Bình Giảng Các Quy Luật Điểm đạo – 14

📘 Sách: Bình Giảng Các Quy Luật Điểm đạo (Dành Cho Ứng Viên) – Tác giả: Michael D. Robbins

Commentary on Rule XIV for Applicants

Listen, touch, see, apply, know.

Lắng nghe, chạm, thấy, áp dụng, biết.

These words concern what the Christian might aptly call the consecration of the three major senses, and their utilisation in the evolution of the inner spiritual life, application then made of that which is learnt and ascertained, followed by the fruition of realised knowledge.

Những lời này liên quan đến điều mà người Cơ đốc giáo có thể gọi một cách khéo léo là sự thánh hóa ba giác quan chính, và việc sử dụng chúng trong sự tiến hóa của đời sống tinh thần bên trong, rồi đến việc ứng dụng cái đã được học và biết chắc, sau đó là thu hoạch kết quả của kiến thức đã thực chứng.

1. We reach the point of synthesis for the Fourteen Rules for Applicants.

1. Chúng ta đạt đến điểm tổng hợp cho Mười Bốn Quy Luật dành cho Ứng viên điểm đạo.

2. The three major senses are, sequentially, those of hearing, touch and sight, correlating respectively with the physical-etheric plane, the astral plane and the mental plane.

2. Ba giác quan chính theo thứ tự là thính giác, xúc giác và thị giác, tương quan tương ứng với cõi vật chất- dĩ thái, cõi cảm dục và cõi trí.

3. It is the personality that applies these three honed and sensitized senses in a purposeful manner according to that which the soul knows.

3. Chính phàm ngã áp dụng ba giác quan được mài dũa và nhạy cảm này một cách có mục đích nhờ đó mà linh hồn biết.

4. Man learns by doing, and through constant and correct application there arises the realization of soul knowledge. Man knows himself to be a soul, a true Knower who possesses an integrated instrument for expression in the three lower worlds (i.e., a personality). This personality is equipped with a mental body, an astral body and an etheric-physical body and through this threefold lower instrument the personality can make its will (now aligned with the soul will) felt within each of the lower worlds. Later, the will of the personality becomes the will of the soul.

4. Con người học qua thực hành (làm), và thông qua việc áp dụng liên tục và đúng đắn, phát sinh việc nhận ra tri thức linh hồn. Con người biết mình là một linh hồn, một Người hiểu biết thực sự sở hữu một công cụ tích hợp để biểu hiện trong tam giới thấp hơn (tức là một phàm ngã). Phàm ngã này được trang bị một thể trí, một thể cảm dục và một thể vật lý- dĩ thái và thông qua ba công cụ thấp hơn này, phàm ngã có thể thực hiện ý chí của mình (giờ đây phù hợp với ý chí linh hồn) cảm nhận được trong mỗi thế giới thấp hơn. Về sau, ý chí của phàm ngã trở thành ý chí của linh hồn.

5. There are phases of development in which the senses can be intelligently utilized to further personality ends. Those phases represent an initial achievement. But the fourteenth Rule indicates the utilization of the sense for the evolution of the inner spiritual life. The light revealed by each of the sensitized senses is used to reveal the presence of the soul within the three lower worlds and within the personality form and its vehicles.

5. Có những giai đoạn phát triển mà trong đó các giác quan có thể được sử dụng một cách thông minh để thực hiện các mục tiêu của phàm ngã. Những giai đoạn đó thể hiện một thành tựu điểm đạo. Nhưng Quy luật thứ mười bốn chỉ ra việc sử dụng giác quan dành cho sự tiến hóa của đời sống tinh thần bên trong. Ánh sáng được tiết lộ bởi mỗi giác quan nhạy cảm được sử dụng để tiết lộ sự hiện diện của linh hồn trong tam giới thấp hơn và trong hình tướng phàm ngã và vận cụ của nó.

6. Each of us could examine how we use our senses. When we listen, touch or see, is it to detect or express the soul? Does soul consciousness increase through the utilization of these senses, or do we become trapped in that which the senses reveal, thereby hiding the presence of the soul?

6. Mỗi người trong chúng ta có thể kiểm tra cách chúng ta sử dụng các giác quan của mình. Khi chúng ta nghe, chạm hay nhìn, liệu đó có phải là để phát hiện hay thể hiện linh hồn? Liệu tâm thức linh hồn có tăng lên thông qua việc sử dụng các giác quan này, hay chúng ta bị mắc kẹt trong nơi mà các giác quan tiết lộ, do đó che giấu sự hiện diện của linh hồn?

Xem xét 5 Từ – Considering the Five Words

Xem xét 5 Từ – Considering the Five Words

7. Listen: the sense of hearing is the first to develop and relates most to the etheric-physical plane. This sense correlates with Saturn and the third ray and grows out of the functioning of the throat center.

7. Lắng nghe: thính giác là thứ phát triển đầu tiên và liên quan nhiều nhất đến cõi vật lý- dĩ thái. Giác quan này tương quan với sao Thổ và cung ba và phát triển lên từ chức năng của trung tâm cổ họng.

8. For what does one listen? Each of us can meditate on the possibilities. Here are some.

8. Ta lắng nghe để làm gì? Mỗi chúng ta đều có thể suy ngẫm về các khả năng. Đây là một số.

a. Above all for the still small voice of the soul rather than the many and confused voices of the astral plane and of the lower mind.

a. Trên tất cả là để nhận ra tiếng nói nhỏ bé tĩnh lặng của linh hồn chứ không phải là nhiều tiếng nói lẫn lộn của cõi trung giới và của hạ trí.

b. This still small voice is first heard, perhaps, as the voice of conscience so necessary in the guidance of the aspirant (when the intuition has not yet been developed).

b. Vẫn tiếng nói nhỏ này lần đầu tiên được nghe thấy, có lẽ, vì tiếng nói của lương tâm rất cần thiết để hướng dẫn người chí nguyện (khi trực giác chưa được phát triển).

c. One also listens to the voices of those with whom one’s lot is cast and to those one may encounter in the give and take of daily life.

c. Ta cũng lắng nghe tiếng nói của những người mà số phận đã sắp đặt cho ta và những người mà ta có thể gặp gỡ trong sự cho và nhận của đời sống hàng ngày.

d. In such circumstances, for what does one listen?

d. Trong hoàn cảnh như vậy, ta lắng nghe để làm gì?

i. For the note of the individual vehicles of another

i. Để nhận ra nốt của các vận cụ cá nhân của người khác

ii. For the composite note of another

ii. Để nhận ra nốt tổng hợp của người khác

iii. For the soul note of another

iii. Để nhận ra nốt linh hồn của người khác

iv. One listens in a special way to the personality note of another and to the notes of the three vehicles to discover whether these lower notes are blending with the soul note

iv. Ta lắng nghe một cách đặc biệt nốt phàm ngã của người khác và các nốt của ba vận cụ để khám phá xem liệu các nốt thấp này có hòa quyện với nốt linh hồn hay chưa.

v. One listens for sounds of distress in any of the vehicles (one’s own or those of another) and for the harmonizing sound which would bring relief to that distress.

v. Ta lắng nghe âm thanh đau khổ trong bất kỳ vận cụ nào (vận cụ của mình hoặc của người khác) và âm thanh hài hòa sẽ mang lại cứu rỗi cho đau khổ đó.

vi. One listens also for the sound of the interplay between the various vehicles of another, noting harmonies and inharmonies. These will indicate where help is needed and amelioration can be applied.

vi. Ta cũng lắng nghe âm thanh giao thoa giữa các vận cụ khác nhau, lưu ý đến sự hòa hợp và không hòa hợp. Những điều này sẽ cho biết nơi nào cần trợ giúp và có thể áp dụng biện pháp cải thiện.

vii. One listens for the emerging quality of others and discovers whether there is a note which one can sound or something one can say or do which will contribute to the emergence of that quality. That quality is soul quality.

vii. Ta lắng nghe phẩm tính đang nổi lên của người khác và khám phá liệu có một nốt mà ta có thể phát ra hoặc điều gì đó mà ta có thể nói hoặc làm sẽ góp phần vào sự xuất hiện của phẩm tính đó. Phẩm tính đó là phẩm tính linh hồn.

viii. One also listens for indications of weakening and disintegration, to see how they may be remedied.

viii. Ta cũng lắng nghe các dấu hiệu của sự suy yếu và tan rã, để xem chúng có thể được khắc phục như thế nào.

ix. One can apply such listening to the environment in general and, thus, to the lower kingdoms.

ix. Ta có thể áp dụng cách lắng nghe như vậy đối với môi trường nói chung và do đó, đối với các giới thấp hơn.

x. We remember that in The Rules of the Road, one of the first requirements is to have “the open ear”. If we listen carefully enough we shall, at length, develop buddhic understanding or hearing. Then, through careful, sensitive, intuitive listening we shall truly understand other—in themselves and in the larger context in which they participate.

x. Chúng ta nhớ rằng trong các Quy Luật trên Đường Đạo, một trong những yêu cầu đầu tiên là phải có “đôi tai mở ra”. Nếu chúng ta lắng nghe đủ cẩn thận, về lâu dài, chúng ta sẽ phát triển sự hiểu biết hoặc thính giác bồ đề. Sau đó, thông qua việc lắng nghe cẩn thận, nhạy cảm, trực giác, chúng ta sẽ thực sự hiểu người khác — trong chính họ và trong bối cảnh lớn hơn mà họ tham gia.

9. Touch: This sense is the foremost sense in our solar system, which is of an astral-buddhic nature. The sense of touch is related to the Law of Attraction and Repulsion and to the factor of magnetism. It is the sense which, in a way, is the basis of all other.

9. Xúc chạm: Đây là giác quan quan trọng nhất trong thái dương hệ của chúng ta, có bản chất cảm dục bồ đề. Xúc giác có liên quan đến Luật hấp dẫn và lực Đẩy và yếu tố từ tính. Theo một cách nào đó, nó là cơ sở của tất cả những giác quan khác.

10. What does one touch or seek to touch:

10. Cái mà ta chạm hoặc tìm cách chạm vào:

a. One seeks to touch the soul, to ‘get the feel’ of the soul, its energy, its presence. This presence will often be noticed as a quickening, as an animation of the higher centers (head, ajna, throat and heart responding each in its own way).

a. Ta tìm cách chạm vào linh hồn, để ‘có được cảm giác’ của linh hồn, năng lượng của nó, sự hiện diện của nó. Sự hiện diện này thường được nhận thấy như một sự nhanh chóng, như một hình ảnh động của các trung tâm cao hơn (đầu, ajna, cổ họng và tim hồi đáp theo cách riêng của nó).

b. Further one will recognize when the ‘touch’ of the soul occurs impulsed from above. This may happen when one is not invoking or meditatively attempting to feel this touch.

b. Xa hơn nữa, ta sẽ nhận ra khi ‘sự chạm vào’ của linh hồn xảy ra được kích động từ bên trên. Điều này có thể xảy ra khi ta không thỉnh cầu hoặc cố gắng thiền định để cảm nhận sự tiếp xúc này.

c. One also touches all surroundings and feels the quality of circumstances and subtle atmospheres.

c. Ta cũng chạm vào mọi thứ xung quanh và cảm nhận tính chất của các hoàn cảnh và các bầu không khí tinh tế.

d. One touches other human beings (ranging from those with to whom we are closely related to those with whom we are apparently unrelated). The old adage is true: “Touch one, touch All”.

d. Ta chạm vào những người khác (từ những người mà chúng ta có quan hệ mật thiết đến cả những người mà chúng ta dường như không liên quan). Câu ngạn ngữ cổ rất đúng: “Chạm một người, chạm vào Tất cả”.

e. One can certainly touch with the hands especially, and secondarily with the skin (the great physical organ of touch) but more occultly, one learns to touch with the astral body, and even with the mind. Later there is also the touch of the soul, arising when soul touches soul—feeling the quality of another soul. And who is to say that there is not the ‘Touch of the Spirit’?

e. Ta chắc chắn có thể chạm một cách đặc biệt bằng tay, và thứ hai là bằng da (cơ quan vật lý tuyệt vời của xúc giác) nhưng huyền bí hơn, ta học cách chạm với thể cảm dục, và thậm chí với thể trí. Sau đó, còn có sự tiếp xúc của linh hồn, phát sinh khi linh hồn chạm vào linh hồn — cảm nhận được phẩm chất của một linh hồn khác. Và ai có thể nói rằng không có cái ‘Chạm của Tinh thần’?

f. What can be revealed or accomplished by the sense of touch?

f. Điều gì có thể được tiết lộ hoặc đạt được bằng xúc giác?

i. We touch others and feel their outer quality.

i. Chúng ta chạm vào người khác và cảm nhận phẩm chất bên ngoài của họ.

ii. We touch others more subtly with our astral body (or other higher vehicles) and feel their inner quality.

ii. Chúng ta chạm vào người khác một cách tinh tế hơn bằng thể cảm dục của mình (hoặc các vận cụ cao hơn khác) và cảm nhận phẩm chất bên trong của họ.

iii. When we touch, we feel the harmony or inharmony of that which we touch. Touch reveals the presence of pain and suggests the manner in which the pain may be relieved.

iii. Khi chúng ta chạm vào, chúng ta cảm thấy sự hòa hợp hoặc không hòa hợp của cái mà chúng ta chạm vào. Chạm vào cho biết sự hiện diện của cơn đau và gợi ý cách thức giảm đau.

iv. Through the application of a compensatory quality of touch, we seek to restore harmony to that which is inharmonious. Carried further, this becomes the deliberate application of healing energy. The buddhic siddhi of Healing is an extension of the sense of touch, as is “Active Service”.

iv. Thông qua việc áp dụng phẩm tính bù đắp của việc xúc chạm, chúng ta tìm cách khôi phục sự hài hòa cho cái không hài hòa. Mang đi xa hơn, việc này trở thành ứng dụng có chủ ý của năng lượng chữa lành. Quan năng Chữa Lành cấp bồ đề là một phần mở rộng của xúc giác, cũng như “Phụng sự Tích cực”.

v. When we read the following, we can sense how much the sense of touch is initially involved, and then the sense of inner sight.

v. Khi chúng ta đọc phần sau, chúng ta có thể cảm nhận được xúc giác ban đầu liên quan nhiều như thế nào, và sau đó là cảm giác của thị giác bên trong (nội nhãn).

Rule I. Enter thy brother’s heart and see his woe. Then speak. Let the words spoken convey to him the potent force he needs to loose his chains. Yet loose them not thyself. Thine is the work to speak with understanding. The force received by him will aid him in his work. (TWM 320)

Quy tắc I. Hãy nhập vào tâm huynh đệ ngươi và xem xét nỗi khổ của y. Sau đó hãy nói. Hãy để cho những lời nói truyền cho y mãnh lực mà y đang cần để tháo lỏng các xiềng xích của y. Nhưng không phải ngươi tháo lỏng các xiềng xích đó. Công việc của ngươi là nói với sự hiểu biết. Sức mạnh mà y nhận được sẽ trợ giúp y trong công việc của y. (TWM 320)

vi. The sense of touch, when sufficiently refined, leads to the ability to heal that which is touched.

vi. Xúc giác, khi đủ tinh tế, sẽ dẫn đến khả năng chữa lành vết thương nơi được chạm vào.

vii. Further, the quality within and beneath that which is touched is, through the refinement of this sense, revealed.

vii. Hơn nữa, phẩm tính bên trong và bên dưới cái được chạm vào, thông qua sự tinh chỉnh của giác quan này, được tiết lộ.

viii. Through a refinement of the sense of touch, that higher energy to which the astral body may eventually be attuned may also be sensed—namely the quality of buddhi or divine love.

viii. Thông qua sự tinh chỉnh xúc giác, năng lượng cao hơn mà thể cảm dục cuối cùng có thể được hòa hợp vào cũng có thể được cảm nhận — cụ thể là phẩm chất bồ đề hoặc tình yêu thương thánh thiện.

g. The injunction “Touch” also suggests the manner in which we are to touch others. We are to touch in such a way that we carry the energy of the soul which has entered the personality through the infusion process.

g. Huấn thị “Chạm” cũng gợi ý cách chúng ta chạm vào người khác. Chúng ta phải chạm vào theo cách mà chúng ta mang năng lượng của linh hồn đã đi vào phàm ngã thông qua quá trình thấm nhập.

h. Upon the Path one is to have the “giving hand”. One may give much through the sense of touch.

h. Trên đường Đạo, ta phải có “bàn tay cho đi”. Ta có thể cho nhiều thứ thông qua xúc chạm.

11. What does one “see” or seek to see?

11. Một người “thấy” hoặc tìm kiếm để thấy điều gì?

a. It is not possible to see the soul, per se, unless within the chamber of initiation, and even this sight is soon forgotten by the usual probationary initiate. If one, however, is an initiate of higher degree, then one may in fact see the soul. It is eminently desirable to “see” the soul as it is—whether as a lotus, as a nine-spoked wheel or as Angel—the Solar Angel.

a. Không thể thấy linh hồn, trừ khi trong phòng Điểm đạo, và ngay cả cảnh tượng này cũng sớm bị điểm đạo đồ tập sự thông thường quên mất. Tuy nhiên, nếu một người là điểm đạo đồ ở cấp độ cao hơn, thì trên thực tế người ta có thể thấy linh hồn. Chúng ta nên “thấy” linh hồn như nó vốn là – dù là hoa sen, bánh xe chín nhánh hay như Thiên thần – Thái dương Thiên thần.

b. Yet, even at a lower stage of unfoldment of the sense of sight, one can see evidences of the soul in all persons and in all circumstances. The cultivation of this mediated sight leads eventually to true and unveiled sight.

b. Tuy nhiên, ngay cả ở một giai đoạn thấp hơn của sự khai mở thị giác, người ta có thể nhìn thấy những bằng chứng về linh hồn trong mọi người và trong mọi hoàn cảnh. Việc tu luyện cái thấy qua trung gian này cuối cùng dẫn đến cái thấy chân thật và sáng tỏ.

c. The injunction “see” demands a deeper penetrating perception. We are always to see beneath the surface. What are we to seek to see?

c. Huấn thị “thấy” đòi hỏi một nhận thức sâu sắc hơn. Chúng ta luôn phải thấy bên dưới bề mặt. Chúng ta đang tìm kiếm để thấy điều gì?

i. Facts as they are, undistorted by maya, glamor and illusion. To “see” is to view all life through a sense of realism.

i. Sự thật như chúng vốn là, không bị bóp méo bởi maya (ảo ảnh), ảo cảm và ảo tưởng. “Thấy” là nhìn tất cả cuộc sống thông qua cảm giác thực tại.

ii. True causes

ii. Các nguyên nhân đích thực

iii. True underlying patterns

iii. Các nguyên mẫu thực sự phía trong

iv. The nature and movement of the true identity within

iv. Bản chất và chuyển động của danh tính thực bên trong

d. This injunction, “See”, accords with the siddhi known as “Spiritual Discernment”.

d. Huấn thị này, “Hãy thấy”, phù hợp với quan năng được gọi là “Sự phân định tâm linh”.

e. Of course, if one is psychically sensitive, one can hear, touch and see on subtler planes. Such subtle extensions of the normal senses (clairaudience, psychometry and clairvoyance) must eventually be developed. But for the Applicant to Initiation, this type of perception is not yet the most important. The seeing required is a “subjective seeing”—sight that reveals first the signs of the soul and later the soul itself.

e. Tất nhiên, nếu một người nhạy cảm về mặt tâm linh, người ta có thể nghe, chạm và thấy trên những cõi tinh tế hơn. Những phần mở rộng tinh tế như vậy của các giác quan bình thường (nhĩ thông, phép cảm thị và nhãn thông) cuối cùng phải được phát triển. Nhưng đối với Ứng viên điểm đạo, kiểu nhận thức này vẫn chưa phải là quan trọng nhất. Cái thấy được yêu cầu là một “cái thấy chủ quan” (cái thấy nội tâm) – cái thấy làm hiển lộ trước tiên các dấu hiệu của linh hồn và sau đó là chính linh hồn.

f. What can be revealed or accomplished through the sense of sight?

f. Điều gì có thể được tiết lộ hoặc đạt được thông qua thị giác?

i. All things can be ‘seen’ in relationship.

i. Tất cả những thứ có thể được ‘thấy’ trong mối quan hệ.

ii. The place of any thing within a whole can be understood.

ii. Có thể hiểu được vị trí của bất kỳ sự vật nào trong một tổng thể.

iii. The World of Meaning can be entered, for the sense of sight is very close to the soul. The soul field is the World of Meaning.

iii. Thế giới Ý nghĩa có thể được tiến vào, vì thị giác rất gần với linh hồn. Trường linh hồn là Thế giới của Ý nghĩa.

iv. Through sight a vast quantity of information enters the consciousness—this is information about associated persons and about the environment and circumstance.

iv. Thông qua thị giác, một lượng lớn thông tin đi vào tâm thức – đây là thông tin về những người có liên quan và về môi trường và hoàn cảnh.

v. Through sight one grasps entire situations simultaneously. The speed of personality progress towards spiritualization is greatly enhanced.

v. Thông qua thị giác, người ta nắm được toàn bộ tình huống cùng một lúc. Tốc độ tiến triển của phàm ngã theo hướng tinh thần hóa được nâng cao đáng kể.

vi. Through the sense of sight we approach the possibility of initiation, which necessitates a growing mental focus. The petals which are opened during the initiation process are petals which relate to the mental plane. Mind and sign are closely allied.

vi. Thông qua giác quan, chúng ta tiếp cận khả năng điểm đạo, điều này đòi hỏi sự tập trung trí tuệ ngày càng tăng. Những cánh hoa được mở ra trong quá trình điểm đạo là những cánh hoa liên quan đến cõi trí. Tâm trí và dấu hiệu liên minh chặt chẽ với nhau.

vii. Through the sense of sight the spiritual Path is discerned. The meaning of the past appears as memory is viewed and understood. The way ahead is also “seen”, known more completely. One catches a vision of a Path which must be followed. This vision develops into the Vision.

vii. Thông qua thị giác, Con đường tinh thần được sáng tỏ. Ý nghĩa của quá khứ xuất hiện khi ký ức được xem và hiểu. Chặng đường phía trước cũng được “thấy”, được biết đến một cách trọn vẹn hơn. Người ta bắt được một tầm nhìn về một Con đường phải đi theo. Tầm nhìn này phát triển thành Tầm Nhìn (thiêng liêng).

viii. Desire is intensified and aspiration enfired through the developing sense of vision. Obviously, the development of the sense of sight leads to the cultivation of the Vision which must be the possession of every true disciple and initiate.

viii. Mong muốn được tăng cường và khát vọng được khơi dậy thông qua sự phát triển tầm nhìn. Rõ ràng, sự phát triển của thị giác dẫn đến việc nuôi dưỡng Tầm Nhìn là điều mà mỗi đệ tử và điểm đạo đồ thực thụ cần phải có được.

ix. Upon the Path one is to have the “open eye which sees the light”. The two eyes see many things in the lower world. Eventually, the single eye (arising as the “Two Merge with One”) is to see the light of the soul and, finally, the soul itself—the source of light.

ix. Trên đường Đạo, người ta phải có “con mắt mở để thấy ánh sáng”. Hai mắt này thấy nhiều thứ ở hạ giới. Cuối cùng, con mắt duy nhất (phát sinh như là “Hai hợp nhất với một”) là để thấy ánh sáng của linh hồn và cuối cùng, thấy chính linh hồn — nguồn ánh sáng.

12. What is the meaning of the term, “apply”?

12. Ý nghĩa của thuật ngữ, “áp dụng” là gì?

a. The fifth ray is the Ray of Application.

a. Cung năm là Cung Áp dụng.

b. By the time we reach the point at which the term “apply” describes the stage of our development, the mind is highly developed.

b. Vào thời điểm chúng ta đạt đến điểm mà tại đó thuật ngữ “áp dụng” mô tả giai đoạn phát triển của chúng ta, tâm trí đã phát triển cao độ.

c. Personality arises through mental focus on the fourth subplane of the mental plane. By the time one is a thoroughly integrated personality, one is also a soul-infused personality. This can only occur when the mental unit is fully developed and one is one the verge of the third initiation. One could think that these Fourteen Rules for Applicants apply only to the first and, perhaps, the second initiation, but, indeed, if completely fulfilled, they will take the candidate to the third initiation.

c. Phàm ngã trỗi dậy thông qua việc tập trung trí tuệ vào cõi phụ thứ tư của cõi trí. Bởi khi một người là một phàm ngã tích hợp triệt để, y cũng là một phàm ngã được linh hồn-thấm nhập. Điều này chỉ có thể xảy ra khi đơn vị hạ trí được phát triển đầy đủ và một người tiến gần tới cuộc điểm đạo thứ ba. Người ta có thể nghĩ rằng Mười Bốn Quy Luật dành cho Ứng viên này chỉ áp dụng cho cuộc điểm đạo thứ nhất và, có lẽ, cuộc điểm đạo thứ hai, nhưng thực sự, nếu được hoàn thành trọn vẹn, chúng sẽ đưa ứng viên đến cuộc điểm đạo thứ ba.

d. With application there is a bending of all the capacities of the lower three vehicles to the purpose in sight.

d. Với việc áp dụng, có một sự uốn nắn tất cả các khả năng của ba vận cụ thấp hơn theo mục đích trong tầm nhìn.

e. Application is only correct (at this stage) if the personality will serves the will of the soul.

e. Áp dụng chỉ đúng (ở giai đoạn này) nếu ý chí phàm ngã phục vụ ý chí của linh hồn.

f. To “apply”, therefore, is to become an effective agent for the expression of soul light, soul love and soul will.

f. Vì vậy, “áp dụng” là để trở thành một tác nhân hữu hiệu cho việc thể hiện ánh sáng linh hồn, tình yêu linh hồn và ý chí linh hồn.

g. The one who applies is an increasingly soul-infused personality; one who has ‘heard’ the soul (and been ‘heard by’ soul); has ‘touched’ the soul (and been ‘touched by’ the soul); is seeking to ‘see’ the soul (and has certainly be ‘seen by’ the soul, which has been in “meditation deep” since the opening of the fifth petal at the first initiation).

g. Người áp dụng là một phàm ngã ngày càng thấm nhập linh hồn; một người đã ‘nghe thấy’ linh hồn (và được ‘nghe bởi’ linh hồn); đã ‘chạm vào’ linh hồn (và được ‘chạm vào’ linh hồn); đang tìm cách ‘thấy’ linh hồn (và chắc chắn đã được ‘thấy bởi’ linh hồn, vốn đã ở trong “thiền sâu” kể từ khi cánh hoa thứ năm mở ra ở lần điểm đạo đầu tiên).

h. What is achieved through application?:

h. Điều gì đạt được thông qua việc áp dụng? :

i. One increasingly expresses that which the soul seeks to express through its form.

i. Người ta ngày càng thể hiện điều mà linh hồn tìm cách thể hiện qua hình tướng của nó.

ii. One turns theory into practice and proves himself to be a spiritually effective human being.

ii. Một người biến lý thuyết thành thực hành và chứng minh mình là một con người hiệu quả về mặt tinh thần.

iii. One serves with growing effectiveness.

iii. Một người phục vụ với hiệu quả ngày càng tăng.

iv. As an agent of the soul, one moves towards mastery of the lower three worlds. This mastery is finally achieved at Mastership.

iv. Như một tác nhân của linh hồn, một người tiến tới việc làm chủ tam giới thấp hơn. Việc làm chủ này cuối cùng cũng đạt được tại quả vị Chân sư.

i. With respect to all these injunctions, it is the cultivation of the inner spiritual life which is the objective. The personality use of the senses and the use of personality power for its own sake and in service to the behests of the personality are not signified.

i. Đối với tất cả những huấn thị này, mục tiêu chính là việc trau dồi đời sống tinh thần bên trong là mục tiêu. Việc phàm ngã sử dụng các giác quan và việc sử dụng sức mạnh phàm ngã vì lợi ích riêng của nó và phục vụ cho những gì thuộc về phàm ngã là không còn quan trọng nữa.

13. What is it that one is to “know”?

13. Người ta phải “biết” cái gì?

a. To “know” is both the beginning and the end.

a. “Biết” vừa là bắt đầu vừa là kết thúc.

b. It is the end of the process of personality development, for faith is lost in sight and personality consciousness gives way to soul consciousness.

b. Đó là sự kết thúc của quá trình phát triển phàm ngã, vì niềm tin đã mất đi trong tầm mắt và tâm thức phàm ngã nhường chỗ cho tâm thức linh hồn.

c. However, it is but the beginning of focussed work within the Kingdom of Souls—a work which begins at the first initiation.

c. Tuy nhiên, đó chỉ là sự khởi đầu của công việc tập trung trong Giới Linh hồn — một công việc bắt đầu từ lần điểm đạo đầu tiên.

d. To “Know” is but the first phase of the sequence: “Know. Express. Reveal. Destroy. Resurrect.” This sequence leads, notice one way, from the first to the fifth initiation, but in another and higher way (and from the solar rather than planetary perspective), from the third initiation to the seventh (the Initiate of the Resurrection).

d. “Biết” chỉ là giai đoạn đầu tiên của chuỗi: “Biết. Thể hiện. Bộc lộ. Phá Hủy. Phục hồi. ” Trình tự này dẫn đến, hãy lưu ý theo một cách, từ lần điểm đạo đầu tiên đến lần thứ năm, nhưng theo một cách khác và cao hơn (và theo quan điểm thái dương chứ không phải hành tinh), từ lần điểm đạo thứ ba đến lần thứ bảy (Điểm đạo Phục sinh).

e. At each initiation, the injunction “know” applies, for with the opening of each successive “door” new forms of knowledge are revealed.

e. Ở mỗi lần điểm đạo, huấn thị “biết” được áp dụng, vì với việc mở ra từng “cánh cửa” liên tiếp, các dạng kiến thức mới sẽ được tiết lộ.

f. Upon every phase of the Path knowledge grows. As work is done in the second tier of petals, knowledge of the higher of the pairs of opposites waxes stronger. By the time there is serious work within the fields of the sacrifice petals, the consciousness is touched by the quality of the soul in such a way that soul energy is truly recognized as qualitatively different from the normal energies and forces of the personality.

f. Theo mỗi giai đoạn của đường Đạo, kiến thức tăng trưởng. Khi công việc được thực hiện ở tầng thứ hai của các cánh hoa, kiến thức về phần cao hơn của các cặp đối lập trở nên mạnh mẽ hơn. Vào thời điểm có công việc nghiêm túc trong các lĩnh vực của cánh hoa hy sinh, tâm thức được cảm hóa bởi phẩm tính của linh hồn theo cách mà năng lượng linh hồn thực sự được công nhận như là có phẩm tính khác biệt với các năng lượng và mãnh lực bình thường của phàm ngã.

g. But the term “know” can really only be accomplished upon the higher mental plane. An initiate of the first or second degree can, in this sense, “know” when fully conscious during the ceremony of initiation occurring on the higher mental plane, but this knowing almost always fades away when the initiate returns to his normal waking consciousness.

g. Nhưng thuật ngữ “biết” thực sự chỉ có thể đạt được trên cõi thượng trí. Điểm đạo đồ ở cấp độ thứ nhất hoặc thứ hai, theo nghĩa này, có thể “biết” khi ý thức hoàn toàn trong buổi lễ điểm đạo xảy ra trên cõi thượng trí, nhưng sự biết này hầu như luôn mất đi khi điểm đạo đồ trở lại tâm thức tỉnh thức bình thường của mình.

h. For the initiate of the third degree, however, something different may and should happen. Such an initiate can and must achieved what we might call “waking causal consciousness”. This means that the consciousness experienced in the causal body on the higher mental plane is not reserved only for the moments of passage through the Rites of Initiation, but is transferred to the waking consciousness and there retained…

h. Tuy nhiên, đối với những điểm đạo đồ cấp độ thứ ba, điều gì đó khác biệt có thể và nên xảy ra. Một điểm đạo đồ như vậy có thể và phải đạt được điều mà chúng ta có thể gọi là “tâm thức thể nguyên nhân thức tỉnh”. Điều này có nghĩa là tâm thức được trải nghiệm trong thể nguyên nhân trên cõi thượng trí không chỉ dành riêng cho những khoảnh khắc của Nghi thức Điểm đạo, mà được chuyển đến tâm thức thức tỉnh và được giữ lại ở đó..

i. This means that personality consciousness has been spiritually altered and is now almost fully suffused by the presence of the Ego. The consciousness of the Ego is, therefore, focussed both on the normal plane of its service to man (i.e., upon the higher mental plane) and also within the lower planes of awareness.

i. Điều này có nghĩa là tâm thức phàm ngã đã bị thay thế về mặt tinh thần và giờ đây hầu như đã hoàn toàn đủ đầy bởi sự hiện diện của Chân ngã. Do đó, tâm thức của Chân ngã tập trung vào cả cõi bình thường của việc phục vụ con người (tức là ở cõi thượng trí) và cả trong các cõi nhận thức thấp hơn.

j. The man who truly “knows” is soul-conscious at all times. He is thoroughly aligned with the Ego to such an extent that he has, as it were, become the Ego within the realm of personality.

j. Người thực sự “biết” luôn luôn có tâm thức linh hồn. Y hoàn toàn chỉnh hợp với Chân ngã đến mức y đã trở thành Chân ngã trong lĩnh vực của phàm ngã.

k. What is it, then, that is known?

k. Vậy thì cái gì được biết?

i. The domain in which the causal body exists (at this point the second subplane of the higher mental plane) is experienced at will.

i. Lĩnh vực mà thể nguyên nhân tồn tại trong đó (lúc này là cõi phụ thứ hai của cõi thượng trí) được trải nghiệm theo ý muốn.

ii. The soul in others is seen. One discerns spiritually at all times and also responds to group vibration. This means one infallibly recognizes others as souls and not only as personalities.

ii. Linh hồn trong những người khác được thấy. Một người luôn sáng suốt về mặt tinh thần và cũng hồi đáp với rung động của nhóm. Điều này có nghĩa là người ta không thể sai lầm khi nhìn nhận người khác như là những linh hồn chứ không chỉ là những phàm ngã.

iii. The Divine Plan is increasingly known in a direct rather than mediated manner. Spiritual telepathy is at work and the man with causal consciousness knows the Plan in a matter heretofore impossible.

iii. Thiên Cơ ngày càng được biết đến một cách trực tiếp hơn là qua trung gian. Thần giao cách cảm hoạt động và người có tâm thức thể nguyên nhân biết được Thiên Cơ trong một vấn đề vốn trước kia là bất khả thi.

iv. The one who “knows” also knows his egoic group and can recognize the members of his egoic group on the earthly plane.

iv. Người “biết” cũng biết nhóm Chân ngã của mình và có thể nhận ra các thành viên của nhóm Chân ngã của mình trên cõi trần thế.

v. The one who “knows”, in the sense that knowledge is possible at the third degree, also beings to know the Spirit, with which he has been forcibly impressed when the third initiation is taken.

v. Người “biết”, theo nghĩa là sự hiểu biết có thể có ở cấp độ [điểm đạo] thứ ba, cũng là những người biết về Tinh Thần, với cái (Tinh Thần) mà y đã buộc chịu ấn tượng mạnh mẽ khi nhận cuộc điểm đạo thứ ba.

vi. The one who “knows” also knows his soul destiny. He knows his dharma as an Ego, not only as a personality. He is consequently able to bring that dharma through into personality expression much more successfully that heretofore.

vi. Người “biết” cũng biết sứ mệnh linh hồn của mình. Y biết sứ mệnh của mình như một Chân ngã, không chỉ như một phàm ngã. Do đó, y có thể thực hiện sứ mệnh đó thông qua việc thể hiện phàm ngã thành công hơn nhiều so với trước đây.

vii. When one can respond to the injunction “know”, one knows the Ashram more intimately, because one has stepped within the periphery.

vii. Khi ta có thể đáp lại huấn thị “biết”, ta biết đến Ashram một cách mật thiết hơn, bởi vì ta đã bước vào bên trong vùng ngoại vi.

viii. In the earlier stages of knowing the life of the Ashram is slowly revealed but one is still on the border-line, the periphery. Spiritual knowledge is available progressively, to the Little Chela; to the Chela in the Light; to the Accepted Disciple; and also to the Chela on the Thread, but one who truly “knows” in the higher sense, is now a member of the Ashram and stands “within the aura”. He is a “Chela within the Aura”.

viii. Trong các giai đoạn hiểu biết ban đầu, cuộc sống của Ashram từ từ được tiết lộ nhưng ta vẫn ở ranh giới, ngoại vi. Kiến thức tâm linh luôn có sẵn đối với Người Đệ Tử Nhỏ Bé; với Người Đệ Tử trong Ánh Sáng; với Người Đệ tử được Chấp nhận; và cả Người Đệ Tử trên Đường Dây, nhưng một người thực sự “biết” theo nghĩa cao hơn, hiện là thành viên của Ashram và đứng “trong vòng hào quang”. Y là một “Đệ tử trong Hào quang”.

ix. Finally, one “knows” the Master with greater spiritual intimacy. One knows the Master’s Will and how the Master is intended to express that Will through the instrumentality of the Ashram.

ix. Cuối cùng, một người “biết” về Chân sư với sự gần gũi thiêng liêng hơn. Y biết được Ý định của Chân sư và cách Chân sư dự định thể hiện Ý định đó thông qua công cụ của Ashram (Đạo viện).

x. It is clear that to “know” is far more than having the kind of knowledge which comes to the good mind of a selfishly integrated personality. Yes, such a personality may ‘know’ much in the worldly sense. But the knowing here meant is a soul-knowing and pertains strictly to the consciousness of the soul both upon the higher mental plane and within the domain of personality.

x. Rõ ràng là “biết” không chỉ đơn giản là có một loại kiến thức đến với cái trí tốt của một phàm ngã tích hợp ích kỷ. Vâng, một phàm ngã như vậy có thể ‘biết’ nhiều theo nghĩa thế gian. Nhưng sự biết ở đây có nghĩa là sự hiểu biết của linh hồn và gắn liền với tâm thức của linh hồn cả trên cõi thượng trí và trong phạm vi phàm ngã.

May we rapidly and yet cautiously hasten through the stages of development indicated by the words: Listen. Touch. See. Apply. Know.

Mong chúng ta nhanh chóng nhưng thận trọng vượt qua các giai đoạn phát triển được chỉ ra bằng các từ: Lắng nghe. Chạm. Thấy. Áp dụng. Biết.

In Light, Love and Power,

Trong Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng,

Michael and Stefan

Scroll to Top