Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn – 4

📘 Sách: Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

LAWS OF THE SOUL WEBINAR COMMENTARY # 4

The Law of Sacrifice #3 (93-96)

Abstract

Laws of the Soul Webinar Commentary 4 covers EP II pages 93-96, and is about one hour long. Topics include:

Bình giảng Webinar số 4 về Các Định luật của Linh hồn bao quát các trang 93–96 trong Tâm Lý Học Nội Môn II, kéo dài khoảng một giờ. Các chủ đề gồm:

1) to the higher consciousness, descent into matter is death;

1. Đối với tâm thức cao hơn, sự giáng nhập vào vật chất là cái chết;

2) “The angels chose to die and in dying, lived”; does this refer to the Solar Angels or to man as an Ego; or to that part of man which is the soul-in-incarnation which, when sacrificing itself, gains new life;

2. “Các thiên thần đã chọn cái chết và trong cái chết, các Ngài đã sống”; điều này có liên quan đến các Thái dương Thiên Thần hay đến con người như là một Chân ngã; hoặc đến phần của con người vốn là linh hồn-đang-nhập-thể, khi tự hy sinh thì đạt được sự sống mới;

3) the sacrifice of the Solar Angels helps to lift matter into heaven;

3. Sự hy sinh của các Thái dương Thiên Thần giúp nâng vật chất lên thiên giới;

4) the mystery of the Solar Angels is the “mystery of the ages”;

4. Huyền nhiệm về các Thái dương Thiên Thần là “huyền nhiệm của các thời đại”;

5) in itself, the process of sacrifice is deeply mysterious;

5. Bản thân tiến trình hy sinh vốn vô cùng huyền bí;

6) in the far-distant past, the Monad undertook its ‘Pilgrimage of Sacrifice’ in the spirit of joy;

6. Trong quá khứ xa xôi, Chân thần đã đảm nhận “Cuộc Hành Trình Hy Sinh” trong tinh thần hoan lạc;

7) man repeats the supreme sacrifice of the Monad undertaken at the “dawn of time” by a deliberate sacrifice as a world savior—far later in his evolutionary career;

7. Con người lặp lại sự hy sinh tối thượng của Chân thần được thực hiện vào “bình minh của thời gian” bằng một sự hy sinh có ý thức với tư cách là một Đấng Cứu Thế — xảy ra muộn hơn rất nhiều trong tiến trình tiến hoá của y;

8) the “Sacrifice of a World Saviour” is worked out within himself and also before the world as a spiritual drama;

8. “Sự Hy Sinh của một Đấng Cứu Thế” được thực hiện bên trong chính y và cũng trước thế gian như một vở kịch tinh thần;

9) the Drama of the World Saviour can be enacted as either the Christ or the Buddha enacted it; these enactments had different results;

9. Vở Kịch của Đấng Cứu Thế có thể được tái hiện như Đức Christ hoặc Đức Phật đã thực hiện; những sự tái hiện này mang lại các kết quả khác nhau;

10) for the Christ through the Initiate Jesus it was the drama of death through sacrifice;

10. Đối với Đức Christ qua vị điểm đạo đồ Jesus, đó là vở kịch của sự chết thông qua hy sinh;

11) for the Buddha, it was the drama of the death of personal desire;

11. Đối với Đức Phật, đó là vở kịch của cái chết của dục vọng cá nhân;

12) sacrifice travels in both directions; the death of that which is lower in order to release that which is higher; or the death of that which is higher to relase that which is lower;

12. Sự hy sinh diễn ra theo cả hai hướng; cái chết của điều thấp để giải phóng điều cao hơn; hoặc cái chết của điều cao hơn để giải phóng điều thấp hơn;

13) the many painful emotional and psychological states surrounding the process of sacrifice all occur because man is still identified with the form and not with the consciousness of the soul;

13. Nhiều trạng thái cảm xúc và tâm lý đau đớn xoay quanh tiến trình hy sinh đều xảy ra bởi vì con người vẫn còn đồng nhất với hình tướng chứ không phải với tâm thức của linh hồn;

14) the moment a man identifies himself with the soul and not the form, he understands the Law of Sacrifice and is spontaneously governed by it;

14. Ngay khi con người đồng nhất với linh hồn chứ không phải với hình tướng, y hiểu Định luật Hy Sinh và tự nhiên được định luật này chi phối;

15) in this type of sacrifice there is no pain, sorrow or real death involved;

15. Trong loại hy sinh này không có sự đau đớn, sầu khổ hay cái chết thực sự nào liên quan;

16) World Saviours can appear on all the rays and not just on the second and sixth (as has been emphasized during the Age of Pisces);

16. Các Đấng Cứu Thế có thể xuất hiện trên tất cả các cung chứ không chỉ trên cung hai và cung sáu (như đã được nhấn mạnh trong Thời đại Song Ngư);

17) there is a connection between the Atlantean civilization and the experiences of the Age of Pisces;

17. Có một sự kết nối giữa nền văn minh Atlantis và các kinh nghiệm của Thời đại Song Ngư;

18) the work of a World Saviour, on no matter which ray he may appear, is salvage, restitution, renovation and revelation; through sacrifice they accomplish this;

18. Công việc của một Đấng Cứu Thế, bất kể Ngài xuất hiện trên cung nào, là cứu rỗi, hoàn nguyên, canh tân và mặc khải; thông qua hy sinh, các Ngài hoàn tất điều đó;

19) they are much misunderstood but their work is good.

19. Các Ngài thường bị hiểu lầm rất nhiều nhưng công việc của các Ngài là điều thiện lành.

Text

All this involves the death and sacrifice of a Son of God, a solar angel, for, from the angle of Deity, descent into matter, manifestation through form, the taking of a body, extension of consciousness through the process of incarnation, are all occultly considered to be death. But the angels “chose to die, and in dying, lived.” Through their sacrifice, matter is lifted up into Heaven. It is this theme which fills the pages of The Secret Doctrine, and which is discussed in greater elaboration in A Treatise on Cosmic Fire. The sacrifice of the angels, the death of the Sons of God, the immolation of the mystic Christ, the crucifixion in time and space of all living entities, called souls—this is the theme of those books. This is the mystery hinted at in the world of Scriptures, and this is the secret of the ages, which is only discovered by the souls of men as each of them enters individually into conscious relation with his own soul and discovers that which he has joyously done in the past, and so arrives at the realisation of that supreme sacrifice which he made with deliberation in the early dawn of time itself and which, at some point in his career as a soul on earth, he consciously and symbolically re-enacts for the benefit of other souls, in order to hasten their progress towards their goal. Then comes a life wherein, in some form or another, he portrays or works out within himself, but also before the watching world, that great symbolic drama which we call

Tất cả điều này bao hàm cái chết và sự hi sinh của một Con của Thượng đế, một Thái dương Thiên Thần, vì, từ góc nhìn của Thượng đế, sự giáng xuống vào vật chất, sự biểu lộ qua hình tướng, việc nhận một thể, sự mở rộng tâm thức qua tiến trình nhập thể, tất cả đều được xem một cách huyền bí là cái chết. Nhưng các thiên thần “đã chọn chết, và trong khi chết, đã sống.” Nhờ sự hi sinh của họ, vật chất được nâng lên Thiên Giới. Chính chủ đề này lấp đầy các trang của Giáo Lý Bí Nhiệm, và được bàn luận chi tiết hơn trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Sự hi sinh của các thiên thần, cái chết của các Con của Thượng đế, sự tự thiêu của Đức Christ thần bí, sự đóng đinh trong thời gian và không gian của mọi thực thể sống, được gọi là các linh hồn—đó là chủ đề của những quyển sách ấy. Đây là huyền nhiệm được gợi ý trong thế giới Kinh Thánh, và đây là bí mật của các thời đại, chỉ được các linh hồn của loài người khám phá khi mỗi người trong họ bước vào mối liên hệ có tâm thức với chính linh hồn của mình và khám phá điều mà y đã hân hoan thực hiện trong quá khứ, và như vậy đi đến sự chứng nghiệm về sự hi sinh tối thượng mà y đã thực hiện một cách có chủ ý trong buổi bình minh sơ khai của chính thời gian, và điều mà, ở một điểm nào đó trong sự nghiệp của y như một linh hồn trên trái đất, y tái diễn một cách có tâm thức và tượng trưng vì lợi ích của các linh hồn khác, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của họ hướng tới mục tiêu. Khi ấy đến một đời sống mà, dưới hình thức này hay hình thức khác, y diễn tả hoặc triển khai trong chính mình, nhưng cũng trước thế giới đang quan sát, vở kịch biểu tượng vĩ đại mà chúng ta gọi là

The Sacrifice of a World Saviour. This is the theme of the [94] historical romance of all those great Sons of God who down the ages, have arrived at an understanding of the significance of the divine purpose of God, of the Word incarnated through a planet, of those solar angels who are themselves, the Word incarnate through a human form. Whether they enact this drama, as did the Christ, so as to present to man the symbolism of death and sacrifice, or whether they enact this drama, as did the Buddha, so as to demonstrate to man the sacrifice and death of personal desire (to mention only two of the manifested Sons of God, the Christ and the Buddha), the theme remains the same,—the death of that which is lower in order to release that which is higher, or—on a larger scale—the death of that which is higher in the order and scale of being, in order to release that which is lower.

Sự Hi sinh của một Đấng Cứu Thế Gian. Đây là chủ đề của thiên sử lãng mạn [94] của tất cả những Con vĩ đại của Thượng đế, những Đấng qua các thời đại đã đi đến sự thấu hiểu về thâm nghĩa của thiên ý của Thượng đế, về Linh từ nhập thể qua một hành tinh, về những Thái dương Thiên Thần vốn là chính họ, Linh từ nhập thể qua một hình tướng con người. Dù họ diễn vở kịch này, như Đức Christ đã làm, để trình bày cho con người biểu tượng của cái chết và sự hi sinh, hay họ diễn vở kịch này, như Đức Phật đã làm, để chứng minh cho con người sự hi sinh và cái chết của dục vọng cá nhân (chỉ nêu hai Con của Thượng đế đã biểu lộ, Đức Christ và Đức Phật), chủ đề vẫn như nhau,—cái chết của điều thấp hơn để giải phóng điều cao hơn, hoặc—trên một quy mô lớn hơn—cái chết của điều cao hơn trong trật tự và thang bậc hiện hữu, để giải phóng điều thấp hơn.

But the lesson needs to be learned (and it is the lesson which man is now engaged in learning) that death as the human consciousness understands it, pain and sorrow loss and, disaster, joy and distress, are only such because man, as yet, identifies himself with the life of the form and not with the life and consciousness of the soul, the solar angel, whose awareness is potentially that of the planetary Deity, Whose greater awareness (in His turn) is potentially that of the solar Deity. The moment a man identifies himself with his soul and not with his form, then he understands the meaning of the Law of Sacrifice; he is spontaneously governed by it; and he is one who will with deliberate intent choose to die. But there is no pain, no sorrow, and no real death involved.

Nhưng bài học cần được học (và đó là bài học mà con người hiện đang dấn thân học) rằng cái chết như tâm thức con người hiểu, đau đớn và buồn khổ, mất mát và tai hoạ, vui sướng và khốn đốn, chỉ là như vậy bởi vì con người, cho đến nay, đồng hoá với đời sống của hình tướng chứ không đồng hoá với đời sống và tâm thức của linh hồn, Thái dương Thiên Thần, mà sự nhận biết của vị ấy tiềm tàng là của Thượng đế Hành Tinh, và sự nhận biết lớn hơn của Ngài (đến lượt Ngài) tiềm tàng là của Thượng đế Mặt Trời. Khoảnh khắc một người đồng hoá với linh hồn mình chứ không với hình tướng của mình, thì y thấu hiểu ý nghĩa của Định luật Hi sinh; y tự phát được nó chi phối; và y là người sẽ với ý định có chủ ý chọn chết. Nhưng không có đau đớn, không có buồn khổ, và không có cái chết thực sự nào liên quan.

This is the mystery of illusion and glamour. From these two imprisoning factors all World Saviours are free. They are not deceived. It is well, in passing, to point out here that in the New Age, we shall enlarge our concept of this term World Saviour. At present we apply it predominantly to those souls who emerge upon the teaching ray, the second or [95] Christ ray. They enact the drama of salvation. But this is an error, due to the overpowering emotional glamour of the Piscean Age. This astral influence has its roots in the past Atlantean civilisation, which preceded ours. In that age, the astral body was the subject of attention. Much that happens today, and which may develop, has its roots in that aspect of energy. Seeds sown at that time are now brought to flower. This is very good and necessary, even if distressing in experience.

Đây là huyền nhiệm của ảo tưởng và ảo cảm. Cả hai yếu tố giam cầm này đều không trói buộc được các Đấng Cứu Thế Gian. Các Ngài không bị đánh lừa. Nhân tiện, cần chỉ ra ở đây rằng trong Kỷ Nguyên Mới, chúng ta sẽ mở rộng khái niệm của thuật ngữ Đấng Cứu Thế Gian này. Hiện nay chúng ta chủ yếu áp dụng nó cho những linh hồn xuất hiện trên cung dạy dỗ, cung hai hay [95] cung Christ. Họ diễn vở kịch cứu rỗi. Nhưng đây là một sai lầm, do ảo cảm cảm xúc áp đảo của Thời đại Song Ngư. Ảnh hưởng cảm dục này có gốc rễ trong nền văn minh Atlantis trong quá khứ, vốn đi trước nền văn minh của chúng ta. Trong thời đại ấy, thể cảm dục là đối tượng được chú ý. Nhiều điều xảy ra ngày nay, và có thể phát triển, có gốc rễ trong phương diện năng lượng ấy. Những hạt giống gieo khi đó nay đang trổ hoa. Điều này rất tốt và cần thiết, dù có thể gây khổ sở trong trải nghiệm.

But the World Saviours must be recognised as coming forth to serve the race, with sacrifice of some kind along many lines and in many forms. They may be great rulers, or dictators, politicians, statesmen, scientists and artists. Their work is the work of salvage, of restitution, or renovation and revelation, and, through the sacrifice of themselves, they accomplish it. As such, they must be recognised for what they are. Now they are misunderstood, misinterpreted, and judged by their mistakes more than by their aims. But they are dedicated souls. They rescue; they lift; they integrate; they illumine; and the net result of their work, from the angle of ultimate history, is good.

Nhưng các Đấng Cứu Thế Gian phải được nhận ra là xuất hiện để phụng sự nhân loại, với một sự hi sinh nào đó theo nhiều tuyến và dưới nhiều hình thức. Họ có thể là những nhà cai trị vĩ đại, hay những nhà độc tài, chính khách, chính trị gia, các nhà khoa học và nghệ sĩ. Công việc của họ là công việc cứu vớt, hoàn nguyên, hay canh tân và mặc khải, và qua sự hi sinh của chính họ, họ hoàn thành điều đó. Với tư cách như vậy, họ phải được nhận ra đúng như họ là. Hiện nay họ bị hiểu lầm, bị diễn giải sai, và bị phán xét bởi sai lầm của họ nhiều hơn bởi mục tiêu của họ. Nhưng họ là những linh hồn tận hiến. Họ cứu; họ nâng lên; họ tích hợp; họ soi sáng; và kết quả ròng của công việc họ, từ góc nhìn của lịch sử tối hậu, là điều thiện.

Text with notes

Beginning with LOTSWC 4 EP II p. 93

Bắt đầu với LOTSWC 4 EP II tr. 93

{Sacrifice always temporarily reduces the scope of one’s contacts and hence opportunities for growth through expansion… [1a]

{Hi sinh luôn tạm thời giảm bớt phạm vi liên hệ của một người và do đó cơ hội cho sự phát triển thông qua sự mở rộng…

All this involves the death and sacrifice of a Son of God, a Solar Angel, for, from the angle of Deity, descent into matter, manifestation through form, the taking of a body, extension of consciousness through the process of incarnation, are all occultly considered to be death. [1b]  But the angels “chose to die, and in dying, lived.” {we can say that as well of man the Monad… We too can be considered, in our higher aspects, to be the “Ange of the Presence”—it is an inherent aspect of our nature, the heart center of the Monad…. [1c] Through their sacrifice, matter is lifted up into Heaven. {We are dealing with a combined sacrifice… It is this theme which fills the pages of The Secret Doctrine, and which is discussed in greater elaboration in A Treatise on Cosmic Fire. [1d] The sacrifice of the angels, {not in their entirety… the death of the Sons of God, {in consciousness the immolation {a descent into fire by friction of the mystic Christ, the crucifixion in time and space of all living entities, {time and space are the great crucifiers and restrainers… container and hamper… called souls—this is theme of those books. [1e]  This is the mystery hinted at in the world of Scriptures, and this is the secret of the ages, which is only discovered by the souls of men {by the human souls, the souls in incarnation as each of them enters individually into conscious relation with his own {higher soul {or Ego on the higher mental plane and discovers that which he has joyously done {in sacrifice in the past, [1f]   {the joy of sacrifice is to be considered, and we often do not when subject to the conditions of the lower worlds, and so arrives at the realisation of that supreme sacrifice which he made with deliberation {and with joy… {Saturnian work linking deliberate sacrifice to Saturn…. in the early dawn of time itself {much longer ago than merely 21 million years… and which, at some point in his career as a soul on earth, he consciously and symbolically re-enacts for the benefit of other souls, [1g]   {he descends from the soul level, and not from the monadic level—and works to help, serve and save other human beings… in order to hasten their progress towards their goal. [1h]   {Such are the members of the Spiritual Hierarchy now… including the probationary initiates… and third degree initiates Then comes a life wherein, in some form or another, he portrays or works out within himself, but also before the watching world, that great symbolic drama which we call [1i]   {the fourth ray is involved if we call it a drama, and at the fourth initiation the fourth ray presides… All of this deliberate serving and saving is a re-enactment on a lower turn of the spiral of the monadic sacrifice at the “dawn of time”… [1j]

Tất cả điều này liên quan đến cái chết và hi sinh của một Con của Thượng đế, một Thái Dương Thiên Thần, vì, từ góc độ của Thượng đế, sự đi xuống vào vật chất, sự biểu hiện qua hình tướng, việc tiếp nhận một thân xác, sự mở rộng của tâm thức thông qua quá trình nhập thể, đều được coi là cái chết một cách huyền bí. [1b] Nhưng các thiên thần “đã chọn chết, và trong cái chết, đã sống.” {chúng ta có thể nói rằng như của con người, Chân thần… Chúng ta cũng có thể được coi là, trong các khía cạnh cao hơn của mình, là “Thiên Thần của Hiện Diện”—đó là một khía cạnh vốn có của tự nhiên của chúng ta, trung tâm trái tim của Chân thần…. Thông qua sự hi sinh của họ, vật chất được nâng lên thiên đàng. {Chúng ta đang xử lý một sự hi sinh kết hợp… Đây là chủ đề lấp đầy các trang của Giáo Lý Bí Nhiệm, và được thảo luận một cách chi tiết hơn trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Sự hi sinh của các thiên thần, {không phải trong toàn bộ… cái chết của các Con của Thượng đế, {trong tâm thức sự thiêu đốt {một sự hạ xuống trong lửa do ma sát của Đấng Christ huyền bí, sự đóng đinh trong thời gian và không gian của tất cả các thực thể sống, {thời gian và không gian là những kẻ đóng đinh và kiềm chế lớn… chứa đựng và cản trở… được gọi là linh hồn—đây là chủ đề của những quyển sách đó. [1e] Đây là bí mật được gợi ý trong thế giới của các Kinh điển, và đây là bí mật của các thời đại, chỉ được khám phá bởi các linh hồn của con người {bởi các linh hồn nhân loại, các linh hồn đang nhập thể khi mỗi người trong số họ bước vào mối quan hệ có ý thức với chính mình {linh hồn cao hơn {hoặc Chân ngã trên cõi trí cao hơn và khám phá những gì mà họ đã vui vẻ làm {trong sự hi sinh trong quá khứ, [1f] {niềm vui của sự hi sinh cần được xem xét, và chúng ta thường không làm như vậy khi chịu ảnh hưởng của các điều kiện của các cõi thấp hơn, và do đó đạt được sự nhận thức về sự hi sinh tối thượng mà họ đã thực hiện với sự cân nhắc {và với niềm vui… {Công việc của Sao Thổ liên kết sự hi sinh có chủ ý với Sao Thổ…. trong ánh sáng ban mai của chính thời gian {lâu hơn nhiều so với chỉ 21 triệu năm… và mà, tại một thời điểm nào đó trong sự nghiệp của mình như một linh hồn trên trái đất, họ một cách có ý thức và biểu tượng tái hiện cho lợi ích của các linh hồn khác, {họ hạ xuống từ cấp độ linh hồn, và không từ cấp độ chân thần—và làm việc để giúp, phụng sự và cứu những con người khác… để thúc đẩy sự tiến bộ của họ hướng tới mục tiêu của họ. [1h] {Những người như vậy là các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần hiện nay… bao gồm các điểm đạo đồ dự bị… và các điểm đạo đồ cấp ba Sau đó đến một cuộc sống mà, dưới một hình thức nào đó, họ thể hiện hoặc thực hiện bên trong chính mình, nhưng cũng trước thế giới đang theo dõi, vở kịch biểu tượng lớn mà chúng ta gọi là {cung thứ tư có liên quan nếu chúng ta gọi nó là một vở kịch, và tại lần điểm đạo thứ tư, cung thứ tư chủ trì… Tất cả những sự phụng sự và cứu giúp có chủ ý này là một sự tái hiện trên một vòng xoắn thấp hơn của sự hi sinh chân thần tại “ánh sáng ban mai của thời gian”… [1j]

The Sacrifice of a World Saviour. {Such a relinquishment of that which is below… [1k]

Cuộc Hi Sinh của một Đấng Cứu Thế. {Một sự từ bỏ điều gì đó thấp hơn… *

This is theme of the [94]  historical romance {fourth ray language here used… {only with understanding of these greater issues is the Sacrifice of a World Saviour undertaken… {heroes, villains, dramas, battles, crises and emergence and victory… [1l]  of all those great Sons of God who down the ages, have arrived at an understanding of the significance of the divine purpose of God, of the Word {Word is the soul of the Planetary Logos incarnated through a planet, of those Solar Angels who are themselves, the Word incarnate through a human form. [1m]   {We must listen to the Voice of the Solar Angel, which does speak its words of advice in the Old Commentary… so often… Whether they enact this drama, as did the Christ, so as to present to man the symbolism of death and sacrifice, [1n]   {Christ as He guided the Initiate Jesus through this process… or whether they enact this drama, as did the Buddha, so as to demonstrate to man the sacrifice and death of personal desire (to mention only two of the manifested Sons of God, the Christ and the Buddha), theme remains the same, —the death of that which is lower in order to release that which is higher, or—on a larger scale—the death of that which is higher in the order and scale of being, in order to release that which is lower. [1o]   {The fourth ray is involved… each pole rendering a sacrifice—through relinquishment of form and desire, or through relinquishment of consciousness and burial in the lower elemental worlds… [1p]

Đây là chủ đề của [94] tiểu thuyết lịch sử {ngôn ngữ cung thứ tư ở đây được sử dụng… {chỉ với sự hiểu biết về những vấn đề lớn hơn này thì Cuộc Hi Sinh của một Đấng Cứu thế mới được thực hiện… {anh hùng, kẻ phản diện, vở kịch, trận chiến, khủng hoảng và sự xuất hiện và chiến thắng… [1l] của tất cả những Con của Thượng đế vĩ đại đã đến trong suốt các thời đại, đã đạt được sự hiểu biết về ý nghĩa của mục đích thiêng liêng của Thượng đế, của Linh từ {Linh từ là linh hồn của Hành Tinh Thượng đế nhập thể qua một hành tinh, của những Thái dương Thiên Thần mà chính họ, là Linh từ nhập thể qua một hình thức con người. [1m] {Chúng ta phải lắng nghe Giọng nói của Thái dương Thiên Thần, mà thực sự nói những lời khuyên của Ngài trong Cổ Luận… rất thường xuyên… Dù họ có thực hiện vở kịch này, như Đấng Christ, để trình bày cho con người biểu tượng của cái chết và hi sinh, [1n] {Christ khi Ngài hướng dẫn Điểm Đạo Đồ Jesus qua quá trình này… hay họ có thực hiện vở kịch này, như Đức Phật, để chứng minh cho con người sự hi sinh và cái chết của mong muốn cá nhân (chỉ đề cập đến hai trong số những Con của Thượng đế đã biểu hiện, Đấng Christ và Đức Phật), chủ đề vẫn giữ nguyên, —cái chết của điều thấp hơn để giải phóng điều cao hơn, hoặc—trên quy mô lớn hơn—cái chết của điều cao hơn trong trật tự và quy mô của sự tồn tại, để giải phóng điều thấp hơn. [1o] {Cung thứ tư có liên quan… mỗi cực thực hiện một sự hi sinh—thông qua sự từ bỏ hình tướng và mong muốn, hoặc thông qua sự từ bỏ tâm thức và chôn vùi trong các cõi hành khí thấp hơn…

Sacrifice is a question of mutual approach

Hi sinh là một câu hỏi về sự tiếp cận lẫn nhau

But the lesson needs to be learned (and it is the lesson which man is now engaged in learning {during a most sacrificial period of human history…) that death as the human consciousness understands it, pain and sorrow loss and, disaster, joy and distress, are only such because man, as yet, identifies himself with the life of the form {with the phantasmagoria and not with the life and consciousness of the soul, the Solar Angel, [1q]   {We identify with the lower lunar realms and must be torn away from them through the processes of detachment…. whose awareness is potentially that of the planetary Deity, {How far can the consciousness of the Solar Angel really extend—Solar Angels are, in groups, on their way to becoming planetary Deities Whose greater awareness (in His turn) is potentially that of the solar Deity. [1r]   {on and on… {so if we identify with the fate of the form, we shall have the familiar human vicissitudes—on the scale from bliss to despair… The moment a man {the man is the Monad-in-extension, or the ‘Monad-in-submersion’, or ‘monad-in-attenuation’ identifies himself with his soul [1s]   {I am That which exists on the higher mental plane, and That is my truer home—and not with his form, {through detachment then he understands the meaning of the Law of Sacrifice; {Why—because as a soul he wants to GIVE…. regardless of what may be the consequences in the lower personal sphere… because the loss of form or its reduction in any way is not the main issue… the gain to the consciousness of the soul is the main issue… [1t]  The factor of training the Identificatory power of the Monad-in-incarnation, is vitally important for release… [1u]  he is spontaneously governed by it; and he is one who will with deliberate intent choose to die. [1v]   {As the lower man would consider death, or to die through descent of consciousness… But there is no pain, no sorrow, and no real death involved. [1i]   {There is just the tending of a post from which sacrifice can be expressed an energetic blessing for others… [1w]

Nhưng bài học cần phải được học (và đó là bài học mà con người hiện đang tham gia học {trong một giai đoạn rất hi sinh của lịch sử nhân loại…) rằng cái chết như ý thức con người hiểu, đau đớn và buồn bã, mất mát và, thảm họa, niềm vui và khổ đau, chỉ như vậy vì con người, cho đến nay, xác định bản thân mình với cuộc sống của hình tướng {với ảo ảnh và không với cuộc sống và tâm thức của linh hồn, Thái dương Thiên Thần, [1q] {Chúng ta xác định với các cõi thấp hơn và phải được tách ra khỏi chúng thông qua các quá trình tách rời…. những người có nhận thức tiềm năng là Thượng đế hành tinh, {Tâm thức của Thái dương Thiên Thần thực sự có thể mở rộng đến đâu—Các Thái dương Thiên Thần, theo nhóm, đang trên đường trở thành Thượng đế hành tinh Tâm thức lớn hơn của Ngài (theo lượt của Ngài) tiềm năng là tâm thức của Thượng đế mặt trời. [1r] {tiếp tục mãi… {vì vậy nếu chúng ta xác định với số phận của hình tướng, chúng ta sẽ có những thăng trầm quen thuộc của con người—trên quy mô từ hạnh phúc đến tuyệt vọng… Khoảnh khắc một người {người đàn ông là Chân Thần-trong-sự-mở-rộng, hoặc ‘Chân Thần-trong-sự-chìm’, hoặc ‘chân thần-trong-sự-giảm thiểu’ xác định bản thân mình với linh hồn của mình [1s] {Tôi là Điều mà tồn tại trên cõi trí cao hơn, và Điều đó là nhà thật sự của tôi—và không phải với hình tướng của mình, {thông qua sự tách rời thì anh ta hiểu ý nghĩa của Định luật Hi sinh; {Tại sao—bởi vì như một linh hồn, anh ta muốn ĐƯA RA…. bất kể những gì có thể là hậu quả trong lĩnh vực cá nhân thấp hơn… vì sự mất mát hình tướng hoặc sự giảm bớt của nó theo bất kỳ cách nào không phải là vấn đề chính… lợi ích cho tâm thức của linh hồn mới là vấn đề chính…Yếu tố đào tạo sức mạnh xác định của Chân Thần-trong-nhập thể là rất quan trọng cho sự giải phóng… [1u] anh ta được điều khiển một cách tự phát bởi nó; và anh ta là người sẽ với ý định có chủ ý chọn lựa để chết. [1v] {Như người phàm sẽ coi cái chết, hoặc để chết thông qua sự hạ xuống của tâm thức… Nhưng không có đau đớn, không có buồn bã, và không có cái chết thực sự nào liên quan. {Chỉ có việc chăm sóc một vị trí từ đó sự hi sinh có thể được biểu hiện như một phước lành năng lượng cho người khác…

This is the mystery of illusion and glamour. From these two imprisoning factors all World Saviours are free. [1y]   {They have passed beyond the third degree and thus have dealt a mortal blow to ILLUSION—They are not deceived. [1z]   {by glamor and illusion or by maya, earlier conquered… It is well, in passing, to point out here that in the New Age, we shall enlarge our concept of this term World Saviour. {Perhaps understand it along a number of ray lines… At present we apply it predominantly to those souls who emerge upon the teaching ray, the second or [95]  Christ ray. They enact the drama of salvation. [1l]  But this is an error, due to the overpowering emotional glamour of the Piscean Age. {and its sixth ray influence… This astral influence has its roots in the past Atlantean civilisation, which preceded ours. {So our connection to the Atlanteam consciousness during the Age of Pisces was very strong… In that age, the astral body was the subject of attention. [2a]  Much that happens today, and which may develop, has its roots in that aspect of energy. Seeds sown at that time are now brought to flower. This is very good and necessary, even if distressing in experience. [2b]   {Atlantean tendencies are now coming to flower, due to the congeniality of the Piscean Age, and its relation to the Atlantean energies….

Đây là bí mật của ảo ảnh và ảo cảm.Từ hai yếu tố giam cầm này, tất cả Đấng Cứu Thế đều tự do. {Họ đã vượt qua cấp độ thứ ba và do đó đã gây ra một đòn chí mạng cho ẢO ẢNH—Họ không bị lừa dối. {bởi ảo cảm và ảo ảnh hoặc bởi ảo lực, đã được chinh phục trước đó… Điều này được nhắc đến, để chỉ ra rằng trong Kỷ Nguyên Mới, chúng ta sẽ mở rộng khái niệm của mình về thuật ngữ Đấng Cứu thế. {Có thể hiểu nó theo nhiều dòng cung khác nhau…Hiện tại, chúng ta áp dụng nó chủ yếu cho những linh hồn xuất hiện trên dòng dạy dỗ, cung thứ hai hoặc [95] cung Christ. Họ thực hiện vở kịch của sự cứu rỗi. [1l] Nhưng đây là một sai lầm, do sự ảo cảm cảm xúc áp đảo của Kỷ Nguyên Song Ngư. {và ảnh hưởng của cung thứ sáu… Ảnh hưởng cảm dục này có nguồn gốc từ nền văn minh Atlantis trước đó, mà đã tồn tại trước nền văn minh của chúng ta. {Vì vậy, sự kết nối của chúng ta với ý thức Atlantis trong Kỷ Nguyên Song Ngư rất mạnh mẽ… Trong thời kỳ đó, thể cảm dục là đối tượng chú ý.Nhiều điều xảy ra ngày nay, và có thể phát triển, có nguồn gốc từ khía cạnh năng lượng đó.Hạt giống được gieo vào thời điểm đó hiện đang nở hoa.Điều này rất tốt và cần thiết, ngay cả khi trải nghiệm gây khó chịu. {Các xu hướng Atlantis hiện đang nở hoa, do sự tương thích của Kỷ Nguyên Song Ngư, và mối quan hệ của nó với năng lượng Atlantis….

America, under its sixth ray, is the heir to the sixth ray, Piscean civilization….

But the World Saviours must be recognised as coming forth to serve the race, with sacrifice of some kind along many lines and in many forms. [2c]   {Each of us as a seed which must fall into the Earth… and bring forth a plant or fruit… at the expense of all we had been before They may be great rulers, or dictators, politicians, statesmen, scientists and artists. {Sufficient sacrifice for humanity along a particular ray line, will create the World Saviour—the Pratyeka Buddhas are not such Saviours… Their work is the work of salvage, of restitution, or renovation and revelation, {so that people may be more sensitive to reality… and, through the sacrifice of themselves, they accomplish it. [2d]   {They do not pay attention to the impact of their sacrificial actions upon their form life… As such, they must be recognised for what they are. Now they are misunderstood, misinterpreted, and judged by their mistakes more than by their aims. [2e]  But they are dedicated souls. {Through sacrifice They rescue; usually needed from a powerful display of the elements… they lift; they integrate; they illumine; {As saviors working along a number of ray lines… and the net result of their work, from the angle of ultimate history, is good. {They are re-enacting the original sacrifice of the Monads, in which they fully participated {The Will-to-Serve, WiIl-to-Sacrifice, Will-to-Save… [2f]

Nhưng các Đấng Cứu Thế phải được công nhận là những người đến để phụng sự nhân loại, với sự hy sinh theo nhiều cách và dưới nhiều hình thức khác nhau. [2c] {Mỗi chúng ta như một hạt giống phải rơi xuống Đất… và mang lại một cây hoặc trái… với cái giá của tất cả những gì chúng ta đã từng là trước đây Họ có thể là những người cai trị vĩ đại, hoặc những kẻ độc tài, chính trị gia, nhà nước, nhà khoa học và nghệ sĩ. {Sự hy sinh đủ cho nhân loại dọc theo một dòng cung cụ thể, sẽ tạo ra Đấng Cứu Thế—các Buddha Pratyeka không phải là những Cứu Thế như vậy… Công việc của họ là công việc cứu rỗi, hoàn nguyên, hoặc cải cách và mặc khải, {để mọi người có thể nhạy cảm hơn với thực tại… và, thông qua sự hy sinh của chính họ, họ thực hiện điều đó. [2d] {Họ không chú ý đến tác động của những hành động hy sinh của họ đối với cuộc sống hình tướng của họ… Như vậy, họ phải được công nhận vì những gì họ là.Bây giờ họ bị hiểu lầm, bị diễn giải sai, và bị đánh giá bởi những sai lầm của họ nhiều hơn là bởi những mục tiêu của họ. [2e] Nhưng họ là những linh hồn tận tụy. {Thông qua sự hy sinh Họ cứu rỗi;thường cần thiết từ một sự thể hiện mạnh mẽ của các yếu tố… họ nâng đỡ; họ tích hợp; họ soi sáng; {Như những người cứu rỗi làm việc dọc theo một số dòng cung… và kết quả cuối cùng của công việc của họ, từ góc độ lịch sử tối thượng, là tốt. {Họ đang tái hiện sự hy sinh nguyên thủy của các Chân Thần, trong đó họ đã tham gia đầy đủ {Ý Chí-Phụng sự, Ý Chí-Hy sinh, Ý Chí-Cứu rỗi…

{END of LOTSWC 4, EP II p. 95

{KẾT THÚC của LOTSWC 4, EP II tr. 95

Beginning with LOTSWC 5, EP II p. 95

Bắt đầu với LOTSWC 5, EP II tr. 95

Commentary

Beginning with LOTSWC 4 EP II p. 93

Bắt đầu với LOTSWC 4 EP II trang 93

Hi, everybody, we are continuing with the Laws of the Soul webinar commentaries, and we’re on commentary number four, page 93, and we are in the Law of Sacrifice. We’re talking about the relationship of the fourth ray to that law and the need for any sacrificing entity to maintain its own state of consciousness, and yet extend an aspect of itself into a lower field where sacrificial attention is needed. And thus a point of tension is created, or at least a tension between two poles is created. Perhaps we can say that the sacrificing entity takes his stand midway between them, accessing his own point of achieved consciousness but having to deal with the requirements in the lower field as well. We’ve talked about the human being doing this, the Planetary Logos doing this, the Solar Angel and the Solar Logos sacrificing. It is a Saturnian law in many ways. It always induces some degree of conflict in the sacrificing one until a very high stage of evolution is reached. It is the law of giving and all that is opposed within one’s nature to that giving will resist this higher urge. So, let’s see what the last sentence is here, I’ve written a lot of commentary. The consciousness having worked its way through the subhuman kingdoms in nature, needed the activity of the Solar Angels to make further progress possible, and herein lies our service to God, the Planetary Logos, through sacrifice in death, death of consciousness in lower form, our service to other souls through deliberate self-sacrificing purpose, our service to other forms of life in other kingdoms.

Chào mọi người, chúng ta đang tiếp tục với các bài hội thảo trực tuyến bình luận về các Định luật của Linh hồn, và chúng ta đang ở bài bình luận số bốn, trang 93, và chúng ta đang ở trong Định luật Hy Sinh. Chúng ta đang nói về mối quan hệ của cung bốn với định luật đó và sự cần thiết đối với bất kỳ thực thể hy sinh nào để duy trì trạng thái tâm thức của chính nó, nhưng vẫn mở rộng một khía cạnh của chính nó vào một trường thấp hơn, nơi cần sự chú ý hy sinh. Và do đó, một điểm nhất tâm được tạo ra, hoặc ít nhất là một sự căng thẳng giữa hai cực được tạo ra. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng thực thể hy sinh đứng ở giữa chúng, tiếp cận điểm tâm thức đạt được của chính mình nhưng cũng phải đối phó với các yêu cầu trong trường thấp hơn. Chúng ta đã nói về con người làm điều này, Hành Tinh Thượng đế làm điều này, Thái dương Thiên Thần và Thái dương Thượng đế hy sinh. Đó là một định luật Thổ tinh theo nhiều cách. Nó luôn gây ra một mức độ xung đột nào đó trong người hy sinh cho đến khi đạt đến một giai đoạn tiến hóa rất cao. Đó là định luật cho đi và tất cả những gì đối lập trong bản chất của một người với sự cho đi đó sẽ chống lại sự thôi thúc cao hơn này. Vì vậy, hãy xem câu cuối cùng ở đây là gì, tôi đã viết rất nhiều bình luận. Tâm thức đã hoạt động theo cách của nó thông qua các giới hạ nhân trong tự nhiên, cần hoạt động của các Thái dương Thiên Thần để có thể tiến bộ hơn nữa, và ở đây có sự phụng sự của chúng ta đối với Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế, thông qua sự hy sinh trong cái chết, cái chết của tâm thức ở dạng thấp hơn, sự phụng sự của chúng ta đối với các linh hồn khác thông qua mục đích tự hy sinh có chủ ý, sự phụng sự của chúng ta đối với các dạng sống khác trong các giới khác.

So, it is always to an extent reducing the scope of one’s contact. So, I think we can say that safely that

Vì vậy, nó luôn luôn ở một mức độ nào đó làm giảm phạm vi tiếp xúc của một người. Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta có thể nói một cách an toàn rằng

{Sacrifice always temporarily reduces the scope of one’s contacts and hence opportunities for growth through expansion… [1a]  

{Hy sinh luôn tạm thời làm giảm phạm vi tiếp xúc của một người và do đó cơ hội phát triển thông qua mở rộng…[1a]

But not opportunities for growth through deepening, then in fact, there is a great deal of opportunity, because under the sacrificial conditions, the heart becomes even more open, the heart becomes even more open and inclusive and resounding.

Nhưng không phải là cơ hội phát triển thông qua việc đào sâu, thì trên thực tế, có rất nhiều cơ hội, bởi vì trong các điều kiện hy sinh, trái tim thậm chí còn mở hơn, trái tim thậm chí còn cởi mở và bao dung và vang dội hơn.

So, we go on…

Vì vậy, chúng ta tiếp tục…

All this involves the death and sacrifice of a Son of God, a solar angel, for, from the angle of Deity, descent into matter, manifestation through form, the taking of a body, extension of consciousness through the process of incarnation, are all occultly considered to be death. [1b]  

Tất cả điều này liên quan đến cái chết và sự hy sinh của một Con của Thượng đế, một Thái dương Thiên Thần, bởi vì, từ góc độ của Thượng đế, giáng trần vào vật chất, biểu hiện thông qua hình tướng, việc nhận một thể xác, mở rộng tâm thức thông qua quá trình nhập thể, tất cả đều được xem xét một cách huyền bí là cái chết. [1b]

So, this is the sacrifice of the “Returning nirvani”, and we, the human monads, are also sacrificing in our own right by our pilgrimage through the lower five planes.

Vì vậy, đây là sự hy sinh của “nirvani Trở về”, và chúng ta, những chân thần nhân loại, cũng đang hy sinh theo đúng nghĩa của mình bằng cuộc hành hương của chúng ta qua năm cõi thấp hơn.

But the angels “chose to die, and in dying, lived.” [1c]

Nhưng các thiên thần “đã chọn chết, và trong khi chết, đã sống.” [1c]

We too can be considered, in our higher aspects, to be the Angel of the Presence. It is an inherent aspect of our nature, the heart center of the monad as it is called.

Chúng ta cũng có thể được coi là, trong các khía cạnh cao hơn của mình, là Thiên Thần của Hiện Diện. Đó là một khía cạnh cố hữu trong bản chất của chúng ta, trung tâm tim của chân thần như nó được gọi.

We too can be considered, in our higher aspects, to be the “Ange of the Presence”—it is an inherent aspect of our nature, the heart center of the Monad….

Chúng ta cũng có thể được coi là, trong các khía cạnh cao hơn của mình, là “Thiên Thần của Hiện Diện”—đó là một khía cạnh cố hữu trong bản chất của chúng ta, trung tâm tim của Chân Thần….

But right now, we have to be very careful when we’re talking about the Angels per se, and when we are talking about the monads, that the Solar Angels of course have their own monads and probably located on a much higher plane than our own. But to what extent can we be considered the Angels who chose to die? Well, our monads in a way are choosing to enter a denser sphere, and they pass through and take their position within the causal body which is cohabitated, we might say, by the Angel of the Presence. So, as we continue down into the lower three worlds, we are accompanied by the consciousness of the Angel of the Presence to a certain attenuated degree. We are, in a way, the Angel because the Solar Angel, a part of itself, substands what we are. So, when we function as the ego on the higher mental plane, the Solar Angelic presence is with us, and in a sense an aspect of ourselves, and to that extent, we are angelic on that particular plane, although we are not the Returning Nirvanis. We are the Ones to whom the Returning Nirvanis have given an aspect of themselves for our benefit, and to enhance the quality of our consciousness.

Nhưng ngay lúc này, chúng ta phải rất cẩn thận khi nói về các Thiên Thần, và khi chúng ta nói về các chân thần, rằng các Thái dương Thiên Thần tất nhiên có các chân thần của riêng mình và có lẽ nằm trên một cõi cao hơn nhiều so với cõi của chúng ta. Nhưng ở mức độ nào chúng ta có thể được coi là các Thiên Thần đã chọn chết? Chân thần của chúng ta theo một cách nào đó đang chọn bước vào một quả cầu đậm đặc hơn, và chúng đi qua và chiếm vị trí của mình trong thể nguyên nhân, mà chúng ta có thể nói là cùng tồn tại với Thiên Thần của Hiện Diện. Vì vậy, khi chúng ta tiếp tục đi xuống ba cõi thấp hơn, chúng ta được đồng hành bởi tâm thức của Thiên Thần của Hiện Diện đến một mức độ suy giảm nhất định. Theo một cách nào đó, chúng ta là Thiên Thần bởi vì Thái dương Thiên Thần, một phần của chính nó, làm nền tảng cho những gì chúng ta đang có. Vì vậy, khi chúng ta hoạt động như chân ngã trên cõi thượng trí, sự hiện diện của Thái dương Thiên Thần ở cùng chúng ta, và theo một nghĩa nào đó là một khía cạnh của chính chúng ta, và ở mức độ đó, chúng ta là thiên thần trên cõi cụ thể đó, mặc dù chúng ta không phải là các nirvani Trở Về. Chúng ta là những người mà các nirvani Trở Về đã ban tặng một khía cạnh của chính họ vì lợi ích của chúng ta, và để nâng cao phẩm tính tâm thức của chúng ta.

But the angels “chose to die, and in dying, lived.”

Nhưng các thiên thần “đã chọn chết, và trong khi chết, đã sống.”

Well we can say that of man as well, can we not?

Chúng ta cũng có thể nói điều đó về con người, phải không?

{we can say that as well of man the Monad…

{chúng ta cũng có thể nói điều đó về con người, về Chân Thần…

Through their sacrifice, matter is lifted up into Heaven.

Qua sự hy sinh của họ, vật chất được nâng lên Thiên Đàng.

Well, through our sacrifice and their sacrifice, it is a combined sacrifice. So, we are dealing with a combined sacrifice.

Qua sự hy sinh của chúng ta và sự hy sinh của họ, đó là một sự hy sinh kết hợp. Vì vậy, chúng ta đang đề cập đến một sự hy sinh kết hợp.

It is this theme which fills the pages of The Secret Doctrine, and which is discussed in greater elaboration in A Treatise on Cosmic Fire. [1d]

Chủ đề này tràn ngập các trang của Giáo Lý Bí Nhiệm, và được thảo luận chi tiết hơn trong Luận về Lửa Vũ Trụ.

We will italicize those titles,

Chúng ta sẽ in nghiêng những tiêu đề đó,

The sacrifice of the angels, the death

Sự hy sinh của các thiên thần, cái chết

And we have to say that, even in consciousness

Và chúng ta phải nói rằng, ngay cả trong tâm thức

…of the Sons of God, the immolation[1] of the mystic Christ,

…của các Con của Thượng Đế, sự hy sinh của Đức Christ huyền bí,

Usually emulation is a liberative act. But let’s just say it is a method of escaping from form,

Thông thường, sự cạnh tranh là một hành động giải phóng. Nhưng chúng ta hãy cứ nói rằng đó là một phương pháp để thoát khỏi hình tướng,

…the crucifixion in time and space of all living entities, called souls—

…sự đóng đinh trên thập giá trong thời gian và không gian của tất cả các thực thể sống, được gọi là linh hồn—**

Because we have to say that time and space are the great crucifies and containers, or let’s call, restrainer. They contain and hamper.

Bởi vì chúng ta phải nói rằng thời gian và không gian là những kẻ đóng đinh và giam cầm vĩ đại, hay hãy gọi là, những kẻ kiềm chế. Chúng chứa đựng và cản trở.

{time and space are the great crucifiers and restrainers… container and hamper…

{thời gian và không gian là những kẻ đóng đinh và kiềm chế vĩ đại… chứa đựng và cản trở…

…the crucifixion in time and space of all living entities, called souls—this is the theme of those books. [1e]

…sự đóng đinh trên thập giá trong thời gian và không gian của tất cả các thực thể sống, được gọi là linh hồn—đây là chủ đề của những quyển sách đó. [1e]

Let’s read that again and let it sink in.

Chúng ta hãy đọc lại điều đó và để nó thấm nhuần.

Through their sacrifice

Qua sự hy sinh của họ

With the sacrifice of the angels who chose to die, and in a way through our own sacrifice as egos, who are the monadic consciousness on the higher mental plane plus the angelic consciousness.

Với sự hy sinh của các thiên thần đã chọn chết, và theo một cách nào đó, qua sự hy sinh của chính chúng ta với tư cách là chân ngã, là tâm thức chân thần trên cõi thượng trí cộng với tâm thức thiên thần.

Through their sacrifice, matter is lifted up into Heaven. It is this theme that fills the pages of the Secret Doctrine, Cosmic Fire,

Qua sự hy sinh của họ, vật chất được nâng lên Thiên Đàng. Đây là chủ đề tràn ngập các trang của Giáo Lý Bí Nhiệm, Lửa Vũ Trụ,

The sacrifice of the angels, but not in their entirety, because they still have business to attend to on their own high planes, which certainly includes the buddhic plane and maybe planes beyond. It seems that the two planes in which they have the greatest focus are the buddhic plane and the higher mental plane.

Sự hy sinh của các thiên thần, nhưng không phải toàn bộ, bởi vì họ vẫn còn công việc phải làm trên các cõi cao của riêng họ, chắc chắn bao gồm cõi Bồ đề và có thể là các cõi xa hơn. Dường như hai cõi mà họ tập trung nhất là cõi Bồ đề và cõi thượng trí.

The sacrifice of the angels, the death of the Sons of God, the immolation of the mystic Christ,

Sự hy sinh của các thiên thần, cái chết của các Con của Thượng Đế, sự hy sinh của Đức Christ huyền bí,

Apparently, this emulation is somehow a descent into the lower fires, we might say, a descent into fire by friction of the mystic Christ, and being consumed in a way then by the fires of mind when they already have higher fires burning within them.

Rõ ràng, sự hy sinh này bằng cách nào đó là một sự giáng hạ vào các ngọn lửa thấp hơn, chúng ta có thể nói, một sự giáng hạ vào lửa do ma sát của Đức Christ huyền bí, và sau đó bị thiêu rụi theo một cách nào đó bởi lửa của thể trí khi họ đã có những ngọn lửa cao hơn đang cháy bên trong họ.

…the crucifixion in time and space of all living entities,

…sự đóng đinh trên thập giá trong thời gian và không gian của tất cả các thực thể sống,

They are stuck. They are within the four elements. They are confined and contained and subject to the tyranny of sequence and of location, time and space.

Họ bị mắc kẹt. Họ ở trong bốn nguyên tố. Họ bị giam cầm và chứa đựng và chịu sự chuyên chế của trình tự và vị trí, thời gian và không gian.

…all living entities, called souls—this is the theme of those books.

…tất cả các thực thể sống, được gọi là linh hồn—đây là chủ đề của những quyển sách đó.

We human beings are profiting immensely from the sacrifice of the returning Nirvanis who are attempting to lift us to their high state, at least to their feet.

Chúng ta, những con người, đang hưởng lợi rất nhiều từ sự hy sinh của các nirvani Trở Về, những người đang cố gắng nâng chúng ta lên trạng thái cao của họ, ít nhất là đến chân họ.

This is the mystery hinted at in the world of Scriptures, and this is the secret of the ages,

Đây là bí ẩn được ám chỉ trong thế giới Kinh sách, và đây là bí mật của các thời đại,

I think to which modern religion is rather opaque.

Tôi nghĩ điều mà tôn giáo hiện đại khá mơ hồ.

…this is the secret of the ages, which is only discovered by the souls of men

…đây là bí mật của các thời đại, vốn chỉ được khám phá bởi linh hồn của loài người

And we can say, by the human souls, the souls-in-incarnation,

Và chúng ta có thể nói, bởi linh hồn con người, những linh hồn đang nhập thể,

…as each of them enters individually into conscious relation with his own soul

…khi mỗi người trong số họ bước vào mối quan hệ có ý thức với linh hồn của chính mình

Let’s call it higher soul or, or Ego, on the higher mental plane,

Chúng ta hãy gọi nó là linh hồn cao hơn hay, hay Chân ngã, trên cõi thượng trí,

…and discovers that which he has joyously

…và khám phá ra những gì Ngài đã vui vẻ

In sacrifice

Trong sự hy sinh

…done in the past, [1f]

…đã làm trong quá khứ, [1f]

I guess the joy of sacrifice is something that often escapes us when we are buried in the lower worlds.

Tôi đoán niềm vui của sự hy sinh là điều thường thoát khỏi chúng ta khi chúng ta bị chôn vùi trong các cõi thấp.

{the joy of sacrifice is to be considered, and we often do not when subject to the conditions of the lower worlds,

{niềm vui của sự hy sinh cần được xem xét, và chúng ta thường không làm khi chịu sự chi phối của các điều kiện của các cõi thấp,

So, here each soul, the soul of man, enters into relation with his own soul, which is an extension of the monad in a sense, it is monadic consciousness plus Solar Angelic consciousness, a portion of it, and

Vì vậy, ở đây mỗi linh hồn, linh hồn của con người, bước vào mối quan hệ với linh hồn của chính mình, vốn là một phần mở rộng của chân thần theo một nghĩa nào đó, nó là tâm thức chân thần cộng với tâm thức của Thái dương Thiên Thần, một phần của nó, và

…discovers that which he has joyously done in the past, and so arrives at the realisation of that supreme sacrifice which he made with deliberation.

…khám phá ra những gì Ngài đã vui vẻ làm trong quá khứ, và do đó đạt đến sự nhận thức về sự hy sinh tối cao mà Ngài đã thực hiện một cách có chủ ý.

There’s our Saturnian word, linking deliberate sacrifice to Saturn, and to the plane of spiritual will, where Saturn is pronouncedly effective.

Đó là từ ngữ liên quan đến Sao Thổ của chúng ta, liên kết sự hy sinh có chủ ý với Sao Thổ, và với cõi ý chí tinh thần, nơi Sao Thổ hoạt động rõ rệt.

…and so arrives at the realisation of that supreme sacrifice which he made with deliberation in the early dawn of time itself

…và do đó đạt đến sự nhận thức về sự hy sinh tối cao mà Ngài đã thực hiện một cách có chủ ý vào buổi bình minh ban đầu của chính thời gian

At these times, we counted, and how long ago really? Let us say, in a way, much longer ago than merely 21 million years because we have to deal with the immetalization of the monad, the imvegetalization, and imanimalization, whether our pilgrimage through those kingdoms occurred on this globe or not, it did occur, at least for those who are nomads working through the lower kingdoms in this particular solar system. Others began that pilgrimage in another and earlier solar system.

Vào những thời điểm này, chúng ta đã tính, và thực sự là bao lâu rồi? Chúng ta hãy nói rằng, theo một cách nào đó, lâu hơn nhiều so với chỉ 21 triệu năm bởi vì chúng ta phải đề cập đến sự khoáng vật hóa của chân thần, sự thực vật hóa và sự thú vật hóa, cho dù cuộc hành hương của chúng ta qua các giới đó có xảy ra trên địa cầu này hay không, nó đã xảy ra, ít nhất là đối với những chân thần đang hoạt động thông qua các giới thấp trong hệ mặt trời cụ thể này. Những người khác bắt đầu cuộc hành hương đó trong một hệ mặt trời khác và sớm hơn.

So, in the dawn of time itself, and it certainly would have been the dawn of time if we go back to the earliest solar system when some of the nomads (it’s like mon ads only it’s nomads), some of the monads took their incarnation in those lower kingdoms, whatever those kingdoms were at that time.

Vì vậy, vào buổi bình minh của chính thời gian, và chắc chắn nó sẽ là buổi bình minh của thời gian nếu chúng ta quay trở lại hệ mặt trời sớm nhất khi một số chân thần (giống như các monad chỉ là nó là các chân thần), một số chân thần đã nhập thể trong các giới thấp đó, bất kể các giới đó là gì vào thời điểm đó.

…and so arrives at the realisation of that supreme sacrifice which he made with deliberation

…và do đó đạt đến sự nhận thức về sự hy sinh tối cao mà Ngài đã thực hiện một cách có chủ ý

And we would say,

Và chúng ta sẽ nói,

{and with joy,

{và với niềm vui,

…in the early dawn of time itself and which, at some point in his career as a soul on earth, he consciously and symbolically re-enacts for the benefit of other souls, in order to hasten their progress towards their goal. [1h]

…vào buổi bình minh ban đầu của chính thời gian và điều mà, tại một thời điểm nào đó trong sự nghiệp của Ngài với tư cách là một linh hồn trên trái đất, Ngài đã tái hiện một cách có ý thức và tượng trưng vì lợi ích của những linh hồn khác, để thúc đẩy sự tiến bộ của họ hướng tới mục tiêu của họ. [1h]

{he descends from the soul level, and not from the monadic level—and works to help, serve and save other human beings… [1f]

{Ngài giáng hạ từ cõi linh hồn, và không phải từ cõi chân thần—và hoạt động để giúp đỡ, phụng sự và cứu rỗi những người khác… [1f]

So, he becomes a deliberate server, having come to full or almost full soul consciousness. Well, really, if he is really a savior, it will be full soul consciousness in order to hasten their progress towards their goal. And we could say that such are the members of the Spiritual Hierarchy now.

Vì vậy, Ngài trở thành một người phụng sự có chủ ý, đã đạt đến tâm thức linh hồn trọn vẹn hoặc gần như trọn vẹn. Vâng, thực sự, nếu Ngài thực sự là một vị cứu tinh, thì đó sẽ là tâm thức linh hồn trọn vẹn để thúc đẩy sự tiến bộ của họ hướng tới mục tiêu của họ. Và chúng ta có thể nói rằng đó là các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần bây giờ.

Then comes a life wherein, in some form or another, he portrays or works out within himself, but also before the watching world, that great symbolic drama which we call [1i]  

Sau đó đến một kiếp sống, trong hình thức này hay hình thức khác, Ngài miêu tả hoặc thực hiện bên trong chính mình, mà còn trước thế giới đang theo dõi, vở kịch tượng trưng vĩ đại mà chúng ta gọi là [1i]

{the fourth ray is involved if we call it a drama, and at the fourth initiation the fourth ray presides…

{cung bốn có liên quan nếu chúng ta gọi nó là một vở kịch, và tại lần điểm đạo thứ tư, cung bốn chủ trì…

So, I think he will be talking about the fourth initiation here.

Vì vậy, tôi nghĩ Ngài sẽ nói về lần điểm đạo thứ tư ở đây.

So, the serving is coming before the period of the fourth initiation. It’s not only the Masters, but includes the members of the Spiritual Hierarchy, including the probationary initiates and the third-degree initiates.

Vì vậy, sự phụng sự đang đến trước giai đoạn của lần điểm đạo thứ tư. Nó không chỉ là các Chân sư, mà còn bao gồm các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần, bao gồm cả các điểm đạo đồ dự bị và các điểm đạo đồ cấp ba.

This is as a human being reenactment of the early monadic sacrifice,

Đây là một sự tái hiện của con người về sự hy sinh chân thần ban đầu,

Let’s just say that all of this serving and saving, all of this deliberate serving and saving is a re-enactment on a lower turn of the spiral of the monadic sacrifice at the “dawn of time”,

Chúng ta hãy chỉ nói rằng tất cả sự phụng sự và cứu rỗi này, tất cả sự phụng sự và cứu rỗi có chủ ý này là một sự tái hiện trên một vòng xoắn ốc thấp hơn của sự hy sinh chân thần vào “buổi bình minh của thời gian”,

{All of this deliberate serving and saving is a re-enactment on a lower turn of the spiral of the monadic sacrifice at the “dawn of time”… [1j]

{Tất cả sự phụng sự và cứu rỗi có chủ ý này là một sự tái hiện trên một vòng xoắn ốc thấp hơn của sự hy sinh chân thần vào “buổi bình minh của thời gian”… [1j]

Well, dawn of time within our planetary sphere at least,

Vâng, buổi bình minh của thời gian ít nhất là trong phạm vi hành tinh của chúng ta,

…then he enacts that great symbolic drama which we call,

…sau đó Ngài thực hiện vở kịch biểu tượng vĩ đại mà chúng ta gọi là,

Of course, fourth ray is the ray of drama. One of the symbols of drama is the smiling face, happy face, and the sad face, side by side. This is one of the emblems of the Dramatic Arts, and of the life of theater.

Dĩ nhiên, cung bốn là cung của kịch nghệ. Một trong những biểu tượng của kịch nghệ là khuôn mặt tươi cười, khuôn mặt hạnh phúc, và khuôn mặt buồn bã, cạnh nhau. Đây là một trong những biểu tượng của Nghệ thuật Kịch tính, và của cuộc sống sân khấu.

And, really, this is an enactment before the eyes of human beings. It’s a great symbolic drama, but we cannot forget that it operates within himself as well, as before the watching world, and it is the drama which we call

Và, thực sự, đây là một màn trình diễn trước mắt loài người. Đó là một vở kịch biểu tượng vĩ đại, nhưng chúng ta không thể quên rằng nó cũng hoạt động bên trong chính Ngài, như trước thế giới đang theo dõi, và đó là vở kịch mà chúng ta gọi là

The Sacrifice of a World Saviour. [1k]

Sự Hy Sinh của một Đấng Cứu Thế.

Or the crucifixion, a sacrifice of a world Savior.

Hay sự đóng đinh, một sự hy sinh của một Đấng Cứu Thế.

Now, maybe not everyone is on the Path of the World Savior, but the fourth initiation is always difficult to take, as there is such a relinquishment of that which is below

Bây giờ, có thể không phải ai cũng trên Con Đường của Đấng Cứu Thế, nhưng lần điểm đạo thứ tư luôn khó thực hiện, vì có sự từ bỏ những gì ở bên dưới

{such a relinquishment of that which is below.

{sự từ bỏ những gì ở bên dưới.

This is the theme of the [Page 94] historical romance

Đây là chủ đề của câu chuyện lãng mạn lịch sử [Trang 94]

He’s using almost deliberately fourth ray language.

Ngài đang sử dụng ngôn ngữ cung bốn một cách gần như có chủ ý.

…the historical romance of all those great Sons of God who down the ages, have arrived at an understanding of the significance of the divine purpose of God, of the Word incarnated through a planet,

…câu chuyện lãng mạn lịch sử của tất cả những Con của Thượng Đế vĩ đại, trải qua các thời đại, đã đạt đến sự thấu hiểu về thâm nghĩa của Thiên Ý của Thượng Đế, của Linh Từ hoá thân qua một hành tinh,

And this Word is the soul of the Planetary Logos

Và Linh Từ này là linh hồn của Hành Tinh Thượng Đế

…of those solar angels who are themselves, the Word incarnate through a human form. [1m]

…của những Thái dương Thiên Thần, chính họ là Linh Từ hoá thân qua hình hài con người. [1m]

So, we have the greater Word incarnated through the planet, and the lesser Word of the Solar Angels incarnated through the individual, human being. And let’s just say that only with understanding of these greater issues is the sacrifice of a world savior undertaken.

Vì vậy, chúng ta có Linh Từ vĩ đại hơn hoá thân qua hành tinh, và Linh Từ nhỏ hơn của các Thái dương Thiên Thần hoá thân qua cá nhân, con người. Và chúng ta hãy nói rằng chỉ với sự thấu hiểu về những vấn đề lớn hơn này thì sự hy sinh của một Đấng Cứu Thế mới được thực hiện.

So, it’s not simply people having a hard time and serving and so forth. It’s the understanding of a great picture of planetary Purpose, and what one can do at one’s present stage of evolution which is high on the eve of the fourth degree, to contribute to the enactment of the Plan which represents the Purpose. What can one really do? A fourth-degree initiate is in a way a planetary event, the life of a fourth-degree initiate. And thus it is as we go on for the fifth, the Mastership, and Chohanship, the achievement of all of those can be considered planetary events beyond the individual.

Vì vậy, không chỉ đơn giản là mọi người gặp khó khăn và phụng sự, v.v. Đó là sự thấu hiểu về một bức tranh lớn về Thiên Ý của hành tinh, và những gì người ta có thể làm ở giai đoạn tiến hoá hiện tại của mình, vốn cao vào đêm trước của bậc thứ tư, để đóng góp vào việc thực hiện Thiên Cơ, đại diện cho Thiên Ý. Người ta thực sự có thể làm gì? Một điểm đạo đồ bậc bốn theo một cách nào đó là một sự kiện hành tinh, cuộc sống của một điểm đạo đồ bậc bốn. Và do đó, khi chúng ta tiếp tục cho bậc thứ năm, bậc Chân Sư, và bậc Chohan, việc đạt được tất cả những điều đó có thể được coi là những sự kiện hành tinh vượt ra ngoài cá nhân.

So, the sacrifice of a World Savior is theme of the historical romance. It stimulates the imagination, and it has its heroes. It has its villains. It has a great struggle and emergence. So, what do we say that?

Vì vậy, sự hy sinh của một Đấng Cứu Thế là chủ đề của câu chuyện lãng mạn lịch sử. Nó kích thích trí tưởng tượng, và nó có những anh hùng của nó. Nó có những nhân vật phản diện của nó. Nó có một cuộc đấu tranh và sự nổi lên vĩ đại. Vì vậy, chúng ta nói gì về điều đó?

{heros, villains, dramas, battles, crises and emergence and victory… [1l]

{anh hùng, nhân vật phản diện, kịch tính, trận chiến, khủng hoảng và sự nổi lên và chiến thắng…

These are the elements of a romance, and the great imagination of those who do far more than average people can do. The characters and romantic drama are rather idealized and interesting to us for that reason.

Đây là những yếu tố của một câu chuyện lãng mạn, và trí tưởng tượng tuyệt vời của những người làm được nhiều hơn những gì người bình thường có thể làm. Các nhân vật và vở kịch lãng mạn được lý tưởng hóa và thú vị đối với chúng ta vì lý do đó.

…all those great Sons of God who down the ages, have arrived at an understanding of the significance of the divine purpose of God, of the Word incarnated through a planet,

…tất cả những Con của Thượng Đế vĩ đại, trải qua các thời đại, đã đạt đến sự thấu hiểu về thâm nghĩa của Thiên Ý của Thượng Đế, của Linh Từ hoá thân qua một hành tinh,

A deep understanding of what is the purposeful arrangement which is to be achieved in the lower worlds by following the divine purpose and becoming part of the Plan

Một sự thấu hiểu sâu sắc về sự sắp xếp có mục đích cần đạt được trong các cõi giới thấp hơn bằng cách tuân theo Thiên Ý và trở thành một phần của Thiên Cơ

…of those solar angels who are themselves, the Word incarnate through a human form

…của những Thái dương Thiên Thần, chính họ là Linh Từ hoá thân qua hình hài con người

Let’s say,

Chúng ta hãy nói rằng,

{We must listen to the Voice of the Solar Angel, which does speak its words of advice in the Old Commentary… so often…

{Chúng ta phải lắng nghe Tiếng Nói của Thái dương Thiên Thần, vốn nói lên những lời khuyên trong Cổ Luận… rất thường xuyên…

A voice proclaimed, a voice was heard, and so forth. It’s the voice of this higher aspect of ourselves. This wise aspects incorporated within our egoic nature,

Một giọng nói tuyên bố, một giọng nói được nghe thấy, v.v. Đó là tiếng nói của khía cạnh cao hơn này của chính chúng ta. Khía cạnh khôn ngoan này được kết hợp trong bản chất chân ngã của chúng ta,

Whether they enact this drama, as did the Christ, so as to present to man the symbolism of death and sacrifice, [1n]

Cho dù họ thực hiện vở kịch này, như Đức Christ đã làm, để trình bày cho con người biểu tượng của cái chết và sự hy sinh, [1n]

And here we have to say, the Christ as he guided the initiate Jesus through this process,

Và ở đây chúng ta phải nói, Đức Christ khi Ngài hướng dẫn điểm đạo đồ Jesus qua quá trình này,

…or whether they enact this drama, as did the Buddha, so as to demonstrate to man the sacrifice and death of personal desire (to mention only two of the manifested Sons of God, the Christ and the Buddha), [1o]

…hoặc cho dù họ thực hiện vở kịch này, như Đức Phật đã làm, để chứng minh cho con người thấy sự hy sinh và cái chết của ham muốn cá nhân (chỉ đề cập đến hai trong số các Con của Thượng Đế đã biểu hiện, Đức Christ và Đức Phật), [1o]

And there are others, of course, who have gone through the sacrificial drama. I suppose we have Krishna, who was the Christ, going through this drama of the fourth degree. Later, it was Jesus who was going through a similar drama. We have many who are not named. We have Shankara, I suppose, along the Buddha line, showing the enacting the relinquishment of personal desire. Many have done that along the Eastern line of attainment, too many for us to really understand. And in more modern times, Father Damien is listed in the same breath as the Master Jesus. He certainly gave up everything that could pertain to the personal welfare in a conventionally understood sense. He gave his life, his health, his dedication, everything for the sake of those who were far less fortunate than he was, and he even contracted their disease which was leprosy.

Và tất nhiên, có những người khác đã trải qua bi kịch hy sinh. Tôi cho rằng chúng ta có Krishna, vốn là Đức Christ, đã trải qua bi kịch này ở cấp độ thứ tư. Sau đó, chính Đức Jesus đã trải qua một bi kịch tương tự. Chúng ta có nhiều người không được nêu tên. Tôi cho rằng chúng ta có Shankara, thuộc dòng Phật, thể hiện việc từ bỏ ham muốn cá nhân. Nhiều người đã làm điều đó theo dòng đạt được của phương Đông, quá nhiều để chúng ta thực sự thấu hiểu. Và trong thời hiện đại hơn, Cha Damien được liệt kê cùng với Đức Chúa Jesus. Ông chắc chắn đã từ bỏ mọi thứ có thể liên quan đến phúc lợi cá nhân theo nghĩa thông thường. Ông đã hy sinh mạng sống, sức khỏe, sự cống hiến, tất cả vì lợi ích của những người kém may mắn hơn mình, và thậm chí ông còn mắc bệnh của họ, vốn là bệnh phong.

Well, there are many, many, such many sons of God. We all have to go that way. It may not be through a literal crucifixion, or a literal sacrifice of the life of the body in that particular incarnation, though we understand that that often happens, but it may simply be the renunciation of all that has to do with worldly satisfactions and leading of a life of relinquishment on that account.

Có rất nhiều, rất nhiều những người con của Thượng đế như vậy. Tất cả chúng ta đều phải đi theo con đường đó. Nó có thể không phải là thông qua một cuộc đóng đinh theo nghĩa đen, hoặc một sự hy sinh theo nghĩa đen của sự sống thể xác trong kiếp sống cụ thể đó, mặc dù chúng ta hiểu rằng điều đó thường xảy ra, nhưng nó có thể chỉ đơn giản là sự từ bỏ tất cả những gì liên quan đến sự thỏa mãn trần tục và dẫn đến một cuộc sống từ bỏ vì lý do đó.

So, whether they enact this drama, as did the Buddha, so as to demonstrate to man the sacrifice and death of personal desire (to mention only two of the manifested Sons of God, the Christ and the Buddha) the theme remains the same, —the death of that which is lower in order to release that which is higher, or—on a larger scale—the death of that which is higher in the order and scale of being, in order to release that which is lower. [1p]

cho dù họ diễn bi kịch này, như Đức Phật đã làm, để chứng minh cho con người thấy sự hy sinh và cái chết của ham muốn cá nhân (chỉ đề cập đến hai trong số các Con của Thượng đế đã biểu hiện, Đức Christ và Đức Phật), chủ đề vẫn giữ nguyên, — cái chết của những gì thấp hơn để giải phóng những gì cao hơn, hoặc — trên quy mô lớn hơn — cái chết của những gì cao hơn trong trật tự và quy mô của sự tồn tại, để giải phóng những gì thấp hơn.

I think we can recognize it is a kind of a two-way fourth ray streets. The fourth ray is involved here, each pole rendering a sacrifice, through relinquishment of form and desire, or through relinquishment of consciousness and burial in the lower elemental worlds, and perhaps the midway point, where one can manage both of those worlds, must be maintained.

Tôi nghĩ chúng ta có thể nhận ra đó là một loại đường hai chiều của cung bốn. Cung bốn có liên quan ở đây, mỗi cực đều hy sinh, thông qua việc từ bỏ hình tướng và ham muốn, hoặc thông qua việc từ bỏ tâm thức và bị chôn vùi trong các cõi hành khí thấp hơn, và có lẽ điểm giữa, nơi người ta có thể quản lý cả hai cõi đó, phải được duy trì.

But the lesson needs to be learned (and it is the lesson which man is now engaged in learning)

Nhưng bài học cần phải được học (và đó là bài học mà con người hiện đang học)

And we can say, during a most sacrificial period of human history as we prepare to enter the fifth Kingdom of nature, giving up that which is lower for that which is higher.

Và chúng ta có thể nói, trong một giai đoạn hy sinh nhất của lịch sử loài người khi chúng ta chuẩn bị bước vào giới thứ năm của tự nhiên, từ bỏ những gì thấp hơn cho những gì cao hơn.

Well, it’s a mutual approach, isn’t it.

Đó là một cách tiếp cận lẫn nhau, phải không.

{Sacrifice is a question of mutual approach.

{Hy sinh là một câu hỏi về cách tiếp cận lẫn nhau.

The high approaches the low, and this relinquishes and sacrifices. The low approaches the high, that relinquishing, sacrificing that to which it has been habituated. But the lessons need to be learned, especially on our particular planet, the Planet of the cross, we can say. All are ruled by the cross, and it is the lesson which man in these world wars which violently detach him from all that he considered necessary for a life of the quality he insisted on having. We are learning these lessons now as never before.

Cái cao tiếp cận cái thấp, và điều này từ bỏ và hy sinh. Cái thấp tiếp cận cái cao, từ bỏ, hy sinh những gì nó đã quen thuộc. Nhưng các bài học cần phải được học, đặc biệt là trên hành tinh cụ thể của chúng ta, Hành Tinh của thập giá, chúng ta có thể nói. Tất cả đều được cai quản bởi thập giá, và đó là bài học mà con người trong những cuộc chiến tranh thế giới này đã tách rời y một cách dữ dội khỏi tất cả những gì y coi là cần thiết cho một cuộc sống có phẩm chất mà y khăng khăng đòi hỏi. Chúng ta đang học những bài học này bây giờ hơn bao giờ hết.

…that death as the human consciousness understands it,

…cái chết như tâm thức con người hiểu,

This is the lesson.

Đây là bài học.

…pain and sorrow loss and, disaster, joy and distress, are only such because man, as yet, identifies himself with the life of the form and not with the life and consciousness of the soul, the solar angel, [1q]

…đau khổ, mất mát và tai họa, niềm vui và nỗi đau khổ, chỉ là như vậy bởi vì con người, cho đến nay, vẫn đồng nhất mình với sự sống của hình tướng chứ không phải với sự sống và tâm thức của linh hồn, Thái dương Thiên Thần, [1q]

That which the solar Angel has made, the higher human consciousness. We identify with the Cancerianly familiar, we identify with a realm of the Moon, we identify with the lower lunar realms, and must be torn away from them through the processes of detachment.

Những gì Thái dương Thiên Thần đã tạo ra, tâm thức con người cao hơn. Chúng ta đồng nhất với sự quen thuộc của Cự Giải, chúng ta đồng nhất với cõi của Mặt Trăng, chúng ta đồng nhất với các cõi mặt trăng thấp hơn, và phải bị tách rời khỏi chúng thông qua các quá trình tách rời.

So, what is our lesson here?

Vì vậy, bài học của chúng ta ở đây là gì?

…that death as the human consciousness understands it, pain and sorrow loss and, disaster,

…cái chết như tâm thức con người hiểu, đau khổ, mất mát và tai họa,

And we have joy kind of thrown in there as well. I think commas are in the wrong place. [It should be pain and sorrow, loss and disaster]

Và chúng ta cũng có niềm vui được ném vào đó. Tôi nghĩ dấu phẩy đặt sai chỗ. [Nó phải là đau khổ, mất mát và tai họa]

…pain and sorrow, loss and disaster, joy and distress,

…đau khổ, mất mát và tai họa, niềm vui và nỗi đau khổ,

And positive qualities put in there. But even that is a magnetically binding condition, where we seek our joy in the lower worlds.

Và những phẩm chất tích cực được đưa vào đó. Nhưng ngay cả điều đó cũng là một điều kiện ràng buộc từ tính, nơi chúng ta tìm kiếm niềm vui của mình trong các cõi thấp hơn.

All these are only such because man is yet identifies himself with the life of the form.

Tất cả những điều này chỉ là như vậy bởi vì con người vẫn đồng nhất mình với sự sống của hình tướng.

In other words, we identify with the phantasmagoria, as DK said, that includes associated persons,

Nói cách khác, chúng ta đồng nhất với ảo ảnh, như Chân sư DK đã nói, bao gồm những người liên quan,

…and not with the life

…và không phải với sự sống

At the heart of the soul

Tại trung tâm của linh hồn

…and the consciousness of the soul, the solar Angel

…và tâm thức của linh hồn, Thái dương Thiên Thần

Within the soul as the Angel of the presence,

Bên trong linh hồn như Thiên Thần của Hiện Diện,

…whose awareness is potentially that of the Planetary Deity [1r]

…mà nhận thức của Ngài tiềm ẩn là của Hành Tinh Thượng Đế[1r]

That’s a big hint. How far can the consciousness of the Solar Angel really expand? Well, we do know that Solar Angels are in groups on their way to becoming planetary deities. There’s that quote about the Solar Pitris coming forth in 49 groups forming planetary rays, either here or elsewhere. It tells us about their tendency to join the path of Planetary Logoi or to join the ray path

Đó là một gợi ý lớn. Tâm thức của Thái dương Thiên Thần thực sự có thể mở rộng đến mức nào? Vâng, chúng ta biết rằng các Thái dương Thiên Thần đang ở trong các nhóm trên đường trở thành các Hành Tinh Thượng Đế. Có câu trích dẫn về các Thái dương Tổ Phụ xuất hiện trong 49 nhóm hình thành các cung hành tinh, ở đây hoặc ở nơi khác. Nó cho chúng ta biết về xu hướng tham gia vào con đường của các Hành Tinh Thượng Đế hoặc tham gia vào con đường cung

…whose awareness is potentially that of the planetary Deity, Whose greater awareness (in His turn) is potentially that of the solar Deity.

…mà nhận thức của Ngài tiềm ẩn là của Hành Tinh Thượng Đế, mà nhận thức vĩ đại hơn của Ngài (đến lượt Ngài) tiềm ẩn là của Thái dương Thượng Đế.

And what can we say? On and on with the Solar Logos, having the potential to merge with the consciousness of the Cosmic Deity, and that Cosmic Deity with the consciousness of the Super Cosmic Deity or One About Whom Naught May Be Said. So, always our rings-pass-not are expanding, but if we identify with the fate of the form, we shall have these vicissitudes[2], all too familiar vicissitudes.

Và chúng ta có thể nói gì? Cứ tiếp tục với Thái dương Thượng Đế, có tiềm năng hợp nhất với tâm thức của Thượng Đế Vũ Trụ, và Thượng Đế Vũ Trụ đó với tâm thức của Thượng Đế Siêu Vũ Trụ hay Đấng Bất Khả Tư Nghị. Vì vậy, vòng-giới-hạn của chúng ta luôn mở rộng, nhưng nếu chúng ta đồng nhất với số phận của hình tướng, chúng ta sẽ có những thăng trầm này, những thăng trầm quá quen thuộc.

{so if we identify with the fate of the form, we shall have the familiar human vicissitudes—on the scale from bliss to despair…

{vì vậy nếu chúng ta đồng nhất với số phận của hình tướng, chúng ta sẽ có những thăng trầm quen thuộc của con người — trên thang điểm từ hạnh phúc đến tuyệt vọng…

Well, I don’t know if despair is the bottom, but it’s a pretty good bottom, I would say,

Vâng, tôi không biết liệu tuyệt vọng có phải là đáy hay không, nhưng đó là một đáy khá tốt, tôi có thể nói,

Whose greater awareness (in His turn) is potentially that of the solar Deity. The moment a man identifies himself with his soul and not with his form, [1s]

Mà nhận thức vĩ đại hơn của Ngài (đến lượt Ngài) tiềm ẩn là của Thái dương Thượng Đế.Khoảnh khắc một người đồng nhất mình với linh hồn của mình chứ không phải với hình tướng của mình,

Who is the man? The man is the Monad-in-extension, or the monad-in-submersion. That’s really what we are in our lower worlds, the monad-in-submersion, monad-in-extension, monad-in-externalization. We are all those things.

Người đàn ông là ai? Người đàn ông là Chân Thần-trong-sự-mở-rộng, hoặc chân thần-trong-sự-chìm-đắm. Đó thực sự là những gì chúng ta đang ở trong các cõi giới thấp hơn của mình, chân thần-trong-sự-chìm-đắm, chân thần-trong-sự-mở-rộng, chân thần-trong-sự-ngoại-hiện. Chúng ta là tất cả những điều đó.

The moment the man

Khoảnh khắc con người

Who really is the monadic consciousness in great attenuation, ‘monad-in-attenuation’, which means the thinning of monadic quality and its dilution in the lower worlds.

Ai thực sự là tâm thức chân thần trong sự suy giảm lớn, ‘chân thần-trong-sự-suy-giảm’, có nghĩa là sự mỏng đi của phẩm tính chân thần và sự pha loãng của nó trong các cõi giới thấp hơn.

The moment a man identifies himself with his soul

Khoảnh khắc một người đồng nhất mình với linh hồn của mình

And basically says I am that which exists on the higher mental plane.

Và về cơ bản nói rằng tôi là cái tồn tại trên cõi thượng trí.

{I am That which exists on the higher mental plane, and That is my truer home

{Tôi là Cái tồn tại trên cõi thượng trí, và Đó là ngôi nhà thực sự của tôi

…and not with his form,

…và không phải với hình tướng của mình,

All of this is accomplished through detachment.

Tất cả điều này được thực hiện thông qua sự tách rời.

…then he understands the meaning of the Law of Sacrifice;

…thì y thấu hiểu ý nghĩa của Định luật Hi Sinh;

Because the loss of form or its reduction in any way is not the main issue, but the gain to the consciousness of the soul is the main issue.

Bởi vì sự mất mát hình tướng hoặc sự suy giảm của nó theo bất kỳ cách nào không phải là vấn đề chính, mà sự thu nhận đối với tâm thức của linh hồn mới là vấn đề chính.

{because the loss of form or its reduction in any way is not the main issue… the gain to the consciousness of the soul is the main issue… [1t]

{bởi vì sự mất mát hình tướng hoặc sự suy giảm của nó theo bất kỳ cách nào không phải là vấn đề chính… sự thu nhận đối với tâm thức của linh hồn mới là vấn đề chính…[1t]

So, let us ask truly, “With what do we identify ourselves at this time? Are we indeed identified as the soul on the plane of higher mind or beyond?”

Vì vậy, chúng ta hãy thực sự tự hỏi: “Chúng ta đồng nhất mình với điều gì vào lúc này? Liệu chúng ta có thực sự được đồng nhất là linh hồn trên cõi thượng trí hay ở phía trên không?”

So, this factor of training, the identificatory power of the Spirit is extremely important in liberation.

Vì vậy, yếu tố rèn luyện, sức mạnh đồng nhất của Tinh thần là cực kỳ quan trọng trong sự giải thoát.

The factor of training the Identificatory power of the Monad-in-incarnation, is vitally important for release… [1u]

Yếu tố rèn luyện sức mạnh Đồng nhất của Chân Thần-đang-nhập-thể, cực kỳ quan trọng cho sự giải thoát…[1u]

And it’s a serious question with what actually do we identify? We can say, “Oh yeah, we identify with the soul and as the soul, as the detached Observer of all the transpires in the personality sphere”, but is it true? We have to determine “Is it true?”

Và đó là một câu hỏi nghiêm túc mà chúng ta thực sự đồng nhất với điều gì? Chúng ta có thể nói: “Ồ vâng, chúng ta đồng nhất với linh hồn và là linh hồn, là Người Quan Sát tách rời của tất cả những gì xảy ra trong lĩnh vực phàm ngã”, nhưng liệu điều đó có đúng không? Chúng ta phải xác định “Liệu điều đó có đúng không?”

So, At that moment when he identifies with his soul and not his form, he spontaneously knows the meaning of the Law of Sacrifice. Why? Because as a soul, he wants to give regardless of what may be the consequences in the lower personal sphere.

Vì vậy, vào thời điểm đó khi y đồng nhất với linh hồn của mình chứ không phải hình tướng của mình, y tự nhiên biết được ý nghĩa của Định luật Hi Sinh. Tại sao? Bởi vì là một linh hồn, y muốn cho đi bất kể hậu quả có thể xảy ra trong lĩnh vực phàm ngã thấp hơn.

{Why—because as a soul he wants to GIVE… regardless of what may be the consequences in the lower personal sphere…

{Tại sao — bởi vì là một linh hồn, y muốn CHO ĐI… bất kể hậu quả có thể xảy ra trong lĩnh vực phàm ngã thấp hơn…

So, then he knows the meaning of the Law of Sacrifice when identified with the soul, and we really have to get that in our consciousness. He is spontaneously governed by it, and he is one who will, with deliberate intent, choose to die, as the lower man would consider death, or to die through descent of consciousness, but there is no pain, no sorrow, and no real death involved, [1v]

Vì vậy, Ngài biết ý nghĩa của Định luật Hi Sinh khi đồng nhất với linh hồn, và chúng ta thực sự phải đưa điều đó vào tâm thức của mình. Ngài tự nhiên bị chi phối bởi nó, và Ngài là người sẽ, với ý định rõ ràng, chọn chết, như phàm nhân sẽ coi là cái chết, hoặc chết thông qua sự giáng hạ của tâm thức, nhưng không có đau đớn, không có buồn bã, và không có cái chết thực sự nào liên quan,[1v]

  [1i]

[1i]

There is just the tending of a post, from which sacrifice can be expressed as an energetic blessing for others. [1w]

Chỉ có việc giữ một vị trí, từ đó sự hi sinh có thể được biểu hiện như một phước lành năng lượng cho người khác.[1w]

{There is just the tending of a post from which sacrifice can be expressed a energetic blessing for others…

{Chỉ có việc giữ một vị trí, từ đó sự hi sinh có thể được biểu hiện như một phước lành năng lượng cho người khác…

So, it really comes down to a deep consideration of the level of identification that we really have to practice this identification every day. This identification and disidentification, “I’m not this, but I am that”, and Roberto Assagioli used to consider it necessary for psychological health, otherwise we become contaminated by illusion, glamour and maya, until we barely know we are.

Vì vậy, nó thực sự đi đến một sự xem xét sâu sắc về mức độ đồng nhất mà chúng ta thực sự phải thực hành sự đồng nhất này mỗi ngày. Sự đồng nhất và không đồng nhất này, “Tôi không phải là cái này, nhưng tôi là cái kia”, và Roberto Assagioli từng coi nó là cần thiết cho sức khỏe tâm lý, nếu không chúng ta sẽ bị ô nhiễm bởi ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực, cho đến khi chúng ta hầu như không biết mình là ai.

So, in that detached state of mind we have to find the soul that we are and relinquish our cherishing of the instrument. We have to use the instrument. Of course, we don’t want to compromise it so that it’s not useful and beat it up until it becomes a poor dead thing as can happen, that we learned in the Virgo labor of Hercules. But at the same time, we know what comes first, and we are so much in our soul consciousness as to really recognize the distinction between what we have now found ourselves to be, and what we thought we were before.

Vì vậy, trong trạng thái tâm trí tách rời đó, chúng ta phải tìm thấy linh hồn mà chúng ta đang là và từ bỏ sự trân trọng của mình đối với hiện thể. Chúng ta phải sử dụng hiện thể. Tất nhiên, chúng ta không muốn làm tổn hại nó để nó không hữu ích và đánh đập nó cho đến khi nó trở thành một vật chết thảm hại như có thể xảy ra, điều mà chúng ta đã học được trong công việc Xử Nữ của Hercules. Nhưng đồng thời, chúng ta biết điều gì đến trước, và chúng ta ở trong tâm thức linh hồn của mình đến mức thực sự nhận ra sự khác biệt giữa những gì chúng ta hiện đã thấy mình đang là và những gì chúng ta nghĩ mình đã từng là trước đây.

This is the mystery of illusion and glamour. From these two imprisoning factors all World Saviours are free. [1y]

Đây là bí ẩn của ảo tưởng và ảo cảm. Từ hai yếu tố giam cầm này, tất cả các Đấng Cứu Thế đều được tự do. [1y]

Let’s just say they have passed beyond the third degree, and thus have dealt a mortal blow to illusion.

Chúng ta hãy nói rằng Các Ngài đã vượt qua cấp độ thứ ba, và do đó đã giáng một đòn chí mạng vào ảo tưởng.

{They have passed beyond the third degree and thus have dealt a mortal blow to ILLUSION- [1z]

{Các Ngài đã vượt qua cấp độ thứ ba và do đó đã giáng một đòn chí mạng vào ẢO TƯỞNG-[1z]

But of course, from the ninth initiation perspective, all is illusional, dweller in the shadows come forth into the light of day. If we are really associated with the cosmic physical plane, we are really embraced by a great cosmic Maya. So, the degree of density of illusion is relative.

Nhưng tất nhiên, từ góc độ của điểm đạo thứ chín, tất cả đều là ảo tưởng, kẻ cư ngụ trong bóng tối hãy bước ra ánh sáng ban ngày. Nếu chúng ta thực sự liên kết với cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta thực sự được bao bọc bởi một Đại Ảo Lực vũ trụ. Vì vậy, mức độ dày đặc của ảo tưởng là tương đối.

So, it’s not unusual that we would be talking about them [World Savours] in relation to the Law of Sacrifice, for it is, in a way, their law. The very first law is foundational to all the others [Laws], and unless there is a sacrifice of the personality, then all of those group states which are associated with the Laws of the Soul these group states could not occur.

Vì vậy, không có gì lạ khi chúng ta nói về họ [Các Đấng Cứu Thế] liên quan đến Định luật Hi Sinh, vì theo một cách nào đó, đó là định luật của Các Ngài. Định luật đầu tiên là nền tảng cho tất cả các định luật khác, và trừ khi có sự hi sinh của phàm ngã, nếu không thì tất cả các trạng thái nhóm liên kết với các Định luật của Linh hồn, những trạng thái nhóm này không thể xảy ra.

So, unless the personality is sacrificed so that the higher consciousness can prevail, there will be no group states and there will be no true understanding or enactment of the Laws of the Soul.

Vì vậy, trừ khi phàm ngã được hi sinh để tâm thức cao hơn có thể chiếm ưu thế, sẽ không có trạng thái nhóm và sẽ không có sự hiểu biết hoặc ban hành thực sự nào về các Định luật của Linh hồn.

{These worlds saviors are not deceived, by glamour and illusion… Or by Maya, earlier conquered.

{Các Đấng Cứu Thế này không bị lừa dối bởi ảo cảm và ảo tưởng… Hoặc bởi Ảo Lực, đã bị chinh phục trước đó.

I’m remembering I’ve mentioned it the man who thought he was passing through the fourth degree, but really got a chance that he did not fulfill to pass for the second degree, and DK explained to him why he could not be passing through the fourth degree because of the clear-eyed approach that was needed to pass through that degree, not deceived, and the man at the moment was very subject to emotional conditions and was involved in all kinds of glamours with respect to his students. They are not deceived.

Tôi nhớ tôi đã đề cập đến người đàn ông nghĩ rằng mình đang trải qua cấp độ thứ tư, nhưng thực sự đã có cơ hội mà y đã không hoàn thành để vượt qua cấp độ thứ hai, và Chân sư DK đã giải thích cho y lý do tại sao y không thể vượt qua cấp độ thứ tư vì cách tiếp cận sáng suốt cần thiết để vượt qua cấp độ đó, không bị lừa dối, và người đàn ông lúc đó rất dễ bị ảnh hưởng bởi các điều kiện cảm xúc và bị cuốn vào đủ loại ảo tưởng đối với các học trò của mình. Các Ngài không bị lừa dối.

It is well, in passing, to point out here that in the New Age, we shall enlarge our concept of this term World Saviour.

Nhân tiện, cũng nên chỉ ra ở đây rằng trong Kỷ Nguyên Mới, chúng ta sẽ mở rộng khái niệm về thuật ngữ Đấng Cứu Thế này.

Not just along the second and sixth rays, which were the rays of the Christ, or the sixth ray and … Well, who knows what personality ray for the Master Jesus? May be the first,

Không chỉ dọc theo cung hai và cung sáu, là các cung của Đức Christ, hoặc cung sáu và… Vâng, ai biết được cung phàm ngã nào cho Đức Chúa Jesus? Có thể là cung một,

It is well, in passing, to point out here that in the New Age, we shall enlarge our concept of the term world Savior.

Nhân tiện, cũng nên chỉ ra ở đây rằng trong Kỷ Nguyên Mới, chúng ta sẽ mở rộng khái niệm về thuật ngữ Đấng Cứu Thế.

And perhaps understand it along a number of ray lines.

Và có lẽ hiểu nó dọc theo một số dòng cung.

{Perhaps understand it along a number of ray lines…

{Có lẽ hiểu nó dọc theo một số dòng cung…

At present, we apply it predominantly to those souls who emerge upon the teaching ray, the second or the Christ ray. They enact the drama of salvation, [1l]

Hiện tại, chúng ta áp dụng nó chủ yếu cho những linh hồn xuất hiện trên cung giáo huấn, cung hai hay cung của Đức Christ. Các Ngài ban hành màn kịch cứu rỗi,

The middle rays, the second and fourth, I think, are good at picturing forth this conflict which exists between the poles, and when we see a situation in which that conflict is intense, we call it a drama.

Các cung ở giữa, cung hai và cung bốn, tôi nghĩ, rất giỏi trong việc khắc họa cuộc xung đột tồn tại giữa các cực, và khi chúng ta thấy một tình huống mà cuộc xung đột đó dữ dội, chúng ta gọi đó là một màn kịch.

But this is an error, due to the overpowering emotional glamour of the Piscean Age.

Nhưng đây là một sai lầm, do ảo cảm quá mạnh mẽ của Kỷ Nguyên Song Ngư.

And, I suppose, its sixth ray influence,

Và, tôi cho rằng, ảnh hưởng cung sáu của nó,

This astral influence has its roots in the past Atlantean civilisation, which preceded ours. [2a]

Ảnh hưởng cảm dục này bắt nguồn từ nền văn minh Atlantis trong quá khứ, vốn có trước nền văn minh của chúng ta. [2a]

So, our connection to the Atlantean consciousness during the Age of Pisces was very strong, still is, we’re emerging from it only now. So,

Vì vậy, mối liên hệ của chúng ta với tâm thức Atlantis trong Kỷ Nguyên Song Ngư rất mạnh mẽ, vẫn còn, chúng ta mới chỉ thoát ra khỏi nó bây giờ. Vì vậy,

Much that happens today, and which may develop, has its roots in that aspect of energy.

Nhiều điều xảy ra ngày nay, và những điều có thể phát triển, đều bắt nguồn từ khía cạnh năng lượng đó.

Which is not yet dissipated, not until the end of the 21st century, will the Piscean energy be sufficiently reduced as to be almost nonexistent. That doesn’t mean that people will not be born in the sign Pisces and have echoes of that kind of energy which was so reinforced during the Age of Pisces.

Vốn vẫn chưa tiêu tan, mãi cho đến cuối thế kỷ 21, năng lượng Song Ngư mới giảm bớt đủ để gần như không còn tồn tại. Điều đó không có nghĩa là mọi người sẽ không được sinh ra dưới cung Song Ngư và có tiếng vang của loại năng lượng đó vốn đã được củng cố rất nhiều trong Kỷ Nguyên Song Ngư.

Seeds sown at that time are now brought to flower. This is very good and necessary, even if distressing in experience. [2b]  

Hạt giống gieo vào thời điểm đó giờ đã nở hoa. Điều này rất tốt và cần thiết, ngay cả khi trải nghiệm đau khổ.

What he’s saying here is interesting.

Những gì Ngài nói ở đây thật thú vị.

{Atlantean tendencies are now coming to flower, due to the congeniality of the Piscean Age, and its relation to the Atlantean energies….

{Xu hướng Atlantis hiện đang nở rộ, do sự tương hợp của Kỷ Nguyên Song Ngư, và mối quan hệ của nó với các năng lượng Atlantis….

And if you kind of think about America, is the heir of the Atlantis. It has said,

Và nếu bạn nghĩ về nước Mỹ, thì đó là người thừa kế của Atlantis. Nó đã nói,

America, under its sixth ray, is the heir to the sixth ray, Piscean civilization….

Nước Mỹ, dưới cung sáu của mình, là người thừa kế của nền văn minh Song Ngư, cung sáu….

So, Atlantis, America and the sixth ray. Thank goodness, there’s a possibility of segwaying that particular ray into the second okay.

Vì vậy, Atlantis, nước Mỹ và cung sáu. Tạ ơn trời, có khả năng chuyển cung cụ thể đó sang cung hai.

So, it can be a distressing experience, the emotional body becomes out of control, glamour misleads many. They chase after will-of-the-wisps, they are disappointed, they are disillusioned, but they come to a better type, truer type of vision.

Vì vậy, đó có thể là một trải nghiệm đau khổ, thể cảm dục trở nên mất kiểm soát, ảo cảm đánh lừa nhiều người. Họ đuổi theo những ảo ảnh, họ thất vọng, họ vỡ mộng, nhưng họ đi đến một loại tầm nhìn tốt hơn, đúng đắn hơn.

But the World Saviours must be recognised as coming forth to serve the race, with sacrifice of some kind along many lines and in many forms. [2c]

Nhưng các Đấng Cứu Thế phải được công nhận là xuất hiện để phụng sự nhân loại, với sự hy sinh nào đó trên nhiều phương diện và dưới nhiều hình thức. [2c]

So, on all the different rays we can find this impulse to serve and to save, the world Savior. So, he’s enlarging the concept of World Saviors pretty much, even in his own writings He has talked about them in relation to the second ray or perhaps the sixth ray—come forward to the mountaintop and on its summit, learn the invocation of a Savior, the sixth ray soul type is told.

Vì vậy, trên tất cả các cung khác nhau, chúng ta có thể tìm thấy xung lực này để phụng sự và cứu rỗi, Đấng Cứu Thế. Vì vậy, Ngài đang mở rộng khái niệm về các Đấng Cứu Thế khá nhiều, ngay cả trong các tác phẩm của chính Ngài, Ngài đã nói về họ liên quan đến cung hai hoặc có lẽ là cung sáu—hãy tiến lên đỉnh núi và trên đỉnh của nó, hãy học bài khấn nguyện của một Đấng Cứu Thế, người cung sáu được cho biết.

And the important thing is, there will be sacrifice of some kind, along many lines, and in many forms, “Unless the seed fall off in the Earth and bring it forth fruit, it is of no value”. I completed it in that way, that’s the idea.

Và điều quan trọng là, sẽ có sự hy sinh nào đó, trên nhiều phương diện, và dưới nhiều hình thức, “Trừ khi hạt giống rơi xuống đất và sinh hoa kết trái, nó sẽ không có giá trị”. Tôi đã hoàn thành nó theo cách đó, đó là ý tưởng.

So, each one of us is a seed, and we must germinate all that we are within a lower type of energetic soil. That really is something to think about,

Vì vậy, mỗi người trong chúng ta là một hạt giống, và chúng ta phải nảy mầm tất cả những gì chúng ta đang ở trong một loại đất năng lượng thấp hơn. Đó thực sự là điều cần suy nghĩ,

{Each of us as a seed which must fall into the Earth… and bring forth a plant or fruit… at the expense of all we had been before

{Mỗi người trong chúng ta như một hạt giống phải rơi xuống đất… và sinh ra một cây hoặc quả… với cái giá của tất cả những gì chúng ta đã từng có trước đây

So, who maybe these world’s saviors?

Vì vậy, ai có thể là những vị cứu tinh của thế giới này?

They may be great rulers, or dictators, politicians, statesmen, scientists and artists.

Họ có thể là những nhà cai trị vĩ đại, hoặc những nhà độc tài, chính trị gia, chính khách, nhà khoa học và nghệ sĩ.

{Sufficient sacrifice for humanity along a particular ray line, will create the World Saviour, but not without sacrifice—the Pratyeka Buddhas are not such Saviours…

{Sự hy sinh đủ cho nhân loại dọc theo một tuyến cung cụ thể, sẽ tạo ra Đấng Cứu Thế, nhưng không phải không có sự hy sinh—các Phật Độc Giác không phải là những Đấng Cứu Thế như vậy…

They move forward, perhaps carrying a staff without a crook, the shepherd’s crook who can capture the wayward sheep and move forward. They move forward and although they can have a very good effect because of their radiation, they are not per se working in the sacrificial mode, the Boddhisattvas do work in the sacrificial mode.

Họ tiến về phía trước, có lẽ mang theo một cây gậy không có móc, cây gậy của người chăn cừu, người có thể bắt những con cừu lạc lối và tiến về phía trước. Họ tiến về phía trước và mặc dù họ có thể có ảnh hưởng rất tốt do sự phóng xạ của họ, nhưng bản thân họ không hoạt động trong chế độ hy sinh, các Bồ Tát hoạt động trong chế độ hy sinh.

So, notice rulers first ray, dictator first ray, politicians first ray, third ray, seventh ray, sixth ray, DK said in Destiny of The Nation’s that it’s the first, sixth, and seventh ray types particularly that find their way into politics. Statesman, the addition of the second and seventh to the first ray, and scientists and artists fifth ray and fourth ray generically. Anyway, they can be those.

Vì vậy, hãy chú ý những người cai trị cung một, nhà độc tài cung một, chính trị gia cung một, cung ba, cung bảy, cung sáu, Chân sư DK đã nói trong Vận Mệnh của các Quốc Gia rằng đó là những người thuộc cung một, sáu và bảy, đặc biệt là những người tìm đường vào chính trị. Chính khách, sự bổ sung của cung hai và bảy vào cung một, và các nhà khoa học và nghệ sĩ cung năm và cung bốn nói chung. Dù sao, họ có thể là những người đó.

Their work is the work of salvage, of restitution, or renovation and revelation, [2d]

Công việc của Các Ngài là công việc cứu rỗi, hoàn nguyên, hoặc đổi mới và mặc khải, [2d]

…and, through the sacrifice of themselves, they accomplish it.

…và, thông qua sự hy sinh bản thân, Các Ngài hoàn thành nó.

Alright, that pretty well tells us what a World Savior does. Salvage reclaiming that which seemed to be beyond reclamation, finding usefulness in something which appeared to be just junk and castaway[3]. Restitution bringing that whose day has passed back into a condition of useful, joyful functioning. We think we may be all washed up as it were, but certain influences in the life can come in and restore. It’s like restoration, restore us to some higher level of usefulness that we thought was beyond our grasp because of the state into which we have fallen.

Điều đó nói rõ cho chúng ta biết Đấng Cứu Thế làm gì. Cứu rỗi là lấy lại những gì dường như không thể lấy lại được, tìm thấy sự hữu ích trong thứ dường như chỉ là đồ bỏ đi và đồ bỏ đi. Hoàn nguyên là đưa những gì đã qua trở lại trạng thái hoạt động hữu ích, vui vẻ. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể bị cuốn trôi, nhưng một số ảnh hưởng nhất định trong cuộc sống có thể đến và khôi phục. Nó giống như phục hồi, khôi phục chúng ta đến một mức độ hữu ích cao hơn mà chúng ta nghĩ là ngoài tầm với của mình vì trạng thái mà chúng ta đã rơi vào.

So, Their work is the work of salvage, of restitution, or renovation

Vì vậy,Công việc của Các Ngài là công việc cứu rỗi, hoàn nguyên, hoặc đổi mới

Making over, renewing all that is good, changing the form,

Làm lại, đổi mới tất cả những gì tốt đẹp, thay đổi hình thức,

…and revelation,

…và mặc khải,

Of the revelation which always is, so that people may be more sensitive to reality, maybe be more sensitive to reality,

Của sự mặc khải vốn luôn tồn tại, để mọi người có thể nhạy cảm hơn với thực tại, có thể nhạy cảm hơn với thực tại,

…and, through the sacrifice of themselves, they accomplish it.

…và, thông qua sự hy sinh bản thân, Các Ngài hoàn thành nó.

In other words, they do not pay attention to the impact of their sacrificial actions upon their form life. If you’ve seen the picture of Madame blavatsky as she’s older, she looks like she’s been through many pots of coffee [4]and may very late hours as she has attempted to sacrificially write at White Hot speed The Secret Doctrine and other books for the benefit of Theosophy in the world and for many of us, whose last hope, as Madame blavatsky has said, is Theosophy.

Nói cách khác, Các Ngài không chú ý đến tác động của hành động hy sinh của Các Ngài đối với cuộc sống hình tướng của Các Ngài. Nếu bạn đã xem bức ảnh của bà Blavatsky khi bà lớn tuổi hơn, bà trông giống như bà đã trải qua nhiều ấm cà phê và có thể rất khuya khi bà cố gắng hy sinh để viết Giáo Lý Bí Nhiệm và các quyển sách khác với tốc độ Chánh Niệm cho lợi ích của Thông Thiên Học trên thế giới và cho nhiều người trong chúng ta, mà hy vọng cuối cùng, như bà Blavatsky đã nói, là Thông Thiên Học.

As such, they must be recognised for what they are. Now they are misunderstood, misinterpreted, and judged by their mistakes more than by their aims. [2e]

Như vậy, Các Ngài phải được công nhận vì những gì Các Ngài đang có.Bây giờ Các Ngài bị hiểu lầm, bị diễn giải sai, và bị đánh giá bởi những sai lầm của Các Ngài hơn là bởi mục đích của Các Ngài. [2e]

Because none of these serving Saviors is yet perfect. They carry such a high energy, and they are going into a low space where the approximation between what they are and that in which they have to work is ill-balanced, so they may release energy in a way which is not yet perfectly harmonized and tuned. But they are working under the Law of Sacrifice, along the salvation line.

Bởi vì không ai trong số những Đấng Cứu Thế đang phụng sự này là hoàn hảo. Các Ngài mang một năng lượng cao như vậy, và Các Ngài đang đi vào một không gian thấp, nơi sự xấp xỉ giữa những gì Các Ngài đang có và nơi mà Các Ngài phải làm việc là không cân bằng, vì vậy Các Ngài có thể giải phóng năng lượng theo cách chưa được hài hòa và điều chỉnh hoàn hảo. Nhưng Các Ngài đang làm việc theo Định luật Hy Sinh, dọc theo dòng cứu rỗi.

But they are dedicated souls. They rescue; they lift; they integrate; they illumine;

Nhưng Các Ngài là những linh hồn tận tụy.Các Ngài giải cứu; Các Ngài nâng đỡ; Các Ngài tích hợp; Các Ngài soi sáng;

All many different ways of working, pulled out of the elemental life so that one is not buried alive, or drowned, or burned up, lifting up to the soul integration into harmonious relations, so that the psychological problem is solved, and the psychosocial problem is solved, and in general they carry the light of the higher realms and make it possible for man to begin to live in these lower worlds, but have dual citizenship as it were, a passports for both countries for the kingdom of the soul and for the lower Kingdom of personality 😊.

Tất cả những cách làm việc khác nhau, được kéo ra khỏi sự sống hành khí để người ta không bị chôn sống, hoặc chết đuối, hoặc bị thiêu rụi, nâng lên đến sự tích hợp linh hồn vào các mối quan hệ hài hòa, để vấn đề tâm lý được giải quyết, và vấn đề tâm lý xã hội được giải quyết, và nói chung, Các Ngài mang ánh sáng của các cõi giới cao hơn và làm cho con người có thể bắt đầu sống trong những cõi giới thấp hơn này, nhưng có quyền công dân kép, hộ chiếu cho cả hai quốc gia, cho vương quốc của linh hồn và cho vương quốc thấp hơn của phàm ngã.

So, World Saviors, through sacrifice, they rescue

Vì vậy, các Đấng Cứu Thế, thông qua sự hy sinh, Các Ngài giải cứu

One thing is that all hope is lost, you can imagine rescues from a great torrential river, or from a cliff, or from a fire, any of the elements, from hurricane. Rescue is usually needed from a powerful display of the elements. We can drown in the storm, we can burn in the fire, we can be buried in the Earth, we can be carried away by the tornado, the elements become empowered out of control and rescue is needed. And so, the Law of Sacrifice will help rescue from Samsara which is basically the great Maya, the great World of Illusion.

Một điều là tất cả hy vọng đều mất hết, bạn có thể tưởng tượng sự giải cứu khỏi một dòng sông cuồn cuộn, hoặc từ một vách đá, hoặc từ một đám cháy, bất kỳ nguyên tố nào, từ cơn bão. Giải cứu thường cần thiết từ một màn thể hiện mạnh mẽ của các nguyên tố. Chúng ta có thể chết đuối trong cơn bão, chúng ta có thể bị thiêu rụi trong lửa, chúng ta có thể bị chôn vùi trong đất, chúng ta có thể bị cuốn trôi bởi cơn lốc xoáy, các nguyên tố trở nên mạnh mẽ ngoài tầm kiểm soát và cần được giải cứu. Và do đó, Định luật Hy Sinh sẽ giúp giải cứu khỏi Luân hồi, về cơ bản là đại Ảo lực, Thế giới Ảo tưởng vĩ đại.

They rescue; they lift; they integrate; they illumine;

Các Ngài giải cứu; Các Ngài nâng đỡ; Các Ngài tích hợp; Các Ngài soi sáng;

And so, they are working along a number of ray lines

Và do đó, Các Ngài đang làm việc dọc theo một số tuyến cung

…and the net result of their work, from the angle of ultimate history, is good. [2f]

…và kết quả cuối cùng của công việc của Các Ngài, từ góc độ của lịch sử cuối cùng, là tốt.

So, there are those they are re-enacting the original sacrifice of the monads in which they fully participated.

Vì vậy, có những người đang tái hiện lại sự hy sinh ban đầu của các chân thần, mà trong đó họ đã tham gia trọn vẹn.

They are re-enacting the original sacrifice of the Monads, in which they fully participated {The Will-to-Serve, WiIl-to-Sacrifice, Will-to-Save…

Họ đang tái hiện lại sự hy sinh ban đầu của các Chân Thần, mà trong đó họ đã tham gia trọn vẹn {Ý Chí-Phụng Sự, Ý Chí-Hy Sinh, Ý Chí-Cứu Rỗi…

I suppose when you’re in those higher worlds and all is beauty and bliss and immortality, one thinks one can descend into the lower worlds without much problem and carry out the mission of redemption, without having a compromised consciousness. But then a funny thing happens on the way into the lower worlds, and one becomes identified with them. And oftentimes the Rescuer is in need of rescuing.

Tôi cho rằng khi bạn ở trong những cõi giới cao hơn đó và tất cả đều là vẻ đẹp, hạnh phúc và sự bất tử, người ta nghĩ rằng mình có thể giáng xuống các cõi giới thấp hơn mà không gặp nhiều vấn đề và thực hiện sứ mệnh cứu chuộc, mà không bị tổn hại đến tâm thức. Nhưng rồi một điều thú vị xảy ra trên đường đi vào các cõi giới thấp hơn, và người ta đồng nhất với chúng. Và thường thì Đấng Cứu Rỗi lại cần được cứu rỗi.

Their effect is good. They have the Will-to-Serve, and they have the Will-to-Sacrifice, and they have the Will-to-Save.

Ảnh hưởng của họ là tốt. Họ có Ý Chí-Phụng Sự, và họ có Ý Chí-Hy Sinh, và họ có Ý Chí-Cứu Rỗi.

The net result is good, and it’s towards this type of orientation that we start to incline ourselves.

Kết quả cuối cùng là tốt, và chính hướng tới kiểu định hướng này mà chúng ta bắt đầu hướng bản thân mình tới.

This Law of Sacrifice and the impulse to give can also be traced throughout every kingdom in nature.

Định luật Hy Sinh này và sự thôi thúc cho đi cũng có thể được tìm thấy trong mọi giới trong tự nhiên.

Well, I think this may be a good place. We’ll keep these programs to about an hour at this point.

Tôi nghĩ đây có thể là một nơi tốt. Chúng ta sẽ giữ các chương trình này trong khoảng một giờ tại thời điểm này.



[1] (nghĩa bóng) sự hy sinh (cái gì cho cái gì)

[2] ( (thường) số nhiều) sự thăng trầm (sự thay hoàn cảnh của mình nhất là theo chiều xấu hơn)

[3] (nghĩa bóng) bị ruồng bỏ; sống bơ vơ

[4] “Nếu bạn đã xem ảnh của bà Blavatsky khi về già, trông bà ấy như đã trải qua hàng trăm tách cà phê vậy.” (Giữ nghĩa đen về cà phê, nhấn mạnh vào số lượng).

“Nhìn bức ảnh Madame Blavatsky lúc lớn tuổi, ai cũng thấy bà ấy đã trải qua biết bao thăng trầm trong cuộc đời.” (Giữ nghĩa bóng về trải nghiệm, không nhắc đến cà phê).

Scroll to Top