Commentary on Rule IX for Applicants
|
“Let the disciple merge himself within the circle of his other selves. Let but one colour blend them and their unity appear. Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated”. |
“Người đệ tử hãy tự hòa nhập trong nhóm của y gồm những Chân ngã khác. Hãy để cho chỉ một màu sắc hòa hợp họ, và tính thống nhất của họ biểu lộ. Chỉ khi nào nhóm được biết và cảm nhận thì năng lượng mới có thể được phát ra một cách khôn ngoan.”. |
|
From Meditative Themes for Rule IX for Applicants |
Từ các chủ đề tham thiền của Quy Luật IX dành cho ứng viên điểm đạo |
|
A. For the first of the six months we will focus upon Rule IX for Applicants |
A. Tháng đầu trong sáu tháng, chúng ta sẽ tập trung vào Quy Luật IX dành cho ứng viên điểm đạo |
|
We might choose as theme for our meditation: |
Chúng ta có thể chọn chủ đề cho bài thiền của mình: |
|
1. Either the full sentence of the Rule for Applicants: |
1. Hoặc là toàn bộ câu Quy Luật IX dành cho ứng viên điểm đạo: |
|
“Let the disciple merge himself within the circle of his other selves. Let but one colour blend them and their unity appear. Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated.” (IHS, p. 202) |
“Hãy để người đệ tử hòa nhập chính y vào trong vòng tròn của những người khác. Hãy để chỉ một màu sắc hòa trộn họ và sự hợp nhất của họ xảy ra. Chỉ khi nhóm được biết đến và được cảm nhận thì năng lượng mới có thể được phát tỏa một cách thông tuệ”. |
|
2. Or, additionally, sub-themes which DK refers to in His commentary to this Rule, such as (IHS, p. 202-203): |
2. Hoặc, thêm vào đó, các chủ đề phụ mà Chân Sư DK nhắc đến trong bình luận của Ngài về Quy Luật này như là: |
|
a. “One thing all disciples and applicants for initiation have to do is to find that particular group of servers to which they belong on the inner plane, to recognise them upon the physical plane, and to unite with them in service for the race.” (cf. RI, p. 202) |
a. “Một điều mà tất cả các đệ tử và ứng viên điểm đạo phải làm đó là tìm nhóm những người phụng sự cụ thể mà y thuộc về trên cõi nội giới, nhận ra họ trên cõi hồng trần, và hợp nhất với họ trong việc phụng sự nhân loại.” |
|
b. This recognition will be based upon: (a) unity of aim, (b) oneness of vibration, (c) identity in group affiliation, (d) karmic links of long standing, (e) ability to work in harmonious relation. (cf. RI, p. 202) |
b. Việc nhận ra [nhóm] này sẽ dựa trên: (a) sự thống nhất về mục đích, (b) rung động chung, (c) bản sắc trong liên kết nhóm, (d) các mối liên hệ nghiệp quả lâu đời, (e) khả năng làm việc trong mối quan hệ hài hòa. |
|
c. Why and how is the problem of working harmoniously in group alignment more difficult than it may appear? (cf. RI, p. 202) |
c. Tại sao và làm thế nào mà vấn đề làm việc một cách hài hòa trong sự chỉnh hợp nhóm lại khó hơn như là nó có thể xuất hiện? |
|
d. In case if Egoic vibration and relationship exist, yet the outer personalities do not harmonize, it is the work, then, of the applicant to strengthen the grip of his Ego upon his personality, so that the esoteric group relation may become possible upon the physical plane. This he will do by the disciplining of his own personality, and not by the correction of his brothers. (cf. RI, p. 202-203) |
d. Trong trường hợp nếu rung động và mối quan hệ của Chân Ngã hiện hữu, nhưng những phàm ngã bên ngoài không hài hòa, thì lúc này, công việc của ứng viên là củng cố sự kiểm soát của Chân Ngã lên phàm ngã của y, để cho quan hệ nhóm nội môn có thể trở thành khả dĩ trên cõi hồng trần. Y sẽ làm điều này bằng cách rèn luyện chính phàm ngã y, chứ không phải bằng việc chỉnh sửa những huynh đệ của y. |
|
Quy Luật IX – Rule IX |
Quy Luật IX – Rule IX |
|
Phần I – Section I |
Phần I – Section I |
|
Let the disciple merge himself within the circle of the other selves. |
Người đệ tử hãy tự hòa nhập trong nhóm của y gồm những Chân ngã khác. |
|
1. The disciple, having reached the stage of evolution where the Rules for Applicants apply, is the conscious soul in incarnation and not the personality. We are not talking about personalities blending with each other (which only feeds the fires of the lower life—cf. TCF 320) but of the merging of souls with souls (all within the One Soul). |
1. Người đệ tử, đã đạt đến giai đoạn tiến hóa mà các Quy Luật dành cho Ứng viên được áp dụng, là tâm thức linh hồn trong hóa thân chứ không phải phàm ngã. Chúng ta không nói về những phàm ngã hòa trộn với nhau (thứ chỉ nuôi dưỡng ngọn lửa của các sinh linh hạ đẳng — xem TCF 320) mà là về sự hợp nhất của các linh hồn với các linh hồn (tất cả đều trong Linh hồn Duy nhất). |
|
2. This is the ninth Rule and hence indicates a kind of completion in the sphere of consciousness as all unifications suggest a type of completion. Nine, we remember, is the number of perfected consciousness just as seven is the number of perfected form. |
2. Đây là Quy Luật thứ chín và do đó chỉ ra một loại hoàn thành trong lĩnh vực tâm thức vì tất cả các hợp nhất đều gợi ý một loại hoàn thành. Chúng ta nhớ rằng chín là số của tâm thức hoàn thiện cũng như bảy là số của hình tướng hoàn thiện. |
|
3. Why a circle? The circle is the symbol of completion. The circle is also considered the most perfect geometrical figure. Through the process of evolution, all things grow and evolve towards sphericity. |
3. Tại sao lại là một vòng tròn? Hình tròn là biểu tượng của sự hoàn thành. Hình tròn cũng được coi là hình học hoàn hảo nhất. Qua quá trình tiến hóa, vạn vật sinh trưởng và phát triển theo hướng hình cầu. |
|
4. The merging here discussed is the beginning of true group consciousness. |
4. Sự hợp nhất được thảo luận ở đây là sự khởi đầu của tâm thức nhóm thực sự. |
|
5. The “circle of the other selves” definitely exists upon the inner planes and, by the time a disciples has found his group, has formed upon the outer plane. |
5. “Vòng tròn của các bản thể khác” chắc chắn tồn tại trên các cõi bên trong và vào thời điểm một đệ tử tìm thấy nhóm của mình, đã hình thành trên cõi bên ngoài. |
|
6. A truly functioning group is a circle of selves. These selves are only temporarily “other”. At length it will be discovered that the “other selves” are but one Self. |
6. Một nhóm thực sự hoạt động là một vòng tròn của các bản thể. Những bản thể này chỉ tạm thời là “người khác”. Về lâu dài, người ta sẽ phát hiện ra rằng “các bản thể khác” đều là một Bản thể. |
|
7. When one can begin to say “I am the group” it is because his sense of identity has expanded from the circle which is his own ring-pass-not to the circle which is the ring-pass-not of the group. Let us ponder on this. |
7. Khi một người có thể bắt đầu nói “Tôi là nhóm”, đó là bởi vì ý thức về danh tính của y đã mở rộng từ vòng tròn là vòng giới hạn của riêng y sang vòng tròn là vòng giới hạn của nhóm. Chúng ta hãy suy ngẫm về điều này. |
|
8. One can practice this expansion of identity through the use of the creative imagination. Such visualization will promote what we might call ‘expansive identification’ |
8. Người ta có thể thực hành sự mở rộng danh tính này thông qua việc sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo. Hình dung như vậy sẽ thúc đẩy cái mà chúng ta có thể gọi là ‘nhận dạng mở rộng’ |
|
9. The circle of the other selves must become the circle of the group-Self. |
9. Vòng tròn của những bản thể khác phải trở thành vòng tròn của Bản Thể nhóm. |
|
Phần II – Section II |
Phần II – Section II |
|
Let but one colour blend them and their unity appear. |
Hãy để cho chỉ một màu sắc hòa hợp họ, và tính thống nhất của họ biểu lộ. |
|
10. Harmony precedes unity. The initial phases of merging necessitate harmony. Unity, based on commonalty, follows upon the establishment of harmony. |
10. Sự hài hòa đi trước sự thống nhất. Các giai đoạn đầu của sự hợp nhất cần có sự hài hòa. Sự thống nhất, dựa trên sự tương đồng, dựa trên sự thiết lập của sự hòa hợp. |
|
11. The members of a discipleship group bring many colors to the group—all the colors of the seven rays and many additional subtones of color. (Tone and color are, occultly, synonymous.) |
11. Các thành viên của một nhóm đệ tử mang lại nhiều màu sắc cho nhóm — tất cả các màu của bảy cung và nhiều màu phụ bổ sung. (Tông màu và màu sắc, một cách huyền bí, đồng nghĩa với nhau.) |
|
12. Yet, there must be “one color” (the color of the soul ray of the group) which must predominate over all the other colors assembled. |
12. Tuy nhiên, phải có “một màu” (màu của cung linh hồn của nhóm) phải chiếm ưu thế hơn tất cả các màu khác được ghép lại. |
|
13. This is the one color which blends all the other colors. Its power and authority are such that even if the other colors clash (when contacting each other on the personality level), the soul power of the predominating color will blend them. This means that the predominating color will give to every other sub-color or sub-tone an infusion of quality which will make it possible for the various colors to resonate harmoniously with each other. |
13. Đây là một màu pha trộn tất cả các màu khác. Sức mạnh và quyền lực của nó đến mức ngay cả khi các màu khác xung đột (khi tiếp xúc với nhau về cấp độ phàm ngã), thì sức mạnh linh hồn của màu ưu thế sẽ hòa trộn chúng. Điều này có nghĩa là màu chủ đạo sẽ cung cấp cho mọi màu phụ khác hoặc tông màu phụ khác một sự truyền nhập phẩm chất giúp các màu khác nhau có thể cộng hưởng hài hòa với nhau. |
|
14. We are not speaking of a monochromatic state. Many colors and gradations are present and through their presence endow the group with a variety of qualities, enriching its nature and its presentation to the world. |
14. Chúng ta không nói về một trạng thái đơn sắc. Nhiều màu sắc và sự chuyển màu có mặt và thông qua sự hiện diện của chúng mang lại cho nhóm nhiều phẩm chất khác nhau, làm phong phú thêm bản chất và cách trình bày của nhóm với thế giới. |
|
15. But the secondary qualities must render themselves subservient to the major spiritual quality/color of the group. This is an act of unification and occurs, as stated, by means of the fusion of the preeminent color into every other color. |
15. Nhưng những phẩm chất thứ yếu phải phụ thuộc vào phẩm chất/màu sắc tinh thần chính của nhóm. Đây là một hành động hợp nhất và xảy ra, như đã nói, bằng cách kết hợp màu ưu việt vào mọi màu khác. |
|
16. Another way of speaking of this psychology, is that if I am infused by the major ray quality of the group soul, and others in the group are similarly infused, our various personality colors will not present points of contention, because we will all have something in common (the preeminent color) by means of which we can merge and blend. |
16. Một cách khác để nói về tâm lý này, đó là nếu tôi được truyền cung chính của linh hồn nhóm, và những người khác trong nhóm cũng được truyền tương tự, thì những màu sắc phàm ngã khác nhau của chúng ta sẽ không thể hiện điểm tranh chấp, bởi vì tất cả chúng ta đều sẽ có thứ gì đó chung (màu ưu việt) nhờ đó chúng ta có thể hợp nhất và pha trộn. |
|
17. From a practical perspective, all personality qualities of the group members must merge within the soul quality of the group. Personality qualities become secondary and are submitted to group soul quality which then expresses through the many personality qualities. |
17. Từ góc độ thực tế, tất cả phẩm chất phàm ngã của các thành viên trong nhóm phải hợp nhất trong phẩm chất linh hồn của nhóm. Phẩm chất phàm ngã trở thành thứ yếu và được phụ thuộc vào phẩm chất linh hồn nhóm mà sau đó thể hiện qua nhiều phẩm chất phàm ngã. |
|
18. Such a group will appear unified, not because it is monochromatic, but because its major soul note is sounding so thoroughly through all the personality notes, and because its major soul color can be seen expressing through all the variety of personality colors. |
18. Một nhóm như vậy sẽ xuất hiện thống nhất, không phải vì nó đơn sắc, mà bởi vì nốt chính của nó được truyền âm rất kỹ lưỡng qua tất cả các nốt phàm ngã, và bởi vì màu linh hồn chính của nó có thể được thể hiện qua tất cả các màu phàm ngã khác nhau. |
|
19. Such a group will present an image of “unity in diversity”. True Aquarian groups are of this nature. |
19. Một nhóm như vậy sẽ thể hiện một hình ảnh về “sự thống nhất trong sự đa dạng”. Các nhóm Bảo bình thực sự có tính chất này. |
|
Section III |
Phần III |
|
Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated. |
Chỉ khi nào nhóm được biết và được cảm nhận thì năng lượng mới có thể được phát ra một cách khôn ngoan. |
|
20. The disciple may make many mistakes when seeking to discover his group. These misapprehensions may also be instructive and go far in teaching him the nature of his true Self (at this stage of evolution to be found upon the higher mental plane) and his personality self. |
20 Người đệ tử có thể mắc nhiều sai lầm khi tìm cách khám phá nhóm của mình. Những hiểu biết sai lầm này cũng có thể mang tính hướng dẫn và đi xa trong việc dạy cho y bản chất của Con người thật của y (ở giai đoạn tiến hóa này được tìm thấy trên cõi thượng trí) và phàm ngã của y. |
|
21. As disciples we are each to find a group on the physical plane with which we can rightly blend and merge our energies. Such a group will, in many if not most cases, demonstrate as its major ray our soul ray. Or perhaps, for purposes of instruction, we will be taken into a group the soul ray of which is not our own. This was the case with a number of Master DK’s students. |
21. Là đệ tử, mỗi người chúng ta phải tìm một nhóm trên cõi hồng trần mà chúng ta có thể hòa trộn và hợp nhất năng lượng của mình một cách chính xác. Một nhóm như vậy, trong nhiều trường hợp, nếu không muốn nói là hầu hết các trường hợp, cho thấy cung chính của nó là cung linh hồn của chúng ta. Hoặc có lẽ, vì mục đích hướng dẫn, chúng ta sẽ được đưa vào một nhóm mà cung linh hồn không phải của chúng ta. Đây là trường hợp của một số học viên của Chân sư DK. |
|
22. For the most effective specialized work, however, it is best that the majority of those in any group have the same soul ray. This is largely the case in an Ashram. There may be temporary guests within any Ashram, present for instructional purposes or for purposes of ashramic reinforcement, but the majority will be of the same soul nature. |
22. Tuy nhiên, để công việc chuyên môn đạt hiệu quả cao nhất, tốt nhất là phần lớn những người trong nhóm bất kỳ đều có chung một cung linh hồn. Đây phần lớn là trường hợp ở Ashram. Có thể có những vị khách tạm thời trong bất kỳ Ashram nào, hiện diện với mục đích hướng dẫn hoặc cho mục đích gia cố Đạo viện, nhưng phần lớn sẽ có cùng bản chất linh hồn. |
|
23. To “know” is an act of cognition. To “sense” suggests more the capacity for feeling, generally considered. |
23. “Biết” là một hành động nhận thức. “Cảm nhận”, thường được xem như gợi ý nhiều hơn về khả năng cảm giác. |
|
24. A merging disciple must recognize his fellow group members as souls. His mind must be attuned to the qualities of the group and he must clearly discriminate the qualities of his group from those of other groups. |
24. Một đệ tử hợp nhất phải nhận ra các thành viên trong nhóm của mình như những linh hồn. Tâm trí của y phải hòa hợp với phẩm chất của nhóm và y phải phân biệt rõ ràng phẩm chất của nhóm mình với phẩm chất của các nhóm khác. |
|
25. There is also the necessity to feel quality, which, in this context can be considered the sensing of the group. |
25. Ngoài ra còn cần cảm thấy phẩm tính, mà trong bối cảnh này có thể được coi là sự cảm nhận của nhóm. |
|
26. One must, therefore, mentally recognize group quality leading to the recognition of the group as one’s own; one must also feel the major quality of the group (a sentient act). That feeling must be one characterized by harmony leading to ‘sense’ of unity. The mechanism of sentiency will have its own means of registering harmony and unity. Unless this sentient experience is also present when a disciple ‘feels towards an into a group’, the group may not be his own. |
26. Do đó, người ta phải nhìn nhận về mặt trí tuệ phẩm tính của nhóm dẫn đến việc nhận ra nhóm như là của chính mình; người ta cũng phải cảm thấy được phẩm chất chính của nhóm (một hành động có tri giác). Cảm giác đó phải được đặc trưng bởi sự hài hòa dẫn đến ‘cảm nhận’ thống nhất. Cơ chế tri giác sẽ có những phương tiện riêng để ghi nhận sự hài hòa và thống nhất. Trừ khi trải nghiệm tri giác này cũng xuất hiện khi một đệ tử ‘cảm thấy hướng về một nhóm’, nếu không, nhóm có thể không phải là nhóm của y. |
|
27. There are higher mechanisms of sentiency than those of the astral vehicle. Astral bodies which are not yet rendered peaceful and non-reactive may be repelled by the soul quality of even the correct group. Therefore, much training of the astral body (so that it can become responsive to the buddhic plane whereon the majority of Ashrams can be found) is necessary if the sensing of one’s appropriate group is to be effective. |
27. Có những cơ chế cảm nhận cao hơn so với những cơ chế của vận cụ cảm dục. Các thể cảm dục chưa được bình an và không phản ứng có thể bị đẩy lùi bởi phẩm chất linh hồn của ngay cả nhóm phù hợp. Do đó, cần phải rèn luyện nhiều cho thể cảm dục (để nó có thể trở nên đáp ứng với cõi bồ đề, nơi có thể tìm thấy phần lớn các Đạo viện) nếu việc cảm nhận nhóm thích hợp của một người có hiệu quả. |
|
28. When we think of the “wise” emanation of energy we may have to approach from two perspectives, remembering that, in general, energy is of the soul and force of the personality. |
28. Khi chúng ta nghĩ về sự phát ra năng lượng “một cách khôn ngoan”, chúng ta có thể phải tiếp cận từ hai khía cạnh, hãy nhớ rằng nói chung, năng lượng là của linh hồn và mãnh lực là của phàm ngã. |
|
a. First the individual must learn to emanate energy wisely. This he cannot do for any length of time in a group the major vibration and purpose of which are antithetical to or disharmonious with his own. |
a. Đầu tiên, cá nhân phải học cách tỏa ra năng lượng một cách minh triết. Điều này y không thể làm trong bất kỳ khoảng thời gian nào trong một nhóm mà sự rung động chính và mục đích của chúng trái ngược hoặc không hài hòa với chính y. |
|
b. Also, the group must learn to emanate energy wisely. This will require the proper energy-focus of all members so that no unnecessary disturbances or disruptions occur within the group field. |
b. Ngoài ra, nhóm phải học cách tỏa ra năng lượng một cách minh triết. Điều này sẽ đòi hỏi sự tập trung năng lượng thích hợp của tất cả các thành viên để không xảy ra những xáo trộn hoặc gián đoạn không cần thiết trong trường năng lượng của nhóm. |
|
c. In each case (individual and group) the energy to be emanated is soul energy. |
c. Trong mỗi trường hợp (cá nhân và nhóm) năng lượng được phát ra là năng lượng linh hồn . |
|
29. Let us consider the term “emanation”. It suggests a natural outflow of energy towards that which is exterior to the emanating source. When there is the kind of freedom which harmony and unity produce, emanation will be a natural and effortless occurrence. Nothing need be forced. |
29. Chúng ta hãy xem xét thuật ngữ “phát xạ”. Nó gợi ý một luồng năng lượng tự nhiên hướng tới nguồn phát ra bên ngoài. Khi có một kiểu tự do mà sự hài hòa và thống nhất tạo ra, sự phát xạ sẽ là một sự xuất hiện tự nhiên và dễ dàng. Không có gì cần phải ép buộc. |
|
30. Individual or group usefulness depends upon the quality of the emanation, thus, both the individual and the group must see to the production of the necessary harmony and unity. The greater the harmony and unity the finer the quality of the emanation. An individual can be harmonized and unified and so can a group. |
30. Tính hữu ích của cá nhân hoặc nhóm phụ thuộc vào chất lượng của việc phát xạ, do đó, cả cá nhân và nhóm phải nhìn thấy để tạo ra sự hài hòa và thống nhất cần thiết. Sự hài hòa và thống nhất càng lớn thì chất lượng của quá trình phát xạ càng tốt. Một cá nhân có thể được hài hòa và thống nhất và một nhóm cũng vậy. |
|
31. Let us also consider the term “wisely”, for energy is to be wisely emanated. Wisdom, in this context, requires: |
31. Chúng ta cũng hãy xem xét thuật ngữ “một cách minh triết”, vì năng lượng phải được phát ra một cách minh triết . Trong bối cảnh này, sự minh triết đòi hỏi: |
|
a. An understanding of the forms which will be affected by the energy emanation. |
a. Hiểu biết về các hình tướng sẽ bị ảnh hưởng bởi sự phát xạ năng lượng. |
|
b. A modulation of the outgoing energy according to the need and the nature of the forms which will be affected. |
b. Sự điều biến của năng lượng đi ra theo nhu cầu và bản chất của các hình tướng sẽ bị ảnh hưởng. |
|
32. True wisdom is cognizant of the nature and need of form. Wisdom encompasses a “goal-fitting” application of energy and force. |
32. Minh triết chân chính là nhận thức được bản chất và nhu cầu của hình tướng. Minh triết bao gồm ứng dụng năng lượng và lực “phù hợp với mục tiêu”. |
|
33. An individual who knows himself and has established a harmonious and unified state within his energy system can affect the environment in a uniformly wise and beneficent manner. |
33. Một cá nhân hiểu rõ bản thân và thiết lập một trạng thái hài hòa và thống nhất trong hệ thống năng lượng của mình có thể ảnh hưởng đến môi trường một cách đồng nhất khôn ngoan và có lợi. |
|
34. A group which knows itself and has established a harmonious and unified state within its energy system can affect the environment in a uniformly wise and beneficent manner. |
34. Một nhóm hiểu rõ bản thân và đã thiết lập một trạng thái hài hòa và thống nhất trong hệ thống năng lượng của mình có thể ảnh hưởng đến môi trường một cách đồng nhất khôn ngoan và có lợi. |
|
35. As individuals within groups, we cannot help but be sources of individual and group emanation. Can we judge properly of the effect of such emanation? This would be a good first step. |
35. Là những cá nhân trong nhóm, chúng ta không thể không trở thành nguồn phát xạ cá nhân và nhóm. Chúng ta có thể đánh giá đúng về tác dụng của sự phát xạ như vậy không? Đây sẽ là một bước khởi đầu tốt. |
|
36. If we discover that our individual or group emanation is deficient or in some way disturbing to higher values in the recipients of the emanation, we know we have issues of integration to which to attend—individually and in group context. |
36. Nếu chúng ta phát hiện ra rằng sự phát xạ cá nhân hoặc nhóm của chúng ta bị thiếu hoặc theo một cách nào đó làm xáo trộn các giá trị cao hơn ở những người nhận phát xạ, chúng ta biết rằng chúng ta có các vấn đề về tích hợp cần tham gia — với tư cách cá nhân và trong bối cảnh nhóm. |
|
37. The major solution is to attune to the soul ray (whether of the individual or the group) and ensure that all other subsidiary factors are first harmonious with it and then unified with it. |
37. Giải pháp chính là làm hài hòa với cung linh hồn (cho dù của cá nhân hay nhóm) và đảm bảo rằng tất cả các yếu tố phụ khác trước tiên phải hài hòa với nó và sau đó thống nhất với nó. |
|
38. Qualities which differ with the soul ray need not necessarily be disharmonious with it. There are ways to bend any quality to a superior quality, but it takes close observation, skill-in-action and much persistence. |
38. Những phẩm chất khác với cung linh hồn không nhất thiết phải trái ngược với nó. Có nhiều cách để điều chỉnh bất kỳ phẩm chất nào thành phẩm chất cao cả hơn, nhưng điều đó cần sự quan sát chặt chẽ, kỹ năng thực hiện và nhiều kiên trì. |
|
39. Perhaps each of us individually should take an inventory of our various personality qualities and see which of them are disharmonious with our soul energy. Our task will then to be to blend and merge the notes and colors with the note and color of the soul ray. |
39. Có lẽ mỗi cá nhân chúng ta nên liệt kê các phẩm chất phàm ngã khác nhau của mình và xem chúng có điểm nào không phù hợp với năng lượng linh hồn của chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta sau đó sẽ là pha trộn và hợp nhất các nốt và màu sắc đó với nốt và màu sắc của cung linh hồn. |
|
40. The same approach can be used within the group. A group inventory of quality can be taken and those which are disharmonious with the group soul note and color can be identified and eventually harmonized with the higher soul quality. |
40. Phương pháp tương tự có thể được sử dụng trong nhóm. Có thể thực hiện một bản kiểm kê phẩm chất của nhóm và những điểm không hài hòa với nốt và màu sắc của nhóm có thể được xác định và cuối cùng hài hòa với phẩm chất cao cả hơn của linh hồn. |
|
41. As well, any group must see to its effect upon its environment. This is to be done objectively and impartially. |
41. Ngoài ra, bất kỳ nhóm nào cũng phải nhìn thấy ảnh hưởng của nó đối với môi trường của nó. Điều này phải được thực hiện một cách khách quan và vô tư. |
|
Paragraph I |
Đoạn I |
|
One thing all disciples and applicants for initiation have to do is to find that particular group of servers to which they belong on the inner plane, to recognise them upon the physical plane, and to unite with them in service for the race. |
Một điều mà tất cả các đệ tử và ứng viên điểm đạo phải làm đó là tìm ra nhóm những người phụng sự cụ thể mà y thuộc về trên cõi nội giới, nhận ra họ trên cõi hồng trần, và hợp nhất với họ trong việc phụng sự nhân loại. |
|
42. The sentence above is straightforward. The requirement is not easy and is not always possible. |
42. Câu trên là nói thẳng. Yêu cầu này không dễ dàng và không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được. |
|
43. The first step is inner recognition. This requires individual sensitivity to soul quality. There must be a capacity to sense the presence of souls of a certain quality upon the inner planes. |
43. Bước đầu tiên là nhận biết nội tâm. Điều này đòi hỏi sự nhạy cảm của cá nhân đối với phẩm chất linh hồn. Phải có khả năng cảm nhận được sự hiện diện của những linh hồn có phẩm chất nhất định trên các cõi nội giới. |
|
44. This cannot be done unless there is rapport with one’s own soul center on the higher mental plane. |
44. Điều này không thể được thực hiện trừ khi có mối quan hệ với trung tâm linh hồn của chính mình trên cõi thượng trí. |
|
45. We note that the group to be found is a “particular group of servers”. Inner groups are service groups. They are gathered for purposes of service. |
45. Chúng ta lưu ý rằng nhóm được tìm thấy là một “nhóm phụng sự cụ thể”. Các nhóm bên trong là nhóm phụng sự. Chúng được tập hợp với mục đích phụng sự. |
|
46. We note also that the disciple already “belongs” to such a group. He does not have to apply to such a group or attempt to fit himself to be a member it—he is already a member. |
46. Chúng ta cũng lưu ý rằng người đệ tử đã “thuộc về” một nhóm như vậy. Y không cần phải đăng ký vào một nhóm như vậy hoặc cố gắng phù hợp để trở thành thành viên của nhóm đó – y đã là một thành viên. |
|
47. Recognition of his group members upon the physical plane may be more difficult because there are so many veiling forces. We may think that we recognize the true nature of another human being, but we are often misled by superficialities. When we get to know another more fully, we are often shocked by what we have overlooked, or by a realization that the qualities we thought to be present were not present at all or, at least, not present to any significant degree. |
47. Việc nhận dạng các thành viên trong nhóm của y trên cõi hồng trần có thể khó khăn hơn vì có rất nhiều lực lượng che giấu. Chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta nhận ra bản chất thực sự của một người khác, nhưng chúng ta thường bị đánh lừa bởi những điều hời hợt. Khi chúng ta hiểu một người khác đầy đủ hơn, chúng ta thường bị sốc bởi những gì chúng ta đã bỏ qua, hoặc nhận ra rằng những phẩm chất mà chúng ta nghĩ là có mặt hoàn toàn không có hoặc ít nhất là không có ở một mức độ đáng kể nào. |
|
48. Thus, we must be possessed of the “esoteric sense” and of two faculties found on the second and third subplanes of the higher mental plane—“spiritual discernment” and “response to group vibration”. If these faculties are working for us, we will not only be able to recognize our inner group (or groups) but see through in a discerning manner to the soul quality behind a persona. Thus, will we be able to recognize our group brothers and sisters on the outer plane. |
48. Vì vậy, chúng ta phải sở hữu “giác quan nội môn” và hai quan năng được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai và thứ ba của cõi thượng trí – “sự phân biện tâm linh” và “đáp ứng với rung động của nhóm”. Nếu những khả năng này có tác dụng với chúng ta, chúng ta sẽ không chỉ có thể nhận ra nhóm (hoặc nhóm) bên trong của mình mà còn có thể nhìn thấu một cách sáng suốt phẩm chất linh hồn đằng sau một phàm ngã. Như vậy, chúng ta sẽ có thể nhận ra các anh chị em trong nhóm của mình trên cõi giới bên ngoài. |
|
49. The third requirement is that we learn to “unite with them in service for the race”. This seems an obvious requirement but recognition does not necessarily lead to united cooperative action. |
49. Yêu cầu thứ ba là chúng ta học cách “đoàn kết với họ để phụng sự cho cuộc tiến hóa”. Đây dường như là một yêu cầu hiển nhiên nhưng sự công nhận không nhất thiết phải dẫn đến hành động hợp tác thống nhất. |
|
50. Usually, it may be expected that if there is sufficient soul contact to recognize our brothers, there will also be sufficient soul contact to impel service in cooperation with them. |
50. Thông thường, có thể mong đợi rằng nếu có đủ sự tiếp xúc linh hồn để nhận ra huynh đệ của chúng ta, thì cũng sẽ có đủ sự tiếp xúc linh hồn để thúc đẩy việc phụng sự khi hợp tác với họ. |
|
51. As a general rule, once we recognize our inner/outer brothers, it will be recognized that the service in which we are engaged is intimately related to the service in which they are engaged. Our soul contact will assist us in recognizing the nature and value of the service they perform even if it is not exactly the same service we are performing. Because of identicality (or complementarity) of soul ray, it will be, at least, a service harmoniously related to our own. |
51. Theo nguyên tắc chung, một khi chúng ta nhận ra những người huynh đệ bên trong/ bên ngoài của mình, chúng ta sẽ nhận ra rằng việc phụng sự mà chúng ta đang tham gia có liên quan mật thiết đến việc phụng sự mà họ đang tham gia. Kết nối linh hồn của chúng ta sẽ giúp chúng ta nhận ra bản chất và giá trị của việc phụng sự mà họ thực hiện ngay cả khi nó không hoàn toàn giống với việc phụng sự mà chúng ta đang thực hiện. Vì tính đồng nhất (hoặc tính bổ sung) của cung linh hồn, ít nhất nó sẽ là một việc phụng sự có liên quan một cách hài hòa với chính chúng ta. |
|
52. Still, the will to cooperate actively with our inner/outer soul brothers in service for the race may require another step which some will not take. We remember that the DINA disciples in Master DK’s Ashram recognized each other on the inner and outer planes (at least Master DK assisted them to recognize each other). Yet, they proved incapable of launching a group project which would have made them truly useful to Master DK’s Ashram. |
52. Tuy nhiên, ý chí hợp tác tích cực với những người huynh đệ bên trong/bên ngoài linh hồn của chúng ta để phụng sự cho cuộc tiến hóa có thể đòi hỏi một bước nữa mà một số người sẽ không thực hiện. Chúng ta nhớ rằng các đệ tử trong cuốn Đường Đạo trong Kỷ Nguyên Mới ở Đạo viện của Chân sư DK đã nhận ra nhau trên cõi bên trong và bên ngoài (ít nhất Chân sư DK đã hỗ trợ họ nhận ra nhau). Tuy nhiên, họ tỏ ra không có khả năng khởi động một dự án nhóm mà lẽ ra họ sẽ thực sự hữu ích cho Ashram của Master DK. |
|
53. In uniting with our inner/outer brothers in service for the race, the power to serve is greatly increased. |
53. Khi đoàn kết với những người huynh đệ bên trong/bên ngoài của chúng ta để phụng sự cho cuộc tiến hóa, sức mạnh phụng sự được tăng lên rất nhiều. |
|
54. We can see that Rule IX for Applicants is aimed at increasing the effectiveness of the disciple’s service through a process of recognition, blending and merging. |
54. Chúng ta có thể thấy rằng Quy Luật IX dành cho Ứng viên là nhằm mục đích tăng hiệu quả của việc phụng sự của người đệ tử thông qua một quá trình công nhận, hòa trộn và hợp nhất. |
|
This recognition will be based upon:— |
Sự nhận biết này sẽ dựa trên:- |
|
55. We are given the guidelines by which to ensure recognition. |
55. Chúng ta được cung cấp các hướng dẫn để đảm bảo việc công nhận. |
|
a. Unity of aim. |
a. Sự thống nhất mục đích. |
|
56. Our purpose and vision are to accord with the purpose and vision of members of the ‘circle of selves’. |
56. Mục đích và tầm nhìn của chúng ta là phù hợp với mục đích và tầm nhìn của các thành viên trong ‘vòng tròn các bản thể’. |
|
b. Oneness of vibration. |
b. Một rung động duy nhất. |
|
57. We are to both recognize and feel the vibration of the soul ray. There will be many other vibrations within a discipleship group, but the soul ray vibration will be (at this stage of evolution) of paramount importance. |
57. Chúng ta phải nhận biết và cảm thấy được sự rung động của cung linh hồn. Sẽ có nhiều rung động khác trong một nhóm đệ tử, nhưng rung động của cung linh hồn sẽ là (ở giai đoạn tiến hóa này) là điều tối quan trọng. |
|
c. Identity in group affiliation. |
c. Sự đồng nhất trong mối quan hệ tập thể. |
|
58. We are to recognize through the Law of Magnetic Impulse those who truly belong to the same soul group. As we refine this recognition, we may discover that not only will the soul ray be the same but that the subray of the soul (not that subray called personality ray, in this case) and the monadic ray will be the same. |
58. Chúng ta phải nhận ra thông qua Luật Xung Động Từ tính những người thực sự thuộc về cùng một nhóm linh hồn. Khi chúng ta tinh chỉnh sự nhận biết này, chúng ta có thể phát hiện ra rằng không chỉ cung linh hồn sẽ giống nhau mà cả cung phụ của linh hồn (không phải cung phụ đó được gọi là cung phàm ngã, trong trường hợp này) và cung Chân thần cũng sẽ giống nhau. |
|
d. Karmic links of long standing. |
d. Các liên kết nghiệp quả lâu dài. |
|
59. We are to recognize those with whom we have walked the Path of Life before. This gives us further assurance regarding our correct group because frequently those who gather on the outer plane over many years and, even, many lives, will be those who are inwardly affiliated as souls. There are many ephemeral gatherings on the outer plane, but those which abide (the deeper relationships in life) are likely impelled by soul or monadic similarity. (cf. TWM 112) |
59. Chúng ta phải nhận ra những người đã cùng với chúng ta đã bước trên Con đường Sự Sống trước đây. Điều này mang lại cho chúng ta sự đảm bảo hơn nữa về nhóm chính xác của chúng ta bởi vì những người thường tụ tập ở cõi giới bên ngoài trong nhiều năm và, thậm chí, nhiều kiếp sống, sẽ là những người được liên kết bên trong như những linh hồn. Có rất nhiều cuộc tụ họp phù du ở cõi bên ngoài, nhưng những cái nào tồn tại lâu dài (những mối quan hệ sâu sắc hơn trong cuộc sống) thì nhiều khả năng được thúc đẩy bởi sự tương đồng về linh hồn hoặc Chân thần. (xem TWM 112) |
|
e. Ability to work in harmonious relation. |
e. Khả năng làm việc trong mối quan hệ hài hòa. |
|
60. If the fundamental energies are harmonious, the inner group the same, the karmic links being of long-standing, then (overall) there will be an ability to work in harmonious relation. Sometimes, it is the outer harmony, which if followed, that will reveal the inner affiliations. Enduring outer harmony is always an indicator of a more fundamental harmony and, perhaps, unity. One must discriminate between deep, abiding harmony and ephemeral moments of harmony. |
60. Nếu các năng lượng cơ bản hài hòa, nhóm bên trong giống nhau, các liên kết nghiệp lâu đời, thì (tổng thể) sẽ có khả năng hoạt động trong mối quan hệ hài hòa. Đôi khi, chính sự hài hòa bên ngoài, mà nếu tuân theo, sẽ bộc lộ những mối liên hệ bên trong. Sự hài hòa bên ngoài lâu dài luôn là một chỉ số của một sự hòa hợp cơ bản hơn và có lẽ là sự thống nhất. Người ta phải phân biệt giữa sự hòa hợp sâu sắc, bền vững và những khoảnh khắc hòa hợp phù du. |
|
Superficially, this may appear one of the easiest of the rules, but in practice it is not so. Mistakes are easily made, and the problem of working harmoniously in group alignment is not so simple as it may appear. |
Xem qua, quy luật này có thể có vẻ là một trong những quy luật dễ dàng nhất, nhưng trong thực hành thì không phải vậy. Rất dễ vấp phải những sai lầm, và vấn đề làm việc hài hòa trong sự cộng tác tập thể không phải là điều quá đơn giản như ta có thể thấy ở bề ngoài. |
|
61. The Tibetan warns us against the assumption that it will be easy to find our inner group and the outer group which is a reflection of it, and then to work harmoniously with that inner/outer group. |
61. Chân sư Tây Tạng cảnh báo chúng ta chống lại giả định rằng sẽ dễ dàng tìm thấy nhóm bên trong của chúng ta và nhóm bên ngoài là phản ánh của nó, và sau đó làm việc hài hòa với nhóm bên trong / bên ngoài đó. |
|
62. Mistakes in the finding of one’s inner and outer group may be based on the overemphasis of the personality ray and the other rays within the personality. If the soul vibration is firmly established, mistakes are less readily made. |
62. Sai lầm trong việc tìm ra nhóm bên trong và bên ngoài của một người có thể dựa trên sự chú trọng quá mức vào cung phàm ngã và các cung khác bên trong phàm ngã. Nếu rung động linh hồn được thiết lập vững chắc, sai lầm sẽ ít mắc phải hơn. |
|
63. Many people embrace others with enthusiasm only to discover that the envisioned relationship is but a passing event in the phantasmagoria of life. Those who are identified as personalities find other personalities. Those who are identified as souls find souls. The key to avoiding mistakes is to establish soul identification and live that identification. |
63. Nhiều người đón nhận những người khác với sự nhiệt tình chỉ để khám phá ra rằng mối quan hệ được hình dung chỉ là một sự kiện đang trôi qua trong ảo cảnh (phantasmagoria) của cuộc sống. Những người đồng nhất với phàm ngã tìm thấy những phàm ngã khác. Những người đồng nhất với linh hồn tìm thấy những linh hồn. Chìa khóa để tránh những sai lầm là thiết lập sự đồng nhất với linh hồn và sống với nhận dạng đó. |
|
Egoic vibration and relationship may exist, yet the outer personalities may not harmonize. |
Sự rung động và mối quan hệ giữa các Chân nhân có thể hiện hữu, nhưng các phàm nhân bên ngoài có thể không hòa hợp. |
|
64. We have been saying essentially the same. |
64. Chúng ta đã nói về cơ bản giống nhau. |
|
65. The problem appeared often amongst DK’s DINA group members, and probably, we all have had the experience quite frequently. |
65. Vấn đề thường xuất hiện giữa các thành viên nhóm đệ tử trong cuốn Đường Đạo trong Kỷ Nguyên Mới của Chân sư DK, và có lẽ, tất cả chúng ta đều đã trải qua kinh nghiệm này khá thường xuyên. |
|
It is the work, then, of the applicant to strengthen the grip of his Ego upon his personality, so that [Page 203] the esoteric group relation may become possible upon the physical plane. |
Vậy, công việc của ứng viên là tăng cường sự chế ngự của Chân nhân y đối với phàm ngã y, sao cho mối quan hệ [203] nhóm ở nội giới có thể xảy ra ở cõi trần. |
|
66. If the personality is too obtrusive, only the grip of the Ego (the power of Vulcan) will bring about that fusion of soul and personality which will render the personality qualities expressive of essential soul quality. |
66. Nếu phàm ngã quá ngang ngược, chỉ có sự kìm kẹp của Chân ngã (sức mạnh của Vulcan) mới mang lại sự hợp nhất giữa linh hồn và phàm ngã, điều này sẽ khiến những phẩm chất phàm ngã thể hiện phẩm chất cốt yếu của linh hồn. |
|
67. This is such a fundamental need. All of us suffer at times from personality qualities which simply do not accord with our deeper soul quality and purpose. |
67. Đây đúng là một nhu cầu cơ bản. Tất cả chúng ta đều có lúc phải chịu đựng những phẩm chất phàm ngã không phù hợp với phẩm chất và mục đích linh hồn sâu sắc hơn của chúng ta. |
|
68. To strengthen the grip of the Ego we must become deeply familiar with our soul purpose and submit our personality will to will of the soul. The mantram, “Not my will but Thine be done” is effective in this regard. |
68. Để củng cố sự kìm kẹp của Chân ngã, chúng ta phải trở nên quen thuộc sâu sắc với mục đích linh hồn của mình và phục tùng ý chí phàm ngã của chúng ta với ý chí linh hồn. Câu chú, “Không phải ý muốn của Con mà Ý của Ngài được thực hiện” có hiệu quả về mặt này. |
|
69. If the personality is compliant to the will of the soul, then esoteric group relations can manifest upon the physical plane. There are spiritually-intending groups in which outer personality relations are far too prominent. These outer, superficial relations must be supplanted by the more real, inner, esoteric relations. |
69. Nếu phàm ngã phù hợp với ý muốn của linh hồn, thì quan hệ nhóm nội môn có thể biểu hiện trên cõi vật chất. Có những nhóm có ý định về mặt tâm linh, trong đó các mối quan hệ phàm ngã bên ngoài quá nổi bật. Những quan hệ bề ngoài, bề nổi này phải được thay thế bằng những quan hệ thực tế hơn, bên trong, nội môn hơn. |
|
70. First we must discriminate between the two—very clearly, and then take those steps which will supplant the lower by the higher. |
70. Trước tiên, chúng ta phải phân biệt giữa hai dạng mối quan hệ này [thuộc linh hồn hay thuộc phàm ngã] – rất rõ ràng, và sau đó thực hiện các bước sẽ thay thế cái thấp hơn bằng cái cao hơn. |
|
He will do this by the disciplining of his own personality, and not by the correction of his brothers. |
Y sẽ làm điều này bằng cách áp dụng giới luật vào phàm nhân của chính y, chứ không phải bằng cách chỉnh sửa các huynh đệ y. |
|
71. Master DK offers us the method. We are to discipline our personalities, which means, in this context, to bend them to our higher will—the will we exhibit as souls. |
71. Chân sư DK cung cấp cho chúng ta phương pháp. Chúng ta phải rèn luyện phàm ngã của mình, có nghĩa là, trong bối cảnh này, uốn nắn chúng theo ý chí cao hơn của chúng ta — ý chí mà chúng ta thể hiện như một linh hồn. |
|
72. Esoteric group relations will not be achieved on the outer plane if we always go about correcting our brother instead of disciplining ourselves. |
72. Mối quan hệ nội môn của nhóm sẽ không đạt được ở cõi bên ngoài nếu chúng ta luôn sửa chữa người huynh đệ của mình thay vì tự kỷ luật bản thân. |
|
73. To see the flaw in another is the easy way, the line of least resistance for the personal ego, and no example of a very profound psychological understanding of ourselves. |
73. Thấy được khiếm khuyết ở người khác thì dễ dàng, đường tuyến ít phản kháng nhất đối với cái tôi phàm ngã, và không phải là ví dụ về sự hiểu biết tâm lý rất sâu sắc về bản thân. |
|
74. How much group harmony could be promoted were we simply to follow the advice here given! |
74. Nếu chúng ta chỉ đơn giản làm theo lời khuyên được đưa ra ở đây thì sự hài hòa nhóm có thể được thúc đẩy lên nhiều biết bao! |
|
75. The one person for whom we are truly and deeply responsible is our own self. When we have mastered that lower self our ability to recognize our inner and outer groups, merge and blend with those groups and wisely emanate energy with those groups will be greatly enhanced. |
75. Người duy nhất mà chúng ta thực sự chịu trách nhiệm chính là bản thân của chúng ta. Khi chúng ta đã làm chủ được cái tôi thấp kém đó, khả năng nhận biết các nhóm bên trong và bên ngoài của chúng ta, hợp nhất và hòa hợp với các nhóm đó và tỏa ra năng lượng một cách khôn ngoan với các nhóm đó sẽ được tăng cường đáng kể. |