quả đã định, sẽ có những sai lầm đáng tiếc xảy ra ở cấp độ thấp nhất của quá trình biểu hiện và các hình mẫu tư tưởng đã định sẽ không thành hiện thực như đã hình dung.

54. These three requirements are indispensable for a Master and increasingly demanded of the advancing disciple who is growing in power—power to affect things for the good or otherwise.

54. Ba yêu cầu này là không thể thiếu đối với một Chân sư và ngày càng đòi hỏi ở người đệ tử đang thăng tiến, người đang ngày càng phát triển quyền năng — quyền năng ảnh hưởng đến mọi thứ vì điều tốt đẹp hay không.

55. We see how much responsibility falls upon one who is serious about treading the Path of Occultism. Very little in the realm of character or capacity can be overlooked or dismissed as inconsequential. Indeed, every pattern ‘within’ has its inevitable effects ‘without’.

55. Chúng ta thấy có bao nhiêu trách nhiệm đổ dồn lên một người nghiêm túc trong việc bước lên Con đường Huyền bí. Gần như không có phần nào trong lĩnh vực tính cách hoặc năng lực có thể bị coi thường hoặc bị coi là không quan trọng. Thật vậy, mọi khuôn mẫu ‘bên trong’ đều có những tác động không thể tránh khỏi của nó ‘bên ngoài’.

Paragraph III

Đoạn III

E. These changes might, for the sake of their practical use, be enumerated as follows:

E. Để ứng dụng thực tế, chúng ta có thể kể ra những thay đổi này như sau:

a. Motives will be closely searched, and a strict check will be kept upon originating impulses. Hence during the first year in which the applicant devotes himself to the work of preparation for initiation he will, three times a day, keep a written account of the investigations he pursues, which concern his motives, or the mainspring of action.

a. Các động lực sẽ được xem xét kỹ và các xung lực phát khởi hành động sẽ được kiểm tra nghiêm nhặt. Vì thế, trong năm đầu tiên khi ứng viên hiến dâng y cho công việc chuẩn bị điểm đạo, mỗi ngày ba lần, y sẽ viết ra một miêu tả về những nghiên cứu mà y theo đuổi liên quan đến các động cơ của y, hay nguyên nhân chính của hành động.

Points to Consider in Relation to the Above Paragraph

Các điểm cần xem xét liên quan đến đoạn trên

56. We do things sometime rapidly and without thought. Do we know why we do what we do? When the action is relatively new, we may indeed know why we act, but when the action proceeds out of habit (the actions of which were originated long ago and under motivations perhaps long forgotten) it is not so easy to understand the originating motives.

56. Đôi khi chúng ta làm mọi thứ một cách nhanh chóng và không suy nghĩ. Chúng ta có biết tại sao chúng ta làm những gì chúng ta làm không? Khi hành động còn tương đối mới, chúng ta có thể thực sự biết tại sao mình lại hành động, nhưng khi hành động đó diễn ra theo thói quen (những hành động có nguồn gốc từ lâu và dưới những động cơ có lẽ đã bị lãng quên từ lâu) thì không dễ hiểu về động cơ bắt nguồn.

57. We note the word “strict”, which leaves very little room for laxity.

57. Chúng ta lưu ý từ “nghiêm ngặt”, từ này gần như không có chỗ cho sự biếng trễ.

58. A very practical suggestion is given; really it is more a requirement than a suggestion. During the first year of an applicant’s preparation for initiation, he will search his motives three times a day, keeping a written account of the investigations he pursued.

58. Một gợi ý rất thiết thực được đưa ra; thực sự nó là một yêu cầu hơn là một gợi ý. Trong năm đầu tiên ứng viên chuẩn bị điểm đạo, y sẽ tìm kiếm động cơ của y ba lần một ngày, ghi lại bằng văn bản về các cuộc điều tra mà y theo đuổi.

59. I know very few people who submit themselves to such a discipline or even ‘have time’ (so they say) to do so. Probably we have to remind ourselves constantly of the exacting requirements for initiation. Nothing unfit is allowed to pass uncorrected. We probably have many little flaws we consider inconsequential to the larger issues, and perhaps, relatively, they are. Such flaws however, will become magnified many times when there is an increasing flow of power that comes from contact with the higher realms; so a seeming ‘flea can become a monster’ if not eliminated while still in the ‘flea’ state.

59. Tôi biết rất ít người tuân theo một kỷ luật như vậy hoặc thậm chí ‘có thời gian’ (họ nói thế) để làm như vậy. Có lẽ chúng ta phải liên tục nhắc nhở bản thân về những yêu cầu chính xác cho việc điểm đạo. Không có gì không phù hợp được phép vượt qua mà không được điều chỉnh cho đúng. Chúng ta có thể có nhiều sai sót nhỏ mà chúng ta coi là không quan trọng đối với các vấn đề lớn hơn, và có lẽ, một cách tương đối, chúng đúng là như vậy. Tuy nhiên, những sai sót như vậy sẽ trở nên phóng đại lên nhiều lần khi có một luồng quyền năng ngày càng tăng đến từ việc tiếp xúc với các cõi cao hơn; vì vậy dường như ‘bọ chét có thể trở thành quái vật’ nếu không bị loại bỏ khi vẫn ở trạng thái ‘bọ chét’.

60. Some of our motives have slipped into the realm of the subconscious, but the psychologically astute disciple can bring them to the surface, as unpleasantly self-revelatory as that may be at times. Every Master is accomplished to a significant degree is esoteric psychology, and we cannot afford to ignore the psychological dimension as insignificant.

60. Một số động cơ của chúng ta đã trượt vào lãnh vực tiềm thức, nhưng người đệ tử nhạy bén về mặt tâm lý có thể đưa chúng lên bề mặt, vì việc tự tiết lộ một cách khó chịu như vậy đôi khi có thể xảy ra. Mỗi Chân sư thành tựu tâm lý học nội môn ở một cấp độ đáng kể, và chúng ta không thể bỏ qua chiều kích tâm lý, khi xem nó như là không đáng kể.

61. Probably the Tibetan is telling us of practices which we will pursue diligently in future centuries when we are involved in the true esoteric schools.

61. Có lẽ Chân sư Tây Tạng đang nói với chúng ta về những thực hành mà chúng ta sẽ siêng năng theo đuổi trong những thế kỷ tương lai khi chúng ta tham gia vào các trường nội môn thực sự .

Paragraph IV

Đoạn IV

F. b. Speech will be watched, and an endeavour will be made to eliminate all unkind, unnecessary and wasteful words. The effects of the spoken word will be studied, and be traced back to those originating impulses which, in every case, initiate action upon the physical plane.

F. b. Y sẽ xem chừng lời nói, và cố gắng loại bỏ tất cả những lời bất hảo, không cần thiết và lãng phí. Y sẽ nghiên cứu các hiệu quả của lời nói, truy trở lại tới các xung lực khởi nguồn mà trong mỗi trường hợp, phát khởi hành động trên cõi trần.

Points to Consider in Relation to the Above Section

Các điểm cần xem xét liên quan đến phần trên

62. If motive will undergo scrutiny, so will that objective manifestation of motive—speech.

62. Nếu động cơ sẽ được xem xét kỹ lưỡng, thì biểu hiện bên ngoài của động cơ — lời nói cũng vậy.

63. The following eliminations will occur:

63. Các trường hợp loại bỏ sau sẽ xảy ra:

a. All unkind words

a. Tất cả những ngôn từ bất hảo

b. All unnecessary words

b. Tất cả những ngôn từ không cần thiết

c. All wasteful words

c. Tất cả những ngôn từ lãng phí

64. A little thought will reveal to us what a drastic discipline would fall upon some of us, were we to attempt this elimination! To use words unkindly, unnecessarily, and wastefully is an indulgence of the lunar lords who are to be controlled. Many will initially find in this discipline a rather strenuous imposition upon their throat center (and upon their solar plexus as well).

64. Suy nghĩ một chút chúng ta sẽ thấy rằng việc cố gắng loại bỏ điều này phải cần kỷ luật quyết liệt đến chừng nào! Sử dụng từ ngữ một cách không tử tế, không cần thiết và lãng phí là chiều chuộng các nguyệt tinh quân mà (đáng ra) cần được kiểm soát. Ban đầu, nhiều người sẽ thấy trong kỷ luật này một sự áp đặt khá vất vả lên luân xa cổ họng của họ (và cả luân xa tùng thái dương nữa).

65. The planets Saturn and Vulcan (both connected in various ways with the throat center) will be involved in the proposed elimination.

65. Hai hành tinh Sao Thổ và Vulcan (cả hai đều được kết nối theo nhiều cách khác nhau với trung tâm cổ họng) sẽ tham gia vào quá trình loại bỏ được đề xuất.

66. At first the elimination will seem almost a suppression. Later the impulses promoting unkind, unnecessary and wasteful words will have been rooted out (Pluto) and suppression will no longer be necessary.

66. Lúc đầu, việc loại bỏ sẽ gần như là một sự áp đặt. Sau đó, những xung động thúc đẩy những lời nói không hay, không cần thiết và lãng phí sẽ bị loại bỏ (sao Diêm Vương) và việc áp đặt sẽ không còn cần thiết nữa.

67. An old graphic saying tells something of the early phases of elimination: “bite your tongue!” Hopefully we have moved beyond this stage or are rapidly doing so.

67. Một câu nói đầy hình ảnh cho biết điều gì đó về giai đoạn đầu của quá trình loại bỏ: “cắn vào lưỡi của bạn!” Hy vọng rằng chúng ta đã vượt qua giai đoạn này hoặc đang nhanh chóng làm như vậy.

68. The real groundwork must be done in the realm of thought from which the trigger to speech (the impulse to speak) arises. A tranquilizing and sweetening of the emotional nature will also aid the process.

68. Công việc nền tảng thực sự phải được thực hiện trong lĩnh vực tư tưởng mà từ đó sự kích hoạt lời nói (xung động để nói) phát sinh. Việc làm thanh tịnh và làm dịu ngọt bản chất cảm xúc cũng sẽ hỗ trợ quá trình này.

Paragraph V

Đoạn V

G. c. Silence will be cultivated, and applicants will be careful to preserve strict silence concerning themselves, their occult work or knowledge, the affairs of those associated with them, and the work of their occult group. Only in group circles or in connection with their superiors will a wise latitude in speech be permitted. There is a time to speak. That time comes when the group can be served by wise words, a careful intimation of conditions, good or bad, and a rare, but necessary word to some brother concerning the inner life, or to some superior or group of officials, in case where a brother may be hindering a group through error of some kind, or might help the group if put to different work.

c. Ứng viên sẽ vun bồi sự im lặng, cẩn thận giữ gìn sự im lặng nghiêm nhặt về bản thân, công tác hay kiến thức huyền bí của họ, công việc của những người cộng sự, và công tác của nhóm huyền bí của họ. Chỉ trong phạm vi của nhóm hay trong quan hệ với thượng cấp, mới được phép có một mức độ tự do nào đó trong lời nói thật khôn ngoan. Cũng có thời gian cần nói. Đó là khi có thể phục vụ nhóm bằng những lời nói khôn ngoan, bằng cách thận trọng nêu lên những điều kiện, tốt hay xấu, và có những lời, tuy hiếm khi nhưng cần thiết, nói với một huynh đệ về đời sống nội tâm, hoặc với thượng cấp hay một nhóm viên chức, trong những trường hợp một huynh đệ có thể là do một sự sai lầm nào đó mà đang gây trở ngại, hoặc có thể trợ giúp nhóm nếu được đưa vào công tác khác.

Points to Consider in Relation to the Above Section

Các điểm cần xem xét liên quan đến phần trên

69. If speech of a certain kind is to be carefully cultivated, so is silence.

69. Nếu lời nói thuộc một loại nào đó cần được trau dồi cẩn thận, thì sự im lặng cũng vậy.

70. There is to be silence regarding the following and, again, it is to be strict:

70. Cần phải im lặng về những điều sau đây và một lần nữa, cần phải nghiêm khắc :

a. Silence concerning the disciples themselves: without this silence, attention is drawn to their personality nature which can become unduly stimulated. The disciple must learn to work without a demand for recognition, and so often speaking of oneself is a way of attracting recognition. As well, through constant self-reference, disruptive attention may be called to their work, and this will compromise their effectiveness.

a. Sự im lặng liên quan đến bản thân các môn đệ: nếu không có sự im lặng này, sự chú ý tập trung vào bản chất phàm ngã của họ có thể bị kích thích quá mức. Người môn đệ phải học cách làm việc mà không có nhu cầu được công nhận, và vì vậy thường xuyên nói về bản thân là một cách để thu hút sự công nhận. Ngoài ra, thông qua việc liên tục tự tham chiếu, công việc của họ có thể thu hút sự chú ý gây xáo trộn và điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của họ.

b. Silence concerning their occult work or knowledge: without this silence the work will attract the inner currents of interference and, perhaps, even outward interference. Thoughts are things and crosscurrents of thought are most often destructive. These cross-currents will actually arise naturally and karmically; there is no use attracting them unnecessarily.

b. Sự im lặng liên quan đến công việc hoặc kiến thức huyền bí của họ: nếu không có sự im lặng này, công việc sẽ thu hút các dòng quấy nhiễu bên trong và có lẽ cả sự can thiệp bên ngoài. Tư tưởng là những vật và những luồng tư tưởng đối lập thường có tính hủy diệt nhất. Những dòng luồng tư tưởng đối lập này sẽ thực sự phát sinh một cách tự nhiên và theo nghiệp; không có ích lợi gì khi thu hút chúng một cách không cần thiết.

Further, the unnecessary display of occult knowledge often arises through pride and self-satisfaction. These would be unworthy motives. Further, the unwise sharing of occult knowledge is dangerous to those with whom it is shared—if they are unprepared. One must be most discrete in such sharing.

Hơn nữa, việc phô trương kiến thức huyền bí một cách không cần thiết thường nảy sinh thông qua sự tự hào và tự mãn. Đây sẽ là những động cơ không đáng có. Ngoài ra, việc chia sẻ kiến thức huyền bí một cách thiếu khôn ngoan sẽ gây nguy hiểm cho những người được chia sẻ – nếu họ chưa sẵn sàng (chưa được chuẩn bị). Ta phải rất cẩn trọng khi chia sẻ như vậy.

c. Silence concerning those associated with them: without this silence, one’s co-workers may be harmed, and/or their work disrupted or damaged. We are responsible not only to ourselves, but to those in our group, and the welfare of their work is also our concern.

c. Sự im lặng liên quan đến những người liên quan đến họ: nếu không có sự im lặng này, đồng nghiệp của một người có thể bị tổn hại và / hoặc công việc của họ bị gián đoạn hoặc hỏng. Chúng ta không chỉ chịu trách nhiệm với bản thân mà còn với những người trong nhóm của chúng ta, và lợi ích của công việc của họ cũng là mối quan tâm của chúng ta.

Thought is to be properly directed. Curiosity, envy, and the love of meddling in business which is not one’s own can be promoted unless there is a correct silence with respect to others, and especially with respect to important esoteric matters with which they may be involved.

Tư tưởng phải được định hướng đúng đắn. Sự tò mò, đố kỵ và thích can thiệp vào công việc vốn không phải của mình có thể được thúc đẩy trừ khi có sự im lặng đúng mực đối với người khác, và đặc biệt là đối với những vấn đề bí truyền quan trọng mà họ có thể liên quan.

d. Silence concerning the work of their occult group: without this silence the group can be compromised. The disciple’s first responsibility is to his group which is to represent the Ashram. Damage to one’s occult group can eventuate in damage to the Ashram. It goes without saying that the welfare of the Ashram is always in the forefront of the disciple’s consciousness. The disciple will speak in such way that no inharmonious currents are allowed to approach his occult group, and by extension the Ashram. So often, the best way to guarantee this protection is to say nothing, especially to those who are not concerned in such processes.

d. Sự im lặng liên quan đến công việc của nhóm huyền bí của họ: nếu không có sự im lặng này, nhóm có thể bị tổn hại. Trách nhiệm đầu tiên của người đệ tử là đối với nhóm của y, vốn là đại diện cho Ashram. Thiệt hại cho nhóm huyền bí của một người có thể dẫn đến thiệt hại cho Ashram. Rõ ràng rằng phúc lợi của Ashram luôn được đặt lên hàng đầu trong tâm thức của người đệ tử. Người đệ tử sẽ nói theo cách sao cho không có dòng tư tưởng không hài hòa nào được phép tiếp cận nhóm huyền bí của mình, và bằng cách mở rộng Ashram. Vì vậy, cách tốt nhất để đảm bảo sự bảo vệ này là không nói gì, đặc biệt là đối với những người không quan tâm đến các quy trình như vậy.

71. Some latitude for speech in these four areas is given, but only in group circles and in connection with the disciple’s superiors. Under such circumstances, the disciple who speaks will be truthful and will emphasize only essentials. The circumstances themselves provide the control.

71. Một số tự do cho lời nói trong bốn lĩnh vực này được đưa ra, nhưng chỉ trong phạm vi nhóm và liên quan đến các cấp trên của đệ tử. Trong hoàn cảnh như vậy, người môn đệ sẽ trung thực khi nói và chỉ nhấn mạnh những điều cốt yếu. Bản thân hoàn cảnh cung cấp sự kiểm soát.

72. The “time to speak” is described as follows:

72. “Thời gian để nói” được mô tả như sau:

a. When the group can be served by wise words: the motive is the welfare of the group, and certainly not the intention to direct the group or shine before the group.

a. Khi nhóm có thể được phụng sự bằng những lời lẽ khôn ngoan: động cơ là lợi ích của nhóm, và chắc chắn không phải là ý định chỉ đạo nhóm hoặc tỏa sáng trước nhóm.

b. When conditions good or bad are to be intimated: the motive is the protection of the group. Note the word “intimation”. Apparently one’s assessment of conditions is not to be spoken too concretely. Room is to be left for the intuitive response of the listeners, and they are to draw their own conclusions.

b. Khi các tình huống tốt hay xấu cần được nói đến một cách tinh tế: động cơ là để bảo vệ nhóm. Lưu ý từ “gợi ý – intimation”. Rõ ràng đánh giá của một người về các tình huống không được nói quá cụ thể. Cần chừa chỗ cho đáp ứng trực giác của người nghe và họ sẽ tự rút ra kết luận.

c. A rare but necessary word to a brother concerning the inner life: usually a brother’s inner life is his own concern and that of his Master. Occasionally help may come from one who has been through similar circumstances or who recognizes with deep understanding the nature of an inner problem and its solution. The words shared are to be very circumspect, lovingly spoken and offering no hint of force or pressure.

c. Một lời hiếm hoi nhưng cần thiết đối với một người huynh đệ về đời sống nội tâm: thường thì đời sống nội tâm của người huynh đệ là mối quan tâm của chính y và của Chân sư của y. Đôi khi, sự giúp đỡ có thể đến từ một người đã từng trải qua hoàn cảnh tương tự hoặc người nhận ra với sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của một vấn đề nội tâm và giải pháp của nó. Những lời được chia sẻ phải hết sức thận trọng, được nói một cách dễ thương và không có dấu hiệu ép buộc hay áp lực.

d. A word with a superior when a brother is “hindering the group through error of some kind or might help the group if put to different work”. One must think carefully before discussing a brother with a superior. There are other methods which can be attempted first. But if the perceived, undesirable condition persists and a more radical intervention seems truly required, then such discussion may be undertaken (as long as one is entirely sure that one’s motive is for the sake of group good).

d. Lời nói với cấp trên khi một người huynh đệ đang “cản trở nhóm bằng một số lỗi lầm hoặc có thể giúp ích cho nhóm nếu chuyển sang công việc khác”. Ta phải suy nghĩ kỹ trước khi thảo luận về huynh đệ với cấp trên. Có những phương pháp khác có thể được thử trước. Nhưng nếu tình trạng không mong muốn vẫn tiếp diễn và một sự can thiệp triệt để hơn dường như thực sự cần thiết, thì cuộc thảo luận đó có thể được tiến hành (miễn là ta hoàn toàn chắc chắn rằng động cơ của mình là vì lợi ích nhóm).

The other justification for discussion of a brother with a superior is a recommendation that a brother be given other work which may benefit the group. If wisely undertaken, this may be releasing for both the brother and the group.

Cách lý giải khác cho việc thảo luận giữa huynh đệ với cấp trên là khuyến nghị huynh đệ được giao công việc khác có thể có lợi cho nhóm. Nếu được thực hiện một cách khôn ngoan, điều này có thể giải thoát cho cả người huynh đệ và cả nhóm.

73. Needless to say, the utmost discretion must be used in all these types of speech. Clear thought, skill-in-action and a truly loving heart are all required.

73. Không cần phải nói, tất cả các kiểu nói này phải có sự cẩn trọng tối đa. Tất cả đều cần có tư tưởng rõ ràng, kỹ năng hành động và một trái tim yêu thương thực sự.

Paragraph VI

Đoạn VI

H. d. The effect of the Sacred Word will be studied, and conditions for its use wisely arranged. The sounding [Page 200] of the Word, and its effect upon a particular esoteric centre (not in any case whatsoever a physical centre) will be watched, and the life thereby influenced and regulated.

d. Y sẽ nghiên cứu hiệu quả của Thánh Ngữ và chuẩn bị các [200] điều kiện để sử dụng nó một cách khôn ngoan. Việc xướng đọc Thánh Ngữ, và hiệu quả của nó trên một trung tâm huyền bí cụ thể (bất luận trường hợp nào cũng không phải là một trung tâm trong thể xác) sẽ được theo dõi, và cuộc sống do đó được tác động và được điều chỉnh.

Points to Consider in Relation to the Above Section

Các điểm cần xem xét liên quan đến phần trên

74. How can one understand speech in a truly deep sense if the Sacred Word remains ill-comprehended or improperly used? This is the deepest of studies and will lead to humility in the use of speech.

74. Làm sao người ta có thể hiểu lời nói theo một nghĩa thực sự sâu sắc nếu Thánh Ngữ vẫn không được hiểu rõ hoặc được sử dụng không đúng cách? Đây là nghiên cứu sâu nhất và sẽ dẫn đến sự khiêm tốn trong việc sử dụng lời nói.

75. For the most part, the Sacred Word is not really wisely used. Too little about it or its correct use is known. Rightly used, it can become the point of reference for the sounding of all words. Does the thought to be thought or the word to be spoken measure well against the meaning and purpose of the OM? In fact, does the OM sound through our thought as we are thinking and our speech as we are speaking? This would be a subtle enquiry and an important one!

75. Phần lớn, Thánh Ngữ không thực sự được sử dụng một cách khôn ngoan. Quá ít về nó hoặc cách sử dụng chính xác của nó được biết đến. Được sử dụng đúng cách, nó có thể trở thành điểm tham chiếu cho cách phát âm của tất cả các từ. Tư tưởng được nghĩ hay lời được nói ra có đi ngược lại ý nghĩa và mục đích của OM không? Trên thực tế, OM có phát ra thông qua tư tưởng của chúng ta khi chúng ta đang suy nghĩ và lời nói của chúng ta khi chúng ta đang nói không? Đây sẽ là một cuộc thẩm vấn tinh tế và quan trọng!

76. The sounding of the Sacred Word, we are told, will have an effect “upon a particular esoteric centre” (which is not a physical centre). In saying this, does Master DK mean that the center is, additionally, not an etheric center for, in one respect, the ethers are physical?

76. Chúng ta được cho biết rằng âm thanh của Thánh Ngữ sẽ có tác động “đến một trung tâm bí truyền cụ thể” (không phải là một trung tâm vật lý). Khi nói điều này, phải chăng Chân sư DK muốn nói rằng trung tâm đó, ngoài ra, không phải là trung tâm dĩ thái, vì về một mặt nào đó, các cấp dĩ thái thuộc cõi hồng trần vật lý?

77. The Ashram itself can be considered to contain a “centre” from which the initiated disciple works.

77. Bản thân Ashram có thể được coi là chứa một “trung tâm” mà từ đó đệ tử đã điểm đạo làm việc.

78. As well, it might be useful to contemplate the relation of the Sacred Word to the heart centre within the head centre. In any case, pondering is required.

78. Ngoài ra, có thể hữu ích khi suy ngẫm về mối liên hệ của Thánh Ngữ với trung tâm trái tim trong trung tâm đầu. Trong mọi trường hợp, cần phải cân nhắc.

79. The OM will unite soul and personality and facilitate the union of spiritual triad and soul-infused personality. There comes a time when the “heart within the head” must be deliberately cultivated.

79. OM sẽ hợp nhất linh hồn và phàm ngã và tạo điều kiện cho sự hợp nhất của tam nguyên tinh thần và phàm ngã được linh hồn thấm nhập. Sẽ có lúc “trái tim trong đầu” phải được vun bồi một cách có chủ ý.

Paragraph VII

Đoạn VII

I. The whole question of the study of sound and of words, sacred or otherwise, has to be taken up by applicants for initiation. This is something which must be faced more strenuously by all eventuating occult groups.

Ứng viên điểm đạo phải đảm nhiệm toàn bộ vấn đề nghiên cứu về âm thanh và về lời nói, thuộc linh từ hay loại khác. Đây là điều mà mọi nhóm huyền bí phải đối mặt với nỗ lực nhiều hơn để thực hiện.

Points to Consider in Relation to the Above Section

Các điểm cần xem xét liên quan đến phần trên

80. Two subjects are to be studied:

80. Hai chủ đề sẽ được nghiên cứu:

a. Sound

a. Âm thanh

b. Words (sacred or otherwise)

b. Thánh Ngữ (lời thiêng hoặc loại khác)

81. These are really separate but deeply interrelated studies, for the study of sound is far deeper and more philosophical—more occult.

81. Đây thực sự là những nghiên cứu riêng biệt nhưng có mối liên hệ sâu sắc với nhau, vì việc nghiên cứu âm thanh sâu hơn và mang tính triết học hơn – huyền bí hơn.

82. The study of words deals with the specificities of the creative process and is ultimately related to that most powerful occult science—Mantra Yoga.

82. Việc nghiên cứu các từ liên quan đến các đặc điểm cụ thể của quá trình sáng tạo và cuối cùng là liên quan đến khoa học huyền bí mạnh mẽ nhất đó là Mantra Yoga.

83. Words are to be a vehicle for sound in the deeper sense. Words are but hollow if they do not carry the true sound of the soul, spiritual triad or monad.

83. Lời nói là phương tiện cho âm thanh theo nghĩa sâu sắc hơn. Lời nói sẽ rỗng tuếch nếu chúng không mang âm hưởng thực sự của linh hồn, tam nguyên tinh thần hoặc Chân thần.

84. DK uses a most interesting phrase: “eventuating occult groups”. He is thereby suggesting that unless such groups strenuously face the understanding and application of sound and word, they are not true occult groups, but only groups which may eventually be true occult groups.

84. DK sử dụng một cụm từ thú vị nhất: “các nhóm huyền bí sắp tới”. Do đó, Ngài gợi ý rằng trừ khi những nhóm như vậy nỗ lực đối mặt với việc hiểu và ứng dụng âm thanh và ngôn từ, chúng không phải là các nhóm huyền bí thực sự , mà chỉ là những nhóm cuối cùng có thể là nhóm huyền bí thực sự .

85. This type of study (of sound and word) is immediately before our eyes (and ‘ears’) for we are always speaking, and in doing so, always making sounds. We also have our silences—rightly or wrongly pregnant with possibility.

85. Loại nghiên cứu này (về âm thanh và từ ngữ) ngay trước mắt (và ‘tai’) chúng ta vì chúng ta luôn nói, và khi làm như vậy, chúng ta luôn tạo ra âm thanh. Chúng ta cũng có những khoảng lặng của mình — giàu trí tưởng tượng sáng tạo đúng hay sai đều có thể xảy ra.

86. The field of study is so close that we may easily overlook it and do little about it. But if the groups of which are part are ever to be true occult groups, this attitude will have to change.

86. Lĩnh vực nghiên cứu quá gần gũi nên chúng ta có thể dễ dàng bỏ qua và ít tìm hiểu về nó. Nhưng nếu các nhóm trong số đó từng là nhóm huyền bí thực sự , thì thái độ này sẽ phải thay đổi.

Dear Brothers,

Các Huynh đệ thân mến,

The material in this Rule for Applicants is of immediate practicality. It concerns our creative life, and the structures we are building (worthy or otherwise) as we prepare to take our place as representatives of the Divine Word.

Tài liệu trong Quy Luật dành cho Ứng viên này có tính thực tế trực tiếp. Nó liên quan đến cuộc sống sáng tạo của chúng ta, và những cấu trúc mà chúng ta đang xây dựng (xứng đáng hoặc cách khác) khi chúng ta chuẩn bị nhận vị trí mình với tư cách là đại diện của Thánh Ngữ.

May we listen carefully to the sound, tone, quality, accuracy and intent of our speech and take the necessary corrective action where indicated.

Mong chúng ta lắng nghe cẩn thận âm thanh, giai điệu, chất lượng, độ chính xác và ý định phát ngôn của chúng ta và thực hiện hành động sửa chữa cần thiết nơi được chỉ định.

With Love and Many Blessings to All,

Với tình yêu và nhiều phước lành cho tất cả,

Michael (and Stefan)

Michael (và Stefan)

Scroll to Top