Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn – 22

📘 Sách: Bình Giảng Các Định luật của Linh hồn – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

LAWS OF THE SOUL WEBINAR COMMENTARY # 22

The Law Of Group Progress (174-179)

Abstract

Laws of the Soul Webinar Commentary 22 covers EP II pages 174-179, and is about one hour long. Topics include:

Webinar Bình giảng về Các Định luật của Linh hồn số 22 bao gồm Esoteric Psychology II các trang 174–179, kéo dài khoảng một giờ. Các chủ đề bao gồm:

1. Study of the Law Of Group Progress;

1. Nghiên cứu về Định luật Tiến Bộ Nhóm;

2. Esoterically this fifth Law of the Soul is called the Law of Elevation;

2. Xét theo nội môn, Định luật Linh hồn thứ năm này được gọi là Định luật Nâng Cao;

3. Its symbol is the “Mountain and the Goat”;

3. Biểu tượng của nó là “Ngọn núi và Con dê”;

4. This law expresses the progressive energy of the seventh ray and deals with the factor of evolution;

4. Định luật này biểu lộ năng lượng tiến bộ của cung bảy và xử lý yếu tố tiến hóa;

5. This law veils deeply hidden esoteric truths;

5. Định luật này che giấu những chân lý nội môn sâu kín;

6. Discussion re the necessity or all disciple-in-training to practice discrimination;

6. Thảo luận về sự cần thiết đối với mọi đệ tử đang được huấn luyện phải thực hành phân biện;

7. The necessary discriminations become ever more subtle;

7. Những sự phân biện cần thiết ngày càng trở nên tinh vi hơn;

8. Presentation of a list of nine types of discrimination required of the advancing disciple; these nine reveal how very subtle the process of discrimination can become;

8. Trình bày một danh sách chín loại phân biện được yêu cầu nơi người đệ tử đang tiến triển; chín loại này cho thấy tiến trình phân biện có thể trở nên vô cùng vi tế;

9. When the rule of the soul is firmly established, the nine subtle discriminations listed and many others will become “instinctual reactions”;

9. Khi sự cai quản của linh hồn đã được thiết lập vững chắc, chín sự phân biện vi tế được liệt kê và nhiều sự phân biện khác sẽ trở thành “những phản ứng theo bản năng”;

10. “Intuitional response is the name we give to the instinctual life of the soul”;

10. “Đáp ứng trực giác là tên chúng ta gọi cho đời sống bản năng của linh hồn”;

11. Indication of the paradoxes surrounding the injunction, “learn to discriminate”;

11. Chỉ ra những nghịch lý bao quanh mệnh lệnh “học cách phân biện”;

12. The Law Of Group Progress can only have an effect in the life of the disciple who is pledged and accepted;

12. Định luật Tiến Bộ Nhóm chỉ có thể có hiệu lực trong đời sống của đệ tử đã phát nguyện và được chấp nhận;

13. The Law Of Group Progress must be obeyed instinctively, intuitively and intellectually;

13. Định luật Tiến Bộ Nhóm phải được tuân thủ theo bản năng, bằng trực giác và bằng trí tuệ;

14. Initiation is always self-initiated;

14. Điểm đạo luôn luôn là tự điểm đạo;

15. Discussion of three requirements for those who would respond to the Law Of Group Progress; among them, decentralization, instinctive service and the ability to use the mind in two directions;

15. Thảo luận ba yêu cầu đối với những ai muốn đáp ứng với Định luật Tiến Bộ Nhóm; trong đó có phi ngã, phụng sự theo bản năng và khả năng sử dụng thể trí theo hai hướng;

16. Readiness for more light is indicated by one’s response to the Law Of Group Progress;

16. Sự sẵn sàng tiếp nhận thêm ánh sáng được biểu thị qua sự đáp ứng của một người đối với Định luật Tiến Bộ Nhóm;

17. Listing of the modes of functioning and liabilities of groups which have been formed in the past—they have largely been selfish;

17. Liệt kê các phương thức hoạt động và những khiếm khuyết của các nhóm đã được thành lập trong quá khứ—chúng phần lớn mang tính ích kỷ;

18. Such functioning is fundamentally different from those groups which are learning to function under the Law Of Group Progress.

18. Sự vận hành như vậy hoàn toàn khác biệt so với các nhóm đang học cách hoạt động dưới Định luật Tiến Bộ Nhóm.

Text

Beginning of LOTSWC 22, EP II p. 174 with the Law Of Group Progress

5. The Law Of Group Progress [22_1]

No

Exoteric Name

Esoteric Name

Symbol

Ray Energy

5.

The Law of Group Progress.

The law of Elevation.

The Mountain and the Goat

Progressive Energy Seventh ray.. Factor of Evolution

[-> Note22-1]

This law begins to function and to be registered in the personal consciousness when the aspirant has achieved certain definite realisations, and knows certain ideals as facts in his experience. [22_2] These might be listed in a very simple way [175] and would then connote to the superficial student the simplest achievement of the Probationary Path. It would, however, be well if we could grasp this fact with clarity, that this simple formulation of requirements and their achievement within the aspirant’s consciousness, demonstrate as the outer and veiled reactions of his mind to some deeply esoteric cosmic truths. [22_3] This statement contains the very essence of the esoteric knowledge. The quite ordinary formulations of loving living and of daily instinctive self-sacrifice suffer from being so vitally familiar and yet—if we could only realise it—they are only on the outer fringe of the deepest world truths. [22_4] They are the A.B.C. of esotericism and through them, and only through them, shall we arrive at the words and sentences which are, in their turn, the essential key to the highest knowledge. [22_5]

Định luật này bắt đầu vận hành và được ghi nhận trong tâm thức cá nhân khi người chí nguyện đã đạt được một số chứng nghiệm xác định, và biết một số lý tưởng như những sự kiện trong kinh nghiệm của mình. Có thể liệt kê chúng theo một cách rất đơn giản [175] và khi ấy, đối với đạo sinh hời hợt, chúng sẽ hàm ý thành tựu đơn giản nhất của Con Đường Dự Bị. Tuy nhiên, sẽ là tốt nếu chúng ta có thể nắm bắt rõ ràng sự kiện này: rằng sự trình bày đơn giản về các yêu cầu và việc đạt được chúng trong tâm thức của người chí nguyện, biểu lộ như những phản ứng bên ngoài và được che phủ của thể trí y trước một số chân lý vũ trụ sâu xa và hết sức huyền bí. Mệnh đề này chứa đựng chính tinh tuý của tri thức nội môn. Những công thức rất bình thường về đời sống yêu thương và về sự hi sinh bản thân hằng ngày theo bản năng, bị thiệt thòi vì quá quen thuộc một cách sống còn, và tuy vậy—nếu chúng ta chỉ cần chứng nghiệm được—chúng chỉ ở nơi rìa ngoài của những chân lý sâu thẳm nhất của thế giới. Chúng là A.B.C. của huyền bí học, và qua chúng, và chỉ qua chúng, chúng ta sẽ đi đến những từ ngữ và câu văn mà đến lượt chúng, là chiếc chìa khoá thiết yếu của tri thức cao nhất.

[-> Note22-2]

A brief example will serve to illustrate this, and we can then consider some simple facts which indicate that the aspirant is beginning to function as a soul and is ready for conscious life in the kingdom of God. [22_6]

Một ví dụ ngắn sẽ giúp minh hoạ điều này, và rồi chúng ta có thể xét một số sự kiện đơn giản cho thấy người chí nguyện đang bắt đầu vận hành như một linh hồn và đã sẵn sàng cho đời sống hữu thức trong Thiên Giới.

The disciple in training for these higher realisations is urged to practice the faculty of discrimination. You have been so urged. The initial and normal interpretation and the immediate effect of the practice is to teach the disciple to distinguish between the pairs of opposites. [22_7] Yet just as the disciple in his early training discovers that the discriminating process has naught to do with the choice between recognised evil (so-called) and recognised good, but concerns the more subtle pairs of opposites such as right and wrong silences, right and wrong speech, right understanding and right indifference and their opposites, so the man who is reacting to these higher laws discovers that the discrimination to be shown is again still more subtle and is—for the bulk of the aspirants in the world today—still a meaningless objective. [22_8] This type of discrimination [176] is not even being evoked. It is that which must he shown in relation to the following subtle contacts:

Đệ tử đang được huấn luyện cho những chứng nghiệm cao hơn này được thúc giục thực hành năng lực phân biện. Các bạn đã được thúc giục như vậy. Cách diễn giải ban đầu và bình thường, cùng tác dụng tức thời của sự thực hành, là dạy đệ tử phân biệt giữa các cặp đối cực. Tuy nhiên, cũng như đệ tử trong giai đoạn huấn luyện sớm khám phá rằng tiến trình phân biện chẳng liên quan gì đến sự lựa chọn giữa điều ác (gọi là) đã được thừa nhận và điều thiện đã được thừa nhận, mà liên quan đến những cặp đối cực tinh tế hơn như sự im lặng đúng và sai, lời nói đúng và sai, sự thấu hiểu đúng và sự điềm nhiên đúng cùng các đối cực của chúng, thì người đang đáp ứng với các định luật cao hơn này cũng khám phá rằng sự phân biện cần được biểu lộ lại còn tinh tế hơn nữa và—đối với đại đa số người chí nguyện trên thế giới ngày nay—vẫn là một mục tiêu vô nghĩa. Loại phân biện này [176] thậm chí còn chưa được khơi dậy. Đó là điều phải được biểu lộ liên hệ với những tiếp xúc tinh tế sau đây:

[-> Note22-3]

1. The vibration of the soul itself.

1. Rung động của chính linh hồn.

2. The vibration of the inner group with which he is, even if unconsciously, affiliated.

2. Rung động của nhóm nội tại mà y—dù vô thức—vẫn liên kết.

3. The vibration of the Master as the focal point of the group.

3. Rung động của Chân sư như điểm hội tụ của nhóm.

4. His ray vibration, as sensed via his soul and the Master.

4. Rung động cung của y, như được cảm nhận qua linh hồn y và Chân sư.

5. The vibration resulting from the interplay between his soul and his personality. [22_9]

5. Rung động phát sinh từ sự tương tác giữa linh hồn y và phàm ngã y.

6. The three different vibrations of his vital body, his emotional body and the mind.

6. Ba rung động khác nhau của thể sinh lực, thể cảm dục và thể trí của y.

7. The vibration of the groups or the group with which he must work upon the outer plane.

7. Rung động của các nhóm hoặc nhóm mà y phải làm việc trên cõi bên ngoài.

8. The soul vibration of other people whom he contacts.

8. Rung động linh hồn của những người khác mà y tiếp xúc.

9. The vibration of such a group as the New Group of World Servers. [22_10]

9. Rung động của một nhóm như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

[-> Note22-4]

These are only some instances of the type of discriminations which are required. These he will learn to distinguish instinctively when he is further developed. [22_11] I would like to remind you that it is when we try to discriminate entirely mentally that the problem seems insuperable. When the rule of the soul and the recognition of the soul have been firmly established, these different recognitions become instinctual reactions. Intuitional response is the name we give to the instinctual life of the soul—the higher correspondence to the instinctual life of the human body. [22_12] In the above paragraphs we have a simple summary of some of the deeper significances of the simple injunction: “Learn to discriminate.” How much have we truly understood this injunction? [22_13] Intellectually, the mind may give assent. Practically, the words frequently mean nothing. Do they signify to us the power of the soul to separate vibrations into differing categories? Yet we are told [177] that the soul knows naught of separation! Such are some of the paradoxes of esotericism to the uninitiate. [22_14]

Đây chỉ là một vài ví dụ về loại phân biện được đòi hỏi. Y sẽ học cách phân biệt chúng theo bản năng khi y phát triển hơn nữa. Tôi muốn nhắc các bạn rằng chính khi chúng ta cố gắng phân biện hoàn toàn bằng trí tuệ thì vấn đề mới có vẻ không thể vượt qua. Khi sự cai quản của linh hồn và sự nhận biết linh hồn đã được thiết lập vững chắc, những sự nhận biết khác nhau này trở thành các phản ứng theo bản năng. Đáp ứng trực giác là tên chúng ta đặt cho đời sống theo bản năng của linh hồn—một sự tương ứng cao hơn với đời sống theo bản năng của thể xác con người. Trong các đoạn trên, chúng ta có một bản tóm lược đơn giản về một số thâm nghĩa sâu hơn của lời khuyến dụ đơn giản: “Hãy học phân biện.” Chúng ta đã thực sự thấu hiểu lời khuyến dụ này đến mức nào? Về mặt trí tuệ, thể trí có thể tán đồng. Về mặt thực hành, các lời ấy thường chẳng có nghĩa gì. Chúng có hàm ý đối với chúng ta năng lực của linh hồn trong việc phân loại các rung động thành những phạm trù khác nhau chăng? Thế mà chúng ta được bảo [177] rằng linh hồn chẳng biết gì về sự phân chia! Đó là một số nghịch lý của huyền bí học đối với người chưa được điểm đạo.

[-> Note22-5]

The Law Of Group Progress can only begin to have a conscious effect in the life of the disciple who has been pledged and accepted. When he has established certain rhythms, when he is working effectively along certain well recognised group lines, and when he is definitely and in understanding consciousness preparing himself for the expansions of initiation, then this law begins to sway him and he learns to obey it instinctively, intuitively and intellectually. [22_15] It is through obedience to this law that preparation for initiation is instituted by the disciple. The previous sentence is so worded because it is important that all should grasp the self-initiated necessity of initiation. Do we understand this importance? [22_16] Some of the effects earlier mentioned in the initial discussion of this fifth law can here be enumerated. Let us not forget their esoteric and unseen significances. [22_17]

Định luật Tiến Bộ Nhóm chỉ có thể bắt đầu tạo ra một tác dụng hữu thức trong đời sống của đệ tử đã được cam kết và được chấp nhận. Khi y đã thiết lập một số nhịp điệu, khi y đang làm việc hữu hiệu theo một số đường lối nhóm đã được thừa nhận rõ ràng, và khi y đang dứt khoát—trong tâm thức thấu hiểu—chuẩn bị cho mình những sự mở rộng của điểm đạo, thì định luật này bắt đầu chi phối y và y học cách tuân theo nó theo bản năng, theo trực giác và theo trí tuệ. Chính qua sự tuân phục định luật này mà sự chuẩn bị cho điểm đạo được đệ tử thiết lập. Câu trước được viết như vậy vì điều quan trọng là mọi người phải nắm bắt tính tất yếu của điểm đạo do chính mình khởi xướng. Chúng ta có hiểu tầm quan trọng này không? Một số tác dụng đã được nêu trước đó trong phần thảo luận ban đầu về định luật thứ năm này có thể được liệt kê ở đây. Chúng ta chớ quên các thâm nghĩa nội môn và vô hình của chúng.

[-> Note22-6]

1. The disciple will then learn effectively to decentralise himself. This means that

1. Khi ấy đệ tử sẽ học cách phi tập trung vào bản thân một cách hữu hiệu. Điều này có nghĩa rằng

a. He will ask nothing for the separated self. One can therefore easily see why aspirants are taught to pledge allegiance to their Higher Self, and to foreswear all claims of this separated self. [22_18] One can see also why so many react against it. They are not ready for it, and such a pledge therefore acts as a great discriminating agent. To those for whom the standard of selflessness is set too high, it is neither understood nor desired. [22_19] Therefore the unready criticise it. Later these will come back and with understanding take this obligation in the light.

a. Y sẽ không đòi hỏi gì cho cái ngã tách biệt. Vì vậy, người ta có thể dễ dàng thấy vì sao những người chí nguyện được dạy cam kết trung thành với chân ngã của mình, và từ bỏ mọi đòi hỏi của cái ngã tách biệt này. Người ta cũng có thể thấy vì sao nhiều người phản ứng chống lại điều đó. Họ chưa sẵn sàng, và vì thế một lời cam kết như vậy hoạt động như một tác nhân phân biện lớn. Đối với những người mà tiêu chuẩn vô ngã được đặt quá cao, điều ấy không được hiểu cũng không được mong muốn. Vì vậy, người chưa sẵn sàng chỉ trích nó. Về sau, họ sẽ quay lại và, với sự thấu hiểu, tiếp nhận nghĩa vụ này trong ánh sáng.

[-> Note22-7]

b. His eyes are towards the light and not towards desire for contact with the Master. [22_20] This, therefore, rules out that spiritual selfishness which has been expressed [178] by the desire, innate and deep, for recognition by one of the Great Ones. [22_21] When this freedom from the personal is found, then the Master can dare to make a contact and to establish a relation with the disciple. It would be well for us to ponder on this. [22_22]

b. Mắt y hướng về ánh sáng chứ không hướng về dục vọng được tiếp xúc với Chân sư. Vì vậy, điều này loại trừ sự ích kỷ tinh thần đã được biểu lộ [178] qua ước muốn bẩm sinh và sâu xa được một trong Các Đấng Cao Cả công nhận. Khi sự tự do khỏi cái cá nhân được tìm thấy, khi ấy Chân sư mới có thể dám tạo một tiếp xúc và thiết lập một mối liên hệ với đệ tử. Sẽ là tốt nếu chúng ta suy ngẫm về điều này.

[-> Note22-8]

2. He will have learnt to serve instinctively. He may, and usually does, need to learn to discriminate in his service; but his attitude to life and toward all men is a divine rushing forth to aid, to lift, to love and to succour. [22_23]

2. Y sẽ học được cách phụng sự theo bản năng. Y có thể, và thường là cần, học cách phân biện trong sự phụng sự của mình; nhưng thái độ của y đối với đời sống và đối với mọi người là một sự tuôn trào thiêng liêng để trợ giúp, để nâng lên, để yêu thương và để cứu trợ.

3. He will have learnt to use the mind in two directions, increasingly and at will, and instantaneously: [22_24]

3. Y sẽ học được cách sử dụng thể trí theo hai hướng, ngày càng nhiều và theo ý muốn, và tức thời:

a. He can cast the search-light of the mind into the world of the soul, and know and recognise those truths which must, for him, become his experienced knowledge. [22_25]

a. Y có thể chiếu luồng đèn pha của thể trí vào thế giới của linh hồn, và biết cùng nhận ra những chân lý mà, đối với y, phải trở thành tri thức được chứng nghiệm.

b. He can also cast it into the world of illusion and dispel the glamours of the personal. When he can do that, then he begins to dispel the world glamours for he is nearing initiation. [22_26]

b. Y cũng có thể chiếu nó vào thế giới ảo tưởng và làm tan các ảo cảm của cái cá nhân. Khi y có thể làm được điều đó, thì y bắt đầu làm tan các ảo cảm của thế giới vì y đang tiến gần điểm đạo.

[-> Note22-9]

a. THE LINK OF THE WORLD GROUPS

a. MỐI LIÊN KẾT CỦA CÁC NHÓM THẾ GIAN

It would be possible to go on listing the various developments which indicate to the onlooking Hierarchy that a disciple, or a group of disciples, are now ready for “more light.” [22_27] The major indication is, however, their reaction to the Law Of Group Progress. It is this Law which is the coming new law to be sensed by the world disciples and which is already becoming more effective in its potency, even though this will not be realised by humanity for a long while yet. [22_28] It will bring into activity the work of the world groups. In the past, groups have been formed for mutual benefit, for mutual interest and study, for mutual strengthening. This has been [179] their glory, and also their curse, for great and good though their motives may have been, yet these groups have been basically and primarily selfish, with a form of spiritual selfishness most difficult to overcome, and calling for the expression of the true discrimination to which I have earlier referred. [22_29] Such groups have ever been battlegrounds wherein the least able and the least integrated have been absorbed and standardised or regimented, and the most powerful have dominated eventually, and the indefinite ones have been eliminated and rendered totally quiescent. [22_30] The successful group has eventually turned out to be one composed of kindred souls who are all thinking alike, because no one thinks with intuition, but who are governed by some school of thought, or because some central figure in the group dominates all the rest, hypnotising them into an instinctual, quiescent, static condition. [22_31] This may be to the glory of the teacher and of the group, but it certainly is not to the glory of God. [22_32]

Có thể tiếp tục liệt kê các sự phát triển khác nhau cho thấy đối với Thánh Đoàn đang quan sát rằng một đệ tử, hoặc một nhóm đệ tử, giờ đây đã sẵn sàng cho “nhiều ánh sáng hơn.” Tuy nhiên, dấu hiệu chủ yếu là phản ứng của họ đối với Định luật Tiến Bộ Nhóm. Chính Định luật này là định luật mới sắp đến cần được các đệ tử thế gian cảm nhận, và nó đã đang trở nên hữu hiệu hơn trong năng lực của nó, dù nhân loại sẽ chưa nhận ra điều này trong một thời gian dài nữa. Nó sẽ đưa công việc của các nhóm thế gian vào hoạt động. Trong quá khứ, các nhóm đã được hình thành vì lợi ích tương hỗ, vì mối quan tâm và học tập tương hỗ, vì sự tăng cường tương hỗ. Đây đã là [179] vinh quang của họ, và cũng là lời nguyền của họ, vì dù động cơ của họ có thể lớn lao và tốt đẹp, nhưng các nhóm ấy về căn bản và chủ yếu vẫn ích kỷ, với một dạng ích kỷ tinh thần khó vượt qua nhất, và đòi hỏi sự biểu lộ của sự phân biện chân chính mà tôi đã nói đến trước đó. Những nhóm như vậy luôn là các chiến trường, nơi những người kém khả năng nhất và kém tích hợp nhất đã bị hấp thụ và bị tiêu chuẩn hoá hoặc bị kỷ luật hoá theo đội ngũ, và những người mạnh nhất cuối cùng đã thống trị, còn những người mơ hồ thì bị loại bỏ và bị làm cho hoàn toàn tĩnh lặng. Nhóm thành công cuối cùng hoá ra là một nhóm gồm những linh hồn đồng điệu, tất cả đều nghĩ giống nhau, bởi vì không ai nghĩ bằng trực giác, mà họ bị cai quản bởi một trường phái tư tưởng nào đó, hoặc bởi vì một nhân vật trung tâm trong nhóm thống trị tất cả những người còn lại, thôi miên họ vào một trạng thái bản năng, tĩnh lặng, bất động. Điều này có thể là vinh quang của huấn sư và của nhóm, nhưng chắc chắn không phải là vinh quang của Thượng đế.

End of LOTSWC 22, EP II p. 179

Kết thúc LOTSWC 22, EP II tr. 179

Text with notes

5. The Law of Group Progress—Định luật Tiến Bộ Nhóm

No.

Exoteric Name.

Esoteric Name.

Symbol.

Ray Energy.

5.

The Law of Group Progress.

The Law of Elevation.

The Mountain and the Goat.

Progressive Energy. Seventh Ray. Factor of Evolution.

[<-22-1]

This law begins to function and to be registered in the personal consciousness [before there is registration there is much happening ‘above’…] when the aspirant has achieved certain definite realisations, and knows certain ideals as facts in his experience. [Proven the factuality of that which heretofore was simply and ideal or theory…] These might be listed in a very simple way [Page 175] and would then connote to the superficial student the simplest achievement of the Probationary Path. [DK is always having us go deeper…] It would, however, be well if we could grasp this fact with clarity, that this simple formulation of requirements and their achievement within the aspirant’s consciousness, demonstrate as the outer and veiled reactions of his mind to some deeply esoteric cosmic truths. [That which occurs in the consciousness can be but the symbolization of that which is REALLY happening…] This statement contains the very essence of the esoteric knowledge. [What is represented to us is not necessarily the Real, but an out-picturing or symbolization of that which is Real and cannot yet be apprehended as it is…] The quite ordinary formulations of loving living and of daily instinctive self­-sacrifice suffer from being so vitally familiar and yet—if we could only realise it—they are only on the outer fringe of the deepest world truths. They represent that which is not at all familiar…] They are the A.B.C. of esotericism and through them, and only through them, shall we arrive at the words and sentences which are. in their turn, the essential kev to the highest knowledge. [Fulfill first that which is familiar and it will lead to far greater depths—certain Words of Power will emerge when the ways of life conveyed by the lesser words are fulfilled…]

Định luật này bắt đầu vận hành và được ghi nhận trong tâm thức cá nhân [trước khi có sự ghi nhận thì có rất nhiều điều đang diễn ra “ở bên trên”…] khi người chí nguyện đã đạt được một số chứng nghiệm, xác định và biết một số lý tưởng như những sự kiện trong kinh nghiệm của y. [Đã chứng minh tính thực tại của điều mà trước đây chỉ đơn thuần là một lý tưởng hay một lý thuyết…] Những điều này có thể được liệt kê theo một cách rất đơn giản [Page 175] và khi đó sẽ gợi cho đạo sinh hời hợt thấy đó là thành tựu đơn giản nhất của Con Đường Dự Bị. [Chân sư DK luôn khiến chúng ta đi sâu hơn…] Tuy nhiên, sẽ là điều tốt nếu chúng ta có thể nắm bắt rõ ràng sự kiện này, rằng công thức đơn giản về các yêu cầu ấy và việc đạt được chúng trong tâm thức của người chí nguyện, biểu lộ như những phản ứng bên ngoài và bị che phủ của thể trí y trước một số chân lý vũ trụ huyền bí sâu xa. [Điều xảy ra trong tâm thức chỉ có thể là sự biểu tượng hóa của điều đang THỰC SỰ diễn ra…] Mệnh đề này chứa đựng chính tinh túy của tri thức nội môn. [Điều được trình bày cho chúng ta không nhất thiết là Thực Tại, mà là một sự phóng chiếu ra ngoài hay một sự biểu tượng hóa của điều là Thực Tại và chưa thể được lĩnh hội đúng như nó vốn là…] Những công thức hết sức bình thường về đời sống yêu thương và về sự hy sinh bản thân hằng ngày một cách bản năng chịu thiệt thòi vì quá quen thuộc một cách sống còn, và tuy vậy—nếu chúng ta chỉ có thể chứng nghiệm điều ấy—chúng chỉ ở nơi rìa ngoài của những chân lý sâu thẳm nhất của thế giới. Chúng biểu trưng cho điều hoàn toàn không quen thuộc…] Chúng là bảng chữ cái A.B.C. của huyền bí học và qua chúng, và chỉ qua chúng, chúng ta mới sẽ đạt đến những từ ngữ và câu văn mà đến lượt chúng, là chìa khóa thiết yếu dẫn đến tri thức cao nhất. [Trước hết hãy hoàn thành điều quen thuộc và nó sẽ dẫn đến những chiều sâu lớn lao hơn—một số Quyền năng từ nhất định sẽ xuất hiện khi các nẻo sống được chuyển tải bởi những từ ngữ thấp hơn được hoàn thành…]

[<-22-2]

A brief example will serve to illustrate this, and we can then consider some simple facts which indicate that the aspirant is beginning to function as a soul and is ready for conscious life in the kingdom of God.

Một ví dụ ngắn sẽ giúp minh họa điều này, và khi đó chúng ta có thể xét một số sự kiện đơn giản cho thấy người chí nguyện đang bắt đầu vận hành như một linh hồn và đã sẵn sàng cho đời sống hữu thức trong Thiên Giới.

The disciple in training for these higher realisations is urged to practice the faculty of discrimination. [Discrimination, Dispassion, Discipline, Decentralization – in relation to the Law of Repulse, Discrimination was very important…] You have been so urged. The initial and normal interpretation and the immediate effect of the practice is to teach the disciple to distinguish between the pairs of opposites, [this means the soul and the personality…] Yet just as the disciple in his early training discovers that the discriminating process has naught to do with the choice between recognised evil (so-called) and recognised good, but concerns the more subtle pairs of opposites such as right and wrong silences, right and wrong speech, right understanding and right indifference and their opposites, so the man who is reacting to these higher laws discovers that the discrimination to be shown is again still more subtle and is—for the bulk of the aspirants in the world today—still a meaningless objective. This type of discrimination [Page 176] is not even being evoked. It is that which must he shown in relation to the following subtle contacts:

Đệ tử đang được huấn luyện cho những chứng nghiệm cao hơn này được thúc giục thực hành năng lực phân biện. [Phân biện, Vô dục, Kỷ luật, Phi tập trung vào bản thân – liên hệ với Định luật Đẩy Lùi, Phân biện rất quan trọng…] Các bạn đã được thúc giục như vậy. Cách diễn giải ban đầu và bình thường, cùng tác dụng tức thời của việc thực hành, là dạy đệ tử phân biệt giữa các cặp đối cực, [điều này có nghĩa là linh hồn và phàm ngã…] Tuy nhiên, cũng như đệ tử trong giai đoạn huấn luyện ban đầu khám phá rằng tiến trình phân biện chẳng liên quan gì đến việc chọn lựa giữa điều ác (được gọi như thế) đã được nhận biết và điều thiện đã được nhận biết, mà liên quan đến những cặp đối cực tinh tế hơn như sự im lặng đúng và sai, lời nói đúng và sai, sự thấu hiểu đúng và sự điềm nhiên đúng và các đối cực của chúng, thì người đang đáp ứng với các định luật cao hơn này cũng khám phá rằng sự phân biện cần biểu lộ lại còn tinh tế hơn nữa và—đối với đại đa số người chí nguyện trên thế giới ngày nay—vẫn là một mục tiêu vô nghĩa. Loại phân biện này [Page 176] thậm chí còn chưa được gợi lên. Đó là điều phải được biểu lộ liên hệ với các tiếp xúc tinh tế sau đây:

[A list of how a word can mean more that initially it seems to mean…]

[Danh sách về cách một từ có thể hàm ý nhiều hơn so với ban đầu tưởng là nó hàm ý…]

[A list of heightening discriminations…]

[Danh sách về các sự phân biện được nâng cao…]

[<-22-3]

1. The vibration of the soul itself.

1. Rung động của chính linh hồn.

2. The vibration of the inner group with which he is, even if unconsciously, affiliated. [in one sense a kind of ashramic vibration…]

2. Rung động của nhóm nội tại mà y, dù vô thức, vẫn liên kết. [theo một nghĩa nào đó là một loại rung động ashram…]

3. The vibration of the Master as the focal point of the group.

3. Rung động của Chân sư như điểm hội tụ của nhóm.

4. His ray vibration, as sensed via his soul and the Master.

4. Rung động cung của y, như được cảm nhận qua linh hồn y và Chân sư.

5. The vibration resulting from the interplay between his soul and his personality, [neither all personality nor all soul…]

5. Rung động phát sinh từ sự tương tác giữa linh hồn y và phàm ngã y, [không hoàn toàn là phàm ngã cũng không hoàn toàn là linh hồn…]

6. The three different vibrations of his vital body, his emotional body and the mind. [How attentive we must be to these different vibrations and be able to TELL THE DIFFERENCE BETWEEN THEM…]

6. Ba rung động khác nhau của thể sinh lực, thể cảm dục và thể trí của y. [Chúng ta phải chú tâm biết bao đối với các rung động khác nhau này và có thể NHẬN BIẾT SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CHÚNG…]

7. The vibration of the groups or the group with which he must work upon the outer plane.

7. Rung động của các nhóm hay nhóm mà y phải làm việc trên cõi bên ngoài.

8. The soul vibration of other people whom he contacts.

8. Rung động linh hồn của những người khác mà y tiếp xúc.

9. The vibration of such a group as the New Group of World Servers.

9. Rung động của một nhóm như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

[It can all pretty easily be lumped into one sensing-as for instance I just sensed something higher…]

[Tất cả khá dễ bị gom lại thành một cảm nhận—chẳng hạn như tôi vừa cảm nhận điều gì đó cao hơn…]

[<-22-4]

These are only some instances of the type of discriminations which are required. [We are at the beginning of the occult path… These he will learn to distinguish instinctively when he is further developed. I would like to remind you that it is when we try to discriminate entirely mentally that the problem seems insuperable. [There are other ways to register difference…] When the rule of the soul and the recognition of the soul have been firmly established, these different recognitions become instinctual reactions. [Because the soul knows… and the mind has to slowly reason as it attempts to separate one thing from another…] Intuitional response is the name we give to the instinctual life of the soulthe higher correspondence to the instinctual life of the human body. [There is that within the soul which can tell the difference…] In the above paragraphs we have a simple summary of some of the deeper significances of the simple injunction: Learn to discriminate.” [In occultism let us always think of levels… Any word of significance can be interpreted on a number of different levels…] How much have we truly understood this injunction? Intellectually, the mind may give assent. Practically, the words frequently mean nothing. Do they signify to us the power of the soul to separate vibrations into differing categories? Yet we are told [Page 177] that the soul knows naught of separation! [Variety within an unbroken unity…] Such are some of the paradoxes of esotericism to the uninitiate.

Đây chỉ là một vài ví dụ về loại phân biện được đòi hỏi. [Chúng ta đang ở giai đoạn khởi đầu của con đường huyền bí… Y sẽ học cách phân biệt chúng một cách bản năng khi y phát triển hơn. Tôi muốn nhắc các bạn rằng chính là khi chúng ta cố gắng phân biện hoàn toàn bằng thể trí thì vấn đề dường như không thể vượt qua. [Có những cách khác để ghi nhận sự khác biệt…] Khi sự cai quản của linh hồn và sự nhận biết linh hồn đã được thiết lập vững chắc, những sự nhận biết khác nhau này trở thành các phản ứng bản năng. [Vì linh hồn biết… còn thể trí phải chậm rãi lý luận khi nó cố tách điều này khỏi điều kia…] Đáp ứng trực giác là tên gọi chúng ta dành cho đời sống bản năng của linh hồnsự tương ứng cao hơn với đời sống bản năng của thể xác con người. [Có điều gì đó bên trong linh hồn có thể nhận biết sự khác biệt…] Trong các đoạn trên, chúng ta có một bản tóm lược đơn giản về một số thâm nghĩa sâu xa hơn của lời khuyến dụ đơn giản: Hãy học cách phân biện.” [Trong huyền bí học, chúng ta hãy luôn nghĩ đến các cấp độ… Bất kỳ từ ngữ nào có thâm nghĩa đều có thể được diễn giải trên một số cấp độ khác nhau…] Chúng ta đã thực sự thấu hiểu lời khuyến dụ này đến mức nào? Về mặt trí tuệ, thể trí có thể tán đồng. Về mặt thực hành, những lời ấy thường chẳng có nghĩa gì. Chúng có hàm ý đối với chúng ta về quyền năng của linh hồn trong việc phân loại các rung động thành những phạm trù khác nhau không? Thế nhưng chúng ta được bảo [Page 177] rằng linh hồn chẳng biết gì về sự phân ly! [Sự đa dạng trong một hợp nhất không gián đoạn…] Đó là một số nghịch lý của huyền bí học đối với người chưa được điểm đạo.

[<-22-5]

The Law of Group Progress can only begin to have a conscious effect [there is an initial unconscious directing as these laws assert an unknown influence…] in the life of the disciple who has been pledged and accepted. [Accepted Discipleship” does not come into play before the midway point between the first initiation… This may be true of the Law of Repulse as a triadal law—maybe this is true of all the triadally originating laws…] When he has established certain rhythms, when he is working effectively along certain well recognised group lines, and when he is definitely and in understanding consciousness preparing himself for the expansions of initiation, then this law begins to sway him and he learns to obey it instinctively, intuitively and intellectually. [Responding from the form, from the soul/triad and from the lower mind now increasingly illumined…] It is through obedience to this law that preparation for initiation is instituted by the disciple. [As if, initiation is a group process whether or not we are speaking about conscious group initiation… If he is NOT obedient to this law, then he is NOT really self-instituting preparation for initiation] The previous sentence is so worded because it is important that all should grasp the self-initiated necessity of initiation. Do we understand this importance? Some of the effects earlier mentioned in the initial discussion of this fifth law can here be enumerated. Let us not forget their esoteric and unseen significances. [Let us think with subtlety…]

Định luật Tiến Bộ Nhóm chỉ có thể bắt đầu tạo ra một tác dụng hữu thức [có một sự chỉ đạo vô thức ban đầu khi các định luật này khẳng định một ảnh hưởng chưa được biết đến…] trong đời sống của đệ tử đã được cam kết và được chấp nhận. [“Địa vị đệ tử được chấp nhận” không phát huy trước điểm ở giữa giữa lần điểm đạo thứ nhất… Điều này có thể đúng đối với Định luật Đẩy Lùi như một định luật tam nguyên—có lẽ điều này đúng với mọi định luật khởi nguyên từ tam nguyên…] Khi y đã thiết lập một số nhịp điệu nhất định, khi y đang làm việc hữu hiệu theo một số đường lối nhóm đã được thừa nhận rõ ràng, và khi y đang dứt khoát và trong tâm thức thấu hiểu mà chuẩn bị cho các sự mở rộng của điểm đạo, thì khi đó định luật này bắt đầu chi phối y và y học cách tuân phục nó một cách bản năng, trực giác và trí tuệ. [Đáp ứng từ hình tướng, từ linh hồn/tam nguyên và từ hạ trí nay ngày càng được soi sáng…] Chính qua sự tuân phục định luật này mà sự chuẩn bị cho điểm đạo được đệ tử tự khởi xướng. [Như thể, điểm đạo là một tiến trình nhóm dù chúng ta có đang nói về điểm đạo nhóm hữu thức hay không… Nếu y KHÔNG tuân phục định luật này, thì y KHÔNG thực sự tự khởi xướng sự chuẩn bị cho điểm đạo] Câu trước được diễn đạt như vậy vì điều quan trọng là mọi người phải nắm bắt sự tất yếu tự khởi xướng của điểm đạo. Chúng ta có hiểu tầm quan trọng này không? Một số tác dụng đã được đề cập trước đó trong phần thảo luận ban đầu về định luật thứ năm này có thể được liệt kê ở đây. Chúng ta chớ quên các thâm nghĩa nội môn và vô hình của chúng. [Chúng ta hãy suy nghĩ với sự tinh tế…]

[<-22-6]

1. The disciple will then learn effectively to decentralise himself. This means that[this was one of the four words which invoked the Law of Repulse—and it is related at first to the personality…we seek our true center as the Observer outside the personality…]

1. Khi đó đệ tử sẽ học cách phi tập trung vào bản thân một cách hữu hiệu. Điều này có nghĩa là[this là một trong bốn từ đã gợi lên Định luật Đẩy Lùi—và ban đầu nó liên hệ với phàm ngã… chúng ta tìm trung tâm chân thật của mình như Đấng Quan Sát ở bên ngoài phàm ngã…]

a. He will ask nothing for the separated self. [All things asked will pertain to the fulfillment of the Plan and with the self in mind only as a useful instrument…] One can therefore easily see why aspirants are taught to pledge allegiance to their Higher Self, and to foreswear all claims of this separated self. [The pledge of allegiance in future esoteric days may be to the Higher Self…] One can see also why so many react against it. [Against the pledge of allegiance to the Higher Self…]

a. Y sẽ không xin gì cho cái ngã tách biệt. [Mọi điều được xin sẽ liên quan đến việc hoàn thành Thiên Cơ và chỉ nghĩ đến cái ngã như một công cụ hữu dụng…] Vì vậy, người ta có thể dễ dàng thấy vì sao những người chí nguyện được dạy phải cam kết trung thành với chân ngã, và từ bỏ mọi đòi hỏi của cái ngã tách biệt này. [Lời cam kết trung thành trong những ngày huyền bí tương lai có thể là với chân ngã…] Người ta cũng có thể thấy vì sao rất nhiều người phản ứng chống lại điều đó. [Chống lại lời cam kết trung thành với chân ngã…]

They are not ready for it, and such a pledge therefore acts as a great discriminating agent. [I won’t pledge’; I won’t give an oath’]; To those for whom the standard of selflessness is set too high, it is neither understood nor desired. Therefore the unready criticise it. Later these will come back and with understanding take this obligation in the light. [There is always later….]

Họ chưa sẵn sàng cho điều đó, và vì vậy một lời cam kết như thế hoạt động như một tác nhân phân biện mạnh mẽ. [“Tôi sẽ không cam kết”; “Tôi sẽ không thề”]; Đối với những người mà tiêu chuẩn vô ngã được đặt quá cao, điều đó không được hiểu cũng không được mong muốn. Vì vậy, những người chưa sẵn sàng phê phán nó. Về sau, họ sẽ quay lại và với sự thấu hiểu, nhận lấy nghĩa vụ này trong ánh sáng. [Luôn luôn có về sau….]

[<-22-7]

b. His eyes are towards the light and not towards desire for contact with the Master. [Very personal attitude to desire contact with the Master for its own sake and for the comfort it might bring…] This, therefore, rules out that spiritual selfishness which has been expressed [Page 178] by the desire, innate and deep, for recognition by one of the Great Ones. When this freedom from the personal is found, then the Master can dare to make a contact and to establish a relation with the disciple. It would be well for us to ponder on this. [Otherwise the existent personal glamour would only be increased…]

b. Mắt y hướng về ánh sáng chứ không hướng về dục vọng được tiếp xúc với Chân sư. [Thái độ rất cá nhân khi khao khát được tiếp xúc với Chân sư vì chính nó và vì sự an ủi mà nó có thể đem lại…] Vì vậy, điều này loại trừ sự ích kỷ tinh thần đã được biểu lộ [Page 178] qua dục vọng bẩm sinh và sâu xa muốn được một trong các Đấng Cao Cả công nhận. Khi tìm thấy sự tự do khỏi cái cá nhân này, thì Chân sư mới có thể dám tạo ra một tiếp xúc và thiết lập một mối liên hệ với đệ tử. Sẽ là điều tốt nếu chúng ta suy ngẫm về điều này. [Nếu không, ảo cảm cá nhân hiện hữu chỉ sẽ tăng lên…]

[<-22-8]

2. He will have learnt to serve instinctively. [Intuition is an instinct of the soul, a soul instinct… He may, and usually does, need to learn to discriminate in his service; [what really is my true service…] but his attitude to life and toward all men is a divine rushing forth to aid, to lift, to love and to succour, [Test ourselves against this requirement [Reminded of the Hierarchy as being a great vortex of activity…not the archetypal peacefulness of Shamballa… So Christ-like…what a test…]

2. Y sẽ học được cách phụng sự một cách bản năng. [Trực giác là một bản năng của linh hồn, một bản năng linh hồn… Y có thể, và thường là, cần học cách phân biện trong sự phụng sự của mình; [đâu mới thật sự là sự phụng sự chân thật của tôi…] nhưng thái độ của y đối với đời sống và đối với mọi người là một sự tuôn trào thiêng liêng để trợ giúp, nâng đỡ, yêu thương và cứu trợ, [Hãy tự kiểm nghiệm mình theo yêu cầu này [Nhớ đến Thánh đoàn như một xoáy lốc hoạt động lớn lao… không phải sự an bình nguyên mẫu của Shamballa… Thật giống Đức Christ… một sự thử thách biết bao…]

3. He will have learnt to use the mind in two directions, increasingly and at will, and instantaneously: [this reminds of the dual use of the mind in Scorpio, but also relating to Janus…the two-faced God…]

3. Y sẽ học được cách sử dụng thể trí theo hai hướng, ngày càng nhiều và theo ý muốn, và tức thời: [điều này gợi nhớ việc dùng thể trí theo hai chiều trong Hổ Cáp, nhưng cũng liên hệ với Janus… vị Thượng đế hai mặt…]

a. He can cast the search-light of the mind into the world of the soul, and know and recognise those truths which must, for him, become his experienced knowledge.

a. Y có thể chiếu rọi ánh đèn pha của thể trí vào thế giới của linh hồn, và biết và nhận biết những chân lý mà đối với y, phải trở thành tri thức được y chứng nghiệm.

b. He can also cast it into the world of illusion and dispel the glamours of the personal. When he can do that, then he begins to dispel the world glamours for he is nearing initiation. [ACLRI—where the Plan is R or revealed to him….

b. Y cũng có thể chiếu nó vào thế giới ảo tưởng và làm tiêu tan các ảo cảm của cái cá nhân. Khi y có thể làm điều đó, thì y bắt đầu làm tiêu tan các ảo cảm của thế giới vì y đang tiến gần đến điểm đạo. [ACLRI—nơi Thiên Cơ được R hay được mặc khải cho y….

[<-22-9]

a. THE LINK OF THE WORLD GROUPS

a. MỐI LIÊN KẾT CỦA CÁC NHÓM THẾ GIỚI

It would be possible to go on listing the various developments which indicate to the onlooking Hierarchy that a disciple, or a group of disciples, are now ready for “more light.” [DK has been listing the qualities in the disciple which indicate that he is ready for “more light”...] The major indication is, however, their reaction to the Law of Group Progress. [This seems to be the most important indicator of the readiness for more light…] It is this Law which is the coming new law to be sensed by the world disciples [it also means disciples in the world] and which is already becoming more effective in its potency, even though this will not be realised by humanity for a long while yet. [Humanity must pass through the Saturn decanate of Aquarius…with all its testing and discipline-then the readiness is more likely to demonstrate…] It will bring into activity the work of the world groups. In the past, groups have been formed for mutual benefit, for mutual interest and study, for mutual strengthening, [especially for the individuals within the groups….] This has been [Page 179] their glory, and also their curse, for great and good though their motives may have been, yet these groups have been basically and primarily selfish, with a form of spiritual selfishness most difficult to overcome, and calling for the expression of the true discrimination to which I have earlier referred. [The occult groups the most glamored of all groups…] Such groups have ever been battlegrounds wherein the least able and the least integrated have been absorbed and standardised or regimented, and the most powerful have dominated eventually, and the indefinite ones have been eliminated and rendered totally quiescent. [The story of many groups heretofore…There has been an artificial Hierarchy based on personal power…and a reflection of totalitarianism…] The successful group has eventually turned out to be one composed of kindred souls who are all thinking alike, because no one thinks with intuition, [which would reveal the truth…] but who are governed by some school of thought, or because some central figure in the group dominates all the rest, hypnotising them into an instinctual, quiescent, static condition. [Warning to all of us who are in the position of apparently ‘leading’ groups…] This may be to the glory of the teacher and of the group, but it certainly is not to the glory of God.

Chúng ta có thể tiếp tục liệt kê các sự phát triển khác nhau cho thấy với Thánh đoàn đang quan sát rằng một đệ tử, hay một nhóm đệ tử, nay đã sẵn sàng cho “nhiều ánh sáng hơn.” [Chân sư DK đã liệt kê các phẩm tính trong đệ tử cho thấy y đã sẵn sàng cho “nhiều ánh sáng hơn”…] Tuy nhiên, dấu hiệu chủ yếu là phản ứng của họ đối với Định luật Tiến Bộ Nhóm. [Điều này dường như là chỉ dấu quan trọng nhất về sự sẵn sàng cho nhiều ánh sáng hơn…] Chính Định luật này là định luật mới sắp đến sẽ được các đệ tử thế gian cảm nhận [điều này cũng có nghĩa là các đệ tử ở trong thế gian] và nó đã đang trở nên hữu hiệu hơn về mãnh lực của nó, dù điều này sẽ không được nhân loại chứng nghiệm trong một thời gian dài nữa. [Nhân loại phải đi qua thập độ Sao Thổ của Bảo Bình… với mọi thử thách và kỷ luật của nó—khi đó sự sẵn sàng mới có khả năng biểu lộ hơn…] Nó sẽ đưa công việc của các nhóm thế giới vào hoạt động. Trong quá khứ, các nhóm đã được hình thành vì lợi ích tương hỗ, vì mối quan tâm và học tập tương hỗ, vì sự tăng cường tương hỗ, [đặc biệt cho các cá nhân trong các nhóm….] Đây đã là [Page 179] vinh quang của họ, và cũng là lời nguyền của họ, vì dù động cơ của họ có thể lớn lao và tốt đẹp đến đâu, thì các nhóm ấy về căn bản và chủ yếu vẫn là ích kỷ, với một dạng ích kỷ tinh thần khó vượt qua nhất, và đòi hỏi sự biểu lộ của sự phân biện chân thật mà tôi đã đề cập trước đó. [Các nhóm huyền bí là những nhóm bị ảo cảm nhiều nhất trong mọi nhóm…] Những nhóm như thế luôn là chiến trường, nơi những người kém khả năng nhất và ít được tích hợp nhất đã bị hấp thụ và tiêu chuẩn hóa hoặc bị điều lệnh hóa, và những người mạnh nhất cuối cùng đã thống trị, và những người mơ hồ đã bị loại bỏ và bị làm cho hoàn toàn bất động. [Câu chuyện của nhiều nhóm trước đây… Đã có một Thánh đoàn nhân tạo dựa trên quyền lực cá nhân… và là sự phản chiếu của chủ nghĩa toàn trị…] Nhóm thành công cuối cùng hóa ra là một nhóm gồm những linh hồn đồng điệu, tất cả đều suy nghĩ giống nhau, bởi vì không ai suy nghĩ bằng trực giác, [điều sẽ mặc khải chân lý…] mà bị chi phối bởi một trường phái tư tưởng nào đó, hoặc vì một nhân vật trung tâm trong nhóm thống trị tất cả những người còn lại, thôi miên họ vào một trạng thái bản năng, bất động, tĩnh tại. [Cảnh báo cho tất cả chúng ta là những người đang ở vị trí dường như “lãnh đạo” các nhóm…] Điều này có thể là vinh quang cho huấn sư và cho nhóm, nhưng chắc chắn không phải là vinh quang của Thượng đế.

[Again the contrasts are offered-and the negative is shown to set up a better appreciation of the positive…]

[Một lần nữa các tương phản được đưa ra—và cái tiêu cực được nêu lên để thiết lập một sự trân trọng tốt hơn đối với cái tích cực…]

End of LOTSWC 22, EP II p. 179

Kết thúc LOTSWC 22, EP II tr. 179

Commentary

2014-01-12-0008-LOTSWC-22

2014-01-12-0008-LOTSWC-22

Hello, friends, and here we are again with Laws of the Soul Webinar Commentaries number twenty-two. We have just finished with a summary of the first four laws, and we’re getting to the fifth, which is the Law Of Group Progress, page 174 of Esoteric Psychology, volume two. And let’s see where we are.

Xin chào các bạn, và chúng ta lại gặp nhau với loạt Bình giảng Hội thảo Định luật của Linh hồn số hai mươi hai. Chúng ta vừa hoàn tất phần tóm lược bốn định luật đầu tiên, và giờ chuyển sang định luật thứ năm, đó là Định luật Tiến bộ Nhóm, trang 174 của Tâm Lý Học Nội Môn, quyển hai. Hãy xem chúng ta đang ở đâu.

I kind of had ten minutes left at the end of the other program, and so went off on one of those little third ray philosophical fugues. But now, back to business: the Law Of Group Progress.

Lúc cuối chương trình trước tôi còn khoảng mười phút, nên đã lạc sang một trong những đoạn lan man triết học cung ba. Giờ thì trở lại công việc: Định luật Tiến bộ Nhóm.

[22_1]

The exoteric name is the Law Of Group Progress, but it’s also called the Law of Elevation, which connects it, interestingly, with Capricorn. And its symbol is the mountain and the goat, which is in a way very similar to the symbol of Capricorn—the Goat and the Unicorn. It involves progressive energy, which certainly correlates with Capricorn, and it’s ruled by the seventh ray, and it plays a big part in the factor of evolution.

Tên ngoại môn là Định luật Tiến bộ Nhóm, nhưng cũng được gọi là Định luật Thăng Đạt, điều này, thú vị thay, liên hệ với Ma Kết. Biểu tượng của định luật là ngọn núi và con dê, vốn khá tương đồng với biểu tượng của Ma Kết—Con Dê và Con Kỳ Lân. Định luật này bao hàm năng lượng tiến triển, rất phù hợp với Ma Kết; nó do cung bảy cai quản và đóng vai trò lớn trong yếu tố tiến hoá.

We know Capricorn has that ongoing energy; and the seventh ray coming through Uranus at this time—mainly through Uranus and, interestingly, through Capricorn at this time—is itself a very progressive energy. It always finds—not always, but when it’s not under its Saturnian mode, when it’s under its Uranian mode—it finds new and better ways of doing things. So, this is a law which is very much connected with the Aquarian Age, and it seems like it’s preparing as well for the Age of Capricorn.

Chúng ta biết Ma Kết có năng lượng bền bỉ; và cung bảy đang đi qua Sao Thiên Vương vào thời điểm này—chủ yếu qua Sao Thiên Vương và, thú vị thay, cũng qua Ma Kết lúc này—tự thân là một năng lượng rất tiến bộ. Nó luôn tìm ra—không phải lúc nào cũng vậy, nhưng khi không ở dưới phương diện Sao Thổ mà ở dưới phương diện Sao Thiên Vương—những cách thức mới và tốt hơn để hành động. Vì vậy, đây là một định luật gắn kết rất chặt với Kỷ nguyên Bảo Bình, và có vẻ như cũng đang chuẩn bị cho Kỷ nguyên Ma Kết.

There may have been a wee bit of interference there, but as I say, the Capricorn part of the Law tells us that it may be preparing for the initiatory possibilities in the Age of Capricorn, but it will accompany us through the Aquarian Age, when there is so much emphasis on group progress. Really, that is the method of the planetary Logos at this time. The method of single initiation is no longer sufficient, so people will be passing before the Initiator in groups. What the inner mechanism of that may be, we don’t really know. It may be some sort of simultaneous psychic enactment, symbolized to each initiate in a certain way, as if they were all simultaneously in the presence of the Initiator. More of that will be revealed as during the Aquarian Age, the first and second initiations are given publicly. We’re certainly not at the time when the third initiation can be given publicly. We’re not yet at the time when the first or second can be, but in the Aquarian Age we will be; and perhaps, who knows, there may be a more public giving of this higher initiation in the Age of Capricorn, which is the sign correlated with it.

Có thể vừa rồi có chút nhiễu; nhưng phần Ma Kết của Định luật cho biết rằng định luật này có lẽ đang chuẩn bị cho các khả năng điểm đạo trong Kỷ nguyên Ma Kết, đồng thời sẽ đồng hành cùng chúng ta trong Kỷ nguyên Bảo Bình, khi có quá nhiều nhấn mạnh vào tiến bộ tập thể. Thực sự đó là phương pháp của Hành Tinh Thượng đế vào lúc này. Phương pháp điểm đạo đơn không còn đủ nữa, nên con người sẽ lần lượt đi qua trước Đấng Điểm đạo trong tư cách nhóm. Cơ chế nội tại của việc đó như thế nào thì chúng ta chưa thật biết. Có thể là một hình thức diễn trình thông linh đồng thời, được biểu trưng cho mỗi điểm đạo đồ theo một cách nhất định, như thể tất cả đều đồng thời ở trước sự Hiện Diện của Đấng Điểm đạo. Những điều đó sẽ được mặc khải thêm, vì trong Kỷ nguyên Bảo Bình, lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai sẽ được cử hành công khai. Chúng ta chắc chắn chưa ở thời điểm có thể công khai lần điểm đạo thứ ba. Hiện giờ cũng chưa thể công khai lần thứ nhất hay thứ hai, nhưng trong Kỷ nguyên Bảo Bình sẽ có thể; và biết đâu, trong Kỷ nguyên Ma Kết—dấu hiệu tương ứng với nó—sẽ có sự công khai hơn đối với những lần điểm đạo cao hơn.

So, the Law of Elevation: we’re climbing the mountain of initiation here, and the consciousness is certainly elevated in the energy system; and the mountain and the goat, you would also think the mountain and the unicorn would be there.

Vì vậy, Định luật Thăng Đạt: chúng ta đang leo ngọn núi điểm đạo ở đây, và tâm thức chắc chắn được nâng cao trong hệ thống năng lượng; mà núi và dê, bạn cũng có thể nghĩ thêm đến núi và kỳ lân.

Capricorn energy under the first ray does press forward; the seventh ray is a reflection of the first ray; and the great factor of evolution is involved. In a way, it’s connected with the third aspect of the will, which is the will to evolve—at least Capricorn is one of those signs connected with the third aspect of the will, as well as the first. And maybe if there is a seventh aspect of the will with that as well.

Năng lượng Ma Kết dưới cung một thúc đẩy tiến lên; cung bảy là phản ảnh của cung một; và đại yếu tố tiến hoá can dự. Ở một phương diện, nó gắn với phương diện thứ ba của Ý chí, tức ý chí để tiến hoá—ít nhất Ma Kết là một trong những dấu hiệu liên hệ với phương diện thứ ba của Ý chí, cũng như phương diện thứ nhất. Và có lẽ còn có cả một phương diện thứ bảy của Ý chí đi kèm theo.

This law begins to function and to be registered in the personal consciousness, because so much goes on “above” before there is registration.

Định luật này bắt đầu hoạt động và được ghi nhận trong tâm thức phàm ngã, vì có quá nhiều điều diễn ra “ở trên” trước khi được ghi nhận.

[Before there is registration, there is much happening “above”…]

[Trước khi có ghi nhận, có rất nhiều điều đang diễn ra “ở trên”…]

When the aspirant has achieved certain definite realizations, and knows certain ideals as fact in his experience, [22_2]

Khi người chí nguyện đã đạt được những thành tựu xác định, và biết những lý tưởng nhất định như những sự kiện trong kinh nghiệm của mình,

He has proven the factuality of that which heretofore was simply an ideal or a theory. And these realizations,

Y đã chứng minh tính xác thực của những gì trước kia chỉ là một lý tưởng hay một lý thuyết. Và những thành tựu này,

These might be listed in a very simple way and would then connote to the superficial student the simplest achievement of the Probationary Path.

Những điều này có thể được liệt kê theo một cách rất đơn giản và khi ấy sẽ gợi lên trong mắt đạo sinh hời hợt như là những thành tựu đơn giản nhất của Con Đường Dự Bị.

So, DK is always having us go deeper.

Vì vậy nên, Chân sư DK luôn buộc chúng ta đi sâu hơn.

It would, however, be well if we could grasp this fact with clarity, that this simple formulation of requirements and their achievement within the aspirant’s consciousness, demonstrate as the outer and veiled reactions of his mind to some deeply esoteric cosmic truths. [22_3]

Tuy nhiên, sẽ tốt nếu chúng ta có thể nắm bắt một cách minh bạch sự kiện này, rằng sự công thức hóa đơn giản về các yêu cầu và việc hoàn tất chúng trong tâm thức của người chí nguyện, biểu hiện như những phản ứng bên ngoài và còn che phủ của hạ trí đối với những chân lý vũ trụ sâu kín mang tính huyền bí.

I mean, that which occurs within the consciousness is not necessarily the fact of that which is happening. That which occurs in the consciousness can be but the symbolization of that which is REALLY happening. Thus we never see, in our present state of human consciousness, Reality as a whole or as it REALLY is. What we see is the way that reality is outpictured in our own consciousness. It’s kind of a phenomenological view—reality is one thing and the phenomena of consciousness another.

Ý tôi là, những gì xảy ra trong tâm thức không nhất thiết là chính sự kiện đang diễn ra. Những gì xảy ra trong tâm thức có thể chỉ là sự biểu trưng cho điều THỰC SỰ đang diễn ra. Thế nên, trong trạng thái tâm thức con người hiện tại, chúng ta không bao giờ thấy Thực tại như toàn thể hay như NÓ thực sự là. Điều chúng ta thấy là cách thực tại được vẽ ra trong tâm thức riêng của mình. Đó là một quan điểm mang tính hiện tượng luận—thực tại là một chuyện và hiện tượng của tâm thức là chuyện khác.

This statement contains the very essence of the esoteric knowledge.

Phát biểu này hàm chứa chính tinh túy của tri thức huyền môn.

So, what is represented to us is not necessarily the real—“to us” is not necessarily the real—but an out-picturing or symbolization of that which is real and cannot yet be apprehended as it is, an out-picturing. So, this statement contains the very essence of esoteric knowledge.

Nghĩa là, cái được trình hiện cho chúng ta không hẳn là điều thực—“cho chúng ta” không hẳn là điều thực—mà là một sự vẽ hiện hay biểu trưng của điều vốn thực và chưa thể được nắm bắt như chính nó, một sự vẽ hiện. Vì vậy, phát biểu này hàm chứa chính tinh túy của tri thức huyền môn.

The quite ordinary formulations of loving living and of daily instinctive self-sacrifice suffer from being so vitally familiar and yet—if we could only realize it—they are only on the outer fringe of the deepest world truths. [22_4]

Những công thức rất bình thường về đời sống bác ái và sự tự hiến hằng ngày mang tính bản năng bị thiệt thòi bởi sự quá đỗi quen thuộc, nhưng—nếu chúng ta có thể nhận ra—chúng chỉ đứng ở rìa ngoài của những chân lý thế giới sâu xa nhất.

Although they seem familiar to us, they represent that which is not at all familiar, and by their very familiarity, we cease to be interested and then cease to trace our way into the far deeper world truths.

Tuy chúng có vẻ quen thuộc với chúng ta, nhưng chúng đại diện cho điều hoàn toàn không hề quen thuộc; và chính vì quá quen thuộc, chúng ta thôi không còn quan tâm, rồi thôi lần theo lối vào những chân lý thế giới sâu xa hơn nhiều.

They are the ABC of esotericism.

Chúng là bảng vỡ lòng của huyền bí học.

So, let’s put them down: The quite ordinary formulations of loving living and of daily instinctive, meaning we don’t have to think about it all the time, it simply occurs

Vì vậy hãy ghi lại: Những công thức rất bình thường về đời sống bác ái và sự tự hiến hằng ngày mang tính bản năng, nghĩa là chúng ta không phải lúc nào cũng phải nghĩ về chúng, chúng tự khởi hiện.

They are the ABC of esotericism, and through them—and only through them—shall we arrive at the words and sentences which are, in their turn, the essential key to the highest knowledge. [22_5]

Chúng là bảng vỡ lòng của huyền bí học, và qua chúng—và chỉ qua chúng—chúng ta mới đến được những từ ngữ và câu văn mà tự thân chúng, đến lượt mình, là chìa khóa cốt tủy mở vào tri thức cao nhất.

So, fulfill first that which is familiar and it will lead to far greater depths. Certain words of power will emerge when the ways of life conveyed by the lesser words are fulfilled.

Vì vậy, hãy hoàn tất trước điều vốn quen thuộc, nó sẽ dẫn tới những tầng sâu rộng lớn hơn. Những Quyền năng từ nhất định sẽ hiển lộ khi các nẻo sống hàm chứa trong những lời thấp hơn được hoàn tất.

A brief example will serve to illustrate this, and we can then consider some simple facts which indicate that the aspirant is beginning to function as a soul and is ready for conscious life in the kingdom of God. The disciple in training for these higher realizations is urged to practice the faculty of discrimination. [22_6]

Một ví dụ ngắn sẽ giúp minh họa điều này, rồi chúng ta có thể xem xét một vài sự kiện đơn giản cho thấy rằng người chí nguyện đang bắt đầu hoạt động như một linh hồn và sẵn sàng cho đời sống có ý thức trong Thiên Giới. Vị đệ tử đang được huấn luyện cho những thành tựu cao hơn này được khuyến khích rèn luyện năng lực phân biện.

That’s found, at least in one of its guises, on the fourth sub-plane of the mental plane; and also it’s one of the key methods for achieving the fourth initiation through the use of two very discriminative planets, Mercury and Saturn.

Điều này, ít nhất ở một phương diện, nằm trên cõi phụ thứ tư của cõi trí; đồng thời cũng là một trong các phương pháp then chốt để đạt lần điểm đạo thứ tư, thông qua hai hành tinh có tính phân biện rất cao là Sao Thủy và Sao Thổ.

You have been so urged.

Các bạn đã được khuyến khích như vậy.

We are urged to practice discrimination; and in the Law of Repulse, it was Discrimination, Dispassion, Discipline, and Decentralization. Well, I think I better put it like this—Discrimination, Dispassion, Discipline, and Decentralization. Discrimination—we remember that in relation to the Law of Repulse, discrimination was very important. So, if we practice these four, we will automatically be dealing with the Law of Repulse; we will somehow invoke its expression, and so we have been urged to do this.

Chúng ta được khuyến khích thực hành phân biện; và trong Định luật Đẩy Lùi, đó là Phân biện, Vô dục, Kỷ luật và Phi tập trung vào bản thân. Tôi nghĩ nên sắp lại như thế—Phân biện, Vô dục, Kỷ luật và Phi tập trung vào bản thân. Phân biện—chúng ta nhớ rằng trong liên hệ với Định luật Đẩy Lùi, phân biện vô cùng quan trọng. Do đó, nếu thực hành bốn điều này, chúng ta tự động làm việc với Định luật Đẩy Lùi; bằng cách nào đó chúng ta khẩn cầu sự biểu hiện của định luật ấy, và vì vậy, chúng ta đã được thúc giục làm như thế.

The initial and normal interpretation and the immediate effect of the practice is to teach the disciple to distinguish between the pairs of opposites. [22_7]

Cách hiểu ban đầu và bình thường cùng tác động tức thời của việc thực hành là dạy đệ tử phân biệt giữa các cặp đối cực.

Which for practical purposes here, means the soul and the personality.

Ở đây, về mặt thực hành, là giữa linh hồn và phàm ngã.

Yet just as the disciple in his early training discovers that the discriminating process has naught to do with the choice between recognized evil (so-called) and recognized good,

Nhưng cũng như người đệ tử trong giai đoạn huấn luyện sơ thời khám phá rằng quá trình phân biện chẳng can hệ gì đến sự lựa chọn giữa điều ác đã được nhận diện (gọi là vậy) và điều thiện đã được nhận diện,

See, a greater understanding of what evil really is kind of gives one the reservation when deeming it to be evil per se; it has to be understood in the larger context—

Bạn thấy đấy, một thấu hiểu sâu hơn về cái gọi là ác thực sự là gì khiến ta dè dặt khi phê phán nó như ác tự thân; nó phải được hiểu trong một bối cảnh rộng hơn—

yet just as the disciple, in his early training, discovers that the discriminating process has naught to do with the choice between recognized evil (so-called) and recognized good, but concerns the more subtle pairs of opposites, such as right and wrong silences, right and wrong speech,

và cũng như người đệ tử, trong buổi sơ học, khám phá rằng quá trình phân biện chẳng can hệ gì tới việc chọn giữa điều ác đã được nhận diện ( gọi là vậy) và điều thiện đã được nhận diện, mà hệ ở những cặp đối cực vi tế hơn, như im lặng đúng hay sai, lời nói đúng hay sai,

Good and evil are just broad strokes by comparison.

Thiện và ác chỉ là những nét phác thảo thô rộng nếu so sánh.

right understanding and right indifference and their opposites, so the man who is reacting to these higher laws discovers that the discrimination to be shown is again still more subtle

sự thấu hiểu đúng và sự điềm nhiên đúng cùng các đối cực của chúng; thì người đang đáp ứng những định luật cao này phát hiện rằng phân biện cần thể hiện lại còn vi tế hơn nữa

So, a word can apply to a number of different levels—a process can apply.

Một từ có thể áp dụng cho nhiều tầng khác nhau—một tiến trình có thể áp dụng như vậy.

We’re not necessarily discriminating here between simply the soul and the personality, or between good and evil, or between many of these different types of possible behaviors.

Chúng ta không nhất thiết chỉ phân biện giữa linh hồn và phàm ngã, hay giữa thiện và ác, hay giữa nhiều kiểu hành vi khác nhau có thể có.

The discrimination is, again, more still more subtle and is, for the bulk of aspirants in the world today, still a meaningless objective. [22_8]

Sự phân biện, một lần nữa, lại vi tế hơn nữa và, đối với phần đông người chí nguyện trên thế giới ngày nay, vẫn là một mục tiêu còn vô nghĩa.

Maybe for the disciple it is no longer so. The pairs of opposites, in a broad sense—vertically, at least—means soul and personality; it can mean also soul-infused personality versus the higher pole, the monad, the spirit itself.

Có lẽ với người đệ tử thì không còn như vậy nữa. Các cặp đối cực, theo nghĩa rộng—ít nhất theo chiều dọc—là linh hồn và phàm ngã; nó cũng có thể là phàm ngã được linh hồn thấm nhuần so với cực cao hơn là chân thần, tức tinh thần tự thân.

So, this higher type—

Vì vậy nên, kiểu phân biện cao hơn này—

This type of discrimination is not even being evoked. It is that which must be shown in relation to the following subtle contacts:

Kiểu phân biện này thậm chí còn chưa được khơi dậy. Đó là điều cần đ ược thể hiện liên quan tới những tiếp xúc vi tế sau đây:

See, there’s one of those mistakes in the transposition to the CD-ROM: it is that which must be shown, not “must he shown”, in relation to the following subtle contacts. Anh following is a list of how a word can mean more than initially it seems to mean.

Bạn thấy có một lỗi trong quá trình chuyển sang CD-ROM: phải là “cần được thể hiện”, không phải “must he shown”, liên quan tới những tiếp xúc vi tế sau đây. Và sau đây là một danh sách cho thấy một từ có thể hàm nghĩa nhiều hơn những gì lúc đầu tưởng như nó nghĩa.

So, discriminations that we would have to go through—this is a list of heightening discriminations:

Vì vậy, những phân biện mà chúng ta sẽ phải trải qua—đây là danh mục các phân biện được nâng cao:

1. The vibration of the soul itself.

1. Rung động của chính linh hồn.

Between soul and personality.

Giữa linh hồn và phàm ngã.

2. The vibration of the inner group with which he is, even if unconsciously, affiliated.

2. Rung động của nội nhóm mà y, dù vô thức, vẫn thuộc về.

This could be, in one sense, a kind of ashramic vibration.

Ở một nghĩa, đây có thể là một kiểu rung động đạo viện.

3. The vibration of the Master as the focal point of the group, and discriminating that from the group itself. It would be a more intense presence.

3. Rung động của Chân sư như tiêu điểm của nhóm, và phân biện điều đó với chính nhóm. Đây sẽ là một sự Hiện Diện mãnh liệt hơn.

4. His ray vibration, as sensed via his soul and the Master.

4. Rung động của cung của y, được cảm nhận qua linh hồn và qua Chân sư.

And maybe even as administered or released through the Chohan, who is the Head of the greater ashram of which he is a part.

Và có lẽ còn được quản trị hay phát lộ qua vị Chohan, là vị đứng đầu đạo viện lớn hơn mà y là một phần.

5. The vibration resulting from the interplay between his soul and his personality. [22_9]

5. Rung động nảy sinh từ sự tương tác giữa linh hồn và phàm ngã của y.

So, neither all personality nor all soul.

Vì vậy nên, không phải hoàn toàn là phàm ngã, cũng không hoàn toàn là linh hồn.

6. The three different vibrations of his vital body, his emotional body, and his mind.

6. Ba rung động khác nhau của thể sinh lực, thể cảm dục, và thể trí của y.

How attentive we must be to these different vibrations—must be to these different vibrations—and be able to tell the difference between them.

Chúng ta phải chú tâm đến những rung động khác nhau này—phải chú tâm đến những rung động khác nhau này—và có thể phân biệt chúng.

7. The vibration of the group—groups or group—with which he must work upon the outer plane.

7. Rung động của nhóm—các nhóm hay nhóm— mà y phải làm việc ở cõi ngoại hiện.

8. The soul vibration of other people whom he contacts, and

8. Rung động linh hồn của những người khác mà y tiếp xúc,

9. The vibration of such a group as the New Group of World Servers. [22_10]

9. Rung động của một nhóm như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

Well, it can all pretty easily be lumped into one sensing, as—for instance—I just sensed something higher. And yet, for the true occultist with discrimination keenly operative, all of these factors and more—the vibration of the Hierarchy as a whole; the vibration of the Chohan of his ray; the vibration of the Hierarchy as a whole; the vibration of his soul group on the higher mental plane; the vibration of the larger egoic group; the vibration of the Christ; the vibration of his various triadal vehicles in formation. Just as we recognize other people by their face and can tell one person from another, so we have to be able to discriminate or tell the difference between these very subtle sources—these subtle vibrations.

Ừ thì, tất cả có thể dễ dàng bị gom lại thành một cảm nhận chung, như—ví dụ—tôi vừa cảm thấy một điều gì đó cao hơn. Thế nhưng, đối với nhà huyền bí chân chính với năng lực phân biện sắc bén đang vận hành, tất cả những yếu tố này và hơn nữa—rung động của Thánh đoàn như một toàn thể; rung động của vị Chohan của cung y; rung động của Thánh đoàn như một toàn thể; rung động của hồn nhóm y trên cõi thượng trí; rung động của nhóm chân ngã lớn hơn; rung động của Đức Christ; rung động của các vận cụ thuộc Tam nguyên tinh thần đang được kiến tạo. Cũng như chúng ta nhận ra người khác qua gương mặt và có thể phân biệt người này với người kia, thì chúng ta cũng phải có khả năng phân biện hay nhận ra khác biệt giữa các nguồn cực kỳ vi tế này—những rung động vi tế ấy.

So, we cannot simply look at a word and think that it means only one thing—certainly not in occultism. So, as DK says here,

Do đó, chúng ta không thể chỉ nhìn một từ và nghĩ rằng nó chỉ có một nghĩa—nhất là trong huyền bí học. Như Chân sư DK nói ở đây,

These are only some instances of the types of discriminations which are required.

Những điều trên chỉ là một vài thí dụ về các loại phân biện được yêu cầu.

So, we begin to see how very much at the beginning of the occult path we actually are. If we’re not able to make these discriminations, we are at the beginning of the occult path, and have to have a much sharper interior sensor for discriminating.

Vì vậy, chúng ta bắt đầu thấy mình còn ở rất gần đầu đường huyền môn đến mức nào. Nếu chúng ta chưa thể thực hiện được những phân biện này, chúng ta đang ở bước đầu của con đường huyền môn và cần một khí quan cảm nhận bên trong sắc bén hơn để phân biện.

These he will learn to distinguish instinctively when he is further developed. [22_11]

Những điều này y sẽ học để phân biệt một cách bản năng khi y phát triển thêm.

That’s the fact, and we have to be humble about our present position.

Đó là thực tế, và chúng ta phải khiêm tốn về vị trí hiện tại của mình.

I would like to remind you that it is when we try to discriminate entirely mentally that the problem seems insuperable.

Tôi muốn nhắc rằng khi chúng ta cố gắng phân biện hoàn toàn bằng trí, vấn đề dường như bất khả vượt.

There’s more to it. There’s more ways to register difference. There are other ways to register difference.

Còn nhiều yếu tố hơn thế. Có nhiều cách khác để ghi nhận khác biệt.

When the rule of the soul and the recognition of the soul have been firmly established, these different recognitions become instinctual reactions.

Khi quyền cai quản của linh hồn và sự nhận biết linh hồn đã được thiết lập vững chắc, những nhận biết khác nhau này trở thành các phản ứng bản năng.

We can say here, because the soul knows, and the mind has to slowly reason as it attempts to separate one thing from another.

Chúng ta có thể nói thế này, vì linh hồn biết, còn hạ trí phải chậm rãi suy luận khi cố gắng tách bạch sự vật.

Intuitional response is the name we give to the instinctual life of the soul.

Phản ứng trực giác là tên gọi chúng ta đặt cho đời sống bản năng của linh hồn.

Of course, the true intuition is found on the Buddhic plane; but then, in a way, so is the soul—not the sheath of the soul, but the soul itself as the Triad, which can function irrespective of the causal body.

Dĩ nhiên, trực giác chân chính được tìm thấy trên cõi Bồ đề; nhưng theo một nghĩa nào đó, linh hồn cũng ở đó—không phải cái vỏ của linh hồn, mà linh hồn tự thân như là Tam nguyên tinh thần, có thể hoạt động không lệ thuộc thể nguyên nhân.

Intuitional response is the name we give to the instinctual life of the soul—the higher correspondence to the instinctual life of the human body, [22_12]

Phản ứng trực giác là tên gọi chúng ta đặt cho đời sống bản năng của linh hồn— đối ứng cao hơn của đời sống bản năng của thân xác con người,

Which seeks some temporary satisfaction in response to its urges. So, let’s say

Vốn tìm kiếm một sự thoả mãn tạm bợ nào đó để đáp ứng các thúc lực của nó. Vì vậy hãy nói rằng

{there is that within the soul which can, as we say, tell the difference.

{trong linh hồn có cái mà chúng ta thường nói là có thể phân biệt.

In the above paragraphs, we have a simple summary of some of the deeper significances of the simple injunction: “Let us learn to discriminate.”

Trong những đoạn trên, chúng ta có một bản tóm lược đơn giản về một vài ý nghĩa sâu hơn của lời khuyên giản dị: “Chúng ta hãy học để phân biện.”

Let us always deal with levels. A word has multiple possible levels of application. So, in occultism, let us always think of levels. “Learn to discriminate,” and then we have to say—any word of significance can be interpreted on a number of different levels.

Hãy luôn làm việc với các tầng. Một từ có thể có nhiều tầng ứng dụng khả dĩ. Trong huyền bí học, hãy luôn nghĩ về các tầng. “Học để phân biện,” và rồi chúng ta phải nói—bất kỳ từ nào có ý nghĩa đều có thể được diễn giải trên nhiều tầng khác nhau.

How much have we truly understood this injunction? Intellectually, the mind may give assent. Practically,

Chúng ta đã thật sự thấu hiểu lời khuyên này đến đâu? Về mặt trí năng, hạ trí có thể tán đồng. Về thực hành,

In terms of what we are actually able to do,

Xét theo những gì chúng ta thật sự làm được,

the words frequently mean nothing. Do they signify to us the power of the soul to separate vibrations into different categories? Yet we are told that the soul knows not of separation?

những lời ấy thường chẳng mang lại gì. Chúng có hàm ý đối với chúng ta như là quyền năng của linh hồn để phân chia các rung động vào những loại khác nhau? Thế nhưng chúng ta lại được dạy rằng linh hồn không hề biết đến sự phân ly?

What we have here is variety within an unbroken unity.

Ở đây có đa tạp trong một nhất thể không hề gián đoạn.

Such are some of the paradoxes of esotericism to the uninitiate. The Law Of Group Progress can only begin to have a conscious effect [22_14]

Đó là vài nghịch lý của huyền bí học đối với vị điểm đạo đồ. Định luật Tiến bộ Nhóm chỉ có thể bắt đầu tạo tác động có ý thức

The Law Of Group Progress can only begin to have a conscious effect—

Định luật Tiến bộ Nhóm chỉ có thể bắt đầu tạo tác động có ý thức—

His is important, because the laws of the soul do have a kind of unconscious prompting which leads forward towards the eventually conscious effect. So, there is an initial unconscious directing, as these Laws assert an unknown influence; but it can only

Điều này quan trọng, vì các định luật của linh hồn đúng là có những thúc lực vô thức dẫn dắt tiến lên hướng tới tác động có ý thức sau cùng. Vì vậy nên ban đầu có một sự dẫn hướng vô thức, khi các Định luật này khẳng định một ảnh hưởng chưa được biết; nhưng nó chỉ có thể

have a conscious effect in the life of the disciple who has been pledged and accepted.

tạo tác động có ý thức trong đời sống của vị đệ tử đã lập nguyện và được chấp nhận.

I think this is really important. The disciple who has been pledged and accepted—and what we learn here is that some of these higher Laws—at least the conscious effect—I think we can gather that this may also be true of the Law of Repulse as a triadal Law. Maybe this is true of all the triadally originating Laws. Maybe the Law of Sacrifice can have a conscious effect before one is a truly accepted disciple. One can become a pledged disciple before one is an accepted disciple; but when one is an accepted disciple, one is also, of course, sustaining the pledge.

Tôi nghĩ điều này thực sự quan trọng. Vị đệ tử đã lập nguyện và được chấp nhận—và điều chúng ta học được ở đây là một số Định luật cao hơn này—ít nhất là phương diện tác động có ý thức—tôi cho rằng chúng ta có thể hiểu điều này cũng đúng với Định luật Đẩy Lùi như một Định luật thuộc Tam nguyên tinh thần. Có lẽ điều này đúng với tất cả các Định luật khởi nguồn từ Tam nguyên tinh thần. Có thể Định luật Hy sinh có thể tạo tác động có ý thức trước khi một người trở thành đệ tử thực sự được chấp nhận. Người ta có thể trở thành đệ tử lập nguyện trước khi trở thành đệ tử được chấp nhận; nhưng khi trở thành đệ tử được chấp nhận, tất nhiên người ấy cũng duy trì lời nguyện.

So, some of these higher laws seem to be applicable to those who have made a fair bit of progress in the life of a conscious soul awareness.

Vì vậy, một số định luật cao hơn này có vẻ áp dụng cho những ai đã tiến khá xa trong đời sống ý thức linh hồn.

When he has established certain rhythms, when he is working effectively along certain well recognized group lines, and when he is definitely and in understanding consciousness preparing himself for the expansions of initiation, then this law begins to sway him and he learns to obey it instinctively, intuitively and intellectually. [22_15]  

Khi y đã thiết lập những nhịp điệu nhất định, khi y đang làm việc hiệu quả theo những tuyến nhóm đã được thừa nhận rõ ràng, và khi y một cách xác quyết và với tâm thức hiểu biết đang tự chuẩn bị cho những mở rộng của điểm đạo, thì định luật này bắt đầu chi phối y và y học tuân phục định luật ấy một cách bản năng, trực giác và trí năng.

These are the three different levels of possible response, responding from the form, responding from the Triad, and responding from the mind—or, let’s call it from the form, the soul/triad, then from the lower mind, which is now rather illumined.

Đó là ba cấp độ đáp ứng khả hữu: đáp ứng từ phương diện hình tướng, đáp ứng từ Tam nguyên tinh thần, và đáp ứng từ thể trí—hay nói cách khác, từ hình tướng, từ linh hồn/Tam nguyên tinh thần, rồi từ hạ trí vốn nay đã được soi sáng.

When he has established certain rhythms, when he is working effectively along certain well-recognized group lines, he is definitely, in an understanding consciousness, preparing himself for the expansions of initiation. Then this law begins to sway him, and he learns to obey it instinctively, intuitively, and intellectually

Khi y đã thiết lập những nhịp điệu nhất định, khi y đang làm việc hiệu quả theo những tuyến nhóm đã được thừa nhận rõ ràng, y một cách xác quyết, với một tâm thức hiểu biết, đang tự chuẩn bị cho những mở rộng của điểm đạo. Khi ấy định luật này bắt đầu chi phối y, và y học tuân phục nó về mặt bản năng, trực giác và trí năng

The three levels of his being. The intuitive response is coming from the triad, which is an expression of the monad; and the intellectual response from the mind; and the instinctual response, in this case, from the personality itself—or, let’s say, maybe from the lower aspects of the personality, though he has been talking here about soul instinct as well—intuition as a soul instinct.

Ba tầng của hữu thể y. Đáp ứng trực giác đến từ Tam nguyên tinh thần, là biểu lộ của chân thần; đáp ứng trí năng đến từ thể trí; và đáp ứng bản năng, trong trường hợp này, đến từ chính phàm ngã—hoặc, hãy nói, có thể từ các phương diện thấp của phàm ngã, tuy ở đây cũng đã nói về “bản năng của linh hồn”—tức trực giác như là một bản năng của linh hồn.

It is through obedience to this law that preparation for initiation is instituted by the disciple.

Chính qua vâng theo định luật này mà sự chuẩn bị cho điểm đạo được vị đệ tử khởi xướng.

So, it’s as if initiation is a group process, whether or not we are speaking about conscious group initiation. When we have the group in mind, and when we advance with consideration of the group always, and our impact upon the group, we are working with the first parts of this Law.

Vì vậy như thể điểm đạo là một tiến trình nhóm, bất kể chúng ta có đang nói về điểm đạo nhóm một cách tự giác hay không. Khi chúng ta đặt nhóm vào tâm trí, và khi chúng ta tiến bước luôn lưu tâm đến nhóm và tác động của mình lên nhóm, chúng ta đang làm việc với những phần đầu của Định luật này.

It is through obedience to this law that preparation for initiation is instituted by the disciple. The previous sentence is so worded because it is important that all should grasp the selfinitiated necessity of initiation.

Chính qua vâng theo định luật này mà sự chuẩn bị cho điểm đạo được vị đệ tử khởi xướng. Câu trước được diễn đạt như thế bởi vì điều quan trọng là mọi người đều nắm bắt đượctính tất yếu do chính mình khởi xướng của điểm đạo.

One is not initiated because someone else takes the initiative. One has to originate this movement towards initiation in relation to the group.

Người ta không được điểm đạo vì ai khác khởi xướng. Chính mỗi người phải khởi phát chuyển động hướng về điểm đạo ấy trong liên hệ với nhóm.

It is through obedience to this law that preparation for initiation is instituted by the disciple.

Điều đó chính là qua vâng theo định luật này mà sự chuẩn bị cho điểm đạo được vị đệ tử khởi xướng.

He begins to obey the Law Of Group Progress as he is working towards initiation, though that “working towards” is inaugurated, instituted, initiated by himself. So,

Y bắt đầu vâng theo Định luật Tiến bộ Nhóm khi y đang làm việc hướng tới điểm đạo, tuy việc “hướng tới” ấy do chính y khởi xướng, thiết lập, phát động. Vì vậy,

Do we understand this importance? [22_16]  Some of the effects earlier mentioned in the initial discussion of this fifth Law can here be enumerated, and let us not forget their esoteric and unseen significance. [22_17]

Chúng ta có hiểu tầm quan trọng này không? Một vài tác động đã nêu trước đó trong phần bàn mở đầu về Định luật thứ năm này có thể được liệt kê, và chớ quên ý nghĩa huyền vi và vô hình của chúng.

He’s always asking: let us think with subtlety and of the various levels which can be involved. Well, one wants to go over and over these things so that they really sink in.

Ngài luôn nhắc: hãy tư duy vi tế và nghĩ đến các tầng bậc khác nhau có thể được bao hàm. Người ta muốn đi đi lại lại những điều này để chúng thật sự thấm sâu.

Only the disciple who has pledged and accepted, so, it’s as if only sometime from the time of the midway point between the first and second initiation can this law really apply, because accepted discipleship does not come in before that time, does not come into play before the midway point between the first initiation and the second initiation, and probably closer to the second.

Chỉ người đệ tử đã lập nguyện và được chấp nhận, vậy như thể chỉ từ đâu đó quanh điểm ở giữa giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần thứ hai thì định luật này mới thật sự áp dụng, vì địa vị đệ tử được chấp nhận không đến trước mốc giữa này, không có hiệu lực trước mốc giữa giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần thứ hai, và có lẽ là gần với lần thứ hai hơn.

So, when he established certain rhythms, when he is working meditative rhythms, rhythms of service, rhythms of service to the group, when he is working effectively along certain well-recognized group lines, sanctioned by Hierarchy, and I suppose, recognized by himself and others; and when he is definitely and in understanding consciousness, preparing himself for the expansions of initiation—because he has to do this on his own initiative—then the Law begins to sway him and he learns to obey it instinctively. He will be elevated. He will be swimming with the group. He will have, at the second degree, entered the stream and will be working forward with the group. After all, this law, interestingly, is connected with the seventh ray, but it’s the seventh ray as it’s connected with the second ray and with the second law; and the second law, of course, suggests the second initiation, where one is swept by the current of the group with which one is cooperating towards a higher state. So, it is through obedience to this law that preparation for initiation is instituted by the disciple. If he is not obedient to this law, then he is not really instituting—self-instituting—preparation for initiation.

Vì vậy nên, khi y thiết lập những nhịp điệu nhất định—các nhịp điệu tham thiền, nhịp điệu phụng sự, nhịp điệu phụng sự nhóm; khi y làm việc hiệu quả theo những tuyến nhóm đã được thừa nhận rộng rãi, được Thánh đoàn phê chuẩn, và, tôi cho là, được chính y và người khác nhận biết; và khi y một cách xác quyết và với tâm thức hiểu biết đang tự chuẩn bị cho những mở rộng của điểm đạo—vì y phải làm điều này bằng sáng kiến của chính mình—khi đó Định luật bắt đầu chi phối y và y học tuân phục nó một cách bản năng. Y sẽ được nâng cao. Y sẽ bơi cùng với nhóm. Ở cấp thứ hai, y sẽ nhập lưu và sẽ tiến bước cùng nhóm. Sau hết, định luật này, thú vị thay, liên hệ với cung bảy, nhưng là cung bảy theo mối liên hệ với cung hai và với định luật thứ hai; và định luật thứ hai, dĩ nhiên, gợi nhắc lần điểm đạo thứ hai, nơi người ta được cuốn đi bởi dòng chảy của nhóm mà mình đang cộng tác, hướng tới một trạng thái cao hơn. Vì vậy, chính qua vâng theo định luật này mà sự chuẩn bị cho điểm đạo được vị đệ tử khởi xướng. Nếu y không vâng theo định luật này, thì y thật ra chưa đang khởi xướng—tự khởi xướng—sự chuẩn bị cho điểm đạo.

Do we understand this importance—the self-initiated necessity of initiation? Do we understand this, he’s saying? Now,

Chúng ta có hiểu tầm quan trọng này—tính tất yếu do chính mình khởi xướng của điểm đạo? Chúng ta có hiểu điều ấy, Ngài đang nói vậy chăng? Giờ thì,

Some of the effects earlier mentioned in the initial discussion of this fifth law can here be enumerated. Let us not forget their esoteric and unseen significance.

Một vài tác động đã nêu trước trong phần bàn mở đầu về Định luật thứ năm này có thể được liệt kê ở đây. Đừng quên ý nghĩa huyền vi và vô hình của chúng.

1. The disciple will then learn effectively to decentralize himself.

1. Vị đệ tử khi ấy sẽ học cách phi tập trung vào bản thân một cách hiệu quả.

We remember this was one of the four words which invoked the Law of Repulse, and it is related to, at first, the personality. We seek our center—seek our true center as the Observer outside the personality. He will learn to decentralize himself, and what does this mean? In effect,

Chúng ta nhớ đây là một trong bốn từ khóa khơi dậy Định luật Đẩy Lùi, và lúc đầu nó liên hệ với phàm ngã. Chúng ta tìm trung tâm thật của mình—tìm vị thế của Người Quan Sát bên ngoài phàm ngã. Y sẽ học cách phi tập trung vào bản thân, và điều đó có nghĩa gì? Thực chất là:

a. He will ask nothing for the separated self,

a. Y sẽ không cầu xin điều gì cho cái ngã biệt lập,

But all things asked will pertain to the fulfillment of the Plan, and with the self in mind only as a useful instrument [of the Plan].

Mà tất cả điều cầu xin đều liên hệ đến sự hoàn thành Thiên Cơ, và chỉ xét đến bản thân như một khí cụ hữu ích [của Thiên Cơ].

One can therefore easily see why aspirants are taught to pledge allegiance to their Higher

Vì vậy người ta dễ thấy vì sao các người chí nguyện được dạy phải thệ nguyện trung thành với Chân

and to all this, “To all this I solemnly pledge myself, invoking my Higher Self.” “I play my part with stern resolve; with earnest aspiration, I look above, I help below,” and so forth.

và với tất cả những điều này, “ Đối với tất cả điều ấy, tôi long trọng thệ nguyện, khẩn cầu Chân ngã của tôi.” “ Tôi đóng phần của tôi với quyết tâm nghiêm nghị; với chí nguyện thiết tha, tôi ngước nhìn lên trên, tôi trợ giúp ở dưới,” vân vân.

One can therefore easily see why aspirants are taught to pledge allegiance

Vì vậy người ta dễ thấy vì sao các người chí nguyện được dạy phải thệ nguyện trung thành

Not to a flag, I guess—but to the Higher Self,

Không phải với một lá cờ, tôi đoán—mà là với Chân ngã,

and to foreswear all claims of this separated self. One can see also why so many react against it. [22_18]

và thề từ bỏ mọi đòi hỏi của cái ngã biệt lập. Người ta cũng thấy vì sao nhiều người phản ứng chống lại điều này.

Can you imagine when the pledge of allegiance, in future esoteric days, will be to the higher self?

Bạn có thể hình dung trong những ngày nội môn tương lai, lời thệ nguyện trung thành sẽ dành cho Chân ngã?

{The pledge of allegiance, in future esoteric days, may be to the higher self.

{Lời thệ nguyện trung thành, trong những ngày nội môn tương lai, có thể là dành cho Chân ngã.

Right now, of course, it’s on a lower turn of the spiral, and it is to the flag which represents the idealism of the people.

Hiện giờ, dĩ nhiên, nó ở vòng xoắn thấp hơn, và dành cho lá cờ đại diện cho chủ nghĩa lý tưởng của dân chúng.

One can see also why so many react against it,

Người ta cũng thấy vì sao rất nhiều người phản ứng chống lại nó,

DK has said that when we react against that mantra “I play my part with stern resolve, with earnest aspiration. I look above, I help below; I dream not, nor I rest; I toil, I serve, I reap, I pray; I mount the cross; I tread the way; I tread upon the work I do; I mount upon my slain self, I kill desire, and I strive, forgetting all reward. ”. Well, now I have to go looking for it, don’t I, to get it right.

Chân sư DK đã nói rằng khi chúng ta phản ứng chống lại mantram “Tôi đóng phần của tôi với quyết tâm nghiêm nghị; với chí nguyện thiết tha, tôi ngước nhìn lên trên, tôi trợ giúp ở dưới; tôi không mộng mơ, cũng không nghỉ ngơi; tôi lao tác, tôi phụng sự, tôi gặt hái, tôi cầu nguyện; tôi bước lên thập giá; tôi dẫm bước trên Con Đường; tôi dẫm lên chính công việc tôi làm; tôi leo lên trên xác ngã đã bị giết của tôi, tôi giết dục vọng, và tôi nỗ lực, quên hết mọi phần thưởng.” Ừ thì, giờ tôi phải đi tìm cho đúng thôi, phải không, để nói cho chính xác.

“I tread upon the work I do; I mount upon my slain self; I forego peace; I forfeit rest; and in the stress of pain I lose myself and find myself, and enter into peace.” And then, added to this in some of these sayings is: “To all this I most solemnly pledge myself, invoking my higher self. I mount upon my slain self.”

“Tôi dẫm lên chính công việc tôi làm; tôi leo lên trên xác ngã đã bị giết của tôi; tôi khước từ bình an; tôi từ bỏ nghỉ ngơi; và trong sức ép của đau khổ tôi đánh mất bản thân rồi tìm lại bản thân, và đi vào bình an.” Và rồi, thêm vào đó trong một số câu nói này là: “Đối với tất cả điều này, tôi hết sức long trọng thệ nguyện, khẩn cầu Chân ngã của tôi. Tôi leo lên trên xác ngã đã bị giết của tôi.”

When you forget a line of something you think you’ve memorized, pay attention to the line, because there may be psychological resistance within which prevents one from remembering it so quickly. This is the technique of associated word association.

Khi bạn quên một câu trong điều mình tưởng đã thuộc, hãy chú ý đến câu đó, vì có thể có một kháng cự tâm lý bên trong ngăn cản ta nhanh chóng nhớ lại nó. Đây là kỹ thuật liên tưởng từ.

I’m remembering this movie about Carl Jung, and he had five children with his wife. He was having some difficulties in his marriage, but she was adamant that she would not divorce him. It was so interesting. He was giving her a word association test, and there would be the word and she would speak. And then he spoke the word “divorce”—long hesitation on her part—and she said, after a while, “No.” So, obviously there was all kinds of inner psychological turmoil that dealt with her inability to speak a response.

Tôi nhớ một bộ phim về Carl Jung, ông có năm đứa con với vợ. Ông gặp vài khó khăn trong hôn nhân, nhưng bà vợ quả quyết rằng bà sẽ không ly hôn. Thật thú vị. Ông cho bà làm một bài kiểm tra liên tưởng từ, ông đọc từ và bà đáp. Rồi ông nói từ “ly hôn”—bà do dự rất lâu—và sau một lúc bà nói: “Không.” Rõ ràng là có cả một cơn xáo động tâm lý nội tại liên hệ đến việc bà không thể thốt ra một đáp từ.

One can therefore easily see why aspirants are taught to pledge allegiance to their Higher Self and forswear all claims of their separated self.

Vì vậy người ta dễ thấy vì sao các người chí nguyện được dạy phải thệ nguyện trung thành với Chân ngã và thề từ bỏ mọi đòi hỏi của cái ngã biệt lập.

The self is merely an instrument, and if we can view the self as an instrument, and not as our self at all—the lower self—then we have the right attitude toward it, and we can equip the instrument as is needed to carry out the task of ourselves, who are now identified as the soul. So, one can see why so many react against it—against the pledge of allegiance to the higher self. And I think—no, DK was just speaking of, in this Laws of the Soul, he was speaking of this particular mantra, “I play my part with stern resolve,” and so forth—very sixth ray mantra. He was just speaking of that. And he was saying: yes, if you resist this, then ask yourself why, and maybe it will tell you where you stand. I remember how eager I was to say this when I first joined the Arcane School, because they brought this in right at the very beginning, and I said, “Oh, this is wonderful,” and I learned it and I repeated it with full sixth ray fervor—only to realize how very—as time went on—how very hard it was really to live what could be so zealously spoken. Sadder but wiser.

Cái ngã chỉ là một khí cụ, và nếu chúng ta có thể xem cái ngã như khí cụ, chứ không phải là chính mình—cái ngã thấp—thì ta có thái độ đúng đắn đối với nó, và có thể trang bị khí cụ như cần để hoàn tất phận sự của chính chúng ta, là những người nay đã đồng hoá với linh hồn. Vì vậy, người ta thấy vì sao nhiều người phản ứng chống lại điều đó—chống lại lời thệ nguyện trung thành với Chân ngã. Và tôi nghĩ—không, Chân sư DK chỉ nói riêng trong bộ Định luật của Linh hồn này, Ngài đang nói về mantram đặc thù ấy, “Tôi đóng phần của tôi với quyết tâm nghiêm nghị,” và v.v.—một mantram rất cung sáu. Ngài chỉ nói về điều đó. Và Ngài nói: đúng vậy, nếu bạn kháng cự, hãy hỏi tại sao, và có lẽ nó sẽ cho bạn biết bạn đang ở đâu. Tôi nhớ mình đã háo hức biết bao để đọc mantram này khi tôi mới vào Trường Arcane, vì họ đưa nó ngay từ đầu, và tôi nói, “Ôi, thật tuyệt,” và tôi đã học và đọc nó với đầy nhiệt huyết cung sáu—để rồi nhận ra, theo thời gian, rằng sống được điều có thể hăng say tuyên đọc ấy khó đến mức nào. Buồn hơn nhưng khôn ngoan hơn.

They are not ready for it, and such a pledge therefore acts as a great discriminating agent.

Họ chưa sẵn sàng cho điều đó, và như vậy một lời thệ như thế tác động như một tác nhân phân biện vĩ đại.

When people say, “I won’t pledge; I won’t give an oath”—and oaths are required at initiation; it’s part of every initiation—so I’ve met people—my friends and so forth—who just are right up against it: “No, I won’t, I won’t give an oath to that; I won’t do that.” Well, has that been acting as a great discriminating agent, keeping them out of the next field of contact and of service they might otherwise have entered?

Khi người ta nói, “Tôi sẽ không thề; tôi sẽ không tuyên thệ”—mà thệ ước là điều được yêu cầu trong điểm đạo; nó là phần của mọi lần điểm đạo—tôi đã gặp những người—bạn bè và v.v.—họ phản ứng rất mạnh: “Không, tôi không, tôi sẽ không tuyên thệ điều đó; tôi sẽ không làm vậy.” Ừ thì, điều đó có đang hành xử như một tác nhân phân biện vĩ đại, ngăn họ bước vào lĩnh vực tiếp xúc và phụng sự tiếp theo mà lẽ ra họ có thể bước vào?

To those for whom the standard of selflessness is set too high, it is neither understood nor desired. [22_19]

Đối với những người mà tiêu chuẩn vô ngã được đặt quá cao, thì tiêu chuẩn đó vừa không được hiểu vừa không được khao khát.

A standard of non-egoity in the usual sense—the lower ego.

Một tiêu chuẩn không-ngã theo nghĩa thông thường—hạ ngã.

Therefore, the unready criticize it. Later they will come back and with understanding, take this obligation—the allegiance to the Self—in the light.

Vì thế, kẻ chưa sẵn sàng sẽ phê phán nó. Về sau, họ sẽ quay trở lại và với sự hiểu biết, tiếp nhận nghĩa vụ này —tức lời thệ trung thành với Chân ngã— trong ánh sáng.

Failure is always later, and I’m sure that many of us, coming back and, at this time, able to pledge allegiance to the Higher Self, have repudiated it in the past.

Thất bại luôn ở quá khứ, và tôi chắc rằng nhiều người trong chúng ta, nay quay lại và ở thời điểm này có thể thệ nguyện trung thành với Chân ngã, đã từng chối bỏ điều đó trong quá khứ.

So, we cannot somehow compliment ourselves on our high state, because it was probably won through previous failure. So, where are we here? This was, a. The disciple must learn to effectively decentralize himself, so he will ask nothing for the separated self; and this also means that

Vì vậy, chúng ta không thể tự tán dương về trạng thái cao của mình, vì nó có lẽ được giành được qua thất bại trước đây. Vì vậy ta đang ở đâu? Đây là mục a. Vị đệ tử phải học cách phi tập trung vào bản thân một cách hiệu quả, để y sẽ không cầu xin gì cho cái ngã biệt lập; và điều này cũng có nghĩa là

b. His eyes are towards the light and not towards desire for contact with the Master. [22_20]

b. Mắt y hướng về ánh sáng chứ không hướng về ước muốn được tiếp xúc với Chân sư.

For its own sake and for the comfort it might bring.

Vì tự thân điều đó và vì sự an ủi nó có thể mang lại.

This, therefore, rules out that spiritual selfishness which has been expressed [178] by the desire, innate and deep, for recognition by one of the Great Ones. [22_21]

Điều này, do đó, loại trừ tính vị kỷ tinh thần vốn được bộc lộ [178] bằng ước muốn, bẩm sinh và sâu đậm, được một trong các Đấng Cao Cả ghi nhận.

This is how it is at first; and, as I said, I have friends of friends who are on first-name basis with Sanat Kumara. You know, he’s not “Sanat Kumara,” he’s “Hi, Sanat.”

Ban đầu là như vậy; và như tôi đã nói, tôi có những người bạn của bạn là những người xưng hô thân mật với Ngài Sanat Kumara. Bạn biết đấy, không phải “Ngài Sanat Kumara” mà là “Chào, Sanat.”

Well—come back later with greater realization, having emerged from the field of glamour. So, this therefore works out as—that spiritual selfishness rules out that spiritual selfishness—which has been expressed by the desire, innate and deep, for recognition by the Great Ones. So interesting, Alice Bailey didn’t have that at all. Basically, when DK first contacted her, she says, “I’m no darn psychic.” She immediately distrusted the contact and it had to be proven to her; so she was certainly one of the sadder but wiser, discriminating ones.

Vì vậy—hãy trở lại sau, với thực chứng lớn hơn, đã thoát khỏi cánh đồng ảo cảm. Vì thế, điều này loại trừ tính vị kỷ tinh thần— vốn bộc lộ qua ước muốn, bẩm sinh và sâu đậm, được các Đấng Cao Cả ghi nhận. Thật thú vị là, Bà Alice Bailey hoàn toàn không có điều này. Về cơ bản, khi Chân sư DK lần đầu tiếp xúc với Bà, Bà nói, “Tôi chẳng phải đồng cốt nào cả.” Bà lập tức hoài nghi về tiếp xúc ấy và nó phải được chứng minh cho Bà; nên Bà hẳn là một trong những người buồn hơn nhưng khôn ngoan hơn, biết phân biện.

When this freedom from the personal is found, then the Master can dare to make a contact and to establish a relation with the disciple. It would be well for us to ponder on this. [22_22]

Khi sự tự do khỏi tính cá nhân này được tìm thấy, khi ấy Chân sư mới có thể dám thiết lập một tiếp xúc và kiến lập một mối liên hệ với vị đệ tử;

Otherwise the glamour would be only increased

Nếu không, ảo cảm chỉ càng bị khuếch đại

{otherwise the glamour, the existent personal glamour, would only be increased.

{nếu không thì ảo cảm, tức ảo cảm cá nhân vốn có, sẽ chỉ càng tăng.

So, the Master has to be very careful about contact and approach, lest the person’s lower ego is flattered and inflated; and he would do more harm than good if he approached too early. Just think about the Christ when he thinks about “when shall I approach?” Humanity has to be in a certain effective condition before he can approach; otherwise he would just worsen the condition. I’m remembering—is it Master Hilarion in The Light of the Soul—saying that, if you’re climbing the ladder and it’s really an electric ladder and your feet are not clean, then your feet will be frozen in mud on the rungs of the ladder. The electricity will cake the mud that’s still on your feet—symbolizing impurity—and so, don’t put the miry foot on the ladder to heaven. Hence all of the cleaning up that we have to do in the beginning. We don’t think we have to do it because it’s simply intellectual exercise—“let’s get on with it.” But maybe not; and it’s better to follow the advice of those who have gone before than to lose a great deal of time by the pride which refuses to follow that advice. Now number two.

Do đó, Chân sư phải hết sức thận trọng về tiếp xúc và tiếp cận, kẻo phàm ngã thấp của người ấy được tâng bốc và phồng lên; và như thế, nếu tiếp cận quá sớm, Ngài sẽ gây hại nhiều hơn lợi. Hãy nghĩ đến Đức Christ khi Ngài cân nhắc “khi nào ta nên xuất hiện?” Nhân loại phải đạt một tình trạng nhất định đủ hiệu quả trước khi Ngài có thể xuất hiện; nếu không, Ngài sẽ chỉ làm tình hình xấu đi. Tôi nhớ—có phải Chân sư Hilarion trong Cuốn Ánh sáng của Linh hồn —nói rằng, nếu bạn leo lên chiếc thang mà nó thật sự là chiếc thang điện và bàn chân bạn không sạch, thì chân bạn sẽ bị đông cứng trong bùn ngay trên bậc thang. Điện sẽ làm bùn—tượng trưng cho sự ô uế—đóng tảng lại, và vì vậy, đừng đặt bàn chân lấm bùn lên chiếc thang lên trời. Do đó, tất cả những dọn dẹp mà chúng ta phải làm lúc ban đầu. Chúng ta không nghĩ mình phải làm vì tưởng rằng đó chỉ là một bài tập trí năng—“hãy tiến lên thôi.” Nhưng có lẽ không; và tốt hơn là hãy theo lời khuyên của những người đi trước, hơn là mất rất nhiều thời gian vì lòng kiêu mạn từ chối theo lời khuyên ấy. Giờ đến số hai.

And, let’s review, what was number one, and what’s it all about here? Here some of the effects mentioned earlier in the initial discussion of this fifth law can here be enumerated—effects of either preparing for it or being involved in this fifth law.

Và, hãy điểm lại, số một là gì, và toàn bộ vấn đề ở đây là gì? Ở đây, một vài tác động đã được nêu trước trong phần bàn mở đầu về định luật thứ năm này có thể được liệt kê—các tác động của việc chuẩn bị cho nó hoặc tham dự vào định luật thứ năm này.

2. He will have learned to serve instinctively.

2. Y sẽ học được cách phụng sự như một bản năng.

We remember that intuition is an instinct of the soul—that’s one of the ways he describes it—an instinct of the soul, a soul instinct. There are different ways of describing; but remember, the soul can be a higher thing than that which is simply found upon the higher mental plane.

Chúng ta nhớ rằng trực giác là một bản năng của linh hồn—đó là một cách mô tả—một bản năng của linh hồn. Có nhiều cách mô tả; nhưng hãy nhớ, linh hồn có thể là một cái gì đó cao hơn thứ chỉ đơn thuần cư ngụ trên cõi thượng trí.

He may, and usually does, need to learn to discriminate in his service;

Y có thể, và thường là, cần học phân biện trong phụng sự của mình;

So we’ll say here, “What really is my true service?”—

Vì vậy ta sẽ nói ở đây, “Phụng sự chân chính của tôi là gì?”—

but his attitude to life and towards all men is a divine rushing forth to aid, to lift, to love, and to succor. [22_23]

nhưng thái độ của y đối với cuộc sống và đối với tất cả mọi người là một sự trào dâng thiêng liêng để cứu trợ, nâng đỡ, yêu thương và cứu giúp.

That’s a tall order, isn’t it? And we have to test ourselves against this requirement.

Quả là một tiêu chuẩn lớn, phải không? Và chúng ta phải tự kiểm điểm mình theo yêu cầu này.

This attitude to life and towards all men is a divine

Thái độ này đối với cuộc sống và đối với mọi người là một trạng thái thiêng liêng

“Divine,” it is already having to do with the higher levels of the triad—

“Thiêng liêng,” tức đã liên hệ đến các tầng cao của Tam nguyên tinh thần—

a divine rushing forth to aid, to lift, to love, and to succor.

một sự trào dâng thiêng liêng để cứu trợ, nâng đỡ, yêu thương và cứu giúp.

And what one is reminded here—minded of the Hierarchy as being a great vortex of activity, not the peaceful. Well, I want to call it archetypal peacefulness—of Shamballa. He did distinguish between the activity of Hierarchy and the—well, I don’t know, is it fixity?—archetypal fixed purposefulness of Shamballa, the archetypal realm. I pause on this one and I ask: “Divine rushing forth to aid, to lift, to love, and to succor”—this is so Christlike, isn’t it? So Christlike—and what a test for all of us. Every once in a while, DK says, the Master no longer drops that hint in your consciousness, per se—at least not in normal circumstances. Now you read the mass of material to which you may be exposed, and the hint will pop out at you, that which is for you will rise off the page, and you will grasp your own hint from the mass of material that you are reading or studying. This, for me, is a hint.

Điều này gợi cho ta nhớ—nhớ đến Thánh đoàn như một xoáy lốc hoạt động vĩ đại, không phải là sự an tĩnh—tôi muốn gọi là sự an tĩnh nguyên mẫu—của Shamballa. Ngài có phân biệt giữa hoạt động của Thánh đoàn và—tôi không biết, phải gọi là tính cố định chăng?—mục đích cố định mang tính nguyên mẫu của Shamballa, cõi giới nguyên mẫu. Tôi dừng lại ở điều này và tự hỏi: “ Sự trào dâng thiêng liêng để cứu trợ, nâng đỡ, yêu thương và cứu giúp ”—thật đậm phẩm tính Christ, phải không? Quá đỗi Christ—và là một phép thử cho tất cả chúng ta. Đôi khi, Chân sư DK nói, Chân sư không còn thả gợi ý vào tâm thức bạn nữa—ít nhất là không theo hoàn cảnh thông thường. Nay bạn đọc một khối lượng tài liệu mà bạn có thể được tiếp xúc, và gợi ý sẽ bật ra cho bạn, điều dành cho bạn sẽ nổi bật khỏi trang giấy, và bạn sẽ nắm bắt gợi ý riêng của mình từ khối tài liệu bạn đang đọc hay nghiên cứu. Điều này, với tôi, là một gợi ý.

Then the third factor here:

Rồi đến yếu tố thứ ba ở đây:

3. He will have learnt to use the mind in two directions, increasingly and at will, and instantaneously:

3. Y sẽ học cách dùng thể trí theo hai chiều, ngày càng thành thục, theo ý muốn, và một cách tức thời:

This reminds of the dual use of the mind in Scorpio, but also relating to Janus, the two-faced god. In this particular case, being two-faced is not a bad thing; it’s looking above and looking below and helping below at the same time. Sometimes we say, “Oh, well, Gemini people are two-faced,” but that’s a lower turn of the spiral: they are able to look in both directions simultaneously. So, what we’re looking at here is the effects earlier mentioned—that’s what we’re talking about. They were earlier mentioned in this section, under law number five—up here. I’m not going to go back there; such a thing is just trying to be too sure. So, we can cast the searchlight of the mind into the world of the soul—certainly once that mind has been focused on the level of discrimination on the fourth subplane—and know and recognize those truths which must, for him, become his experience-knowledge. So that’s one use of the mind—learn to use the mind in two directions.

Điều này gợi về việc dùng đôi thể trí trong Hổ Cáp, nhưng cũng liên hệ với Janus, vị thần hai mặt. Trong trường hợp đặc thù này, “hai mặt” không phải là điều xấu; đó là vừa nhìn lên vừa nhìn xuống và đồng thời trợ giúp phía dưới. Đôi khi chúng ta nói, “Chúng ta hãy chỉ nói rằng, người Song Tử là hai mặt,” nhưng đó là một vòng xoắn thấp hơn của đường xoắn ốc: họ có thể nhìn đồng thời theo cả hai hướng. Vì vậy, điều chúng ta đang xét ở đây là những tác động đã nêu trước—đó là điều chúng ta đang bàn. Chúng đã được nêu trước trong phần này, dưới định luật số năm—phía trên. Tôi sẽ không quay lại đó; làm vậy chỉ là muốn quá chắc chắn. Như thế, chúng ta có thể chiếu rọi tia sáng của thể trí vào thế giới của linh hồn—chắc chắn là khi thể trí đã được tập trung trên cấp độ phân biện ở cõi phụ thứ tư—và biết cũng như nhận ra những chân lý vốn, đối với y, phải trở thành tri thức-kinh nghiệm của y. Đó là một cách dùng thể trí—học dùng thể trí theo hai chiều.

And then what else can he do?

Và rồi y còn có thể làm gì nữa?

a. He can cast the search-light of the mind into the world of the soul, and know and recognize those truths which must, for him, become his experienced knowledge. [22_25]

a. Y có thể chiếu rọi tia sáng của thể trí vào thế giới của linh hồn, và biết và nhận ra những chân lý vốn, đối với y, phải trở thành tri thức-kinh nghiệm của y.

He can also cast it out into the world of illusion, and dispel the glamours of the personal. This is very much the Scorpio ability to look down and also then to look upward towards the Buddhic plane; because remember that we’re dealing with Mercury, and Mercury has its highest position in Scorpio—a good position in Gemini, but its highest position in Scorpio.

Y cũng có thể chiếu nó ra vào thế giới của ảo tưởng, và làm tiêu tan các ảo cảm của phàm ngã. Điều này rất đúng với khả năng Hổ Cáp nhìn xuống và rồi nhìn lên hướng tới cõi Bồ đề; vì hãy nhớ rằng chúng ta đang đề cập đến Sao Thủy, và Sao Thủy có vị trí cao nhất của nó ở Hổ Cáp—một vị trí tốt ở Song Tử, nhưng cao nhất ở Hổ Cáp.

And when he can do that, then he begins to dispel the world glamours, for he is nearing initiation [22_26]

Và khi y có thể làm vậy, y bắt đầu làm tiêu tan các ảo cảm của thế giới, vì y đang gần cuộc điểm đạo.

not just his own personal glamours, because he’s dealing with the Plan. He’s in that part of the ACLRI process where the Plan is or are revealed to him. These are some things that can happen with these effects that relate to the Law number five—some of the effects in the initial discussion of this fifth law can here be enumerated: decentralization—nothing for the separated self; his eyes are towards the light, not towards the Master; he’s learning to serve instinctively; he can use his mind in two directions—above into the realm of the higher mind, where the truths which he must make his experience-knowledge will appear to him—and also out into the world of illusion. Sometimes it does help, doesn’t it, to recap so we can see and understand what has gone before and see it all at once.

không chỉ các ảo cảm cá nhân của riêng y, bởi vì y đang đề cập đến Thiên Cơ. Y đang ở đoạn của quy trình ACLRI nơi Thiên Cơ được mặc khải cho y. Đây là vài điều có thể xảy ra với các tác động này vốn liên hệ với Định luật số năm—một số tác động trong phần bàn luận ban đầu về định luật thứ năm này có thể được liệt kê ở đây: phi tập trung vào bản thân—không gì dành cho cái ngã tách biệt; mắt y hướng về ánh sáng, không hướng về Chân sư; y đang học phụng sự một cách bản năng; y có thể dùng thể trí theo hai chiều—hướng thượng vào cõi của thượng trí, nơi những chân lý mà y phải biến thành tri thức-kinh nghiệm sẽ hiện ra với y—và cũng hướng ngoại vào thế giới của ảo tưởng. Đôi khi việc tóm lược cũng hữu ích, để chúng ta có thể thấy và thấu hiểu những gì đã trình bày và nhìn thấy tất cả cùng lúc.

So, here we have something called “the links of the world groups.” This is all under the Law Of Group Progress.

Vì vậy, ở đây chúng ta có điều gọi là “những mối liên kết của các nhóm thế gian.” Tất cả điều này nằm dưới Định luật Tiến bộ của Nhóm.

It would be possible to go on listing the various developments which indicate to the onlooking Hierarchy that a disciple, or a group of disciples, are now ready for “more light.” [22_27]

Có thể tiếp tục liệt kê những triển khai khác nhau vốn cho thấy với Thánh Đoàn đang quan sát rằng một đệ tử, hoặc một nhóm đệ tử, nay đã sẵn sàng cho “nhiều ánh sáng hơn.”

We cannot just say “more light, more light,” because it can totally disorganize the mind, the instrument. Light has to be assimilated, and that which is seen in the light has to be applied. So, you can’t give all, and you can’t give it all at once, and you have to be very careful about what you say and how you say it—thinking that it has to be received in the right manner.

Chúng ta không thể chỉ nói “nhiều ánh sáng hơn, nhiều ánh sáng hơn,” bởi vì nó có thể làm rối loạn thể trí, khí cụ. Ánh sáng phải được đồng hoá, và điều gì được thấy trong ánh sáng phải được áp dụng. Do đó, không thể ban phát tất cả, và cũng không thể ban phát tất cả ngay lập tức, và phải hết sức cẩn trọng về điều mình nói và cách nói—vì nghĩ rằng nó cần được tiếp nhận theo đúng cách.

The major indication is, however, their reaction to the Law Of Group Progress.

Tuy nhiên, chỉ báo chủ yếu là phản ứng của họ đối với Định luật Tiến bộ của Nhóm.

Basically DK has been listing the qualities—has been listing the qualities in the disciple—which indicate that he is ready for more light. Every initiation adds more light, and it is the great quest for light that is characterizing life on this particular planet. But the major indication is their reaction to the Law Of Group Progress, and that will tell whether he is ready for more light.

Về cơ bản Chân sư DK đã liệt kê các phẩm tính—đã liệt kê các phẩm tính nơi người đệ tử—vốn cho thấy rằng y đã sẵn sàng cho nhiều ánh sáng hơn. Mỗi lần điểm đạo đều gia tăng ánh sáng, và đó là cuộc tầm cầu ánh sáng vĩ đại đang đặc trưng cho sự sống trên hành tinh đặc thù này. Nhưng chỉ báo chủ yếu là phản ứng của họ đối với Định luật Tiến bộ của Nhóm, và điều đó sẽ cho biết y có sẵn sàng cho nhiều ánh sáng hơn hay không.

So, this seems to be the most important indicator of the readiness for more light.

Vì vậy, có vẻ đây là chỉ báo quan trọng nhất của mức độ sẵn sàng cho nhiều ánh sáng hơn.

It is this law which is the coming, a new law to be sensed by the world disciples.

Chính định luật này vốn đang đến, một định luật mới sẽ được các đệ tử thế gian cảm nhận.

It doesn’t only mean by those of the third degree; it also means disciples in the world. We have to be very careful—sometimes this “world disciple” means technically the disciple of the third degree; sometimes it means “world disciples”—it means those who are disciples and are working in the world. So,

Điều đó không chỉ hàm ý các vị đã đạt bậc ba; nó cũng hàm ý các đệ tử trong thế gian. Chúng ta phải rất cẩn trọng—đôi khi “đệ tử thế gian” mang ý nghĩa kỹ thuật là đệ tử của lần điểm đạo thứ ba; đôi khi nó có nghĩa “các đệ tử của thế gian”—tức là những người là đệ tử và đang làm việc trong thế gian. Vì vậy,

It is this law which is the coming, a new law to be sensed by the world disciples, and which is already becoming more effective in its potency, even though it will not be realized by humanity—by humanity, not just the disciples—for a long while yet. [22_28]

Chính là định luật này vốn đang đến, một định luật mới sẽ được các đệ tử thế gian, và định luật này đang đang ngày càng hữu hiệu hơn trong năng lực của nó, dẫu rằng nó sẽ không được nhân loạ i—do nhân loại, không chỉ các đệ tử— trong một thời gian dài nữa.

So, we might say: humanity must pass through the Saturn decanate of Aquarius, with all its testing and discipline; and then the readiness is more likely to demonstrate. Pass through the Saturn decanate of Aquarius.

Vì vậy, chúng ta có thể nói: nhân loại phải đi qua thập độ Sao Thổ của Bảo Bình, với tất cả những thử thách và kỷ luật của nó; và rồi sự sẵn sàng mới có nhiều khả năng được biểu lộ. Hãy đi qua thập độ Sao Thổ của Bảo Bình.

It will bring into activity the work of the world groups

Nó sẽ đưa vào hoạt động công việc của các nhóm thế gian

Which are forming; but many of them are selfish now—though increasingly we do see the selfless groups.

Vốn đang hình thành; nhưng nhiều nhóm trong số đó hiện nay còn ích kỷ—dù ngày càng chúng ta thấy các nhóm vị tha.

In the past, groups have been formed for mutual benefit, for mutual interest and study, for mutual strengthening

Trong quá khứ, các nhóm được hình thành để tương hỗ lợi ích, tương hỗ quan tâm và học hỏi, để tương hỗ củng cố

Let’s just say “especially for the individuals within the groups.”

Chúng ta hãy chỉ nói rằng “đặc biệt là cho các cá nhân trong nội bộ nhóm.”

This has been their glory and also their curse; for great and good though their motives have been, yet these groups have been basically and primarily selfish;

Đó vừa là vinh quang vừa là lời nguyền của họ; vì dù động cơ của họ lớn lao và tốt đẹp đến đâu, thì những nhóm này về căn bản và chủ yếu vẫn ích kỷ;

And some of them are outstandingly selfish. Aquarius can be an extremely selfish sign—it’s amazing what can be called together under Aquarius. The whole Nazi Party received its confirmation in Germany—the Third—under Aquarius, of all things. So,

Và một số nhóm thì ích kỷ một cách nổi bật. Bảo Bình có thể là một dấu hiệu cực kỳ ích kỷ—thật kinh ngạc những gì có thể được triệu tập dưới Bảo Bình. Toàn bộ Đảng Quốc Xã nhận sự xác quyết của nó ở Đức—Đệ Tam—dưới Bảo Bình, trong muôn điều. Vì vậy,

yet these groups have been basically and primarily selfish—with a form of spiritual selfishness most difficult to overcome.

thế nên các nhóm này về căn bản và chủ yếu vẫn ích kỷ—với một hình thức ích kỷ tinh thần khó vượt thắng nhất.

He knows wherever he speaks—he’s seen this in disciples over the many years—and calling for the expression of true discrimination to which I have earlier referred. [22_29] I suppose the discrimination between spiritual ambition and true selfless service. Such groups have been—have ever been—what does he say? The occult groups—the most glamoured of all groups. So, we ought to pause on that one.

Ngài biết ở bất cứ nơi nào Ngài cất lời—Ngài đã thấy điều này nơi các đệ tử qua nhiều năm—và kêu gọi biểu lộ sự phân biện chân thực mà tôi đã đề cập trước. Tôi cho rằng sự phân biện giữa tham vọng tinh thần và phụng sự vô ngã chân thực. Những nhóm như thế—từ xưa đến nay—là gì? Ngài nói rằng các nhóm huyền bí—là những nhóm bị ảo cảm phủ bóng nhiều nhất. Do đó, chúng ta nên dừng lại ở điểm này.

Such groups have ever been battlegrounds wherein the least able and the least integrated have been absorbed and standardized or regimented, and the most powerful have dominated eventually, and the indefinite ones have been eliminated and rendered totally quiescent. [22_30]

Những nhóm như thế xưa nay vốn là bãi chiến trường, nơi những kẻ kém khả năng và kém tích hợp bị thu nạp và bị chuẩn hoá hay bị khuôn phép hoá, còn những kẻ quyền lực nhất rốt cuộc đã thống trị, và những kẻ mơ hồ thì bị loại trừ và bị làm cho hoàn toàn im bặt.

This has been the story of many groups heretofore, and it has not been real group consciousness or group progress. There has been an artificial hierarchy based on personal power, and a reflection—or a reflection—of totalitarianism, really; where there’s a top-down type of imposition of that which the strongest think upon the less integrated and weaker, less certain members.

Đó là câu chuyện của nhiều nhóm trước đây, và đó chưa phải là tâm thức nhóm thực sự hay tiến bộ nhóm. Đã có một “thánh đoàn” giả tạo dựa trên quyền lực cá nhân, và một phản chiếu—đúng hơn là phản chiếu—của chủ nghĩa toàn trị; nơi có kiểu áp đặt từ trên xuống của điều mà những kẻ mạnh nhất nghĩ lên những thành viên kém tích hợp, yếu hơn, ít chắc chắn hơn.

The successful group in the Piscean past has eventually turned out to be one composed of kindred souls who are all thinking alike.

Nhóm được xem là thành công trong quá khứ thuộc Song Ngư rốt cuộc đã hoá ra là nhóm gồm những linh hồn đồng điệu đều suy nghĩ giống nhau.

Think about Lincoln’s cabinet: I think he deliberately took aboard many of his former opponents, so he would have opposite points of view to deal with; but I think many Presidents have selected cabinets of those who think like themselves, to eliminate friction with their own ideas. So,

Hãy nghĩ về nội các của Lincoln: tôi cho rằng Ông cố ý mời nhiều đối thủ cũ tham gia, để Ông có những quan điểm đối nghịch mà xử lý; nhưng tôi nghĩ nhiều Tổng thống đã chọn các nội các gồm những người nghĩ giống mình, để loại bớt ma sát với các ý tưởng của chính họ. Vì vậy,

composed of kindred souls who are all thinking alike—because no one thinks with intuition

gồm những linh hồn đồng điệu đều suy nghĩ giống nhau—bởi vì không ai tư duy bằng trực giác

“With intuition,” which would reveal the truth;

“Bằng trực giác,” điều vốn sẽ hiển lộ chân lý;

but who are governed by some school of thought, or because some central figure in the group dominates all the rest, hypnotizing them into an instinctual, quiescent, static condition. [22_31]

mà bị chi phối bởi một học phái nào đó, hoặc vì một nhân vật trung tâm trong nhóm thống trị tất cả những người còn lại, thôi miên họ vào một trạng thái bản năng, yên lặng, tĩnh tại.

So, warning to all of us who are in the position of apparently leading groups: if we have a central position in any of that type of group work, we had best be careful. It is the age of Aquarius–Leo, or the Aquarius–Aquarius–Leo; and there will be these central figures—as Alice Bailey, a Leo rising person, was; and as HPB was; and so forth; and as Helena Roerich was. These are central figures, but one must be careful of group totalitarianism—forcing all to think as the most powerful think. So,

Vì vậy, lời cảnh báo cho tất cả chúng ta—những người đang ở vị trí dường như dẫn dắt các nhóm: nếu chúng ta có vị trí trung tâm trong bất kỳ dạng công việc nhóm nào như thế, tốt nhất là nên cẩn trọng. Đây là thời kỳ của Bảo Bình–Sư Tử, hoặc Bảo Bình–Bảo Bình–Sư Tử; và sẽ có những nhân vật trung tâm—như Bà Alice Bailey, người có Sư Tử mọc; và như Bà HPB; v.v.; và như Bà Helena Roerich. Họ là những nhân vật trung tâm, nhưng người ta phải cẩn thận với chủ nghĩa toàn trị nhóm—ép buộc tất cả phải nghĩ như kẻ quyền lực nhất nghĩ. Vì vậy,

This may be to the glory of the teacher and of the group, but it certainly is not to the glory of God. [22_32]

Điều này có thể là vinh quang cho vị huấn sư và cho nhóm, nhưng chắc chắn không phải là vinh quang cho Thượng đế.

All right, we have some very interesting thoughts there. Again, the contrasts are offered and the negative is shown to set up a better appreciation of the positive. I think this will be the end of Laws of the Soul Webinar Commentaries number 22, and we will be beginning with Laws of the Soul Webinar Commentaries number 23, EP2, page 179.

Được rồi, ở đây chúng ta có vài tư tưởng rất thú vị. Một lần nữa, các đối nghịch được nêu ra và mặt tiêu cực được cho thấy để tạo nên một sự đánh giá đúng hơn về mặt tích cực. Tôi nghĩ đây sẽ là phần kết của Hội thảo trực tuyến bình luận về Các Định luật của Linh hồn số 22, và chúng ta sẽ bắt đầu với Hội thảo trực tuyến bình luận về Các Định luật của Linh hồn số 23, EP2, trang 179.

Friends, I think I had high hopes of going on tonight into the wee hours and finishing the Law Of Group Progress, but I’m not sure that that is going to happen. Sometimes one has to be alert in order to make these programs. Let us see, let us see.

Các bạn, tôi nghĩ tôi đã hy vọng cao là tiếp tục tối nay tới tận khuya và hoàn tất Định luật Tiến bộ của Nhóm, nhưng tôi không chắc điều đó sẽ xảy ra. Đôi khi người ta phải tỉnh táo thì mới thực hiện được những chương trình này. Hãy xem, hãy xem.

So, we will see you either shortly or tomorrow, continuing with the Law Of Group Progress—so very important along the Aquarian Age, leading, I think, even to a greater importance in the Age of Capricorn which rules this law specifically. That really will be the Age of Initiation. So, see you shortly—or not. Bye-bye.

Vì vậy, chúng ta sẽ gặp lại các bạn hoặc sớm thôi hoặc vào ngày mai, tiếp tục với Định luật Tiến bộ của Nhóm—rất quan trọng trong suốt Kỷ nguyên Bảo Bình, và tôi nghĩ, thậm chí dẫn tới tầm quan trọng lớn hơn nữa trong Kỷ nguyên Ma Kết, vốn cai quản định luật này một cách chuyên biệt. Đó thật sự sẽ là Kỷ nguyên Điểm đạo. Vì vậy, hẹn sớm gặp lại—hoặc không. Tạm biệt.

Scroll to Top