Commentary 1 – R1 R2 (trang 16-50)
d. The Seven Directions of the Law of Repulse
|
It must be remembered that the Law of Repulse, which is the Law of the destroying Angels, works in seven directions; that it produces effects upon seven different types of beings and of men, and that by reason of its activity, it draws the prodigal son back to the Father’s home. It causes him to “arise and go.” But we must remember that, when Christ was relating this story, He made it abundantly clear that there was no impulse to return until the pilgrim in the far country had come to himself or to his senses, as a result of [166] satisfied desire, through riotous living. This was followed by consequent satiety and loss of contentment, and then by a period of intense suffering, which broke his will to wander or to desire. A study of this story will be found revealing. In no Scripture is the sequence of events (as they deal with the pilgrim’s existence and life in a far country and his return) so concisely or so beautifully treated. Seek out your Bibles, and study this tale, and read for yourselves the pilgrim’s way. |
Cần nhớ rằng Định Luật Đẩy Lùi, cũng là Định Luật của các Thiên Thần Hủy Diệt, hoạt động theo bảy hướng; rằng nó tạo ra những tác động đối với bảy loại chúng sinh và con người khác nhau, và rằng nhờ hoạt động của nó, nó kéo người con hoang đàng trở về nhà Cha. Định luật này khiến y “đứng dậy và đi.” Nhưng chúng ta cần nhớ rằng, khi Đức Christ kể câu chuyện này, Ngài đã làm rõ rằng không có động lực nào để trở về cho đến khi người lữ hành ở miền xa xôi đã nhận thức về chính mình, hay “tỉnh ngộ,” như là kết quả của những dục vọng đã được thỏa mãn thông qua lối sống phóng đãng. Điều này được tiếp nối bởi sự chán ngán và mất sự thỏa mãn, sau đó là một giai đoạn chịu đựng khổ đau mãnh liệt, điều đã bẻ gãy ý chí lang thang hay dục vọng của y. Một nghiên cứu về câu chuyện này sẽ mang lại nhiều khám phá. Không có đoạn Kinh Thánh nào mà trình tự các sự kiện (liên quan đến sự tồn tại và cuộc sống của người lữ hành ở miền xa xôi và sự trở về của y) được trình bày một cách ngắn gọn hoặc đẹp đẽ hơn. Hãy tìm đọc Kinh Thánh của bạn, nghiên cứu câu chuyện này, và tự mình đọc về con đường của người lữ hành. |
|
The effect of this Law of Repulse, as it works out in the world of discipleship and destroys that which hinders, sends the pilgrim hurrying back consciously along one of the seven rays that lead to the center. This cannot be handled in detail here. Our present task is that of treading the Path of Probation or of Discipleship and of learning discipline, dispassion, and the other two necessities on the Way,—discrimination and decentralization. It is possible, nevertheless, to indicate the goal and point out the potency of the forces to which we shall be increasingly subjected as we pass—as some of us can so pass—on to the Path of Accepted Discipleship. This we will do in the form of seven stanzas which will give a hint (if one is an aspirant) of the technique to which one will be exposed; if one has passed further on the Way, they will give one a command which, as a disciple with spiritual insight one will obey, because one is awakened; if one is an initiate, they will evoke the comment: “This I know.” |
Tác động của Định Luật Đẩy Lùi, khi nó hoạt động trong thế giới của người đệ tử và phá hủy những gì cản trở, khiến người lữ hành vội vã trở về một cách có ý thức theo một trong bảy con đường của các cung dẫn về trung tâm. Điều này không thể được trình bày chi tiết ở đây. Nhiệm vụ hiện tại của chúng ta là bước đi trên Con Đường Dự Bị hoặc Con Đường Đệ Tử, học tập kỷ luật, điềm nhiên, và hai điều cần thiết khác trên Thánh Đạo—phân biện và vượt ra khỏi bản thân. Tuy nhiên, chúng ta có thể chỉ ra mục tiêu và nhấn mạnh sức mạnh của những mãnh lực mà chúng ta sẽ ngày càng chịu sự chi phối khi chúng ta tiến bước (như một số người trong chúng ta có thể làm) lên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Chúng ta sẽ làm điều này dưới hình thức bảy khổ thơ, sẽ mang đến một gợi ý (nếu bạn là một người chí nguyện) về kỹ thuật mà bạn sẽ phải trải qua; nếu bạn đã tiến xa hơn trên Thánh Đạo, chúng sẽ đưa ra một mệnh lệnh mà, với tư cách là một đệ tử có sự hiểu biết tâm linh, bạn sẽ tuân theo vì bạn đã thức tỉnh; nếu bạn là một điểm đạo đồ, chúng sẽ gợi lên lời nhận xét: “Điều này tôi đã biết.” |
The Direction of Ray I (trang 16-50)
|
“The garden stands revealed. [R1-1] In ordered beauty live its flowers and trees. [R1-2] The murmur of the bees and insects on their winged flight is heard on every side. [R1-3] The air is rich with perfume. [R1-4] The colors riot to the blue of heaven. |
“Khu vườn hiện ra. Các bông hoa và cây cối sống trong vẻ mỹ lệ ngăn nắp. Tiếng vo ve của ong và côn trùng bay lượn được nghe khắp nơi. Không khí nồng nàn hương thơm Màu sắc nổi loạn trên màu xanh của bầu trời |
|
The wind of God, His breath divine, sweeps through the garden… [R1-5] Low lie the flowers. [R1-6] Bending, the trees are [167] devastated by the wind. [R1-7] Destruction of all beauty is followed by the rain. [R1-8] The sky is black. Ruin is seen. Then death… [R1-9] |
Gió của Thượng đế, hơi thở thiêng liêng của Ngài, quét qua khu vườn… Những bông hoa rạp xuống. Cây cối cong gập, tan hoang vì gió. Sau đó tất cả vẻ đẹp bị tàn phá bởi cơn mưa. Bầu trời đen kịt. Sự tàn lụi hiện ra. Rồi đến cái chết… |
|
Later, another garden! but the time seems far away. [R1-10] Call for a gardener. The gardener, the soul, responds. [R1-11] Call for the rain, the wind, the scorching sun. [R1-12] Call for the gardener. Then let the work go on [R1-13] Ever destruction goes before the rule of beauty. [R1-14] Ruin precedes the real. [R1-15] The garden and the gardener must awake! The work proceeds.” [R1-16] |
Sau đó, một khu vườn khác! nhưng thời gian dường như còn xa xôi. Hãy gọi một người làm vườn. Người làm vườn, chính là linh hồn, đáp lại Hãy gọi mưa, gió, gọi mặt trời đang thiêu đốt. Hãy gọi người làm vườn. Bấy giờ hãy để cho công việc tiếp tục. Sự tàn phá luôn đi trước sự cai trị của vẻ đẹp Sự huỷ hoại đi trước sự thật. Khu vườn và người làm vườn phải thức tỉnh! Công việc tiếp diễn.” |

|
Commentary |
|
|
Hello friends, this is a little different departure, it’s something I’ve wanted to do. Like so many of you, I’m a fan of the Old Commentary, which carries such great depth of wisdom to us from ancient times. So, I like to do many things simultaneously, and hopefully the time will allow me to undertake these. And I know I’m in the midst of doing astrology for you, and I’m in the midst of working within Adventures in Identification which is very dear to my heart, and something that I’m trying to evolve as I speak to you. And now, I’d like to speak to you about some sections from the Old Commentary. I’m a pretty careful thinker, so we’d love to be able to lay everything out in perfect order, perfect enough, lay everything out for you with the utmost caution, step by step, in written form. Maybe, one day, I’ll get a chance to do that with these Old Commentary selections, but right now, I think I am not going to do it that way. Rather, I’m going to speak to you about, in this case, the Law of Repulse, ray by ray, as the thoughts present themselves to me, which will mean, if you’re hoping for exactitude of thought and you choose writing, if you’re hoping for spontaneity, then one may choose speaking, and that is the method that I’m going to choose now. |
Chào các bạn, đây là một sự khởi đầu hơi khác một chút, là điều tôi muốn làm từ lâu. Giống như rất nhiều người trong các bạn, tôi là một người hâm mộ Cổ Luận, quyển sách chứa đựng những minh triết sâu sắc cho chúng ta từ thời xa xưa. Vì vậy, tôi thích làm nhiều việc cùng một lúc, và hy vọng thời gian sẽ cho phép tôi thực hiện những việc này. Tôi biết tôi đang trong quá trình bình giảng về chiêm tinh học cho các bạn, và tôi cũng đang làm việc với Adventures in Identification, điều rất thân thương trong trái tim tôi và là điều mà tôi đang cố gắng phát triển khi nói chuyện với bạn. Bây giờ, tôi muốn nói với bạn về một số phần trong Cổ Luận này. Tôi là người suy nghĩ khá cẩn thận, vì vậy tôi mong muốn có thể trình bày mọi thứ theo thứ tự hoàn hảo, đủ hoàn hảo, trình bày mọi thứ cho bạn một cách thận trọng nhất, từng bước một, dưới dạng viết. Có thể một ngày nào đó tôi sẽ có cơ hội làm điều đó với những tuyển tập Cổ Luận này, nhưng hiện tại, tôi nghĩ tôi sẽ không làm theo cách đó. Đúng hơn, trong trường hợp này, tôi sẽ bình giảng bằng lời nói về Định luật Đẩy Lùi của từng cung một khi những suy nghĩ đến với tôi, và điều đó có nghĩa là, nếu bạn hy vọng vào sự chính xác của suy nghĩ và bạn chọn bình giảng viết, thì điều đó không đúng như mong muốn của các bạn. Nếu bạn đang trông chờ vào sự tự phát thì đó là phương pháp mà tôi sắp chọn bây giờ. |
|
So, naturally, things will not be as organized or as pristine as one might hope, but I hope that I can get across to you and to myself as these thoughts appear to me. Some thoughts of interest and value in the interpretation and application of these stanzas from the Law of Repulse which can be found in Esoteric Psychology II somewhere. |
Đương nhiên, khi nói mọi thứ sẽ không được ngăn nắp hay trật tự như các bạn có thể hy vọng, nhưng tôi hy vọng rằng tôi có thể trình bày cho các bạn, và với chính mình, khi những suy nghĩ này xuất hiện trong tôi, và bạn có thể tìm thấy một số suy nghĩ đáng quan tâm và có giá trị trong việc giải thích và áp dụng những khổ thơ này từ Định luật Đẩy Lùi. |
|
Well, we’re starting on page 166, and for a few pages before that, we can begin to study this law. The Law of Repulse, as you probably know, is the fourth Law of the Soul. The first three laws, in a way, take their origin from the energy of the higher ego found on the higher mental plane. And I would say, especially upon the second subplane of the higher mental plane, which is the location of the ego, and the attention of the Solar Angel for those who are undertaking the spiritual path. So, around the first initiation, and perhaps somewhat a bit before that, the ego changes its position, its focus to the second subplane of the mental plane. But the Law of Repulse is a little different. I think it’s the first of the laws that involve the spiritual triad, which is really the higher self, not quite as high as the monad as a higher self, but a true ego which is not limited by the experiences that the individual has had along his evolutionary path. It’s not limited by a kind of higher personality tradition, the higher individual tradition, we might say, but it very much inheres within the purpose of our Planetary Logos, the purpose of Sanat Kumara as He’s working out those Purposes on the cosmic physical plane, and individuality because it has been, in a way, its limitations were renounced at the fourth initiation, no longer gets in the way of that higher ego’s participation in the Divine Plan for our planet. |
Chúng ta bắt đầu từ trang 166, và vài trang trước đó chúng ta có thể bắt đầu nghiên cứu định luật này. Định luật Đẩy Lùi, như các bạn có thể đã biết, là Định luật thứ tư của Linh hồn. Theo một cách nào đó, ba định luật đầu tiên có nguồn gốc từ năng lượng của Chân ngã được tìm thấy trên cõi thượng trí, và đặc biệt là trên cảnh giới thứ hai của cõi thượng trí, đó là vị trí của chân ngã và là sự tập trung của Thái dương Thiên Thần đối với những người đang đi theo con đường tinh thần. Vì vậy, xung quanh cuộc điểm đạo đầu tiên, và có lẽ trước đó một chút, chân ngã thay đổi vị trí của nó, và sự tập trung của nó chuyển vào cảnh giới thứ hai của cõi trí. Nhưng Định Luật Đẩy Lùi thì hơi khác một chút. Tôi nghĩ đây là định luật đầu tiên liên quan đến Tam nguyên tinh thần, vốn thực sự là Chân ngã đích thực, tuy không cao bằng Chân Thần, nhưng là chân ngã thực sự không bị giới hạn bởi những trải nghiệm mà cá nhân đã trải qua trên con đường tiến hóa của mình. Chúng ta có thể nói rằng nó không bị giới hạn bởi một loại truyền thống phàm ngã cao hơn, truyền thống cá nhân cao hơn, nhưng nó lại rất gắn liền với mục đích của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, mục đích của Đức Sanat Kumara khi Ngài đang thực hiện những Mục đích đó trên cõi vật lý vũ trụ, và chân ngã, theo một cách nào đó, những hạn chế của nó đã được từ bỏ ở lần điểm đạo thứ tư và không còn cản trở sự tham gia của chân ngã cao hơn đó vào Thiên Cơ của hành tinh của chúng ta. |
|
The Law of Repulse then is the first of the laws of the soul, is the fourth law which utilizes the energies of the spiritual triad which have in them more will, more of the quality of the monad than does the ego per se, though the ego has a great deal of it in a way coming through the sacrifice petals, the synthesis petals, and the central fire of the monad at its heart, but a still higher version of egoic response found with the spiritual triad. And therefore, this particular law requires the building of the antahkarana and the utilization of the antahkarana in order to be effective. It is very much a first ray law as the word Repulse will suggest, and yet in another sense, it is an aspect of the Law of Love, DK tells us. So, it drives away the possibility of attachment to the lower worlds, and yet at a certain point, re-embraces that which has been driven away, and includes it in soul understanding and soul action and intention. But first comes that sense of loss, I think, which is found in each one of these stanzas when the consciousness of the individual is still focused pretty much in the three worlds, and the soul influence is not yet what it should be. |
Vì vậy, Định luật Đẩy lùi là định luật thứ tư của linh hồn, nhưng là định luật đầu tiên sử dụng các năng lượng của Tam nguyên tinh thần vốn có trong chúng nhiều ý chí hơn, nhiều phẩm chất của chân thần hơn là bản thân chân ngã. Mặc dù Chân ngã cũng có một lượng lớn phẩm chất này thông qua các cánh hoa hy sinh, cánh hoa tổng hợp và ngọn lửa trung tâm của Chân thần, nhưng Tam nguyên tinh thần vẫn thể hiện phiên bản phản ứng Chân ngã ở mức độ cao hơn. Do đó, để Định Luật này có hiệu quả thì cần phải xây dựng và sử dụng Antahkarana. Chân sư DK nói với chúng ta rằng đó thực sự là một định luật của cung một, như từ Repulse sẽ gợi ý, tuy nhiên, theo một nghĩa khác, nó là một khía cạnh của Định luật Bác Ái. Vì vậy, nó loại bỏ khả năng gắn bó với các thế giới thấp hơn, nhưng ở một thời điểm nhất định, nó lại chấp nhận những gì đã bị xua đuổi và đưa nó vào sự hiểu biết cũng như hành động và ý định của linh hồn. Nhưng tôi nghĩ đầu tiên là cảm giác mất mát được tìm thấy trong mỗi khổ thơ này khi tâm thức của cá nhân vẫn còn tập trung khá nhiều vào ba cõi thấp, và ảnh hưởng của linh hồn vẫn chưa được như mong muốn. |
|
The attachment or lower three worlds has to be broken first, and of course, this means that the soul is coming to action, that this higher perspective is going to make itself felt, but the the Jiva, who is experiencing things from the perspective of the lower worlds, doesn’t realize perhaps that this loss which is forced upon it is the result of the activation of a higher aspect of his nature. And so, there’s a lot of bitterness, perhaps in following, or engaging in, or being subject to this law, and the sense of devastation and the loss of all that had seen from a personal perspective valuable. Now, this in time is realized as a mistake, and when the advice of the soul which comes through as a word is followed, then indeed a new perspective is established. The individual begins to realize himself as a soul-infused personality, and even as a higher being on the higher mental plane, and perhaps even as an individual, a true ego, which has transcended the higher mental plane. But all of this takes a number of lives. We cannot say how many, but perhaps there’s one life in particular in which this sense of loss and devastation is prominent. |
Sự gắn bó với ba cõi thấp hơn cần phải được phá vỡ trước tiên. Điều này đương nhiên hàm ý rằng linh hồn đang bắt đầu hành động, viễn cảnh cao hơn sẽ tự bộc lộ. Tuy nhiên, Jiva, người đang trải nghiệm mọi thứ từ góc nhìn của ba cõi thấp hơn, có thể không nhận ra rằng sự mất mát bị áp đặt này là kết quả của việc kích hoạt một khía cạnh cao hơn trong bản chất của nó. Do đó, sẽ có rất nhiều cay đắng khi tuân theo, tham gia hoặc chịu sự chi phối của định luật này. Cảm giác tàn phá và mất mát tất cả những gì từng được xem là quý giá từ góc nhìn cá nhân sẽ xuất hiện. Về lâu dài, điều này được nhận ra là một sai lầm. Khi lời khuyên từ linh hồn được lắng nghe và tuân theo, thì một quan điểm mới sẽ được thiết lập. Cá nhân bắt đầu nhận ra mình là một phàm ngã được linh hồn thấm nhập, thậm chí là một bản thể cao hơn trên cõi Thượng trí, và có lẽ là một chân ngã thực sự còn vượt trên cả cõi Thượng trí. Nhưng tất cả những điều này đều cần nhiều kiếp sống. Chúng ta không thể nói chính xác con số bao nhiều kiếp sống, nhưng có thể có một kiếp sống cụ thể mà cảm giác mất mát và tàn phá này trở nên nổi bật. |
|
Now, when you get a lot of Pluto in your chart, and Saturn and Scorpio is the sign operative on some level, not to mention Mars and Uranus making their contribution, and of course, Vulcan would be there as well with the shattering hammer blow, these are all planets that have aspects of the first ray involved with them. The Law of Repulse and also the Law of Integration, the Techniques of Integration are operative under the ray of the soul. So, we talked about the direction of a one-word direction itself, implies will, and the first ray which has the type of motion called “Progress onward”, and driving forward through space. So, when DK describes the quality of the Will, it obliterates the actions and reactions of time and space, but substitutes for an awareness of intensity of direction. So, there is an objective and there is a path to that objective, and there are not so many byways that one can take, when driven by the Will. One focuses on that which the Will intends one does. The eyes look to neither side, and the ears are close to all the other voices, and the hands clenched, the body braced and mind alert. And this we have learned about from studying the Technique of Integration under the first ray. |
Khi bạn có Sao Diêm Vương nổi bật trong biểu đồ của mình cùng với Sao Thổ, và Hổ Cáp hoạt động ở một mức độ nào đó, chưa kể Sao Hỏa và Sao Thiên Vương cũng đóng góp, và tất nhiên, Vulcan cũng sẽ ở đó với các cú búa đập nát, đó là tất cả các hành tinh có các khía cạnh của cung một liên quan đến chúng. Định Luật Đẩy lùi và các Kỹ thuật Tích Hợp hoạt động dưới cung của linh hồn. Vì vậy, chúng ta nói về các ‘Chỉ dẫn một từ’, hàm ý ý chí, và cung một có loại chuyển động được gọi là “Tiến về phía trước”, thúc đẩy tiến về phía trước trong không gian. Vì vậy, khi Chân sư DK mô tả phẩm chất của Ý chí, nó sẽ xóa bỏ các hành động và phản ứng của thời gian và không gian, nhưng thay thế bằng nhận thức về cường độ của phương hướng. Do đó, có một mục tiêu và có một con đường dẫn đến mục tiêu đó, và không có quá nhiều ngã rẽ mà người ta có thể đi theo khi được Ý chí dẫn dắt. Người ta tập trung vào những gì Ý chí định hướng cho mình. Mắt không nhìn sang hai bên, tai không lắng nghe tất cả những tiếng nói khác, bàn tay siết chặt, thân thể kiên định và thể trí tỉnh táo. Đây là điều chúng ta học được khi nghiên cứu Kỹ thuật Tích hợp cung một. |
|
Also technique, even though it’s about the Integration of the Personalities, a technique which is administered under the ray of the soul. Well, every one of us will have to go through these techniques, these directions, once we find our soul ray and can be pretty sure about it. And sometimes studying the techniques or the directions themselves will give us an idea of what our soul ray may be, because we recognize ourselves passing through this experience. But once we know what the soul really is, then we really begin to interpret its stanzas carefully in terms of the way we recognize our life being lived, so that we can fulfill the direction given under the particular ray as fully as possible, and get on with the necessary repulsion, and the eventual reappropriation under a much higher perspective of those elements which were repulsed. There’s nothing inherently bad or evil about what is repulsed, that just has to be spiritualized and subsumed under the soul perspective and the ray perspective of that particular soul. |
Ngoài ra, kỹ thuật này, mặc dù liên quan đến sự tích hợp của các phàm ngã nhưng lại được điều hành bởi cung linh hồn. Mỗi người chúng ta sẽ phải trải qua những kỹ thuật, những chỉ dẫn này một khi chúng ta tìm thấy cung linh hồn của mình và có thể chắc chắn về nó. Đôi khi, nghiên cứu các kỹ thuật hoặc bản thân các chỉ dẫn sẽ cho chúng ta biết về cung linh hồn của mình, bởi vì chúng ta nhận ra bản thân đang trải qua nhưng trải nghiệm này. Nhưng một khi chúng ta biết linh hồn thực sự là gì, thì chúng ta mới bắt đầu thực sự giải thích các khổ thơ của nó một cách cẩn thận theo cách chúng ta nhận ra cuộc sống đang được sống của mình, để chúng ta có thể hoàn thành chỉ dẫn được đưa ra dưới cung cụ thể một cách trọn vẹn nhất có thể, và tiếp tục với sự Đẩy Lùi cần thiết, và cuối cùng là chiếm lại, dưới một góc nhìn cao hơn, những yếu tố đã bị Đẩy Lùi. Không có gì vốn dĩ xấu xa hay tà ác về những gì bị Đẩy Lùi, chúng chỉ cần được linh hồn hóa và quy phục dưới góc nhìn linh hồn và góc nhìn cung của linh hồn cụ thể đó. |
|
Well, I think the thing to do here, I say, I wish I could promise you perfection, but it’s not going to be perfection, it’s going to get us started in our thinking, if we have not thought seriously about it. Many of you over the years have taken the Esoteric Psychology class, the Master of Science in Esotericism, with an emphasis in Esoteric Psychology. It has been a two-year course, well, could be a three-year course, and many of you are graduates of this particular type of endeavor, during which you have studied the Law of Repulse carefully. Also, if you’re a member of Morya Federation, and you’re passing through the Quest Universal session of Morya Federation, you will recognize this as some of the advanced work done in the advanced Esoteric Psychology course. Really, it takes a lifetime or more to begin to live with these techniques, in these directions, and it’s impossible to rush them through, perhaps they can be pressed forward and hastened a bit through conscious realization of what they intend to accomplish, and then cooperation with that intention. |
Tôi ước gì có thể hứa hẹn với mọi người về sự hoàn hảo, nhưng nó sẽ không hoàn toàn hoàn hảo, mà là để giúp chúng ta bắt đầu suy nghĩ về vấn đề này nếu chúng ta chưa từng suy nghĩ nghiêm túc về nó. Trong nhiều năm qua, nhiều người trong số các bạn đã tham gia lớp Tâm lý học nội môn, Thạc sĩ Tâm Lý Học Nội Môn chuyên sâu về Tâm lý học nội môn. Đây là khóa học kéo dài hai năm, đôi khi có thể là ba năm, và nhiều người trong số các bạn đã tốt nghiệp loại hình nghiên cứu đặc biệt này, trong đó các bạn đã nghiên cứu kỹ lưỡng về Định Luật Đẩy Lùi. Ngoài ra, nếu bạn là thành viên của Liên đoàn Morya và đang tham gia khóa học Quest Universal, bạn sẽ nhận ra đây là một phần trong công việc nâng cao được thực hiện trong khóa học Tâm lý học nội môn chuyên sâu. Thực sự, cần hơn cả một đời người để bắt đầu sống với những kỹ thuật này, theo những chỉ dẫn này, và không thể nào vội vàng vượt qua chúng, có lẽ chúng có thể được thúc đẩy và đẩy nhanh một chút thông qua nhận thức có tâm thức về mục đích của chúng, và sau đó là hợp tác với mục đích đó |
|
So, this is the direction of Ray one, and later I will read about the Law of Repulse, but I just feel the urge to kind of get into the actual symbolism here. I’ll read the whole thing first, and then we can take it phrase by phrase, word by word, |
Vì vậy, đây là chỉ dẫn cho Cung một, và sau này tôi sẽ đọc về Định luật Đẩy lùi, nhưng tôi chỉ cảm thấy sự thôi thúc muốn đi sâu vào biểu tượng thực tế ở đây. Nhưng trước tiên tôi sẽ đọc toàn bộ nội dung, sau đó chúng ta có thể hiểu từng cụm từ, từng từ, |
“The garden stands revealed. In ordered beauty live its flowers and trees. The murmur of the bees and insects on their winged flight is heard on every side. The air is rich with perfume. The colors riot to the blue of heaven…
The wind of God, His breath divine, sweeps through the garden… Low lie the flowers. Bending, the trees are [167] devastated by the wind. Destruction of all beauty is followed by the rain. The sky is black. Ruin is seen. Then death…
Later, another garden! but the time seems far away. Call for a gardener. The gardener, the soul, responds. Call for the rain, the wind, the scorching sun. Call for the gardener. Then let the work go on. Ever destruction goes before the rule of beauty. Ruin precedes the real. The garden and the gardener must awake! The work proceeds.”
|
It’s rich in symbolism, and I’m sure you’ll be able to think of some of the symbols which I have missed or did not emphasize. The garden is the creative labor of the life of the individual. You give your energy to certain types of growths. You cultivate the appearance and growth of certain types of forms and ideas. So, everyone is making of life a kind of garden. The first ray, we realize, is identified very much with the life aspect, with vitality, and when dealing with a garden, we don’t have mobility with the plants, but we certainly do have vitality. And at a certain point, the labors of the first gardener, the gardener who is the individual, who is the soul, but expressing itself only as a personality at this time. You see, it’s kind of interesting how first ray types and also seven ray types do seem to like gardens, and they oftentimes build, one might say, almost monuments to themselves, in which gardens play an important part, even formal gardens, such as we would see at Versailles in France, where the seven ray would have a great deal to do with it. I’m not sure that these gardens are meant to display the glory of God, but they do display the glory of the King, the ego, the one who rules over the great estate. |
Đoạn thơ trên rất giàu tính biểu tượng và tôi chắc chắn bạn sẽ có thể nghĩ ra một số biểu tượng mà tôi đã bỏ sót hoặc không nhấn mạnh. Khu vườn là lao động sáng tạo của cuộc đời mỗi cá nhân. Bạn cống hiến năng lượng của mình cho những kiểu phát triển nhất định. Bạn trau dồi sự xuất hiện và phát triển của một số loại hình thức và ý tưởng. Vì vậy, mọi người đang biến cuộc sống thành một loại khu vườn nào đó. Chúng ta nhận ra rằng cung một được đồng nhất rất nhiều với khía cạnh sự sống, với sinh lực hay sức sống, và khi tiếp xúc với một khu vườn, với cây cối, chúng ta không có sự di chuyển, nhưng chắc chắn chúng ta có sức sống. Và ở một thời điểm nào đó, người làm vườn đầu tiên là phàm ngã, dù người làm vườn thực sự là linh hồn, nhưng lúc này chỉ thể hiện mình với tư cách là một phàm ngã. Bạn thấy, thật thú vị khi người cung một và cả bảy cung đều có vẻ thích những khu vườn, và họ thường xây dựng, chúng ta có thể nói, gần như những tượng đài cho chính họ, trong đó các khu vườn đóng một vai trò quan trọng, ngay cả những khu vườn trang trọng, chẳng hạn như chúng ta sẽ thấy ở Versailles ở Pháp, nơi mà bảy cung liên quan rất nhiều đến nó. Tôi không chắc liệu những khu vườn này có nhằm mục đích thể hiện vinh quang của Chúa hay không, nhưng chúng thể hiện vinh quang của Nhà Vua, của phàm ngã, người cai trị vùng đất vĩ đại. |
|
So, the results of this kind of creative labor, where one decides what will be in the garden and what not. And if one is attentive, one will wheat this garden, or if not, it will be overgrown by weeds or whatever may be the result. The life force has been directed towards the growth of certain varieties of plants, which stand symbolically for the kinds of patterns that one has in one’s life. And the gardener, the individual here, has said yes to some and no to others. So, he has chosen according to his individual preference, not necessarily at all according to the Divine Plan or any higher purpose. And behold, |
Vì vậy, kết quả của lao động sáng tạo này, nơi một người quyết định những gì sẽ có trong khu vườn và những gì sẽ không có. Và nếu người đó chăm chú, y sẽ vun xới khu vườn này, nếu không, nó sẽ bị cỏ dại mọc um tùm hoặc bất cứ điều gì có thể xảy ra. Sinh lực đã được hướng tới sự phát triển của một số loại cây nhất định, tượng trưng cho các kiểu mẫu người đó có trong cuộc sống, và người làm vườn, cá nhân ở đây, đã đồng ý với một số loại cây và từ chối những loại khác. Y đã lựa chọn theo sở thích cá nhân, chưa chắc đã hoàn toàn phù hợp với Thiên Cơ hay bất kỳ mục đích cao cả nào. |
|
The garden is revealed. [R1-1] |
Khu vườn hiện ra. |
|
It is shown oftentimes as an object of pride. “See what I have grown in my life”. There is the seventh ray as the more concrete aspect of the first, and it is a ray of beauty. So, here it’s interesting how in some of the stanzas the first ray type, we find that he must adhere to the seventh ray methods, to order and rhythm. So, we have the one, four, and the seven coming in here, the beauty of the garden under the four, the order under the seven, and the life aspect of the garden under the one. So, according to the order that is chosen by the individual who is very much the personality of this time and not the disciple, |
Đôi khi nó được thể hiện như một niềm tự hào, “Này, hãy nhìn xem tôi đã vun trồng được những gì trong cuộc sống của mình”. Chúng ta biết cung bảy là khía cạnh cụ thể hơn của cung một và là cung của vẻ đẹp, của sự mỹ lệ. Vì vậy, điều thú vị ở đây là trong một số khổ thơ của cung một, chúng ta thấy rằng cung một phải tuân thủ các phương pháp của cung bảy, theo trật tự và nhịp điệu. Vì vậy, chúng ta có các yếu tố cung một, bốn và bảy ở đây, vẻ đẹp của khu vườn dưới cung bốn, trật tự dưới cung bảy, và khía cạnh sự sống của khu vườn dưới cung một. Lúc này, sự trật tự là trật tự được lựa chọn bởi cá nhân như là phàm ngã vào thời điểm này, chứ không phải của vị đệ tử, |
|
In ordered beauty live its flowers and trees[R1-2] |
Các bông hoa và cây cối sống trong vẻ mỹ lệ ngăn nắp. |
|
The flowers providing the color, the fragrance, and the trees providing the strength and the upliftment. In the old days, interestingly enough, HPB tells us that in Atlantis, the members of the Black Lodge were called the trees. Well, one wonders whether they produced any fruit at all. But anyway, this in the standard garden we have the flowers, bushes, trees, the normal types of plants. There is pollination going on. |
Những bông hoa mang lại màu sắc, hương thơm và những cây cối mang lại sức mạnh và sự nâng cao tinh thần. Điều thú vị là bà Blavatsky kể cho chúng ta biết rằng thời xưa ở Atlantis, các thành viên của Black Lodge được gọi là các “Cây” (“Thụ” trong tiếng Hán Việt), và người ta tự hỏi liệu họ có tạo ra “quả” nào không. Nhưng dù sao đi nữa, trong khu vườn tiêu chuẩn này, chúng ta có hoa, bụi rậm, cây cối, những loại cây bình thường. Có sự thụ phấn đang diễn ra. |
|
The murmur of the bees and insects on their winged flight is heard on every side [R1-3] |
Tiếng vo ve của ong và côn trùng bay lượn được nghe khắp nơi. |
|
So, it is a scene of the much activity, fertility. It hosts these minor types of animal life which promote the fertility and the flourishing of the garden. It is a kind of a bucolic scene, and there is this constant presence of the insects we don’t need any other time, but we know how important they are to the flourishing of the garden. The flowers, and perhaps the trees, provide their scent, but one gets the sense that there is not much restraint here, that many things are allowed to live of an individual nature, which perhaps should be curtailed because everywhere the murmur of the bees and insects is heard. If we take the hint from the last sentence, we might think so. |
Đây là hình ảnh của hoạt động sinh sôi và nảy nở. Khu vườn là nơi sinh sống của những loại động vật nhỏ này nhằm thúc đẩy khả năng sinh sản và sự phát triển của khu vườn. Đó là một khung cảnh đồng quê, nơi có sự hiện diện liên tục của côn trùng mà vào lúc nào khác chúng ta sẽ không cần đến chúng, nhưng chúng ta biết chúng quan trọng như thế nào đối với sự phát triển của khu vườn. Những bông hoa, và có lẽ cả những cái cây, mang đến hương thơm của chúng, nhưng người ta có cảm giác rằng ở đây không có nhiều hạn chế, rằng nhiều thứ được phép sống theo bản chất riêng lẻ, điều mà có lẽ nên hạn chế vì khắp nơi có tiếng vo ve của loài ong và tiếng côn trùng vang lên. Nếu chúng ta lấy gợi ý từ câu cuối cùng, chúng ta có thể nghĩ như vậy. |
|
The air is rich with perfume. [R1-4] |
Không khí nồng nàn hương thơm. |
|
And one wonders whether they mix well, or whether they simply express themselves boldly without having been arranged for the most delicate scent. Now, |
Và người ta tự hỏi liệu chúng có hòa quyện với nhau hay không, hay chúng chỉ đơn giản thể hiện bản thân một cách mạnh mẽ mà không hề phối hợp mùi hương tinh tế nhất. |
|
…the colors, however, riot |
Tuy nhiên, màu sắc nổi loạn |
|
And there is the hint that one thinks here of the fourth formula in Discipleship In The New Age, Volume Two, and it’s called the Sun upon the Square, and in this sun upon the square, we are dealing with the powers of the buddhic plane to refine a bold and crude, even garish, clashing colors of the lower planes. They are more of a pastel colors, and they work upon these less refined colors, which are not particularly beautiful, nor are they well harmonized. |
Đoạn văn này gợi ý đến Công Thức Thứ Tư trong quyển Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới Tập Hai, có tên là Mặt Trời trên Hình Vuông. Trong công thức này, chúng ta đề cập đến các mãnh lực của cõi Bồ đề nhằm tinh chỉnh những màu sắc chói, thô kệch, và thậm chí là lòe loẹt, xung đột của các cõi thấp hơn. Chúng thiên về màu phấn nhạt và tác động lên những màu sắc ít tinh tế, vốn không đẹp mắt và cũng không hài hòa. |
|
Well, here when I look at this word riot, I think of the clashing of colors. I think that despite the fact that it is order, not enough attention has been given to these expressions in the lower life, which are not well-controlled according to a higher principle or a higher pattern. We know that first ray types, what they don’t like is riots. Yet, they themselves on their way up are probably the very ones who have rebelled against authority, even if it was a good authority, and created riots. |
Ở đây, khi nhìn vào từ ‘riot’ (nổi loạn), tôi nghĩ đến sự va chạm của các màu sắc. Tôi cho rằng mặc dù có trật tự, nhưng người ta vẫn chưa chú ý đủ đến những biểu hiện ở các cõi thấp hơn, những biểu hiện không được kiểm soát tốt theo một nguyên tắc hoặc mô hình cao hơn. Chúng ta biết rằng những người thuộc cung một không thích ‘bạo loạn’. Tuy nhiên, bản thân họ trên đường tiến hóa có thể chính là những người đã nổi dậy chống lại thẩm quyền, ngay cả khi đó là một thẩm quyền tốt, và gây ra bạo loạn.” |
|
So, there’s a lack of control here, a lack of harmony, a sense of clashing of qualities, because the first ray type, I think, likes very much his own qualities, whether or not they are harmonious with each other or congruent with a higher pattern, and he just allows himself to express himself as he will. Just as if there are attractions which perfumes symbolizes, he allows those various attractions to all flourish, whether or not they harmonize with each other or serve a higher purpose. And he can certainly pollinate and fertilize where he wishes, because that too is unregulated. This is in a way the personality is influenced by the first ray soul. Remembering that there’s always an overlay of the higher energies of the soul appropriated by the personality in a personal way. So, there will be in every personality of a first ray soul first ray indications, which may look very personal indeed. So, you may then wonder, is it a first ray personality, but it is because of the appropriation of soul energy for personal merely individual purposes, by the personality of whatever ray, when the soul is on the first ray. |
Ở đây tồn tại sự thiếu kiểm soát, thiếu hài hòa, một cảm giác va chạm giữa các phẩm chất, bởi vì tôi nghĩ người thuộc cung một rất thích những phẩm chất của chính mình, bất kể chúng có hòa hợp với nhau hay phù hợp với một mô hình cao hơn hay không. Họ chỉ đơn giản cho phép bản thân thể hiện theo ý muốn của họ. Giống như những sức thu hút, mà mùi hoa là biểu tượng tượng trưng, họ cho phép tất cả những sức thu hút khác nhau đó nở rộ, bất kể chúng có hài hòa với nhau hay phục vụ một mục đích cao hơn hay không. Họ chắc chắn có thể thụ phấn và bón phân ở bất cứ nơi nào trong khu vườn mà họ muốn, bởi vì điều đó cũng không được kiểm soát. Đây là cách mà phàm ngã bị ảnh hưởng bởi linh hồn cung một hoạt động. Hãy nhớ rằng luôn có một lớp năng lượng cao hơn của linh hồn được phàm ngã tiếp thu theo cách cá nhân. Vì vậy, trong mỗi phàm ngã của linh hồn cung một sẽ có những dấu hiệu của cung một mà có thể rất cá nhân. Do đó, bạn có thể tự hỏi liệu đó có phải là một phàm ngã cung một hay không, nhưng đó thật ra chỉ là sự chiếm đoạt năng lượng linh hồn cung một cho các mục đích cá nhân, vì mục đích cá nhân, bởi phàm ngã thuộc bất kỳ cung nào khi linh hồn thuộc cung một. |
|
The garden stands revealed, |
Khu vườn hiện ra, |
|
It is expressed here it is for all to see. There is a type of beauty. It’s an ordered beauty, |
Khu vườn được thể hiện cho tất cả mọi người cùng xem. Có một loại vẻ đẹp có trật tự, |
|
…an ordered beauty live its flowers and trees. |
Các bông hoa và cây cối sống trong vẻ mỹ lệ ngăn nắp. |
|
This is a beauty decided upon by the individual who still has personal values and they have good taste, but the higher purpose of it all is not revealed in this particular type of ordered beauty. We’re talking about the qualities that the life of the man demonstrate. |
Đây là vẻ đẹp được quyết định bởi những người vẫn còn những phẩm chất cá nhân, và họ có gu thẩm mỹ tốt, nhưng mục đích cao cả hơn của nó không được bộc lộ ở kiểu vẻ đẹp có trật tự đặc biệt này. Chúng ta đang nói về những phẩm chất mà cuộc sống của một người thể hiện. |
|
Now, we do remember how important the garden is to the first ray type, when we think of master Morya and the book that was written to represent him, one of the books called Leaves of Morya’s garden, or the leaves of a book, of course, that’s one thing. And also that which master Morya has inspired, but that may have been written by Nicholas Roerich and may not have been dictated by Master Morya, but there is a statement by Master M. where he does say “Burden me still more as I enter the beautiful garden”. So, in a way, he is cultivating souls and deciding who to strengthen and where to withheld, withhold. He has vitality, and his garden would be the flourishing of souls of all types who could enact the Divine Plan in service of the Purpose. So, the idea of the garden is very much associated with him. Well, here we have this very individual expression, |
Chúng ta hãy nhớ lại tầm quan trọng của khu vườn đối với người cung một, khi chúng ta nghĩ về Chân sư Morya và quyển sách được viết để đại diện cho ngài, một trong những quyển sách có tên “Những chiếc lá trong khu vườn của Morya”. Đó là quyển sách được Ngài truyền cảm hứng, hoặc được Ngài đọc cho bà Helena Roerich viết ra, nhưng có một tuyên bố của Chân sư M. trong đó Ngài nói “Hãy gánh nặng cho tôi nhiều hơn nữa khi tôi bước vào khu vườn xinh đẹp này”. Theo một cách nào đó, Ngài đang bồi dưỡng các linh hồn và quyết định nên tăng cường những linh hồn nào, và ở đâu cần giữ lại. Ngài có sức sống, và khu vườn của Ngài sẽ là nơi nở hoa của mọi loại linh hồn, những người có thể thực hiện Thiên Cơ để phục vụ Thiên Ý. Vì vậy, ý tưởng về khu vườn gắn liền với Ngài rất nhiều. |
|
The colors riot to the blue of heaven… |
Màu sắc nổi loạn trên màu xanh của bầu trời… |
|
Okay, the clash, it cannot stay that way, because it is not really subservient to the Divine Pattern, it is individually conceived, and as such will not fit into the higher Plan. Now we have, |
Sự xung đột, và nó không thể tiếp tục như vậy, bởi vì nó không thực sự phụ thuộc vào Mô Hình Thiêng liêng, nó được tiếp nhận một cách cá nhân và như vậy sẽ không phù hợp với Thiên Cơ. Bây giờ, chúng ta có |

|
The wind of God, His breath divine, sweeps through the garden… Low lie the flowers. Bending, the trees are [167] devastated by the wind. Destruction of all beauty is followed by the rain. The sky is black. Ruin is seen. Then death… |
Gió của Thượng đế, hơi thở thiêng liêng của Ngài, quét qua khu vườn… Những bông hoa rạp xuống. Cây cối cong gập, tan hoang vì gió. Sau đó tất cả vẻ đẹp bị tàn phá bởi cơn mưa. Bầu trời đen kịt. Sự tàn lụi hiện ra. Rồi đến cái chết… |
|
Well, we have some interesting names of the first ray Lord, maybe we can find that, and I think there would be in Esoteric Psychology here. It’s on page 64, and one of the names of the first ray Lord is “the Breath that blasts”. We are also told that the air is God and God is related to the air. It is perhaps because the very beginning of the true life is found when we reach the cosmic ethers, and it is here on the buddhic plane, that there is in fact a control and power over what happens in the dense physical body of the Planetary Logos and then of the Solar Logos. |
Chúng ta có một số tên gọi thú vị của Chúa tể cung một, có lẽ chúng ta có thể tìm thấy những tên đó trong Tâm Lý Học Nội Môn I, trang 64, và một trong những tên của Chúa tể cung một là “Hơi thở bùng nổ”. Chúng ta cũng được biết rằng không khí là Thượng đế và Thượng đế có liên quan đến không khí. Có lẽ bởi vì sự khởi đầu của sự sống đích thực được tìm thấy khi chúng ta đạt đến cõi dĩ thái vũ trụ, và chính ở đây, trên cõi bồ đề, thực tế có sự kiểm soát và quyền năng đối với những gì xảy ra trong cơ thể vật chất dày đặc của Hành tinh Thượng Đế và sau đó là Thái Dương Thượng Đế. |
|
So, the air is life, the air is God. The first ray life or vitality, air, buddhi, these are associated. Just see if I can find that other such amazing names here, but there’s one. Of course, it’s very much associated with air and with breath. |
Vì vậy, không khí là sự sống, không khí là Thượng đế. Sự sống hay sức sống của cung một, không khí, bồ đề, những thứ này có liên quan với nhau. Hãy xem liệu tôi có thể tìm thấy những cái tên tuyệt vời khác ở đây không, tất nhiên, nó liên quan rất nhiều đến không khí và hơi thở. |
|
The Lord of Death |
Chúa tể của cái chết |
|
The Opener of the Door |
Đấng mở cửa |
|
The Liberator from Form |
Đấng giải phóng khỏi hình tướng |
|
The Great Abstractor |
Đấng trừu xuất vĩ đại |
|
The Fiery Element, producing shattering |
Nguyên tố lửa, tạo ra sự tan vỡ |
|
The Crystallizer of the Form |
Đấng kết tinh của hình tướng |
|
The Power that touches and withdraws |
Mãnh lực chạm và rút |
|
The Lord of the Burning Ground |
Chúa tể của vùng đất cháy |
|
The Will that breaks into the Garden |
Ý chí đột nhập vào Khu vườn |
|
The Ravisher of Souls |
Đấng cướp đoạt linh hồn |
|
The Finger of God |
Ngón tay của Thượng đế |
|
The Breath that blasts |
Hơi thở bùng nổ |
|
The Lightning which annihilates |
Tia sét hủy diệt |
|
The Most High |
Đấng Tối Thượng |
|
Here are all of His names, not all of his name, some of these things: the Lord of Death, the Opener of the Door, the Liberator from Form, the Great Abstractor, The Fiery Element producing shattering, the Crystallizer of the Form, the Power that touches and withdrawals, the Lord of the Burning Ground. |
Đây là các tên của Ngài, không phải tất cả các tên, một số trong những tên này này là: Chúa tể của cái chết, Đấng mở cửa, Đấng giải phóng khỏi Hình tướng, Đấng trừu xuất vĩ đại, Nguyên tố lửa tạo ra sự tan vỡ, Đấng kết tinh Hình tướng, Mãnh lực chạm và rút lui, Chúa tể của Vùng đất cháy. |
|
Now look at this one, the Will that breaks into the garden that fits the Law of Repulse. So, Supreme Being. |
Bây giờ, chúng ta hãy nhìn vào tên này, Ý chí đột nhập vào khu vườn phù hợp với Định luật Đẩy lùi. Rồi Đấng Tối Cao. |
|
The Ravisher of Souls, leaving the spirit open, rather the soul, open to the penetration of the spirit. The Finger of God reminds a bit one of the whirlwind. The Breadth that blasts, nothing can withstand it, some of the most devastating forces that we know in nature are the forces of the wind, the tornado, the whirlwind, the hurricane, tornadoes. The Lightning which annihilates, the Most High. |
Đấng Cướp đoạt Linh hồn để tinh thần được tự do, đúng hơn là linh hồn mở ra cho sự xâm nhập của tinh thần. Ngón tay của Chúa gợi nhớ một chút về cơn lốc. Hơi thở nổ tung, không gì có thể chống lại được. Một số sức mạnh có sức tàn phá khủng khiếp nhất mà chúng ta biết trong tự nhiên là gió, lốc xoáy, cuồng phong, bão. Tia sét hủy diệt, Đấng Tối cao. |
|
So, we have here some of the elements implicated. We have air, we have fire, we have earth and the crystallizer of the form. We don’t have that tsunami here. We don’t have the so much the water element, but there is a power in Neptune and in the tsunami which is hugely devastating. So, I think all the four elements could be used if we if we chose. |
Trong các tên gọi này, chúng ta có một số nguyên tố liên quan. Chúng ta có không khí, có lửa, có đất và sự kết tinh của hình tướng. Chúng ta không có cơn sóng thần. Chúng ta không có nhiều yếu tố nước, nhưng có sức mạnh ở Sao Hải Vương và trong cơn sóng thần có sức tàn phá khủng khiếp. Vì vậy, tôi nghĩ tất cả bốn yếu tố đều có thể hiện diện nếu chúng ta muốn. |
|
So, we do see that the wind of God is the whirlwind which the unjust reap. What can be more devastating than a tornado? We’ve seen so many people lose their lives, and there is this implication in the Bible that one reaps the whirlwind according to karma. So, you sometimes wonder why it is that in the United States the whirlwinds seem to drive through the Bible Belt. I thought that is a peculiar type of justice or retribution. But anyway, we don’t understand these things fully. |
Chúng ta thấy rằng Cơn Gió Thượng đế là cơn lốc mà kẻ bất công gặt hái. Điều gì có thể tàn phá hơn một cơn lốc xoáy? Chúng ta đã chứng kiến rất nhiều người mất mạng, và trong Kinh thánh có hàm ý rằng người ta gặt cơn lốc tùy theo nghiệp quả. Vì vậy, đôi khi bạn thắc mắc tại sao ở Hoa Kỳ lại có những cơn lốc xoáy xuyên qua Vành đai Kinh Thánh. Tôi nghĩ đó là một kiểu công lý hoặc quả báo đặc biệt. Nhưng dù sao thì chúng ta cũng không hiểu những điều này một cách đầy đủ. |
|
The wind of God, His breath divine, [R1-5] |
Gió của Thượng đế, hơi thở thiêng liêng của Ngài, |
|
The breath is always associated with the first aspect, and sound can sometimes be, but the the voice comes after the breath. You cannot make a sound under the second or third aspects until there is breath. So, breath is fire. It is activation, is vitality, and it is God that is coming through here, the higher principles. It is the energy of the monad, the energy of the Shambala, the energy of the spiritual triad in contrast with that which has been built up by the personality. |
Hơi thở luôn gắn liền với Phương diện thứ nhất, và âm thanh đôi khi cũng có thể như vậy, nhưng giọng nói đến sau hơi thở. Bạn không thể tạo ra âm thanh dưới khía cạnh thứ hai hoặc thứ ba cho đến khi có hơi thở. Vì vậy, hơi thở là lửa. Đó là sự kích hoạt, là sức sống, và chính Thượng đế đang đi qua đây, những nguyên lý cao hơn. Đó là năng lượng của chân thần, năng lượng của Shambala, năng lượng của Tam nguyên tinh thần trái ngược với năng lượng đã được phàm ngã xây dựng. |
|
The wind of God, His breath divine, sweeps through the garden…. |
Gió của Thượng đế, hơi thở thiêng liêng của Ngài, quét qua khu vườn…. |
|
There is that progress onward, that sweep forward, that driving forward through space, sweeps through the garden. Why does it sweep through the garden? Well, no structure that is built by the personality, the Jiva within the personality elemental, the blindness of the Jiva, no structure can remain because it is obstructive. And if there has to be an alignment with the Jiva within the personality, that we want to call the disciple at a certain stage of development, then there has to be the destruction of the old patterns which prevented that alignment. |
Có sự càn quét về phía trước, tiến về phía trước xuyên qua không gian, quét qua khu vườn. Tại sao nó quét qua khu vườn? Bởi vì không có cấu trúc nào được xây dựng bởi phàm ngã, Jiva bên trong tinh linh phàm ngã, sự mù quáng của Jiva đó, không cấu trúc nào trụ lại được vì nó mang tính cản trở. Và nếu cần phải có một sự chỉnh hợp với Jiva bên trong phàm ngã, cái mà chúng ta gọi là vị đệ tử ở một giai đoạn phát triển nhất định, thì những khuôn mẫu cũ ngăn cản sự chỉnh hợp đó phải bị phá hủy. |
|
So, the garden is all that the man has made sometimes in beauty, sometimes in garishness[1], always a declaration of boldness. Here is my garden, even though there may not be true integration or harmony in it. Those things which the man cultivated and as his personal forms of expression, strictly personal forms, are destroyed. |
Vì vậy, khu vườn là tất cả những gì con người đã tạo ra, đôi khi đẹp đẽ, đôi khi lòe loẹt, luôn là sự tuyên bố mạnh mẽ, “Đây là khu vườn của tôi”, mặc dù trong đó có thể không có sự tích hợp hay hài hòa thực sự. Những thứ mà con người vun bồi và coi như những hình thức biểu hiện cá nhân của y, những hình thức thuần túy cá nhân, phải bị phá hủy. |
|
Low lie the flowers. [R1-6] |
Những bông hoa rạp xuống. |
|
All the things that he brought to fruition, even the trees which in a way are like pillars and stand for certain strong qualities which he has established, are bending. Well, we remember nothing is really going to be lost here. Everything will be reappropriated. It’s not the qualities that is brought forth in the forms which are going to be destroyed, but just the forms temporarily. We experienced devastation from the first ray in many ways, sometimes by predatory[2] first ray types, and other times by the first ray within us which demands the clearing of obstructions to our higher nature, |
Tất cả những gì mà y đã mang đến thành quả, ngay cả những cái cây mà có thể xem như những cột trụ đại diện cho những phẩm chất mạnh mẽ mà người đó đã thiết lập, cũng đang bị uốn cong. Hãy nhớ rằng không gì thực sự bị mất ở đây, mọi thứ sẽ được tái sử dụng. Cái bị tiêu diệt không phải bản chất của những phẩm chất được hiện thực hóa trong hình tướng, mà chỉ những hình tướng đó tạm thời biến mất. Chúng ta đã trải qua sự tàn phá của cung một theo nhiều cách, đôi khi bởi những loài dã thú ăn thịt cung một, và đôi khi khác bởi chính khía cạnh cung một bên trong chúng ta, cái đòi hỏi phải quét sạch mọi cản trở đến bản chất cao hơn của chúng ta. |
|
Bending, the trees are devastated by the wind. [R1-7] |
Cây cối cong gập, tan hoang vì gió. |
|
Those upright trees stood for our strengths and accomplishments, not just the beautiful factors that are emerging in our life, these trees are devastated by the wind, and presumably, they crack, not only bend, we may say. If a tree is to last against a huge wind, it must be very very subtle, but we can imagine that since the first ray rules the quality of crystallization, these trees are not going to be very subtle. They may bend and then they will break rather than bend and not break. |
Những cây thẳng đứng đại diện cho sức mạnh và thành tựu của chúng ta, không chỉ là những yếu tố tươi đẹp đang hiển lộ trong cuộc sống, và chính những cây này bị tàn phá bởi cơn gió, và chúng có thể không chỉ cong mà còn gãy hẳn. Một cái cây muốn trụ vững trước cơn gió mạnh phải vô cùng mềm dẻo và uyển chuyển. Nhưng vì cung một chi phối đặc tính kết tinh, nên những cái cây này hẳn không mềm dẻo lắm. Chúng có thể cong mình đến một mức độ nào đó, nhưng sau đó sẽ gãy thay vì tiếp tục uốn cong mà không bị gãy. |
|
So, the wind is the will and idea of God. It is the pressure of what should be. It is the impression, Divine Impression, and it does not come in a gentle way because what has been built up is personal and resistance. So, it’s experienced as a wind, not just an impression. It has to be swept out of the way. It’s coming from the cosmic ethers, and all these cosmic ethers are in the way planes of air. Of course, here we have on the logoic plane Fire… Yet, there’s different ways to do it. The the intuitional plane can be considered a plane of air; the spiritual plane, plane of water—we have fire, earth, air, water—so the divine plane is fire; and we’re left with the interesting idea that the monadic plane may be considered earth. But from another perspective, the buddhic plane may be considered the plane of earth. All of them are considered planes of air, and when we isolate the intuitional, the buddhic plane, generally it’s considered to be air. But in a way God is air and God is the higher ethers, the cosmic ethers, which contain the true principles of the Planetary Logos and Solar Logos. And for that reason, we consider the power of God as air, whereas that which lies below can be considered as water or it can be considered as Earth, generally not fire per se, although there are fiery divisions to it. |
Vì vậy, gió là ý chí và ý tưởng của Thượng đế. Đó là áp lực của điều cần phải là. Đó là sự ghi nhận, là Ấn Tượng thiêng liêng, và nó không đến một cách nhẹ nhàng, bởi vì những gì đã được xây dựng nên đều mang tính cá nhân và đầy sự kháng cự. Do đó, nó được trải nghiệm như một cơn gió, chứ không chỉ đơn thuần là một sự ghi nhận. Nó phải được quét sạch khỏi con đường. Nó đến từ các dĩ thái vũ trụ, và tất cả các dĩ thái vũ trụ này, theo một nghĩa nào đó, đều là các cõi của nguyên tố khí. Dĩ nhiên, ở đây trên cõi của Thượng đế, chúng ta có Lửa… Tuy nhiên, có nhiều cách khác nhau để nhìn nhận điều này. Cõi trực giác có thể được xem như một cõi khí; cõi tinh thần là một cõi nước — chúng ta có lửa, đất, khí, nước — vì vậy cõi thiêng liêng là lửa; và chúng ta còn lại với ý tưởng thú vị rằng cõi chân thần có thể được xem là đất. Nhưng từ một góc nhìn khác, cõi Bồ đề có thể được xem là cõi đất. Tất cả chúng đều được xem là các cõi khí, và khi chúng ta tách riêng cõi trực giác, tức cõi Bồ đề, thì nói chung nó được xem là khí. Nhưng theo một nghĩa nào đó, Thượng đế là khí và Thượng đế là các dĩ thái cao hơn, các dĩ thái vũ trụ, vốn chứa đựng các nguyên khí đích thực của Hành Tinh Thượng đế và Thái Dương Thượng đế. Và vì lý do đó, chúng ta xem quyền năng của Thượng đế như là khí, trong khi những gì nằm bên dưới có thể được xem là nước hoặc có thể được xem là đất, nói chung không phải là lửa, dù trong đó vẫn có những phân khu mang tính lửa. |
|
The wind of God, His breath divine, |
Gió của Thượng đế, hơi thở thiêng liêng của Ngài, |
|
Because we do want to be vitalized by the Divine Breath, |
Bởi vì chúng ta muốn được tiếp thêm sức sống nhờ Hơi thở thiêng liêng, |
|
…sweeps through the garden…. |
…quét qua khu vườn…. |
|
It’s considered rather gentle type of breath here, but it’s a howling storm, and even our good upright qualities are devastated by the wind temporarily. |
Nó được coi là một hơi thở nhẹ nhàng, nhưng đó là một cơn bão gầm rú, và ngay cả những đức tính ngay thẳng tốt đẹp của chúng ta cũng tạm thời bị gió tàn phá. |
|
Destruction of all beauty is followed by the rain. [R1-8] |
Sau đó tất cả vẻ đẹp bị tàn phá bởi cơn mưa. |
|
Destruction of all personal beauty, of all that was considered beautiful by the unenlightened personality. Now, we’re going to read a little bit about the Law of Repulse for the fourth Ray, and we will see that that which the personality considered beautiful expressed in terms of sound is ugliness when compared with the great chord of God. So, |
Tất cả vẻ đẹp cá nhân, tất cả những gì được coi là đẹp đẽ bởi phàm ngã chưa giác ngộ, đều bị tàn phá. Sau này, chúng ta sẽ đọc về Định luật Đẩy Lùi của Cung bốn, chúng ta cũng sẽ thấy điều tương tự, rằng những gì mà phàm ngã xem là đẹp đẽ được thể hiện dưới dạng âm thanh trở nên xấu xí khi so sánh với hợp âm vĩ đại của Thượng Đế. |
|
Bending, the trees are devastated by the wind. Destruction of all beauty is followed by the rain. |
Cây cối cong gập, tan hoang vì gió. Sau đó tất cả vẻ đẹp bị tàn phá bởi cơn mưa. |
|
And the rain here is grief. It’s not necessarily the nourishing rain. It just dissolves everything finally, and it all runs away. |
Và cơn mưa ở đây là nỗi buồn. Đó không phải cơn mưa mang lại sức sống, mà nó làm tan biến mọi thứ và tất cả đều biến mất. |
|
The sky is black, |
Bầu trời đen kịt, |
|
There’s no more hope. There’s no more promise for the future. You sometimes look to the blue sky and you feel optimism about what may come. But here the sky is black and it does not promise relief from this destruction. |
Không còn hy vọng nào nữa. Không còn triển vọng nào cho tương lai. Đôi khi bạn nhìn lên bầu trời xanh và cảm thấy lạc quan về những gì có thể xảy đến. Nhưng ở đây bầu trời đen kịt và nó không hứa hẹn sẽ giải tỏa được sự tàn phá này. |
|
Ruin is seen. Then death…. [R1-9] |
Sự tàn lụi hiện ra. Rồi đến cái chết… |
|
All that the man has built of a personal nature is swept aside, and probably pretty much because of the way he has used the first ray, there is retribution here. God may be behind the retribution, but sometimes the retribution can come in the form of social movements and revolutionaries and so forth, who may be carrying out that will of God in a certain sense, but they go into the great manor[3], they vandalize[4] it, they destroy it, they wreak havoc in the garden, they uproot everything, they make ugliness where there was beauty, and all of that maybe retribution for first ray misapplication of energy in previous times. Let’s just say, the dissolving power with the rain, the pummeling power of the rain, the grief of the rain is found. And then sky is black. No promise, no hope. Everywhere |
Mọi thứ con người xây dựng mang tính cá nhân đều bị quét sạch, và có lẽ phần lớn là do cách y sử dụng cung một nên có sự trừng phạt. Thượng đế có thể đứng sau sự trừng phạt này, nhưng đôi khi sự trừng phạt có thể đến dưới dạng các phong trào xã hội, những nhà cách mạng, v.v., những người theo một nghĩa nào đó có thể đang thực hiện ý nguyện của Thượng đế. Họ xông vào khu Dinh thự nguy nga, họ phá hoại nó, hủy diệt nó, họ tàn phá khu vườn, nhổ bật tất cả mọi thứ, biến vẻ đẹp thành sự xấu xa. Tất cả những điều đó có lẽ là sự trừng phạt cho việc sử dụng sai lầm năng lượng của cung một trong quá khứ. Sức mạnh hòa tan của cơn mưa, sức mạnh giáng xuống của cơn mưa, nỗi buồn của cơn mưa đều được tìm thấy ở đây, và rồi bầu trời đen kịt. Không có hứa hẹn gì, không hy vọng gì… |
|
Ruin is seen |
Sự tàn lụi hiện ra. |
|
The ruin of all the highest personal objectives, |
Sự hủy hoại mọi mục tiêu cá nhân cao nhất, |
|
Then death |
Rồi đến cái chết |
|
The death of the man’s personality. The death of all the dreams he had. The death of his ambitious plans. He is destroyed pretty much by the power that he used earlier in order to acquire what he needed to build what he considered to be beauty while others suffer. You think about the French kings and you think about the gorgeous surroundings in which they lived built upon the blood and labor and taxes of the disadvantage public. There came retribution, of course, |
Cái chết của phàm ngã con người. Cái chết của tất cả những giấc mơ mà y từng có. Cái chết của những kế hoạch đầy tham vọng của y. Y hầu như bị hủy hoại bởi chính sức mạnh mà trước đây y sử dụng để có được những thứ y cần, để xây dựng những gì mà y cho là vẻ đẹp trong khi những người khác phải chịu đau khổ. Hãy nghĩ về các vị vua Pháp, hãy nghĩ về khung cảnh lộng lẫy, những dinh thự xa hoa mà họ đã sống, những điều được xây dựng trên máu, mồ hôi và thuế má của những người dân yếu thế. Tất nhiên, sự trừng phạt đã đến. |
|
Later, |
Sau đó, |
|
How much later? Much later. We’re looking here at future incarnations. What does the man have to learn? He has to learn sensitivity, inclusiveness, love, suffering with empathy, all that he’s going to keep on expressing himself. But finally there will come he will have been able to develop the ability to build a different kind of garden, at least the beginnings of it. |
Bao lâu sau? Rất lâu sau đó. Chúng ta đang nhìn vào những kiếp sống tương lai ở đây. Con người phải học điều gì? Y phải học sự nhạy cảm, sự bao dung, tình thương, đau khổ cùng sự đồng cảm, tất cả những thứ đó y sẽ tiếp tục thể hiện. Nhưng cuối cùng, một lúc nào đó, y sẽ phát triển được khả năng xây dựng một khu vườn khác, ít nhất là ở những giai đoạn đầu của nó. |
|
Later, another garden! |
Sau đó, một khu vườn khác! |
|
Another form of self expression in which various types of patterns are emerging and coming to fruition, a variety of growing things and growing qualities are coming to fruition. |
Một hình thức thể hiện bản thân khác trong đó nhiều kiểu mẫu khác nhau đang nổi lên và đơm hoa kết trái, nhiều thứ đang phát triển và những phẩm chất đang phát triển đang dần đơm hoa kết trái. |
|
…but the time seems far away. [R1-10] |
…nhưng thời gian dường như còn xa xôi. |
|
But it’s a long time, it’s a long time from the earlier one, and one day we’ll be able to study the sequence of lives and see how often, on the average, the second garden appears. |
Nhưng đó là một thời gian dài, rất lâu so với khu vườn trước đó, và một ngày nào đó chúng ta sẽ có thể nghiên cứu trình tự các kiếp sống và xem trung bình khu vườn thứ hai thường xuất hiện như thế nào. |
|
…all for a gardener. |
Hãy gọi một người làm vườn. |
|
We’re not being too specific now. [a gardener, this noun is used with indefinite article a]. Who’s going to take care of this garden? Earlier, it’s pretty clear that the man took care of it himself, the individual, or he had his underlings[5] do so, but he was according to his own whim, his desire, his personal preferences. Now, call for a gardener is not going to be the man in the same way, call for a gardener. |
Trong câu này, chúng ta không quá cụ thể vì mạo từ ‘a’ được dùng với gardener, một người làm vườn. Ai sẽ chăm sóc khu vườn này? Trước đây, rõ ràng là cá nhân đó tự mình hoặc nhờ cấp dưới lo việc đó nhưng làm theo ý muốn và sở thích cá nhân cá nhân của y. Bây giờ, Hãy gọi một người làm vườn sẽ không phải là một người như vậy, |
|
The gardener, the soul, responds. [R1-11] |
Người làm vườn, chính là linh hồn, đáp lại. |
|
Now, specific the gardener, the one who really should be gardening, the one who is really tending the personality expression symbolized by the garden, |
Bây giờ, mạo từ the được dùng với gardener, người làm vườn xác định, người thực sự làm vườn, người thực sự chăm sóc biểu hiện phàm ngã được tượng trưng bởi khu vườn, |
|
The gardener or the soul responds. |
Người làm vườn, chính là linh hồn, đáp lại. |
|
So, perhaps, who’s calling for the gardener? Well, maybe the man has lost his supreme confidence in himself as a personality and says, “Who spiritually will help me with this? How shall I know what forms of life I will allow to flourish? What patterns will flourish? What things should be kept out? What the designs shall be?” He calls on some inward force to assist, and the gardener, the soul, the true gardener, who will make a garden of real beauty because it will reflect divinity response. |
Ai đang kêu gọi người làm vườn? Có thể, cá nhân đó đã mất niềm tin tuyệt đối vào phàm ngã của mình và nói, “Ai sẽ giúp tôi về mặt tinh thần trong việc này? Làm sao tôi biết được những hình thức nào của sự sống, những mô hình nào tôi sẽ cho phép phát triển, và những điều gì nên được loại bỏ? Các thiết kế sẽ như thế nào?” Y kêu gọi một sức mạnh bên trong nào đó giúp đỡ, và người làm vườn, linh hồn, vốn là người làm vườn đích thực, sẽ tạo nên một khu vườn có vẻ đẹp thực sự bởi vì nó sẽ phản ánh sự đáp ứng của thiên tính. |
|
Now, we have the same kind of elements involved here, especially we have water, air and fire to work through within the earth. |
Bây giờ, chúng ta có cùng loại nguyên tố liên quan ở đây, đặc biệt là chúng ta có nước, không khí và lửa để hoạt động trong đất. |
|
Call for the rain, |
Hãy gọi mưa, |
|
It’s not the destructive rain and the grief, it’s the nourishing rain |
Bây giờ, đó không phải là cơn mưa hủy diệt và đau buồn, mà là cơn mưa nuôi dưỡng |
|
…the wind, |
…gió, |
|
It’s not a tornado. It’s not a hurricane. It’s not the breath of blasts sweeping through the garden. It is more measured, because the soul will apply a measured response to the invocation of the personality. And |
Đó không phải là một cơn lốc xoáy, một cơn bão táp. Đó không phải là hơi thở bùng nổ quét qua khu vườn. Nó chừng mực hơn, bởi vì linh hồn sẽ áp dụng một phản ứng chừng mực với lời cầu khẩn của phàm ngã. |
|
…the scorching sun. [R1-12] |
…gọi mặt trời đang thiêu đốt. |
|
Well, the word scorching sounds like a lot of heat is to be applied. I suspect that we have some solar fire coming in here and not just fire by friction. We could have said the warming sun but perhaps the scorching sun, an intense application of solar fire will help rid the garden of those forms of life which are not needed for a true soul, gardener. |
từ thiêu đốt nghe có vẻ như rất nhiều sức nóng sẽ được áp dụng ở đây. Tôi nghi ngờ rằng chúng ta đang có sự xuất hiện của lửa thái dương ở đây, và không chỉ là lửa do ma sát. Chúng ta có thể nói là ánh nắng ấm áp, nhưng có lẽ “ánh nắng thiêu đốt” hay sự tác động mãnh liệt của lửa thái dương sẽ giúp khu vườn thoát khỏi những hình tướng của sự sống không cần thiết đối với một người làm vườn, tức linh hồn thực sự. |
|
Call for the rain, the wind, the scorching sun, |
Hãy gọi mưa, gió, gọi mặt trời đang thiêu đốt, |
|
The three higher elements working on the earth. |
Ba nguyên tố cao hơn (thủy, khí, hỏa) đang hoạt động trên mặt đất (địa). |
|
Call for the gardener. |
Hãy gọi người làm vườn. |
|
Now, it’s become quite specific for the one who was invoking or calling, who is now the somewhat enlightened individual who realizes his mistakes from the past. He knows that the soul is indeed the gardener. At first call a gardener. Can someone help me? Now, it is the gardener. Once the interplay between soul and personality really begins, or let’s call it the interplay between soul and disciple, |
Bây giờ, mọi thứ trở nên khá cụ thể đối với người khẩn cầu, người hiện đã phần nào trở nên giác ngộ và nhận ra những sai lầm của mình trong quá khứ. Y hiểu rằng linh hồn chính là người làm vườn đích thực. Đầu tiên là ‘hãy kêu gọi một người làm vườn’. Có ai có thể giúp tôi không? Còn giờ đây, ‘người làm vườn’ đã thực sự hiện diện một khi sự tương tác giữa linh hồn và phàm ngã thực sự bắt đầu, hay chúng ta hãy gọi đó là sự tương tác giữa linh hồn và đệ tử, |
|
Let the work can go on. [R1-13] |
Bấy giờ hãy để cho công việc tiếp tục. |
|
And that work is, of course, the cultivation of the garden with a soul as the true gardener, but advising the man who also helps with the gardening, but in a new way, not just according to personal preference and what he thinks is beautiful or he thinks is attractive. There has been a chastening, a harmonizing, understanding the truer beauty that comes from the higher realms. |
Và tất nhiên, công việc đó là vun xới khu vườn với linh hồn là người làm vườn đích thực. Nhưng linh hồn cũng sẽ hướng dẫn con người, y cũng tham gia chăm sóc khu vườn nhưng theo một cách mới, không chỉ đơn thuần dựa trên sở thích cá nhân hay những gì y cho là đẹp hoặc hấp dẫn. Đã có sự uốn nắn, điều chỉnh hài hòa, để con người hiểu được nét đẹp chân chính đến từ những cõi cao hơn. |
|
The the work really can go on, and it’s cooperative work between the soul, the gardener, and his representative, who is the man who is expressing in the three worlds. And then principles are enunciated. |
Khi đó công việc mới thực sự có thể tiến triển, và đó là công việc hợp tác giữa linh hồn, người làm vườn, và đại diện của linh hồn, cá nhân đang thể hiện trong ba cõi thấp. Và sau đó, những nguyên lý được đưa ra. |
|
Ever destruction goes before the rule of beauty. [R1-14] |
Sự tàn phá luôn đi trước sự cai trị của vẻ đẹp. |
|
There was some beauty in the first garden, but it was of a personal nature and not really buddhic beauty coming from the realm of intuition and from the first, in a way, counting from below upwards, the first of the lower planes. |
Có một vẻ đẹp nào đó trong khu vườn đầu tiên, nhưng nó mang tính chất cá nhân chứ không thực sự là vẻ đẹp bồ đề đến từ cõi trực giác… |
|
Ever destruction goes before the rule of beauty. |
Bao giờ sự hủy diệt cũng đi trước sự cái quản của cái đẹp. |
|
The buddhic plane is, in a way, the ruler of all the lower planes, and it’s also the plane of beauty. And we have to go through a lot of suffering before the soul, with its buddhic principle, really begins to infuse the personality, and this of course operates even for the first ray soul, for all ray souls. The soul is buddhi, the soul is beauty, the soul is love and wisdom, whatever the ray type may be, and we just have to become detached from all of the magnetism in the three worlds which captivated our attention. There’s no way to do this unless some of the higher forces are applied. The lower forces themselves are elemental, and they will not detach themselves from those preoccupations, those apprehensions, those grasping. They will not, but with the intervention in time, at the right time, of a higher divine or spiritual energy, that detachment will come, and we consider that detachment to be a destruction. Certainly it is in the eyes of even the intelligent personality. Many people have built kingdoms, what they consider to be of great beauty, and maybe there was great beauty of a kind, but only to witness the destruction as an enforced detachment, engineered, impelled from above, was forced upon them. |
Cõi Bồ đề, theo một cách nào đó, là người cai trị của tất cả các cõi thấp hơn, và nó cũng là cõi của vẻ đẹp. Chúng ta phải trải qua rất nhiều đau khổ trước khi linh hồn, với nguyên lý Buddhi của nó, thực sự bắt đầu thấm nhuần vào phàm ngã. Điều này tất nhiên cũng đúng với linh hồn thuộc cung một, với tất cả các linh hồn theo các cung khác. Linh hồn là Bồ đề, linh hồn là vẻ đẹp, linh hồn là Bác Ái – Minh Triết bất kể thuộc loại cung nào. Chúng ta chỉ cần thoát khỏi mọi lực hút từ ba cõi giới đã từng thu hút sự chú ý của chúng ta. Không thể thực hiện điều này nếu không có sự tác động của một số mãnh lực cao hơn. Bản thân các mãnh lực thấp hơn là hành khí và chúng sẽ không tự tách mình khỏi những bận tâm, những lo lắng, những ham muốn nắm giữ đó. Chúng không thể, nhưng theo thời gian, vào đúng thời điểm, một năng lượng thiêng liêng hoặc tinh thần cao hơn can thiệp, sự tách rời đó sẽ đến. Và sự tách rời này, chúng ta thường coi là sự hủy diệt. Chắc chắn nó là sự hủy diệt dưới con mắt của ngay cả phàm ngã thông minh. Nhiều người đã xây dựng những giới, những thứ mà họ cho là vô cùng đẹp đẽ, và có lẽ chúng có một vẻ đẹp tuyệt vời theo cách nào đó, nhưng cuối cùng chỉ chứng kiến sự hủy diệt như một sự tách rời cưỡng bức, được sắp đặt, thúc đẩy từ trên cao, buộc phải xảy đến với họ. |
|
So, this is a principle and it’s something that operates all through the Law of Repulse. |
Vì vậy, đây là một nguyên tắc được vận hành thông qua Luật Đẩy lùi. |
|
Ever destruction goes before the rule of true beauty, |
Sự tàn phá luôn đi trước sự cai trị của vẻ đẹp. |
|
Not just personal beauty, but the beauty of that comes from the higher ethers, four of them, from the buddhic plane, the beauty of the archetypes which are only found on the cosmic ethers. That’s the true beauty because it was ideated or conceived in the mind of God and not in the mind of a lesser attenuated extension of God such as we are. |
Không phải là vẻ đẹp cá nhân, mà là vẻ đẹp đó còn đến từ các cõi dĩ thái vũ trụ cao hơn, bốn dĩ thái vũ trụ, từ cõi bồ đề. Vẻ đẹp của các nguyên mẫu chỉ được tìm thấy trên các cõi dĩ thái vũ trụ và đó là vẻ đẹp thực sự bởi vì nó được ý niệm hóa hay hình thành trong trí của Thượng đế chứ không phải trong trí của chúng ta, vốn là một phần mở rộng suy giảm của Thiên trí. |
|
Ruin precedes the real [R1-15] |
Sự huỷ hoại đi trước sự thật. |
|
This is a general statement as well. So, we have tried to create beauty in the realm of maya, glamour, and illusion. There is some allure, there is some beauty. It’s a reflection. I guess it’s a reflection of what occurs above. Yeah, it’s a reflection and it’s not the real beauty, the real occurs on the cosmic ethers. |
Đây cũng là một phát biểu tổng quát. Chúng ta cố gắng tạo ra vẻ đẹp trong thế giới của maya, ảo cảm và ảo tưởng. Có chút gì đó thu hút, chút gì đó đẹp đẽ, nhưng đó chỉ là một sự phản chiếu. Tôi đoán đó là sự phản chiếu của những gì xảy ra ở trên. Vâng, đó là sự phản chiếu và không phải vẻ đẹp thực sự vốn chỉ xảy ra trên các cõi dĩ thái vũ trụ. |
|
So, if the cosmic ethers and their patterns are ever to make themselves present, that which to which we are attached below must lie in ruins, otherwise, we will just continue attached to it and we will never get to experience the real. |
Vì vậy, nếu các dĩ thái vũ trụ và các hình mẫu của chúng muốn hiện hữu trong cuộc sống này, thì những thứ chúng ta đang gắn bó ở cõi thấp hơn phải bị phá hủy, bằng không, chúng ta sẽ luôn tiếp tục gắn bó với chúng và không bao giờ được trải nghiệm cái thực |
|
The garden and the gardener must awake! [R1-16] |
Khu vườn và người làm vườn phải thức tỉnh! |
|
The garden, a form of expression of the man, and the gardener or the soul, who is really trying now to be the white magician and work his forms through into that type of expression, must awake! |
Khu vườn, một hình thức biểu hiện của con người, và người làm vườn hay linh hồn, người hiện đang thực sự cố gắng trở thành nhà chánh thuật và biến các hình tướng của mình thành kiểu biểu hiện đó, phải thức tỉnh! |
|
This is a first ray word, and they must awaken to each other, I would say. There must be that kind of white magical interplay which goes on with the soul, the gardener, and the fully awakened disciple who is aware fully of the soul and is thus able to create a garden or a piece of magical demonstration or creation, which is aligned with the soul purpose. The thrill of the first ray must come through both of them, and the garden must show the life of the soul, and the gardener who is the soul must infuse the secondary gardener, or the authority that who’s managing the garden, that is the lower ego, [the soul] must infuse that lower ego with his own vision, his own awakened vision. In this case, it’s almost as if the man as gardener responsive to the soul as gardener, must awaken and that the garden shall be filled with soul vitality, not just with elemental vitality, but a vitality which really comes from the higher worlds. And then indeed, |
Đây là một lời của cung một, và tôi muốn nói rằng họ phải thức tỉnh lẫn nhau. Phải có sự tương tác chánh thuật diễn ra giữa linh hồn—người làm vườn—và vị đệ tử đã thức tỉnh hoàn toàn, người nhận thức rõ ràng về linh hồn và do đó có khả năng tạo ra một khu vườn, một công trình huyền thuật, hoặc một sự sáng tạo phù hợp với mục đích của linh hồn. Sự rung động của cung một phải đến qua cả hai, khu vườn phải thể hiện sự sống của linh hồn. Người làm vườn, chính là linh hồn, phải truyền cảm hứng cho người làm vườn thứ hai, hay người có thẩm quyền quản lý khu vườn, tức là phàm ngã, linh hồn phải truyền tầm nhìn cho phàm ngã, tầm nhìn thức tỉnh của chính mình. Trong trường hợp này, người làm vườn, phụng sự cho người làm vườn-linh hồn, cũng phải thức tỉnh và khu vườn sẽ tràn đầy sức sống của linh hồn, chứ không chỉ là sức sống bản năng đơn thuần. Đó là sức sống thực sự đến từ các cõi cao hơn. |
|
The work proceeds. |
Công việc tiếp diễn. |
|
It goes on, goes on steadily forward. And of course, we are not yet at the point with the Law of Repulse where the individual has definitely found his way into full illumination. We are still here working towards that third initiation, towards the illumination. We have recovered. We are now reoriented, the wheel is reversed. Perhaps we have made our definite decision between the second and third initiation that we will always follow the will of the soul and will not be tempted to seek a type of life expression which is only for ourselves as lower individuals. Let’s just say, we’re moving towards illumination here. |
Nó cứ tiếp tục vững vàng tiến về phía trước. Và tất nhiên, chúng ta vẫn chưa đạt đến mức trong Định luật Đẩy lùi mà ở đó cá nhân chắc chắn đã tìm được con đường đi đến sự giác ngộ hoàn toàn. Chúng ta vẫn đang nỗ lực hướng tới cuộc điểm đạo thứ ba, hướng tới sự chứng ngộ. Chúng ta đã hồi phục. Chúng ta giờ đây đã định hướng lại, bánh xe đã đảo chiều. Có lẽ giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba, chúng ta đã quyết định dứt khoát rằng chúng ta sẽ luôn tuân theo ý chí của linh hồn và sẽ không bị cám dỗ bởi việc tìm kiếm một cách biểu đạt cuộc sống chỉ nhằm phục vụ cho bản thân với tư cách là những phàm ngã. |
|
The work is proceeding, |
Công việc tiếp diễn, |
|
The life aspect is starting to come in, the soul’s vitality is coming in, the garden will be beautiful, but beautiful in a different way, beautiful in a way that is spiritual, which is divine, which is harmonious with the Plan’s intent, not just an isolated enclave of the beauty born of personal preference, which oftentimes is a parasitical upon the larger environment. In other words, creating one’s own preserve and personal beauty, just for one’s own pleasure, regardless of the condition of the environment, no, but something which really feeds, something that really supports, stands as an object of beauty to all. In other words, my personal expression is fully infused by the soul, and my garden is of great assistance to all rather than just a personal preserve, which a hideaway for the nobility or the elite, for my friends and all that kind of thing, as we perhaps saw demonstrated in various types of of royalty. |
Yếu tố sự sống đang bắt đầu xuất hiện, sức sống của linh hồn đang tràn vào, khu vườn sẽ đẹp, nhưng theo một cách khác, đẹp theo cách tinh thần, thiêng liêng, hài hòa với ý định của Thiên Cơ, chứ không chỉ là một ốc đảo biệt lập của vẻ đẹp được sinh ra từ sở thích cá nhân, thường là ký sinh lên môi trường rộng lớn hơn. Nói cách khác, không phải việc tạo ra khu bảo tồn và vẻ đẹp cá nhân của riêng mình chỉ để thỏa mãn bản thân, bất kể tình trạng của môi trường xung quanh. Không, đó là thứ gì đó thực sự nuôi dưỡng, thực sự hỗ trợ, trở thành biểu tượng của vẻ đẹp cho tất cả mọi người. Hay nói cách khác, biểu hiện cá nhân của tôi được linh hồn hoàn toàn thấm nhuần, và khu vườn của tôi là sự trợ giúp tuyệt vời cho tất cả mọi người chứ không chỉ là một khu bảo tồn cá nhân, một nơi ẩn náu cho giới quý tộc hay thượng lưu, cho bạn bè của tôi và tất cả những thứ tương tự, như chúng ta có thể đã thấy thể hiện ở các kiểu chế độ quân chủ khác nhau. |
|
Now, remember how the Tibetan told the disciple C.D.P whose rays were II 6-5 6 6. How he told her? Build a garden on the mental plane, make it very clear, put love into it, use clear visualizing techniques, it will be a real thing, and it will benefit many. Many will repair to this garden, will come to this garden, and as a result, they will be restored. So, it will be a place of refuge or revitalization, reanimation for those, whether alive or dead, who will come to your garden and gain some improvement in their life because of being in your garden, associated with your garden. |
Bây giờ, hãy nhớ lại cách Chân sư DK đã nói với đệ tử C.D.P, người sở hữu các cung II 6-5 6 6. Ngài nói với cô ấy như thế nào? Hãy xây một khu vườn trên cõi trí, làm cho nó thật rõ ràng, đặt tình yêu vào đó, sử dụng các kỹ thuật hình dung quán tưởng rõ ràng. Nó sẽ trở thành một điều có thật, và nó sẽ mang lại lợi ích cho nhiều người. Nhiều người sẽ đến nghỉ ngơi tại khu vườn này, sẽ đến với khu vườn này, và kết quả là họ sẽ hồi phục. Vì vậy, nó sẽ là một nơi trú ẩn, hồi sinh, tái tạo sinh khí cho những người, dù đang sống hay đã chết, đến với khu vườn của bạn. Họ sẽ tiến bộ trong cuộc sống vì đã ở trong khu vườn của bạn, kết nối với khu vườn của bạn. |
|
And thus it is here with the garden which is created now by the disciple, who is increasingly soul-infused, who trusts the higher gardener to work through him, who uses the elements in the right way, in a moderate way, subduing all of that riot and that excess. Riot and excess were the result of the earlier attempts at creating a garden. This is all in proportion. The glamour is over. The illusion is over. The maya, the chaos. In a way, that the hum of the bees and the insects on their wing, that was a bit of the maya going on there, the colors which were excessive, a bit of the glamour going on there, the perfume, maybe that was acid in nature. You could see things were not in proportion. They were too much they were excessive. Now, things are right according to the Plan. The work proceeds and the reoriented individual is moving on towards a higher objective. |
Và tình hình ở đây cũng tương tự, với khu vườn được tạo ra bởi đệ tử đang được linh hồn thấm nhập hơn, người tin tưởng người làm vườn cao hơn sẽ làm việc thông qua mình. Người đệ tử sử dụng các yếu tố đúng cách, theo hướng điều độ, chế ngự tất cả sự náo động và quá mức đó. Náo động và quá mức là kết quả của những nỗ lực trước đó trong việc tạo ra một khu vườn. Lần này thì tất cả đều cân đối. Ảo cảm đã hết. Ảo tưởng đã hết. Maya, sự hỗn loạn, cũng đã hết. Theo một cách nào đó, sự rì rào của ong bướm và côn trùng bay lượn, đó từng là một phần của ảo lực (maya) diễn ra ở đó, màu sắc rực rỡ quá mức, đó chính là ảo cảm, thậm chí hương thơm nồng nàn trong vườn, có lẽ đó cũng là một dạng độc hại. Bạn có thể thấy mọi thứ đều không cân đối. Chúng quá nhiều, chúng quá mức. Giờ đây, mọi thứ đều đúng theo Thiên Cơ. Công việc tiếp diễn và cá nhân đã định hướng lại đang tiến tới một mục tiêu cao hơn. |
|
Well, those are some thoughts about this, if you’re a first ray soul and you’ve got to think it through in your own way, how does it apply to you? Maybe even as a first ray personality, you could somewhat do that. Or if you’re simply interested in going deeper into psychology and figuring out how a first ray soul would approach this change of life, this necessary destruction and reorientation and rebuilding, then think on these things and try to find the specific instances and how they work in people’s lives. |
Vâng, đó là một số suy nghĩ về vấn đề này, nếu bạn là linh hồn thuộc cung một và bạn phải suy nghĩ thấu đáo về điều đó theo cách riêng của mình, thì điều đó áp dụng cho bạn như thế nào? Có lẽ ngay cả với tư cách là một phàm ngã thuộc cung một, bạn cũng có thể phần nào làm được điều đó. Hoặc nếu bạn chỉ quan tâm đến việc đi sâu hơn vào tâm lý học nội môn và tìm hiểu xem linh hồn cung một sẽ tiếp cận sự thay đổi cuộc sống này như thế nào, sự hủy diệt và sự tái định hướng và xây dựng lại cần thiết này, thì hãy suy nghĩ về những điều này và cố gắng tìm ra những trường hợp cụ thể và cách thức chúng diễn ra trong đời sống con người. |
|
Well, I think this is where we can do the Great Invocation with just about at the hour point. And we can do that, and then go on to ray two, the longest stanza. Some of these are longer stanzas, this one’s short, but it’s packed. And of course, you may think of things that I missed, and the symbolism may speak to you in yet a different way. So, this is the Great Invocation and being this first discussion on the direction of Ray one Law of Repulse. |
Và bây giờ, tôi nghĩ là lúc chúng ta có thể thực hiện Đại Khấn Nguyện, và chúng ta chuyển sang cung hai, khổ thơ dài nhất. Một số trong số đó là những khổ thơ dài hơn, khổ này ngắn hơn, nhưng đầy đủ. Và tất nhiên, bạn có thể nghĩ về những điều tôi đã bỏ lỡ, và nhưng biểu tượng có thể nói với bạn theo một cách khác. Vì vậy, đây là Đại Khấn Nguyện và là cuộc thảo luận đầu tiên về chỉ dẫn của Định luật Đẩy Cung một. |
The Direction of Ray II (trang 51-94)
|
“The Scholar knows the truth. [R2-1] All is revealed to him. [R2-2] Surrounded by his books, and sheltered in the world of thought, he burrows like a mole, and finds his way into the darkness; [R2-3] he arrives at knowledge of the world of natural things. [R2-4] His eye is closed. His eyes are opened wide. [R2-5] He dwells within his world in deep content. [R2-6] |
“Vị học giả biết chân lý. Tất cả được tiết lộ cho y. Được bao quanh bởi những cuốn sách của mình, và được che chở trong thế giới tư tưởng, y đào bới như một con chuột chũi, và tìm thấy đường của mình đi vào bóng tối; y đạt đến tri thức về thế giới của những điều tự nhiên. Một con mắt của y bị đóng lại. Đôi mắt của y được mở rộng. Y ngự trong thế giới của mình với sự toại nguyện sâu sắc. |
|
Detail on detail enter into the content of his world of thought. [R2-7] He stores the nuggets of the knowledge of the world, as a squirrel stores its nuts. [R2-8] The storehouse now is adequately full… [R2-9] Sudden a spade descends, for the thinker tends the garden of his thought, and thus destroys the passages of mind. [R2-10] Ruin arrives, destroying fast the storehouse of the mind, the safe security, the darkness and the warmth of a satisfied enquiry. [R2-11] All is removed. The light of summer enters in and the darkened crannies of the mind see light… [R2-12] Naught is left but light, and that cannot be used. [R2-13] The eyes are blinded and the one eye seeth not as yet… [R2-14] |
Hết chi tiết này đến chi tiết khác đi vào nội dung của thế giới tư tưởng của y. Y lưu trữ những quặng vàng tri thức của thế giới, như một con sóc trữ các hạt của nó. Giờ đây, nhà kho thật sự đầy đủ…. Thình lình một cái thuổng giáng xuống, [1g2] vì người suy tưởng chăm sóc khu vườn tư tưởng của mình, do đó phá hủy những lối đi của trí tuệ. Sự đổ nát đến, nhanh chóng phá hủy nhà kho của thể trí, sự bảo đảm an toàn, bóng tối và sự ấm áp của một cuộc tìm kiếm được thỏa mãn. Tất cả bị loại bỏ. Ánh sáng của mùa hè đi vào và những vết nứt tối đen của thể trí nhìn thấy ánh sáng…. Chẳng còn lại gì ngoài ánh sáng, và điều đó không thể được sử dụng. Đôi mắt đã mù và con mắt duy nhất vẫn chưa nhìn thấy gì…. |
|
Slowly the eye of wisdom must be opened. [R2-15] Slowly the love of that which is the true, the beautiful and good must enter the dark passages of worldly thought. [R2-16] Slowly the torch of light, the fire of right must burn the garnered treasures of the past, yet show their basic usefulness… [R2-17] |
Từ từ, con mắt minh triết phải được mở ra. Từ từ, tình yêu với những điều chân, thiện, mỹ phải đi vào những lối đi tối tăm của thế giới tư tưởng. Từ từ, ngọn đuốc ánh sáng, ngọn lửa của điều công chính phải đốt cháy những kho tàng tích trữ từ quá khứ, nhưng vẫn thể hiện được tính hữu dụng cơ bản của chúng…. |
|
The seven ways of light must wean away the attention of the Scholar from all that has been found and stored and used. [R2-18] This he repulses and finds his way into that Hall of Wisdom which is built upon a hill, and not deep under ground. [R2-19] Only the opened eye can find this way.” [R2-20] |
Bảy con đường ánh sáng phải lấy đi sự chú ý của vị Học Giả ra khỏi tất cả những gì đã được tìm thấy, được lưu trữ và được sử dụng. Y cự tuyệt điều này và tìm đường đi vào Phòng Minh Triết được xây dựng trên một ngọn đồi chứ không phải sâu dưới lòng đất. Chỉ có con mắt đã mở mới có thể tìm thấy con đường này.” |

|
We will then go on to the second Law of Repulse, the direction of ray two. Well, do we call the the main figure, the first one the gardener? It is easy to call the second ray type Scholar, the third ray the Weaver, the fourth ray the Mixer, the fifth ray the Worker, the sixth ray the frenzy Follower, and the seventh ray Magician. What should we call him or her upon the first ray? We can decide that. |
Chúng ta sẽ chuyển sang Định luật Đẩy Lùi cung hai, Chỉ Dẫn cho cung hai. Ở cung một, chúng ta có gọi nhân vật chính là Người Làm Vườn, đúng không? Thật dễ dàng để gọi linh hồn cung hai là Nhà Học giả, cung ba là Người Thợ dệt, cung bốn là Người Phối Trộn, cung năm là Người lao động, cung sáu là Vị Theo đuổi cuồng loạn, và cung bảy Nhà Huyền Thuật. Chúng ta nên gọi anh ấy hoặc cô ấy trên cung một là gì? Chúng ta hãy suy nghĩ về điều đó. |
|
Now, we are ready to go on to a Law of Repulse stanza which I think affects so many of us, the direction of ray two, second ray. Naturally, in DK’s group there would be the majority of second ray souls, and I suppose some second ray monads, and this second ray formula will be of broad usefulness, although we will discover that, since there are three different types of second ray souls, I think this particular approach tends to relate more to the third type of second ray soul, the one who is the occultist, the one who follows the line of meticulous entirety and of detailed unity, and was interested in the Divine Pattern particularly, not so much the pure love type of second ray soul, and to an extent like some of those upon the wisdom line, but only, I think, to an extent. |
Bây giờ, chúng ta sẵn sàng chuyển sang khổ thơ của Định luật Đẩy lùi mà tôi nghĩ ảnh hưởng đến rất nhiều người trong chúng ta, chỉ dẫn của cung hai. Đương nhiên, trong nhóm của Chân sư DK đa số là linh hồn cung hai, và tôi nghĩ có một số chân thần cung hai, và công thức cung hai này sẽ hữu ích rộng rãi, mặc dù chúng ta sẽ khám phá ra rằng, vì có ba loại linh hồn cung hai khác nhau, nên cách tiếp cận đặc biệt này có xu hướng liên quan nhiều hơn đến loại linh hồn thuộc loại thứ ba, là nhà huyền bí học, người đi theo con đường của sự tổng thể tỉ mỉ và sự thống nhất chi tiết, đặc biệt quan tâm đến Khuôn mẫu Thiêng liêng, không phải loại Bác ái thuần khiết của cung hai, và ở một mức độ nào đó giống như một số linh hồn thuộc nhóm minh triết, nhưng tôi nghĩ chỉ ở một mức độ nào đó. |
|
So, let me then read this which I think is most interesting. We are dealing with what I would call Old Commentary perspectives. I guess that’s what I’ll call this session of programs Old Commentary perspectives. I called them Old Commentaries, but I think perspectives is a little better. So, here we go with the second ray of love wisdom. |
Vì vậy, hãy để tôi đọc đoạn này, mà tôi nghĩ là hết sức thú vị. Chúng ta đang bàn đến điều mà tôi gọi là những góc nhìn của Cổ Luận. Có lẽ tôi sẽ gọi loạt chương trình này là Những Góc Nhìn của Cổ Luận. Trước đây tôi gọi chúng là Cổ Luận, nhưng tôi nghĩ “góc nhìn” có lẽ thích hợp hơn một chút. Vì vậy, chúng ta bắt đầu với cung hai của Bác Ái – Minh Triết. |
|
“The Scholar knows the truth. All is revealed to him. Surrounded by his books, and sheltered in the world of thought, he burrows like a mole, and finds his way into the darkness; he arrives at knowledge of the world of natural things. His eye is closed. His eyes are opened wide. He dwells within his world in deep content. |
“Vị học giả biết chân lý. Tất cả được tiết lộ cho y. Được bao quanh bởi những cuốn sách của mình, và được che chở trong thế giới tư tưởng, y đào bới như một con chuột chũi, và tìm thấy đường của mình đi vào bóng tối; y đạt đến tri thức về thế giới của những điều tự nhiên. Một con mắt của y bị đóng lại. Đôi mắt của y được mở rộng. Y ngự trong thế giới của mình với sự toại nguyện sâu sắc. |
|
Detail on detail enter into the content of his world of thought. He stores the nuggets of the knowledge of the world, as a squirrel stores its nuts. The storehouse now is adequately full….Sudden a spade descends, for the thinker tends the garden of his thought, and thus destroys the passages of mind. Ruin arrives, destroying fast the storehouse of the mind, the safe security, the darkness and the warmth of a satisfied enquiry. All is removed. The light of summer enters in and the darkened crannies of the mind see light….Naught is left but light, and that cannot be used. The eyes are blinded and the one eye seeth not as yet…. |
Hết chi tiết này đến chi tiết khác đi vào nội dung của thế giới tư tưởng của y. Y lưu trữ những quặng vàng tri thức của thế giới, như một con sóc trữ các hạt của nó. Giờ đây, nhà kho thật sự đầy đủ…. Thình lình một cái thuổng giáng xuống, [1g2] vì người suy tưởng chăm sóc khu vườn tư tưởng của mình, do đó phá hủy những lối đi của trí tuệ. Sự đổ nát đến, nhanh chóng phá hủy nhà kho của thể trí, sự bảo đảm an toàn, bóng tối và sự ấm áp của một cuộc tìm kiếm được thỏa mãn. Tất cả bị loại bỏ. Ánh sáng của mùa hè đi vào và những vết nứt tối đen của thể trí nhìn thấy ánh sáng…. Chẳng còn lại gì ngoài ánh sáng, và điều đó không thể được sử dụng. Đôi mắt đã mù và con mắt duy nhất vẫn chưa nhìn thấy gì…. |
|
Slowly the eye of wisdom must be opened. Slowly the love of that which is the true, the beautiful and good must enter the dark passages of worldly thought. Slowly the torch of light, the fire of right must burn the garnered treasures of the past, yet show their basic usefulness…. |
Từ từ, con mắt minh triết phải được mở ra. Từ từ, tình yêu với những điều chân, thiện, mỹ phải đi vào những lối đi tối tăm của thế giới tư tưởng. Từ từ, ngọn đuốc ánh sáng, ngọn lửa của điều công chính phải đốt cháy những kho tàng tích trữ từ quá khứ, nhưng vẫn thể hiện được tính hữu dụng cơ bản của chúng…. |
|
The seven ways of light must wean away the attention of the Scholar from all that has been found and stored and used. This he repulses and finds his way into that Hall of Wisdom which is built upon a hill, and not deep under ground. Only the opened eye can find this way.” |
Bảy con đường ánh sáng phải lấy đi sự chú ý của vị Học Giả ra khỏi tất cả những gì đã được tìm thấy, được lưu trữ và được sử dụng. Y cự tuyệt điều này và tìm đường đi vào Phòng Minh Triết được xây dựng trên một ngọn đồi chứ không phải sâu dưới lòng đất. Chỉ có con mắt đã mở mới có thể tìm thấy con đường này.” |
|
I think we can see there’s quite a bit more to stanza number two than there is to stanza number one, the first ray is in many ways the ray of brevity. So, let us begin analyzing, interpreting this particular stanza which I think has quite a bit of relevance to the students of master DK, who is, I think, Himself or was at least long ago, in a position to benefit from this particular stanza. |
Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy khổ thơ thứ hai dài hơn khổ thơ đầu tiên, cung một về nhiều mặt là cung của sự ngắn gọn. Vì vậy, chúng ta hãy bắt đầu phân tích, giải thích khổ thơ đặc biệt này mà tôi nghĩ có khá liên quan đến các đệ tử của Chân sư DK, và tôi nghĩ chính Ngài, ít nhất đã lâu, đã ở vị thế được hưởng lợi từ khổ thơ đặc biệt này. |
|
The scholar knows the truth. [R2-1] |
Vị học giả biết chân lý. |
|
The scholar is one who seeks to gather all the relevant material on any particular subject and to know his subject, thoroughly. Scholar, one who is of the Schools, one who was given to deep study. We know how DK describes the second ray in terms of its study, the possibility of too much study without taking action. And He also describes the second ray as one who has ever bent on pure truth, and will not rest until higher and higher attainments of the truth are his. |
Học giả là người tìm cách thu thập tất cả các tài liệu liên quan về bất kỳ chủ đề cụ thể nào, và tìm hiểu kỹ lưỡng về đề tài của mình. Học giả, một người thuộc một Ngôi Trường, người được giao nhiệm vụ nghiên cứu sâu. Chúng ta biết Chân sư DK mô tả cung hai như thế nào về mặt nghiên cứu của nó, khả năng nghiên cứu quá nhiều mà không hành động. Và Ngài cũng mô tả cung hai là người luôn hướng về chân lý thuần túy và sẽ không ngừng nghỉ cho đến khi đạt được chân lý ngày càng cao hơn. |
|
Now, this all is done from the personality perspective. The Jiva this time is manifesting as a personality and what we call the truth is certainly not the truth in a higher sense. It’s the truth as truth is interpreted in the lower three worlds. It is very much, I think, a mental truth without the deeper feeling or intuitive component. He is a knower of that which can be known by the mind in the lower three worlds, and he studies his subject laboriously. Again, it says |
Tất cả điều này được thực hiện từ góc độ phàm ngã. Jiva biểu hiện như một phàm ngã, và điều chúng ta gọi là chân lý chắc chắn không phải là chân lý theo nghĩa cao hơn. Đó là chân lý hay sự thật như được giải thích ở ba cõi thấp. Tôi nghĩ đó là một sự thật trí tuệ không có cảm giác sâu sắc hoặc thành phần trực quan. Y là người biết về những gì mà thể trí có thể biết được trong ba cõi thấp, và y nghiên cứu chủ đề của mình một cách chăm chỉ. |
|
All is revealed to him. [R2-2] |
Tất cả được tiết lộ cho y. |
|
But is it really all or does he think it is all? It is all perhaps on a particular subject. In this way, he tends to share certain approaches with the fifth ray type who becomes an expert in a particular field, but then tends to bring that field into more mechanical, manual application, which is not necessarily the case with second ray type who has perhaps a more hands off type approach. It’s sufficient for the second ray type simply to know, and the area of activity that he finds himself in perhaps—unless other rays countra-indicate—are the fields of psychology and the area of the emotions and the use of the subtle bodies to work in the world rather than as physically as the fifth Ray type will work. |
Nhưng liệu đó thực sự là tất cả, hay y nghĩ đó là tất cả? Đó có lẽ là tất cả về một chủ đề cụ thể. Bằng cách này, y có xu hướng chia sẻ cách tiếp cận nhất định với người cung năm, người trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực cụ thể, nhưng sau đó có xu hướng đưa lĩnh vực đó vào ứng dụng thủ công, máy móc hơn, điều không nhất thiết phải xảy ra với loại cung hai, người có có lẽ là một cách tiếp cận ít dính dáng với tay chân hơn. Đối với người thuộc cung hai, chỉ cần biết là đủ, và lĩnh vực hoạt động mà người đó thấy mình tham gia có lẽ — trừ khi các cung khác nghịch lại — là lĩnh vực tâm lý học, lĩnh vực cảm xúc và việc sử dụng các thể tinh vi để hoạt động trên thế giới thay vì làm việc một cách vật lý như người thuộc cung năm sẽ làm. |
|
So, much is revealed to him, but in his own view, all is revealed to him, all about this subject that he is given to study. Notice, the world is shut out here. |
Vì vậy, nhiều điều đã được tiết lộ cho y, nhưng theo quan điểm của riêng y, tất cả đã được tiết lộ cho y, tất cả về chủ đề mà y được giao để nghiên cứu. Lưu ý rằng, thế giới bên ngoài bị loại trừ ở đây |
|
Surrounded by his books. |
Được bao quanh bởi những cuốn sách của mình, |
|
This was written in the days of course when books were the great repository of knowledge. They still are, of course, in the great libraries of the world, but now we have the internet and you could be surrounded by many screens, each of which could give him access to more knowledge than you could possibly realize from the books, although so much is not translated yet into Internet availability, but we get the idea. |
Điều này tất nhiên được viết vào thời mà sách là kho tàng kiến thức vĩ đại. Tất nhiên, chúng vẫn còn trong các thư viện lớn trên thế giới, nhưng giờ đây chúng ta có internet và bạn có thể được bao quanh bởi nhiều màn hình, mỗi màn hình có thể cho phép bạn tiếp cận nhiều kiến thức hơn bạn có thể nhận từ sách, mặc dù rất nhiều thứ chưa được chuyển thành có sẵn trên Internet, nhưng chúng ta hiểu được ý nghĩa ở đây. |
|
The world per se, the actuality of the world, the harshness of the world, the direct sensory involvement with the world, is shut out by all of the books that he has read and studied, and which have given him his conception of the world, oftentimes it’s not the result of direct experience, but the result of what others have said about direct experience, and this for him is good enough. |
Bản thân thế giới, thực tế của thế giới, sự khắc nghiệt của thế giới, sự tham gia trực tiếp của các giác quan với thế giới, tất cả đều bị ngăn chặn bởi tất cả những cuốn sách mà y đã đọc và nghiên cứu, và những cuốn sách đã mang lại cho y quan niệm về thế giới, thường thì đó không phải là kết quả của trải nghiệm trực tiếp mà là kết quả của những gì người khác đã nói về trải nghiệm trực tiếp, và đối với y, điều này là đủ rồi. |
|
So, this is his environment. He’s in the library, and firsthand contact with life may not be sought, |
Vì vậy, đây là môi trường của y. Y đắm mình trong thư viện, và có thể không tìm kiếm sự tiếp xúc trực tiếp với cuộc sống.” |
|
Surrounded by his books and sheltered in the world of thought [R2-3] |
Được bao quanh bởi những cuốn sách của mình, và được che chở trong thế giới tư tưởng, |
|
He is spared the harsh reality of physical contact. He is, in some ways, protected by his thoughts. His thoughts serve as mediators between him and actual experience. |
Y thoát khỏi thực tại khắc nghiệt của sự tiếp xúc vật lý. Theo một cách nào đó, y được bảo vệ bởi những suy nghĩ của mình. Suy nghĩ của y đóng vai trò trung gian giữa y và trải nghiệm thực tế. |
|
Now, that’s not to say that many second ray types do not see direct experience, but there is a possibility to be, so to speak, a school man, as it were, and to gain all knowledge from books and from what others have said about life. Those upon the second and third ray together show this tendency, especially if the sixth ray is also present. And it was against this type of approach that Master R. when he appeared as Francis Bacon, it was against this approach that he leveled his criticism and said, Well, really, how do you know that these things that you read and think about are really true? You have not experimented with the real world. So, Francis Bacon “Rang the bell” which called the wits together. And these were people of a more practical event who began actually to experiment with the world and find out whether what was said in the books was true or not true. And so often they discovered it was not true, and that experiment revealed a different type of provable and reprovable truth. But anyway, our scholar here is surrounded by his books, hopefully good ones, and he is sheltered, buffered, protected by his own thoughts about reality and is not coming into direct contact, perhaps, with the actual experience of that above which he seems to know. |
Nhưng điều đó không có nghĩa là nhiều người thuộc cung hai không có trải nghiệm trực tiếp, nhưng có thể nói có khả năng đó là một người của sách vở, một người có được tất cả kiến thức từ sách vở và từ những gì người khác đã nói về cuộc sống. Những người thuộc cung hai và cung cùng thể hiện xu hướng này, đặc biệt nếu cung sáu cũng hiện diện. Và chính để chống lại cách tiếp cận này mà Chân sư R., khi Ngài xuất hiện với tư cách là Francis Bacon, đã đưa ra lời chỉ trích của mình và nói: “Làm sao bạn biết rằng những điều bạn đọc và suy nghĩ thực sự đúng? Bạn đã không thử nghiệm với thế giới thực.” Vì vậy, Francis Bacon đã “rung chuông” để triệu tập những người thông thái lại với nhau. Và đây là những người có nhiều sự kiện thực tế hơn, họ bắt đầu thực sự thử nghiệm với thế giới và tìm hiểu xem những gì được nói trong sách là đúng hay không đúng, và họ thường xuyên phát hiện ra rằng điều đó không đúng, và thử nghiệm đó đã tiết lộ một loại chân lý có thể chứng minh và bác bỏ khác. Nhưng dù sao đi nữa, vị học giả của chúng ta ở đây được bao quanh bởi những cuốn sách của mình, và hy vọng đó là những cuốn sách hay, và y được che chở, bảo vệ bởi những suy nghĩ của chính mình về thực tại, và có lẽ không tiếp xúc trực tiếp với trải nghiệm thực tế về điều mà y dường như biết. |
|
…he burrows like a mole, and finds his way into the darkness; |
…y đào bới như một con chuột chũi, và tìm thấy đường của mình đi vào bóng tối; |
|
And moles, we know, are blind. So there’s an element of blindness here. And he’s going deeper and deeper into matter itself and not into the realm of truth. He’s going into the earth and his knowledge is of an earthly kind at this stage of his development, and he finds his way not into the light, although he may consider it to be a type of light, but into what from the perspective of the higher illumined planes would be called darkness. |
“Và chúng ta biết chuột chũi là loài động vật mù. Vì vậy, có yếu tố mù lòa ở đây. Y đang đi sâu hơn và sâu hơn vào chính vật chất chứ không phải vào lãnh vực của sự thật, của chân lý. Y đang đi vào lòng đất và kiến thức của y là thuộc loại trần tục ở giai đoạn phát triển này, y không tìm thấy con đường của mình đến với ánh sáng, mặc dù y có thể coi đó là một loại ánh sáng, nhưng từ góc độ của các cõi cao hơn được soi sáng thì đó được gọi là bóng tối. |
|
Now, he is arriving at knowledge indeed, but it’s knowledge of the three lower planes, especially the 18 lower subplanes, and these planes are unprincipled, and from the perspective of the higher mind, are considered planes of darkness. They’re certainly of dim light. They are not of the brilliant, revelatory light of the cosmic ethers. |
Bây giờ, thực sự y đang tiếp cận với kiến thức, nhưng đó là kiến thức về ba cõi thấp hơn, đặc biệt là 18 cõi phụ thấp, và những cõi này không phải là các nguyên khí, và từ góc độ của thượng trí, chúng được coi là những cõi của bóng tối. Chúng chắc chắn có ánh sáng mờ nhạt, không phải là ánh sáng rực rỡ, mặc khải của các cấp dĩ thái vũ trụ. |
|
So, he’s burrowing into the world that is shaped by the Elementals, and he’s learning elemental knowledge in a way, and indeed, knowledge of the elements. |
Vì vậy, y đang đào sâu vào thế giới được định hình bởi các hành khí, và y đang học hỏi kiến thức về hành khí theo một cách nào đó, và thực sự là kiến thức về các nguyên tố. |
|
…he arrives at knowledge of the world of natural things. [R2-4] |
…y đạt đến tri thức về thế giới của những điều tự nhiên. |
|
This is knowledge of the natural world. He learns of natural things, which means that which he considers knowable is, for the most part, on the 18 lower subplanes. And there’s a form of light on these subplanes, but it is still in what the Tibetan has called the Hall of Ignorance. You can have some very concretely intelligent people working in the Hall of Ignorance, but they are working on a level which does not yet appreciate that there is a pair of opposites, a higher self and the lower self. They don’t know anything of the higher part of the pairs of opposites, which we call the soul. Instead, they work strictly in the realm of personality, with that which is revealed mostly to the five senses of the personality, and therefore, their knowledge is mostly of a strictly worldly kind. There can be some knowledge of the astral plane which is derived as the person begins to ascend in the pursuit of knowledge and some knowledge of the mental plane of course, but it’s still within the world of Hall of Ignorance, because in the Hall of Learning, one is learning that the soul exists, and it has a special type of knowledge, all of its own, and subjectivity begins to make its impression upon consciousness. |
Đây là kiến thức về thế giới tự nhiên. Y học về những điều tự nhiên, có nghĩa là những gì y coi là có thể biết được, phần lớn nằm trên 18 cõi phụ thấp. Có một dạng ánh sáng trên những cõi phụ này, nhưng nó vẫn nằm trong cái mà Chân sư Tây Tạng gọi là Phòng Vô Minh. Bạn có thể có những người rất thông minh về phương diện hạ trí làm việc trong Phòng Vô Minh, nhưng họ đang làm việc ở một cấp độ mà chưa đánh giá được rằng có một cặp đối lập, một cái tôi cao hơn và một cái tôi thấp hơn. Họ không biết gì về phần cao hơn của cặp đối lập, thứ mà chúng ta gọi là linh hồn. Thay vào đó, họ làm việc hoàn toàn trong lĩnh vực của phàm ngã, với những gì được tiết lộ chủ yếu cho năm giác quan của phàm ngã, và do đó, kiến thức của họ hầu hết là thuộc loại hoàn toàn trần tục. Có thể có một số kiến thức về cõi cảm dục có được khi một người bắt đầu thăng tiến trong việc theo đuổi kiến thức, và tất nhiên là một số kiến thức về cõi trí, nhưng nó vẫn nằm trong thế giới của Phòng Vô Minh, bởi vì trong Phòng Minh Triết, người ta học được rằng linh hồn tồn tại, và nó có một loại kiến thức đặc biệt của riêng mình, và tính nội tại bắt đầu tạo ấn tượng lên tâm thức.” |
|
Because he’s working in the Hall of Ignorance, |
Bởi vì y làm việc trong Phòng Vô Minh nên, |
|
His eye is closed, [R2-5] |
Con mắt của y đóng lại |
|
And by that we are talking about his unitive or synthetic factor. It is the third eye. And interestingly enough, this eye begins to awaken not just at the third initiation, but from the time the first initiation is taken, there was a slow and gradual opening of the third eye. But that would be in the Hall of Wisdom that that eye would begin to awaken around the time of the first initiation and following until by the third initiation it becomes quite usable. |
Chúng ta đang nói về yếu tố hợp nhất hoặc tổng hợp của y. Đó là con mắt thứ ba. Điều thú vị là con mắt này không chỉ bắt đầu khơi hoạt ở lần điểm đạo thứ ba, mà ngay từ khi tham dự lần điểm đạo đầu tiên, đã có một sự khai mở chậm rãi và dần dần của con mắt thứ ba. Nhưng điều đó sẽ diễn ra trong Phòng Minh Triết, con mắt đó sẽ bắt đầu thức tỉnh vào khoảng thời gian của lần điểm đạo đầu tiên và tiếp tục cho đến khi lần điểm đạo thứ ba thì nó trở nên khá hữu dụng. |
|
So, this particular eye would give him a deep understanding of that which he studies, and would begin to reveal to him its spiritual source. He could begin to see with some spiritual discernment. He could see the unity of group nature of things. He can see all those things. That particular eye is closed, the ethers in the brain, in the etheric brain around the pineal gland are not sufficiently stimulated, the pineal gland is not yet re-stimulated, maybe it was very stimulated in the days of early man. And he, this man, still sees under the spell of duality in the time-space worlds, his intelligence is operating, and not in the unity of World of the soul. So, |
Vì vậy, con mắt đặc biệt này sẽ cho y một sự thấu hiểu về những gì y nghiên cứu, và sẽ bắt đầu tiết lộ cho y nguồn gốc tinh thần của nó. Y có thể bắt đầu nhìn thấy với một sự phân biện tinh thần nào đó. Y có thể thấy sự thống nhất của bản chất nhóm của vạn vật. Y có thể thấy tất cả những điều đó. Con mắt cụ thể đó bị đóng lại, các dĩ thái trong não, bộ não etheric xung quanh tuyến tùng không được kích thích đầy đủ, tuyến tùng vẫn chưa được kích thích lại, có lẽ nó đã được kích thích rất nhiều vào thời kỳ đầu của con người. Và y, con người này, vẫn nhìn thấy dưới sự mê hoặc của tính nhị nguyên trong thế giới thời gian-không gian, trí thông minh của y đang hoạt động, chứ không phải trong sự thống nhất của Thế Giới Linh hồn. Cho nên… |
|
…his eyes are open wide |
Đôi mắt của y mở rộng. |
|
Tells us that he is very observant, because after all, he is a scholar and wants to know all he can about everything he sees, especially in the world of the senses, and to an extent, in the emotional and mental worlds. |
Điều đó nói với chúng ta rằng y rất tinh ý, bởi vì sau cùng, y là một học giả và muốn biết tất cả những gì có thể biết về mọi thứ y nhìn thấy, đặc biệt là trong thế giới của các giác quan, và ở một mức độ nào đó, trong thế giới cảm xúc và trí tuệ. |
|
So, his eyes are perhaps open, wider than the eyes of many people, but he is not sufficiently keen to begin to understand the meaning of things as the third eye begins to open, even though at the period of the first initiation, the meaning from the world of the soul begins to dawn. But here we are dealing more with facts and nuggets of knowledge of the natural world, the interactions of which he understands, I think, quite well better than most. But until the eye which is closed is opened, he will still be working underground as a mole, in the Hall of Ignorance. And of course, he’s happy about it. |
Vì vậy, đôi mắt của y có lẽ mở to hơn nhiều người, nhưng y chưa đủ nhạy bén để bắt đầu hiểu ý nghĩa của vạn vật khi con mắt thứ ba bắt đầu mở ra, mặc dù ở lần điểm đạo đầu tiên, ý nghĩa từ thế giới linh hồn bắt đầu hé lộ. Nhưng ở đây chúng ta đang đề cập nhiều hơn đến sự thật và những mẩu kiến thức về thế giới tự nhiên, những tương tác mà y hiểu, tôi nghĩ là khá tốt, tốt hơn hầu hết mọi người. Nhưng cho đến khi con mắt đang nhắm lại được mở ra, y sẽ vẫn làm việc dưới lòng đất như một con chuột chũi, trong Phòng Vô Minh. Và tất nhiên, y hạnh phúc về điều đó. |
|
He dwells within his world in deep content. [R2-6] |
Y ngự trong thế giới của mình với sự toại nguyện sâu sắc. |
|
His world is the world of middle consciousness. It’s not a world in great depth, delving into the unconsciousness, which for all intents and purposes have to do with the astral plane and even mental phenomena. He is not dealing with spiritual matters. It’s a very limited world which he considers to be the object of his dedicated perception. And as he is accumulating more and more knowledge in this world—we will play upon the word content and content. |
Thế giới của y là thế giới của tâm thức trung bình. Đó không phải là một thế giới có chiều sâu, đi sâu vào vô thức, mà về mọi phương diện liên quan đến cõi cảm dục và thậm chí cả các hiện tượng trí tuệ. Y không xem xét các vấn đề tinh thần. Đó là một thế giới rất hạn chế mà y coi là đối tượng nhận thức tận tâm của mình. Và khi y tích lũy ngày càng nhiều kiến thức trong thế giới này , y càng thỏa mãn (content). Chúng ta đang chơi chữ với từ “content” (nội dung) và “content” (thỏa mãn). |
|
He dwells within his world in deep content, |
Y sống trong thế giới của mình với sự thỏa mãn sâu sắc, |
|
Because his content, the content of his mind, is rapidly filling, and the more he accumulates—this is a second ray tendency, working with the disease which I call accumulatis—the more he gathers, the greater the content of his mind, the greater his content. The content is deep because he does not suspect there may be outside of his world of perception vast worlds of depth and height. If he began to sense that he would develop the spiritual inferiority complex which is so common to those upon the second ray once they begin to wake up, they begin to realize there’s so much more, so much vastly more than they had considered that their content looks very small indeed. And with it their content goes and they develop a state of very aggravated divine discontent in which they seek to search for ever greater knowledge of a truer kind. |
Bởi vì nội dung của y, nội dung của thể trí y, đang nhanh chóng được lấp đầy, và y càng tích lũy — đây là một xu hướng của cung hai, hoạt động với căn bệnh mà tôi gọi là “bệnh tích lũy” — y càng thu thập, nội dung của thể trí y càng lớn, y càng thỏa mãn. Sự thỏa mãn này sâu sắc bởi vì y không nghi ngờ rằng bên ngoài thế giới nhận thức của mình có thể có những thế giới rộng lớn về chiều sâu và chiều cao. Nếu y bắt đầu cảm nhận được điều đó, y sẽ phát triển mặc cảm tự ti tâm linh, điều này rất phổ biến đối với những người thuộc cung hai khi họ bắt đầu thức tỉnh, họ bắt đầu nhận ra rằng có quá nhiều thứ, quá nhiều thứ hơn rất nhiều so với những gì họ đã nghĩ, rằng sự thỏa mãn của họ thực sự rất nhỏ bé. Và cùng với đó, sự thỏa mãn của họ biến mất và họ phát triển trạng thái bất mãn thiêng liêng trầm trọng, trong đó họ tìm cách tìm kiếm kiến thức lớn hơn bao giờ hết về một loại chân lý hơn. |
|
[MDR repeats the first paragraph] |
[Thầy MDR lặp lại đoạn đầu tiên]” |
|
The Scholar knows the truth. All is revealed to him. Surrounded by his books, and sheltered in the world of thought, he burrows like a mole, and finds his way into the darkness; he arrives at knowledge of the world of natural things. His eye is closed. His eyes are opened wide. He dwells within his world in deep content. |
|
|
Now, we will go on, |
|
|
Detail and detail enter into the content of his world of thought. [R2-7] |
Chi tiết này đến chi tiết khác đi vào nội dung của thế giới tư tưởng của y. |
|
This is called the ray of detailed unity. There was one person with a second ray mind. I think, his rays were 21-213, he had a second ray mind, and so did someone else. And this particular person was warned about overemphasis upon detail. One might wonder also whether he had some strong Mercury there, Virgo probably in Gemini, something of that nature. I’m not sure we have his horoscope, |
Đây được gọi là cung của sự thống nhất chi tiết. Có một đệ tử có thể trí cung hai. Tôi nghĩ rằn, các cung của ông là 21-213, ông có thể trí cung hai, và một người khác cũng vậy. Và vị đệ tử cụ thể này đã được cảnh báo về việc quá chú trọng vào chi tiết. Người ta cũng có thể tự hỏi liệu ông có một sao Thủy mạnh mẽ ở đó hay không, có lẽ là Xử Nữ trong Song Tử, một cái gì đó tương tự như vậy. Tôi không chắc chúng ta có lá số chiêm tinh của ông. |
|
Detail and detail enter into the content of his world of thoughts. |
Chi tiết này đến chi tiết khác đi vào nội dung của thế giới tư tưởng của y. |
|
So, it’s not really seeing the big picture yet necessarily. He’s interested in all the little particulars, collecting them together so that they can make a pattern one day. He wants to see the pattern since the second ray is called also the ray of the Divine Pattern. So, his content is constantly increasing, and he’s always interested in one more thing, and how it is when you study master DK’s books, there’s so many amazing details, and I’m I personally am given to this. I have something called AAB extracts, which gets bigger and bigger and bigger with all of these, the content. But of course, I don’t consider this to be worldly knowledge. I consider this to be knowledge related to the higher worlds although it is nugget tree. Let’s call it nugget tree. A friend of mine and I, when we used to work of the Lucis Trust, we used to play this game called Nugget Tree, and we come in every morning and what’s some new nugget, some new nugget from the teaching that could perhaps fill in more of the Divine Pattern. |
Y chưa thực sự nhìn thấy bức tranh lớn. Y quan tâm đến tất cả những chi tiết nhỏ, thu thập chúng lại để một ngày nào đó chúng có thể tạo thành một khuôn mẫu. Y muốn nhìn thấy khuôn mẫu vì cung hai còn được gọi là cung của Khuôn Mẫu Thiêng liêng. Vì vậy, nội dung của y không ngừng tăng lên, và y luôn quan tâm đến biết thêm một điều nữa. Nó giống như khi bạn nghiên cứu sách của Chân sư DK, có rất nhiều chi tiết đáng kinh ngạc, và cá nhân tôi cũng bị cuốn theo cách này. Tôi có một tập hợp các trích dẫn từ sách của AAB mà tôi gọi là AAB extracts, nó ngày càng lớn hơn với tất cả những nội dung này. Nhưng tất nhiên, tôi không coi đây là kiến thức trần tục. Tôi coi đây là kiến thức liên quan đến các cõi giới cao hơn mặc dù nó là “nugget tree” (hạt dẽ vàng). Một người bạn của tôi và tôi, khi chúng tôi từng làm việc ở Lucis Trust, chúng tôi thường chơi trò chơi có tên là Nugget Tree, và mỗi sáng chúng tôi đến và có một vài nugget mới, một vài nugget mới từ giáo lý có lẽ có thể lấp đầy thêm Mẫu hình Thiêng liêng. |
|
So, he is accumulating in this way, accumulating detail after detail. He may not yet see the pattern, but the pattern will emerge. And certainly, the sense of these luminous nuggets exists, but in this particular case, the details are from the world of natural things, from the lower 18 subplanes, and especially from, I think, from the lowest three subplanes of appearance, solid, liquid and gas. |
Vì vậy, y đang tích lũy theo cách này, tích lũy chi tiết này đến chi tiết khác. Y có thể chưa nhìn thấy khuôn mẫu, nhưng khuôn mẫu sẽ xuất hiện. Và chắc chắn, ý nghĩa của những quặng vàng sáng chói này tồn tại, nhưng trong trường hợp cụ thể này, các chi tiết đến từ thế giới của những thứ tự nhiên, từ 18 cõi phụ thấp hơn, và đặc biệt là từ ba cõi phụ thấp nhất: rắn, lỏng và khí.” |
|
He stores the nuggets of the knowledge of the world, as a squirrel stores its nuts. [R2-8] |
Y lưu trữ những quặng vàng tri thức của thế giới, như một con sóc trữ các hạt của nó. |
|
So, he’s storing them up. Maybe the squirrel is a second ray animal. He’s storing the nuggets of the knowledge, not of heaven, but of the world. He accumulates them, he keeps them in storehouse, in his memory, in journals, in whatever repositories you can find, so he can always access them when he wants to. And that’s exactly the purpose I hope on a higher turn in the spiral of the AAB extracts that I have gathered in which I’m happy to share with anybody, that just keeps growing and you can make many compilations out of these AABB extracts. And there’s always these different points of view from each one of these extracts. So, these are the nuggets which eventually become radioatory, begin to touch all the other nuggets, and pretty soon you have a jigsaw puzzle which reveals the Divine Pattern in the mosaic world. The little pieces in the mosaic are like nuggets, an dyou put them all together and they reveal a picture which is a reflection of a seamless picture in the world of archetype, at least that’s how I can see that. |
Y đang tích trữ chúng. Có lẽ con sóc là một động vật cung hai. Y đang tích trữ những viên đá quí kiến thức của thế gian, không phải của thiên đường. Y tích lũy chúng, cất giữ chúng trong kho, trong trí nhớ, trong nhật ký, trong bất kỳ nơi cất giữ nào mà y có thể tìm thấy, để y luôn có thể truy cập chúng khi muốn. Và đó chính xác là mục đích mà tôi hy vọng, ở một vòng xoắn cao hơn, với các trích đoạn AAB mà tôi đã thu thập và rất vui được chia sẻ với bất kỳ ai. Chúng cứ tiếp tục phát triển và bạn có thể tạo ra nhiều bộ sưu tập từ những trích đoạn AAB này. Luôn có những quan điểm khác nhau từ mỗi trích đoạn. Cuối cùng, những mẩu kiến thức trở nên phóng xạ, bắt đầu chạm vào tất cả các mẩu kiến thức khác, và chẳng mấy chốc bạn có một trò chơi ghép hình tiết lộ Mô hình thiêng liêng trong thế giới khảm. Những mảnh nhỏ trong bức tranh khảm giống như những mẩu kiến thức, và bạn ghép chúng lại với nhau và chúng sẽ tiết lộ một bức tranh phản chiếu một bức tranh liền mạch trong thế giới nguyên mẫu, ít nhất đó là cách tôi có thể nhìn thấy điều đó. |
|
He stores these nuggets of knowledge of the world as a squirrel stores its nuts [R2-9] |
Y tích trữ những viên đá quí kiến thức này của thế giới giống như một con sóc tích trữ nhưng hạt của nó. |
|
I don’t think we can really say that the higher mental plane is part of this nuggetry, part of this storage. It’s all having to do with the 18 lower subplanes under the moon, it’s lunar, as they say, under the moon. It’s the elemental worlds, and not even that much is known about the astral and mental worlds. You have someone like Leadbeater, Annie Besant come along, and they are very detailed in their knowledge of the astral and mental worlds. But the average Christian, no, and the average scholar, No, not even if the etherically, No. It has more to do with the lower three subplanes, although one day they could when they start to wake up spiritually begin to store the knowledge and the nuggets of the knowledge of the subtle worlds, they could do that too, but it would still be not necessarily spiritual. It will still be in the dense physical body of the Planetary Logos. We’ve reached that point in evolution when something can be done. We’ve taken the accumulators as far as it can go. The storehouse, whether in memory or in journals, or in files or whatever, or in books written etc, etc,—is now adequately full, adequate to what, adequate to the next stage of evolution, where something destructive happens as it always must because ever ruin precedes the real. |
Tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể nói rằng cõi thượng trí là một phần của sự tích trữ này, một phần của kho lưu trữ này. Tất cả điều này liên quan đến 18 cõi phụ thấp hơn dưới mặt trăng, nó thuộc về mặt trăng, như người ta nói, dưới mặt trăng. Đó là những thế giới hành khí, và thậm chí không có nhiều thông tin về thế giới cảm dục và trí tuệ. Bạn có những người như Ông C.W. Leadbeater, Bà Annie Besant xuất hiện, và các Vị rất chi tiết trong kiến thức của các Vị về cõi cảm dục và cõi trí. Còn những người theo đạo Thiên chúa trung bình, không, họ không biết đến, và những học giả trung bình, cũng không, thậm chí họ cũng biết về cấp độ dĩ thái. Nó liên quan nhiều hơn đến ba cõi phụ thấp hơn, mặc dù một ngày nào đó khi họ bắt đầu thức tỉnh họ sẽ bắt đầu tích trữ kiến thức và những mẩu kiến thức về các thế giới tế vi. Họ có thể làm điều đó, nhưng nó vẫn sẽ không nhất thiết phải là tinh thần. Nó vẫn thuộc về thể xác vật chất đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế. Chúng ta đã đạt đến điểm đó trong quá trình tiến hóa khi có thể làm được điều gì đó. Chúng ta đã đưa các bộ tích lũy đi xa nhất có thể. Kho lưu trữ, cho dù trong trí nhớ hay trong nhật ký, trong tệp hay bất cứ thứ gì, hoặc trong sách đã viết, v.v., v.v., – bây giờ đã đầy đủ, đầy đủ cho giai đoạn tiến hóa tiếp theo, nơi một cái gì đó mang tính hủy diệt xảy ra như nó phải luôn luôn như vậy, bởi vì sự hủy hoại luôn luôn xảy ra trước sự thật. |
|
Sudden, a spade descends, [R2-10] |
Thình lình một cái xẻng rơi xuống, |
|
The spade is a gardening tool, and the soul is the gardener. Interesting how the image of the garden makes its way over into this second Direction of Repulse. Suddenly, at a time when the scholar doesn’t expect it and feeling quite content with all he has gathered as if there’s no more to know. It was at the end of the 19th century, I think it was thought that everything that could be learned about physics had really been learned, Newton had been followed very carefully and many laws were formulated and much was known about the behavior of substances in the dense physical worlds. And then suddenly, we begin to get intrusions from the etheric world, we begin to understand radioactivity, everything changed. So, all that contentment was replaced by a disconcertion[6] and realization that we knew practically nothing, and have, at the same time, excitement there’s so much more can be known. |
Cái xẻng là một dụng cụ làm vườn, và linh hồn là người làm vườn. Thật thú vị khi hình ảnh khu vườn xuất hiện trong Chỉ Dẫn cung hai này. Vào thời điểm mà vị học giả không mong đợi gì và cảm thấy khá hài lòng với tất cả những gì mình đã thu thập được, như thể không còn gì để biết nữa, cái xẻng rơi xuống. Vào cuối thế kỷ 19, người ta cho rằng mọi thứ có thể học được về vật lý đã thực sự được học, Newton đã được nghiên cứu rất cẩn thận và nhiều định luật đã được hình thành, nhiều điều đã được biết về hành vi của các chất trong thế giới vật chất đậm đặc, và rồi đột nhiên, chúng ta bắt đầu nhận được sự xâm nhập từ thế giới dĩ thái, chúng ta bắt đầu hiểu về phóng xạ, mọi thứ đã thay đổi. Vì vậy, tất cả sự mãn nguyện đó đã được thay thế bằng sự bối rối và nhận ra rằng chúng ta thực tế không biết gì, và đồng thời, sự phấn khích rằng còn rất nhiều điều có thể được biết đến. |
|
Sudden a spade descends, |
Đột nhiên, một cái xẻng rơi xuống, |
|
A spade is a gardening tool, |
Một cái xẻng là một dụng cụ làm vườn, |
|
…for the thinker tends the garden of his thought, |
…vì người suy tưởng chăm sóc khu vườn tư tưởng của mình, |
|
Ultimately, it is the soul that must work as the thinker through the disciple, or through the awakening one, |
Cuối cùng, chính linh hồn phải làm việc như người suy tưởng thông qua vị đệ tử, hoặc thông qua con người đang thức tỉnh, |
|
…and thus destroys the passages of mind. |
…do đó phá hủy những lối đi của trí tuệ. |
|
The separated passages of mind, where things are not adequately linked together. We can follow this line of thought and this line of reasoning, that line of reasoning, but they don’t all connect in some sort of effulgence which is reflective of an eventual state of omniscience. We get the idea of passages and crannies and narrow lines of transmission, which do not really fully connect with each other. In other words, Mercury has not fully done his work, and when it does, we will have fairly completed intuition on the on the intuitive level. |
Những lối mòn tách biệt của thể trí, nơi mọi thứ không được liên kết với nhau một cách đầy đủ. Chúng ta có thể đi theo dòng suy nghĩ này và dòng lý luận này, dòng lý luận kia, nhưng chúng không kết nối với nhau trong một loại rực rỡ nào đó phản ánh trạng thái cuối cùng của sự toàn tri. Chúng ta có ý tưởng về các lối đi, các ngóc ngách, và các dòng truyền tải hẹp, không thực sự kết nối hoàn toàn với nhau. Nói cách khác, sao Thủy chưa hoàn thành hết công việc của mình, và khi nó hoàn thành, chúng ta sẽ có trực giác khá hoàn chỉnh ở cấp độ trực giác. |
|
So, sudden a spade descends, meaning we want to turn over the soil, we want to get the life moving through the soil, we want the brain to be planted with thoughts from above, or ideas from above, in a new way. So, the spade is necessary to destroy the particular pattern that we have in our conscious thought, the passages of mind and all the habitual lines of thinking that we could not deviate from, are destroyed. |
Vì vậy, đột nhiên một cái xẻng rơi xuống, có nghĩa là chúng ta muốn lật đất, chúng ta muốn sự sống chuyển động qua đất, chúng ta muốn bộ não được gieo trồng những suy nghĩ từ trên cao, hoặc những ý tưởng từ trên cao, theo một cách mới. Vì vậy, cái xẻng là cần thiết để phá hủy mô hình cụ thể mà chúng ta có trong suy nghĩ có tâm thức của mình, những lối mòn của thể trí và tất cả những dòng suy nghĩ theo thói quen mà chúng ta không thể đi lệch khỏi, đều bị phá hủy. |
|
Ruin arrives. [R2-11] |
Sự đổ nát đến, |
|
Well, ruin of one’s previously coveted or enjoyed mental world. Ruin of the sense that all has been known or a great deal has been known. When the spade descends, one begins to sense that practically nothing is known. And so, the ordinary structures of thought which have been non spiritual and upon which the man dwelt with deep content, these structures are destroyed. And what are the new laws? And what are the new types of ideas that could come in destroying fast the storehouse of the mind? Well, one begins to think that there’s so much more that one no longer relies upon that storehouse because it begins to seem like nothing. |
Vâng, thế giới trí tuệ trước đây được thèm muốn hoặc tận hưởng của một người bị phá hủy. Sự phá hủy cảm giác rằng tất cả đã được biết hoặc rất nhiều đã được biết. Khi cái xẻng rơi xuống, người ta bắt đầu cảm nhận rằng thực tế không có gì được biết. Vì vậy, các cấu trúc tư duy thông thường vốn không thuộc về tinh thần và trên đó con người trú ngụ với sự hài lòng sâu sắc, những cấu trúc này bị phá hủy. Và các định luật mới là gì? Và những loại ý tưởng mới nào có thể xuất hiện để phá hủy nhanh chóng kho chứa của trí tuệ? Người ta bắt đầu nghĩ rằng có quá nhiều thứ mà người ta không còn dựa vào kho chứa đó nữa vì nó bắt đầu có vẻ như không là gì cả. |
|
Now, of course, it is a gardener treasure, and all of these facts that have been accumulated from the lower worlds are useful eventually. But at first, they seem minimal. They seem like nothing. It that was really misquoted, but the idea that when St. Thomas Aquinas really began to awaken, realizing he was a great scholar, great theorist and a great philosopher, wrote impressively on the Church and the mind and the doctrines he was the the acme of theologians. He said “All that I’ve written is a straw compared with the revelations that I am now having”[7]. These revelations are more, I think, of love, or Christ energy and so forth, as impressive, as monumental, as voluminous as his writings had been. They were all to him like straw. That is equivalent to |
Tất nhiên, đó là một kho báu của người làm vườn, và tất cả những sự thật đã được tích lũy từ các cõi giới thấp hơn cuối cùng đều hữu ích. Nhưng lúc đầu, chúng có vẻ tối thiểu. Chúng dường như không là gì cả. Cân nói đó thực sự đã bị trích dẫn sai, nhưng ý tưởng của câu đó là khi Thánh Thomas Aquinas thực sự bắt đầu thức tỉnh, nhận ra rằng ông là một học giả vĩ đại, một nhà lý luận vĩ đại và một triết gia vĩ đại, đã viết một cách ấn tượng về Nhà thờ và trí tuệ và các học thuyết, ông là đỉnh cao của các nhà thần học, nhưng khi thức tỉnh Ông nói “Tất cả những gì tôi đã viết chỉ là rơm rạ so với những điều mặc khải mà tôi đang có”. Những điều mặc khải này, tôi nghĩ, là về tình thương, hoặc năng lượng của Đức Christ, v.v., ấn tượng, hoành tráng, đồ sộ như những gì ông đã viết. Tất cả chúng đối với ông giống như rơm rạ. Điều đó tương đương với việc |
|
…destroying the passages of mind, |
…phá hủy các lối đi của trí tuệ, |
|
We used to walk within the mind in a particular passage, and we turn to the right, walk in another narrow passage in all of this labyrinthian network of separate passages that indicated the way we reasoned and thought, in very narrow, limited channels. All are destroyed. |
Chúng ta từng bước đi trong trí tuệ theo một lối đi cụ thể, và chúng ta rẽ phải, đi vào một lối đi hẹp khác trong tất cả mạng lưới mê cung này gồm các lối đi riêng biệt cho biết cách chúng ta lý luận và suy nghĩ, trong các kênh rất hẹp, hạn chế. Tất cả đều bị phá hủy. |
|
Ruin arrives, destroying fast the storehouse of the mind, |
Sự đổ nát đến, nhanh chóng phá hủy nhà kho của thể trí, |
|
Because there’s so much more. And look at this, |
Bởi vì còn quá nhiều điều khác. Và chúng ta hãy đọc tiếp. |
|
…the safe security, |
…sự bảo đảm an toàn, |
|
Because we realize the second ray is the sensitive type, and essentially the sensitive wants to be sheltered in the world of thought, of course. There is security in thinking. You know everything about everything, or at least a great deal. You can manage the world. It doesn’t have to intrude upon you with this harsh, cold reality. You know what to expect. So, there’s the sense of being protected when one knows a great deal and enjoys the content of what one has accumulated. You accumulate content, content, content all around you. It’s like the Blessed One who builds himself an ark, and then he gets lost in the ark. He can’t get out, only his voice can get out[8] and he can’t see this. The same second ray principle of accumulating, gathering in more than you can manage until you lose yourself through all of these accumulations, through all of this, including more and more and more. There’s some people who won’t throw anything away. You know, how it gets. I know people that have gone to help people where in this condition. They have accumulated so much, and they cannot manage. And in their houses are these tiny, little narrow pathways between the junk that has been accumulated and will not be thrown out because somehow there is safety and security in all of this sheltering accumulation. So, there has been awarding off of the usual second ray vulnerability through accumulation, |
Chúng ta nhận ra rằng cung hai là loại cung nhạy cảm, và về cơ bản, người nhạy cảm muốn được che chở trong thế giới tư tưởng. Có sự an toàn trong suy nghĩ. Bạn biết tất cả về mọi thứ, hoặc ít nhất là rất nhiều về mọi thứ. Bạn có thể quản lý thế giới. Nó không cần phải xâm phạm bạn với thực tế khắc nghiệt, lạnh lùng này. Bạn biết những gì sẽ xảy ra. Vì vậy, có cảm giác được bảo vệ khi người ta biết rất nhiều và tận hưởng nội dung của những gì mình đã tích lũy. Bạn tích lũy nội dung, nội dung, nội dung, xung quanh bạn. Nó giống như Đấng Chân Phúc đã tự xây cho mình một chiếc thuyền, và sau đó bị lạc trong chiếc thuyền. Ngài không thể ra ngoài, chỉ có giọng nói của Ngài có thể phát ra, và Ngài không thể nhìn thấy điều này. Nguyên tắc cung hai tương tự về việc tích lũy, thu thập nhiều hơn những gì bạn có thể quản lý cho đến khi bạn đánh mất chính mình thông qua tất cả những tích lũy này, thông qua tất cả những điều này, bao gồm ngày càng nhiều hơn. Có một số người sẽ không vứt bỏ bất cứ thứ gì. Bạn cũng biết nó trở nên như thế nào. Tôi biết những người đã đi giúp đỡ những người bị kẹt trong tình trạng này. Họ đã tích lũy quá nhiều, và họ không thể quản lý. Trong nhà họ là những con đường nhỏ hẹp giữa đống rác đã tích lũy và không bao giờ bị vứt bỏ, vì bằng cách nào đó có sự bảo đảm an toàn trong tất cả sự tích lũy che chở này. Vì vậy, đã có một sự ngăn chặn điểm yếu thông thường của cung hai thông qua tích lũy, |
|
…the safe security, |
…sự bảo đảm an toàn, |
|
Nothing can touch me, nothing can harm me because I am a Knower. |
Không gì có thể chạm vào tôi, không gì có thể làm hại tôi bởi vì tôi là Người Biết. |
|
…the safe security, the darkness and the warmth [of a satisfied enquiry] |
…sự bảo đảm an toàn, bóng tối và sự ấm áp của một cuộc tìm kiếm được thỏa mãn. |
|
The warmth, that’s comforting. And of course, it’s darkness because you’re protected from the blinding light which is most disconcerting. I mean, when St. Paul was hit by the blinding light, probably some Vulcan Venus combination They say he fell off his horse, blinded for three days, most disconcerting[9]. What is this light compared with what I thought was light before? It’s been nothing but darkness. And the warmth? It’s not like taking a cold shower, is it. How you get into a hot tub or something, or not even too hot a tub, just something about body temperature, there’s no shock to the system and everything seems manageable. There’s no intrusion. You don’t have to adapt suddenly to the conditions which are either too hot or too cold. It’s a very agreeable environment that’s created by all this study. |
Và tất nhiên, đó là bóng tối bởi vì bạn được che chắn khỏi ánh sáng chói lòa, điều gây bối rối nhất. Ý tôi là, khi Thánh Paul bị ánh sáng chói lòa chiếu vào, có lẽ là sự kết hợp giữa Vulcan và sao Kim, người ta nói rằng Ngài đã bị ngã ngựa và mù trong ba ngày. Những gì tôi nghĩ là ánh sáng trước đây là gì so với ánh sáng này? Nó không là gì ngoài bóng tối. Và sự ấm áp? Nó không giống như bạn đột ngột tắm nước lạnh. Bạn có thể vào một bồn nước nóng, hoặc thậm chí không phải là một bồn nước quá nóng, chỉ khoảng ở nhiệt độ của cơ thể, khi đó không có cú sốc nào đối với cơ thể bạn, mọi thứ dường như có thể kiểm soát được. Bạn không phải đột ngột thích nghi với các điều kiện quá nóng hoặc quá lạnh. Đó là một môi trường rất dễ chịu được tạo ra bởi tất cả những nghiên cứu này. |
|
…the darkness and the warmth of a satisfied enquiry |
…bóng tối và sự ấm áp của một cuộc tìm kiếm thỏa mãn |
|
Master Morya says something like this, contentment is the cemetery of the Spirit, satisfaction is the cemetery of the Spirit because the striving ceases, everything is agreeable, and you know all there is to know. You know quite enough and there’s no need to know more. Everything’s fine. |
Chân sư nói một điều gì đó như thế này, sự mãn nguyện là nghĩa địa của Tinh thần, sự thỏa mãn là nghĩa địa của Tinh thần bởi vì sự phấn đấu chấm dứt, mọi thứ đều dễ chịu, và bạn biết tất cả những gì cần biết. Bạn biết đủ rồi và không cần phải biết thêm nữa. |
|
All is removed. [R2-12] |
Tất cả bị loại bỏ. |
|
But all that world is destroyed. All this warmth, this darkness, the sense of satisfaction that many, many things that you cherished, are total removed, certainly removed from consciousness, because it seems like nothing. Something is now intruding and it seems perhaps so much greater, certainly very threatening |
Nhưng tất cả thế giới đó đã bị hủy diệt. Tất cả sự ấm áp, bóng tối, cảm giác thỏa mãn của rất nhiều thứ bạn trân trọng đã hoàn toàn biến mất khỏi tâm thức, bởi vì nó có vẻ như không là gì. Giờ đây, một điều gì đó đang xâm nhập và có vẻ như nó lớn hơn rất nhiều, chắc chắn là rất đáng sợ. |
|
As one begins to wake up to a larger sphere from which knowledge can be gathered, the second ray continues the desire to gather knowledge of course, but it’s going to be knowledge of different kind, and instead of the satisfied enquiry, this constant dissatisfaction, constant divine discontent. If I can find that thing over here in Esoteric Psychology I, around page 203, somewhere in there, it says here |
Khi một người bắt đầu thức tỉnh đến một phạm vi lớn hơn mà từ đó có thể thu thập kiến thức, dĩ nhiên cung hai tiếp tục mong muốn thu thập kiến thức, nhưng đó sẽ là một loại kiến thức khác, và thay vì sự thỏa mãn trong tìm tòi, giờ đây là sự bất mãn thường trực, sự bất mãn thiêng liêng thường trực. Tâm lý học Bí truyền tập I, trang 203, nói rằng … |
|
the student on this ray is ever unsatisfied with his highest attainments; no matter how great his knowledge, his mind is still fixed on the unknown, the beyond, and on the heights as yet unscaled. |
Người đạo sinh trên cung này không bao giờ thỏa mãn với những thành tựu cao nhất của mình; bất kể kiến thức của y vĩ đại đến đâu, thể trí của họ vẫn luôn hướng về những điều chưa biết, những điều vượt ra ngoài, và những đỉnh cao chưa đạt được. |
|
Well, it wasn’t always that way. After the experience we’re talking about here of the Law of Repulse, it’s gradually slowly you can become that way. Because the desire to accumulate, to gather, to include the whole, to bring it all together, all its parts and pieces, still continues, but now the sphere has gotten immensely larger because of the descending of the spade. And now, all the comfortable warmth of a satisfying enquiry is gone forever and in its place, the vast universe filled with the possibility of endless knowledge, spheres within spheres within spheres, and so discontent is the rule. |
Trước đây không phải lúc nào cũng như vậy. Sau trải nghiệm mà chúng ta đang nói đến ở đây về Định Luật Đẩy Lùi, dần dần bạn mới trở nên như vậy. Bởi vì mong muốn tích lũy, thu thập, bao gồm toàn bộ, kết hợp tất cả lại với nhau tất cả các phần và mảnh ghép của nó, vẫn tiếp tục, nhưng giờ đây phạm vi đã trở nên lớn hơn vô cùng do sự giáng xuống của cái thuổng. Giờ đây, tất cả sự ấm áp thoải mái của một cuộc tìm kiếm thỏa mãn đã biến mất mãi mãi và thay vào đó là một vũ trụ bao la chứa đầy khả năng có vô số kiến thức, những quả cầu trong quả cầu trong quả cầu, và vì vậy sự bất mãn là định luật. |
|
All is removed. The light of summer enters in |
Tất cả đã bị loại bỏ. Ánh sáng mùa hè tràn vào |
|
Not the light of the Hall of Ignorance, which is kind of a false and reflected light, but the light of truth, illumination, where the sun of knowledge, the soul is casting its beams into the consciousness of the individual. That is the light of summer, its soul light, which is vastly more inclusive than the light that is sometimes carried on the top of the head and by which small light, the Weaver weaves. I’m borrowing here from the third ray Law of Repulse. But there is, in the case of a mystic, a little light upon the head which has to serve as illumination, and by that, I think, he just means the light of the concrete mind, which is the smallest reflection of the light of the soul. |
Đó không phải ánh sáng của Phòng Vô minh, một thứ ánh sáng sai lầm và phản chiếu, mà là ánh sáng của sự thật, của sự giác ngộ, nơi mặt trời tri thức, linh hồn, đang chiếu những tia sáng của nó vào tâm thức của cá nhân. Đó là ánh sáng mùa hè, ánh sáng linh hồn của nó, bao trùm rộng lớn hơn nhiều so với ánh sáng đôi khi được mang trên đỉnh đầu, và qua ánh sáng nhỏ bé đó, Người thợ dệt dệt. Tôi đang mượn các câu thơ của Định Luật Đẩy Lùi cung ba. Nhưng trong trường hợp của một nhà thần bí, có một chút ánh sáng trên đầu đóng vai trò soi sáng, và với điều đó, tôi nghĩ rằng Ngài muốn nói đến ánh sáng của trí cụ thể, là sự phản chiếu nhỏ nhất của ánh sáng linh hồn. |
|
The light of summer of the soul enters in, and the darkened crannies |
Ánh sáng mùa hè của linh hồn tràn vào, và những ngóc ngách tối tăm |
|
Now, when you think of a cranny, you just think of a real, narrow, dirty passageway that you can hardly crawl through, and it’s filled with debris and it’s not very clean at all. And it’s crooked, is not straight, and there’s many twists and turns, and dirt gets caught in the crevices, and there’s nothing pure about it. |
Khi nghĩ về một ngóc ngách, bạn nghĩ về một lối đi thực sự hẹp, bẩn thỉu mà bạn khó có thể đi qua được. Nó chứa đầy những rác rưởi và hoàn toàn không sạch sẽ chút nào. Nó quanh co, không thẳng lối, có nhiều khúc quanh, bụi bẩn bám vào các kẽ hở, và không có gì tinh khiết. |
|
The consciousness had been just filled with darkened crannies along which the reasoner made his way, but which really were not revelatory at all. And there were just so many areas of ignorance, even with all this reasoning process, and suddenly all the dirt and the filth and the obstructions in the cracks of the crannies are revealed for what they are. Of course the crannies are being destroyed, aren’t they, because these are the passages of mind. The crannies are being destroyed, and in the place of the crannies is some liberated form of knowing which is that very uncommon to the to the man at this point. He’s never experienced that before. |
Tâm thức đã chỉ chứa đầy những ngóc ngách tối tăm mà lý trí của người đó đi qua, nhưng thực sự không hề mang tính soi sáng chút nào. Và có rất nhiều lĩnh vực thiếu hiểu biết, ngay cả với tất cả quá trình lý luận này, và đột nhiên tất cả bụi bẩn, rác rưởi và vật cản trong các khe hở của ngóc ngách đều được tiết lộ. Tất nhiên, các ngóc ngách đang bị phá hủy, bởi vì đây là những lối đi của thể trí. Các ngóc ngách đang bị phá hủy, và thay vào đó là một số hình thức nhận thức được giải phóng, điều này rất hiếm đối với con người vào thời điểm này. Y chưa bao giờ trải nghiệm điều đó trước đây. |
|
The light of summer enters in and the darkened crannies of the mind see light…. |
Ánh sáng mùa hè tràn vào và những ngóc ngách tối tăm của thể trí nhìn thấy ánh sáng…. |
|
The ignorance sees light, the higher of the pairs of opposites is now shining, we’re at least entering into the Hall of Learning, and maybe going beyond. And before long, and after a while, |
Sự thiếu hiểu biết nhìn thấy ánh sáng, điều cao hơn của các cặp đối lập giờ đang chiếu sáng, chúng ta ít nhất đang bước vào Phòng Học Tập, và có thể còn vượt xa hơn. Và chẳng bao lâu nữa, và sau một thời gian, |
|
Naught is left but light, and that cannot be used. [R2-13] |
Không còn gì ngoài ánh sáng, và điều đó không thể được sử dụng. |
|
The whole question about how the second ray shall apply this verging upon omniscience that comes to it is a big question. It’s almost like the intuition begins to reveal one thing after another, all the connections. Mercury is beginning to make so many connections that any thought of separate little crannies moving along in the consciousness in the mind is dispelled. Such a thought is dispelled, such a condition is dispelled, and we have a lighted sphere now in the mind. We begin to have the mind which is held steady in the light, but not yet the light is descending, the third eye is not really open, and we don’t necessarily realize the source of all of this additional light. All we know is that the old light is no good. It’s minimal, it’s fading out, and we are blinded by the acquisition of so much light. We don’t know how to handle it, |
Toàn bộ câu hỏi về việc cung hai sẽ áp dụng kiến thức gần như vô hạn này như thế nào là một câu hỏi lớn. Nó gần giống như trực giác bắt đầu tiết lộ hết điều này đến điều khác, tất cả các kết nối. Sao Thủy đang bắt đầu tạo ra rất nhiều kết nối đến nỗi bất kỳ ý nghĩ nào về những ngóc ngách nhỏ riêng biệt di chuyển trong tâm thức trong thể trí đều bị xua tan. Ý nghĩ như vậy bị xua tan, tình trạng như vậy bị xua tan, và giờ đây chúng ta có một quả cầu ánh sáng trong thể trí. Chúng ta bắt đầu có thể trí được giữ vững trong ánh sáng, nhưng ánh sáng vẫn chưa giảm xuống, con mắt thứ ba vẫn chưa thực sự mở ra, và chúng ta không nhất thiết phải nhận ra nguồn gốc của tất cả ánh sáng bổ sung này. Tất cả những gì chúng ta biết là ánh sáng cũ không tốt. Nó quá nhỏ bé, nó đang mờ dần, và chúng ta bị mù bởi việc thu nhận quá nhiều ánh sáng. Chúng ta không biết làm thế nào để xử lý nó. |
|
That cannot be used. |
điều đó không thể được sử dụng. |
|
It is not formulated yet so it cannot be used in the world. We’re just experiencing the shock of revelation, one thing after another of a higher sort, and we haven’t organized it. |
Nó chưa được hình thành nên không thể sử dụng trên thế giới. Chúng ta chỉ đang trải qua cú sốc của sự mặc khải, hết điều này đến điều khác thuộc loại cao hơn, và chúng ta chưa tổ chức nó. |
|
The eyes are blinded, |
Đôi mắt bị mù, |
|
Meaning the world of objectivity and of duality is no longer interesting. The eyes are no longer focused in that world. What is the use of acquisitions coming from that particular natural world? And there’s so much more to learn. |
Có nghĩa là thế giới của tính khách quan và tính nhị nguyên không còn thú vị nữa. Đôi mắt không còn tập trung vào thế giới đó nữa. Việc thu thập những thứ đến từ thế giới tự nhiên cụ thể đó có ích gì? Còn rất nhiều điều để học hỏi. |
|
…the one eye seeth not as yet…. [R2-14] |
…và con mắt duy nhất vẫn chưa nhìn thấy gì…. |
|
And cannot make sense of all the illumination that is pouring in. So, things are out of control, and they are not yet controlled by the ‘one eye’ which awakens when we have the truly soul-infused individual. We just know that there’s a lot more in the world than we knew before. It’s endless and we can’t handle it. All that we thought was so interesting is relegated to the area of non interest because it seems so small, so puny with respect to the greater type of revelation now revealed as possible. A very uncomfortable situation, one that hopefully we have somewhat left behind because although we may study what’s going on in the world, we’re not exclusively interested in the knowledge of the natural world. We’re not blindly burrowing into all the knowledge that can be had about strictly natural things, ignoring their spiritual roots. |
Và không thể hiểu được tất cả sự soi sáng đang tràn vào. Vì vậy, mọi thứ nằm ngoài tầm kiểm soát, và chúng chưa được kiểm soát bởi ‘con mắt duy nhất’ thức tỉnh khi chúng ta có cá nhân thực sự được linh hồn thấm nhuần. Chúng ta chỉ biết rằng có nhiều thứ trên thế giới hơn chúng ta biết trước đây. Nó vô tận và chúng ta không thể xử lý nó. Tất cả những gì chúng ta nghĩ là rất thú vị đều bị đưa vào loại không còn được quan tâm nữa vì nó có vẻ quá nhỏ bé, quá yếu ớt so với loại mặc khải lớn hơn bây giờ được tiết lộ là có thể. Một tình huống rất khó chịu, một tình huống mà hy vọng chúng ta đã phần nào bỏ lại phía sau bởi vì mặc dù chúng ta có thể nghiên cứu những gì đang diễn ra trên thế giới, nhưng chúng ta không chỉ quan tâm đến kiến thức về thế giới tự nhiên. Chúng ta không mù quáng đi sâu vào tất cả những kiến thức có thể có được về những thứ hoàn toàn tự nhiên, bỏ qua nguồn gốc tinh thần của chúng. |
|
The eyes are blinded and the one eye seeth not as yet…. |
Đôi mắt bị mù và con mắt duy nhất vẫn chưa nhìn thấy gì…. |
|
We have to go through the process which is beginning as we enter the Hall of Wisdom, at the first initiation or thereabouts, where the eye of wisdom will be opened, at least we have now become teachable. We are no longer so smug, so satisfied with what we know, so caught in the illusory thought form that the area we’ve been studying is the only area that can be studied. The vastness of the spheres begin to reveal themselves, and we are appalled before our own ignorance. |
Chúng ta phải trải qua quá trình bắt đầu khi bước vào Phòng Minh triết, ở lần điểm đạo thứ nhất hoặc vào khoảng đó, nơi con mắt minh triết sẽ được mở ra, ít nhất chúng ta giờ đã trở nên ‘có thể dạy’ được. Chúng ta không còn tự mãn, không còn hài lòng với những gì chúng ta biết, không còn bị cuốn vào hình tư tưởng ảo tưởng rằng lĩnh vực chúng ta đã nghiên cứu là lĩnh vực duy nhất có thể nghiên cứu. Sự bao la của các quả cầu bắt đầu bộc lộ, và chúng ta kinh hoàng trước sự thiếu hiểu biết của chính mình. |
|
Slowly |
Từ từ |
|
This slowly because it takes place within the three initiations and beyond, |
Điều này diễn ra chậm chạp bởi vì nó diễn ra trong ba cuộc điểm đạo và hơn thế nữa, |
|
…the eye of wisdom must be opened [R2-15] |
…con mắt minh triết phải được mở ra |
|
An eye which begins to see more general principles. It has spiritual discernment, understands the group unitive nature of all things. It begins to receive impression from higher sources, spiritual telepathy. The eye of wisdom keeps on opening as all the higher siddhis begin to make themselves available. It moves beyond even the highest level of the concrete mind. Wisdom is of the higher mental plane and beyond. And the Shiva eye, the blue eye, the one eye, the eye of wisdom, is having to do with registering those types of impressions and knowledges |
Con mắt bắt đầu nhìn thấy những nguyên lý chung hơn. Nó có sự phân biện tinh thần, hiểu được bản chất thống nhất của vạn vật. Nó bắt đầu nhận được ấn tượng từ các nguồn cao hơn, viễn cảm tinh thần. Con mắt minh triết tiếp tục mở ra khi tất cả các quyền năng cao hơn bắt đầu khai mở. Nó thậm chí vượt ra ngoài cấp độ cao nhất của trí cụ thể. Minh triết thuộc về cõi thương trí và trên đó. Và con mắt Shiva, con mắt xanh, con mắt duy nhất, con mắt minh triết, phải làm với việc ghi lại những loại ấn tượng và tri thức đó. |
|
Slowly the eye of wisdom must be opened. Slowly the love of that which is the true, the beautiful and good must enter the dark passages of worldly thought. [R2-16] |
Từ từ, con mắt minh triết phải được mở ra. Từ từ, tình yêu với những điều chân, mỹ, thiện phải đi vào những lối đi tối tăm của thế giới tư tưởng. |
|
Notice the order here, it goes from ray three to ray two, to ray one. He doesn’t say good, beautiful and true because it’s almost as if we have to start with what is true and then work our way into the beautiful, the divine pattern, and the good, which is that which the archetypes reveal. |
Hãy chú ý thứ tự ở đây, nó đi từ cung ba đến cung hai, đến cung một. Ngài không nói điều thiện, điều đẹp, và điều chân bởi vì gần như chúng ta phải bắt đầu với những gì là chân thật rồi mới đi vào cái đẹp, khuôn mẫu thiêng liêng, và điều thiện, đó là điều mà các nguyên mẫu tiết lộ. |
|
Slowly the love |
Từ từ tình yêu |
|
And we’re reorienting our magnetism, our desire toward another world. We are looking into the world of the soul, the true, the good. The beautiful and the good does not occur except by reflection in these lower worlds. The source of it all is the soul, and not even within the soul, the source is the spiritual Triad and the monad, and actually Sanat Kumara, God within us. |
Chúng ta đang định hướng lại từ tính, mong muốn của mình hướng tới một thế giới khác. Chúng ta đang tìm hiểu thế giới của linh hồn, điều chân thật, điều thiện. Cái đẹp và cái thiện không xảy ra ngoại trừ bằng sự phản chiếu trong những thế giới thấp hơn này. Nguồn gốc của tất cả là linh hồn, và thậm chí không phải trong linh hồn, nguồn gốc là Tam nguyên tinh thần và chân thần, và thực sự là Đức Sanat Kumara, Thượng đế bên trong chúng ta. |
|
So, we are lifting our eyes, and we are not blindly burrowing like moles in the world of stricter objectivity. We are lifting our eyes towards higher values and we are changing our loves. We used to love our subjects in the lower worlds and all those things we’re studying. We might be knowing everything we can about the dolls that had been produced in a particular country during a particular year. I guess that’s specific. We might be collecting a model cars and know everything about them. We might know about toys soldiers which were created between the year 1880 and 1890 and know everything about it and the people who’ve created it, and why they’ve created, and all the rest. That kind of specific concrete knowledge, while useful, eventually from a higher perspective, is just seen as worthless at this very uncomfortable point. |
Vì vậy, chúng ta đang hướng mắt lên trên, và chúng ta không mù quáng đào bới như chuột chũi trong thế giới khách quan thuần túy. Chúng ta đang hướng mắt về những giá trị cao hơn và chúng ta đang thay đổi tình yêu của mình. Chúng ta từng yêu thích các chủ đề của mình ở những thế giới thấp hơn và tất cả những thứ chúng ta đang nghiên cứu. Chúng ta có thể biết mọi thứ có thể về những con búp bê đã được sản xuất ở một quốc gia cụ thể trong một năm cụ thể. Tôi đoán đó là cụ thể. Chúng ta có thể đang sưu tầm những chiếc xe mô hình và biết mọi thứ về chúng. Chúng ta có thể biết về những người lính đồ chơi được tạo ra từ năm 1880 đến năm 1890 và biết mọi thứ về nó và những người đã tạo ra nó, tại sao họ tạo ra nó, và tất cả những thứ còn lại. Kiểu kiến thức cụ thể đó, mặc dù hữu ích, nhưng cuối cùng từ một góc nhìn cao hơn, chỉ được coi là vô giá trị vào thời điểm rất khó chịu này. |
|
So, the true, the beautiful, and the good in terms of larger perspectives are being revealed, and the dark passages of worldly thought which revealed so little, these are being infiltrated by the impression of that which is really true, true at all times, in all places, that which is essentially beautiful, that which is fundamentally good, and not just relatively good, relatively beautiful, relatively true. When we leave the 18 lower subplanes we are leaving the world of relativity. Well, not entirely, but it’s certainly a much more relative world than the world in which we are entering. We’re approaching the archetypes which in terms of our particular understanding, is a world of stability and continuance created by Divine Purpose. So, the dark passages of worldly thought are now open to a larger type of impression from the world of divine patterns on the cosmic ethers. |
Vì vậy, điều chân, thiện, mỹ theo quan điểm rộng lớn hơn đang được tiết lộ, và những con đường tối tăm của tư tưởng trần tục đã tiết lộ rất ít, những điều này đang bị xâm nhập bởi ấn tượng về những gì thực sự chân thật, chân thật mọi lúc, mọi nơi, cái về cơ bản là đẹp, cái về cơ bản là tốt, chứ không chỉ tương đối tốt, tương đối đẹp, tương đối thật. Khi chúng ta rời khỏi 18 phân cảnh thấp hơn, chúng ta đang rời khỏi thế giới tương đối. Vâng, không hoàn toàn, nhưng nó chắc chắn là một thế giới tương đối hơn nhiều so với thế giới mà chúng ta đang bước vào. Chúng ta đang tiếp cận các nguyên mẫu mà theo cách hiểu cụ thể của chúng ta, là một thế giới ổn định và liên tục được tạo ra bởi Mục đích Thiêng liêng. Vì vậy, những con đường tối tăm của tư tưởng trần tục giờ đây đã mở ra cho một loại ấn tượng lớn hơn từ thế giới của các khuôn mẫu thiêng liêng trên cấp độ dĩ thái vũ trụ. |
|
The torch of light, |
Ngọn đuốc ánh sáng, |
|
By the way, the torch and the Lotus are said to be two prominent symbols during the Age of Aquarius. Well, these are fiery symbols—the torch of light which really is the fire of real truth, and with this with this fire you can burn that which is ignorant and untrue. |
Ngọn đuốc và Hoa sen được cho là hai biểu tượng nổi bật trong Thời đại Bảo Bình. Vâng, đây là những biểu tượng rực lửa—ngọn đuốc ánh sáng thực sự là ngọn lửa của chân lý thực sự, và với ngọn lửa này, bạn có thể đốt cháy những gì vô minh và không đúng sự thật. |
|
Slowly the torch of light, the fire of right |
Từ từ, ngọn đuốc ánh sáng, ngọn lửa của sự chân chính |
|
So, a new type of morality is coming in, not just knowledge. It’s the question of how knowledge is used and what knowledge is necessary at a given time in order for humanity to really advance along the right hand path. |
Vì vậy, một kiểu đạo đức mới đang xuất hiện, không chỉ là kiến thức. Đó là vấn đề về cách sử dụng kiến thức và kiến thức nào là cần thiết vào một thời điểm nhất định để nhân loại thực sự tiến lên trên con đường chánh đạo. |
|
The torch of light revealing what is true compared with what is ignorant and untrue, the fire of right revealing what is the proper way to go versus the improper immoral way to go. |
Ngọn đuốc ánh sáng tiết lộ những gì là đúng so với những gì vô minh và không đúng sự thật, ngọn lửa của sự chân chính tiết lộ đâu là con đường đúng đắn để đi so với con đường sai lầm và vô đạo đức. |
|
They must burn |
Chúng phải đốt cháy |
|
Or consume. In some way consume make different |
Hoặc thiêu rụi. Bằng cách nào đó thiêu rụi làm ra khác biệt |
|
The garnered treasures of the past, |
…phải đốt cháy những kho tàng tích trữ từ quá khứ, |
|
Yes, there are treasures. All of these nuggets of knowledge are treasures, but they have to be submitted to the light of truth in order to be seen in the true perspective. The torch of light does this, and the position which they occupy in the development of rightness in the human race must be revealed. Is humanity on the right path or on the wrong path? And what does all this knowledge accumulated? How does it affect, how does it contribute to the treading of the right path, the moral path, the path leading to the good? So, all of these accumulations have to be subjected—which means burned—to the greater light of the torch and the greater fire of rightness, and then they can be wisely used. They must burn the garnered treasures of the past, and so in their previous form and as objects almost of idolatry, sort of worshipping one’s accumulations. |
Vâng, có những kho báu. Tất cả những mẩu kiến thức này đều là kho báu, nhưng chúng phải được đặt dưới ánh sáng của sự thật để được nhìn nhận dưới góc độ thực sự. Ngọn đuốc ánh sáng làm được điều này, và vị trí mà chúng chiếm giữ trong sự phát triển của sự đúng đắn trong loài người phải được tiết lộ. Nhân loại đang đi đúng đường hay sai đường? Và tất cả những kiến thức tích lũy này thì sao? Nó ảnh hưởng như thế nào, nó đóng góp như thế nào vào việc đi trên con đường đúng đắn, con đường đạo đức, con đường dẫn đến điều thiện? Vì vậy, tất cả những tích lũy này phải được đưa vào—có nghĩa là bị đốt cháy—dưới ánh sáng lớn hơn của ngọn đuốc và ngọn lửa lớn hơn của sự đúng đắn, và sau đó chúng có thể được sử dụng một cách khôn ngoan. Chúng phải đốt cháy những kho báu tích lũy được trong quá khứ, và do đó ở dạng trước đây của chúng và gần như là đối tượng của sự tôn thờ, một loại tôn thờ sự tích lũy của một người. |
|
Slowly the torch of light, the fire of right must burn the garnered treasures of the past, yet show their basic usefulness…. [R2-17] |
Từ từ, ngọn đuốc ánh sáng, ngọn lửa của công chính phải đốt cháy những kho tàng tích trữ từ quá khứ, nhưng vẫn thể hiện được tính hữu dụng cơ bản của chúng…. |
|
They are set aside, but they are seen to be useful in the greater light and in the vision of the right. We have some sixth ray images here, I think, and maybe the sixth ray is useful in this type of changing of the garnered treasures of the past. We’re not talking about the necessity of throwing them away because everything can be used, but what we are talking about is shining such a perspective upon them that they are seen in the right light, and they are seen in terms of the moral spiritual development of humanity, and not just as isolated objects of interest, because I’m interested in them. Well, why are you studying this? I’m interested in them. Why? I don’t know. I’m just interested in them. No, there has to be a purpose behind it, these treasures have to be seen as useful in relation to a plan, and a higher light has to shine upon them and a higher rightness has to guide them or use them in order for this to occur. |
Chúng được đặt sang một bên, nhưng chúng được coi là hữu ích trong ánh sáng lớn hơn và trong tầm nhìn của sự đúng đắn. Tôi nghĩ chúng ta có một số hình ảnh của cung sáu ở đây, và có lẽ cung sáu rất hữu ích trong kiểu thay đổi những kho báu thu thập được trong quá khứ này. Chúng ta không nói về sự cần thiết phải vứt bỏ chúng đi vì mọi thứ đều có thể sử dụng được, nhưng điều chúng ta đang nói đến là soi rọi chúng dưới một góc nhìn như vậy để chúng được nhìn thấy dưới ánh sáng đúng đắn và chúng được nhìn nhận về mặt phát triển tinh thần đạo đức của nhân loại, chứ không chỉ là những đối tượng quan tâm riêng biệt, bởi vì tôi quan tâm đến chúng. Tại sao bạn lại nghiên cứu cái này? Tôi quan tâm đến chúng. Tại sao? Tôi không biết. Tôi chỉ quan tâm đến chúng. Không, phải có một mục đích đằng sau nó, những kho báu này phải được coi là hữu ích liên quan đến một kế hoạch, và một ánh sáng cao hơn phải chiếu sáng chúng và một sự đúng đắn cao hơn phải hướng dẫn chúng hoặc sử dụng chúng để điều này xảy ra. |
|
This slow opening of the wisdom eye, it’s all going to take place especially between the first and third initiations. I was shocked when I read that. Usually, we think about the third eye unfolding around the time of the third initiation and beyond. But there’s a slow unfoldment from the time that the monad has contacted the soul on its own plane, without the personality knowing that, at the first initiation, at which time buddhi really begins to suffuse the system, and the true, the beautiful, and the good, in that order, because that’s how they can be approached. It can’t be approached so much as the good, the beautiful and the true. We have to work our way from truth towards the good, I do think. And then thought changes entirely. Well, you can measure this for yourself as you see how you think you have been studying these things for quite a while in various ways, and you compare what worldly thought is, and how do you try to get across to worldly thought? How do you break up those thought forms, those misconnections, or connections which just don’t exist? How do you help there be created the necessary connections which will be revelatory. You try in your own way to hold a light up to the worldly thought. You tried in terms of what must be done. This is the useful knowledge. |
Sự mở ra chậm rãi của con mắt minh triết, tất cả sẽ diễn ra đặc biệt là giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ ba. Tôi đã rất sốc khi đọc điều đó. Thông thường, chúng ta nghĩ về con mắt thứ ba mở ra vào khoảng thời gian của lần điểm đạo thứ ba trở đi. Nhưng có một sự mở ra chậm rãi từ thời điểm mà chân thần tiếp xúc với linh hồn trên cõi của chính nó, mà phàm ngã không biết điều đó, ở lần điểm đạo đầu tiên, khi đó buddhi thực sự bắt đầu tràn ngập hệ thống, và điều chân thật, điều đẹp đẽ, điều thiện, theo thứ tự đó, bởi vì đó là cách chúng có thể được tiếp cận. Nó không thể được tiếp cận nhiều như điều thiện, điều đẹp và điều chân thật. Tôi nghĩ chúng ta phải tìm đường từ sự thật hướng tới điều thiện. Và rồi suy nghĩ thay đổi hoàn toàn. Vâng, bạn có thể tự đo lường điều này khi bạn thấy mình nghĩ rằng bạn đã nghiên cứu những điều này trong một thời gian khá lâu theo nhiều cách khác nhau, và bạn so sánh tư tưởng thế gian là gì, và bạn cố gắng tiếp cận tư tưởng thế gian như thế nào? Làm thế nào để bạn phá vỡ những hình thức tư tưởng đó, những kết nối sai hoặc kết nối không tồn tại? Làm thế nào để bạn giúp tạo ra các kết nối cần thiết sẽ mang tính mặc khải. Bạn cố gắng theo cách riêng của mình để soi sáng tư tưởng trần tục. Bạn đã cố gắng về những gì phải làm. Đây là kiến thức hữu ích. |
|
The fire of right. |
Ngọn lửa của sự công chính. |
|
So always, whatever a person holds dear in terms of their accumulations, we’re trying to hold the torch and the fire to those things in our own case and for others. |
Vì vậy, với bất cứ điều gì một người nắm giữ thân thương trong sự tích lũy của họ, chúng ta đang cố gắng giữ ngọn đuốc và ngọn lửa cho những thứ đó, trong trường hợp của chính chúng ta và cho những người khác. |
|
The seven ways of light. [R2-18] |
Bảy con đường ánh sáng. |
|
It’s interesting. I mean, it really means the seven rays, and when you’re studying the second ray particularly, the ray under which the study of the seven rays occurs, just the way the study of astrology occurs under the third ray, particularly Master DK, I think, having a lot of second and third ray blends these together. |
Điều này thật thú vị. Tôi ngĩ đó thực sự là bảy cung, và khi bạn đang nghiên cứu đặc biệt cung hai, cung mà theo đó việc nghiên cứu bảy cung diễn ra, giống như cách nghiên cứu chiêm tinh học diễn ra dưới cung ba, đặc biệt là Chân sư DK, tôi nghĩ rằng, có rất nhiều sự pha trộn giữa cung hai và thứ ba. Bảy làn sóng ánh sáng của bảy cung |
|
Seven waves of light |
Bảy làn sóng ánh sáng |
|
of the seven rays |
Của bảy cung |
|
The seven ways of light must wean away the attention of the Scholar |
Bảy con đường ánh sáng phải lấy đi sự chú ý của vị Học Giả |
|
Well, it doesn’t sound like nothing with the second ray cruise drastically. First ray comes along, cuts it, then go on, just to keep a stiff upper lip[10] and just move on and take the pain, first ray way. But I often say to people, how would you like your bandage ripped off your hairy arm? Would you like a nice, slow approach or would you like to just rip[11]? And how do you take the bandage off? So, maybe you can tell which way the first ray would go and which way the second ray would go. Anyway, this is weaning. When a baby is nursing, you say, Okay, that’s it. No more breast milk for you, and here’s the bottle. Maybe that’s the first ray approach. But the weaning process is one of slow substitution, variation, skill in action and all that second ray method. |
Có vẻ như cung hai không quá quyết liệt. Cung một đi thẳng tới, cắt đứt nó, sau đó tiếp tục, chỉ để giữ một thái độ kiên định và tiếp tục tiến lên và chịu đựng nỗi đau, theo cách của cung một. Nhưng tôi thường nói với mọi người, bạn muốn băng vết thương trên cánh tay đầy lông của bạn bị xé ra như thế nào? Bạn có muốn một cách tiếp cận chậm rãi, tốt đẹp hay bạn chỉ muốn xé toạc nó ra? Và bạn tháo băng như thế nào? Vì vậy, có lẽ bạn có thể nói cung một sẽ đi theo hướng nào và cung hai sẽ đi theo hướng nào. Dù sao, đây là sự ‘cai sữa’. Khi một đứa trẻ đang bú, bạn nói, Được rồi, thôi. Không còn sữa cho con nữa, và đây là bình sữa. Có lẽ đó là cách tiếp cận của cung một. Nhưng quá trình cai sữa là một trong những thay thế chậm, biến đổi, kỹ năng hành động và tất cả những phương pháp của cung hai. |
|
The seven ways of light |
Bảy con đường ánh sáng |
|
In other words, knowledge of these great seven energies, which in a way condition, control and structure all the thing in the lower world, captures the attention. It’s like learning that prism gives off seven energies. It’s like learning the seven major colors of light. It’s like learning the seven notes of the octave., There are higher order energies which organize the energies below, and from complexity, we move to simplicity, and this is something the second ray can learn and must learn, |
Nói cách khác, kiến thức về bảy năng lượng vĩ đại này, theo một cách nào đó, qui định, kiểm soát và cấu trúc tất cả mọi thứ trong thế giới thấp hơn, thu hút sự chú ý. Nó giống như việc học rằng lăng kính phát ra bảy năng lượng. Nó giống như việc học rằng có bảy màu ánh sáng chính. Nó giống như học bảy nốt của một quãng tám. Có những năng lượng bậc cao hơn tổ chức các năng lượng bên dưới, và từ sự phức tạp, chúng ta chuyển sang sự đơn giản, và đây là điều mà cung hai có thể học và phải học, |
|
…wean away the attention of the Scholar from all that has been found and stored and used. |
…phải lấy đi sự chú ý của vị Học Giả ra khỏi tất cả những gì đã được tìm thấy, được lưu trữ và được sử dụng. |
|
He gets a little bit bored with all that he has found and stored and used. It’s all very good, but what meaning does it have? What purpose does it have? How does it fit in the larger scheme of things? These are the things that he begins to ask himself, and so he gradually turns his attention away from those things and begins to look up towards the higher organizing principles. Yes, they are useful now. They have been shown, their usefulness being shown, but only in the higher light that is now streaming in from the soul. We can call that soul the Thinker; we can call it the Gardener; we can call it the higher Scholar, whatever we want to call it, the Knower. But Light is coming in and an understanding of the morality in which all of this knowledge can fit. I mean, suppose you know how to blow up the world, and there are scientific discoveries which have to be stopped for they’re so dangerous. What’s the good of knowledge for knowledge? Knowledge is safe. Just knowing so that you can know it compared with knowing for a Higher Plan or Purpose. This is the state of mind that begins to take over the consciousness of the scholar. |
Y trở nên hơi nhàm chán với tất cả những gì mình đã tìm thấy và lưu trữ và sử dụng. Tất cả đều rất tốt, nhưng nó có ý nghĩa gì? Nó có mục đích gì? Làm thế nào để nó phù hợp với kế hoạch lớn hơn của sự vật? Đây là những điều mà y bắt đầu tự hỏi mình, và vì vậy y dần chuyển sự chú ý của mình ra khỏi những điều đó và bắt đầu hướng lên những nguyên tắc tổ chức cao hơn. Vâng, bây giờ chúng đang hữu ích. Tính hữu ích của chúng được hiển thị, nhưng chỉ trong ánh sáng cao hơn hiện đang phát ra từ linh hồn. Chúng ta có thể gọi linh hồn đó là Người Suy Tưởng; chúng ta có thể gọi đó là Người Làm Vườn; chúng ta có thể gọi đó là Vị Học giả, bất cứ tên gọi nào mà chúng ta muốn gọi, Người Hiểu Biết. Nhưng Ánh sáng đang tràn vào và sự hiểu biết về đạo đức mà tất cả kiến thức này có thể phù hợp. Ý tôi là, giả sử bạn biết cách làm nổ tung thế giới, và có những khám phá khoa học phải được ngăn chặn vì chúng quá nguy hiểm. Kiến thức vì kiến thức thì tốt gì? Kiến thức phải an toàn. Hãy so sánh việc bạn biết chỉ để biết với việc biết vì một Kế hoạch hoặc Mục đích cao hơn. Đây là trạng thái thể trí bắt đầu tiếp quản tâm thức của vị học giả. |
|
So, it weans away the attention of the scholar from all that has been found and stored and used. This he repulses and finds his way into that Hall of Wisdom which is built upon a hill, and not deep under ground. [R2-19] |
Vì vậy, nó lấy đi sự chú ý của vị Học Giả ra khỏi tất cả những gì đã được tìm thấy, được lưu trữ và được sử dụng. Y cự tuyệt điều này và tìm đường đi vào Phòng Minh Triết được xây dựng trên một ngọn đồi chứ không phải sâu dưới lòng đất. |
|
And here comes the word repulses. He repulses all that detail. He repulses all that recollection from it will come a harvest of memory and basic knowledge of the patterns of things. But he doesn’t at this moment need to know all the details, all of that preoccupation with detail in the lower world. Well, he repulses in favor perhaps occupation with detail in the higher world, but at least, he’s entering the world of meaning. So, there’s a cut or detachment, a turning away from, a disinterest in that which is from the lower world. And he’s finding his way now, because he’s approaching the first initiation and beyond as his third eye begins to open up, open up into the Hall of Wisdom, because the Hall of Wisdom was pretty much the opening of the three sacrifice petals, which are touched by the rite of initiation, and which represent the first second and third initiation respectively, petals seven, eight, and nine being touched by the Rod. Of course, it’s not all in other sequential pattern that this happens, and how that happens we will one day see. Let’s just say that, once the Sanat Kumara touches the seventh petal, it greatly advances the process of the first initiation. It is, in effect much work has been done, but it signifies, in a way, the first initiation and the fifth petals completely unfolded by that time. When he touches the eighth petal, the sixth petal completely unfolded and that signifies the second initiation, that much work has been done. Now, when he touches the ninth petal, then all the nine petals are unfolded. How he does this, etcetera… Well, let’s say, it’s the Christ for the first two. I should have said that seventh and eighth petal, and those that are Sanat Kumara for the ninth petals. So, that’s a correction. |
Ở đây, từ đẩy lùi xuất hiện. Y đẩy lùi tất cả những chi tiết đó. Y đẩy lùi tất cả những hồi ức mà từ đó sẽ đến một vụ thu hoạch ký ức và kiến thức cơ bản về các khuôn mẫu của sự vật. Nhưng hiện tại y không cần biết tất cả các chi tiết, tất cả sự bận tâm với các chi tiết đó trong ba cõi giới thấp. Y có lẽ đẩy lùi những chi tiết đó để bận tâm với chi tiết trong cõi giới cao hơn, nhưng ít nhất, y đang bước vào thế giới của ý nghĩa. Vì vậy, có một sự cắt đứt hoặc tách rời, một sự quay lưng lại, một sự không quan tâm đến những gì đến từ cõi giới thấp. Bây giờ y đang tìm đường của mình, bởi vì y đang đến gần lần điểm đạo đầu tiên và hơn thế nữa, khi con mắt thứ ba của y bắt đầu mở ra, mở ra vào Phòng Minh triết, bởi vì Phòng Minh triết hầu như là sự khai mở của ba cánh hoa hy sinh, được Điểm đạo Thần Trượng chạm vào ở các lễ điểm đạo. Tại các lần điểm đạo thứ nhất, thứ hai và thứ ba, các cánh hoa thứ bảy, thứ tám và thứ chín lần lượt được chạm vào bởi Thần Trượng. Tất nhiên, không phải tất cả điều này đều xảy ra theo một khuôn mẫu tuần tự, và cách điều đó xảy ra như thế nào thì một ngày nào đó chúng ta sẽ thấy. Chúng ta hãy nói rằng, một khi Đức Christ chạm vào cánh hoa thứ bảy, nó sẽ thúc đẩy quá trình điểm đạo đầu tiên. Thực tế, nhiều công việc đã được thực hiện trước đó, nhưng theo một cách nào đó, nó biểu thị cho lần điểm đạo đầu tiên và năm cánh hoa hoàn toàn mở ra vào thời điểm đó. Khi Ngài chạm vào cánh hoa thứ tám, cánh hoa thứ sáu hoàn toàn mở ra và điều đó biểu thị cho lần điểm đạo thứ hai, và nhiều công việc đã được thực hiện. Bây giờ, khi Đức Sanat Kumara chạm thần trượng vào cánh hoa thứ chín, tất cả chín cánh hoa sẽ mở ra. Làm thế nào Ngài điều này, vân vân… một Ngài nào đó chúng ta sẽ biết và thấy.. |
|
So, this the scholar repulses, and he finds his way into the Hall of Wisdom |
Vị học giả đẩy lùi điều này, và y tìm đường vào Phòng Minh triết |
|
Doesn’t sound like it’s an immediate entry into that Hall of Wisdom, which is the third of three Halls. It follows the Hall of Learning. |
Dường như điều đó không xảy ra ngay lập tức. Y tìm đường Phòng Minh triết là phòng thứ ba trong ba Phòng. Nó tiếp theo sau Phòng Học Tập. |
|
Which it is not underground. It’s built upon a hill. |
Nó không ở dưới lòng đất. Nó được xây dựng trên một ngọn đồi. |
|
And what’s a hill? I would say that hill has a lot to do with a higher mental plane. It’s not a mountain, necessarily, that mountains, the real mountains begin to occur on the cosmic ethers as far as I’m concerned. But with respect to the lower eighteen subplanes, it’s a hill and it’s a hill with soul perspective, and that Hall of Wisdom which one enters at the time of the first initiation and stays there, is where the consciousness is now being focused with greater and greater rapport with the soul center on the higher mental plane, and that deep underground really signifies the lower eighteen subplanes, and especially the lower three of the systemic subplanes way down there, once we begin to wake up to the soul potentials, we oftentimes like Leadbeader and Annie Besant begin to study more objectively, the subtle worlds which is still underground, but we have the incentive to learn about them in the light of the soul. |
Ngọn đồi là gì? Ngọn đồi liên quan rất nhiều đến cõi thượng trí. Nó không nhất thiết phải là một ngọn núi, vì những ngọn núi thực sự bắt đầu xuất hiện trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ, theo như tôi biết. Nhưng đối với 18 cõi phụ thấp, đó là một ngọn đồi và là một ngọn đồi với góc nhìn của linh hồn, và Phòng Minh triết mà con người bước vào vào lần điểm điểm đạo đầu tiên và ở lại đó, là nơi tâm thức hiện đang được tập trung với sự hòa hợp ngày càng lớn với trung tâm linh hồn trên cõi thượng trí, và sâu dưới lòng đất, đó thực sự biểu thị 18 phân cảnh thấp, đặc biệt là ba phân cảnh thấp hơn của hệ thống ở dưới đó, một khi chúng ta bắt đầu thức tỉnh với tiềm năng của linh hồn, chúng ta, giống như Leadbeader và Annie Besant, thường xuyên bắt đầu nghiên cứu một cách khách quan hơn những thế giới tinh vi vẫn còn nằm dưới lòng đất, nhưng chúng ta có động lực để tìm hiểu về chúng dưới ánh sáng của linh hồn. |
|
How do you get into the Hall of Wisdom? Well, |
Nhưng làm thế nào để bạn vào Phòng Minh triết? |
|
Only the opened eye can find this way. [R2-20] |
Chỉ có con mắt đã mở mới có thể tìm thấy con đường này. |
|
It’s the eye of understanding, the eye of unity, the eye which reveals what the Son of Mind knows. It is the eye of the soul-illumined mind, and along with this comes the phenomenology of the pineal gland being re-stimulated and the ethers in the center of the head being activated, and the light of the head becoming more brilliant. And so there are these phenomenal accompaniments to the opening of this unitive Eye of Understanding. And eventually, when we’re really gaining access to the higher sections of the Hall of Wisdom, we might say, then the third eye is much more fully open. But at first, we’re creeping our way into the Hall of Wisdom, and that can last a long time. Many lives can last from the first initiation to the third initiation, many lives. But all that time, the capacity for understanding from the perspective of the soul is growing, things are looking more inclusive, more related, and our life on the Earth is subjected to the Plan and impelled by a Purpose, even though we may not understand it. Each will have a life purpose, but we may not understand the deeper planetary purpose with which our life purpose is supposed to align. |
Đó là con mắt thấu hiểu, con mắt hợp nhất, con mắt tiết lộ những gì Con của Trí tuệ biết. Đó là con mắt của thể trí được soi sáng bởi linh hồn, và cùng với đó là hiện tượng tuyến tùng được tái kích thích và các dĩ thái ở trung tâm đầu được kích hoạt, và ánh sáng của đầu trở nên rực rỡ hơn. Vì vậy, có những hiện tượng đi kèm với việc mở ta Con mắt Thấu Hiểu hợp nhất này. Và cuối cùng, khi chúng ta thực sự có quyền truy cập vào các phần cao hơn của Phòng Minh Triết, chúng ta có thể nói rằng khi đó con mắt thứ ba sẽ mở ra nhiều hơn. Nhưng lúc đầu, chúng ta đang len lỏi vào Phòng Minh Triết, và điều đó có thể kéo dài rất lâu. Nhiều kiếp sống có thể kéo dài từ lần điểm đạo đầu tiên đến lần điểm đạo thứ ba, nhiều kiếp sống. Nhưng suốt thời gian đó, khả năng hiểu biết từ góc độ của linh hồn ngày càng tăng lên, mọi thứ trông có vẻ bao gồm hơn, liên quan hơn, và cuộc sống của chúng ta trên trần gian phải tuân theo Thiên Cơ và được thúc đẩy bởi một Mục đích, mặc dù chúng ta có thể không hiểu nó. Mỗi người sẽ có một mục đích sống, nhưng chúng ta có thể không hiểu Mục Đích hành tinh sâu sắc hơn mà mục đích sống của chúng ta được cho là phải phù hợp. |
|
Well, there’s so much more to say about this one. I’m very tempted in second ray fashion, kind of dwell ponderously upon each one of these statements. But go through your own life and see how it may be working, and see where you are, and what have you repulsed, and what are you learning? Now, I think that many of us live beyond this point. I think we have repulse strictly worldly knowledge. It has to be for a purpose. Well, what’s the meaning of it? Where does it fit? Is it right to be studying these things? How can it be applied to promote humanity upon the right path. In other words, it’s not just knowledge, it’s how is knowledge used. That’s the fire of right, burning knowledge to make sure that it is applied and used correctly. |
Vâng, còn rất nhiều điều để nói về điều này. Tôi rất muốn tiến hành theo kiểu cung hai, đắm mình suy ngẫm về từng câu thơ này. Nhưng hãy xem xét cuộc sống của riêng bạn, xem nó hoạt động như thế nào, xem bạn đang ở đâu, bạn đã đẩy lùi điều gì và bạn đang học được gì? Bây giờ, tôi nghĩ rằng nhiều người trong chúng ta sống vượt ra khỏi điểm này. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã bác bỏ kiến thức hoàn toàn trần tục. Nó phải vì một mục đích. Vâng, ý nghĩa của nó là gì? Nó phù hợp ở đâu? Có đúng không khi nghiên cứu những thứ này? Làm thế nào nó có thể được áp dụng để thúc đẩy nhân loại trên con đường đúng đắn. Nói cách khác, nó không chỉ là kiến thức, mà là kiến thức được sử dụng như thế nào. Đó là ngọn lửa của sự công chính, thiêu rụi kiến thức để đảm bảo rằng nó được áp dụng và sử dụng một cách chính xác. |
|
So, anyway, the seven ways of life, the seven rays, the big abstract organizing septenate which we learn are organizing many factors in our world, begin to be very interesting. Out of the second ray, we begin to study the seven rays, and our attention turns upward, our attention turns inward, and then for a while, we put away all those facts of the lower worlds, and we want to know what this wisdom say. We want to be wise about our living and to use all knowledge wisely and to proceed wisely in every way that we do, as we progress through the first through third initiation, and even afterwards. And even though we can use that which is deep underground because the basic usefulness of it has been revealed, we are not preoccupied with it. We are preoccupied with meaning, with significance, with cause, with a larger picture, and in that context, all of our former interests can be used and applied. Meanwhile, as the eye of understanding and of synthesis opens up, we are making our way into the truly wise position of the one who can actually polarize himself within his causal body on the higher mental plane, and it’s not simply the soul-infused mind focused on the fourth subplane of the mental plane, but already can transfer his consciousness into the causal body. |
Dù sao, bảy con đường của cuộc sống, đó là bảy cung, tổ hợp lớn trừu tượng có tổ chức mà chúng ta biết được đang tổ chức nhiều yếu tố trong thế giới của chúng ta, bắt đầu trở nên rất thú vị. Từ cung hai, chúng ta bắt đầu nghiên cứu bảy cung, và sự chú ý của chúng ta hướng lên trên, hướng vào bên trong, và sau đó một lúc, chúng ta gạt bỏ tất cả những sự thật của thế giới thấp hơn, và chúng ta muốn biết điều Minh Triết nói. Chúng ta muốn sống khôn ngoan và sử dụng tất cả kiến thức một cách khôn ngoan và tiến hành khôn ngoan trong mọi việc chúng ta làm, khi chúng ta tiến qua lần điểm đạo đầu tiên đến lần thứ ba, và thậm chí sau đó. Và mặc dù chúng ta có thể sử dụng những gì ở sâu dưới lòng đất bởi vì công dụng cơ bản của nó đã được tiết lộ, nhưng chúng ta không bận tâm về nó. Chúng ta bận tâm đến ý nghĩa, tầm quan trọng, nguyên nhân, với bức tranh lớn hơn, và trong bối cảnh đó, tất cả các sở thích trước đây của chúng ta có thể được sử dụng và áp dụng. Trong khi đó, khi con mắt hiểu biết và tổng hợp mở ra, chúng ta đang tiến tới vị trí thực sự khôn ngoan của người thực sự có thể phân cực bản thân trong thể nguyên nhân của mình trên cõi thượng trí, và đó không chỉ đơn giản là thể trí được linh hồn thấm nhập, tập trung vào phân cảnh thứ tư của cõi trí, nhưng đã có thể chuyển tâm thức của mình vào thể nguyên nhân. |
|
Alright, well that’s what I got out of this Old Commentary perspectives number two. I’m always dissatisfied with what has been said. I like to go over and over a thing, just getting more and more meaning out of it, more and more associations out of it, more and more understanding of its significance. But it is the wise use of slow action. All of this is a slow process with the second ray. It is the wise use of slow action, and of course, we are moving from darkness to light, from the underground to the hill, and eventually to the mountain. We’re moving from limited rational logical processes to sudden illumined intuitive processes. We’re moving from the objectivity which sees everything as distinct and fragmentary using the two eyes, subjects and objects unrelated, to the unity of the third eye where subject and object are the same. This is the basic movement. As I say, it’s not particularly along the love line of the second ray, but it has in it a lot of wisdom, a line which is under the first ray and a lot of the line of the occultist particularly which is under the third ray, and we just have to have a deeper search, and search for a deeper type of knowledge than used to interest us and preoccupy us when we were just thinking that the only sphere of legitimate enquiry was the 18 lower subplanes, and especially the world of the senses. I think what we can do is we can have our great invocation at this point and then move on to number three, maybe not tonight, maybe tomorrow… |
Đó là những gì tôi nhận được từ quan điểm Cổ luận cung hai này. Tôi luôn không hài lòng với những gì đã nói. Tôi thích nghiền ngẫm tới lui từng câu một để nhận được ngày càng nhiều ý nghĩa hơn, ngày càng nhiều liên kết hơn từ nó, ngày càng hiểu thêm ý nghĩa của nó. Nhưng đó là việc sử dụng khôn ngoan của hành động chậm. Tất cả những điều này là một quá trình chậm của cung hai. Và tất nhiên, chúng ta đang chuyển từ bóng tối sang ánh sáng, từ dưới lòng đất lên đồi, và cuối cùng là lên núi. Chúng ta đang chuyển từ các quá trình logic hợp lý hạn chế sang các quá trình trực giác được soi sáng đột ngột. Chúng ta đang chuyển từ tính khách quan nhìn thấy mọi thứ riêng biệt và rời rạc bằng hai mắt, chủ thể và đối tượng không liên quan, sang sự thống nhất của con mắt thứ ba, nơi chủ thể và đối tượng là một. Đây là chuyển động cơ bản. Như tôi đã nói, nó không đặc biệt nằm trên tuyến tình thương của cung hai, nhưng nó có rất nhiều trí tuệ, một tuyến nằm dưới cung một và rất nhiều tuyến của nhà huyền bí học đặc biệt nằm dưới cung ba, và chúng ta chỉ cần có một cuộc tìm kiếm sâu hơn, tìm kiếm một loại kiến thức sâu sắc hơn so với trước đây đã từng thu hút chúng ta và khiến chúng ta bận tâm khi chúng ta chỉ nghĩ rằng lĩnh vực nghiên cứu hợp lý duy nhất là 18 cõi phụ thấp hơn, và đặc biệt là thế giới của các giác quan. Tôi nghĩ những gì chúng ta có thể làm là chúng ta có thể có lời cầu nguyện tuyệt vời của mình vào thời điểm này và sau đó chuyển sang số ba, có thể không phải tối nay, có thể là ngày mai… |
[1] sự loè loẹt, sự sặc sỡ
[2] Động vật ăn thịt
[3] phạm vi quản lý của một đơn vị cảnh sát
[4] có chủ ý phá hoại, có chủ ý làm hư hỏng
[5] one who is under the orders of another
[6] làm hỏng, làm đảo lộn
[7] All that I have written seems like straw compared to what has now been revealed to me.
Reply to Reginald of Piperno after being asked to resume writing “Summa Theologiae” (then left unfinished), after a mystical experience while saying mass on or about 6 December 1273, as quoted in “The Life of Saint Thomas Aquinas: Biographical Documents” (1959) by Kenelm Foster, O.P.
[8] “The Blessed One built him an ark. Stage by stage he built it, and floated upon the bosom of the waters. Deeply he hid himself, and his light was no more seen,—only his floating ark.
His voice was heard: ‘l have built and strongly built, but am a prisoner within my building. My light is hidden. Only my word goes forth. Around me lie the waters. Can I return from whence I came? Is the word strong enough to open wide the door? What shall I do?’ EPII 36
[9] làm bối rối, làm lúng túng,
[10] thái độ hoặc cách cư xử kiên định và kiên quyết khi đối mặt với khó khăn.
[11] Xé toạc ra.