Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ S4S3 (355-369)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S4 – Tác giả: Michael D. Robbins

Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

TCF 355-369: S4S3

6 – 21 November 2006

6 – 21 tháng Mười Một 2006

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Xin gợi ý rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.

1. After considering cosmic and planetary manas, we now focus on the human level.

1. Sau khi xem xét manas vũ trụ và hành tinh, giờ đây chúng ta tập trung vào cấp độ con người.

3. Human Manas.

3. Manas của con người.

We are now to consider primarily man and the manasic principle, its development in the fourth Creative Hierarchy, the human Monads, with special reference to our Earth chain.

Giờ đây chúng ta chủ yếu sẽ xem xét con người và nguyên khí manas, sự phát triển của nó trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, các Chân Thần nhân loại, đặc biệt liên hệ với dãy Địa Cầu của chúng ta.

2. After many cosmic and super-cosmic considerations, we are confining our subject to man (not as he is in the solar system) but as he is precisely on our Earth-chain. Our subject does not even cover manas as it expresses on planetary chains.

2. Sau nhiều xem xét vũ trụ và siêu-vũ-trụ, chúng ta đang giới hạn chủ đề của mình vào con người (không phải như y ở trong hệ mặt trời) mà chính xác là như y ở trên dãy Địa Cầu của chúng ta. Chủ đề của chúng ta thậm chí cũng không bao quát manas như nó biểu lộ trên các dãy hành tinh.

3. When we consider manas, we are considering the Spirit manifesting through the forms it has created.

3. Khi chúng ta xem xét manas, chúng ta đang xem xét tinh thần biểu hiện qua những hình tướng mà nó đã tạo ra.

We have seen that, to all intents and purposes, manas is the active will of an Entity working itself out through all the lesser lives who go to the content of the ring-pass-not or sphere of influence of the indwelling Existence.

Chúng ta đã thấy rằng, xét về mọi phương diện thực tiễn, manas là ý chí năng động của một Thực Thể đang tự triển khai qua tất cả những sự sống nhỏ hơn tạo nên nội dung của vòng-giới-hạn hay khối cầu ảnh hưởng của Hiện Hữu nội tại.

4. We have seen that DK’s discussion of manas is largely inseparable from will.

4. Chúng ta đã thấy rằng phần bàn luận của Chân sư DK về manas phần lớn bất khả phân ly với ý chí.

5. Manas emanates from an indwelling Existence or Entity.

5. Manas phát xạ từ một Hiện Hữu hay Thực Thể nội tại.

6. Note the phrase “content of the ring-pass-not”. What are the lives which go to the content of the ring-pass-not of any of the atoms currently under discussion?

6. Hãy lưu ý cụm từ “nội dung của vòng-giới-hạn”. Những sự sống nào tạo nên nội dung của vòng-giới-hạn của bất kỳ nguyên tử nào hiện đang được bàn đến?

7. What are the types of lives which go the content of the ring-pass-not of the atom of matter-substance? Are they subatomic particles?

7. Những loại sự sống nào tạo nên nội dung của vòng-giới-hạn của nguyên tử vật chất-chất liệu? Chúng có phải là các hạt hạ nguyên tử không?

Therefore—as concerning man on this chain—he is but expressing the purpose and the will in action of the planetary Logos in Whose body he is a cell or lesser life.

Vì vậy—xét về con người trên dãy này—y chỉ đang biểu lộ mục đích và ý chí trong hành động của Đức Hành Tinh Thượng Đế mà trong thể của Ngài y là một tế bào hay một sự sống nhỏ hơn.

8. As man develops, he finds in himself an expression of the Plan of the Planetary Logos in Whom we live and move and have our being.

8. Khi con người phát triển, y tìm thấy trong chính mình một sự biểu lộ của Thiên Cơ của Đức Hành Tinh Thượng Đế mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu.

certain mysteries arise consequently for our consideration which are connected with the life cycles of the Heavenly Man of our scheme, and particularly in relation to that special incarnation of His which we call the cycle [Page 356] of manifestation on the dense physical globe, the earth.

do đó một số huyền nhiệm nảy sinh để chúng ta xem xét, những huyền nhiệm này liên hệ với các chu kỳ sự sống của Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta, và đặc biệt liên hệ với lần lâm phàm đặc biệt ấy của Ngài mà chúng ta gọi là chu kỳ [Page 356] biểu hiện trên bầu hành tinh hồng trần đậm đặc, trái đất.

9. Incarnations of our Planetary Logos are variously described: sometimes rounds are considered incarnations; sometimes root race or sub-races; sometimes globes and probably even chains.

9. Những lần lâm phàm của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta được mô tả theo nhiều cách: đôi khi các cuộc tuần hoàn được xem là những lần lâm phàm; đôi khi là các giống dân gốc hay giống dân phụ; đôi khi là các bầu hành tinh và có lẽ cả các dãy nữa.

10. A Planetary Logos or Heavenly Man is a Being with many types of “life cycles”, many of them occurring simultaneously.

10. Một Đức Hành Tinh Thượng Đế hay Đấng Thiên Nhân là một Hữu Thể có nhiều loại “chu kỳ sự sống”, nhiều chu kỳ trong số đó diễn ra đồng thời.

He wears the planetary body as man wears the robe of the physical body, and by means of this objective form He works His purposes out on the physical plane, through the factor of mind achieving certain goals.

Ngài mặc thể hành tinh như con người mặc chiếc áo của thể xác, và nhờ hình tướng khách quan này Ngài triển khai các mục đích của Ngài trên cõi hồng trần, thông qua yếu tố trí tuệ mà đạt được những mục tiêu nhất định.

11. It has often been asked if our “dense physical globe” is only physical. It has been answered in the negative, by reminding ourselves that Sanat Kumara came to our fourth globe of the Earth-chain from the second globe of the Earth-chain, and that Shamballa exists as part of the expression of our fourth globe.

11. Người ta thường hỏi liệu “bầu hành tinh hồng trần đậm đặc” của chúng ta có chỉ là hồng trần hay không. Câu trả lời là không, bằng cách nhắc lại rằng Đức Sanat Kumara đã đến bầu hành tinh thứ tư của Dãy Địa Cầu từ bầu hành tinh thứ hai của Dãy Địa Cầu, và rằng Shamballa tồn tại như một phần của sự biểu lộ của bầu hành tinh thứ tư của chúng ta.

12. Mind, we see, is closely related to manifestation. Mind and matter are a closely interwoven pair.

12. Như chúng ta thấy, trí tuệ có liên hệ chặt chẽ với sự biểu hiện. Trí tuệ và vật chất là một cặp đan xen mật thiết.

Incidentally, the cells in His body conform to that Mind which plays upon them, just as man, the intelligent principle of incarnation on the physical plane, brings into conformity with his purpose the atoms of his body, and stimulates ever more and more the spirillae of those atoms by the force of his mind playing upon them.

Nhân tiện, các tế bào trong thể của Ngài tuân theo Trí Tuệ đang tác động lên chúng, cũng như con người, nguyên khí thông tuệ của sự lâm phàm trên cõi hồng trần, đưa các nguyên tử trong thể của mình vào sự phù hợp với mục đích của y, và ngày càng kích thích hơn nữa các loa tuyến của những nguyên tử ấy bằng mãnh lực của trí tuệ y tác động lên chúng.

13. The factor of conformity is Saturnian, and the mentality which plays upon man has much of the third ray and first ray forces of Saturn within it.

13. Yếu tố của sự tuân hợp mang tính Sao Thổ, và trí tuệ tác động lên con người chứa nhiều mãnh lực cung ba và cung một của Sao Thổ trong đó.

14. The definition of man here given is noteworthy: “man, the intelligent principle of incarnation on the physical plane”.

14. Định nghĩa về con người được đưa ra ở đây thật đáng chú ý: “con người, nguyên khí thông tuệ của sự lâm phàm trên cõi hồng trần”.

15. The stimulation of spirillae arises from the imposition of manas. Manas is a progressive force when it comes to promoting the development of material units.

15. Sự kích thích các loa tuyến phát sinh từ việc áp đặt manas. Manas là một mãnh lực tiến bộ khi nói đến việc thúc đẩy sự phát triển của các đơn vị vật chất.

16. Systemic planes are as spirillae to the Solar Logos, and, to a degree, to the Planetary Logos. The aggregations of similar kinds of vehicles utilized by many men are as spirillae to the Planetary Logos.

16. Các cõi hệ thống giống như các loa tuyến đối với Thái dương Thượng đế, và ở một mức độ nào đó, đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế. Những tập hợp các loại vận cụ tương tự được nhiều người sử dụng giống như các loa tuyến đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế.

17. Within humanity as a whole, the fifth principle is under stimulation. Within the bodies of the individual man, the fifth spirillae of his individual atoms is under stimulation.

17. Bên trong toàn thể nhân loại, nguyên khí thứ năm đang được kích thích. Bên trong các thể của con người cá nhân, các loa tuyến thứ năm của những nguyên tử cá nhân của y đang được kích thích.

Here comes the opportunity to make clear something that is oft lost sight of in the general fog surrounding this subject.

Ở đây xuất hiện cơ hội để làm sáng tỏ một điều thường bị bỏ quên trong màn sương mù chung bao quanh chủ đề này.

18. DK sees the mental obscurity in which we labor.

18. Chân sư DK thấy sự mờ tối trí tuệ trong đó chúng ta lao nhọc.

The human and deva units on the upward arc, who are the cells in His body, go to the formation of the centres, and not to the remainder of the cellular vital substance of His vehicles.

Các đơn vị người và thiên thần trên cung đi lên, là những tế bào trong thể của Ngài, góp phần vào sự hình thành các trung tâm, chứ không góp vào phần còn lại của chất liệu sinh lực tế bào trong các vận cụ của Ngài.

19. It may be that deva units are more inclined to form the lower centers and human units, the higher.

19. Có thể là các đơn vị thiên thần nghiêng nhiều hơn về việc hình thành các trung tâm thấp và các đơn vị người thì các trung tâm cao.

20. The body (solar, planetary, human or other) is hierarchically organized. In the body of the Planetary Logos, the substance of the centers of force is of greater hierarchical priority than the “remainder of the cellular vital substance”.

20. Thể (thái dương, hành tinh, nhân loại hay loại khác) được tổ chức theo phẩm trật. Trong thể của Đức Hành Tinh Thượng Đế, chất liệu của các trung tâm lực có mức ưu tiên phẩm trật cao hơn “phần còn lại của chất liệu sinh lực tế bào”.

Man has a body made up of matter which is applied to different uses, yet which forms a unit.

Con người có một thể được cấu thành bằng vật chất được dùng vào những công dụng khác nhau, nhưng vẫn tạo thành một đơn vị.

21. We have in man (as in all units great and small) a division of labor. Matter is organized hierarchically within the material nature of man.

21. Trong con người (cũng như trong mọi đơn vị lớn nhỏ) chúng ta có một sự phân công lao động. Vật chất được tổ chức theo phẩm trật bên trong bản chất vật chất của con người.

22. This hierarchical organization may also obtain within the subtle bodies of man.

22. Sự tổ chức theo phẩm trật này cũng có thể hiện hữu trong các thể vi tế của con người.

In this unit there are certain areas of more vital importance than other areas from the standpoint of energising force.

Trong đơn vị này có những khu vực quan trọng sinh lực hơn những khu vực khác xét từ quan điểm của mãnh lực tiếp sinh lực.

23. We note the phrase “of more vital importance”. Those areas of more vital importance serve the purposes of the indwelling Life more thoroughly and accurately. The indwelling life is the “energising force”.

23. Chúng ta lưu ý cụm từ “quan trọng sinh lực hơn”. Những khu vực có tầm quan trọng sinh lực hơn ấy phụng sự các mục đích của Sự sống nội tại một cách trọn vẹn và chính xác hơn. Sự sống nội tại là “mãnh lực tiếp sinh lực”.

Such an area as the heart may, in this connection, be considered and compared (as regards force value) with such an area as the calf of the leg.

Một khu vực như tim, trong mối liên hệ này, có thể được xét đến và so sánh (về giá trị lực) với một khu vực như bắp chân.

24. DK is teaching us through this comparison, as the calf of the leg is ruled by Aquarius, the sign opposite Leo, which rules the heart.

24. Chân sư DK đang dạy chúng ta qua sự so sánh này, vì bắp chân được cai quản bởi Bảo Bình, dấu hiệu hoàng đạo đối nghịch với Sư Tử, vốn cai quản tim.

25. It is obvious, but one can live without the calf of the leg, but not without the heart (or an artificial substitute). Yet the calf of the leg acts as a pump for blood and serves the heart.

25. Điều này là hiển nhiên, nhưng người ta có thể sống mà không có bắp chân, chứ không thể không có tim (hoặc một vật thay thế nhân tạo). Tuy nhiên bắp chân hoạt động như một cái bơm cho máu và phụng sự tim.

The entity, man, utilises both, but the heart centre is of paramount importance.

Thực thể là con người sử dụng cả hai, nhưng trung tâm tim có tầm quan trọng tối thượng.

26. The principle is clear.

26. Nguyên lý này thật rõ ràng.

Thus is it also with a Heavenly Man. The two great Hierarchies—deva and human—are force centres in the body of a planetary Logos;

Với một Đấng Thiên Nhân cũng vậy. Hai Huyền Giai lớn—thiên thần và nhân loại—là các trung tâm lực trong thể của một Hành Tinh Thượng đế;

27. The body, of course, consists of a number of dimensions—not just the physical-etheric.

27. Dĩ nhiên, thể ấy gồm một số chiều kích—không chỉ riêng hồng trần-dĩ thái.

28. From the solar logoic perspective, all that is found upon the cosmic physical plane is the physical body in its ethereal and dense portions.

28. Từ quan điểm của Thái dương Thượng đế, tất cả những gì được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ đều là thể xác trong các phần dĩ thái và đậm đặc của nó.

29. With regard to the Planetary Logos, the deva evolution can be correlated with the sacral center (a form-building center) and the human evolution (generally) with the throat center.

29. Đối với Hành Tinh Thượng đế, tiến hóa thiên thần có thể được tương liên với trung tâm xương cùng (một trung tâm tạo hình) và tiến hóa nhân loại (nói chung) với trung tâm cổ họng.

the other evolutions of an involutionary nature extant within the scheme, and the remainder of the active substance of the globes, and all contained therein, go to the content of the remainder of His body.

các tiến hóa khác có bản chất giáng hạ tiến hoá hiện tồn trong hệ hành tinh, và phần còn lại của chất liệu hoạt động của các bầu hành tinh, cùng mọi thứ chứa trong đó, góp vào nội dung của phần còn lại trong thể của Ngài.

30. We are differentiating between evolutionary and involutionary substance (from the perspective of the Planetary Logos).

30. Chúng ta đang phân biệt giữa chất liệu thăng thượng tiến hoá và giáng hạ tiến hoá (từ quan điểm của Hành Tinh Thượng đế).

31. All evolutions exist within the body corporate, but according to their degree of evolution, so is their importance to the Including Life, the ‘Energizing Force’.

31. Mọi tiến hóa đều hiện hữu trong tổng thể ấy, nhưng tùy theo mức độ tiến hóa của chúng mà tầm quan trọng của chúng đối với Sự Sống Bao Gồm, “Mãnh lực Tiếp sinh lực”, cũng như vậy.

32. Every vehicle has its chakras. The chakras are of a higher order of substance than the general substance of the vehicle in which they take shape as vortices.

32. Mọi vận cụ đều có các luân xa của nó. Các luân xa thuộc một trật tự chất liệu cao hơn chất liệu chung của vận cụ trong đó chúng thành hình như những xoáy lực.

a. Man and the planetary Logos. With the deva evolution at this point we have nought to do.

a. Con người và Hành Tinh Thượng đế. Với tiến hóa thiên thần ở điểm này, chúng ta không có gì để bàn đến.

33. For the moment, the Tibetan is focussing His attention on man. He does say quite a bit about the deva evolution later in the book.

33. Hiện giờ, Chân sư Tây Tạng đang tập trung sự chú ý của Ngài vào con người. Về sau trong sách, Ngài quả có nói khá nhiều về tiến hóa thiên thần.

34. Man, actually, has much to do with the deva evolution, but not much of their relationship is yet conscious—from the human perspective.

34. Thật ra, con người có rất nhiều liên hệ với tiến hóa thiên thần, nhưng từ quan điểm nhân loại, chưa có nhiều điều trong mối liên hệ ấy là hữu thức.

I seek to concentrate attention on man, as he functions on earth.

Tôi tìm cách tập trung sự chú ý vào con người, như y hoạt động trên Trái Đất.

35. This is one of the practical sections of TCF.

35. Đây là một trong những phần thực tiễn của Luận về Lửa Vũ Trụ.

In order to clarify the idea of manas and its relation to a human being it is necessary to point out certain things [Page 357] in connection with a Heavenly Man which must be borne in mind.

Để làm sáng tỏ ý niệm về manas và mối liên hệ của nó với một con người, cần phải chỉ ra một số điều [Page 357] liên quan đến một Đấng Thiên Nhân mà phải được ghi nhớ.

36. To see man clearly, we must also reference the Heavenly Man in Whom man is a corporate part.

36. Muốn thấy rõ con người, chúng ta cũng phải quy chiếu đến Đấng Thiên Nhân mà trong Ngài con người là một phần tập thể.

First, that each Heavenly Man holds the position of a centre in the body of a solar Logos; therefore, the Logos of a scheme will embody some outstanding characteristic.

Thứ nhất, mỗi Đấng Thiên Nhân giữ vị trí của một trung tâm trong thể của một Thái dương Thượng đế; vì vậy, Thượng đế của một hệ hành tinh sẽ hiện thân một đặc tính nổi bật nào đó.

37. As each chakra expresses a predominant quality—according to ray, impinging astrological influences and general role within the body corporate, so will each of the Planetary Logoi (considered as chakras within the Solar Logos) express a predominating quality or “outstanding characteristic”.

37. Cũng như mỗi luân xa biểu lộ một phẩm tính trội—tùy theo cung, các ảnh hưởng chiêm tinh tác động vào và vai trò chung trong tổng thể—thì mỗi Hành Tinh Thượng đế (được xét như các luân xa bên trong Thái dương Thượng đế) cũng sẽ biểu lộ một phẩm tính trội hay “đặc tính nổi bật”.

38. We have speculated much on which planets can be assigned to which solar logoic chakras. Much, however, remains to be ascertained.

38. Chúng ta đã suy đoán rất nhiều về việc hành tinh nào có thể được gán cho luân xa thái dương nào. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều phải được xác định.

39. The entire matter of assigning Planetary Logoi to chakric positions is subject to ‘temporal fluidity’.

39. Toàn bộ vấn đề gán các Hành Tinh Thượng đế vào những vị trí luân xa còn tùy thuộc vào “tính linh động theo thời gian”.

The ten schemes are the seven, and the synthesising three—not the seven and a lower three.

Mười hệ hành tinh là bảy và ba hệ tổng hợp—không phải bảy và ba thấp.

40. Here we are speaking of ten planetary schemes, among which are non-sacred schemes.

40. Ở đây chúng ta đang nói về mười hệ hành tinh, trong đó có những hệ không thiêng liêng.

41. In this enumeration the three Logoi surrounding the Solar Logos do not seem to be included.

41. Trong cách liệt kê này, ba Thượng đế bao quanh Thái dương Thượng đế dường như không được kể vào.

42. There, are, however a “lower three” as well as a ‘higher three’. Counting seven, a lower three, a higher three and a ‘circum-logoic’ three, we have the number sixteen—a number important to the construction of the egoic lotus and to the throat center.

42. Tuy nhiên, có một “ba thấp” cũng như một “ba cao”. Tính bảy, một ba thấp, một ba cao và một bộ ba “quanh-logoic”, chúng ta có con số mười sáu—một con số quan trọng đối với cấu trúc của Hoa Sen Chân Ngã và đối với trung tâm cổ họng.

43. DK seems to be answering regarding whether there are three in addition to the seven or whether the ten are to be derived from the within the seven, with the primary trinity counted twice.

43. Chân sư DK dường như đang trả lời câu hỏi liệu có ba hệ ngoài bảy hệ hay mười hệ phải được rút ra từ bên trong bảy hệ, với bộ ba sơ khởi được tính hai lần.

The lower centres were vital in the last solar system (from the esoteric standpoint), and are not counted in this; they were synthesised and absorbed during the obscuration process of System I.

Các trung tâm thấp là sinh lực trong hệ mặt trời trước (xét từ quan điểm huyền bí), và không được tính trong hệ này; chúng đã được tổng hợp và hấp thu trong tiến trình che khuất của Hệ I.

44. What do we really mean by the “lower centres”? Do we mean base of the spine center, sacral center and solar plexus center? There is reason to think we do not, but, instead, three still lower centers which were synthesized at the conclusion of System I.

44. Thực sự chúng ta muốn nói gì khi nói đến “các trung tâm thấp”? Có phải chúng ta muốn nói trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và trung tâm tùng thái dương không? Có lý do để nghĩ rằng không phải vậy, mà là ba trung tâm còn thấp hơn nữa đã được tổng hợp vào lúc kết thúc Hệ I.

45. We note that the three lowest centers (as usually considered) are very active in this solar system. The base of the spine center is even active at the fifth initiation, which our Solar Logos is still far from achieving.

45. Chúng ta lưu ý rằng ba trung tâm thấp nhất (như thường được hiểu) rất hoạt động trong hệ mặt trời này. Trung tâm đáy cột sống thậm chí còn hoạt động ở lần điểm đạo thứ năm, điều mà Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn còn rất xa mới đạt tới.

46. These three (synthesized at the end of the previous solar system) may in some manner related to the “eighth sphere” and to a plane which is considered subliminal to our lowest or seventh systemic plane.

46. Ba trung tâm này (được tổng hợp vào cuối hệ mặt trời trước) có thể theo cách nào đó liên hệ với “khối cầu thứ tám” và với một cõi được xem là ở dưới ngưỡng của cõi hệ thống thấp nhất hay cõi thứ bảy của chúng ta.

47. The relationship between the three and eight is closely guarded. Something about the sign Scorpio is here suggested.

47. Mối liên hệ giữa ba và tám được canh giữ rất kín. Ở đây có điều gì đó được gợi ý về dấu hiệu Hổ Cáp.

48. It would be of interest to know which planets in the last solar system represented these centers. We do recall that the Buddhas of Activity were highly manasic Planetary Logoi in the last solar system.

48. Sẽ rất đáng quan tâm nếu biết những hành tinh nào trong hệ mặt trời trước đã đại diện cho các trung tâm này. Chúng ta nhớ rằng các Đức Phật Hoạt Động là những Hành Tinh Thượng đế rất manas trong hệ mặt trời trước.

Secondly, each Heavenly Man is consequently the embodiment of a particular kind of electrical force which flows through His scheme as man’s force flows through some one of the etheric centres in his body.

Thứ hai, do đó mỗi Đấng Thiên Nhân là hiện thân của một loại lực điện đặc thù chảy qua hệ hành tinh của Ngài cũng như lực của con người chảy qua một trong các trung tâm dĩ thái trong thể của y.

49. We do not leave the conception of “electrical force”. Each Heavenly Man is expressive of some kind of electrical force. This is a predominating quality, and identifying what it is, is of value when determining the role of that particular Planetary Logos in the life expression of the Solar Logos.

49. Chúng ta không rời khỏi quan niệm về “lực điện”. Mỗi Đấng Thiên Nhân biểu lộ một loại lực điện nào đó. Đây là một phẩm tính trội, và việc nhận diện nó là gì có giá trị khi xác định vai trò của Hành Tinh Thượng đế đặc thù ấy trong biểu hiện sự sống của Thái dương Thượng đế.

50. We have been given the three major rays of our Planetary Logos—the first ray Monad, the second ray soul and the third ray personality. (cf. EA 619)

50. Chúng ta đã được cho biết ba cung chính của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta—chân thần cung một, linh hồn cung hai và phàm ngã cung ba. (x. EA 619)

51. Ray forces are, it would seem, electrical forces.

51. Có vẻ như các lực cung là các lực điện.

52. The term “electrical”, or “electric” seems ubiquitous when describing cosmos, mirroring the ubiquity of Fohat.

52. Thuật ngữ “điện”, hay “điện lực”, dường như hiện diện khắp nơi khi mô tả vũ trụ, phản chiếu tính phổ biến của Fohat.

Each scheme, as each human centre, will

Mỗi hệ hành tinh, cũng như mỗi trung tâm nhân loại, sẽ

a. Vibrate to some one key.

a. Rung động theo một chủ âm nào đó.

53. This will depend upon the degree of advancement of a Planetary Logos as it expresses through a planetary scheme.

53. Điều này sẽ tùy thuộc vào mức độ tiến bộ của một Hành Tinh Thượng đế khi Ngài biểu lộ qua một hệ hành tinh.

54. If the Logos functions as a personality, the key may be ‘pitched’ at a certain vibratory level; if as a soul, the key changes; if as a Monad, the key changes again.

54. Nếu Thượng đế ấy hoạt động như một phàm ngã, chủ âm có thể được “định” ở một cấp độ rung động nào đó; nếu như một linh hồn, chủ âm thay đổi; nếu như một chân thần, chủ âm lại thay đổi nữa.

55. We might say that our Planetary Logos is changing key and changing colour, as He moves from personality polarization toward soul polarization. He is not there yet.

55. Chúng ta có thể nói rằng Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang đổi chủ âm và đổi màu sắc, khi Ngài chuyển từ sự phân cực phàm ngã sang sự phân cực linh hồn. Ngài vẫn chưa ở đó.

b. Have its own colouring.

b. Có màu sắc riêng của nó.

56. We live on a blue-green planet, which colors are reflective of the personality and soul rays of our Planetary Logos (the third and second, respectively).

56. Chúng ta sống trên một hành tinh xanh lam-xanh lục, những màu này phản chiếu các cung phàm ngã và linh hồn của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (lần lượt là cung ba và cung hai).

57. Perhaps within Ashrams, human beings are organized into groups of seven or multiples thereof, in order to express certain sub-ray types of the Ashram’s major ray.

57. Có lẽ trong các ashram, con người được tổ chức thành những nhóm bảy hoặc bội số của bảy, để biểu lộ một số loại cung phụ của cung chính của ashram.

c. Resemble, when seen from the higher planes, a vast lotus.

c. Giống như, khi được nhìn từ các cõi cao, một hoa sen rộng lớn.

58. All units of life are seen as flowers unfolding—the lotus, due to its structure and appearance, being the particularly apt symbol. Man, from a certain perspective, is a lotus (the egoic lotus being paramount at this time); the Planetary Logos and the Solar Logos, from certain perspectives, are also lotuses.

58. Mọi đơn vị sự sống đều được thấy như những đóa hoa đang khai mở—hoa sen, do cấu trúc và sắc tướng của nó, là biểu tượng đặc biệt thích hợp. Con người, từ một góc nhìn nào đó, là một hoa sen (Hoa Sen Chân Ngã hiện là điều tối quan trọng); Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế, từ một số góc nhìn nào đó, cũng là những hoa sen.

d. Possess, according to its vibratory capacity, a definite number of petals.

d. Sở hữu, tùy theo khả năng rung động của nó, một số lượng cánh hoa xác định.

59. It is interesting to consider that each of the planets has a certain number of petals. This stands to reason as the different chakras of the human being each has a distinct number of petals.

59. Thật thú vị khi suy xét rằng mỗi hành tinh đều có một số lượng cánh hoa nhất định. Điều này là hợp lý vì các luân xa khác nhau của con người mỗi cái đều có một số lượng cánh hoa riêng biệt.

60. Whether or not our Planetary Logos is or ever will be a heart center like the Solar Logos, it appears that He can be seen as a twelve-petalled lotus.

60. Dù Hành Tinh Thượng đế của chúng ta có phải hay sẽ bao giờ là một trung tâm tim như Thái dương Thượng đế hay không, có vẻ như Ngài có thể được thấy như một hoa sen mười hai cánh.

It is for that reason that the truly illumined man and all who have taken the three highest initiations are always referred to as “the diamond souled”; they, in their totality constitute the “jewel in the lotus”—that twelve-petalled lotus which is the symbol and expression of the potency of the planetary Logos. (TEV 91)

Chính vì lý do đó mà con người thật sự được soi sáng và tất cả những ai đã nhận ba lần điểm đạo cao nhất luôn được gọi là “những linh hồn kim cương”; họ, trong tính toàn thể của mình, cấu thành “ngọc trong hoa sen”—hoa sen mười hai cánh ấy là biểu tượng và biểu hiện của quyền năng của Hành Tinh Thượng đế. (TEV 91)

8. The points in the third planetary petal, and groups of others related to the twelve petalled planetary lotus, (TCF 1082)

8. Các điểm trong cánh hoa hành tinh thứ ba, và các nhóm khác liên hệ với hoa sen hành tinh mười hai cánh, (TCF 1082)

61. In this fourth chain, fourth globe and fourth round the base of the spine center of the human being has four petals.

61. Trong dãy thứ tư, bầu hành tinh thứ tư và cuộc tuần hoàn thứ tư này, trung tâm đáy cột sống của con người có bốn cánh hoa.

62. From one perspective, the Earth-scheme is a base of the spine center, but perhaps is not fully mature as such a center.

62. Từ một góc nhìn, hệ hành tinh Địa Cầu là một trung tâm đáy cột sống, nhưng có lẽ chưa hoàn toàn trưởng thành như một trung tâm như thế.

63. It is reasonable to suspect that since planetary chains and planetary globes are all chakras as well, that each of them would have a distinct number of chakras.

63. Có lý để nghi ngờ rằng vì các dãy hành tinh và các bầu hành tinh cũng đều là các luân xa, nên mỗi cái trong số đó sẽ có một số lượng luân xa riêng biệt.

64. Perhaps the fourth chain and the fourth globe are also, in their own way, base of the spine centers, and have four petals. This cannot be confirmed by our present knowledge.

64. Có lẽ dãy thứ tư và bầu hành tinh thứ tư cũng, theo cách riêng của chúng, là những trung tâm đáy cột sống, và có bốn cánh hoa. Điều này không thể được xác nhận bằng tri thức hiện tại của chúng ta.

65. If our Earth-scheme, with its second ray soul, will ever be a solar logoic heart center, it seems that it will not be in the immediate solar systemic future.

65. Nếu hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta, với linh hồn cung hai của nó, rồi đây sẽ là một trung tâm tim của Thái dương Thượng đế, thì có vẻ điều đó sẽ không xảy ra trong tương lai gần của hệ mặt trời.

e. Be connected in geometrical formation with certain other centres of Heavenly Men, making systemic triangles.32

e. Được nối kết trong sự sắp xếp hình học với một số trung tâm khác của các Đấng Thiên Nhân, tạo thành các tam giác hệ thống.32

66. Each Heavenly Man functions in relation to a number of planetary triangles:

66. Mỗi Đấng Thiên Nhân hoạt động trong mối liên hệ với một số tam giác hành tinh:

a. Earth, Mars, Mercury is one.

a. Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Thủy là một.

b. Earth, Venus, Mars is another

b. Trái Đất, Sao Kim, Sao Hỏa là một tam giác khác

c. Earth, Venus, Mercury is another

c. Trái Đất, Sao Kim, Sao Thủy là một tam giác khác

d. Earth, Vulcan, Pluto is another

d. Trái Đất, Vulcan, Sao Diêm Vương là một tam giác khác

e. Earth, Mars, Saturn is yet another, etc.

e. Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Thổ lại là một tam giác khác nữa, v.v.

[A hint of this triangle of force was conveyed in Letters on Occult Meditation, page 79-84, when speaking of man and his centres.]

[Một gợi ý về tam giác lực này đã được truyền đạt trong Letters on Occult Meditation, trang 79-84, khi nói về con người và các trung tâm của y.]

67. One of the most important triangles is Earth, Mars, Venus, in which Venus is considered the alter-ego of Earth and its polar opposite, and Mars can be considered Earth’s complimentary planet.

67. Một trong những tam giác quan trọng nhất là Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Kim, trong đó Sao Kim được xem là đối phần của Trái Đất và là cực đối nghịch của nó, còn Sao Hỏa có thể được xem là hành tinh bổ sung của Trái Đất.

f. Be characterised by different stages of activity according to the initiation towards which the Logos may be working.

f. Được đặc trưng bởi những giai đoạn hoạt động khác nhau tùy theo lần điểm đạo mà Thượng đế ấy có thể đang hướng tới.

68. Things on our Earth are heating up considerably as our Planetary Logos prepares for a fourth chain-initiation through His fourth chain, the Earth-chain.

68. Mọi sự trên Trái Đất của chúng ta đang nóng lên đáng kể khi Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chuẩn bị cho một lần điểm đạo dãy thứ tư qua dãy thứ tư của Ngài, tức Dãy Địa Cầu.

Thus, at one period one centre or Heavenly Man may be the subject of logoic attention, and of specialised stimulation, and at another period a totally different scheme may be the object of vitalisation.

Do đó, vào một thời kỳ, một trung tâm hay một Đấng Thiên Nhân có thể là đối tượng của sự chú ý logoic và của sự kích thích chuyên biệt, còn vào một thời kỳ khác, một hệ hành tinh hoàn toàn khác có thể là đối tượng của sự tiếp sinh lực.

69. It would seem that the Earth-scheme is under much stimulation as a result of the occult attentiveness of our fourth order Logos. It would seem that the Solar Logos is preparing to undergo a minor (thus, scheme-initiation) through our planes, the Earth-scheme.

69. Có vẻ như hệ hành tinh Địa Cầu đang chịu nhiều kích thích do sự chú tâm huyền bí của Thượng đế bậc bốn của chúng ta. Có vẻ như Thái dương Thượng đế đang chuẩn bị trải qua một lần điểm đạo nhỏ (do đó là điểm đạo hệ hành tinh) qua các cõi của chúng ta, tức hệ hành tinh Địa Cầu.

70. The changing of objects of attention may or may not be sequential. The old theosophical approach which held to a rigid sequentiality in terms of solar logoic or planetary logoic stimulation, is, it seems, not accurate in all cases.

70. Sự thay đổi các đối tượng chú ý có thể có hoặc không theo tuần tự. Có vẻ như cách tiếp cận Thông Thiên Học cũ vốn giữ một tính tuần tự nghiêm ngặt về mặt kích thích logoic thái dương hay logoic hành tinh là không chính xác trong mọi trường hợp.

For some time the Logos has turned His attention to the Earth Scheme and to Saturn, whilst Uranus is receiving [Page 358] stimulation. Much is therefore accentuated, and increased evolutionary development is the consequence of this divine attention.

Trong một thời gian, Thượng đế đã hướng sự chú ý của Ngài đến Hệ Địa Cầu và đến Sao Thổ, trong khi Sao Thiên Vương đang nhận [Page 358] sự kích thích. Vì vậy, nhiều điều được nhấn mạnh, và sự phát triển tiến hoá gia tăng là hệ quả của sự chú ý thiêng liêng này.

71. This is an important statement telling us much, perhaps, about the present intention of logoic kundalini.

71. Đây là một phát biểu quan trọng, cho chúng ta biết nhiều điều, có lẽ, về ý định hiện tại của kundalini logoic.

72. For the human being, Uranus (in one of its methods of influence) rules the sacral center (though other planets like Mars must necessarily be involved). Saturn rules the throat center. In our solar system we could be witnessing the rising of the sacral center to the throat center. The solar plexus center (hypothesized as Venus) may also be involved.

72. Đối với con người, Sao Thiên Vương (trong một trong các phương pháp ảnh hưởng của nó) cai quản trung tâm xương cùng (dù các hành tinh khác như Sao Hỏa tất yếu cũng phải tham gia). Sao Thổ cai quản trung tâm cổ họng. Trong hệ mặt trời của chúng ta, có thể chúng ta đang chứng kiến sự nâng trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng. Trung tâm tùng thái dương (được giả định là Sao Kim) cũng có thể liên quan.

73. Uranus, of course, rules other centers—the throat center (because it is a distributor of the great seventh Ray, the head center, etc.

73. Dĩ nhiên, Sao Thiên Vương cai quản các trung tâm khác—trung tâm cổ họng (vì nó là một phân phối viên của cung bảy lớn), trung tâm đầu, v.v.

74. The Earth we have assigned to various centers—the mental unit (if the Solar Logos has one); perhaps the lower point within the solar logoic solar plexus center; the splenic center and the base of the spine (which, it would seem) it cannot rule alone.

74. Chúng ta đã gán Trái Đất cho nhiều trung tâm khác nhau—đơn vị hạ trí (nếu Thái dương Thượng đế có một đơn vị như thế); có lẽ là điểm thấp bên trong trung tâm tùng thái dương của Thái dương Thượng đế; trung tâm lá lách và đáy cột sống (mà dường như) nó không thể cai quản một mình.

75. We remind ourselves of the potential hypothesis that three planets may be connected with each of the main solar logoic chakras; such a triangle of planets may also rotate at different times of solar logoic development.

75. Chúng ta tự nhắc mình về giả thuyết tiềm năng rằng ba hành tinh có thể liên kết với mỗi luân xa chính của Thái dương Thượng đế; một tam giác hành tinh như vậy cũng có thể xoay chuyển vào những thời điểm khác nhau trong sự phát triển của Thái dương Thượng đế.

76. We remember that Saturn, at this time, is the expression of one of the super-principles, and probably always will be, as Venus probably will not. Whether Jupiter will remain as an expression of one of the three super-principles is debatable. Much depends on how we understand the manner in which Neptune is to be allocated, for Neptune (even if it does not strictly belong to our solar system) is a Logos superior in spiritual status to the Logos of Jupiter.

76. Chúng ta nhớ rằng hiện nay Sao Thổ là biểu hiện của một trong các siêu nguyên khí, và có lẽ sẽ luôn là như vậy, trong khi Sao Kim có lẽ sẽ không. Việc Sao Mộc có còn là biểu hiện của một trong ba siêu nguyên khí hay không vẫn còn có thể tranh luận. Nhiều điều tùy thuộc vào cách chúng ta hiểu phương thức Sao Hải Vương sẽ được phân bổ, vì Sao Hải Vương (ngay cả nếu nó không thực sự thuộc về hệ mặt trời của chúng ta) là một Thượng đế cao hơn về địa vị tinh thần so với Thượng đế của Sao Mộc.

77. From the archetypal viewpoint, the three super-principles should be ruled by Uranus (first), Neptune (second) and Saturn (third).

77. Từ quan điểm nguyên mẫu, ba siêu nguyên khí nên được cai quản bởi Sao Thiên Vương (thứ nhất), Sao Hải Vương (thứ hai) và Sao Thổ (thứ ba).

When these facts are borne in mind it will be seen that the interaction, and the complexity, is of vast proportions, and man can do no more than accept the fact, and leave the explanation until his consciousness is of greater scope.

Khi những sự kiện này được ghi nhớ, người ta sẽ thấy rằng sự tương tác và tính phức tạp có quy mô vô cùng to lớn, và con người không thể làm gì hơn ngoài việc chấp nhận sự kiện ấy, và để phần giải thích lại cho đến khi tâm thức của y có tầm mức lớn hơn.

78. Well, we are getting the idea even if we cannot solve all the intricacies, the solutions to these issues lie in the hands of initiates of high degree.

78. Chúng ta đang nắm được ý tưởng dù chưa thể giải quyết mọi điều phức tạp; lời giải cho những vấn đề này nằm trong tay các điểm đạo đồ cấp cao.

Third, one of the mysteries revealed at initiation is that of the logoic centre which our scheme represents, and the type of electrical fire which is flowing through it.

Thứ ba, một trong những huyền nhiệm được mặc khải lúc điểm đạo là huyền nhiệm về trung tâm logoic mà hệ hành tinh của chúng ta đại diện, và loại lửa điện đang chảy qua nó.

79. DK hints at a number of possibilities which I have covered in previous Commentaries and mentioned just above.

79. Chân sư DK gợi ý một số khả năng mà tôi đã trình bày trong các bộ Bình Giải trước đây và vừa nhắc đến ở trên.

80. The base of the spine center seems an important (though perhaps premature) assignment in relation to our Earth.

80. Trung tâm đáy cột sống dường như là một sự gán định quan trọng (dù có lẽ còn quá sớm) liên quan đến Trái Đất của chúng ta.

81. At which initiation may this be revealed? One of the higher ones, perhaps, as the base of the spine center becomes truly active at the fifth degree (R&I 340)

81. Điều này có thể được mặc khải ở lần điểm đạo nào? Có lẽ là một trong những lần cao hơn, vì trung tâm đáy cột sống trở nên thật sự hoạt động ở cấp thứ năm (R&I 340)

82. Our Solar Logos has not yet passed through His fifth cosmic initiation, though His fifth scheme initiation may not be long in coming. When this happens, perhaps the role of Earth as the solar logoic base of the spine center may emerge.

82. Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa vượt qua lần điểm đạo vũ trụ thứ năm của Ngài, dù lần điểm đạo hệ hành tinh thứ năm của Ngài có thể sẽ không còn xa. Khi điều này xảy ra, có lẽ vai trò của Trái Đất như trung tâm đáy cột sống của Thái dương Thượng đế sẽ lộ ra.

83. On the other hand, since the base of the spine center is, in many ways, a first ray center and since our Planetary Logos will not be truly expressive of His monadic ray until the next solar system, it may be only then that a full base of the spine center function for our Planetary Logos will be expressed. (All this despite the fact that the duration of a Heavenly Man is said to be “One Solar System” in the tabulation on TCF 293.)

83. Mặt khác, vì trung tâm đáy cột sống về nhiều phương diện là một trung tâm cung một và vì Hành Tinh Thượng đế của chúng ta sẽ chưa thật sự biểu lộ cung chân thần của Ngài cho đến hệ mặt trời kế tiếp, nên có thể chỉ đến lúc đó chức năng trọn vẹn của một trung tâm đáy cột sống đối với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta mới được biểu lộ. (Tất cả điều này bất chấp sự kiện rằng thời lượng của một Đấng Thiên Nhân được nói là “Một Hệ Mặt Trời” trong bảng ở TCF 293.)

It relates finally the lowest centre at the base of the spine to the highest centre, the head centre. This is a correspondence to the relation of the Earth to the Sun. Think this out. (EA 25)

Cuối cùng nó liên hệ trung tâm thấp nhất ở đáy cột sống với trung tâm cao nhất, trung tâm đầu. Đây là một tương ứng với mối liên hệ giữa Trái Đất và Mặt Trời. Hãy suy ngẫm điều này. (EA 25)

The “Seven Brothers,” or the seven types of fohatic force, express Themselves through the seven centres, and the One Who is animating our scheme stands revealed at the third Initiation.

“Bảy Huynh Đệ,” hay bảy loại lực fohat, biểu lộ Chính Các Ngài qua bảy trung tâm, và Đấng đang làm sinh động hệ hành tinh của chúng ta được mặc khải ở lần Điểm Đạo thứ ba.

84. Each of the “Seven Brothers” expresses one of the seven rays, but in relation to the third aspect of the ray. The “Seven Brothers” are usually differentiated from the Seven Heavenly Men Who are also systemic “Ray Lords”.

84. Mỗi “Bảy Huynh Đệ” biểu lộ một trong bảy cung, nhưng trong mối liên hệ với phương diện thứ ba của cung. “Bảy Huynh Đệ” thường được phân biệt với Bảy Đấng Thiên Nhân, là những “Đấng Chúa Tể Cung” của hệ thống.

85. We see, in fact, that we do not need to wait until one of the higher initiations to find out which ray or type of fohatic force flow mainly through our Planetary Logos, and which chakra it represents within the energy system of our Solar Logos.

85. Thật ra, chúng ta thấy rằng không cần phải đợi đến một trong những lần điểm đạo cao hơn mới biết cung hay loại lực fohat nào chảy chủ yếu qua Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và nó đại diện cho luân xa nào trong hệ thống năng lượng của Thái dương Thượng đế.

86. Of course, we may question whether the “fohatic force” of the “Seven Brothers” is ray force; or, if it is, whether it can apply to any aspect of our Planetary Logos other than His personality.

86. Dĩ nhiên, chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu “lực fohat” của “Bảy Huynh Đệ” có phải là lực cung hay không; hoặc nếu có, liệu nó có thể áp dụng cho bất kỳ phương diện nào của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta ngoài phàm ngã của Ngài hay không.

87. A little earlier in this Commentary it seemed evident that “electrical force” and ray energy were equivalent. So perhaps the fohatic force here discussed is also equivalent to ray energy.

87. Sớm hơn một chút trong bộ Bình Giải này, có vẻ hiển nhiên rằng “lực điện” và năng lượng cung là tương đương. Vì vậy có lẽ lực fohat được bàn ở đây cũng tương đương với năng lượng cung.

88. One wonders if the Tibetan revealed the information in question (information for the receipt of which the third initiation is said to be necessary) in Esoteric Astrology, which was written some ten years later than TCF.

88. Người ta tự hỏi liệu Chân sư Tây Tạng có mặc khải thông tin đang được nói đến (thông tin mà việc tiếp nhận được nói là cần lần điểm đạo thứ ba) trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, được viết muộn hơn Luận về Lửa Vũ Trụ khoảng mười năm hay không.

89. It would seem that some revelation along the manasic line would be revealed at the third degree. If our Earth-scheme plays the role of mental unit to Venus’ manasic permanent atom, the revelation would be fitting at the third degree.

89. Có vẻ như một sự mặc khải nào đó theo đường manas sẽ được tiết lộ ở cấp thứ ba. Nếu hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta đóng vai trò đơn vị hạ trí đối với nguyên tử trường tồn manas của Sao Kim, thì sự mặc khải ấy sẽ thích hợp ở cấp thứ ba.

It is by knowledge of the nature and quality of the electrical force of our centre, and by realisation of the place our centre holds in the body logoic, that the Hierarchy achieves the aims of evolution.

Chính nhờ tri thức về bản chất và phẩm tính của lực điện của trung tâm chúng ta, và nhờ chứng nghiệm về vị trí mà trung tâm chúng ta giữ trong thể logoic, mà Thánh đoàn đạt được các mục tiêu của tiến hoá.

90. Hierarchy knows how to plan according to the Divine Plan, by knowing the nature of our Planetary Logos, His major energy and present place and function within the Solar Logos.

90. Thánh đoàn biết cách hoạch định theo Thiên Cơ, bằng cách biết bản chất của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, năng lượng chính của Ngài và vị trí cùng chức năng hiện tại của Ngài bên trong Thái dương Thượng đế.

91. This is to say that Hierarchy knows how to plan (in the occult sense) and we do not!

91. Điều này có nghĩa là Thánh đoàn biết cách hoạch định (theo nghĩa huyền bí), còn chúng ta thì không!

92. If our planetary scheme is presently one of the following—base of the spine center, a sacral center, a spleen center, a lower point within the solar logoic solar plexus center, or a mental unit—the objectives in planning will be very different. There are ways to justify all these five assignment and justification has been offered in recent Commentaries.

92. Nếu hệ hành tinh của chúng ta hiện nay là một trong những điều sau—trung tâm đáy cột sống, một trung tâm xương cùng, một trung tâm lá lách, một điểm thấp bên trong trung tâm tùng thái dương của Thái dương Thượng đế, hay một đơn vị hạ trí—thì các mục tiêu trong việc hoạch định sẽ rất khác nhau. Có những cách để biện minh cho cả năm sự gán định này và sự biện minh đã được đưa ra trong các bộ Bình Giải gần đây.

It will be obvious that the Heavenly Man Who stands for the kundalini centre, for instance, will work differently, and have a different purpose and method, from His Brother Who stands for the heart centre in the body logoic, or to the Heavenly Man Who embodies the logoic solar plexus.

Hiển nhiên là Đấng Thiên Nhân đại diện cho trung tâm kundalini, chẳng hạn, sẽ hoạt động khác đi, và có mục đích cùng phương pháp khác với Huynh Đệ của Ngài là Đấng đại diện cho trung tâm tim trong thể logoic, hay với Đấng Thiên Nhân hiện thân cho tùng thái dương logoic.

93. Earth could represent the logoic kundalini (but logoic kundalini is a force greater than that which could emanate from Earth); Venus could stand as the representative of the logoic heart; but Venus, too, could be the logoic solar plexus center and Jupiter the logoic heart.

93. Trái Đất có thể đại diện cho kundalini logoic (nhưng kundalini logoic là một lực lớn hơn lực có thể phát ra từ Trái Đất); Sao Kim có thể đứng như đại diện của tim logoic; nhưng Sao Kim cũng có thể là trung tâm tùng thái dương logoic và Sao Mộc là tim logoic.

94. According to our nature, so is our function.

94. Tùy theo bản chất của chúng ta mà chức năng của chúng ta cũng như vậy.

95. From the section above it would seem that one Heavenly Man stands for one center, and yet, just as in the chakra rulerships of the human being, two or even three planets may be assigned rulership at different phases of evolution, so it may be so for a Solar Logos. It remains to be debated whether a triangle of planets should be considered in relation to the rulership of any chakra within the Solar Logos.

95. Từ phần trên, có vẻ như một Đấng Thiên Nhân đại diện cho một trung tâm, nhưng cũng như trong các quyền cai quản luân xa của con người, hai hay thậm chí ba hành tinh có thể được gán quyền cai quản ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau, thì đối với một Thái dương Thượng đế cũng có thể như vậy. Vẫn còn phải tranh luận liệu một tam giác hành tinh có nên được xét đến trong mối liên hệ với quyền cai quản của bất kỳ luân xa nào bên trong Thái dương Thượng đế hay không.

From this it is apparent that:

Từ đây hiển nhiên rằng:

a. The type of electrical force

a. Loại lực điện

96. This may be ray energy but it certainly is fohatic force.

96. Đây có thể là năng lượng cung nhưng chắc chắn là lực fohat.

b. The vibratory action

b. Tác động rung động

97. This relates to the evolution of the substance composing a particular Heavenly Man.

97. Điều này liên hệ đến sự tiến hoá của chất liệu cấu thành một Đấng Thiên Nhân đặc thù.

c. The purpose

c. Mục đích

98. This relates to that aspect of solar logoic Will which it is the responsibility of a Heavenly Man to express.

98. Điều này liên hệ đến phương diện của Ý Chí thái dương logoic mà một Đấng Thiên Nhân có trách nhiệm biểu lộ.

d. The evolutionary development

d. Sự phát triển tiến hoá

99. This release to the degree of unfoldment of the Heavenly Man, but not to His spiritual status.

99. Điều này liên hệ đến mức độ khai mở của Đấng Thiên Nhân, nhưng không liên hệ đến địa vị tinh thần của Ngài.

e. The dual and triangular interaction

e. Sự tương tác nhị nguyên và tam giác

100. This relates to whether a given Heavenly Man is interacting only with the Heavenly Man Who is His polar opposite, or whether He is interacting also with the Heavenly Man Who expressed through a complementary planet (thus interacting with a triangle).

100. Điều này liên hệ đến việc một Đấng Thiên Nhân nhất định chỉ đang tương tác với Đấng Thiên Nhân là cực đối nghịch của Ngài, hay Ngài còn đang tương tác với Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hành tinh bổ sung nữa (do đó tương tác với một tam giác).

101. As an example: Venus is the polar opposite of the Earth-scheme but the Mars-scheme is complementary to the Earth-scheme.

101. Thí dụ: Sao Kim là cực đối nghịch của hệ hành tinh Địa Cầu nhưng hệ hành tinh Sao Hỏa lại bổ sung cho hệ hành tinh Địa Cầu.

of all the Heavenly Men will differ, and so will the evolutions that form the cells in Their Bodies differ likewise.

của tất cả các Đấng Thiên Nhân sẽ khác nhau, và các tiến hóa tạo thành những tế bào trong Các thể của Các Ngài cũng sẽ khác nhau tương tự.

102. We are being told of differences between the Heavenly Men and between the deva and human cells in Their bodies—a subject that will mean something more real to us when such evolutionary groups (i.e., the Planetary Logoi) are actually acknowledged and contacted.

102. Chúng ta đang được cho biết về những khác biệt giữa các Đấng Thiên Nhân và giữa các tế bào thiên thần và nhân loại trong Các thể của Các Ngài—một chủ đề sẽ mang ý nghĩa thực hơn đối với chúng ta khi những nhóm tiến hóa như thế (tức các Hành Tinh Thượng đế) thực sự được thừa nhận và tiếp xúc.

103. In summation: electrical force can be positive, negative or neutral. Vibratory action probably has much to do with the key or pitch to which the planes and sub-planes vibrate, and the general note sounded by the particular Heavenly Man. Purpose is related to the Heavenly Man’s place within the Solar Logos and the function it upholds. Evolutionary development can mean either actual spiritual status or something different—the degree of planetary unfoldment regardless of the spiritual status of the Heavenly Man concerned. Dual and triangular interaction relates to the various planets or pairs of planets with which any Heavenly Man may have interaction. Earth, for instance is much related to Venus and also to the triangle Earth-Venus-Mars. The same cannot be said of the closest relations of other planets.

103. Tóm lại: lực điện có thể là dương, âm hoặc trung hòa. Tác động rung động có lẽ liên hệ nhiều đến chủ âm hay cao độ mà các cõi và cõi phụ rung động theo, và âm điệu chung được xướng lên bởi Đấng Thiên Nhân đặc thù. Mục đích liên hệ đến vị trí của Đấng Thiên Nhân bên trong Thái dương Thượng đế và chức năng mà Ngài duy trì. Sự phát triển tiến hoá có thể có nghĩa hoặc là địa vị tinh thần thực sự hoặc là một điều gì khác—mức độ khai mở hành tinh bất kể địa vị tinh thần của Đấng Thiên Nhân liên hệ. Sự tương tác nhị nguyên và tam giác liên hệ đến các hành tinh khác nhau hay các cặp hành tinh mà bất kỳ Đấng Thiên Nhân nào cũng có thể có sự tương tác. Chẳng hạn, Trái Đất liên hệ nhiều với Sao Kim và cũng với tam giác Trái Đất-Sao Kim-Sao Hỏa. Điều tương tự không thể nói về các mối liên hệ gần nhất của những hành tinh khác.

Little has as yet been revealed anent the types of evolutions which are to be found in the other schemes of our system.

Cho đến nay vẫn còn ít điều được mặc khải liên quan đến các loại tiến hóa được tìm thấy trong các hệ hành tinh khác của hệ thống chúng ta.

104. Something of significance is said of the various “Schools” to be found on some of the planets, for a discussion of which go to TCF 1177-1180.

104. Có điều gì đó đầy thâm nghĩa được nói về các “Trường” khác nhau được tìm thấy trên một số hành tinh; để bàn về điều này, xin xem TCF 1177-1180.

105. We are also told something of the evolution of the various humanities found within different planetary schemes:

105. Chúng ta cũng được cho biết đôi điều về sự tiến hoá của các loại nhân loại khác nhau được tìm thấy trong các hệ hành tinh khác nhau:

“Again, it must be noted that Earth, Mars, Jupiter, Saturn, and Vulcan are as yet developing manas, and the stage achieved in each varies, and is not for exoteric publication. The Heavenly Men of these schemes have not yet succeeded in bringing Their bodies to the stage where transmutation on a large scale is possible. They are approaching it, and when the necessary three fifths is reached, then They will begin to transmute on a larger scale. The Earth scheme has about one fifth in process of transmutation in one or other of the globes at this time and Vulcan has very nearly two fifths.” (TCF 403)

“Xin lại lưu ý rằng Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ và Vulcan hiện vẫn đang phát triển manas, và giai đoạn đạt được ở mỗi nơi là khác nhau, không dành cho sự công bố ngoại môn. Các Đấng Thiên Nhân của các hệ hành tinh này vẫn chưa thành công trong việc đưa các thể của Các Ngài đến giai đoạn mà sự chuyển hoá trên quy mô lớn là khả hữu. Các Ngài đang tiến gần đến đó, và khi đạt đến ba phần năm cần thiết, khi ấy Các Ngài sẽ bắt đầu chuyển hoá trên quy mô lớn hơn. Hệ hành tinh Địa Cầu hiện có khoảng một phần năm đang trong tiến trình chuyển hoá trên một hay một bầu hành tinh khác, còn Vulcan thì đã gần đạt hai phần năm.” (TCF 403)

Suffice it to say that in all the schemes, on some [Page 359] globe in the scheme, human beings or self-conscious units, are to be found.

Chỉ cần nói rằng trong mọi hệ hành tinh, trên một [Page 359] bầu hành tinh nào đó trong hệ, đều có thể tìm thấy những con người hay những đơn vị ngã thức.

106. We are being told that human beings are to be found in all schemes—an expansive and inclusive thought. Presumably, this includes such planetary schemes as that of Pluto and probably, as well, the many undiscovered and, thus, unnamed planetary schemes.

106. Chúng ta đang được cho biết rằng con người được tìm thấy trong mọi hệ hành tinh—một tư tưởng rộng lớn và bao gồm. Có lẽ điều này bao gồm cả những hệ hành tinh như của Sao Diêm Vương và có lẽ cả nhiều hệ hành tinh chưa được khám phá nên chưa được đặt tên.

107. Is the suggestion that only on one globe in a scheme human beings are to be found? This would be highly unlikely and some references point in the direction of more than one globe per scheme being populated with human beings. The fact that Earth was recently simultaneously active in its second, fourth and sixth chains points in the direction of self-conscious life to be found on all those chains—simultaneously. The subject is occulted, but hints suggest that self-conscious units are not simply confined to one globe per scheme.

107. Có phải gợi ý ở đây là chỉ trên một bầu hành tinh trong một hệ mới có con người? Điều này rất khó có khả năng, và một số dẫn chiếu cho thấy có hơn một bầu hành tinh trong mỗi hệ được cư trú bởi con người. Sự kiện rằng Trái Đất gần đây đồng thời hoạt động trong các dãy thứ hai, thứ tư và thứ sáu của nó cho thấy sự sống ngã thức được tìm thấy trên tất cả các dãy ấy—đồng thời. Chủ đề này bị che khuất, nhưng các gợi ý cho thấy các đơn vị ngã thức không chỉ bị giới hạn trong một bầu hành tinh cho mỗi hệ.

108. References to activity on the fifth chain of our Earth-scheme before the completion of our fourth chain, points in the same direction. If there is activity in a chain, that activity must necessarily be taking place on a globe.

108. Những tham chiếu đến hoạt động trên dãy thứ năm của hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta trước khi dãy thứ tư của chúng ta hoàn tất, đều chỉ theo cùng một hướng. Nếu có hoạt động trong một dãy, thì hoạt động ấy tất yếu phải diễn ra trên một bầu hành tinh.

109. The following reference tends to confirm the ubiquity of man on all globes in all schemes:

109. Tham chiếu sau đây có khuynh hướng xác nhận tính hiện diện khắp nơi của con người trên mọi bầu hành tinh trong mọi hệ hành tinh:

A Master transmutes in the three worlds and principally concerns Himself with the process upon the eighteen subplanes, the great field of human evolution, and with the passage of the life throughout the dense physical body of the Logos. The Chohans of the sixth Initiation work in the fourth and fifth ethers of the logoic etheric body (the buddhic and atmic planes), and deal with the passage of the life of Spirit from form to form in those worlds, having in view the transmutation of units in the spiritual kingdom into the monadic. Those on still higher levels—the Buddhas and their Confreres of the first and third Rays—deal with the passage of the life into the sub-atomic, and atomic planes of the cosmic physical. What has been said applies to all hierarchical efforts in all schemes and on all globes, for the unity of effort is universal. (TCF 495)

Một Chân sư chuyển hoá trong ba cõi giới và chủ yếu quan tâm đến tiến trình trên mười tám cõi phụ, đại trường của tiến hoá nhân loại, và đến sự đi qua của sự sống xuyên suốt thể xác đậm đặc của Thượng đế. Các Chohan của lần điểm đạo thứ sáu hoạt động trong dĩ thái thứ tư và thứ năm của thể dĩ thái logoic (cõi Bồ đề và cõi atma), và đề cập đến sự đi qua của sự sống của tinh thần từ hình tướng này sang hình tướng khác trong các thế giới ấy, với mục đích chuyển hoá các đơn vị trong giới tinh thần thành chân thần. Những Đấng ở các cấp độ còn cao hơn—các Đức Phật và các Đồng Sự của Các Ngài thuộc cung một và cung ba—đề cập đến sự đi qua của sự sống vào các cõi phụ hạ nguyên tử và nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Điều đã được nói áp dụng cho mọi nỗ lực có tính thứ bậc trong mọi hệ hành tinh và trên mọi bầu hành tinh, vì sự hợp nhất của nỗ lực là phổ quát. (TCF 495)

110. We note the simple definition of the human being, having nothing to do with form particularly: “self-conscious units”.

110. Chúng ta lưu ý định nghĩa đơn giản về con người, không đặc biệt liên quan gì đến hình tướng: “các đơn vị tự ý thức”.

Conditions of life, environment and form may differ, but the human Hierarchy works in all schemes.

Các điều kiện của sự sống, môi trường và hình tướng có thể khác nhau, nhưng Huyền Giai nhân loại hoạt động trong mọi hệ hành tinh.

111. This reference simply focuses our minds on consciousness and quality rather than on forms. Many surprises may lie ahead with respect to the forms which self-conscious units take, but the factor of self-consciousness unifies them.

111. Tham chiếu này chỉ đơn giản tập trung trí tuệ của chúng ta vào tâm thức và phẩm tính hơn là vào các hình tướng. Nhiều điều bất ngờ có thể đang chờ phía trước liên quan đến những hình tướng mà các đơn vị tự ý thức đảm nhận, nhưng yếu tố tự ý thức hợp nhất họ lại.

It must also be borne in mind that just as all seven Heavenly Men are found in the body logoic, and are Themselves under the influence of seven solar Logoi (using the word “influence” in its astrological sense), so in a planetary scheme with its seven globes each is astrologically under the influence of all the seven Heavenly Men.

Cũng phải ghi nhớ rằng cũng như cả bảy Đấng Thiên Nhân đều được tìm thấy trong thể logoic, và chính Các Ngài ở dưới ảnh hưởng của bảy Thái dương Thượng đế (dùng từ “ảnh hưởng” theo nghĩa chiêm tinh học của nó), thì trong một hệ hành tinh với bảy bầu hành tinh của nó mỗi bầu đều ở dưới ảnh hưởng chiêm tinh của cả bảy Đấng Thiên Nhân.

112. This is a useful analogy pointing to the fact that each of the major Heavenly Men in our solar system is under the supervision of one of the member of the Seven Solar Systems of Which Ours is One.

112. Đây là một phép loại suy hữu ích, chỉ ra sự kiện rằng mỗi Đấng Thiên Nhân lớn trong hệ mặt trời của chúng ta đều ở dưới sự giám sát của một thành viên trong Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó.

113. This means that one particular sacred planet in our solar system is under the special supervision of our Solar Logos. Could it be Jupiter, the planet which, in many ways, is most like our Sun?

113. Điều này có nghĩa là một hành tinh thiêng liêng đặc biệt nào đó trong hệ mặt trời của chúng ta ở dưới sự giám sát đặc biệt của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Có thể đó là Sao Mộc chăng, hành tinh mà về nhiều phương diện giống Mặt Trời của chúng ta nhất?

114. Why does DK speak of a planetary scheme with its seven globes? Would it not be more predictable to speak of a planetary scheme with its seven chains?

114. Vì sao Chân sư DK nói về một hệ hành tinh với bảy bầu hành tinh của nó? Chẳng phải sẽ dễ dự đoán hơn nếu nói về một hệ hành tinh với bảy dãy của nó sao?

115. We would expect that each of the usual seven chains in a planetary scheme is under the influence of one particular sacred planet.

115. Chúng ta sẽ mong đợi rằng mỗi một trong bảy dãy thông thường trong một hệ hành tinh đều ở dưới ảnh hưởng của một hành tinh thiêng liêng đặc biệt nào đó.

116. Further, we would imagine that each of the seven major globes in a planetary chain is under the influence of one of the chains in that planetary scheme and, also, under the influence of one of the seven sacred planets.

116. Hơn nữa, chúng ta sẽ hình dung rằng mỗi một trong bảy bầu hành tinh chính trong một dãy hành tinh đều ở dưới ảnh hưởng của một trong các dãy trong hệ hành tinh ấy và, đồng thời, ở dưới ảnh hưởng của một trong bảy hành tinh thiêng liêng.

117. Which is the particular sacred planet that most influences our Earth-globe and Earth-chain? Certainly Venus must be considered and Saturn is not to be neglected.

117. Hành tinh thiêng liêng đặc biệt nào ảnh hưởng nhiều nhất đến bầu hành tinh Địa Cầu và dãy Địa Cầu của chúng ta? Chắc chắn phải xét đến Sao Kim, và không nên bỏ qua Sao Thổ.

A scheme is but a replica of a system.

Một hệ hành tinh chỉ là bản sao của một hệ thống.

118. This useful statement allows us to generalize from one organized aggregation to the other. In attempting to understand rounds within a scheme and system, this method of comparison is very useful.

118. Phát biểu hữu ích này cho phép chúng ta khái quát từ một tập hợp có tổ chức này sang tập hợp kia. Khi cố gắng thấu hiểu các cuộc tuần hoàn trong một hệ hành tinh và hệ thống, phương pháp so sánh này rất hữu ích.

Each of the Heavenly Men pours forth His radiation or influence, and stimulates in some way some other centre or globe.

Mỗi Đấng Thiên Nhân tuôn đổ bức xạ hay ảnh hưởng của Ngài, và kích thích theo một cách nào đó một trung tâm hay bầu hành tinh khác.

119. Perhaps the word “centre”, as here used, means chain?

119. Có lẽ từ “trung tâm”, như được dùng ở đây, có nghĩa là dãy chăng?

120. We must watch Master DK’s writing carefully, as He often skips one member of a sequence for no apparent reason. Perhaps, however, there is a hidden reason.

120. Chúng ta phải theo dõi cẩn thận trước tác của Chân sư DK, vì Ngài thường bỏ qua một thành phần trong một chuỗi mà không có lý do rõ ràng nào. Tuy nhiên, có lẽ có một lý do ẩn kín.

121. Though it must be stated that as Heavenly Men are centers within solar system, each Heavenly Man (as a solar logoic center) influences the other Heavenly Men (also solar logoic centers).

121. Tuy nhiên, phải nói rằng vì các Đấng Thiên Nhân là những trung tâm trong hệ mặt trời, nên mỗi Đấng Thiên Nhân (như một trung tâm của Thái dương Thượng đế) đều ảnh hưởng đến các Đấng Thiên Nhân khác (cũng là các trung tâm của Thái dương Thượng đế).

To word it otherwise, His magnetism is felt by His Brothers in a greater or less degree according to the work being undertaken at any one time.

Nói cách khác, từ điện của Ngài được các Huynh Đệ của Ngài cảm nhận ở mức độ nhiều hay ít tùy theo công việc đang được đảm nhận vào bất kỳ thời điểm nào.

122. The extent of a Heavenly Man’s influence on any other Heavenly Man would depend upon their similarity in quality and also upon the type of work which the influencing Heavenly Man had undertaken. Each type of work would have its own particular type of radiation and magnetism.

122. Mức độ ảnh hưởng của một Đấng Thiên Nhân lên bất kỳ Đấng Thiên Nhân nào khác sẽ tùy thuộc vào sự tương đồng về phẩm tính giữa các Ngài và cũng tùy thuộc vào loại công việc mà Đấng Thiên Nhân gây ảnh hưởng đã đảm nhận. Mỗi loại công việc sẽ có loại bức xạ và từ điện đặc thù riêng của nó.

123. We can see that the influence of one Heavenly Man upon another is a constantly changing matter varying with the development of the solar system and all constituent part. So it is with the influence of the various planets upon our chakra system.

123. Chúng ta có thể thấy rằng ảnh hưởng của một Đấng Thiên Nhân lên một Đấng Thiên Nhân khác là một vấn đề luôn luôn thay đổi, biến thiên theo sự phát triển của hệ mặt trời và mọi bộ phận cấu thành. Ảnh hưởng của các hành tinh khác nhau lên hệ thống luân xa của chúng ta cũng vậy.

At present the Heavenly Men, representing centres at different stages of stimulation, being not all equally developed and being not as yet psychically unified,

Hiện nay các Đấng Thiên Nhân, đại diện cho các trung tâm ở những giai đoạn kích thích khác nhau, vì không phải tất cả đều phát triển ngang nhau và cũng chưa được hợp nhất về mặt thông linh,

124. DK is telling us of the presently incomplete interaction between Heavenly Men.

124. Chân sư DK đang cho chúng ta biết về sự tương tác hiện còn chưa hoàn chỉnh giữa các Đấng Thiên Nhân.

125. The parallel is easily found in relation to our own chakra system; not all of our chakras are equally stimulated nor are they equally developed. The stage of psychic unification necessarily follows upon etheric coordination.

125. Sự tương đồng dễ dàng được tìm thấy trong mối liên hệ với hệ thống luân xa của chính chúng ta; không phải mọi luân xa của chúng ta đều được kích thích ngang nhau, cũng không phát triển ngang nhau. Giai đoạn hợp nhất thông linh tất yếu theo sau sự phối hợp dĩ thái.

126. We do not know the relative degree of stimulation and development of the various Heavenly Men, but an understanding of a Heavenly Man’s focus upon a particular chain and round gives some hint, at least concerning development/unfoldment (though not concerning spiritual status).

126. Chúng ta không biết mức độ tương đối của sự kích thích và phát triển của các Đấng Thiên Nhân khác nhau, nhưng sự thấu hiểu về sự tập trung của một Đấng Thiên Nhân vào một dãy và một cuộc tuần hoàn đặc biệt nào đó ít nhất cũng cho một vài gợi ý liên quan đến sự phát triển/sự khai mở (dù không liên quan đến địa vị tinh thần).

127. The heart chakra, for instance, has a higher spiritual status than the sacral chakra, yet the sacral chakra may be very much more developed or unfolded than the heart chakra if the measurement is taken at a relatively early stage of evolution. Our Solar Logos is midway through his developmental career; the measurement concerning the unfoldment of His chakras is taken at this midway point.

127. Chẳng hạn, luân xa tim có địa vị tinh thần cao hơn luân xa xương cùng, nhưng luân xa xương cùng có thể phát triển hay khai mở hơn luân xa tim rất nhiều nếu sự đo lường được thực hiện ở một giai đoạn tiến hoá tương đối sớm. Thái dương Thượng đế của chúng ta đang ở giữa sự nghiệp phát triển của Ngài; sự đo lường liên quan đến sự khai mở các luân xa của Ngài được thực hiện tại điểm ở giữa này.

this magnetic interplay is little realised, and the psychic flow from one scheme to another is little utilised or comprehended.

sự tương tác từ tính này ít được chứng nghiệm, và dòng chảy thông linh từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác ít được sử dụng hay thấu hiểu.

128. We are being told that while there may be a degree of etheric (and thus electrical) coordination between the planets, their “magnetic” or “psychic” interplay is undeveloped by comparison. It would seem that the Planetary Logoi have much to learn in relation to the astral nature and, thus, in relation to “psychic flow”. Naturally, some are more psychically developed than others but would be limited by the development of other Planetary Logoi with which they might interact.

128. Chúng ta đang được cho biết rằng tuy có thể có một mức độ phối hợp dĩ thái (và do đó là điện lực) giữa các hành tinh, nhưng sự tương tác “từ tính” hay “thông linh” của chúng kém phát triển hơn khi so sánh. Có vẻ như các Hành Tinh Thượng đế còn nhiều điều phải học liên quan đến bản chất cảm dục, và do đó liên quan đến “dòng chảy thông linh”. Đương nhiên, một số vị phát triển thông linh hơn những vị khác, nhưng sẽ bị giới hạn bởi sự phát triển của các Hành Tinh Thượng đế khác mà các vị ấy có thể tương tác cùng.

129. It would seem that the establishment of psychic flow is one of the main agendas occupying the attention of the Logoi of Venus and Earth with respect to each other.

129. Có vẻ như việc thiết lập dòng chảy thông linh là một trong những chương trình chính đang chiếm giữ sự chú ý của các Thượng đế của Sao Kim và Địa Cầu đối với nhau.

130. This is microcosmically true of man and the Solar Angel.

130. Điều này đúng về mặt tiểu thiên địa đối với con người và Thái dương Thiên Thần.

As time elapses this interplay of force will become more evident and the force will be consciously employed.

Khi thời gian trôi qua, sự tương tác mãnh lực này sẽ trở nên hiển nhiên hơn và mãnh lực ấy sẽ được sử dụng một cách hữu thức.

131. Our Solar Logos is as yet immature. He is half-way through His developmental process, and we all know that the development to be found in the second half of any process is always accelerated.

131. Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn còn chưa trưởng thành. Ngài đang ở nửa chặng đường của tiến trình phát triển của Ngài, và tất cả chúng ta đều biết rằng sự phát triển được tìm thấy trong nửa sau của bất kỳ tiến trình nào cũng luôn được gia tốc.

132. When man is temporally half-way through his own developmental process, he may not even have opened the first tier of petals in the egoic lotus, and so nine would remain to be opened during the second half. The opening of the final six petals (including the synthesis petals) occurs far closer to the final tenth of his developmental process and, more accurately, even closer to the final twentieth. The unevenness of the developmental curve has to be taken into consideration in matters human, planetary and logoic.

132. Khi con người ở vào nửa chặng đường theo thời gian của tiến trình phát triển riêng của y, có thể y thậm chí còn chưa mở tầng cánh hoa thứ nhất trong hoa sen chân ngã, và như vậy chín cánh vẫn còn phải mở trong nửa sau. Việc mở sáu cánh hoa cuối cùng (bao gồm các cánh hoa tổng hợp) diễn ra gần hơn rất nhiều với một phần mười cuối cùng của tiến trình phát triển của y, và chính xác hơn nữa, còn gần hơn với một phần hai mươi cuối cùng. Tính không đồng đều của đường cong phát triển phải được xét đến trong các vấn đề nhân loại, hành tinh và logoic.

When men, for instance, know:

Chẳng hạn, khi con người biết:

The quality of the force flowing through their particular scheme;

Phẩm tính của mãnh lực đang tuôn chảy qua hệ hành tinh đặc thù của họ;

133. Do we not know it—the third, second and first rays?—or is something still hidden from us? Probably much is still hidden.

133. Chẳng phải chúng ta đã biết điều đó rồi sao—cung ba, cung hai và cung một?—hay vẫn còn điều gì đó bị che giấu khỏi chúng ta? Có lẽ vẫn còn nhiều điều bị che giấu.

The purpose and name of the centre they stand within;

Mục đích và tên của trung tâm mà họ đang đứng trong đó;

134. Do we need to know the true Name of the Earth-scheme or of Sanat Kumara (considered as the Planetary Logos)? Or is DK referencing our planetary chain or globe and their names?

134. Chúng ta có cần biết Danh xưng đích thực của hệ hành tinh Địa Cầu hay của Đức Sanat Kumara (được xem như Hành Tinh Thượng đế) không? Hay Chân sư DK đang nói đến dãy hành tinh hay bầu hành tinh của chúng ta và tên của chúng?

The centre or Heavenly Man with Whom the Logos of their scheme is allied;

Trung tâm hay Đấng Thiên Nhân mà Thượng đế của hệ hành tinh của họ liên minh cùng;

135. Is our Heavenly Man not allied with Venus just as our Solar Logos is allied with the Logos of Sirius? Or could the alliance be with Mars? Mars and the Logos of the Earth-scheme are certainly closely related.

135. Chẳng phải Đấng Thiên Nhân của chúng ta liên minh với Sao Kim cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta liên minh với Thượng đế của Sirius sao? Hay sự liên minh ấy có thể là với Sao Hỏa? Sao Hỏa và Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu chắc chắn có liên hệ mật thiết.

Which two schemes form, with their own, a triangle for logoic force at a certain stage of evolutionary development;

Hai hệ hành tinh nào cùng với hệ của chính họ tạo thành một tam giác cho mãnh lực logoic ở một giai đoạn phát triển tiến hoá nào đó;

136. Are we not speaking of Venus, Mars and Earth? Or could the triangle Earth, Mars, Saturn be meant? (cf. EP II 99)

136. Chẳng phải chúng ta đang nói đến Sao Kim, Sao Hỏa và Địa Cầu sao? Hay có thể tam giác Địa Cầu, Sao Hỏa, Sao Thổ mới là điều được ngụ ý? (x. EP II 99)

The secret of the cycles, or the periods of stimulation or obscuration;

Bí mật của các chu kỳ, hay các thời kỳ kích thích hoặc che mờ;

137. Yes, these are very numerous and obscure to us, and not much information has been given. We know about precessional ages, Great Platonic Ages, and something about ray cycles related to races and to the planet, but much is left for future discovery.

137. Đúng vậy, những điều này rất nhiều và mờ tối đối với chúng ta, và không có nhiều thông tin được đưa ra. Chúng ta biết về các thời đại tuế sai, các Đại Thời Đại Plato, và đôi điều về các chu kỳ cung liên hệ đến các nhân loại và đến hành tinh, nhưng còn nhiều điều được để lại cho sự khám phá trong tương lai.

— then will the body logoic begin to achieve its purpose;

— khi đó thể logoic sẽ bắt đầu đạt được mục đích của nó;

138. Since the body logoic is only one half through its development, it sounds as if we will not ascertain the answers to the five points above until some much later date. It is probably our knowledge of planetary cycles which will retard us.

138. Vì thể logoic mới chỉ đi được một nửa chặng đường phát triển của nó, nên nghe có vẻ như chúng ta sẽ không xác định được câu trả lời cho năm điểm trên cho đến một thời điểm muộn hơn rất nhiều. Có lẽ chính tri thức của chúng ta về các chu kỳ hành tinh sẽ làm chậm chúng ta.

139. We might pause to suggest that the idea of “midway through His career upon the cosmic Path of Initiation”, may suggest that, temporally, much more than half of an occult century may have elapsed. The time required for earlier developments is must longer than for those that come later.

139. Chúng ta có thể dừng lại để gợi ý rằng ý tưởng “ở giữa sự nghiệp của Ngài trên Con Đường Điểm Đạo vũ trụ”, có thể hàm ý rằng, về mặt thời gian, nhiều hơn rất nhiều so với một nửa thế kỷ huyền bí có thể đã trôi qua. Thời gian cần cho các phát triển ban đầu dài hơn nhiều so với những phát triển đến sau.

140. Our Solar Logos is focussing on the fourth in a series of nine lesser initiations. While He is numerically about “midway” through His initiatory process, far less time may be necessary for Him to complete the series of nine than has elapsed for the completion of four.

140. Thái dương Thượng đế của chúng ta đang tập trung vào lần điểm đạo thứ tư trong một chuỗi chín lần điểm đạo nhỏ hơn. Dù về mặt số lượng Ngài ở khoảng “giữa chặng đường” của tiến trình điểm đạo của Ngài, có thể cần ít thời gian hơn nhiều để Ngài hoàn tất chuỗi chín lần ấy so với thời gian đã trôi qua để hoàn tất bốn lần đầu.

[Page 360]

[Page 360]

— then will the Logos of our system begin to blend and merge and co-ordinate all His vehicles;

— khi đó Thượng đế của hệ thống chúng ta sẽ bắt đầu hòa trộn, dung nhập và phối hợp tất cả các vận cụ của Ngài;

141. This sounds like personality integration on a logoic level. In human evolution, this phase of personality integration may precede the first initiation, but not by too many incarnations—either three, seven or perhaps eleven, we are told (EP II 16). So again, the blending and merging represents a relative late stage of logoic development.

141. Điều này nghe giống như sự tích hợp phàm ngã ở cấp độ logoic. Trong tiến hoá nhân loại, giai đoạn tích hợp phàm ngã này có thể đi trước lần điểm đạo thứ nhất, nhưng không quá nhiều kiếp lâm phàm—ba, bảy hay có lẽ mười một, như chúng ta được cho biết (EP II 16). Vì vậy, một lần nữa, sự hòa trộn và dung nhập này biểu thị một giai đoạn tương đối muộn của sự phát triển logoic.

142. Under conditions of solar logoic integration, it is only natural that interplay between the various schemes should increase and their relationships to each other be more fully understood.

142. Trong những điều kiện tích hợp của Thái dương Thượng đế, việc sự tương tác giữa các hệ hành tinh khác nhau gia tăng và các mối liên hệ của chúng với nhau được thấu hiểu đầy đủ hơn là điều hoàn toàn tự nhiên.

— then will the force flow through all the centres unimpeded;

— khi đó mãnh lực sẽ chảy qua mọi trung tâm không bị cản trở;

143. This sounds like a relatively high level of logoic soul-culture. It is only the human initiate for whom “force flow(s) through all centres unimpeded”.

143. Điều này nghe như một cấp độ tương đối cao của sự tu dưỡng linh hồn logoic. Chỉ có điểm đạo đồ nhân loại mới là người mà “mãnh lực chảy qua mọi trung tâm không bị cản trở”.

— and then will the glory shine out, and each cell in every body—logoic, planetary, deva and human, blaze forth with perfected glory, vibrate with adjusted accuracy, and a major cosmic initiation be taken.

— và khi đó vinh quang sẽ chiếu tỏa, và mỗi tế bào trong mọi thể—logoic, hành tinh, thiên thần và nhân loại—sẽ bừng cháy với vinh quang hoàn hảo, rung động với sự chính xác đã được điều chỉnh, và một cuộc điểm đạo vũ trụ lớn sẽ được tiếp nhận.

144. This final section suggests the fourth initiation of our Solar Logos. One could imagine it to be the third (also a major initiation), but the words “perfected glory” suggest the fourth. “Perfection” is term associated with the number four. (cf. TCF 188 re the fourth siddhi on the atmic plane).

144. Phần cuối này gợi ý lần điểm đạo thứ tư của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Người ta có thể hình dung đó là lần thứ ba (cũng là một lần điểm đạo lớn), nhưng các từ “vinh quang hoàn hảo” gợi ý lần thứ tư. “Sự hoàn hảo” là thuật ngữ gắn với con số bốn. (x. TCF 188 về siddhi thứ tư trên cõi atma).

b. The Logos of our Scheme.

b. Thượng đế của Hệ Hành Tinh chúng ta.

145. This is one of the rare examples of the use of the word “Logos” (by itself) to refer to the Planetary Logos or Heavenly Man.

145. Đây là một trong những ví dụ hiếm hoi về việc dùng từ “Thượng đế” (đứng riêng) để chỉ Hành Tinh Thượng đế hay Đấng Thiên Nhân.

The Heavenly Man or planetary Logos of the Earth scheme can be considered in various ways,

Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu có thể được xem xét theo nhiều cách khác nhau,

146. We note that the terms “Heavenly Man” and “planetary Logos” are used equivalently. This is generally the case, but there are some significant exceptions.

146. Chúng ta lưu ý rằng các thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” và “Hành Tinh Thượng đế” được dùng tương đương nhau. Điều này nói chung là như vậy, nhưng có một số ngoại lệ quan trọng.

and as is our custom we will simply tabulate the statements anent Him which, when considered at length by the individual student, should serve to make the FACT of the essential Personality of this great Entity, the work that He is endeavouring to accomplish, and the relationship of the human Hierarchy to Him, a greater reality.

và như là thói quen của chúng ta, chúng ta sẽ chỉ đơn giản lập bảng các phát biểu liên quan đến Ngài; khi được từng đạo sinh suy xét kỹ lưỡng, chúng sẽ giúp làm cho SỰ KIỆN về Phàm ngã cốt yếu của Thực Thể vĩ đại này, công việc mà Ngài đang nỗ lực hoàn thành, và mối liên hệ của Huyền Giai nhân loại với Ngài trở thành một thực tại lớn hơn.

147. What is meant by the term “essential Personality”? Do we actually mean the personality of our Planetary Logos found upon the third ray, or does the word “essential” encourage us to look in greater spiritual depth?

147. Thuật ngữ “Phàm ngã cốt yếu” có nghĩa là gì? Chúng ta có thực sự muốn nói đến phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta được tìm thấy trên cung ba không, hay từ “cốt yếu” khuyến khích chúng ta nhìn vào chiều sâu tinh thần lớn hơn?

148. The Tibetan is trying to make three things more real to us:

148. Chân sư Tây Tạng đang cố làm cho ba điều trở nên thực hơn đối với chúng ta:

a. The “FACT” of the essential Personality of the Planetary Logos

a. “SỰ KIỆN” về Phàm ngã cốt yếu của Hành Tinh Thượng đế

b. The work which our Planetary Logos is endeavouring to accomplish

b. Công việc mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang nỗ lực hoàn thành

c. The relationship of the human Hierarchy (the Fourth Creative Hierarchy) to the Planetary Logos.

c. Mối liên hệ của Huyền Giai nhân loại (Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư) với Hành Tinh Thượng đế.

149. The Tibetan counts on the thought that if He tabulates, we will learn. There is something about a tabulation that impresses the mind more forcefully.

149. Chân sư Tây Tạng tin vào ý nghĩ rằng nếu Ngài lập bảng, chúng ta sẽ học được. Có điều gì đó nơi một bản lập bảng gây ấn tượng lên trí tuệ mạnh mẽ hơn.

We must bear in mind in studying this matter that it will not be possible to reveal for general publication details as to His specific Identity, His number and His scope of conscious development.

Chúng ta phải ghi nhớ khi nghiên cứu vấn đề này rằng sẽ không thể tiết lộ để phổ biến rộng rãi những chi tiết về Bản Sắc đặc thù của Ngài, con số của Ngài và phạm vi phát triển hữu thức của Ngài.

150. Perhaps details will not be revealed, but we have already been given much:

150. Có lẽ các chi tiết sẽ không được tiết lộ, nhưng chúng ta đã được cho biết nhiều điều rồi:

a. It has been hinted that He occupies the position of the base of the spine center in the etheric system of the Solar Logos. His connection to the spleen, sacral center, lower solar plexus point and mental unit may also be reasoned. He is even to be seen as a twelve-petalled lotus which suggests relationship to the heart center (which, with a second ray soul, like Jupiter, is convincing).

a. Đã có gợi ý rằng Ngài chiếm vị trí của trung tâm đáy cột sống trong hệ dĩ thái của Thái dương Thượng đế. Mối liên hệ của Ngài với lá lách, trung tâm xương cùng, điểm tùng thái dương thấp và đơn vị hạ trí cũng có thể được suy luận. Ngài thậm chí còn được xem như một hoa sen mười hai cánh, điều này gợi ý mối liên hệ với trung tâm tim (mà, với một linh hồn cung hai như Sao Mộc, là điều thuyết phục).

b. His number (later in the TCF book) is given as 777.

b. Con số của Ngài (về sau trong sách TCF) được cho là 777.

c. As for the scope of His conscious development, we have been told on TCF 384 that He is midway through His process of evolution; that He is taking the fourth in a series of seven apparently minor (at least non-cosmic) initiations; that His goal is the second cosmic initiation.

c. Về phạm vi phát triển hữu thức của Ngài, chúng ta đã được cho biết ở TCF 384 rằng Ngài đang ở giữa tiến trình tiến hoá của Ngài; rằng Ngài đang tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư trong một chuỗi bảy lần điểm đạo có vẻ là nhỏ (ít nhất là không phải vũ trụ); rằng mục tiêu của Ngài là lần điểm đạo vũ trụ thứ hai.

d. We have also been told that He is bringing under control the fourth sub-plane of the cosmic astral plane, working on fifth and sensing and responding to the vibration of the sixth sub-plane.

d. Chúng ta cũng đã được cho biết rằng Ngài đang đưa cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục vũ trụ vào sự kiểm soát, đang hoạt động trên cõi phụ thứ năm và đang cảm nhận cũng như đáp ứng với rung động của cõi phụ thứ sáu.

151. Perhaps these are not details, but they are certainly indications.

151. Có lẽ đây không phải là các chi tiết, nhưng chắc chắn là những chỉ dấu.

Such mysteries, as earlier pointed out, are reserved for those who are pledged to keep silent.

Những huyền nhiệm như thế, như đã chỉ ra trước đây, được dành cho những ai đã thệ nguyện giữ im lặng.

152. This requirement, I imagine, excludes most of us.

152. Tôi hình dung rằng yêu cầu này loại trừ hầu hết chúng ta.

But some general idea may be conveyed before we take up specifically this chain and round.

Nhưng một ý niệm tổng quát nào đó có thể được truyền đạt trước khi chúng ta đặc biệt bàn đến dãy này và cuộc tuần hoàn này.

153. More generalities will be given. Probably enough is hinted in the generalities to suggest much detail.

153. Sẽ có thêm những điều tổng quát được đưa ra. Có lẽ trong những điều tổng quát ấy đã được gợi ý đủ để chỉ ra nhiều chi tiết.

It might be asked wherein all this information is of use, and what purpose it serves in this hour of the world’s need.

Người ta có thể hỏi thông tin này hữu ích ở điểm nào, và nó phục vụ mục đích gì trong giờ phút thế giới đang cần đến như hiện nay.

154. This kind of question will be asked by those of a strictly practical turn of mind. Some have wondered the value of studying A Treatise on Cosmic Fire at all. Of course, close study will reveal the value.

154. Loại câu hỏi này sẽ được nêu ra bởi những người có khuynh hướng trí tuệ hoàn toàn thực tiễn. Một số người đã tự hỏi giá trị của việc nghiên cứu Luận về Lửa Vũ Trụ nói chung là gì. Dĩ nhiên, sự nghiên cứu kỹ lưỡng sẽ làm lộ rõ giá trị ấy.

Apart from the fact that the cyclic giving out of the truth works under the law, and may not be gain-said, it is suggested for consideration that much advantage will be felt when men in large numbers conceive of the purpose of specific manifestations, when they realise that all forms are but the modes of expression of certain Entities or Beings, Who occupy them for cycles of definite duration in order to attain a purpose, and that each life—great or small—serves its own ends, yet subserves the greater ends of the Being in Whose body it is a corporate part.

Ngoài sự kiện rằng việc ban truyền chân lý theo chu kỳ vận hành dưới định luật, và không thể bị phủ nhận, điều được gợi ý để suy xét là lợi ích lớn sẽ được cảm nhận khi con người với số lượng đông đảo hình dung được mục đích của các biểu hiện đặc thù, khi họ chứng nghiệm rằng mọi hình tướng chỉ là những phương thức biểu lộ của một số Thực Thể hay Đấng, là những Đấng cư ngụ trong chúng qua các chu kỳ có thời lượng xác định để đạt đến một mục đích, và rằng mỗi sự sống—lớn hay nhỏ—đều phục vụ những cứu cánh riêng của nó, nhưng đồng thời phụng sự những cứu cánh lớn hơn của Đấng mà trong thể của Ngài nó là một phần hợp thành.

155. DK is telling us that for the abstruse information to be truly effective, those who use such information must understand the dimension of purpose, of the specific manifestations through which purposes works, and the specific Entities or Beings Whose purpose is being manifested through specific manifestations.

155. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng để thông tin thâm áo này thực sự hữu hiệu, những người sử dụng nó phải thấu hiểu chiều kích của mục đích, của các biểu hiện đặc thù mà qua đó các mục đích vận hành, và của các Thực Thể hay Đấng đặc thù mà mục đích của các Ngài đang được biểu lộ qua các biểu hiện đặc thù.

156. He is saying that a ‘holistic’ vision is required if the information is to be truly useful. Fortunately, this type of vision is more and more available to humanity.

156. Ngài đang nói rằng một linh ảnh “toàn thể” là điều cần thiết nếu thông tin này thực sự hữu ích. May thay, loại linh ảnh này ngày càng sẵn có hơn đối với nhân loại.

157. The requirement that there be “men in large numbers” who think in this manner puts the general usefulness of this type of information rather some years ahead.

157. Yêu cầu rằng phải có “con người với số lượng đông đảo” suy nghĩ theo cách này khiến tính hữu dụng tổng quát của loại thông tin này bị đẩy lùi thêm khá nhiều năm nữa.

The details of the plan may not be given. [Page 361] The general outline—solar, planetary, and hierarchical—may be suggested, and by the very suggestion, bring order into the thoughts of men as they view the apparent chaos of the moment.

Các chi tiết của Thiên Cơ không thể được đưa ra. [Page 361] Đại cương tổng quát—về mặt thái dương, hành tinh và thứ bậc—có thể được gợi ý, và chính nhờ sự gợi ý ấy mà mang lại trật tự vào tư tưởng của con người khi họ nhìn vào sự hỗn loạn bề ngoài của thời điểm hiện tại.

158. This is of the utmost importance—the introduction of order into the thoughts of men. Humanity’s chaotic consciousness is one the reasons that it finds it so difficult to solve evident problems.

158. Điều này cực kỳ quan trọng—việc đưa trật tự vào tư tưởng của con người. Tâm thức hỗn loạn của nhân loại là một trong những lý do khiến nó thấy rất khó giải quyết những vấn đề hiển nhiên.

159. One may easily become carried away by negative reactions to presented chaos, not realizing that order underlies the chaos and that the chaos is both temporary and (due to our inadequate perception) only apparent. Could we detect the workings of the Plan beneath the chaos, much that appears as chaos could be seen as an incompletely understood process.

159. Người ta có thể dễ dàng bị cuốn đi bởi những phản ứng tiêu cực trước sự hỗn loạn được trình bày, mà không nhận ra rằng trật tự nằm bên dưới sự hỗn loạn và rằng sự hỗn loạn ấy vừa là tạm thời vừa (do nhận thức bất toàn của chúng ta) chỉ là bề ngoài. Nếu chúng ta có thể nhận ra sự vận hành của Thiên Cơ bên dưới sự hỗn loạn, thì nhiều điều có vẻ là hỗn loạn có thể được thấy như một tiến trình chưa được thấu hiểu trọn vẹn.

Let us not forget, that when order is brought about, and united thought produced on the mental plane, then order transpires eventually on the physical plane.

Chúng ta đừng quên rằng, khi trật tự được thiết lập, và tư tưởng hợp nhất được tạo ra trên cõi trí, thì trật tự cuối cùng sẽ biểu hiện trên cõi hồng trần.

160. The Tibetan thinks ever as an occultist. That which is subjective tends to become objective. It is simply the magical process of manifestation.

160. Chân sư Tây Tạng luôn suy nghĩ như một nhà huyền bí học. Điều gì chủ quan thì có khuynh hướng trở thành khách quan. Đó đơn giản là tiến trình huyền thuật của sự biểu hiện.

161. DK calls not just for the orderly thinking of individuals, but for united, orderly thought of groups of human beings, even large groups of human beings. A consensus must be reached concerning the nature of the Divine Plan. In today’s world we are very far from this, yet progress can occur rapidly once certain obstacles related to glamorous unbelief are cleared.

161. Chân sư DK không chỉ kêu gọi tư duy có trật tự của các cá nhân, mà còn kêu gọi tư tưởng hợp nhất, có trật tự của các nhóm người, thậm chí các nhóm người lớn. Phải đạt được một sự đồng thuận liên quan đến bản chất của Thiên Cơ. Trong thế giới ngày nay, chúng ta còn rất xa điều này, tuy nhiên tiến bộ có thể diễn ra nhanh chóng một khi một số chướng ngại liên quan đến sự không tin đầy ảo cảm được dọn sạch.

The planetary Logos of this scheme is one of the four minor Logoi, or Lords of the Rays, and is specially concerned therefore with the development of one attribute of manas.

Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh này là một trong bốn Thượng đế nhỏ, hay các Chúa Tể của các cung, và do đó đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của một thuộc tính của manas.

162. The minor Planetary Logoi are developing manas. Mars (and even Pluto, perhaps) should be included and, according to one reference, Venus.

162. Các Hành Tinh Thượng đế nhỏ đang phát triển manas. Sao Hỏa (và thậm chí có lẽ cả Sao Diêm Vương) nên được bao gồm, và theo một tham chiếu, cả Sao Kim nữa.

The Lord of Venus holds place in the logoic quaternary, as does the Lord of Earth. (TCF 300)

Chúa Tể của Sao Kim giữ vị trí trong bộ tứ logoic, cũng như Chúa Tể của Địa Cầu. (TCF 300)

163. It is challenging to realize that two of the minor rays (“minor” meaning the four Rays of Aspect) are apparently ruled by two great Planetary Logoi—Uranus and Neptune—distributing the sixth and seventh rays.

163. Thật khó để nhận ra rằng hai trong các cung nhỏ (“nhỏ” nghĩa là bốn Các Cung Trạng Thái) dường như được cai quản bởi hai Hành Tinh Thượng đế vĩ đại—Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương—phân phối cung sáu và cung bảy.

164. There may be, after all, a difference between the “four minor Logoi” and the Lords of the Rays of Attribute (which may justifiably include, in some sense, Uranus and Neptune). While Mars may substitute for Neptune, it is harder (given our present knowledge of the solar system) to find a minor planet substituting for Uranus on the seventh ray.

164. Rốt cuộc có thể có một sự khác biệt giữa “bốn Thượng đế nhỏ” và các Chúa Tể của Các Cung Thuộc Tính (những vị này, theo một nghĩa nào đó, có thể chính đáng bao gồm Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương). Dù Sao Hỏa có thể thay thế cho Sao Hải Vương, nhưng khó hơn nhiều (với tri thức hiện tại của chúng ta về hệ mặt trời) để tìm ra một hành tinh nhỏ thay thế cho Sao Thiên Vương trên cung bảy.

165. The implication of the Tibetan’s statement above is that the Planetary Logos of Earth is developing a particular attribute of manas. It would be fascinating to have the occult name for this attribute. Could it relate to the faculty of “adjudication”?

165. Hàm ý trong phát biểu trên của Chân sư Tây Tạng là Hành Tinh Thượng đế của Địa Cầu đang phát triển một thuộc tính đặc thù của manas. Sẽ thật hấp dẫn nếu có được tên huyền bí của thuộc tính này. Nó có thể liên hệ đến năng lực “phán định” chăng?

166. We also realize that our Planetary Logos with His second ray soul is clearly involved in the process of developing more than manas. Note in the following that the agenda of the Planetary Logos is said to be wisdom and not manas:

166. Chúng ta cũng nhận ra rằng Hành Tinh Thượng đế của chúng ta với linh hồn cung hai của Ngài rõ ràng đang tham gia vào tiến trình phát triển nhiều hơn manas. Hãy lưu ý trong đoạn sau rằng chương trình của Hành Tinh Thượng đế được nói là minh triết chứ không phải manas:

Man aims at becoming a Divine Manasaputra, or perfected Son of Mind showing forth all the powers inherent in mind, and thus becoming like unto his monadic source, a Heavenly Man. A Heavenly Man has developed Manas, and is occupied with the problem of becoming a Son of Wisdom, not inherently but in full manifestation. A solar Logos is both a Divine Manasaputra and likewise a Dragon of Wisdom, and His problem concerns itself [Page 306] with the development of the principle of cosmic Will which will make Him what has been called a “Lion of Cosmic Will.” (TCF 305-306)

Con người nhắm đến việc trở thành một Manasaputra Thiêng liêng, hay Con của Trí Tuệ hoàn hảo biểu lộ mọi quyền năng vốn có trong trí tuệ, và nhờ đó trở nên giống với nguồn chân thần của y, một Đấng Thiên Nhân. Một Đấng Thiên Nhân đã phát triển Manas, và đang bận tâm với vấn đề trở thành một Con của Minh Triết, không phải vốn dĩ như thế mà là trong sự biểu hiện trọn vẹn. Một Thái dương Thượng đế vừa là một Manasaputra Thiêng liêng vừa là một Rồng Minh Triết, và vấn đề của Ngài liên quan đến [Page 306] sự phát triển của nguyên khí Ý Chí vũ trụ, điều sẽ làm cho Ngài trở thành điều đã được gọi là một “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ.” (TCF 305-306)

167. It would seem that the Logoi of the synthesizing planets (Saturn, Neptune and Uranus) would be far too spiritually elevated to be focussing only on the development of manas, when even our Planetary Logos is (through His relationship with Venus and His struggles on the cosmic astral plane) already seeking to bring in love-wisdom.

167. Có vẻ như các Thượng đế của các hành tinh tổng hợp (Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương) quá cao cả về mặt tinh thần để chỉ tập trung vào sự phát triển của manas, trong khi ngay cả Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng đã (qua mối liên hệ của Ngài với Sao Kim và những cuộc đấu tranh của Ngài trên cõi cảm dục vũ trụ) tìm cách mang vào bác ái – minh triết.

168. But then, even a highly advanced human soul will recapitulate the development of a strongly manasic phase.

168. Nhưng rồi, ngay cả một linh hồn nhân loại rất tiến bộ cũng sẽ lặp lại sự phát triển của một giai đoạn manas mạnh mẽ.

Each of the four minor Rays is, as we know, eventually synthesised, or absorbed into that Ray which is represented on our earth by the Mahachohan. He is the Lord of the third major Ray or Aspect, and synthesises the four.

Mỗi một trong bốn cung nhỏ, như chúng ta biết, cuối cùng đều được tổng hợp, hay được hấp thu vào cung được biểu hiện trên địa cầu của chúng ta bởi Đức Mahachohan. Ngài là Chúa Tể của cung lớn thứ ba hay Phương diện thứ ba, và tổng hợp bốn cung ấy.

169. At the time of the writing of TCF, the change of Mahachohan may have been in process. It was not in process when IHS was written.

169. Vào thời điểm TCF được viết, sự thay đổi của Đức Mahachohan có thể đã đang diễn ra. Điều đó chưa diễn ra khi IHS được viết.

170. Are Uranus and Neptune synthesized into Saturn? This is a difficult question. One reference makes it seem possible—unless one studies the charts carefully, namely Chart VI, TCF 383

170. Có phải Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương được tổng hợp vào Sao Thổ không? Đây là một câu hỏi khó. Một tham chiếu khiến điều đó có vẻ khả dĩ—trừ phi người ta nghiên cứu các biểu đồ cẩn thận, cụ thể là Biểu đồ VI, TCF 383

13. “Saturn is the synthesising scheme for the four planets which embody manas pure and simple and is the major resolution for the minor four and eventually for all The Seven.” (TCF. 370.)

13. “Sao Thổ là hệ hành tinh tổng hợp cho bốn hành tinh hiện thân cho manas thuần túy và đơn giản, và là sự phân giải lớn cho bốn hành tinh nhỏ và cuối cùng cho cả Bảy.” (TCF. 370.)

171. It is that statement—“eventually for all The Seven”—which could give one pause when considering the absorptive relationship between Saturn, Neptune and Uranus.

171. Chính phát biểu ấy—“cuối cùng cho cả Bảy”—có thể khiến người ta phải ngập ngừng khi xem xét mối liên hệ hấp thu giữa Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương.

172. However, in studying Chart VI, we note a sevenfold structure including Saturn (and not Pluto). Counting those planetary schemes surrounding Saturn, and adding newly discovered Pluto, we have seven.

172. Tuy nhiên, khi nghiên cứu Biểu đồ VI, chúng ta lưu ý một cấu trúc thất phân bao gồm Sao Thổ (và không bao gồm Sao Diêm Vương). Đếm các hệ hành tinh bao quanh Sao Thổ, rồi thêm Sao Diêm Vương mới được khám phá, chúng ta có bảy.

173. Such an absorption is still far distant and, as we approach it, we will surely know much more about planetary lore than presently we do.

173. Sự hấp thu như thế vẫn còn rất xa, và khi chúng ta tiến gần đến nó, chắc chắn chúng ta sẽ biết nhiều hơn hiện nay về tri thức hành tinh.

174. According to our present knowledge, it would seem that Uranus and Neptune are greater synthesizers than Saturn (which is more related to the previous solar system than to our own).

174. Theo tri thức hiện tại của chúng ta, có vẻ như Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương là những đấng tổng hợp lớn hơn Sao Thổ (vốn liên hệ nhiều hơn với hệ mặt trời trước đây hơn là với hệ của chúng ta).

These four Rays with their synthesising Ray make the five rays of Manas or Mind.

Bốn cung này cùng với cung tổng hợp của chúng tạo thành năm cung của Manas hay Trí Tuệ.

175. Note that DK is here speaking of “Rays” and not of planets. This must be observed carefully.

175. Lưu ý rằng ở đây Chân sư DK đang nói về “các cung” chứ không phải các hành tinh. Điều này phải được quan sát cẩn thận.

176. When comparing apparently parallel systems of planets and systems of rays, correspondences may not be as exact as hoped.

176. Khi so sánh các hệ hành tinh có vẻ song song và các hệ cung, các tương ứng có thể không chính xác như mong đợi.

We can consider them as:

Chúng ta có thể xem chúng như:

a. The fivefold Brahma Aspect.

a. Phương diện Brahma ngũ phân.

177. The number of Brahma is always five.

177. Con số của Brahma luôn là năm.

b. They were the five Rays of prime importance in the first solar system, and were the five individualised Heavenly Men, called the Mind-born Sons of Brahma.

b. Chúng là năm cung có tầm quan trọng hàng đầu trong hệ mặt trời thứ nhất, và là năm Đấng Thiên Nhân đã được biệt ngã hóa, được gọi là các Con sinh từ Trí của Brahma.

178. We seem to be given a hint that the Planetary Logoi through which these five rays now work were present in the first solar system. This may or may not be the case, as the Rays can work through various planetary schemes. We remember from TCF 293 that the duration of a Heavenly Man is one solar system.

178. Dường như chúng ta được cho một gợi ý rằng các Hành Tinh Thượng đế mà qua đó năm cung này hiện đang hoạt động đã từng hiện diện trong hệ mặt trời thứ nhất. Điều này có thể đúng hoặc không, vì các cung có thể hoạt động qua nhiều hệ hành tinh khác nhau. Chúng ta nhớ từ TCF 293 rằng thời lượng của một Đấng Thiên Nhân là một hệ mặt trời.

179. We note here that DK does not mention planets, per se.

179. Chúng ta lưu ý ở đây rằng Chân sư DK không nhắc đến các hành tinh, tự chúng.

Through the individualisation of the four in that system the individualisation of the great cosmic Entity we call Brahma was brought about. He individualised and the four go to the content of His body.

Qua sự biệt ngã hóa của bốn vị trong hệ ấy, sự biệt ngã hóa của Đại Thực Thể vũ trụ mà chúng ta gọi là Brahma đã được tạo ra. Ngài đã biệt ngã hóa và bốn vị ấy đi vào nội dung của thể Ngài.

180. The kind of individualization here discussed was definitely not of the order through which a human being presently passes. It had to have been a cosmic individualization, either involving the gradual stimulation of a cosmic mental unit and its approximation to a cosmic manasic permanent atom (thus producing a cosmic causal body), or through the intervention of a cosmic Solar Angel.

180. Loại biệt ngã hóa được bàn đến ở đây chắc chắn không thuộc loại mà một con người hiện nay trải qua. Nó hẳn phải là một sự biệt ngã hóa vũ trụ, hoặc liên quan đến sự kích thích dần dần của một đơn vị hạ trí vũ trụ và sự tiến gần của nó đến một nguyên tử trường tồn manas vũ trụ (nhờ đó tạo ra một thể nguyên nhân vũ trụ), hoặc thông qua sự can thiệp của một Thái dương Thiên Thần vũ trụ.

181. Solar Angels, however, it would seem, were not so active during the first solar system as in our present one.

181. Tuy nhiên, có vẻ như các Thái dương Thiên Thần không hoạt động mạnh trong hệ mặt trời thứ nhất như trong hệ hiện tại của chúng ta.

182. The great cosmic Entity called Brahma is, in this context, one of the aspects of our Solar Logos. We are not speaking of ‘Universal Brahma’.

182. Đại Thực Thể vũ trụ được gọi là Brahma, trong ngữ cảnh này, là một trong các phương diện của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Chúng ta không nói về ‘Brahma Vũ Trụ’.

c. They are represented on our earth by the five Kumaras Who obeyed the Law, and took human form, as H. P. B. hints in several passages in the Secret Doctrine. [33: S. D., I, 493.]

c. Chúng được biểu hiện trên địa cầu của chúng ta bởi năm Kumara đã tuân theo Định luật, và đã mang hình người, như H. P. B. gợi ý trong một số đoạn của Giáo Lý Bí Nhiệm. [33: S. D., I, 493.]

183. This is a fascinating reference showing the connection between five Ray Lords and five of our present –intra-planetary Kumaras.

183. Đây là một tham chiếu hấp dẫn cho thấy mối liên hệ giữa năm Chúa Tể Cung và năm Kumara hiện tại của chúng ta – nội hành tinh.

184. If two of them disobeyed the Law, it was probably because the Law required that they not incarnate.

184. Nếu hai vị trong số họ không tuân theo Định luật, thì có lẽ là vì Định luật đòi hỏi rằng các vị ấy không lâm phàm.

185. The whole idea of planetary (or better intra-planetary) Kumaras having human form is interesting. Sanat Kumara (the Kumara Who is the main focus of the Trans-Himalayan Wisdom Teaching) is said to be able to express through a form which resembles the human form. “Man is made in the image of God”.

185. Toàn bộ ý tưởng về các Kumara hành tinh (hay đúng hơn là nội hành tinh) có hình người thật thú vị. Đức Sanat Kumara (Kumara là tiêu điểm chính của Giáo Huấn Minh Triết Xuyên Hy Mã Lạp Sơn) được nói là có thể biểu lộ qua một hình tướng giống hình người. “Con người được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế”.

186. I do not think DK is talking about Solar Angels in this context. The Solar Angels may present themselves as “angels” to the eye of the candidate for initiation. This is probably as close as they come to expressing directly through a human form (though, reputedly, some of them did, for a time, in very ancient times to help mould the racial type).

186. Tôi không nghĩ Chân sư DK đang nói về các Thái dương Thiên Thần trong ngữ cảnh này. Các Thái dương Thiên Thần có thể tự trình hiện như “các thiên thần” trước mắt ứng viên điểm đạo. Có lẽ đó là mức gần nhất mà họ đến với việc biểu lộ trực tiếp qua hình người (dù theo truyền tụng, một số vị trong họ đã làm như vậy, trong một thời gian, vào những thời kỳ rất cổ xưa để giúp uốn nắn kiểu mẫu nhân loại).

187. VSK asks: “Referencing chart in EA, 34, are these the same five Kumaras? This point “c”. clearly states those Kumaras took human form, those of rays three, four, five, six, and seven—the Pisces, Aries, Taurus, Gemini, and Cancer Liberated Lives or Kumaras. What are the implications of that?”

187. VSK hỏi: “Tham chiếu biểu đồ trong EA, 34, đây có phải là cùng năm Kumara ấy không? Điểm “c”. này nói rõ rằng các Kumara ấy đã mang hình người, tức những vị thuộc cung ba, bốn, năm, sáu và bảy—các Sự Sống Giải Thoát hay các Kumara của Song Ngư, Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử và Cự Giải. Những hàm ý của điều đó là gì?”

188. May it be suggested that this is such a huge and profound question that it is best to pass over it for a time until we are more certain of the relation of the intra-planetary Kumaras to the Creative Hierarchies.

188. Có thể gợi ý rằng đây là một câu hỏi quá rộng lớn và thâm sâu đến nỗi tốt hơn hết nên tạm thời bỏ qua nó cho đến khi chúng ta chắc chắn hơn về mối liên hệ của các Kumaras nội hành tinh với Các Huyền Giai Sáng Tạo.

This scheme is considered as the fourth and the one of the most importance in the system during this particular cycle for the following reasons:

Hệ hành tinh này được xem là hệ thứ tư và là hệ quan trọng bậc nhất trong hệ mặt trời trong chu kỳ đặc biệt này vì những lý do sau:

189. It would seem that our Solar Logos is undergoing a process of initiation through His fourth scheme (our Earth-scheme) and thus the temporary importance of our scheme.

189. Dường như Thái dương Thượng đế của chúng ta đang trải qua một tiến trình điểm đạo qua hệ hành tinh thứ tư của Ngài (hệ Địa Cầu của chúng ta), và do đó có tầm quan trọng tạm thời của hệ hành tinh chúng ta.

Our solar system, being considered as of the fourth [Page 362] order, and our scheme being the fourth in order, there is consequently a moment of special opportunity afforded our planetary Logos through the alignment brought about.

Hệ mặt trời của chúng ta, được xem là thuộc bậc thứ tư [Page 362]hệ hành tinh của chúng ta là hệ thứ tư theo thứ tự, vì thế có một thời điểm cơ hội đặc biệt được ban cho Hành Tinh Thượng đế của chúng ta nhờ sự chỉnh hợp được tạo ra.

190. Here we have a brief discussion of the importance of ‘numerical resonance’. Lines of connection definitely exist on the basis of number, and the close relationship between our Planetary Logos and the Solar Logos is numerologically emphasized.

190. Ở đây chúng ta có một cuộc bàn luận ngắn về tầm quan trọng của “cộng hưởng số học”. Những đường liên kết quả thực tồn tại trên cơ sở con số, và mối liên hệ mật thiết giữa Hành Tinh Thượng đế của chúng ta với Thái dương Thượng đế được nhấn mạnh về mặt số học.

191. The fourth order nature of our Solar Logos, may refer to His monadic ray. It may also refer to his place within the Creative Hierarchy of Solar Logoi. If the evidence of spectral types is admitted, He does occupy something of a middle position, just as the number four is the middle of a series of seven.

191. Bản chất bậc thứ tư của Thái dương Thượng đế của chúng ta, có thể ám chỉ cung chân thần của Ngài. Điều đó cũng có thể ám chỉ vị trí của Ngài trong Huyền Giai Sáng Tạo của các Thái dương Thượng đế. Nếu chấp nhận bằng chứng của các loại quang phổ, thì Ngài quả thực chiếm một vị trí nào đó ở giữa, cũng như số bốn là trung điểm của một dãy bảy.

It eventuates in the turning of the attention of the logoic kundalini fire towards this centre, our scheme, and the subsequent results are in process of working out.

Điều này dẫn đến sự chuyển hướng chú ý của hỏa kundalini logoic về trung tâm này, hệ hành tinh của chúng ta, và các kết quả tiếp theo hiện đang trong tiến trình biểu lộ.

192. We come to understand that our Planetary Logos and His scheme are under solar logoic kundalinic stimulation. Venus and Saturn are also said to be undergoing logoic kundalinic stimulation (TCF 181-182) forming a triangle with the Earth.

192. Chúng ta đi đến chỗ hiểu rằng Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và hệ hành tinh của Ngài đang ở dưới sự kích thích kundalini của Thái dương Thượng đế. Kim Tinh và Thổ Tinh cũng được nói là đang trải qua sự kích thích kundalini logoic (TCF 181-182), tạo thành một tam giác với Trái Đất.

193. Since Saturn and Venus are planets of initiation (ruling the sign Capricorn, the major sign of initiation), we can see that this alignment stimulates the process of initiation within our planetary scheme.

193. Vì Thổ Tinh và Kim Tinh là những hành tinh của điểm đạo (cai quản dấu hiệu Ma Kết, dấu hiệu chủ yếu của điểm đạo), chúng ta có thể thấy rằng sự chỉnh hợp này kích thích tiến trình điểm đạo trong hệ hành tinh của chúng ta.

194. It is also clear that Saturn and Venus are the planets most related to Sanat Kumara. He is the “Lord of Venusian Love”, but the spelling of His name (as we have it) clearly suggests Saturn. By another permutation, He is “Satan”, understood as the sponsor of the enlightenment and liberation of humanity. Much study of the Satan myth must be undertaken in the Secret Doctrine to realize that the standard attributions of evil associated with that name are due to inversion and misunderstanding. Evil exists to be sure, with its leaders in both the East and West, but such evil has nothing to do with the great process of enlightenment and the stimulation of human responsibility which the name “Satan” truly entails.

194. Cũng rõ ràng rằng Thổ Tinh và Kim Tinh là những hành tinh liên hệ nhiều nhất với Đức Sanat Kumara. Ngài là “Chúa Tể của Bác Ái Kim Tinh”, nhưng cách đánh vần tên Ngài (như chúng ta có hiện nay) rõ ràng gợi ý Thổ Tinh. Theo một hoán vị khác, Ngài là “Satan”, được hiểu như đấng bảo trợ cho sự giác ngộ và giải thoát của nhân loại. Cần phải nghiên cứu nhiều về huyền thoại Satan trong Giáo Lý Bí Nhiệm để nhận ra rằng những quy kết tiêu chuẩn về điều ác gắn với tên ấy là do sự đảo ngược và hiểu lầm. Điều ác quả có tồn tại, với những thủ lĩnh của nó ở cả Đông lẫn Tây, nhưng điều ác ấy không liên quan gì đến tiến trình vĩ đại của sự giác ngộ và sự kích thích trách nhiệm của con người mà tên gọi “Satan” thực sự hàm ý.

195. “Satan”, “Lucifer”, “Prometheus”, “Asuras”, “Agnishvattas”, Solar Angels, Narada and even Kumaras have many equivalencies. An open mind is required for deeper understanding. The fundamentalist turn of mind will close the book on this subject before any historical research is even attempted.

195. “Satan”, “Lucifer”, “Prometheus”, “Asuras”, “Agnishvattas”, các Thái dương Thiên Thần, Narada và ngay cả các Kumaras có nhiều điểm tương đương. Cần có một tâm trí cởi mở để thấu hiểu sâu hơn. Lối tư duy giáo điều sẽ khép cuốn sách này lại trước khi bất kỳ cuộc nghiên cứu lịch sử nào được thử tiến hành.

Within the scheme the chain that concerns us the most, and which is temporarily of the most vital importance to the planetary Logos, is the Earth chain, the fourth in order again, thus bringing about another alignment of very grave moment.

Trong hệ hành tinh này, dãy liên quan đến chúng ta nhiều nhất, và tạm thời có tầm quan trọng sinh tử nhất đối với Hành Tinh Thượng đế, là Dãy Địa Cầu, lại là dãy thứ tư, do đó tạo nên một sự chỉnh hợp khác có tầm hệ trọng vô cùng lớn lao.

196. We are speaking of a threefold alignment:

196. Chúng ta đang nói đến một sự chỉnh hợp tam phân:

a. Our Solar Logos of the fourth order

a. Thái dương Thượng đế của chúng ta thuộc bậc thứ tư

b. Our Solar Logos’ fourth scheme, the Earth-scheme

b. Hệ hành tinh thứ tư của Thái dương Thượng đế chúng ta, hệ Địa Cầu

c. The fourth chain of our fourth scheme—the Earth-chain

c. Dãy thứ tư của hệ hành tinh thứ tư của chúng ta — Dãy Địa Cầu

197. The gravity of this alignment is brought to our attention. The Logos of our scheme is moving through a perilous passage and the results may be temporarily dire for the kingdoms found within the fourth chain and especially upon the fourth globe—our planet Earth.

197. Tính hệ trọng của sự chỉnh hợp này được đưa ra trước sự chú ý của chúng ta. Đấng Logos của hệ hành tinh chúng ta đang đi qua một lối chuyển tiếp hiểm nguy và các kết quả có thể tạm thời rất nghiêm trọng đối với các giới được tìm thấy trong dãy thứ tư và đặc biệt trên bầu hành tinh thứ tư — hành tinh Trái Đất của chúng ta.

198. The concept of “grave moment” suggests the overcoming of death through the fourth initiation.

198. Khái niệm “thời điểm hệ trọng” gợi ý sự vượt thắng cái chết qua lần điểm đạo thứ tư.

This carries with it special opportunity, and permits of the entry of force from the cosmos itself, or of extra-systemic electrical vitality.

Điều này mang theo cơ hội đặc biệt, và cho phép mãnh lực từ chính vũ trụ đi vào, hay sinh lực điện ngoài hệ thống.

199. We wonder if Pleiadian force may be involved, for the term “electrical vitality” is Pleiadian in nature.

199. Chúng ta tự hỏi liệu mãnh lực từ Pleiades có thể liên quan hay không, vì thuật ngữ “sinh lực điện” có bản chất Pleiades.

200. Because the Pleiades are associated with cosmic buddhi (from the fourth cosmic plane) we see a further alignment involving the potency of the number four.

200. Vì Pleiades được liên kết với Bồ đề vũ trụ (từ cõi vũ trụ thứ tư), chúng ta thấy một sự chỉnh hợp nữa liên quan đến tiềm lực của con số bốn.

201. On the other hand, we know that Sirius is powerfully affecting the entire initiatory process on our planet, and it is the fourth of the seven or nine cosmic paths that leads to Sirius.

201. Mặt khác, chúng ta biết rằng Sirius đang tác động mạnh mẽ đến toàn bộ tiến trình điểm đạo trên hành tinh chúng ta, và chính con đường vũ trụ thứ trong bảy hay chín con đường vũ trụ dẫn đến Sirius.

202. We come to understand that what is going on Earth is more than just a planetary affair, but involves the Director of our solar system and even cosmic, extra-systemic Sources. No wonder the gravity of our situation!

202. Chúng ta đi đến chỗ hiểu rằng điều đang diễn ra trên Trái Đất không chỉ là một sự vụ hành tinh, mà còn liên quan đến Đấng Điều Hành hệ mặt trời chúng ta và ngay cả các Nguồn gốc vũ trụ, ngoài hệ thống. Thảo nào tình thế của chúng ta lại hệ trọng đến thế!

This super-stimulation results in what looks to us like cataclysms, and a stupendous shattering of forms, but it is simply the necessary sequence to the vitalisation of the life within the form, and the breaking of the limiting form unable to bear the cosmic action.

Sự siêu kích thích này dẫn đến điều đối với chúng ta trông như những đại biến động, và một sự phá vỡ hình tướng khổng lồ, nhưng đó chỉ đơn giản là chuỗi hệ quả tất yếu tiếp theo sau sự tiếp sinh lực cho sự sống bên trong hình tướng, và sự phá vỡ hình tướng giới hạn không thể chịu nổi tác động vũ trụ.

203. Note the term “super-stimulation”; it is dramatic and gives us some idea of the power of the energies and forces to which we are being subjected. No wonder the full strength of Hierarchy is needed to guide humanity and the planet through the process. Shamballa, too, is involved.

203. Hãy lưu ý thuật ngữ “siêu kích thích”; nó đầy kịch tính và cho chúng ta một ý niệm nào đó về quyền năng của các năng lượng và mãnh lực mà chúng ta đang phải chịu. Thảo nào cần đến toàn bộ sức mạnh của Thánh Đoàn để hướng dẫn nhân loại và hành tinh đi qua tiến trình này. Shamballa cũng có liên quan.

204. We can see that the shattering of forms is part of a planetary fourth initiation process.

204. Chúng ta có thể thấy rằng sự phá vỡ các hình tướng là một phần của tiến trình lần điểm đạo thứ của hành tinh.

205. It is as if our Planetary Logos is stepping into or opening unto a more cosmic environment, and the adjustment process if far from easy.

205. Dường như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang bước vào hay mở ra trước một môi trường vũ trụ hơn, và tiến trình điều chỉnh thì hoàn toàn không dễ dàng.

206. When a human being takes the fourth initiation, he is at last coming directly in contact with the Planetary Logos—requiring another huge adjustment. His relationship to the Solar Logos, via the solar logoic fourth plane, is also deepened.

206. Khi một con người trải qua lần điểm đạo thứ tư, cuối cùng y trực tiếp tiếp xúc với Hành Tinh Thượng đế — điều này đòi hỏi một sự điều chỉnh to lớn khác. Mối liên hệ của y với Thái dương Thượng đế, qua cõi thứ tư của Thái dương Thượng đế, cũng được đào sâu thêm.

Again within the chain, the globe at present receiving planetary polarisation, or at present embodying in a special sense the life of the planetary Logos is the Earth, the fourth in order. This brings about a still further alignment.

Lại nữa, trong dãy này, bầu hành tinh hiện đang tiếp nhận sự phân cực hành tinh, hay hiện đang hiện thân theo một ý nghĩa đặc biệt sự sống của Hành Tinh Thượng đế, là Trái Đất, bầu hành tinh thứ tư theo thứ tự. Điều này tạo nên một sự chỉnh hợp còn sâu hơn nữa.

207. This has been stated above. The alignment is terrific:

207. Điều này đã được nói ở trên. Sự chỉnh hợp thật ghê gớm:

a. Sirius or the Pleiades (both relating to the number four in specific ways)

a. Sirius hay Pleiades (cả hai đều liên hệ với số bốn theo những cách đặc thù)

b. Our Solar Logos (of the fourth order)

b. Thái dương Thượng đế của chúng ta (thuộc bậc thứ tư)

c. Our planetary scheme—the fourth

c. Hệ hành tinh của chúng ta — hệ thứ tư

d. Our planetary chain—the fourth

d. Dãy hành tinh của chúng ta — dãy thứ tư

e. Our globe—the fourth

e. Bầu hành tinh của chúng ta — bầu hành tinh thứ tư

f. Our globe experiencing its fourth round

f. Bầu hành tinh của chúng ta đang trải qua cuộc tuần hoàn thứ tư

g. Humanity—the fourth kingdom (having moved from emphasis upon its fourth root race to its fifth).

g. Nhân loại — giới thứ tư (đã chuyển từ sự nhấn mạnh vào giống dân gốc thứ tư sang giống dân gốc thứ năm).

Add to the above facts the accepted knowledge that this is the fourth round and we have a fivefold alignment which is of paramount significance to us all, though it had even greater significance and force in the fourth root-race, and brought about that stupendous psychic event—the opening of the door of Initiation to the human Hierarchy.

Cộng thêm vào các sự kiện trên tri thức đã được chấp nhận rằng đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, và chúng ta có một sự chỉnh hợp ngũ phân có ý nghĩa tối thượng đối với tất cả chúng ta, mặc dù nó còn có ý nghĩa và mãnh lực lớn hơn nữa trong giống dân gốc thứ tư, và đã tạo nên biến cố thông linh vĩ đại ấy — sự mở cánh cửa Điểm đạo cho Huyền Giai nhân loại.

208. We, humanity, have moved on into the fifth root race, and the alignment is thus not quite as intense as it was during the fourth root race. Yet the intensity is sufficient to put the survival of humanity (as we know it) in question.

208. Chúng ta, nhân loại, đã tiến vào giống dân gốc thứ năm, và vì thế sự chỉnh hợp không còn mãnh liệt như trong giống dân gốc thứ tư. Tuy nhiên, cường độ ấy vẫn đủ để đặt sự sống còn của nhân loại (như chúng ta biết) vào vòng nghi vấn.

209. We should pause to reflect on the relation of the number four to the initiation process. Sirius relates intimately to the four and Sirius is the Sponsor of the initiatory process on our planet and more widely within the solar system.

209. Chúng ta nên dừng lại để suy ngẫm về mối liên hệ của con số bốn với tiến trình điểm đạo. Sirius liên hệ mật thiết với số bốn, và Sirius là Đấng Bảo Trợ của tiến trình điểm đạo trên hành tinh chúng ta và rộng hơn trong hệ mặt trời.

210. Initiation is Yoga, the link, the bond. The number four serves this function as does the seven.

210. Điểm đạo là Yoga, là mối liên kết, là dây ràng buộc. Số bốn thực hiện chức năng này cũng như số bảy.

These very important facts merit close attention, and the consideration of all occult students. They hold the key whereby some comprehension of manas and of planetary evolution may come about.

Những sự kiện rất quan trọng này đáng được chú ý kỹ lưỡng và được mọi đạo sinh huyền bí học suy xét. Chúng nắm giữ chiếc chìa khóa nhờ đó có thể đạt được một phần thấu hiểu về manas và về tiến hoá hành tinh.

211. With these facts we have often been presented. Have we realized that they hold the key to the comprehension of manas and of planetary evolution?

211. Những sự kiện này thường đã được trình bày trước chúng ta. Chúng ta đã nhận ra rằng chúng nắm giữ chiếc chìa khóa để thấu hiểu manas và tiến hoá hành tinh hay chưa?

212. It is easy to see how planetary evolution is related to the alignment.

212. Thật dễ thấy tiến hoá hành tinh liên hệ với sự chỉnh hợp như thế nào.

213. Perhaps the comprehension of manas must come through an understanding that the human Creative Hierarchy is the fourth and is the Hierarchy of manas. Manas—Man, the Thinker.

213. Có lẽ sự thấu hiểu về manas phải đến qua việc hiểu rằng Huyền Giai Sáng Tạo nhân loại là Huyền Giai thứ tư và là Huyền Giai của manas. Manas — Con Người, Đấng Tư Tưởng.

What have we, therefore, in this special cyclic alignment?

Vậy thì, trong sự chỉnh hợp chu kỳ đặc biệt này, chúng ta có gì?

[Page 363]

[Page 363]

1. A solar system of the fourth order.

1. Một hệ mặt trời thuộc bậc thứ tư.

2. The fourth scheme in the system.

2. Hệ hành tinh thứ tư trong hệ mặt trời.

3. The fourth chain in the scheme.

3. Dãy thứ tư trong hệ hành tinh.

4. The fourth globe in the chain.

4. Bầu hành tinh thứ tư trong dãy.

5. The fourth round.34

5. Cuộc tuần hoàn thứ tư.34

214. Plus the additional factors involved in the alignment (mentioned above).

214. Cộng thêm các yếu tố bổ sung liên quan đến sự chỉnh hợp (đã nêu ở trên).

34 Compare also the following correspondences:

34 Hãy so sánh thêm các tương ứng sau đây:

The sacred Tetraktys The manifested Logos.

Tetraktys thiêng liêng Đấng Logos biểu hiện.

215. In this case the four are superior to the three. The “sacred Tetraktys” is also a ten and responsible for all manifestation. It may be related to the four cosmic ethers and their potencies.

215. Trong trường hợp này, bốn cao hơn ba. “Tetraktys thiêng liêng” cũng là một số mười và chịu trách nhiệm cho toàn bộ sự biểu hiện. Nó có thể liên hệ với bốn dĩ thái vũ trụ và các tiềm lực của chúng.

The Fourth Creative Hierarchy The Human.

Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư Con Người.

216. The Hierarchy of human Monads.

216. Huyền Giai của các chân thần nhân loại.

The Fourth Principle Lower Mind.

Nguyên khí Thứ Tư Hạ trí.

217. Manas is usually the middle principle whether one counts from below or above. Sometimes, in different enumerations, the numbers may change, depending on whether one is dealing with the spiritual, psychic or objective way of ‘counting’ man.

217. Manas thường là nguyên khí ở giữa, dù người ta đếm từ dưới lên hay từ trên xuống. Đôi khi, trong những cách liệt kê khác nhau, các con số có thể thay đổi, tùy theo người ta đang xét con người theo cách “đếm” tinh thần, thông linh hay khách quan.

The Fourth Race Kamamanas.

Nhân loại Thứ Tư Kamamanas.

218. The Atlantean root race. Although we are now, technically, in the Aryan root race, the Atlantean consciousness is pervasive as are Atlantean types of bodies.

218. Giống dân gốc Atlantis. Mặc dù hiện nay, về mặt kỹ thuật, chúng ta đang ở trong giống dân gốc Arya, tâm thức Atlantis vẫn lan tràn, cũng như các loại thể Atlantis vẫn còn phổ biến.

The Fourth Element Water, S. D., I, 95. I, 640.

Nguyên tố Thứ Tư Nước, S. D., I, 95. I, 640.

219. This is an interesting correlation and not easy to fit with the “fire of mind”. The Fourth Creative Hierarchy, however, has a water sign, Scorpio, as its ruler. From another perspective, it is atma that is ruled by water (cf. EA 35).

219. Đây là một sự tương quan thú vị và không dễ dung hợp với “lửa của trí tuệ”. Tuy nhiên, Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư có một dấu hiệu hành thủy, Hổ Cáp, làm chủ tinh của nó. Từ một góc nhìn khác, chính atma được nước cai quản (x. EA 35).

The Four Truths S. D., I, 70.

Bốn Chân Lý S. D., I, 70.

220. The Four Noble Truths of the Buddha, suitable for the strengthening of all the alignments related to four which engage our little globe and its humanity.

220. Bốn Chân Lý Cao Quý của Đức Phật, thích hợp để tăng cường mọi sự chỉnh hợp liên hệ với số bốn đang cuốn hút bầu hành tinh nhỏ bé của chúng ta và nhân loại của nó.

The Four Propositions S. D., I, 107.

Bốn Mệnh Đề S. D., I, 107.

221. A search of the Secret Doctrine reveals only three. Perhaps a better means of searching would reveal four. The Tibetan does hint at the emergence of the Fourth Fundamental of the Secret Doctrine. The first three propositions are precisely the Three Fundamentals of the Secret Doctrine.

221. Việc tra cứu trong Giáo Lý Bí Nhiệm chỉ cho thấy ba. Có lẽ một phương cách tra cứu tốt hơn sẽ cho thấy bốn. Chân sư Tây Tạng quả có gợi ý về sự xuất hiện của Căn Bản Thứ Tư của Giáo Lý Bí Nhiệm. Ba mệnh đề đầu chính là Ba Căn Bản của Giáo Lý Bí Nhiệm.

The Four Initiations S. D., I, 227.

Bốn Điểm Đạo S. D., I, 227.

222. The fourth of these initiations release the human being from the need to reincarnate within the fourth kingdom.

222. Điểm đạo thứ tư trong số này giải thoát con người khỏi nhu cầu tái sinh trong giới thứ tư.

The Fourth Plane Buddhi, fourth cosmic ether.

Cõi Thứ Tư Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư.

223. This is the plane on which the Fourth Creative Hierarchy is focussed and the plane of its future complete expression.

223. Đây là cõi mà Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư tập chú vào và là cõi của sự biểu hiện hoàn toàn trong tương lai của nó.

The Fourth physical sub-plane The Fourth Ether.

Cõi phụ hồng trần thứ tư Dĩ thái Thứ Tư.

224. This is the sub-plane presently being penetrated and slowly mastered by humanity.

224. Đây là cõi phụ mà nhân loại hiện đang xuyên nhập và chậm rãi làm chủ.

The Fourth Round The Present.

Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư Hiện Tại.

225. We are at the midway point of development both within our planetary chain and planetary scheme. There are chain rounds and scheme rounds.

225. Chúng ta đang ở Điểm ở giữa của sự phát triển cả trong dãy hành tinh lẫn hệ hành tinh của chúng ta. Có các cuộc tuần hoàn của dãy và các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh.

All these are found active within the same cycle, and all therefore bring about a simultaneous alignment which results in the clearing of a channel direct from the heart of our scheme through every ring-pass-not to the cosmic correspondence, found outside the solar sphere.

Tất cả những điều này đều được thấy là hoạt động trong cùng một chu kỳ, và vì thế tất cả đều tạo nên một sự chỉnh hợp đồng thời, dẫn đến việc khai thông một kênh trực tiếp từ trái tim của hệ hành tinh chúng ta xuyên qua mọi vòng-giới-hạn đến tương ứng vũ trụ, được tìm thấy bên ngoài khối cầu mặt trời.

226. We can see that we are dealing with a soft-line alignment. The second ray soul of our Planetary Logos, linked to the “heart of our scheme” is related to the alignment of the many fours.

226. Chúng ta có thể thấy rằng mình đang xử lý một sự chỉnh hợp theo đường mềm. Cung linh hồn cung hai của Hành Tinh Thượng đế chúng ta, gắn với “trái tim của hệ hành tinh chúng ta”, liên hệ với sự chỉnh hợp của nhiều số bốn.

227. What is the nature of this “cosmic correspondence”? Will it be that neighboring constellation which embodies the heart center of the One About Whom Naught May Be Said? It cannot be a center within the Seven Solar Systems of Which Ours is One because it is our own Solar Logos Who embodies the heart center of that great Cosmic Logos.

227. Bản chất của “tương ứng vũ trụ” này là gì? Có phải đó là chòm sao lân cận hiện thân trung tâm tim của Đấng Bất Khả Tư Nghị chăng? Nó không thể là một trung tâm bên trong Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó, bởi chính Thái dương Thượng đế của chúng ta là Đấng hiện thân trung tâm tim của Đấng Logos Vũ Trụ vĩ đại ấy.

To the above realisation, we must add yet the further fact that the fourth Creative Hierarchy is the one whose evolution we are considering, and it will be apparent to the most superficial student that in these thoughts lies hidden the clue, not only to man but to the entire cyclic evolution in which he is taking part.

Vào sự chứng nghiệm trên, chúng ta còn phải thêm một sự kiện nữa rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là Huyền Giai mà chúng ta đang xét đến sự tiến hoá của nó, và điều đó sẽ hiển nhiên đối với cả đạo sinh hời hợt nhất rằng trong những tư tưởng này ẩn giấu đầu mối không chỉ về con người mà còn về toàn bộ tiến hoá chu kỳ mà y đang tham dự.

228. If we wish to understand humanity and its monadic source (the Fourth Creative Hierarchy), the many alignments occurring numerologically in relation to the number four must be considered.

228. Nếu chúng ta muốn hiểu nhân loại và nguồn gốc chân thần của nó (Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư), thì phải xét đến nhiều sự chỉnh hợp xảy ra về mặt số học liên hệ với số bốn.

229. Man cannot understand man in a vacuum. The many relationships resonant to the number four give the broader picture. Humanity must be understood both as a kingdom of nature and as a Creative Hierarchy. In this process we are invited to understand the larger context. Naturally, A Treatise on Cosmic Fire is a superb book to promote such understanding.

229. Con người không thể hiểu con người trong một khoảng trống. Nhiều mối liên hệ cộng hưởng với số bốn đem lại bức tranh rộng lớn hơn. Nhân loại phải được hiểu vừa như một giới trong thiên nhiên vừa như một Huyền Giai Sáng Tạo. Trong tiến trình này, chúng ta được mời gọi hiểu bối cảnh lớn hơn. Đương nhiên, Luận về Lửa Vũ Trụ là một cuốn sách tuyệt vời để thúc đẩy sự thấu hiểu như thế.

The fourth Creative Hierarchy is essentially the Hierarchy of manas. This is no play on words, but a statement of deep occult significance.

Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư về bản chất là Huyền Giai của manas. Điều này không phải là một lối chơi chữ, mà là một phát biểu có ý nghĩa huyền bí sâu xa.

230. We are Man, Manas, the Thinker. We see the various ways in which the number four is associated with manas, even though it is the fifth principle.

230. Chúng ta là Con Người, Manas, Đấng Tư Tưởng. Chúng ta thấy những cách khác nhau mà số bốn được liên kết với manas, mặc dù nó là nguyên khí thứ năm.

231. Manas (depending on the perspective from which human principles are counted) is positioned as the fourth principle; the Fourth Creative Hierarchy is the manasic Hierarchy.

231. Manas (tùy theo góc nhìn mà các nguyên khí của con người được đếm) được đặt ở vị trí nguyên khí thứ tư; Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư là Huyền Giai manas.

The statement has been made with entire accuracy that five Hierarchies out of the twelve have passed out and that seven remain.

Phát biểu đã được đưa ra hoàn toàn chính xác rằng năm Huyền Giai trong số mười hai đã vượt ra ngoài và bảy Huyền Giai còn lại.

232. Technically, we are told that the fifth liberated Creative Hierarchy (its number is also the tenth) has not quite found its liberation onto the cosmic astral plane.

232. Về mặt kỹ thuật, chúng ta được cho biết rằng Huyền Giai Sáng Tạo được giải thoát thứ năm (số của nó cũng là số mười) vẫn chưa hoàn toàn tìm được sự giải thoát lên cõi cảm dục vũ trụ.

Of these seven, our human Hierarchy is the fourth, making it literally the ninth when counting the entire twelve.

Trong bảy Huyền Giai này, Huyền Giai nhân loại của chúng ta là Huyền Giai thứ tư, khiến nó theo nghĩa đen là thứ chín khi đếm toàn bộ mười hai.

233. The number nine is definitely a manasic number relating to the cycle of the third ray. Every member of the trinity (a symbol of the third aspect) is itself threefold, making nine.

233. Con số chín rõ ràng là một con số manas liên hệ với chu kỳ của cung ba. Mỗi thành viên của bộ ba (một biểu tượng của phương diện thứ ba) tự nó lại là tam phân, tạo thành chín.

234. When thinking about the relationship of the number four to manas, we should always remember the manasic planet Mercury (“mind-wisdom”) and its strong relationship to the fourth ray. The ajna center, ruled at a later date by Mercury, is also, from a certain perspective, a manasic center.

234. Khi suy nghĩ về mối liên hệ của số bốn với manas, chúng ta nên luôn nhớ đến hành tinh manas là Sao Thủy (“minh triết-trí tuệ”) và mối liên hệ mạnh mẽ của nó với cung bốn. Trung tâm ajna, về sau được Sao Thủy cai quản, cũng là, từ một góc nhìn nào đó, một trung tâm manas.

In this connection it would be well to link up the statements that have been made to the effect that the five Kumaras or Heavenly Men Who definitely embody the manasic principle (or the five Rays over which the systemic correspondence to the Mahachohan presides) developed [Page 364] manas in an earlier system;

Trong mối liên hệ này, sẽ là điều tốt nếu liên kết các phát biểu đã được đưa ra theo đó rằng năm Kumaras hay các Đấng Thiên Nhân là những Đấng hiện thân rõ rệt nguyên khí manas (hay năm Cung mà tương ứng hệ thống với Đức Mahachohan chủ trì) đã phát triển [Page 364] manas trong một hệ mặt trời sớm hơn;

235. We must be cautious here and try to avoid confusion. Are we speaking (in the reference above) of extra-planetary Kumaras, i.e., Heavenly Men expressing through planetary schemes?

235. Ở đây chúng ta phải thận trọng và cố tránh nhầm lẫn. Có phải chúng ta đang nói (trong đoạn dẫn trên) về các Kumaras ngoài hành tinh, tức các Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua các hệ hành tinh chăng?

236. Or are we speaking of intra-planetary Kumaras?

236. Hay chúng ta đang nói về các Kumaras nội hành tinh?

237. There are intra-planetary Kumaras and systemic Planetary Kumaras and it is not easy to keep them distinct when studying these references.

237. Có các Kumaras nội hành tinh và các Kumaras Hành Tinh hệ thống, và không dễ giữ cho chúng phân biệt rõ khi nghiên cứu các đoạn dẫn này.

238. DK is suggesting the linking up of certain statements about the “five Kumaras” with what has been said of the five liberated Creative Hierarchies. So it seems He may be bringing a discussion of Planetary Logoi into a discussion of the Creative Hierarchies which He has just been pursuing.

238. Chân sư DK đang gợi ý việc liên kết một số phát biểu về “năm Kumaras” với điều đã được nói về năm Huyền Giai Sáng Tạo được giải thoát. Vì thế dường như Ngài có thể đang đưa một cuộc bàn luận về các Hành Tinh Thượng đế vào trong cuộc bàn luận về các Huyền Giai Sáng Tạo mà Ngài vừa theo đuổi.

239. IF we are speaking of solar systemic Beings (Planetary Logoi) we are then discussing the systemic Heavenly Men associated with the five brahmic rays.

239. NẾU chúng ta đang nói về các Đấng của hệ mặt trời (các Hành Tinh Thượng đế), thì khi ấy chúng ta đang bàn đến các Đấng Thiên Nhân hệ thống liên hệ với năm cung brahmic.

a. Regardless of the rays They express, the less advanced Heavenly Men are those that embody manas pure and simple. More advanced Heavenly Men begin to embody buddhi. The most advanced among them are beginning to embody the Divine Will.

a. Bất kể Các Ngài biểu lộ những cung nào, các Đấng Thiên Nhân kém tiến hoá hơn là những Đấng hiện thân manas thuần túy và đơn giản. Những Đấng Thiên Nhân tiến hoá hơn bắt đầu hiện thân Bồ đề. Những Đấng tiến hoá nhất trong số Các Ngài đang bắt đầu hiện thân Ý Chí thiêng liêng.

b. We note that DK does not say the ‘previous’ solar system, but only “an earlier solar system”.

b. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK không nói hệ mặt trời “trước đây”, mà chỉ nói “một hệ mặt trời sớm hơn”.

c. This reference definitely makes it seem that some of the Heavenly Men expressing in our present solar system, also expressed as Heavenly Men in an earlier solar system.

c. Đoạn dẫn này rõ ràng khiến người ta có cảm tưởng rằng một số Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ trong hệ mặt trời hiện tại của chúng ta cũng đã biểu lộ như các Đấng Thiên Nhân trong một hệ mặt trời sớm hơn.

d. Which, precisely, were the five Kumaras (as Heavenly Men) Who developed in an earlier solar system? It would seem that some of them, at least, would be numbered among the Planetary Logoi of currently sacred planets. At that time, however, They may not have expressed through sacred planets. Was the Logos of Venus one? Was the Logos of Mercury? Mercury is old and related to the third ray. He is a good candidate for previous solar systemic development.

d. Chính xác thì năm Kumaras nào (với tư cách các Đấng Thiên Nhân) đã phát triển trong một hệ mặt trời sớm hơn? Dường như ít nhất một số trong Các Ngài sẽ được kể vào hàng các Hành Tinh Thượng đế của những hành tinh hiện đang thiêng liêng. Tuy nhiên, vào thời đó, Các Ngài có thể đã không biểu lộ qua các hành tinh thiêng liêng. Logos của Kim Tinh có phải là một trong số đó không? Logos của Sao Thủy thì sao? Sao Thủy cổ xưa và liên hệ với cung ba. Ngài là một ứng viên thích hợp cho sự phát triển trong hệ mặt trời trước.

e. Who is the systemic correspondence to the Mahachohan? It is Saturn? Is it that Entity represented in Chart VI, TCF, 373, Who might be called ‘greater Saturn’ because His circle circumscribes seven Planetary Logoi?

e. Tương ứng hệ thống với Đức Mahachohan là ai? Có phải là Thổ Tinh không? Có phải là Thực Thể được trình bày trong Biểu đồ VI, TCF, 373, Đấng có thể được gọi là ‘Thổ Tinh lớn hơn’ vì vòng tròn của Ngài bao quanh bảy Hành Tinh Thượng đế không?

f. Or is it the perhaps even Brahma of our solar system, represented as one of three intersecting circles proximate to the circle of the Solar Logos? (cf. TCF 1238)

f. Hay đó là có lẽ chính Brahma của hệ mặt trời chúng ta, được biểu hiện như một trong ba vòng tròn giao nhau gần với vòng tròn của Thái dương Thượng đế? (x. TCF 1238)

240. IF, however, we are speaking of the intra-planetary Kumaras our approach will be different for such intra-planetary Kumaras but represent those of a systemic nature.

240. TUY NHIÊN, nếu chúng ta đang nói về các Kumaras nội hành tinh thì cách tiếp cận của chúng ta sẽ khác, vì các Kumaras nội hành tinh như thế lại biểu hiện những Đấng có bản chất hệ thống.

241. If we are speaking of the five liberated Creative Hierarchies as having developed manas in a previous solar system, then our emphasis is different still.

241. Nếu chúng ta đang nói về năm Huyền Giai Sáng Tạo được giải thoát như đã phát triển manas trong một hệ mặt trời trước, thì sự nhấn mạnh của chúng ta lại khác hơn nữa.

They passed out of the wave of manasic influence as far as their own Nature is concerned.

Các Huyền Giai ấy đã vượt ra khỏi làn sóng ảnh hưởng manas xét theo bản chất riêng của chính mình.

242. It is evident that we are again speaking of the five liberated Creative Hierarchies. They were manasically conditioned—hence their number, five. They are, however, to be correlated with the five planets representing the brahmic aspect.

242. Rõ ràng là chúng ta lại đang nói về năm Huyền Giai Sáng Tạo được giải thoát. Các Huyền Giai ấy đã được manas tác động — vì thế con số của chúng là năm. Tuy nhiên, chúng phải được tương quan với năm hành tinh biểu hiện phương diện brahmic.

243. Yet these five Creative Hierarchies are not Planetary Logoi.

243. Tuy vậy, năm Huyền Giai Sáng Tạo này không phải là các Hành Tinh Thượng đế.

244. The mysteries surrounding the Creative Hierarchies are deep. From one perspective they are large aggregations of Monads; from another, they are representatives of fohatic force (cf. TCF 444)

244. Những huyền nhiệm bao quanh các Huyền Giai Sáng Tạo thật sâu xa. Từ một góc nhìn, chúng là những tập hợp lớn các chân thần; từ một góc nhìn khác, chúng là những đại diện của mãnh lực fohat (x. TCF 444)

245. It would seem that the Planetary Logoi (the solar systemic Kumaras) have a higher spiritual status than the members of the Creative Hierarchies (at least the ones which have been mentioned in TCF).

245. Dường như các Hành Tinh Thượng đế (các Kumaras của hệ mặt trời) có địa vị tinh thần cao hơn các thành viên của các Huyền Giai Sáng Tạo (ít nhất là những Huyền Giai đã được nhắc đến trong TCF).

246. Within the body of expression of a Planetary Logos, a number of Creative Hierarchies are to be found. The reverse cannot be said.

246. Trong thể biểu hiện của một Hành Tinh Thượng đế, có thể tìm thấy một số Huyền Giai Sáng Tạo. Điều ngược lại thì không thể nói được.

We must remember also that nine is the number of Initiation, or of the major Initiations of Manas, wherein man becomes a perfect Nine, or literally is the number of his Hierarchy.

Chúng ta cũng phải nhớ rằng chín là con số của Điểm đạo, hay của các Điểm đạo lớn của Manas, trong đó con người trở thành một Chín hoàn hảo, hay theo nghĩa đen là con số của Huyền Giai của y.

247. We are speaking not only of the relation of the ninefold initiation process to the human or ninth Creative Hierarchy (by one way of counting), but of the major Initiations of Manas (there are nine of them, beginning with the Birth and ending with the Refusal).

247. Chúng ta đang nói không chỉ về mối liên hệ của tiến trình điểm đạo cửu phân với Huyền Giai Sáng Tạo nhân loại hay Huyền Giai Sáng Tạo thứ chín (theo một cách đếm), mà còn về các Điểm đạo lớn của Manas (có chín điểm đạo, bắt đầu bằng Sự Giáng Sinh và kết thúc bằng Sự Từ Chối).

248. There are also lesser initiations, but when DK speaks of the “great manasic initiations” or the “major Initiations of Manas”, He is speaking of the nine with which we are, at least theoretically, familiar.

248. Cũng có những điểm đạo nhỏ hơn, nhưng khi Chân sư DK nói về “các điểm đạo manas lớn” hay “các Điểm đạo lớn của Manas”, Ngài đang nói về chín điểm đạo mà ít nhất về mặt lý thuyết chúng ta đã quen thuộc.

249. By passing through nine initiations a member of a Hierarchy has fulfilled the developmental promise his Hierarchy. Man, by taking nine initiations, has availed himself of all the Fourth Creative Hierarchy can offer him.

249. Bằng cách đi qua chín điểm đạo, một thành viên của một Huyền Giai đã hoàn thành lời hứa phát triển của Huyền Giai mình. Con người, bằng cách trải qua chín điểm đạo, đã tận dụng tất cả những gì Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư có thể cống hiến cho y.

250. It may be presumed that those Creative Hierarchies which have, as a whole, passed out on the cosmic astral plane, have passed through the Great Refusal—technically the ninth initiation (at least as that initiation is presented in the context of their particular Creative Hierarchy).

250. Có thể giả định rằng những Huyền Giai Sáng Tạo nào, xét như một toàn thể, đã vượt ra trên cõi cảm dục vũ trụ, thì đã đi qua Đại Từ Chối — về mặt kỹ thuật là lần điểm đạo thứ chín (ít nhất là như điểm đạo ấy được trình bày trong bối cảnh của Huyền Giai Sáng Tạo riêng của chúng).

251. Each Creative Hierarchy has nine states of consciousness (or initiations) and seven states of form.

251. Mỗi Huyền Giai Sáng Tạo có chín trạng thái tâm thức (hay các điểm đạo) và bảy trạng thái hình tướng.

This is from the standpoint of the three systems, though his present systemic number may be four.

Điều này là từ quan điểm của ba hệ mặt trời, mặc dù con số hệ thống hiện tại của y có thể là bốn.

252. Of what Entity is DK speaking when He says “though his present systemic number may be four”.

252. Chân sư DK đang nói về Thực Thể nào khi Ngài nói “mặc dù con số hệ thống hiện tại của y có thể là bốn”?

253. Of our Planetary Logos it could be said that His present systemic number is four.

253. Về Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, có thể nói rằng con số hệ thống hiện tại của Ngài là bốn.

254. In fact, DK seems to be speaking of Man and the Fourth Creative Hierarchy. The Hierarchy of human Monads is usually considered the fourth.

254. Thật ra, Chân sư DK dường như đang nói về Con Người và Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư. Huyền Giai của các chân thần nhân loại thường được xem là Huyền Giai thứ tư.

255. Hierarchies are considered in a solar systemic context, and we must remember that the solar system, as often defined, does not transcend the cosmic physical plane. It does not include the cosmic astral plane.

255. Các Huyền Giai được xét trong một bối cảnh hệ mặt trời, và chúng ta phải nhớ rằng hệ mặt trời, như thường được định nghĩa, không vượt quá cõi hồng trần vũ trụ. Nó không bao gồm cõi cảm dục vũ trụ.

256. Thus, strictly in relation to those Creative Hierarchy which are still expressing on the solar systemic planes, man’s number (his systemic number) is, indeed, four.

256. Vì thế, xét một cách nghiêm ngặt trong mối liên hệ với những Huyền Giai Sáng Tạo vẫn còn đang biểu lộ trên các cõi của hệ mặt trời, con số của con người (con số hệ thống của y) quả thực là bốn.

257. From a context larger than the solar systemic context, man’s number may be considered nine.

257. Từ một bối cảnh lớn hơn bối cảnh hệ mặt trời, con số của con người có thể được xem là chín.

In occupying ourselves with these various statements anent our scheme and its Ruler we have seen that this particular cycle, or incarnation of His, is one of great importance, not only to Himself but to the entire system.

Khi bận tâm với những phát biểu khác nhau này liên quan đến hệ hành tinh của chúng ta và Đấng Cai Quản của nó, chúng ta đã thấy rằng chu kỳ đặc biệt này, hay lần lâm phàm này của Ngài, là một chu kỳ có tầm quan trọng lớn lao, không chỉ đối với chính Ngài mà còn đối với toàn bộ hệ mặt trời.

258. Our Planetary Logos is undergoing initiation through our planetary chain, but our Solar Logos is undergoing initiation through our planetary scheme.

258. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua điểm đạo qua dãy hành tinh của chúng ta, nhưng Thái dương Thượng đế của chúng ta đang trải qua điểm đạo qua hệ hành tinh của chúng ta.

The planetary Logos of this scheme is primarily occupied with a particular group of units, or with those Monads who vibrate to His key, are colored by the same colour as Himself, answer to the same number, and are esoterically known by the same Name.

Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh này trước hết bận tâm đến một nhóm đơn vị đặc biệt, hay đến những chân thần rung động theo chủ âm của Ngài, được nhuốm cùng màu sắc như chính Ngài, đáp ứng cùng một con số, và một cách huyền bí được biết đến bằng cùng một Danh Xưng.

259. Let us tabulate how the units here discussed respond to our Planetary Logos:

259. Hãy lập bảng cách các đơn vị đang được bàn đến ở đây đáp ứng với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta:

a. They vibrate to His key

a. Họ rung động theo chủ âm của Ngài

b. They are colored by the same color as Himself

b. Họ được nhuốm cùng màu sắc như chính Ngài

c. They answer to the same number

c. Họ đáp ứng cùng một con số

d. They are esoterically known by the same name

d. Họ một cách huyền bí được biết đến bằng cùng một danh xưng

260. Are these necessarily all human beings? It would seem that our Planetary Logos is not primarily occupied with all human Monads.

260. Những đơn vị này có nhất thiết là tất cả nhân loại không? Dường như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta không chủ yếu bận tâm đến tất cả các chân thần nhân loại.

261. In general it could be said that the Fourth Creative Hierarchy is very related to the key, color, number and name of our Planetary Logos, but quite a number of Monads have their true origin on planetary schemes other than the Earth-scheme.

261. Nói chung có thể nói rằng Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư liên hệ rất nhiều với chủ âm, màu sắc, con số và danh xưng của Hành Tinh Thượng đế chúng ta, nhưng khá nhiều chân thần có nguồn gốc thực sự trên những hệ hành tinh khác ngoài hệ Địa Cầu.

262. Which of the presently Earth Monads are most related to our Planetary Logos? Perhaps those originally from Saturn.

262. Những chân thần hiện đang ở Trái Đất nào liên hệ nhiều nhất với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta? Có lẽ là những chân thần nguyên thủy đến từ Thổ Tinh.

263. It may be questioned whether Monads can originate within a Planetary Logos Who does not express throughout the mahamanvantara; the Logos of our Earth-scheme does not.

263. Có thể đặt câu hỏi liệu các chân thần có thể phát nguyên bên trong một Hành Tinh Thượng đế không biểu lộ xuyên suốt Đại giai kỳ sinh hóa hay không; Logos của hệ Địa Cầu chúng ta thì không như vậy.

One point here needs emphasis: all Monads pass at different times under the influence of the different planetary Logoi, and all are found at some time in each scheme.

Có một điểm ở đây cần được nhấn mạnh: mọi chân thần đều đi qua dưới ảnh hưởng của các Hành Tinh Thượng đế khác nhau vào những thời điểm khác nhau, và tất cả đều được tìm thấy vào một lúc nào đó trong mỗi hệ hành tinh.

264. At face value this is a shocking concept. Does each Monad really spend time in each scheme?

264. Xét theo bề mặt, đây là một khái niệm gây sửng sốt. Có phải mỗi chân thần thực sự đều trải qua thời gian trong mỗi hệ hành tinh không?

265. DK, however, clarifies His meaning immediately below.

265. Tuy nhiên, ngay bên dưới Chân sư DK làm sáng tỏ ý nghĩa của Ngài.

This does not mean that every human unit passes a period of incarnation in each scheme.

Điều này không có nghĩa là mọi đơn vị nhân loại đều trải qua một thời kỳ lâm phàm trong mỗi hệ hành tinh.

266. This sounds like a direct contradiction of the immediately preceding sentence.

266. Điều này nghe như một sự mâu thuẫn trực tiếp với câu ngay trước đó.

It means that on some one globe in every scheme, human units will be found either prior to physical incarnation, between different egoic cycles (a totally different thing to periods between physical lives), between different rounds or manvantaras, or between the various root-races and subraces.

Nó có nghĩa là trên một bầu hành tinh nào đó trong mỗi hệ hành tinh, các đơn vị nhân loại sẽ được tìm thấy либо trước khi lâm phàm hồng trần, giữa các chu kỳ chân ngã khác nhau (một điều hoàn toàn khác với các giai đoạn giữa những kiếp sống hồng trần), giữa các cuộc tuần hoàn hay các giai kỳ sinh hóa khác nhau, hoặc giữa các giống dân gốc và các giống dân phụ khác nhau.

267. Is that “some one globe” only one globe in a scheme? Very likely, many globes are involved.

267. “Một bầu hành tinh nào đó” ấy có phải chỉ là một bầu hành tinh trong một hệ hành tinh không? Rất có thể có nhiều bầu hành tinh liên quan.

268. Each of the globes is influenced by one or another other Heavenly Men. From this perspective the globe (like any chain found within any planetary scheme) can be considered a kind of extension of a particular planetary scheme.

268. Mỗi bầu hành tinh đều chịu ảnh hưởng của một hay một Đấng Thiên Nhân khác. Từ góc độ này, bầu hành tinh ấy (giống như bất kỳ dãy nào được tìm thấy trong bất kỳ hệ hành tinh nào) có thể được xem như một loại sự mở rộng của một hệ hành tinh đặc thù.

269. The ways in which the human units will be found are interesting. Let us tabulate:

269. Những cách thức mà các đơn vị nhân loại sẽ được tìm thấy thật đáng quan tâm. Chúng ta hãy lập bảng:

a. Prior to physical incarnation.(If this means prior to particular physical incarnations, we might also expect to find those who have just left physical incarnation. This would complete the cycle.)

a. Trước khi lâm phàm hồng trần. (Nếu điều này có nghĩa là trước những lần lâm phàm hồng trần cụ thể, thì chúng ta cũng có thể mong tìm thấy những người vừa mới rời khỏi lâm phàm hồng trần. Điều này sẽ hoàn tất chu kỳ.)

b. Between different egoic cycles

b. Giữa các chu kỳ chân ngã khác nhau

c. Between different rounds or manvantaras. (Note in this case, as round is equivalent to a manvantara).

c. Giữa các cuộc tuần hoàn hay các giai kỳ sinh hóa khác nhau. (Lưu ý rằng trong trường hợp này, cuộc tuần hoàn tương đương với một giai kỳ sinh hóa.)

d. Between various root races

d. Giữa các giống dân gốc khác nhau

e. Between various subraces.

e. Giữa các giống dân phụ khác nhau.

270. We note that DK did not mention that human beings would be found in incarnation on some particular globe, but this is no doubt the case, as the incarnation of a Heavenly Man works through the incarnation of human units.

270. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK không đề cập rằng con người sẽ được tìm thấy đang lâm phàm trên một bầu hành tinh đặc thù nào đó, nhưng hẳn nhiên đó là trường hợp, vì sự lâm phàm của một Đấng Thiên Nhân vận hành thông qua sự lâm phàm của các đơn vị nhân loại.

271. This tabulation, in itself, shows us that incarnation is not a constant and continuous process and that there are many intervals when incarnation is not taken.

271. Bản liệt kê này, tự nó, cho chúng ta thấy rằng lâm phàm không phải là một tiến trình thường hằng và liên tục, và rằng có nhiều khoảng gián đoạn khi việc lâm phàm không diễn ra.

272. DK tells us that human units will be found between different egoic cycles which He sharply discriminates from individual incarnations or physical lives. We are told that egoic cycles occur in sevens (major) and threes (hypothetically minor). These egoic cycles may be associated with changing rounds or rootraces. In any case, we gather they are of long duration and that much time (as measured on the surface of our planet) may pass between them. It may be inferred that the human unit is in a kind of pralaya with respect to its physical incarnations during the interlude between egoic cycles, but this does not mean that the human unit is not engaged in some form of higher activity. We have seen that pralayas are only inactive from the perspective of the apparently abandoned sphere, but very active from the perspective of the sphere which the abstracted units inhabit after their departure.

272. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng các đơn vị nhân loại sẽ được tìm thấy giữa các chu kỳ chân ngã khác nhau, điều mà Ngài phân biệt rạch ròi với các lần lâm phàm cá nhân hay các kiếp sống hồng trần. Chúng ta được cho biết rằng các chu kỳ chân ngã diễn ra theo bảy (lớn) và ba (giả định là nhỏ). Những chu kỳ chân ngã này có thể gắn liền với việc thay đổi các cuộc tuần hoàn hay các giống dân gốc. Dù sao đi nữa, chúng ta hiểu rằng chúng có thời lượng dài và rằng rất nhiều thời gian (được đo trên bề mặt hành tinh chúng ta) có thể trôi qua giữa chúng. Có thể suy ra rằng đơn vị nhân loại ở trong một loại giai kỳ qui nguyên nào đó đối với các lần lâm phàm hồng trần của nó trong quãng xen giữa các chu kỳ chân ngã, nhưng điều này không có nghĩa là đơn vị nhân loại không tham dự vào một hình thức hoạt động cao hơn nào đó. Chúng ta đã thấy rằng các giai kỳ qui nguyên chỉ là bất hoạt từ góc nhìn của khối cầu dường như bị bỏ lại, nhưng lại rất hoạt động từ góc nhìn của khối cầu mà các đơn vị được rút ra cư ngụ sau khi rời đi.

273. Because of such interludes (as tabulated above) and because we do not know average or exact durations of such interludes, it is presently impossible for us to calculate the average number of incarnations through which a human unit will pass in its long developmental career, or how many years during that developmental period it is likely to be technically out of physical incarnation.

273. Vì những quãng xen như thế (như đã liệt kê ở trên) và vì chúng ta không biết thời lượng trung bình hay chính xác của những quãng xen ấy, hiện nay chúng ta không thể tính được số lần lâm phàm trung bình mà một đơn vị nhân loại sẽ trải qua trong sự nghiệp phát triển lâu dài của nó, hay bao nhiêu năm trong giai đoạn phát triển ấy nó có thể, theo nghĩa kỹ thuật, ở ngoài lâm phàm hồng trần.

274. There is the implication that kinds of pralayas also exist between changes of root race or subrace. These periods, it may be presumed, have something to do with the necessity to assimilate that which has been gained in a particular race or subrace, and with the need to prepare for a new type of experience.

274. Có hàm ý rằng các loại giai kỳ qui nguyên cũng tồn tại giữa những lần thay đổi giống dân gốc hay giống dân phụ. Có thể giả định rằng những giai đoạn này có liên quan đến sự cần thiết phải đồng hóa điều đã đạt được trong một giống dân hay giống dân phụ nhất định, và với nhu cầu chuẩn bị cho một loại kinh nghiệm mới.

275. Is it customary consistently to switch races or subraces from physical incarnation to physical incarnation? The implication is that it is or is not. The tabulation makes it seem that long periods are spent in a particular race or subrace. Could we follow the incarnational history of some modern luminaries, we would see whether switching between subraces occurs with any frequency.

275. Có phải thông lệ là luôn luôn chuyển đổi giống dân hay giống dân phụ từ lần lâm phàm hồng trần này sang lần khác không? Hàm ý là có hoặc không. Bản liệt kê khiến người ta có cảm tưởng rằng những thời kỳ dài được trải qua trong một giống dân hay giống dân phụ nhất định. Nếu chúng ta có thể theo dõi lịch sử lâm phàm của một số nhân vật lỗi lạc hiện đại, chúng ta sẽ thấy liệu việc chuyển đổi giữa các giống dân phụ có xảy ra thường xuyên hay không.

276. The now Master R. was born an Englishman (Francis Bacon) and then a Hungarian (Rakoczi). This is certainly a change of subrace (though there have been so many mixtures in Europe that pure subraces may be hard to distinguish). But then, the individual concerned was a high initiate.

276. Chân sư R. hiện nay đã sinh ra là một người Anh (Francis Bacon) rồi sau đó là một người Hungary (Rakoczi). Điều này chắc chắn là một sự thay đổi giống dân phụ (dù ở châu Âu đã có quá nhiều pha trộn đến mức các giống dân phụ thuần có thể khó phân biệt). Nhưng khi ấy, cá nhân liên hệ là một điểm đạo đồ cao cấp.

277. Perhaps as the individual develops, greater flexibility is allowed in such changes so that needed quality may be selectively gained, karma may be worked off and dharma expressed where needed.

277. Có lẽ khi cá nhân phát triển, sự linh hoạt lớn hơn được cho phép trong những thay đổi như thế để phẩm tính cần thiết có thể được thu nhận một cách chọn lọc, nghiệp quả có thể được giải quyết và dharma được biểu lộ ở nơi cần thiết.

As stated in various occult books, many of the present advanced humanity individualised on the moon chain, and only took physical bodies in the earth chain during the fourth root-race, thus escaping incarnation during the first three rounds, and the first two races of the fourth round.

Như đã được nêu trong nhiều sách huyền bí học, nhiều người trong nhân loại tiến bộ hiện nay đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng, và chỉ nhận thể xác trong Dãy Địa Cầu vào giống dân gốc thứ tư, nhờ đó tránh được lâm phàm trong ba cuộc tuần hoàn đầu tiên, và hai giống dân đầu của cuộc tuần hoàn thứ tư.

278. This group probably includes the majority of modern disciples, though not all, since there are some members of Earth-chain humanity Who have even become members of the Hierarchy.

278. Nhóm này có lẽ bao gồm đa số các đệ tử hiện đại, dù không phải tất cả, vì có một số thành viên của nhân loại Dãy Địa Cầu thậm chí đã trở thành thành viên của Thánh đoàn.

279. The suggestion is that one can possibly be a member of advanced humanity without having individualized on the Moon-chain.

279. Gợi ý ở đây là người ta có thể là thành viên của nhân loại tiến bộ mà không cần đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng.

In the interim, they came under the planetary influence of another Logos of a scheme, and were occupied during that immense period of time in fanning the manasic flame, and developing [Page 365] the attributes of manas, so that the Atlantean root-race found them adequately equipped to cope with life conditions.

Trong quãng trung gian, họ chịu ảnh hưởng hành tinh của một Thượng đế khác của một hệ hành tinh, và đã bận rộn trong suốt khoảng thời gian mênh mông ấy để quạt bùng ngọn lửa manas, và phát triển [Page 365] các thuộc tính của manas, để giống dân gốc Atlantis thấy họ được trang bị đầy đủ để đương đầu với các điều kiện của sự sống.

280. This is a fascinating piece of information. During the interim between the Moon-chain and Earth-chain (and in a state of pralaya of some kind) these human units, who individualized on the Moon-chain, came under the planetary influence of another Logos of another scheme. This does not necessarily mean that they were transferred to that scheme, but that, even remaining within the Earth-scheme, the influence of this other Logos became, with respect to them, predominant.

280. Đây là một mẩu thông tin thật hấp dẫn. Trong quãng trung gian giữa Dãy Mặt Trăng và Dãy Địa Cầu (và trong một trạng thái giai kỳ qui nguyên nào đó), những đơn vị nhân loại này, vốn đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng, chịu ảnh hưởng hành tinh của một Thượng đế khác của một hệ hành tinh khác. Điều này không nhất thiết có nghĩa là họ đã được chuyển sang hệ hành tinh ấy, mà là, ngay cả khi vẫn ở trong hệ Địa Cầu, ảnh hưởng của Thượng đế khác này đã trở nên, đối với họ, chiếm ưu thế.

281. DK speaks of an “immense period of time” between the Moon-chain period and the Earth-chain period.

281. Chân sư DK nói đến một “khoảng thời gian mênh mông” giữa thời kỳ Dãy Mặt Trăng và thời kỳ Dãy Địa Cầu.

282. The development of these human units was (at the point that Moon-chain evolution was interrupted) insufficient to allow them to be transferred to the Earth-chain (which probably was not prepared for any such transference). Although the Moon-chain was a relatively manasic chain, the manasic development of these units was still far below what would be developed in Earth-chain humanity by the time of the relatively early fourth root race of the fourth round. We realize that the development of Earth-chain humanity was (at that time) not really very high, so we gain some understanding concerning the relatively low level of manasic development of Moon-chain humanity at the time of the great interruption.

282. Sự phát triển của các đơn vị nhân loại này (vào thời điểm tiến hóa của Dãy Mặt Trăng bị gián đoạn) chưa đủ để cho phép họ được chuyển sang Dãy Địa Cầu (mà có lẽ chưa sẵn sàng cho bất kỳ sự chuyển giao nào như thế). Mặc dù Dãy Mặt Trăng là một dãy tương đối manas, sự phát triển manas của các đơn vị này vẫn thấp hơn rất nhiều so với mức sẽ được phát triển trong nhân loại Dãy Địa Cầu vào thời kỳ giống dân gốc thứ tư tương đối sớm của cuộc tuần hoàn thứ tư. Chúng ta nhận ra rằng sự phát triển của nhân loại Dãy Địa Cầu khi ấy thực ra không cao lắm, nên chúng ta phần nào hiểu được mức phát triển manas tương đối thấp của nhân loại Dãy Mặt Trăng vào thời điểm cuộc gián đoạn lớn.

283. During an immense period of time they were involved with the “fanning the manasic flame”, which is another way of saying—stimulating the mental unit and contributing to the development of a causal body (a type of body which can be created not only through the intervention of Solar Angels but through steady mental development during the course of progressive evolution).

283. Trong một khoảng thời gian mênh mông, họ đã tham dự vào việc “quạt bùng ngọn lửa manas”, đó là một cách khác để nói rằng—kích thích đơn vị hạ trí và góp phần vào sự phát triển của một thể nguyên nhân (một loại thể có thể được tạo ra không chỉ qua sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần mà còn qua sự phát triển trí tuệ bền bỉ trong tiến trình tiến hoá tuần tự).

284. Which Logos could have been the influence? Venus is certainly and candidate and the manasic nature of Saturn and Mercury cannot be forgotten. Further, both Saturn and Mercury, by ray structure, were closely related to the Moon-chain.

284. Thượng đế nào có thể là ảnh hưởng ấy? Sao Kim chắc chắn là một ứng viên, và bản chất manas của Sao Thổ và Sao Thủy không thể bị quên lãng. Hơn nữa, cả Sao Thổ lẫn Sao Thủy, theo cấu trúc cung, đều có liên hệ mật thiết với Dãy Mặt Trăng.

285. The Solar Angels are directly associated with Venus and these Angels were involved not only implanting the spark of mind in animal man during the fourth round, third root race of the Earth-chain, but, as well, in fanning the spark of mind in those type of human beings for whom implantation was not appropriate. This means that we have a definite association of the Venusianly inspired Solar Angels with the process of fanning the spark of mind.

285. Các Thái dương Thiên Thần trực tiếp gắn liền với Sao Kim, và các Thiên Thần này không chỉ tham dự vào việc cấy mầm tia lửa trí tuệ vào người thú trong cuộc tuần hoàn thứ tư, giống dân gốc thứ ba của Dãy Địa Cầu, mà còn quạt bùng tia lửa trí tuệ nơi những loại người mà việc cấy mầm không thích hợp. Điều này có nghĩa là chúng ta có một sự liên kết xác định của các Thái dương Thiên Thần được cảm hứng theo kiểu Kim Tinh với tiến trình quạt bùng tia lửa trí tuệ.

286. If the fanning of the spark of mind had not been undertaken for these Moon-chain units during the pralaya between the Moon-chain and the Earth-chain, any entry into the Earth-chain would have found them far less intelligent that the Earth-chain humanity that had progressed to that point. As it was, they entered in a condition of greater intelligence.

286. Nếu việc quạt bùng tia lửa trí tuệ đã không được thực hiện cho các đơn vị Dãy Mặt Trăng này trong giai kỳ qui nguyên giữa Dãy Mặt Trăng và Dãy Địa Cầu, thì bất kỳ sự đi vào nào trong Dãy Địa Cầu cũng sẽ thấy họ kém thông minh hơn rất nhiều so với nhân loại Dãy Địa Cầu đã tiến đến điểm ấy. Nhưng thực tế là họ đã đi vào trong một tình trạng thông minh hơn.

287. The cleavage between the bulk of transferred Moon-chain humanity and Earth-chain humanity is a significant source of difficulty on our planet and has largely to do with the greater intelligence of Moon-chain humanity and, of course, how that intelligence is used!

287. Sự phân cách giữa khối lớn nhân loại Dãy Mặt Trăng được chuyển sang và nhân loại Dãy Địa Cầu là một nguồn khó khăn đáng kể trên hành tinh chúng ta, và phần lớn liên quan đến trí tuệ lớn hơn của nhân loại Dãy Mặt Trăng và, dĩ nhiên, cách trí tuệ ấy được sử dụng!

This participation in the life and influence of the different schemes is effected in four different ways:

Sự tham dự này vào sự sống và ảnh hưởng của các hệ hành tinh khác nhau được thực hiện theo bốn cách khác nhau:

288. We are being told how human units may participate in the life and influence of the different schemes.

288. Chúng ta đang được cho biết cách các đơn vị nhân loại có thể tham dự vào sự sống và ảnh hưởng của các hệ hành tinh khác nhau.

First, through passing the interim between egoic cycles of physical incarnation on the particular globe of their scheme, which numerically coincides with the particular other scheme whose influence is desired, either from deliberate choice or karmically necessitated.

Thứ nhất, thông qua việc trải qua quãng trung gian giữa các chu kỳ chân ngã của lâm phàm hồng trần trên bầu hành tinh đặc thù của hệ hành tinh mình, vốn trùng hợp về số học với hệ hành tinh đặc thù khác mà ảnh hưởng của nó được mong muốn, hoặc do lựa chọn có chủ ý hoặc do nghiệp quả bắt buộc.

289. This is an interesting idea. Apparently there are large spans of time between egoic cycles. When egoic cycles re-occur physical incarnation will commence. But in the interim between egoic cycles, it would seem that physical incarnation is suspended—for the units concerned. This will vary with their ray, presumably their egoic ray.

289. Đây là một ý tưởng thú vị. Rõ ràng có những khoảng thời gian rất lớn giữa các chu kỳ chân ngã. Khi các chu kỳ chân ngã tái diễn, lâm phàm hồng trần sẽ bắt đầu. Nhưng trong quãng trung gian giữa các chu kỳ chân ngã, dường như lâm phàm hồng trần bị đình chỉ—đối với các đơn vị liên hệ. Điều này hẳn sẽ thay đổi theo cung của họ, có lẽ là cung chân ngã của họ.

290. We see again that not only one globe of a scheme may be the home to human units but perhaps all forty-nine, depending upon quality, karma and need. It would seem that the globes of a chain are simultaneously active.

290. Chúng ta lại thấy rằng không chỉ một bầu hành tinh của một hệ hành tinh có thể là nơi cư ngụ của các đơn vị nhân loại mà có lẽ cả bốn mươi chín bầu hành tinh đều có thể, tùy theo phẩm tính, nghiệp quả và nhu cầu. Có vẻ như các bầu hành tinh của một dãy đều hoạt động đồng thời.

291. The human Monad knows what it needs and between egoic cycles may inhabit a globe which is numerically resonant with a quality needed by the Monad. This can be the Monad’s own choice or may be mandated by karma of a kind that is interior and, from our perspective, difficult to understand.

291. Chân thần nhân loại biết mình cần gì và giữa các chu kỳ chân ngã có thể cư ngụ trên một bầu hành tinh cộng hưởng về số học với một phẩm tính mà chân thần cần. Đây có thể là lựa chọn riêng của chân thần hoặc có thể do nghiệp quả thuộc một loại nội tại và, từ góc nhìn của chúng ta, khó hiểu, quy định.

292. Note that above DK speaks of a “globe of their particular scheme”. Again, one step seems to have been skipped. Why not ‘a globe of their particular chain?’

292. Lưu ý rằng ở trên Chân sư DK nói về “một bầu hành tinh của hệ hành tinh đặc thù của họ”. Một lần nữa, dường như đã bỏ qua một bước. Tại sao không phải là “một bầu hành tinh của dãy đặc thù của họ”?

Each globe in a chain is occultly linked with the chain of its own number, and with the scheme of a similar number.

Mỗi bầu hành tinh trong một dãy được nối kết một cách huyền bí với dãy cùng số của nó, và với hệ hành tinh có số tương tự.

293. We see that there is a double link—globe to chain and globe to scheme. Our fourth globe is directly linked to the fourth chain of the Earth-scheme and also to the Earth-scheme, itself, which is the fourth.

293. Chúng ta thấy có một liên kết kép—bầu hành tinh với dãy và bầu hành tinh với hệ hành tinh. Bầu hành tinh thứ tư của chúng ta được nối kết trực tiếp với Dãy Thứ Tư của hệ Địa Cầu và cũng với chính hệ Địa Cầu, vốn là hệ thứ tư.

294. The second globe of the Earth-chain would be directly linked to the second chain of the Earth-scheme and also to that scheme which can be numbered as the second—perhaps, by one method of reckoning, Venus.

294. Bầu hành tinh thứ hai của Dãy Địa Cầu sẽ được nối kết trực tiếp với dãy thứ hai của hệ Địa Cầu và cũng với hệ có thể được đánh số là thứ hai—có lẽ, theo một phương pháp tính, là Sao Kim.

For instance: Globe 2, Chain 2, and scheme 2 during round 2 are specially linked and vitalised, and are the focal point of peculiar attention on the part of the Logos of that scheme.

Thí dụ: Bầu hành tinh 2, Dãy 2, và hệ hành tinh 2 trong cuộc tuần hoàn 2 được nối kết và tiếp sinh lực một cách đặc biệt, và là tiêu điểm của sự chú ý đặc thù từ phía Thượng đế của hệ hành tinh ấy.

295. Perhaps DK is not speaking only illustratively. Much occurred during the second round concerning the Solar Angels or Agnishvattas, who, at that time, according to the Secret Doctrine, evaluated the vehicles they might inform, and found them wanting.

295. Có lẽ Chân sư DK không chỉ nói để minh họa. Rất nhiều điều đã xảy ra trong cuộc tuần hoàn thứ hai liên quan đến các Thái dương Thiên Thần hay các Agnishvatta, những Đấng mà vào thời điểm ấy, theo Giáo Lý Bí Nhiệm, đã đánh giá các vận cụ mà Các Ngài có thể thấm nhuần, và thấy chúng còn thiếu sót.

296. We do see, in general, how vitalization is a matter of numerical resonance. This simple principle must always be held in mind as it offers much of interpretive understanding.

296. Nói chung, chúng ta thực sự thấy rằng sự tiếp sinh lực là vấn đề của cộng hưởng số học. Nguyên lý đơn giản này luôn phải được ghi nhớ vì nó mang lại rất nhiều sự thấu hiểu trong diễn giải.

Similarly (again in illustration) globe 2, chain 2 during round 2 in any scheme such as the fifth, for instance, are aligned or connected esoterically with the second scheme.

Tương tự như vậy (lại là để minh họa), bầu hành tinh 2, dãy 2 trong cuộc tuần hoàn 2 ở bất kỳ hệ hành tinh nào chẳng hạn như hệ thứ năm, thí dụ, được chỉnh hợp hay nối kết một cách huyền bí với hệ thứ hai.

297. DK is emphasizing the relationship between the numbers two and five. These are Venusian numbers and, again, relate to the rays generically expressed by the Solar Angels.

297. Chân sư DK đang nhấn mạnh mối liên hệ giữa các số hai và năm. Đây là những con số Kim Tinh và, một lần nữa, liên hệ với các cung được các Thái dương Thiên Thần biểu lộ một cách tổng quát.

298. What may be the fifth scheme? Perhaps Mercury is a good candidate, though from one perspective Mars is the fifth scheme (if Vulcan is considered the first scheme) and Jupiter if Vulcan is not numbered.

298. Hệ thứ năm có thể là gì? Có lẽ Sao Thủy là một ứng viên tốt, dù từ một góc nhìn Sao Hỏa là hệ thứ năm (nếu Vulcan được xem là hệ thứ nhất) và Sao Mộc nếu Vulcan không được đánh số.

299. If we study Chart VI on TCF 373, we can see that the schemes are not necessarily numbered according to their order from the Sun.

299. Nếu chúng ta nghiên cứu Biểu đồ VI trong TCF 373, chúng ta có thể thấy rằng các hệ hành tinh không nhất thiết được đánh số theo thứ tự khoảng cách từ Mặt Trời.

300. Rather than sequentially, they may be numbered qualitatively, the quality of the number assigned to them being correlated to the quality of the planetary scheme.

300. Thay vì tuần tự, chúng có thể được đánh số một cách định tính, phẩm tính của con số được gán cho chúng tương quan với phẩm tính của hệ hành tinh.

This gives opportunity for the units in the body of any Logos to come under the influence of another Logos, and within his vibratory radiation.

Điều này tạo cơ hội cho các đơn vị trong thể của bất kỳ Thượng đế nào chịu ảnh hưởng của một Thượng đế khác, và ở trong bức xạ rung động của vị ấy.

301. It makes no difference in which scheme the human unit may be found, if placed on the appropriate globe or chain within that scheme, it can come under the influence of any particular Planetary Logos according to the principle of numerical resonance.

301. Không thành vấn đề đơn vị nhân loại có thể được tìm thấy trong hệ hành tinh nào; nếu được đặt trên bầu hành tinh hay dãy thích hợp trong hệ ấy, nó có thể chịu ảnh hưởng của bất kỳ Hành Tinh Thượng đế đặc thù nào theo nguyên lý cộng hưởng số học.

Second, through a direct transference of the units in incarnation in any scheme (during an interlude) to some globe in another scheme where they are subjected to the stimulation and vibration peculiar to that scheme.

Thứ hai, thông qua sự chuyển dịch trực tiếp các đơn vị đang lâm phàm trong bất kỳ hệ hành tinh nào (trong một quãng xen) sang một bầu hành tinh nào đó trong một hệ hành tinh khác nơi họ chịu sự kích thích và rung động đặc thù của hệ ấy.

302. We are discussing how human units may be brought under the direct influence of various Planetary Logoi other than their own.

302. Chúng ta đang bàn đến cách các đơn vị nhân loại có thể được đặt dưới ảnh hưởng trực tiếp của các Hành Tinh Thượng đế khác ngoài Thượng đế riêng của họ.

303. If we think of conditions related only to our Earth-globe, we shall realize how much we are conditioned by the Logos of the Earth-scheme.

303. Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến những điều kiện liên hệ với Địa Cầu của chúng ta, chúng ta sẽ nhận ra mình bị Thượng đế của hệ Địa Cầu tác động đến mức nào.

304. We do, however, begin to see a substantial variety of possibilities within our solar system; with such an interplay of energies we have the guarantee that a Heavenly Man can be influential far beyond His own ring-pass-not.

304. Tuy nhiên, chúng ta bắt đầu thấy một sự đa dạng đáng kể của các khả thể trong hệ mặt trời của chúng ta; với sự tương tác như thế của các năng lượng, chúng ta có sự bảo đảm rằng một Đấng Thiên Nhân có thể có ảnh hưởng vượt xa vòng-giới-hạn riêng của Ngài.

These two methods are the most usual. This transference will seem mysteriously impossible unless the student is careful to realise that it is the transference of the individualised lives and not the transference of the forms which they occupy.

Hai phương pháp này là thông thường nhất. Sự chuyển dịch này sẽ có vẻ bí ẩn đến mức bất khả nếu đạo sinh không cẩn thận chứng nghiệm rằng đó là sự chuyển dịch của các sự sống đã biệt ngã hóa chứ không phải sự chuyển dịch của các hình tướng mà chúng cư ngụ.

305. This is a very important point. We are not speaking of the transfer of lunar forms but of units of consciousness. Can it be that causal bodies, as forms occupied by individualized lives, are not transferred during inner interludes to other schemes? Can it be that transferences are only possible on the arupa or (relatively) formless levels.

305. Đây là một điểm rất quan trọng. Chúng ta không nói về sự chuyển giao các hình tướng nguyệt tính mà nói về các đơn vị tâm thức. Có thể nào các thể nguyên nhân, như những hình tướng được các sự sống đã biệt ngã hóa cư ngụ, lại không được chuyển dịch trong các quãng xen nội tại sang các hệ hành tinh khác? Có thể nào các sự chuyển dịch chỉ có thể xảy ra trên các cấp độ arupa hay các cấp độ (tương đối) vô tướng?

The whole matter is psychic, and based on the unity of the anima mundi.

Toàn bộ vấn đề này là thông linh, và dựa trên sự hợp nhất của anima mundi.

306. When DK tells us that the whole matter is “psychic” He is not speaking of the astral body, but of the true psyche, the individualized soul consciousness. Soul consciousness is transferred from one scheme to another.

306. Khi Chân sư DK nói với chúng ta rằng toàn bộ vấn đề là “thông linh”, Ngài không nói về thể cảm dục, mà nói về psyche chân thực, tức tâm thức linh hồn đã biệt ngã hóa. Tâm thức linh hồn được chuyển từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác.

307. Yet, the true soul is expressed through the spiritual triad on the arupa levels.

307. Tuy nhiên, linh hồn chân thực được biểu lộ thông qua Tam Nguyên Tinh Thần trên các cấp độ arupa.

It is only possible at those periods when two Heavenly Men are mutually finding each other—under the Law of Attraction—and thus swinging into the magnetic radius of each other.

Điều đó chỉ có thể xảy ra vào những thời kỳ khi hai Đấng Thiên Nhân đang cùng nhau tìm thấy nhau—dưới Định luật Hấp Dẫn—và do đó cùng dao động vào trong bán kính từ tính của nhau.

308. This means that so-called ‘easy travel to other planets’ is not to be expected. Transfer is not always possible.

308. Điều này có nghĩa là không nên mong đợi cái gọi là “du hành dễ dàng đến các hành tinh khác”. Sự chuyển dịch không phải lúc nào cũng có thể.

309. The Heavenly Men of Venus and Earth seem to finding Themselves in this way, and thus transference of human units between these schemes may be possible. We have read of the imminent transfer of units of our Spiritual Hierarchy to another planetary scheme. Venus may be Their destination.

309. Các Đấng Thiên Nhân của Sao Kim và Trái Đất dường như đang tìm thấy nhau theo cách này, và do đó sự chuyển dịch các đơn vị nhân loại giữa các hệ hành tinh này có thể là khả hữu. Chúng ta đã đọc về sự chuyển dịch sắp xảy ra của các đơn vị thuộc Huyền Giai Tinh Thần của chúng ta sang một hệ hành tinh khác. Sao Kim có thể là đích đến của Các Ngài.

310. When the “Judgment Day” comes in the fifth round there will be a close relation between the Logos of Earth and the Logos of Mars. It has been inferred that two-fifths of Earth’s human units will be transferred to Mars. We do not know whether any units from Mars will be transferred to the Earth-scheme, but there are hints that this may be the case.

310. Khi “Ngày Phán Xét” đến trong cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ có một mối liên hệ chặt chẽ giữa Thượng đế của Trái Đất và Thượng đế của Sao Hỏa. Người ta đã suy ra rằng hai phần năm các đơn vị nhân loại của Trái Đất sẽ được chuyển sang Sao Hỏa. Chúng ta không biết liệu có đơn vị nào từ Sao Hỏa được chuyển sang hệ Địa Cầu hay không, nhưng có những gợi ý cho thấy điều này có thể là trường hợp.

Third, through a conscious passage of the initiate, [Page 366] through initiation, from one scheme to another. This is frequently done, and hints of it have been given by different writers and thinkers, though several have confused the globes of their own chain with the scheme of the same number, or have mistaken another chain within the scheme for another scheme.

Thứ ba, thông qua sự vượt qua có ý thức của điểm đạo đồ, [Page 366] nhờ điểm đạo, từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác. Điều này thường được thực hiện, và những gợi ý về nó đã được nhiều tác giả và tư tưởng gia đưa ra, dù một số người đã nhầm lẫn các bầu hành tinh của dãy riêng của họ với hệ hành tinh cùng số, hoặc đã lầm một dãy khác trong cùng hệ hành tinh là một hệ hành tinh khác.

311. It would seem that this possibility would only exist for initiates of high degree. Perhaps after the fourth initiation it is possible, as after that point, there is no longer any need for the initiate to incarnate on Earth within the human family.

311. Có vẻ như khả năng này chỉ tồn tại đối với các điểm đạo đồ cấp cao. Có lẽ sau lần điểm đạo thứ tư thì điều đó là khả hữu, vì sau điểm ấy, điểm đạo đồ không còn cần phải lâm phàm trên Trái Đất trong gia đình nhân loại nữa.

312. DK seems to be speaking of a radical transference between schemes and not just between globes or chains of the same scheme.

312. Chân sư DK dường như đang nói về một sự chuyển dịch triệt để giữa các hệ hành tinh chứ không chỉ giữa các bầu hành tinh hay các dãy trong cùng một hệ hành tinh.

313. We read of Schools on other planets. Those who are preparing to tread one or other of the seven (or nine) Cosmic Paths are, as part of the process, often transferred to another planetary scheme where specific training is given for a particular Cosmic Path. Venus and Jupiter are two such training stations, Jupiter relating to the Third Cosmic Path (of Planetary Logoi) and Venus perhaps related to Path Four (to Sirius). Perhaps it should also be considered in relation to Path Two (Magnetic Work) and Path Six (the Path of the Solar Logoi). If we study these three Paths we can probably see the Venusian connection.

313. Chúng ta đọc về các Trường học trên những hành tinh khác. Những ai đang chuẩn bị bước trên một trong bảy (hay chín) Con đường Vũ trụ, như một phần của tiến trình, thường được chuyển sang một hệ hành tinh khác nơi có sự huấn luyện chuyên biệt cho một Con đường Vũ trụ nhất định. Sao Kim và Sao Mộc là hai trạm huấn luyện như thế, Sao Mộc liên hệ với Con đường Vũ trụ thứ ba (của các Hành Tinh Thượng đế) và Sao Kim có lẽ liên hệ với Con đường thứ tư (đến Sirius). Có lẽ cũng nên xét nó trong liên hệ với Con đường thứ hai (Công việc Từ tính) và Con đường thứ sáu (Con đường của các Thái Dương Thượng đế). Nếu chúng ta nghiên cứu ba Con đường này, có lẽ chúng ta sẽ thấy mối liên hệ Kim Tinh.

314. The following reference relates not only Venus but Jupiter to Sirius:

314. Trích dẫn sau đây không chỉ liên hệ Sao Kim mà cả Sao Mộc với Sirius:

“The line of relationship then extends from these onward and outward, and upward (spherically considered) to the Life at the very centre of our Earth’s “alter ego,” the planet Venus, to Jupiter and thence to the solar Lord Himself and on to a point in the Sun, Sirius. (DINA I 768)

“Đường liên hệ rồi mở rộng từ những điểm này ra xa hơn, ra ngoài, và lên trên (xét theo hình cầu) đến Sự sống ở chính trung tâm của “bản ngã đối ứng” của Trái Đất chúng ta, tức hành tinh Sao Kim, đến Sao Mộc và từ đó đến chính nhật tinh quân và tiếp đến một điểm trong Mặt Trời, Sirius. (DINA I 768)

Fourth, the fourth method of transference of consciousness, and the bringing of the life units under the focal power of a Lord of a Ray, can be brought about through knowledge of certain mantrams and formulae. On this we may not enlarge as these mantrams are esoteric and the use of them is fraught with much danger to the uninitiated.

Thứ tư, phương pháp chuyển dịch tâm thức thứ tư, và việc đặt các đơn vị sự sống dưới quyền năng tiêu điểm của một Chúa Tể của một cung, có thể được thực hiện thông qua tri thức về một số mantram và công thức nhất định. Về điều này chúng ta không thể nói rộng hơn vì các mantram ấy là nội môn và việc sử dụng chúng đầy dẫy nguy hiểm đối với người chưa được điểm đạo.

315. We can see that these are very potent, esoteric mantrams. They are invocative of extra-planetary Ray Lords and thus of a category of potency far removed from what may be wielded by those with a considerable knowledge of effective mantrams.

315. Chúng ta có thể thấy rằng đây là những mantram nội môn rất mãnh liệt. Chúng mang tính khẩn cầu đối với các Đấng Chúa Tể Cung ngoài hành tinh và do đó thuộc về một loại quyền năng rất xa với điều mà những người có hiểu biết đáng kể về các mantram hữu hiệu có thể vận dụng.

316. We do see, however, how a great deal can be accomplished by knowing the right words or formulae—really, we are faced with some amazing prospects.

316. Tuy nhiên, chúng ta thực sự thấy được có thể hoàn thành rất nhiều điều nhờ biết đúng những lời hay công thức—thật sự, chúng ta đang đối diện với những triển vọng đáng kinh ngạc.

The planetary Logos of this scheme is called “the First Kumara,” the One Initiator, and the statement is made that He came to this planet from Venus, Venus being “the Earth’s primary.”

Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh này được gọi là “Kumara thứ nhất”, Đấng Điểm đạo duy nhất, và có lời khẳng định rằng Ngài đã đến hành tinh này từ Sao Kim, Sao Kim là “nguyên mẫu chính của Trái Đất”.

317. This is a rather amazing statement because, within it, Sanat Kumara is equated with the Planetary Logos of our scheme; elsewhere in the Teaching, He is not.

317. Đây là một phát biểu khá đáng kinh ngạc vì trong đó, Đức Sanat Kumara được đồng nhất với Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta; ở những nơi khác trong Giáo Huấn, Ngài thì không.

318. We realize that no Planetary Logos can, as it were, “come from” another Planetary Logos. Each Planetary Logos is His own autonomous centre.

318. Chúng ta nhận ra rằng không Hành Tinh Thượng đế nào có thể, nói như vậy, “đến từ” một Hành Tinh Thượng đế khác. Mỗi Hành Tinh Thượng đế là trung tâm tự trị riêng của Ngài.

319. It becomes clear from ten references that the “first Kumara” is indeed Sanat Kumara, the One Initiator.

319. Từ mười chỗ dẫn, điều trở nên rõ ràng là “Kumara thứ nhất” quả thực là Đức Sanat Kumara, Đấng Điểm đạo duy nhất.

320. It must also be remembered that in at least one reference, Sanat Kumara, the Lord of the World, is known, as well, as the “fourth kumara”. (cf. TCF 74).

320. Cũng phải nhớ rằng trong ít nhất một chỗ dẫn, Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới, đồng thời cũng được biết đến như “kumara thứ tư”. (xem TCF 74).

321. The conventionalized ancient lore is given to us at face value. An elucidation follows.

321. Tri thức cổ truyền đã được quy ước hóa được trao cho chúng ta theo nguyên dạng. Một sự làm sáng tỏ tiếp theo sau.

This needs elucidation somewhat, though it may not be permitted to do more than convey a few hints as to the truth. The fact is one of the most mysterious in the development of our scheme, and in it lies hidden the secret of this world cycle. It is not easy to convey the truth and words but seem to veil and cloak.

Điều này cần được làm sáng tỏ phần nào, dù có thể không được phép làm hơn là chuyển đạt một vài gợi ý về chân lý. Sự kiện này là một trong những điều huyền bí nhất trong sự phát triển của hệ hành tinh chúng ta, và chính trong đó ẩn giấu bí mật của chu kỳ thế giới này. Không dễ chuyển đạt chân lý, và lời nói dường như chỉ che phủ và bao bọc.

322. By “this world cycle” we may mean the fourth round.

322. Bởi “chu kỳ thế giới này”, chúng ta có thể muốn nói đến cuộc tuần hoàn thứ tư.

323. Much is said about the coming of Sanat Kumara to our globe, but beneath the seemingly obvious statements there lies a great mystery—the greatest mystery in the development of our scheme. We could pause for a moment to reflect on this.

323. Người ta nói rất nhiều về sự đến của Đức Sanat Kumara đến bầu hành tinh chúng ta, nhưng bên dưới những phát biểu có vẻ hiển nhiên ấy có một huyền nhiệm lớn—huyền nhiệm lớn nhất trong sự phát triển của hệ hành tinh chúng ta. Chúng ta có thể dừng lại một lúc để suy ngẫm về điều này.

324. VSK inquires: “Who is this first kumara? If he took human form ‘where’ or ‘what’ is he now?”

324. VSK hỏi: “Kumara thứ nhất này là ai? Nếu Ngài đã mang hình tướng con người thì ‘ở đâu’ hay ‘là gì’ hiện nay?”

325. The overwhelming evidence points in the direction we might expect—that Sanat Kumara (especially when equated with the Planetary Logos) is the “first Kumara”.

325. Chứng cứ áp đảo chỉ theo hướng mà chúng ta có thể mong đợi—rằng Đức Sanat Kumara (đặc biệt khi được đồng nhất với Hành Tinh Thượng đế) là “Kumara thứ nhất”.

Perhaps a hint may be given in pointing out that there is an analogy between the coming in of the Ego in full sway and its taking hold at certain periods in the life of a human being.

Có lẽ một gợi ý có thể được đưa ra bằng cách chỉ ra rằng có một sự tương đồng giữa sự đi vào của chân ngã trong quyền năng trọn vẹn và việc nó nắm quyền vào những thời kỳ nhất định trong đời sống của một con người.

326. The coming of Sanat Kumara to our globe is likened to the coming in of the Ego in full sway at certain periods in the life of the human being. In this way, Sanat Kumara is to be understood as related to the soul or Ego of our Planetary Logos. Sanat Kumara is, in a way, a kind of Heavenly Man.

326. Sự đến của Đức Sanat Kumara đến bầu hành tinh chúng ta được ví với sự đi vào của chân ngã trong quyền năng trọn vẹn vào những thời kỳ nhất định trong đời sống con người. Theo cách này, Đức Sanat Kumara được hiểu là có liên hệ với linh hồn hay chân ngã của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Đức Sanat Kumara, theo một nghĩa nào đó, là một loại Đấng Thiên Nhân.

At seven years we are told the Ego “takes hold,” and again at adolescence; at twenty-one that hold may be made still firmer. Again, as lives are passed, the Ego (in connection with a human being) grips its vehicles and so sways them to his purpose with more effect and fullness. The same procedure can be seen in relation to a Heavenly Man and His body of manifestation, a scheme.

Người ta nói rằng vào năm bảy tuổi chân ngã “nắm quyền”, và lại một lần nữa vào tuổi dậy thì; đến hai mươi mốt tuổi sự nắm giữ ấy có thể còn được làm cho vững chắc hơn. Rồi nữa, khi các kiếp sống trôi qua, chân ngã (liên hệ với một con người) nắm lấy các vận cụ của nó và do đó chi phối chúng theo mục đích của y một cách hữu hiệu và đầy đủ hơn. Tiến trình tương tự có thể được thấy trong liên hệ với một Đấng Thiên Nhân và thể biểu hiện của Ngài, tức một hệ hành tinh.

327. It is being suggested that Sanat Kumara takes hold of our globe evolution in different phases—at least three. Perhaps the years seven, fourteen and twenty one can be likened to the emergence of the three self-conscious root races—the Lemurian (part of it), the Atlantean and the Aryan.

327. Ở đây đang gợi ý rằng Đức Sanat Kumara nắm quyền đối với tiến hóa của bầu hành tinh chúng ta trong những giai đoạn khác nhau—ít nhất là ba. Có lẽ các năm bảy, mười bốn và hai mươi mốt có thể được ví với sự xuất hiện của ba giống dân gốc tự ngã thức—Lemuria (một phần của nó), Atlantis và Arya.

328. Every new ‘grip’ may be likened to a kind of initiation.

328. Mỗi lần “nắm quyền” mới có thể được ví như một loại điểm đạo.

329. We note that DK was speaking of the Planetary Logos but has now switched terms to “Heavenly Man”.

329. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đã nói về Hành Tinh Thượng đế nhưng nay đã chuyển thuật ngữ sang “Đấng Thiên Nhân”.

330. There are some who believe that the term “Heavenly Man” should only be used in relation to the soul aspect of the Planetary Logos, whereas the term “Planetary Logos” should be used in relation to the Logos’ spirit or monadic nature.

330. Có những người tin rằng thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” chỉ nên được dùng liên hệ với phương diện linh hồn của Hành Tinh Thượng đế, trong khi thuật ngữ “Hành Tinh Thượng đế” nên được dùng liên hệ với bản chất tinh thần hay chân thần của Thượng đế ấy.

331. It turns out that DK does not use the terms with consistency (at least, apparently not).

331. Hóa ra Chân sư DK không dùng các thuật ngữ ấy một cách nhất quán (ít nhất là bề ngoài không như vậy).

It must be remembered that every scheme has seven chains; that each chain has seven globes, making a totality of forty-nine globes;

Phải nhớ rằng mỗi hệ hành tinh có bảy dãy; rằng mỗi dãy có bảy bầu hành tinh, tạo thành tổng số bốn mươi chín bầu hành tinh;

332. This is the usual manner of enumeration, but there may be times when a planetary scheme has ten globes per chain or three, or ten chains or three chains. All will depend upon the point reached in the developmental process of the scheme.

332. Đây là cách liệt kê thông thường, nhưng có thể có những lúc một hệ hành tinh có mười bầu hành tinh mỗi dãy hoặc ba, hay mười dãy hoặc ba dãy. Tất cả sẽ tùy thuộc vào điểm đã đạt tới trong tiến trình phát triển của hệ hành tinh.

[Page 367] that each globe is again in turn occupied by the life of the Logos during what we call seven rounds, making literally three hundred and forty-three incarnations, or fresh impulses to manifest.

[Page 367] rằng mỗi bầu hành tinh lại lần lượt được sự sống của Thượng đế cư ngụ trong điều mà chúng ta gọi là bảy cuộc tuần hoàn, tạo thành đúng nghĩa ba trăm bốn mươi ba lần lâm phàm, hay những xung lực mới để biểu hiện.

333. We have implied an important definition—that each world period or one seventh of a round is considered an incarnation of the Planetary Logos.

333. Chúng ta đã hàm ý một định nghĩa quan trọng—rằng mỗi thời kỳ thế giới hay một phần bảy của một cuộc tuần hoàn được xem là một lần lâm phàm của Hành Tinh Thượng đế.

334. It is perhaps not insignificant that the numbers sum to 10. Kabbalistically, we have a three hovering above a lower seven.

334. Có lẽ không phải là không đáng kể khi các con số ấy cộng lại thành 10. Theo Kabbala, chúng ta có một số ba lơ lửng phía trên một số bảy thấp hơn.

335. There are also other ways to describe His incarnations, as for instance in root races or sub-races.

335. Cũng có những cách khác để mô tả các lần lâm phàm của Ngài, chẳng hạn theo các giống dân gốc hay các giống dân phụ.

336. VSK asks: “In other words, every scheme, or kumara, has 343 incarnations?”

336. VSK hỏi: “Nói cách khác, mỗi hệ hành tinh, hay mỗi kumara, đều có 343 lần lâm phàm sao?”

337. It may be that every Planetary Logos has 343 incarnations (by one method of reckoning—more by others), but that a Kumara (not necessarily equivalent to a Planetary Logos) does not.

337. Có thể là mỗi Hành Tinh Thượng đế đều có 343 lần lâm phàm (theo một phương pháp tính—nhiều hơn theo các phương pháp khác), nhưng một Kumara (không nhất thiết tương đương với một Hành Tinh Thượng đế) thì không.

338. Sanat Kumara both is the Planetary Logos and is not. In this seeming contradiction lies much mystery—insoluble to us at present.

338. Đức Sanat Kumara vừa Hành Tinh Thượng đế vừa không phải. Trong sự mâu thuẫn có vẻ như vậy ẩn chứa nhiều huyền nhiệm—hiện nay không thể giải được đối với chúng ta.

We must add to these major manifestations such lesser ones as those named by us root-races, and subraces, also branch races, and thus we are faced with a complexity that is enough to stagger the average student.

Chúng ta phải cộng thêm vào những biểu hiện lớn này những biểu hiện nhỏ hơn như những gì chúng ta gọi là các giống dân gốc, các giống dân phụ, và cả các chủng tộc nhánh, và do đó chúng ta đối diện với một sự phức tạp đủ làm cho đạo sinh trung bình choáng váng.

339. DK has added other lesser incarnations, including even branch races.

339. Chân sư DK đã thêm vào những lần lâm phàm nhỏ hơn khác, kể cả các chủng tộc nhánh.

340. Are we staggered? I would think so.

340. Chúng ta có choáng váng không? Tôi nghĩ là có.

341. Let us remember that, in a certain sense, the Planetary Logos is in incarnation in all chains and on all globes simultaneously. His Presence is there in all, even if His particular conscious focus (His ‘incarnational attentiveness’) is far more localized.

341. Chúng ta hãy nhớ rằng, theo một nghĩa nào đó, Hành Tinh Thượng đế đang lâm phàm trong mọi dãy và trên mọi bầu hành tinh đồng thời. Sự Hiện Diện của Ngài ở trong tất cả, dù tiêu điểm tâm thức đặc thù của Ngài (sự “chú tâm lâm phàm” của Ngài) được định xứ hơn rất nhiều.

The planetary wheel of life turns on its lesser scale the wheel of life of the little pilgrim we call man; as it turns, it sweeps the life of the evolving planetary Logos into ever new forms and experiences until the fire of Spirit burns up all lesser fires.

Bánh xe sự sống hành tinh, trên quy mô nhỏ hơn của nó, xoay bánh xe sự sống của người hành hương bé nhỏ mà chúng ta gọi là con người; khi nó xoay, nó cuốn sự sống của Hành Tinh Thượng đế đang tiến hoá vào những hình tướng và kinh nghiệm luôn mới cho đến khi Lửa của tinh thần thiêu rụi mọi ngọn lửa thấp hơn.

342. This is a large summary thought, illustrating how the little wheel of man is swept by the turning of the “planetary wheel of life”. “The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.” (R&I, Rule IV for Disciples and Initiates).

342. Đây là một tư tưởng tổng kết lớn, minh họa cách bánh xe nhỏ của con người bị cuốn đi bởi sự quay của “bánh xe sự sống hành tinh”. “Những bánh xe nhỏ hơn không được quay mãi trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiếp tục chuyển động và quay.” (R&I, Quy luật IV cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ).

343. The destiny of all lesser fires is to be burned up in the “fire of Spirit”.

343. Định mệnh của mọi ngọn lửa thấp hơn là bị thiêu rụi trong “Lửa của tinh thần”.

344. Variety will be abundant but synthesis and homogeneity will prevail.

344. Sự đa dạng sẽ rất phong phú nhưng tổng hợp và tính đồng nhất sẽ thắng thế.

As earlier pointed out, each Heavenly Man is linked with one of His Brothers under the Law of Mutual Attraction, which manifests so degradingly as yet upon the physical plane, through the life of the human unit, imprisoned in physical form.

Như đã chỉ ra trước đây, mỗi Đấng Thiên Nhân được nối kết với một trong các Huynh Đệ của Ngài dưới Định luật Hấp Dẫn Tương Hỗ, định luật này hiện còn biểu lộ một cách suy đồi trên cõi hồng trần, thông qua sự sống của đơn vị nhân loại bị giam hãm trong hình tướng hồng trần.

345. The suggestion is that (in addition to triangular linking) each Heavenly Man is linked particularly to one other Heavenly Man.

345. Gợi ý ở đây là (ngoài sự nối kết tam giác) mỗi Đấng Thiên Nhân được nối kết đặc biệt với một Đấng Thiên Nhân khác.

346. In the case of the Earth we may reason that the linking to be with Venus.

346. Trong trường hợp của Trái Đất, chúng ta có thể suy luận rằng sự nối kết ấy là với Sao Kim.

347. However, Venus may be linked with Mercury and Earth with Mars. Jupiter would seem linked with Saturn and Uranus with Neptune. A reasonable link for Vulcan would be Pluto. Of course there are a great number of secondary inter-planetary relationships which can be justified.

347. Tuy nhiên, Sao Kim có thể được nối kết với Sao Thủy và Trái Đất với Sao Hỏa. Sao Mộc dường như được nối kết với Sao Thổ và Sao Thiên Vương với Sao Hải Vương. Một nối kết hợp lý cho Vulcan sẽ là Sao Diêm Vương. Dĩ nhiên có rất nhiều mối liên hệ liên hành tinh thứ yếu có thể được biện minh.

348. DK is speaking of ‘sexual attraction’ between the Heavenly Men. He obviously does not think much of how this type of attraction manifests between incarnated human units—imprisoned as they are in physical form.

348. Chân sư DK đang nói về “sự hấp dẫn tính dục” giữa các Đấng Thiên Nhân. Rõ ràng Ngài không đánh giá cao cách loại hấp dẫn này biểu lộ giữa các đơn vị nhân loại đang nhập thể—bị giam hãm như họ đang ở trong hình tướng hồng trần.

349. Are we dealing, in this first instance, with a more physical link between Planetary Logoi?

349. Trong trường hợp đầu tiên này, có phải chúng ta đang bàn đến một mối liên kết mang tính hồng trần hơn giữa các Hành Tinh Thượng đế không?

Psychically the link is of a different nature, and such a link is found between the planetary Logos of the scheme we call Venus, and the Logos of our scheme.

Về mặt thông linh mối liên kết ấy có bản chất khác, và một mối liên kết như thế được tìm thấy giữa Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh mà chúng ta gọi là Sao Kim, và Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta.

350. DK discriminates a psychic link, different from the kind He mentioned above.

350. Chân sư DK phân biệt một mối liên kết thông linh, khác với loại mà Ngài đã đề cập ở trên.

351. Between the Logos of our scheme and the Logos of Venus such a psychic link exists. This must be a link involving far more the consciousness than the form.

351. Giữa Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta và Thượng đế của Sao Kim có tồn tại một liên kết thông linh như thế. Đây hẳn phải là một liên kết liên quan đến tâm thức nhiều hơn là đến hình tướng.

352. If we have to differentiate between outer and inner (psychic) links, we shall have the possibility of many additional relationships between the Heavenly Men.

352. Nếu chúng ta phải phân biệt giữa các liên kết bên ngoài và bên trong (thông linh), chúng ta sẽ có khả năng thấy được nhiều mối liên hệ bổ sung giữa các Đấng Thiên Nhân.

This psychic interaction has its cyclic ebb and flow, as ebbs and flows all life force. In Lemurian days came a period of close interaction which brought about an incarnation on the physical planet of the Logos of our scheme, the Head of the Hierarchy, and the One Initiator. This could not have been effected had not the planetary Logos of the Venus scheme been in a position to link up closely with ours.

Sự tương tác thông linh này có sự lên xuống theo chu kỳ, cũng như mọi mãnh lực sự sống đều có lên xuống. Trong thời Lemuria đã đến một giai đoạn tương tác mật thiết, và điều này đã dẫn đến một lần lâm phàm trên hành tinh hồng trần của Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta, là Đầu của Thánh Đoàn, và là Đấng Điểm đạo duy nhất. Điều này đã không thể được thực hiện nếu Hành Tinh Thượng đế của hệ Sao Kim không ở trong vị thế có thể liên kết mật thiết với Thượng đế của chúng ta.

353. Again we have some interesting and important ideas. We note that several terms are used as equivalent; elsewhere they are differentiated:

353. Một lần nữa chúng ta lại có một số ý tưởng thú vị và quan trọng. Chúng ta lưu ý rằng một số thuật ngữ được dùng như tương đương; ở nơi khác chúng lại được phân biệt:

a. The Logos of our scheme

a. Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta

b. The Head of the Hierarchy (usually considered the Christ, if the term “Hierarchy” is not expanded). We can explain this, however, through the fact that in Lemurian times, Sanat Kumara was the Head of the then Hierarchy.

b. Đầu của Thánh Đoàn (thường được xem là Đức Christ, nếu thuật ngữ “Thánh Đoàn” không được mở rộng). Tuy nhiên, chúng ta có thể giải thích điều này qua sự kiện rằng vào thời Lemuria, Đức Sanat Kumara Đầu của Thánh Đoàn lúc bấy giờ.

c. The One Initiator (usually considered Sanat Kumara).

c. Đấng Điểm đạo duy nhất (thường được xem là Đức Sanat Kumara).

354. We are being told that during Lemurian days a particularly close relationship between the two Logoi developed (as part of the usual cyclic ebb and flow).

354. Chúng ta đang được cho biết rằng trong thời Lemuria, một mối liên hệ đặc biệt mật thiết giữa hai Đấng Thượng đế đã phát triển (như một phần của sự lên xuống theo chu kỳ thông thường).

355. Although the fourth round in relation to our globe had started long before (and thus, an incarnation of our Planetary Logos through our globe had started long before, for we have just—TCF 367—read of three hundred forty three incarnations), DK singles out Lemurian days as the time when an incarnation of our Planetary Logos through the physical planet of our scheme occurred. It would seem that the individualization signaled the preamble to this incarnation.

355. Mặc dù cuộc tuần hoàn thứ tư liên hệ với bầu hành tinh của chúng ta đã bắt đầu từ rất lâu trước đó (và như vậy, một lần lâm phàm của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta qua bầu hành tinh của chúng ta cũng đã bắt đầu từ rất lâu trước đó, vì chúng ta vừa—TCF 367—đọc về ba trăm bốn mươi ba lần lâm phàm), Chân sư DK đặc biệt nêu ra thời Lemuria như là thời điểm khi một lần lâm phàm của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta qua hành tinh hồng trần của hệ hành tinh chúng ta đã xảy ra. Dường như sự biệt ngã hóa đã báo hiệu phần mở đầu cho lần lâm phàm này.

c. Venus and the Earth Chain. This question of the coming of the Lords of Flame to the planet Earth is deeply involved (as stated above) in the relationship existing between the Heavenly Man of the Earth scheme and the Lord of the Venus scheme.

c. Sao Kim và Dãy Địa Cầu. Vấn đề về sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa đến hành tinh Trái Đất có liên hệ sâu xa (như đã nói ở trên) với mối quan hệ hiện hữu giữa Đấng Thiên Nhân của hệ Địa Cầu và Chúa Tể của hệ Sao Kim.

356. This is one of the fundamental facts of occultism. Two Heavenly Men were aligned to enable the Lords of the Flame to come to our planet Earth.

356. Đây là một trong những sự kiện nền tảng của huyền bí học. Hai Đấng Thiên Nhân đã được chỉnh hợp để cho phép các Đấng Chúa Tể của Lửa đến với hành tinh Trái Đất của chúng ta.

Until more detailed information is permitted publication anent these two great Entities, little more can be done beyond indicating some probabilities, and pointing out certain factors which students should carefully bear in mind.

Cho đến khi thông tin chi tiết hơn về hai Thực Thể vĩ đại này được phép công bố, chúng ta khó có thể làm gì hơn ngoài việc nêu ra một số khả năng và chỉ ra một số yếu tố mà các đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ.

357. DK is limited concerning what He is permitted to reveal. The secrets of interplanetary lore are guarded closely.

357. Chân sư DK bị giới hạn về điều Ngài được phép mặc khải. Những bí mật của tri thức liên hành tinh được canh giữ rất nghiêm ngặt.

358. It is always to be remembered that the true details of the Ageless Wisdom are not by any means fully revealed in even such a comprehensive book as A Treatise on Cosmic Fire. In fact, the Tibetan is building for the future and presenting to us only the broad outlines of the magnificent Wisdom. Our patience is required. Hundreds of years of thought and study lie ahead of us if we are to assimilate greater detail.

358. Cần luôn ghi nhớ rằng các chi tiết chân thực của Minh Triết Ngàn Đời hoàn toàn không được mặc khải đầy đủ ngay cả trong một cuốn sách toàn diện như Luận về Lửa Vũ Trụ. Thật ra, Chân sư Tây Tạng đang xây dựng cho tương lai và chỉ trình bày cho chúng ta những nét đại cương của Minh Triết huy hoàng ấy. Chúng ta cần có sự kiên nhẫn. Hàng trăm năm suy tư và học hỏi đang ở phía trước nếu chúng ta muốn đồng hóa những chi tiết lớn lao hơn.

The statement [Page 368] has been made that (owing to the Venusian scheme being in its fifth round) its humanity is consequently further advanced than ours, and can help us, and that this help came in Lemurian days.

Đã có lời phát biểu rằng [Page 368] (do hệ Sao Kim đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ năm) nên nhân loại của nó vì thế tiến bộ hơn chúng ta, và có thể giúp chúng ta, và rằng sự trợ giúp này đã đến trong thời Lemuria.

359. This is an interesting idea. Was it the humanity of the Venusian scheme that came to the aid of Lemurian animal man or was it the Solar Angels, perhaps inspired by Venus, but resident at that time within our own planetary scheme?

359. Đây là một ý tưởng thú vị. Có phải chính nhân loại của hệ Sao Kim đã đến trợ giúp người thú Lemuria, hay đó là các Thái dương Thiên Thần, có lẽ được cảm hứng bởi Sao Kim, nhưng vào thời điểm ấy cư ngụ trong chính hệ hành tinh của chúng ta?

This is an instance of a partial truth and its misinterpretation. The Venusian scheme is — [35 as stated in the Secret Doctrine: S. D., I, 187. II, 33-36, 626.] —in its fifth and last round;

Đây là một trường hợp của chân lý bộ phận và sự diễn giải sai lầm của nó. Hệ Sao Kim — [35 như đã nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm: S. D., I, 187. II, 33-36, 626.] — đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ năm và cuối cùng của nó;

360. Usually seven rounds are required, but the Venusian Logos is said to have accomplished in five rounds what other Planetary Logoi usually accomplish in seven.

360. Thông thường cần bảy cuộc tuần hoàn, nhưng Thượng đế Sao Kim được nói là đã hoàn thành trong năm cuộc tuần hoàn điều mà các Hành Tinh Thượng đế khác thường hoàn thành trong bảy cuộc tuần hoàn.

361. We note that we are speaking of a ‘scheme-round’ and not a chain round (the kind usually discussed). We propose that it is the scheme as an entirety that is in its fifth and last round. The two types of rounds (chain-rounds and scheme-rounds) must be differentiated. We think we know how chain-rounds work, but it is not so easy to know how scheme-rounds work; several possibilities exist.

361. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta đang nói về một “cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh” chứ không phải một cuộc tuần hoàn của dãy (loại thường được bàn đến). Chúng tôi cho rằng chính toàn bộ hệ hành tinh đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ năm và cuối cùng của nó. Hai loại cuộc tuần hoàn này (cuộc tuần hoàn của dãy và cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh) phải được phân biệt. Chúng ta nghĩ rằng mình biết các cuộc tuần hoàn của dãy vận hành như thế nào, nhưng không dễ biết các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh vận hành ra sao; có một số khả năng tồn tại.

362. Add to this the idea of systemic rounds and there is much to decipher about the cyclic life of such Beings as Chain Lords, Scheme Lords and Systemic Lords (Solar Logoi).

362. Hãy thêm vào đó ý tưởng về các cuộc tuần hoàn hệ thống và sẽ có rất nhiều điều cần giải mã về đời sống chu kỳ của những Đấng như các Chúa Tể của Dãy, các Chúa Tể của Hệ hành tinh và các Chúa Tể của Hệ thống (các Thái dương Thượng đế).

its humanity is very far ahead of ours in certain particulars,

nhân loại của nó vượt xa nhân loại chúng ta trong một số phương diện nhất định,

363. Particulars which are not being revealed to us but may well have something to do with the cultivation of the buddhic faculty.

363. Những phương diện không được mặc khải cho chúng ta nhưng rất có thể liên quan đến việc vun bồi năng lực Bồ đề.

but the momentous occurrence in the third root-race was due to the following causes, and not to the factor of the greater advancement of a certain group of human beings:

nhưng biến cố trọng đại trong giống dân gốc thứ ba là do các nguyên nhân sau đây, và không phải do yếu tố tiến bộ hơn của một nhóm người nào đó:

364. DK is disabusing us of another misinterpretation which many students otherwise might take as truth.

364. Chân sư DK đang giải trừ cho chúng ta một sự hiểu sai khác mà nếu không nhiều đạo sinh có thể xem là chân lý.

First, the Venus Scheme, viewed as a logoic centre, is more active than ours, and therefore its radiatory magnetism is far more widely spread.

Thứ nhất, Hệ Sao Kim, được nhìn như một trung tâm logoic, hoạt động mạnh hơn hệ của chúng ta, và vì vậy từ điện bức xạ của nó lan tỏa rộng hơn rất nhiều.

365. If Venus were the logoic solar plexus center, this would make sense. While we do have an astral-buddhic solar system, and while our Solar Logos is a heart center within a Cosmic Logos, the Solar Logos has not reached the stage of development in which His heart center is fully and buddhically unfolded. He would have to be a cosmic Initiate of the fourth degree.

365. Nếu Sao Kim là trung tâm tùng thái dương logoic, điều này sẽ hợp lý. Dù chúng ta quả có một hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề, và dù Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tim bên trong một Thượng đế Vũ Trụ, Thái dương Thượng đế vẫn chưa đạt đến giai đoạn phát triển mà trong đó trung tâm tim của Ngài được khai mở trọn vẹn và Bồ đề. Ngài sẽ phải là một điểm đạo đồ vũ trụ ở cấp thứ tư.

366. Further Venus is said to be (with Saturn and the Earth) under the special stimulation of logoic kundalini.

366. Hơn nữa, Sao Kim được nói là (cùng với Sao Thổ và Trái Đất) ở dưới sự kích thích đặc biệt của kundalini logoic.

367. Anyway, this is a good comparison dealing with the relative magnetism of the Earth-scheme and the Venus-scheme.

367. Dù sao đi nữa, đây là một sự so sánh tốt khi bàn đến từ điện tương đối của hệ Địa Cầu và hệ Sao Kim.

Its radiation is such that on the buddhic plane it swept within its magnetic radius that chain in our scheme which is composed predominantly of buddhic matter.

Sự bức xạ của nó đến mức trên cõi Bồ đề nó đã cuốn vào trong bán kính từ tính của mình dãy trong hệ của chúng ta vốn được cấu thành chủ yếu bằng vật chất Bồ đề.

368. Could this chain have been the second or Venus-chain?

368. Dãy này có thể là dãy thứ hai hay dãy Sao Kim chăng?

369. Perhaps a hint is being give about the composition of the chains within our Earth-scheme (and others).

369. Có lẽ một gợi ý đang được đưa ra về thành phần của các dãy bên trong hệ Địa Cầu của chúng ta (và các hệ khác).

370. It is to be anticipated that certain of the chains will not have vehicles of lower matter—for instance physical and astral—and will have developed vehicles of higher matter (for instance buddhic matter).

370. Có thể dự đoán rằng một số dãy sẽ không có các vận cụ bằng vật chất thấp hơn—thí dụ hồng trần và cảm dục—và sẽ đã phát triển các vận cụ bằng vật chất cao hơn (thí dụ vật chất Bồ đề).

371. Note that, although the buddhic plane is considered an arupa plane, DK still speaks of “buddhic matter”.

371. Lưu ý rằng, mặc dù cõi Bồ đề được xem là một cõi arupa, Chân sư DK vẫn nói đến “vật chất Bồ đề”.

372. Where, in our vast cosmos, does matter end? Perhaps it does not. In one way, the entire universe is Matter and a Deva, though we must remember that matter is Spirit and Spirit is matter.

372. Trong vũ trụ bao la của chúng ta, vật chất chấm dứt ở đâu? Có lẽ nó không chấm dứt. Theo một cách nào đó, toàn thể vũ trụ Vật Chất và là một thiên thần, dù chúng ta phải nhớ rằng vật chất là Tinh thần và Tinh thần là vật chất.

Then, via that chain, it magnetised the corresponding globe in our chain, and this resulted in a specific vitalisation in the dense planet itself.

Rồi, qua dãy đó, nó đã từ hóa bầu hành tinh tương ứng trong dãy của chúng ta, và điều này đã dẫn đến một sự tiếp sinh lực đặc thù trong chính hành tinh đậm đặc ấy.

373. This suggests that via the second chain of the Earth-scheme a magnetic relationship was set up with the second globe of the Earth-chain.

373. Điều này gợi ý rằng qua dãy thứ hai của hệ Địa Cầu, một mối quan hệ từ tính đã được thiết lập với bầu hành tinh thứ hai của Dãy Địa Cầu.

374. The easy rapport between globe two and globe four of the Earth-chain (our planet Earth) contributed to a vitalization in the dense planet itself

374. Sự tương thông dễ dàng giữa bầu hành tinh hai và bầu hành tinh bốn của Dãy Địa Cầu (hành tinh Trái Đất của chúng ta) đã góp phần vào một sự tiếp sinh lực trong chính hành tinh đậm đặc ấy

375. But let us remember that this vitalization cannot have been strictly physical because the buddhic and mental planes of our fourth globe were certainly involved in the work of the Solar Angels.

375. Nhưng hãy nhớ rằng sự tiếp sinh lực này không thể là thuần túy hồng trần vì các cõi Bồ đề và trí tuệ của bầu hành tinh thứ tư của chúng ta chắc chắn đã tham dự vào công việc của các Thái dương Thiên Thần.

376. When DK speaks of the “dense planet” meaning our fourth globe, it is not to be presumed that it is strictly dense and has no higher vehicular fields—such as astral, mental, buddhic, etc. This is an important point and can be substantiated by numerous references and by reasoning.

376. Khi Chân sư DK nói đến “hành tinh đậm đặc” với ý nghĩa là bầu hành tinh thứ tư của chúng ta, không nên giả định rằng nó hoàn toàn đậm đặc và không có các trường vận cụ cao hơn—như cảm dục, trí tuệ, Bồ đề, v.v. Đây là một điểm quan trọng và có thể được chứng minh bằng nhiều dẫn chiếu và bằng lý luận.

Second, just as in the case of man, certain triangles of force are found at different stages of evolution, or (to word it otherwise) different centres become geometrically linked, such as the:

Thứ hai, cũng như trong trường hợp con người, những tam giác mãnh lực nhất định được tìm thấy ở các giai đoạn tiến hoá khác nhau, hay (nói cách khác) các trung tâm khác nhau trở nên được liên kết về mặt hình học, như:

a. Base of the spine

a. Đáy cột sống

b. Solar plexus

b. Tùng thái dương

c. Heart

c. Tim

377. We remember from TCF 169 that this particular triangle represents man controlled from the astral plane.

377. Chúng ta nhớ từ TCF 169 rằng tam giác đặc biệt này biểu thị con người bị kiểm soát từ cõi cảm dục.

or again,

hay nữa,

a. Solar Plexus

a. Tùng thái dương

b. Heart

b. Tim

c. Throat

c. Trung tâm cổ họng

378. Interestingly, this triangle is not listed from TCF 169-170, yet is seems an important triangle. It would seem to represent kama-manasic man—nether controlled strictly from the astral plane nor strictly from the mental.

378. Điều thú vị là tam giác này không được liệt kê trong TCF 169-170, tuy nhiên dường như nó là một tam giác quan trọng. Dường như nó biểu thị con người trí-cảm—không bị kiểm soát hoàn toàn từ cõi cảm dục cũng không hoàn toàn từ cõi trí.

so, in the case of a Heavenly Man, or of a solar Logos, a similar event occurs. Such an event transpires in this round in relation to the centre which our planetary Logos [Page 369] embodies.

cũng vậy, trong trường hợp một Đấng Thiên Nhân, hay một Thái dương Thượng đế, một biến cố tương tự xảy ra. Một biến cố như thế diễn ra trong cuộc tuần hoàn này liên hệ với trung tâm mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta [Page 369] hiện thân.

379. If this center is the base of the spine center, then the very first triangle listed above—Base of Spine, Solar Plexus, Heart—has relevance.

379. Nếu trung tâm này là trung tâm đáy cột sống, thì chính tam giác đầu tiên được liệt kê ở trên—Đáy Cột Sống, Tùng Thái Dương, Tim—sẽ có liên quan.

380. It is, however, no easy matter to determine exactly which center of the Solar Logos our Heavenly Man embodies—at this time. We do know that at some time our planetary scheme will embody the base of the spine center, but there are other possibilities presently. Everything shifts in time and what is true at one moment in the developmental process may not be true at another.

380. Tuy nhiên, không dễ gì xác định chính xác Đấng Thiên Nhân của chúng ta hiện thân cho trung tâm nào của Thái dương Thượng đế—vào lúc này. Chúng ta biết rằng vào một thời điểm nào đó hệ hành tinh của chúng ta sẽ hiện thân cho trung tâm đáy cột sống, nhưng hiện nay còn có những khả năng khác. Mọi sự đều thay đổi theo thời gian và điều gì đúng ở một thời điểm trong tiến trình phát triển có thể không đúng ở một thời điểm khác.

381. Here is a reference which relates Earth to the base of the spine center.

381. Đây là một dẫn chiếu liên hệ Trái Đất với trung tâm đáy cột sống.

It relates finally the lowest centre at the base of the spine to the highest centre, the head centre. This is a correspondence to the relation of the Earth to the Sun. Think this out. (EA 25)

Cuối cùng nó liên hệ trung tâm thấp nhất ở đáy cột sống với trung tâm cao nhất, là trung tâm đầu. Đây là một tương ứng với mối liên hệ giữa Trái Đất và Mặt Trời. Hãy suy ngẫm điều này. (EA 25)

382. Yet here is a reference which suggests a relationship between Venus and Earth analogous to the relationship between the manasic permanent atom and the mental unit.

382. Tuy nhiên, đây là một dẫn chiếu gợi ý một mối liên hệ giữa Sao Kim và Trái Đất tương tự như mối liên hệ giữa nguyên tử trường tồn manas và đơn vị hạ trí.

The coming of the Lords of Flame to the Earth was all under law and not just an accidental and fortunate happening; it was a planetary matter which finds its correspondence in the connection between the mental unit and the manasic permanent atom. Again, as the antaskarana is built by individual man between these two points, so—again in a planetary sense—is a channel being built by collective man on this planet to its primary, Venus. (TCF 297)

Sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa đến Trái Đất hoàn toàn ở dưới định luật chứ không chỉ là một biến cố ngẫu nhiên và may mắn; đó là một vấn đề hành tinh có sự tương ứng của nó trong mối liên hệ giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas. Một lần nữa, cũng như antahkarana được xây dựng bởi con người cá nhân giữa hai điểm này, thì—một lần nữa theo nghĩa hành tinh—một kênh dẫn đang được xây dựng bởi con người tập thể trên hành tinh này đến nguyên mẫu của nó là Sao Kim. (TCF 297)

383. What is the definition of “collective man”? Is this term referring to the group nature of our Planetary Logos, Who is, we realize, a ‘Man’.

383. Định nghĩa của “con người tập thể” là gì? Thuật ngữ này có đang chỉ đến bản chất nhóm của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Đấng mà chúng ta nhận ra là một “Con Người”, hay không?

384. Here is a reference suggesting that the Earth has an association with the spleen and thus with the splenic center. This reference relates to the microcosm but may have macrocosmic implications (i.e., implications of the solar system).

384. Đây là một dẫn chiếu gợi ý rằng Trái Đất có liên hệ với lá lách và do đó với trung tâm lá lách. Dẫn chiếu này liên hệ đến tiểu thiên địa nhưng có thể có những hàm ý đại thiên địa (tức là những hàm ý của hệ mặt trời).

1. Two of the non-sacred planets (the Earth itself and the Moon) are connected with two centres which in the highly evolved man are not of dominating importance:

1. Hai trong số các hành tinh không thiêng liêng (chính Trái Đất và Mặt Trăng) được nối kết với hai trung tâm mà nơi con người tiến hóa cao thì không có tầm quan trọng chi phối:

a. The spleen receiving pranic emanations from the planet on which we live and concerned with the etheric and physical bodies and their physical relation.

a. Lá lách tiếp nhận các phát xạ prana từ hành tinh mà chúng ta đang sống trên đó và liên quan đến thể dĩ thái và thể xác cùng mối liên hệ hồng trần của chúng.

b. A centre in the chest related to the thymus gland. This centre becomes inactive in the advanced man but has a connection with the vagus nerve, prior to the awakening of the heart centre. (EA 78)

b. Một trung tâm trong ngực liên hệ với tuyến ức. Trung tâm này trở nên bất hoạt nơi con người tiến hóa, nhưng có một liên hệ với dây thần kinh phế vị trước khi trung tâm tim thức tỉnh. (EA 78)

385. It is clear from this reference that the Earth relates to point “a.”, and a planet veiled by the Moon to point “b.”

385. Từ dẫn chiếu này rõ ràng rằng Trái Đất liên hệ với điểm “a.”, và một hành tinh được Mặt Trăng che phủ liên hệ với điểm “b.”

It became geometrically linked with two other centres, of which Venus was one, and logoic Kundalini—circulating with tremendous force through this adjusted Triangle—brought about that intensification of vibration in the human family which resulted in individualisation.

Nó trở nên được liên kết về mặt hình học với hai trung tâm khác, trong đó Sao Kim là một, và kundalini logoic—lưu chuyển với mãnh lực to lớn qua Tam giác đã được điều chỉnh này—đã dẫn đến sự tăng cường rung động ấy trong gia đình nhân loại, kết quả là sự biệt ngã hóa.

386. When logoic kundalini is discussed, the three planets involved are usually the Earth, Venus and Saturn. Here Earth and Venus are given and Saturn (if it is the planet meant) is not mentioned.

386. Khi kundalini logoic được bàn đến, ba hành tinh liên hệ thường là Trái Đất, Sao Kim và Sao Thổ. Ở đây Trái Đất và Sao Kim được nêu ra còn Sao Thổ (nếu đó là hành tinh được ngụ ý) thì không được nhắc đến.

387. There is the possibility that Mercury could be the third planet since it rules the Fourth Creative Hierarchy (which, incidentally, pre-existed the founding of the fourth kingdom of nature, the human).

387. Có khả năng Sao Thủy có thể là hành tinh thứ ba vì nó cai quản Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (vốn, tình cờ, đã có trước sự thành lập của giới thứ tư của bản chất, tức giới nhân loại).

388. In the example above we are given two triangles: Base of Spine, Solar Plexus and Heart: and Solar Plexus, Heart and Throat.

388. Trong ví dụ trên, chúng ta được cho hai tam giác: Đáy Cột Sống, Tùng Thái Dương và Tim; và Tùng Thái Dương, Tim và Cổ Họng.

389. We have to see whether the three planets linked by solar logoic kundalini are related to either of these triangles. Pieces of information are, of course, missing, so we must infer.

389. Chúng ta phải xem liệu ba hành tinh được nối kết bởi kundalini thái dương logoic có liên hệ với một trong hai tam giác này hay không. Dĩ nhiên, các mảnh thông tin còn thiếu, nên chúng ta phải suy luận.

390. There seems to be no easy fit. Venus can be associated with either the logoic solar plexus center or the logoic heart center. Saturn can be connected with the logoic throat center. But Earth cannot be connected with the logoic solar plexus center (unless we consider the relationship between Earth and Venus as representing the lower and higher “points” within the solar plexus center—if the analogy holds good that since man has two “points”, so does the Solar Logos).

390. Dường như không có sự phù hợp dễ dàng nào. Sao Kim có thể được liên kết với hoặc trung tâm tùng thái dương logoic hoặc trung tâm tim logoic. Sao Thổ có thể được nối với trung tâm cổ họng logoic. Nhưng Trái Đất không thể được nối với trung tâm tùng thái dương logoic (trừ khi chúng ta xem mối liên hệ giữa Trái Đất và Sao Kim như biểu thị các “điểm” thấp và cao bên trong trung tâm tùng thái dương—nếu phép loại suy đứng vững rằng vì con người có hai “điểm”, nên Thái dương Thượng đế cũng vậy).

391. If Earth is considered the base of the spine center, then Venus could be considered the logoic solar plexus center, but we would need a suitable planet for the heart center. This would have to be Jupiter, a planet not mentioned as undergoing solar-logoic kundalinic stimulation.

391. Nếu Trái Đất được xem là trung tâm đáy cột sống, thì Sao Kim có thể được xem là trung tâm tùng thái dương logoic, nhưng chúng ta sẽ cần một hành tinh thích hợp cho trung tâm tim. Điều này sẽ phải là Sao Mộc, một hành tinh không được nhắc đến như đang chịu sự kích thích kundalini thái dương logoic.

392. Of course, just because the Tibetan has mentioned a triangle which is the recipient of solar logoic kundalini (namely Saturn/Venus/Earth), it does not mean that others planets (for instance Mercury or Jupiter) do not receive such stimulation.

392. Dĩ nhiên, chỉ vì Chân sư Tây Tạng đã nhắc đến một tam giác là nơi tiếp nhận kundalini thái dương logoic (tức Sao Thổ/Sao Kim/Trái Đất), điều đó không có nghĩa là các hành tinh khác (thí dụ Sao Thủy hay Sao Mộc) không nhận sự kích thích như thế.

393. If we do not attempt to correlate the planetary triangle DK is discussing (without telling us all three members of the triangle), then we could assign the chakras as follows:

393. Nếu chúng ta không cố gắng đối chiếu tam giác hành tinh mà Chân sư DK đang bàn đến (mà không cho chúng ta biết cả ba thành viên của tam giác), thì chúng ta có thể gán các luân xa như sau:

a. Earth/Base of the Spine; Venus/Solar Plexus; Saturn or Mercury/Throat Center. One can associate Mercury with the throat center as the center of speech, though its associations with the ajna center are also necessary and convincing.

a. Trái Đất/Đáy Cột Sống; Sao Kim/Tùng Thái Dương; Sao Thổ hoặc Sao Thủy/Trung Tâm Cổ Họng. Người ta có thể liên kết Sao Thủy với trung tâm cổ họng như trung tâm của lời nói, dù các liên hệ của nó với trung tâm ajna cũng cần thiết và thuyết phục.

b. Or, one could attempt as follows: Earth/Base of the Spine; Venus Heart Center; Saturn or Mercury/Throat Center. This would have some value, as the coming of the Lords of the Flame was associated with heart center activity within our Planetary Logos. These Solar Angels, influential upon the buddhic and mental planes (where man the microcosm was concerned) also brought the spark right down into the etheric-physical brain (hence the appropriateness of the base of the spine center considered as a symbol of anchoring).

b. Hoặc, người ta có thể thử như sau: Trái Đất/Đáy Cột Sống; Sao Kim/Trung Tâm Tim; Sao Thổ hoặc Sao Thủy/Trung Tâm Cổ Họng. Điều này sẽ có một số giá trị, vì sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa được liên kết với hoạt động của trung tâm tim bên trong Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Các Thái dương Thiên Thần này, có ảnh hưởng trên các cõi Bồ đề và trí tuệ (nơi con người là tiểu thiên địa được xét đến), cũng đã mang tia lửa xuống tận bộ não dĩ thái-hồng trần (do đó sự thích hợp của trung tâm đáy cột sống khi được xem như một biểu tượng của sự neo giữ).

394. We can see that Master DK leaves much to our intuition. The possibilities are many, and assigning planets as solar logoic chakras may be correct for one time of logoic development and not correct at others.

394. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK để lại rất nhiều cho trực giác của chúng ta. Có nhiều khả năng, và việc gán các hành tinh như các luân xa thái dương logoic có thể đúng ở một thời kỳ phát triển logoic này nhưng không đúng ở những thời kỳ khác.

395. Venus certainly has heart center functions and capacities and DK even says of Venus:

395. Chắc chắn Sao Kim có các chức năng và năng lực của trung tâm tim, và Chân sư DK thậm chí còn nói về Sao Kim như sau:

First. Venus corresponds to the heart centre in the body logoic, and has an inter-relationship therefore with all the other centres in the solar system wherein the heart aspect is the one of greater prominence. (TCF 182)

Thứ nhất. Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thể logoic, và vì vậy có mối tương liên với tất cả các trung tâm khác trong hệ mặt trời nơi phương diện tim là phương diện nổi trội hơn cả. (TCF 182)

396. But this correspondence must not be taken strictly at face value (as I have discussed when dealing with TCF 182). Other references re the place of Venus within the “logoic quaternary” contradict a literal interpretation of the reference above. The whole question of timing in relation to function is of the essence.

396. Nhưng sự tương ứng này không được hiểu một cách hoàn toàn theo mặt chữ (như tôi đã bàn khi đề cập đến TCF 182). Những dẫn chiếu khác về vị trí của Sao Kim trong “bộ tứ logoic” mâu thuẫn với một cách giải thích theo nghĩa đen của dẫn chiếu trên. Toàn bộ vấn đề về thời điểm liên hệ với chức năng là điều cốt yếu.

397. Venus is one of the planets representing the three “super principles” within the solar system (along with Saturn and Jupiter)—also discussed at length earlier. But whether Venus can be correlated with the second ray super-principle when compared to the other two (Jupiter and Saturn), is up for debate.

397. Sao Kim là một trong các hành tinh biểu thị ba “siêu nguyên khí” trong hệ mặt trời (cùng với Sao Thổ và Sao Mộc)—điều này cũng đã được bàn khá dài trước đó. Nhưng liệu Sao Kim có thể được đối chiếu với siêu nguyên khí cung hai khi so với hai hành tinh kia (Sao Mộc và Sao Thổ) hay không, vẫn còn là điều có thể tranh luận.

398. So the subject is veiled. We reason our way forward, gathering the evidence, anticipating that when there is sufficient evidence and indication, the clear light of pure reason will shine and the whole matter be clarified.

398. Vì vậy chủ đề này vẫn còn được che phủ. Chúng ta lý luận để tiến lên, thu thập chứng cứ, mong đợi rằng khi có đủ chứng cứ và chỉ dấu, ánh sáng rõ ràng của lý trí thuần túy sẽ chiếu soi và toàn bộ vấn đề sẽ được làm sáng tỏ.

399. In any case, a planetary triangle (greatly stimulated by logoic kundalini) was formed at the time of the individualization of animal man on our fourth globe, the Earth-globe. Because Sanat Kumara was involved (though not yet incarnate on our globe), Saturn and Venus can be hypothesized as two of the planets linked in the triangle to the Earth-scheme. The Solar Angels (who came some 21,000,000 years ago) are linked directly to Venus, and Sanat Kumara is linked to both Venus and Saturn.

399. Dù sao đi nữa, một tam giác hành tinh (được kích thích mạnh mẽ bởi kundalini logoic) đã được hình thành vào thời điểm biệt ngã hóa của người thú trên bầu hành tinh thứ tư của chúng ta, tức bầu hành tinh Trái Đất. Vì Đức Sanat Kumara có liên hệ (dù chưa lâm phàm trên bầu hành tinh của chúng ta), Sao Thổ và Sao Kim có thể được giả định là hai trong số các hành tinh được nối kết trong tam giác với hệ Địa Cầu. Các Thái dương Thiên Thần (đã đến đây khoảng 21.000.000 năm trước) được nối trực tiếp với Sao Kim, và Đức Sanat Kumara được nối với cả Sao Kim lẫn Sao Thổ.

400. Because it was the human family that was created, Mercury (rather than Saturn) could have been the third planet, for Mercury rules humanity and the Fourth Creative Hierarchy.

400. Vì chính gia đình nhân loại đã được tạo ra, Sao Thủy (thay vì Sao Thổ) có thể đã là hành tinh thứ ba, vì Sao Thủy cai quản nhân loại và Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.

401. We have, however, no direct reference to suggest that Mercury was undergoing stimulation by logoic kundalini. Yet, from another perspective, Mercury is kundalini and is correlated with “kundalini active” and the base of the spine center.

401. Tuy nhiên, chúng ta không có dẫn chiếu trực tiếp nào gợi ý rằng Sao Thủy đã chịu sự kích thích bởi kundalini logoic. Tuy vậy, từ một góc nhìn khác, Sao Thủy kundalini và được đối chiếu với “kundalini hoạt động” và trung tâm đáy cột sống.

402. We will have to hold these thoughts in suspension until a totally convincing solution precipitates.

402. Chúng ta sẽ phải giữ những tư tưởng này ở trạng thái đình chỉ cho đến khi một giải pháp hoàn toàn thuyết phục ngưng tụ.

Leave a Comment

Scroll to Top