Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn – 19

📘 Sách: Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

LAWS OF THE SOUL WEBINAR COMMENTARY # 19

The Law of Repulse # 3 (154-157)

THE LAW OF REPULSE AND DESIRE

Abstract

Laws of the Soul Webinar Commentary 19 covers EP II pages 154-157, and is about one hour long. Topics include:

Bình luận Hội thảo Định luật Linh hồn 19 bao gồm các trang 154-157 của EP II và kéo dài khoảng một giờ. Các chủ đề bao gồm:

1) Discussion of the Law of Repulse and desire.

1) Thảo luận về Định luật Đẩy Lùi và dục vọng.

2) Desire as the major problem of humanity.

2) Dục vọng là vấn đề chính yếu của nhân loại.

3) Desire underlies the entire psychological problem of humanity.

3) Dục vọng là nền tảng của toàn bộ vấn đề tâm lý của nhân loại.

4) An examination of the various names for “desire” as they appear in psychological theory.

4) Xem xét các tên gọi khác nhau của “dục vọng” như chúng xuất hiện trong lý thuyết tâm lý học.

5) Desire as an “urgency towards satisfaction.”

5) Dục vọng như một “sự thôi thúc nhằm thỏa mãn”.

6) A list of the categories of desire from the very lowest to the highest conceivable in the human family.

6) Danh sách các phân loại dục vọng từ mức thấp nhất đến mức cao nhất mà con người có thể đạt được.

7) All humanity governed and controlled by desire.

7) Toàn thể nhân loại bị chi phối và kiểm soát bởi dục vọng.

8) The relation of desire to the Four Noble Truths propagated by the Buddha.

8) Mối liên hệ giữa dục vọng và Tứ Diệu Đế do Đức Phật truyền bá.

9) Christ emphasized the need to consider the need of one’s neighbour above one’s own in the attempt to help deliver humanity from his own desire nature.

9) Đức Christ nhấn mạnh sự cần thiết phải quan tâm đến nhu cầu của người láng giềng hơn là nhu cầu của chính mình, như một nỗ lực để giúp nhân loại thoát khỏi bản chất dục vọng của mình.

10) When man’s desires can be turned away from the satisfaction of his own needs, they can be turned towards the satisfaction of the needs of the race.

10) Khi dục vọng của con người có thể chuyển hướng khỏi việc thỏa mãn nhu cầu của y, chúng có thể được chuyển sang việc thỏa mãn nhu cầu của nhân loại.

11) The demand of the soul for man’s release from material satisfaction is one of the factors behind the process of reincarnation.

11) Nhu cầu của linh hồn đối với sự giải thoát của con người khỏi sự thỏa mãn vật chất là một trong những nhân tố đứng sau tiến trình luân hồi.

12) The Law of Repulse is strongly involved in orchestrating man’s release from desire for satisfaction in the three lower worlds.

12) Định luật Đẩy Lùi đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối sự giải thoát của con người khỏi dục vọng nhằm thỏa mãn trong ba cõi thấp.

13) The listing of eleven important stages through which average man passes, from the early stage of domination by worldly desire to the stage of discipleship, eventually reached.

13) Liệt kê mười một giai đoạn quan trọng mà người trung bình trải qua, từ giai đoạn đầu bị chi phối bởi dục vọng thế gian đến giai đoạn đệ tử, cuối cùng đạt được.

Text

[-> Note19-1]

[154]

[154]

a. THE LAW OF REPULSE AND DESIRE

a. ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI VÀ DỤC VỌNG

The section with which we have now to deal will concern itself specifically with the major problem of humanity. We shall, however, touch upon it most briefly, and will deal particularly with the aspect of it which shifts from the problem as it concerns the aspirant to the problem of the disciple. [19-1] Underlying the entire psychological problem of humanity as a whole lies that major attitude towards existence which we characterise as Desire. All lesser complexities are based upon, subservient to, or are emergent from, this basic urge. [19-2] Freud calls this urge “sex,” which is, nevertheless, only another name for the impetus of attraction for the not-self. [19-3] Other psychologists speak of this dominant activity as the “wishlife” of humanity, and account for all allied characteristic tendencies, all emotional reactions and the trend of the mental life, in terms of the underlying wishes, longings and acquisitive aspirations as “defence mechanisms,” or “ways of escape” from the inevitability of environing conditions. [19-4] To these longings and wishes and the labour incidental to their fulfillment, all men give their lives; and everything done is in an effort to meet the realised need, to face the challenge of existence with the demand for happiness, for heaven, and for the eventual fulfillment of the hoped-for ideal state. [19-5]

Phần mà giờ đây chúng ta phải đề cập liên quan một cách đặc thù đến vấn đề trọng đại của nhân loại. Tuy nhiên, chúng ta sẽ chỉ chạm đến nó thật vắn tắt, và sẽ đặc biệt bàn đến phương diện của nó, là phương diện chuyển từ vấn đề liên quan đến người chí nguyện sang vấn đề của đệ tử. Nằm bên dưới toàn bộ vấn đề tâm lý của nhân loại nói chung là thái độ chủ yếu đối với sự hiện hữu mà chúng ta đặc trưng là Dục vọng. Mọi phức tạp nhỏ hơn đều dựa trên, lệ thuộc vào, hoặc phát sinh từ thôi thúc căn bản này. Freud gọi thôi thúc này là “tính dục”, tuy vậy, đó chỉ là một tên gọi khác cho xung lực hấp dẫn đối với cái phi ngã. Các nhà tâm lý học khác nói về hoạt động chi phối này như là “đời sống ước muốn” của nhân loại, và giải thích mọi khuynh hướng đặc trưng có liên quan, mọi phản ứng cảm xúc và xu hướng của đời sống trí tuệ, theo các ước muốn, khát khao và những hoài bão chiếm hữu nằm bên dưới, như là “cơ chế phòng vệ”, hoặc “những lối thoát” khỏi tính tất yếu của các điều kiện bao quanh. Đối với những khát khao và ước muốn ấy, cùng với công lao gắn liền với việc hoàn thành chúng, mọi người đều hiến dâng đời mình; và mọi điều được làm đều là một nỗ lực nhằm đáp ứng nhu cầu đã được nhận ra, nhằm đối diện thách thức của sự hiện hữu với đòi hỏi về hạnh phúc, về thiên đường, và về sự hoàn thành sau cùng của trạng thái lý tưởng được hy vọng.

[-> Note19-2]

Everything is governed by some form of urgency towards satisfaction, and this is distinctive of man’s search at every stage of his development—whether it is the instinctual urge to self-preservation, which can be seen in the savage’s search for food or in the economic problems of the modern civilised man; whether it is the urge to self-reproduction and the satisfaction of that appetite which works out today in the complexity of the sex life of the race; whether it is the urge to be popular, loved and esteemed; whether it is the urge for [155] intellectual enjoyment and the mental appropriation of truth, or the deep-seated desire for heaven and rest which characterises the Christian, or the aspiration for illumination which is the demand of the mystic, or the longing for identification with reality which is the “wish” of the occultist. [19-6] All this is desire in some form or another, and by these urges humanity is governed and controlled; I would say most definitely controlled, for this is only a simple statement of the case. [19-7]

Mọi sự đều bị chi phối bởi một dạng nào đó của sự thôi thúc hướng đến thỏa mãn, và điều này là nét đặc thù của cuộc tìm kiếm của con người ở mọi giai đoạn phát triển—dù đó là thôi thúc bản năng hướng đến tự bảo tồn, có thể thấy trong cuộc tìm kiếm thức ăn của người man dã hoặc trong các vấn đề kinh tế của con người văn minh hiện đại; dù đó là thôi thúc hướng đến tự sinh sản và sự thỏa mãn của cơn thèm khát ấy, ngày nay biểu hiện thành sự phức tạp của đời sống tính dục của nhân loại; dù đó là thôi thúc muốn được ưa chuộng, được yêu mến và được kính trọng; dù đó là thôi thúc hướng đến [155] niềm vui trí tuệ và sự chiếm hữu chân lý bằng thể trí, hoặc dục vọng sâu kín về thiên đường và sự an nghỉ vốn đặc trưng cho người Kitô hữu, hoặc khát vọng được soi sáng vốn là đòi hỏi của nhà thần bí, hoặc nỗi khao khát đồng nhất với thực tại vốn là “ước muốn” của nhà huyền bí học. Tất cả những điều ấy đều là dục vọng dưới dạng này hay dạng khác, và bởi các thôi thúc ấy mà nhân loại bị cai quản và kiểm soát; tôi muốn nói một cách dứt khoát là bị kiểm soát, vì đó chỉ là một phát biểu đơn giản về thực trạng.

[-> Note19-3]

It is this realisation of man’s fundamental bias or controlling factor that lies behind the teaching given by the Buddha, and which is embodied in the Four Noble Truths of the Buddhist philosophy, which can be summarised as follows:— [19-8]

Chính sự chứng nghiệm về thiên hướng căn bản hay yếu tố kiểm soát của con người nằm phía sau giáo huấn do Đức Phật ban truyền, và được thể hiện trong Bốn Chân Lý Cao Quý của triết học Phật giáo, có thể được tóm lược như sau:—

The Four Noble Truths

Bốn Chân Lý Cao Quý

a. Existence in the phenomenal universe is inseparable from suffering and sorrow. [19-9]

a. Sự hiện hữu trong vũ trụ hiện tượng không thể tách rời khỏi khổ đau và sầu muộn.

b. The cause of suffering is desire for existence in the phenomenal universe. [19-10]

b. Nguyên nhân của khổ đau là dục vọng đối với sự hiện hữu trong vũ trụ hiện tượng.

c. The cessation of suffering is attained by eradicating desire for phenomenal existence. [19-11]

c. Sự chấm dứt khổ đau đạt được bằng cách diệt trừ dục vọng đối với sự hiện hữu hiện tượng.

d. The Path to the cessation of suffering is the noble eightfold path. [19-12]

d. Con Đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau là con đường bát chánh đạo cao quý.

[-> Note19-4]

It was the realisation of the urgency of man’s need to be delivered from his own desire-nature which led Christ to emphasise the necessity to seek the good of one’s neighbor in contra-distinction to one’s own good, and to advise the life of service and self-sacrifice, of self-forgetfulness and love of all beings. [19-13] Only in this way can man’s mind and “the eye of the heart” be turned away from one’s own needs and satisfaction to the deeper demands of the race itself. [19-14]

Chính sự chứng nghiệm về tính cấp bách trong nhu cầu của con người phải được giải thoát khỏi bản chất dục vọng của chính mình đã khiến Đức Christ nhấn mạnh sự cần thiết phải tìm cầu điều thiện cho người lân cận, đối lập với điều thiện cho chính mình, và khuyên dạy đời sống phụng sự và hi sinh bản thân, quên mình và yêu thương mọi chúng sinh. Chỉ bằng cách này, thể trí của con người và “con mắt của trái tim” mới có thể được xoay khỏi những nhu cầu và sự thỏa mãn của bản thân để hướng đến những đòi hỏi sâu xa hơn của chính nhân loại.

[-> Note19-5]

Until a man stands upon the Path of Perfection, he cannot really grasp the imperative demand of his own soul for [156] release from the search for outer, material, tangible satisfaction, and from desire. [19-15] It has been this demand which indicated the soul’s need to incarnate and to function, for a needed period, under the Law of Rebirth. As the work of purification proceeds upon the Path of Purification, this demand for release becomes stronger and clearer, and when the man steps out upon the Path of Discipleship, then the Law of Repulse can, for the first time, begin to control his reactions. [19-16] This takes place unconsciously at first, but it becomes more potent and more consciously appreciated as the disciple takes one initiation after another, with increasingly pointed understanding. [19-17]

Cho đến khi một người đứng trên Con Đường Hoàn Thiện, y không thể thật sự nắm bắt mệnh lệnh tất yếu từ chính linh hồn mình về [156] sự giải thoát khỏi cuộc tìm kiếm sự thỏa mãn bên ngoài—vật chất, hữu hình, sờ chạm được—và khỏi dục vọng. Chính đòi hỏi này đã biểu thị nhu cầu của linh hồn phải nhập thể và hoạt động, trong một thời kỳ cần thiết, dưới Định luật Tái Sinh. Khi công việc thanh lọc tiến hành trên Con Đường Thanh Lọc, đòi hỏi giải thoát này trở nên mạnh mẽ và rõ rệt hơn, và khi con người bước ra trên Con Đường Đệ Tử, thì khi ấy Định luật Đẩy Lùi, lần đầu tiên, có thể bắt đầu kiểm soát các phản ứng của y. Lúc đầu điều này diễn ra một cách vô thức, nhưng nó trở nên mạnh hơn và được nhận biết một cách hữu thức hơn khi đệ tử nhận hết lần điểm đạo này đến lần điểm đạo khác, với sự thấu hiểu ngày càng sắc nét.

[-> Note19-6]

It is not our intention in this Treatise to deal with the development of the unevolved and undeveloped man in connection with these Laws of the Soul. I seek only to clear the way of the highly intelligent man, the aspirants of the world and the world disciples. [19-18] The progress of the undeveloped and the average man can be covered by the following statements, taken sequentially and describing the stages of his progress under the promptings of desire: [19-19]

Trong Luận này, chúng ta không có ý định bàn đến sự phát triển của con người chưa tiến hoá và chưa khai mở trong mối liên hệ với các Định luật của Linh hồn này. Tôi chỉ tìm cách dọn đường cho người có trí tuệ cao, cho những người chí nguyện của thế gian và các đệ tử thế gian. Sự tiến bộ của người chưa phát triển và người trung bình có thể được bao quát bằng các mệnh đề sau đây, được nêu theo trình tự và mô tả các giai đoạn tiến bộ của họ dưới sự thúc đẩy của dục vọng:

[-> Note19-7]

1. The urge to experience, to exist, and to satisfy the instinctual nature. [19-20]

1. Thôi thúc muốn trải nghiệm, muốn hiện hữu, và muốn thỏa mãn bản chất bản năng.

2. Experience, grasping, existing, followed by renewed demand for more satisfying compliances of fate or destiny. [19-21]

2. Trải nghiệm, nắm bắt, hiện hữu, tiếp theo là đòi hỏi được đổi mới về những sự thuận ứng thỏa mãn hơn của số phận hay định mệnh.

3. Cycle after cycle of demand for satisfaction, a period of satisfaction of a temporary nature, and then further demands. This is the story of the race. [19-22]

3. Hết chu kỳ này đến chu kỳ khác của đòi hỏi thỏa mãn, một giai đoạn thỏa mãn mang tính tạm thời, rồi lại những đòi hỏi tiếp theo. Đó là câu chuyện của nhân loại.

[-> Note19-8]

4. Experience, steadily sought and pursued upon the three planes of human evolution.

4. Trải nghiệm, được tìm kiếm và theo đuổi một cách bền bỉ trên ba cõi của tiến hoá nhân loại.

5. Then the same experience, but this time as an integrated personality. [19-23]

5. Rồi cũng là trải nghiệm ấy, nhưng lần này như một phàm ngã tích hợp.

[157]

[157]

6. Demand met until satiety is reached, for in time all men do eventually achieve that which they demand. [19-24]

6. Đòi hỏi được đáp ứng cho đến khi đạt trạng thái chán ngấy, vì theo thời gian mọi người rốt cuộc đều đạt được điều mà họ đòi hỏi.

[-> Note19-9]

7. Then comes the demand for inner spiritual compliances, happiness and bliss. The “heaven wish” becomes powerful. [19-25]

7. Rồi đến đòi hỏi về những sự thuận ứng tinh thần nội tại, về hạnh phúc và phúc lạc. “Ước muốn thiên đường” trở nên mạnh mẽ.

8. A vague realisation that two things are needed; purification and the power to choose aright, which is right discrimination. [19-26]

8. Một sự chứng nghiệm mơ hồ rằng cần hai điều: sự thanh lọc và quyền năng chọn lựa đúng đắn, tức là sự phân biện đúng.

9. A vision of the pairs of opposites.

9. Một linh ảnh về các cặp đối cực.

10. The realisation of the narrow path which leads between these pairs of opposites. [19-27]

10. Sự chứng nghiệm về con đường hẹp dẫn đi giữa các cặp đối cực ấy.

11. Discipleship and the repulsing or repudiation (over a long period of time), of the not-self. [19-28]

11. Địa vị đệ tử và sự đẩy lùi hoặc khước từ (trong một thời gian dài) cái không-phải-bản-ngã.

End of LOTSWC 19, p 157

Kết thúc LOTSWC 19, tr. 157

Text with notes

Beginning of LOTSWC 19, p. 154

Beginning of LOTSWC 19, p. 154

[154]

[154]

a. THE LAW OF REPULSE AND DESIRE

a. ĐỊNH LUẬT ĐẨY LÙI VÀ DỤC VỌNG

The section with which we have now to deal will concern itself specifically with the major problem of humanity. [Is that the problem of Desire which the Buddha came to remedy…] We shall, however, touch upon it most briefly, and will deal particularly with the aspect of it which shifts from the problem as it concerns the aspirant to the problem of the disciple. Underlying the entire psychological problem of humanity as a whole lies that major attitude towards existence which we characterise as Desire. [The attraction for the not-Self…] All lesser complexities are based upon, subservient to, or are emergent from, this basic urge. Freud calls this urge “sex,” which is, nevertheless, only another name for the impetus of attraction for the not-self. Other psychologists speak of this dominant activity as the “wishlife” of humanity, and account for all allied characteristic tendencies, all emotional reactions and the trend of the mental life, [When dealing with kama-manas…] in terms of the underlying wishes, longings and acquisitive aspirations as “defence mechanisms,” or “ways of escape” from the inevitability of environing conditions [wishes remove our consciousness from environing conditions—we long to be rid of these hampering conditions…] To these longings and wishes and the labour incidental to their fulfillment, all men give their lives; [related to the petal of sacrifice…] and everything done is in an effort to meet the realised need [The need is the distance between that which the imagination reveals as possible and that which the senses reveal as actual…], to face the challenge of existence [threatening conditions as they are—or stultifying conditions…] with the demand for happiness, for heaven, and for the eventual fulfillment of the hoped-for ideal state. [We live in the Saturnian world where Jupiterian fulfillment is not found… the desire nature is that which reaches out towards the soul-inspired vision of fulfillment…]

Phần mà giờ đây chúng ta phải xử lý sẽ liên quan một cách cụ thể đến vấn đề chính yếu của nhân loại. [Có phải đó là vấn đề Dục vọng mà Đức Phật đến để chữa trị…] Tuy nhiên, chúng ta sẽ chỉ lướt qua rất ngắn gọn, và sẽ xử lý đặc biệt phương diện của nó vốn chuyển từ vấn đề khi nó liên quan đến người chí nguyện sang vấn đề của đệ tử. Nằm bên dưới toàn bộ vấn đề tâm lý của nhân loại như một toàn thể là thái độ chủ đạo đối với hiện tồn, cái mà chúng ta gọi là Dục vọng. [Sự hấp dẫn đối với cái-phi-ngã…] Mọi phức hợp nhỏ hơn đều dựa trên, phục tùng, hoặc phát sinh từ, xung lực nền tảng này. Freud gọi xung lực này là “tính dục,” tuy nhiên, đó chỉ là một tên gọi khác cho xung lực hấp dẫn hướng tới cái-không-phải-bản-ngã. Các nhà tâm lý học khác nói về hoạt động chi phối này như là “đời sống ước muốn” của nhân loại, và giải thích mọi khuynh hướng đặc trưng liên đới, mọi phản ứng cảm xúc và chiều hướng của đời sống thể trí, [Khi xử lý kama-manas…] bằng các thuật ngữ của những ước muốn, khát vọng và hoài bão chiếm hữu nằm bên dưới như là “cơ chế phòng vệ,” hoặc “những cách trốn thoát” khỏi tính tất yếu của các điều kiện bao quanh [các ước muốn đưa tâm thức của chúng ta ra khỏi những điều kiện bao quanh—chúng ta khao khát thoát khỏi các điều kiện kìm hãm này…] Đối với những khát vọng và ước muốn này và công lao gắn liền với việc hoàn tất chúng, tất cả mọi người đều dâng hiến đời mình; [liên hệ đến cánh hoa hy sinh…] và mọi điều được làm ra đều là nỗ lực để đáp ứng nhu cầu đã được nhận biết [Nhu cầu là khoảng cách giữa cái mà trí tưởng tượng hé mở như có thể và cái mà giác quan phơi bày như hiện thực…], để đối diện thách thức của hiện tồn [các điều kiện đe doạ như-chúng-là—hoặc các điều kiện làm chai lì…] với đòi hỏi về hạnh phúc, về thiên đàng, và về sự viên mãn rốt ráo của trạng thái lý tưởng được hy vọng. [Chúng ta sống trong thế giới Thổ tinh nơi sự viên mãn Mộc tinh không được tìm thấy… bản chất dục vọng là cái vươn tới viễn kiến được linh hồn truyền cảm của sự viên mãn…]

[We do not live in an ideal state—we live in actual conditions which are far from the vision which the higher nature inspires in the psychological nature of man—in his kama-manas… The drive for fulfillment comes finally from the Monad itself… and from the soul as the representative of the Monad…]

[Chúng ta không sống trong một trạng thái lý tưởng—chúng ta sống trong các điều kiện thực tại vốn còn xa với viễn kiến mà bản chất cao hơn gợi hứng vào bản chất tâm lý của con người—vào kama-manas của y… Xung lực hướng tới sự viên mãn rốt cuộc đến từ chính Chân Thần… và từ linh hồn như đại diện của Chân Thần…]

Everything is governed by some form of urgency [see here the word “urge” …] towards satisfaction [An experienced arrangement closer to the underlying, motivating archetype…], and this is distinctive of man’s search at every stage of his development—whether it is the instinctual urge to self-preservation, which can be seen in the savage’s search for food or in the economic problems of the modern civilised man [we may suppose that the economic problem does drive on to greater development, because that problem must be solved through the use and development of one’s inherent faculties…;] whether it is the urge to self-reproduction [giving a kind of immortality through one’s offspring…] and the satisfaction of that appetite which works out today in the complexity of the sex life of the race [psychological complexity…]; whether it is the urge to be popular, loved and esteemed [esteem needs…]; whether it is the urge for [Page 155] intellectual enjoyment and the mental appropriation of truth [that which drives the philosopher], or the deep-seated desire for heaven and rest which characterises the Christian, or the aspiration for illumination which is the demand of the mystic, or the longing for identification with reality which is the “wish” of the occultist. All this is desire in some form or another, and by these urges [the urge towards what—this will be seen as the stratification of the quality of desire…] humanity is governed and controlled; I would say most definitely controlled, for this is only a simple statement of the case.

Mọi sự đều được chi phối bởi một dạng nào đó của sự thôi thúc [hãy thấy ở đây từ “urge” …] hướng tới sự thoả mãn [một sắp đặt kinh nghiệm gần hơn với nguyên mẫu thúc đẩy nằm bên dưới…], và điều này là đặc trưng cho cuộc truy tầm của con người ở mọi giai đoạn phát triển—dù đó là xung lực bản năng để tự tồn, có thể thấy ở cuộc kiếm tìm thực phẩm của người dã man hay trong các vấn đề kinh tế của con người văn minh hiện đại [chúng ta có thể cho rằng vấn đề kinh tế thúc đẩy tiến bộ lớn hơn, vì vấn đề đó phải được giải quyết qua việc sử dụng và phát triển các năng năng bẩm sinh của mỗi người…;] dù đó là xung lực tự sinh sản [ban cho một dạng bất tử qua con cháu của mình…] và sự thoả mãn của dục năng ấy, vốn hiện nay biểu lộ trong tính phức tạp của đời sống tính dục của chủng tộc [tính phức tạp tâm lý…]; dù đó là xung lực được ưa chuộng, được yêu thương và được kính nể [nhu cầu được tôn trọng…]; dù đó là xung lực hướng tới [Page 155] khoái cảm trí tuệ và sự chiếm hữu về mặt thể trí chân lý [cái thúc đẩy nhà triết học], hay khát vọng sâu xa về thiên đàng và an nghỉ vốn đặc trưng cho người Kitô hữu, hay khát ngưỡng sự soi sáng vốn là đòi hỏi của nhà thần bí, hoặc khát vọng đồng nhất với thực tại vốn là “ước muốn” của nhà huyền bí học. Tất cả những điều này là dục vọng dưới hình thức này hay hình thức khác, và bởi những thôi thúc này [thôi thúc hướng về điều gì—điều này sẽ được thấy như sự phân tầng chất lượng của dục vọng…] nhân loại được chi phối và kiểm soát; Tôi muốn nói rất dứt khoát rằng bị kiểm soát, vì đây chỉ là một phát biểu đơn giản về thực trạng.

[To the extent that desires are DRIVES and PROMPTINGS from our Higher Nature they must be fulfilled—fiery energy propelling the unit towards that which the Higher Nature envisions…]

[Trong mức độ mà các dục vọng là NHỮNG THÔI THÚC và KHUYẾN DỤ từ Bản Chất Cao của chúng ta, thì chúng phải được hoàn tất—năng lượng hỏa đẩy đơn vị hướng tới cái mà Bản Chất Cao hình dung…]

It is this realisation of man’s fundamental bias or controlling factor [Desire… that lies behind the teaching given by the Buddha, and which is embodied in the Four Noble Truths of the Buddhist philosophy, which can be summarised as follows: —

Chính nhận thức này về khuynh hướng nền tảng hay yếu tố kiểm soát của con người [Dục vọng…] nằm phía sau giáo lý do Đức Phật ban cho, và giáo lý ấy được hàm chứa trong Tứ Diệu Đế của triết học Phật giáo, có thể được tóm lược như sau: —

The Four Noble Truths

Tứ Diệu Đế

A. Existence in the phenomenal universe is inseparable from suffering and sorrow. [Phenomenal universe is for practical purposes the lower 18 subplanes… From a certain perspective higher—the phenomenal universe is the entire lower 18 cosmic subplanes, and at least the cosmic physical plane… This is a world inseparable from cleavage…]

A. Hiện tồn trong vũ trụ hiện tượng là bất khả phân với khổ đau và sầu muộn. [Vũ trụ hiện tượng, xét về mặt thực tế, là 18 cõi phụ thấp… Từ một viễn tượng cao hơn—vũ trụ hiện tượng là toàn bộ 18 cõi phụ vũ trụ thấp, ít nhất là cõi hồng trần vũ trụ… Đây là một thế giới bất khả phân với sự phân ly…]

B. The cause of suffering is desire for existence in the phenomenal universe. [Let me live in these lower 18 subplanes forever… I don’t want to leave it by dying, and certainly if I die, I want to come back to it through rebirth…]

B. Nguyên nhân của khổ đau là dục vọng đối với hiện tồn trong vũ trụ hiện tượng. [Hãy để tôi sống mãi trong 18 cõi phụ thấp này… Tôi không muốn lìa nó bằng cái chết, và chắc chắn nếu tôi chết, tôi muốn trở lại đó qua tái sinh…]

C. The cessation of suffering is attained by eradicating desire for phenomenal existence. [If we want this kind of existence we WILL suffer—the suffering is inextricably connected to the desire for existence in the lower worlds….]

C. Sự chấm dứt khổ đau đạt được bằng cách diệt trừ dục vọng đối với hiện tồn hiện tượng. [Nếu chúng ta muốn kiểu hiện tồn này thì CHẮC CHẮN chúng ta sẽ khổ—khổ đau gắn chặt không rời với dục vọng đối với hiện tồn trong các cõi thấp….]

D. The Path to the cessation of suffering is the noble eightfold path.

D. Con Đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau là bát chánh đạo.

It was the realisation of the urgency of man’s need to be delivered from his own desire-nature [our desire nature truly has us in prison, but so many of us do not realize it…] which led Christ to emphasise the necessity to seek the good of one’s neighbor in contra-distinction to one’s own good, [take your eyes off your own desire body—emphasize the other… thus altruism…] and to advise the life of service and self-sacrifice [sacrifice your own elemental promptings…, these factors having to do with the Will which counters desire… these factors having to do with the Will which counters desire…] of self-forgetfulness and love of all beings. [Transition of desire into love and of the solar plexus into the heart center…] Only in this way can man’s mind and “the eye of the heart” [the heart being the soul…] be turned away from one’s own needs and satisfaction to the deeper demands of the race itself. [All this requires self-sacrifice…]

Chính nhận thức về sự khẩn thiết của nhu cầu con người được giải thoát khỏi bản chất dục vọng của chính y [thật sự bản chất dục vọng của chúng ta giam cầm chúng ta, nhưng rất nhiều người trong chúng ta không nhận ra điều đó…] đã dẫn Đức Christ nhấn mạnh sự cần thiết phải mưu cầu điều thiện cho tha nhân trái ngược với điều thiện cho chính mình, [hãy rời mắt khỏi thể dục vọng của chính mình—nhấn mạnh tha nhân… do đó là lòng vị tha…] và khuyên dạy đời sống phụng sự và tự hy sinh [hy sinh những thúc bách thuộc hành khí của riêng mình…, những yếu tố này liên hệ đến Ý Chí, yếu tố đối trị dục vọng…] của quên mình và tình thương đối với mọi loài. [Chuyển hoá dục vọng thành tình thương và chuyển hoá tùng thái dương vào tâm trung tâm…] Chỉ bằng cách này, thể trí của con người và “con mắt của trái tim” [trái tim tức là linh hồn…] mới có thể được chuyển khỏi những nhu cầu và sự thoả mãn của chính mình sang những đòi hỏi sâu xa hơn của chính chủng tộc. [Tất cả điều này đòi hỏi sự tự hy sinh…]

[“his brother’s need is of greater moment than his own”—then he will be ready for initiation…]

[“nhu cầu của huynh đệ y là hệ trọng hơn nhu cầu của chính y”—rồi y sẽ sẵn sàng cho điểm đạo…]

Until a man stands upon the Path of Perfection, [the higher stages of the Path of Initiation he cannot really grasp the imperative demand of his own soul for [Page 156] release from the search for outer, material, tangible satisfaction, and from desire. [All this is about divine discontent…] It has been this demand which indicated the soul’s need to incarnate and to function, for a needed period, under the Law of Rebirth. [This need to pass through the elemental worlds in order to finally be free of them…] As the work of purification proceeds upon the Path of Purification, this demand for release becomes stronger and clearer, and when the man steps out upon the Path of Discipleship, then the Law of Repulse can, for the first time, begin to control his reactions. [He is increasingly mentally forcussed and some strand of the antahkarana has made its way into the higher worlds beyond the soul per se… [In this Law of Repulse, the spiritual will opposes normal desire This takes place unconsciously at first, [through distaste, discontent, discomfort… dis-satisfied] but it becomes more potent and more consciously appreciated as the disciple takes one initiation after another, with increasingly pointed understanding, [of the undesirable containment in which he finds himself trapped…]

Cho đến khi một người đứng trên Con Đường Hoàn Thiện, [những giai đoạn cao của Con Đường Điểm Đạo] y không thể thật sự nắm bắt đòi hỏi cấp bách của chính linh hồn y đối với [Page 156] giải thoát khỏi cuộc tìm kiếm sự thoả mãn bên ngoài, vật chất, hữu hình, và khỏi dục vọng. [Tất cả điều này nói về bất mãn thiêng liêng…] Chính đòi hỏi này đã cho thấy nhu cầu của linh hồn phải nhập thể và hoạt động, trong một thời kỳ cần thiết, dưới Định luật Tái sinh. [Nhu cầu đi qua các thế giới hành khí để rốt cuộc thoát khỏi chúng…] Khi công việc thanh lọc tiến hành trên Con Đường Thanh Lọc, đòi hỏi giải thoát này trở nên mạnh mẽ và rõ ràng hơn, và khi con người bước ra trên Con Đường Đệ Tử, thì Định luật Đẩy Lùi có thể, lần đầu tiên, bắt đầu kiểm soát các phản ứng của y. [Y ngày càng tập trung về mặt thể trí và một vài sợi antahkarana đã vươn vào các thế giới cao hơn bên kia linh hồn như-thế… [Trong Định luật Đẩy Lùi này, ý chí tinh thần đối nghịch với dục vọng bình thường Điều này lúc đầu diễn ra vô thức, [qua cảm giác chán ghét, bất mãn, khó chịu… bất-mãn] nhưng nó trở nên mạnh mẽ hơn và được nhận biết một cách có ý thức hơn khi đệ tử qua từng lần điểm đạo, với sự thấu hiểu ngày càng nhắm đích, [về sự giam hãm không-mong-muốn trong đó y thấy mình bị mắc kẹt…]

It is not our intention in this Treatise to deal with the development of the unevolved and undeveloped man in connection with these Laws of the Soul. [There will be some effect as he is led towards the conscious appreciation of what these laws are…] I seek only to clear the way of the highly intelligent man, the aspirants of the world and the world disciples. [disciples in the world, not necessarily world disciples as initiates of the third degree The progress of the undeveloped and the average man can be covered by the following statements, taken sequentially and describing the stages of his progress under the promptings of desire:

Không phải ý định của chúng ta trong Luận thư này là xử lý sự phát triển của người chưa tiến hoá và chưa phát triển liên hệ đến các Định luật của Linh hồn này. [Sẽ có một số ảnh hưởng khi y được dẫn dắt tới sự nhận biết có ý thức về các định luật này là gì…] Tôi chỉ tìm cách dọn đường cho người rất thông tuệ, cho những người chí nguyện của thế giới và cho các đệ tử của thế giới. [các đệ tử ở trong thế gian, không nhất thiết là các đệ tử của thế giới như những điểm đạo đồ của lần thứ ba] Sự tiến bộ của người chưa phát triển và người trung bình có thể được bao quát bởi các phát biểu sau, tuần tự và mô tả những giai đoạn tiến bộ của y dưới các thúc bách của dục vọng:

1. The urge to experience, to exist, and to satisfy the instinctual nature. [So Ariesian…]

Thúc bách trải nghiệm, hiện tồn, và thoả mãn bản chất bản năng. [Rất Bạch Dương…]

2. Experience, grasping, existing, followed by renewed demand for more satisfying compliances of fate or destiny. [Very Taurean…]

Trải nghiệm, nắm bắt, hiện tồn, tiếp theo là đòi hỏi mới về những đáp ứng thuận lợi hơn của số mệnh hay định mệnh. [Rất Kim Ngưu…]

3. Cycle after cycle of demand for satisfaction, a period of satisfaction of a temporary nature, and then further demands. This is the story of the race. [Always more intense desires, whether higher or lower…]

Chu kỳ này nối chu kỳ khác của đòi hỏi thoả mãn, một giai đoạn thoả mãn mang tính tạm thời, và rồi lại những đòi hỏi khác. Đây là câu chuyện của nhân loại. [Luôn luôn là những dục vọng mãnh liệt hơn, dù cao hay thấp…]

4. Experience, steadily sought and pursued upon the three planes of human evolution. [Gemini—wanting to experience everything…]

Trải nghiệm, được tìm kiếm và theo đuổi đều đặn trên ba cõi của tiến hoá nhân loại. [Song Tử—muốn trải nghiệm mọi thứ…]

5. Then the same experience, but this time as an integrated personality.

Rồi đến trải nghiệm tương tự, nhưng lần này như một phàm ngã tích hợp.

6. Demand met until satiety is reached, for in time all men do eventually achieve that which they demand. [For better or for worse…]

Đòi hỏi được đáp ứng cho đến khi chán ngán đạt tới, vì theo thời gian mọi người rốt cuộc đều đạt được điều họ đòi hỏi. [Tốt hay xấu…]

7. Then comes the demand for inner spiritual compliances, happiness and bliss. [The demand is no longer focused in the outer world…] The “heaven wish” becomes powerful. [Under the sixth ray repudiating normal experience…]

Kế đó là đòi hỏi về những đáp ứng tinh thần nội tại, hạnh phúc và phúc lạc. [Đòi hỏi không còn tập trung vào thế giới bên ngoài…] “ước muốn thiên đàng” trở nên mạnh mẽ. [Dưới cung sáu, bác bỏ kinh nghiệm bình thường…]

8. A vague realisation that two things are needed; purification and the power to choose aright [Virgo and Libra…], which is right discrimination.

Một nhận thức mơ hồ rằng cần hai điều; thanh lọc và quyền năng chọn lựa đúng [Xử Nữ và Thiên Bình…], tức là sự phân biện đúng.

9. A vision of the pairs of opposites. [At least more clearly personality and soul are seen…]

Một viễn kiến về cặp đối đãi. [Ít nhất phàm ngã và linh hồn được thấy rõ hơn…]

10. The realisation of the narrow path which leads between these pairs of opposites. [Cannot leap into the soul realm—you have to give form its due even while refining oneself away from form, and to reach towards soul…. Some mystical lives have ended in futility because one seeks to live ONLY as the higher of the pairs of opposites…]

Nhận thức về con đường hẹp dẫn đi giữa các cặp đối đãi này. [Không thể nhảy bổ vào cảnh giới linh hồn—bạn phải trả “phần của hình tướng” ngay cả khi tự tinh luyện khỏi hình tướng, và vươn tới linh hồn…. Một số đời sống thần bí đã kết thúc trong vô ích vì người ta tìm sống CHỈ như cực cao của cặp đối đãi…]

11. Discipleship and the repulsing or repudiation (over a long period of time), of the not-self. [This elevenfold list has taken us to the point where desire has morphed into repulsion of that which used to be desired…]

Địa vị đệ tử và sự đẩy lùi hay bác bỏ (trong một thời kỳ dài) cái-không-phải-bản-ngã. [Danh sách mười-một điều này đã đưa chúng ta đến điểm mà dục vọng đã chuyển hoá thành sự chán ghét/cự tuyệt đối với cái mà trước đây đã từng được ao ước…]

[Eleven being the number of the initiate and Aquarius and of Hierarch…]

[Mười một là con số của điểm đạo đồ và của Bảo Bình và của Thánh đoàn…]

[This fourth law relates very closely to the fourth kingdom and the Fourth Creative Hierarchy—to factors so intimate to the human experience…]

[Định luật thứ tư này liên hệ rất mật thiết với giới thứ tư và Huyền giai Sáng Tạo Thứ Tư—với những yếu tố thân cận như thế đối với kinh nghiệm của con người…]

End of LOTSWC 18, p 157

End of LOTSWC 18, p 157

Beginning of LOTWSC 19, p. 157

Beginning of LOTWSC 19, p. 157

Commentary

We begin with Laws of the Soul webinar commentary number 19, page 154, and we finished the introduction to the Law of Repulse. Now, we are working with what is called here the Law of Repulse and Desire, and to see their relationship with each other.

Chúng ta bắt đầu với phần bình luận của hội thảo trực tuyến về Các Định luật của Linh hồn số 19, trang 154, và chúng ta đã kết thúc phần dẫn nhập về Định luật Đẩy Lùi. Giờ đây, chúng ta đang làm việc với điều ở đây được gọi là Định luật Đẩy Lùi và Dục vọng, và để thấy mối liên hệ của chúng với nhau.

[w19_1]

[w19_1]

The section with which we have now to deal will concern itself specifically with the major problem of humanity

Phần mà giờ đây chúng ta phải đề cập sẽ liên quan một cách đặc thù đến vấn đề lớn của nhân loại

Is that the problem of desire which the Buddha came to remedy? Let us see,

Có phải đó là vấn đề dục vọng mà Đức Phật đã đến để khắc phục không? Chúng ta hãy xem,

We shall, however, touch upon it most briefly, and will deal particularly with the aspect of it which shifts from the problem as it concerns the aspirant to the problem of the disciple. [19-1]

Tuy nhiên, chúng ta sẽ chỉ đề cập đến điều này hết sức vắn tắt, và sẽ đặc biệt bàn đến phương diện của nó, phương diện chuyển từ vấn đề khi nó liên quan đến người chí nguyện sang vấn đề của đệ tử.

Underlying the entire psychological problem of humanity as a whole lies that major attitude towards existence which we characterise as Desire.

Nằm bên dưới toàn bộ vấn đề tâm lý của nhân loại nói chung là thái độ chủ yếu đối với sự hiện hữu mà chúng ta đặc trưng là Dục vọng.

This is a really a Buddhist formulation, isn’t it? The Buddha with his sixth ray mind came to help humanity solve this problem up desire. So, underlying the entire psychological problem that which keeps the human being from being an integrated harmoniously functioning unit within the planetary process, the entire psychological problem of humanity as a whole lies that major attitude towards existence which we call desire. We might call it perhaps the attraction for the not-self.

Đây thật sự là một cách diễn đạt theo Phật giáo, phải không? Đức Phật với thể trí cung sáu của Ngài đã đến để giúp nhân loại giải quyết vấn đề dục vọng này. Vì vậy, nằm bên dưới toàn bộ vấn đề tâm lý—điều ngăn cản con người trở thành một đơn vị tích hợp, vận hành hài hòa trong tiến trình hành tinh—nằm bên dưới toàn bộ vấn đề tâm lý của nhân loại nói chung là thái độ chủ yếu đối với sự hiện hữu mà chúng ta gọi là dục vọng. Có lẽ chúng ta có thể gọi đó là sự hấp dẫn đối với cái phi-ngã.

All lesser complexities are based upon, subservient to, or are emergent from, this basic urge. [19-2]

Mọi sự phức tạp nhỏ hơn đều dựa trên, lệ thuộc vào, hoặc phát sinh từ, xung lực căn bản này.

By problem, we mean something that does not flow, something that sustains a cleavage which prevents a particular system from functioning as it should. It involves a friction, the possibility of disassembly of the system, involves the possibility of a breakdown really.

Khi nói “vấn đề”, chúng ta muốn nói đến điều gì đó không trôi chảy, điều duy trì một sự phân rẽ khiến một hệ thống nào đó không thể vận hành như nó đáng lẽ phải vận hành. Nó bao hàm một sự ma sát, khả năng hệ thống bị tháo rời, và thật sự bao hàm khả năng sụp đổ.

Freud calls this urge “sex,” which is, nevertheless, only another name for the impetus of attraction for the not-self. [19-3]

Freud gọi xung lực này là “tính dục”, tuy vậy, đó chỉ là một tên gọi khác cho động lực hấp dẫn đối với cái phi-ngã.

I capitalize the word Self here, because I think we’re talking about that eventual interior orientation towards the true point upon the higher mental plane, where the monad is focused as the ego, at least that’s the first other than personal self within our own system that we recognize.

Tôi viết hoa từ Ngã ở đây, vì tôi nghĩ chúng ta đang nói đến định hướng nội tại rốt ráo hướng về điểm chân thực trên cõi thượng trí, nơi chân thần được tập trung như chân ngã; ít nhất đó là điều đầu tiên, ngoài cái ngã cá nhân, trong hệ thống của chính chúng ta mà chúng ta nhận biết.

So, the word sex has to be understood in a larger term, only another name for the attraction for the not-self, and I suppose it has its psychological dimensions too, but especially the physical dimension is emphasized with this word.

Vì vậy, từ “tính dục” phải được hiểu theo một nghĩa rộng hơn: chỉ là một tên gọi khác cho sự hấp dẫn đối với cái phi-ngã; và tôi cho rằng nó cũng có các chiều kích tâm lý, nhưng đặc biệt chiều kích thể xác được nhấn mạnh với từ này.

Other psychologists speak of this dominant activity as the “wishlife” …

Các nhà tâm lý học khác nói về hoạt động chi phối này như là “đời sống ước muốn” …

Here we come into an astral meaning, and we find Mars involved with its promptings, and Neptune especially with its emotional promptings.

Ở đây chúng ta đi vào một ý nghĩa thuộc cảm dục, và chúng ta thấy Sao Hỏa can dự với những thôi thúc của nó, và đặc biệt là Sao Hải Vương với những thôi thúc cảm xúc của nó.

Other psychologists speak of this dominant activity as the “wishlife” of humanity, and account for all allied characteristic tendencies, all emotional reactions and the trend of the mental life,

Các nhà tâm lý học khác nói về hoạt động chi phối này như là “đời sống ước muốn” của nhân loại, và giải thích mọi khuynh hướng đặc trưng liên hệ, mọi phản ứng cảm xúc và xu hướng của đời sống trí tuệ,

Especially this trend of the mental life when dealing with kama-manas

Đặc biệt là xu hướng của đời sống trí tuệ khi xử lý thể trí cảm

…in terms of the underlying wishes, longings and acquisitive aspirations as “defence mechanisms,” or “ways of escape” from the inevitability of environing conditions. [19-4]

…theo các ước muốn, khát khao và những khát vọng chiếm hữu nằm bên dưới, như là “cơ chế phòng vệ”, hoặc “những lối thoát” khỏi tính tất yếu của các điều kiện bao quanh.

So, it’s as if wishes would remove our consciousness from environmental conditions, or we have long to be rid of these hampering conditions.

Vì vậy, như thể các ước muốn sẽ đưa tâm thức của chúng ta ra khỏi các điều kiện môi trường, hoặc chúng ta khao khát thoát khỏi những điều kiện cản trở này.

So, this dominant attraction for the not-self, for that which is other than one’s true inner essence, is called the wish life and account for all allied characteristic tendencies, all emotional reactions toward and away from, and the trend of mental life when we have certain desires to learn about things mentally, and our thoughts take a certain line of development according to our wishes, we are told.

Vì vậy, sự hấp dẫn chi phối này đối với cái phi-ngã, đối với điều gì đó khác với tinh chất nội tại chân thực của một người, được gọi là đời sống ước muốn và được dùng để giải thích mọi khuynh hướng đặc trưng liên hệ, mọi phản ứng cảm xúc hướng về và tránh xa, và xu hướng của đời sống trí tuệ khi chúng ta có những dục vọng nhất định muốn tìm hiểu sự vật bằng trí tuệ, và tư tưởng của chúng ta phát triển theo một đường hướng nhất định tùy theo các ước muốn của mình, như người ta nói.

They account for all this, in terms of the underlying wishes, longings, and acquisitive aspirations, as defense mechanisms and ways of escape.

Họ giải thích tất cả điều này theo các ước muốn, khát khao và những khát vọng chiếm hữu nằm bên dưới, như là các cơ chế phòng vệ và những lối thoát.

we’re dealing with the relationship between the physical conditions and how the astral vehicle and visions arising therein would have those conditions other than they are, because they fail to be satisfying.

Chúng ta đang xử lý mối liên hệ giữa các điều kiện hồng trần và cách mà vận cụ cảm dục cùng các linh ảnh phát sinh trong đó sẽ muốn các điều kiện ấy khác đi so với thực trạng, bởi vì chúng không thỏa mãn.

To these longings and wishes and the labour incidental to their fulfillment,

Đối với những khát khao, những ước muốn ấy và sự lao động kèm theo để thực hiện chúng,

And what human being? It is not an average human being anyway. It’s not driven by the labor to fulfill that which the imagination indicates is possible and is other than what is,

Và con người nào? Dù sao thì đó cũng không phải là một con người trung bình. Y không bị thúc đẩy bởi sự lao động để thực hiện điều mà sự tưởng tượng cho thấy là có thể và khác với điều đang là,

…all men give their lives

…mọi người đều hiến dâng đời mình

Even in the sacrifice petal number three, the sacrifice petal in the first tier, the sacrifices for the sake of attaining that which does not yet exist on the physical plane, and men sacrifice themselves for it.

Ngay cả trong cánh hoa hi sinh số ba, cánh hoa hi sinh ở tầng thứ nhất, những sự hi sinh vì mục đích đạt được điều chưa hiện hữu trên cõi hồng trần, và con người hi sinh chính mình vì điều đó.

All men give their lives

Mọi người đều hiến dâng đời mình

So, this is related to the petal of sacrifice, and everything done is an effort to meet the realized need.

Vì vậy, điều này liên quan đến cánh hoa hi sinh, và mọi điều được làm đều là một nỗ lực để đáp ứng nhu cầu đã được chứng nghiệm.

[The need is the distance between that which the imagination reveals as possible and that which the senses reveal as actual…,

[Nhu cầu là khoảng cách giữa điều mà sự tưởng tượng mặc khải là có thể và điều mà các giác quan mặc khải là thực tế…,

perhaps it is not a need, but certainly when that distance involves something which is indispensable to life, then I suppose it’s a need. But oftentimes, it’s simply a want, wanting the things be other than they are because somehow the vision of what things could be is instilled in the astral body by the soul, and one always realizes that there is a dissonance between that vision, soul-inspired vision, however attenuated it might be, and that which the senses reveal,

có lẽ đó không phải là một nhu cầu, nhưng chắc chắn khi khoảng cách ấy liên quan đến điều không thể thiếu cho sự sống, thì tôi cho rằng đó là một nhu cầu. Nhưng thường thì, nó đơn giản chỉ là một sự muốn, muốn cho sự vật khác đi so với thực trạng bởi vì bằng cách nào đó, linh ảnh về điều mà sự vật có thể trở thành được linh hồn gieo vào thể cảm dục, và người ta luôn nhận ra rằng có một sự bất hòa giữa linh ảnh ấy—linh ảnh được linh hồn gợi hứng, dù nó có thể mờ nhạt đến đâu—và điều mà các giác quan mặc khải,

…and everything done is in an effort to meet the realised need, to face the challenge of existence

…và mọi điều được làm đều là một nỗ lực để đáp ứng nhu cầu đã được chứng nghiệm, để đối diện thách thức của sự hiện hữu

The challenge of resistance which can be conditions, let’s just call them threatening conditions as they are, or stultifying conditions,

Thách thức của sự kháng cự, vốn có thể là các điều kiện—chúng ta hãy cứ gọi chúng là những điều kiện đe dọa như chúng đang là, hoặc những điều kiện làm trì độn,

…with the demand for happiness, for heaven, and for the eventual fulfillment of the hoped-for ideal state. [19-5]

…cùng với đòi hỏi về hạnh phúc, về thiên đường, và về sự hoàn tất rốt ráo của trạng thái lý tưởng được hy vọng.

We live in the Saturnian world, where Jupiterian fulfilment is not found, and the desire nature is that which reaches out towards the vision, the soul-inspired vision of fulfillment, even if it doesn’t look like it’s from the soul, it comes from the soul. The soul is that great rounded out entity on the higher mental plane, which is the very symbol of fulfillment. And the causal body, the Egoic Lotus eventually becomes spherically, coloristically, tonally fulfilled.

Chúng ta sống trong một thế giới mang tính Sao Thổ, nơi sự hoàn tất kiểu Sao Mộc không được tìm thấy, và bản chất dục vọng là điều vươn ra hướng về linh ảnh—linh ảnh hoàn tất do linh hồn gợi hứng; ngay cả khi nó không có vẻ như đến từ linh hồn, nó vẫn đến từ linh hồn. Linh hồn là thực thể lớn lao, tròn đầy ấy trên cõi thượng trí, chính là biểu tượng của sự hoàn tất. Và thể nguyên nhân, Hoa Sen Chân Ngã, rốt cuộc trở nên tròn đầy về hình cầu, về sắc thái, về âm điệu.

So, there is a reaching out towards the fullness that is possible, as indicated by the soul with the visions that inspires in the astral body,

Vì vậy, có một sự vươn ra hướng về sự viên mãn có thể có, như được linh hồn chỉ ra qua những linh ảnh mà nó gợi hứng trong thể cảm dục,

…to face the challenge of existence with the demand for happiness, for heaven, and for the eventual fulfillment of the hoped-for ideal state.

…để đối diện thách thức của sự hiện hữu cùng với đòi hỏi về hạnh phúc, về thiên đường, và về sự hoàn tất rốt ráo của trạng thái lý tưởng được hy vọng.

So, we do not live in an ideal state. We live in what’s called actual conditions, which are far from the vision which the higher nature inspires in the psychological nature of man, in his kama-manas,

Vì vậy, chúng ta không sống trong một trạng thái lý tưởng. Chúng ta sống trong điều được gọi là các điều kiện thực tế, vốn cách xa linh ảnh mà bản chất cao hơn gợi hứng trong bản chất tâm lý của con người—trong thể trí cảm của y,

We do not live in an ideal state—we live in actual conditions which are far from the vision which the higher nature inspires in the psychological nature of man—in his kama-manas… The drive for fulfillment comes finally from the Monad itself… and from the soul as the representative of the Monad…

Chúng ta không sống trong một trạng thái lý tưởng—chúng ta sống trong các điều kiện thực tế vốn cách xa linh ảnh mà bản chất cao hơn gợi hứng trong bản chất tâm lý của con người—trong thể trí cảm của y… Xung lực hướng đến sự hoàn tất rốt cuộc đến từ chính chân thần… và từ linh hồn như là đại diện của chân thần…

So, there is here what we call divine discontent. No arrangement in the lower world is sufficient forever. They may bring a temporary sense of fulfillment, but always the spirit indicates that there is more, and the desire nature helps us envision that more, and animates the mechanism to attempt to reach that more, and to make that more a reality upon the lowest plane. Then, of course, once that happens, after a while, you say, “now what? Now what?”, and people who have apparently reached the height of their previously intended fulfillment commit suicide. They just think there’s nothing else. let’s just say that their contact with the soul and their imagination lacks in that respect. They answer, ‘Yes’ to the question “Is this all there is”, when in fact, a resounding ‘No’ should be the answer, and the imaginations spurred on by the soul should give that vision to the consciousness which indicates the nature of that more,

Vì vậy, ở đây có điều mà chúng ta gọi là sự bất mãn thiêng liêng. Không một sự sắp đặt nào trong các cõi thấp là đủ mãi mãi. Chúng có thể đem lại một cảm giác hoàn tất tạm thời, nhưng tinh thần luôn chỉ ra rằng còn có nhiều hơn nữa; và bản chất dục vọng giúp chúng ta hình dung cái “nhiều hơn” ấy, và làm sinh động bộ máy để cố gắng đạt đến cái “nhiều hơn” ấy, và biến cái “nhiều hơn” ấy thành hiện thực trên cõi thấp nhất. Rồi dĩ nhiên, một khi điều đó xảy ra, sau một thời gian, bạn nói: “rồi sao nữa? rồi sao nữa?”, và những người dường như đã đạt đến đỉnh cao của sự hoàn tất mà trước đây họ dự định lại tự sát. Họ chỉ nghĩ rằng không còn gì nữa. Chúng ta hãy chỉ nói rằng sự tiếp xúc của họ với linh hồn và sự tưởng tượng của họ thiếu hụt ở phương diện đó. Họ trả lời “Có” cho câu hỏi “Chỉ có thế thôi sao”, trong khi thực ra câu trả lời phải là một “Không” vang dội; và những sự tưởng tượng được linh hồn thôi thúc phải trao linh ảnh ấy cho tâm thức, linh ảnh chỉ ra bản chất của cái “nhiều hơn” ấy,

[w19_2]

[w19_2]

Everything is governed by some form of urgency towards satisfaction,

Mọi sự đều được chi phối bởi một dạng tính cấp bách hướng đến sự thỏa mãn,

We see here the word “urge”,

Chúng ta thấy ở đây từ “xung lực”,

…urgency towards satisfaction,

…tính cấp bách hướng đến sự thỏa mãn,

Let’s just say it’s an experienced arrangement closer to the underlying, motivating archetype.

Chúng ta hãy chỉ nói rằng đó là một sự sắp đặt được trải nghiệm, gần hơn với nguyên mẫu thúc đẩy nằm bên dưới.

Everything is governed by some form of urgency towards satisfaction, and this is distinctive of man’s search at every stage of his development—whether it is the instinctual urge to self-preservation,

Mọi sự đều được chi phối bởi một dạng tính cấp bách hướng đến sự thỏa mãn, và điều này là nét đặc thù của cuộc tìm kiếm của con người ở mọi giai đoạn phát triển của y—dù đó là xung lực bản năng nhằm tự bảo tồn,

Ie the thought that being what we call “alive is better than being dead”,

tức là ý nghĩ rằng điều chúng ta gọi là “sống” thì tốt hơn là “chết”,

…which can be seen in the savage’s search for food or in the economic problems of the modern civilised man;

…điều có thể thấy trong cuộc tìm kiếm thức ăn của người man dã hoặc trong các vấn đề kinh tế của con người văn minh hiện đại;

We might say that the economic problem does drive on to greater development because that problem must be solved through the use and development of one’s inherent faculties.

Chúng ta có thể nói rằng vấn đề kinh tế thúc đẩy sự phát triển lớn hơn, bởi vì vấn đề ấy phải được giải quyết thông qua việc sử dụng và phát triển các năng lực vốn có của một người.

[we may suppose that the economic problem does drive on to greater development, because that problem must be solved through the use and development of one’s inherent faculties…

[chúng ta có thể giả định rằng vấn đề kinh tế thúc đẩy sự phát triển lớn hơn, bởi vì vấn đề ấy phải được giải quyết thông qua việc sử dụng và phát triển các năng lực vốn có của một người…

Everything is governed by some form of urgency towards satisfaction, and this is distinctive of man’s search at every stage of his development—whether it is the instinctual urge to self-preservation,

Mọi sự đều được chi phối bởi một dạng tính cấp bách hướng đến sự thỏa mãn, và điều này là nét đặc thù của cuộc tìm kiếm của con người ở mọi giai đoạn phát triển của y—dù đó là xung lực bản năng nhằm tự bảo tồn,

So, everything is governed by some form of urgency. We all have desires, what are they? High or low? What do they lead to? What constellation of factors would find those desires fulfilled?

Vì vậy, mọi sự đều được chi phối bởi một dạng tính cấp bách. Tất cả chúng ta đều có dục vọng; chúng là gì? Cao hay thấp? Chúng dẫn đến điều gì? Tổ hợp những yếu tố nào sẽ khiến các dục vọng ấy được thỏa mãn?

So, this is distinctive of man’s search at every stage of his development—

Vì vậy, điều này là nét đặc thù của cuộc tìm kiếm của con người ở mọi giai đoạn phát triển của y—

Whether we’re dealing with the savage of the saints,

Dù chúng ta đang nói về người man dã hay các vị thánh,

…whether it is the instinctual urge to self-preservation, which can be seen in the savage’s search for food or in the economic problems of the modern civilised man;

…dù đó là xung lực bản năng nhằm tự bảo tồn, điều có thể thấy trong cuộc tìm kiếm thức ăn của người man dã hoặc trong các vấn đề kinh tế của con người văn minh hiện đại;

How do we live and make a living, make a living so we can live,

Chúng ta sống thế nào và mưu sinh thế nào, mưu sinh để có thể sống,

…whether it is the urge to self-reproduction

…dù đó là xung lực nhằm tự sinh sản

So that one may have a kind of giving a kind of immortality through one’s offspring,

Để người ta có thể có một kiểu trao tặng một kiểu bất tử thông qua con cái của mình,

…and the satisfaction of that appetite which works out today in the complexity of the sex life of the race;

…và sự thỏa mãn của cơn thèm khát ấy, điều ngày nay biểu hiện trong sự phức tạp của đời sống tính dục của nhân loại;

Involving so many emotional and mental factors. Really, we could say it’s psychological complexity,

Liên quan đến rất nhiều yếu tố cảm xúc và trí tuệ. Thật ra, chúng ta có thể nói đó là sự phức tạp tâm lý,

…whether it is the urge to be popular, loved and esteemed;

…dù đó là xung lực muốn được ưa chuộng, được yêu mến và được kính trọng;

We see this in so many performers, don’t we? These are the Maslow’s esteem needs.

Chúng ta thấy điều này ở rất nhiều người biểu diễn, phải không? Đây là các nhu cầu được tôn trọng theo Maslow.

…whether it is the urge for [Page 155] intellectual enjoyment and the mental appropriation of truth,

…dù đó là xung lực hướng đến [Page 155] sự hưởng thụ trí tuệ và sự chiếm hữu chân lý bằng trí tuệ,

Let’s say that which drives the philosopher

Chúng ta hãy nói đó là điều thúc đẩy nhà triết học

…or the deep-seated desire for heaven and rest which characterises the Christian,

…hoặc dục vọng sâu xa về thiên đường và sự nghỉ ngơi, điều đặc trưng cho người Kitô hữu,

We call the world-weary Christian, who has struggled onward through this veil of tears,

Chúng ta gọi đó là người Kitô hữu mỏi mệt với thế gian, người đã vật lộn tiến bước qua bức màn nước mắt này,

…or the aspiration for illumination which is the demand of the mystic,

…hoặc khát vọng về sự soi sáng, điều là đòi hỏi của nhà thần bí,

Notice how the will begins to enter here, it’s my right, I demand it

Hãy lưu ý cách ý chí bắt đầu đi vào đây: đó là quyền của tôi, tôi đòi hỏi điều đó

…or the longing for identification with reality which is the “wish” of the occultist. [19-6]

…hoặc nỗi khao khát được đồng hoá với thực tại, điều là “ước muốn” của nhà huyền bí học.

I find myself wanting that, how about you? Identification with reality, identification seems to be the real return after wandering in ignorance to the being, the re-becoming of what one actually is.

Tôi thấy mình muốn điều đó; còn các bạn thì sao? Đồng hoá với thực tại, sự đồng hoá dường như là sự trở về thật sự sau khi lang thang trong vô minh để trở về với hiện hữu, sự trở-thành-lại điều mà người ta thật sự là.

All this is desire in some form or another,

Tất cả điều này đều là dục vọng dưới dạng này hay dạng khác,

And we really have to realize that sometimes when we begin to talk about spiritual things, we fancy we are beyond the prompting of desire, and it is not so.

Và chúng ta thật sự phải nhận ra rằng đôi khi khi chúng ta bắt đầu nói về những điều tinh thần, chúng ta tưởng rằng mình đã vượt khỏi những thôi thúc của dục vọng, và điều đó không đúng.

All this is desire in some form or another, and by these urges, humanity is governed

Tất cả điều này đều là dục vọng dưới dạng này hay dạng khác, và bởi các xung lực này, nhân loại bị chi phối

We might say,

Chúng ta có thể nói,

[the urge towards what—this will be seen as the stratification of the quality of desire…

[xung lực hướng đến điều gì—điều này sẽ được thấy như sự phân tầng của phẩm tính dục vọng…

…and by these urges, humanity is governed and controlled; I would say most definitely controlled, for this is only a simple statement of the case. [19-7]

…và bởi các xung lực này, nhân loại bị cai quản và kiểm soát; tôi sẽ nói là chắc chắn bị kiểm soát, vì đây chỉ là một sự trình bày đơn giản của thực trạng.

We have these promptings, these drives, these urges, and to what extent do we just allow everything we know ourselves to be to go with them and attempt to fulfill them? Or to what extent, we say, Ah, here is a desire, and I am independent of that desire? But, of course, these desires in a way are really promptings of our higher nature, drives of our higher nature.

Chúng ta có những thôi thúc, những động lực, những xung lực này, và đến mức độ nào chúng ta cứ để toàn bộ điều mà chúng ta biết mình là đi theo chúng và cố gắng thỏa mãn chúng? Hay đến mức độ nào chúng ta nói: À, đây là một dục vọng, và tôi độc lập với dục vọng ấy? Nhưng dĩ nhiên, những dục vọng này theo một nghĩa nào đó thật sự là những thôi thúc của bản chất cao hơn của chúng ta, những động lực của bản chất cao hơn của chúng ta.

So, we might say,

Vì vậy, chúng ta có thể nói,

[To the extent that desires are DRIVES and PROMPTINGS from our Higher Nature they must be fulfilled—fiery energy propelling the unit towards that which the Higher Nature envisions…

[Ở mức độ mà dục vọng là các ĐỘNG LỰC và NHỮNG THÔI THÚC từ Bản Chất Cao Hơn của chúng ta, chúng phải được thỏa mãn—năng lượng rực lửa đẩy đơn vị hướng đến điều mà Bản Chất Cao Hơn hình dung…

To the extent that desires are drives and promptings from our higher nature. They must be fulfilled. They are kind of fiery energy propelling us, propelling the unit towards that which the higher nature envisions. There is this drive that keeps us going. Sometimes people have the sense of the loss of faith or the loss of that drive and they sit in a somewhat immobile, depressed state. Then maybe they say, “Oh, the Holy Spirit has revived my soul again”.

Ở mức độ mà dục vọng là các động lực và những thôi thúc từ bản chất cao hơn của chúng ta, chúng phải được thỏa mãn. Chúng là một loại năng lượng rực lửa đẩy chúng ta, đẩy đơn vị hướng đến điều mà bản chất cao hơn hình dung. Có xung lực này giữ cho chúng ta tiếp tục. Đôi khi người ta có cảm giác mất niềm tin hoặc mất xung lực ấy và họ ngồi trong một trạng thái hơi bất động, trầm uất. Rồi có thể họ nói: “Ồ, Chúa Thánh Thần đã làm sống lại linh hồn tôi một lần nữa.”

I remember that old spiritual, there was Balm bomb in Gilead.

Tôi nhớ bài thánh ca cổ ấy, có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead.

There was a bomb in Gilead.

Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead.

That makes the wounded whole.

Điều làm cho người bị thương trở nên lành lặn.

There is a bomb in Gilead,

Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead,

which heals the sin, sick soul.

điều chữa lành linh hồn bệnh tật vì tội lỗi.

Sometimes I feel discouraged

Đôi khi tôi cảm thấy nản lòng

and think my works in vain.

và nghĩ rằng công việc của tôi là vô ích.

But then the Holy Spirit revives my soul again…

Nhưng rồi Chúa Thánh Thần lại làm sống lại linh hồn tôi một lần nữa…

These verses are from the African American spiritual “There Is a Balm in Gilead”. The exact origins of the song are unknown, but it is believed to have been written during the American slavery era.

Những câu này trích từ bài thánh ca của người Mỹ gốc Phi “Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead”. Nguồn gốc chính xác của bài hát không rõ, nhưng người ta tin rằng nó được viết trong thời kỳ nô lệ ở Hoa Kỳ.

The song is a message of hope and encouragement for those who are feeling discouraged. The lyrics speak of the power of the Holy Spirit to revive and restore the soul. The song is a reminder that even when we feel like our work is in vain, God is still with us and will never give up on us.

Bài hát là một thông điệp hy vọng và khích lệ dành cho những ai đang cảm thấy nản lòng. Lời ca nói về quyền năng của Chúa Thánh Thần trong việc làm sống lại và phục hồi linh hồn. Bài hát nhắc nhở rằng ngay cả khi chúng ta cảm thấy như công việc của mình là vô ích, Thượng đế vẫn ở cùng chúng ta và sẽ không bao giờ từ bỏ chúng ta.

The song has been sung by many different artists over the years, including Mahalia Jackson, Paul Robeson, and Odetta. It is a popular choice for funerals and other occasions where people need to be reminded of God’s love and hope.

Bài hát đã được nhiều nghệ sĩ khác nhau hát qua các năm, bao gồm Mahalia Jackson, Paul Robeson và Odetta. Đây là một lựa chọn phổ biến cho tang lễ và những dịp khác, nơi người ta cần được nhắc nhớ về tình thương và hy vọng của Thượng đế.

Here are the full lyrics to the song:

Dưới đây là toàn bộ lời ca của bài hát:

There is a balm in Gilead to make the wounded whole,

Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead để làm cho người bị thương trở nên lành lặn,

There is a balm in Gilead to heal the sin-sick soul.

Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead để chữa lành linh hồn bệnh tật vì tội lỗi.

Sometimes I feel discouraged, and think my work’s in vain,

Đôi khi tôi cảm thấy nản lòng, và nghĩ rằng công việc của tôi là vô ích,

But then the Holy Spirit revives my soul again.

Nhưng rồi Chúa Thánh Thần lại làm sống lại linh hồn tôi một lần nữa.

(Chorus)

(Điệp khúc)

There is a balm in Gilead to make the wounded whole,

Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead để làm cho người bị thương trở nên lành lặn,

There is a balm in Gilead to heal the sin-sick soul.

Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead để chữa lành linh hồn bệnh tật vì tội lỗi.

If you cannot preach like Peter, if you cannot pray like Paul,

Nếu bạn không thể giảng như Phêrô, nếu bạn không thể cầu nguyện như Phaolô,

Just tell the love of Jesus, and say “He died for all!”

Thì chỉ cần nói về tình thương của Đức Jesus, và nói “Ngài đã chết cho tất cả!”

(Chorus)

(Điệp khúc)

There is a balm in Gilead to make the wounded whole,

Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead để làm cho người bị thương trở nên lành lặn,

There is a balm in Gilead to heal the sin-sick soul.

Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead để chữa lành linh hồn bệnh tật vì tội lỗi.

Don’t ever feel discouraged, for Jesus is your friend,

Đừng bao giờ cảm thấy nản lòng, vì Đức Jesus là bạn của bạn,

Who, if you ask for knowledge, will never fail to lend.

Đấng mà, nếu bạn xin tri thức, sẽ không bao giờ không cho mượn.

(Chorus)

(Điệp khúc)

There is a balm in Gilead to make the wounded whole,

Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead để làm cho người bị thương trở nên lành lặn,

There is a balm in Gilead to heal the sin-sick soul.

Có một thứ dầu xoa dịu ở Gilead để chữa lành linh hồn bệnh tật vì tội lỗi.

So, this inner fire, this inner drive that comes from the divine dimensions of life propels us. It’s to understand the stream, the current, which carries us forward. Once we have entered the stream, we might as take advantage of it because it is a propelling river of fire, leading us to fulfillment as that fulfillment is understood from the higher perspectives

Vì vậy, ngọn lửa nội tại này, động lực nội tại này đến từ các chiều kích thiêng liêng của sự sống thúc đẩy chúng ta. Đó là để thấu hiểu dòng chảy, dòng nước, thứ mang chúng ta tiến về phía trước. Một khi chúng ta đã đi vào dòng chảy, chúng ta cũng có thể tận dụng nó, bởi vì đó là một dòng sông lửa thúc đẩy, dẫn chúng ta đến sự hoàn tất như sự hoàn tất ấy được thấu hiểu từ các quan điểm cao hơn

[w19_3]

[w19_3]

It is this realisation of man’s fundamental bias or controlling factor [Desire…

Chính sự chứng nghiệm này về thiên hướng căn bản hay yếu tố kiểm soát của con người [Dục vọng…

That’s what he calls desire. He’s calling it man’s fundamental bias controlling factor

Đó là điều Ngài gọi là dục vọng. Ngài đang gọi nó là thiên hướng căn bản, yếu tố kiểm soát của con người

…that lies behind the teaching given by the Buddha, and which is embodied in the Four Noble Truths of the Buddhist philosophy, which can be summarised as follows: — [19-8]

…điều nằm phía sau giáo huấn do Đức Phật ban truyền, và được thể hiện trong Bốn Chân Lý Cao Quý của triết học Phật giáo, vốn có thể được tóm lược như sau: —

Of course, you have to have realized what desire is just a little bit to a scribe, don’t even care to understand those four Noble Truths. There are many religionists who just don’t want to. They are so in the grip of desire without understanding that it is desire, that they don’t want to turn their consciousness to the analysis of what desire is.

Dĩ nhiên, bạn phải chứng nghiệm được dục vọng là gì, dù chỉ một chút, để mà—đừng nói là thấu hiểu—bốn Chân Lý Cao Quý ấy. Có nhiều người theo tôn giáo đơn giản là không muốn. Họ bị dục vọng nắm giữ mà không hiểu đó là dục vọng, đến nỗi họ không muốn hướng tâm thức của mình vào việc phân tích dục vọng là gì.

So, this realization that’s behind the realization of this fundamental bias or controlling factor, that one is in the grip of desire, lies behind the teaching given by the Buddha.

Vì vậy, sự chứng nghiệm này—đằng sau sự chứng nghiệm về thiên hướng căn bản hay yếu tố kiểm soát này, rằng người ta đang ở trong sự nắm giữ của dục vọng—nằm phía sau giáo huấn do Đức Phật ban truyền.

Concerning the Four Noble Truths, which can be summarized as falling away,

Về Bốn Chân Lý Cao Quý, vốn có thể được tóm lược như là sự rơi rụng,

There are various summaries of these truths, but these truths are something that each one of us should carry in our understanding, and perhaps be able to repeat when caught up in the desires of life and the various impulsion that we feel without knowing whence their source.

Có nhiều cách tóm lược các chân lý này, nhưng các chân lý này là điều mà mỗi người trong chúng ta nên mang trong sự thấu hiểu của mình, và có lẽ có thể lặp lại khi bị cuốn vào các dục vọng của đời sống và các xung lực khác nhau mà chúng ta cảm thấy mà không biết nguồn gốc của chúng từ đâu.

a. Existence in the phenomenal universe is inseparable from suffering and sorrow. [19-9]

…a. Sự hiện hữu trong vũ trụ hiện tượng không thể tách rời khỏi khổ đau và sầu muộn.

And what is the phenomenal universe.

Và vũ trụ hiện tượng là gì.

the phenomenal universe is, for practical purposes, the lower 18 suplanes, basically, the dense physical body of the Planetary Logos, or maybe even the 21 lower subplanes, which we might consider, certainly are, as we are given, the dense physical vehicle of the solar Logos.

Vì các mục đích thực tiễn, vũ trụ hiện tượng là 18 cõi phụ thấp, về cơ bản là thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế, hoặc thậm chí là 21 cõi phụ thấp, mà chúng ta có thể xem là—và chắc chắn là, như chúng ta được dạy—vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

From a certain perspective higher—the phenomenal universe is the entire lower 18 cosmic subplanes, and at least the cosmic physical plane… This is a world inseparable from cleavage…

Từ một quan điểm cao hơn nào đó—vũ trụ hiện tượng là toàn bộ 18 cõi phụ vũ trụ thấp, và ít nhất là cõi hồng trần vũ trụ… Đây là một thế giới không thể tách rời khỏi sự phân rẽ…

Now, maybe from a cosmic perspective, higher, the phenomenal universe is the entire lower 18 cosmic subplanes, and at least the cosmic physical plane, but for practical purposes, and given where man is right now and what his immediate salvation will be after the fourth degree, we can consider it to be the dense physical body of the Solar Logos, the breaking of the causal body which releases from the lower 21 subplanes.

Giờ đây, có lẽ từ một quan điểm vũ trụ cao hơn, vũ trụ hiện tượng là toàn bộ 18 cõi phụ vũ trụ thấp, và ít nhất là cõi hồng trần vũ trụ, nhưng vì các mục đích thực tiễn, và xét theo vị trí hiện nay của con người cùng sự cứu rỗi trực tiếp của y sau bậc thứ tư, chúng ta có thể xem nó là thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế, sự phá vỡ thể nguyên nhân vốn giải phóng khỏi 21 cõi phụ thấp.

So, there’s going to be sorrow, pain, division, separation, lack of cohesion, lack of the realization of unity, in this lower and apparently much divided world, because pain and cleavage go together. It seems, this is a world inseparable from cleavage.

Vì vậy, sẽ có sầu muộn, đau đớn, phân chia, chia lìa, thiếu kết dính, thiếu sự chứng nghiệm hợp nhất, trong thế giới thấp và dường như bị phân chia rất nhiều này, bởi vì đau đớn và phân rẽ đi đôi với nhau. Dường như đây là một thế giới không thể tách rời khỏi sự phân rẽ.

b. The cause of suffering is desire for existence in the phenomenal universe. [19-10]

b. Nguyên nhân của khổ đau là dục vọng muốn hiện hữu trong vũ trụ hiện tượng.

It’s as if to say, let me live in these lower 18 subplanes forever, is where I want to be. I don’t want to leave it, and certainly I want to come back. I don’t want to leave it by dying, and certainly, if I die, I want to come back to it through rebirth.

Như thể nói rằng: hãy để tôi sống mãi trong 18 cõi phụ thấp này—đó là nơi tôi muốn ở. Tôi không muốn rời khỏi nó, và chắc chắn tôi muốn quay lại. Tôi không muốn rời khỏi nó bằng cái chết, và chắc chắn, nếu tôi chết, tôi muốn quay lại nó qua tái sinh.

So, if we have desired to perpetuate our existence, interminably in these lower 18 worlds, and even 21 worlds, because that has to be given up to the causal body, then we will suffer from seemingly unbridgeable cleavages, ongoing separation, the lack of the joy of unity and the bliss of oneness.

Vì vậy, nếu chúng ta đã dục vọng muốn duy trì sự hiện hữu của mình một cách vô tận trong 18 cõi thấp này, và thậm chí 21 cõi thấp, bởi vì điều đó phải được từ bỏ đối với thể nguyên nhân, thì chúng ta sẽ chịu khổ vì những sự phân rẽ dường như không thể bắc cầu, sự chia lìa liên tục, thiếu niềm vui của hợp nhất và phúc lạc của nhất thể.

c. The cessation of suffering… [19-11]

c. Sự chấm dứt khổ đau…

Buddha is really practical, he’s Taurus. When you read that which his students took down because really what he said, his clarity itself, simplicity itself, I guess. The story goes that in his training, he mastered all the complexities and decided that for the redemption of humanity to which he was as the Head of the Hierarchy at the time, think of it which was committed, simplicity was best.

Đức Phật thật sự rất thực tiễn, Ngài thuộc Kim Ngưu. Khi bạn đọc điều mà các đệ tử của Ngài đã ghi lại—bởi vì thật sự điều Ngài nói, sự minh triết của Ngài, sự giản dị của Ngài, tôi đoán vậy. Câu chuyện kể rằng trong quá trình tu học, Ngài đã làm chủ mọi sự phức tạp và quyết định rằng, để cứu chuộc nhân loại—điều mà Ngài, với tư cách là Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn vào thời điểm ấy, hãy nghĩ xem, đã dấn thân—thì sự giản dị là tốt nhất.

c. The cessation of suffering is attained by eradicating desire for phenomenal existence.

c. Sự chấm dứt khổ đau đạt được bằng cách diệt trừ dục vọng đối với sự hiện hữu hiện tượng.

In the lower 18-21 worlds. If we want this kind of existence, we will suffer. The suffering is inextricably connected to the desire for existence in the lower worlds. You can see that there would be higher correspondences to this, but we’re simply human beings here, so we’ll take it one step at a time,

Trong 18–21 cõi thấp. Nếu chúng ta muốn kiểu hiện hữu này, chúng ta sẽ khổ. Khổ đau gắn kết không thể tách rời với dục vọng muốn hiện hữu trong các cõi thấp. Bạn có thể thấy sẽ có những tương ứng cao hơn đối với điều này, nhưng chúng ta chỉ là con người ở đây, nên chúng ta sẽ đi từng bước một,

d. The Path to the cessation of suffering is the noble eightfold path. [19-12]

d. Con Đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau là Bát Chánh Đạo.

This noble eightfold path is differently expressed in different translations and endlessly interpreted in all of the great Buddhist thought form. Buddhism is a rational religion. It involves the mind. It is really the religion of those who come from the moon chain, whose monad is more on the third ray. And I think that those who have an antagonism towards Buddhism do not have the same monadic structure and are more likely to be younger in their soul expression, and less inclined in religious matters, to use the rational intellect, and especially that intellect when illumined by the higher dimension.

Bát Chánh Đạo này được diễn đạt khác nhau trong các bản dịch khác nhau và được diễn giải vô tận trong mọi hình tư tưởng Phật giáo lớn lao. Phật giáo là một tôn giáo duy lý. Nó liên quan đến thể trí. Thật sự đó là tôn giáo của những người đến từ dãy Mặt Trăng, những người có chân thần thiên về cung ba hơn. Và tôi nghĩ rằng những ai có sự đối kháng đối với Phật giáo thì không có cùng cấu trúc chân thần, và có nhiều khả năng là trẻ hơn trong sự biểu lộ linh hồn của họ, và ít có khuynh hướng, trong các vấn đề tôn giáo, sử dụng trí tuệ duy lý, và đặc biệt là trí tuệ ấy khi được soi sáng bởi chiều kích cao hơn.

So, if we have existence in these 21 subplanes, it is suffering. Suffering and sorrow will be found in these worlds, because in a way we are separated in these worlds from the real program of the second solar system. We are ding in the worlds which are re-composites in a way of the matter of the previous solar system, so we’re separated in our vibration from what we’re really supposed to be doing, getting on with themes of this solar system, which are all about unity, and the cause of suffering, the will in a way is driving towards the second Solar System program, but the desire looks backward, and is a rendering process.

Vì vậy, nếu chúng ta hiện hữu trong 21 cõi phụ này, đó là khổ đau. Khổ đau và sầu muộn sẽ được tìm thấy trong các cõi này, bởi vì theo một nghĩa nào đó chúng ta bị tách rời trong các cõi này khỏi chương trình thực sự của hệ mặt trời thứ hai. Chúng ta đang làm việc trong các cõi mà theo một nghĩa nào đó là những tái cấu hợp của vật chất thuộc hệ mặt trời trước, nên chúng ta bị tách rời trong rung động khỏi điều mà chúng ta thật sự phải làm, là tiếp tục các chủ đề của hệ mặt trời này, vốn hoàn toàn liên quan đến hợp nhất; và nguyên nhân của khổ đau là—ý chí theo một nghĩa nào đó đang thúc đẩy hướng đến chương trình của hệ mặt trời thứ hai, nhưng dục vọng thì nhìn ngược lại, và là một tiến trình làm chậm lại.

The cause of suffering is desire for existence in those lower worlds, and the cessation of the suffering comes with eradicating the cause, which is the desire for that kind of existence, and the specific path to the cessation of suffering is the Noble Eightfold Path. And I think he’s going to explain. maybe he’s gonna deal with that here, but certainly, it’s completely accessible. It’s a bit like being in the AAB program, and you memorize the 12 steps, and, of course, you have to work the steps. You can’t just say, Oh, I know the steps. So, therefore I’ve done the program, and therefore all I know the Noble Eightfold Path. And therefore I have graduated from what Buddhism can teach me. In other words, the teaching of the Great Being, the Buddha, not at all, sufficient. We have to work each one of the steps in the Noble Eightfold Path, and they’re all preceded by the word right—do it right, do it correctly. Doing something is not enough, it has to be done correctly. So, we’ll see if we get into that. This is probably not news to you because so many of you who are studying this are really in the spiritual field and have been for a long time, some of you. So, it will be familiar. But we’re interested here in the Tibetan’s analysis of that which has long been taught in various religions, and at this point, the Buddhist religion.

Nguyên nhân của khổ đau là dục vọng muốn hiện hữu trong các cõi thấp ấy, và sự chấm dứt khổ đau đến cùng với việc diệt trừ nguyên nhân, tức là dục vọng đối với kiểu hiện hữu ấy, và con đường đặc thù dẫn đến sự chấm dứt khổ đau là Bát Chánh Đạo. Và tôi nghĩ Ngài sẽ giải thích. Có lẽ Ngài sẽ bàn đến điều đó ở đây, nhưng chắc chắn, nó hoàn toàn có thể tiếp cận. Nó hơi giống như ở trong chương trình AAB, và bạn học thuộc 12 bước, và dĩ nhiên, bạn phải thực hành các bước. Bạn không thể chỉ nói: Ồ, tôi biết các bước. Vậy nên tôi đã làm xong chương trình, và vậy nên tôi biết Bát Chánh Đạo. Và vậy nên tôi đã tốt nghiệp khỏi điều mà Phật giáo có thể dạy tôi. Nói cách khác, giáo huấn của Đấng Vĩ Đại, Đức Phật, hoàn toàn không đủ. Chúng ta phải thực hành từng bước trong Bát Chánh Đạo, và tất cả đều được đặt trước bởi từ “chánh”—làm cho chánh, làm cho đúng. Chỉ làm thôi thì chưa đủ, nó phải được làm đúng. Vì vậy, chúng ta sẽ xem liệu chúng ta có đi vào điều đó không. Điều này có lẽ không mới đối với các bạn vì rất nhiều người trong các bạn đang nghiên cứu điều này thật sự ở trong lĩnh vực tinh thần và đã như vậy từ lâu, một số bạn. Vì vậy, nó sẽ quen thuộc. Nhưng ở đây chúng ta quan tâm đến sự phân tích của Chân sư Tây Tạng về điều đã được dạy từ lâu trong nhiều tôn giáo khác nhau, và tại điểm này là tôn giáo Phật giáo.

So, this is about the Buddhist,

Vì vậy, điều này là về Phật giáo,

[w19_4]

[w19_4]

It was the realisation of the urgency of man’s need to be delivered from his own desire-nature which led Christ

Chính sự chứng nghiệm về tính cấp bách của nhu cầu của con người phải được giải thoát khỏi bản chất dục vọng của chính y đã khiến Đức Christ

this is what the Christ rather,

đúng hơn là Đức Christ,

…which led Christ to emphasise the necessity to seek the good of one’s neighbor in contra-distinction to one’s own good,

…đã khiến Đức Christ nhấn mạnh sự cần thiết phải tìm kiếm điều thiện cho người lân cận, đối lập với điều thiện của chính mình,

…and to advise the life of service and self-sacrifice, of self-forgetfulness and love of all beings. [19-13]

…và khuyên dạy đời sống phụng sự và tự hi sinh, quên mình và yêu thương mọi chúng sinh.

So, let’s just say,

Vì vậy, chúng ta hãy chỉ nói rằng,

[Our desire nature truly has us in prison, but so many of us do not realize it.

[Bản chất dục vọng của chúng ta thật sự giam cầm chúng ta, nhưng rất nhiều người trong chúng ta không nhận ra điều đó.

So, when the Christ looked ahead? he was, after all, the World Teacher at his time of appearance. We do have to remember this distinction between Jesus and the Christ. And I think a very parallel thing between Gautama and the real Buddha, Prince Siddhartha Gautama and the real Buddha. For 2500 years, I think, the fifth degree initiate who was the head of the Planetary Hierarchy and the inability to see Christ, as Lord Maitreya, is distinct from the now Master Jesus or the initiate Jesus at that time, is exactly parallel to the inability to see the great Buddha as distinct from his vehicle Gautama. Now, I don’t recall that this has been mentioned. It may just be my own wild theory, but it seems perfectly rational to me. It seems to me correct how these great beings who are the Head of the Hierarchy work to save time, they use the vehicle of their -trained instrument, and being the initiate of the sixth degree, essentially, lead their instrument to taking the fourth degree. But I’ve talked about that before, so there’s no sense to go on with it too much at this point.

Vì vậy, khi Đức Christ nhìn về phía trước? Rốt cuộc, Ngài là Đức Chưởng Giáo vào thời điểm Ngài xuất hiện. Chúng ta phải nhớ sự phân biệt giữa Đức Jesus và Đức Christ. Và tôi nghĩ có một điều rất song song giữa Gautama và Đức Phật thực sự, giữa Thái tử Siddhartha Gautama và Đức Phật thực sự. Trong 2500 năm, tôi nghĩ, vị điểm đạo đồ bậc năm là Đấng đứng đầu Thánh Đoàn Hành Tinh, và sự bất lực trong việc thấy Đức Christ, như là Đức Chúa Tể Maitreya, là khác biệt với Chân sư Jesus hiện nay hay điểm đạo đồ Jesus vào thời điểm ấy, hoàn toàn song song với sự bất lực trong việc thấy Đức Phật vĩ đại là khác biệt với vận cụ Gautama của Ngài. Giờ đây, tôi không nhớ điều này đã được nhắc đến hay chưa. Có thể đó chỉ là giả thuyết hoang dã của riêng tôi, nhưng nó có vẻ hoàn toàn hợp lý đối với tôi. Dường như đối với tôi là đúng: cách các Đấng vĩ đại này, là Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn, làm việc để tiết kiệm thời gian—Các Ngài sử dụng vận cụ của công cụ đã được huấn luyện của Các Ngài, và với tư cách là điểm đạo đồ bậc sáu, về cơ bản, dẫn dắt công cụ của mình đạt đến bậc thứ tư. Nhưng tôi đã nói về điều đó trước đây, nên không có lý do để đi quá xa về nó ở điểm này.

So, man is in the grip of his own desires, and Christ said it’s not your desires to count. The count is the desires and the good of one’s neighbor. Take your eyes off your own desire body and emphasize the other’s, altruism,

Vì vậy, con người ở trong sự nắm giữ của chính dục vọng của mình, và Đức Christ nói rằng không phải dục vọng của bạn mới đáng kể. Điều đáng kể là dục vọng và điều thiện của người lân cận. Hãy rời mắt khỏi thể dục vọng của chính bạn và nhấn mạnh đến người khác, lòng vị tha,

…and to advise the life of service and self-sacrifice, of self-forgetfulness and love of all beings. [19-14]

…và khuyên dạy đời sống phụng sự và tự hi sinh, quên mình và yêu thương mọi chúng sinh.

See, all of this has to do with the will.

Hãy thấy, tất cả điều này đều liên quan đến ý chí.

[these factors having to do with the will, which counters desire.

[những yếu tố này liên quan đến ý chí, thứ đối kháng với dục vọng.

Cain kills Abel, Vulcan kills Mars. The shepherd able to shepherd. He’s got a lot of sheep, that’s Aries, isn’t that, ruled by Mars?

Cain giết Abel, Vulcan giết Sao Hỏa. Người chăn chiên có thể chăn dắt. Y có rất nhiều chiên, đó là Bạch Dương, phải không, được cai quản bởi Sao Hỏa?

So take your eyes off yourself and care about the good of your own neighbor. And live the life ministering to the needs of that neighbor, and not ministering to the promptings of your own desire body, and sacrifice what you thought was yourself, which wasn’t really yourself at all, but as your own elemental promptings, we can say that. Sacrifice your own elemental promptings to advise the life of service and self sacrifice, of self forgetfulness, and the love of all beings.

Vì vậy, hãy rời mắt khỏi bản thân và quan tâm đến điều thiện của người lân cận. Và sống đời sống chăm lo cho các nhu cầu của người lân cận ấy, chứ không chăm lo cho những thôi thúc của thể dục vọng của chính bạn, và hi sinh điều mà bạn tưởng là chính mình—mà thật ra không phải là chính mình chút nào—mà là những thôi thúc hành khí của chính bạn, chúng ta có thể nói vậy. Hi sinh những thôi thúc hành khí của chính bạn để khuyên dạy đời sống phụng sự và tự hi sinh, quên mình, và yêu thương mọi chúng sinh.

So, this is the transition of desire into love, and of the solar plexus into the heart center,

Vì vậy, đây là sự chuyển tiếp của dục vọng thành bác ái, và của tùng thái dương thành trung tâm tim,

Only in this way can man’s mind and “the eye of the heart” be turned away from one’s own needs and satisfaction to the deeper demands of the race itself.

Chỉ bằng cách này, thể trí của con người và “con mắt của trái tim” mới có thể được quay khỏi các nhu cầu và sự thỏa mãn của chính mình để hướng đến những đòi hỏi sâu xa hơn của chính nhân loại.

So, all this requires self sacrifice, and this is not the true self sacrificing its nature. It’s the true self appearing through the sacrifice of the lesser self, getting it out of the way of the expression of the true self.

Vì vậy, tất cả điều này đòi hỏi tự hi sinh, và đây không phải là chân ngã hi sinh bản chất của nó. Đó là chân ngã xuất hiện qua sự hi sinh của phàm ngã, đưa nó ra khỏi đường để chân ngã được biểu lộ.

So, instinctively we know, nine out[1] it’s instinctive, having been through the Piscean age and the sixth ray and the era of the Master Jesus with the Christ behind him, having been through that, we know of the necessity that the welfare of another is most important, even in Rule One, his brother and his brother’s need is of greater moment than his own. This is the truly Christian way—

Vì vậy, theo bản năng chúng ta biết—chín phần là bản năng—đã đi qua thời đại Song Ngư và cung sáu và kỷ nguyên của Chân sư Jesus với Đức Christ đứng phía sau Ngài, đã đi qua điều đó, chúng ta biết về sự cần thiết rằng phúc lợi của người khác là quan trọng nhất, ngay cả trong Quy luật Một, huynh đệ của y và nhu cầu của huynh đệ ấy quan trọng hơn nhu cầu của chính y. Đây là con đường Kitô giáo đích thực—

[His brother’s need is of greater moment than his own, and only when this is the case, the man is ready for initiation, that he will be ready for initiation.

[Nhu cầu của huynh đệ y quan trọng hơn nhu cầu của chính y, và chỉ khi điều này là như vậy, người ấy mới sẵn sàng cho điểm đạo, rằng y sẽ sẵn sàng cho điểm đạo.

And with some other requirements— who cares not for the suffering and pain of the lower self, if it is immaterial to him whether happiness comes his way or not… then his own sole purpose in life is to serve and save the world. There we go. There must be a lesson of that one for me and for all of us, who managed to forget certain important phrases.

Và với một số yêu cầu khác—ai không quan tâm đến khổ đau và đau đớn của phàm ngã, nếu đối với y việc hạnh phúc có đến với y hay không là điều không đáng kể… thì mục đích duy nhất của đời y là phụng sự và cứu thế gian. Đó rồi. Hẳn phải có một bài học của điều đó dành cho tôi và cho tất cả chúng ta, những người đã xoay xở để quên một số cụm từ quan trọng.

These are necessitated before his Master hands in his name as a candidate for initiation. If he cares not for the suffering and pain of the lower self, if it is immaterial to him whether happiness comes his way or not, if the sole purpose of his life is to serve and save the world, and if his brother’s need is for him of greater moment than his own, then is the fire oflove irradiating his being, and the world can warm itself at his feet. This love has to be a practical, tested manifestation, and not just a theory, nor simply an impractical ideal and a pleasing sentiment. It is something that has grown in the trials and tests of life, so that the primary impulse of the life is towards self-sacrifice and the immolation of the lower nature.

Những điều này là cần thiết trước khi Chân sư của y trình tên y như một ứng viên cho điểm đạo. Nếu y không quan tâm đến khổ đau và đau đớn của phàm ngã, nếu đối với y việc hạnh phúc có đến với y hay không là điều không đáng kể, nếu mục đích duy nhất của đời y là phụng sự và cứu thế gian, và nếu nhu cầu của huynh đệ y quan trọng hơn nhu cầu của chính y, thì lửa bác ái đang chiếu rạng hữu thể của y, và thế gian có thể sưởi ấm dưới chân y. Bác ái này phải là một sự biểu lộ thực tiễn, đã được thử thách, chứ không chỉ là một lý thuyết, cũng không đơn thuần là một lý tưởng phi thực tiễn và một tình cảm dễ chịu. Đó là điều đã lớn lên trong các thử thách và khảo nghiệm của đời sống, để xung lực chủ yếu của đời sống hướng đến tự hi sinh và sự thiêu hủy bản chất thấp.

So, that’s what the Christ is trying to teach us, that literally, our brother’s need is of greater moment than our own. That’s a real reversal. That’s what is being taught.

Vì vậy, đó là điều Đức Christ đang cố dạy chúng ta: theo nghĩa đen, nhu cầu của huynh đệ chúng ta quan trọng hơn nhu cầu của chính chúng ta. Đó là một sự đảo ngược thật sự. Đó là điều đang được dạy.

[w19_5]

[w19_5]

Until the man stands upon the path of perfection

Cho đến khi con người đứng trên con đường hoàn thiện

And I suppose, by that path of perfection, we mean the higher stages of the path of initiation,

Và tôi cho rằng, bởi con đường hoàn thiện ấy, chúng ta muốn nói đến các giai đoạn cao hơn của Con Đường Điểm Đạo,

…he cannot really grasp the imperative demand of his own soul for [Page 156] release from the search for outer, material, tangible satisfaction, and from desire. [19-15]

…y không thể thật sự nắm bắt được đòi hỏi mệnh lệnh của chính linh hồn y về [Page 156] sự giải thoát khỏi cuộc tìm kiếm sự thỏa mãn bên ngoài, vật chất, hữu hình, sờ nắm được, và khỏi dục vọng.

maybe the path of perfection here does mean something larger, the path as a whole, where the soul, his voice is becoming quite imperative and the dissatisfaction with time and space is truly realized that a man knows them too. Time in its myriad forms I know too. Space and its Life, I cannot reach. Time and its myriad forms, I know too. Pendant I hang betwixt the two. Desiring neither.[2] But upon this path of perfection, we are driven in a reverse manner or counterclockwise manner, reversal of the wheel back towards the center of our life.

có lẽ con đường hoàn thiện ở đây có nghĩa là điều gì đó rộng hơn, con đường như một toàn thể, nơi linh hồn, tiếng nói của nó trở nên hết sức mệnh lệnh và sự bất mãn đối với thời gian và không gian được chứng nghiệm thật sự, rằng một người biết chúng nữa. Thời gian trong muôn hình vạn trạng, tôi cũng biết. Không gian và Sự sống của nó, tôi không thể đạt. Thời gian trong muôn hình vạn trạng, tôi cũng biết. Tôi treo lơ lửng giữa hai điều ấy. Không ham muốn điều nào. Nhưng trên con đường hoàn thiện này, chúng ta bị thúc đẩy theo một cách đảo ngược hay ngược chiều kim đồng hồ, sự đảo ngược của bánh xe trở lại hướng về trung tâm đời sống của chúng ta.

So, upon this path of perfection, we realize the nature of the soul gets demand, and we really do follow the path of release from material tangible satisfaction and from desire. It just fails to make us happy, so joyous. All this is about divine discontent. The person’s content is not enough. So, all of this is about divine discontent.

Vì vậy, trên con đường hoàn thiện này, chúng ta chứng nghiệm bản chất của linh hồn trở thành một đòi hỏi, và chúng ta thật sự đi theo con đường giải thoát khỏi sự thỏa mãn vật chất hữu hình và khỏi dục vọng. Nó פשוט không làm chúng ta hạnh phúc, không làm chúng ta vui sướng. Tất cả điều này là về sự bất mãn thiêng liêng. Sự mãn nguyện của con người là không đủ. Vì vậy, tất cả điều này là về sự bất mãn thiêng liêng.

It has been this demand which indicated the soul’s need to incarnate and to function, for a needed period, under the Law of Rebirth.

Chính đòi hỏi này đã chỉ ra nhu cầu của linh hồn phải nhập thể và hoạt động, trong một thời kỳ cần thiết, dưới Định luật Tái Sinh.

the only way up is ‘down’. So, there is this need to pass through the elemental worlds in order to finally be free of them, according to our contract, the monadic contract, we might say.

con đường duy nhất đi lên là “đi xuống”. Vì vậy, có nhu cầu đi qua các cõi hành khí để cuối cùng được tự do khỏi chúng, theo khế ước của chúng ta, khế ước chân thần, chúng ta có thể nói vậy.

As the work of purification proceeds upon the Path of Purification,

Khi công việc thanh lọc tiến hành trên Con Đường Thanh Lọc,

Probationary path largely

Phần lớn là Con Đường Dự Bị

…this demand for release becomes stronger and clearer, and when the man steps out upon the Path of Discipleship, then the Law of Repulse can, for the first time, begin to control his reactions. [19-16]

…đòi hỏi giải thoát này trở nên mạnh hơn và rõ ràng hơn, và khi con người bước ra trên Con Đường Đệ Tử, thì Định luật Đẩy Lùi có thể, lần đầu tiên, bắt đầu kiểm soát các phản ứng của y.

So, he has increasingly mentally focused, and some strand of the antahkarana has made its way into the higher worlds beyond the soul per se, because remember, this is the law that is in a way impulsed from the atmic plane, the plane of spiritual will.

Vì vậy, y ngày càng tập trung trí tuệ, và một sợi nào đó của antahkarana đã vươn đường vào các cõi cao hơn vượt quá linh hồn, xét chính nó, bởi vì hãy nhớ rằng đây là định luật mà theo một nghĩa nào đó được thúc đẩy từ cõi atma, cõi của ý chí tinh thần.

So, in this Law of Repulse, the spiritual will opposes normal desire, the spiritual will from the atmic plane and the sacrifice petals opposes normal desire.

Vì vậy, trong Định luật Đẩy Lùi này, ý chí tinh thần đối kháng với dục vọng bình thường; ý chí tinh thần từ cõi atma và các cánh hoa hi sinh đối kháng với dục vọng bình thường.

This takes place unconsciously at first,

Điều này lúc đầu diễn ra một cách vô thức,

Let’s just say, through distaste, discontent, discomfort. Dis-, it’s a rejecting kind of prefix with it, as if to say not this, not that.

Chúng ta hãy chỉ nói rằng, qua sự chán ghét, sự bất mãn, sự khó chịu. “Bất-”, đó là một kiểu tiền tố mang tính khước từ, như thể nói không phải cái này, không phải cái kia.

So, at first we just become dissatisfied, but it becomes more potent and more consciously appreciated as the disciple takes one initiation after another, with increasingly pointed understanding. [19-17]

Vì vậy, lúc đầu chúng ta chỉ trở nên bất mãn, nhưng nó trở nên mạnh mẽ hơn và được trân trọng một cách có ý thức hơn khi đệ tử nhận hết lần điểm đạo này đến lần điểm đạo khác, với sự thấu hiểu ngày càng sắc bén.

Have the undesirable containment in which he finds himself.

Sự giam hãm không mong muốn mà y thấy mình đang ở trong đó.

[of the undesirable containment in which he finds himself trapped..

[của sự giam hãm không mong muốn mà y thấy mình bị mắc kẹt..

So, not on the Path of Probation so much, but more on the Path of Discipleship with his mental will focus. This first Triadal law and the fourth Law of the Soul begin to take place working from the top down, from the atmic plane down.

Vì vậy, không phải trên Con Đường Dự Bị nhiều lắm, mà nhiều hơn trên Con Đường Đệ Tử với sự tập trung ý chí trí tuệ của y. Định luật Tam Nguyên đầu tiên này và Định luật thứ tư của Linh hồn bắt đầu diễn ra, làm việc từ trên xuống, từ cõi atma đi xuống.

[w19_6]

[w19_6]

It is not our intention in this Treatise to deal with the development of the unevolved and undeveloped man in connection with these Laws of the Soul. [19-18]

Trong Luận thuyết này, chúng tôi không có ý định bàn đến sự phát triển của con người chưa tiến hoá và chưa phát triển liên quan đến các Định luật của Linh hồn này.

There will be some effect as he is led towards the conscious appreciation of what these laws are. At first, he doesn’t know, and when he’s forced to sacrifice, he considers it unpleasant. When he’s forced to serve, he considers it servitude. When he’s forced to be in the group, he considers it a compulsion. But he is driven toward a position where he can realize the true nature of these laws and understand and work with them consciously. I guess, it’s called training, and so often, in training. We don’t like the friction and the exhaustion, but the old saying, “No pain, no gain”. I guess it’s very true of life on our planet. “Purifying pain and releasing sorrow” or “Releasing sorrow and purifying pain”. I always get them mixed up 😊, but if I remember PP, it is purifying pain.

Sẽ có một số tác động khi y được dẫn dắt đến sự trân trọng có ý thức về các định luật này là gì. Lúc đầu, y không biết, và khi bị buộc phải hi sinh, y xem đó là điều khó chịu. Khi bị buộc phải phụng sự, y xem đó là sự nô dịch. Khi bị buộc phải ở trong nhóm, y xem đó là sự cưỡng bách. Nhưng y bị thúc đẩy đến một vị trí nơi y có thể chứng nghiệm bản chất thật sự của các định luật này và thấu hiểu và làm việc với chúng một cách có ý thức. Tôi đoán, điều đó được gọi là huấn luyện, và rất thường là, trong huấn luyện. Chúng ta không thích sự ma sát và sự kiệt sức, nhưng câu nói cũ: “Không đau đớn, không thành quả”. Tôi đoán điều đó rất đúng đối với đời sống trên hành tinh của chúng ta. “Đau đớn thanh lọc và sầu muộn giải thoát” hay “Sầu muộn giải thoát và đau đớn thanh lọc”. Tôi luôn lẫn lộn chúng, nhưng nếu tôi nhớ PP, thì đó là đau đớn thanh lọc.

I seek only to clear the way of the highly intelligent man, the aspirants of the world and the world disciples.

Tôi chỉ tìm cách dọn đường cho người có trí tuệ cao, cho những người chí nguyện của thế gian và các đệ tử thế gian.

Maybe aspirants having the emotional quality which takes them a little bit beyond the highly intelligent man whose some of the aspects are not yet highly intelligent. So, each has something the other needs.

Có lẽ những người chí nguyện có phẩm tính cảm xúc đưa họ vượt lên một chút so với người có trí tuệ cao, trong khi một số phương diện của người ấy vẫn chưa thật sự rất trí tuệ. Vì vậy, mỗi bên đều có điều mà bên kia cần.

I seek only to clear the way of the highly intelligent man, the aspirants of the world and the world disciples.

Tôi chỉ tìm cách dọn đường cho người có trí tuệ cao, cho những người chí nguyện của thế gian và các đệ tử thế gian.

And by this [world disciple], we might say disciples in the world, not necessarily a world disciples as initiates of the third degree.

Và bởi [đệ tử thế gian] này, chúng ta có thể nói là các đệ tử ở trong thế gian, không nhất thiết là các đệ tử thế gian như những điểm đạo đồ bậc ba.

The progress of the undeveloped and the average man can be covered by the following statements, taken sequentially and describing the stages of his progress under the promptings of desire: [19-19]

Sự tiến bộ của con người chưa phát triển và con người trung bình có thể được bao quát bằng các phát biểu sau đây, được nêu theo trình tự và mô tả các giai đoạn tiến bộ của y dưới những thôi thúc của dục vọng:

It’s always nice when he makes these lists, because they epitomize for us processes that are taking a long time otherwise, and they help us with our mental grasp.

Thật tốt khi Ngài lập những danh sách như thế này, vì chúng cô đọng cho chúng ta những tiến trình vốn nếu không thì sẽ kéo dài rất lâu, và chúng giúp chúng ta nắm bắt bằng thể trí.

1. The urge to experience, to exist, and to satisfy the instinctual nature. [19-20]

1. Xung lực muốn trải nghiệm, muốn hiện hữu, và muốn thỏa mãn bản chất bản năng.

In a way, it’s looking at another list. It’s so Aries, blind, undirected activity under the instincts, and man is just driven by what his vehicles make him

Theo một nghĩa nào đó, điều này giống như đang nhìn vào một danh sách khác. Nó rất Bạch Dương: hoạt động mù quáng, không định hướng dưới các bản năng, và con người chỉ bị thúc đẩy bởi điều mà các vận cụ của y khiến y trở thành.

2. Experience, grasping, existing, followed by renewed demand for more satisfying compliances of fate or destiny. [19-21]

2. Trải nghiệm, nắm bắt, hiện hữu, tiếp theo là đòi hỏi mới về những sự tuân thuận thỏa mãn hơn của số phận hay định mệnh.

It is very much to do with the desire body. And as you can see, very Taurean, if we want to scaffolding to hang this on. It doesn’t mean that it will always be so, but these first two, when you grasp and when you demand and you want satisfaction, you’re treading the way of wrathful satisfaction as the bull does. You just want things to be more in line with your desires, and that fate shall comply with your desires, or you shall make the circumstances comply with your desires. So, those two anyway,

Điều này liên quan rất nhiều đến thể dục vọng. Và như các bạn có thể thấy, rất Kim Ngưu, nếu chúng ta muốn một giàn giáo để treo điều này lên. Điều đó không có nghĩa là lúc nào cũng sẽ như vậy, nhưng hai điều đầu tiên này—khi bạn nắm bắt và khi bạn đòi hỏi và bạn muốn thỏa mãn—bạn đang bước trên con đường thỏa mãn giận dữ như con bò đực vẫn làm. Bạn chỉ muốn sự vật phù hợp hơn với dục vọng của mình, và muốn số phận phải tuân theo dục vọng của mình, hoặc bạn sẽ khiến hoàn cảnh phải tuân theo dục vọng của mình. Vì vậy, dù sao thì hai điều đó là vậy,

3. Cycle after cycle of demand for satisfaction, a period of satisfaction of a temporary nature, and then further demands. This is the story of the race. [19-22]

3. Hết chu kỳ này đến chu kỳ khác của đòi hỏi thỏa mãn, một giai đoạn thỏa mãn mang tính tạm thời, rồi lại những đòi hỏi nữa. Đây là câu chuyện của nhân loại.

So, we can say always more intense desires, whether higher or lower. We cannot say that for everyone. It is an immediate ascent, there are those who have traveled very far along the path of negative desire and will have to come back by what means the reversal. It’s hard to say.

Vì vậy, chúng ta có thể nói: luôn là những dục vọng mãnh liệt hơn, dù cao hay thấp. Chúng ta không thể nói điều đó cho mọi người. Không phải ai cũng thăng tiến ngay lập tức; có những người đã đi rất xa trên con đường dục vọng tiêu cực và sẽ phải quay trở lại bằng điều được gọi là sự đảo chiều. Thật khó nói.

4. Experience, steadily sought and pursued upon the three planes of human evolution.

4. Trải nghiệm, được tìm kiếm và theo đuổi một cách đều đặn trên ba cõi của tiến hoá nhân loại.

When I see the word experience, I immediately think Gemini, wanting to experience everything. And of course, the opposite signs are involved here as. For the second one [second item above], all of that grasping and so forth, it’s Taurus Scorpio. DK gives us and I’ve gone over it myself in working through the Esoteric Astrology, where he gives the polarities and how they lead to a condition of realization, realized unhappiness, and how there is a reversal of the wheel back to the originating sign. So, more and more, give me more and more experience, pursued upon the three plans of evolution, and Gemini is the third sign.

Khi tôi thấy từ “trải nghiệm”, tôi lập tức nghĩ đến Song Tử, muốn trải nghiệm mọi thứ. Và dĩ nhiên, các dấu hiệu đối lập cũng can dự ở đây. Đối với điều thứ hai [mục thứ hai ở trên], tất cả sự nắm bắt ấy và v.v. là Kim Ngưu–Hổ Cáp. Chân sư DK cho chúng ta—và tôi cũng đã tự mình xem xét khi làm việc qua Chiêm Tinh Học Nội Môn—nơi Ngài đưa ra các cực tính và cách chúng dẫn đến một tình trạng chứng nghiệm, sự bất hạnh được chứng nghiệm, và cách có một sự đảo chiều của bánh xe trở lại dấu hiệu khởi nguyên. Vì vậy, ngày càng nhiều: cho tôi thêm và thêm trải nghiệm, được theo đuổi trên ba cõi tiến hoá, và Song Tử là dấu hiệu thứ ba.

5. Then the same experience, but this time as an integrated personality. [19-23]

5. Rồi cũng là trải nghiệm ấy, nhưng lần này như một phàm ngã tích hợp.

And so, the environment is made to better comply with one’s demand, and one is more masterful in the experiences, not so much just passing through them and maybe sometimes the victim of the experiences, but can actually direct and control them.

Và vì vậy, môi trường được làm cho tuân thuận tốt hơn với đòi hỏi của một người, và người ấy làm chủ các trải nghiệm nhiều hơn, không chỉ đơn thuần đi ngang qua chúng và đôi khi là nạn nhân của các trải nghiệm, mà thật sự có thể định hướng và kiểm soát chúng.

6. Demand met until satiety is reached, for in time all men do eventually achieve that which they demand. [19-24]

6. Đòi hỏi được đáp ứng cho đến khi đạt đến sự chán ngán, vì theo thời gian, mọi người rốt cuộc đều đạt được điều mà họ đòi hỏi.

And there is that very arresting sentence, I think, in Esoteric Astrology around 337. Here it is.

Và có câu rất gây ấn tượng ấy, tôi nghĩ, trong Chiêm Tinh Học Nội Môn khoảng trang 337. Đây là nó.

2. Taurus-Scorpio. —Powerful focussed lower desire leads to death and defeat. The triumph of the lower nature which eventuates in the awakening to satiety and death. The man is the prisoner of desire and at the moment of consummation knows his prison.

2. Kim Ngưu–Hổ Cáp. —Dục vọng thấp mạnh mẽ, tập trung dẫn đến cái chết và thất bại. Sự đắc thắng của bản chất thấp, rốt cuộc đưa đến sự thức tỉnh về sự chán ngán và cái chết. Con người là tù nhân của dục vọng và vào khoảnh khắc hoàn tất, y biết nhà tù của mình.

Taurus-Scorpio: Powerful focussed lower desire, leads to death and defeat. The triumph of the lower nature which eventuates in the awakening to satiety and death. The man is the prisoner of desire, and at the moment of consummation,

Kim Ngưu–Hổ Cáp: Dục vọng thấp mạnh mẽ, tập trung, dẫn đến cái chết và thất bại. Sự đắc thắng của bản chất thấp, rốt cuộc đưa đến sự thức tỉnh về sự chán ngán và cái chết. Con người là tù nhân của dục vọng, và vào khoảnh khắc hoàn tất,

Whatever kind of consummation that may be, consummation of that driving lower desire,

Dù đó là kiểu hoàn tất nào đi nữa, sự hoàn tất của dục vọng thấp thúc đẩy ấy,

…knows his prison

…y biết nhà tù của mình

Is this all there is? Can I have spent all this for that? How limited this is?

Chỉ có thế thôi sao? Tôi đã có thể tiêu tốn tất cả điều này chỉ để được điều đó sao? Thật hạn hẹp biết bao!

everything is limited. If you really look at it and try to understand, there’s no finite thing which is anything other than an infinite limitation in the face of the Absolute Infinity, but that will take us off onto the third ray. And there it is, that we must not go too often, these little fugues[3] onto the third ray.

Mọi thứ đều hữu hạn. Nếu bạn thật sự nhìn vào nó và cố gắng thấu hiểu, thì không có điều hữu hạn nào lại là gì khác ngoài một sự giới hạn vô tận trước Vô Cực Tuyệt Đối, nhưng điều đó sẽ đưa chúng ta sang cung ba. Và đó là nơi mà chúng ta không nên đi quá thường xuyên—những khúc phiêu lãng nhỏ sang cung ba này.

6. Demand met until satiety is reached, for in time all men do eventually achieve that which they demand

6. Đòi hỏi được đáp ứng cho đến khi đạt đến sự chán ngán, vì theo thời gian, mọi người rốt cuộc đều đạt được điều mà họ đòi hỏi

And we must really say for better or for worse.

Và chúng ta thật sự phải nói: dù tốt hay xấu.

7. Then comes the demand for inner spiritual compliances, happiness and bliss. [19-25]

7. Rồi đến đòi hỏi về những sự tuân thuận tinh thần bên trong, về hạnh phúc và phúc lạc.

So, demand is no longer focused in the outer world. This is what everybody passes through, we must say.

Vì vậy, đòi hỏi không còn tập trung vào thế giới bên ngoài nữa. Đây là điều mà mọi người đều đi qua, chúng ta phải nói vậy.

And the “heaven wish”

“ước muốn thiên đường”

Many people who are reoriented and no longer finding worldly satisfaction to satisfy that which is awakening within them under the prompting of their inner self, their soul.

Nhiều người được tái định hướng và không còn tìm thấy sự thỏa mãn thế gian có thể thỏa mãn điều đang thức tỉnh bên trong họ dưới sự thôi thúc của tự ngã nội tại, của linh hồn họ.

The “heaven wish” becomes powerful.

“Ước muốn thiên đường” trở nên mạnh mẽ.

And how many millions are under the influence of the “heaven” or “paradise” wish, under the sixth ray repudiating normal life,

Và có bao nhiêu triệu người đang chịu ảnh hưởng của ước muốn “thiên đường” hay “cực lạc”, dưới cung sáu phủ nhận đời sống bình thường,

[Under the sixth ray repudiating normal experience…

[Dưới cung sáu phủ nhận trải nghiệm bình thường…

finding a complete dissatisfaction, unsatisfying, and working for something much better. They often imagine and dream up, whether or not it’s true. But then of course, whatever you dream you will meet with, although there may be certain restrictions on the way, on the functioning of that, with which you meet, in the imagined world or in the world of imagination.

tìm thấy một sự bất mãn hoàn toàn, không thỏa đáng, và làm việc vì một điều gì đó tốt đẹp hơn nhiều. Họ thường tưởng tượng và mơ mộng ra, dù đúng hay không. Nhưng rồi dĩ nhiên, bất cứ điều gì bạn mơ, bạn sẽ gặp nó, mặc dù có thể có những hạn chế nhất định trên đường đi, trong sự vận hành của điều mà bạn gặp, trong thế giới tưởng tượng hay trong thế giới của sự tưởng tượng.

Ongoing.

Tiếp diễn.

8. A vague realisation that two things are needed; purification and the power to choose aright, which is right discrimination. [19-26]

8. Một sự chứng nghiệm mơ hồ rằng cần hai điều: thanh lọc và quyền năng chọn lựa đúng, tức là sự phân biện đúng.

It sounds very much like Virgo and Libra, which is right discrimination. So, there is a reversing point that occurs in Libra. Now, remember, this was written before DK elaborated all this in his Esoteric Astrology book. This book was written first, but you can already see the outline of what he would there to describe, Virgo is the purificatory sign, Libra the sign of choice and man is beginning to reverse the wheel, is he not,

Điều này nghe rất Xử Nữ và Thiên Bình, mà Thiên Bình là sự phân biện đúng. Vì vậy, có một điểm đảo chiều xảy ra ở Thiên Bình. Giờ đây, hãy nhớ rằng điều này được viết trước khi Chân sư DK triển khai tất cả điều này trong sách Chiêm Tinh Học Nội Môn của Ngài. Cuốn sách này được viết trước, nhưng các bạn đã có thể thấy phác thảo của điều mà Ngài sẽ mô tả ở đó: Xử Nữ là dấu hiệu thanh lọc, Thiên Bình là dấu hiệu của chọn lựa, và con người bắt đầu đảo chiều bánh xe, phải không,

9. A vision of the pairs of opposites.

9. Một linh ảnh về các cặp đối cực.

Which at last, more clearly personality and soul are seen, and these are vertical pairs of opposites. Sometimes, one can get confused thinking of horizontal pairs of opposites, one of which is neither better, nor worse than the other. It’s just the way the world is compared. With the vertical pairs of opposites in which the higher is always existentially superior than the lower, though the lower is needed.

Nhờ đó, cuối cùng, phàm ngã và linh hồn được thấy rõ hơn, và đây là các cặp đối cực theo chiều dọc. Đôi khi người ta có thể lẫn lộn khi nghĩ về các cặp đối cực theo chiều ngang, trong đó một bên không tốt hơn cũng không xấu hơn bên kia. Đó chỉ là cách thế giới được so sánh. Với các cặp đối cực theo chiều dọc, trong đó cái cao luôn ưu việt hơn cái thấp về mặt hiện hữu, dù cái thấp là cần thiết.

A vision of the pairs of opposites

Một linh ảnh về các cặp đối cực

This happens in the second tier of petals of the egoic Lotus. We begin to understand that there is a higher power within us, and it is different from the familiar self that we have been living all this time,

Điều này xảy ra ở tầng thứ hai của các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. Chúng ta bắt đầu thấu hiểu rằng có một quyền năng cao hơn bên trong chúng ta, và nó khác với tự ngã quen thuộc mà chúng ta đã sống cùng suốt thời gian này,

10. The realisation of the narrow path which leads between these pairs of opposites [19-27]

10. Sự chứng nghiệm về con đường hẹp dẫn đi giữa các cặp đối cực này

Because you can’t leap into the soul realm. You have to give form its due even while refining oneself away from form and to reach towards soul.

Bởi vì bạn không thể nhảy vọt vào giới linh hồn. Bạn phải trao cho hình tướng phần xứng đáng của nó, ngay cả khi đang tinh luyện mình rời xa hình tướng và vươn đến linh hồn.

[Cannot leap into the soul realm—you have to give form its due even while refining oneself away from form, and to reach towards soul….

[Không thể nhảy vọt vào giới linh hồn—bạn phải trao cho hình tướng phần xứng đáng của nó, ngay cả khi đang tinh luyện mình rời xa hình tướng, và vươn đến linh hồn….

If we try to live only the life of the soul and ignore the form entirely, we will die, and it will be an unsuccessful incarnation. I mean, maybe some mystical lives have ended in futility because one seeks to live only as the higher of the pairs of opposites.

Nếu chúng ta cố sống chỉ đời sống của linh hồn và hoàn toàn phớt lờ hình tướng, chúng ta sẽ chết, và đó sẽ là một kiếp sống không thành công. Ý tôi là, có lẽ một số đời sống thần bí đã kết thúc trong vô ích vì người ta tìm cách sống chỉ như phía cao hơn của các cặp đối cực.

[Some mystical lives have ended in futility because one seeks to live ONLY as the higher of the pairs of opposites

[Một số đời sống thần bí đã kết thúc trong vô ích vì người ta tìm cách sống CHỈ như phía cao hơn của các cặp đối cực

So, there’s sometimes an enigmatical phrase, finding the narrow path which leads between the pairs of opposites. Of course, from another point of view, there is that which is neither of the pairs of opposites, and that is Being itself. So that’s another way that perhaps that can be understood, and then

Vì vậy, đôi khi có một cụm từ đầy bí ẩn: tìm ra con đường hẹp dẫn đi giữa các cặp đối cực. Dĩ nhiên, từ một quan điểm khác, có điều không thuộc về bên nào trong các cặp đối cực, và đó là Bản Thể tự thân. Vì vậy, đó là một cách khác mà có lẽ điều này có thể được thấu hiểu, và rồi

11. Discipleship and the repulsing or repudiation (over a long period of time), [19-28]

11. Địa vị đệ tử và sự đẩy lùi hoặc sự khước từ (trong một thời gian dài),

Not just one life, I suspect,

Không chỉ một kiếp, tôi nghi ngờ vậy,

…of the not-self.

…đối với cái phi-ngã.

So, this elevenfold list has taken us to the point where desire has morphed into repulsion of that which used to be desired. Interesting that it ends at 11. Does it end at 11? Are there more words? There maybe not. And that eleven interestingly enough, 11 being the number of the initiate and Aquarius, and of Hierarchy. So, by this time, we are having a spiritual vision. We know how we must tread toward the higher of the pairs of opposites without ignoring the demands of the lower of the pairs of opposites, killing it, as Hercules did in the sixth labor. We don’t want to do that. And gradually, gradually, the whole thing moves up, and the middle position that you are sustaining is now really the higher position towards which you were previously reaching, and still another higher position exists.

Vì vậy, danh sách mười một phần này đã đưa chúng ta đến điểm mà dục vọng đã biến đổi thành sự đẩy lùi đối với điều từng được dục vọng. Thật thú vị là nó kết thúc ở 11. Nó có kết thúc ở 11 không? Có còn lời nào nữa không? Có lẽ là không. Và mười một, một cách thú vị, 11 là con số của điểm đạo đồ và Bảo Bình, và của Thánh Đoàn. Vì vậy, đến lúc này, chúng ta đang có một linh ảnh tinh thần. Chúng ta biết mình phải bước đi thế nào hướng đến phía cao hơn của các cặp đối cực mà không phớt lờ các đòi hỏi của phía thấp hơn của các cặp đối cực, không giết nó, như Hercules đã làm trong kỳ công thứ sáu. Chúng ta không muốn làm vậy. Và dần dần, dần dần, toàn bộ điều đó đi lên, và vị trí trung gian mà bạn đang duy trì giờ đây thật sự là vị trí cao hơn mà trước đây bạn đã vươn tới, và vẫn còn một vị trí cao hơn nữa đang hiện hữu.

So, let us pause, it’s really good. He really is explaining some of the fundamental things, and you have to realize that it’s the fourth law, and therefore has to relate strongly to the fourth Creative Hierarchy and the fourth kingdom. So, let’s just say,

Vì vậy, chúng ta hãy tạm dừng; điều này thật sự rất hay. Ngài thật sự đang giải thích một số điều căn bản, và bạn phải nhận ra rằng đây là định luật thứ tư, và vì vậy phải liên hệ mạnh mẽ với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư và giới thứ tư. Vì vậy, chúng ta hãy chỉ nói rằng,

[This fourth law relates very closely to the fourth kingdom and the Fourth Creative Hierarchy—to factors so intimate to the human experience

[Định luật thứ tư này liên hệ rất chặt chẽ với giới thứ tư và Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư—với những yếu tố thân mật đến mức gắn liền với trải nghiệm nhân loại

Friends, I’m on a run here… A little while ago, a year ago, whatever, I leaped right into the Laws of Repulse because the stanzas, because at that time, I said, I’m not going to read all of this Esoteric Psychology. I’ll do that with the advanced books. But then, of course, this is a profoundly advanced book really, there’s nothing that the Tibetan has written that is not really advanced, 😊even Initiation, Human and Solar. If you read it after having read all the others, you realize how extremely profound it is, and how the seed of that which is ready to be developed is set down in Initiation, Human and Solar.

các bạn, tôi đang nói liền một mạch ở đây… Cách đây một thời gian, một năm trước, hay gì đó, tôi đã nhảy thẳng vào các Định luật Đẩy Lùi vì các bài kệ, bởi vì lúc đó, tôi đã nói: tôi sẽ không đọc hết Tâm Lý Học Nội Môn này. Tôi sẽ làm điều đó với các sách cao cấp. Nhưng rồi dĩ nhiên, đây thật sự là một cuốn sách cao cấp một cách sâu sắc; không có điều gì Chân sư Tây Tạng đã viết mà lại không thật sự cao cấp, ngay cả Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Nếu bạn đọc nó sau khi đã đọc tất cả những cuốn khác, bạn nhận ra nó sâu sắc đến mức nào, và hạt giống của điều sẵn sàng để được phát triển đã được đặt xuống trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương.

So, we’ll go on to number 19 shortly. And it’s an important book. See you soon.

Vì vậy, chúng ta sẽ sớm đi tiếp đến số 19. Và đó là một cuốn sách quan trọng. Hẹn gặp lại sớm.



[1] Nine times out of ten: almost

[2] “Torn I am. Space and its Life I cannot know, and so I want it not. Time and its myriad forms, I know too well. Pendant I hang betwixt the two, desiring neither”.

[3] (y học) cơn điên bỏ nhà đi

Scroll to Top