Thư gởi đệ tử O-L. R. D. – Nhóm Chữa Lành
O-LRD
Ethel Prouty 6/7/1876, USA
Outgoing Love, Release, Detachment —Tình yêu hướng ngoại, Giải phóng, Tách rời
I-V-3-6-1
551-559
Reference 93
August 1935—Tháng 8 năm 1935
|
MY BROTHER: |
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI: |
|
You have for some years been actively and consciously working at your spiritual unfoldment. Prior to this, your life tendency was towards the light, with intervals of forgetfulness and engrossment in the things of every day existence. There was, in these earlier times, but little of steadfast, coordinated purpose. Now your insistence upon making the transition out of the lower into the higher life, and your pledge to your soul that you will recognise no impediment or handicap, has been noted. Assistance, therefore, will be given to you, and I shall be glad, through suggestion and watchful cooperation, to aid you on your way. I would remind you at this point also that, under the laws of the New Age, such assistance is given only to those who have transcended selfish aspiration and have lost sight of their own progress in the desire to serve. The Law of Service, as you know, is the governing law of the future and embodies the new technique. In past ages, it was the service of one’s own soul (with the emphasis upon one’s own individual salvation) which engrossed the attention of the aspirant. Naught else was considered. Then came the period wherein the service of the Master and also of one’s own soul was considered of dominant interest; the Master was served and duty to Him emphasised because thereby the salvation of the individual was aided. Now a new note is sounding forth—the note of growth through the service of the race, and through a cultivated self-forgetfulness. |
Trong nhiều năm qua, em đã tích cực và có ý thức làm việc để khai mở tinh thần. Trước đó, khuynh hướng sống của em là hướng về ánh sáng, nhưng đôi khi lại có những khoảng thời gian quên lãng và bị cuốn vào những điều thuộc cuộc sống thường nhật. Trong những thời kỳ trước đó, gần như không có mục tiêu kiên định và phối hợp nào. Giờ đây, sự kiên quyết của em trong việc chuyển hóa từ đời sống thấp sang đời sống cao và lời cam kết với linh hồn rằng em sẽ không công nhận bất kỳ trở ngại hay giới hạn nào đã được ghi nhận. Vì vậy, sự trợ giúp sẽ được trao cho em, và tôi sẽ vui lòng hỗ trợ em trên hành trình thông qua gợi ý và sự cộng tác quan sát. Tôi cũng muốn nhắc em tại điểm này rằng, theo các định luật của Kỷ Nguyên Mới, sự trợ giúp như thế chỉ được trao cho những ai đã vượt lên trên ước vọng vị kỷ và không còn quan tâm đến sự tiến bộ riêng mình trong khát vọng phụng sự. Như em đã biết, Định Luật Phụng Sự là định luật chi phối tương lai và bao hàm kỹ thuật mới. Trong các thời đại trước, chính sự phụng sự đối với linh hồn của mình (với sự nhấn mạnh vào sự cứu rỗi cá nhân) đã thu hút toàn bộ sự chú tâm của người chí nguyện. Không điều gì khác được xét đến. Sau đó đến thời kỳ mà sự phụng sự Chân sư và cả chính linh hồn mình được xem là mối quan tâm chủ đạo; Chân sư được phụng sự và bổn phận đối với Ngài được nhấn mạnh bởi vì qua đó mà sự cứu rỗi cá nhân được thúc đẩy. Giờ đây một âm điệu mới đang vang vọng—âm điệu của sự trưởng thành thông qua phụng sự nhân loại, và thông qua việc nuôi dưỡng đức tính tự quên mình. |
|
[552] |
[552] |
|
You are in this group of my disciples, as are all the others, in order to study a mode of service for which you are well adapted—the service and art of healing. All that occurs in your life, my brother, and all preparation that you may make for future lives and all that you seek to do should, for the future, be made subservient to that basic idea of service through healing. |
Em hiện diện trong nhóm đệ tử của tôi, như tất cả những người khác, để nghiên cứu một hình thức phụng sự mà em rất thích hợp—sự phụng sự và nghệ thuật chữa lành. Huynh đệ của tôi, tất cả những gì xảy ra trong đời sống của em và mọi sự chuẩn bị mà em có thể thực hiện cho các kiếp sống tương lai, tất cả những gì em tìm cách thực hiện trong tương lai đều phải quy phục trước ý tưởng nền tảng đó—phụng sự qua chữa lành. |
|
The best way in which you can develop the needed understanding and technique is through meditation. To you, the way of meditation is of no profound difficulty. In earlier lives you established the line of approach. You can orient yourself easily upon that way. For you, however, there must come (during the next two years) the mastering of the technique whereby: |
Cách tốt nhất để em phát triển sự thấu hiểu và kỹ thuật cần thiết là thông qua tham thiền. Với em, con đường tham thiền không quá khó khăn. Trong những kiếp sống trước, em đã thiết lập đường lối tiếp cận đó. Em có thể dễ dàng định hướng mình theo con đường ấy. Tuy nhiên, đối với em, trong hai năm tới cần đạt được việc làm chủ kỹ thuật qua đó: |
|
1. You learn to utilize the meditation period in order to bring about an intense focussing upon the subject of healing, its laws and methods. |
1. Em học cách sử dụng thời gian tham thiền để mang lại sự tập trung mãnh liệt vào đề tài chữa lành, các định luật và phương pháp của nó. |
|
2. You master the technique whereby you can project your thought consciously in such a manner that healing can take place where and when needed. |
2. Em làm chủ được kỹ thuật nhờ đó em có thể phóng chiếu tư tưởng của mình một cách có ý thức, sao cho sự trị liệu có thể diễn ra ở nơi và vào lúc cần thiết. |
|
In the one case, you train yourself to be a “point of contact” for the healing forces of the planet. In the other, you train yourself to be a “channel of distribution.” Ponder on these two objectives, but expect not yet to be able to reach them. In the work of the disciple, the time element counts not. Growth, deep rooted and established, is the goal, and growth, if sound and good, is slow. |
Trong trường hợp thứ nhất, em rèn luyện bản thân trở thành một “điểm tiếp xúc” cho các mãnh lực chữa lành của hành tinh. Trong trường hợp thứ hai, em rèn luyện để trở thành một “kênh phân phối.” Hãy chiêm nghiệm hai mục tiêu này, nhưng đừng trông mong đạt được chúng ngay lúc này. Trong công việc của người đệ tử, yếu tố thời gian không có giá trị. Mục tiêu là sự trưởng thành, bén rễ sâu sắc và được thiết lập, và sự trưởng thành, nếu lành mạnh và đúng đắn, thì luôn diễn ra chậm rãi. |
|
In connection with your own character development, seek to bring about two things: |
Liên quan đến sự phát triển đặc tính của chính em, hãy nỗ lực đạt đến hai điều: |
|
1. A decentralisation and self-forgetfulness which will offset and negate that spiritual diffidence and dissatisfaction with yourself that does colour much of your thought. |
1. Một sự phi tập trung và tự quên mình, điều sẽ làm triệt tiêu và phủ định sự tự ti tinh thần và sự không hài lòng với bản thân vốn nhuộm màu nhiều tư tưởng của em. |
|
2. A tenderness which will grow out of an increasing capacity to identify yourself with other people and their problems. |
2. Một sự dịu dàng sẽ phát triển từ khả năng ngày càng gia tăng trong việc đồng nhất hóa mình với người khác và với các vấn đề của họ. |
|
Life has held for you much of difficulty during the past three months; many adjustments, inner and outer, have been required. Detachment has been the lesson which you are learning [553] and indicates to you the way of release. Like all disciples, in training on the Path of Accepted Discipleship or preparing to be so trained, much has had to be broken in your life in order to establish the new rhythms. This process is still to be continued and for it you must be prepared. You have, however, adequate light and sufficient strength to enable you to tread the way of the disciple. You can count upon yourself and upon your own divinity. |
Cuộc sống trong ba tháng vừa qua đã mang đến cho em nhiều điều khó khăn; nhiều sự điều chỉnh, cả bên trong lẫn bên ngoài, đã được yêu cầu. Sự tách rời đã là bài học mà em đang học [553] và điều đó chỉ ra cho em con đường giải thoát. Như mọi đệ tử khác đang được huấn luyện trên Con Đường của Đệ Tử Chính Thức hoặc đang chuẩn bị để được huấn luyện như thế, nhiều điều đã phải bị phá vỡ trong đời sống của em nhằm thiết lập những tiết điệu mới. Quá trình này vẫn sẽ tiếp tục và em phải sẵn sàng cho điều đó. Tuy nhiên, em có đủ ánh sáng và đủ sức mạnh để cho phép mình bước đi trên con đường của người đệ tử. Em có thể tin cậy vào chính mình và vào thiên tính của mình. |
|
I commend to you the careful keeping of your spiritual diary. In writing in it, day by day, do so with the recollection that your ability to express spiritual thoughts must be used for the helping of others. “The heart knoweth its own development. The onlooker tastes the fruit thereof.” This thought, of ancient import, will mean much to you. Ponder on it. |
Tôi khuyên em hãy gìn giữ cẩn thận nhật ký tâm linh của mình. Khi ghi chép vào đó mỗi ngày, hãy làm như vậy với sự hồi tưởng rằng khả năng biểu đạt các tư tưởng tinh thần của em phải được dùng để giúp đỡ người khác. “Trái tim biết rõ sự phát triển của chính mình. Người quan sát nếm được trái ngọt từ đó.” Tư tưởng này, có từ xa xưa, sẽ mang nhiều ý nghĩa với em. Hãy chiêm nghiệm nó. |
|
I suggest the following meditation and breathing exercises…. It may take a little while to accustom yourself to it but, given time, you should get real benefit therefrom…. |
Tôi đề nghị bài tham thiền và các bài tập thở sau đây… Có thể sẽ mất một chút thời gian để em làm quen với chúng, nhưng nếu cho đủ thời gian, em sẽ thực sự nhận được lợi ích từ đó… |
|
Then, focussing yourself in the head and remembering that you are the soul, do your meditation work with an in creased intensity and purity of purpose. Give about fifteen minutes to this work. |
Sau đó, tập trung nơi đầu và nhớ rằng em chính là linh hồn, hãy thực hiện công việc tham thiền với cường độ và mục đích thanh khiết gia tăng. Dành khoảng mười lăm phút cho công việc này. |
|
Then, give fifteen minutes to a close pondering upon the thoughts of healing. You could, if you so choose, pick out certain key thoughts from my words and make them the subject of your close attention. Upon them make and keep notes. |
Sau đó, dành mười lăm phút để chiêm nghiệm sâu sắc các tư tưởng về chữa lành. Em có thể, nếu muốn, chọn ra một vài tư tưởng then chốt từ lời tôi và lấy chúng làm chủ đề cho sự chú tâm kỹ lưỡng. Hãy ghi chép và giữ lại những điều này. |
|
Then, give five minutes to some definite work in helping someone to a greater light and freedom, remembering that healing can be on all planes. |
Sau đó, dành năm phút để thực hiện một công việc cụ thể nhằm giúp ai đó đạt được ánh sáng và sự giải thoát lớn hơn, và hãy nhớ rằng chữa lành có thể diễn ra trên mọi cõi. |
|
I would ask you to go slowly and do all this work most thoughtfully. |
Tôi mong em tiến hành mọi việc một cách chậm rãi và đầy suy tưởng. |
March 1936— Tháng 3 năm 1936
|
BROTHER OF MINE: |
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI: |
|
In establishing, as I do, a close and more enduring contact each time I communicate with one of my disciples, I feel that until later in the year there is little need to change your work. You have been relatively so short a time in the group, and there has not been time, therefore, for the meditation, which I assigned [554] you at my last communication, to perform its intended function. Your grasp of teaching is so quick and so intuitive, and your mind processes are so apt rapidly to grip essentials, that it is vitally necessary that there should always supervene in your case a time for quiet reflection for the assimilation of the recognised truths, and for their incorporation into the daily life. |
Khi tôi thiết lập, như tôi vẫn làm, một sự tiếp xúc gần gũi và bền vững hơn mỗi khi tôi truyền đạt với một đệ tử của tôi, tôi nhận thấy rằng cho đến cuối năm nay, hầu như không cần thay đổi công việc của em. Em mới ở trong nhóm một thời gian tương đối ngắn, và vì vậy chưa có đủ thời gian để bài tham thiền mà tôi đã giao cho em [554] trong lần truyền đạt trước phát huy chức năng dự định của nó. Sự nắm bắt giáo huấn của em quá nhanh và quá trực giác, và các tiến trình của thể trí em lại quá mau lẹ trong việc chộp lấy những điều cốt yếu, đến mức điều hết sức cần thiết là trong trường hợp của em luôn phải có một khoảng thời gian tĩnh lặng để quán chiếu, nhằm đồng hóa các chân lý đã được nhận biết và hội nhập chúng vào đời sống hằng ngày. |
|
This group is today, for the first time, a completed group unit. The time for fusion and for blending and for the permanent establishing of a correct inter-relation must be prolonged, however. I definitely ask you to hold the group in the strength of your love and thus aid its progress forward…. |
Hôm nay, lần đầu tiên, nhóm này đã trở thành một đơn vị nhóm hoàn chỉnh. Tuy nhiên, thời kỳ dành cho sự dung hợp, sự hòa nhập và việc thiết lập bền vững một mối liên hệ đúng đắn vẫn cần được kéo dài thêm. Tôi tha thiết yêu cầu em giữ nhóm trong sức mạnh tình thương của em và nhờ đó hỗ trợ cho sự tiến bước của nhóm…. |
|
Particularly, however, do I ask you to take peculiar care and interest in connection with the Full Moon Contact for the establishing of a rapid and easy rapport at this sacred time, not only with me, but with your co-disciples. This will do more to release this group and to align them with myself and with what I represent than any other one thing. It will aid in blending them together in the bond of understanding. In this particular work you can help materially, my brother and my friend of olden time, because of your natural “facility in contact,” regarded as a service that you can render to the group. |
Tuy nhiên, đặc biệt tôi mong em dành sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt đối với việc Tiếp xúc Trăng Tròn nhằm thiết lập một mối liên kết nhanh chóng và dễ dàng vào thời điểm thiêng liêng này, không chỉ với tôi mà còn với các bạn đồng môn của em. Điều này sẽ góp phần giải phóng nhóm này và giúp họ được chỉnh hợp với tôi và với những gì tôi đại diện nhiều hơn bất kỳ điều nào khác. Việc đó sẽ hỗ trợ sự kết hợp của họ trong sợi dây của sự hiểu biết. Trong công việc đặc biệt này, em có thể đóng góp một cách thiết thực, huynh đệ và người bạn thuở xưa của tôi, bởi vì em có “khả năng tiếp xúc tự nhiên,” điều này được xem như một sự phụng sự mà em có thể hiến dâng cho nhóm. |
|
Go forward with strength, love and understanding and let not the lower reasoning mind deter you from anticipating and expecting great things. You have strength and power and a dynamic will, my brother and friend. These are divine assets. As you yourself well realise, you hinder their divine expression through a failure to love enough. Be not hard, but learn in tenderness to walk with others. Thereby all that you have becomes constructive. Give loving strength. |
Hãy tiến bước với sức mạnh, tình thương và sự thấu hiểu, và đừng để cái hạ trí lý luận cản trở em trong việc kỳ vọng và trông đợi những điều vĩ đại. Em có sức mạnh, quyền năng và một ý chí năng động, huynh đệ và bạn của tôi. Đây là những tài sản thiêng liêng. Như chính em đã biết rõ, em ngăn cản sự biểu lộ thiêng liêng của chúng vì chưa yêu thương đủ. Đừng cứng rắn, mà hãy học bước đi với người khác bằng sự dịu dàng. Nhờ đó, mọi thứ em có sẽ trở nên mang tính xây dựng. Hãy trao tặng sức mạnh đầy tình thương. |
September 1936—Tháng 9 năm 1936
|
MY BROTHER AND FRIEND OF LONG AGO: |
HUYNH ĐỆ VÀ NGƯỜI BẠN THUỞ XƯA CỦA TÔI: |
|
Will you take the following ideas into your consciousness and ponder on them during the coming six months, seeking earnestly their subjective value and their objective realisation: |
Liệu em có thể tiếp nhận những ý tưởng sau đây vào tâm thức mình và chiêm nghiệm chúng trong sáu tháng sắp tới, tìm kiếm một cách chân thành giá trị nội tại của chúng và sự hiện thực khách quan của chúng: |
|
1st month—The Way of Love is the lighted Way. |
Tháng thứ nhất — Con Đường của Tình Thương là Con Đường đầy ánh sáng. |
|
2nd month—The will-to-power must be galvanised by love. |
Tháng thứ hai — Ý chí-quyền-năng phải được kích hoạt bởi tình thương. |
|
3rd month—Each pilgrim on the Way is worn and tired. [555] All are sincere. Forget this not. |
Tháng thứ ba — Mỗi người hành hương trên Đường Đạo đều đã mỏi mòn và kiệt sức. [555] Tất cả đều chân thành. Đừng quên điều này. |
|
4th month—Each life crisis can lead to extended vision or to a separating wall. |
Tháng thứ tư — Mỗi khủng hoảng trong đời sống đều có thể dẫn đến tầm nhìn rộng mở hơn hoặc dẫn đến một bức tường ngăn cách. |
|
5th month—The time is short. Only the thoughts which blend and fuse can last. The isolated Way is dark. |
Tháng thứ năm — Thời gian thì ngắn ngủi. Chỉ những tư tưởng nào hòa hợp và dung hợp mới có thể tồn tại. Con Đường tách biệt là con đường tăm tối. |
|
6th month—Let the radiance of the heart lead thee to peace. Desire earnestly the loving, radiant heart which showers peace and healing strength on others. |
Tháng thứ sáu — Hãy để hào quang của trái tim dẫn em đến an bình. Hãy tha thiết ước mong trái tim yêu thương, toả sáng, vốn ban rải an bình và sức mạnh chữa lành cho tha nhân. |
|
I would ask you, my brother, to study all that I have said in my various writings on the relation of the head centre and the heart centre, and on the relation of will and love. Write then a paper for the helping of your fellow servers. |
Tôi mong em, huynh đệ của tôi, hãy nghiên cứu tất cả những gì tôi đã nói trong các bài viết khác nhau của tôi về mối liên hệ giữa luân xa đầu và luân xa tim, và về mối liên hệ giữa ý chí và tình thương. Sau đó hãy viết một bài để trợ giúp cho các bạn phụng sự của em. |
February 1937—Tháng 2 năm 1937
|
MY BROTHER AND MY FRIEND: |
HUYNH ĐỆ VÀ NGƯỜI BẠN CỦA TÔI: |
|
The past six months have produced in you a definite orientation towards your next expansion of consciousness, and of this you are yourself aware. It is this state of awareness which is of great importance to you. It would also be of value to you if you could—clearly and in words—express what you believe (in your highest and deepest moments) is the next step which lies immediately ahead of you. As a soul, functioning through a personality, what is the next recognition or realisation which your soul seeks to have your brain consciousness register? To aid you in doing this, permit me to formulate three questions which may be of assistance in this effort to express clearly something perhaps only dimly sensed: |
Sáu tháng vừa qua đã mang đến cho em một định hướng rõ ràng dẫn tới bước mở rộng tâm thức kế tiếp, và em cũng đã tự mình nhận thức được điều này. Chính trạng thái nhận thức đó là điều rất quan trọng đối với em. Sẽ rất hữu ích nếu em có thể—một cách rõ ràng và bằng lời—diễn đạt điều mà em tin là (trong những khoảnh khắc cao cả và sâu sắc nhất) bước kế tiếp đang ngay trước mắt mình. Với tư cách là một linh hồn hoạt động qua một phàm ngã, sự nhận biết hay nhận thức kế tiếp mà linh hồn em tìm cách khiến tâm thức não bộ ghi nhận là gì? Để hỗ trợ em trong việc này, cho phép tôi đưa ra ba câu hỏi có thể giúp ích cho nỗ lực diễn đạt điều gì đó mà có thể em mới chỉ lờ mờ cảm nhận: |
|
1. What exactly is the vision, as I see it, in connection with my immediate unfoldment? |
1. Chính xác thì tầm nhìn của tôi là gì, như tôi thấy nó, trong mối liên hệ với sự khai mở trước mắt của tôi? |
|
2. What will be the practical outcome in my daily, outer life of the materialising of this vision? |
2. Kết quả thực tiễn trong đời sống hằng ngày, nơi thế giới bên ngoài, sẽ là gì nếu tầm nhìn đó được hiện thực hoá? |
|
3. What will be the quality of the experience when I have made it fact in my mind and brain consciousness? |
3. Phẩm tính của kinh nghiệm đó sẽ là gì khi tôi đã làm cho nó trở thành sự thật trong thể trí và ý thức não bộ của mình? |
|
You see, my brother, you are essentially the occultist, being a first ray soul and working through a fifth ray personality. This is a combination of great value but it carries with it its limitations because it is entirely along one major line of energy, [556] 1-3-5-7, and this is intensified by the fact that your mental body is on the third ray and your physical body is on the first. This last force type utilised by you in the physical body runs counter to the usual rule but with disciples the rule is not unchangeable. You will see, therefore, how the line of the will or power energy, intelligently applied, dominates your equipment in this life. Your astral body is on the sixth ray; this constitutes your “door of entrance” to the major ray of the solar system, and to the Heart of God and of your fellowmen. In your next incarnation, you will need to balance this condition, and the balancing will only take place as is desired, if the impetus for it originates through the potency of the love which your astral body can succeed in expressing in this incarnation. Therefore, for the remainder of your present life, the right unfoldment and the achieved control of the love nature, as your sentient astral body can express it, is of paramount importance. It is essential for your rapid integration into the hierarchy of souls and servers. |
Em thấy đó, huynh đệ của tôi, về bản chất em là một nhà huyền bí, với linh hồn thuộc cung một và phàm ngã thuộc cung năm. Đây là một kết hợp có giá trị rất lớn, nhưng nó cũng mang theo những giới hạn của nó bởi vì nó hoàn toàn nằm trong một dòng năng lượng chính yếu—[556] 1-3-5-7—và điều này càng được tăng cường bởi thực tế là thể trí của em thuộc cung ba và thể xác thuộc cung một. Loại mãnh lực sau cùng này mà em sử dụng trong thể xác đi ngược lại quy luật thông thường, nhưng đối với các đệ tử thì quy luật ấy không phải là bất biến. Vì vậy, em sẽ thấy đường lối của năng lượng ý chí hay quyền năng, khi được vận dụng một cách thông minh, chi phối toàn bộ trang bị của em trong kiếp sống này như thế nào. Thể cảm dục của em thuộc cung sáu; điều này tạo nên “cửa ngõ đi vào” của em đối với đại cung của hệ mặt trời, và đối với Trái Tim của Thượng đế cùng của những người nam và nữ đồng loại. Trong lần nhập thể kế tiếp, em sẽ cần quân bình tình trạng này, và sự quân bình ấy chỉ diễn ra như mong muốn nếu xung lực cho nó phát sinh từ mãnh lực của tình thương mà thể cảm dục của em có thể thành công biểu lộ trong lần nhập thể này. Vì vậy, trong phần còn lại của đời sống hiện tại, sự khai mở đúng đắn và sự kiểm soát đạt được đối với bản chất tình thương—như thể cảm dục hữu cảm của em có thể biểu lộ—là điều có tầm quan trọng tối thượng. Điều đó thiết yếu cho sự hội nhập nhanh chóng của em vào Huyền Giai các linh hồn và những người phụng sự. |
|
You have done much of mind preparation and of personality coordination. Your fifth ray personality makes the reception of illumination easy, for your intellect and your intuition could be put en rapport with facility. You have achieved much that others are still struggling to achieve. It is your astral body now that should receive the largest measure of your attention and then through it the world of true being will open out before you and you will add to knowledge, wisdom, and to intelligent understanding, its practical but mystical aspect, the vision which is motivated by love. It is your astral body which presents you with your major problem. |
Em đã làm được nhiều công việc chuẩn bị về mặt trí tuệ và phối hợp phàm ngã. Phàm ngã cung năm của em khiến việc tiếp nhận sự soi sáng trở nên dễ dàng, vì trí năng và trực giác của em có thể được đặt vào trạng thái cộng hưởng một cách thuận lợi. Em đã đạt được nhiều điều mà người khác còn đang vật lộn để đạt được. Giờ đây, chính thể cảm xúc của em là điều cần được dành sự chú ý lớn nhất, và thông qua nó, thế giới của chân ngã sẽ mở ra trước em, và em sẽ bổ sung cho tri thức, minh triết và sự thấu hiểu thông tuệ một phương diện thiết thực nhưng mang tính thần bí—tầm nhìn được thúc đẩy bởi tình thương. Chính thể cảm xúc của em đang đặt ra vấn đề lớn nhất. |
|
As we train disciples, we seek to develop in the occultist mystical awareness and, in the mystic, practical occult knowledge. Your vision can be on high levels, and that is where you, as a soul, must consciously walk. That vision must, however, be brought down to a lower level of consciousness. The area of your natural being which is as yet the most inhibited, is that of emotional reaction. Be not afraid of emotional devastation, my brother. Some disciples might ask me what I mean by that. I need not explain to you, for you will recognise that whereof I speak. I enlarge not here upon the hidden significance which is apparent to you. |
Khi chúng tôi huấn luyện các đệ tử, chúng tôi tìm cách phát triển trong người huyền bí nhận thức mang tính thần bí, và trong người thần bí kiến thức huyền bí thực tiễn. Tầm nhìn của em có thể ở những cõi rất cao, và đó chính là nơi mà em, với tư cách là một linh hồn, phải bước đi một cách có ý thức. Tuy nhiên, tầm nhìn đó phải được hạ xuống một mức độ tâm thức thấp hơn. Khu vực trong bản chất tự nhiên của em hiện vẫn còn bị ức chế nhiều nhất chính là ở mức phản ứng cảm xúc. Đừng sợ sự tàn phá cảm xúc, huynh đệ của tôi. Một số đệ tử có thể hỏi tôi muốn nói gì với điều đó. Tôi không cần giải thích cho em, vì em sẽ nhận ra điều tôi đang nói đến. Tôi sẽ không mở rộng thêm về ý nghĩa ẩn tàng vốn đã rõ ràng với em. |
|
[557] |
[557] |
|
It interested me to see that you discerned the seed thought which was intended to arouse your resistance. It was, for you, the most important of them all. The idea is not negative, as you suppose. The personalities of the “weary pilgrims on the Way” are indeed tired and worn. Humanity today is very weary. The vehicles have been used for many cycles and their potency (in a positive sense) is wearing out, which is the approaching goal. For long cycles, the soul has been negative in its effect upon the personality, and the personal equipment has been the positive expression of the spiritual man. Then that lower aggregation of forces begins to wear down; its vibration weakens and, because much of the consciousness is still identified with the body nature, the disciple is conscious of fatigue, pain, distress and a deep weariness. It has been the “personality fatigue” of the human race which partially was responsible for the excessive misery complex, the sense of inferiority, and the pining-for-release psychology of the Christian presentation of truth. |
Tôi cảm thấy hứng thú khi thấy em đã nhận ra tư tưởng hạt giống vốn được dùng để khơi dậy sự phản kháng trong em. Đối với em, đó là tư tưởng quan trọng nhất trong tất cả. Ý tưởng này không mang tính tiêu cực như em nghĩ. Phàm ngã của những “người hành hương mỏi mòn trên Đường Đạo” thực sự đã mệt mỏi và hao mòn. Nhân loại ngày nay rất mỏi mệt. Các thể đã được sử dụng qua nhiều chu kỳ và năng lực của chúng (theo nghĩa tích cực) đang dần suy kiệt—đây là mục tiêu đang đến gần. Trong nhiều chu kỳ dài, linh hồn đã ở trong trạng thái tiêu cực khi ảnh hưởng lên phàm ngã, còn trang bị cá nhân thì là biểu hiện tích cực của con người tâm linh. Sau đó, tập hợp các mãnh lực thấp đó bắt đầu suy tàn; rung động của nó yếu đi và, vì phần lớn tâm thức vẫn còn đồng hóa với bản chất thể chất, người đệ tử cảm nhận sự mệt mỏi, đau đớn, phiền não và một sự mỏi mệt sâu sắc. Chính sự “mệt mỏi của phàm ngã” của nhân loại đã phần nào dẫn đến phức cảm khổ đau thái quá, cảm giác tự ti, và tâm lý khát khao được giải thoát như trong cách trình bày chân lý của Thiên Chúa giáo. |
|
As still further progress is made, the joy of the soul begins to pour through the worn and weary vehicles, and gradually the positive nature of the soul takes hold. When this is strong enough and the man is sufficiently decentralised, it is the soul quality which will persist in spite of physical limitations, and the inner sense of weariness will then be carefully negated and consciously and intelligently transmuted. There will be the recognition of personality distress but also a planned effort to transcend it. This process of “divine imposition” gradually brings in the healing force and thus perfect health in some life is the reward of the initiate’s effort to live as a soul and not to feel as a personality. It is this divine pouring in of the soul’s quality of life which is the true key to self-induced healing. |
Khi tiến xa hơn nữa, niềm hoan hỷ của linh hồn bắt đầu tuôn chảy qua các vận cụ đã hao mòn và mệt mỏi, và dần dần bản chất tích cực của linh hồn chiếm lĩnh. Khi điều này đủ mạnh và con người phi tập trung đủ, thì phẩm tính linh hồn sẽ tồn tại mặc cho các giới hạn thể chất, và cảm giác mỏi mệt nội tâm sẽ được phủ nhận một cách cẩn trọng và được chuyển hóa một cách có ý thức và thông tuệ. Sẽ có sự nhận biết về nỗi khổ của phàm ngã nhưng đồng thời cũng có một nỗ lực có kế hoạch để vượt lên trên điều đó. Quá trình “áp đặt thiêng liêng” này dần dần dẫn nhập mãnh lực chữa lành và vì thế sức khỏe hoàn hảo trong một kiếp sống nào đó là phần thưởng của nỗ lực từ người điểm đạo đồ nhằm sống như một linh hồn và không cảm nhận như một phàm ngã. Chính sự tuôn đổ thiêng liêng này của phẩm tính sự sống từ linh hồn là chìa khóa đích thực cho việc tự chữa lành. |
|
Will you remember, what I have elsewhere pointed out, that: |
Hãy ghi nhớ điều mà tôi đã chỉ ra nơi khác, rằng: |
|
1. Happiness is the goal of personality desire and its most desired sentient reaction. |
1. Hạnh phúc là mục tiêu của dục vọng nơi phàm ngã và là phản ứng cảm xúc được mong muốn nhất. |
|
2. Joy is the quality of soul life and that quality can be imposed upon the personality, thereby superseding happiness and imparting the gift of truth. |
2. Hoan hỷ là phẩm tính của đời sống linh hồn và phẩm tính đó có thể được áp đặt lên phàm ngã, nhờ đó thay thế hạnh phúc và truyền đạt món quà của chân lý. |
|
[558] |
[558] |
|
3. Bliss is the nature of the spiritual Being and is, in its turn and in due time, imposed upon the rhythm of the soul. It is the gift of synthesis. |
3. Phúc lạc là bản chất của Thực Thể tinh thần và đến lượt nó, vào đúng thời điểm, sẽ được áp đặt lên tiết điệu của linh hồn. Đây là món quà của sự tổng hợp. |
|
You see clearly from the angle of mental observation, acutely and intelligently applied. Now learn to feel as clearly that which you see, both the good and that which is not so good, and love steadily in both directions. As yet, you love not where you criticise. This you must learn to do and that love will shed new light on that which you perceive and you will learn to feel. Life will then open up before you in new rhythms of service and of usefulness. |
Em thấy rất rõ từ góc độ quan sát trí tuệ, một cách sắc bén và thông minh. Giờ đây hãy học cách cảm nhận một cách rõ ràng như em thấy—cả điều tốt lẫn điều chưa tốt—và hãy yêu thương một cách bền vững theo cả hai hướng. Cho đến nay, em chưa thể yêu nơi mà em chỉ trích. Đây là điều em cần học, và tình thương đó sẽ rọi chiếu ánh sáng mới lên những gì em nhận thức, và em sẽ học được cách cảm nhận. Khi đó, cuộc sống sẽ mở ra trước em trong những tiết điệu mới của phụng sự và hữu ích. |
|
It is not my request that the three questions I put to you earlier in this instruction should be answered by you for any eye but yours and mine to see. Should you, however, care to answer them in such form that they may be of service to your group brothers, that is entirely your own affair. |
Tôi không yêu cầu em phải trả lời ba câu hỏi tôi đã nêu trước đó trong huấn thị này để bất kỳ ai khác ngoài em và tôi được thấy. Tuy nhiên, nếu em muốn trả lời chúng theo cách có thể giúp ích cho các huynh đệ trong nhóm, thì đó hoàn toàn là việc riêng của em. |
|
Another hint I give you and a suggestion which only you will understand. There are three people that you should take to your heart and love. As yet you love them not. One loves you not. Two seek your love. Learn to love all three, not theoretically from a high, cold, mental altitude, but down on the planes of earth; love them with your heart. Life will then change for you. And, furthermore, my brother, love them not in obedience to my hint or through a display of the magnanimous spirit, or as the result of intellectual reasoning, but because you love. Two out of these three have much to give to you, and can lead you with them along the Way. I mention not their names, nor have I told anyone who they are. It is your own affair, not mine, nor theirs, but yours. |
Tôi cũng gửi đến em một gợi ý nữa—chỉ một mình em mới hiểu. Có ba người mà em nên đem vào trái tim và yêu thương. Hiện tại, em chưa yêu họ. Một người không yêu thương em. Hai người đang mong nhận được tình thương từ em. Hãy học cách yêu thương cả ba người, không phải một cách lý thuyết từ một độ cao trí tuệ lạnh lùng, mà là ngay trên các cõi trần; yêu thương họ bằng trái tim của em. Khi đó, cuộc sống của em sẽ thay đổi. Và, hơn nữa, huynh đệ của tôi, đừng yêu thương họ để làm theo gợi ý của tôi, hay vì muốn thể hiện tinh thần rộng lượng, hoặc như kết quả của lý luận trí tuệ, mà hãy yêu thương vì em thực sự yêu thương. Trong số ba người ấy, hai người có nhiều điều để trao cho em, và có thể cùng em bước trên Đường Đạo. Tôi sẽ không nêu tên họ, cũng không nói cho ai biết họ là ai. Đây là việc của riêng em, không phải của tôi, cũng không phải của họ. |
|
I give you now three phrases upon which to meditate during the next six months. During the first three months will you meditate upon them within the head consciousness, and during the last three months will you repeat the meditation but this time within the heart and seek to feel their significance. Thus will realisation come. |
Giờ đây tôi trao cho em ba cụm từ để tham thiền trong sáu tháng tới. Trong ba tháng đầu, em hãy tham thiền về chúng trong ý thức của đầu, và trong ba tháng cuối, hãy lặp lại bài tham thiền đó nhưng lần này trong tim và tìm cách cảm nhận ý nghĩa của chúng. Như thế, sự nhận thức sẽ đến. |
|
Phrase I. |
Cụm từ I. |
|
Like a golden butterfly, which flies towards the sun, I find myself poised upon the lotus petal of the earth. [559] Held by the breath of love I hover. I stay a little moment and then I fly into the golden pathway which leads into the sun. |
Như con bướm vàng kim bay về phía mặt trời, tôi thấy mình đậu trên cánh hoa sen của trái đất. [559] Được nâng đỡ bởi hơi thở của tình thương, tôi lơ lửng. Tôi nán lại một chốc rồi bay vào con đường vàng kim dẫn đến mặt trời. |
|
Phrase II. |
Cụm từ II. |
|
There is no darkness and no fog. There is no night nor day. There are no storms nor peace; no rest, nor strife. Only the changeless love of God, which works towards good. |
Không có bóng tối và không có sương mù. Không có đêm cũng không có ngày. Không có bão tố cũng không có bình yên; không nghỉ ngơi, cũng không tranh đấu. Chỉ có tình thương bất biến của Thượng Đế, vốn luôn vận hành vì điều thiện chí. |
|
Phrase III. |
Cụm từ III. |
|
Down from the mountain top I come, bringing the light of love, the love of God. Into the chalice of all forms I meet, I pour this love which light confers, this love which life sustains. I see the love of life divine pour through the form, my own and others. It heals and soothes. Thus is the task performed. Thus is a man of earth transformed into a Son of God. |
Từ đỉnh núi tôi đi xuống, mang theo ánh sáng của tình thương, tình thương của Thượng Đế. Tôi rót tình thương này vào chiếc chén của mọi hình tướng mà tôi gặp —tình thương mà ánh sáng trao ban, tình thương mà sự sống duy trì. Tôi thấy tình thương của sự sống thiêng liêng tuôn chảy qua hình tướng, qua chính tôi và qua người khác. Nó chữa lành và xoa dịu. Như thế, nhiệm vụ được hoàn tất. Như thế, con người trần thế được chuyển hóa thành Con của Thượng Đế. |
|
In summarising the ray qualities with which you have to deal in fitting yourself for progress in world service, they might be stated to be as follows: |
Tóm lược các phẩm tính cung mà em cần phải làm việc cùng để phù hợp cho sự tiến bộ trong công cuộc phụng sự thế giới, chúng có thể được nêu như sau: |
|
1. The soul ray—the Ray of Will or Power. |
1. Cung của linh hồn — Cung của Ý Chí hay Quyền Lực. |
|
2. The personality ray—the Ray of Concrete Science. |
2. Cung của phàm ngã — Cung của Khoa Học Cụ Thể. |
|
3. The ray of the mental body—the Ray of Intelligent Activity. |
3. Cung của thể trí — Cung của Hoạt Động Thông Tuệ. |
|
4. The ray of the astral body—the Ray of Devotion. |
4. Cung của thể cảm xúc — Cung của Lòng Sùng Tín. |
|
5. The ray of the physical body—the Ray of Will or Power. |
5. Cung của thể xác — Cung của Ý Chí hay Quyền Lực. |
|
For your reassurance and that of your co-disciples, I would like to point out that the group work of healing can be started, if the group continues with its work of integration and grows in love and understanding. Continue with the group meditation and with the work of the Full Moon Approach, paying close attention to the latter. Learn the way into the Ashram of the second ray through the open (though secret) door of your own heart. |
Để trấn an em và các bạn đồng môn, tôi muốn chỉ ra rằng công việc chữa lành theo nhóm có thể được khởi sự, nếu nhóm tiếp tục với công việc tích hợp và trưởng thành trong tình thương và sự thấu hiểu. Hãy tiếp tục tham thiền nhóm và công việc Tiếp Cận Trăng Tròn, đặc biệt chú tâm đến điều thứ hai. Hãy tìm con đường vào Ashram cung hai thông qua cánh cửa mở (dù bí mật) của chính trái tim em. |
|
NOTE: In the March 1936 instruction, the Tibetan told the disciple that he needed to learn “in tenderness to walk with others.” This he failed to learn and temporarily at least his work in the Ashram is in abeyance. |
GHI CHÚ: Trong huấn thị tháng Ba năm 1936, Chân sư Tây Tạng đã bảo vị đệ tử rằng y cần phải học “bước đi với người khác trong sự dịu dàng.” Y đã không học được điều đó, và ít nhất là tạm thời, công việc của y trong Ashram đang bị tạm ngưng. |
|
[560] |
[560] |