Bình Giảng Các Quy Luật Điểm đạo – 4

📘 Sách: Bình Giảng Các Quy Luật Điểm đạo (Dành Cho Ứng Viên) – Tác giả: Michael D. Robbins

Commentary on Rule IV for Applicants

Rule IV for Applicants: “Let the disciple tend the evocation of the fire, nourish the lesser lives and thus keep the wheel revolving”.

Quy Luật IV: “Người đệ tử hãy trông nom sự khơi dậy của ngọn lửa, hãy nuôi dưỡng các sinh linh hạ đẳng, và như thế giữ cho bánh xe quay mãi.”

The Sentences:

Các câu:

A. Let the disciple tend the evocation [evolution] of the fire;

A. Người đệ tử hãy trông nom sự khơi dậy [tiến hoá] của ngọn lửa;

1. In this injunction to the disciple care and vigilance are required. To “tend” is to supervise with care and constancy.

1. Trong huấn thị này người đệ tử được yêu cầu phải cẩn thận và cảnh giác. “Chăm nom” là giám sát một cách cẩn thận và kiên định.

2. Perhaps we all know what it is to “tend” a fire in the fireplace or a campfire. A fire can be left to burn on its own (once it is started, which may often difficult enough), but the shifting of the burning wood may threaten a fire’s coherence, and unless the burning wood is readjusted through tending, the fire may not burn to its completion.

2. Có lẽ tất cả chúng ta đều biết “trông nom” lửa trong lò sưởi hoặc lửa trại là như thế nào. Ngọn lửa có thể tự cháy (một khi đã bắt đầu, có thể thường hơi khó), nhưng sự di chuyển của gỗ đang cháy có thể đe dọa đến sự cố kết của ngọn lửa, và trừ khi gỗ đang cháy được điều chỉnh lại thông qua việc chăm nom, ngọn lửa có thể không cháy toàn bộ.

3. The materials in a fire (let us say, wood) will only burn if they are rightly positioned. The process of burning, alone, will not necessarily provide for an optimum positioning. Such re-positioning requires supervision, and a knowledge of how to relate the burning elements to each other in such a way that the life of the fire as a whole is promoted. It must be ensured that everything that should burn is kept in contact with the fire.

3. Các vật liệu trong đám lửa (giả sử như gỗ) sẽ chỉ cháy nếu chúng được đặt đúng vị trí. Quá trình cháy, một mình nó thôi, không nhất thiết sẽ cung cấp một vị trí tối ưu. Việc tái định vị như vậy đòi hỏi sự giám sát và kiến thức về cách liên kết các phần tử cháy với nhau theo cách mà sự sống của ngọn lửa như một tổng thể được thúc đẩy. Cần đảm bảo rằng mọi thứ sẽ cháy phải được giữ tiếp xúc với lửa.

4. There was a discrepancy between the AAB CDRom and the usual text of this Rule.

4. Có sự khác biệt giữa AAB CDRom và văn bản thường dùng của Quy Luật này.

5. In the usual text we are told that the disciple must tend the “evocation” of the fire. First we will look at the implications of this word—“evocation”.

5. Trong văn bản thường dùng, chúng ta được cho biết rằng người đệ tử phải chăm nom “sự khơi dậy” của ngọn lửa. Trước tiên, chúng ta sẽ xem xét hàm ý của từ này – “sự khơi dậy”.

6. An “evocation” is an answer to an invocation; it is a response (in this case) by lives of a lesser grade than the invoking agent—the disciple (functioning under the influence of the soul).

6. Một “sự khơi dậy” là một câu trả lời cho một lời thỉnh nguyện; nó là một hồi đáp (trong trường hợp này) của những sinh mệnh ở cấp độ thấp hơn tác nhân thỉnh nguyện — người đệ tử (hoạt động dưới tác động của linh hồn).

7. There is a lesser type of burning which must be evoked. The channels of transmission must be kept clear so that the burning may proceed.

7. Có một kiểu cháy cấp thấp hơn cần phải được khơi gợi. Các kênh truyền dẫn phải được giữ rõ ràng để sự cháy này có thể được tiếp tục.

8. To the degree that the disciple tends to the purification of his/her vehicles, to that extent he/she “tends the evocation of the fire”.

8. Ở mức độ mà người đệ tử có khuynh hướng thanh tẩy các vận cụ của mình, thì ở phạm vi đó, người ấy “chăm nom sự khơi dậy ngọn lửa”.

9. The lower fires will not answer properly, nor follow their properly destined paths, if they are obstructed. Those obstructions are alleviated with the disciple follows the right natural laws in relation to his/her vehicles.

9. Những ngọn lửa thấp hơn sẽ không hồi đáp một cách đúng đắn, cũng như không đi theo những con đường đúng đã định sẵn của chúng, nếu chúng bị cản trở. Những trở ngại đó được giảm bớt với người đệ tử tuân theo các quy luật tự nhiên đúng đắn liên quan đến vận cụ của mình.

10. Right habits of living, right diet, a sufficiency of sleep at the right hours, right exercise, the taking of sunshine and fresh air when possible—all these are purificatory and tonic measures which promote the evocation of the fire.

10. Thói quen sinh hoạt, chế độ ăn uống phù hợp, ngủ đủ giấc, tập thể dục đúng giờ, đón nắng và không khí trong lành khi có thể — tất cả đều là những biện pháp thanh lọc, bổ dưỡng, giúp thúc đẩy việc khơi dậy ngọn lửa.

11. Thus, the disciple is invoking an evocation of Fire by Friction in its natural progression. The etheric-physical mechanism remains healthy and the natural life of the instrument follows its destined course without undue disturbance.

11. Vì vậy, người đệ tử đang thỉnh nguyện việc khơi dậy Lửa do Ma sát trong tiến trình tự nhiên của nó. Cơ chế vật lý- dĩ thái vẫn hoạt động tốt và vòng đời tự nhiên của công cụ tuân theo lộ trình đã định của nó mà không bị xáo trộn quá mức.

12. Fire by Friction also applies to the emotional and mental bodies. The lower fires must ‘burn’ properly within these bodies as well.

12. Lửa do Ma sát cũng áp dụng cho thể cảm dục và thể trí. Các ngọn lửa thấp hơn cũng phải ‘cháy’ một cách thích hợp bên trong các thể này.

13. There are many rules for emotional and mental hygiene. One expedient is, simply, to choose ones emotions and thoughts, or at least, not to indulge and repeat emotions and thoughts which one knows to be obstructive or destructive.

13. Có nhiều quy tắc để làm sạch cảm xúc và trí tuệ. Một phương pháp đơn giản là lựa chọn những cảm xúc và tư tưởng, hoặc ít nhất, không được mê đắm và lặp lại những cảm xúc và tư tưởng mà ta biết là chúng cản trở hoặc phá hoại.

14. We have all had the experience of having the vital fires of the etheric-physical mechanism dampened by wrong emotional and mental states. Emotional outbursts, for instance, are often followed by the feeling of exhaustion. Depressive thoughts devitalize.

14. Tất cả chúng ta đều đã có kinh nghiệm về việc những ngọn lửa quan trọng của cơ chế vật lý – dĩ thái bị dập tắt bởi các trạng thái trí tuệ và cảm xúc sai lầm. Ví dụ, cảm xúc bộc phát thường đi kèm với cảm giác kiệt sức. Những tư tưởng chán nản thì làm suy nhược.

15. In cosmos all is fire. Through occult experience, the student comes to recognize which fires are “goal-fitting” (to use the words of Master Morya), and which are counterproductive, given the goal to be achieved.

15. Trong vũ trụ, tất cả đều là lửa. Thông qua trải nghiệm huyền bí, môn sinh nhận ra ngọn lửa nào là “phù hợp với mục tiêu” (sử dụng các từ của Chân Sư Morya), và ngọn lửa nào là phản tác dụng, dựa trên mục tiêu cần đạt được.

16. Another and more important kind of evocation, however, is also occurring—the evocation of soul energy.

16. Tuy nhiên, một loại khơi dậy khác và quan trọng hơn cũng đang diễn ra — sự khơi dậy năng lượng linh hồn .

17. The disciple invokes the soul. By right and constant invocation, the evocation of the soul is assured.

17. Người đệ tử thỉnh cầu linh hồn. Bằng lời thỉnh cầu đúng và liên tục, sự khơi dậy của linh hồn được đảm bảo.

18. Necessary fires are found in two directions—below and above. The disciple “tends” the lower fires and, in a way, “tends to” the evocation of the higher fires.

18. Các ngọn lửa cần thiết được tìm theo hai hướng — bên dưới và bên trên. Người đệ tử “chăm nom” những ngọn lửa thấp hơn và theo một cách nào đó, “chăm nom” đến sự khơi dậy những ngọn lửa cao hơn.

19. Now to focus for a moment on the error on the AAB CDRom. The text gives the word “evocation”; the first edition of the CDRom gives the word “evolution”.

19. Bây giờ hãy tập trung một chút vào lỗi trên AAB CDRom. Văn bản cho từ “khơi dậy”; ấn bản đầu tiên của CDRom đưa ra từ “tiến hóa”.

20. Although, I discovered that the word “evolution” was probably an error, I found this thought intriguing and significantly related to the progression of the fire.

20 Mặc dù, tôi phát hiện ra rằng từ “tiến hóa” có thể là một lỗi, tôi thấy tư tưởng này hấp dẫn và liên quan đáng kể đến sự tiến triển của ngọn lửa.

21. We could think not just of the “burning” of the fire, but the “evolution” of the fire. What could this mean? For whether or not “evolution” is the correct word within Rule IV, the fire does, as it were, evolve.

21. Chúng ta không thể chỉ nghĩ về sự “cháy” của ngọn lửa, mà còn là sự “tiến hóa” của ngọn lửa. Điều này có nghĩa là gì? Cho dù “tiến hóa” có phải là từ chính xác trong Quy Luật IV hay không, thì ngọn lửa vẫn tiến hóa.

22. That which evolves, develops progressively. A sequence of desirable steps or unfoldments is suggested.

22. Cái mà tiến hóa, thì phát triển dần dần. Một chuỗi các bước mong muốn hoặc những sự nở ra (cánh hoa – ND) được ám chỉ.

23. The fires are to e-volve not de-volve. This means that they are to ascend and not (except in special cases) descend.

23. Những ngọn lửa phải tiến hóa chứ không thoái hóa. Điều này có nghĩa là chúng sẽ thăng lên và không hạ xuống (trừ trường hợp đặc biệt) .

24. What does it take to become sensitive to whether the fire within one’s energy system is ascending or descending. In a certain important sense evolution is elevation. Rising fire is, generally, heading in the right direction.

24. Cần gì để trở nên nhạy cảm (để biết được) liệu ngọn lửa bên trong hệ thống năng lượng của một người đang tăng lên hay giảm xuống. Theo một nghĩa quan trọng nhất định, sự tiến hóa là sự nâng cao. Nói chung, ngọn lửa đang bốc lên là đang đi đúng hướng.

25. Probably, we have all had the experience of rising or descending fires. For instance, different physical, emotional or mental processes may cause sensations in different areas of the body and in the chakras associated with those areas. Master Morya tells us that “A burdened stomach is the sign of the cessation of ascent.” (Agni Yoga 206) This, no doubt, is a familiar state to most, and there will be accompanying sensations to indicate that the fire has descended. Perhaps the fire must rise before one can truly think again.

25. Có lẽ, tất cả chúng ta đều đã có kinh nghiệm về những ngọn lửa bốc lên hoặc giảm xuống. Ví dụ, các quá trình thể chất, cảm xúc hoặc trí tuệ khác nhau có thể gây ra những cảm giác ở các vùng khác nhau của cơ thể và ở các luân xa liên quan đến các vùng đó. Chân Sư Morya nói với chúng ta rằng “Một cái bụng nặng trĩu là dấu hiệu của sự ngừng đi lên.” (Agni Yoga 206) Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là trạng thái quen thuộc với hầu hết mọi người, và sẽ có những cảm giác kèm theo để báo hiệu rằng ngọn lửa đã hạ xuống. Có lẽ ngọn lửa phải bốc lên trước khi người ta có thể thực sự nghĩ lại.

26. We see, therefore, that a certain attentiveness to the etheric-physical system is required, along with an understanding of how the subtle bodies (astral and mental) affect that etheric-physical system.

26. Do đó, chúng ta thấy rằng cần phải có một sự chú ý nhất định đến hệ thống vật lý – dĩ thái, cùng với sự hiểu biết về cách các thể vi tế (thể cảm dục và thể trí) ảnh hưởng đến hệ thống vật lý – dĩ thái đó.

27. Simply put, fires can be detected as localized excitations and patterned flows.

27. Nói một cách đơn giản, những ngọn lửa có thể được phát hiện dưới dạng các kích thích cục bộ và các dòng chảy theo khuôn mẫu.

28. Our task to ensure that the fires do not go out (or burn “low and dim”), and that the flows occur in the right direction.

28. Nhiệm vụ của chúng ta là đảm bảo rằng những ngọn lửa này không suy giảm (hoặc cháy “thấp và mờ”) và các luồng xuất hiện đúng hướng.

29. It is practical work, but it cannot be allowed to capture all of our attention. Perhaps what is required is a kind of peripheral awareness which detects the lowering of the intensity of the fire or misdirection of the fire. When this attention reveals a problem, something can be done.

29. Đó là công việc thiết thực, nhưng nó không thể được phép thu hút mọi sự chú ý của chúng ta. Có lẽ những gì cần thiết là một loại nhận thức ngoại vi để phát hiện sự giảm cường độ của ngọn lửa hoặc ngọn lửa đi sai hướng. Khi sự chú ý này tiết lộ một vấn đề, điều gì đó có thể được thực hiện.

30. To improve the situation one must, for the most part, work psychologically and spiritually. To some extent the imagination is a useful tool for reinvigorating and redirecting the fire. That imagination can be turned to the etheric body—a more effective direction than focusing it upon the physical body. Working with the etheric body is causative and less dangerous than concentrating upon the dense physical body, per se. But, in general, it is mental-emotional work which is most useful in the reinvigorating and redirection of the fires. The fires will intensify or rise automatically when thought and emotion are sustained at a certain level or elevation.

30. Để cải thiện tình hình, phần lớn, người ta phải làm việc về mặt tâm lý và tinh thần . Ở một mức độ nào đó, trí tưởng tượng là một công cụ hữu ích để lấy lại và chuyển hướng ngọn lửa. Trí tưởng tượng đó có thể được chuyển sang thể dĩ thái – một hướng hiệu quả hơn là tập trung nó vào thể vật lý. Làm việc với thể dĩ thái thì căn cơ và ít nguy hiểm hơn so với việc tập trung vào thể vật lý đậm đặc. Tuy nhiên, nói chung, đó là công việc trí- cảm hữu ích nhất trong việc phục hồi và chuyển hướng những ngọn lửa. Những ngọn lửa sẽ bùng lên hoặc tự động bốc lên khi tư tưởng và cảm xúc được duy trì ở một mức độ hoặc độ cao nhất định.

31. The quality of thought (and respondent emotion) relate directly to the quality, intensity, position and flow of the fires (which follow the thought). “Energy follows thought”.

31. Phẩm chất của tư tưởng (và cảm xúc đáp ứng) liên quan trực tiếp đến chất lượng, cường độ, vị trí và luồng chảy của những ngọn lửa (theo sau tư tưởng). “Năng lượng theo sau tư tưởng”.

32. Emotion is “respondent”. It is difficult simply to “feel” something or to emote spontaneously (though many actors have mastered the ability). To change feeling and emotion, the best and usual course of action is to change thought.

32. Cảm xúc là “cái đáp ứng”. Rất khó để chỉ đơn giản là “cảm nhận” điều gì đó hoặc biểu lộ cảm xúc một cách tự nhiên (mặc dù nhiều diễn viên đã làm chủ khả năng này). Để thay đổi cảm giác và cảm xúc, cách xử lý thông thường và tốt nhất là thay đổi tư tưởng.

33. Thus to tend the evolution of the fires, the first prerequisite is to tend the quality and direction of thought. Feeling and emotion will usually change accordingly, though it may take some repetition.

33. Vì vậy, để chăm sóc sự tiến hóa của các ngọn lửa, điều kiện tiên quyết đầu tiên là phải trông nom chất lượng và định hướng tư tưởng. Cảm giác và cảm xúc thường sẽ thay đổi tương ứng, mặc dù nó có thể mất một số lần lặp lại.

B. nourish the lesser lives,

B. hãy nuôi dưỡng những sinh linh hạ đẳng,

1. What are the lesser lives? Shall we say the atoms, molecules (atomic aggregates) and cells of each of the three vehicles of the personality?

1. Sinh linh hạ đẳng là gì? Chúng ta sẽ nói đến các nguyên tử, phân tử (tập hợp nguyên tử) và các tế bào của mỗi vận cụ trong ba vận cụ của phàm ngã phải không?

2. From another perspective, the lesser lives are the lunar elementals which are the life of the three lower vehicles—physical, emotional and mental.

2. Từ một khía cạnh khác, các sinh linh hạ đẳng là các Nguyệt tinh quân, là sự sống của ba vận cụ thấp hơn – thể chất, cảm xúc và trí tuệ.

3. We realize that the quality of the tiny atomic and molecular lives must change or be elevated as spiritual evolution proceeds.

3. Chúng ta nhận ra rằng chất lượng của các sự sống nguyên tử và phân tử nhỏ bé phải thay đổi hoặc được nâng cao khi sự tiến hóa tinh thần diễn ra.

4. The various subplanes of the vehicles are composed of different complexities of atomic aggregations (according to Occult Chemistry, by Annie Besant and C.W. Leadbeater). The lower the subplane, the more complex and aggregated its atoms—i.e., the more molecular are its atoms. As evolution proceeds, a greater and great percentage of atomic subplane matter is present in the vehicles. Effectively, this means that matter of the lower subplanes is less present in the vehicles, and that, eventually, the entire vehicle will be composed of atomic subplane matter. In effect this means that the six lower subplanes no longer exist in the personality vehicle of the arhat. In the case of an initiate of the fourth degree (an arhat) the personality vehicles are composed entirely of matter of the atomic subplane.

4. Các cõi phụ khác nhau của các vận cụ được tạo thành từ các tập hợp nguyên tử phức tạp khác nhau (theo Hóa học Huyền bí, của Annie Besant và CW Leadbeater). Cõi phụ càng thấp, các nguyên tử của nó càng phức tạp và tổng hợp — tức là, các nguyên tử của nó càng mang tính phân tử hơn. Khi sự tiến hóa diễn ra, một tỷ lệ phần trăm lớn và lớn hơn của vật chất cõi phụ nguyên tử là hiện thể trong các vận cụ. Về mặt hiệu quả, điều này có nghĩa là vật chất của các cõi phụ thấp hơn sẽ ít xuất hiện hơn trong các vận cụ, và cuối cùng, toàn bộ vận cụ sẽ được cấu tạo từ vật chất cõi phụ nguyên tử. Trên thực tế, điều này có nghĩa là sáu cõi phụ thấp hơn không còn tồn tại trong vận cụ phàm ngã của vị La Hán. Trong trường hợp một điểm đạo đồ ở cấp độ thứ tư (một la hán), các vận cụ phàm ngã được cấu tạo hoàn toàn bằng vật chất của cõi phụ nguyên tử.

5. The evolution of the atoms within a personality vehicle occurs by two principal means:

5. Sự tiến hóa của các nguyên tử bên trong một vận cụ phàm ngã xảy ra bằng hai phương tiện chính:

i. Vibratory elevation

i. Độ cao rung động

ii. And a resultant ‘unbinding’ of complex atoms resolving them into their simpler components.

ii. Và một kết quả ‘không liên kết’ của các nguyên tử phức tạp phân giải chúng thành các thành phần đơn giản hơn.

6. Probably there are differences in the quality of even atoms of the atomic subplane. The pitch of such atoms can, it would seem, be increasingly raised.

6. Có lẽ có sự khác biệt về chất lượng của ngay cả các nguyên tử của cõi phụ nguyên tử. Dường như, mức độ của các nguyên tử như vậy dường như ngày càng được nâng lên.

7. The nourishing of the lesser lives occurs by

7. Việc nuôi dưỡng các sinh linh hạ đẳng xảy ra bằng cách

i. exposing them consistently to the fire

i. để chúng tiếp xúc liên tục với lửa

ii. increasing the quality of the fire to which they are exposed

ii. tăng chất lượng của ngọn lửa mà chúng được tiếp xúc

8. ‘Nourishment’, thus, is a kind of vibratory elevation, and vibratory elevation comes through

8. Do đó, ‘nuôi dưỡng’ là một loại nâng cao rung động, và nâng cao rung động xảy đến qua

i. persistent ‘burning’

i. ‘cháy’ một cách dai dẳng

ii. and, exposure of that which must be burned to higher energy sources.

ii. và, tiếp xúc với cái mà nó cần được cháy với các nguồn năng lượng cao hơn.

9. Nourishing the lesser lives is, therefore, not just a question of seeing to the quality of nutrients for these vehicles. It is that, partially. Good food, good emotions and good thoughts do, in fact, nourish the lesser lives.

9. Vì vậy, nuôi dưỡng các sinh linh hạ đẳng không chỉ là vấn đề xem xét chất lượng của những chất dinh dưỡng cho những vận cụ này. Một phần nào, nó là vậy. Thực tế, thức ăn ngon, những cảm xúc tốt và những tư tưởng tốt sẽ nuôi dưỡng các sinh linh hạ đẳng.

10. However, contact with the soul and the application of ‘soul streams’ definitely elevate and nourish the tiny lives within the various personality vehicles, and, in a larger sense, nourish the four more inclusive elemental lives—the physical, emotional, lower mental and personality elementals.

10. Tuy nhiên, tiếp xúc với linh hồn và ứng dụng ‘các luồng chảy linh hồn’ chắc chắn nâng cao và nuôi dưỡng các sinh mệnh nhỏ bé bên trong các vận cụ phàm ngã khác nhau, và theo nghĩa lớn hơn, nuôi dưỡng bốn tinh linh bao trùm hơn — các tinh linh thể chất, tình cảm, hạ trí và phàm ngã.

11. Thus, meditation and whatever means allow for the descent of soul influence, are a primary means of nourishing the lesser lives.

11. Vì vậy, thiền định và bất cứ phương tiện nào cho phép ảnh hưởng của linh hồn đi xuống, đều là phương tiện chính để nuôi dưỡng các sinh linh hạ đẳng.

12. When streams of energy from the soul (or from sources higher than the soul) impact these lesser lives, their pitch is raised, they are purified, and they are detached from forms of inferior quality (forms created within any particular personality vehicle) and built into forms of higher quality.

12. Khi các luồng năng lượng từ linh hồn (hoặc từ các nguồn cao hơn linh hồn) tác động đến các sinh linh hạ đẳng này, mức độ của chúng sẽ được nâng lên, chúng được thanh lọc và tách rời khỏi các dạng kém chất lượng (dạng được tạo ra bên trong bất kỳ vận cụ phàm ngã cụ thể nào) và được xây dựng thành các hình tướng có chất lượng cao hơn.

13. The correct sounding of the word, OM, the “Word of the Soul”, is one of the primary means of nourishing the lesser lives.

13. Cách phát âm chính xác của từ, OM, “Linh từ của Linh hồn”, là một trong những phương tiện chính để nuôi dưỡng các sinh linh hạ đẳng.

14. No longer then are these lesser lives sustained only by the AUM (the Word of the matter aspect); it is the Word of the second aspect of divinity, the soul that offers sustenance.

14. Vì vậy, các sinh linh hạ đẳng này không còn chỉ được duy trì bởi AUM nữa (Linh từ của khía cạnh vật chất); đây là Linh từ của trạng thái thiêng liêng thứ hai, linh hồn cung cấp sự nuôi dưỡng.

15. It is clear that we are being asked to tend to the condition of our instrument. We have a certain responsibility for the elevation of the lesser lives. Their elevation is also our elevation.

15. Rõ ràng là chúng ta đang được yêu cầu trông nom đến tình trạng khí cụ của chúng ta. Chúng ta có trách nhiệm nhất định đối với việc nâng cao các sinh linh hạ đẳng. Độ cao của chúng cũng là độ cao của chúng ta.

C. and thus keep the wheel revolving.

C. và như thế giữ cho bánh xe quay mãi.

1. We ask ourselves, “Which wheel?”

1. Chúng ta tự hỏi mình, “Bánh xe nào?”

2. There are many wheels. Each form of life is a wheel. Each atom is a kind of wheel as is each molecule and each cell. Are there cells of a kind within the emotional and mental natures? Some teachings speak of “thought cells”. Further occult research is needed.

2. Có nhiều bánh xe. Mỗi hình tướng của sự sống là một bánh xe. Mỗi nguyên tử cũng như mỗi phân tử và mỗi tế bào là một loại bánh xe. Liệu có các tế bào thuộc một loại bên trong các bản chất cảm xúc và trí tuệ không? Một số giáo lý nói về “các tế bào tư tưởng”. Cần nghiên cứu thêm về mặt huyền linh học.

3. Each chakra is also a “wheel”, and these wheels, we are told, must begin to spin at an increasingly rapid rate.

3. Mỗi luân xa cũng là một “bánh xe”, và những bánh xe này, chúng ta được biết, phải bắt đầu quay với tốc độ ngày càng nhanh.

4. But in this Rule we are asked to take action which will keep the “wheel” revolving. It is a single wheel. Which wheel is this?

4. Nhưng trong Quy Luật này, chúng ta được yêu cầu thực hiện hành động để giữ cho “bánh xe” quay. Đó là một bánh xe đơn lẻ. Bánh xe nào đây?

5. One type of wheel which must continue to revolve is the wheel represented by any personality vehicle—for instance, the astral vehicle, the mental vehicle, and (perhaps) the etheric vehicle. In A Treatise on Cosmic Fire, we learn that these vehicles rotate as on an axis. Probably the various cycles we experience in relation to our mind, emotions and body are related to this rotation.

5. Một loại bánh xe phải tiếp tục quay là bánh xe được đại diện bởi bất kỳ vận cụ phàm ngã nào — ví dụ, vận cụ cảm dục, vận cụ trí tuệ, và (có thể) vận cụ dĩ thái. Trong Luận về Lửa Càn Khôn, chúng ta biết rằng các vận cụ này quay như trên một trục. Có lẽ các chu kỳ khác nhau mà chúng ta trải qua trong quan hệ với cái trí, những cảm xúc và thể xác của chúng ta đều liên quan đến sự quay này.

6. What is the rate of their revolution? Is it fixed (depending on the kind of vehicle), or can there be differences in the rate of rotation depending upon the quality of the matter composing these vehicles? This represents an area of occultism in relation to which no further information is given in the Teaching. We can follow the hints and prepare for a time when further occult research will be possible.

6. Tốc độ của sự xoay vòng của chúng là gì? Nó có cố định không (tùy thuộc vào loại vận cụ), hay có thể có sự khác biệt về tốc độ quay tùy thuộc vào chất lượng của các vật chất tạo nên vận cụ này? Điều này đại diện cho một lĩnh vực của huyền linh học liên quan đến cái mà không có thêm thông tin nào được đưa ra trong Giáo lý. Chúng ta có thể làm theo các gợi ý và chuẩn bị cho một thời gian khi có thể nghiên cứu thêm về huyền linh học.

7. But there are two or three of such vehicular wheels correlating with the lunar vehicles, and the Rule seems to refer only to one wheel.

7. Nhưng có hai hoặc ba bánh xe như vậy tương quan với các vận cụ thái âm và Quy Luật này dường như chỉ đề cập đến một bánh xe.

8. Perhaps, therefore, the wheel referenced is the “Wheel of Rebirth”—the turning of which indicates progress within the reincarnational process.

8. Có lẽ, do đó, bánh xe được đề cập đến là “Bánh xe tái sinh” —việc quay của nó biểu thị sự tiến bộ bên trong quá trình luân hồi.

9. No doubt this wheel will turn whether or not the human being attempts to assist its turning by improving the quality of his/her life. However, it is possible that real progress in the turning of this greater wheel depends upon the “evocation of the fire”.

9. Không còn nghi ngờ gì nữa, bánh xe này sẽ quay cho dù con người có cố gắng hỗ trợ việc quay bằng cách cải thiện chất lượng cuộc sống của mình hay không. Tuy nhiên, có thể sự tiến bộ thực sự trong quá trình quay bánh xe lớn hơn này phụ thuộc vào sự “khơi dậy của ngọn lửa”.

10. If the Wheel of Rebirth turns more rapidly, incarnations will be more frequently spaced and spiritual progress will also be more rapid. The effect of what might be seen as a “tightening spiral” will operate, and a sluggish response to the Saturnian opportunities offered by reincarnation will be overcome.

10. Nếu Bánh xe Tái sinh quay nhanh hơn, các lần lâm phàm (hóa thân) sẽ cách nhau thường xuyên hơn và sự tiến bộ tinh thần cũng sẽ nhanh hơn. Hiệu ứng của những gì có thể được coi là “vòng xoáy thắt chặt” sẽ hoạt động, và phản ứng chậm chạp trước các cơ hội của sao Thổ do luân hồi mang lại sẽ được khắc phục.

11. We are told that as evolution proceeds, incarnations are taken with greater rapidity, perhaps because the devachan (“heaven”) experience is foregone, and the soul eagerly re-enters life in the three worlds in order to serve, as well as to be free of the influence of these lower worlds.

11. Chúng ta được biết rằng khi sự tiến hóa diễn ra, các lần lâm phàm được thực hiện với tốc độ nhanh hơn, có lẽ vì đã bỏ qua trải nghiệm devachan (“thiên đường”) và linh hồn háo hức trở lại cuộc sống trong tam giới để phụng sự, cũng như để được tự do khỏi chịu ảnh hưởng của những thế giới thấp hơn này.

12. The revolving wheel rolls on into the future in order to fulfill soul purpose. In general, the slower the wheel, the more sluggish, the less rapidly is soul purpose fulfilled. (Account must also be made of specialized work on the inner planes which may slow the rate of reincarnational return.)

12. Bánh xe xoay vòng quay vào tương lai để thực hiện mục đích của linh hồn. Nói chung, bánh xe quay càng chậm, càng ì ạch, thì mục đích linh hồn càng được hoàn thành kém nhanh hơn. (Cũng phải tính đến công việc chuyên biệt trên các cõi giới bên trong có thể làm chậm tốc độ trở lại tái sinh.)

13. The purification of the matter of the three vehicles through the proper nourishment of these vehicles, thus, promotes the turning the wheel of rebirth. The higher the vibratory ‘pitch’ of the atoms of the vehicle, the more the incarnated soul wants to move on and move forward with rapidity (meaning more incarnations at shorter intervals). The incarnated soul does not become “stuck”; metaphorically, the “wheel” does not become stuck, but turns onward progressively, always presenting new opportunities which are successfully met because the personality vehicles are in a fit condition to do so.

13. Do đó, sự thanh lọc vật chất của ba vận cụ thông qua việc nuôi dưỡng thích hợp các vận cụ này, thúc đẩy việc quay bánh xe tái sinh. “Mức độ” rung động của các nguyên tử trong vận cụ càng cao, thì linh hồn nhập thế càng muốn tiến và tiến về phía trước với tốc độ nhanh hơn (có nghĩa là nhiều lần lâm phàm hơn trong những khoảng thời gian ngắn hơn). Linh hồn nhập thể không bị “mắc kẹt”; một cách ẩn dụ, “bánh xe” không bị mắc kẹt, mà dần dần hướng về phía trước, luôn hiện ra những cơ hội mới mà chúng được đáp ứng thành công bởi vì các vận cụ phàm ngã ở trong tình trạng phù hợp để làm được điều đó.

14. Probably all of us have had the experience of apparently unproductive “rotary motion”—when we are exposed to the “same old thing” without signs of progress.

14. Có lẽ tất cả chúng ta đều đã từng có kinh nghiệm về “chuyển động quay” dường như không hiệu quả — khi chúng ta tiếp xúc với “cùng một thứ cũ” mà không có dấu hiệu tiến bộ.

15. We are saying, then, that tending the evocation/(evolution) of the fire and, thus, nourishing the lesser lives, transforms this simple, relatively non-productive rotary motion into a kind of progressive “spiral cyclic motion” which leads to the more rapid redemption of the entire lunar nature.

15. Do đó, chúng ta đang nói rằng, việc chăm nom sự khơi dậy / (sự tiến hóa) của ngọn lửa và do đó, nuôi dưỡng các sinh linh hạ đẳng, sẽ biến đổi sự chuyển động quay tương đối không hiệu quả, đơn giản này thành một loại “chuyển động tuần hoàn xoắn ốc” phát triển không ngừng – dẫn đến sự cứu rỗi nhanh hơn toàn bộ bản chất thái âm.

D. Here comes an injunction to the disciple to remember his responsibility to those many lesser lives which, in their sumtotal, compose his triple body of manifestation.

D. Đây là một huấn thị cho người đệ tử nhớ trách nhiệm của y đối với nhiều sinh linh hạ đẳng mà toàn bộ chúng vốn hợp thành bộ ba hiện thể của y.

1. The theme of responsibility is sounded.

1. Chủ đề về trách nhiệm được vang lên.

2. All greater lives have a responsibility to the lesser lives which constitute the vehicles of expression of these greater lives.

2. Mọi sự sống lớn hơn đều có trách nhiệm đối với các sinh linh hạ đẳng, vốn là những vận cụ biểu hiện của những sự sống lớn hơn này.

3. An injunction is not quite an “order” or a “command”, but it is a serious directive towards a particular action. When an injunction is given, it is understood that if the disciple knows what is good for him/her, he/she will follow or obey the injunction.

3. Một huấn thị không hoàn toàn là một “mệnh lệnh” hay một “yêu cầu”, mà nó là một huấn thị nghiêm túc đối với một hành động cụ thể. Khi một huấn thị được đưa ra, người ta hiểu rằng nếu người đệ tử biết điều gì tốt cho mình, thì người đó sẽ nghe theo hoặc tuân thủ huấn thị này.

4. Why should the greater have a responsibility to the lesser?

4. Tại sao cái lớn hơn phải có trách nhiệm với cái nhỏ hơn?

5. In a way, the greater is not other than the lesser. The lesser is simply a diversification or emanation of the greater. Therefore, the responsibility of the greater to the lesser is the responsibility of the greater to itself.

5. Theo một cách nào đó, cái lớn hơn không khác cái nhỏ hơn. Cái nhỏ hơn chỉ đơn giản là sự đa dạng hóa hoặc phát ra từ cái lớn hơn. Do đó, trách nhiệm của cái lớn hơn đối với cái nhỏ hơn là trách nhiệm của cái lớn hơn đối với chính nó.

6. Appearances to the contrary, there is no real separation; of this the Ageless Wisdom assures us.

6. Trái ngược với vẻ ngoài, không có sự tách biệt thực sự; về điều này, Minh triết Ngàn đời đảm bảo với chúng ta.

7. The welfare of the whole is the welfare of each, and the welfare of each contributes to the welfare of the whole. There is no true consummation unless each aspect of the whole is fulfilled.

7. Phúc lợi của tổng thể là phúc lợi của mỗi đơn vị, và phúc lợi của mỗi đơn vị đều đóng góp vào phúc lợi của tổng thể. Không có viên mãn thực sự trừ khi từng khía cạnh của tổng thể được hoàn thành.

8. Responsibility is, therefore, a keynote of cosmos. Cosmos means “order and beauty”. That order and beauty will not be achieved (nor the Divine Plan consummated) unless the welfare of each unit is tended by the greater life in which it is included.

8. Do đó, trách nhiệm là một từ khoá của vũ trụ (cosmos). Cosmos có nghĩa là “trật tự và vẻ đẹp”. Trật tự và vẻ đẹp đó sẽ không đạt được (cũng như Thiên Cơ không được hoàn thành) trừ khi phúc lợi của mỗi đơn vị được chăm nom bởi sự sống lớn hơn mà nó được bao gồm trong đó.

9. Thus, the “Greater Good” demands the responsibility of the whole to the part—the responsibility of the whole of oneself all parts of oneself.

9. Do đó, “Đại Nghĩa” (Điều Tốt Đẹp Vĩ Đại Hơn) đòi hỏi trách nhiệm của toàn thể đối với bộ phận — trách nhiệm của toàn thể của một người đối với mọi bộ phận của chính họ.

10. If we (as human beings) despise or reject the lesser lives which compose our vehicles of manifestation, we are “at war with ourselves”.

10. Nếu chúng ta (với tư cách là con người) coi thường hoặc từ chối những sinh linh hạ đẳng vốn tạo nên vận cụ biểu hiện của chúng ta, thì chúng ta đang “chiến đấu với chính mình”.

11. Such a mistaken attitude is more than occasionally found in earnest aspirants. It is based on incomplete vision and a sense of separateness. Having discriminated the Self from the not-self, such aspirants forget the greater truth that, really, there is no not-Self. Thus, they become a “house divided”, and in their spiritual practices work against integration and harmonization. The policy is doomed to failure and by its pain reveals the possibility of a more sane and balanced approach.

11. Một thái độ sai lầm như vậy đôi khi được thấy ở những người chí nguyện tận tâm. Nó dựa trên tầm nhìn không đầy đủ và cảm giác tách biệt. Khi đã phân biệt Chân ngã với phi ngã, những người chí nguyện như vậy quên đi sự thật lớn hơn rằng, thực sự, không có phi Ngã. Do đó, họ trở thành một “ngôi nhà bị chia cắt”, chống lại sự tích hợp và hài hoà trong công việc thực hành tâm linh của họ. Chính sách này chắc chắn sẽ thất bại và do nỗi đau của nó mà bộc lộ khả năng có một cách tiếp cận lành mạnh và cân bằng hơn.

E. Thus is evolution possible, and thus each life, in the different kingdoms of nature, consciously or unconsciously, fulfils its function of rightly energising that which is to it as is the planet to the sun.

E. Nhờ thế cuộc tiến hóa có thể thực hiện, và mỗi sự sống trong các giới khác nhau của thiên nhiên, dù hữu thức hay vô thức, đều hoàn thành chức năng của nó là truyền năng lượng đúng cách cho những gì đối với nó như là hành tinh đối với mặt trời.

1. Perhaps we can think of the Sun as the nucleus of an atom and the planet as an electron.

1. Có lẽ chúng ta có thể nghĩ về Mặt trời như là hạt nhân của một nguyên tử và hành tinh như là một điện tử.

2. The electron revolves around the nucleus (though the method of its revolution is by no means a simple as some of the early models of the atom have suggested).

2. Điện tử quay xung quanh hạt nhân (mặc dù phương pháp quay của nó hoàn toàn không đơn giản như một số các mô hình nguyên tử thuở ban đầu đã đề xuất).

3. Evolution occurs through the relationship of the center to the periphery and the periphery to the center. Each is evolving through this relationship—not just the lesser factor.

3. Sự tiến hóa xảy ra thông qua mối quan hệ của trung tâm với ngoại vi và ngoại vi với trung tâm. Mỗi bên đang phát triển thông qua mối quan hệ này – không chỉ là yếu tố nhỏ hơn.

4. The responsibility of the greater to the lesser is expressed in the words, “rightly energizing”. The greater is always the source of the sustaining, uplifting energy. It pours forth upon the lesser, revolving unit, that which is required for continued revolution and also for elevation.

4. Trách nhiệm của cái lớn hơn đối với cái nhỏ hơn được thể hiện bằng từ “tiếp thêm năng lượng đúng cách”. Cái lớn hơn luôn là nguồn năng lượng duy trì, năng lượng nâng cao tinh thần. Nó tuôn đổ lên đơn vị nhỏ hơn, đang xoay vòng, cái cần được tiếp tục xoay vòng và nâng cao.

5. This idea causes us to ask ourselves: “To what am I as a planet is to the Sun”; “To what am I as a Sun is to a planet?”

5. Ý tưởng này khiến chúng ta tự hỏi bản thân: “Tôi đối với cái gì thì như là một hành tinh đối với Mặt Trời”; “Tôi đối với cái gì thì như là Mặt Trời đối với một hành tinh?”

6. For many of us the soul is our “Sun” and we, as the personality, are a “planet”.

6. Đối với nhiều người trong chúng ta, linh hồn là “Mặt trời” của chúng ta và chúng ta, với tư cách là phàm ngã, là một “hành tinh”.

7. For others, the spiritual triad has taken the place of the Sun, and the soul-infused personality is as a planet.

7. Đối với những người khác, tam nguyên tinh thần đã thay thế Mặt Trời, và phàm ngã được linh hồn thấm nhập thì như một hành tinh.

8. For others, still, it is the monad which represents the solar factor, and all principles, vehicles and planes below the monadic are, as it were, ‘planetary’.

8. Đối với những người khác, vẫn chính chân thần đại diện cho yếu tố mặt trời, và tất cả các nguyên khí, các vận cụ và các cõi bên dưới cõi chân thần, như nó vốn có, thuộc ‘hành tinh’.

9. The lesser must revolve around the greater for the sake of ‘incremental vivification’. It is impossible for the lesser to absorb the greater all at once. The revolution provides ‘cyclic exposure’ from all angles, and thus a gradual assimilation of the intensity and quality of the greater.

9. Cái nhỏ hơn phải xoay quanh cái lớn hơn vì lợi ích của “sự truyền sức sống gia tăng”. Cái nhỏ hơn không thể hấp thụ tất cả cái lớn hơn cùng một lúc. Cuộc cách mạng cung cấp ‘sự tiếp xúc theo chu kỳ’ từ mọi góc độ, và do đó, có sự đồng hóa dần dần về cường độ và phẩm chất của cái lớn hơn.

10. In many ways, we are as the “Sun” to the lunar lords who inform our vehicles of personality expression. We are a still greater “Sun” to the tiny atoms which compose these vehicles.

10. Theo nhiều cách, chúng ta giống như “Mặt Trời” đối với các nguyệt tinh quân, những vị thông tin cho các vận cụ biểu hiện phàm ngã của chúng ta. Chúng ta vẫn là một “Mặt Trời” lớn hơn đối với những nguyên tử nhỏ bé tạo nên những vận cụ này.

11. Obviously, the brighter our “Sun” is shining—i.e., the more expressive of the soul/triad/monad we are, the greater will be the benefit to those lives who, to us, are ‘planetary’.

11. Rõ ràng, “Mặt trời” của chúng ta càng sáng – tức là, linh hồn/tam nguyên/chân thần của chúng ta càng thể hiện rõ ràng, thì lợi ích sẽ càng lớn cho các sinh mệnh, mà đối với chúng ta, chúng là ‘hành tinh’.

F. Thus will the unfolding of the plan logoic proceed with greater accuracy.

F. Nhờ đó mà việc khai mở Thiên Cơ sẽ tiến hành một cách chính xác hơn.

1. The accuracy of the unfoldment of the plan depends upon the approximation of lesser patterns to greater pre-existent greater patterns.

1. Độ chính xác của việc khai mở thiên cơ phụ thuộc vào sự gần giống của các kiểu mẫu nhỏ hơn so với các kiểu mẫu lớn hơn đã tồn tại trước đó.

2. “Becoming” approximates itself to “Being”.

2. “Trở Thành” tự gần đúng với “Bản Thể”.

3. When cycles proceed in an uninterrupted manner and when the work to be accomplished during such cycles is relatively uninhibited, then the gradual, cyclic building work proceeds as it should. The building process then results in a product which is accurately “true to design”.

3. Khi các chu kỳ tiến hành một cách không bị gián đoạn và khi công việc cần hoàn thành trong các chu kỳ đó tương đối không bị hạn chế, thì công việc xây dựng theo chu kỳ dần dần sẽ tiến hành như bình thường. Quá trình xây dựng sau đó tạo ra một sản phẩm chính xác “đúng với thiết kế”.

4. We all know that “haste makes waste”. Sloppy and haphazard building yields a poor result.

4. Tất cả chúng ta đều biết rằng “sự vội vàng làm lãng phí”. Việc xây dựng cẩu thả và lộn xộn mang lại kết quả kém.

5. But building that occurs with rhythmic regularity (cyclically) is most often truer to the spiritually-destined design.

5. Nhưng việc xây dựng diễn ra với sự đều đặn nhịp nhàng (có tính chất chu kỳ) thường giống hơn với thiết kế đã định về mặt tinh thần.

6. Can we build in beauty and accurately—i.e., true to design? Our cooperation with the lesser lives will determine our success. The devic lives, are, after all, the “lesser builders”. They are built into the intended forms through the use of a cyclic process.

6. Chúng ta có thể xây dựng một cách đẹp đẽ và chính xác — tức là đúng với thiết kế không? Sự hợp tác của chúng ta với các sinh linh hạ đẳng sẽ quyết định sự thành công của chúng ta. Rốt cuộc, sự sống của những thiên thần là “những vị kiến tạo nhỏ bé hơn”. Các ngài được kiến tạo thành các hình tướng đã định thông qua việc sử dụng một quá trình tuần hoàn.

G. The kingdom of God is within, and the duty of that inner hidden Ruler is twofold, first, to the lives which form the bodies, physical, astral, and mental,…

G. Thiên giới vốn ở nội tâm, và có hai bổn phận của Chủ thể ẩn ở nội tâm, đầu tiên là với các sinh linh tạo thành các thể – thể xác, thể cảm dục và thể trí của y…,

1. We are dealing here, metaphorically, with the relationship between the Sun and the Moon, between the king and his subjects, between the ruler and those who must obey his rule.

1. Chúng ta đang nói đến ở đây, một cách ẩn dụ, về mối quan hệ giữa Mặt Trời và Mặt Trăng, giữa nhà vua và thần dân của ông, giữa người cai trị và những người phải tuân theo sự cai trị của ông.

2. It is said that “noblesse oblige”, which means that those of noble rank have an implicit obligation to those of lesser rank.

2. Người ta nói rằng “nghĩa vụ quý tộc”, có nghĩa là những người ở cấp bậc cao quý có nghĩa vụ ngầm đối với những người ở cấp bậc thấp hơn.

3. Hierarchy is a hierarchy of service. In such a hierarchy, all rise through serving.

3. Thánh đoàn là một huyền giai phụng sự. Trong một huyền giai như vậy, tất cả đều thăng tiến thông qua việc phụng sự.

4. Usually, we think of the duty of a subject to his/her master. This Rule, however, reverses that usual perspective.

4. Thông thường, chúng ta nghĩ về nhiệm vụ của một chủ thể đối với chân sư của mình. Quy Luật này, tuy nhiên, đảo ngược quan điểm thông thường đó.

5. What really is the “Kingdom of God”? Is it not a ‘vibratory domain’ characteristic of the soul and informing Solar Angel?

5. “Vương quốc của Thượng đế” thực sự là gì? Chẳng phải đó là đặc trưng ‘miền rung động’ của linh hồn và Thái dương Thiên thần đó sao?

6. Why is it called a “kingdom”? Perhaps because of its laws and rules, the principles under which it operates.

6. Tại sao nó được gọi là một “vương quốc”? Có lẽ vì các luật và các quy luật của nó, các nguyên tắc mà nó hoạt động.

7. In that “Kingdom” the Laws of the Soul prevail and regulate all happenings. These laws are as follows:

7. Trong “Vương quốc” đó, Luật của Linh hồn chiếm ưu thế và điều chỉnh mọi điều xảy ra. Các luật này như sau:

i. The Law of Sacrifice

i. Luật Hy sinh

ii. The Law of Magnetic Impulse or of “Polar Union”

ii. Luật Xung Động Từ Tính hoặc “Hợp Nhất Cực”

iii. The Law of Service

iii. Luật Phụng sự

iv. The Law of Repulse

iv. Luật Đẩy lùi

v. The Law of Group Progress or of “Elevation”

v. Luật Tiến bộ Nhóm hay “Nâng cao”

vi. The Law of Expansive Response

vi. Luật Đáp ứng Mở rộng

vii. The Law of the Lower Four

vii. Luật của Bốn Cái thấp hơn

8. It is interesting that these laws are only secondarily for the welfare of the greater unit (though, of course, they benefit that greater unit).

8. Điều thú vị là những luật này chỉ đứng thứ yếu vì lợi ích của đơn vị lớn hơn (mặc dù tất nhiên, chúng mang lại lợi ích cho đơn vị lớn hơn đó).

9. They are all laws which focus initially on the benefit of the lesser units included within the life of the greater unit.

9. Chúng là tất cả các luật ban đầu tập trung vào lợi ích của các đơn vị nhỏ hơn được bao gồm trong sự sống của đơn vị lớn hơn.

10. We are reminded of the Christ’s statement: “The first shall be last and the last shall be first.” Or the following principle which I shall paraphrase: ‘He who would be greatest among you—let him be the servant of all’.

10. Chúng ta được nhắc nhở về lời tuyên bố của Đức Christ: “Người đầu tiên sẽ là cuối cùng và người cuối cùng sẽ bước vào trước.” Hoặc nguyên tắc sau đây mà tôi sẽ nói lại rằng: ‘Ai sẽ là người vĩ đại nhất trong các bạn – hãy để người ấy làm đầy tớ của mọi người’.

11. When we say that the “Kingdom of God is within”, we are told that we cannot find it in the world of the senses or of personality response (thought ultimately—once “The Highest and the Lowest Meet”— all these lower vibratory domains are necessarily included within that Kingdom).

11. Khi chúng ta nói rằng “Vương quốc của Thượng đế là ở bên trong”, chúng ta được cho biết rằng chúng ta không thể tìm thấy nó trong thế giới của các giác quan hoặc đáp ứng của phàm ngã (suy cho cùng – một khi “cái Cao nhất và cái Thấp nhất gặp nhau”- tất cả các vùng rung động thấp hơn này nhất thiết phải được bao gồm trong Vương quốc đó).

12. The one who finds his/her true center has found the ‘Seat of Power’ within that Kingdom.

12. Người tìm thấy trung tâm thực sự của mình đã tìm thấy ‘Vị trí quyền lực’ trong Vương quốc đó.

13. It is interesting that the “Inner Ruler” has more than one duty. The first duty is to the lesser lives. The lesser must first be served.

13. Điều thú vị là “Người cai trị Bên trong” có nhiều hơn một nhiệm vụ. Nhiệm vụ đầu tiên là đối với những sinh linh hạ đẳng. Người bé hơn phải được phụng sự trước tiên.

14. However, there are, implicitly, also duties to the higher lives which include the serving unit as a part within a greater whole.

14. Tuy nhiên, cũng có những nghĩa vụ đối với những sự sống cao hơn vốn bao gồm đơn vị phụng sự như một bộ phận trong một tổng thể lớn hơn.

15. Sometimes disciples make a mistake thinking they must first serve the higher before serving the lower. But the higher they seek to serve is greatly involved serving the lower. So he/she who seeks to cooperate with the higher must serve those the higher seeks to serve.

15. Đôi khi các đệ tử mắc sai lầm khi nghĩ rằng trước tiên họ phải phụng sự cấp cao hơn trước khi phụng sự cấp thấp hơn. Nhưng những cấp càng cao hơn mà họ tìm cách phụng sự thì lại càng liên quan nhiều đến việc phụng sự cấp thấp hơn. Vì vậy, người muốn hợp tác với cấp cao hơn thì phải phụng sự những vị mà cấp cao hơn đang tìm cách phụng sự.

16. Hierarchy is turned towards the welfare of humanity. Therefore, those who would serve Hierarchy must first serve humanity (just as Hierarchy is seeking to do).

16. Thánh đoàn hướng tới lợi ích của nhân loại. Do đó, những người muốn phụng sự Thánh Đoàn trước tiên phải phụng sự nhân loại (giống như Thánh đoàn đang tìm cách làm).

17. Those who think of serving Hierarchy without serving humanity are really, selfishly, serving only themselves and their wish for rapid spiritual progress.

17. Những người nghĩ rằng phụng sự Thánh Đoàn mà không phụng sự nhân loại thực sự là ích kỷ, chỉ phụng sự bản thân và mong muốn của họ trong việc tiến bộ tâm linh nhanh chóng.

H. and then to the macrocosm, the world of which the microcosm is but an infinitesimal part.

H. và sau đó là đối với đại vũ trụ, thế giới mà trong đó tiểu vũ trụ chỉ là một phần vô cùng nhỏ.

1. Again is emphasized the idea that the first service is to the microcosm. Only when the microcosm is properly served can attention be turned to the service of the macrocosm.

1. Một lần nữa ý tưởng được nhấn mạnh rằng, việc phụng sự đầu tiên là cho tiểu vũ trụ. Chỉ khi tiểu vũ trụ được phụng sự đúng cách, sự chú ý mới có thể được chuyển sang phụng sự cho Đại vũ trụ.

2. Of course, service is service, and when one serves the microcosm, one is, essentially, serving the macrocosm.

2. Tất nhiên, phụng sự là phụng sự, và khi một người phụng sự tiểu vũ trụ, thì về cơ bản, người này đang phụng sự đại vũ trụ.

3. The word “then” alerts us to the sequence. First things first. To obey this sequence is to avoid certain glamors of the Path.

3. Từ “sau đó” nhắc nhở chúng ta về trình tự. Điều đầu tiên trước tiên. Tuân theo trình tự này là để tránh những ảo cảm nhất định của đường Đạo.

4. The word “infinitesimal” is interesting. Is it used with technical accuracy here? Probably not, as it is a mathematical term conveniently adopted in customary language to mean “very small” instead of ‘next to infinitely small’.

4. Từ “infinitesimal” (cực nhỏ) rất thú vị. Liệu nó có được sử dụng với độ chính xác kỹ thuật ở đây không? Có lẽ là không, vì nó là một thuật ngữ toán học được sử dụng một cách thuận tiện trong ngôn ngữ thông thường để có nghĩa là “rất nhỏ” thay vì “gần với số nhỏ vô hạn”.

5. Contemplation upon the infinitesimal is a rewarding and humbling process.

5. Chiêm nghiệm về số rất nhỏ này là một quá trình bổ ích và khiêm tốn.

6. Our range of vision is so small. What we consider a tiny unit is really huge compared to aspects of divinity so tiny that we have no notion of them.

6. Tầm nhìn của chúng ta là quá nhỏ. Những gì chúng ta coi là một đơn vị nhỏ bé thực sự rất lớn so với các trạng thái thiêng liêng nhỏ đến mức chúng ta không có khái niệm gì về chúng.

7. That which we consider great, may well be relatively ‘infinitesimal’ when compared to units or Beings of so great a scope that, again, we can have no real notion of them.

7. Thứ mà chúng ta coi là lớn, cũng có thể là ‘rất nhỏ’ một cách tương đối khi so sánh với các đơn vị hoặc các Bản thể có phạm vi lớn đến mức, một lần nữa, chúng ta không thể có khái niệm thực sự về chúng.

8. For every disciple there is an ‘effective range of comprehension’ and also an ‘effective range of service’. Really, both ranges are very small, but they are wide enough for our purposes, and within those ranges we must function.

8. Đối với mỗi đệ tử đều có một ‘phạm vi hiểu biết hiệu quả’ và cũng có một ‘phạm vi phụng sự hiệu quả’. Thực sự, cả hai phạm vi đều rất nhỏ, nhưng chúng đủ rộng cho các mục đích của chúng ta và bên trong các phạm vi đó, chúng ta phải hành động.

9. Sometimes speculation allows us to attempt to comprehend the incomprehensible vastness, but the idea of such a Being must remain vague and very general.

9. Đôi khi suy đoán cho phép chúng ta cố gắng hiểu được sự rộng lớn không thể hiểu được, nhưng ý tưởng về một Bản thể như vậy vẫn còn mơ hồ và rất chung chung.

10. Equally, this is so with respect to the incredibly tiny. The tiniest presently detectable sub-atomic particle is a ‘monster’ compared to what we might call the ‘ultimate particle-event’.

10. Tương tự, điều này là như vậy đối với những cái cực kỳ nhỏ bé. Hạt hạ nguyên tử nhỏ nhất hiện nay có thể phát hiện được là một ‘con quái vật’ so với cái mà chúng ta có thể gọi là ‘sự kiện hạt cuối cùng’.

11. In this Rule for Applicants we are asked to focus our nurturing attention of that which is smaller than ‘we’ are. This focusing is a lesson in humility, which, after all, is “an adjusted sense of right proportion”.

11. Trong Quy Luật dành cho các Ứng viên Điểm Đạo này, chúng ta được yêu cầu tập trung sự chú ý nuôi dưỡng của mình vào cái nhỏ hơn ‘chúng ta’. Sự tập trung này là một bài học về sự khiêm tốn, mà xét cho cùng, là “một ý thức được điều chỉnh cho đúng tỷ lệ”.

12. We learn the humbling lesson that unless the lesser advances, the greater cannot advance.

12. Chúng ta học được bài học khiêm nhường rằng trừ phi cái bé hơn tiến bộ, còn không thì cái lớn hơn không thể tiến bộ.

13. Even a Master must ensure that He has a replacement before He can move on.

13. Ngay cả một Chân Sư cũng phải đảm bảo rằng Ngài có người thay thế trước khi Ngài có thể chuyển đi.

14. The notion of pride disappears when we consider the relative value of each category or unit within the Universal Hierarchy.

14. Khái niệm tự hào biến mất khi chúng ta xem xét giá trị tương đối của từng danh mục hoặc đơn vị bên trong Thánh Đoàn Vũ Trụ.

15. Perhaps, at length, we can learn to look in all directions and see nothing but a sameness, regardless of the apparent hierarchy of development (which, in a relative sense, is also an important recognition and must be considered).

15. Có lẽ, về lâu dài, chúng ta có thể học cách nhìn theo mọi hướng và không thấy gì ngoài sự giống nhau, bất kể thứ bậc rõ ràng của sự phát triển là gì (theo nghĩa tương đối, đây cũng là một nhận thức quan trọng và cần phải được xem xét).

16. It is fitting that this is the fourth rule, related thus to the Moon (distributor of the fourth ray) and to the sign Cancer (the fourth sign) ruled by the Moon and relating to the ‘home’ of the lesser lives.

16. Thật phù hợp khi đây là quy luật thứ tư, do đó liên quan đến Mặt Trăng (nhà phân phối cung bốn) và dấu hiệu Cự Giải (dấu hiệu thứ tư) do Mặt Trăng cai quản và liên quan đến ‘ngôi nhà’ của những sinh linh hạ đẳng.

17. But Cancer is also related to the Ashram (one’s true ‘home’), and one can only be a member of an Ashram when one is oriented towards the service of the lesser lives, and tending the fires which enable them to evolve.

17. Nhưng Cự Giải cũng liên quan đến Đạo viện (‘ngôi nhà’ thực sự của một người), và một người chỉ có thể là thành viên của một Đạo viện khi hướng tới việc phụng sự những sinh linh hạ đẳng, và chăm nom những ngọn lửa giúp chúng tiến hóa.

Dear Brothers and Sisters,

Các anh chị em thân mến,

We are moving into the fourth Rule and our attention is turned towards the form. May we learn to care for it in such a way that the spirit/soul can advance.

Chúng ta đang chuyển sang Quy Luật thứ tư và sự chú ý của chúng ta chuyển hướng về hình tướng. Mong chúng ta học cách chăm sóc nó theo cách mà tinh thần / linh hồn có thể thăng tiến.

Love and Many Blessings,

Yêu thương và nhiều phước lành,

Michael (and Stefan)

Michael (và Stefan)

Scroll to Top