Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn – 5

📘 Sách: Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

LAWS OF THE SOUL WEBINAR COMMENTARY # 5

The Law of Sacrifice # 4 (95-99)

Abstract

Laws of the Soul Webinar Commentary 5 covers EP II pages 95-99, and is about one hour and 30 minutes long. Topics include:

Bình luận Webinar Định Luật của Linh Hồn số 5 bao gồm EP II trang 95-99, và dài khoảng một giờ ba mươi phút. Các chủ đề bao gồm:

1. The Law of Sacrifice as the “impulse to give” can be traced through all the kingdoms of nature;

1. Định luật Hi Sinh với tư cách là “động lực cho đi” có thể được truy nguyên qua tất cả các giới trong tự nhiên;

2. The Law of Sacrifice and the work of salvage and salvation;

2. Định luật Hi Sinh và công việc cứu vớt và cứu rỗi;

3. The Law of Sacrifice is related to the instinct to betterment and the urge to progress;

3. Định luật Hi Sinh liên quan đến bản năng cải thiện và sự thôi thúc tiến bộ;

4. The Law of Sacrifice and the instinct to betterment governs the Law of Rebirth;

4. Định luật Hi Sinh và bản năng cải thiện chi phối Định luật Tái Sinh;

5. The sacrificial instinct governs both the involutionary and evolutionary arc;

5. Bản năng hi sinh chi phối cả cung giáng hạ tiến hoá và cung tiến hoá;

6. There is a dual sacrifice: the sacrifice of the high for the sake of the low and the sacrifice of the low to regain the high;

6. Có một sự hi sinh kép: sự hi sinh của cái cao vì lợi ích của cái thấp và sự hi sinh của cái thấp để giành lại cái cao;

7. Sacrifice under Saturn always involves choosing one way rather than another; sacrificing one way for another;

7. Sự hi sinh dưới Sao Thổ luôn đòi hỏi việc chọn một con đường này hơn một con đường khác; hi sinh một con đường cho một con đường khác;

8. “When this urge to sacrifice in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed”;

8. “Khi sự thôi thúc hi sinh này để giành được, đạt được hoặc cứu vớt điều được coi là đáng mong ước được thấu hiểu, thì toàn bộ manh mối của sự khai mở của con người sẽ được mặc khải”;

9. Sacrifice connotes the emergence of that which is most divine in man;

9. Sự hi sinh hàm ý sự xuất lộ của điều thiêng liêng nhất trong con người;

10. Sacrifice if the predominant characteristic of Deity;

10. Sự hi sinh là đặc tính chủ yếu của Thượng đế;

11. The Law of Sacrifice works out differently on different planetary schemes;

11. Định luật Hi Sinh phát triển khác nhau trên các hệ hành tinh khác nhau;

12. The Planetary Logos of our Earth is conditioned by the psychology of the “Divine Rebel”;

12. Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất chúng ta được định hình bởi tâm lý học của “Kẻ Nổi Loạn Thiêng Liêng”;

13. Only rebellion produces pain and sorrow;

13. Chỉ có sự nổi loạn tạo ra nỗi đau và sự buồn thương;

14. Discussion of a beautiful section of the Old Commentary which describes the descent of our Planetary Logos into the assigned field of service and His rebellion from the task;

14. Thảo luận về một đoạn tuyệt đẹp trong Cổ Luận mô tả sự giáng hạ của Hành Tinh Thượng đế chúng ta vào lãnh vực phụng sự được chỉ định và sự nổi loạn của Ngài khỏi nhiệm vụ;

15. Sacrifice blended with pain, sorrow and difficulty are found on Saturn and Mars;

15. Sự hi sinh pha trộn với nỗi đau, sự buồn thương và khó khăn được tìm thấy trên Sao Thổ và Sao Hỏa;

16. Saturn, Mars and Earth in a curious esoteric manner constitute the personality expression of a stupendous ray Life;

16. Theo một cách huyền bí kỳ lạ, Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất tạo nên biểu hiện phàm ngã của một Sự Sống cung đồ sộ;

17. In the case of the three major rays (and the Beings Who transmit them) three planets constitute the personality expression;

17. Trong trường hợp của ba cung chủ yếu (và các Đấng truyền tải chúng) ba hành tinh tạo nên biểu hiện phàm ngã;

18. Concerning this stupendous ray Life: the mental body expresses through Saturn, the astral body through Mars and the physical body through the Earth;

18. Liên quan đến Sự Sống cung đồ sộ này: thể trí biểu hiện qua Sao Thổ, thể cảm dục qua Sao Hỏa và thể xác qua Trái Đất;

19. Uranus, Jupiter and Venus are the personality expression of yet another stupendous ray Life.

19. Sao Thiên Vương, Sao Mộc và Sao Kim là biểu hiện phàm ngã của một Sự Sống cung đồ sộ khác.

Text

This Law of Sacrifice and the impulse to give can also be traced throughout every kingdom in nature. It is typified for us in the basic sacrifices which take place between the various kingdoms. The essential qualities of the minerals and chemicals of the earth are an instance in point. They are needed by other forms of life and are donated to man through the medium of the vegetable kingdom and through the water which he drinks, and thus, even in the first and densest kingdom in nature (whose consciousness is so far removed from ours) does this process of giving hold good. But the tracing of this Law of Sacrifice in the subhuman kingdoms is not possible [96] here, and we must confine our attention to the world of human living and consciousness.

Định luật Hi sinh này và xung lực cho đi cũng có thể được truy nguyên xuyên suốt mọi giới trong bản chất. Nó được tiêu biểu cho chúng ta trong những sự hi sinh căn bản diễn ra giữa các giới khác nhau. Những phẩm tính thiết yếu của các khoáng chất và hoá chất của trái đất là một ví dụ điển hình. Chúng cần thiết cho các hình tướng sự sống khác và được hiến tặng cho con người qua trung gian của giới thực vật và qua nước mà y uống, và như vậy, ngay cả trong giới thứ nhất và đậm đặc nhất trong bản chất (mà tâm thức của nó xa cách tâm thức chúng ta đến thế) thì tiến trình cho đi này vẫn đúng. Nhưng việc truy vết Định luật Hi sinh này trong các giới dưới nhân loại không thể [96] thực hiện ở đây, và chúng ta phải giới hạn sự chú ý vào thế giới sinh hoạt và tâm thức của con người.

b. THE WORK OF SALVAGE OR SALVATION—CÔNG TÁC CỨU VỚT HAY CỨU RỖI

The Law of Sacrifice means also salvage and underlies all the evolutionary processes and particularly does this emerge into clear significance in the human family. The instinct to betterment, the urge to progress (physical, emotional and intellectual), the effort to ameliorate conditions, the tendency to philanthropy which is so rapidly taking hold of the world, and the sense of responsibility which does make men realise that they are their brother’s keeper, are all expressions of this sacrificial instinct. This factor, though not unrecognised by modern psychology, is of far wider significance than has yet been realised. This instinctual tendency is the one that itself governs the Law of Rebirth. It is the expression of a still greater factor in the creative process. It is the major determining impulse which impelled the Soul of God Himself to enter into form life; which impels life, upon the involutionary arc, to progress down into matter, producing thus the immanence of God. It is that also which drives humanity forward into its wild struggle for material well-being. It is that too which urges man eventually to turn his back upon the “world, the flesh and the devil,” as the New Testament puts it, and orient himself to the things of spiritual import. The prodigal son sacrificed the Father’s home when he chose to wander forth into the far country. He wasted and sacrificed his substance through the use he made of the experience of life on earth, until he had exhausted all his resources and there was naught left but the eventual sacrifice of what he held so dear, but had discovered to be so unsatisfying. For these things of lesser values, he had sacrificed the higher values, and had to return again whence he came. Such is the life story of all the [97] sons of God who came into incarnation, as given to us under the symbolism of the Bible. But the theme in all the world Bibles is the same.

Định luật Hi sinh cũng có nghĩa là cứu vớt và nằm dưới mọi tiến trình tiến hoá, và đặc biệt điều này nổi lên với thâm nghĩa rõ rệt trong gia đình nhân loại. Bản năng hướng tới cải thiện, thôi thúc tiến bộ (hồng trần, cảm xúc và trí tuệ), nỗ lực làm cho điều kiện tốt hơn, khuynh hướng từ thiện đang nhanh chóng lan rộng trong thế giới, và ý thức trách nhiệm khiến con người nhận ra rằng họ là người giữ gìn anh em mình, tất cả đều là những biểu đạt của bản năng hi sinh này. Yếu tố này, tuy không phải không được tâm lý học hiện đại nhận biết, có thâm nghĩa rộng lớn hơn nhiều so với điều người ta đã chứng nghiệm cho đến nay. Khuynh hướng bản năng này chính là điều chi phối Định luật Tái Sinh. Nó là sự biểu đạt của một yếu tố còn lớn hơn trong tiến trình sáng tạo. Nó là xung lực quyết định chủ yếu đã thúc đẩy chính Linh hồn của Thượng đế bước vào đời sống hình tướng; nó thúc đẩy sự sống, trên vòng cung giáng hạ tiến hoá, tiến xuống vào vật chất, do đó tạo ra tính nội tại của Thượng đế. Nó cũng là điều đẩy nhân loại tiến lên trong cuộc tranh đấu dữ dội vì phúc lợi vật chất. Nó cũng là điều cuối cùng thúc giục con người quay lưng lại với “thế gian, xác thịt và ma quỷ,” như Tân Ước nói, và định hướng mình về những điều có tầm quan trọng tinh thần. Đứa con hoang đàng đã hi sinh mái nhà của Cha khi nó chọn lang thang đến xứ xa. Nó đã phung phí và hi sinh chất liệu của mình qua cách nó sử dụng kinh nghiệm của đời sống trên trái đất, cho đến khi nó cạn kiệt mọi nguồn lực và chẳng còn gì ngoài sự hi sinh cuối cùng đối với điều nó từng xem là quý giá, nhưng đã khám phá là quá bất toại. Vì những điều có giá trị thấp hơn ấy, nó đã hi sinh những giá trị cao hơn, và phải trở về lại nơi nó đã ra đi. Đó là câu chuyện đời sống của tất cả những [97] Con của Thượng đế đã bước vào nhập thể, như được trao cho chúng ta dưới biểu tượng của Kinh Thánh. Nhưng chủ đề trong mọi Kinh Thánh của thế gian đều như nhau.

This urge to sacrifice, to relinquish this for that, to choose one way or line of conduct and thus sacrifice another way, to lose in order eventually to gain,—such is the underlying story of evolution. This needs psychological understanding. It is a governing principle of life itself, and runs like a golden pattern of beauty through the dark materials of which human history is constructed. When this urge to sacrifice in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed. This tendency or urge is something different to desire, as desire is academically understood and studied today. What it really connotes is the emergence of that which is most divine in man. It is an aspect of desire, but it is the dynamic, active side and not the feeling, sensuous side. It is the predominant characteristic of Deity.

Thôi thúc hi sinh này, từ bỏ cái này để lấy cái kia, chọn một con đường hay một tuyến hành vi và do đó hi sinh một con đường khác, mất để rồi cuối cùng được,—đó là câu chuyện nền tảng của tiến hoá. Điều này cần được thấu hiểu về mặt tâm lý. Nó là một nguyên khí chi phối của chính sự sống, và chạy như một mô hình vàng của vẻ đẹp xuyên qua những chất liệu tối tăm mà lịch sử nhân loại được xây dựng từ đó. Khi thôi thúc hi sinh để giành lấy, đạt được hay cứu vớt điều được xem là đáng mong muốn được thấu hiểu, thì toàn bộ manh mối về sự khai mở của con người sẽ được phơi bày. Khuynh hướng hay thôi thúc này là điều khác với dục vọng, như dục vọng được hiểu và nghiên cứu theo lối học thuật ngày nay. Điều mà nó thật sự hàm ý là sự xuất hiện của điều thiêng liêng nhất trong con người. Nó là một phương diện của dục vọng, nhưng là mặt năng động, chủ động chứ không phải mặt cảm giác, cảm quan. Nó là đặc tính nổi trội của Thượng đế.

It is of interest, however, for students of esotericism to note that this urge to salvage and to sacrifice in order to redeem works out in different ways in the different planetary schemes. Each Ray Lord of a scheme, manifesting through a planet, expresses this urge in varying ways, and each expression is so different from the others that it is hard for a human being to do more than sense that method which exists on our own particular planet. Initiates know that the varying psychological characteristics of the ray Lives condition most peculiarly the method of expressing sacrifice, during the course of manifestation. The great stream of living energy which is manifesting itself in our Earth scheme of evolution is conditioned by a temperament, an attitude and an orientation that is that of a “Divine Rebel.” It is only rebellion that produces pain and sorrow, but this rebellion is inherent and [98] innate in the Deity of our planet Himself, the “One in Whom we live and move and have our being.” It is, therefore, a tendency greater than the individual unit. It is only possible to express this amazing truth about the planetary Life under a veil of symbology and in terms of human thought. In this there is ever a risk, for men interpret all they read and hear and experience in terms of themselves.

Tuy nhiên, đối với các đạo sinh huyền bí học, điều đáng quan tâm là lưu ý rằng thôi thúc cứu vớt và hi sinh để cứu chuộc này được triển khai theo những cách khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau. Mỗi Đấng Chúa Tể Cung của một hệ, biểu lộ qua một hành tinh, biểu đạt thôi thúc này theo những cách biến thiên, và mỗi biểu đạt khác biệt đến mức khó để một con người làm được gì hơn ngoài việc cảm nhận phương pháp hiện hữu trên chính hành tinh đặc thù của chúng ta. Các điểm đạo đồ biết rằng các đặc tính tâm lý khác nhau của các Sự Sống cung tác động-định hình một cách rất đặc thù phương pháp biểu đạt hi sinh, trong suốt tiến trình biểu lộ. Dòng năng lượng sống vĩ đại đang biểu lộ trong hệ tiến hoá Địa Cầu của chúng ta được tác động-định hình bởi một khí chất, một thái độ và một định hướng mang tính của một “Kẻ Nổi Loạn Thiêng Liêng.” Chỉ có nổi loạn mới tạo ra đau đớn và buồn khổ, nhưng sự nổi loạn này vốn có và [98] bẩm sinh trong chính Thượng đế của hành tinh chúng ta, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Vì vậy, đó là một khuynh hướng lớn hơn đơn vị cá nhân. Chỉ có thể biểu đạt chân lý kỳ diệu này về Sự Sống hành tinh dưới một tấm màn biểu tượng và theo thuật ngữ của tư tưởng con người. Trong đó luôn có một rủi ro, vì con người diễn giải mọi điều họ đọc, nghe và trải nghiệm theo thuật ngữ của chính họ.

The Old Commentary says:

Cổ Luận nói:

“He entered into life and knew it to be death.

“Ngài bước vào sự sống và biết đó là cái chết.

“He took a form and grieved to find it dark.

“Ngài nhận một hình tướng và đau buồn khi thấy nó tối tăm.

“He drove Himself forth from the secret place and sought the place of light, and light revealed all that he sought the least.

“Ngài tự đẩy mình ra khỏi nơi bí mật và tìm nơi ánh sáng, và ánh sáng bày tỏ tất cả những gì Ngài ít mong tìm nhất.

“He craved permission to return.

“Ngài khao khát được phép trở về.

“He sought the Throne on high and Him who sat thereon. He said ‘I sought not this. I looked for peace, for light, for scope to serve, to prove my love and to reveal my power. Light there is none. Peace is not found. Let me return.’

“Ngài tìm Thánh Ngai trên cao và Đấng ngự trên đó. Ngài nói: ‘Tôi không tìm điều này. Tôi tìm sự bình an, ánh sáng, phạm vi để phụng sự, để chứng minh tình thương của tôi và để bày tỏ quyền năng của tôi. Không có ánh sáng. Không tìm thấy bình an. Xin cho tôi trở về.’

But He Who sat upon the Throne turned not his head. He seemed not e’en to listen nor to hear. But from the lower sphere of darkness and of pain a voice came forth and cried: ‘We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God. [I can find no other words except these last two to express the ancient symbol from which I am translating.] Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. Raise us into the light and make the sacrifice. Break down for us the prison wall and enter into pain.’

Nhưng Đấng ngự trên Thánh Ngai không ngoảnh đầu. Ngài dường như chẳng hề lắng nghe hay nghe thấy. Nhưng từ cõi thấp của tối tăm và đau đớn, một tiếng nói vang lên và kêu: ‘Chúng tôi chịu khổ ở đây. Chúng tôi tìm ánh sáng. Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế bước vào. [Tôi không thể tìm được từ nào khác ngoài hai từ cuối này để diễn đạt biểu tượng cổ xưa mà tôi đang dịch.] Hãy nâng chúng tôi lên Thiên Giới. Hãy bước vào, hỡi Chúa Tể, ngôi mộ. Hãy nâng chúng tôi vào ánh sáng và hãy hi sinh. Hãy phá vỡ bức tường nhà tù cho chúng tôi và bước vào đau đớn.’

The Lord of Life returned. He liked it not, and hence the pain.”

Chúa Tể của Sự Sống đã trở lại. Ngài không thích điều đó, và vì thế có đau đớn.”

The same conditions which blend the Law of Sacrifice with pain and sorrow and difficulty are found also on the planet Mars and on the planet Saturn. They are not found on the other planets. Those who have read The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire with understanding know that our Earth is not a sacred planet. However, Saturn, Mars and our Earth constitute, in a curious esoteric manner, the [99] personality of a stupendous ray Life, Whose energy is that of the third Ray. There are, as has been stated elsewhere, seven sacred planets but ten planetary schemes, and in three cases, (those of the three major rays) three planets constitute the personality of each ray Life. Some esoteric thinkers believe that there are twelve planets to be considered in our solar system, and there is a basis for their conclusion. The personality of this third ray Life functions through the following planets:

Những điều kiện tương tự, vốn hoà trộn Định luật Hi sinh với đau đớn, buồn khổ và khó khăn, cũng được tìm thấy trên hành tinh Sao Hỏa và hành tinh Sao Thổ. Chúng không được tìm thấy trên các hành tinh khác. Những ai đã đọc Giáo Lý Bí NhiệmLuận về Lửa Vũ Trụ với sự thấu hiểu biết rằng Trái Đất của chúng ta không phải là một hành tinh thiêng liêng. Tuy nhiên, Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất của chúng ta cấu thành, theo một cách huyền bí kỳ lạ, [99] phàm ngã của một Sự Sống cung vô cùng vĩ đại, mà năng lượng của Ngài là năng lượng của cung ba. Như đã được nói ở nơi khác, có bảy hành tinh thiêng liêng nhưng mười hệ hành tinh, và trong ba trường hợp (của ba cung chính), ba hành tinh cấu thành phàm ngã của mỗi Sự Sống cung. Một số nhà tư tưởng huyền bí tin rằng có mười hai hành tinh cần được xét đến trong hệ mặt trời của chúng ta, và có cơ sở cho kết luận của họ. Phàm ngã của Sự Sống cung ba này vận hành qua các hành tinh sau:

1. The mental body expresses itself through the medium of the planet Saturn.

1. Thể trí biểu đạt qua trung gian của hành tinh Sao Thổ.

2. The astral body expresses itself through the planet Mars.

2. Thể cảm dục biểu đạt qua hành tinh Sao Hỏa.

3. The physical body expresses itself through the planet Earth.

3. Thể xác biểu đạt qua hành tinh Trái Đất.

The potency of this Life is such that He requires three complete schemes—all three closely allied and interdependent—through which to express Himself. Uranus, Jupiter and Venus are similarly allied in order to manifest or express a great Life.

Mãnh lực của Sự Sống này lớn đến mức Ngài cần ba hệ hoàn chỉnh—cả ba liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau—để biểu đạt chính Ngài. Sao Thiên Vương, Sao Mộc và Sao Kim cũng được liên kết tương tự để biểu lộ hay biểu đạt một Sự Sống vĩ đại.

Text with notes

This Law of Sacrifice and the impulse to give can also be traced throughout every kingdom in nature. [1a]  It is typified for us in the basic sacrifices which take place between the various kingdoms. The essential qualities of the minerals and chemicals of the Earth are an instance in point. [1b]  They are needed by other forms of life and are donated to man through the medium of the vegetable kingdom and through the water which he drinks, and thus, even in the first and densest kingdom in nature (whose consciousness is so far removed from ours) does this process of giving hold good. [1c]  But the tracing of this Law of Sacrifice in the subhuman kingdoms is not possible [96]  here, and we must confine our attention to the world of human living and consciousness. [1d]

Định luật Hy sinh này và sự thúc đẩy để cho đi cũng có thể được theo dõi trong mọi giới trong tự nhiên. [1a] Nó được điển hình hóa cho chúng ta trong những sự hy sinh cơ bản diễn ra giữa các giới khác nhau. Các phẩm chất thiết yếu của các khoáng chất và hóa chất của Trái Đất là một ví dụ điển hình. [1b] Chúng được các hình thức sống khác cần đến và được hiến tặng cho con người thông qua trung gian của giới thực vật và qua nước mà anh ta uống, và do đó, ngay cả trong giới đầu tiên và dày đặc nhất trong tự nhiên (có tâm thức còn xa lạ với chúng ta) thì quá trình cho đi này vẫn có giá trị. [1c] Nhưng việc theo dõi Định luật Hy sinh này trong các giới dưới người là không thể [96] tại đây, và chúng ta phải giới hạn sự chú ý của mình vào thế giới sống và tâm thức của con người.

b. THE WORK OF SALVAGE OR SALVATION

b. CÔNG VIỆC CỨU RỖI HOẶC CỨU ĐỘ

{Finding a way to use and redeem the apparently useless…

{Tìm cách sử dụng và cứu rỗi những gì dường như vô dụng…

The Law of Sacrifice means also salvage and underlies all the evolutionary processes and particularly does this emerge into clear significance in the human family. [1e]  The instinct to betterment, the urge to progress (physical, emotional and intellectual), the effort to ameliorate conditions, the tendency to philanthropy which is so rapidly taking hold of the world, {blending of the second aspect of divinity and the third aspect of divinity and the sense of responsibility which does make men realise that they are their brother’s keeper, are all expressions of this sacrificial instinct. {we rise to higher quality through sacrifice…This is all question of values and of what lower values can be sacrificed for the emergence of higher values… [1f]  This factor, {this sacrificial tendency towards betterment… though not unrecognised by modern psychology, is of far wider significance than has yet been realised. [1g]   {This is instilled in us from the very highest SOURCES—it is inherent in the Monad… This instinctual tendency is the one that itself governs the Law of Rebirth. {Constantly to uplift and redeem, and improve the condition of the lesser lives—elevation of vibration… It is the expression of a still greater factor in the creative process. [1h]  It is the major determining impulse which impelled the Soul of God Himself to enter into form life; {the pervading of form life by the consciousness of God… which impels life, upon the involutionary arc, to progress down into matter, producing thus the immanence of God. {the first part of the descent of the Monad… but also before that, the descent of the third aspect of divinity and the second aspect of divinity [1i]  It is that also which drives humanity forward into its wild struggle for material well-being. [1j]   {This is sensed as an improvement over conditions as they were before—stark, difficult, inhospitable… It is that too which urges man eventually to turn his back upon the “world, the flesh and the devil,” as the New Testament puts it, and orient himself to the things of spiritual import. [1k]  The prodigal son sacrificed the Father’s home when he chose to wander forth into the far country. He wasted and sacrificed his substance through the use he made of the experience of life on earth, until he had exhausted all his resources and there was naught left but the eventual sacrifice of what he held so dear, but had discovered to be so unsatisfying. [1l]  For these things of lesser values, he had sacrificed the higher values, and had to return again whence he came. {The Law of Monadic Return} Such is the life story of all the [97]  sons of God who came into incarnation, as given to us under the symbolism of the Bible. But theme in all the world Bibles is the same. [2a]

Định luật Hy sinh cũng có nghĩa là cứu rỗi và là nền tảng cho tất cả các quá trình tiến hóa và đặc biệt điều này nổi bật rõ ràng trong gia đình nhân loại. [1e] Bản năng cải thiện, sự thúc đẩy tiến bộ (về thể chất, cảm xúc và trí tuệ), nỗ lực cải thiện điều kiện, xu hướng từ thiện đang nhanh chóng chiếm lĩnh thế giới, {sự hòa quyện của khía cạnh thứ hai của thiên tính và khía cạnh thứ ba của thiên tính và ý thức trách nhiệm khiến con người nhận ra rằng họ là người giữ gìn cho anh em của mình, đều là những biểu hiện của bản năng hy sinh này. {chúng ta vươn tới phẩm chất cao hơn thông qua sự hy sinh…Đây là tất cả vấn đề về giá trị và những gì giá trị thấp hơn có thể được hy sinh để xuất hiện các giá trị cao hơn… Yếu tố này, {xu hướng hy sinh này hướng tới sự cải thiện… dù không được công nhận bởi tâm lý học hiện đại, nhưng có ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều so với những gì đã được nhận thức. [1g] {Điều này được truyền vào chúng ta từ những NGUỒN CAO NHẤT—nó vốn có trong Chân Thần… Xu hướng bản năng này chính là điều điều khiển Định luật Tái sinh. {Liên tục nâng cao và cứu rỗi, và cải thiện điều kiện của các sự sống thấp hơn—nâng cao rung động… Đó là biểu hiện của một yếu tố còn lớn hơn trong quá trình sáng tạo. [1h] Đó là động lực chính quyết định đã thúc đẩy Linh hồn của chính Thượng Đế bước vào cuộc sống hình tướng; {sự thấm nhuần cuộc sống hình tướng bởi tâm thức của Thượng Đế… điều này thúc đẩy cuộc sống, trên cung giáng hạ, tiến xuống vật chất, tạo ra sự hiện diện của Thượng Đế. {phần đầu của sự xuống dốc của Chân Thần… nhưng cũng trước đó, sự xuống dốc của khía cạnh thứ ba của thiên tính và khía cạnh thứ hai của thiên tính Đó cũng chính là điều thúc đẩy nhân loại tiến về phía trước trong cuộc đấu tranh hoang dã cho sự tồn tại vật chất. {Điều này được cảm nhận như một sự cải thiện so với các điều kiện trước đây—khắc nghiệt, khó khăn, không thân thiện… Đó cũng chính là điều thúc đẩy con người cuối cùng quay lưng lại với “thế giới, xác thịt và ma quỷ,” như Tân Ước đã nói, và định hướng bản thân về những điều có ý nghĩa tinh thần. [1k] Người con hoang đàng đã hy sinh ngôi nhà của Cha khi anh ta chọn lang thang vào miền đất xa xôi. Anh đã lãng phí và hy sinh tài sản của mình thông qua cách mà anh đã trải nghiệm cuộc sống trên trái đất, cho đến khi anh đã kiệt quệ tất cả tài nguyên của mình và không còn gì ngoài sự hy sinh cuối cùng của những gì anh đã giữ rất quý giá, nhưng đã phát hiện ra là không thỏa mãn. [1l] Vì những điều của giá trị thấp hơn này, anh đã hy sinh các giá trị cao hơn, và phải trở về nơi mà anh đã đến. {Định luật Tái sinh của Chân Thần}Đó là câu chuyện cuộc đời của tất cả các [97] con cái của Thượng Đế đã nhập thể, như được cho chúng ta dưới hình tượng của Kinh Thánh.Nhưng chủ đề trong tất cả các Kinh Thánh thế giới là giống nhau.

{We are involved in a sacrificial pilgrimage… All in the attempt to make all aspects of life sacred— correspondent with Divine Purpose

{Chúng ta đang tham gia vào một cuộc hành hương hy sinh… Tất cả trong nỗ lực làm cho tất cả các khía cạnh của cuộc sống trở nên thiêng liêng—tương ứng với Thiên Ý

Sacrifice through Divine Intervention: Solar Angels, of Sanat Kumara, of our Planetary Logos, and of the World Saviour…

Hy sinh thông qua Can thiệp Thiêng Liêng: Các Thái dương Thiên Thần, của Sanat Kumara, của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và của Đấng Cứu Thế…

The beauty of Sacrifice…this must impress itself upon us as we study…

Vẻ đẹp của Hy sinh… điều này phải in sâu vào chúng ta khi chúng ta học…

Understanding even the BLISS of sacrifice…because of the nature of the energy of LOVE…

Hiểu ngay cả HẠNH PHÚC của sự hy sinh… vì bản chất của năng lượng TÌNH THƯƠNG…

We learn that sacrifice IS spiritual acquisition… and that the grasping of spiritual delights guarantees a delay in their acquisition…

Chúng ta học rằng sự hy sinh là sự thu nhận tinh thần… và rằng việc nắm giữ những niềm vui tinh thần đảm bảo sự trì hoãn trong việc thu nhận chúng…

How can we, the sacrificing ones give more and more and even more so that the life in lesser expression can rise…

Làm thế nào chúng ta, những người hy sinh có thể cho đi nhiều hơn và nhiều hơn nữa để cuộc sống trong biểu hiện thấp hơn có thể vươn lên…

This urge to sacrifice, to relinquish this for that, {this process is necessary in a dualistic and fragmented world, which confines our perceptions to specific things… to choose one way {Saturn always involved in processes of choice… or line of conduct and thus sacrifice another way, to lose in order eventually to gain, {the death process and the 8th house process, Scorpio—a man must lose his life in order to find it… —such is the underlying story of evolution. [2b]  This needs psychological understanding. {such a reversal of the usual attitude… It is a governing principle of life itself, {of the Identity of God Itself, and runs like a golden pattern of beauty through the dark materials of which human history is constructed. [2c]  When this urge to sacrifice {The moments of sacrifice which bring progress… in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed. [2d]   {We can say what am I hanging on to which released would benefit others and myself?

Sự thúc đẩy này để hy sinh, để từ bỏ cái này cho cái kia, {quá trình này là cần thiết trong một thế giới nhị nguyên và phân mảnh, điều này giới hạn nhận thức của chúng ta vào những điều cụ thể… để chọn một cách {Sao Thổ luôn liên quan đến các quá trình lựa chọn… hoặc dòng hành vi và do đó hy sinh một cách khác, để mất đi nhằm cuối cùng đạt được, {quá trình chết và quá trình nhà thứ 8, Hổ Cáp—một người phải mất đi cuộc sống của mình để tìm thấy nó… —đó là câu chuyện cơ bản của tiến hóa. [2b] Điều này cần sự hiểu biết tâm lý. {một sự đảo ngược của thái độ thông thường… Đó là một nguyên tắc điều khiển của chính cuộc sống, {của Bản thể của Thượng Đế, và chạy như một mẫu vàng của vẻ đẹp xuyên suốt các vật liệu tối tăm mà lịch sử nhân loại được xây dựng. [2c] Khi sự thúc đẩy này để hy sinh {Những khoảnh khắc hy sinh mang lại sự tiến bộ… để giành được, đạt được hoặc cứu rỗi những gì được coi là mong muốn được hiểu, thì toàn bộ chìa khóa cho sự phát triển của con người sẽ được tiết lộ. [2d] {Chúng ta có thể tự hỏi điều gì mà tôi đang nắm giữ mà nếu được thả ra sẽ mang lại lợi ích cho người khác và cho chính mình?

{Sometimes we have outgrown what we let drop from our hands, but at other times the desire to hold on still exists, and yet, in the face of that desire, we still let that something drop from our hands…

{Đôi khi chúng ta đã vượt qua những gì chúng ta để rơi khỏi tay, nhưng vào những lúc khác, mong muốn giữ lại vẫn tồn tại, và tuy nhiên, trước mong muốn đó, chúng ta vẫn để điều gì đó rơi khỏi tay…

This tendency or urge is something different to desire, as desire is academically understood and studied today. [2e]   {The soul has its desires and so does the Monad…. What it really connotes is the emergence of that which is most divine in man. {The Spirit wishes to give of itself until all things become Itself, or recognize themselves as Itself… It is an aspect of desire, but it is the dynamic, active side and not the feeling, sensuous side. It is the predominant characteristic of Deity. [2f]   {Deity realizes itself as disunited from the Whole and it is sacrifice which will reunite the Whole, giving up that which makes us perceive in a lesser way, for the onset of higher perceptions…

Xu hướng hoặc thúc đẩy này là điều khác với mong muốn, vì mong muốn được hiểu và nghiên cứu theo cách học thuật ngày nay. [2e] {Linh hồn có những mong muốn của nó và Chân Thần cũng vậy…. Điều mà nó thực sự ngụ ý là sự xuất hiện của những gì là thiêng liêng nhất trong con người. {Tinh thần muốn cho đi chính mình cho đến khi mọi thứ trở thành Chính mình, hoặc nhận ra chính mình như Chính mình… Đó là một khía cạnh của mong muốn, nhưng đó là mặt năng động, chủ động và không phải là mặt cảm xúc, nhạy cảm.Đó là đặc điểm nổi bật của Thượng Đế. {Thượng Đế nhận ra chính mình như bị tách rời khỏi Toàn thể và chính sự hy sinh sẽ tái hợp Toàn thể, từ bỏ những gì khiến chúng ta nhận thức theo cách thấp hơn, để mở ra những nhận thức cao hơn…

Spiritual status is achieved through sacrifice—and those who are lowly and yet should be higher, have not sacrificed…

Trạng thái tinh thần đạt được thông qua sự hy sinh—và những ai thấp kém mà vẫn nên cao hơn, chưa hy sinh…

The Divine Plan forces sacrifice, in every sacrifice petal—but the voluntary sacrifice is far more powerful for progress…

Thiên Cơ buộc phải hy sinh, trong mỗi cánh hoa hy sinh—nhưng sự hy sinh tự nguyện thì mạnh mẽ hơn nhiều cho sự tiến bộ…

The one who gives most shall be highest…

Người cho đi nhiều nhất sẽ là người cao nhất…

It is of interest, however, for students of esotericism to note that this urge to salvage and to sacrifice in order to redeem works out in different ways in the different planetary schemes. [2g] Each ray Lord of a scheme, {note that a Planetary Logos is known as a ray Lord manifesting through a planet, expresses this urge in varying ways, and each expression is so different from the others that it is hard for a human being to do more than sense that method which exists on our own particular planet. [2h]   {Hard to understand even on our planet, let alone others… Initiates know that the varying psychological characteristics of the ray Lives condition most peculiarly the method of expressing sacrifice, during the course of manifestation. [2i]   {But all DO express sacrifice in one way or another… The great stream of living energy which is manifesting itself in our Earth scheme of evolution is conditioned by a temperament, an attitude and an orientation that is that of a “Divine Rebel.” [2j]   {We have to remember that the monadic ray of our Planetary Logos is the first…and it does not inherently brook restraint…Were the Planetary Logos of the Earth and His expressions in the last solar system, involved in the rebellion within that system? It is only rebellion that produces pain and sorrow, but this rebellion is inherent and [98]  innate in the Deity of our planet Himself, the “One in Whom we live and move and have our being.” [2k]   {True acquiescence does not cause pain—the devas are acquiescent. Pain and sorrow relate to a rending and tearing process—and rebellion against confining form, causes a tearing, a rending of that form…. Rebellion and friction are inseparable… It is, therefore, a tendency greater than the individual unit. {We all as earthlings are imbued by this tendency towards rebellion…. It is only possible to express this amazing truth about the planetary Life under a veil of symbology and in terms of human thought. [2l]  In this there is ever a risk, for men interpret all they read and hear and experience in terms of themselves. {this is anthropomorphism…

Tuy nhiên, điều thú vị đối với những sinh viên của huyền bí học là lưu ý rằng sự thúc đẩy này để cứu rỗi và hy sinh nhằm cứu rỗi diễn ra theo những cách khác nhau trong các kế hoạch hành tinh khác nhau.Mỗi Đấng Chúa Tể của một kế hoạch, {lưu ý rằng một Hành Tinh Thượng đế được biết đến như một Đấng Chúa Tể thể hiện qua một hành tinh, bày tỏ sự thúc đẩy này theo những cách khác nhau, và mỗi biểu hiện thì khác biệt đến mức khó cho một con người có thể cảm nhận được phương pháp tồn tại trên hành tinh cụ thể của chúng ta. {Khó để hiểu ngay cả trên hành tinh của chúng ta, chưa nói đến những hành tinh khác… Các người điểm đạo biết rằng các đặc điểm tâm lý khác nhau của các Chân Thần điều kiện một cách đặc biệt phương pháp biểu hiện sự hy sinh, trong suốt quá trình biểu hiện. [2i] {Nhưng tất cả đều thể hiện sự hy sinh theo một cách nào đó… Dòng năng lượng sống lớn lao đang thể hiện chính mình trong kế hoạch tiến hóa của Trái Đất chúng ta được điều kiện bởi một tâm trạng, một thái độ và một định hướng mà là của một “Người Nổi Loạn Thiêng Liêng.” [2j] {Chúng ta phải nhớ rằng dòng cung của Chân Thần của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là dòng đầu tiên…và nó không vốn có sự kiềm chế…Liệu Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất và các biểu hiện của Ngài trong hệ mặt trời trước đó, có liên quan đến cuộc nổi loạn trong hệ đó không? Chỉ có nổi loạn mới tạo ra đau đớn và nỗi buồn, nhưng cuộc nổi loạn này vốn có và [98] bẩm sinh trong Thượng Đế của hành tinh chúng ta, “Người mà chúng ta sống, di chuyển và có sự tồn tại.” {Sự đồng thuận thực sự không gây ra đau đớn—các thiên thần là những người đồng thuận.Đau đớn và nỗi buồn liên quan đến một quá trình xé rách và xé nát—và sự nổi loạn chống lại hình tướng hạn chế, gây ra một sự xé rách, một sự xé nát của hình tướng đó…. Nổi loạn và ma sát là không thể tách rời… Do đó, đó là một xu hướng lớn hơn đơn vị cá nhân. {Tất cả chúng ta như những người sống trên Trái Đất đều được thấm nhuần bởi xu hướng này hướng tới nổi loạn…. Chỉ có thể diễn đạt sự thật tuyệt vời này về cuộc sống hành tinh dưới một lớp biểu tượng và bằng các thuật ngữ của tư duy con người. [2l] Trong điều này luôn có một rủi ro, vì con người diễn giải tất cả những gì họ đọc và nghe và trải nghiệm theo cách của chính họ. {điều này là nhân cách hóa…

{Relating sacrifice, pain, sorrow and REBELLION… Rebellion leads to revolution.

{Liên kết giữa sự hy sinh, đau đớn, nỗi buồn và NỔI LOẠN… Nổi loạn dẫn đến cách mạng.

The Old Commentary says: {About our Planetary Logos, the “Divine Rebel”.

Kinh Luận Cổ nói: {Về Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, “Người Nổi Loạn Thiêng Liêng”.

“He entered into life and knew it to be death. {the life of the cosmic physical plane, [3a]

“Ngài đã bước vào cuộc sống và biết rằng đó là cái chết. {cuộc sống của cõi vật lý vũ trụ,

“He took a form and grieved to find it dark.

“Ngài đã nhận một hình tướng và buồn bã khi thấy nó tối tăm.

“He drove Himself forth from the secret place {he came forth into incarnation and found it dark… He left the realm of the cosmic soul… and sought the place of light, and light revealed all that he sought the least. {extreme confinement and tamas, inertia, and non-responsiveness… [3b]

“Ngài đã tự đẩy mình ra khỏi nơi bí mật {Ngài đã bước vào nhập thể và thấy nó tối tăm… Ngài đã rời khỏi cõi của linh hồn vũ trụ… và tìm kiếm nơi ánh sáng, và ánh sáng đã tiết lộ tất cả những gì Ngài tìm kiếm ít nhất. {sự giam cầm cực đoan và tamas, quán tính, và sự không phản ứng…

“He craved permission to return. {this is a hierarchical Universe….

“Ngài đã khao khát sự cho phép để trở về. {đây là một Vũ trụ phân cấp….

“He sought the Throne on high and Him who sat thereon. {This would be a Solar Logos He said ‘I sought not this. I looked for peace, for light, for scope to serve, to prove my love and to reveal my power. {the environment resists that revelation…that love…and all is hampered and non-receptive… Light there is none. Peace is not found. Let me return.’ [3c]

“Ngài đã tìm kiếm Ngai Vàng trên cao và Ngài ngồi trên đó. {Điều này sẽ là một Hành Tinh Thượng đế Ngài đã nói ‘Tôi không tìm kiếm điều này.Tôi tìm kiếm hòa bình, ánh sáng, không gian để phụng sự, để chứng minh tình yêu của tôi và để tiết lộ sức mạnh của tôi. {môi trường chống lại sự tiết lộ đó…tình yêu đó…và tất cả đều bị cản trở và không tiếp nhận… Không có ánh sáng. Hòa bình không được tìm thấy. Hãy để tôi trở về.’ [3c]

But He Who sat upon the Throne turned not his head. He seemed not e’en to listen nor to hear. But from the lower sphere of darkness and of pain a voice came forth and cried: ‘We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God. [3d] [I can find no other words except these last two to express the ancient symbol from which I am translating.] Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. Raise us into the light and make the sacrifice. {The Solar Logos did not have to speak these words. Words were spoken appealing to the compassion of the Planetary Logos…. Break down for us the prison wall and enter into pain.’ {Come forth under the obligation of Saturn and act as the liberating Uranus… [3e]

Nhưng Ngài, người ngồi trên Ngai Vàng không quay đầu lại. Ngài dường như không nghe thấy hay nghe thấy gì cả. Nhưng từ cõi tối tăm và đau đớn, một giọng nói vang lên và kêu lên: ‘Chúng tôi chịu đựng ở đây. Chúng tôi tìm kiếm ánh sáng. Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng Đế đang đến. [3d] [Tôi không thể tìm thấy từ nào khác ngoài hai từ cuối cùng này để diễn đạt hình tượng cổ xưa mà tôi đang dịch.] Nâng chúng tôi lên Thiên Đàng. Nhập vào, Ôi Ngài, ngôi mộ. Nâng chúng tôi vào ánh sáng và thực hiện sự hy sinh. {Hành Tinh Thượng đế không cần phải nói những lời này. Những lời được nói ra kêu gọi lòng từ bi của Hành Tinh Thượng đế…. Phá vỡ cho chúng tôi bức tường nhà tù và nhập vào nỗi đau.’ {Hãy bước ra dưới nghĩa vụ của Sao Thổ và hành động như Sao Thiên Vương giải phóng…

The Lord of Life returned. He liked it not, {He held his post and yet sustained the inner attitude of REBELLION…. and hence the pain.”

Đấng Chúa Tể của Sự sống đã trở lại. Ngài không thích điều đó, {Ngài giữ vị trí của mình và vẫn duy trì thái độ nội tâm của SỰ NỔI LOẠN…. và do đó là nỗi đau.”

{Sanat Kumara is a “Salvational Emanation” at a later stage in the planetary process…

{Sanat Kumara là một “Sự Xuất Lộ Cứu Rỗi” ở giai đoạn sau trong quá trình hành tinh…

The same conditions which blend the Law of Sacrifice with pain and sorrow and difficulty are found also on the planet Mars and on the planet Saturn. {On the other planets, to sacrifice is not to fall into pain, sorrow and difficulty… [3f] They are not found on the other planets. Those who have read The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire with understanding know that our Earth is not a sacred planet. However, Saturn, Mars and our Earth constitute, in a curious esoteric manner, {signals the world of the Monad… the [99]  personality of a stupendous ray Life, Whose energy is that of the third ray. [3g] There are, as has been stated elsewhere, seven sacred planets but ten planetary schemes, and in three cases, (those of the three major rays {probably working through the “Three Persons of the Logoic Trinity”) three planets constitute the personality of each ray Life. [3h] Some esoteric thinkers believe that there are twelve planets to be considered in our solar system, and there is a basis for their conclusion. [3i]  The personality of this third ray Life {we have to assume is NOT a synthesizing planet functions through the following planets:

Những điều kiện giống nhau kết hợp Định luật Hy sinh với đau đớn, nỗi buồn và khó khăn cũng được tìm thấy trên hành tinh Sao Hỏa và hành tinh Sao Thổ. {Trên các hành tinh khác, việc hy sinh không dẫn đến đau đớn, nỗi buồn và khó khăn… Chúng không được tìm thấy trên các hành tinh khác.Những ai đã đọc Giáo Lý Bí NhiệmLuận về Lửa Vũ Trụ với sự hiểu biết biết rằng Trái Đất của chúng ta không phải là một hành tinh thiêng liêng. Tuy nhiên, Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất của chúng ta cấu thành, theo một cách huyền bí kỳ lạ, {đánh dấu thế giới của Chân Thần… các [99] phàm ngã của một sự sống cung vĩ đại, Năng lượng của nó là của dòng cung thứ ba. [3g] Có, như đã được nêu ở nơi khác, bảy hành tinh thiêng liêng nhưng mười kế hoạch hành tinh, và trong ba trường hợp, (các dòng cung chính {có thể làm việc thông qua “Ba Ngôi của Tam Vị Thượng Đế”) ba hành tinh cấu thành cá tính của mỗi cuộc sống ray. [3h] Một số nhà tư tưởng huyền bí tin rằng có mười hai hành tinh cần được xem xét trong hệ mặt trời của chúng ta, và có một cơ sở cho kết luận của họ. [3i] Cá tính của cuộc sống ray thứ ba này {chúng ta phải giả định không phải là một hành tinh tổng hợp hoạt động thông qua các hành tinh sau:

{it is not necessarily that Saturn IS the mental body of this great Third ray Life, but that the mental body of this Life, expresses through Saturn…

{không nhất thiết rằng Sao Thổ LÀ thể trí của cuộc sống ray vĩ đại này, nhưng thể trí của cuộc sống này, thể hiện qua Sao Thổ…

1. The mental body expresses itself through the medium of the planet Saturn. {and we are not told which vehicles of Saturn receive the influence of the mental body of this Third ray Life… [3j]

1. Thể trí thể hiện qua trung gian của hành tinh Sao Thổ. {và chúng ta không được cho biết những phương tiện nào của Sao Thổ nhận ảnh hưởng của thể trí của cuộc sống ray thứ ba này…

2. The astral body of this Third ray Life expresses itself through the planet Mars.

2. Thể cảm dục của cuộc sống ray thứ ba này thể hiện qua hành tinh Sao Hỏa.

3. The physical body expresses itself through the planet Earth. [3k]

3. Thể xác thể hiện qua hành tinh Trái Đất. [3k]

The potency of this Life is such that He requires three complete schemes—all three closely allied and interdependent—through which to express Himself. Uranus, Jupiter and Venus are similarly allied in order to manifest or express a great Life. {I assume that we are speaking of a second ray Life… {I assume that we are speaking of a second ray Life…. I also think that Neptune, Vulcan and Pluto are three more connected with a great First ray Life… It could also be, Neptune, Pluto, and Vulcan (physical plane connection) [3l]

Sức mạnh của cuộc sống này là như vậy mà Ngài cần ba kế hoạch hoàn chỉnh—tất cả ba đều liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau—để thể hiện chính mình.Sao Thiên Vương, Sao Mộc và Sao Kim cũng liên kết tương tự để thể hiện hoặc biểu hiện một cuộc sống vĩ đại. {Tôi giả định rằng chúng ta đang nói về một cuộc sống ray thứ hai… {Tôi giả định rằng chúng ta đang nói về một cuộc sống ray thứ hai…. Tôi cũng nghĩ rằng Sao Hải Vương, Vulcan và Sao Diêm Vương là ba hành tinh khác có liên quan đến một cuộc sống ray thứ nhất vĩ đại… Có thể là, Sao Hải Vương, Sao Diêm Vương, và Vulcan (kết nối cõi vật lý)

{END of LOTSWC S, EP II p. 99

{KẾT THÚC của LOTSWC S, EP II tr. 99

Beginning with LOTSWC 6, EP II p. 99

Bắt đầu với LOTSWC 6, EP II tr. 99

Commentary 5

Hi everybody. We are beginning with Laws of the Soul webinar commentaries, Esoteric Psychology II, number five, we’re on page 95, and we’re in the Law of Sacrifice. DK gives a lot of attention to each one of these laws in this particular book, this section is over 100 pages in the book. So, it’s the most significant study for us. We will go on in this fifth section.

Xin chào tất cả mọi người. Chúng ta bắt đầu với các lời bình cho hội thảo trực tuyến về Các Định luật của Linh hồn, Tâm Lý Học Nội Môn II, số năm; chúng ta đang ở trang 95, và đang nói về Định luật Hy sinh. Chân sư DK dành rất nhiều sự chú ý cho từng định luật trong quyển sách này; riêng phần này trong sách dài hơn 100 trang. Vì vậy, đây là phần học quan trọng nhất đối với chúng ta. Chúng ta sẽ tiếp tục trong phần thứ năm này.

This Law of Sacrifice and the impulse to give

Định luật Hy sinh này và xung lực hiến tặng

Remember the impulse of giving is the major theme of the Law of Sacrifice

Hãy nhớ rằng xung lực hiến tặng là chủ đề chính của Định luật Hy sinh

…can also be traced throughout every kingdom in nature. [1a]

… cũng có thể được lần theo xuyên khắp mọi giới trong thiên nhiên. [1a]

It is typified for us in the basic sacrifices which take place between the various kingdoms. The essential qualities of the minerals and chemicals of the Earth are an instance in point. [1b]  

Nó được hình mẫu hóa cho chúng ta trong những hy sinh căn bản diễn ra giữa các giới khác nhau. Các phẩm tính thiết yếu của các khoáng chất và hóa chất của Trái Đất là một ví dụ điển hình. [1b]

They are needed by other forms of life and are donated to man through the medium of the vegetable kingdom

Chúng được các hình tướng sự sống khác cần đến và được hiến tặng cho con người qua trung giới của giới thực vật

Which, of course, absorb them

Giới này, dĩ nhiên, hấp thụ chúng

…and through the water which he drinks,

… và qua nước mà con người uống,

In which the minerals may be dissolved,

Trong đó các khoáng chất có thể hòa tan,

…and thus, even in the first and densest kingdom in nature (whose consciousness is so far removed from ours) does this process of giving hold good. [1c]

… và như vậy, ngay trong giới thứ nhất và đậm đặc nhất trong thiên nhiên (vốn có tâm thức cách xa tâm thức của chúng ta) tiến trình hiến tặng này vẫn đúng. [1c]

But the tracing of this Law of Sacrifice in the subhuman kingdoms is not possible [Page 96] here, and we must confine our attention to the world of human living and consciousness. [1d]

Nhưng việc lần theo Định luật Hy sinh trong các giới tiền nhân loại là điều không thể thực hiện [ Page 96] tại đây, và chúng ta phải giới hạn sự chú ý vào thế giới sống và tâm thức của con người. [1d]

Of course, we can understand that the plant life sacrifices itself to the animal kingdom and to the human Kingdom in terms of food essentially, and to help to provide the oxygen which can be breathed and can sustain those forms of life. The animal kingdom is not meant to be sacrificed to the fourth kingdom in terms of food, but in terms of labor, and there is a strange sense also in which the human Kingdom is sacrificed to the fifth kingdom, the kingdom of souls. We’re told in Rule six in the rays and the Initiations that the fifth feeds upon the fourth, especially all that is of value, produced by the fourth, all that is the higher product of the fourth.

Dĩ nhiên, chúng ta có thể hiểu rằng sự sống thực vật tự hy sinh cho giới động vật và cho giới nhân loại chủ yếu dưới dạng thực phẩm, và giúp cung cấp dưỡng khí để có thể hít thở và duy trì các hình tướng sự sống ấy. Giới động vật không được định là hy sinh cho giới thứ tư về phương diện thực phẩm, mà về phương diện lao lực; và cũng có một ý nghĩa lạ nữa, theo đó giới nhân loại hy sinh cho giới thứ năm, giới các linh hồn. Chúng ta được cho biết trong Quy luật sáu trong các Cung và các Cuộc Điểm đạo rằng giới thứ năm nuôi mình bằng giới thứ tư, nhất là mọi gì có giá trị do giới thứ tư sản sinh, mọi gì là sản phẩm cao hơn của giới thứ tư.

Alright, we come to a new section now, and this is the Work of Salvage or Salvation, generally taking something in an apparently unusable condition and finding a way to use and redeem, finding a way to use and redeem the apparently useless.

Giờ chúng ta sang một phần mới, đó là Công trình Cứu vớt hay Cứu rỗi, nói chung là lấy một cái dường như không dùng được và tìm cách sử dụng và cứu chuộc nó.

The Law of Sacrifice means also salvage

Định luật Hy sinh cũng có nghĩa là cứu vớt

To find that which is redeemable, regardless of the condition, and even in the case of the Black Lodge, if there is any slight tendency or energy in the energy system of such individuals which is redeemable, and which tends towards the good, then they are not totally lost, we are told, and some effort is made to build upon that which is still redeemable. So,

Là tìm ra điều gì còn có thể cứu chuộc, bất kể tình trạng, và ngay cả trong trường hợp Hắc Đoàn, nếu trong hệ thống năng lượng của những cá nhân như vậy có bất kỳ khuynh hướng hay năng lượng nào còn có thể cứu chuộc, và có khuynh hướng hướng thiện, thì chúng không hoàn toàn mất mát, như chúng ta được nói, và một số nỗ lực được thực hiện để xây dựng trên cái vẫn còn có thể cứu chuộc. Vì vậy nên,

The Law of Sacrifice means also salvage and underlies all the evolutionary processes and particularly does this emerge into clear significance in the human family. [1e]

Định luật Hy sinh cũng có nghĩa là cứu vớt và là nền tảng cho mọi tiến trình thăng thượng tiến hoá, và điều này đặc biệt hiển lộ với thâm nghĩa rõ ràng trong gia đình nhân loại.

The instinct to betterment, the urge to progress (physical, emotional and intellectual), the effort to ameliorate conditions, the tendency to philanthropy, which is so rapidly taking hold of the world,

Bản năng hướng đến cải thiện, thôi thúc tiến bộ (thể xác, cảm xúc và trí tuệ), nỗ lực cải thiện các điều kiện, khuynh hướng bác ái, vốn đang nhanh chóng chiếm lĩnh thế giới,

This we know is a blending of the second aspect of divinity and the third aspect of divinity,

Điều này, chúng ta biết, là sự hòa trộn của Phương diện thứ hai của Thiêng liêng và Phương diện thứ ba của Thiêng liêng,

…and the sense of responsibility which does make men realise that they are their brother’s keeper,

… và ý thức trách nhiệm vốn khiến con người nhận ra rằng họ là kẻ trông nom anh em mình,

Of course, Cain was asked where is his brother? He had killed his brother, of course in occult meaning to all that, in terms of the chakras, probably the relationship between the head center and the solar plexus center, between Vulcan and Mars, but Cain answered, “Am I my My Brother’s Keeper?”, and the answer here given by DK is “Yes”.

Dĩ nhiên, Cain bị hỏi “Anh của ngươi đâu?”. Y đã giết anh mình; dĩ nhiên, có một ý nghĩa huyền môn cho tất cả điều đó, xét về các luân xa, có lẽ là mối liên hệ giữa luân xa đầu và luân xa tùng thái dương, giữa Vulcan và Sao Hỏa; nhưng Cain đáp: “Há ta là kẻ giữ huynh đệ của tôi sao?”, và câu trả lời Chân sư DK đưa ra ở đây là “Phải”.

…are all expressions of this sacrificial instinct.

… đều là những biểu lộ của bản năng hy sinh này.

So, in other words, we rise to higher quality through sacrifice. We give up something for a general improvement in our vibrational state. This is all a question of values, and of what lower values can be sacrificed for the emergence of higher values. [1f]

Nói cách khác, chúng ta vươn lên phẩm tính cao hơn qua hy sinh. Chúng ta từ bỏ điều gì đó để có một cải thiện chung trong trạng thái rung động của mình. Tất cả là vấn đề các giá trị, và những giá trị thấp nào có thể được hy sinh để những giá trị cao hơn xuất hiện.

This factor, though not unrecognised by modern psychology, is of far wider significance than has yet been realised. [1g]

Yếu tố này, tuy không phải là điều bị không nhận ra bởi tâm lý học hiện đại, nhưng có tầm thâm nghĩa rộng lớn hơn rất nhiều so với những gì cho đến nay đã được thấu hiểu. [1g]

This factor is the tendency towards betterment, because there is no betterment unless something lower is sacrificed for something higher, so this factor is,

Yếu tố này là xu hướng hướng đến cải thiện, vì không có sự cải thiện nào nếu không có cái thấp bị hy sinh cho cái cao; vậy nên yếu tố này là,

{this sacrificial tendency towards betterment…

{khuynh hướng hy sinh hướng đến cải thiện…

If we can call it that.

Nếu chúng ta có thể gọi như thế.

So, we have been dealing with the idea of being one’s brother’s keeper.

Vì vậy, chúng ta vừa bàn về ý niệm làm kẻ trông nom anh em mình.

All these are expressions of the sacrificial instinct because one has to give up the tendencies of one’s lunar vehicles in order to achieve group consciousness.

Tất cả những điều này là các biểu lộ của bản năng hy sinh, bởi vì người ta phải từ bỏ các khuynh hướng của những thể nguyệt tính của mình để đạt được tâm thức nhóm.

So, the sense of responsibility, philanthropy, ameliorating conditions, all these tend towards group consciousness, which is the great factor in all these Laws of the Soul. This is the sacrificial instinct with which as souls, we are endowed, just as the instinct towards acquisition is native to the lunar vehicles, in inherent selfishness, the so-called original sin, we might say, is the sin of selfishness inherent in the lunar vehicles.

Do đó, ý thức trách nhiệm, lòng bác ái, việc cải thiện các điều kiện — tất cả đều hướng đến tâm thức nhóm, vốn là yếu tố vĩ đại trong mọi Định luật của Linh hồn. Đây là bản năng hy sinh mà với tư cách là các linh hồn, chúng ta được phú bẩm, cũng như bản năng chiếm hữu là bẩm sinh nơi các thể nguyệt tính; tính ích kỷ cố hữu, cái gọi là tội nguyên sơ, có thể nói, là tội của tính ích kỷ vốn có trong các thể nguyệt tính.

So, this factor, the sacrificial instincts, is not recognized by modern psychology, is of far wider significance than has yet been realized. This is instilled in us from the very highest sources. It is inherent in the monad.

Vì thế, yếu tố này, các bản năng hy sinh, tuy không được tâm lý học hiện đại nhận ra đúng mức, nhưng có tầm thâm nghĩa rộng lớn hơn nhiều so với những gì đã được thấu hiểu. Điều này được gieo vào chúng ta từ những nguồn rất cao. Nó vốn có trong chân thần.

This instinctual tendency is the one that itself governs the Law of Rebirth.

Xu hướng bản năng này chính là điều tự nó cai quản Định luật Tái sinh.

Constantly to uplift and redeem and improve the condition of the lesser lives. So, it’s the elevation of vibration.

Không ngừng nâng đỡ, cứu chuộc và cải thiện tình trạng của các sự sống thấp hơn. Do đó, là sự nâng cao rung động.

It is the expression of a still greater factor in the creative process. [1h]

Nó là biểu lộ của một yếu tố còn lớn hơn nữa trong tiến trình sáng tạo. [1h]

It is the major determining impulse which impelled the Soul of God Himself to enter into form life;

Đ ó là xung lực quyết định chủ yếu đã thúc đẩy Linh hồn của Thượng đế Chính Ngài đi vào sự sống trong hình tướng;

We might say, the pervading of form life by the consciousness of God,

Chúng ta có thể nói, đó là sự thấm nhập sự sống trong hình tướng bởi tâm thức của Thượng đế,

…which impels life, upon the involutionary arc, to progress down into matter, producing thus the immanence of God. [1i]

… vốn thôi thúc sự sống, trên cung giáng hạ tiến hoá, tiến xuống vật chất, nhờ đó tạo nên tính nội tại của Thượng đế. [1i]

And this is the first part of the descent of the monad, but also before that, descent of the Three Aspects of Divinity and the Second Aspect of Divinity.

Và đây là phần đầu của sự giáng hạ của chân thần, nhưng trước đó nữa, là sự giáng hạ của Ba Phương diện của Thiêng liêng và Phương diện thứ hai của Thiêng liêng.

It is also that the sacrificial instinct, the instinct of giving, the instinct of making sacred.

Đó cũng là bản năng hy sinh, bản năng hiến tặng, bản năng làm cho sự sống trở nên thiêng liêng.

It is also that which drives humanity forward into its wild struggle for material well-being. [1j]

Nó cũng là cái thúc đẩy nhân loại lao về phía trước trong cuộc tranh đấu dữ dội vì an sinh vật chất. [1j]

And let us say that

Và chúng ta hãy nói rằng

{This is sensed as an improvement over conditions as they were before—stark, difficult, inhospitable…

{Điều này được cảm nhận như một sự cải thiện so với các điều kiện trước kia — trơ trọi, khó khăn, khắc nghiệt…

It is that too which urges man eventually to turn his back upon the “world, the flesh and the devil,”

Nó cũng là cái thúc giục con người rốt cuộc quay lưng lại với “thế gian, xác thịt và ma quỷ,”

The three aspects of divinity

Ba phương diện của thiêng liêng

…as the New Testament puts it, and orient himself to the things of spiritual import. [1k]

… như Tân Ước nói, và hướng mình về những điều có ý nghĩa tinh thần. [1k]

So, there is an illusionary descent of consciousness into matter much at the expense of consciousness, but for the general upliftment in matter. This general infusion of a higher aspect into a lower aspect.

Vì vậy, có một sự giáng hạ ảo tưởng của tâm thức vào vật chất, phần nhiều là với cái giá phải trả của tâm thức, nhưng vì sự nâng đỡ chung nơi vật chất. Đó là sự thấm nhuần phổ quát của một phương diện cao vào một phương diện thấp.

The prodigal son sacrificed the Father’s home when he chose to wander forth into the far country.

Người con hoang đàng đã hy sinh mái ấm của Người Cha khi y chọn lang bạt vào miền xa xăm.

Now, this we can say, this is a sacrificial gesture,

Giờ, chúng ta có thể nói, đây là một cử chỉ hy sinh,

He wasted and sacrificed his substance through the use he made of the experience of life on earth, until he had exhausted all his resources and there was naught left but the eventual sacrifice of what he held so dear, but had discovered to be so unsatisfying. [1l]

Y đã phung phí và hy sinh tài sản của mình qua cách y sử dụng những kinh nghiệm của đời sống nơi trần gian, cho đến khi y cạn kiệt mọi nguồn lực và không còn gì ngoài việc rốt cuộc phải hy sinh điều y hằng quý mến, nhưng đã nhận ra là hoàn toàn không thỏa mãn. [1l]

Well, this is the story of every one of us. We sacrifice our high consciousness and energy prerogatives of the higher planes in order to redeem the lower lives, and then we sacrifice our attachment to those lower lives returning, and as we return, lifting them as well on the way to the Father’s home. The red cattle of Geryon, in the Labors of Hercules, the red cattle, prompted always by desire but uplifted in a chalice towards a higher type of life. So, some things were considered to be extremely dissatisfying, and did we really long for these things? Was it desire that drove us into the lower worlds, or was it the high Piscean, Virgoan, second ray, sacrificial urge from the monadic plane?

Đây là câu chuyện của mỗi người chúng ta. Chúng ta hy sinh đặc quyền về tâm thức và năng lượng cao của các cõi giới cao hơn để cứu chuộc các sự sống thấp, rồi lại hy sinh sự bám chấp vào những sự sống thấp ấy để quay về, và khi quay về, nâng chúng lên trên đường trở lại Nhà của Cha. Đàn bò đỏ của Geryon trong Các Lao công của Hercules — đàn bò đỏ, luôn bị dục vọng thúc đẩy nhưng được nâng lên trong một chén thánh hướng tới một lối sống cao hơn. Vì vậy, có những điều trở nên vô cùng không thỏa mãn; và chúng ta có thực sự ao ước những điều đó chăng? Có phải dục vọng đã xô đẩy chúng ta vào các cõi thấp, hay đó là xung lực hy sinh mang tính Song Ngư, Xử Nữ, cung hai, cao cả, đến từ cõi chân thần?

For these things of lesser values, he had sacrificed the higher values, and had to return again whence he came. Such is the life story of all the [Page 97] sons of God who came into incarnation, as given to us under the symbolism of the Bible. But the theme in all the world Bibles is the same. [2a]

Vì những điều có giá trị thấp hơn ấy, y đã hy sinh các giá trị cao hơn, và phải trở lại nơi y đã ra đi. Đó là câu chuyện đời sống của tất cả [ Page 97] những Con của Thượng đế đến lâm phàm, như đã được trình bày cho chúng ta qua biểu tượng trong Kinh Thánh. Nhưng chủ đề trong mọi Kinh Thánh trên thế giới đều như nhau. [2a]

So, we are involved in a sacrificial pilgrimage, sacrificing the high for the low, and then again, the low for the high, all in the attempt to make all aspects of life sacred correspondent with Divine Purpose, we can say.

Vì vậy, chúng ta đang dấn mình trong một cuộc hành hương hy sinh: hy sinh cái cao cho cái thấp, rồi lại hy sinh cái thấp cho cái cao — tất cả nhằm làm cho mọi phương diện của sự sống trở nên thiêng liêng, tương ứng với Thiên Ý, có thể nói như vậy.

{We are involved in a sacrificial pilgrimage… All in the attempt to make all aspects of life sacred— correspondent with Divine Purpose

{Chúng ta đang dấn mình trong một cuộc hành hương hy sinh… Tất cả nhằm làm cho mọi phương diện của sự sống trở nên thiêng liêng — tương ứng với Thiên Ý

Well, could they not work their way up without the sacrifice? Well, I suppose, in a way, given the nature of life, they could, after all, a man in other chains and in other solar systems, works his way into the higher world slowly, without the intervention of the Solar Angels. And yet, millions of years of pain are saved because of the giving of these higher Beings. I suppose that once we are in that state of realizing the unity, the inseparability of all lives, there was a deep spiritual longing to see an enhancement of that unity and its realization on the part of many lives who do not yet realize it, bringing them nearer to the goal through a divine intervention.

Họ há không thể tự mình vươn lên mà không cần hy sinh sao? Có thể, theo một nghĩa nào đó, với bản tính của Sự sống, họ có thể; rốt cuộc, con người ở những dãy khác và trong những hệ mặt trời khác, tự mình tiến vào các cõi cao hơn một cách chậm rãi, không có sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần. Và tuy vậy, hàng triệu năm đau khổ đã được tiết giảm nhờ sự hiến tặng của các Đấng Cao Cả này. Tôi nghĩ rằng một khi chúng ta ở trong trạng thái nhận ra tính hợp nhất, sự bất khả phân ly của mọi sự sống, sẽ có một khát vọng tinh thần sâu xa nhằm thấy sự hợp nhất ấy được tăng cường và được nhiều sự sống — vốn chưa tự nhận ra — cùng nhận ra, đưa họ đến gần mục tiêu hơn qua một sự can thiệp thiêng liêng.

We have been sometimes talking about sacrifice through divine intervention. It is the story of the Solar Angels, of Sanat Kumara, of our Planetary Logos and of the world Savior, whoever that world savior might be… There was a deliberate act of intervention in the lives of those who otherwise would suffer longer in their ignorant and hampered condition.

Đôi khi chúng ta đã nói về hy sinh qua sự can thiệp thiêng liêng. Đó là câu chuyện của các Thái dương Thiên Thần, của Sanat Kumara, của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và của Đấng Cứu Thế của thế giới, bất kể Đấng Cứu Thế ấy là ai… Đã có một hành vi can thiệp có chủ ý vào đời sống của những kẻ nếu không thì sẽ còn chịu khổ lâu dài trong tình trạng vô minh và bị ngăn trở của họ.

{Sacrifice through Divine Intervention: Solar Angels, of Sanat Kumara, of our Planetary Logos, and of the World Saviour…

{Hy sinh qua Sự Can Thiệp Thiêng Liêng: các Thái dương Thiên Thần, Sanat Kumara, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và Đấng Cứu Thế của Thế giới…

So, we have to begin to understand the beauty of sacrifice.

Vì vậy, chúng ta phải bắt đầu thấu hiểu vẻ đẹp của hy sinh.

This must impress itself upon us as we study, and this form of relinquishment must be understood in terms of understanding even the bliss of sacrifice, because of the nature of the energy of love. It is a loving gesture which contributes to the unification of all that the sacrificing one touches.

Điều này phải tự in đậm vào chúng ta khi học, và hình thái xả ly này phải được hiểu theo nghĩa thấu hiểu ngay cả phúc lạc của hy sinh, bởi bản chất của năng lượng Tình thương. Đó là một cử chỉ yêu thương góp phần hợp nhất mọi gì người hy sinh chạm đến.

The beauty of Sacrifice… this must impress itself upon us as we study…

Vẻ đẹp của Hy sinh… điều này phải tự in đậm vào chúng ta khi học…

Understanding even the BLISS of sacrifice… because of the nature of the energy of LOVE…

Thấu hiểu ngay cả PHÚC LẠC của hy sinh… bởi bản chất của năng lượng TÌNH THƯƠNG…

I suppose there comes a time in our evolution when we are actually looking for the next sacrifice that we can possibly make rather than the next acquisition. We actually learn that sacrifice is spiritual acquisition, and that we grow grasping of spiritual delights, guarantees a delay in their acquisition.

Sẽ có lúc trong tiến hóa khi chúng ta thực sự tìm kiếm hy sinh kế tiếp mà mình có thể thực hiện, hơn là sự chiếm hữu kế tiếp. Chúng ta thật sự học rằng hy sinh là sự thủ đắc tinh thần, và rằng sự nắm bắt các thú lạc tinh thần bảo đảm sự chậm trễ trong việc thủ đắc chúng.

We learn that sacrifice IS spiritual acquisition… and that the grasping of spiritual delights guarantees a delay in their acquisition…

Chúng ta học rằng hy sinh CHÍNH LÀ sự thủ đắc tinh thần… và rằng sự nắm bắt các thú lạc tinh thần bảo đảm sự chậm trễ trong việc thủ đắc chúng…

Well, this is a great reversal of the attitude of the personality and something that we have to get used to, and it does really begin to dawn upon us. One just gets flickers, glimmers of what must be the sacrificial consciousness of the Christ and of the Masters. How can we give more? How can we sacrifice more to elevate the lower lives.

Đây là một cuộc đảo chiều lớn trong thái độ của phàm ngã và là điều chúng ta phải làm quen; và điều đó thực sự bắt đầu rạng ra trong ta. Người ta chỉ thoáng thấy, thoáng cảm nhận cái gọi là tâm thức hy sinh của Đức Christ và của các Chân sư. Làm sao chúng ta có thể hiến tặng nhiều hơn? Làm sao chúng ta có thể hy sinh nhiều hơn để nâng cao các sự sống thấp?

How can we, the sacrificing ones give more and more, and even more, so that the lesser lives, [No, I should say] life in lesser expression can rise? (There really is only one Being in all of the apparent others, so we can’t say in the other forms of life, there is no other, but there is a an apparent other, that we must deal with when we are subject to the world illusion).

Làm sao chúng ta, những người hy sinh, có thể cho đi nhiều hơn, còn nhiều hơn nữa, để sự sống trong biểu lộ thấp hơn có thể vươn lên? (Thực ra chỉ có một Đấng trong mọi “kẻ khác” dường như là nhiều; nên chúng ta không thể nói trong các hình tướng sự sống khác, bởi chẳng có kẻ khác nào; nhưng có một cái dường như khác mà chúng ta phải đối xử khi còn bị thế gian ảo tưởng chi phối).

How can we, the sacrificing ones give more and more and even more so that the life in lesser expression can rise…

Làm sao chúng ta, những người hy sinh, có thể cho đi nhiều hơn, còn nhiều hơn nữa, để sự sống trong biểu lộ thấp hơn có thể vươn lên…

So, as Master Morya says, when indeed have you ever become less through sacrifice? The impulse towards giving, and this it is the control of the life of the soul, and even more the life of the monad. Well, the monad is a Being with consciousness on its own plane, and the soul as the monad with consciousness in a relatively hampered condition compared to the monastic plan.

Như Chân sư Morya nói: thật sự thì bao giờ các bạn trở nên kém đi vì hy sinh? Xung lực hiến tặng — đó là điều chi phối đời sống của linh hồn, và còn hơn thế nữa, chi phối đời sống của chân thần. Chân thần là một Sự sống với tâm thức trên chính cõi của Ngài, còn linh hồn là chân thần có tâm thức trong một tình trạng tương đối bị hạn chế so với cõi chân thần.

The impulse towards giving, I hope that can sink deeply into the consciousness of all of us.

Xung lực hiến tặng, tôi hy vọng điều này có thể thấm sâu vào tâm thức của tất cả chúng ta.

This urge to sacrifice, to relinquish this for that, to choose one way [2b]

Thôi thúc hy sinh, xả bỏ cái này để lấy cái kia, chọn một con đường [2b]

Notice how Saturn is involved in choice, always involved in processes of choice,

Hãy lưu ý Sao Thổ luôn dính đến chọn lựa, và luôn dính đến các tiến trình chọn lựa,

…to choose one way or line of conduct and thus sacrifice another way,

… chọn một con đường hay một lối hành xử và vì thế hy sinh con đường khác,

Because having it all is not yet possible in this fragmented world,

Vì việc “có tất cả” vẫn chưa thể trong thế giới phân mảnh này,

…to lose in order eventually to gain, —

… mất mát để rồi rốt cuộc đạt được, —

That’s the death process. And the eighth house process, Scorpio,

Đó là tiến trình của sự chết. Và tiến trình nhà thứ tám, Hổ Cáp,

…such is the underlying story of evolution.

… đó là câu chuyện nền tảng của tiến hóa.

The urge to sacrifice, to give up, to relinquish this for that. As long as we are in the dualistic world, let’s just say, this process is necessary in a dualistic and fragmented world, which confine our perceptions to specific things.

Thôi thúc hy sinh, từ bỏ, xả cái này để lấy cái kia. Chừng nào chúng ta còn ở trong thế giới nhị nguyên, Chúng ta hãy chỉ nói rằng, tiến trình này là cần thiết trong một thế giới nhị nguyên và phân mảnh, vốn giới hạn tri giác của chúng ta vào những điều cụ thể.

{this process is necessary in a dualistic and fragmented world, which confines our perceptions to specific things…

{tiến trình này là cần thiết trong một thế giới nhị nguyên và phân mảnh, vốn giới hạn tri giác của chúng ta vào những điều cụ thể…

Well, we’re living through, and this is the way we have to operate. Perhaps once we have a vast holistic consciousness, and are infused in all the things we perceive, even then sacrifice would be operative, because we would descend into the world which that type of holistic perception is not possible, and we would take on vehicles and circumstances in which fragmentation still existed.

Chúng ta đang sống như thế, và đó là cách chúng ta phải hành xử. Có lẽ khi đã có một tâm thức toàn thể mênh mông và thấm nhập vào mọi điều mình tri nhận, ngay khi ấy hy sinh vẫn vận hành, bởi chúng ta sẽ hạ giáng vào một thế giới mà kiểu tri nhận toàn thể ấy chưa thể có, và chúng ta sẽ khoác lấy những thể và hoàn cảnh trong đó sự phân mảnh vẫn tồn tại.

This urge to sacrifice, to relinquish this for that, to choose one way or line of conduct and thus sacrifice another way, to lose in order eventually to gain, —

Th ôi thúc hy sinh, xả cái này để lấy cái kia, chọn một con đường hay một lối hành xử và vì thế hy sinh con đường khác, mất mát để rồi rốt cuộc đạt được, —

A man must lose his life to find it, Didin’t Scorpio St. Paul say that, a man must lose his life in order to find it?

Người ta phải mất mạng sống mình để tìm thấy nó; chẳng phải Thánh Phao-lô, dấu Hổ Cáp, đã nói rằng người ta phải mất mạng sống mình để tìm thấy nó sao?

…such is the underlying story of evolution.

… đó là câu chuyện nền tảng của tiến hóa.

If we were really brave about our spiritual work, we would say, Okay, what is my next sacrifice, not only to better myself, but to better all those whose lives my life touches? What is my next sacrifice? Probably a few of us are inclined to speak to ourselves that way, but it would be an interesting process. What can I now relinquish in order that there be greater abundance for those whom I serve, and incidentally, it will happen of course also for myself.

Nếu chúng ta thực sự can đảm trong công việc tinh thần, chúng ta sẽ nói: Vì vậy, hy sinh kế tiếp của tôi là gì — không chỉ để tự cải thiện, mà để cải thiện tất cả những ai mà đời sống tôi chạm đến? Hy sinh kế tiếp của tôi là gì? Có lẽ ít người trong chúng ta muốn tự nhủ như thế, nhưng đó sẽ là một thực hành thú vị. Giờ đây tôi có thể xả bỏ điều gì để có sự phong nhiêu lớn hơn cho những người tôi phụng sự — và tất nhiên, điều ấy cũng sẽ đến với chính tôi.

…such as the underlying story of evolution. This needs psychological understanding,

… đó là câu chuyện nền tảng của tiến hóa. Điều này cần được thấu hiểu về mặt tâm lý,

Because it’s such a reversal of the usual attitude.

Vì nó đảo chiều thói quen thông thường đến thế.

It is a governing principle of life itself,

Đó là một nguyên tắc cai quản của chính sự sống,

Or of pure Being. We can say,

Hay của Bản Thể thuần túy. Chúng ta có thể nói,

{We have the identity of God itself,

{Chúng ta có căn cước của chính Thượng đế,

…and runs like a golden pattern of beauty through the dark materials of which human history is constructed. [2c]

… và nó chạy như một mô hình vàng óng của vẻ đẹp xuyên qua những chất liệu tối tăm cấu thành lịch sử nhân loại. [2c]

The moments of sacrifice which bring progress. Without those moments, we will be stuck in acquisition and in selfishness, and we will remain attached to the lower world.

Những khoảnh khắc hy sinh đem lại tiến bộ. Nếu không có những khoảnh khắc ấy, chúng ta sẽ mắc kẹt trong sự chiếm hữu và ích kỷ, và mãi bám víu vào thế giới thấp.

When this urge to sacrifice in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed. [2d]  

Khi thôi thúc hy sinh để giành, đạt hay cứu vớt cái được coi là đáng ước ao được thấu hiểu, thì toàn bộ mấu chốt của sự khai mở nơi con người sẽ hiển lộ. [2d]

There are so many things along the way that we have to get dropped from our hands.

Có biết bao điều trên đường mà chúng ta phải để rơi khỏi tay mình.

{Sometimes we have outgrown what we let drop from our hands, but at other times the desire to hold on still exists, and yet, in the face of that desire, we still let that something drop from our hands…

{Đôi khi chúng ta đã lớn hơn cái mà mình để rơi khỏi tay; nhưng cũng có khi dục vọng muốn níu giữ vẫn còn đó, và tuy thế, đối diện dục vọng ấy, ta vẫn để cho điều ấy rơi khỏi tay…

Well, that is when you let dropping your hand something that at the moment you still hold dear, then that is a real sacrifice, or something that is really needed for the welfare of some aspect of yourself. One’s reminded of the widow’s mite. Really anything we give is a mite, but the Christ said in the temple, she had given all she had, and others have given far more, but they did not give from the very depths of themselves, and it costs them relatively nothing, and therefore, their progress was relatively small. One can imagine that that particular widow, not long ago, she is far advanced on the path at this time, having done what was so estimable in the eyes of the great teacher.

Khi bạn để rơi khỏi tay mình một điều mà khoảnh khắc đó bạn vẫn còn quý trọng, thì đó mới là một hy sinh thật sự — hay là từ bỏ một điều thực sự cần cho phúc lợi của một phương diện nào đó của chính bạn. Ta nhớ đến “đồng xu nhỏ của người góa phụ”. Thực ra bất cứ cái gì chúng ta cho đi cũng chỉ là một “đồng xu nhỏ”, nhưng Đức Christ đã nói trong Đền thờ rằng bà đã dâng tất cả những gì bà có; còn những người khác dâng nhiều hơn rất nhiều, song họ không dâng từ tận sâu thẳm bản thân, và điều ấy hầu như không khiến họ tổn phí gì, vì vậy tiến bộ của họ cũng tương đối nhỏ. Có thể tưởng tượng rằng người góa phụ ấy, nay không còn lâu nữa, đã ở khá xa trên Thánh Đạo, vì đã làm điều tối khả tôn trong mắt của Huấn Sư Vĩ Đại.

When this urge to sacrifice in order to win, gain or salvage that which is deemed desirable is understood, then the whole clue to man’s unfoldment will stand revealed

Khi thôi thúc hy sinh để giành, đạt hay cứu vớt cái được coi là đáng ước ao được thấu hiểu, thì toàn bộ mấu chốt của sự khai mở nơi con người sẽ hiển lộ

And I guess, we can ask ourselves at any moment, we could say,

Và tôi nghĩ rằng, bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể tự hỏi mình:

{We can say what am I hanging on to which released would benefit others and myself?

{Chúng ta có thể nói: Ta đang bám víu điều gì mà nếu buông ra sẽ lợi ích cho người khác và cho chính ta?

Well, this is something that one has to take into one’s own deep consideration and may find of course it is not material objects at all. It can be certain attitudes, certain tendencies of thought, certain perceptions. We’re all attached to certain things which if relinquished could bring an inflow of energy of a much higher value. But it’s for each one of us to discover what that might be.

Đây là điều mỗi người phải tự mình suy xét sâu xa; và có thể nhận ra rằng không nhất thiết là các vật thể vật chất. Đó có thể là những thái độ, những khuynh hướng tư duy, những quan niệm. Tất cả chúng ta đều bám víu vào những điều mà nếu được xả bỏ có thể đem lại một dòng năng lượng có giá trị cao hơn rất nhiều. Nhưng mỗi người chúng ta phải tự khám phá điều ấy là gì.

This tendency or urge is something different to desire, as desire is academically understood and studied today. [2e]

Khuynh hướng hay thôi thúc này khác với dục vọng theo cách mà ngày nay người ta hiểu và nghiên cứu một cách hàn lâm. [2e]

Well, I think he’s saying here already that

Tôi nghĩ Ngài đã nói rõ ở đây rằng

{soul has its desires, and so as the Monad.

{linh hồn có những ước vọng của nó, và chân thần cũng vậy.

We cannot really drop desire, but we can make it, as Master Morya says, a goal fit. Marvelous books of Agni yoga. I remember I discovered them really about 35 years ago, 36 years ago. I just was entrained and made my commute to New York City two hours in each direction. Every day, every weekday, tolerable Agni yoga goes a long way, when you are riding a train or bus, subway, or walking through the crowded streets listening.

Chúng ta không thực sự loại bỏ dục vọng, nhưng chúng ta có thể, như Chân sư Morya nói, “đưa dục vọng về mục tiêu xứng đáng”. Những bộ sách kỳ diệu của Agni Yoga. Tôi nhớ mình phát hiện ra chúng cách đây chừng 35, 36 năm. Tôi đã “bị điều động” và mỗi ngày đi làm về New York City mất hai giờ mỗi lượt. Mỗi ngày, mỗi ngày làm việc, Agni Yoga giúp cho chuyến tàu hoặc xe buýt, tàu điện ngầm, hay khi đi bộ giữa phố xá đông đúc, trở nên có thể chịu đựng được, khi lắng nghe.

So, this tendency or this urge to sacrifice coming from a very deep and high place within ourselves, is something different from desire as academically understood.

Vì vậy, khuynh hướng hay thôi thúc hy sinh này — phát xuất từ một nơi rất sâu và rất cao trong chính chúng ta — khác với dục vọng theo nghĩa hàn lâm.

What it really connotes is the emergence of that which is most divine in man. [2f]  

Điều nó thực sự hàm gợi là sự trỗi xuất của cái thiêng liêng nhất nơi con người.

{The Spirit wishes to give of itself until all things become Itself, or recognize themselves as Itself…

{Tinh thần mong hiến tặng chính Ngài cho đến khi muôn vật trở thành Chính Ngài, hay tự nhận ra mình là Chính Ngài…

It is an aspect of desire, but it is the dynamic, active side and not the feeling, sensuous side. It is the predominant characteristic of Deity.

Nó là một phương diện của dục vọng, nhưng là mặt năng động, hành động, chứ không phải mặt cảm thụ, khoái cảm. Nó là đặc tính trội vượt của Thượng đế.

Let’s just say that

Chúng ta hãy chỉ nói rằng

{Deity realizes itself as disunited from the Whole and it is sacrifice which will reunite the Whole, giving up that which makes us perceive in a lesser way, for the onset of higher perceptions…

{Thượng đế nhận ra Chính Ngài dường như bị rời lìa khỏi Toàn Thể, và chính hy sinh sẽ tái hợp Toàn Thể: từ bỏ những gì khiến chúng ta tri nhận theo cách thấp hơn, để đón nhận các tri nhận cao hơn…

So, what is it that keeps my consciousness in ignorance, keeps me confined to customary assessments, customary perceptions and understandings? Can I sacrifice those mindsets, those attitudes of desire and mind? Can I sacrifice my habits? Can I relinquish? Notice that DK does not abandon the idea of relinquishment. As I say, so many of us may try to sugarcoat the idea of sacrifice so that it becomes palatable to the frightened personality, frightened in the face of what it might have to relinquish, and then, one never has to face the removal of that which the grasping hands still seek to grasp.

Vì vậy, điều gì giam hãm tâm thức tôi trong vô minh, giữ tôi cột chặt vào những đánh giá quen thuộc, những tri nhận và hiểu biết quen thuộc? Tôi có thể hy sinh những mô thức tâm trí ấy, những thái độ dục vọng và trí tuệ ấy không? Tôi có thể hy sinh các thói quen của mình không? Tôi có thể xả ly chăng? Hãy lưu ý rằng Chân sư DK không hề bỏ qua ý niệm xả ly. Như tôi nói, quá nhiều người trong chúng ta tìm cách “tẩm đường” ý niệm hy sinh để nó trở nên dễ nuốt với phàm ngã sợ hãi — sợ hãi trước cái mà nó có thể phải xả bỏ — và rồi người ta chẳng bao giờ phải đối diện việc tháo gỡ cái mà đôi tay còn đang tham nắm.

When you look upon a great individual for any great life, the status is achieved through sacrifice. So,

Khi bạn quan sát một cá nhân vĩ đại hay bất kỳ Sự sống vĩ đại nào, địa vị tinh thần đều đạt được nhờ hy sinh. Do đó,

Spiritual status is achieved through sacrifice—and those who are lowly and yet should be higher, have not sacrificed…

Địa vị tinh thần đạt được nhờ hy sinh — và những ai còn thấp kém trong khi đáng ra nên ở cao hơn, là vì họ chưa hy sinh…

Of course, life itself forces us to sacrifice,

Dĩ nhiên, bản thân Sự sống buộc chúng ta hy sinh,

The Divine Plan forces sacrifice, in every sacrifice petal—but the voluntary sacrifice is far more powerful for progress…

Thiên Cơ buộc phải hy sinh, nơi mọi cánh hoa hi sinh — nhưng sự hy sinh tự nguyện mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ hơn nhiều…

So again, as the Christ said, He who would be first, let him be last. The first shall be the last. Of course, it’s also an astrological, zodiacal statement about the union of the end of the cycle and the beginning of the cycle, but he who would be first among you let him serve. So, let the one humble himself who would be first, let the one who gives most shall be highest.

Và như Đức Christ nói: Ai muốn làm đầu thì hãy làm rốt sau. Kẻ trước hết sẽ nên rốt hết. Tất nhiên, đó cũng là một phát biểu chiêm tinh — hoàng đạo — về sự hợp nhất giữa cuối chu kỳ và đầu chu kỳ. Nhưng ai muốn làm đầu giữa anh em thì hãy phụng sự. Vì vậy, ai muốn làm đầu thì hãy tự khiêm hạ; ai cho đi nhiều nhất sẽ ở ngôi cao nhất.

The one who gives most shall be highest…

Ai cho đi nhiều nhất sẽ ở ngôi cao nhất…

That is the amazing proof.

Đó là bằng chứng kỳ vĩ.

And that’s something we really have to bring into our consciousness because which one of us could not give more? If we were giving all we had, we wouldn’t be where we are now, and on the way to renunciation and crucifixion and elevation. We will certainly give all we have to give. It’s just a question of timing, when would it be? We might as well get into the habit of giving, following the impulse of giving. That is the touchstone, the golden key to understanding the nature of sacrifice.

Và đó là điều chúng ta thật sự phải đem vào tâm thức: trong chúng ta, ai lại không thể cho đi nhiều hơn? Nếu chúng ta đã cho đi tất cả những gì mình có, chúng ta đã không còn ở chỗ này, mà đang trên đường đến từ bỏ và chịu đóng đinh và được nâng cao. Chắc chắn rồi, chúng ta sẽ cho đi tất cả những gì mình có để cho. Chỉ còn là vấn đề thời điểm: khi nào sẽ là lúc ấy? Tốt nhất là hãy tập thói quen hiến tặng, đi theo xung lực hiến tặng. Đó là đá thử vàng, là chìa khóa vàng để thấu hiểu bản chất của hy sinh.

This foundational law really lies at the center of every other law. There must always be this line of sacrifice running through all the other laws. It’s like the number one which is divisible into all the other numbers. The point finds its way into every other point. So, sacrifice is our keynote, has been our keynote without understanding it. Now that it needs to be our conscious keynote.

Định luật nền tảng này thực sự nằm ở trung tâm của mọi định luật khác. Luôn luôn phải có một dòng hy sinh xuyên qua mọi định luật khác. Nó giống như con số Một vốn có mặt trong mọi con số khác. Điểm thâm nhập vào mọi điểm khác. Vì vậy, hy sinh là chủ âm của chúng ta, đã là chủ âm của chúng ta từ lâu mà ta không hay biết. Giờ đây nó cần trở thành chủ âm có ý thức của chúng ta.

It is of interest, however, for students of esotericism to note that this urge to salvage and to sacrifice in order to redeem works out in different ways in the different planetary schemes. [2g]

Tuy nhiên, điều này cũng thú vị cho các đạo sinh huyền bí học lưu ý: thôi thúc cứu vớt và hy sinh để cứu chuộc biểu lộ theo những cách khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau. [2g]

Well, it would be mostly those who are students of esotericism who would be interested in such things. Well, you talk to the average person about relinquishing, and say, well, it’s quite different on Venus, quite different on Uranus than it is here, they might think that your mind had departed 😊.

Quả thực sẽ chủ yếu là những người học huyền bí học mới quan tâm đến những điều như thế. Nếu bạn nói với người bình thường về xả ly, và thêm rằng: “Trên Kim Tinh hay Thiên Vương Tinh điều đó khá khác với ở đây,” họ có thể nghĩ bạn đã… lạc trí.

So, it works out in different ways in different planetary schemes according to the objectives of a particular Planetary Logos and the laws operative in any of those schemes,

Vì vậy, nó biểu lộ theo những cách khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau, tùy theo các mục tiêu của một Hành Tinh Thượng đế nhất định và các định luật vận hành trong mỗi hệ ấy,

Each ray Lord of a scheme, manifesting through a planet,

Mỗi Đấng Chúa Tể Cung của một hệ hành tinh, hiện qua một hành tinh,

Notice how a ray Lord and a Planetary Logos are pretty well connected, are they not? Sometimes, we might think that a ray Lord is other than the Planetary Logos, and indeed there are many ray Lords who are a ray as a Being can be disconnected from any particular manifestation. But the Logos of a planet is known as a ray Lord. So, let’s note that.

Hãy lưu ý mối liên hệ mật thiết giữa một Đấng Chúa Tể Cung và một Hành Tinh Thượng đế. Đôi khi chúng ta có thể nghĩ rằng một Đấng Chúa Tể Cung khác với Hành Tinh Thượng đế, và quả có nhiều Đấng Chúa Tể Cung — như những Sự sống thuộc Cung — có thể không gắn với bất kỳ biểu lộ cụ thể nào. Nhưng Thượng đế của một hành tinh được gọi là một Đấng Chúa Tể Cung. Vì vậy, hãy ghi nhận điều ấy.

{note that a Planetary Logos is known as a ray Lord

{ghi nhận rằng một Hành Tinh Thượng đế được gọi là một Đấng Chúa Tể Cung

Each ray Lord of a scheme, manifesting through a planet, expresses this urge in varying ways, and each expression is so different from the others that it is hard for a human being to do more than sense that method which exists on our own particular planet. [2h]

Mỗi Đấng Chúa Tể Cung của một hệ hành tinh, hiện qua một hành tinh, biểu lộ thôi thúc này theo nhiều cách khác nhau; và mỗi cách biểu lộ lại khác nhau đến mức con người khó làm được gì hơn là cảm tri cái phương pháp vốn hiện hữu trên chính hành tinh của mình. [2h]

Well, sacrifice is hard enough to understand, even here,

Hy sinh đã đủ khó hiểu, ngay cả ở đây,

{hard to understand, even on our planet, let alone others

{khó hiểu, ngay trên hành tinh của chúng ta, huống hồ các hành tinh khác

Initiates know that the varying psychological characteristics of the ray Lives condition most peculiarly the method of expressing sacrifice, during the course of manifestation. [2i]

Các điểm đạo đồ biết rằng những đặc trưng tâm lý khác nhau của các Sự sống thuộc Cung quy định một cách rất đặc thù phương thức biểu lộ hy sinh trong suốt quá trình biểu lộ. [2i]

It’s rather deep subject, and I’m not sure that we can penetrate into that. I mean, when we think about sacrificing Saturn, we know something about it, the Saturnian method is pretty close to our own because Saturn, Mars and the Earth are intimately related as expressions of a great Third ray Entity. We might say sacrifice in relation to Saturn is pretty much not this but that. Sacrifice in relation to Mars has to do with self immolation. Sacrifice in relation to the Earth, well, maybe we will learn more. There’s something about uniting and wanting the pairs of opposites, possibly. Here’s where we begin to understand the depth of knowledge of master DK and of masters who have access to the records. Their consciousness has extended beyond the processes of our planet, and they take deep interest in how the other planets are related to our own.

Đây là một chủ đề khá sâu, và tôi không chắc chúng ta có thể thâm nhập vào đó bao xa. Khi nghĩ về hy sinh kiểu “Thổ tinh”, chúng ta hiểu đôi điều: phương pháp của Sao Thổ khá gần với cách của chúng ta, vì Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất có liên hệ mật thiết như những biểu lộ của một Thực thể Cung ba vĩ đại. Có thể nói, hy sinh liên hệ với Sao Thổ phần nhiều là “không cái này mà là cái kia”. Hy sinh liên hệ với Sao Hỏa có màu sắc của tự hiến. Hy sinh liên hệ với Trái Đất — ừm, có lẽ chúng ta sẽ học thêm — hình như có điều gì đó về kết hợp và dung hòa đôi cặp đối đãi. Ở đây chúng ta bắt đầu nhận ra chiều sâu tri kiến của Chân sư DK và của các Chân sư có khả năng tiếp cận các kỷ lục. Tâm thức của Các Ngài đã mở rộng vượt ra ngoài các tiến trình của hành tinh chúng ta, và Các Ngài dành mối quan tâm sâu sắc đến cách các hành tinh khác liên hệ với hành tinh của chúng ta.

So, the varying psychological characteristics of the ray Lords condition most peculiarly the method of expressing sacrifice during the course of manifestation, but all do express sacrifice in one way or another.

Vì vậy, các đặc trưng tâm lý khác nhau của các Đấng Chúa Tể Cung quy định một cách rất đặc thù phương thức biểu lộ hy sinh trong suốt quá trình biểu lộ — nhưng tất cả đều biểu lộ hy sinh theo cách này hay cách khác.

The great stream of living energy which is manifesting itself in our Earth scheme of evolution is conditioned by a temperament, an attitude and an orientation that is that of a “Divine Rebel.” [2j]

Dòng đại lưu năng lượng sống đang tự biểu hiện trong hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta trên lộ trình tiến hoá chịu quy định bởi một khí chất, một thái độ và một hướng quy chiếu mang tính của một “Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng.” [2j]

One might almost think we were speaking of Mars in this respect. We have to remember here that the monadic ray of our Planetary Logos is the first, and it does not inherently brook restraint, the first ray and the six ray are those that do not brook or tolerate that which which attempts to hold them in some sort of suppressed condition, in some condition of non expression.

Người ta gần như có thể nghĩ rằng chúng ta đang nói về Sao Hỏa trong phương diện này. Ở đây chúng ta phải nhớ rằng cung chân thần của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là cung một, và tự thân cung này không dung thứ sự kiềm tỏa; cung một và cung sáu là những cung không dung thứ hay chấp nhận bất cứ điều gì cố tìm cách giữ chúng trong một tình trạng bị kìm nén nào đó, trong một tình trạng không biểu lộ.

{We have to remember that the monadic ray of our Planetary Logos is the first…and it does not inherently brook restraint…

{Chúng ta phải nhớ rằng cung chân thần của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là cung một…và tự thân Ngài không dung thứ sự kiềm tỏa…

The great stream of living energy which is manifesting itself in our Earth scheme of evolution

Dòng đại lưu năng lượng sống đang tự biểu hiện trong hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta

The energy of our Planetary Logos,

Năng lượng của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta,

…is conditioned by a temperament, an attitude and an orientation that is that of a “Divine Rebel.”

… chịu quy định bởi một khí chất, một thái độ và một hướng quy chiếu mang tính của một “Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng.”

And perhaps there was a there was a rebellion, we were told, in the previous solar system, and you almost think that it was our Earth entity. Well entity, our Earth Logos and his expressions which were involved in that rebellion.

Và có lẽ đã từng có một cuộc phản kháng, như chúng ta được cho biết, trong hệ Thái dương trước, và bạn hầu như nghĩ rằng đó là thực thể Địa Cầu của chúng ta. Vâng, thực thể—Địa Cầu Thượng đế của chúng ta và các biểu hiện của Ngài—đã dính dự vào cuộc phản kháng ấy.

So, we can ask,

Vì vậy, chúng ta có thể hỏi,

Were the Planetary Logos of the Earth and His expressions in the last solar system, involved in the rebellion within that system?

Liệu Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất và các biểu hiện của Ngài trong hệ Thái dương trước có dính dự vào cuộc phản kháng trong hệ ấy không?

Is that the way it happened DK’s very oblique about this rebellion which occurred, and he doesn’t tell us what planet, but we can just pretty well connect the idea of the Divine Rebel with an earlier rebellion against a higher law, which accounts for so much difficulty in this system, and perhaps has paved the way for the karmic circumstance of our particular Planetary Logos.

Có phải sự việc đã diễn ra như vậy? Chân sư DK nói rất ám chỉ về cuộc phản kháng đã xảy ra, và Ngài không nói cho chúng ta biết là hành tinh nào, nhưng chúng ta khá có thể nối kết ý niệm về Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng với một cuộc phản kháng trước kia chống lại một định luật cao hơn, điều này lý giải cho biết bao khó khăn trong hệ này, và có lẽ đã mở đường cho hoàn cảnh nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta.

It is only rebellion that produces pain and sorrow, but this rebellion is inherent and [Page 98] innate in the Deity of our planet Himself, the “One in Whom we live and move and have our being.” [2k]

Chỉ có sự phản kháng mới sản sinh đau đớn và sầu khổ, nhưng sự phản kháng này vốn tiềm hữu và [ Page 98] bẩm sinh nơi Đấng Thần Linh của hành tinh chúng ta, “Đấng trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”.

Let’s just say that,

Chúng ta hãy chỉ nói rằng,

{True acquiescence does not cause pain… The devas are acquiescent.

{Sự thuận phục chân thật không gây đau… Các thiên thần thì thuận phục.

The devas are acquiescent, and they do not grow through pain so much as we do. They grow through the joy of what they build themselves into, through appreciation of beauty, through participation in form. They grow in different ways. We, the human family which I think has a great deal of first ray that may be on the monadic level, shatters the forms and rebels against containment. You kind of wonder whether the spirit itself when faced with confinement in form does not automatically turn rebellious, at least the spirit of the monads, which are human in nature. In general, I would think this would be true of spirit no matter what.

Các thiên thần thuận phục, và các Ngài không tăng trưởng qua đau đớn như chúng ta, mà tăng trưởng qua niềm hoan hỷ của những gì các Ngài tự xây dựng để hoà nhập, qua chiêm ngưỡng cái đẹp, qua tham dự vào hình tướng. Các Ngài tăng trưởng theo những cách khác. Còn chúng ta, gia đình nhân loại mà tôi nghĩ có một phần lớn cung một—có lẽ ở cấp chân thần—thì đập vỡ các hình tướng và phản kháng lại sự giam hãm. Người ta tự hỏi liệu chính tinh thần, khi đối diện với sự giam hãm trong hình tướng, có tự động trở nên phản kháng hay không—ít nhất là tinh thần của các chân thần mang bản chất nhân loại. Nói chung, tôi nghĩ điều này đúng với tinh thần, bất kể ở đâu.

So, It is only rebellion that produces pain and sorrow,

Vì vậy, Chỉ có sự phản kháng mới sản sinh đau đớn và sầu khổ,

Because rebellion causes a rendering process,

Bởi vì phản kháng gây ra một tiến trình xé rách,

Pain and sorrow relate to a rending and tearing process—and rebellion against confining form, causes a tearing, a rending of that form….

Đau đớn và sầu khổ liên hệ với một tiến trình rách nát và xé toạc—và phản kháng lại hình tướng giam hãm gây ra sự rách nát, xé toạc hình tướng ấy….

If we’re perfectly contented in the circumstances in which we find ourselves and do not push against the limits, push against the boundaries, we avoid friction. So let’s just say that

Nếu chúng ta hoàn toàn mãn ý với hoàn cảnh mình đang ở và không xô đẩy chống lại những giới hạn, những biên cương, chúng ta tránh được ma sát. Vì vậy, chúng ta hãy chỉ nói rằng

Rebellion and friction are inseparable…

Phản kháng và ma sát là bất khả phân…

And that’s why I also think that Mars has a strong quality of resistance as well. It is one of the most frictional planets. It asserts itself against limits. It appears that our Planetary Logos… I kind of wonder whether the monadic ray of both of them is not the first. We know that the monadic ray of the Earth is the first, and we understand that the fifth ray is very highly placed in Mars. It’s really more of an orange planet, but five has to resolve to something, doesn’t it? Because we cannot have a monadic ray on the rays of attributes ultimately. So, I wonder if it doesn’t resolve to the first ray in this school for warriors, and the school which trains Destroyers, as we are told. First ray has to be somewhere, maybe in its soul nature. If it was in its monadic too, it would be extremely destructive. But we’re not given to know entirely those higher ray combinations.

Và đó cũng là lý do tôi nghĩ rằng Sao Hỏa có một phẩm tính phản kháng mạnh mẽ. Nó là một trong những hành tinh có tính ma sát nhất. Nó tự khẳng định mình chống lại các giới hạn. Có vẻ như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta… Tôi tự hỏi liệu cung chân thần của cả hai (Địa Cầu và Sao Hỏa) có phải đều là cung một chăng. Chúng ta biết cung chân thần của Địa Cầu là cung một, và chúng ta hiểu rằng cung năm đứng ở vị trí rất cao nơi Sao Hỏa. Thực ra đó là một hành tinh mang sắc cam nhiều hơn, nhưng cung năm rồi cũng phải quy về điều gì đó, đúng không? Bởi rốt cuộc chúng ta không thể có một cung chân thần nằm trên các Cung Thuộc Tính. Vì vậy tôi tự hỏi liệu nó có quy về cung một trong ngôi trường dành cho chiến sĩ này, ngôi trường huấn luyện những Người Hủy Diệt như chúng ta được cho biết chăng. Cung một phải ở đâu đó, có thể ở trong bản chất linh hồn của nó. Nếu cả ở cung chân thần nữa, nó sẽ cực kỳ phá hủy. Nhưng chúng ta không được cho biết trọn vẹn những phối hợp cung ở các cấp cao hơn đó.

So, It is only rebellion that produces pain and sorrow, but this rebellion is inherent and [Page 98] innate in the Deity of our planet Himself,

Vì vậy, Chỉ có sự phản kháng mới sản sinh đau đớn và sầu khổ, nhưng sự phản kháng này vốn tiềm hữu và [ Page 98] bẩm sinh nơi Đấng Thần Linh của hành tinh chúng ta,

By that I assume we mean our planetary scheme,

Với điều đó, tôi cho rằng chúng ta muốn nói đến toàn hệ hành tinh của chúng ta,

…the “One in Whom we live and move and have our being.”

… “Đấng trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.”

Not just our globe Lord, not just our chain Lord, but our Planetary Scheme.

Không chỉ là Chúa Tể của bầu hành tinh của chúng ta, không chỉ là Chúa Tể của Dãy chúng ta, mà là Hệ hành tinh của chúng ta.

It is, therefore, a tendency greater than the individual unit.

Do đó, đó là một khuynh hướng lớn hơn đơn vị cá thể.

And we might say that we all as Earthlings are imbued by this tendency towards rebellion,

Và chúng ta có thể nói rằng tất cả chúng ta, những người con của Địa Cầu, đều được thấm nhuần khuynh hướng hướng về phản kháng này,

{We all as earthlings are imbued by this tendency towards rebellion….

{Tất cả chúng ta, những người Địa Cầu, đều được thấm nhuần khuynh hướng hướng về phản kháng này….

It is only possible to express this amazing truth about the planetary Life under a veil of symbology and in terms of human thought. [2l]

Chỉ có thể diễn đạt chân lý kỳ vĩ này về Sự sống hành tinh dưới một bức màn biểu tượng và bằng ngôn ngữ của tư tưởng nhân loại. [2l]

Well, the deeper truth is far more than we can grasp, really.

Sự thật sâu xa hơn thật sự vượt quá tầm nắm bắt của chúng ta.

In this there is ever a risk, for men interpret all they read and hear and experience in terms of themselves.

Trong đó luôn có rủi ro, vì con người diễn giải mọi điều họ đọc, nghe và kinh nghiệm theo các phạm tham chiếu của chính họ.

{this is anthropomorphism…

{đây là chủ nghĩa nhân hình hóa…

{Relating sacrifice, pain, sorrow and REBELLION… Rebellion leads to revolution.

{Liên hệ hy sinh, đau đớn, sầu khổ và PHẢN KHÁNG… Phản kháng dẫn tới cách mạng.

So, this is anthropomorphism, seeing all other forms in terms of the human form, seeing all processes in terms of what’s transpiring with us, because what else do we have as a reference point? We understand something about what’s happening to ourselves, and we don’t understand how different that might be elsewhere. So, this projection of our own psychology and our own process upon the processes found elsewhere and other beings is a great limitation. I’m sure there are parallels, but there are some powerful differences which we may not comprehend at all. Not yet.

Vì vậy, đây là chủ nghĩa nhân hình hóa: thấy mọi hình tướng khác theo dạng người, thấy mọi tiến trình theo những gì đang diễn ra nơi chúng ta, bởi vì ngoài điều đó ra chúng ta còn có điểm quy chiếu nào khác? Chúng ta hiểu đôi chút về những gì xảy ra với chính mình, và chúng ta không hiểu điều đó có thể khác đi thế nào ở nơi khác. Vì vậy, sự phóng chiếu tâm lý riêng và tiến trình riêng của chúng ta lên các tiến trình nơi những chỗ khác và nơi các hữu thể khác là một giới hạn lớn. Tôi chắc chắn có những tương đồng, nhưng cũng có những sai biệt mạnh mẽ mà chúng ta chưa thể thấu hiểu chút nào. Chưa phải lúc này.

So, anyway, he seems to be relating sacrifice, pain, sorrow, and rebellion.

Dù sao, Ngài dường như đang liên hệ hy sinh, đau đớn, sầu khổ và phản kháng.

{Relating sacrifice, pain, sorrow and REBELLION… Rebellion leads to revolution.

{Liên hệ hy sinh, đau đớn, sầu khổ và PHẢN KHÁNG… Phản kháng dẫn tới cách mạng.

I suppose it is this attitude of the rebel that makes us want to return as the prodigal son, feeling that our inner nature has suffered a great indignity in its confinement. “Even the servants in my father’s house had more than I have, and I am the son”. He was saying to himself. Is it rebellion that makes the Monad go forth sacrificially into lower worlds? Well, it’s more difficult to understand rebellion at that level than it is in terms of the prodigal son returning.

Tôi cho rằng chính thái độ của kẻ phản kháng khiến chúng ta muốn trở về như đứa con hoang đàng, cảm thấy bản tính bên trong của mình đã chịu một nỗi nhục lớn lao trong sự giam hãm. “Ngay cả những đầy tớ trong nhà cha ta còn có nhiều hơn ta, mà ta lại là con”. Y tự nói với mình như thế. Có phải chính sự phản kháng khiến Chân thần đi ra một cách hy sinh vào các cõi thấp? Ở cấp đó khó hiểu về phản kháng hơn là trong ẩn dụ đứa con hoang đàng hồi gia.

Against what are we rebelling? We certainly all feel confinement to some extent, and we’re probably not willing to tolerate that forever, which is the reason we are taking pains with our spiritual studies and esoteric meditation, to scientifically work our way out of this condition of spirit restraint, returned to a much freer condition where our own will, the will of Being, the will of Spirit, will have its sway, and will not be imposed upon. Really the true Spirit, the true Being, then which there is no other, has some other to impose anything upon it.

Chúng ta đang phản kháng điều gì? Chắc chắn tất cả chúng ta đều cảm thấy sự giam hãm ở mức độ nào đó, và có lẽ chúng ta không sẵn lòng chịu đựng điều đó mãi mãi; đó là lý do vì sao chúng ta nhọc công với các học tập tinh thần và tham thiền nội môn, để một cách khoa học mở đường thoát ra khỏi tình trạng kiềm tỏa tinh thần này, trở lại một tình trạng tự do hơn rất nhiều, nơi ý chí của chính mình—Ý chí của Hữu Thể, Ý chí của Tinh thần—sẽ có uy lực và sẽ không bị áp đặt. Thực sự thì Tinh thần chân thật, Hữu Thể chân thật—ngoài Ngài không có gì khác—làm gì có “kẻ khác” nào để có thể áp đặt điều gì lên Ngài.

So, the natural condition of the spirit is one of untrammeled Will, a Will which cannot be resisted because there’s none other to resist. But in our very confined conditions in the lower worlds, we will not tolerate, we will not brook the apparent confinements. So, we attempt to throw them off, and we have a revolution,

Vì vậy, trạng thái tự nhiên của tinh thần là một Ý chí không bị trói buộc, một Ý chí không thể bị cưỡng lại vì chẳng có “kẻ khác” nào để cưỡng lại. Nhưng trong những điều kiện bị giới hạn rất nhiều của chúng ta ở các cõi thấp, chúng ta sẽ không chịu đựng, chúng ta sẽ không dung thứ những giam hãm tưởng như có đó. Do đó, chúng ta tìm cách ném bỏ chúng, và chúng ta có một cuộc cách mạng,

{Rebellion leads to revolution.

{Phản kháng dẫn tới cách mạng.

So, now, let us study with the Old Commentary [3a]

Vì vậy, bây giờ, chúng ta hãy học với Cổ Luận [3a]

{About our Planetary Logos, the “Divine Rebel”.

{Về Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, “Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng”.

This is in solar systemic terms.

Điều này ở trong các thuật ngữ hệ Thái dương.

“He entered into life

“Ngài bước vào sự sống

Presumably it’s the life of the cosmic physical plane

Có thể là sự sống của cõi hồng trần vũ trụ

{The life of the cosmic physical plane,

{Sự sống của cõi hồng trần vũ trụ,

…and knew it to be death.

… và biết đó là cái chết.

Because, after all, there was much more to the life of a Planetary Logos than can be found on the cosmic physical plane which is density from his point of view. He knew it to be the death of his consciousness, and death to the scope for expression of his abilities that he could enjoy on other endless hampered planes. He entered into density.

Bởi, rốt cuộc, đối với một Hành Tinh Thượng đế thì có nhiều hơn thế nữa trong sự sống của Ngài so với những gì có thể tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ—vốn là đậm đặc từ quan điểm của Ngài. Ngài biết đó là cái chết của tâm thức Ngài, và là cái chết đối với tầm mức biểu lộ các năng lực vốn có thể hân hưởng ở những cõi khác bớt bị ngăn ngại vô cùng. Ngài đã bước vào đậm đặc.

“He took a form and grieved to find it dark.

“Ngài thọ một hình hài và buồn thảm khi thấy nó tối tăm.

Of what nature is Planetary Logos’ grief. Is this simply an anthropomorphic statement, helping us relate what the grief Logos experience to what we experience. It is the case that when enjoy one goes forth to assist, and one finds more difficult circumstances than one may have imagined.

Nỗi buồn của Hành Tinh Thượng đế là thuộc loại gì? Đây có đơn thuần là một tuyên ngôn nhân hình hóa, giúp chúng ta nối kết nỗi buồn mà Thượng đế cảm với điều chúng ta cảm? Đúng là khi một người ra đi để trợ giúp, và rồi gặp phải những hoàn cảnh khó khăn hơn mình tưởng.

I remember reading about the first night the Father Damien experienced on Molokai Island. I think it was a moment of realization for him. I can’t remember where I read it. I was studying him from the point of view of his horoscope and of the fourth degree. Interestingly, all powerful Vulcan was in his chart, needed to be for what he did. He was a Capricorn person, the third degree with Taurus and Vulcan pointing to the fourth, ruled by the fourth ray as Taurus brings in the fourth ray. So, I was studying that, and he had quite a grief-filled first night on that island, realizing that he was indeed sacrificing everything he had for those who had contracted leprosy, and were banished to that particular Hawaiian island, to be rid of them, to get them away from others so others would not be contaminated by them. As we see, in the Bible, the phrase, unclean, unclean is used with respect to the lepers, untouchables really, in terms of the normal human conception. So, there he was giving up everything he had achieved in terms of, let’s say, being a rich young man, a third-degree initiate, I suspect, and having many things open to him. It’s a bit like Albert Schweitzer. He had all of Europe open to him as a musician and builder of great organs, all the multiple keyboards, theologian-recognized philosopher. He had everything, but he went to Lamborghini. This is a movement towards the fourth degree, wouldn’t you say?

Tôi nhớ đã đọc về đêm đầu tiên Cha Damien trải qua trên đảo Molokai. Tôi nghĩ đó là một khoảnh khắc giác ngộ đối với Ông. Tôi không nhớ đọc ở đâu. Tôi nghiên cứu Ông từ góc độ lá số chiêm tinh và bậc điểm đạo thứ tư. Thú vị thay, quyền lực Vulcan hùng mạnh có trong lá số của Ông—điều cần có cho những gì Ông làm. Ông thuộc Ma Kết, bậc điểm đạo thứ ba, với Kim Ngưu và Vulcan chỉ về bậc thứ tư, chịu chi phối bởi cung bốn vì Kim Ngưu mang đến cung bốn. Tôi đã nghiên cứu điều đó, và Ông đã có một đêm đầu đầy sầu muộn trên hòn đảo ấy, nhận ra rằng quả thực Ông đang hy sinh tất cả những gì mình có vì những người mắc bệnh phong và bị đày đến hòn đảo Hawaii đặc biệt ấy, để người ta thoát khỏi họ, để những người khác không bị lây nhiễm. Như chúng ta thấy trong Kinh Thánh, cụm từ “ô uế, ô uế” được dùng đối với người phong, những kẻ không thể đụng chạm, theo quan niệm thông thường của nhân loại. Thế là Ông đã từ bỏ mọi thứ mình đạt được—hãy nói rằng, một thanh niên giàu có, một điểm đạo đồ bậc ba, tôi đoán thế—và có nhiều lối mở ra trước mắt. Hơi giống Albert Schweitzer. Ông có cả châu Âu mở ra với mình như một nhạc sĩ và người xây những cây đàn đại phong cầm, tất cả những bàn phím chồng lớp—một nhà thần học, triết gia được công nhận. Ông có mọi thứ, nhưng Ông đã đi đến Lamborghini. Đây là một chuyển động hướng đến bậc thứ tư, bạn có đồng ý không?

Albert Schweitzer: Một cuộc đời cống hiến

Albert Schweitzer (14 tháng 1 năm 1875 – 4 tháng 9 năm 1965) là một nhà bác học, nhà thần học, nhà triết học, nhà âm nhạc, nhà văn người Đức, sau mang quốc tịch Pháp. Ông được biết đến với nhiều đóng góp to lớn cho nhân loại, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế và nhân đạo.

Sự nghiệp:

·       Triết học: Schweitzer được biết đến với triết lý “Lòng tôn kính sự sống”, đề cao sự tôn trọng đối với mọi sinh vật. Ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm triết học nổi tiếng như “Văn hóa và triết học”, “Lịch sử nghiên cứu triết học đời sống”, “Sự suy tàn và phục hưng của nền văn hóa”.

·       Thần học: Schweitzer là một nhà thần học Tin Lành, ông đã có nhiều nghiên cứu về Chúa Giê-su và đạo Tin Lành. Ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm thần học nổi tiếng như “Sự tìm kiếm Chúa Giê-su lịch sử”, “Chủ nghĩa Paulin”.

·       Y học: Schweitzer được biết đến với việc thành lập bệnh viện Albert Schweitzer ở Lambaréné, Gabon vào năm 1913. Ông đã dành hơn 50 năm cuộc đời mình để chữa bệnh cho người dân nghèo ở Châu Phi.

·       Âm nhạc: Schweitzer là một nghệ sĩ organ tài năng, ông đã có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu và biểu diễn âm nhạc của Johann Sebastian Bach.

Giải thưởng:

·       Schweitzer được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1952 vì những đóng góp to lớn cho nhân loại.

·       Ông cũng được trao nhiều giải thưởng danh giá khác như Giải Goethe, Giải Hòa bình của ngành kinh doanh sách Đức.

Di sản:

·       Schweitzer là một tấm gương sáng về lòng nhân ái và cống hiến cho nhân loại. Ông đã truyền cảm hứng cho nhiều người trên thế giới cống hiến cho những hoạt động nhân đạo.

·       Bệnh viện Albert Schweitzer ở Lambaréné vẫn đang hoạt động và tiếp tục chữa bệnh cho người dân nghèo ở Châu Phi.

·       Các tác phẩm của Schweitzer vẫn được nhiều người trên thế giới đọc và nghiên cứu.

Câu nói nổi tiếng:

·       “Hạnh phúc nhất là cống hiến hết mình cho một mục đích cao cả.”

·       “Cách tốt nhất để dự đoán tương lai là tạo ra nó.”

·       “Lòng tôn kính sự sống là điều cần thiết cho sự tồn tại của nhân loại.”

Kết luận:

Albert Schweitzer là một nhà bác học lỗi lạc, một nhà nhân đạo vĩ đại và là một tấm gương sáng cho thế hệ sau. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là minh chứng cho sức mạnh của lòng nhân ái và tinh thần cống hiến.

“He drove Himself forth from the secret place and sought the place of light, and light revealed all that he sought the least. [3b]

“Ngài tự đẩy mình ra khỏi nơi bí mật và tìm đến nơi ánh sáng, và ánh sáng phơi bày tất cả những gì Ngài ít mong gặp nhất.” [3b]

He came forth from his soul nature into incarnation. The Secret Place is often the place of the soul. He came forth into incarnation and found it dark.

Ngài đi ra khỏi bản chất linh hồn của mình để lâm phàm. Nơi Bí Mật thường là nơi của linh hồn. Ngài đi ra để lâm phàm và thấy nó tối tăm.

{he came forth into incarnation and found it dark… He left the realm of the cosmic soul…

{Ngài đi ra để lâm phàm và thấy nó tối tăm… Ngài rời cõi linh hồn vũ trụ…

He left the realm of the cosmic soul and the light that was inherent in him revealed not what he had sought, but extreme confinement, and tamas, inertia and non responsiveness.

Ngài rời cõi linh hồn vũ trụ, và ánh sáng vốn tiềm hữu nơi Ngài không phơi bày điều Ngài đã mong tìm, mà phơi bày sự giam hãm tột độ, và tamas, trệ lực và vô đáp ứng.

{extreme confinement and tamas, inertia, and non-responsiveness…

{sự giam hãm tột độ và tamas, trệ lực, vô đáp ứng…

One goes forth to help and save and serve and realizes that the sphere into which one has entered to bring help, service, and savorship just doesn’t respond. This is something one has to live through and has to find the ways to ensure that some response will be forthcoming, and that may take a lot of work.

Người ta tiến ra để cứu giúp và phụng sự và rồi nhận ra rằng cảnh vực mà mình vừa bước vào để mang lại sự trợ giúp, phụng sự và cứu chuộc lại chẳng đáp ứng. Đây là điều phải sống qua và phải tìm ra những cách thức để bảo đảm rằng một đáp ứng nào đó sẽ tới, và điều đó có thể đòi hỏi rất nhiều công phu.

“He craved permission to return.

“Ngài khao khát được phép hồi quy.”

Well, every being has to ask permission of his Superior. It’s all the Hierarchy in the universe. So, we can just say

Mọi hữu thể đều phải xin phép Vị Thượng Cấp của mình. Đây là một Vũ trụ mang tính Huyền giai. Chúng ta hãy nói rằng

{this is a hierarchical Universe….

{đây là một Vũ trụ huyền giai….

“He sought the Throne on high and Him who sat thereon.

“Ngài tìm đến Ngai ở thượng giới và đến Đấng ngự trên đó.”

Would this be relative to a Planetary Logos? So,

Điều này, tương ứng với một Hành Tinh Thượng đế, thì

{this would be a Solar Logos.

{đây sẽ là một Thái dương Thượng đế.

He said ‘I sought not this. I looked for peace, for light,

Ngài nói: ‘Ta không mong điều này. Ta kiếm tìm bình an, kiếm tìm ánh sáng,

Well, like so many, if we take it down to our own level, we may think that the sphere into which we are moving sacrificially is far less handicapped then we discovered it to be. So,

Như bao người khác, nếu hạ xuống cấp của chúng ta, ta có thể nghĩ rằng cảnh vực mà ta hy sinh để bước vào bị trở ngại ít hơn nhiều so với điều ta khám phá. Vì vậy,

I looked for peace,

Ta kiếm tìm bình an,

Not for friction,

Chứ không phải ma sát,

…for light,

… kiếm tìm ánh sáng,

Not for darkness

Chứ không phải bóng tối

…for scope to serve.

… kiếm tìm bề rộng để phụng sự,

And everything hampers me

Và mọi sự đều ngăn trở ta

…to prove my love and reveal my power.

… để chứng minh Tình thương của ta và bày tỏ Quyền năng của ta.

But none of that, let’s just say, the environment resists that revelation, that love, and all is hampered and non receptive.

Nhưng chẳng có điều nào trong số đó—chúng ta hãy nói rằng—môi trường kháng cự sự mặc khải ấy, sự thương yêu ấy, và mọi thứ đều bị cản trở và vô tiếp nhận.

{the environment resists that revelation…that love…and all is hampered and non-receptive…

{môi trường kháng cự sự mặc khải ấy…tình thương ấy…và mọi thứ đều bị cản trở và vô tiếp nhận…

Light there is none.

Ở đây không có ánh sáng.

Not on the cosmic physical plane, especially in the densest levels of the cosmic physical plane, the lower 21 systemic subplanes.

Không có trên cõi hồng trần vũ trụ, nhất là ở những tầng đậm đặc nhất của cõi hồng trần vũ trụ, tức 21 cõi phụ hệ thống thấp.

Light there is none. Peace is not found.

Không có ánh sáng. Bình an không hiện hữu.

Because there was a cacophony of in harmonious dissonant warring energies straight to the point right,

Bởi vì có một hỗn âm bất hòa, chói gắt, những năng lượng giao tranh—đi thẳng vào trọng tâm,

Let me return. [3c]

Hãy để Ta trở về. [3c]

Well, he who has set his hand to the plow and seeks to return was not worthy to enter the kingdom of heaven. This is the great teaching that the Christ gave on the human level. The themes also to apply [to the Planetary Logos?]. I wonder who would know this planetary psychology? I mean, how does any writer—unless of course the writer is the Planetary Logos himself in some way—know this? What is in the psyche of the Planetary Logos? What would be the dissatisfaction? What would be the sense of rebellion? Would there be the desire to return? Well, we have to stay with those questions because we just don’t know how anyone writing the Old Commentary would get into the psyche of the Planetary Logos.

Kẻ đã tra tay vào cày mà muốn quay về thì không xứng đáng bước vào Thiên Giới. Đây là đại giáo huấn mà Đức Christ ban ra ở cấp nhân loại. Những chủ đề này cũng áp dụng [cho Hành Tinh Thượng đế?]. Tôi tự hỏi ai có thể biết tâm lý hành tinh này? Tôi muốn nói, làm sao một tác giả—trừ phi tác giả chính là Hành Tinh Thượng đế theo một cách nào đó—biết được điều này? Nội tâm của Hành Tinh Thượng đế là gì? Sự bất mãn sẽ là gì? Cảm thức phản kháng sẽ là gì? Liệu có ước muốn hồi quy không? Vâng, chúng ta phải ở lại với những câu hỏi ấy vì chúng ta đơn giản không biết một người viết Cổ Luận có thể bước vào nội tâm của Hành Tinh Thượng đế bằng cách nào.

Light there is none, peace is not found. Let me return. But He Who sat upon the Throne turned not his head.

Không có ánh sáng, bình an không hiện hữu. Hãy để Ta trở về. Nhưng Đấng ngự trên Ngai chẳng quay đầu.

It comes right back to the one who pleaded for escape.

Câu chuyện quay trở lại với kẻ đã khẩn nài được thoát ly.

He seemed not e’en to listen nor to hear.

Đấng ấy dường như chẳng thèm lắng nghe cũng chẳng nghe thấy.

There’s no discussion here with a great Solar Logos about what the planetary duty may be. Sometimes when someone might go forth on a human mission that we have sent them upon, and they said I really want to go back. I don’t want, I would don’t want this mission. Could we adopt this attitude of letting them hear their own statement and not simply engaging in any form of persuasion, any form of dialogue.

Không có cuộc đàm đạo nào ở đây với một Thái dương Thượng đế về bổn phận hành tinh có thể là gì. Đôi khi khi có ai đó đi ra trên một sứ mệnh nhân loại mà chúng ta đã cắt cử họ, và họ nói: tôi thực sự muốn trở về. Tôi không muốn, tôi không muốn sứ mệnh này. Liệu chúng ta có thể chọn thái độ để họ tự nghe lời mình nói mà không lập tức dùng đến bất cứ hình thức thuyết phục hay đối thoại nào chăng.

He seemed not e’en to listen nor to hear. But from the lower sphere

Ngài dường như chẳng thèm lắng nghe cũng chẳng nghe thấy. Nhưng từ cõi thấp

This is exactly like the six ray. This is so interesting. I’ll show you this in a minute.

Điều này chính xác là đặc tính của cung sáu. Thật thú vị. Tôi sẽ chỉ cho bạn điều này ngay.

But from the lower sphere of darkness and of pain a voice came forth and cried: ‘We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God. [3d]

Nhưng từ cõi thấp của tối tăm và khổ đau, một tiếng nói vang ra kêu lên: ‘Chúng tôi khổ ở đây. Chúng tôi tìm kiếm ánh sáng. Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế giáng nhập.

And DK says I can find all the words except these last two, to express the ancient symbol from which I am translating.

Và Chân sư DK nói rằng Ngài có thể tìm mọi từ ngữ ngoại trừ hai từ cuối cùng này để diễn đạt biểu tượng cổ xưa mà từ đó Ngài đang dịch.

Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. Raise us into the light and make the sacrifice. Break down for us the prison wall and enter into pain.’

Nâng chúng tôi lên Thiên giới. Xin Ngài, hỡi Chúa, hãy bước vào mộ phần. Hãy nâng chúng tôi vào ánh sáng và thực hiện sự hy sinh. Hãy phá đổ cho chúng tôi bức tường nhà ngục và bước vào nỗi đau.’

Right, make the sacrifice, break down for us the prison wall, and enter into pain, very appealing prospect. And here is sacrifice on the level of the Planetary Logos, and we try to convince ourselves that there’s no problem with sacrifice, it’s not necessarily painful. You also hear this kind of New Ageism, Pain is inevitable, suffering is optional. Maybe not. We human beings have this hatred of pain, being a fourth ray kingdom, and we do so much to make the hard places of life seem less hard, seem more tolerable, simply seem easier. But maybe it just isn’t that way.

Hãy thực hiện hy sinh, phá vỡ cho chúng tôi bức tường nhà ngục, và bước vào nỗi đau—một viễn cảnh thật hấp dẫn. Và đây là hy sinh ở cấp độ của Hành Tinh Thượng đế; trong khi chúng ta cố tự thuyết phục rằng hy sinh chẳng có vấn đề gì, không nhất thiết là đau đớn. Bạn cũng nghe kiểu nói Tân thời rằng: “Đau đớn là không tránh khỏi, khổ đau là tùy chọn.” Có lẽ không phải vậy. Con người chúng ta ghét đau đớn, là giới thuộc cung bốn, và chúng ta làm rất nhiều để làm cho những chỗ khó của đời sống có vẻ bớt khó, bớt khắc nghiệt, đơn giản là có vẻ dễ chịu hơn. Nhưng có lẽ đời không như thế.

We need the glory of an entering God to make the sacrifice, Raise us into the light and make the sacrifice. Break down for us the prison wall

Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế giáng nhập để thực hiện hy sinh, Hãy nâng chúng tôi vào ánh sáng và thực hiện sự hy sinh. Hãy phá đổ cho chúng tôi bức tường nhà ngục

We are prisoners of the planet. Free us come forth under Saturn, and act the role of Uranus, if you know what I mean. So,

Chúng tôi là tù nhân của hành tinh này. Hãy giải phóng chúng tôi—hãy xuất hiện dưới nghĩa vụ của Sao Thổ, và nhập vai Sao Thiên Vương giải phóng, bạn hiểu ý tôi. Vì vậy,

{Come forth under the obligation of Saturn and act as the liberating Uranus… [3e]

{Hãy xuất hiện dưới nghĩa vụ của Sao Thổ và hành xử như Sao Thiên Vương giải phóng…

Well, I just want to go someplace with this. I want to go here to a similar situation for the human being, when he says How can I break my tunnel down? What shall I do? This is an Esoteric Psychology under the Law of Repulse.

Tôi muốn nối điều này với một chỗ. Tôi muốn đưa nó đến một tình huống tương tự dành cho con người, khi y nói: Làm sao tôi phá vỡ đường hầm của tôi? Tôi phải làm gì? Đây là trong Tâm Lý Học Nội Môn dưới Định luật Đẩy Lùi.

From deep within the temple of his heart, he heard a Word. It spoke with clarity and power: ‘Look, deep within, around on every hand. The light is everywhere, within the heart, in Me, in all that breathes, in all that is. Destroy thy tunnel, which thou has for ages long constructed. Stand free, in custody of all the world.’ The Follower answered: ‘How shall I break my tunnel down? How can I find a way?’ No answer came….

Từ sâu thẳm trong ngôi đền trái tim mình, y nghe một Linh từ. Linh từ ấy cất lên với sự minh bạch và quyền năng: “Hãy nhìn, sâu thẳm bên trong, và xung quanh trên mọi bề. Ánh sáng ở khắp nơi—trong trái tim, trong Ta, trong mọi sự hà hít, trong mọi cái đang là. Hãy phá hủy đường hầm của ngươi, điều mà ngươi đã kiến tạo trong biết bao thời đại. Hãy đứng tự do, gìn giữ toàn thế giới.” Người Theo Dõi đáp: “Làm sao ta phá vỡ đường hầm của ta? Làm sao ta tìm được một lối?” Không có câu trả lời….

[Page 171]

[Page 171]

Another pilgrim in the dark came up, and groping, found the Follower. ‘Lead me and others to the Light,’ he cried. The Follower found no words, no indicated Leader, no formulas of truth, no forms or ceremonies. He found himself a leader, and drew others to the light,—the light that shone on every hand. He worked and struggled forward. His hand held others, and for their sake, he hid his shame, his fear, his hopelessness and his despair. He uttered words of surety and faith in life, and light and God, in love and understanding….

Một người lữ hành khác trong bóng tối đến gần, và lần mò, đã tìm thấy Người Theo Dõi. “Hãy dẫn tôi và những người khác đến với Ánh sáng,” y kêu lên. Người Theo Dõi không tìm được lời nào, không gặp một Lãnh đạo nào được chỉ định, không có công thức chân lý, không có hình thức hay nghi lễ nào. Y thấy chính mình là người dẫn dắt, và kéo những người khác đến với ánh sáng—ánh sáng chiếu rọi trên mọi phía. Y làm việc và vật lộn tiến lên. Bàn tay y nắm giữ những người khác, và vì họ, y giấu đi nỗi hổ thẹn, nỗi sợ hãi, sự vô vọng và tuyệt vọng của mình. Y thốt ra những lời bảo chứng và niềm tin vào sự sống, ánh sáng và Thượng đế, vào tình thương và sự thấu hiểu….

Another pilgrim in the dark came up and groping found the follower. Well, let’s just say that right before this, the follower is asking the deep voice that came from deep within his heart, the temple of his heart.

Một người lữ hành khác trong bóng tối đến gần và lần mò đã gặp Người Theo Dõi. Chúng ta hãy chỉ nói rằng ngay trước đó, Người Theo Dõi đang hỏi tiếng nói sâu thẳm phát ra từ đền thờ trái tim mình.

His voice is speaking with clarity, and “Look, deep within around on every side. The light is everywhere, within the heart, in Me, the divine being, and all the breathes, and all that is. Destroyed thy tunnel which thou has for ages long constructed. Stand free in custody of all the world.

Tiếng nói của y cất lên minh bạch, và “Hãy nhìn, sâu thẳm bên trong và xung quanh trên mọi bề. Ánh sáng ở khắp nơi—trong trái tim, trong Ta, Đấng thiêng liêng, trong mọi hơi thở, và trong mọi cái đang là. Hãy phá hủy đường hầm mà ngươi đã kiến tạo trong biết bao thời đại. Hãy đứng tự do, gìn giữ toàn thế giới.

And then the follower answered, “How should I break my tunnel down? How should I find a way?”. But as in the case with the Solar Logos, no answer came, No answer from above, but an appeal from below. The Voice rose, saying, we need the glory of an entering God and in this particular case, another pilgrim in the dark came up and groping found the follower, “Lead me and others to the Light”, he cried. The follower found no words, no indicated Leader, and no formulas of truth, no forms or ceremonies. He found himself a leader and drew others to the light, the light that shone on every hand.

Và rồi Người Theo Dõi đáp, “Làm sao ta phá vỡ đường hầm của ta? Làm sao ta tìm được lối?”. Nhưng như trong trường hợp với Thái dương Thượng đế, chẳng có câu trả lời nào đến. Không có câu trả lời từ trên cao, mà là một lời kêu gọi từ bên dưới. Tiếng Nói vang lên: Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế giáng nhập; và trong trường hợp này, một người lữ hành khác trong bóng tối đến gần và lần mò đã gặp Người Theo Dõi: “ Hãy dẫn tôi và những người khác đến với Ánh sáng,” y kêu. Người Theo Dõi không tìm được lời nào, không gặp một Lãnh đạo nào được chỉ định, và không có công thức chân lý, không có hình thức hay nghi lễ nào. Y thấy chính mình là người dẫn dắt và kéo những kẻ khác đến với á nh, ánh sáng chiếu rọi trên mọi phía.

So it is the lower voice, the voice of those in trouble in difficulty, which evokes the compassionate response of the follower in this case, and in Planetary Logos in a much higher case.

Vì vậy là tiếng nói ở cõi thấp, tiếng nói của những kẻ đang gian truân khổ nạn, đã gợi lên đáp ứng từ bi của Người Theo Dõi trong trường hợp này, và của Hành Tinh Thượng đế trong trường hợp cao hơn rất nhiều.

So, he worked and struggled forward, his hand held others and for their sake, he hid his shame, his fear is hopelessness in his despair. And he uttered words of surety and faith in life and life and God in love and understanding...

Vì thế, y làm việc và vật lộn tiến lên, tay nắm giữ những người khác; và vì họ, y giấu đi nỗi hổ thẹn, nỗi sợ hãi, sự vô vọng và tuyệt vọng của mình. Và y thốt ra những lời bảo chứng và niềm tin vào sự sống, vào ánh sáng và Thượng đế, vào tình thương và sự thấu hiểu...

Well, maybe the passage of time is indicated by these dots. But anyway, it has the desirable effect. But when we look at what happens in the case of our Planetary Logos, well, his desire to return is offset by the compassionate in his heart to those represented by the voice which says, We seek the light, we suffer here, we need the glory of an entering God. And then the cry of the appeal, the heart of the Planetary Logos responds.

Có lẽ dấu ba chấm cho thấy dòng thời gian trôi. Dù sao, nó tạo hiệu quả đáng ao ước. Nhưng khi xét điều xảy ra trong trường hợp Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, thì ước muốn hồi quy của Ngài được hóa giải bởi lòng từ bi trong trái tim Ngài, hướng về những kẻ được tiếng nói đại diện: Chúng tôi tìm ánh sáng, chúng tôi khổ ở đây, chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế giáng nhập. Và khi lời kêu cầu ấy vang lên, trái tim của Hành Tinh Thượng đế đáp ứng.

The voice says, Lift us to heaven, enter, O Lord, the tomb.

Tiếng nói nói rằng, “Nâng chúng tôi lên Thiên giới, xin Ngài, hỡi Chúa, hãy bước vào mộ phần.”

Well, usually we speak of resurrection and the freedom from the tomb. But now the sacrificing one is asked to enter the tomb and confine himself to the cold, to the darkness, to the lack of scope for conscious registration or expression,

Thông thường chúng ta nói về sự phục sinh và tự do khỏi mộ phần. Nhưng giờ đây, Đấng hy sinh được cầu xin bước vào mộ phần và tự giam mình trong lạnh lẽo, trong tối tăm, trong sự thiếu vắng bề rộng dành cho sự ghi nhận hay biểu lộ có ý thức,

Raise us into the light and make the sacrifice.

“Hãy nâng chúng tôi vào ánh sáng và thực hiện sự hy sinh.”

Well, the logos didn’t have to say it. That’s the amazing thing.

Vâng, Thái dương Thượng đế không cần phải nói những lời này. Điều kỳ diệu là ở đó.

{The Solar Logos did not have to speak these words. Words were spoken appealing to the compassion of the Planetary Logos….

{Thái dương Thượng đế không cần phải nói các lời này. Những lời ấy đã được cất lên để khơi dậy lòng từ bi của Hành Tinh Thượng đế….

Break down for us the prison wall and enter into pain.’

“Hãy phá đổ cho chúng tôi bức tường nhà ngục và bước vào nỗi đau.”

And the alternative is not given. If you break the prison wall, you will enter into pain. But your compassion will draw you down into breaking the prison wall, and you must enter into pain, and you must make the sacrifice. So, for all to truly sacrifice, there is an entering into pain. So, perhaps a bit sadder,

Và phương án thay thế thì không được đưa ra. Nếu Ngài phá đổ bức tường nhà ngục, Ngài sẽ bước vào nỗi đau. Nhưng lòng từ bi của Ngài sẽ lôi kéo Ngài đi xuống để phá đổ bức tường nhà ngục, và Ngài phải bước vào nỗi đau, và Ngài phải thực hiện sự hy sinh. Vì vậy, đối với mọi ai thực sự hy sinh, đều có một sự bước vào nỗi đau. Cho nên, có lẽ buồn hơn đôi chút,

The Lord of Life returned.

“Chúa Tể của Sự Sống trở lại.”

Following the obligation of his heart,

Theo bổn phận của trái tim Ngài,

He liked it not, and hence the pain.”

“Ngài không ưa điều đó, và vì thế mới có nỗi đau.”

In other words, he held his post and yet sustained the inner attitude of REBELLION. He liked it not and hence pain. I think I’ll just read that all together and see if we get the sense of how we might apply that to our own condition when we ask what further sacrifice can I make it this time out of compassion for the sake of love, for the sake of the growing unity, and the upliftment of others.

Nói cách khác, Ngài trấn thủ cương vị của mình nhưng vẫn duy trì thái độ nội tại của sự PHẢN KHÁNG. Ngài không ưa điều đó, và vì thế mới có nỗi đau. Tôi nghĩ tôi sẽ đọc liền mạch tất cả và xem chúng ta có thể lĩnh hội được ý vị về cách áp dụng điều ấy cho hoàn cảnh của chính mình, khi chúng ta tự hỏi: tôi có thể thực hiện hy sinh nào nữa vào lúc này—vì lòng từ bi, vì tình thương, vì sự hiệp nhất ngày càng tăng, và sự nâng đỡ những kẻ khác.

“He entered into life and knew it to be death.

“Ngài bước vào sự sống và biết đó là cái chết.

“He took a form and grieved to find it dark.

“Ngài thọ một hình hài và buồn thảm khi thấy nó tối tăm.

“He drove Himself forth from the secret place and sought the place of light, and light revealed all that he sought the least.

“Ngài tự đẩy mình ra khỏi nơi bí mật và tìm đến nơi ánh sáng, và ánh sáng phơi bày tất cả những gì Ngài ít mong gặp nhất.

“He craved permission to return.

“Ngài khao khát được phép hồi quy.

“He sought the Throne on high and Him who sat thereon. He said ‘I sought not this. I looked for peace, for light, for scope to serve, to prove my love and to reveal my power. Light there is none. Peace is not found. Let me return.’

“Ngài tìm đến Ngai ở thượng giới và đến Đấng ngự trên đó. Ngài nói: ‘Ta không mong điều này. Ta kiếm tìm bình an, kiếm tìm ánh sáng, kiếm tìm bề rộng để phụng sự, để chứng minh Tình thương của ta và để bày tỏ Quyền năng của ta. Ở đây không có ánh sáng. Bình an không hiện hữu. Hãy để Ta trở về.’

But He Who sat upon the Throne turned not his head. He seemed not e’en to listen nor to hear. But from the lower sphere of darkness and of pain a voice came forth and cried: ‘We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God. [I can find no other words except these last two to express the ancient symbol from which I am translating.] Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. Raise us into the light and make the sacrifice. Break down for us the prison wall and enter into pain.’

Nhưng Đấng ngự trên Ngai chẳng quay đầu. Đấng ấy dường như chẳng thèm lắng nghe cũng chẳng nghe thấy. Nhưng từ cõi thấp của tối tăm và khổ đau, một tiếng nói vang ra kêu lên: ‘Chúng tôi khổ ở đây. Chúng tôi tìm kiếm ánh sáng. Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế giáng nhập. [Tôi không thể tìm được các từ nào khác ngoại trừ hai từ cuối cùng này để diễn đạt biểu tượng cổ xưa mà tôi đang dịch.] Hãy nâng chúng tôi lên Thiên giới. Xin Ngài, hỡi Chúa, hãy bước vào mộ phần. Hãy nâng chúng tôi vào ánh sáng và thực hiện sự hy sinh. Hãy phá đổ cho chúng tôi bức tường nhà ngục và bước vào nỗi đau.’

The Lord of Life returned. He liked it not, and hence the pain.”

Chúa Tể của Sự Sống trở lại. Ngài không ưa điều đó, và vì thế mới có nỗi đau.”

So, again, we find that rebellion produces friction, the attitude of the Divine rebel is sustained. But duty is stronger, and the great sacrifice persists. There are two, in a way, great sacrifices, and this is about the Planetary Logos, not about the Sanat Kumara per se, which is an emanation, a salvational emanation at a later stage in the planetary process. So, we might say that,

Vì vậy, một lần nữa, chúng ta thấy rằng phản kháng tạo ra ma sát; thái độ của Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng vẫn được duy trì. Nhưng bổn phận thì mạnh hơn, và đại hy sinh vẫn tiếp diễn. Có hai, theo một nghĩa nào đó, đại hy sinh, và ở đây là về Hành Tinh Thượng đế, không phải về Sanat Kumara tự thân, Đấng là một xuất lộ—mang tính cứu độ—ở một giai đoạn muộn hơn trong tiến trình hành tinh. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng,

{Sanat Kumara is a “Salvational Emanation” at a later stage in the planetary process…

{Sanat Kumara là một “Xuất lộ Cứu độ” ở một giai đoạn muộn hơn trong tiến trình hành tinh…

So, this is the condition of our Planetary Logos in this particular solar system. We don’t know His condition or the condition of the other Planetary Logoi, and the Others in the previous solar system. But we do know that if these Logoi are as chakras of our Solar Logos, then they had to have been there as he is manifesting, because one manifests through the chakras. That is an interesting question. Are they independent Beings? Or are they really in a sense chakras of the Solar Logos? And if they are chakras, are They chakras on all the levels as well? Are they expressing as the astral chakra and the mental chakras, and those chakras beyond that as well?

Đây là tình trạng của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trong hệ Thái dương này. Chúng ta không biết tình trạng của Ngài hay của các Hành Tinh Thượng đế khác, và của Các Ngài trong hệ Thái dương trước. Nhưng chúng ta biết rằng nếu các Thượng đế này là như các luân xa của Thái dương Thượng đế của chúng ta, thì ắt hẳn Các Ngài đã ở đó khi Ngài tự biểu hiện, vì người ta biểu hiện qua các luân xa. Đó là một câu hỏi thú vị: Liệu Các Ngài là những Hữu thể độc lập? Hay thật ra, theo một nghĩa, Các Ngài là các luân xa của Thái dương Thượng đế? Và nếu là các luân xa, thì Các Ngài có là luân xa trên mọi cấp không? Các Ngài có biểu hiện như các luân xa cảm dục, các luân xa trí tuệ, và cả những luân xa vượt lên trên nữa chăng?

So, both the Planetary Logos and Sanat Kumara, who is an emanation of that Logos, both have experienced sacrifice. Is not Sanat Kumara’s attitude that of the Divine rebel? Well, when we speak of Sanat Kumara, we rarely speak that way. We speak of his astonishing patience. It’s almost as if he is a great second ray emanation, but he will share in the psyche of the Planetary Logos since as an emanation, he is the Planetary Logos. But we have to remember the first ray nature of our Planetary Logos. And then inherent in every one of us, especially if a human being, this attitude of being the Divine Rebel.

Vì vậy, cả Hành Tinh Thượng đế lẫn Sanat Kumara—một xuất lộ của vị Thượng đế ấy—đều đã kinh nghiệm hy sinh. Há thái độ của Sanat Kumara không phải là thái độ của Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng sao? Khi nói đến Sanat Kumara, hiếm khi chúng ta nói theo cách đó. Chúng ta nói về sự nhẫn nại kỳ vĩ của Ngài. Hầu như Ngài là một xuất lộ cung hai vĩ đại; nhưng Ngài sẽ chia sẻ tâm lý của Hành Tinh Thượng đế, bởi vì, như một xuất lộ, Ngài chính là Hành Tinh Thượng đế. Nhưng chúng ta phải nhớ bản chất cung một của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Và rồi—tiềm ẩn trong mỗi chúng ta, đặc biệt là con người—là thái độ của Đấng Phản Kháng Thiêng Liêng.

The same conditions which blend the Law of Sacrifice with pain and sorrow and difficulty are found also on the planet Mars and on the planet Saturn. They are not found on the other planets. [3f]

Những điều kiện tương tự—vốn hoà quyện Định luật Hy sinh với đau đớn, sầu khổ và khó khăn—cũng được tìm thấy trên hành tinh Sao Hỏa và trên hành tinh Sao Thổ. Chúng không hiện hữu trên các hành tinh khác. [3f]

So to sacrifice the other planets to sacrifice is not to fall into pain, sorrow and difficulty. Let’s put that down on the planet.

Vì vậy, đối với các hành tinh khác, hy sinh không đồng nghĩa với rơi vào đau đớn, sầu khổ và khó khăn. Chúng ta hãy ghi lại điều đó theo từng hành tinh.

{On the other planets, to sacrifice is not to fall into pain, sorrow, and difficulty…

Trên các hành tinh khác, hy sinh không đồng nghĩa rơi vào đau đớn, sầu muộn và khó khăn…

So, they are not found on the other planets,

Vì vậy, chúng không có trên các hành tinh khác,

Those who have read The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire with understanding

Những ai đã đọc Giáo Lý Bí Nhiệm và Luận về Lửa Vũ Trụ với sự thấu hiểu

…know that our Earth is not a sacred planet.

… biết rằng Trái Đất của chúng ta không phải là một hành tinh thiêng liêng.

Of course, there was a caveat. We can read it, it can fall off the shelf and hit us on the head and say, read me, but do we read with understanding? Sometimes people get into it and say, “Well, what is this?” I did most of my reading of the Secret Doctrine at five o’clock in the morning, every morning, before going to the Arcane School, to work in the Lucis Trust and like I have told my students “I underlined everything and understood nothing” 😊. But when you’re underlying something, you feel that something is happening. I actually knew a fellow friend of mine who really did underline every sentence in the book. She was reading the Bailey books, and he had a lot of sixth ray. It’s easy to be devoted to something without necessarily understanding what we’re devoted to, and we’ve all experienced it. But underlining is that sort of middle place between the mind and the page, and at least it signals to the mind “Well, I must understand something, otherwise I wouldn’t be underlining it”. So, it is a palliative at least. One doesn’t have to feel ignorant of one underlying something.

Dĩ nhiên, có một lời cảnh báo. Chúng ta có thể đọc nó, quyển sách có thể rơi khỏi kệ đập vào đầu và bảo chúng ta hãy đọc, nhưng liệu chúng ta có đọc với sự thấu hiểu không? Đôi khi người ta tiếp cận và nói, “Cái này là gì vậy?” Tôi đã đọc phần lớn Giáo Lý Bí Nhiệm vào lúc năm giờ sáng, mỗi sáng, trước khi đến Trường Arcane, làm việc tại Lucis Trust, và như tôi đã nói với các môn sinh của mình: “Tôi gạch dưới mọi thứ mà chẳng hiểu gì.” Nhưng khi bạn đang gạch dưới, bạn cảm thấy rằng có điều gì đó đang xảy ra. Tôi thực sự biết một người bạn đồng nghiệp của mình, cô ấy thật sự gạch dưới mọi câu trong sách. Cô ấy đang đọc các sách của Bailey, và anh ấy có rất nhiều cung sáu. Dễ mến mộ một điều gì mà không nhất thiết hiểu điều mình đang mến mộ, và tất cả chúng ta đều từng trải qua. Nhưng việc gạch dưới là kiểu “nơi giữa đường” giữa thể trí và trang giấy, và ít nhất nó gửi tín hiệu cho thể trí rằng “Chắc hẳn mình có hiểu gì đó, nếu không thì đã chẳng gạch dưới.” Vì vậy, ít nhất đó là một liều xoa dịu. Người ta không cần phải cảm thấy mình vô tri nếu đang gạch dưới một điều gì đó.

So, pain, difficulty, sorrow. These are found on Mars and Saturn as well, and they tend to bring in our horoscopes the conditions of pain, difficulty and sorrow in different ways.

Vì vậy, đau đớn, khó khăn, sầu muộn. Những điều này cũng có trên Sao Hỏa và Sao Thổ, và chúng có xu hướng mang vào lá số chiêm tinh của chúng ta những điều kiện của đau đớn, khó khăn và sầu muộn theo những cách khác nhau.

Those who have read the Secret Doctrine and Cosmic Fire with understanding know that our Earth is not a sacred planet,

Những ai đã đọc Giáo Lý Bí Nhiệm và Lửa Vũ Trụ với sự thấu hiểu biết rằng Trái Đất của chúng ta không phải là một hành tinh thiêng liêng,

Well, Mars is not either, but Saturn is [sacred].

Sao Hỏa cũng không, nhưng Sao Thổ thì [thiêng liêng].

However, Saturn, Mars and our Earth constitute, in a curious esoteric manner,

Tuy nhiên, Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất của chúng ta tạo thành, theo một cách thức huyền bí lạ thường,

And watch out for that word esoteric because it signals the world of the Monad.

Và hãy lưu ý từ huyền bí vì nó báo hiệu thế giới của Chân thần.

…the [Page 99] personality of a stupendous ray Life, Whose energy is that of the third ray. [3g]

… [ Page 99] phàm ngã của một Đấng Sự Sống Cung vĩ đại khôn lường, Năng lượng của Ngài là của ba.

In my present attempt to understand this, I have considered this to be the Third Person of the Logoic Trinity— Father, Son, Holy Ghost—that Great ray Life who embodies the third ray, through the mind, emotions and physical vehicle, which actually are Saturn, Mars and the Earth. Then there is the Son, great ray Life, and the Father, a Great ray Life, the three Persons of the Logoic Trinity, so He does say a Stupendous ray Life. Now, is that Life within our solar system? So far, I’m hypothesizing that it is. We do wonder what the monadic rays are. Here we know that the monadic ray of Saturn is the third, and of Earth the first. Different lines can be drawn to the different planets, from our Earth to the first ray monad of Uranus, and our third ray personality to the great third ray of Saturn monadically, and from our second ray soul, the soul of the Planetary Logos, to the second ray soul of Jupiter. There are these not only lines of harmony but lines of identicality. We have the identical monadic ray with Uranus and maybe Mars, and the identical soul ray with Jupiter.

Trong nỗ lực hiện tại nhằm thấu hiểu điều này, tôi đã xem đây là Ngôi Thứ Ba của Tam Vị Thượng đế—Cha, Con, Chúa Thánh Thần—Đấng Sự Sống Cung Vĩ Đại, Đấng hiện thân cho cung ba, qua thể trí, cảm xúc và vận cụ hồng trần, vốn thực sự là Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất. Rồi có Ngôi Con, Đấng Sự Sống Cung vĩ đại, và Ngôi Cha, một Đấng Sự Sống Cung Vĩ Đại—ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế—vì thế Ngài có nói đến một vĩ đại khôn lường cung Sự Sống. Giờ đây, Sự Sống đó có nằm trong hệ mặt trời của chúng ta không? Cho đến giờ, tôi giả thuyết rằng có. Chúng ta tự hỏi các cung chân thần là gì. Ở đây chúng ta biết cung chân thần của Sao Thổ là cung ba, và của Trái Đất là cung một. Có thể vẽ những tuyến nối khác nhau đến các hành tinh khác nhau: từ Trái Đất của chúng ta đến Chân thần cung một của Sao Thiên Vương; từ phàm ngã cung ba của chúng ta đến cung ba vĩ đại của Sao Thổ trên bình diện chân thần; và từ linh hồn cung hai của chúng ta, tức linh hồn của Hành Tinh Thượng đế, đến linh hồn cung hai của Sao Mộc. Ở đây không chỉ có những tuyến hài hòa mà còn có những tuyến đồng nhất. Chúng ta có cung chân thần đồng nhất với Sao Thiên Vương và có thể cả Sao Hỏa, và cung linh hồn đồng nhất với Sao Mộc.

So, these three planets constitute in a curious esoteric manner. We are not yet going to understand the personality of a stupendous ray Life. Are there any planets that somehow constitute his soul or his Triadal vehicles? Well, this ray Life has the third ray particularly, and the only other planet that I can think of, well, there’s two really that have third ray in their system, Mercury definitely and Uranus apparently. Maybe to some degree, Pluto in a way, not expressed but we don’t have so much intrigue connected with it. Well, the third ray also touches the Trident of Neptune. Of course, Saturn and we’ve discussed that. And sometimes Venus has to do with higher mind, which seems to be the domain of the third ray, but there’s not so much about Venus that we would be connecting normally with the third ray.

Vì vậy, ba hành tinh này cấu thành theo một cách thức huyền bí lạ thường. Chúng ta chưa thể hiểu phàm ngã của một Đấng Sự Sống Cung vĩ đại khôn lường. Có hành tinh nào bằng cách nào đó cấu thành linh hồn hay các vận cụ Tam Nguyên Tinh Thần của Ngài chăng? Đấng Sự Sống Cung này đặc biệt thuộc cung ba, và hành tinh khác duy nhất mà tôi có thể nghĩ đến—thực ra có hai—có cung ba trong hệ của mình là Sao Thủy (chắc chắn) và Sao Thiên Vương (có vẻ vậy). Có lẽ ở một mức nào đó, Sao Diêm Vương theo một cách nào đó, chưa được biểu lộ rõ, nên chúng ta không có nhiều điều để đào sâu. Cung ba cũng chạm đến cây đinh ba của Sao Hải Vương. Dĩ nhiên là Sao Thổ—chúng ta đã bàn. Đôi khi Sao Kim liên hệ với thượng trí, dường như thuộc miền của cung ba, nhưng không có nhiều điều về Sao Kim mà chúng ta thường kết nối với cung ba.

There are, as has been stated elsewhere, seven sacred planets but ten planetary schemes, even 12 and in three cases, (those of the three major rays) three planets constitute the personality of each ray Life. [3h]

Như đã được nói nơi khác, có bảy hành tinh thiêng liêng nhưng mười hệ hành tinh, thậm chí 12 và trong ba trường hợp (thuộc ba cung chính), ba hành tinh cấu thành phàm ngã của mỗi Đấng Sự Sống Cung. [3h]

Well, this may be a little difficult to interpret, seven sacred planets and 10 planetary schemes, and in three cases, those of the three major rays, and I have to say, probably working through the Three Persons of the Logoic Trinity, three planets constitute the personality of each, because we might say… Well, we should think that what we’re really talking about is the synthesizing planets with three planets constituting the personality, but the synthesizing planets are included among the three, because we’re going to see in a minute that there’s a group of three that are expressing the personality of another ray Life and Uranus is included. And then we can infer that maybe Neptune is included when expressing the personality of a great first ray Live. After all, Neptune does bring dissolution and destruction at pralaya. Each planet we know has a number of rays, and in trying to understand the deeper expression of the planets, these rays will have to be studied. But right now, it’s a question of inference.

Điều này có thể khó diễn giải đôi chút: bảy hành tinh thiêng liêng và mười hệ hành tinh, và trong ba trường hợp—thuộc ba cung chính—và tôi phải nói, có lẽ vận hành qua Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế, ba hành tinh cấu thành phàm ngã của mỗi Ngôi, vì chúng ta có thể nói… Chúng ta nên nghĩ rằng điều chúng ta thật sự đang nói là những hành tinh tổng hợp với ba hành tinh cấu thành phàm ngã, nhưng các hành tinh tổng hợp được bao gồm trong bộ ba ấy, bởi vì ngay sau đây chúng ta sẽ thấy có một nhóm ba đang biểu lộ phàm ngã của một Đấng Sự Sống Cung khác và Sao Thiên Vương được bao gồm. Và rồi chúng ta có thể suy ra rằng có lẽ Sao Hải Vương được bao gồm khi biểu lộ phàm ngã của một Đấng Sự Sống Cung một vĩ đại. Rốt cuộc, Sao Hải Vương mang đến sự tiêu giải và hủy hoại vào lúc pralaya. Mỗi hành tinh, như chúng ta biết, có một số cung, và khi cố hiểu biểu lộ sâu xa hơn của các hành tinh, các cung ấy sẽ phải được nghiên cứu. Nhưng lúc này, đó là vấn đề suy luận.

Some esoteric thinkers believe that there are twelve planets to be considered in our solar system, and there is a basis for their conclusion. [3i]

Một số nhà tư tưởng huyền bí tin rằng có mười hai hành tinh cần được xét đến trong hệ mặt trời của chúng ta, và có cơ sở cho kết luận ấy. [3i]

Let’s just say, one ruling each of the signs in a sense. I think I’ve gone over this earlier in Esoteric Astrology, how the rulership could be worked out, and not necessarily an exoteric rulership.

Chúng ta hãy chỉ nói rằng, mỗi hành tinh cai quản một trong các dấu hiệu theo một nghĩa nào đó. Tôi nghĩ tôi đã bàn điều này trước đây trong Chiêm Tinh Học Nội Môn: cách an chủ tinh có thể được xác lập, và không nhất thiết là sự cai quản ngoại môn.

The personality of this third ray Life functions through the following planets:

Phàm ngã của Đấng Sự Sống cung ba này vận hành qua các hành tinh sau:

So, {the third ray life, we have to assume is not a synthesizing planet.

Vì vậy, {Đấng Sự Sống cung ba, chúng ta phải giả định, không phải là một hành tinh tổng hợp.

Well, as I say, the personality of the ray Life is one thing, but what about the soul nature in its Triadal aspect, and can we bring in the monadic ray nature which is also [try rooms…] with the Spiritual Triad and even on its own plane? I’m not sure that makes complete sense at this point. But anyway,

Như tôi nói, phàm ngã của Đấng Sự Sống Cung là một chuyện, nhưng còn bản chất linh hồn ở phương diện Tam Nguyên thì sao, và liệu chúng ta có thể đưa vào bản chất cung chân thần, vốn cũng [nghe không rõ…] với Tam Nguyên Tinh Thần và thậm chí trên chính cõi của nó? Tôi không chắc điều đó lúc này hoàn toàn mạch lạc. Nhưng dù sao,

The personality of this third ray Life functions through the following planets:

Phàm ngã của Đấng Sự Sống cung ba này vận hành qua các hành tinh sau:

1. The mental body expresses itself through the medium of the planet Saturn. [3j]

1. Thể trí tự biểu lộ qua môi giới của hành tinh Sao Thổ. [3j]

Well, this is interesting. It’s not necessarily the Saturn that is the mental body but the mental body of this, let’s say, Persons of the Logoic Trinity expresses itself through the medium of Saturn.

Điều này thú vị. Không nhất thiết Sao Thổ là thể trí, mà là thể trí của, chúng ta hãy nói, một Ngôi trong Tam Vị Thượng đế tự biểu lộ qua môi giới của Sao Thổ.

So, we have to be careful how we read here. It is not necessarily that Saturn is a mental body of this great third ray life, but that the mental body of this life expresses through Saturn. Saturn, we realize, has many parts to it, not just a mental body. It has all of the vehicles and the higher vehicles as well. I kind of am beginning to realize this in a way that I have not before. I have oftentimes said that Saturn is the mental body of this third ray life. Three planets constitute the personality of each ray life. Well, I think we’ll have to leave it a little ambiguous. Saturn has its mental body its own, and the ray Life has its own mental body, and the sun has its own mental body, which is not the mental body of any of its planets, or in this case, let’s say, the three Persons of the Logoic Trinity, they all have their own mental bodies, but the particular vehicles can be correlated with and resonant to other vehicles. For instance, the vehicles of Saturn and the vehicles of a Person of the Trinity, let’s say we’re dealing with a mental body of the Solar Logos, it can work through other expressions, other vehicles.

Vì vậy, chúng ta phải thận trọng cách đọc ở đây. Không nhất thiết Sao Thổ là thể trí của Đấng Sự Sống cung ba vĩ đại này, mà thể trí của Đấng Sự Sống ấy tự biểu lộ qua Sao Thổ. Sao Thổ, như chúng ta nhận ra, có nhiều phần, không chỉ một thể trí. Nó có tất cả các vận cụ và cả các vận cụ cao. Tôi bắt đầu nhận ra điều này theo một cách mà trước đây mình chưa có. Tôi đã nhiều lần nói rằng Sao Thổ là thể trí của Đấng Sự Sống cung ba này. Ba hành tinh cấu thành phàm ngã của mỗi Đấng Sự Sống Cung. Vâng, tôi nghĩ chúng ta sẽ để điều đó hơi mơ hồ một chút. Sao Thổ có thể trí riêng của nó, và Đấng Sự Sống Cung có thể trí riêng của Ngài, và Thái Dương cũng có thể trí riêng của Ngài, vốn không phải là thể trí của bất kỳ hành tinh nào của Ngài, hoặc trong trường hợp này, chúng ta hãy nói, Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế, mỗi Ngôi đều có thể trí riêng, nhưng các vận cụ cụ thể có thể được đối ứng và cộng hưởng với các vận cụ khác. Thí dụ, các vận cụ của Sao Thổ và của một Ngôi trong Tam Vị; giả sử chúng ta đang xử lý thể trí của Thái dương Thượng đế, nó có thể vận hành qua các biểu lộ khác, các vận cụ khác.

So, anyway, the personality of this third ray life, which may be independent of the three planets, function through the following planets.

Dù sao, phàm ngã của Đấng Sự Sống cung ba này, có thể độc lập với ba hành tinh, vận hành qua các hành tinh sau.

1. The mental body expresses itself through the medium of the planet Saturn

1. Thể trí tự biểu lộ qua môi giới của hành tinh Sao Thổ

And we are not told which vehicles of Saturn receive the influence of the mental body of this Third ray Life. And then,

Và chúng ta không được cho biết những vận cụ nào của Sao Thổ tiếp nhận ảnh hưởng của thể trí thuộc Đấng Sự Sống cung ba này. Và rồi,

2. The astral body expresses itself through the planet Mars.

2. Thể cảm dục tự biểu lộ qua hành tinh Sao Hỏa.

But it’s still the astral body of the Third ray Life,

Nhưng vẫn là thể cảm dục của Đấng Sự Sống Cung ba,

3. The physical body expresses itself through the planet Earth. [3k]

3. Thể xác tự biểu lộ qua hành tinh Trái Đất. [3k]

Is Earth the physical body or is the physical body of this Being expressed through Earth? I think we’ll have to leave that for the moment unresolved. But let’s just say there is a great connection between this Life and these three planets.

Trái Đất là thể xác hay thể xác của Đấng Hữu này được biểu lộ qua Trái Đất? Tôi nghĩ tạm thời chúng ta sẽ để ngỏ. Nhưng chúng ta hãy nói rằng có một mối liên hệ lớn giữa Đấng Sự Sống này và ba hành tinh ấy.

The potency of this Life is such that He requires three complete schemes—all three closely allied and interdependent—through which to express Himself. Uranus, Jupiter and Venus are similarly allied in order to manifest or express a great Life. [3l]

Năng lực của Đấng Sự Sống này lớn đến mức Ngài cần ba hệ hành tinh hoàn chỉnh—cả ba đều mật liên và tương thuộc—để biểu lộ chính Ngài. Sao Thiên Vương, Sao Mộc và Sao Kim cũng mật liên tương tự để hiện lộ hoặc biểu lộ một Đấng Sự Sống vĩ đại.

And I assume here we are speaking of a second ray life. Well, Venus has so much to do with the second ray and Jupiter as well. And Uranus being in the Sirian line, being a conduit for Sirian energy, I’m for the second aspect of divinity in general, I assume this to be a secondary life. Or I assume it to be the son aspect of the three persons of the Logoic Trinity.

Và tôi cho rằng ở đây chúng ta đang nói về một Đấng Sự Sống Cung hai. Sao Kim liên hệ rất nhiều với cung hai, và Sao Mộc cũng vậy. Còn Sao Thiên Vương thuộc tuyến Sirius, là đường dẫn năng lượng từ Sirius—nói chung là phương diện thứ hai của thiên tính—tôi cho rằng đây là một Đấng Sự Sống Cung hai. Hay tôi cho rằng đó là phương diện Con trong Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế.

These facts constitute a tremendous mystery, and in no way negate the truth that Venus has a peculiar and intimate relation to the Earth.

Những sự kiện này cấu thành một huyền bí to tát, và không hề phủ nhận chân lý rằng Sao Kim có một liên hệ riêng biệt và thâm mật với Trái Đất.

The different planets in our solar system have many relations, just the way we as human beings relate not only to one person and one function, but have many different relationships.

Các hành tinh khác nhau trong hệ mặt trời của chúng ta có nhiều mối liên hệ, cũng như chúng ta, những con người, không chỉ liên hệ với một người và một chức năng, mà có nhiều mối tương quan.

The point here being stressed is difficult to express, but of great importance. Let me be more explicit, by means of the following statements:

Điểm nhấn ở đây khó diễn đạt, nhưng rất quan trọng. Để rõ ràng hơn, tôi sẽ phát biểu như sau:

And now he’s going to be more explicit.

Và bây giờ Ngài sẽ diễn giải rõ hơn.

Well, I think what I’m going to do at this point is make this an hour and a half program. This will be the end of Laws of the Soul webinar commentaries, number five, Esoteric Psychology II.

Tôi nghĩ lúc này tôi sẽ làm chương trình này thành một buổi dài một tiếng rưỡi. Đây sẽ là phần kết của loạt bình luận webinar về Các Định Luật của Linh Hồn, số năm, Tâm Lý Học Nội Môn II.

Well, we’re into deep things, we’re into the Law of Sacrifice, and we’re into the manner in which sacrifice is experienced and expressed on different planets, and we’ve entered the realm of a third ray Entity, Stupendous Life, and three planets familiar to us through which this great Third ray Entity expresses, and I think He’s going to tell us that there’s a very heavy expression of the Law of Sacrifice on these three planets, and most of all, on Earth, which may be to us as Earthlings comes as no surprise, we think our lot is rather hard. And in fact esoterically it is, when we are identified with the third aspect of divinity, we have to realize that this third aspect has much to do to correlate itself with the program, the agenda of the second aspect of entity working through our particular solar system. And in that frictional adjustment, comes much of our pain.

Chúng ta đang đi vào những điều sâu xa, vào Định luật Hy sinh, và vào cách hy sinh được trải nghiệm và biểu lộ trên các hành tinh khác nhau; chúng ta đã bước vào cảnh giới của một Đấng Cung ba, một Đại Sự Sống, và ba hành tinh quen thuộc với chúng ta qua đó Đấng Cung ba vĩ đại này biểu lộ; và tôi nghĩ Ngài sẽ cho chúng ta biết rằng có một biểu hiện rất mạnh của Định luật Hy sinh trên ba hành tinh này, và nhất là trên Trái Đất, điều này đối với chúng ta—những người Trái Đất—có lẽ chẳng ngạc nhiên: chúng ta nghĩ phần số của mình khá nặng nề. Và thực sự, xét theo nội môn là như vậy: khi chúng ta đồng hóa với phương diện thứ ba của thiên tính, chúng ta phải nhận ra rằng phương diện thứ ba này có rất nhiều điều phải thực hiện để tương hợp với chương trình, nghị trình của phương diện thứ hai của Thiên Tính đang vận hành qua hệ mặt trời đặc thù của chúng ta. Và trong sự điều chỉnh ma sát ấy, phần lớn nỗi đau của chúng ta khởi sinh.

Well, okay, that will be it for this. And we will go on to number six, and continue looking at these Great Lives, which I am presuming to be expressions of three ray Lords found, we might say, here, three Logoi, I assume these are the three Persons of the Logoic Trinity, and they are the manner of bringing the one of the Solar Logos into the Three, and then into the Seven, which would be the seven sacred planets.

Như vậy, tạm dừng tại đây. Và chúng ta sẽ chuyển sang số sáu, tiếp tục khảo sát những Đấng Vĩ Đại này, mà tôi giả định là những biểu lộ của ba Đấng Chúa Tể Cung—có thể nói—ở đây, ba Thượng đế; tôi cho rằng đó là Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế, và Các Ngài là phương cách đưa Đấng Duy Nhất của Thái dương Thượng đế vào Ba, rồi vào Bảy, tức bảy hành tinh thiêng liêng.

So, what I’m saying here, it’s a hypothesis is that each one of these Logoi, the three Persons of the Trinity require three of the other planetary Logoi through which to express. And, of course, on this monadic plane as well will be the presence of the Monads of the non sacred planets. Well, let’s just say that this is really the monads of the non sacred planets are found on a very high level, but the type of expression found here is, I think, not limited to the sacred planets only, but some sort of expression relative to Earth, to Mars, to Pluto, and so forth, will also be found here…

Điều tôi đang nói ở đây—một giả thuyết—là mỗi vị trong ba vị Thượng đế ấy cần ba vị Hành Tinh Thượng đế khác để biểu lộ qua đó. Và dĩ nhiên, trên cõi Chân thần này cũng sẽ có sự hiện diện của các Chân thần của những hành tinh không thiêng liêng. Chúng ta hãy chỉ nói rằng thật ra các chân thần của những hành tinh không thiêng liêng được tìm thấy ở một cấp rất cao, nhưng kiểu biểu lộ được nói đến ở đây, theo tôi, không chỉ giới hạn ở các hành tinh thiêng liêng, mà một dạng biểu lộ nào đó liên hệ với Trái Đất, với Sao Hỏa, với Sao Diêm Vương, v.v., cũng sẽ được tìm thấy ở đây…

Scroll to Top