Commentary on Rule XIII for Applicants
|
(Note that these comments concern material which is found in the more advanced Rule XIII in R&I) |
Lưu ý rằng những bình giảng này liên quan đến tài liệu được tìm thấy trong Quy Luật XIII cao cấp hơn trong cuốn Cung và Điểm Đạo) |
|
1. As we can see below, the Tibetan says nothing really about Rule XIII for Applicants. He handles the subject in various ways in His explanation of Rule XIII for Disciples and Initiates. |
1. Như chúng ta có thể thấy dưới đây, Chân Sư Tây Tạng không thực sự nói điều gì về Quy Luật XIII dành cho các Ứng viên điểm đạo. Ngài nói về chủ đề này theo nhiều cách khác nhau trong phần giảng giải của Ngài về Quy Luật XIII dành cho các Đệ Tử và các Điểm Đạo Đồ. |
|
Rule 13. |
Quy Luật 13. |
|
Four things the disciple must learn and comprehend before he can be shewn that inmost mystery: first, the laws of that which radiates; the five meanings of magnetisation make the second; the third is transmutation, or the secret lost of alchemy; and lastly the first letter of the Word which has been imparted, or the hidden name egoic. |
Có bốn điều người đệ tử phải học và hiểu trước khi y có thể được cho thấy bí nhiệm sâu kín nhất: thứ nhất, các định luật về những gì phát quang; hai là năm ý nghĩa của sự từ hóa; ba là sự chuyển đổi hay là bí nhiệm thất truyền của thuật giả kim; và sau hết là chữ đầu tiên của Linh từ đã được truyền thụ, hay là danh xưng ẩn giấu của Chân nhân. |
|
This rule cannot be enlarged upon. It concerns mysteries and subjects too immense to be fully handled here. It is included in these rules so that it may form a subject for meditation, for study, and for group discussion. (IHS 207-208) |
Quy luật này không thể mở rộng ra. Nó liên quan đến các bí nhiệm và chủ đề quá rộng lớn để có thể bình giải đầy đủ ở đây. Nó nằm trong những quy luật này đặng nó có thể hình thành một chủ đề để tham thiền, nghiên cứu, và thảo luận nhóm. |
|
2. We will therefore go to that more advanced Rule to learn something about what is meant by Rule XIII for Applicants. |
2. Vì vậy chúng ta sẽ đi đến Quy Luật cao cấp hơn để học một chút gì đó về ý nghĩa của Quy Luật XIII dành cho các Ứng viên điểm đạo. |
|
[Page 248] |
|
|
In this earlier rule, the disciple is told that before he can advance to the mysteries which will be revealed to him sequentially as he advances along the Path of Initiation, there are four things which he must “learn and comprehend.” These are: |
Trong quy luật trước đây này, người đệ tử được bảo rằng, trước khi y có thể tiến đến những bí nhiệm mà sẽ được tiết lộ cho y theo trình tự khi y tiến bước trên Con Đường Điểm Đạo, có bốn điều y phải “học và lĩnh hội.” Chúng là: |
|
3. It does not seem correct to think that this Thirteenth Rule for Applicants refers to the first initiation. The requirements seem far too exacting. |
3. Có vẻ không đúng lắm khi nghĩ rằng 13 Quy Luật dành cho Ứng Viên Điểm Đạo này liên quan đến cuộc điểm đạo đầu tiên. Những yêu cầu này dường như quá chính xác. |
|
4. The disciple is now on the Path of Initiation and advancing upon that Path sequentially. The four things which he must “learn and comprehend” pertain to mysteries to be revealed along that Path, and certainly not at its inception. |
4. Người đệ tử hiện đang ở trên Con đường Điểm Đạo và tuần tự tiến bước trên Con đường đó. Bốn điều mà y phải “học và lĩnh hội” liên quan đến những bí ẩn sẽ được tiết lộ dọc theo Con đường đó, và chắc chắn không phải lúc khởi đầu. |
|
1. The laws of that which radiates. I would call your attention to the fact that this does not refer to the Laws of Radiation. That which radiates comes under its own laws which are different to those which produced radiation. Students need to read with increasing care as they advance upon the occult way which leads to the Way of the Higher Evolution. |
1. Những quy luật về những gì phát quang. Tôi muốn kêu gọi sự chú ý của các bạn đến sự thật rằng điều này không liên quan đến các Định Luật Phát Xạ. Những gì phát xạ (phát quang) dưới những quy luật riêng của nó thì khác với những gì đã tạo ra sự phát xạ. Các môn sinh cần đọc với sự cẩn trọng chú tâm ngày càng tăng khi họ tiến bước trên con đường huyền môn dẫn với Con Đường Tiến Hóa Cao Hơn. |
|
5. The Tibetan seems to be hinting at higher developments within the advancing initiate. |
5. Chân Sư Tây Tạng dường như đang ám chỉ về những phát triển cao hơn trong vị điểm đạo đồ đang thăng tiến. |
|
6. It is the Spirit or Monad which treads the Way of Higher Evolution. |
6. Chính Tinh thần hay Chân Thần là cái bước đi trên Con đường Tiến Hóa Cao Hơn. |
|
7. The laws “which produced radiation” (i.e., the Laws of Radiation) seem connected with the third aspect of divinity. “That which radiates” seems to concern the first. |
7. Các định luật “tạo ra bức xạ” (tức là các Định luật Bức xạ) dường như liên quan đến khía cạnh thứ ba của thiêng liêng. “Cái phát xạ” dường như liên quan đến khía cạnh đầu tiên. |
|
8. If we are really dealing with the Monad as the radiatory center of being in the life of the disciple, then we must consider laws beyond the Laws of the Soul. |
8. Nếu chúng ta thực sự coi Chân Thần như là trung tâm tỏa sáng của cuộc đời người đệ tử, thì chúng ta phải xem xét các luật nằm ngoài các Quy luật của Linh hồn. |
|
9. DK says the following which may pertain to such very high laws: |
9. Chân Sư DK nói rằng điều sau có thể liên quan đến những định luật rất cao cấp như thế: |
|
“As he ascertains the nature of consciousness, and the laws of psychical unfoldment he is studying the nature of the vitality of the subjective man, and the laws of conscious being, thus studying Agni as He manifests as Light and Cool Radiance, shining through the vehicle. Later (for the time is not yet) as he comes to comprehend the nature of his Monad, the spiritual or essential life which is developing consciousness by means of the sheaths, he will discover the nature of Agni as He shews forth as pure electricity.” (TCF 611) |
“Khi y xác định được bản chất của ý thức, và các quy luật của sự khai mở tâm linh, y đang nghiên cứu bản chất của sức sống của con người nội tâm, và các quy luật của hiện hữu có ý thức, do đó nghiên cứu Agni khi Ngài biểu hiện như Ánh Sáng và Phát Xạ Lạnh, tỏa chiếu qua vận cụ. Sau này (hiện tại thì chưa) khi y hiểu được bản chất Chân Thần của mình, đời sống tinh thần hoặc sự sống cốt lõi đang phát triển ý thức nhờ các lớp vỏ bọc, y sẽ khám phá ra bản chất của Agni khi Ngài xuất hiện như một dòng điện thuần túy.” |
|
10. From another perspective, it is the Jewel in the Lotus within the egoic lotus that “radiates”. This is literally the presence of the Monad within the causal body. The initiation realizes that he is focused in being at the heart of the lotus. The true initiate is “that which radiates”. |
10. Từ một góc độ khác, chính Viên ngọc trong Hoa sen bên trong hoa sen chân ngã “tỏa sáng”. Đây thực sự là sự hiện diện của Chân Thần trong thể nguyên nhân. Vị điểm đạo đồ nhận ra rằng mình đang tập trung vào tâm của hoa sen. Điểm đạo đồ thực sự là “người phát xạ”. |
|
11. From yet another perspective, the initiate within the Ashram is a point of radiatory fire, increasingly expressing the Spirit within, yet within the context of hierarchical Love. |
11. Từ một góc độ khác, vị điểm đạo đồ bên trong Ashram là một điểm rực lửa phát xạ, ngày càng thể hiện Tinh Thần bên trong, nhưng trong bối cảnh Tình Thương huyền giai (Thánh Đoàn). |
|
12. DK is asking for the most careful attention to His words. If we fail to give this kind of attention, we will miss many important discriminations and our grasp of the Wisdom will be far less clear than it otherwise might be. |
12. Chân Sư DK đang yêu cầu sự chú ý cẩn thận nhất đến lời nói của Ngài. Nếu chúng ta không chú ý đến kiểu này, chúng ta sẽ bỏ lỡ nhiều sự phân biệt quan trọng và sự hiểu biết về Minh Triết của chúng ta sẽ kém rõ ràng hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể có. |
|
2. He must study the five meanings of magnetisation. This refers to the five modes in which the Law of Magnetisation works; this is another name for the Law of Attraction. |
2. Y phải nghiên cứu năm ý nghĩa của sự từ hóa. Điều này liên quan đến 5 cách thức mà Định Luật Từ Hóa hoạt động trong đó; đây là một cái tên khác của Luật Hấp Dẫn. |
|
13. One thing which stands out is that the number five is closely correlated with the number two. Cycles for the second ray are based on the number five—5, 50, 500, 5000, etc. |
13. Một điều nổi bật là số năm tương quan chặt chẽ với số hai. Các chu kỳ của cung hai dựa trên số 5 — 5, 50, 500, 5000, v.v. |
|
14. When we think of the “five meanings of magnetisation” the qualities of the planet Venus are suggested. Venus, a planet of great magnetism, displays principally the qualities of the fifth and second rays. |
14. Khi chúng ta nghĩ về “năm ý nghĩa của sự từ hóa”, những phẩm chất của Kim Tinh được gợi ý. Sao Kim, một hành tinh có từ tính lớn, về cơ bản hiển thị các phẩm chất của cung năm và cung hai. |
|
15. The causal body is the magnetic portion of our threefold nature—Spirit, soul and body. This causal body (and the egoic lotus of which the causal body is the radiation) can, from one perspective, be divided into five parts: |
15. Thể nguyên nhân là phần từ tính của bản chất tam phân của chúng ta — Tinh thần, linh hồn và thể xác. Thể nguyên nhân này (và hoa sen chân ngã mà thể nguyên nhân là sự phát xạ của nó), từ một góc độ, có thể được chia thành năm phần: |
|
The knowledge petals |
Những cánh hoa tri thức |
|
The love petals |
Những cánh hoa tình yêu |
|
The sacrifice petals |
Những cánh hoa hy sinh |
|
The synthesis petals |
Các cánh hoa tổng hợp |
|
The Jewel in the Lotus |
Viên ngọc quý trong hoa sen |
|
16. Through these five divisions, magnetisation is expressed in five ways. |
16. Qua năm phân chia này, sự từ hóa được biểu đạt theo năm cách. |
|
17. When the initiate has mastered this fivefold magnetism, there is no longer need for him to incarnate in the human kingdom though, technically, he remains a human being until he is a Chohan (for Chohans “are no longer men as are the Masters”). |
17. Khi vị điểm đạo đồ đã thành thạo sự từ hóa ngũ phân này, thì không cần phải tái sinh vào giới nhân loại nữa, tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, y vẫn là một con người cho đến khi y là một Chohan (vì các Chohans “không còn là những con người như các Chân Sư nữa”). . |
|
18. Our task is to become imbued with soul magnetism. We already know a great deal about the animal magnetism of the personality. Our task, however, is to function under the Second Law of the Soul—the Law of Magnetic Impulse (or of Polar Union). |
18. Nhiệm vụ của chúng ta là trở nên thấm nhuần từ tính linh hồn. Chúng ta đã biết rất nhiều về từ tính động vật của phàm ngã. Tuy nhiên, nhiệm vụ của chúng ta là hoạt động theo Định luật thứ hai của Linh hồn — Định luật Xung Động Từ Tính (hay Hợp Nhất Cực). |
|
19. We can unite with others in the following ways— |
19. Chúng ta có thể hợp nhất với những người khác theo những cách sau đây— |
|
Through soul knowledge’ |
Thông qua tri thức của linh hồn |
|
Through soul love |
Thông qua tình yêu của linh hồn |
|
Through the sacrifice which is inherent in the soul |
Thông qua sự hy sinh vốn có trong linh hồn |
|
Through an appreciation of synthesis |
Thông qua sự trân trọng tính tổng hợp |
|
In pure being (as expressed through the Jewel in the Lotus). |
Trong bản thể thuần khiết (thể hiện qua Viên ngọc trong Hoa sen). |
|
20. Let us assess the ways in which we unite with our fellow human beings. Are our unions of the soul? |
20. Chúng ta hãy xem xét những cách thức mà chúng ta hợp nhất với đồng loại mình. Những hợp nhất đó của chúng ta có thuộc về linh hồn hay không? |
|
3. He must comprehend what transmutation is and in which consists the secret art (now lost along with the Lost Word) of Alchemy. Esoterically speaking, transmutation is the mode whereby force is transmuted or changed into energy. |
3. Y phải hiểu chuyển hóa là gì và trong đó bao gồm nghệ thuật bí mật (hiện đã bị mất cùng với Linh Từ Thất Truyền) của Giả kim thuật. Nói một cách bí truyền, chuyển hóa là phương thức mà lực được chuyển hóa hoặc biến đổi thành năng lượng. |
|
21. This idea seems to indicate the process whereby the forces of the factors within the atomic triangle (the mental unit, the astral permanent atom, and the physical permanent atom) are transmuted into energies stored within the egoic lotus. |
21. Ý tưởng này dường như chỉ ra quá trình theo đó lực của các yếu tố bên trong tam giác nguyên tử (đơn vị thể trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần) được chuyển hóa thành những năng lượng lưu trữ bên trong hoa sen chân ngã. |
|
22. The “Lost Word” is usually associated with the Great Quest in Masonry. The seventh ray works powerfully in Masonry as it does in alchemy. Thus we can see important relations between the Great Alchemical Quest and the “Quest for the Lost Word” in Masonry. We are dealing with the “Magical Word of the Soul” which is regained through the rites of initiation fostered by the seventh ray—the ray of transmutation. |
22. “Linh Từ Thất Truyền” thường được kết hợp với Cuộc Tìm Kiếm Vĩ Đại trong Hội Tam Điểm. Cung bảy hoạt động mạnh mẽ trong Hội Tam ĐIểm cũng như trong thuật giả kim. Do đó, chúng ta có thể thấy mối quan hệ quan trọng giữa Cuộc Tìm kiếm Giả kim thuật vĩ đại và “Cuộc Truy tìm Linh Từ Thất Truyền” trong Hội Tam Điểm. Chúng ta đang nói đến “Lời huyền diệu của Linh Hồn” được lấy lại thông qua các nghi thức điểm đạo được thúc đẩy bởi cung bảy – cung của sự chuyển hóa. |
|
23. Transmutation is ultimately the Uranian method by which matter is “lifted up into heaven”. Through transmutation comes the etherealization of that aspect of Spirit which has densified and, apparently, separated itself from the pole we usually regard as Spirit. |
23. Sự chuyển hóa về cơ bản là phương pháp Uran mà qua đó vật chất được “nâng lên thiên đàng”. Thông qua sự chuyển hóa, ta có quá trình dĩ thái hóa (thanh tao hóa) khía cạnh đó của Tinh thần, khía cạnh đã đậm đặc và dường như tự tách mình ra khỏi cực mà chúng ta thường coi là Tinh thần. |
|
24. Transmutation is the “passage across from one state of being to another through the agency of fire”. |
24. Chuyển hóa là “sự di chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác thông qua tác nhân lửa”. |
|
25. Thus, transmutation is spiritual elevation. It signifies the ‘return’ (through augmentation of vibration) of that which went forth from the “Father’s Home”. |
25. Như vậy, sự chuyển hóa là sự nâng cao tinh thần. Nó biểu thị sự “trở lại” – sự phản bổn hoàn nguyên – (thông qua sự gia tăng rung động) của cái đã phát ra từ “Nhà của Cha”. |
|
26. The Art of Transmutation will soon be re-discovered during the white magical period looming ahead. The Age of Aquarius will be an alchemical, transmutative Age and for this we must now prepare through a heightening focus on all that is etheric within our nature. From the etheric aspects of every plane arise the impulses which elevate through augmentation of vibration. This means (where a disciple is concerned) the transmutation or changing or stepping up of personality force into egoic energy. |
26. Nghệ thuật Chuyển Hóa sẽ sớm được tái khám phá trong thời kỳ chánh thuật đang lờ mờ phía trước. Thời đại Bảo Bình sẽ là một Thời đại chuyển hóa, Thời Đại biến đổi và vì vậy, bây giờ chúng ta phải chuẩn bị thông qua việc tập trung cao độ vào tất cả những gì mang tính dĩ thái (thanh tao) trong bản chất của chúng ta. Từ các khía cạnh dĩ tháo của mọi cõi phát sinh các xung lực tăng lên thông qua sự gia tăng rung động. Điều này có nghĩa là (khi liên quan đến một đệ tử) sự chuyển hóa hoặc thay đổi hoặc nâng cao mãnh lực phàm ngã thành năng lượng chân ngã. |
|
27. Here we see the process of transmutation associated with a “stepping up” process—a process involving the heightening of vibration. Can the difference between personality force and soul energy be simply a matter of the frequency range of any given set of substances? We know that if personality substances vibrate to the measure of the atomic subplane of each of the personality planes, the soul is able to infuse the personality completely. This is achieved at the fourth initiation at which point the human stage of transmutation is complete. |
27. Ở đây chúng ta thấy quá trình chuyển hóa liên quan đến quá trình “bước lên” — một quá trình liên quan đến sự gia tăng rung động. Sự khác biệt giữa mãnh lực phàm ngã và năng lượng linh hồn có thể chỉ đơn giản là vấn đề về dải tần số của bất kỳ tập hợp chất liệu nhất định nào không? Chúng ta biết rằng nếu các chất liệu phàm ngã rung động theo cách thức của cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi phàm ngã, thì linh hồn có thể thấm nhập hoàn toàn vào phàm ngã. Điều này đạt được ở cuộc điểm đạo thứ tư, lúc đó giai đoạn chuyển hóa của con người được hoàn thành. |
|
4. He must know the “hidden name egoic” or the first letter of the imparted Word. Two things should be noted here. The “Word” here does not refer to the Sacred Word but to the name of the planetary Logos, |
4. Y phải biết “cái tên chân ngã ẩn giấu” hoặc chữ cái đầu tiên của Linh Từ được truyền đạt. Hai điều cần được lưu ý ở đây. “Linh Từ” ở đây không ám chỉ đến Lời Thiêng mà là tên của Hành Tinh Thượng Đế, |
|
28. Each soul is a tiny aspect of this word. Each egoic lotus is an aspect of the far greater egoic lotus of the Planetary Logos. |
28. Mỗi linh hồn là một khía cạnh nhỏ bé của linh từ này. Mỗi hoa sen chân ngã là một khía cạnh của hoa sen chân ngã lớn hơn nhiều của Hành Tinh Thượng Đế. |
|
29. We have learned earlier that even the Masters do not know the entire name of Sanat Kumara, considered as the Planetary Logos. |
29. Chúng ta đã biết trước đó rằng ngay cả các Chân Sư cũng không biết toàn bộ tên của Đấng Sanat Kumara, được coi là Hành Tinh Thượng Đế. |
|
30. The human being, likewise, does not know his own full egoic “name”. |
30. Tương tự như vậy, con người không biết “tên” chân ngã đầy đủ của chính mình. |
|
31. We are learning that we are not what we thought. We are something far deeper and more interior. That which we are has a name and, through that name, a true vibrational and patterned place within the greater Whole. |
31. Chúng ta đang học rằng chúng ta không phải là những gì chúng ta nghĩ. Chúng ta là một cái gì đó sâu sắc hơn và nội tâm hơn. Cái mà chúng ta vốn là có một cái tên và thông qua cái tên đó, một nơi chốn thực sự rung động và có khuôn mẫu trong Toàn thể vĩ đại hơn. |
|
the hidden name of Sanat Kumara Who is the soul of the world in all its phases, the manifesting Ego of the Logos on the cosmic mental plane. |
tên ẩn của Sanat Kumara – Đấng là linh hồn của thế giới trong tất cả các giai đoạn của nó, Chân ngã hiển lộ của Thượng Đế trên cõi trí vũ trụ. |
|
32. There are many ways to consider Sanat Kumara. Sometimes He is designated as the Planetary Logos, Himself. Sometimes He is designated as the soul or Ego of the Planetary Logos. |
32. Có nhiều cách để xem xét Sanat Kumara. Đôi khi chính Ngài chỉ định mình là Hành Tinh Thượng Đế. Đôi khi Ngài được chỉ định như là linh hồn hoặc Chân ngã của Hành Tinh Thượng Đế. |
|
33. The term “Anima Mundi” means “soul of the world”. Sanat Kumara is the “soul of the world in all its phases”. What are the implications of this seeming equivalence? Probably the Anima Mundi is not the soul of the world in all its phases. |
33. Thuật ngữ “Anima Mundi” có nghĩa là “linh hồn của thế giới”. Sanat Kumara là “linh hồn của thế giới trong tất cả các giai đoạn của nó”. Những ngụ ý của sự dường như tương đương này là gì? Có lẽ Anima Mundi không phải là linh hồn của thế giới trong tất cả các giai đoạn của nó. |
|
34. The “Name” of Sanat Kumara refers to the vibration of an energy center focussed on the cosmic mental plane! We see that to know the “hidden name egoic” (in the higher sense conveyed by this Rule) demands a very high level of evolution. The first step to this cognition is the registration of one’s own “soul name”—the “hidden name” of oneself considered as an Ego on the higher mental plane. |
34. “Tên” của Sanat Kumara dùng để chỉ rung động của một trung tâm năng lượng tập trung trên cõi trí vũ trụ! Chúng ta thấy rằng để biết được “cái tên ẩn” (theo ý nghĩa cao hơn được chuyển tải bởi Quy Luật này) đòi hỏi một mức độ tiến hóa rất cao. Bước đầu tiên cho nhận thức này là ghi nhận “tên linh hồn” của chính ta — “tên ẩn” của bản thân ta được coi là Chân ngã trên cõi thượng trí. |
|
Only the first letter of that “ineffable name” is permitted expression to initiates until the fourth initiation. You will see, therefore, how vast a field this instruction on Rule XIII covers. |
Chỉ có chữ cái đầu tiên của “tên không thể đọc được” đó mới được phép bắt đầu biểu thức cho đến khi bắt đầu lần thứ tư. Do đó, bạn sẽ thấy chỉ dẫn này trên Quy tắc XIII bao gồm một lĩnh vực rộng lớn như thế nào. |
|
35. Since one does not ‘meet’ Sanat Kumara as the One Initiator until the third initiation (and even then, only as a “Star”), we may presume that Rule XIII can only begin to be applied to this level of initiation. |
35. Vì ta không ‘gặp’ Sanat Kumara với tư cách là Đấng Điểm Đạo cho đến lần điểm đạo thứ ba (và thậm chí sau đó, chỉ như một “Ngôi sao”), chúng ta có thể cho rằng Quy Luật XIII chỉ có thể bắt đầu được áp dụng cho cấp độ điểm đạo này. |
|
36. The various rules in the Rules for Applicants cannot easily be localized in only one of the first three initiations. Rule XIII definitely links to the third degree, though may have its gradual application on lower turns of the initiatory spiral. As well, it has applications which may extend beyond the third degree for the nature of Spirit is definitely implicated. |
36. Các quy luật khác nhau trong các Quy Luật dành cho Ứng viên điểm đạo không thể dễ dàng cục bộ hóa chỉ trong một trong ba cuộc điểm đạo đầu tiên. Quy Luật XIII chắc chắn liên kết với cấp độ ba, mặc dù có thể có ứng dụng dần dần của nó ở các vòng quay thấp hơn của vòng xoắn điểm đạo. Nó cũng có các ứng dụng có thể vượt ra ngoài cấp độ ba vì chắc chắn có liên quan đến bản chất của Tinh Thần. |
|
Love and Many Blessings, |
Với Tình Thương và nhiều Phước Lành, |
|
Michael (and Stefan) |
Michael (và Stefan) |