LAWS OF THE SOUL WEBINAR COMMENTARY # 14
The Law of Service # 3 (131-139)
Abstract
|
Laws of the Soul Webinar Commentary 14 covers EP II pages 131-139, and is about two hours long. Topics include: |
Webinar Bình giảng số 14 về các Định luật của Linh hồn, bao quát các trang 131–139 trong Esoteric Psychology II và kéo dài khoảng hai giờ. Các chủ đề bao gồm: |
|
1) Discussion of “What are the characteristics of a true server?”; |
1. Thảo luận về “Những đặc điểm của một người phụng sự chân chính là gì?”; |
|
2) these qualities appear when a man is a true channel for the energy of the soul: a) harmlessness; b) willingness to let others serve as seems best to them; c) joyfulness |
2. Những phẩm tính này xuất hiện khi một người là kênh dẫn chân chính cho năng lượng của linh hồn: a) tính vô tổn hại; b) sẵn lòng để người khác phụng sự theo cách họ cho là tốt nhất; c) sự vui tươi; |
|
3) “The work of the new type of server is directed towards those who are establishing soul contact and who can therefore work under the new incoming Aquarian Law.”; |
3. “Công việc của loại người phụng sự mới được hướng đến những ai đang thiết lập sự tiếp xúc với linh hồn và do đó có thể phụng sự theo Định luật Bảo Bình mới đang đến”; |
|
4) disciples must adhere to the new type of service and not spend their time in modes of service which can easily be handled by those with no esoteric understanding; |
4. Các đệ tử phải gắn bó với loại hình phụng sự mới và không nên tiêu phí thời gian trong các hình thức phụng sự mà người không có hiểu biết huyền bí cũng có thể dễ dàng đảm trách; |
|
5) joyfulness takes the place of criticism and is the silence that sounds; |
5. Sự vui tươi thay thế cho sự chỉ trích và chính là sự im lặng cất tiếng; |
|
6) the understand of “sounding joy” and “joyful sounding” can only be understood by living the life of service; |
6. Sự thấu hiểu về “âm thanh vui tươi” và “sự xướng vui tươi” chỉ có thể nắm bắt được qua việc sống đời phụng sự; |
|
7) Discussion of “What effect does service have upon the mind, emotions and etheric body?”; |
7. Thảo luận về “Tác động của phụng sự đối với thể trí, thể cảm dục và thể dĩ thái là gì?”; |
|
8) through the effects of service the existence of an inner reality or Self will be deduced by the scientists of the future; |
8. Qua các hiệu ứng của phụng sự, sự tồn tại của một thực tại nội tâm hay Chân ngã sẽ được các nhà khoa học của tương lai suy luận ra; |
|
9) true service is the result of a “tremendous inner happening”; |
9. Phụng sự chân chính là kết quả của một “biến cố nội tâm to lớn”; |
|
10) from true service arise a number of “secondary creative causes”; |
10. Từ phụng sự chân chính phát sinh nhiều “nguyên nhân sáng tạo thứ yếu”; |
|
11) when the true server comes into possession of his instrument of service, then creative work in accordance with the Plan can go forward on all the three lower planes; |
11. Khi người phụng sự chân chính nắm được khí cụ phụng sự của mình, thì công việc sáng tạo phù hợp với Thiên Cơ có thể tiến hành trong cả ba cõi thấp; |
|
12) God limits Himself and expresses Himself through His chosen servers; |
12. Thượng đế tự giới hạn và tự biểu lộ qua những người phụng sự mà Ngài đã chọn; |
|
13) when the antahkarana is built and functioning (even the first stages of the antahkarana connecting the personality with the soul) the true server begins to emerge; |
13. Khi antahkarana được kiến tạo và vận hành (dù chỉ ở những giai đoạn đầu kết nối phàm ngã với linh hồn) thì người phụng sự chân chính bắt đầu xuất hiện; |
|
14) frequent instability of the earlier stages of service; |
14. Sự bất ổn thường xuyên của những giai đoạn phụng sự sơ khai; |
|
15) constant repair work is often necessary following the attempted service of the beginner in the field of service; |
15. Công việc sửa chữa liên tục thường cần thiết sau những nỗ lực phụng sự của người mới bước vào lãnh vực phụng sự; |
|
16) the necessity to root out personal ambition if one is to be a true server; |
16. Sự cần thiết phải nhổ tận gốc tham vọng cá nhân nếu muốn trở thành người phụng sự chân chính; |
|
17) the good of the whole as the motivation of the true server; |
17. Vì lợi ích của toàn thể là động cơ của người phụng sự chân chính; |
|
18) discussion of the dedication at the end of the Esoteric Catechism; |
18. Thảo luận về lời cung hiến ở cuối Giáo Lý Nội Môn; |
|
19) recognition of the Plan of God arises as soul contact stabilizes; |
19. Sự nhận biết Thiên Cơ nảy sinh khi sự tiếp xúc linh hồn được củng cố; |
|
20) the willingness of the true server to become, in his own eyes, a tiny part of a much greater whole; |
20. Sự sẵn lòng của người phụng sự chân chính để trở thành, trong mắt y, một phần nhỏ bé của một toàn thể lớn lao hơn nhiều; |
|
21) the soul reveals the Plan; the integrated personality reveals the part which the disciple may plan in the revealed Plan; |
21. Linh hồn mặc khải Thiên Cơ; phàm ngã tích hợp biểu lộ phần việc mà đệ tử có thể hoạch định trong Thiên Cơ được mặc khải; |
|
22) the energy of the soul inclining towards service may deepen the glamours of the astral body if that astral body is already glamoured; |
22. Năng lượng của linh hồn khuynh hướng đến phụng sự có thể làm sâu sắc thêm những ảo cảm của thể cảm dục nếu thể cảm dục vốn đã bị ảo cảm che phủ; |
|
23) the true server hears the “Voice of the Silence” and is not misled by the many voices of the astral plane; |
23. Người phụng sự chân chính nghe được “Tiếng Nói của Im Lặng” và không bị đánh lừa bởi nhiều tiếng nói của cõi cảm dục; |
|
24) the glamor of many servers still longing for personality expression; |
24. ảo cảm của nhiều người phụng sự vẫn còn khao khát sự biểu lộ của phàm ngã; |
|
25) the following sequence regarding service is important: “devotion to the Plan, to those whom the Plan serves, and to Those Who serve the Plan. “; |
25. Trình tự sau liên quan đến phụng sự là quan trọng: “sự tận hiến đối với Thiên Cơ, đối với những ai mà Thiên Cơ phụng sự, và đối với Các Ngài phụng sự Thiên Cơ”; |
|
26) the energy prompting service galvanizes the etheric body into activity; the physical body follows; |
26. Năng lượng thúc đẩy phụng sự làm sinh động thể dĩ thái; thể xác đi theo sau; |
|
27) the necessity for pausing upon the astral plane before letting the energy of the soul from flowing into the etheric body; |
27. Sự cần thiết phải tạm dừng trên cõi cảm dục trước khi để năng lượng của linh hồn tuôn chảy vào thể dĩ thái; |
|
28) the quality of inner thought and desire life determine the outer expression; once the force has reached the etheric body, there is little the average disciple can do; |
28. Phẩm chất của đời sống tư tưởng và khát vọng nội tâm quyết định biểu hiện bên ngoài; một khi mãnh lực đã đến thể dĩ thái, thì đệ tử trung bình khó mà làm gì nhiều; |
|
29) the higher etheric centers are those which are to be activated in true service; |
29. Các trung tâm dĩ thái cao hơn là những trung tâm cần được kích hoạt trong phụng sự chân chính; |
|
30) introduction to the section on “Distinctive Methods of ray Service”; |
30. Dẫn nhập vào phần “Những phương pháp đặc thù của phụng sự theo cung”; |
|
31) the seven ray techniques and methods of service will form the inner core of the coming Science of Service; |
31. Bảy kỹ thuật và phương pháp phụng sự theo cung sẽ cấu thành hạt nhân nội tại của Khoa học Phụng Sự sắp đến; |
|
32) if the egoic ray of the server is in incarnation, he will work with greater ease and facility; |
32. Nếu cung chân ngã của người phụng sự đang lâm phàm, y sẽ làm việc với sự dễ dàng và thành thạo hơn; |
|
33) the Masters know which rays are in incarnation at any one time and govern their plans regarding the use of disciples accordingly. |
33. Các Chân sư biết cung nào đang lâm phàm vào bất kỳ thời điểm nào và hoạch định kế hoạch sử dụng các đệ tử cho phù hợp. |
Text
|
Những đặc điểm của người phụng sự chân chính là gì? |
|
|
These characteristics can be easily and briefly noted. They are not exactly what one may have been led to believe. I am not here speaking of the qualifications required for the treading of the Path of Discipleship or the Probationary Path. These are well known. They are the platitudes of the spiritual life, and constitute the battleground, or the Kurukshetra of most aspirants. [14-2] We are here concerned with those qualities which will emerge when a man is working under the impulse of the Law of Service. They will appear when he is a real channel for the life of the soul. His major characteristics will then be three in number:— [14-3] |
Những đặc điểm này có thể được ghi nhận dễ dàng và ngắn gọn. Chúng không hẳn là những gì người ta có thể đã được dẫn dắt để tin. Ở đây, tôi không nói về những phẩm chất cần thiết để bước đi trên Con Đường Đệ Tử hay Con Đường Dự Bị. Những điều ấy đã được biết rõ. Chúng là những sáo ngữ của đời sống tinh thần, và cấu thành chiến trường, hay Kurukshetra của hầu hết những người chí nguyện. Ở đây chúng ta quan tâm đến những phẩm tính sẽ xuất hiện khi một người đang làm việc dưới xung lực của Định luật Phụng sự. Chúng sẽ xuất hiện khi y là một kênh thực sự cho đời sống của linh hồn. Khi đó, các đặc điểm chính của y sẽ có ba điều:— |
|
1. He will be distinguished, as might be expected, by the quality of harmlessness, and by an active refraining from those acts and that speech which might hurt or cause any misunderstanding. By no word, suggestion, implication, innuendo or voiced dissatisfaction will he hurt his group. You will note that I do not say “will not hurt any individual.” Those working under the Law of Service need no reminder not to hurt any individual. [14-4] They often need, under the exuberance of spiritual stimulation and the intensity of their aspiration, to be reminded to demonstrate group harmlessness. |
1. Như có thể dự liệu, y sẽ được phân biệt bởi đức tính vô tổn hại, và bởi tích cực tránh những hành vi và lời nói có thể làm tổn thương hoặc gây ra bất kỳ sự hiểu lầm nào. Y sẽ không làm tổn hại đến nhóm của mình bằng bất kỳ lời nói nào, dù là lời gợi ý, hàm ý, ám chỉ, hay bằng việc bộc lộ sự bất mãn ra bên ngoài. Các bạn sẽ lưu ý rằng tôi không nói “sẽ không làm tổn thương bất kỳ cá nhân nào.” Những người làm việc dưới Định luật Phụng sự không cần được nhắc nhở rằng đừng làm tổn thương bất kỳ cá nhân nào. Họ thường cần được nhắc nhở phải biểu lộ tính vô tổn hại theo nhóm dù chịu sự dâng trào của kích thích tinh thần và sự mãnh liệt trong khát vọng của mình. |
|
2. The second characteristic is a willingness to let others serve as seems best to them, knowing that the life flowing through the individual server must find its own [132] channels and outlets, and that direction of these currents can be dangerous and prevent the rendering of the intended service. [14-5] The server’s efforts will be turned in two directions:— |
2. Đặc điểm thứ hai là sự sẵn lòng để người khác phụng sự theo cách họ thấy là tốt nhất, vì biết rằng sự sống tuôn chảy qua người phụng sự cá nhân phải tự tìm các [132] kênh và lối thoát của nó, và việc định hướng các dòng chảy ấy có thể nguy hiểm và ngăn trở sự phụng sự dự định. Nỗ lực của người phụng sự sẽ hướng về hai phương diện:— |
|
1. To the task of helping others to “stand in spiritual being”, as he himself is learning to stand. [14-6] |
1. Giúp người khác “đứng vững trong bản thể tinh thần”, như chính y đang học cách đứng vững. |
|
2. To aiding the individual to express his service in his chosen field as he desires to express it, and not as the onlooking helper deems that he should do it. |
2. Hỗ trợ cá nhân biểu lộ sự phụng sự của y trong lĩnh vực mà y chọn, theo cách y muốn biểu lộ, chứ không theo cách mà người trợ giúp đứng ngoài cho rằng y nên làm. |
|
One point might here be made clear. The task of those who are working under the Law of Service is not exerted primarily with that group in the world today which is working under the effect of that general response to which we earlier referred. [14-7] These effects are easily shepherded into those activities which, en masse, work out as philanthropic endeavor, as educational experiments, or social efforts in the life of the community. [14-8] The name of those who thus respond is legion, and the will to serve in this particular way needs no impetus. [14-9] The remarkable response to the many recent campaigns to good will definitely evidenced this. But the work of the new type of server is directed towards those who are establishing soul contact and who can therefore work under the new incoming Aquarian Law. [14-10] This centres around the capacity to stand, not only in spiritual being, but together with others, working with them subjectively, telepathically, and synthetically. This distinction merits attention for one can easily waste effort by entering fields already well handled from the point of view of the attainment of the units in that field. [14-11] |
Ở đây, có thể làm rõ một điểm. Nhiệm vụ của những người đang làm việc dưới Định luật Phụng sự không chủ yếu hướng đến nhóm người trên thế giới ngày nay đang hoạt động dưới tác động của sự đáp ứng chung mà trước đó chúng ta đã đề cập. Những tác động này dễ được dẫn dắt vào các hoạt động mà, xét trên bình diện đại chúng, biểu hiện như nỗ lực từ thiện, như các thử nghiệm giáo dục, hay các nỗ lực xã hội trong đời sống cộng đồng. Số người đáp ứng như vậy đông vô kể, và ý chí phụng sự theo cách đặc thù này không cần bất kỳ xung lực nào. Sự đáp ứng đáng chú ý đối với nhiều chiến dịch thiện chí gần đây đã chứng tỏ điều này một cách rõ rệt. Nhưng công tác của kiểu người phụng sự mới được hướng đến những ai đang thiết lập sự tiếp xúc linh hồn và do đó có thể làm việc dưới Định luật Bảo Bình mới đang đến. Điều này tập trung quanh năng lực đứng vững, không chỉ trong bản thể tinh thần, mà còn cùng với những người khác, làm việc với họ một cách chủ quan, bằng viễn cảm, và một cách tổng hợp. Sự phân biệt này đáng được chú ý vì người ta có thể dễ dàng lãng phí nỗ lực bằng cách bước vào những lĩnh vực vốn đã được xử lý tốt từ quan điểm về mức đạt được của các đơn vị trong lĩnh vực ấy. |
|
3. The third characteristic of the new server is joyfulness. [133] This takes the place of criticism (that dire creator of misery) and is the silence that sounds. [14-12] |
3. Đặc điểm thứ ba của người phụng sự mới là niềm vui. [133] Điều này thay thế cho sự chỉ trích (kẻ tạo tác ghê gớm của sự khốn khổ) và chính là sự im lặng ngân vang. |
|
It would be well to ponder on these last words, for their true meaning cannot be conveyed in words, but only through a life dedicated to the newer rhythms and to the service of the whole. Then that “sounding joy” and that “joyful sounding” can make its true meaning felt. [14-13] |
Thật tốt để suy ngẫm về những lời cuối cùng này, vì ý nghĩa chân thực của chúng không thể truyền đạt bằng lời nói, mà chỉ có thể qua một đời sống hiến dâng cho những nhịp điệu mới mẻ hơn và cho sự phụng sự toàn thể. Khi đó, “niềm vui ngân vang” và “sự ngân vang vui tươi” ấy có thể khiến ý nghĩa chân thực của nó được cảm nhận. |
|
What effect does service have upon the mind, the emotions and the etheric body? [14-14] |
Phụng sự có tác động gì lên thể trí, cảm xúc và thể dĩ thái? |
|
It must be remembered that it is through its effects that the scientist of the future will begin to deduce the effectual existence of an inner cause, of an inner reality, or of a self or soul. We have seen that service is not simply an activity of some person or group doing something with good intention for another person or group. [14-15] Service itself is definitely the result of a tremendous inner happening, and when that result is brought about, it will be found to have produced a number of creative secondary causes. [14-16] These are, primarily, a change in the lower consciousness, a tendency to turn away from the things of the personal self to the larger issues of the group, a reorientation which is real and expressive and a power to change conditions (through creative activity) which is the demonstration of something dynamically new. [14-17] As this inner event stabilises into an equilibrised inner condition, the demonstration of the above changes becomes more regular and less spasmodic and the effects of the new forces flowing into the personality to be later used creatively, will be seen in all three bodies. [14-18] Thus the true server comes into possession of his instruments for service, and thenceforth creative work in accordance with the Plan can go forward on all three planes. Thus has God, in His wisdom, chosen to [134] limit Himself, and the work of evolution proceeds solely through the medium of His chosen builders and under the direction—on this planet—of those men whose lives are being transformed through soul contact and creative service, and who constitute the planetary Hierarchy. [14-19] |
Cần nhớ rằng chính qua các tác động của nó mà nhà khoa học tương lai sẽ bắt đầu suy diễn sự hiện hữu hữu hiệu của một nguyên nhân nội tại, của một thực tại nội tại, hay của một bản ngã hoặc linh hồn. Chúng ta đã thấy rằng phụng sự không đơn thuần là một hoạt động của một người hay một nhóm làm điều gì đó với thiện ý cho một người hay một nhóm khác. Bản thân phụng sự chắc chắn là kết quả của một biến cố nội tại to lớn, và khi kết quả ấy được tạo ra, người ta sẽ thấy rằng nó đã sản sinh một số nguyên nhân thứ cấp mang tính sáng tạo. Trước hết, đó là một sự thay đổi trong tâm thức thấp, một khuynh hướng quay lưng khỏi những điều của phàm ngã để hướng đến những vấn đề lớn hơn của nhóm, một sự tái định hướng chân thực và có tính biểu đạt, và một quyền năng thay đổi các điều kiện (qua hoạt động sáng tạo) vốn là sự biểu hiện của một điều gì đó năng động mới mẻ. Khi biến cố nội tại này ổn định thành một trạng thái nội tâm quân bình, sự biểu lộ của các thay đổi nêu trên trở nên đều đặn hơn và ít thất thường hơn, và các tác động của những mãnh lực mới đang tuôn vào phàm ngã, mà về sau được dùng một cách sáng tạo, sẽ được thấy trong cả ba thể. Như vậy người phụng sự chân chính đi đến chỗ nắm giữ các công cụ của mình để phụng sự, và từ đó công tác sáng tạo phù hợp với Thiên Cơ có thể tiến hành trên cả ba cõi. Như vậy Thượng đế, trong minh triết của Ngài, đã chọn cách [134] tự giới hạn, và công cuộc tiến hoá chỉ tiến hành qua trung gian của các đấng kiến tạo được Ngài chọn và dưới sự chỉ đạo—trên hành tinh này—của những người mà đời sống của họ đang được chuyển đổi qua sự tiếp xúc linh hồn và phụng sự sáng tạo, và những người ấy cấu thành Thánh Đoàn hành tinh. |
|
When alignment has been effected, when the at-one-ment has been more constantly made, and when the antaskarana (the bridge connecting the higher and the lower) is in definite process of construction, the true nature of service, as practiced by any individual begins to emerge. [14-20] The first effect of the inflowing force of the soul, which is the major factor leading to demonstrated service, is to integrate the personality, and to bring all the three lower aspects of the man into one serving whole. This is a difficult and elementary stage from the angle of the student in the Hall of Wisdom. [14-21] The man becomes aware of his power and capacity, and, having pledged himself to service, he begins furiously to serve; he creates this, that and the other channel for the expression of the force which is driving him; he tears down and destroys just as fast as he creates. [14-22] He temporarily becomes a serious problem to the other servers with whom he may be associated, for he sees no vision but his own, and the aura of criticism which surrounds him and the strenuous push of the assertive force within him produces the stumbling of the “little ones” and there has to be constant repair work undertaken (on his behalf) by older, more experienced disciples. [14-23] He becomes the victim, for the time, of his own aspiration to serve, and of the force which is flowing through him. This stage will in some cases fan into flame the latent seeds of ambition. This ambition is, in the last analysis, only the personality urge towards betterment, and in its right place and time is a divine asset, but it has to be rooted out when the personality becomes the instrument of the soul. [14-24] In other cases, the server [135] will come into a wider and more loving vision, and, taking his eyes off his own accomplishment, will go to work in silent unison with the groups of all true servers. He will submerge his personality tendencies, his ideas and his ambitions in the greater good of the whole, and self will be lost to sight. [14-25] Perhaps no better suggestion can be made to the man or woman who seeks to function as a true server than to ask them to repeat daily, with their whole hearts and minds behind the words, the dedication at the conclusion of the Esoteric Catechism, which is included at the end of Initiation, Human and Solar. [14-26] I would remind such servers that if they revolt or are dismayed by the ideas embodied in the words, that is perhaps an indication of how much they need the impression of this life objective upon their consciousness. That pledge runs as follows: |
Khi sự chỉnh hợp đã được thực hiện, khi sự hợp nhất đã được tạo lập một cách thường xuyên hơn, và khi antahkarana (cây cầu nối cái cao và cái thấp) đang trong tiến trình kiến tạo một cách xác định, thì bản chất chân thực của phụng sự, như được bất kỳ cá nhân nào thực hành, bắt đầu xuất hiện. Tác động đầu tiên của mãnh lực tuôn vào từ linh hồn, vốn là yếu tố chủ yếu dẫn đến phụng sự được thể hiện, là tích hợp phàm ngã, và đưa cả ba phương diện thấp của con người vào một toàn thể phụng sự duy nhất. Đây là một giai đoạn khó khăn và sơ đẳng từ góc nhìn của đạo sinh trong Phòng Minh triết. Người ấy trở nên nhận biết quyền năng và năng lực của mình, và, đã thệ nguyện phụng sự, y bắt đầu phụng sự một cách cuồng nhiệt; y tạo ra kênh này, kênh kia, và kênh khác cho sự biểu lộ của mãnh lực đang thúc đẩy y; y phá bỏ và huỷ diệt nhanh không kém khi y kiến tạo. Tạm thời y trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với những người phụng sự khác mà y có thể liên kết, vì y không thấy tầm nhìn nào ngoài tầm nhìn của chính ý, và hào quang chỉ trích bao quanh y cùng với sự thúc đẩy căng thẳng của mãnh lực khẳng định bên trong y gây ra sự vấp ngã của những “kẻ bé nhỏ”, và khiến cho các đệ tử già dặn hơn, giàu kinh nghiệm hơn, phải tiến hành công việc sửa chữa (thay cho y). Trong một thời gian, y trở thành nạn nhân của chính khát vọng phụng sự của y và của mãnh lực đang tuôn chảy qua y. Trong một số trường hợp, giai đoạn này sẽ thổi bùng những hạt giống tham vọng tiềm ẩn. Tham vọng này, xét đến cùng, chỉ là thôi thúc của phàm ngã hướng đến sự cải thiện, và khi được đặt đúng chỗ và đúng lúc, đó sẽ là một tài sản thiêng liêng, nhưng nó phải bị nhổ tận gốc khi phàm ngã trở thành công cụ của linh hồn. Trong những trường hợp khác, người phụng sự [135] sẽ đi vào một tầm nhìn rộng lớn hơn và đầy bác ái hơn, rời mắt khỏi thành tựu của chính mình, và sẽ bắt tay làm việc trong sự hoà điệu thầm lặng với các nhóm của mọi người phụng sự chân chính. Y sẽ nhấn chìm các khuynh hướng phàm ngã, các ý tưởng và các tham vọng của mình trong lợi ích lớn hơn của toàn thể, và bản ngã sẽ khuất khỏi tầm nhìn. Có lẽ không có gợi ý nào tốt hơn dành cho người nam hay người nữ đang tìm cách hoạt động như một người phụng sự chân chính, hơn là đề nghị họ mỗi ngày hãy lặp lại—với trọn vẹn tâm và trí đứng đằng sau từng lời—lời tận hiến ở phần kết của Esoteric Catechism, được đưa vào ở cuối tác phẩm Initiation, Human and Solar. [14-26] Tôi xin nhắc nhở những người phụng sự như vậy rằng, nếu họ phản kháng hoặc cảm thấy chán nản trước những ý niệm được hàm chứa trong các lời ấy, thì điều đó có lẽ là một dấu hiệu cho thấy họ cần biết bao ấn tượng của mục tiêu đời sống này được in dấu lên tâm thức của họ. Lời cam kết ấy như sau: |
|
“Tôi đảm nhận phần việc của mình với quyết tâm không lay chuyển; với khát vọng chân thành; tôi nhìn lên trên, tôi giúp bên dưới; tôi không mơ mộng, cũng không nghỉ ngơi; tôi lao động; tôi phụng sự; tôi gặt hái; tôi cầu nguyện; tôi là Thập Giá; tôi là Con Đường; tôi bước lên trên công việc tôi làm, tôi leo lên trên phàm ngã bị giết của tôi; tôi diệt dục vọng, tôi phấn đấu, tôi quên hết mọi phần thưởng. Tôi từ bỏ bình an; tôi khước từ nghỉ ngơi, và, trong sức ép của đau đớn, tôi đánh mất mình và tìm thấy Chính Mình và đi vào bình an. Với tất cả điều này tôi long trọng tự thệ nguyện, khẩn cầu Bản Ngã Cao Siêu của tôi.” |
|
|
As the work of learning to serve proceeds and the inner contact becomes more sure, the next thing which will occur will be a deepening of the life of meditation, and a more frequent illumining of the mind by the light of the soul. [14-27] Thereby the Plan is revealed. This will not be the shedding of that light upon the plans of the server either for his own life or upon his chosen field of service. This must be clearly grasped. That might only indicate (if it seems to occur) the mental agility of the server to find means for the justification of his own ambition. [14-28] It will be the recognition, in the mind, of the Plan of God for the world at the particular time in [136] which the server is existing, and the part that he may play in furthering the ends of those who are responsible for the carrying forward of that Plan. [14-29] He then becomes willing to be a tiny part of a greater Whole, and this attitude never varies, even when the disciple has become a Master of the Wisdom. He is then in contact with a still vaster concept of the Plan and His humility and His sense of proportion remain unchanged. [14-30] |
Khi công việc học cách phụng sự tiến triển và sự tiếp xúc nội tại trở nên chắc chắn hơn, điều kế tiếp sẽ xảy ra là đời sống tham thiền sẽ sâu sắc hơn, và thể trí thường xuyên được soi sáng nhiều hơn bởi ánh sáng của linh hồn. Nhờ đó Thiên Cơ được mặc khải. Đây sẽ không phải là việc rọi ánh sáng ấy lên các kế hoạch của người phụng sự cho đời sống riêng của y hay lên lĩnh vực phụng sự mà y chọn. Điều này phải được nắm bắt rõ ràng. Nếu dường như điều đó xảy ra, nó có thể chỉ cho thấy sự linh hoạt trí tuệ của người phụng sự trong việc tìm phương tiện biện minh cho tham vọng của chính mình. Đó sẽ là sự nhận biết, trong thể trí của y, Thiên Cơ của Thượng đế cho thế giới vào thời điểm cụ thể [136] mà người phụng sự đang hiện hữu, và phần việc mà y có thể đóng góp để thúc đẩy các mục tiêu của những Đấng chịu trách nhiệm đưa Thiên Cơ ấy tiến về phía trước. Khi đó y trở nên sẵn lòng là một phần rất nhỏ của một Toàn Thể lớn hơn, và thái độ này không bao giờ thay đổi, ngay cả khi đệ tử đã trở thành một chân sư Minh triết. Khi ấy Ngài tiếp xúc với một quan niệm còn bao la hơn về Thiên Cơ và sự khiêm nhường cùng ý thức về tỉ lệ của Ngài vẫn không đổi. |
|
An integrated, intelligent personality is adequate to deal with the working out of the server’s part in the active work of the world, provided his vision is not blurred by personal ambition nor his activity such that it degenerates into a sense of rush and a display of busy feverishness. [14-31] It takes the soul itself to reveal to the poised and peaceful mind the next step to be taken in the work of world evolution, through the impartation of ideas. Such is the Plan for humanity. |
Một phàm ngã tích hợp, thông minh là đủ để xử lý việc triển khai phần việc của người phụng sự trong công tác năng động của thế giới, miễn là tầm nhìn của y không bị tham vọng cá nhân làm mờ đi, và hoạt động của y không đến mức thoái hoá thành cảm giác vội vã và phô bày sự bận rộn sốt sắng. Chính linh hồn mới có thể mặc khải cho thể trí quân bình và an tĩnh bước kế tiếp cần thực hiện trong công tác tiến hoá thế gian, qua việc truyền đạt các ý tưởng. Đó là Thiên Cơ cho nhân loại. |
|
As the force pours through the personality and gives to the server this necessary vision and the sense of power which will enable him to cooperate, it finds its way into the emotional or astral body. [14-32] Here again the effect will be dual, owing to the condition of the server’s astral body and his inner orientation. It may enhance the glamour and deepen the illusion, swinging the server into the psychic illusory effects there to be found. When this happens, he will emerge upon the physical plane glamoured by the idea, for instance, of his amazing personal contacts, whereas he has only contacted some group thought-form of the Great Ones. [14-33] He will be under the illusion that he is a chosen vessel or mouthpiece for the Hierarchy, when the truth is that he is deceived by the many voices, because the Voice of the Silence has been dimmed by the clamour of the astral plane; he will be deluded by the idea that there is no other way but his way. [14-34] Such an illusion and deception is common among teachers and workers everywhere [137] today, because so many are definitely making a contact with their souls, and are being swept then into the desire for service; they are not yet free, however, from ambition, and their orientation is still basically towards personality expression, and not to the merging of themselves in the Group of World Servers. [14-35] If however they can avoid glamour, and can discriminate between the Real and the unreal, then the inflowing force will flood their lives with effective unselfish love and with devotion to the Plan, to those whom the Plan serves, and to Those Who serve the Plan. Note the sequence of these attitudes, and govern yourselves accordingly. There will then be no room for self-interest, self-assertiveness, or selfish ambition. All that is considered is the need and the driving necessity to take the next immediate step to meet that need as it demonstrates before the server’s eyes. [14-36] |
Khi mãnh lực tuôn chảy qua phàm ngã và ban cho người phụng sự tầm nhìn cần thiết này cùng ý thức về quyền năng sẽ giúp y hợp tác, nó sẽ tìm đường đi vào thể cảm dục. Ở đây một lần nữa tác động sẽ là kép, tuỳ theo tình trạng của thể cảm dục của người phụng sự và định hướng nội tại của y. Nó có thể làm tăng ảo cảm và làm sâu sắc thêm ảo tưởng, đẩy người phụng sự vào các tác động ảo tưởng thông linh có thể tìm thấy ở đó. Khi điều này xảy ra, y sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần trong trạng thái bị ảo cảm bởi ý tưởng, chẳng hạn, về những tiếp xúc cá nhân kỳ diệu của mình, trong khi y chỉ tiếp xúc với một hình tư tưởng nhóm nào đó của Các Đấng Cao Cả. Y sẽ ở trong ảo tưởng rằng y là một khí cụ được chọn hay một phát ngôn nhân cho Thánh Đoàn, trong khi sự thật là y bị đánh lừa bởi nhiều tiếng nói, vì Tiếng Nói của Im Lặng đã bị làm mờ đi bởi sự ồn ào của cõi cảm dục; y sẽ bị mê hoặc bởi ý tưởng rằng không có con đường nào khác ngoài con đường của y. Ảo tưởng và sự lừa dối như vậy là phổ biến ở các huấn sư và người hoạt động ở khắp mọi nơi [137] ngày nay, vì có quá nhiều người đang thực sự tiếp xúc với linh hồn của họ, và rồi bị cuốn vào ham muốn phụng sự; tuy nhiên, họ chưa được giải thoát khỏi tham vọng, và định hướng của họ vẫn căn bản hướng về sự biểu lộ phàm ngã, chứ không phải về việc hoà nhập chính họ vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Tuy nhiên, nếu họ có thể tránh ảo cảm và có thể phân biện giữa Thực Tại và điều không thực, thì mãnh lực tuôn vào sẽ tràn ngập đời sống họ bằng tình thương vô ngã hiệu quả, và bằng sự tận hiến với Thiên Cơ, với những người mà Thiên Cơ phụng sự, và với Những Đấng Phụng Sự Thiên Cơ. Hãy lưu ý trình tự của các thái độ này, và hãy tự điều chỉnh cho phù hợp. Khi đó sẽ không còn chỗ cho tư lợi, sự tự khẳng định, hay tham vọng ích kỷ. Điều duy nhất được xét đến là nhu cầu và sự thúc bách tất yếu nhằm thực hiện bước kế tiếp ngay tức khắc, để đáp ứng nhu cầu ấy, khi nó hiển lộ ngay trước mắt người phụng sự. |
|
With the heart and mind then functioning together (either in selfish coalition for the presentation of an active personality, or in dedicated selflessness and the attitude which is oriented towards soul guidance) the force, flowing through the server will galvanise his etheric body into activity. [14-37] Then, automatically, the physical body will respond. There is, consequently, a great need for the server to pause upon the astral plane, and there, in a holy and controlled silence, wait, before permitting the force to pour through into the centres in the etheric body. This point of silence is one of the mysteries of spiritual unfoldment. [14-38] Once the force or energy of the soul—preserved in its purity, or tainted and sidetracked on its way through into physical manifestation—has reached the etheric body, there is nothing more to be done by the average disciple. The result, when it reaches that point, is inevitable and effective. The inner thought and the desire life determine the activity which will be expressed physically. [14-39] When the force comes through in purity, it brings the centres above the [138] diaphragm steadily into activity; when it comes through, tainted by personality trends, it uses primarily the solar plexus, and then sweeps into manifestation all the astral illusions, the grandiose delusions and the glamours of egoistic phenomena, using the word “egoistic” in its usual worldly, psychological connotation. This can easily be seen today among the leaders of various groups. [14-40] |
Khi ấy, với tâm và trí hoạt động cùng nhau (hoặc trong sự liên minh ích kỷ để trình bày một phàm ngã năng động, hoặc trong sự vô ngã tận hiến và thái độ được định hướng về sự dẫn dắt của linh hồn) thì mãnh lực tuôn chảy qua người phụng sự sẽ kích hoạt thể dĩ thái của y đi vào hoạt động. Khi đó, thể xác sẽ tự động đáp ứng. Do đó, người phụng sự rất cần phải dừng lại trên cõi cảm dục, và tại đó, trong một sự im lặng thiêng liêng được kiểm soát, hãy chờ đợi, trước khi cho phép mãnh lực tuôn chảy vào các luân xa trong thể dĩ thái. Điểm im lặng này là một trong những huyền nhiệm của sự khai mở tinh thần. Một khi mãnh lực hay năng lượng của linh hồn—được bảo tồn trong sự tinh khiết của nó, hoặc bị làm ô nhiễm và bị chệch hướng trên đường đi vào sự biểu hiện hồng trần—đã đến thể dĩ thái, thì người đệ tử trung bình không còn gì để làm nữa. Khi đã đến điểm ấy, kết quả là tất yếu và hữu hiệu. Tư tưởng nội tại và đời sống dục vọng quyết định hoạt động sẽ được biểu lộ về mặt thể xác. Khi mãnh lực tuôn qua trong sự tinh khiết, nó mang các trung tâm phía trên [138] cơ hoành dần dần vào hoạt động; khi nó đi qua trong tình trạng bị nhuốm màu bởi các khuynh hướng phàm ngã, nó chủ yếu sử dụng tùng thái dương, rồi cuốn vào sự biểu hiện tất cả các ảo tưởng cảm dục, các hoang tưởng tự tôn và các ảo cảm của những hiện tượng mang tính vị kỷ, dùng từ “vị kỷ” theo nghĩa tâm lý học thông thường. Điều này ngày nay có thể dễ dàng thấy nơi các lãnh đạo của nhiều nhóm khác nhau. |
b. DISTINCTIVE METHODS OF RAY SERVICE—CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐẶC THÙ CỦA PHỤNG SỰ THEO CUNG
|
Does this science prove that the seven ray types employ distinctive methods in service? |
Liệu Khoa học này có chứng minh rằng bảy loại cung sử dụng những phương pháp đặc thù trong phụng sự không? |
|
As time goes on this will be proved decidedly, and each ray worker and server will be found to render his service along peculiar and specific lines. These indicate for him the line of least resistance and, consequently, of the greatest efficiency. [14-41] These methods and techniques will constitute the inner structure of the coming Science of Service, and they will be discovered through the admission of the Ray hypothesis and an observation of the methods employed by these clearly isolated Ray types and groups. [14-42] These differing ways of service, all of them, work in conformity with the Plan, and together produce a synthetic whole. The ray or rays in manifestation at any one time will determine the general trend of the world service, and those servers whose egoic ray is in incarnation, and who are endeavoring to work with right activity, will find their work facilitated if they understand that the trend of affairs is with them and that they are following the line of least resistance at that period. [14-43] They will work with greater facility than will the disciples and aspirants whose egoic ray is out of manifestation. This recognition will lead to a careful study of times and seasons, thus there will be no waste effort, and real advantage can be taken of the qualifications and aptitudes of the servers available. All will [139] be in conformity with the Plan. A consideration of the rays in or out of manifestation, and a recognition of the disciples and servers available on the physical plane at any one time, is part of the work of the Masters in the Hierarchy. [14-44] |
Theo thời gian, điều này sẽ được chứng minh một cách rõ rệt, và mỗi người hoạt động và phụng sự theo cung sẽ được thấy là thực hiện sự phụng sự của mình theo những đường lối đặc thù và riêng biệt. Những đường lối ấy chỉ ra cho họ con đường ít trở ngại nhất, và do đó là con đường có hiệu quả lớn nhất. [14-41] Những phương pháp và kỹ thuật này sẽ cấu thành cấu trúc nội tại của Khoa Học Phụng Sự trong tương lai, và chúng sẽ được khám phá thông qua việc chấp nhận giả thuyết về các cung, và sự quan sát các phương pháp được sử dụng bởi những kiểu mẫu và nhóm cung đã được phân biệt rõ ràng này. [14-42] Tất cả những cách phụng sự khác nhau ấy đều hoạt động phù hợp với Thiên Cơ, cùng nhau tạo nên một chỉnh thể tổng hợp. Cung hay các cung đang biểu hiện vào bất kỳ thời điểm nào sẽ quyết định khuynh hướng chung của công cuộc phụng sự thế gian, và những người phụng sự có cung chân ngã đang nhập thể, đồng thời đang nỗ lực hoạt động một cách đúng đắn, sẽ thấy công việc của họ được thuận lợi hơn nếu họ hiểu rằng xu thế của thời cuộc đang đồng hành với họ, và rằng trong giai đoạn đó họ đang đi theo con đường ít trở ngại nhất. [14-43] Họ sẽ làm việc với sự dễ dàng lớn hơn so với các đệ tử và người chí nguyện có cung chân ngã đang ở ngoài sự biểu hiện. Sự nhận biết này sẽ dẫn đến việc nghiên cứu cẩn trọng về thời điểm và chu kỳ; nhờ đó sẽ không có sự phí phạm nỗ lực, và người ta có thể tận dụng một cách thực sự hiệu quả các phẩm chất và năng lực của những người phụng sự hiện có. Tất cả [139] sẽ phù hợp với Thiên Cơ. Việc xem xét các cung đang hoặc không đang biểu hiện, cũng như việc nhận diện các đệ tử và người phụng sự hiện diện trên cõi hồng trần vào bất kỳ thời điểm nào, là một phần trong công việc của các Chân sư trong Thánh đoàn. [14-44] |
Text with notes
|
Những đặc điểm của người phụng sự chân chính là gì? |
|
|
These characteristics can be easily and briefly noted. They are not exactly what one may have been led to believe. I am not here speaking of the qualifications required for the treading of the Path of Discipleship or the Probationary Path. These are well known. They are the platitudes of the spiritual life, and constitute the battleground, or the Kurukshetra of most aspirants, [as they struggle for fulfill these requirements…] We are here concerned with those qualities which will emerge when a man is working under the impulse of the Law of Service. We are here concerned with those qualities which will emerge when a man is working under the impulse of the Law of Service. They will appear when he is a real channel for the life of the soul. His major characteristics will then be three in number: |
Những đặc điểm này có thể được ghi nhận một cách dễ dàng và ngắn gọn. Chúng không hẳn là những gì người ta có thể đã bị dẫn dắt để tin. Tôi không nói ở đây về những phẩm chất cần có để bước đi trên Con Đường Đệ Tử hay Con Đường Dự Bị. Những điều ấy đã quá quen thuộc. Chúng là những sáo ngữ sáo của đời sống tinh thần, và cấu thành chiến trường, hay Kurukshetra của hầu hết những người chí nguyện, [khi họ vật lộn để đáp ứng những yêu cầu này…] Ở đây, chúng ta quan tâm đến những phẩm tính sẽ xuất hiện khi một người đang làm việc dưới xung lực của Định luật Phụng sự. Ở đây, chúng ta quan tâm đến những phẩm tính sẽ xuất hiện khi một người đang làm việc dưới xung lực của Định luật Phụng sự. Chúng sẽ xuất hiện khi y là một kênh dẫn chân thực cho sự sống của linh hồn. Khi ấy, những đặc điểm chủ yếu của y sẽ có ba điều: |
|
1. He will be distinguished, as might be expected, by the quality of harmlessness, and by an active refraining from those acts and that speech which might hurt or cause any misunderstanding. By no word, suggestion, implication, innuendo or voiced dissatisfaction will he hurt his group. You will note that I do not say “will not hurt any individual.” Those working under the Law of Service need no reminder not to hurt any individual. They often need, under the exuberance of spiritual stimulation and the intensity of their aspiration, to be reminded to demonstrate group harmlessness. |
1. Như có thể dự liệu, y sẽ được phân biệt bởi phẩm tính vô tổn hại, và bởi sự chủ động kiêng tránh những hành vi và lời nói có thể làm tổn thương hoặc gây ra bất kỳ sự hiểu lầm nào. Bằng không một lời nào, một gợi ý nào, một hàm ý nào, một lời bóng gió nào hay một sự bất mãn được thốt ra, y sẽ làm tổn thương nhóm của y. Các bạn sẽ lưu ý rằng Tôi không nói “sẽ không làm tổn thương bất kỳ cá nhân nào.” Những người làm việc dưới Định luật Phụng sự không cần được nhắc nhở rằng đừng làm tổn thương bất kỳ cá nhân nào. Dưới sự hân hoan của kích thích tinh thần và cường độ khát vọng của họ, họ thường cần được nhắc nhở phải biểu lộ tính vô tổn hại trong nhóm. |
|
2. The second characteristic is a willingness to let others serve as seems best to them, knowing that the life flowing through the individual server must find its own [132] channels and outlets, and that direction of these currents can be dangerous and prevent the rendering of the intended service. The server’s efforts will be turned in two directions:— |
2. Đặc điểm thứ hai là sự sẵn lòng để người khác phụng sự theo cách họ thấy là tốt nhất, vì biết rằng sự sống đang tuôn chảy qua người phụng sự cá nhân phải tự tìm lấy các [132] kênh dẫn và lối thoát của nó, và việc định hướng các dòng chảy ấy có thể nguy hiểm và ngăn trở việc thực hiện sự phụng sự dự định. Nỗ lực của người phụng sự sẽ được hướng theo hai chiều:— |
|
1. To the task of helping others to “stand in spiritual being”, as he himself is learning to stand. |
1. Vào nhiệm vụ giúp người khác “đứng vững trong bản thể tinh thần”, như chính y đang học cách đứng vững. |
|
2. To aiding the individual to express his service in his chosen field as he desires to express it, and not as the onlooking helper deems that he should do it. |
2. Vào việc trợ giúp cá nhân biểu lộ sự phụng sự của y trong lĩnh vực mà y chọn, theo cách y muốn biểu lộ, chứ không theo cách người trợ giúp đứng ngoài cho rằng y nên làm. |
|
[An attitude of non-interference when it comes to assisting the service of another…] |
[Thái độ không can thiệp khi trợ giúp sự phụng sự của người khác…] |
|
One point might here be made clear. The task of those who are working under the Law of Service is not exerted primarily with that group in the world today which is working under the effect of that general response to which we earlier referred. These effects are easily shepherded into those activities which, en masse, work out as philanthropic endeavor, as educational experiments, or social efforts in the life of the community. The name of those who thus respond is legion, and the will to serve in this particular way needs no impetus. [It is well on its way…] The remarkable response to the many recent campaigns to good will definitely evidence this. But the work of the new type of server is directed towards those who are establishing soul contact and who can therefore work under the new incoming Aquarian Law. This centres around the capacity to stand, not only in spiritual being, [we can assist others in maintaining this standing…] but together with others, working with them subjectively, telepathically, and synthetically. [Interior, subjective service is called for…] This distinction merits attention for one can easily waste effort by entering fields already well handled from the point of view of the attainment of the units in that field. |
Có một điểm ở đây cần được làm rõ. Nhiệm vụ của những người đang làm việc dưới Định luật Phụng sự không chủ yếu hướng đến nhóm người trên thế giới ngày nay đang làm việc dưới tác động của sự đáp ứng chung mà trước đây chúng ta đã đề cập. Những tác động ấy dễ dàng được dẫn dắt vào những hoạt động mà, xét trên bình diện quần chúng, được thể hiện như nỗ lực từ thiện, như các thử nghiệm giáo dục, hoặc các nỗ lực xã hội trong đời sống cộng đồng. Những người đáp ứng như thế đông vô kể, và ý chí phụng sự theo cách đặc thù này không cần thêm xung lực nào. [Nó đang tiến rất xa…] Sự đáp ứng đáng chú ý đối với nhiều chiến dịch thiện chí gần đây chắc chắn chứng tỏ điều này. Nhưng công việc của kiểu người phụng sự mới được hướng đến những người đang thiết lập sự tiếp xúc với linh hồn và vì thế có thể làm việc dưới Định luật Bảo Bình mới đang đi vào. Điều này xoay quanh năng lực đứng vững, không chỉ trong bản thể tinh thần, [chúng ta có thể giúp người khác duy trì sự đứng vững này…] mà còn đứng vững cùng với người khác, làm việc với họ một cách chủ quan, bằng viễn cảm, và một cách tổng hợp. [Cần có sự phụng sự nội tâm, chủ quan…] Sự phân biệt này đáng được chú ý vì người ta có thể dễ dàng phí công bằng cách bước vào những lĩnh vực vốn đã được xử lý tốt từ quan điểm về mức thành tựu của các đơn vị trong lĩnh vực ấy. |
|
3. The third characteristic of the new server is joyfulness. [Page 133] This takes the place of criticfem (that dire creator of misery) and is the silence that sounds. [To uphold in silence the awareness of unity and synthesis – not let the noisy clashing perception of cleavage dominate our minds…] |
3. Đặc điểm thứ ba của người phụng sự mới là niềm vui. [Trang 133] Điều này thay thế cho sự chỉ trích (kẻ tạo ra khốn khổ ghê gớm ấy) và là sự im lặng vang lên. [Giữ vững trong im lặng sự nhận biết về hợp nhất và tổng hợp – không để nhận thức ồn ào về sự chia rẽ thống trị thể trí chúng ta…] |
|
[Joyfulness takes the place of criticism… The emphasis upon contribution is constant…] |
[Niềm vui thay thế cho sự chỉ trích… Sự nhấn mạnh vào sự cống hiến là liên tục…] |
|
It would be well to ponder on these last words, [the silence sounds…] for their true meaning cannot be conveyed in words, but only through a life dedicated to the newer rhythms and to the service of the whole. [Maintaining the sense of wholeness of the rhythmic application of the correct energies within that perceived wholeness…] Then that “sounding joy” and that “joyful sounding” can make its true meaning felt. [We have to work this out in our own experience…] |
Nên suy ngẫm về những lời cuối này, [sự im lặng vang lên…] vì ý nghĩa chân thực của chúng không thể truyền đạt bằng lời, mà chỉ có thể qua một đời sống hiến dâng cho những nhịp điệu mới hơn và cho sự phụng sự toàn thể. [Duy trì cảm thức về tính toàn thể của sự vận dụng nhịp nhàng các năng lượng đúng đắn bên trong tính toàn thể được nhận biết ấy…] Khi đó, “niềm vui vang lên” và “sự vang lên đầy niềm vui” ấy mới có thể làm cho ý nghĩa chân thực của nó được cảm nhận. [Chúng ta phải tự triển khai điều này trong kinh nghiệm của chính mình…] |
|
What effect does service have upon the mind, the emotions and the etheric body? |
Sự phụng sự có tác động gì lên thể trí, cảm xúc và thể dĩ thái? |
|
It must be remembered that it is through its effects that the scientist of the future will begin to deduce the effectual existence of an inner cause, of an inner reality, or of a self or soul. [There will be a tracing backwards, from the outer effect to the inner cause—the soul and its expression…] We have seen that service is not simply an activity of some person or group doing something with good intention for another person or group. [This is outwardly true, but inwardly there is far more…] Service itself is definitely the result of a tremendous inner happening, [strong soul expression through its mechanism…] and when that result is brought about, it will be found to have produced a number of creative secondary causes. These are, primarily, a change in the lower consciousness, a tendency to turn away from the things of the personal self to the larger issues of the group, a reorientation which is real and expressive and a power to change conditions (through creative activity) which is the demonstration of something dynamically new. [Rearrangement of the elements constituting any whole…] As this inner event stabilizes into an equilibrised inner condition, the demonstration of the above changes becomes more regular and less spasmodic and the effects of the new forces flowing into the personality to be later used creatively, will be seen in all three bodies. Thus the true server comes into possession of his instruments for service, [they are inner capacities expressed through his outer instruments-but the inner vehicles are also instruments…] and thenceforth creative work in accordance with the Plan can go forward on all three planes. [The efficient rearranging of energies…] Thus has God, in His wisdom, chosen to [Page 134] limit Himself, and the work of evolution proceeds solely through the medium of His chosen builders [who are His emanations…] and under the direction—on this planet—of those men whose lives are being transformed through soul contact and creative service, and who constitute the planetary Hierarchy. |
Cần nhớ rằng chính qua những tác động của nó mà nhà khoa học tương lai sẽ bắt đầu suy diễn ra sự hiện hữu hữu hiệu của một nguyên nhân nội tại, của một thực tại nội tại, hay của một bản ngã hoặc linh hồn. [Sẽ có một sự lần ngược lại, từ tác động bên ngoài đến nguyên nhân bên trong—linh hồn và sự biểu lộ của nó…] Chúng ta đã thấy rằng sự phụng sự không đơn thuần là một hoạt động của một người hay một nhóm làm điều gì đó với thiện ý cho một người hay một nhóm khác. [Điều này đúng ở bề ngoài, nhưng bên trong còn nhiều hơn thế…] Bản thân sự phụng sự chắc chắn là kết quả của một biến cố nội tâm to lớn, [sự biểu lộ mạnh mẽ của linh hồn qua cơ cấu của nó…] và khi kết quả ấy được tạo ra, sẽ thấy rằng nó đã sản sinh một số nguyên nhân thứ cấp mang tính sáng tạo. Những điều này, trước hết, là một sự thay đổi trong tâm thức thấp, một khuynh hướng quay lưng với những điều của bản ngã cá nhân để hướng đến các vấn đề lớn hơn của nhóm, một sự tái định hướng chân thực và có sức biểu đạt và một năng lực thay đổi các điều kiện (qua hoạt động sáng tạo) là sự chứng tỏ một điều gì đó mới mẻ đầy năng động. [Sự sắp xếp lại các yếu tố cấu thành bất kỳ toàn thể nào…] Khi biến cố nội tâm này ổn định thành một trạng thái nội tâm quân bình, sự biểu lộ của các thay đổi nói trên trở nên đều đặn hơn và bớt co giật hơn, và tác động của các mãnh lực mới đang tuôn vào phàm ngã để về sau được dùng một cách sáng tạo, sẽ được thấy trong cả ba thể. Do đó, người phụng sự chân chính nắm giữ các công cụ phụng sự của y, [chúng là các năng lực nội tâm được biểu lộ qua các công cụ bên ngoài của y—nhưng các hiện thể nội tại cũng là công cụ…] và từ đó công việc sáng tạo phù hợp với Thiên Cơ có thể tiến hành trên cả ba cõi. [Sự sắp xếp lại năng lượng một cách hữu hiệu…] Như vậy, Thượng đế, trong minh triết của Ngài, đã chọn [Trang 134] tự giới hạn Ngài, và công cuộc tiến hoá chỉ tiến hành qua trung gian các đấng kiến tạo được Ngài tuyển chọn [là những xuất lộ của Ngài…] và dưới sự chỉ đạo—trên hành tinh này—của những người nam mà đời sống của họ đang được chuyển đổi qua sự tiếp xúc với linh hồn và sự phụng sự sáng tạo, và họ cấu thành Thánh Đoàn hành tinh. |
|
When alignment has been effected, when the at-one-ment has been more constantly made, and when the antaskarana (the bridge connecting the higher and the lower) is in definite process of construction, the true nature of service, as practiced by any individual begins to emerge, [the higher capacities which are the substance of service in the field of love can begin to emerge…] The first effect of the inflowing force of the soul, which is the major factor leading to demonstrated service, is to integrate the personality, and to bring all the three lower aspects of the man into one serving whole. [Internecine warfare between the vehicles is overcome by an integrative harmonization…] This is a difficult and elementary stage from the angle of the student in the Hall of Wisdom. The man becomes aware of his power and capacity, and, having pledged himself to service, he begins furiously [sixth ray word…] to serve; he creates this, that and the other channel for the expression of the force which is driving him; [not much control here… he tears down and destroys just as fast as he creates, [lack discretion, detachment, he cannot stand back and SEE with wisdom…] He temporarily becomes a serious problem to the other servers with whom he may be associated, for he sees no vision but his own, [the driving soul force is not handled with wisdom at first…] and the aura of criticism which surrounds him and the strenuous push of the assertive force within him produces the stumbling of the “little ones” and there has to be constant repair work undertaken (on his behalf) by older, more experienced disciples. He becomes the victim, for the time, of his own aspiration to serve, and of the force which is flowing through him. This stage will in some cases fan into flame the latent seeds of ambition. [Spiritual ambition…to be recognized as a server and disciple ….] This ambition is, in the last analysis, only the personality urge towards betterment, and in its right place and time is a divine asset, but it has to be rooted out when the personality becomes the instrument of the soul. In other cases, the server [Page 1351 will come into a wider and more loving vision, and, taking his eyes off his own accomplishment, will go to work in silent unison [not calling attention to one’s personal self…] with the groups of all true servers. He will submerge his personality tendencies, his ideas and his ambitions in the greater good of the whole, and self will be lost to sight. [Difficult to accomplish…] Perhaps no better suggestion can be made to the man or woman who seeks to function as a true server than to ask them to repeat daily, with their whole hearts and minds behind the words, the dedication at the conclusion of the Esoteric Catechism, which is included at the end of Initiation, Human and Solar. I would remind such servers that if they revolt or are dismayed by the ideas embodied in the words, that is perhaps an indication of how much they need the impression of this life objective upon their consciousness. That pledge runs as follows: |
Khi sự chỉnh hợp đã được thực hiện, khi sự hợp nhất đã được tạo lập một cách thường xuyên hơn, và khi antahkarana (cây cầu nối giữa phần cao và phần thấp) đang ở trong tiến trình kiến tạo rõ rệt, bản chất chân thực của sự phụng sự, như được thực hành bởi bất kỳ cá nhân nào, bắt đầu xuất hiện, [các năng lực cao hơn là chất liệu của sự phụng sự trong lĩnh vực bác ái có thể bắt đầu xuất hiện…] Tác động đầu tiên của mãnh lực linh hồn đang tuôn vào, là yếu tố chủ yếu dẫn đến sự phụng sự được biểu lộ, là tích hợp phàm ngã, và đưa cả ba phương diện thấp của con người vào một toàn thể phụng sự duy nhất. [Cuộc chiến tương tàn giữa các hiện thể được vượt qua nhờ một sự hoà điệu tích hợp…] Đây là một giai đoạn khó khăn và sơ đẳng theo quan điểm của đạo sinh trong Phòng Minh triết. Người ấy trở nên ý thức về quyền năng và năng lực của mình, và, đã hiến dâng mình cho sự phụng sự, y bắt đầu phụng sự một cách cuồng nhiệt [từ ngữ cung sáu…]; y tạo ra kênh này, kênh kia cho sự biểu lộ của mãnh lực đang thúc đẩy y; [chưa có nhiều kiểm soát ở đây…] y phá đổ và hủy hoại nhanh chẳng kém gì y tạo dựng, [thiếu phân biện, tách rời, y không thể lùi lại và THẤY bằng minh triết…] Y tạm thời trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với những người phụng sự khác mà y có thể liên kết, vì y không thấy tầm nhìn nào ngoài tầm nhìn của chính y, [mãnh lực linh hồn thúc đẩy lúc đầu chưa được xử lý bằng minh triết…] và hào quang chỉ trích bao quanh y cùng sự thúc đẩy căng thẳng của mãnh lực khẳng định bên trong y gây ra sự vấp ngã của “những kẻ bé mọn” và phải có công việc sửa chữa liên tục được thực hiện (thay cho y) bởi các đệ tử lớn tuổi hơn, giàu kinh nghiệm hơn. Y trở thành nạn nhân, trong một thời gian, của chính khát vọng phụng sự của y, và của mãnh lực đang tuôn chảy qua y. Giai đoạn này, trong một số trường hợp, sẽ thổi bùng những hạt giống tham vọng tiềm ẩn. [Tham vọng tinh thần… muốn được công nhận là người phụng sự và đệ tử….] Tham vọng này, xét đến cùng, chỉ là thôi thúc của phàm ngã hướng đến sự cải thiện, và ở đúng chỗ và đúng thời điểm thì là một tài sản thiêng liêng, nhưng nó phải bị nhổ tận gốc khi phàm ngã trở thành công cụ của linh hồn. Trong những trường hợp khác, người phụng sự [Trang 1351 sẽ đi vào một tầm nhìn rộng hơn và đầy bác ái hơn, và, rời mắt khỏi thành tựu của chính y, sẽ bắt tay làm việc trong sự hoà điệu thầm lặng [không thu hút sự chú ý vào bản ngã cá nhân…] với các nhóm của mọi người phụng sự chân chính. Y sẽ dìm xuống các khuynh hướng phàm ngã, các ý tưởng và các tham vọng của y vào thiện ích lớn hơn của toàn thể, và bản ngã sẽ khuất khỏi tầm nhìn. [Khó thực hiện…] Có lẽ không có gợi ý nào tốt hơn có thể đưa ra cho người nam hay người nữ đang tìm cách hoạt động như một người phụng sự chân chính hơn là yêu cầu họ hằng ngày lặp lại, với trọn trái tim và thể trí đặt sau những lời, lời hiến dâng ở phần kết của Giáo Lý Vấn Đáp Huyền Bí, được đưa vào ở cuối tác phẩm Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Tôi xin nhắc những người phụng sự ấy rằng nếu họ phản kháng hoặc bối rối trước những ý tưởng hàm chứa trong các lời ấy, thì đó có lẽ là một chỉ dấu cho thấy họ cần đến mức nào sự in dấu của mục tiêu đời sống này lên tâm thức của họ. Lời thệ ước ấy như sau: |
|
“I play my part with stern resolve; with earnest aspiration; I look above, I help below; I dream not, nor I rest; I toil; I serve; I reap; I pray; I am the Cross; I am the Way; I tread upon the work I do, I mount upon my slain self; I kill desire, and I strive, forgetting all reward. I forego peace; I forfeit rest, and, in the stress of pain, I lose myself and find Myself and enter into peace. To all this I solemnly pledge myself, invoking my Higher Self.” |
“Tôi đóng vai phần của tôi với quyết tâm nghiêm nghị; với khát vọng chân thành; tôi nhìn lên, tôi giúp xuống; tôi không mộng tưởng, cũng không nghỉ ngơi; tôi lao tác; tôi phụng sự; tôi gặt hái; tôi cầu nguyện; tôi là Thập giá; tôi là Con Đường; tôi giẫm lên công việc tôi làm, tôi bước lên trên bản ngã đã bị tôi giết; tôi giết dục vọng, và tôi phấn đấu, quên hết mọi phần thưởng. Tôi từ bỏ bình an; tôi đánh mất nghỉ ngơi, và, trong áp lực của đau đớn, tôi đánh mất mình và tìm thấy Bản Ngã của tôi và đi vào bình an. Với tất cả điều này, tôi long trọng tự thệ ước, khẩn cầu Bản Ngã Cao Siêu của tôi.” |
|
[First there occurred the integrating of the personality into one serving unit…with much struggle in doing so…] |
[Trước hết đã xảy ra sự tích hợp phàm ngã thành một đơn vị phụng sự… với nhiều đấu tranh khi làm như vậy…] |
|
As the work of learning to serve proceeds and the inner contact becomes more sure, the next thing which will occur will be a deepening of the life of meditation, and a more frequent illumining of the mind by the light of the soul, [compared to the personality consciousness, the soul is all-knowing…] Thereby the Plan is revealed. This will not be the shedding of that light upon the plans of the server either for his own life or upon his chosen field of service. This must be clearly grasped. [Clearing up misconceptions as He goes…] That might only indicate (if it seems to occur) the mental agility of the server to find means for the justification of his own ambition. [Glamor of guidance…] It will be the recognition, in the mind, of the Plan of God for the world at the particular time in [Page 1361 which the server is existing, and the part that he may play in furthering the ends of those who are responsible for the carrying forward of that Plan. [The sight is on the Plan, and the objective of the greater Servers of the Plan, and only then, how, he, in his life, may serve the Plan-related objectives of those greater Servers…] He then becomes willing [this is often an act-of-will—willing to see our lesser self reduced in stature because a new sense of perspective if developing…] to be a tiny part of a greater Whole, [That this is an act of decentralization…] and this attitude never varies, even when the disciple has become a Master of the Wisdom, [the Master of the Wisdom is a point within a circle…] He is then in contact with a still vaster concept of the Plan and His humility and His sense of proportion remain unchanged. [Maybe humility increases—certainly his understanding of the negligibility of the point increases…] |
Khi công việc học cách phụng sự tiến triển và sự tiếp xúc nội tâm trở nên chắc chắn hơn, điều kế tiếp sẽ xảy ra là đời sống tham thiền được đào sâu, và thể trí được soi sáng thường xuyên hơn bởi ánh sáng của linh hồn, [so với tâm thức phàm ngã, linh hồn là toàn tri…] nhờ đó Thiên Cơ được mặc khải. Điều này sẽ không phải là sự rọi ánh sáng ấy lên các kế hoạch của người phụng sự cho đời sống riêng của y hay lên lĩnh vực phụng sự mà y đã chọn. Điều này phải được nắm rõ. [Ngài làm sáng tỏ những ngộ nhận khi Ngài tiếp tục…] Điều đó, nếu dường như xảy ra, có thể chỉ cho thấy sự lanh lợi trí tuệ của người phụng sự trong việc tìm phương tiện để biện minh cho tham vọng của chính y. [Ảo cảm về sự hướng dẫn…] Đó sẽ là sự nhận biết, trong thể trí, về Thiên Cơ của Thượng đế cho thế giới vào thời điểm đặc thù mà [Trang 136] người phụng sự đang hiện hữu, và phần việc mà y có thể đảm nhiệm trong việc thúc đẩy các mục tiêu của những vị chịu trách nhiệm đem Thiên Cơ ấy tiến về phía trước. [Tầm nhìn đặt trên Thiên Cơ, và mục tiêu của các Người Phụng Sự lớn hơn của Thiên Cơ, và chỉ khi đó, y, trong đời sống của y, có thể phụng sự các mục tiêu liên hệ Thiên Cơ của các Người Phụng Sự lớn hơn ấy như thế nào…] Khi ấy, y trở nên sẵn lòng [điều này thường là một hành động-ý chí—sẵn lòng thấy bản ngã nhỏ bé của chúng ta bị giảm tầm vóc vì một ý thức phối cảnh mới đang phát triển…] trở thành một phần rất nhỏ của một Toàn Thể lớn hơn, [đây là một hành động phi tập trung vào bản thân…] và thái độ này không bao giờ thay đổi, ngay cả khi đệ tử đã trở thành một Chân sư Minh triết, [Chân sư Minh triết là một điểm ở trong một vòng tròn…] Khi ấy, Ngài tiếp xúc với một khái niệm còn bao la hơn về Thiên Cơ, và sự khiêm nhường cùng ý thức về tỉ lệ của Ngài vẫn không đổi. [Có lẽ khiêm nhường tăng lên—chắc chắn sự thấu hiểu về tính không đáng kể của điểm ấy tăng lên…] |
|
An integrated, [to some extent in contact with the soul…], intelligent personality is adequate to deal with the working out of the server’s part in the active work of the world, [there is not need for the soul to be advising at every step… let alone the Master…] provided his vision is not blurred by personal ambition nor his activity such that it degenerates into a sense of rush and a display of busy feverishness. [Haste makes waste…] It takes the soul itself to reveal to the poised and peaceful1 mind the next step to be taken in the work of world evolution, through the impartation of ideas. [suggesting the manner of service for disciples…the impartation of ideas…] Such is the Plan for humanity. [The integrated personality can reveal the next step ahead for the individual, but it takes the soul itself to reveal the next step ahead for humanity and the world…] |
Một phàm ngã tích hợp, [ở một mức độ nào đó đang tiếp xúc với linh hồn…], thông minh, là đủ để xử lý việc triển khai phần việc của người phụng sự trong công tác năng động của thế giới, [không cần linh hồn phải cố vấn ở mỗi bước… càng không nói đến Chân sư…] miễn là tầm nhìn của y không bị làm mờ bởi tham vọng cá nhân và hoạt động của y không đến mức suy thoái thành một cảm giác vội vã và một sự phô bày cuồng nhiệt bận rộn. [Vội thì hỏng việc…] Chính linh hồn mới có thể mặc khải cho thể trí quân bình và an tĩnh1 bước kế tiếp cần được thực hiện trong công cuộc tiến hoá thế gian, qua việc truyền đạt các ý tưởng. [gợi ý phương thức phụng sự cho các đệ tử… việc truyền đạt các ý tưởng…] Đó là Thiên Cơ cho nhân loại. [Phàm ngã tích hợp có thể mặc khải bước kế tiếp cho cá nhân, nhưng chính linh hồn mới có thể mặc khải bước kế tiếp cho nhân loại và thế giới…] |
|
As the force pours through the personality and gives to the server this necessary vision [soul confers a higher vision…] and the sense of power which will enable him to cooperate, it finds its way into the emotional or astral body. Here again the effect will be dual, owing to the condition of the server’s astral body and his inner orientation. [The application of a higher force itself is no guarantee that the result will be good or serviceable…] It may enhance the glamour and deepen the illusion, swinging the server into the psychic illusory effects there to be found. [It is not the soul per se which rids us of glamor but the directed, clear, illumined beam of mind…] When this happens, he will emerge upon the physical plane glamoured by the idea, for instance, of his amazing personal contacts, whereas he has only contacted some group thought-form of the Great Ones. [This is common…] He will be under the illusion that he is a chosen vessel or mouthpiece for the Hierarchy, when the truth is that he is deceived by the many voices, because the Voice of the Silence has been dimmed by the clamour of the astral plane; [not in touch with the still small voice…] he will be deluded by the idea that there is no other way but his way. [The sixth ray types fall victim to this type of glamour..]. Such an illusion and deception is common among teachers and workers everywhere [Page 137] today, because so many are definitely making a contact with their souls, and are being swept then into the desire for service; they are not yet free, however, from ambition, and their orientation is still basically towards personality expression, and not to the merging of themselves in the Group of World Servers. [An act of humility…] If however they can avoid glamour, and can discriminate between the Real and the unreal, then the inflowing force will flood their lives with effective unselfish love and with devotion to the Plan, to those whom the Plan serves, and to Those Who serve the Plan. Note the sequence of these attitudes, and govern yourselves accordingly. There will then be no room for self-interest, self-assertiveness, or selfish ambition. All that is considered is the need and the driving necessity to take the next immediate step to meet that need as it demonstrates before the server’s eyes. |
Khi mãnh lực tuôn qua phàm ngã và ban cho người phụng sự tầm nhìn cần thiết này [linh hồn ban một tầm nhìn cao hơn…] và cảm thức quyền năng sẽ giúp y hợp tác, nó sẽ tìm đường đi vào thể cảm dục hay thể cảm xúc. Ở đây nữa, tác động sẽ là kép, do tình trạng thể cảm dục của người phụng sự và định hướng nội tâm của y. [Bản thân việc áp dụng một mãnh lực cao hơn không bảo đảm rằng kết quả sẽ tốt hay hữu ích…] Nó có thể làm tăng ảo cảm và làm sâu thêm ảo tưởng, đẩy người phụng sự vào các tác động ảo tưởng thông linh có thể tìm thấy ở đó. [Không phải chính linh hồn, xét chính nó, loại bỏ ảo cảm khỏi chúng ta mà là tia thể trí được định hướng, rõ ràng, được soi sáng…] Khi điều này xảy ra, y sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần bị ảo cảm bởi ý tưởng, chẳng hạn, về những tiếp xúc cá nhân kỳ diệu của y, trong khi y chỉ mới tiếp xúc với một hình tư tưởng nhóm của Các Đấng Cao Cả. [Điều này phổ biến…] Y sẽ ở trong ảo tưởng rằng y là một vận cụ hay phát ngôn viên được tuyển chọn cho Thánh Đoàn, trong khi sự thật là y bị đánh lừa bởi nhiều tiếng nói, vì Tiếng Nói của Im Lặng đã bị làm mờ bởi tiếng huyên náo của cõi cảm dục; [không tiếp xúc với tiếng nói nhỏ nhẹ tĩnh lặng…] y sẽ bị mê hoặc bởi ý tưởng rằng không có con đường nào khác ngoài con đường của y. [Những người cung sáu thường trở thành nạn nhân của kiểu ảo cảm này..]. Sự ảo tưởng và lừa dối như thế là phổ biến nơi các huấn sư và người hoạt động khắp nơi [Trang 137] ngày nay, vì rất nhiều người chắc chắn đang tạo lập sự tiếp xúc với linh hồn của họ, và rồi bị cuốn vào dục vọng phụng sự; tuy nhiên, họ chưa được tự do khỏi tham vọng, và định hướng của họ vẫn căn bản hướng về sự biểu lộ phàm ngã, chứ không hướng đến việc hoà nhập họ vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. [Một hành động khiêm nhường…] Tuy nhiên, nếu họ có thể tránh ảo cảm, và có thể phân biện giữa Thực và phi thực, thì mãnh lực đang tuôn vào sẽ tràn ngập đời sống họ bằng tình thương vô ngã hữu hiệu và bằng sự tận hiến đối với Thiên Cơ, đối với những người mà Thiên Cơ phụng sự, và đối với Những Đấng phụng sự Thiên Cơ. Hãy lưu ý trình tự của các thái độ này, và hãy tự điều chỉnh cho phù hợp. Khi ấy sẽ không còn chỗ cho tư lợi, tính khẳng định bản thân, hay tham vọng ích kỷ. Tất cả những gì được xét đến là nhu cầu và sự tất yếu thúc đẩy phải thực hiện bước kế tiếp ngay tức khắc để đáp ứng nhu cầu ấy khi nó được biểu lộ trước mắt người phụng sự. |
|
With the heart and mind then functioning together (either in selfish coalition for the presentation of an active personality, or in dedicated selflessness and the attitude which is oriented towards soul guidance) the force, flowing through the server will galvanise his etheric body into activity. [Especially in the New Age governed by Aquarius which governs in part, the etheric body…] Then, automatically, the physical body will respond. [We will become less materialistic in our consciousness…] There is, consequently, a great need for the server to pause upon the astral plane, [Dealing also here with white magic…] and there, in a holy and controlled silence, wait, before permitting the force to pour through into the centres in the etheric body. [Avoiding rushing into action…this requires POISE…the willingness to wait is a high demonstration of the will…] This point of silence is one of the mysteries of spiritual unfoldment. Once the force or energy of the soul—preserved in its purity, or tainted and sidetracked on its way through into physical manifestation—has reached the etheric body, there is nothing more to be done by the average disciple. The result, when it reaches that point, is inevitable and effective. [The physical body will automatically respond… thus we must check our motives…] The inner thought and the desire life determine the activity which will be expressed physically. [Examine the energy we are about to release into physical activity…] When the force comes through in purity, it brings the centres above the [Page 138] diaphragm steadily into activity; when it comes through, tainted by personality trends, it uses primarily the solar plexus, and then sweeps into manifestation all the astral illusions, the grandiose delusions and the glamours of egoistic phenomena, using the word “egoistic” in its usual worldly, psychological connotation. This can easily be seen today among the leaders of various groups. [Hitler, Mussolini…] |
Khi tâm và lúc ấy hoạt động cùng nhau (hoặc trong sự liên minh ích kỷ để trình bày một phàm ngã năng động, hoặc trong sự vô ngã hiến dâng và thái độ được định hướng về sự hướng dẫn của linh hồn) thì mãnh lực, đang tuôn qua người phụng sự, sẽ kích hoạt thể dĩ thái của y vào hoạt động. [Đặc biệt trong Kỷ Nguyên Mới do Bảo Bình chi phối, vốn chi phối một phần thể dĩ thái…] Khi đó, một cách tự động, thể xác sẽ đáp ứng. [Chúng ta sẽ bớt duy vật hơn trong tâm thức…] Vì thế, người phụng sự rất cần dừng lại trên cõi cảm dục, [Ở đây cũng đang bàn đến chánh thuật…] và ở đó, trong một sự im lặng thiêng liêng và được kiểm soát, hãy chờ đợi, trước khi cho phép mãnh lực tuôn qua vào các trung tâm trong thể dĩ thái. [Tránh lao vào hành động… điều này đòi hỏi SỰ QUÂN BÌNH… sự sẵn lòng chờ đợi là một biểu lộ cao của ý chí…] Điểm im lặng này là một trong những huyền nhiệm của sự khai mở tinh thần. Một khi mãnh lực hay năng lượng của linh hồn—được giữ trong sự tinh khiết của nó, hoặc bị vấy bẩn và bị chệch hướng trên đường đi vào sự biểu lộ hồng trần—đã đến thể dĩ thái, thì người đệ tử trung bình không còn làm gì thêm được nữa. Kết quả, khi đã đến điểm ấy, là tất yếu và hữu hiệu. [Thể xác sẽ tự động đáp ứng… vì vậy chúng ta phải kiểm tra động cơ của mình…] Tư tưởng nội tâm và đời sống dục vọng quyết định hoạt động sẽ được biểu lộ về mặt thể xác. [Hãy khảo sát năng lượng mà chúng ta sắp phóng thích vào hoạt động hồng trần…] Khi mãnh lực đi qua trong sự tinh khiết, nó đưa các trung tâm phía trên [Trang 138] cơ hoành vào hoạt động một cách đều đặn; khi nó đi qua bị vấy bẩn bởi các khuynh hướng phàm ngã, nó chủ yếu sử dụng tùng thái dương, rồi tràn vào sự biểu lộ tất cả các ảo tưởng cảm dục, các hoang tưởng tự tôn và các ảo cảm của hiện tượng ngã chấp, dùng từ “ngã chấp” theo nghĩa tâm lý học thế tục thông thường. Điều này có thể dễ dàng thấy ngày nay nơi các lãnh đạo của nhiều nhóm khác nhau. [Hitler, Mussolini…] |
|
b. DISTINCTIVE METHODS OF RAY SERVICE— |
b. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHỤNG SỰ ĐẶC THÙ THEO CUNG— |
|
Does this science prove that the seven ray types employ distinctive methods in service? |
Khoa học này có chứng minh rằng bảy loại cung sử dụng những phương pháp đặc thù trong phụng sự không? |
|
As time goes on this will be proved decidedly, and each ray worker and server will be found to render his service along peculiar and specific lines. [By their fruits ye shall know them…] These indicate for him the line of least resistance and, consequently, of the greatest efficiency. [We eliminate friction and inefficiency when we serve according to the energy qualities with which we are endowed…] These methods and techniques will constitute the inner structure of the coming Science of Service, and they will be discovered through the admission of the Ray hypothesis and an observation of the methods employed by these clearly isolated Ray types and groups. These differing ways of service, all of them, work in conformity with the Plan, and together produce a synthetic whole. The ray or rays in manifestation at any one time will determine the general trend of the world service, and those servers whose egoic ray is in incarnation, and who are endeavoring to work with right activity, will find their work facilitated if they understand that the trend of affairs is with them and that they are following the line of least resistance at that period. They will work with greater facility than will the disciples and aspirants whose egoic ray is out of manifestation. This recognition will lead to a careful study of times and seasons, [Such as the Masters now study…they know when to act and with what energy…] thus there will be no waste effort, and real advantage can be taken of the qualifications and aptitudes of the servers available. [No fruitless expenditure of energy…] All will [Page 139] be in conformity with the Plan. A consideration of the rays in or out of manifestation, and a recognition of the disciples and servers available on the physical plane at any one time, is part of the work of the Masters in the Hierarchy. |
Theo thời gian, điều này chắc chắn sẽ được chứng minh, và mỗi người hoạt động và người phụng sự theo cung sẽ được thấy là thực hiện sự phụng sự của mình theo những đường lối đặc thù và chuyên biệt. [Cứ xem quả thì biết cây…] Những điều này chỉ ra cho y con đường ít trở ngại nhất và, do đó, là hiệu quả lớn nhất. [Chúng ta loại bỏ ma sát và kém hiệu quả khi phụng sự theo các phẩm tính năng lượng mà chúng ta được phú cho…] Những phương pháp và kỹ thuật này sẽ cấu thành cấu trúc nội tại của Khoa Học Phụng Sự sắp đến, và chúng sẽ được khám phá qua việc chấp nhận giả thuyết về các cung và quan sát các phương pháp được sử dụng bởi những loại và nhóm cung được cô lập rõ rệt này. Tất cả những cách phụng sự khác nhau ấy đều làm việc phù hợp với Thiên Cơ, và cùng nhau tạo ra một toàn thể tổng hợp. Cung hay các cung đang biểu lộ vào bất kỳ thời điểm nào sẽ quyết định xu hướng chung của sự phụng sự thế gian, và những người phụng sự mà cung chân ngã của họ đang lâm phàm, và đang nỗ lực làm việc với hoạt động đúng đắn, sẽ thấy công việc của họ được thuận lợi nếu họ hiểu rằng xu hướng của sự việc đứng về phía họ và rằng họ đang đi theo con đường ít trở ngại nhất trong giai đoạn ấy. Họ sẽ làm việc dễ dàng hơn so với các đệ tử và người chí nguyện có cung chân ngã đang không biểu lộ. Sự nhận biết này sẽ dẫn đến một sự nghiên cứu cẩn trọng về thời điểm và mùa kỳ, [Như các Chân sư hiện đang nghiên cứu… Các Ngài biết khi nào hành động và với năng lượng nào…] nhờ đó sẽ không có sự phí công, và có thể tận dụng thực sự các phẩm chất và năng lực của những người phụng sự sẵn có. [Không tiêu hao năng lượng vô ích…] Tất cả sẽ phù hợp với Thiên Cơ. Việc xét đến các cung đang biểu lộ hay không biểu lộ, và việc nhận biết các đệ tử và người phụng sự sẵn có trên cõi hồng trần vào bất kỳ thời điểm nào, là một phần công việc của các Chân sư trong Thánh Đoàn. |
|
[The apportionment of the workers will occur through the knowledge of the Masters…] |
[Sự phân bổ những người hoạt động sẽ diễn ra nhờ tri thức của các Chân sư…] |
|
[End of LOTSWC 14,p. 139…] |
[Kết thúc LOTSWC 14,tr. 139…] |
|
Beginning with LOTSWC 15, |
Bắt đầu với LOTSWC 15, |
Commentary
|
Hello everyone, good morning here. This is the 7th of January, 2014 and we are continuing with the Laws of the Soul Webinar Commentary. When I closed the last program, I think I might have said, The Light of the Soul Webinar Commentary. Well, that would be an entirely different book, The Yoga Sutras of Patanjali. We are on page 131 of Esoteric Psychology 2, and we’re continuing with the questions which the Tibetan has posed, in which He is then answering himself. |
Xin chào mọi người, chào buổi sáng tại đây. Hôm nay là ngày 7 tháng 1 năm 2014 và chúng ta đang tiếp tục với phần Hội thảo trực tuyến bình luận về Các Định luật của Linh hồn. Khi kết thúc chương trình trước, tôi nghĩ mình có thể đã nhầm khi nói Hội thảo trực tuyến bình luận về Ánh sáng của Linh hồn. Đó sẽ là một quyển sách hoàn toàn khác, Các Kinh Yoga của Patanjali. Chúng ta đang ở trang 131 của Tâm Lý Học Nội Môn 2, và tiếp tục với những câu hỏi do Chân sư Tây Tạng nêu ra, trong đó Ngài tự mình trả lời. |
|
What are the characteristics of the true server? [14-1] |
Những đặc điểm của người phụng sự chân chính là gì? |
|
This is the next question, and He tells us that |
Đây là câu hỏi kế tiếp, và Ngài cho chúng ta biết rằng |
|
These characteristics can be easily and briefly noted. They are not exactly what one may have been led to believe. |
Những đặc điểm này có thể được ghi nhận một cách dễ dàng và ngắn gọn. Chúng không hẳn như điều người ta vẫn được dẫn dắt để tin. |
|
This is precisely the case for this entire section on service. It’s such a familiar idea that DK had to awaken us to a different perspective. When he’s dealing with the Law of Magnetic Impulse, it’s not at all a familiar idea. When dealing with the Law of Sacrifice, again it is a familiar idea, and He gave us a different perspective. |
Điều này đúng cho toàn bộ phần về phụng sự. Đó là một ý niệm quen thuộc đến mức Chân sư DK phải đánh thức chúng ta vào một tầm nhìn khác. Khi Ngài bàn về Định luật Xung Động Từ Tính, đó lại không phải là một ý niệm quen thuộc. Khi bàn về Định luật Hi sinh, một lần nữa đó là ý niệm quen thuộc, và Ngài đã cho chúng ta một tầm nhìn khác. |
|
I am not here speaking of the qualifications required for the treading of the Path of Discipleship or the Probationary Path. These are well known. |
Ở đây Tôi không nói đến những phẩm chất cần có để đi trên Con Đường Đệ Tử hay Con Đường Dự Bị. Những điều ấy vốn đã quen thuộc. |
|
They certainly have been presented in both the Theosophical Works and by Master DK extensively. |
Quả thật, chúng đã được trình bày rộng rãi trong các trước tác của Thông Thiên Học và bởi Chân sư DK. |
|
They are the platitudes of the spiritual life, and constitute the battleground, or the Kurukshetra of most aspirants. [14-2] |
Chúng là những chân lý quen thuộc của đời sống tinh thần, và tạo nên chiến địa, hay Kurukshetra, của hầu hết những người chí nguyện. |
|
As they struggle to fulfill these requirements, and disciples are struggling too. I mean, in a way, every disciple is an aspirant to a still higher state, and so there will always be struggles in the attempt to fulfill the requirements presented because they are beyond the achievements, the present achievements of the individual. |
Trong khi họ phấn đấu để hoàn tất những yêu cầu này, các đệ tử cũng đang phấn đấu. Nghĩa là, theo một nghĩa nào đó, mọi đệ tử đều là người chí nguyện hướng đến một trạng thái cao hơn nữa, và như thế sẽ luôn có những cuộc đấu tranh trong nỗ lực hoàn tất các đòi hỏi được nêu ra, bởi chúng vượt quá những thành tựu hiện tại của cá nhân. |
|
We are here concerned with those qualities which will emerge when a man is working under the impulse of the Law of Service. They will appear when he is a real channel for the life of the soul. |
Ở đây, chúng ta quan tâm đến những phẩm tính sẽ xuất lộ khi một người làm việc dưới xung lực của Định luật Phụng sự. Chúng sẽ xuất hiện khi y thực sự là một kênh cho sự sống của linh hồn. |
|
The qualities that will appear when a man truly is expressing as a soul. These are not the requirements he is attempting to express. These are the requirements that he will express, and |
Những phẩm tính sẽ xuất hiện khi một người thật sự biểu lộ như một linh hồn. Đây không phải là những đòi hỏi y đang cố gắng biểu lộ; đây là những đòi hỏi mà y sẽ biểu lộ, và |
|
His major characteristics will then be three in number:— [14-3] |
Khi ấy, những đặc tính chủ yếu của y sẽ gồm ba điều:— |
|
1. He will be distinguished, as might be expected, by the quality of harmlessness, |
1. Như có thể dự liệu, Y sẽ được phân biệt bởi phẩm tính vô tổn hại, |
|
which we just reviewed, |
mà chúng ta vừa ôn lại, |
|
and by an active refraining from those acts and that speech which might hurt or cause any misunderstanding. |
và bằng sự chủ động kiêng tránh các hành vi và lời nói có thể gây tổn thương hoặc gây ra bất kỳ hiểu lầm nào. |
|
I think in the world of politics and journalism we do not see this refraining, do we? |
Tôi nghĩ trong thế giới chính trị và báo chí, chúng ta không thấy sự kiêng tránh này, phải không? |
|
By no word, suggestion, implication, innuendo or voiced dissatisfaction will he hurt his group. |
Bằng không một lời nói, gợi ý, hàm ý, bóng gió hay bộc lộ bất mãn nào, y sẽ gây tổn hại cho nhóm của y. |
|
This is different from what we might have expected. |
Điều này khác với điều chúng ta có thể trông đợi. |
|
You will note that I do not say “will not hurt any individual.” Those working under the Law of Service need no reminder not to hurt any individual. [14-4] They often need, under the exuberance of spiritual stimulation and the intensity of their aspiration, to be reminded to demonstrate group harmlessness. |
Các bạn sẽ lưu ý rằng Tôi không nói “sẽ không gây tổn thương cho bất kỳ cá nhân nào.” Những ai làm việc dưới Định luật Phụng sự không cần nhắc nhở để khỏi làm tổn thương cá nhân. Họ thường cần, dưới sự phấn khởi do kích thích tinh thần và cường độ của chí nguyện, được nhắc nhở phải biểu lộ tính vô tổn hại đối với nhóm. |
|
So, the key here is that they must demonstrate group harmlessness. You wonder where the opportunity for direct words, when necessary, arises. DK has said sometimes there will be an unpleasant outer discussion, but it will all be within the field of love and for the greater benefit of the group. I think we can see here what fine distinctions must be made. When can the truth be spoken, if that truth perhaps is somewhat unpleasant? Are there other ways to approach, rather than direct ways? All of this has to be worked out in the response of the true server. I think we can use Master DK as an example. He has sometimes had to say to disciples certain things that they did not want to hear, But the manner in which He said them were filled with love and detachment, and He offered to analyze situations for them in the light of truth. This being the case, the direct words did not cause the harm that they otherwise might have if the motive was not that of love. So, the key here, in this first requirement of the true server, is the quality of harmlessness, and this we have reviewed before, |
Vì vậy, điểm then chốt là họ phải biểu lộ tính vô tổn hại đối với nhóm. Bạn tự hỏi cơ hội cho lời nói thẳng thắn, khi cần, phát sinh ở đâu. Chân sư DK có nói, đôi khi sẽ có cuộc thảo luận bề ngoài không dễ chịu, nhưng tất cả diễn ra trong trường của tình thương và vì lợi ích lớn hơn của nhóm. Ở đây chúng ta có thể thấy cần phải phân biệt tinh tế đến mức nào. Khi nào sự thật có thể được nói ra, nếu sự thật ấy có lẽ có phần khó nghe? Có những cách tiếp cận khác thay vì cách trực diện chăng? Tất cả những điều này phải được giải quyết trong sự đáp ứng của người phụng sự chân chính. Tôi nghĩ chúng ta có thể lấy Chân sư DK làm gương. Đôi khi Ngài phải nói với các đệ tử những điều họ không muốn nghe, nhưng cách Ngài nói tràn đầy tình thương và sự tách rời, và Ngài đề nghị phân tích các tình huống cho họ trong ánh sáng của chân lý. Như vậy, lời trực tiếp đã không gây hại như lẽ ra có thể, nếu động cơ không phải là tình thương. Vì thế, mấu chốt trong đòi hỏi thứ nhất của người phụng sự chân chính là phẩm tính vô tổn hại, điều này chúng ta đã ôn lại trước đây, |
|
2. The second characteristic is a willingness to let others serve as seems best to them, |
2. Đặc tính thứ hai là sẵn lòng để người khác phụng sự theo cách họ cho là tốt nhất, |
|
These are the relinquishments, the various sacrifices that we have had to go through, and these were undertaken in the discussion of the law of sacrifice. |
Đây là những sự buông bỏ, những hi sinh khác nhau mà chúng ta đã phải trải qua, và chúng đã được đề cập khi bàn về định luật hi sinh. |
|
knowing that the life flowing through the individual server must find its own channels and outlets, |
biết rằng sự sống tuôn chảy qua người phụng sự phải tự tìm lấy các kênh và lối thoát của nó, |
|
according, I would say, to the experience and the energy configuration of the server, |
Tôi muốn nói, là theo kinh nghiệm và cấu hình năng lượng của người phụng sự, |
|
and that direction of these currents can be dangerous and prevent the rendering of the intended service. [14-5] |
và việc định hướng các dòng chảy này có thể nguy hiểm và ngăn trở việc thực hiện sự phụng sự được dự định. |
|
In other words, if we try to direct the flow of energy that is flowing through a fellow server and direct it without true knowledge of his karma, his dharma, his energy system, the service might be thwarted. |
Nói cách khác, nếu chúng ta cố hướng dòng năng lượng đang tuôn qua một bạn đồng phụng sự mà không có hiểu biết chân thực về nghiệp quả, dharma, hệ thống năng lượng của người đó, thì sự phụng sự có thể bị cản trở. |
|
The server’s efforts will be turned in two directions:— |
Nỗ lực của người phụng sự sẽ hướng theo hai hướng:— |
|
Once he has relinquished this tendency to compel others to serve as he would have them serve, so then the true server’s efforts will be turned in two directions. |
Khi y đã buông bỏ xu hướng ép người khác phụng sự theo cách mà y muốn họ phụng sự, thì nỗ lực của người phụng sự chân chính sẽ hướng theo hai hướng. |
|
1. To the task of helping others to “stand in spiritual being”, as he himself is learning to stand. [14-6] |
1. Vào nhiệm vụ giúp người khác “đứng vững trong bản thể tinh thần”, như chính y đang học cách đứng vững. |
|
2. To aiding the individual to express his service in his chosen field as he desires to express it, and not as the onlooking helper deems that he should do it. |
2. Vào việc hỗ trợ cá nhân biểu lộ phụng sự của y trong lãnh vực y đã chọn theo cách y mong muốn biểu lộ, chứ không phải theo cách mà người hỗ trợ đứng ngoài cho rằng y nên làm. |
|
So, in fact, we have a tolerant attitude, a hands-off attitude, an attitude of non-interference when it comes to assisting the service of another. |
Vì vậy, thực ra chúng ta có một thái độ bao dung, không can dự, một thái độ không can thiệp khi trợ giúp việc phụng sự của người khác. |
|
Wiser souls than we are, the Masters, for instance, will understand better how an individual may serve because such a Master has a truer understanding than we can possibly have of the individual’s past, the individual’s dharma, the individual’s present energy system. |
Những linh hồn khôn ngoan hơn chúng ta, chẳng hạn các Chân sư, sẽ hiểu rõ hơn một cá nhân có thể phụng sự thế nào, vì một Chân sư có sự thấu hiểu chân xác hơn chúng ta về quá khứ của cá nhân ấy, dharma của cá nhân ấy, và hệ thống năng lượng hiện tại của cá nhân ấy. |
|
One point might here be made clear. The task of those who are working under the Law of Service is not exerted primarily with that group in the world today which is working under the effect of that general response to which we earlier referred. [14-7] |
Một điểm cần làm rõ ở đây. Nhiệm vụ của những ai làm việc dưới Định luật Phụng sự không chủ yếu nhắm tới nhóm người hiện nay trên thế giới đang làm việc dưới ảnh hưởng của sự đáp ứng chung mà trước đó chúng ta có đề cập. |
|
This is interesting because we have to wisely choose those whom we can best serve. So, the groups which are working under the general response to the Aquarian effect are not perhaps our main preoccupation, our main group to assist. These effects are easily shepherded, the effects of Aquarius upon the person who is, and the groups who are not yet at the stage of aspirants or disciples. |
Điều này thú vị, vì chúng ta phải khôn ngoan chọn những người mà chúng ta có thể phụng sự tốt nhất. Vì vậy, các nhóm đang làm việc trong sự đáp ứng chung đối với ảnh hưởng Bảo Bình có lẽ không phải là mối bận tâm chính, không phải nhóm chính yếu để chúng ta trợ giúp. Những hiệu ứng này, ảnh hưởng của Bảo Bình lên những cá nhân và các nhóm chưa ở giai đoạn người chí nguyện hay đệ tử, vốn dễ được dẫn dắt. |
|
These effects are easily shepherded into those activities which, en masse, work out as philanthropic endeavor, as educational experiments, or social efforts in the life of the community. [14-8] |
Những tác động này dễ được dẫn dắt vào các hoạt động mà, xét trên bình diện đại chúng, biểu hiện như nỗ lực từ thiện, như các thử nghiệm giáo dục, hay các nỗ lực xã hội trong đời sống cộng đồng |
|
These are being handled by those who respond to the impression of the Law of Service and understand it in their own way, not in an esoteric way, but understand it as an impulse to help and assist. |
Những điều này đang được những người đáp ứng ấn tượng của Định luật Phụng sự đảm trách và hiểu theo cách riêng của họ, không phải theo cách nội môn, mà hiểu như một xung lực giúp đỡ và hỗ trợ. |
|
The name of those who thus respond is legion, and the will to serve in this particular way needs no impetus. [14-9] |
Số người đáp ứng như vậy đông vô kể, và ý chí phụng sự theo cách đặc thù này không cần bất kỳ xung lực nào. |
|
We can say it is well on its way. Sometimes disciples may question themselves and say, “What really am I doing?” Look at all the needs there are in the world, educational needs, needs to ameliorate living conditions, needs to solve community problems. These needs are there, but they are in process of being dealt with by those who are called to deal with them. The disciple has, I think, another type of obligation. I think D.K. will deal with this. |
Chúng ta có thể nói, nó đã đi vào quỹ đạo. Đôi khi các đệ tử có thể tự vấn: “Rốt cuộc mình đang làm gì vậy?” Hãy nhìn vô vàn nhu cầu trên thế giới—nhu cầu giáo dục, nhu cầu cải thiện điều kiện sống, nhu cầu giải quyết vấn đề cộng đồng. Những nhu cầu ấy có ở đó, nhưng đang được những người được kêu gọi xử lý. Tôi nghĩ người đệ tử có một loại bổn phận khác. Tôi nghĩ Chân sư D.K. sẽ đề cập điều này. |
|
The remarkable response to the many recent campaigns to good will definitely evidenced this. But the work of the new type of server is directed towards those who are establishing soul contact and who can therefore work under the new incoming Aquarian Law. [14-10] |
Sự đáp ứng đáng chú ý đối với nhiều chiến dịch thiện chí gần đây đã chứng tỏ điều này một cách rõ rệt. Nhưng công tác của kiểu người phụng sự mới được hướng đến những ai đang thiết lập sự tiếp xúc linh hồn, và do đó có thể làm việc dưới Định luật Bảo Bình mới đang đến. |
|
Under the Law of Service, and with the deeper esoteric understanding of the Law of Service. So let’s repeat that because that’s very important. |
Dưới Định luật Phụng sự, và với sự thấu hiểu nội môn sâu hơn về Định luật Phụng sự. Vì vậy, hãy lặp lại điều ấy, bởi đó là điều rất quan trọng. |
|
The work of the new type of server is directed towards those who are establishing a definite soul contact and who can therefore work under the new incoming Aquarian law. This centres around the capacity to stand, not only in spiritual being, |
Nhưng công tác của kiểu người phụng sự mới được hướng đến những ai đang thiết lập sự tiếp xúc linh hồn và do đó có thể làm việc dưới Định luật Bảo Bình mới đang đến. Điều này tập trung quanh năng lực đứng vững, không chỉ trong bản thể tinh thần, |
|
And towards this, we, if we have established this in ourselves, can assist others. We can assist others in maintaining this standing, |
Và đối với điều này, nếu chúng ta đã tự mình đạt được, chúng ta có thể trợ giúp người khác. Chúng ta có thể giúp người khác duy trì sự đứng vững ấy, |
|
but together with others, working with them subjectively, telepathically, and synthetically. |
mà còn cùng với những người khác, làm việc với họ một cách chủ quan, bằng viễn cảm, và một cách tổng hợp. |
|
So, interior subjective service is called for. |
Vì vậy, được kêu gọi phụng sự nội tại, chủ quan. |
|
This distinction merits attention, for one can easily waste effort by entering fields already well handled from the point of view of the attainment of the units in that field. [14-11] |
Sự phân biệt này đáng được chú ý vì người ta có thể dễ dàng lãng phí nỗ lực bằng cách bước vào những lĩnh vực vốn đã được xử lý tốt từ quan điểm về mức đạt được của các đơn vị trong lĩnh vực ấy. |
|
The esoteric service mentioned here is not really understood, nor is it universally valued, and so unless the disciple is sure of himself and the value of such an approach, he may question, am I really doing something of service? But DK does direct the attention of the aspirant and the disciple towards a more subjective approach, telepathic approach, the sending of useful thoughts, and a synthetic approach, helping others see the broader picture and function in relation to the larger context. |
Loại phụng sự nội môn được nói đến ở đây thật ra chưa được hiểu, cũng chưa được coi trọng một cách phổ quát, nên trừ phi đệ tử chắc chắn về chính mình và về giá trị của cách tiếp cận như vậy, y có thể tự hỏi: mình có thật sự đang làm điều gì có ích chăng? Nhưng Chân sư DK quả đã hướng sự chú ý của người chí nguyện và đệ tử đến cách tiếp cận chủ quan hơn, tiếp cận viễn cảm, việc gởi đi tư tưởng hữu ích, và cách tiếp cận tổng hợp, giúp người khác thấy bức tranh rộng lớn hơn và vận hành trong mối tương quan với bối cảnh lớn hơn. |
|
So, let us remember this and be in the right field and not work redundantly at something that is already being adequately handled by those who do not have the esoteric perspective and those who could not serve in an esoteric way, and that type of service is also sorely needed. |
Vì vậy, chúng ta hãy ghi nhớ điều này và ở đúng lĩnh vực, đừng làm trùng lặp những việc đã được những người không có tầm nhìn nội môn xử lý một cách hữu hiệu—những người ấy không thể phụng sự theo lối nội môn, và loại phụng sự đó cũng đang rất cần. |
|
3. The third characteristic of the new server is joyfulness. [133] This takes the place of criticism (that dire creator of misery) and is the silence that sounds. [14-12] |
3. Đặc điểm thứ ba của người phụng sự mới là niềm vui. [133] Điều này thay thế cho sự chỉ trích (kẻ tạo tác ghê gớm của sự khốn khổ) và chính là sự im lặng ngân vang. |
|
I think we have a very occult statement here and one that requires from us much pondering. Let us say, we’ll summarize it, joy, joyfulness, takes the place of criticism. When we’re in the state of joy, we are likely to see the soul qualities of others and to encourage those qualities, and their imperfections do not loom overly large. After all, they see our imperfections as well. But it pays, in terms of service, to emphasize soul growth and nascent soul qualities, and this will help them overcome their liabilities, just as we are helped to overcome liabilities when others emphasize and strengthen, and thus strengthen, our own soul qualities. |
Tôi nghĩ đây là một mệnh đề rất huyền linh và đòi hỏi chúng ta phải suy ngẫm nhiều. Chúng ta hãy tóm lược: Niềm vui hay sự hoan hỉ thay thế cho chỉ trích. Khi ở trong trạng thái hoan hỉ, chúng ta có khuynh hướng thấy các phẩm tính linh hồn nơi người khác và khích lệ những phẩm tính ấy, và các bất toàn của họ không còn phình lớn quá mức. Rốt cuộc, họ cũng thấy sự bất toàn của chúng ta. Nhưng về phương diện phụng sự, điều có lợi là nhấn mạnh sự tăng trưởng của linh hồn và những phẩm tính linh hồn mới chớm nở; điều đó sẽ giúp họ vượt qua những khiếm khuyết, cũng như giúp chúng ta vượt qua khiếm khuyết khi người khác nhấn mạnh và làm mạnh thêm—và qua đó làm mạnh thêm—các phẩm tính linh hồn của chính chúng ta. |
|
Now the Master, of course, has to draw occasional attention to the liabilities of the disciple. After all, they are in a special type of training, and he seeks to move quickly, but so often you find DK emphasizing far more the contribution that one of his disciples can make rather than their liabilities. The emphasis upon contribution is constant, and by keeping one’s eyes on the soul, the soul does grow. Of course, any gardener will know, and I’m not saying that I am one, in the conventional sense, but any gardener will know that one has to keep the weeds from choking the new plants, so one can encourage the growth of the new plants, and not water and cultivate the weeds, but one also, at times, simply has to remove aggressive weeds. It’s all a question of balanced judgment, and the use of the fourth ray, the use of Libra, the use of the second ray, and a certain wisdom, which reveals to us that which we should say and that which we should emphasize. The joy is the silence that sounds, and it encourages us to refrain from certain kinds of speech, and to uphold an awareness in silence of the synthesis. To uphold, in silence, the awareness of both unity and synthesis, and to not let the noisy, the clashing perception of cleavage dominate our minds. |
Dĩ nhiên, Chân sư đôi khi phải lưu ý đến những khiếm khuyết của một đệ tử. Rốt cuộc, họ ở trong một sự huấn luyện đặc biệt, và Ngài mong muốn họ tiến nhanh; nhưng bạn thường thấy Chân sư DK nhấn mạnh nhiều hơn vào sự đóng góp mà một đệ tử của Ngài có thể cống hiến, hơn là vào những khiếm khuyết của họ. Sự nhấn mạnh vào đóng góp là liên tục, và bằng cách giữ mắt mình nơi linh hồn, linh hồn sẽ lớn lên. Tất nhiên, bất kỳ người làm vườn nào cũng biết—tôi không nói mình là một người làm vườn theo nghĩa thông thường—nhưng ai làm vườn cũng biết cần ngăn cỏ dại bóp nghẹt cây non, vì thế ta khích lệ cây non lớn lên, chứ không tưới tắm và vun bón cho cỏ dại, song đôi khi cũng phải nhổ bỏ những cỏ dại hung hăng. Tất cả là vấn đề phán đoán quân bình, và là sự vận dụng cung bốn, vận dụng Thiên Bình, vận dụng cung hai, cùng một minh triết nhất định, vốn tiết lộ cho chúng ta điều nên nói và điều nên nhấn mạnh. Niềm hoan hỷ là sự im lặng ngân vang, và nó khích lệ chúng ta kiêng tránh những kiểu nói năng nào đó, và duy trì—trong sự im lặng—ý thức về tổng hợp. Duy trì, trong im lặng, ý thức về cả hợp nhất lẫn tổng hợp, và đừng để cho những nhận thức ồn ào, đối chọi của sự chia cắt khống chế tâm trí mình. |
|
When things fit together, the noise is reduced, when they fit together in harmony, and we have to maintain within ourselves that basic harmony when we deal with our fellow disciples, and also, I think, when we deal with our own personality. We can, as they say, beat ourselves up over certain things, but that is an old approach, and is not really a promotive of the correct acquiescence of the personality to the impression of the soul. What practical advice were being given in this third law, which has so much to do with how the inner life of the disciple will actually manifest on the outer plane? |
Khi mọi sự ăn khớp, tiếng ồn giảm xuống; khi chúng ăn khớp trong hoà điệu, và chúng ta phải duy trì trong chính mình nền tảng hoà điệu ấy khi xử sự với các huynh đệ đồng môn, và tôi nghĩ, cả khi xử sự với phàm ngã của chính mình nữa. Như người ta thường nói, chúng ta có thể tự “đánh đập” mình vì một số điều, nhưng đó là phương cách cũ, và thật ra không thúc đẩy sự thuận phục đúng đắn của phàm ngã trước ấn tượng của linh hồn. Lời khuyên rất thực tế được ban trong định luật thứ ba này—vốn liên hệ sâu xa với cách mà đời sống nội tại của đệ tử sẽ thực sự biểu lộ trên cõi ngoài. |
|
It would be well to ponder on these last words, |
Sẽ tốt nếu chiêm nghiệm kỹ những lời cuối này, |
|
I suppose he means the silence that sounds, |
Tôi cho rằng Ngài ám chỉ “sự im lặng ngân vang”, |
|
for their true meaning cannot be conveyed in words, but only through a life dedicated to the newer rhythms and to the service of the whole. |
vì ý nghĩa chân thực của chúng không thể truyền đạt bằng lời nói, mà chỉ qua một đời sống hiến dâng cho các nhịp điệu mới và cho sự phụng sự toàn thể. |
|
Notice again how He does emphasize the rhythms which have to do with the application, the timing of the application of certain energies, and this sense of wholeness is so important, maintaining the sense of wholeness and of applied rhythm within the wholeness. |
Hãy lưu ý một lần nữa cách Ngài nhấn mạnh các nhịp điệu—liên hệ đến sự ứng dụng, thời điểm ứng dụng các năng lượng nào đó—và ý thức về toàn thể quan trọng đến mức nào: duy trì ý thức toàn thể và nhịp điệu được ứng dụng trong lòng toàn thể ấy. |
|
{Maintaining the sense of wholeness and of the rhythmic application of the correct energies within that perceived wholeness. |
{Duy trì ý thức về toàn thể và về sự áp dụng một cách nhịp điệu các năng lượng đúng đắn trong phạm vi toàn thể được nhận thức ấy. |
|
Maybe we should not go forth into the day—of course here in Finland it’s pretty dark at this time of the morning—until we can perceive and sustain the perception of the wholeness that is. |
Có lẽ chúng ta không nên bước vào ngày mới—dĩ nhiên ở Phần Lan lúc này buổi sáng còn khá tối—cho đến khi chúng ta có thể nhận ra và duy trì nhận thức về cái toàn thể đang hiện hữu. |
|
Rule 5, the macrocosmic whole is all there, “Let the group perceive that whole and then no longer use the thought my soul and thine”. Even in the Christmas carol the sounding joy is found, repeat the sounding joy, joy to the world, |
Quy luật 5, toàn thể Đại thiên địa vốn ở đó, “Hãy để nhóm nhận ra toàn thể ấy và rồi không còn dùng tư tưởng ‘linh hồn của tôi và của y nữa.” Ngay trong bài thánh ca Giáng Sinh cũng có “niềm vui vang ngân”, hãy lặp lại niềm vui vang ngân, “vui mừng cho trần thế”, |
|
Then that “sounding joy” and that “joyful sounding” can make its true meaning felt. [14-13] |
Khi đó, “niềm vui ngân vang” và “sự ngân vang vui tươi” ấy có thể khiến ý nghĩa chân thực của nó được cảm nhận.. |
|
This is something we have to work out in our own experience. We can discuss it in words, but the real substance of the experience will be missing until it actually comes to us, is perceived by us. |
Đây là điều chúng ta phải tự mình triển khai trong chính kinh nghiệm của mình. Chúng ta có thể bàn bằng lời nói, nhưng thực chất của kinh nghiệm sẽ vắng bóng cho đến khi nó thật sự đến với chúng ta, được chúng ta nhận ra. |
|
So we have to be dedicated to the newer rhythms and to the service of the whole, and that’s something about the new server as well, that the idea is not simply to serve the individual, though that is good, nor to serve the group, though that is necessary, but to have in mind the service of the whole, the forward movement of the human race as a whole, and that which the particular act of service contributes to that forward movement. We are reframing an understanding of service here, especially as the aspirant and disciple must render it, and we are distinguishing it from the normal response of the personally, emotionally oriented person toward the impress of that law coming through Aquarius. And there is another… Maybe I should really be emphasizing, bolding, these questions. |
Vì vậy, chúng ta phải hiến dâng cho các nhịp điệu mới và cho sự phụng sự toàn thể; và đó cũng là điều về người phụng sự mới: ý tưởng không chỉ là phụng sự cá nhân—dù điều ấy tốt—cũng không chỉ phụng sự nhóm—dù điều ấy cần thiết—mà là ghi nhớ trong tâm phụng sự toàn thể, sự tiến bước của toàn thể nhân loại, và đóng góp mà hành vi phụng sự cụ thể cống hiến cho bước tiến ấy. Ở đây, chúng ta đang “định khung lại” sự hiểu biết về phụng sự, đặc biệt như người chí nguyện và đệ tử phải thực thi, và chúng ta đang phân biệt nó với sự đáp ứng bình thường của người định hướng cá nhân, cảm xúc trước ấn tượng của định luật ấy đi qua Bảo Bình. Và còn một… Có lẽ tôi nên nhấn mạnh, bôi đậm các câu hỏi này. |
|
Here is apparently another question that DK will deal with. |
Dường như sau đây là một câu hỏi khác mà Chân sư DK sẽ đề cập đến. |
|
What effect does service have upon the mind, the emotions and the etheric body? [14-14] |
Sự phụng sự tác động thế nào đến thể trí, cảm xúc và thể dĩ thái? |
|
Assuming that of the server and also that of those who are served, the body and bodies of those who are served? |
Ngài muốn nói đến các thể của người phụng sự, và cả những người được phụng sự. |
|
It must be remembered that it is through its effects that the scientist of the future will begin to deduce the effectual existence of an inner cause, of an inner reality or of a self or soul. |
Cần nhớ rằng chính qua các tác động của nó mà nhà khoa học tương lai sẽ bắt đầu suy diễn sự hiện hữu hữu hiệu của một nguyên nhân nội tại, của một thực tại nội tại, hay của một bản ngã hoặc linh hồn. |
|
A friend of mine sent me an article the other day about the so-called happiest man in the world. He was a Buddhist monk, but he was also a trained Western scientist, and they had him all wired to these electrodes, sensors. He had shaved all his hair so it was easy to do. He must have had about 20 of these things on his head and they said that the brain radiation that he was giving off, that he was emitting, was exactly that corresponding to happiness and he was off the scale really in terms of that type of emission. So you see, already the scientists of today are measuring an outer effect of an inner cause and there will be a tracing from these outer effects to the inner cause. There will be a tracing, backwards as it were, from the outer effect to the inner cause, the soul and its expression. |
Một người bạn vừa gởi tôi một bài viết về “người hạnh phúc nhất thế giới”. Ông là một nhà sư Phật giáo, nhưng cũng là một nhà khoa học phương Tây được đào tạo; họ gắn đầy điện cực, cảm biến cho ông. Ông cạo trọc đầu nên việc ấy khá dễ. Chắc có khoảng hai chục thiết bị trên đầu ông, và họ nói sóng não mà ông phát ra trùng khớp chính xác với trạng thái hạnh phúc; thực sự ông vượt thang đo đối với loại phát xạ ấy. Như vậy, các nhà khoa học ngày nay đã đo lường một hiệu ứng bên ngoài của một nguyên nhân bên trong, và sẽ có sự truy ngược từ những hiệu ứng bên ngoài này đến nguyên nhân nội tại. Sẽ có sự lần theo—như đi ngược dòng—từ hiệu ứng bên ngoài đến nguyên nhân nội tại, tức linh hồn và sự biểu lộ của nó. |
|
Of course, in Buddhism, they don’t necessarily define soul as we do, and they may negate the idea, but in effect it’s part of the esoteric doctrine. Certainly the causal body on the higher mental plane as a structure of the energy system could not be ignored by any truly esoteric spiritual scientist. It will be through evidence. It will be through that which is demonstrated by the server. Through the effects of service, both on the server and on others, that some interior source, spiritual source, a self, a soul, some inner organ or dimension will be detected. |
Dĩ nhiên, trong Phật giáo, họ không nhất thiết định nghĩa linh hồn như chúng ta, thậm chí có thể phủ nhận ý niệm ấy; nhưng trên thực tế, đó là một phần của học thuyết nội môn. Chắc chắn thể nguyên nhân trên cõi thượng trí, với tư cách là một cấu trúc của hệ thống năng lượng, không thể bị một nhà khoa học tinh thần huyền bí chân chính nào bỏ qua. Chính qua bằng chứng, qua điều được người phụng sự biểu hiện—qua các hiệu ứng của phụng sự, cả nơi người phụng sự lẫn nơi những người khác—mà một nguồn cội nội tại, nguồn tinh thần, một tự ngã, một linh hồn, một cơ quan hay chiều kích nội tâm nào đó sẽ được phát hiện. |
|
We have seen that service is not simply an activity, |
Chúng ta đã thấy rằng phụng sự không chỉ đơn thuần là một hoạt động, |
|
Notice that’s simply a Third Aspect word, |
Lưu ý đó chỉ là một từ thuộc Phương diện Ba, |
|
…an activity of some person or group doing something with good intention for another person or group. [14-15] |
… một hoạt động của một cá nhân hay nhóm người làm điều gì đó với thiện chí cho người khác hay cho một nhóm khác. |
|
I mean this is outwardly true, but inwardly there is far more. |
Bề ngoài thì đúng như thế, nhưng bên trong còn nhiều hơn thế nữa. |
|
Service itself is definitely the result of a tremendous inner happening, |
Bản thân phụng sự chắc chắn là kết quả của một biến cố nội tâm to lớn, |
|
I think that the true expression of the soul through its mechanism, perhaps rendering the individual more intelligently capable of contributing to the necessary reconfigurations of circumstance which are in line with the Plan. |
Tôi cho rằng đó là sự biểu đạt chân thực của linh hồn thông qua cơ cấu của nó, qua đó có lẽ làm cho cá nhân trở nên có năng lực hơn một cách thông tuệ trong việc đóng góp vào những sự tái cấu hình cần thiết của hoàn cảnh, phù hợp với Thiên Cơ. |
|
So, the inner happening is soul expression through its mechanism, and actually strong soul expression, because in a way the soul always does express somewhat through its mechanism, at least maintains that mechanism, and its qualities are at least slowly emerging. But we’re talking about a real flow here. |
Vì vậy, biến cố nội tâm là linh hồn biểu lộ qua cơ cấu của nó—và là sự biểu lộ mạnh mẽ—bởi theo một nghĩa nào đó, linh hồn luôn biểu lộ ít nhiều qua cơ cấu, ít nhất duy trì cơ cấu ấy, và các phẩm tính của nó ít ra cũng đang chậm rãi xuất lộ. Nhưng ở đây, chúng ta đang nói về một dòng chảy thật sự. |
|
Secondary causes, not just effects, will be emerging when that tremendous inner happening occurs and it was this that the Christ came to demonstrate. We have seen the great effect that he had, the miracles that He demonstrated, things that were above natural law, effects that were above natural law as we normally understand, not natural law in relation to the outer world. He demonstrated the laws and principles of the higher world due to the fact that He was in fact a great soul having long since dispensed with His own causal body. |
Những nguyên nhân thứ cấp—không chỉ là hiệu ứng—sẽ xuất lộ khi biến cố nội tâm lớn lao ấy xảy đến, và chính điều này là điều Đức Christ đến để biểu dương. Chúng ta đã thấy hiệu quả vĩ đại mà Ngài gây nên, các “phép lạ” Ngài biểu lộ—những điều vượt khỏi các định luật tự nhiên như ta thường hiểu—không phải các định luật tự nhiên của thế giới bên ngoài. Ngài biểu hiện các định luật và nguyên lý của thế giới cao hơn nhờ sự kiện Ngài là một linh hồn vĩ đại, đã lâu từ bỏ thể nguyên nhân của Chính Ngài. |
|
Of course the causal body through which He was working, we don’t know how, the causal body of the Master Jesus still existed because the initiate Jesus at the time had not yet taken the fourth initiation. What that whole inner mechanism of activity may be will be revealed to us as we come closer to those stages of understanding and demonstration. |
Dĩ nhiên, thể nguyên nhân mà qua đó Ngài làm việc—chúng ta không biết bằng cách nào—thể nguyên nhân của Chân sư Jesus vẫn còn, vì vị điểm đạo đồ Jesus khi ấy chưa nhận lần điểm đạo thứ tư. Toàn bộ cơ cấu hoạt động nội tại ấy ra sao sẽ dần được tiết lộ khi chúng ta đến gần các giai đoạn hiểu biết và biểu hiện đó. |
|
So a number of creative secondary causes and results will arise. [14-16] |
Vì vậy, một số nguyên nhân và kết quả sáng tạo thứ cấp sẽ nảy sinh. |
|
These are, primarily, a change in the lower consciousness, a tendency to turn away from the things of the personal self to the larger issues of the group, a reorientation which is real and expressive and a power to change conditions (through creative activity) which is the demonstration of something dynamically new. [14-17] |
Trước hết, đó là một sự thay đổi trong tâm thức thấp, một khuynh hướng quay lưng khỏi những điều của phàm ngã để hướng đến những vấn đề lớn hơn của nhóm, một sự tái định hướng chân thực và có tính biểu đạt, và một quyền năng thay đổi các điều kiện (qua hoạt động sáng tạo) vốn là sự biểu hiện của một điều gì đó năng động mới mẻ. |
|
So, what are these secondary effects here which are really creative secondary causes, what arises, a change in the lower consciousness, a tendency to turn away from the things of the personality, personal self to the larger issues of the group, a reorientation which is real and expressive and a power to change conditions, miracles in other words, through creative activity, which is the demonstration of something dynamically new. The Christ did so many of these things. We have the story of the loaves and the fishes and they were only enough to feed some and yet the amount of food did not diminish and all the many were fed, so the good was multiplied by some inner power, some inner creative power which could change conditions. |
Vì vậy, những hiệu ứng thứ cấp này—thực ra là những nguyên nhân thứ cấp sáng tạo—là gì? Một sự đổi thay trong tâm thức thấp; khuynh hướng quay lưng khỏi những gì thuộc phàm ngã, hướng đến các vấn đề lớn hơn của nhóm; một sự tái định hướng chân thực và có sức biểu đạt; và một quyền năng thay đổi hoàn cảnh—nói cách khác là các “phép lạ”—thông qua hoạt động sáng tạo, vốn là sự biểu lộ của điều gì đó mới mẻ đầy năng động. Đức Christ đã thực hiện rất nhiều điều như thế. Chúng ta có câu chuyện về bánh và cá—chỉ đủ cho một số ít—vậy mà số lượng thức ăn không hề vơi mà đông đảo đều được no—tức là điều thiện được nhân lên nhờ một quyền năng nội tại, một quyền năng sáng tạo bên trong có thể thay đổi hoàn cảnh. |
|
When we talk about creativity, we’re talking about a rearrangement of the constituent elements of any whole. So a rearrangement of the elements constituting any whole. The powers of the soul in fact emerge and these powers are little suspected by us, we may read about them but when they actually begin to dominate our consciousness and energy system we discover an entirely new order is emerging into expression in the lower worlds. |
Khi nói đến sáng tạo, là nói đến sự sắp xếp lại các yếu tố cấu thành của bất kỳ toàn thể nào. Vì vậy là sự sắp xếp lại các yếu tố cấu thành một toàn thể. Quyền năng của linh hồn thật ra sẽ trồi hiện, và những quyền năng này hầu như chúng ta không ngờ tới; ta có thể đọc về chúng, nhưng khi chúng bắt đầu thống lĩnh tâm thức và hệ thống năng lượng của ta, ta sẽ khám phá một trật tự hoàn toàn mới đang đi vào biểu lộ trong các cõi thấp. |
|
As this inner event stabilises into an equilibrised inner condition, the demonstration of the above changes becomes more regular and less spasmodic and the effects of the new forces flowing into the personality to be later used creatively, will be seen in all three bodies. [14-18] |
Khi biến cố nội tại này ổn định thành một trạng thái nội tâm quân bình, sự biểu lộ của các thay đổi nêu trên trở nên đều đặn hơn và ít thất thường hơn, và các tác động của những mãnh lực mới đang tuôn vào phàm ngã, mà về sau được dùng một cách sáng tạo, sẽ được thấy trong cả ba thể. |
|
Notice in the beginning the acquisition of any new energy, its demonstration after having been acquired is intermittent, is spasmodic, but a regularizing and a stabilizing comes afterwards, and we do not imagine that such a Master as Jesus is now or the Christ has long been, would be unable to access these powers, because in a way He is the soul, the higher soul in manifestation, and the soul embodies or the soul contains these powers. He’s simply accessing the powers of His own nature when He’s expressing these things. It’s not a big reach as if he were reaching from the personality to a higher state. His consciousness is already in that higher state and He is identified as that higher type of being. |
Xin lưu ý, ban đầu, khi tiếp nhận một năng lượng mới, sự biểu lộ của nó sau khi đã được tiếp nhận thường lúc có lúc không, lúc bột phát; nhưng rồi sẽ đến giai đoạn đều đặn, ổn định. Và chúng ta đừng tưởng rằng một Chân sư như Đức Jesus bây giờ, hay như Đức Christ đã từ lâu—lại không thể tiếp cận những quyền năng ấy; bởi theo một nghĩa, Ngài chính là linh hồn—linh hồn cao cả hơn—đang biểu lộ, và linh hồn bao hàm các quyền năng này. Ngài chỉ đơn giản tiếp cận những quyền năng thuộc bản chất của Chính Ngài khi biểu lộ các điều ấy. Đó không phải là một cố gắng “với tới” to lớn, như thể từ phàm ngã vươn đến trạng thái cao hơn; tâm thức của Ngài vốn đã ở trong trạng thái cao hơn đó, và Ngài đồng nhất với kiểu hiện hữu cao hơn ấy. |
|
Hence the instantly accessible capabilities of the Great Ones should they choose to exercise those capabilities. |
Vì thế, các năng lực vốn có thể tiếp cận tức thì của các Đấng Cao Cả, nếu Các Ngài chọn vận dụng những năng lực đó. |
|
Thus the true server comes into possession of his instruments for service, |
Như thế, người phụng sự chân chính sở đắc các vận cụ để phụng sự, |
|
And we could almost say, they are inner capacities expressed through his outer instruments, but the inner vehicles are also instruments |
Và ta có thể nói, đó là các năng lực nội tại biểu lộ qua các vận cụ bên ngoài của y, nhưng các hiện thể bên trong cũng là vận cụ |
|
…and thenceforth creative work in accordance with the Plan can go forward on all three planes. |
… và từ đó, công việc sáng tạo phù hợp với Thiên Cơ có thể tiến hành trên cả ba cõi. |
|
We might call this the efficient rearranging of energies. |
Ta có thể gọi đó là sự sắp xếp lại năng lượng một cách hữu hiệu. |
|
Thus has God, in His wisdom, chosen to limit Himself, and the work of evolution proceeds solely through the medium of His chosen builders |
Như vậy Thượng đế, trong minh triết của Ngài, đã chọn cách [134] tự giới hạn, và công cuộc tiến hoá chỉ tiến hành qua trung gian của các đấng kiến tạo được Ngài chọn |
|
We would say, those builders are his emanations |
Chúng ta có thể nói, những kiến tạo giả ấy là các xuất lộ của Ngài |
|
and under the direction on this planet of those men whose lives are being transformed through soul contact and creative science, |
và trên hành tinh này, dưới sự chỉ đạo của những người mà đời sống của họ đang được chuyển đổi qua sự tiếp xúc linh hồn và phụng sự sáng tạo, và những người ấy cấu thành Thánh Đoàn hành tinh. |
|
In other words these are definite capacities which have a definite effect when exercised in a definite way, an effect upon lower configurations which had seemed unchanging and obdurate to most people who do not possess these inner creative capacities. |
Nói cách khác, đây là những năng lực xác định có tác động xác định khi được vận dụng theo một cách xác định—một tác động lên các cấu hình thấp vốn dường như bất biến, khó lay chuyển đối với đa số người không sở hữu các năng lực sáng tạo nội tại này. |
|
So, God has limited himself working through His emanations and God directs his will through those lives, through those men whose lives are being transformed through soul contact and creative service and who constitute the planetary hierarchy. [14-19] |
Vì vậy, Thượng đế tự giới hạn khi làm việc qua các xuất lộ của Ngài, và Thượng đế chuyển đạt ý chí của Ngài qua những sự sống ấy, qua những con người có đời sống đang được chuyển hoá bởi sự tiếp xúc với linh hồn và phụng sự sáng tạo, và họ cấu thành Thánh Đoàn hành tinh. |
|
It is true that the planetary Logos has far greater capabilities, and could I suppose, by an act of will simply make changes from his own high level, but it seems necessary to provide the emanated experience, and these apparently independent—not really so but apparently independent— emanations undertake their own dharmic responsibility to apply the creative work of bringing the lower worlds into right configuration, right conformity with the higher archetypes of the higher worlds. |
Đúng là Hành Tinh Thượng đế có những năng lực lớn lao hơn rất nhiều, và tôi nghĩ, bằng một hành vi của Ý Chí, Ngài có thể đơn giản thực hiện các thay đổi từ cảnh giới cao của Ngài; nhưng xem ra cần ban phát kinh nghiệm xuất lộ, và những xuất lộ dường như độc lập—thực ra không phải, nhưng dường như độc lập—đảm nhận trách nhiệm dharma của riêng mình để áp dụng công trình sáng tạo đưa các cõi thấp vào đúng cấu hình, đúng tương hợp với các nguyên mẫu cao hơn của những cõi cao. |
|
When alignment has been effected, when the at-one-ment has been more constantly made, and when the antahkarana (the bridge connecting the higher and the lower) |
Khi sự chỉnh hợp đã được thực hiện, khi sự hợp nhất được duy trì thường xuyên hơn, và khi antahkarana (cây cầu nối cao và thấp) |
|
It could even be in this case simply the soul and personality |
Ở đây, trong trường hợp này, thậm chí có thể đơn giản là giữa linh hồn và phàm ngã |
|
…is in definite process of construction, the true nature of service, as practiced by any individual begins to emerge. [14-20] |
… đang trong tiến trình kiến tạo rõ rệt, bản chất chân thật của phụng sự, như được thực hành bởi bất kỳ cá nhân nào bắt đầu hiển lộ. |
|
Sometimes when the term antahkarana is used, we mean simply the connection of the causal body, egoic lotus, with the personality, but other times we extend the idea to bring in the spiritual triad, and even the monad, and those connections are also accomplished via the higher part of the antahkarana. |
Đôi khi, khi cat dùng thuật ngữ antahkarana, chúng ta chỉ muốn nói sự nối kết của thể nguyên nhân—hoa sen chân ngã—với phàm ngã; nhưng những khi khác, chúng ta mở rộng ý niệm để bao gồm cả Tam Nguyên Tinh Thần, thậm chí Chân thần, và các nối kết ấy cũng được hoàn tất qua phần cao hơn của antahkarana. |
|
This is all about alignment, at-one-ment, the constancy of that alignment and at-one-ment, and then the higher capacities which are the very substance of service can begin to emerge. |
Tất cả là nói về chỉnh hợp, hợp nhất, sự thường xuyên của chỉnh hợp và hợp nhất ấy; rồi những năng lực cao—vốn là chính chất liệu của phụng sự—mới có thể bắt đầu hiển lộ. |
|
So we have to ask ourselves when we say we are serving, “From what level are we serving, what energies are being released into our normal circumstances, are we simply impacting our normal circumstance through our normal personality vehicles and capacities, or are we actually bringing our higher self through, and hopefully it is with greater constancy, the latter?”. |
Vì vậy, khi chúng ta nói mình đang phụng sự, chúng ta phải tự hỏi: “Chúng ta đang phụng sự từ cấp độ nào? Những năng lượng nào đang được phóng thích vào các hoàn cảnh bình thường của chúng ta? Chúng ta chỉ đang tác động lên hoàn cảnh bình thường bằng các hiện thể và năng lực phàm ngã thông thường, hay chúng ta thực sự đưa bản ngã cao hơn của mình vào—và hy vọng với mức độ thường xuyên lớn hơn—điều sau đó?” |
|
The first effect of the inflowing force of the soul, which is the major factor leading to demonstrated service, is to integrate the personality, |
Hiệu ứng đầu tiên của mãnh lực tuôn đổ từ linh hồn—yếu tố chủ đạo dẫn tới phụng sự được biểu hiện—là tích hợp phàm ngã, |
|
This will be taken up later in the book actually, where we have discussed personality integration in depth |
Thật ra, điều này sẽ được bàn đến sau trong sách, nơi chúng ta có một phần thảo luận sâu rộng về sự tích hợp phàm ngã, |
|
and to bring all the three lower aspects of the man into one serving whole. |
và đem cả ba phương diện thấp của con người vào một toàn thể phụng sự duy nhất. |
|
What this means is the internecine warfare between the vehicles is overcome by an integrative harmonization. |
Điều này có nghĩa là cuộc “nội chiến” giữa các hiện thể được vượt qua bởi sự hoà hợp tích hợp. |
|
The fourth ray is always involved, even if it’s not in the ray chart, at least generically. It’s involved in bringing about integration, in the harmonizing of the frictions of the personality within itself, and harmonizing of the frictions of the uniting personality with the soul. |
Cung bốn luôn tham dự, ngay cả khi nó không có trong biểu đồ cung, ít nhất về mặt tổng quát. Nó tham gia tạo nên sự tích hợp, trong việc hoà điệu những ma sát nội tại của phàm ngã trong chính nó, và hoà điệu những ma sát giữa phàm ngã đang hợp nhất với linh hồn. |
|
I think this is worth really noting: the very first effect of the inflow of soul force is the integrating of the personality. |
Tôi nghĩ điều này đáng ghi nhớ thật kỹ: hiệu ứng đầu tiên của dòng chảy cả mãnh lực linh hồn tuôn vào là sự tích hợp phàm ngã. |
|
This is a difficult and elementary stage from the angle of the student in the Hall of Wisdom. [14-21] |
Đây là một giai đoạn khó và sơ khởi xét từ góc nhìn của đạo sinh trong Phòng Minh triết. |
|
He has entered that phase where the initiation process is actually beginning, at least the preliminary initiation, because the Hall of Wisdom is beginning really to occur when the sacrifice petals are being stimulated. |
Y đã bước vào giai đoạn mà tiến trình điểm đạo thực sự bắt đầu—ít nhất là các cuộc điểm đạo sơ bộ—vì Phòng Minh triết thật ra bắt đầu khi các cánh hoa hi sinh được kích hoạt. |
|
The man becomes aware of his power and capacity, and, having pledged himself to service, |
Con người trở nên ý thức về quyền năng và năng lực của mình, và đã phát nguyện phụng sự, |
|
Of course we’re not having the full soul infusion here, are we? |
Dĩ nhiên, chúng ta chưa nói đến trạng thái phàm ngã được linh hồn thấm nhuần trọn vẹn ở đây, phải không? |
|
he begins furiously to serve; |
y bắt đầu phụng sự một cách cuồng nhiệt; |
|
That’s kind of a sixth ray word. When we go to one of the Blessed Ones Stanzas, we discover under the sixth ray that fury characterized his efforts. This is a constant application of energy which is also ends up being separative and divisive, and it’s an over application of energy, not a wise application. The man is completely consumed by the energy and loses his discretion. |
Đó là một từ mang sắc thái của cung sáu. Khi chúng ta đi vào một trong các Bài Kệ của Các Đấng Chân Phúc, chúng ta khám phá rằng, dưới cung sáu, cuồng nộ đặc trưng cho những nỗ lực của Ngài. Đó là một sự vận dụng năng lượng liên tục, nhưng đồng thời rốt cuộc nó cũng trở nên mang tính phân ly và chia rẽ, bởi đó là sự vận dụng năng lượng quá mức, chứ không phải là một sự vận dụng minh triết. Con người bị năng lượng nuốt trọn và đánh mất sự phân biện. |
|
The man becomes aware of his power |
Con người trở nên ý thức về quyền năng |
|
Because there is the downflow of the incoming soul energy, |
Bởi vì có dòng tuôn đổ của năng lượng linh hồn đang nhập vào, |
|
and his capacity, and he is pledged, |
và năng lực của mình, và đã phát nguyện, |
|
I suppose maybe in the state even of a pledged disciple although there are probably earlier promises and pledges. |
Có lẽ ngay ở địa vị đệ tử thệ nguyện, dù có lẽ y đã có những hứa hẹn và lời nguyện trước đó. |
|
He begins furiously to serve; he creates this, that and the other channel for the expression of the force which is driving him; |
Y bắt đầu phụng sự một cách cuồng nhiệt; y tạo ra kênh này, kênh kia và nhiều kênh khác cho sự biểu lộ của mãnh lực đang thúc đẩy y; |
|
There’s a not much control here. |
Ít có sự kiểm soát ở đây. |
|
he tears down and destroys just as fast as he creates. [14-22] |
y phá bỏ và huỷ diệt nhanh không kém khi y kiến tạo. |
|
Why? He lacks discretion attachment. He cannot stand back and see with wisdom because at first he is driven by the new force. I suppose when we have sixth ray personalities, this may tend to happen and also maybe the sixth ray souls live very much under this kind of driving pressure. |
Tại sao? Vì y thiếu phân biện và tách rời. Y không thể đứng lùi lại để thấy bằng minh triết, vì ban đầu y bị năng lượng mới thúc đẩy. Tôi cho rằng khi có phàm ngã cung sáu, điều này càng dễ xảy ra; và có lẽ các linh hồn cung sáu cũng sống rất nhiều dưới áp lực thúc đẩy kiểu này. |
|
He temporarily becomes a serious problem to the other servers with whom he may be associated, for he sees no vision but his own, and the aura of criticism which surrounds him and the strenuous push of the assertive force within him produces the stumbling of the “little ones” |
Tạm thời y trở thành một vấn đề nghiêm trọng đối với những người phụng sự khác mà y có thể liên kết, vì y không thấy tầm nhìn nào ngoài tầm nhìn của chính ý, và hào quang chỉ trích bao quanh y cùng với sự thúc đẩy căng thẳng của mãnh lực khẳng định bên trong y gây ra sự vấp ngã của những “kẻ bé nhỏ”, |
|
The little ones in this case doesn’t just mean initiates of the first and second degree, but those to whom he stands as a superior and a guide |
Những “kẻ bé nhỏ” ở đây không chỉ là các điểm đạo đồ bậc một và hai, mà là những người mà đối với họ y đóng vai người cao hơn và người dẫn dắt |
|
and there has to be constant repair work undertaken (on his behalf) by older, more experienced disciples. [14-23] |
và khiến cho các đệ tử già dặn hơn, giàu kinh nghiệm hơn, phải tiến hành công việc sửa chữa (thay cho y) |
|
I’m sure we all have gone through or will go through both phases, having been the one who causes the disruption, and later being assigned the karmic task of repairing disruption, perhaps caused by ourself and then caused by others. So, the blinders are on here and the force is not handled with wisdom. The soul, the driving soul force is not handled with wisdom at first and that’s why the word temporarily is found here. This too shall pass. |
Chắc hẳn tất cả chúng ta đã đi qua, hoặc sẽ đi qua, cả hai giai đoạn: từng là người gây xáo trộn, và về sau được giao phó nhiệm vụ nghiệp quả là sửa chữa xáo trộn—có lẽ do chính mình gây ra, rồi về sau do người khác gây nên. Vì vậy, y đang mang “tắm chắn mắt ngựa”, và mãnh lực linh hồn thúc đẩy ban đầu không được xử lý bằng minh triết; đó là lý do tại sao ở đây có từ tạm thời, điều này rồi sẽ qua đi. |
|
He becomes the victim, for the time, of his own aspiration to serve. |
Trong một thời gian, y trở thành nạn nhân của chính khát vọng phụng sự của y và của mãnh lực đang tuôn chảy qua y. |
|
We can see that the astral body is strongly stimulated under these circumstances |
Chúng ta có thể thấy thể cảm dục được kích hoạt mạnh mẽ trong những hoàn cảnh này |
|
…and of the force which is flowing through him. This stage will in some cases fan into flame the latent seeds of ambition. |
… và của mãnh lực đang tuôn chảy qua y. Trong một số trường hợp, giai đoạn này sẽ thổi bùng những hạt giống tham vọng tiềm ẩn. |
|
So, spiritual ambition to be recognized as a server and disciple. |
Tức tham vọng tinh thần muốn được công nhận là người phụng sự và đệ tử. |
|
This ambition is, in the last analysis, only the personality urge toward betterment |
Tham vọng này, xét đến cùng, chỉ là thôi thúc của phàm ngã hướng tới sự cải thiện |
|
Which is not only allowable but necessary, but cannot go on overly long nor can it be substituted for the real expression of service. |
Điều này không chỉ cho phép mà còn cần thiết, nhưng không thể kéo dài quá lâu, cũng không thể thay cho biểu lộ phụng sự chân thực. |
|
This ambition is, in the last analysis, only the personality urge towards betterment, and in its right place and time is a divine asset, but it has to be rooted out when the personality becomes the instrument of the soul. [14-24] |
Tham vọng này, xét đến cùng, chỉ là thôi thúc của phàm ngã hướng đến sự cải thiện, và khi được đặt đúng chỗ và đúng lúc, đó sẽ là một tài sản thiêng liêng, nhưng nó phải bị nhổ tận gốc khi phàm ngã trở thành công cụ của linh hồn. |
|
Because one must leave the mass. One must seize the orange ball. One must no longer be playing upon the green field but must seize the orange ball in the coloristic language of one of the Old Commentary sections, |
Bởi vì người ta phải rời bỏ đám đông. Phải chộp lấy quả cầu màu cam. Không còn chơi trên cánh đồng xanh nữa mà phải chộp lấy quả cầu màu cam—trong ngôn ngữ màu sắc của một đoạn trong Cổ Luận, |
|
in its right place and time it is a divine asset but it has to be rooted out when the personality becomes the instrument of the soul. |
khi được đặt đúng chỗ và đúng lúc, đó sẽ là một tài sản thiêng liêng, nhưng nó phải bị nhổ tận gốc khi phàm ngã trở thành công cụ của linh hồn |
|
When we become serious about real soul expression, then we have to eliminate the tendency of the personality to become an obstacle. This doesn’t mean to eliminate the personality altogether because it is the instrument, the chosen instrument, and how else are we, the soul, to reach the lower worlds? We don’t want to do as Hercules first did and killed the Amazon Queen who is the personality. This is done wrongly in the labor of Virgo. |
Khi chúng ta trở nên nghiêm túc về sự biểu lộ chân thực của linh hồn, thì chúng ta phải loại trừ khuynh hướng của phàm ngã trở thành chướng ngại. Điều này không có nghĩa là loại bỏ phàm ngã hoàn toàn, vì nó là khí cụ—khí cụ được chọn—và nếu không, làm sao chúng ta, với tư cách linh hồn, có thể vươn tới các cõi thấp? Chúng ta không muốn làm như Hercules đã làm ban đầu—giết Nữ hoàng Amazon là phàm ngã. Đây là một hành động sai lầm trong kỳ công Xử Nữ. |
|
In other cases, the server will come into a wider and more loving vision, and, taking his eyes off his own accomplishment, will go to work in silent unison with the groups of all true servers. |
Trong những trường hợp khác, người phụng sự [135] sẽ đi vào một tầm nhìn rộng lớn hơn và đầy bác ái hơn, rời mắt khỏi thành tựu của chính mình, và sẽ bắt tay làm việc trong sự hoà điệu thầm lặng với các nhóm của mọi người phụng sự chân chính. |
|
This is a more beneficial effect, and perhaps follows a few mistakes. But I like this idea of silent unison, not calling attention to one’s personal self, but in fact understanding the work of the other servers and attempting to harmonize his own service with their service and this is far different from the personality centered attitude which sometimes masquerades as service. |
Đây là kết quả tốt đẹp hơn, và có lẽ theo sau một vài sai lầm. Tôi thích ý niệm hòa điệu thầm lặng: không kêu gọi chú ý vào phàm ngã của mình, mà thực sự hiểu công việc của những người phụng sự khác và cố gắng hoà hợp việc phụng sự của mình với sự phụng sự của họ—hoàn toàn khác với thái độ đặt trung tâm nơi phàm ngã, mà đôi khi đội lốt phụng sự. |
|
He will submerge his personality tendencies, his ideas and his ambitions in the greater good of the whole, and self will be lost to sight. [14-25] |
Y sẽ nhấn chìm các khuynh hướng phàm ngã, các ý tưởng và tham vọng của mình vào lợi ích lớn hơn của toàn thể, và cái “tôi” sẽ khuất bóng. |
|
Easily said, easily spoken, difficult to accomplish, and it can take years or lives to bring about this better attitude towards service. The submerging, this is not quite the same thing as the suppression of the personality tendencies and rendering the personality as has been called a poor dead thing. No, it’s different than that. One has good qualities within the personality and one learns skillfully how to use them within the context of the pursuit of the greater good along with one’s fellow disciples. |
Nói thì dễ, làm mới khó; điều này có thể mất nhiều năm, thậm chí nhiều kiếp, để hình thành thái độ đúng đắn hơn đối với phụng sự. “Nhấn chìm”—điều này không hoàn toàn giống như sự đè nén các khuynh hướng của phàm ngã và biến phàm ngã thành một “vật chết đáng thương”. Không, nó khác hẳn. Con người có những phẩm chất tốt trong phàm ngã, và học cách dùng chúng một cách khéo léo trong bối cảnh theo đuổi các điều ích lợi lớn hơn, cùng với các huynh đệ đồng môn. |
|
Perhaps no better suggestion can be made to the man or woman who seeks to function as a true server than to ask them to repeat daily, with their whole hearts and minds behind the words, the dedication at the conclusion of the Esoteric Catechism, which is included at the end of Initiation, Human and Solar. [14-26] |
Có lẽ không có gợi ý nào tốt hơn dành cho người nam hay người nữ đang tìm cách hoạt động như một người phụng sự chân chính, hơn là đề nghị họ mỗi ngày hãy lặp lại—với trọn vẹn tâm và trí đứng đằng sau từng lời—lời tận hiến ở phần kết của Esoteric Catechism, được đưa vào ở cuối tác phẩm Initiation, Human and Solar. |
|
I think in the Arcane School, this is the very first thing we did really. When you come in obviously as in a state of aspiration you repeat this aspiring mantra. |
Tôi nghĩ trong Trường Arcane, đây là điều đầu tiên chúng tôi thật sự làm. Khi bạn bước vào, rõ ràng trong trạng thái khát vọng, bạn lặp lại mantram khát vọng này. |
|
I would remind such servers that if they revolt or are dismayed by the ideas embodied in the words, that is perhaps an indication of how much they need the impression of this life objective upon their consciousness. |
Tôi xin nhắc nhở những người phụng sự như vậy rằng, nếu họ phản kháng hoặc cảm thấy chán nản trước những ý niệm được hàm chứa trong các lời ấy, thì điều đó có lẽ là một dấu hiệu cho thấy họ cần biết bao ấn tượng của mục tiêu đời sống này được in dấu lên tâm thức của họ. Lời cam kết ấy như sau: |
|
These are words with which we are familiar. |
Đây là những lời chúng ta quen thuộc. |
|
I play my part with stern resolve. |
Tôi đảm nhận phần việc của mình với quyết tâm không lay chuyển, với khát vọng chân thành; |
|
Notice the sixth ray connotation there. The idea of aspiration in the astral body. |
Lưu ý sắc thái cung sáu ở đây: ý niệm chí nguyện trong thể cảm dục. |
|
One-pointed, not deviating here and there. |
Nhất tâm, Không dao động chỗ này chỗ kia. |
|
I look above. I stand in the middle. I help below. I dream not. |
tôi nhìn lên trên, tôi giúp bên dưới; tôi không mơ mộng, |
|
I do not wander off into fantasy which takes me away from my immediate task. |
Tôi không buông mình vào mộng tưởng khiến tôi xa rời nhiệm vụ trước mắt. |
|
I dream not, nor I rest. |
Tôi không mơ mộng, cũng không nghỉ ngơi. |
|
At least I do not rest as many rest away from their responsible labors. DK will also advise at times that rest is needed in the in the life of the disciple. |
Ít nhất, tôi không nghỉ ngơi theo kiểu nhiều người, xa rời các lao tác trách nhiệm. Chân sư DK cũng sẽ khuyên đôi khi sự nghỉ ngơi là cần trong đời sống của đệ tử. |
|
I toil. |
Tôi lao động. |
|
It’s hard work. |
Đó là công việc khó nhọc. |
|
I serve. I reap |
Tôi phụng sự. Tôi gặt hái |
|
My karma. |
Nghiệp quả của tôi. |
|
I pray. |
Tôi cầu nguyện. |
|
I maintain my connection with the higher worlds. |
Tôi duy trì nối kết với các cõi cao. |
|
I am the cross. |
Tôi là thập giá. |
|
I am the human energy system in the form of a cross and later in the form of a five-pointed star, and I am willing to be crucified upon the fixed cross until I truly become that cross without the scaffolding upholding me. |
Tôi là hệ thống năng lượng con người trong hình thức thập giá, và về sau trong hình thức ngôi sao năm cánh; và tôi sẵn lòng bị “đóng đinh” trên Thập Giá Cố Định cho đến khi tôi thực sự trở thành thập giá đó mà không cần giàn giáo chống đỡ. |
|
I am the way. |
Tôi là Con Đường. |
|
I am the energy line itself which leads to the monad. The way is really, in my view at least, the Path of emanation from the highest point in the universe. The way leads all the way back to our ultimate Identity as the universal Logos. Every antahkarana is part of that way, and the sutratma extends from that point in a way also a kind of higher consciousness thread extends from that point which we have to unite our lower consciousness with. |
Tôi là chính tuyến năng lượng dẫn tới chân thần. Con đường thực sự, theo quan điểm của tôi, là Thánh Đạo của sự xuất lộ từ điểm cao nhất trong vũ trụ. Con đường ấy dẫn trở về tận Bản Thể tối hậu của chúng ta như Thượng đế Vũ Trụ. Mỗi antahkarana đều là một phần của con đường ấy, và sutratma trải dài từ điểm đó; theo một cách nào đó, cũng có một sợi dây tâm thức cao vươn từ điểm ấy mà chúng ta phải hợp nhất tâm thức thấp của mình với nó. |
|
I tread upon the work I do |
tôi bước lên trên công việc tôi làm, |
|
So I do not hold it always before me but move on to the new work. I do not congratulate myself over the work I do. I may simply note what its value has been and move on to the next task. |
Vì vậy tôi không giữ nó mãi trước mắt mình mà bước tiếp đến công việc mới. Tôi không tự khen ngợi về công việc tôi làm. Tôi có thể chỉ ghi nhận giá trị của nó và tiến đến nhiệm vụ kế. |
|
I mount upon my slain self, |
tôi leo lên trên phàm ngã bị giết của tôi; |
|
My slain lower self. Its desires are no longer of major moment to me. I kill my lower desires. |
Cái phàm ngã đã bị giết của tôi. Những dục vọng của nó không còn là điều quan trọng nữa đối với tôi. Tôi sát trừ các dục vọng thấp của mình. |
|
I kill desire, and I strive, Forgetting all reward |
tôi diệt dục vọng, tôi phấn đấu, tôi quên hết mọi phần thưởng. |
|
To the lower self. The reward involved is the seeing of the Plan unfold in manifestation. |
Đối với phàm ngã. Phần thưởng liên hệ ở đây là được thấy Thiên Cơ khai mở trong sự hiện lộ. |
|
I forego peace |
Tôi từ bỏ bình an |
|
Which is an astral condition. It’s not the peace of Shamballa because that is a higher type of peace towards which we strive. |
Vốn là một trạng thái cảm dục. Đó không phải là bình an của Shamballa vì đó là một loại bình an cao hơn mà chúng ta hướng tới. |
|
I forfeit the ordinary rest. |
Tôi hi sinh sự nghỉ ngơi thông thường. |
|
I sometimes have to cut a thwart the normal rhythms of normal non-aspiring people who will not push their vehicle because they prize its condition above all things. |
Đôi khi ta phải cắt ngang, làm trái các nhịp điệu bình thường của những người bình thường không chí nguyện, những người sẽ không thúc đẩy vận cụ của mình vì họ coi trọng tình trạng của nó hơn hết thảy. |
|
I forfeit rest, and in the stress of pain, |
Tôi từ bỏ nghỉ ngơi, và trong áp lực của đau đớn, |
|
which will be caused as I move my energy system vertically against the horizontal grain, |
vốn sẽ phát sinh khi ta chuyển động hệ thống năng lượng của mình theo chiều dọc nghịch với thớ ngang, |
|
in the stress of pain, I lose myself, |
trong áp lực của đau đớn, Tôi đánh mất chính mình, |
|
my lower self |
phàm ngã của ta |
|
and find Myself |
và tìm thấy Chính Mình |
|
the capital, |
chữ Chính Mình ở đây viết hoa, |
|
and enter into peace. |
và bước vào bình an. |
|
a higher peace which is the growing peace of the soul on its own plane of the spiritual Triad, and ultimately the peace of Shamballa. |
một sự bình an cao hơn, vốn là bình an đang tăng trưởng của linh hồn trên chính cõi của Tam Nguyên Tinh Thần, và rốt cùng là bình an của Shamballa. |
|
To all this I solemnly, |
Với tất cả những điều này tôi trân trọng, |
|
I mean business, not light-mindedly, light-heartedly. I with great earnestness, without frivolity, |
ta thực sự nghiêm túc, không nhẹ dạ, không bông đùa. Ta với lòng thành sâu sắc, không phù phiếm, |
|
pledge myself, invoking my Higher Self |
tự thệ nguyện, khẩn cầu Chân Ngã |
|
and invoking in a way the Solar Angel, but also my own higher egoic nature which is to descend expressively into my more familiar self. |
và cũng theo một cách, khẩn cầu Thái dương Thiên Thần, nhưng đồng thời khẩn cầu chính bản tính chân ngã cao hơn của ta, vốn sẽ giáng hạ một cách biểu lộ vào cái bản ngã quen thuộc hơn của ta. |
|
I think so many of us have memorized this one. We’ve really worked with it and maybe in moments of difficulty, I know I do. I repeat this to reconfirm the goals and objectives and the proper attitude. |
Tôi cho rằng rất nhiều người trong chúng ta đã thuộc lòng đoạn này. Chúng ta đã thật sự làm việc với nó và có lẽ trong những lúc khó khăn—tôi biết tôi cũng vậy—tôi lặp lại điều này để xác nhận lại các mục tiêu, các đối tượng và thái độ đúng đắn. |
|
“I play my part with stern resolve; with earnest aspiration; I look above, I help below; I dream not, nor I rest; I toil; I serve; I reap; I pray; I am the Cross; I am the Way; I tread upon the work I do, I mount upon my slain self; I kill desire, and I strive, forgetting all reward. I forego peace; I forfeit rest, and, in the stress of pain, I lose myself and find Myself and enter into peace. To all this I solemnly pledge myself, invoking my Higher Self.” |
“Tôi đảm nhận phần việc của mình với quyết tâm không lay chuyển; với khát vọng chân thành; tôi nhìn lên trên, tôi giúp bên dưới; tôi không mơ mộng, cũng không nghỉ ngơi; tôi lao động; tôi phụng sự; tôi gặt hái; tôi cầu nguyện; tôi là Thập Giá; tôi là Con Đường; tôi bước lên trên công việc tôi làm, tôi leo lên trên phàm ngã bị giết của tôi; tôi diệt dục vọng, tôi phấn đấu, tôi quên hết mọi phần thưởng. Tôi từ bỏ bình an; tôi khước từ nghỉ ngơi, và, trong sức ép của đau đớn, tôi đánh mất mình và tìm thấy Chính Mình và đi vào bình an. Với tất cả điều này tôi long trọng tự thệ nguyện, khẩn cầu Bản Ngã Cao Siêu của tôi.” |
|
The Arcane School version has some changes here, I mount the cross, I tread the way, not “I am the Cross, I am the Way”. This actually is more powerful, I think, than the one we are given when we have entered that work, but I think was it written by the Tibetan or were the changes made by Alice Bailey perhaps to avoid glamour which could occur at that time in trying to keep the attitude of the one who uses this in proportion. If you start to say I am the Cross without proper understanding, it can be fruitful of certain glamour. |
Bản của Trường Arcane có vài thay đổi ở đây: “Tôi leo lên thập giá, Tôi bước lên Con Đường”, chứ không phải “Tôi là Thập Giá, Tôi là Con Đường”. Thực ra, tôi nghĩ bản chúng ta được trao khi đã bước vào công việc đó còn mạnh mẽ hơn, nhưng có lẽ không biết do Chân sư Tây Tạng viết hay do Bà Alice Bailey thay đổi để tránh ảo cảm có thể phát sinh vào thời điểm đó, hầu giữ cho người dùng lời nguyện này một thái độ biết giữ chừng mực. Nếu bạn bắt đầu nói “Tôi là Thập Giá” mà không có sự thấu hiểu đúng đắn, điều đó có thể sinh ra một số ảo cảm nhất định. |
|
So I would recommend to all of us who are studying this book and the Tibetan’s work in general, memorize this, absolutely memorize this and repeat this to yourself, perhaps even daily to be assured of correct orientation on the Path which essentially you are. It’s not only you tread the Path, you are the Path. You are the Way. It is profound and DK says if we are somewhat appalled by the requirements here then perhaps it indicates how much we are in need of it, and how far we have to go. I mean we are on the Path of Relinquishment. We have discussed that when discussing the Blessed One’s stanzas in this important book. All will drop away all will fall from our hands, and only the empty nail marked hands will be in the true position to dispense the blessings of the world. One will realize oneself as the Blessed One dispensing those blessings. |
Vì vậy, tôi khuyến nghị tất cả chúng ta—những người đang học quyển sách này, và nói chung là công trình của Chân sư Tây Tạng—hãy học thuộc, tuyệt đối học thuộc và lặp lại điều này với chính mình, có lẽ hằng ngày, để bảo đảm sự định hướng đúng trên Thánh Đạo, vốn về bản chất là chính bạn. Không chỉ là bạn bước đi trên Thánh Đạo; bạn chính là Thánh Đạo. Bạn là Con Đường. Điều này thật uyên áo, và Chân sư DK nói nếu chúng ta có phần nào kinh hoàng trước các đòi hỏi ở đây thì có lẽ điều đó chỉ ra mức độ mà chúng ta cần đến nó, và khoảng đường chúng ta còn phải đi. Ý tôi là chúng ta đang ở trên Con Đường Từ Bỏ. Chúng ta đã bàn điều đó khi luận về những khổ kệ của Đấng Chân Phúc trong quyển sách quan trọng này. Tất cả sẽ rơi rụng, mọi thứ sẽ tuột khỏi tay chúng ta, và chỉ những bàn tay trống rỗng mang dấu đinh mới thực sự ở vị thế ban phát phước lành cho thế gian. Con người sẽ tự nhận ra mình là Đấng Chân Phúc, Đấng ban phát các phước lành ấy. |
|
We’re almost at the hour mark but I’ve been making these two hour programs just because it is more efficient to do so, and I hope it’s not a problem for you in listening to it. You can always turn it off and come back to it. |
Chúng ta hầu như sắp chạm mốc một giờ, nhưng tôi đã làm những chương trình dài hai giờ vì thấy như vậy hiệu quả hơn, và tôi hy vọng điều đó không gây trở ngại cho bạn khi lắng nghe. Bạn luôn có thể tắt đi rồi quay lại sau. |
|
As the work of learning to serve proceeds and the inner contact becomes more sure |
Khi công việc học cách phụng sự tiến triển và sự tiếp xúc nội tại trở nên chắc chắn hơn, |
|
This is the inevitable effect of our steady practice of meditation study and service. |
Đây là hệ quả tất yếu của thực hành tham thiền, học hỏi và phụng sự bền bỉ. |
|
As the inner contact becomes more sure the next thing which will occur will be a deepening of the life of meditation. |
Khi công việc học cách phụng sự tiến triển và sự tiếp xúc nội tại trở nên chắc chắn hơn, điều kế tiếp sẽ xảy ra là đời sống tham thiền sẽ sâu sắc hơn |
|
So, first there occurred the integrating of the personality into one serving unit with much struggle in doing so. |
Ban đầu đã diễn ra sự tích hợp phàm ngã thành một đơn vị phụng sự thống nhất, với rất nhiều đấu tranh để làm được như vậy. |
|
The next thing that will occur will be a deepening of the life of meditation and a more frequent illumining of the mind by the light of the soul. [14-27] |
điều kế tiếp sẽ xảy ra là đời sống tham thiền sẽ sâu sắc hơn và thể trí thường xuyên được soi sáng nhiều hơn bởi ánh sáng của linh hồn. |
|
So the process of enlightenment really is beginning here. Sometimes when you read the Eastern literature you think it occurs all at once. Maybe the Zen master takes his Koan and he strikes you if you’re thinking too much, and suddenly you are enlightened, but the analogy is that the sun does not proceed from its rising position to high noon instantaneously. So, maybe for some of us the enlightenment is more gradual, although I do think there can be those sudden breakthroughs where certain scales fall from the eyes and one sees suddenly what was already there but there has been a preparation for that type of instantaneous vision. A long and arduous preparation and then things fall away suddenly. |
Vì vậy, tiến trình giác ngộ thực sự khởi sự ngay tại đây. Đôi khi, khi đọc văn học phương Đông, chúng ta có cảm tưởng rằng nó xảy ra tức khắc, tất cả cùng một lúc. Có lẽ vị Thiền sư Zen đưa cho đệ tử Công Án của Ngài, và đánh mạnh vào người đệ tử khi y suy nghĩ quá nhiều, và đột nhiên y giác ngộ; nhưng phép loại suy ở đây là: mặt trời không thể từ vị trí vừa mọc mà lập tức tiến thẳng lên chính ngọ. Vì thế, đối với một số người trong chúng ta, sự giác ngộ có lẽ diễn ra một cách dần dần, mặc dù tôi cũng cho rằng vẫn có những đột phá bất ngờ, nơi một số lớp màn rơi khỏi đôi mắt và người ta bỗng nhiên thấy được điều vốn đã hiện diện từ trước, nhưng cần có một sự chuẩn bị cho loại thị kiến tức thời ấy, một sự chuẩn bị dài lâu và gian khổ, và rồi đột ngột mọi thứ rơi rụng. |
|
We will have this more frequent, illumining of the mind by the light of the soul, which compared to the personality consciousness, the soul is all knowing. At least it knows so much in the planetary sense. This of course is the Solar Angel in one way, but even we in our egoic nature as we will successively periodically rediscover in the interlude between incarnations, know so much more than we can possibly know or demonstrate or understand when confined within the lower vehicles, until of course we’ve conditioned those vehicles to make the acceptance of that knowing possible. So, |
Chúng ta sẽ có điều này thường xuyên hơn: sự soi sáng thể trí bởi ánh sáng của linh hồn—và nếu so với tâm thức phàm ngã, thì linh hồn là toàn tri, ít nhất là linh hồn biết rất nhiều trong ý nghĩa hành tinh. Dĩ nhiên, theo một cách nào đó, đây chính là Thái dương Thiên Thần; nhưng ngay cả chính chúng ta, trong bản chất chân ngã của mình—như chúng ta sẽ lần lượt, theo chu kỳ, tái khám phá trong quãng xen kẽ giữa các kiếp nhập thể—cũng biết nhiều hơn vô cùng so với những gì chúng ta có thể biết, biểu lộ hay thấu hiểu khi còn bị giới hạn trong các vận cụ thấp, cho đến khi chúng ta đã tác động và định hình các vận cụ ấy sao cho việc tiếp nhận loại tri thức đó trở nên khả dĩ. |
|
Thereby through this illumination the Plan is revealed. |
Nhờ đó Thiên Cơ được mặc khải. |
|
This is the Alignment Crisis Light Revelation stage of the ACLRI process that we have discussed. |
Đây là giai đoạn Chỉnh Hợp – Khủng Hoảng – Ánh Sáng – Mặc Khải của tiến trình ACLRI mà chúng ta đã bàn. |
|
Thereby the Plan is revealed. This will not be the shedding of that light upon the plans of the server either for his own life or upon his chosen field of service. This must be clearly grasped. |
Nhờ đó Thiên Cơ được mặc khải. Điều này không phải là việc rọi ánh sáng ấy lên các kế hoạch của người phụng sự cho đời sống riêng của y hay lên lĩnh vực phụng sự mà y chọn. |
|
DK helps us by clearing up misconceptions as He goes, not that light which is concerned with making his own decisions |
Chân sư DK giúp chúng ta bằng cách liên tục tháo gỡ các quan niệm sai lầm: không phải thứ ánh sáng nhằm giúp y đưa ra các quyết định của riêng mình |
|
That might only indicate (if it seems to occur) the mental agility of the server to find means for the justification of his own ambition. [14-28] |
Nếu dường như điều đó xảy ra, nó có thể chỉ cho thấy sự linh hoạt trí tuệ của người phụng sự trong việc tìm phương tiện biện minh cho tham vọng của chính mình. |
|
In other words, people are subject to the glamour of guidance as if the Master is telling you whether you can eat a sandwich or not at this time. That actually is the story. I won’t get into it but one of those who had done a lot for the world, he said he checked within and yes the Master says, I can do that. You see so many people acting as if the Master is watching every step they take, forgetting that they must become self-determining and that the Master and their soul are at one. |
Nói cách khác, con người rất dễ rơi vào ảo cảm về “sự chỉ dẫn”—như thể Chân sư đang bảo bạn lúc này có thể ăn một chiếc bánh mì kẹp hay không. Thực tế đã có một câu chuyện như thế. Tôi sẽ không kể dài, nhưng có một người đã làm được nhiều việc cho thế gian, ông nói ông tra xét bên trong và vâng, Chân sư nói ông có thể làm điều đó. Bạn thấy đó, nhiều người hành xử như thể Chân sư dõi theo từng bước chân họ, quên rằng họ phải trở nên tự quyết, và rằng Chân sư và linh hồn của họ là một. |
|
So, it’s not about shedding light upon the plans and every step of those plans, rather |
Vì vậy, đó không phải là soi sáng các kế hoạch và từng bước đi của các kế hoạch ấy, mà |
|
It will be the recognition, in the mind, of the Plan of God for the world at the particular time in which the server is existing, |
Đó sẽ là sự nhận biết, trong thể trí của y, Thiên Cơ của Thượng đế cho thế giới vào thời điểm cụ thể [136] mà người phụng sự đang hiện hữu, |
|
This is really correlated with the revelation point, not the point of light in the ACLRI process where the various flaws and faults of the individual are seen, but rather the Plan as it exists at this time will be to some degree revealed |
Điều này thực sự tương hợp với điểm mặc khải, không phải điểm Ánh Sáng trong tiến trình ACLRI, nơi các khiếm khuyết và lỗi lầm của cá nhân được thấy; nhưng đúng hơn, Thiên Cơ như hiện tồn vào lúc này sẽ phần nào được mặc khải |
|
and the part that he may play in furthering the ends of those who are responsible for the carrying forward of that Plan. [14-29] |
và phần việc mà y có thể đóng góp để thúc đẩy các mục tiêu của những Đấng chịu trách nhiệm đưa Thiên Cơ ấy tiến về phía trước. |
|
The objective is not on his own plans. The sight is on the Plan and the objective of the greater Servers of the Plan, and how he in his life may serve the Plan-related objectives of those Greater Servers, i.e. the Masters. |
Mục tiêu không đặt trên kế hoạch riêng của y. Cái nhìn đặt trên Thiên Cơ và mục tiêu của các Đấng Phụng Sự Lớn của Thiên Cơ, và y có thể, trong đời sống mình, phụng sự ra sao cho tương ứng với các mục tiêu liên hệ đến Thiên Cơ của những Đấng Cao Hơn ấy—tức các Chân sư. |
|
So it will be the recognition in the mind of the Plan of God for the world at the particular time in which the server is existing and the part he may play in furthering the ends, the ends and objectives of those who are responsible for carrying forth that Plan. |
Vì vậy, đó sẽ là sự nhận biết trong thể trí về Thiên Cơ của Thượng đế đối với thế giới, vào thời điểm cụ thể mà người phụng sự đang hiện hữu, cũng như về phần vai trò mà y có thể đảm nhận trong việc thúc đẩy các cứu cánh—tức là các cứu cánh và mục tiêu của những Đấng chịu trách nhiệm thực hiện và đưa Thiên Cơ ấy tiến triển. |
|
DK has often said He’s not so interested in us originating some new and unique form of service as he is in us aligning with his objectives, such as the Triangles or the Goodwill, and I suppose the Arcane School is part of it, though that was actually more of Alice Bailey’s origination, and naturally DK helped her with that, and falling into line with the expression of those methods of serving humanity which the Tibetan Himself had originated, and the importance of which we cannot question. |
Chân sư DK thường nói Ngài không quan tâm lắm việc chúng ta khởi xướng một hình thức phụng sự mới mẻ và độc đáo nào bằng việc chúng ta chỉnh hợp với các mục tiêu của Ngài, như Phong Trào Tam Giác hay Thiện Chí, và tôi nghĩ Trường Arcane cũng là một phần, dù thật ra đó là sự khởi xướng nhiều hơn từ Bà Alice Bailey, dĩ nhiên Chân sư DK đã trợ giúp Bà trong việc đó—và chúng ta đi vào quỹ đạo biểu lộ các phương pháp phụng sự nhân loại do chính Chân sư Tây Tạng khai sáng, mà tầm quan trọng của chúng ta không thể nghi ngờ. |
|
So this is a different attitude. It’s not light upon my path and what I conceive to be my way step by step with the Higher Beings telling me what to do. It’s not that at all. It’s a much larger perspective. We can ask ourselves what really is needed in the world today when we have to look at the requirements for the Reappearance of the Christ. Certainly the great principle of sharing is needed, because there’s so much greed and so much cleavage caused by a rapacious acquisitive greedy attitude and there is a great need for a measure of peace before the Christ can return, and the whole world in one way or another is at war, not an all-out world war, but something that could become that if we are not careful. So the many battles over the cleavage is caused by narrow minded thinking. These battles have to be reduced and the outer conflagrations subside. We can see that Christ could not possibly come with the world in such turmoil, as it is at the moment. |
Vì vậy đây là một thái độ khác. Không phải là ánh sáng rọi xuống “con đường của tôi”, và cái mà tôi quan niệm là “đường đi” của tôi—từng bước một—với các Đấng Cao Cả bảo tôi phải làm gì. Hoàn toàn không phải vậy. Đó là một viễn cảnh rộng lớn hơn nhiều. Chúng ta có thể tự hỏi rằng điều gì thực sự đang được cần đến trong thế giới ngày nay, khi chúng ta phải nhìn vào những yêu cầu cho Sự Tái Lâm của Đức Christ. Chắc chắn, nguyên lý vĩ đại của sự chia sẻ là điều cần thiết, bởi vì đang tồn tại quá nhiều lòng tham và quá nhiều sự chia cắt do thái độ chiếm đoạt tham lam, háo lợi gây ra; và cần có một mức độ hòa bình nhất định trước khi Đức Christ có thể trở lại, trong khi toàn thế giới, theo cách này hay cách khác, đang ở trong tình trạng chiến tranh—không phải là một cuộc đại chiến toàn cầu toàn diện, nhưng là điều gì đó có thể trở thành như vậy nếu chúng ta không thận trọng. Do đó, rất nhiều cuộc xung đột xoay quanh sự chia cắt được gây ra bởi lối tư duy hẹp hòi. Những cuộc xung đột này phải được giảm thiểu và các cuộc bùng cháy bên ngoài phải lắng dịu. Chúng ta có thể thấy rằng Đức Christ không thể nào trở lại khi thế giới đang trong tình trạng hỗn loạn như hiện nay. |
|
So, we are serving the Plan; we are serving those who serve the Plan; and then we’re serving those whom the Plan serves, and then those who serve the Plan, and only later do we attend to our own little part within that. |
Vì vậy, chúng ta phụng sự Thiên Cơ; chúng ta phụng sự những Đấng phụng sự Thiên Cơ; rồi chúng ta phụng sự những ai được Thiên Cơ phụng sự; và chỉ về sau chúng ta mới lưu tâm đến phần việc nhỏ bé của mình trong đó. |
|
He then becomes willing to be a tiny part of a greater Whole, and this attitude never varies, even when the disciple has become a Master of the Wisdom. |
Khi đó y trở nên sẵn lòng là một phần rất nhỏ của một Toàn Thể lớn hơn, và thái độ này không bao giờ thay đổi, ngay cả khi đệ tử đã trở thành một chân sư Minh triết. |
|
He then becomes willing to be a tiny part of a greater whole. |
Khi đó y trở nên sẵn lòng là một phần rất nhỏ của một Toàn Thể lớn hơn, |
|
Now there has to be willingness, and we can all recognize that this is an act of decentralization, because ordinarily what we think of as ourselves looms rather large in our field of consciousness, and we must reduce that image until it becomes just a tiny point, and the greater whole is then what is seen, and the tiny point is recognized as our little instrument, and its part within that greater whole. So, becoming a tiny part in this greater whole, and this is often an “act of will”. We are willing to see our lesser self reduced in stature because a new sense of perspective is developing. |
Ở đây phải có sự sẵn lòng, và tất cả chúng ta đều có thể nhận ra rằng đây là một hành vi “phi tập trung vào bản thân”, bởi bình thường cái mà chúng ta nghĩ là “bản thân” phóng lớn trong trường tâm thức của mình; chúng ta phải thu nhỏ hình ảnh ấy lại cho tới khi nó chỉ còn là một điểm nhỏ, và “tổng thể lớn lao hơn” mới là cái được thấy; điểm nhỏ ấy được nhận ra như khí cụ nhỏ bé của chúng ta và vai trò của nó trong tổng thể lớn lao ấy. Do đó, trở thành một phần nhỏ trong tổng thể lớn hơn—và điều này thường là “một hành động của ý chí”. Chúng ta sẵn lòng thấy cái “bản ngã thấp kém” bị giảm bớt tầm vóc vì một ý thức về viễn cảnh mới đang phát triển. |
|
and this attitude never varies, even when the disciple has become a Master of the Wisdom. |
và thái độ này không hề đổi thay, ngay cả khi đệ tử đã trở thành một Chân sư của Minh Triết. |
|
He after all is a point within a circle, is he not? The Master of the Wisdom is a point within a circle. The circle is the large sphere, the greater whole, and the tiny point which really has no dimension at all, interestingly. A point is not measurable, it’s not mayavic in that sense, Maya to measure. The Master realizes himself as that point, and even when he is, or should he become a planetary Logos or some Greater Beings and so forth, still it’s the point within the circle. Any Entity within the great universal whole is a point within a circle. We might even make a case to say that the universal Logos is not the only circle. There comes a circle without a circumference, and we might say that the universal Logos is the slightest point. All points are really the same size, they have no dimension, they really have no size. They simply have being without dimension. Try to wrap our heads around that one. So, |
Rốt lại Ngài là một điểm trong vòng tròn, đúng không? Chân sư của Minh Triết là một điểm trong vòng tròn. Vòng tròn là khối cầu lớn, tổng thể lớn hơn; còn điểm nhỏ—thật thú vị—thực ra không có kích thước. Một điểm không đo lường được; nó không “maya” theo nghĩa đó—maya gắn với đo lường. Chân sư tự biết mình là điểm ấy; và ngay cả khi Ngài, hoặc nếu Ngài trở thành một Hành Tinh Thượng đế hay một Đấng Vĩ Đại Hơn nào đó, thì vẫn là “điểm trong vòng tròn”. Mọi Thực Thể trong đại tổng thể vũ trụ đều là một điểm trong vòng tròn. Chúng ta thậm chí còn có thể lập luận rằng Thượng đế Vũ Trụ không phải là vòng tròn duy nhất. Có một vòng tròn không có chu vi, và chúng ta có thể nói rằng Thượng đế Vũ Trụ chỉ là điểm nhỏ nhất. Thực ra, mọi điểm đều có cùng một kích cỡ; chúng không có chiều kích, chúng thực sự không có kích thước. Chúng chỉ đơn thuần là hiện hữu mà không có chiều kích. Hãy thử bao trùm điều đó trong thể trí của chúng ta. Vì vậy, |
|
the attitude never varies even as the development of the individual continues. He is then in contact with a still vaster concept of the Plan and His humility and His sense of proportion remain unchanged. [14-30] |
thái độ ấy không hề đổi thay, dù sự phát triển của cá nhân tiếp diễn. Khi ấy Ngài tiếp xúc với một quan niệm còn bao la hơn về Thiên Cơ và sự khiêm nhường cùng ý thức về tỉ lệ của Ngài vẫn không đổi. |
|
He continues to be humble, maybe he grows even more humble, maybe humility increases. Certainly his understanding of the negligibility of the point increases. Well, that gets into some of the philosophy here, and I won’t go off on that, that tangent as I sometimes do, but let’s just say that the conception of the Plan which is possessed by Master DK is far more expansive than we can possibly conceive. He’s given something of that conception in A Treatise on Cosmic Fire and some of his still more profound books. They’re all profound but when we get into the Rays and the Initiations and the Treatise On Cosmic Fire, we’re dealing with very abstruse matters far beyond our comprehension, but somehow within the aura of his understanding, we do get a larger grasp of the true nature of things. Excuse me. |
Ngài tiếp tục giữ sự khiêm nhường, và có lẽ Ngài còn trở nên khiêm nhường hơn nữa, có lẽ mức độ khiêm nhường ấy ngày càng gia tăng. Chắc chắn rằng sự thấu hiểu của Ngài về tính không đáng kể của điểm ngày càng sâu sắc hơn. Điều đó đưa chúng ta đi vào một số khía cạnh triết học ở đây, và tôi sẽ không đi chệch sang hướng ấy như đôi khi tôi vẫn làm, nhưng có thể nói rằng quan niệm về Thiên Cơ mà Chân sư DK sở hữu thì bao quát hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì chúng ta có thể hình dung. Ngài đã trao truyền một phần quan niệm ấy trong A Treatise on Cosmic Fire và trong một số tác phẩm còn thâm sâu hơn nữa của Ngài. Tất cả đều rất thâm sâu, nhưng khi chúng ta bước vào The Rays and the Initiations và A Treatise on Cosmic Fire, thì chúng ta đang tiếp cận những vấn đề cực kỳ trừu tượng, vượt xa khả năng thấu hiểu của chúng ta; tuy nhiên, bằng cách nào đó, trong hào quang của sự hiểu biết của Ngài, chúng ta vẫn đạt được một sự nắm bắt rộng lớn hơn về bản chất chân thực của vạn sự. |
|
An integrated, intelligent personality is adequate to deal with the working out of the server’s part in the active work of the world, |
Một phàm ngã tích hợp, thông minh là đủ để xử lý việc triển khai phần việc của người phụng sự trong công tác năng động của thế giới, |
|
Let’s just say, integrated with the soul and there is no need for the soul to be advising at every step, let alone the master. |
Chúng ta hãy chỉ nói rằng: đã được tích hợp với linh hồn, và không cần linh hồn phải chỉ dẫn từng bước—chứ đừng nói đến Chân sư. |
|
provided his vision is not blurred by personal ambition nor his activity such that it degenerates into a sense of rush and a display of busy feverishness. [14-31] |
miễn là tầm nhìn của y không bị tham vọng cá nhân làm mờ đi, và hoạt động của y không đến mức thoái hoá thành cảm giác vội vã và phô bày sự bận rộn sốt sắng. |
|
I think if we combine some of the liabilities of the third ray and the sixth ray together we will get this result. The sense of rush is discussed in the formulas and descriptions of the third and sixth ray, and certainly busyness is discussed in terms of the third ray. The glamour of being busy. |
Tôi nghĩ nếu kết hợp vài nhược điểm của cung ba và cung sáu, ta sẽ được kết quả này. Cảm giác gấp gáp được bàn trong những công thức và mô tả cung ba, cung sáu; và chắc chắn “bận rộn” được nói đến trong liên hệ với cung ba—ảo cảm về sự bận rộn. |
|
So an intelligent integrated and to some extent in contact with the soul, because the word integration does not only mean integration of the personality within itself, or as an isolated unit in any way divorced from the soul. There is an integration of energy systems between the soul and the personality, and that also is a form of integration, as I’ve said. I think that the real integrative task can lead even to the third initiation; the integration of energy systems maybe even to the fourth. There is soul fusion which is a matter of consciousness, I think, and soul-personality integration which is the fusing of two energy systems with each other accompanied of course by a fusion in consciousness. |
Vì vậy, một phàm ngã thông minh, tích hợp, và ở một mức nào đó, tiếp xúc với linh hồn—bởi chữ “tích hợp” không chỉ có nghĩa tích hợp phàm ngã trong chính nó, hay như một đơn vị cô lập, tách lìa khỏi linh hồn. Có một sự tích hợp các hệ thống năng lượng giữa linh hồn và phàm ngã, và đó cũng là một dạng tích hợp. Như tôi đã nói, tôi nghĩ nhiệm vụ tích hợp đích thực có thể dẫn đến thậm chí lần điểm đạo thứ ba; sự tích hợp các hệ thống năng lượng—có khi đến cả lần thứ tư. Có “dung hợp với linh hồn” vốn là vấn đề của tâm thức, và có “tích hợp linh hồn-phàm ngã” vốn là sự dung hợp của hai hệ thống năng lượng với nhau, tất nhiên đi kèm với một dung hợp trong tâm thức. |
|
It takes the soul itself to reveal to the poised and peaceful mind the next step to be taken in the work of world evolution, through the impartation of ideas. Such is the Plan for humanity. |
Chính linh hồn mới có thể mặc khải cho thể trí quân bình và an tĩnh bước kế tiếp cần thực hiện trong công tác tiến hoá thế gian, qua việc truyền đạt các ý tưởng. Đó là Thiên Cơ cho nhân loại. |
|
Let’s really notice there because it suggests the manner of service for disciples, the impartation of ideas of those Beings from a higher world, from a Triadal World which have to make their impact upon the minds of human beings, and thus change the configuration below. So, what we often times, if we go too far towards the activity aspect of service, we will be busy but we will render ourselves futile, and there will be an expenditure of energy which is not at all commensurate with the achievement resulting. In fact we may undo much of the good that we might have done or have done in the past, or that others are doing. So we want to avoid busyness and feverishness which suggests of course a state of consciousness which is not deliberative, not wise, not objective, “haste makes waste”. Here’s the old adage connected with this condition. It doesn’t make any difference if we feel that we are driven by something important, if we are hasty, we blunder into things, and delay through service and thus through progress. So, |
Chúng ta hãy thực sự lưu ý điều này, bởi vì nó gợi ý về phương cách phụng sự của các đệ tử: đó là sự truyền đạt các ý tưởng của những Đấng đến từ một thế giới cao hơn, từ Thế Giới Tam Nguyên, những ý tưởng phải tạo được tác động lên thể trí của con người và qua đó làm thay đổi sự cấu hình ở các cõi bên dưới. Vì vậy, thường thì nếu chúng ta đi quá xa về phía khía cạnh hoạt động của sự phụng sự, chúng ta sẽ trở nên bận rộn nhưng lại tự làm cho mình trở nên vô hiệu, và sẽ có một sự tiêu hao năng lượng hoàn toàn không tương xứng với thành quả đạt được. Thật ra, chúng ta thậm chí còn có thể làm tiêu tan phần lớn những điều tốt đẹp mà mình có thể đã làm, đã từng làm trong quá khứ, hoặc những người khác đang làm. Do đó, chúng ta muốn tránh sự bận rộn và sốt sắng cuồng nhiệt—điều dĩ nhiên cho thấy một trạng thái tâm thức không có tính cân nhắc, không minh triết, không khách quan; “dục tốc bất đạt”. Đây là câu ngạn ngữ xưa gắn liền với tình trạng này. Việc chúng ta cảm thấy mình bị thúc đẩy bởi một điều gì đó quan trọng không tạo ra khác biệt nào cả; nếu chúng ta hấp tấp, chúng ta sẽ vấp váp lao vào mọi việc, và như thế gây trì hoãn cho chính sự phụng sự và do đó cho cả sự tiến bộ. Vì vậy, |
|
the soul itself will reveal the next step in world evolution. |
Chính linh hồn mới có thể mặc khải cho thể trí quân bình và an tĩnh bước kế tiếp cần thực hiện trong công tác tiến hoá thế gian |
|
So, let’s just say what we are learning here is that the integrated personality can reveal the next step ahead for the individual, but it takes the soul itself to reveal the next step ahead for humanity and the world. We may say we know what the next thing that we, the individual, have to do maybe, or is, but how do we really know what is the next step ahead for humanity as a whole and for the world, and how successfully is our service aiding that next step. |
Chúng ta hãy chỉ nói rằng điều chúng ta đang học ở đây là: phàm ngã tích hợp có thể “chỉ ra” bước kế tiếp trước mắt dành cho cá nhân, nhưng phải là chính linh hồn mới có thể mặc khải bước kế tiếp trước mắt cho nhân loại và cho thế giới. Chúng ta có thể nói mình biết việc kế tiếp mà “tôi”—cá nhân—phải làm; nhưng làm sao chúng ta thực sự biết bước kế tiếp đối với nhân loại như một tổng thể và đối với thế giới là gì, và phụng sự của chúng ta trợ lực cho bước kế tiếp ấy thành công đến đâu? |
|
As the force pours through the personality and gives to the server this necessary vision and the sense of power which will enable him to cooperate, it finds its way into the emotional or astral body. [14-32] |
Khi mãnh lực tuôn chảy qua phàm ngã và ban cho người phụng sự tầm nhìn cần thiết này cùng ý thức về quyền năng sẽ giúp y hợp tác, nó sẽ tìm đường đi vào thể cảm dục. |
|
We can imagine that this may be not only good but problematic at times. |
Có thể hình dung điều này không chỉ tốt đẹp mà đôi lúc cũng thành vấn đề. |
|
So, the soul confers vision, confers a higher vision and power because the soul is far more powerful than the personality. Our egoic nature is far more powerful, and of course the Solar Angel far more powerful. |
Vì vậy nên linh hồn ban phát tầm nhìn, ban phát một tầm nhìn cao hơn và quyền năng—bởi linh hồn mạnh mẽ hơn rất nhiều so với phàm ngã. Bản chất chân ngã của chúng ta mạnh hơn nhiều, dĩ nhiên Thái dương Thiên Thần lại càng mạnh mẽ hơn nữa. |
|
Here again the effect will be dual, owing to the condition of the server’s astral body and his inner orientation. |
Ở đây một lần nữa hiệu quả sẽ là hai mặt, do tình trạng của thể cảm dục của người phụng sự và do định hướng nội tâm của y. |
|
The application of a higher force itself is no guarantee that the result will be good or serviceable. As we see here |
Việc áp dụng một mãnh lực cao hơn tự thân không bảo đảm rằng kết quả sẽ tốt hay hữu ích cho phụng sự. Như chúng ta sẽ thấy, |
|
It may enhance the glamour and deepen the illusion, swinging the server into the psychic illusory effects there to be found. |
Nó có thể làm tăng ảo cảm và làm sâu sắc thêm ảo tưởng, đẩy người phụng sự vào các tác động ảo tưởng thông linh có thể tìm thấy ở đó. |
|
DK tells us it is not the soul per se which rids us of glamour, but the directed, clear illumined beam of mind. So, soul force applying itself to a already glamourized astral body can render the glamour even more potent. We have to remember this and the value of the use of the clarified mind in this process. |
Chân sư DK nói với chúng ta rằng không phải tự thân linh hồn loại trừ được ảo cảm, mà là nhờ “chùm tia sáng thể trí” có định hướng, trong sáng, chiếu rọi. Do đó, mãnh lực linh hồn áp vào một thể cảm dục vốn đã ảo cảm có thể khiến ảo cảm gia tăng mãnh liệt. Chúng ta phải ghi nhớ điều này và ghi nhớ giá trị của việc sử dụng thể trí được làm sáng tỏ trong tiến trình ấy. |
|
When this happens, he will emerge upon the physical plane glamoured by the idea, for instance, of his amazing personal contacts, whereas he has only contacted some group thought-form of the Great Ones. [14-33] |
Khi điều này xảy ra, y sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần trong trạng thái bị ảo cảm bởi ý tưởng, chẳng hạn, về những tiếp xúc cá nhân kỳ diệu của mình, trong khi y chỉ tiếp xúc với một hình tư tưởng nhóm nào đó của Các Đấng Cao Cả. |
|
This is common, isn’t it? So many are in touch with the Masters and even Sanat Kumara on first name basis. It’s a little amusing, but it’s going to take a while for such people to work themselves out of this kind of glamorous inflation. They won’t be happy to give up the illusion because it is rather comforting and reinforces the sense of their own self-importance. |
Điều này rất phổ biến, phải không? Rất nhiều người cho rằng mình đang tiếp xúc với các Chân sư, thậm chí với cả Đức Sanat Kumara, và còn gọi các Ngài bằng tên riêng. Điều đó có phần khá buồn cười, nhưng sẽ phải mất một thời gian để những người như vậy tự thoát ra khỏi kiểu phồng đại ảo cảm này. Họ sẽ không dễ dàng từ bỏ ảo tưởng ấy, bởi vì nó khá dễ chịu và còn củng cố cảm giác về tầm quan trọng của chính họ. |
|
He will be under the illusion that he is a chosen vessel or mouthpiece for the Hierarchy, when the truth is that he is deceived by the many voices, because the Voice of the Silence has been dimmed by the clamour of the astral plane; |
Y sẽ ở trong ảo tưởng rằng y là một khí cụ được chọn hay một phát ngôn nhân cho Thánh Đoàn, trong khi sự thật là y bị đánh lừa bởi nhiều tiếng nói, vì Tiếng Nói của Im Lặng đã bị làm mờ đi bởi sự ồn ào của cõi cảm dục; y sẽ bị mê hoặc bởi ý tưởng rằng không có con đường nào khác ngoài con đường của y. |
|
So, let’s just say at this point not in touch with the still small voice, and the many voices delude him, lead him astray, but at the same time make him feel more important. This did go on somewhat in the Tibetan’s group when a couple of the members of his glamour group, the Observers of Reality, contacted a thought form of the Tibetan, and caused much damage within the group and within their own aura. This thought form was always praising them. right there you can tell it’s not going to be the master. |
Vì vậy, vào lúc này y không tiếp xúc với “tiếng nói nhỏ nhẹ” bên trong; và muôn tiếng nói đánh lừa, dẫn y lạc lối, đồng thời khiến y cảm thấy quan trọng hơn. Điều này từng xảy ra ở mức nào đó trong nhóm của Chân sư Tây Tạng, khi một vài thành viên của nhóm ảo cảm—Những Nhà Quan Sát Thực Tại—tiếp xúc một hình tư tưởng về Chân sư Tây Tạng, và gây nhiều tổn hại trong nội bộ nhóm và trong chính hào quang của họ. Hình tư tưởng ấy luôn khen ngợi họ—chỉ điều đó thôi bạn cũng biết chắc không phải là Chân sư. |
|
The voice of the silence has been dimmed by the clamour of the astral plane. He will be deluded by the idea that there is no other way but his way. [14-34] |
Tiếng Nói của Im Lặng đã bị làm mờ bởi sự náo động của cõi cảm dục. Y sẽ bị mê hoặc bởi ý tưởng rằng không có con đường nào khác ngoài con đường của y. |
|
It’s the sixth ray types fall victim to this type of glamour. No other way. One way. My way only. One philosophy. One religion. One political system only. We know right there that there is a problem with perspective. |
Các loại người cung sáu hay vướng vào kiểu ảo cảm này: không có con đường nào khác, chỉ một đường, đó là con đường của tôi. Chỉ một triết thuyết, một tôn giáo, một hệ thống chính trị. Chúng ta biết ngay là đang có vấn đề về viễn cảnh. |
|
Such an illusion and deception is common among teachers and workers everywhere today. |
Ảo tưởng và sự lừa dối như vậy là phổ biến ở các huấn sư và người hoạt động ở khắp mọi nơi ngày nay, Ảo tưởng và sự dối lừa như vậy rất phổ biến nơi các thầy dạy và những người làm việc khắp nơi ngày nay. |
|
Why?, |
Vì sao?, |
|
…because so many are definitely making a contact with their souls, and are being swept then into the desire for service; |
… vì có quá nhiều người đang thực sự tiếp xúc với linh hồn của họ, và rồi bị cuốn vào ham muốn phụng sự; |
|
I think so many teachers as well are influenced by this sixth ray which is experiencing a kind of flaming forth before going out of incarnation. These teachers, |
Tôi nghĩ rất nhiều huấn sư cũng chịu ảnh hưởng của cung sáu, cung này đang bừng sáng trước khi rút khỏi chu kỳ lâm phàm. Những huấn sư này, |
|
they are not yet free, however, from ambition, and their orientation is still basically towards personality expression, and not to the merging of themselves in the Group of World Servers. [14-35] |
tuy nhiên, họ chưa được giải thoát khỏi tham vọng, và định hướng của họ vẫn căn bản hướng về sự biểu lộ phàm ngã, chứ không phải về việc hoà nhập chính họ vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
|
It’s an act of humility to merge yourself rather anonymously into the New Group of World Servers. |
Đó là một hành động khiêm nhường để hòa nhập—tương đối ẩn danh—vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
|
If however they can avoid glamour, and can discriminate between the Real and the unreal, |
Tuy nhiên, nếu họ có thể tránh ảo cảm và có thể phân biện giữa Thực Tại và điều không thực, |
|
which so many, having achieved some kind of distinction in their own eyes, do not want to do |
điều mà rất nhiều người—khi đã đạt được một dạng nổi bật nào đó trong chính mắt họ—lại không muốn làm. |
|
then the inflowing force will flood their lives with effective unselfish love and with devotion to the Plan, to those whom the Plan serves, and to Those Who serve the Plan. |
thì mãnh lực tuôn vào sẽ tràn ngập đời sống họ bằng tình thương vô ngã hiệu quả, và bằng sự tận hiến với Thiên Cơ, với những người mà Thiên Cơ phụng sự, và với Những Đấng Phụng Sự Thiên Cơ. |
|
That is the sequence, isn’t it? That’s the sequence we’re talking about. And he tells us to note the sequence. |
Đó là trình tự, đúng không? Đây chính là trình tự mà chúng ta đang nói đến, và Ngài bảo chúng ta hãy ghi nhớ trình tự này. |
|
Note the sequence of these attitudes, and govern yourselves accordingly. Devotion to the Plan, to those whom the Plan serves and to those who serve the Plan. |
Hãy lưu ý trình tự của các thái độ này, và hãy tự điều chỉnh cho phù hợp. Sự tận hiến đối với Thiên Cơ, đối với những người mà Thiên Cơ phụng sự, và đối với những người phụng sự Thiên Cơ. |
|
So often we get it just in the reverse manner. We serve the Masters. We are really interested in the Plan, and at the end of it all maybe we will pay attention to those whom the Plan serves. So note the sequence. We’re being given an admonition here. |
Chúng ta thường làm ngược lại, khi chúng ta phụng sự các Chân sư; chúng ta thực sự quan tâm tới Thiên Cơ; và có lẽ sau rốt chúng ta mới lưu ý đến những ai được Thiên Cơ phụng sự. Vì vậy, hãy ghi nhớ trình tự này, và chúng ta đang nhận một lời cảnh tỉnh ở đây. |
|
Note the sequence of these attitudes and govern yourselves accordingly. |
Hãy ghi nhớ trình tự của các thái độ này và tự điều hành mình theo đó. |
|
And every once in a while it’s good to have a checkup and see to what and to whom our devotion is really directed. To the Plan, to those whom the Plan serves, but the Plan even more importantly, interestingly, because if the Plan truly manifests then those whom the Plan serves will be served. And then not exalting ourselves by some kind of devotion to those who serve the plan. That’s the last thing. |
Và thỉnh thoảng, thật tốt khi tự kiểm tra lại và xem xét sự tận hiến của chúng ta thực sự đang hướng về điều gì và về ai. Về Thiên Cơ, về những người mà Thiên Cơ phụng sự, nhưng quan trọng hơn—và cũng thú vị hơn—là về chính Thiên Cơ, bởi vì nếu Thiên Cơ thực sự được biểu lộ, thì những người mà Thiên Cơ phụng sự cũng sẽ được phụng sự. Và khi đó, điều cần tránh là tôn vinh bản thân mình thông qua một dạng tận hiến nào đó đối với những người phụng sự Thiên Cơ. Đó là điều sau cùng cần làm. |
|
In a way the Masters do not need our devotion though it may be useful for us at times. |
Theo một nghĩa nào đó, các Chân sư không cần lòng sùng tín của chúng ta—dù đôi khi điều ấy có ích cho chính chúng ta. |
|
There will then be no room for self-interest, self-assertiveness, or selfish ambition. |
Khi đó sẽ không còn chỗ cho tư lợi, sự tự khẳng định, hay tham vọng ích kỷ. |
|
No room for self-interest, self-assertiveness, the assertion of the little self. |
Không còn chỗ cho tư lợi, cho việc khẳng định cái tôi nhỏ bé. |
|
We do want the higher self asserted for sure. We learn about this in A Treatise on White Magic where he contrasts the instinctual way with the way of the soul or selfish ambition. You know, act as one who is ambitious but be not ambitious. We might have the desire for betterment for the whole itself rather than for our own little part within the whole. |
Chúng ta chắc chắn muốn Chân Ngã cao hơn được “khẳng định”. Chúng ta học điều này trong Luận về Chánh Thuật, nơi Ngài đối chiếu con đường bản năng với con đường của linh hồn, hay “tham vọng ích kỷ”. Bạn biết câu nói: “hành xử như kẻ đầy tham vọng nhưng chớ có tham vọng”. Chúng ta có thể mong muốn sự tốt đẹp hơn cho chính Tổng Thể, thay vì cho phần nhỏ của mình trong Tổng Thể. |
|
All that is considered is the need and the driving necessity to take the next immediate step to meet that need as it demonstrates before the server’s eyes. [14-36] |
Điều duy nhất được xét đến là nhu cầu và sự thúc bách tất yếu nhằm thực hiện bước kế tiếp ngay tức khắc, để đáp ứng nhu cầu ấy, khi nó hiển lộ ngay trước mắt người phụng sự. |
|
So, we have to be very cautious about the kind of soul energy we may bring into the personality as it will hit the astral body and may deepen the glamour and illusion in which we live. Of course, the problem with glamour is that we tend not to see our own because they are the habitual states of consciousness and activity that we have lived in these many years. And when you say “Well, that’s the way I am” you can almost be sure that it’s hiding some kind of glamour. We just say as “I am I will remain and I will not change. This is comfortable for me”, and probably behind that is some sort of misconception, misinterpretation, distorted desire. |
Vì vậy, chúng ta phải rất thận trọng về loại năng lượng linh hồn có thể đưa vào phàm ngã, vì nó sẽ chạm tới thể cảm dục và có thể đào sâu ảo cảm và ảo tưởng mà chúng ta đang sống trong đó. Dĩ nhiên, vấn đề với ảo cảm là chúng ta thường không thấy ảo cảm của chính mình, vì đó là các trạng thái tâm thức và hoạt động thói quen mà chúng ta đã sống trong đó suốt biết bao năm, và khi bạn nói “Tôi vốn như vậy”, gần như chắc chắn sau đó đang ẩn một dạng ảo cảm nào đó. Chúng ta đơn giản nói: “Tôi là thế, tôi sẽ vẫn là thế, tôi sẽ không thay đổi. Thế là hợp với tôi”, và có lẽ đằng sau đó là một dạng ngộ nhận, giải thích sai, ước muốn bị bóp méo. |
|
So, when you find ourselves, when we find ourselves using that phrase, let’s be quite cautious and maybe investigate it, because though it may be the way we are or have been it may not be the way we should be. |
Vì vậy, khi chúng ta nhận thấy mình đang sử dụng cụm từ ấy, chúng ta hãy hết sức thận trọng và có lẽ nên khảo sát nó, bởi vì mặc dù đó có thể là cách chúng ta đang là hoặc đã từng là, nhưng nó có thể không phải là cách chúng ta nên là. |
|
With the heart and mind then functioning together (either in selfish coalition for the presentation of an active personality, or in dedicated selflessness and the attitude which is oriented towards soul guidance) the force, flowing through the server will galvanise his etheric body into activity. [14-37] |
Khi ấy, với tâm và trí hoạt động cùng nhau (hoặc trong sự liên minh ích kỷ để trình bày một phàm ngã năng động, hoặc trong sự vô ngã tận hiến và thái độ được định hướng về sự dẫn dắt của linh hồn) thì mãnh lực tuôn chảy qua người phụng sự sẽ kích hoạt thể dĩ thái của y đi vào hoạt động. |
|
It’s so brilliant how He uses these words because it’s a brilliant analysis of how the heart and mind can unite to put forward an overly active personality or better, much better in dedicated selflessness and the attitude which is oriented towards soul guidance. That is what we wish to achieve. |
Thật rực rỡ biết bao trong cách Ngài sử dụng những từ ngữ này, bởi đó là một sự phân tích xuất sắc về cách tâm và trí có thể hợp nhất để hoặc đẩy ra phía trước một phàm ngã quá mức hoạt động, hoặc—tốt hơn nhiều—thể hiện trong sự vị tha tận hiến và trong thái độ được định hướng về sự hướng dẫn của linh hồn. Đó chính là điều chúng ta mong muốn đạt tới. |
|
Dedicated selflessness |
Sự vô ngã tận hiến |
|
I’d say, most of us, I include myself, have a long way to go. |
Tôi dám nói rằng phần lớn chúng ta—tôi tự liệt kê mình vào đó—còn một quãng dài để đi. |
|
Dedicated selflessness and the attitude which is oriented towards soul guidance, then the heart and mind functioning together, the force flowing through the server will galvanize his etheric body into activity |
trong sự vô ngã tận hiến và thái độ được định hướng về sự dẫn dắt của linh hồn) thì mãnh lực tuôn chảy qua người phụng sự sẽ kích hoạt thể dĩ thái của y đi vào hoạt động. |
|
Especially in the new Age governed by Aquarius, which governs in part the etheric body. So, |
Nhất là trong Thời Đại Bảo Bình, vốn phần nào cai quản thể dĩ thái. Vì vậy, |
|
with the heart and mind then functioning together the force, flowing through the server will galvanise his etheric body into activity. |
khi tâm và trí hoạt động đồng thời thì mãnh lực tuôn qua người phụng sự sẽ kích hoạt thể dĩ thái của y. |
|
This is our first major point of attention. We do have so much to sort out on the astral nature, but the etheric cleansing is particularly an Aquarian task. Really, you have to cleanse all three levels with Aquarius, but the etheric comes first, so at least the unbalanced psychological and mental conditions will not make their way onto the etheric physical plane. We will have some respite from a outer world turned upside down and in which no progress can be made, or at least in which progress is very difficult to make. |
Đây là điểm chú ý chính yếu đầu tiên của chúng ta. Chúng ta quả thực có rất nhiều điều cần phải sắp xếp lại trong bản chất cảm dục, nhưng sự thanh lọc dĩ thái thì đặc biệt là một nhiệm vụ của Bảo Bình. Thật ra, với Bảo Bình, các bạn phải thanh lọc cả ba cấp độ, nhưng dĩ thái là bước đi đầu tiên, để ít nhất những tình trạng tâm lý và trí tuệ mất quân bình sẽ không tìm được đường đi vào cõi hồng trần dĩ thái. Khi đó, chúng ta sẽ có được một khoảng nhẹ gánh trước một thế giới bên ngoài bị đảo lộn hoàn toàn, nơi mà không thể đạt được tiến bộ, hoặc ít nhất là nơi mà tiến bộ trở nên vô cùng khó khăn. |
|
Then, automatically, the physical body will respond. |
Rồi, tự động, thể xác sẽ đáp ứng. |
|
This we’re really going to learn about in the Aquarian age because the emphasis will be upon the bioelectric field, and then the natural response of the outer automaton will occur, and we will become less materialistic in our consciousness. |
Điều này chúng ta thực sự sẽ học được trong thời đại Bảo Bình, bởi vì trọng tâm sẽ được đặt vào trường sinh học điện, và khi đó phản ứng tự nhiên của bộ máy bên ngoài sẽ diễn ra, còn chúng ta thì sẽ trở nên bớt duy vật hơn trong tâm thức của mình. |
|
There is, consequently, a great need for the server to pause upon the astral plane. |
Do đó, người phụng sự rất cần phải dừng lại trên cõi cảm dục, |
|
You can see here that we’re dealing also with white magic. |
Bạn có thể thấy, chúng ta cũng đang nói về chánh thuật ở đây. |
|
to pause upon the astral plane, and there, in a holy and controlled silence, wait, before permitting the force to pour through into the centres in the etheric body. |
phải dừng lại trên cõi cảm dục, và tại đó, trong một sự im lặng thiêng liêng được kiểm soát, hãy chờ đợi, trước khi cho phép mãnh lực tuôn chảy vào các luân xa trong thể dĩ thái. |
|
This is avoiding rushing into action and this requires pause a waiting, a willingness to wait. It is a demonstration of the will a willingness to wait is a high demonstration of the will. |
Điều này nhằm tránh việc vội vàng lao vào hành động, và điều đó đòi hỏi sự tạm dừng và chờ đợi, một sự sẵn lòng chờ đợi. Đây là một sự biểu lộ của ý chí; sự sẵn lòng chờ đợi là một biểu lộ cao của ý chí. |
|
This point of silence is one of the mysteries of spiritual unfoldment. [14-38] |
Điểm im lặng này là một trong những huyền nhiệm của sự khai mở tinh thần. |
|
Or certainly one of the mysteries of effective white magic. |
Hoặc chắc chắn là một trong những huyền nhiệm của chánh thuật hữu hiệu. |
|
Once the force or energy of the soul—preserved in its purity, or tainted and sidetracked |
Một khi mãnh lực hay năng lượng của linh hồn—được bảo tồn trong sự tinh khiết của nó, hoặc bị làm ô nhiễm và bị chệch hướng |
|
I think we can remember, in Rule number seven in White Magic, it says “The dual forces of the plane where on the vital power must be sought are seen. The two Paths face the Solar Angel, the poles vibrate. A choice confronts the one who meditates”, and also we’re told that the magician set his form upon the proper path in rule nine. |
Tôi nghĩ chúng ta có thể nhớ, trong Quy luật số bảy của Chánh Thuật, có nói: “Hai lực đối cực của cõi mà trên đó quyền năng sinh lực phải được tìm kiếm hiển lộ. Hai Con Đường đối diện Thái dương Thiên Thần, hai cực rung động. Một sự lựa chọn đối đầu với kẻ tham thiền”; và cũng có nói nhà huyền thuật “đặt hình thể của mình lên con đường thích đáng” ở quy luật chín. |
|
So with poise, deliberation, it’s kind of a Saturnian act, isn’t it? We pause on the astral plane and the force or energy of the soul can then be preserved in its purity. We keep the alignment with the origin of that which is descending from the soul, or it could be tainted and sidetracked on its way into physical manifestation, but without pausing the sidetracking is much more likely. So, |
Vì vậy nên, với sự bình thản, đắn đo—mang sắc thái Thổ tinh, phải không?—chúng ta tạm dừng trên cõi cảm dục, và khi ấy mãnh lực hay năng lượng của linh hồn có thể được gìn giữ trong sự tinh ròng. Chúng ta giữ vững chỉnh hợp với nguồn gốc của cái đang giáng hạ từ linh hồn; nếu không, nó có thể bị nhiễm bẩn và chệch hướng trên đường đi vào sự hiện hình hồng trần. Không tạm dừng thì việc chệch hướng càng dễ xảy ra. Vì vậy nên, |
|
Once the force or energy of the soul—preserved in its purity, or tainted and sidetracked on its way through into physical manifestation—has reached the etheric body, there is nothing more to be done by the average disciple. |
Một khi mãnh lực hay năng lượng của linh hồn—được bảo tồn trong sự tinh khiết của nó, hoặc bị làm ô nhiễm và bị chệch hướng trên đường đi vào sự biểu hiện hồng trần—đã đến thể dĩ thái, thì người đệ tử trung bình không còn gì để làm nữa.. |
|
That force is not going to be stopped. |
Mãnh lực ấy sẽ không bị ngăn lại. |
|
The result, when it reaches that point, is inevitable and effective. |
Khi đã đến điểm ấy, kết quả là tất yếu và hữu hiệu. |
|
We say the physical body will automatically respond. Then, in a way, it’s too late. So we have to check our motives. This is what is required. |
Chúng ta nói rằng thể xác sẽ tự động đáp ứng. Nhưng khi đó, theo một nghĩa nào đó, thì đã quá muộn. Vì vậy, chúng ta phải kiểm tra lại động cơ của mình. Đó chính là điều được đòi hỏi. |
|
The inner thought and the desire life determine the activity which will be expressed physically. [14-39] |
Tư tưởng nội tại và đời sống dục vọng quyết định hoạt động sẽ được biểu lộ về mặt thể xác. |
|
If we let the desire through onto the etheric plane. So, we had best examine the energy we are about to release into physical activity. |
Nếu chúng ta để dục vọng xuyên qua cõi dĩ thái. Vì vậy tốt nhất là xét kỹ năng lượng mà ta sắp giải phóng vào hoạt động hồng trần. |
|
When the force comes through in purity, it brings the centres above the [138] diaphragm |
Khi mãnh lực tuôn qua trong sự tinh khiết, nó mang các trung tâm phía trên [138] cơ hoành dần dần vào hoạt động; |
|
when it comes through, tainted by personality trends, it uses primarily the solar plexus, and then sweeps into manifestation all the astral illusions, the grandiose delusions and the glamours of egoistic phenomena, using the word “egoistic” in its usual worldly, psychological connotation. |
khi nó đi qua trong tình trạng bị nhuốm màu bởi các khuynh hướng phàm ngã, nó chủ yếu sử dụng tùng thái dương, rồi cuốn vào sự biểu hiện tất cả các ảo tưởng cảm dục, các hoang tưởng tự tôn và các ảo cảm của những hiện tượng mang tính vị kỷ, dùng từ “vị kỷ” theo nghĩa tâm lý học thông thường |
|
Often mostly, with the Tibetan, the word ego means the higher self. Here he is using it in the more common self. |
Thường thì với Chân sư Tây Tạng, chữ ego có nghĩa là “chân ngã”. Ở đây Ngài dùng nó theo nghĩa thông dụng hơn. |
|
This can easily be seen today among the leaders of various groups. [14-40] |
Đi Điều này ngày nay có thể dễ dàng thấy nơi các lãnh đạo của nhiều nhóm khác nhau. |
|
Of course you only have to think of the leaders of the Axis Powers, especially Hitler and Mussolini. I guess I will understand that individual. They both had a lot of Leo, and Mussolini Scorpio as well. For Hitler the opposite sign Taurus, and they both had this immensely powerful solar plexus. They had high ideals as they conceived ideals to be, but were filled with the limitations of lower ego, and certainly grandiose is a word that describes them both, Grandiose delusions and the glamours of egoistic phenomena. Really the center of their own universe and the kind of unique blindness. |
Tất nhiên, các bạn chỉ cần nghĩ đến những nhà lãnh đạo của các cường quốc Trục, đặc biệt là Hitler và Mussolini. Tôi cho rằng tôi sẽ hiểu kiểu cá nhân đó. Cả hai đều có rất nhiều năng lượng Sư Tử, và Mussolini còn có Hổ Cáp nữa. Với Hitler thì có dấu hiệu đối nghịch là Kim Ngưu, và cả hai đều có tùng thái dương vô cùng mạnh mẽ. Họ có những lý tưởng cao theo cách mà họ quan niệm về lý tưởng, nhưng lại bị lấp đầy bởi những giới hạn của phàm ngã thấp, và chắc chắn “tự tôn phóng đại” là một từ mô tả đúng cho cả hai—những hoang tưởng vĩ cuồng và các ảo cảm của các hiện tượng vị kỷ. Thực sự là trung tâm của chính vũ trụ riêng của họ, cùng với một kiểu mù quáng độc nhất. |
|
The next section is very important section, it’s on distinctive methods of ray service. So let us move on to that. |
Mục kế tiếp là một mục rất quan trọng—về các phương pháp phụng sự đặc thù theo cung. Vì vậy chúng ta hãy tiến tới đó. |
|
We have been studying the Law of Service. |
Chúng ta đã nghiên cứu Định luật Phụng sự. |
|
He’s been asking certain questions and I think he will ask another question here. |
Ngài đã nêu một số câu hỏi, và tôi nghĩ Ngài sẽ nêu thêm một câu nữa ở đây. |
|
Does this science prove that the seven ray types employ distinctive methods in service? |
Khoa học này có chứng minh rằng bảy loại cung sử dụng những phương pháp phụng sự đặc thù hay không? |
|
The seven ray types and these methods will of course be in accordance with the particular ray, especially of the soul. But sometimes, the personality as well is involved in the mode of service. As I review this material I see how frequently it should be repeatedly read. Read and read again and absorbed. I’m always affected by the sense of inadequate absorption, inadequate understanding, and I suppose definitely inadequate expression. This is the tendency of course of the second ray to feel inadequate when faced with the great wisdom, but I suppose as we spend our time within the teaching and make every attempt to carry it out in service, working, especially people of our kind, with those who are nearing the Path or maybe on the Path, that inadequacy, that sense of inadequacy will dissipate and a deeper and fuller understanding will come to us. We may not remember every word but the very wisdom from which these words emerged will be ours, and we can produce our own expression which will embody pretty much what the Tibetan has expressed. This of course as we move on into the higher initiations, our expression will be unique to ourselves, but the basic wisdom will be there. Right now we are bathing in the wisdom provided by the Tibetan and absorbing it to the best of our ability and expressing what we have absorbed to the best of our ability. So here are |
Các loại cung trong bảy cung và những phương pháp này dĩ nhiên sẽ phù hợp với cung đặc thù, đặc biệt là cung linh hồn. Nhưng đôi khi, phàm ngã cũng tham dự vào phương thức phụng sự. Khi tôi duyệt lại tư liệu này, tôi thấy rõ nó cần được đọc đi đọc lại thường xuyên đến mức nào—đọc rồi đọc lại và hấp thu. Tôi luôn bị tác động bởi cảm giác rằng mình hấp thu chưa đủ, thấu hiểu chưa đủ, và chắc chắn là biểu đạt chưa đủ. Điều này dĩ nhiên là khuynh hướng của cung hai, khi đối diện với minh triết vĩ đại thì dễ cảm thấy bất cập; nhưng tôi cho rằng, khi chúng ta dành thời gian sống trong giáo huấn này và cố gắng hết sức để thực hành nó trong phụng sự—đặc biệt là những người như chúng ta, làm việc với những người đang tiến gần đến Thánh đạo hoặc có lẽ đã ở trên Thánh đạo—thì sự bất cập ấy, cảm giác bất cập ấy, sẽ tiêu tan, và một sự thấu hiểu sâu sắc và đầy đủ hơn sẽ đến với chúng ta. Có thể chúng ta sẽ không nhớ từng lời một, nhưng chính minh triết mà từ đó những lời này xuất lộ sẽ trở thành của chúng ta, và chúng ta có thể tạo ra cách diễn đạt của riêng mình, cách diễn đạt sẽ thể hiện phần lớn những gì Chân sư Tây Tạng đã trình bày. Dĩ nhiên, khi chúng ta tiến lên các lần điểm đạo cao hơn, sự biểu đạt của chúng ta sẽ mang tính độc đáo riêng của mỗi người, nhưng minh triết nền tảng thì vẫn ở đó. Ngay lúc này, chúng ta đang tắm mình trong minh triết do Chân sư Tây Tạng ban trao, hấp thu nó hết mức có thể, và biểu đạt những gì đã hấp thu cũng hết mức có thể. Vì vậy, ở đây là… |
|
The distinctive methods of Ray’s service. |
Những phương pháp đặc thù của phụng sự theo Cung. |
|
These are really very interesting and have many surprising results, indications. |
Chúng thực sự rất thú vị và có nhiều chỉ dẫn gây kinh ngạc. |
|
Does this science prove that the seven Ray types employ distinctive methods of service? |
Liệu khoa học này có chứng minh rằng bảy loại Cung sử dụng những phương pháp đặc thù trong phụng sự hay không? |
|
We don’t want to be barking up the wrong tree, do we? I mean if we’re training for lives and lives to be a teacher, we can’t expect that we can suddenly become a world political leader with the same effectiveness and vice versa. DK uses some kind of analogy like that. |
Chúng ta đâu có muốn đi nhầm đường, phải không? Ý tôi là, nếu chúng ta đã được huấn luyện qua nhiều kiếp sống để trở thành một huấn sư, thì chúng ta không thể mong đợi rằng mình bỗng nhiên có thể trở thành một nhà lãnh đạo chính trị thế giới với cùng một mức độ hiệu quả—và ngược lại cũng vậy. Chân sư DK có sử dụng một kiểu so sánh tương tự như thế. |
|
As time goes on it will be proved decidedly, |
Theo thời gian, điều này sẽ được chứng minh một cách dứt khoát, |
|
through the study, I think, of the different types of human beings |
Tôi nghĩ, thông qua sự khảo cứu về những loại người khác nhau |
|
and each ray worker and server will be found to render his service along peculiar and specific lines. |
và mỗi người hoạt động và phụng sự theo cung sẽ được nhận thấy là thực hiện sự phụng sự của mình theo những đường lối riêng biệt và đặc thù. |
|
So, it will be proved decidedly that the seven Ray types employ distinctive methods of service. And the Christ gave us a saying here which is has multiple uses. “By their fruits ye shall know them”. By what they produce in the world ye shall know their inner quality. You shall also know, in another way of looking at this, the ones who are working with Hierarchy, really working with Hierarchy, by the fruits that they produce and not simply by what they claim. |
Vì vậy, điều sẽ được chứng minh một cách dứt khoát là bảy loại cung sử dụng những phương pháp phụng sự đặc thù, và Đức Christ đã ban cho chúng ta một lời dạy ở đây, một lời có nhiều tầng ứng dụng: “Cứ xem quả thì biết cây.” Qua những gì họ tạo ra trong thế gian, các bạn sẽ nhận ra phẩm tính nội tại của họ. Và cũng theo một cách nhìn khác, các bạn sẽ nhận ra những người đang làm việc với Thánh đoàn—thực sự làm việc với Thánh đoàn—qua những kết quả mà họ tạo ra, chứ không chỉ qua những điều họ tuyên bố. |
|
“By their fruits ye shall know them”. |
“Cứ xem quả thì biết cây”. |
|
These indicate for him the line of least resistance and, consequently, of the greatest efficiency. [14-41] |
Những đường lối này chỉ ra cho y con đường ít trở ngại nhất và do đó là con đường đạt hiệu quả cao nhất. |
|
Because they are not fighting the trends within themselves, and they are not fighting the established trends of the fields which they attempt to enter and for which their own trends of energy are ill suited. |
Bởi vì họ không chống lại các khuynh hướng bên trong chính mình, và cũng không chống lại những khuynh hướng đã được thiết lập của các lĩnh vực mà họ tìm cách bước vào, những lĩnh vực mà các khuynh hướng năng lượng riêng của họ lại không thích hợp. |
|
So, there is efficiency and the least friction when we serve according to our line. We eliminate friction and inefficiency when we serve according to the energy qualities with which we are endowed. |
Vì vậy, sẽ có hiệu quả và ma sát ít nhất khi chúng ta phụng sự theo đúng đường lối của mình. Chúng ta loại trừ ma sát và sự kém hiệu quả khi chúng ta phụng sự phù hợp với những phẩm chất năng lượng mà chúng ta được ban cho. |
|
These methods and techniques will constitute the inner structure of the coming Science of Service. |
Những phương pháp và kỹ thuật này sẽ cấu thành cấu trúc nội tại của Khoa học Phụng sự sắp đến. |
|
The how to serve in such a manner, what techniques to use, what methods to use, so that good, predictably good results emerge. The whole idea of science is the ability to predict when knowledge is clear and certain, and the good effects of service will be predictable when the right knowledge exists and the right techniques are applied. |
Làm thế nào để phụng sự theo cách như vậy, nên sử dụng những kỹ thuật nào, những phương pháp nào, để những kết quả tốt đẹp—và có thể dự liệu được—được phát sinh. Toàn bộ ý niệm của khoa học chính là khả năng dự đoán khi tri thức đã rõ ràng và chắc chắn, và những hiệu quả tốt của sự phụng sự cũng sẽ có thể dự liệu được khi tri thức đúng đắn hiện hữu và những kỹ thuật đúng đắn được áp dụng. |
|
These methods and techniques will constitute the inner structure of the coming Science of Service. |
Những phương pháp và kỹ thuật này sẽ cấu thành cấu trúc nội tại của Khoa học Phụng sự sắp đến. |
|
I think those who are interested in vocational guidance are part of that movement which brings forward the Science of Service. I’ve always had an interest in vocational guidance in the kinds of psychological tests which classify people into the different types and tendencies, and our work with the personal identity profile, with the TARA test is part of that interest to try to help people find the line, the energy lines along which they work, and thus make it easier for them to express that part of the Plan which is indicated to them when they truly contact their soul. |
Tôi nghĩ rằng những người quan tâm đến hướng nghiệp là một phần của phong trào đưa Khoa Học Phụng Sự tiến lên phía trước. Tôi luôn có một mối quan tâm đối với hướng nghiệp, đối với các loại trắc nghiệm tâm lý phân loại con người theo những kiểu và khuynh hướng khác nhau, và công việc của chúng ta với hồ sơ bản sắc cá nhân, với trắc nghiệm TARA, là một phần của mối quan tâm đó—nhằm cố gắng giúp mọi người tìm ra đường lối, những tuyến năng lượng mà dọc theo đó họ làm việc, và nhờ vậy giúp họ dễ dàng hơn trong việc biểu đạt phần Thiên Cơ được chỉ định cho họ khi họ thực sự tiếp xúc với linh hồn của mình. |
|
and they will be discovered through the admission of the Ray Hypothesis. |
và chúng sẽ được khám phá thông qua việc thừa nhận Giả thuyết về Cung. |
|
These techniques and methods will be discovered through the admission of the Ray Hypothesis |
Các kỹ thuật và phương pháp này sẽ được khám phá thông qua việc thừa nhận Giả thuyết về Cung |
|
and an observation of the methods employed by these clearly isolated Ray types and groups. [14-42] |
và bằng sự quan sát các phương pháp do những loại và nhóm Cung được phân định rõ ràng này sử dụng. |
|
In our society there is a clear isolation. There are also overlaps of course, but the political workers, the educational workers, the financial workers, the artistic workers, and so forth, the scientific workers, the idealistic workers, the magical workers, they are all isolated. Their work is distinct and for those who have eyes to see, clearly recognizable. Much depends when we are looking for our Ray type, upon the type of groups with which we find ourselves, discover ourselves to be affiliated. |
Trong xã hội của chúng ta có một tình trạng cô lập rõ rệt. Dĩ nhiên, cũng có những phần chồng lấn, nhưng những người công tác chính trị, những người công tác giáo dục, những người công tác tài chính, những người công tác nghệ thuật, v.v., những người công tác khoa học, những người công tác lý tưởng, những người công tác huyền thuật, tất cả đều bị cô lập. Công việc của họ là riêng biệt, và đối với những ai có mắt để thấy, thì đều có thể nhận ra một cách rõ ràng. Rất nhiều điều phụ thuộc—khi chúng ta tìm kiếm loại cung của mình—vào loại nhóm mà trong đó chúng ta thấy mình đang hiện diện, nhận ra mình có sự liên hệ và gắn bó. |
|
Many of us working in the educational area do not find ourselves in the midst of the political workers, nor in the midst of the business types. “Birds of a feather flock together”, and who are our associates because by the nature of the associates attracted to us and that we have attracted, we may know something of our quality. Their quality may be quite obvious to us and in that our quality can be revealed. So |
Nhiều người trong chúng ta làm việc trong lĩnh vực giáo dục không thấy mình ở giữa những người hoạt động chính trị, cũng không ở giữa những kiểu người kinh doanh. “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, và những người là cộng sự của chúng ta là ai—bởi vì qua bản chất của những cộng sự bị thu hút đến với chúng ta và mà chúng ta cũng đã thu hút—chúng ta có thể biết được phần nào về phẩm chất của chính mình. Phẩm chất của họ có thể khá rõ ràng đối với chúng ta, và thông qua đó, phẩm chất của chúng ta cũng có thể được bộc lộ. Vì vậy… |
|
There are clearly isolated Ray types and groups. These differing ways of service, all of them, work in conformity with the Plan and together produce a synthetic whole. |
Có những loại Cung và các nhóm rõ ràng là tách biệt. Những phương thức phụng sự khác nhau này, tất cả đều làm việc phù hợp với Thiên Cơ và cùng nhau tạo nên một toàn thể tổng hợp. |
|
The plan needs all of them. At any one point one of the ways of working may be preeminent, maybe the magical organizational ritualistic work of the 7th Ray will become preeminent in the next couple of thousand years, but all of the other Ray qualities will be there. It’s as if in our three-dimensional world you can’t find anything no matter how minute that does not have three dimensions. And thus it will be that in this world, none of the Rays can be extracted or abstracted or removed so that its presence is not felt, however minute that presence may be relative to the impact of other Rays, the presence of other Rays. So, |
Thiên Cơ cần đến tất cả họ. Tại bất kỳ thời điểm nào, một trong những phương thức làm việc có thể trở nên nổi trội—có lẽ công việc huyền thuật mang tính tổ chức và nghi lễ của Cung bảy sẽ trở nên nổi trội trong vài ngàn năm tới—nhưng tất cả các phẩm chất cung khác vẫn sẽ hiện diện. Cũng giống như trong thế giới ba chiều của chúng ta, bạn không thể tìm thấy bất cứ điều gì, dù là nhỏ bé đến đâu, mà lại không có ba chiều. Và vì vậy, trong thế giới này cũng thế, không có cung nào có thể bị tách ra, trừu xuất hay loại bỏ đến mức sự hiện diện của nó không còn được cảm nhận—dù sự hiện diện ấy có thể rất nhỏ bé so với tác động của các cung khác, sự hiện diện của các cung khác. |
|
We can expect that the 6th Ray tendencies will be much reduced during the coming era but they will be present. The 7th Ray tendencies much developed very much in evidence. |
Chúng ta có thể kỳ vọng rằng các khuynh hướng Cung sáu sẽ giảm đi rất nhiều trong thời kỳ đang đến, nhưng chúng vẫn sẽ hiện hữu. Các khuynh hướng Cung bảy sẽ được phát triển mạnh và xuất hiện rất rõ. |
|
Together they produce a synthetic whole. The ray or rays in manifestation at any one time will determine the general trend of the world service, and those servers whose egoic ray is in incarnation, and who are endeavoring to work with right activity, will find their work facilitated if they understand that the trend of affairs is with them and that they are following the line of least resistance at that period. [14-43] |
và cùng nhau tạo nên một toàn thể tổng hợp. Cung hoặc các cung đang biểu hiện tại bất kỳ thời điểm nào sẽ quyết định khuynh hướng chung của sự phụng sự thế gian, và những người phụng sự có cung chân ngã đang nhập thể, đồng thời đang nỗ lực làm việc với hoạt động đúng đắn, sẽ nhận thấy công việc của họ được thuận lợi hơn nếu họ hiểu rằng khuynh hướng của các sự việc đang đứng về phía họ, và rằng trong giai đoạn ấy họ đang đi theo con đường ít trở ngại nhất. |
|
Now maybe during the 6th Ray Age, the scientific servers on the 5th Ray had a tough time. The 6th Ray will often reject the 5th. And we have seen in the war against magic, against the properties of nature which can be beneficial to man and those who understood those properties, sometimes called witches, that the 7th Ray had a tough time as well in the 6th Ray age. DK has said that it is the during the 7th Ray Age it is the monads of the 6th Ray that will have the greatest difficulty, but by speaking of them in relation to the 7th Ray during its Age we do know that that 6th Ray energy will be present even though not so harmoniously present with the 7th Ray tendencies. So, the 7th Ray souls at this time, and increasingly so, will understand that the trend of affairs is with them, and that they are following the line of least resistance of that period. |
Hiện nay, có lẽ trong Thời đại Cung sáu, các người phụng sự khoa học thuộc Cung năm đã gặp rất nhiều khó khăn. Cung sáu thường bác bỏ Cung năm. Và chúng ta đã thấy, trong cuộc chiến chống lại huyền thuật, chống lại các thuộc tính của tự nhiên vốn có thể mang lại lợi ích cho con người, cũng như chống lại những người hiểu rõ các thuộc tính ấy—đôi khi bị gọi là phù thủy—thì Cung bảy cũng đã gặp rất nhiều khó khăn trong Thời đại Cung sáu. Chân sư DK đã nói rằng chính trong Thời đại Cung bảy, các chân thần thuộc Cung sáu sẽ gặp những khó khăn lớn nhất; nhưng khi nói về họ trong mối liên hệ với Cung bảy trong Thời đại của Cung này, chúng ta cũng biết rằng năng lượng Cung sáu vẫn sẽ hiện diện, dù không hiện diện một cách hài hòa với các khuynh hướng của Cung bảy. Vì vậy, các linh hồn Cung bảy trong thời kỳ hiện nay—và ngày càng nhiều hơn nữa—sẽ hiểu rằng khuynh hướng của các sự việc đang đứng về phía họ, và rằng họ đang đi theo con đường ít trở ngại nhất của giai đoạn ấy. |
|
The 2nd Ray workers will find some facility at this time, but their cycle, temporary cycle is ending in 2075. The 500 year cycle will be over, and yet of course because of the returning Christ the 2nd Ray will be very much present, and probably He will need many of his 2nd Ray workers to facilitate. But the trend per se will be more along the line of the 7th Ray, unless we can consider that the coming of the Christ is such a super imposition upon the Ray cycle as to be very powerful regardless of what the Ray cycle may be, because it can indicate the emergence of the planetary soul on the 2nd Ray. |
Các người phụng sự Cung hai sẽ tìm thấy một mức độ thuận lợi nào đó trong thời kỳ hiện nay, nhưng chu kỳ của họ—chu kỳ tạm thời—đang đi đến hồi kết vào năm 2075. Chu kỳ 500 năm sẽ khép lại; tuy nhiên, dĩ nhiên là do sự trở lại của Đức Christ, Cung hai sẽ hiện diện rất mạnh mẽ, và có lẽ Ngài sẽ cần đến nhiều người phụng sự Cung hai của Ngài để tạo điều kiện thuận lợi. Nhưng bản thân khuynh hướng sẽ nghiêng nhiều hơn theo đường lối của Cung bảy, trừ phi chúng ta có thể xem sự Tái Lâm của Đức Christ như là một sự phủ chồng siêu việt lên chu kỳ các cung—một sự phủ chồng có sức mạnh rất lớn, bất kể chu kỳ cung hiện hành là gì—bởi vì điều đó có thể chỉ ra sự xuất lộ của linh hồn hành tinh trên Cung hai. |
|
So, given the normal situation there are trends, Ray trends, but sometimes there can be interventions of a higher power along a different Ray line than the one that would normally be conveyed during a particular processional period. The 7th Ray is conveyed during this processional period, and it accompanies Aquarius and the 5th Ray is transmitted by Aquarius. So those two Rays, Rays of magical science will be very much with us and will have to be offset, I think, by this intervention or super imposition of the 2nd Ray. |
Vì vậy, trong tình trạng bình thường, sẽ có các khuynh hướng—những khuynh hướng cung—nhưng đôi khi có thể có những sự can thiệp của một quyền năng cao hơn, đi theo một tuyến cung khác với tuyến vốn thường được truyền tải trong một chu kỳ tiến động nhất định. Cung bảy được truyền tải trong chu kỳ tiến động này, và nó đồng hành với Bảo Bình, còn Cung năm thì được Bảo Bình truyền dẫn. Vì thế, hai cung này—những Cung của khoa học huyền thuật—sẽ hiện diện rất mạnh mẽ cùng với chúng ta, và theo tôi nghĩ, chúng sẽ cần được hóa giải bởi sự can thiệp hay sự phủ chồng của Cung hai. |
|
Anyway those who understand that the trend of affairs is with them because their egoic Ray is the same as the Ray in incarnation, |
Dẫu sao, những người hiểu rằng khuynh hướng của các sự việc đang đứng về phía họ bởi vì cung chân ngã của họ trùng hợp với cung đang nhập thể, |
|
They will work with greater facility than will the disciples and aspirants whose egoic ray is out of manifestation. |
Họ sẽ làm việc với sự dễ dàng lớn hơn so với các đệ tử và những người chí nguyện có cung chân ngã không đang biểu hiện. |
|
Master DK tells us that the day of opportunity will not always be with us. Is he speaking of the certain Ray groups because the incoming 7th and 5th Rays may negate the ease of function of certain other Rays. |
Chân sư DK bảo với chúng ta rằng ngày cơ hội sẽ không luôn ở cùng chúng ta. Có phải Ngài đang nói về một số nhóm Cung nhất định, vì các Cung bảy và năm đang đến có thể làm mất đi sự dễ dàng vận hành của một số Cung khác. |
|
This recognition will lead to a careful study of times and seasons, |
Sự nhận thức này sẽ dẫn đến việc nghiên cứu cẩn trọng về thời điểm và chu kỳ, |
|
And we can say such as the Masters now study, they know when to act and with what energy. |
Và chúng ta có thể nói—như các Chân sư hiện đang khảo cứu—Các Ngài biết khi nào hành động và với loại năng lượng nào. |
|
thus there will be no waste effort, |
nhờ đó sẽ không có sự lãng phí nỗ lực, |
|
Thus the efficiency right |
Như vậy, hiệu quả |
|
and real advantage can be taken of the qualifications and aptitudes of the servers available. |
và có thể tận dụng một cách thực sự những phẩm chất và năng lực của các người phụng sự hiện có. |
|
So there will not be the fruitless expenditure of energy. If you’re going outside to empty a bucket of water you don’t do that in the face of a great wind coming against you. You might work more with the wind rather than throw it in the face of the wind it will come right back to you. |
Như thế sẽ không có sự tiêu hao năng lượng vô ích. Nếu bạn ra ngoài để đổ một xô nước, bạn sẽ không làm điều đó khi có một luồng gió lớn thổi ngược lại bạn. Bạn có thể làm việc thuận theo chiều gió; nếu bạn hất nước vào mặt gió, nó sẽ hắt trở lại vào bạn. |
|
All will be in conformity with the Plan. A consideration of the rays in or out of manifestation, and a recognition of the disciples and servers available on the physical plane at any one time, is part of the work of the Masters in the Hierarchy. [14-44] |
Tất cả sẽ [139] phù hợp với Thiên Cơ. Việc xem xét các cung đang biểu hiện hoặc không biểu hiện, cùng với sự nhận diện các đệ tử và người phụng sự hiện diện trên cõi hồng trần tại bất kỳ thời điểm nào, là một phần trong công việc của các Chân sư trong Thánh đoàn. |
|
As they are trying to make sure that service can be performed with efficiency, and they will not call upon students to do certain kinds of work which is against their Ray nature. They will know how to apportion the workers. The apportionment of the workers will occur through the knowledge of the Masters of the workers will occur through the knowledge of the Masters. Right now we are still in a second Ray period. We are in a period when spiritual propaganda must be spread far and wide so that the ideas around the Ageless Wisdom can be rightly propagated and disseminated, and even the Tibetan will be working from 2025 onward, he indicates, and that is still with another 50 years in the period when the second Ray cycle of 500 years is active. Of course, his work and the work of Blavatsky, which is to a great extent his work too, will be perpetuated in the coming years, even when that 500 year cycle ends, because as I say of the intervention of the great second Ray Lord Maitreya and his second Ray hierarchy colored by the second Ray overall. |
Vì Các Ngài đang nỗ lực bảo đảm rằng sự phụng sự có thể được thực hiện một cách hiệu quả, và Các Ngài sẽ không kêu gọi các môn sinh làm những loại công việc nào đi ngược lại bản chất Cung của họ. Các Ngài sẽ biết cách phân bổ những người hoạt động. Sự phân bổ những người hoạt động sẽ diễn ra nhờ vào tri thức của các Chân sư. Ngay lúc này chúng ta vẫn đang ở trong một thời kỳ Cung hai. Chúng ta đang ở trong thời kỳ khi việc truyền bá tinh thần phải được lan tỏa rộng khắp để các ý tưởng về Minh Triết Ngàn Đời có thể được truyền bá và quảng diễn đúng đắn; và ngay cả Chân sư Tây Tạng, như Ngài cho biết, sẽ tiếp tục làm việc từ năm 2025 trở đi—và như thế vẫn còn khoảng 50 năm nữa trong giai đoạn khi chu kỳ 500 năm của Cung hai đang hoạt động. Dĩ nhiên, công việc của Ngài và công việc của Bà Blavatsky—về phần lớn cũng là công việc của Ngài—sẽ được duy trì trong những năm tới, ngay cả khi chu kỳ 500 năm đó kết thúc, bởi như tôi nói, nhờ sự can thiệp của Đấng Chúa Tể Cung hai vĩ đại, Maitreya, và Huyền Giai Cung hai của Ngài, toàn cục đều được nhuốm sắc Cung hai. |
|
We are going to take up the different Ray methods, but we have three more paragraphs before that happens. So let’s just say that this is the end of Laws of the Soul Webinar Commentary number 14, and we are on page 139, and we’ll begin with Laws of the Soul Webinar Commentary number 15. I hope I’m correct here, and also beginning on the same page. There is so much of value to discuss here. |
Chúng ta sắp bàn đến các phương pháp theo Cung khác nhau, nhưng còn ba đoạn nữa trước khi điều đó diễn ra. Vì vậy Chúng ta hãy chỉ nói rằng đây là phần kết của Hội thảo trực tuyến bình luận về Định luật của Linh hồn số 14, và chúng ta đang ở trang 139, và sẽ bắt đầu với Hội thảo trực tuyến bình luận về Định luật của Linh hồn số 15. Tôi hy vọng điều này là đúng, và cũng bắt đầu trên cùng trang. Có quá nhiều điều giá trị để bàn luận ở đây. |
|
Let’s close with the Great Invocation. |
Chúng ta hãy kết thúc với Đại Khấn Nguyện. |
|
Friends, forward we go, making our way through this chapter on the Law of Service in Esoteric Psychology Volume 2, and we’ll see you shortly. |
Các bạn thân mến, chúng ta tiến bước, tiếp tục đi qua chương này về Định luật Phụng sự trong Tâm Lý Học Nội Môn Tập 2, và hẹn gặp lại các bạn sớm. |