Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 369-378: S4S4
|
21 November – 5 December 2006 |
21 tháng Mười Một – 5 tháng Mười Hai 2006 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và dẫn chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. |
Có đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với cuốn TCF ở bên cạnh, vì mục đích giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. |
|
1. We continue with the factor of Human Manas, in regards to the schemes. |
1. Chúng ta tiếp tục với yếu tố Manas Nhân loại, liên quan đến các hệ hành tinh. |
|
We might here enumerate the schemes as a basis for our further work: |
Ở đây chúng ta có thể liệt kê các hệ hành tinh như một cơ sở cho công việc tiếp theo của mình: |
|
2. We may remember that no matter how much we write and speak about the planetary schemes, we really do not understand their structure. To say that they are made of chains and globes is clarifying only to a degree. We do not know, however, the ‘location’ of these chains and globes and whether or not they are ‘extended in space’ or superimposed upon one another. |
2. Chúng ta có thể nhớ rằng dù chúng ta viết và nói nhiều đến đâu về các hệ hành tinh, chúng ta thật sự vẫn không hiểu cấu trúc của chúng. Nói rằng chúng được tạo thành từ các dãy và các bầu hành tinh chỉ làm sáng tỏ đến một mức độ nào đó. Tuy nhiên, chúng ta không biết “vị trí” của các dãy và các bầu hành tinh này, cũng không biết liệu chúng có “trải rộng trong không gian” hay chồng lấp lên nhau hay không. |
|
3. We must, however, begin with the great generalities and trust that increasing occult insight will eventually reveal the actual structure of the schemes. Humanity’s perception is still extremely materialistic, and subtle inner structures are neither cognized nor credited as real. |
3. Tuy nhiên, chúng ta phải bắt đầu với những khái quát lớn và tin rằng sự linh thị huyền bí ngày càng tăng cuối cùng sẽ mặc khải cấu trúc thực sự của các hệ hành tinh. Tri giác của nhân loại vẫn còn cực kỳ duy vật, và các cấu trúc bên trong vi tế không được nhận biết cũng không được công nhận là có thực. |
|
The seven planets, centres, or schemes: |
Bảy hành tinh, các trung tâm, hay các hệ hành tinh: |
|
4. Please note the equivalence of these three terms—“planets”, “centres”, and “schemes”. We have often considered schemes as centres within the vehicles of the Solar Logos, however, the term “planet” sometimes simply means a “globe” and not a planetary scheme. We will have to be watchful regarding the meaning of this term. |
4. Xin lưu ý tính tương đương của ba thuật ngữ này—“hành tinh”, “trung tâm”, và “hệ hành tinh”. Chúng ta thường xem các hệ hành tinh như các trung tâm trong các hiện thể của Thái dương Thượng đế, tuy nhiên thuật ngữ “hành tinh” đôi khi chỉ đơn giản có nghĩa là một “bầu hành tinh” chứ không phải một hệ hành tinh. Chúng ta sẽ phải cẩn trọng về ý nghĩa của thuật ngữ này. |
|
5. Below the Tibetan cautions us against attaching importance to the sequence in which the planets are listed, yet one must ask why they are listed in this order. To interpret the sequence too literally will certainly lead to error, but the ordinal placement of the planets may hold subtle hints and for these we will search. |
5. Dưới đây Chân sư Tây Tạng cảnh báo chúng ta không nên gán tầm quan trọng cho trình tự mà các hành tinh được liệt kê, tuy nhiên người ta vẫn phải hỏi tại sao chúng lại được liệt kê theo thứ tự này. Diễn giải trình tự ấy quá sát theo nghĩa đen chắc chắn sẽ dẫn đến sai lầm, nhưng vị trí thứ tự của các hành tinh có thể chứa những gợi ý vi tế và chúng ta sẽ tìm kiếm những gợi ý ấy. |
|
1. Vulcan (the sun, exoterically considered). |
1. Vulcan (mặt trời, xét theo ngoại môn). |
|
6. The Sun is frequently used as an exoteric veil for Vulcan, and also for Uranus and Neptune. |
6. Mặt Trời thường được dùng như một màn che ngoại môn cho Vulcan, và cả cho Sao Thiên Vương lẫn Sao Hải Vương. |
|
7. One of the important references in this regard describes the eleventh (or second) Creative Hierarchy: |
7. Một trong những dẫn chiếu quan trọng về vấn đề này mô tả Huyền Giai Sáng Tạo thứ mười một (hay thứ hai): |
|
2. The Great | Aries |
2. Đại Hùng | Bạch Dương |
|
Bear………………. |……… Sun, veiling Vulcan………………. Second Creative Hierarchy |
Hùng………………. |……… Mặt Trời, che phủ Vulcan………………. Huyền Giai Sáng Tạo thứ hai |
|
| Libra (the 11th) Unknown |
| Thiên Bình (thứ 11) Không rõ |
|
The Cardinal Cross (EA 50) |
Thập Giá Chủ Yếu (EA 50) |
|
2. Venus. |
2. Sao Kim. |
|
8. It is reasonable to place the Vulcan-scheme first in order as the planet Vulcan is a major distributor of the first ray and is (of all sacred planets) closest to the Sun. |
8. Hợp lý khi đặt hệ Vulcan ở vị trí thứ nhất, vì hành tinh Vulcan là một phân phối viên chủ yếu của cung một và là hành tinh (trong tất cả các hành tinh thiêng liêng) gần Mặt Trời nhất. |
|
9. The Sun naturally has a high degree of first ray significance because it is the center of the entire solar system (despite the fact that the rays of the Solar Logos do not {yet} include the first ray as a major ray). |
9. Mặt Trời đương nhiên có mức độ thâm nghĩa cung một rất cao vì nó là trung tâm của toàn bộ hệ mặt trời (mặc dù các cung của Thái dương Thượng đế không {chưa} bao gồm cung một như một cung chính). |
|
10. Of course, even entities for whom the first ray is not a major ray possess the aspect of electric fire which is correlated with the first ray. |
10. Dĩ nhiên, ngay cả những thực thể mà cung một không phải là cung chính vẫn sở hữu phương diện lửa điện vốn được đối chiếu với cung một. |
|
11. Note that the Venus-scheme is placed second in order. This is reasonable as Venus has been associated with the solar logoic heart center, with the Solar Angels who are “hearts of fiery love” and with the soul which, generically, conveys the second aspect of divinity. |
11. Lưu ý rằng hệ Sao Kim được đặt ở vị trí thứ hai. Điều này hợp lý vì Sao Kim đã được liên kết với trung tâm tim thái dương logoic, với các Thái dương Thiên Thần là những “trái tim của tình yêu rực lửa”, và với linh hồn, vốn theo nghĩa tổng quát truyền đạt phương diện thứ hai của thiên tính. |
|
12. When estimating the rays of the Venus-scheme, the second ray is reasonably very prominent (perhaps both the personality ray and major monadic ray), and this, even though the only rays actually assigned by the Tibetan to Venus are the fifth and the sixth (less explicitly than the fifth). |
12. Khi ước lượng các cung của hệ Sao Kim, cung hai có vẻ nổi trội một cách hợp lý (có lẽ vừa là cung phàm ngã vừa là cung chân thần chính), dù rằng các cung duy nhất thực sự được Chân sư Tây Tạng gán cho Sao Kim là cung năm và cung sáu (cung sáu ít minh nhiên hơn cung năm). |
|
3. Mars. |
3. Sao Hỏa. |
|
13. We note that the planets are not given in order from the Sun. In fact, if there is a design in the order of their presentation, it is not at all obvious and the Tibetan seems to warn us against drawing conclusions from the order. |
13. Chúng ta lưu ý rằng các hành tinh không được nêu theo thứ tự tính từ Mặt Trời. Thật ra, nếu có một dụng ý trong thứ tự trình bày của chúng, thì điều đó hoàn toàn không hiển nhiên và Chân sư Tây Tạng dường như cảnh báo chúng ta không nên rút ra kết luận từ thứ tự ấy. |
|
14. Mars is the fifth planet from the Sun if we count Vulcan and ignore another intra-Mercurial planet (perhaps Adonis). |
14. Sao Hỏa là hành tinh thứ năm tính từ Mặt Trời nếu chúng ta tính cả Vulcan và bỏ qua một hành tinh nội Sao Thủy khác (có lẽ là Adonis). |
|
15. Yet its association with the third position is not without basis. |
15. Tuy nhiên, sự liên kết của nó với vị trí thứ ba không phải là không có cơ sở. |
|
16. Mars represents the emotional body of a great third ray Entity (for Whom Saturn represents the mind and Earth the physical nature—cf. EP II 99). |
16. Sao Hỏa biểu thị thể cảm dục của một Thực Thể cung ba vĩ đại (Đấng mà đối với Ngài Sao Thổ biểu thị trí tuệ và Trái Đất biểu thị bản chất hồng trần—xem EP II 99). |
|
17. Mars is often associated (especially at present) with the third or activity aspect of divinity. From the microcosmic perspective, in the personal horoscope the position and condition of Mars tells us much about the activity level of the individual. |
17. Sao Hỏa thường được liên kết (đặc biệt vào hiện nay) với phương diện thứ ba hay phương diện hoạt động của thiên tính. Từ góc độ tiểu thiên địa, trong lá số chiêm tinh cá nhân, vị trí và trạng thái của Sao Hỏa cho chúng ta biết nhiều về mức độ hoạt động của cá nhân. |
|
18. We could question whether the major monadic ray of Mars would be the first or the third. Orange is considered one of the colors of the first ray (the exoteric color—cf. EP I 418). |
18. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu cung chân thần chính của Sao Hỏa là cung một hay cung ba. Màu cam được xem là một trong những màu của cung một (màu ngoại môn—xem EP I 418). |
|
19. In many ways the first ray seems more likely. The fifth ray is related to both the third ray and the first, but much work remains in clarifying the question of when it is related to the third and when to the first. |
19. Theo nhiều phương diện, cung một dường như có khả năng hơn. Cung năm liên hệ với cả cung ba lẫn cung một, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm để làm sáng tỏ vấn đề khi nào nó liên hệ với cung ba và khi nào với cung một. |
|
4. Earth. |
4. Trái Đất. |
|
20. We note that the term “Earth” is italicized. It is, after all, the planetary scheme with which we are most concerned and the one about which we know far more than any of the others. |
20. Chúng ta lưu ý rằng thuật ngữ “Trái Đất” được in nghiêng. Xét cho cùng, đây là hệ hành tinh mà chúng ta quan tâm nhất và là hệ mà chúng ta biết nhiều hơn bất kỳ hệ nào khác. |
|
21. The Earth-scheme is the fourth from the Sun is Vulcan is counted. Although the fourth ray is not assigned as one of the Earth-scheme’s major rays, the number four is unmistakably associated with our scheme. Even its symbol (the cross within the circle) is a clear indication of this. The cross is, of course, fourfold. |
21. Hệ Địa Cầu là hệ thứ tư tính từ Mặt Trời nếu tính cả Vulcan. Mặc dù cung bốn không được gán là một trong những cung chính của hệ Địa Cầu, con số bốn rõ ràng gắn liền với hệ của chúng ta. Ngay cả biểu tượng của nó (thập giá trong vòng tròn) cũng là một chỉ dấu rõ rệt về điều này. Dĩ nhiên, thập giá là tứ phân. |
|
22. |
22. |
|
5. Mercury. |
5. Sao Thủy. |
|
23. The planet Mercury is always associated with intelligence and with the factor of mind. It may be reasonably evaluated has having both fifth and third ray components. |
23. Hành tinh Sao Thủy luôn được liên kết với trí năng và với yếu tố trí tuệ. Có thể đánh giá một cách hợp lý rằng nó có cả thành phần cung năm lẫn cung ba. |
|
24. In fact, its personality may be on the third ray, its Monad on the fifth and ultimately (or majorly) on the third. |
24. Thật ra, phàm ngã của nó có thể ở cung ba, Chân thần của nó ở cung năm và cuối cùng (hay chủ yếu) ở cung ba. |
|
25. If we compare Mars to Mercury, we may find an interesting example of the fifth ray resolving to the first ray in one instance (Mars) and to the third ray in the other (Mercury). |
25. Nếu chúng ta so sánh Sao Hỏa với Sao Thủy, chúng ta có thể thấy một ví dụ thú vị về việc cung năm quy về cung một trong một trường hợp (Sao Hỏa) và quy về cung ba trong trường hợp kia (Sao Thủy). |
|
26. In the Secret Doctrine we are told the following: |
26. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta được cho biết điều sau: |
|
“8. ‘The fifth race is born under Mercury’.” (the Aryan race. A.A.B.) (II. 32.) |
“8. ‘Giống dân thứ năm sinh ra dưới Sao Thủy’.” (giống dân Arya. A.A.B.) (II. 32.) |
|
Therefore, the association of Mercury with the number five is unmistakable. |
Vì vậy, sự liên kết của Sao Thủy với con số năm là không thể nhầm lẫn. |
|
6. Jupiter. |
6. Sao Mộc. |
|
27. To find Jupiter sixth in order is of interest in a few ways: |
27. Việc thấy Sao Mộc đứng thứ sáu theo thứ tự là điều đáng chú ý theo vài phương diện: |
|
a. Jupiter is closely related to the sixth plane (counting from below), the monadic plane of the cosmic physical plane, and can be considered the ruler of that plane. |
a. Sao Mộc liên hệ mật thiết với cõi thứ sáu (đếm từ dưới lên), cõi chân thần của cõi hồng trần vũ trụ, và có thể được xem là chủ tinh của cõi ấy. |
|
b. Jupiter is the exoteric ruler of the sign Sagittarius through which (at this time) the sixth ray flows most strongly. It is also the exoteric ruler of Pisces, another of the signs which transmits the sixth ray. |
b. Sao Mộc là chủ tinh ngoại môn của dấu hiệu Nhân Mã, qua đó (vào lúc này) cung sáu tuôn chảy mạnh nhất. Nó cũng là chủ tinh ngoại môn của Song Ngư, một dấu hiệu khác truyền dẫn cung sáu. |
|
c. The factor of enthusiasm so often associated with Jupiter is a sixth ray quality. |
c. Yếu tố nhiệt thành thường được liên kết với Sao Mộc là một phẩm tính cung sáu. |
|
7. Saturn. |
7. Sao Thổ. |
|
28. In examining these seven planetary schemes and the order in which they are presented, we are really examining the realm of Brahma, ruler of the third aspect of divinity. All the seven are included within this realm. In this respect they are, metaphorically, within the rings of Saturn. |
28. Khi khảo sát bảy hệ hành tinh này và thứ tự mà chúng được trình bày, thật ra chúng ta đang khảo sát cõi giới của Brahma, đấng cai quản phương diện thứ ba của thiên tính. Cả bảy đều được bao gồm trong cõi giới này. Theo phương diện này, chúng ở, theo nghĩa ẩn dụ, bên trong các vành đai của Sao Thổ. |
|
29. The seventh ray is not one of the rays usually assigned to Saturn. Those rays are third and the first. |
29. Cung bảy không phải là một trong những cung thường được gán cho Sao Thổ. Những cung ấy là cung ba và cung một. |
|
30. Yet the association of Saturn with the seventh ray is unmistakable as Saturn is the general ruler of the entire cosmic physical plane, representing the permanent atom of that plane. (cf. TCF 406) The cosmic physical plane, as we will realize, is the seventh of the cosmic planes. |
30. Tuy nhiên, sự liên kết của Sao Thổ với cung bảy là điều không thể nhầm lẫn, vì Sao Thổ là chủ tinh tổng quát của toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ, tượng trưng cho Nguyên tử trường tồn của cõi ấy. (x. TCF 406) Như chúng ta sẽ chứng nghiệm, cõi hồng trần vũ trụ là cõi thứ bảy trong các cõi vũ trụ. |
|
31. Saturn is also the general ruler of the seventh systemic (or solar) plane. Perhaps we should say that it shares rulership of that plane with Uranus which can be associated with the four systemic ethers just as Saturn is clearly associated with the three dense systemic sub-planes. |
31. Sao Thổ cũng là chủ tinh tổng quát của cõi hệ thống thứ bảy (hay cõi thái dương). Có lẽ chúng ta nên nói rằng nó cùng chia sẻ quyền cai quản cõi ấy với Sao Thiên Vương, vốn có thể được liên kết với bốn cõi dĩ thái hệ thống, cũng như Sao Thổ rõ ràng được liên kết với ba cõi phụ hệ thống đậm đặc. |
|
32. Those who study astrology will realize how closely Saturn is connected with the seventh ray principle of organization. It is also associated with the factor of precipitation, again related to the magical seventh ray. |
32. Những ai nghiên cứu chiêm tinh học sẽ nhận ra Sao Thổ gắn bó chặt chẽ đến mức nào với nguyên khí cung bảy của sự tổ chức. Nó cũng được liên kết với yếu tố ngưng tụ, một lần nữa có liên hệ với cung bảy huyền thuật. |
|
33. In some ways the Brahma aspect is associated with the number five (when considering a sevenfold system). |
33. Theo một số phương diện, phương diện Brahma được liên kết với con số năm (khi xét một hệ thống thất phân). |
|
34. When considering a ninefold or tenfold system (i.e., a more Kabbalistic system) Brahma can be related to the seven, Vishnu to the eight and Shiva to the nine. |
34. Khi xét một hệ thống cửu phân hay thập phân (tức một hệ thống mang tính Kabbalah hơn), Brahma có thể được liên hệ với số bảy, Vishnu với số tám và Shiva với số chín. |
|
The three synthesising planets: |
Ba hành tinh tổng hợp: |
|
1. Uranus. |
1. Sao Thiên Vương. |
|
2.. |
2.. |
|
3. Saturn. |
3. Sao Thổ. |
|
35. We realize that the planet Pluto is not included in the general enumeration. |
35. Chúng ta nhận ra rằng hành tinh Sao Diêm Vương không được bao gồm trong sự liệt kê tổng quát này. |
|
36. Despite its recent ‘demotion’ by exoteric science, we realize that the Tibetan considers Pluto a planet. |
36. Bất chấp việc bị khoa học ngoại môn gần đây “giáng cấp”, chúng ta nhận ra rằng Chân sư Tây Tạng xem Sao Diêm Vương là một hành tinh. |
|
37. It is significant to note that the synthesizing planets, though sacred planets, are separated in category from the other sacred planets. |
37. Điều đáng lưu ý là các hành tinh tổng hợp, dù là các hành tinh thiêng liêng, vẫn được tách thành một loại riêng biệt với các hành tinh thiêng liêng khác. |
|
38. The most significant factor in this enumeration is the listing of Saturn twice. We must associate this repetition with the mention of the “exoteric Saturn-scheme” suggesting that there is an esoteric Saturn-scheme (cf. TCF 777). |
38. Yếu tố có ý nghĩa nhất trong sự liệt kê này là việc Sao Thổ được nêu ra hai lần. Chúng ta phải liên kết sự lặp lại này với việc nhắc đến “hệ hành tinh Sao Thổ ngoại môn”, gợi ý rằng có một hệ hành tinh Sao Thổ nội môn (x. TCF 777). |
|
39. In Chart VI (TCF 373) we will note the Saturn-scheme found at the center of the six schemes. The diagram for that scheme is surrounded not by one circle (as is the case for the other schemes—including the Neptune and Uranus schemes) but by two circles. |
39. Trong Biểu đồ VI (TCF 373), chúng ta sẽ lưu ý hệ hành tinh Sao Thổ nằm ở trung tâm của sáu hệ hành tinh. Sơ đồ của hệ hành tinh ấy không được bao quanh bởi một vòng tròn (như trường hợp của các hệ hành tinh khác — kể cả các hệ hành tinh Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương) mà bởi hai vòng tròn. |
|
40. As well all seven schemes are surrounded by a large circle. |
40. Đồng thời, cả bảy hệ hành tinh đều được bao quanh bởi một vòng tròn lớn. |
|
41. In the two circles surrounding the diagram for the Saturn-scheme and in the large circle surrounding the seven schemes, could we be seeing a representation of the three rings of Saturn? |
41. Trong hai vòng tròn bao quanh sơ đồ của hệ hành tinh Sao Thổ và trong vòng tròn lớn bao quanh bảy hệ hành tinh, liệu chúng ta có thể đang thấy một biểu tượng của ba vành của Sao Thổ chăng? |
|
42. There are some who have attributed to the hypothetical planet Sigma the meaning of ‘exoteric Saturn’. Their conclusions are reasoned and their conclusions cannot be dismissed. |
42. Có một số người đã gán cho hành tinh giả định Sigma ý nghĩa là “Sao Thổ ngoại môn”. Kết luận của họ có cơ sở lý luận và không thể bị bác bỏ. |
|
43. Is it possible, however, that the esoteric Saturn-scheme could be composed of seven schemes, including that which is normally considered the Saturn-scheme? If so, then the esoteric Saturn-scheme would represent all the Brahmic schemes within out solar system. |
43. Tuy nhiên, liệu có thể chăng rằng hệ hành tinh Sao Thổ nội môn được cấu thành bởi bảy hệ hành tinh, bao gồm cả hệ hành tinh vốn thường được xem là hệ hành tinh Sao Thổ? Nếu vậy, thì hệ hành tinh Sao Thổ nội môn sẽ tượng trưng cho tất cả các hệ hành tinh Brahmic trong hệ mặt trời của chúng ta. |
|
44. Inquiry along this line would have to include discussion of the three great Existences, each of Whom express through three planetary schemes (cf. EP II 99). |
44. Sự khảo cứu theo hướng này sẽ phải bao gồm việc bàn đến ba Đại Tồn Tại, mỗi Đấng biểu lộ qua ba hệ hành tinh (x. EP II 99). |
|
45. In any case, from this perspective of this chart, Saturn is to be considered as the ‘Lord of many’ and yet one of the Three. It would seem that Saturn ‘lives’ in ‘two worlds’—the ‘material’ and the ‘heavenly’. |
45. Dù sao đi nữa, từ góc nhìn của biểu đồ này, Sao Thổ phải được xem là “Chúa Tể của nhiều cái” nhưng vẫn là một trong Bộ Ba. Có vẻ như Sao Thổ “sống” trong “hai thế giới” — “vật chất” và “thiên giới”. |
|
46. We note the order in which the three synthesizing planets are presented—Uranus first, Neptune second and Saturn third. |
46. Chúng ta lưu ý thứ tự mà ba hành tinh tổng hợp được trình bày — Sao Thiên Vương trước, Sao Hải Vương thứ hai và Sao Thổ thứ ba. |
|
47. In their deepest essence these planets are associated with the first, second and third rays, respectively (cf. EP I 420), and so their order, as presented here, is significant—perhaps of their monadic rays. |
47. Trong bản chất sâu xa nhất của chúng, các hành tinh này lần lượt được liên kết với cung một, cung hai và cung ba (x. EP I 420), và vì vậy thứ tự của chúng, như được trình bày ở đây, là điều có ý nghĩa — có lẽ là về các cung chân thần của chúng. |
|
The One Resolver. |
Đấng Phân Giải Duy Nhất. |
|
The SUN. |
MẶT TRỜI. |
|
48. The suggestion is that all within the ten planetary schemes (though only nine schemes appear to be listed here), resolve into the Sun. |
48. Gợi ý ở đây là mọi sự trong mười hệ hành tinh (dù dường như chỉ có chín hệ hành tinh được liệt kê ở đây) đều được phân giải vào Mặt Trời. |
|
49. In the process of obscuration followed by final absorption, it may reasonably be inferred that Sun draws all ‘schemic content’ into itself. |
49. Trong tiến trình lu mờ rồi tiếp theo là sự hấp thu cuối cùng, có thể suy ra một cách hợp lý rằng Mặt Trời thu hút mọi “nội dung hệ hành tinh” vào chính nó. |
|
50. The Sun is, in a way, the tenth factor here listed, and the number ten is numerologically, the number one. Hence “The One Resolver”. |
50. Theo một cách nào đó, Mặt Trời là yếu tố thứ mười được liệt kê ở đây, và về số học, con số mười là con số một. Do đó có “Đấng Phân Giải Duy Nhất”. |
|
I would caution you here against attaching any importance to the sequence followed in numbering these seven schemes, either in connection with their order of development or importance, or their position in relation to the central planet, the sun, or to each other. |
Tôi muốn cảnh báo em ở đây đừng gán bất kỳ tầm quan trọng nào cho trình tự được theo trong việc đánh số bảy hệ hành tinh này, dù là liên hệ với thứ tự phát triển hay tầm quan trọng của chúng, hay vị trí của chúng đối với hành tinh trung tâm là mặt trời, hoặc đối với nhau. |
|
51. The Tibetan cautions us against relating the sequence in which the planets are presented to the following four factors: |
51. Chân sư Tây Tạng cảnh báo chúng ta không nên liên hệ trình tự mà các hành tinh được trình bày với bốn yếu tố sau: |
|
a. Their order of development |
a. Thứ tự phát triển của chúng |
|
b. Their importance |
b. Tầm quan trọng của chúng |
|
c. Their position in relation to the Sun |
c. Vị trí của chúng đối với Mặt Trời |
|
d. Their position in relation to each other |
d. Vị trí của chúng đối với nhau |
|
52. If we think through these four factors, we can see: |
52. Nếu suy xét thấu đáo bốn yếu tố này, chúng ta có thể thấy: |
|
a. The planets are not presented in their order of development—obviously. Much depends upon what we mean by “development”. |
a. Các hành tinh không được trình bày theo thứ tự phát triển của chúng — điều này hiển nhiên. Nhiều điều tùy thuộc vào việc chúng ta muốn nói gì bởi “sự phát triển”. |
|
i. If by “development” the Tibetan means spiritual status, then the list is incorrect, because the Logos of Vulcan is not the Planetary Logos with the greatest spiritual status. |
i. Nếu bởi “sự phát triển” Chân sư Tây Tạng muốn nói đến địa vị tinh thần, thì danh sách này không đúng, vì Hành Tinh Thượng đế của Vulcan không phải là Đức Hành Tinh Thượng Đế có địa vị tinh thần cao nhất. |
|
ii. If by “development” the Tibetan means degree of unfoldment, then the list is also incorrect, because Vulcan is not the most unfolded planet (Venus is), and Earth is more unfolded than Mars. |
ii. Nếu bởi “sự phát triển” Chân sư Tây Tạng muốn nói đến mức độ khai mở, thì danh sách này cũng không đúng, vì Vulcan không phải là hành tinh khai mở nhất (Sao Kim mới là như vậy), và Trái Đất khai mở hơn Sao Hỏa. |
|
b. Vulcan (the first scheme presented) is not the most important planet nor is Saturn (the last scheme presented) the least; nor is Vulcan the least and Saturn the most. |
b. Vulcan (hệ hành tinh được trình bày đầu tiên) không phải là hành tinh quan trọng nhất, cũng như Sao Thổ (hệ hành tinh được trình bày cuối cùng) không phải là hành tinh ít quan trọng nhất; mà Vulcan cũng không phải là ít quan trọng nhất và Sao Thổ cũng không phải là quan trọng nhất. |
|
c. Those who know astronomy also realize that the planets are not listed correctly in relation to their distance from the Sun. |
c. Những ai biết thiên văn học cũng nhận ra rằng các hành tinh không được liệt kê đúng theo khoảng cách của chúng đối với Mặt Trời. |
|
d. The order of listing also does not disclose the relationship of the planets to each other. Many inter-planetary relationships exist, but the list itself does not disclose them. |
d. Thứ tự liệt kê cũng không tiết lộ mối liên hệ của các hành tinh với nhau. Có nhiều mối liên hệ liên-hành-tinh tồn tại, nhưng bản thân danh sách này không bộc lộ chúng. |
|
53. YET—there seems to be importance to be attributed to the order in which these planets are presented, NOT in relation to the four factors the Tibetan lists, but in relation to other factors, some of which have been discussed above. |
53. TUY NHIÊN — dường như có một tầm quan trọng cần được gán cho thứ tự mà các hành tinh này được trình bày, KHÔNG phải liên hệ với bốn yếu tố mà Chân sư Tây Tạng liệt kê, mà liên hệ với những yếu tố khác, một số trong đó đã được bàn đến ở trên. |
|
54. Of one thing we can be certain: the naming and numbering of the planetary schemes is not random, and there are good reasons for their numbering. What those reasons may be have to be discerned by careful thought and intuition. |
54. Có một điều chúng ta có thể chắc chắn: việc gọi tên và đánh số các hệ hành tinh không phải là ngẫu nhiên, và có những lý do xác đáng cho sự đánh số ấy. Những lý do đó là gì thì phải được phân biện tinh thần bằng tư duy cẩn trọng và trực giác. |
|
Only two are to be considered numerically accurate at this stage and in this round, i.e., our Earth, the fourth scheme, and Venus, the second. |
Chỉ có hai hệ được xem là chính xác về mặt số học ở giai đoạn này và trong cuộc tuần hoàn này, tức Trái Đất của chúng ta, hệ thứ tư, và Sao Kim, hệ thứ hai. |
|
55. The Tibetan is suggesting that there would be a way to list the schemes with numerical accuracy. |
55. Chân sư Tây Tạng đang gợi ý rằng sẽ có một cách liệt kê các hệ hành tinh với độ chính xác về số học. |
|
56. We also see that the ordering would change according to different stages of development (probably the development of the Solar Logos functioning through His solar system) and also according to the development of the Earth-scheme. |
56. Chúng ta cũng thấy rằng thứ tự ấy sẽ thay đổi tùy theo các giai đoạn phát triển khác nhau (có lẽ là sự phát triển của Thái dương Thượng đế đang hoạt động qua hệ mặt trời của Ngài) và cũng tùy theo sự phát triển của hệ hành tinh Trái Đất. |
|
57. The only rounds about which we are told something qualitatively are those associated with the Earth-chain (and to an extent the Earth-scheme). It seems to be suggested that when our scheme or chain enters more advanced developmental phases, the position or number of the Earth-scheme in the list could change. |
57. Những cuộc tuần hoàn duy nhất mà chúng ta được cho biết điều gì đó về mặt phẩm tính là những cuộc tuần hoàn gắn với Dãy Địa Cầu (và ở một mức độ nào đó là hệ hành tinh Trái Đất). Dường như có gợi ý rằng khi hệ hành tinh hay dãy của chúng ta bước vào các pha phát triển tiến bộ hơn, vị trí hay số thứ tự của hệ hành tinh Trái Đất trong danh sách có thể thay đổi. |
|
58. This is probably true of other schemes as well. Any numerically accurate listing might depend upon the general developmental progress of the various schemes relative to each other. This idea suggests that their function relative to each other depends upon the developmental phase through which they are passing. |
58. Điều này có lẽ cũng đúng với các hệ hành tinh khác. Bất kỳ sự liệt kê nào chính xác về mặt số học có thể đều tùy thuộc vào tiến bộ phát triển tổng quát của các hệ hành tinh khác nhau trong tương quan với nhau. Ý tưởng này gợi rằng chức năng của chúng trong tương quan với nhau tùy thuộc vào pha phát triển mà chúng đang trải qua. |
|
59. Venus, for instance, is in the second place and, thus, associated with the second ray (and, thus, by numerical resonance, with the heart center of the Solar Logos). This may not always be the case, however. |
59. Chẳng hạn, Sao Kim ở vị trí thứ hai và do đó được liên kết với cung hai (và do đó, bằng cộng hưởng số học, với trung tâm tim của Thái dương Thượng đế). Tuy nhiên, điều này có thể không phải lúc nào cũng như vậy. |
|
60. Function can change with phase. For every phase of solar systemic development, the list of schemes may be rearranged. |
60. Chức năng có thể thay đổi theo pha. Đối với mỗi pha phát triển của hệ mặt trời, danh sách các hệ hành tinh có thể được sắp xếp lại. |
|
61. While there may be reasons for the present placement of the schemes, those reasons are not the same as the factor of ‘numerical accuracy’ to which the Tibetan refers. |
61. Dù có thể có những lý do cho vị trí hiện tại của các hệ hành tinh, những lý do ấy không giống với yếu tố “độ chính xác về số học” mà Chân sư Tây Tạng đề cập. |
|
62. We are only half way through solar systemic development and through development within our planetary scheme (cf. TCF 384). We can imagine that at the end of solar systemic development, the order of planetary schemes will be quite different from what it is now. |
62. Chúng ta mới chỉ đi được nửa chặng đường trong sự phát triển của hệ mặt trời và trong sự phát triển bên trong hệ hành tinh của chúng ta (x. TCF 384). Chúng ta có thể hình dung rằng vào cuối sự phát triển của hệ mặt trời, thứ tự các hệ hành tinh sẽ rất khác so với hiện nay. |
|
Venus is either the second or the sixth scheme, according to whether the schemes are counted mystically or occultly. |
Sao Kim hoặc là hệ thứ hai hoặc là hệ thứ sáu, tùy theo các hệ hành tinh được đếm theo lối thần bí hay huyền bí học. |
|
63. This is a most important piece of information about the Venus-scheme. |
63. Đây là một mẩu thông tin hết sức quan trọng về hệ hành tinh Sao Kim. |
|
64. How to count “mystically”? How to count “occultly”? We may presume that the occult way of counting is more profound as the stage of mysticism precedes that of occultism. From another perspective, occult methods correlate with the hard line rays (and thus with form), and mystical methods correlated with formlessness. |
64. Đếm “theo lối thần bí” như thế nào? Đếm “theo lối huyền bí học” như thế nào? Chúng ta có thể giả định rằng cách đếm huyền bí học sâu sắc hơn, vì giai đoạn thần bí học đi trước giai đoạn huyền bí học. Từ một góc nhìn khác, các phương pháp huyền bí học tương ứng với các cung theo đường lối cứng rắn (và do đó với hình tướng), còn các phương pháp thần bí tương ứng với tính vô tướng. |
|
65. We may presume that Vulcan will be the starting point for such counting. If we move clockwise we find the Venus-scheme to be the sixth scheme. If we move counterclockwise it becomes the second. |
65. Chúng ta có thể giả định rằng Vulcan sẽ là điểm khởi đầu cho cách đếm như vậy. Nếu đi theo chiều kim đồng hồ, chúng ta thấy hệ hành tinh Sao Kim là hệ thứ sáu. Nếu đi ngược chiều kim đồng hồ, nó trở thành hệ thứ hai. |
|
66. In the study of esoteric astrology we learn that clockwise progression is associated with the development of personality and counterclockwise progression with the development of soul. |
66. Trong việc nghiên cứu Chiêm Tinh Học Nội Môn, chúng ta học rằng sự tiến triển theo chiều kim đồng hồ được liên kết với sự phát triển của phàm ngã, còn sự tiến triển ngược chiều kim đồng hồ được liên kết với sự phát triển của linh hồn. |
|
67. Is it accurate to associate mystical development with clockwise progression? The mystical phase of development does precede the occult phase just as the personality phase of development precedes that of soul unfoldment. |
67. Liệu có chính xác không khi liên kết sự phát triển thần bí với sự tiến triển theo chiều kim đồng hồ? Giai đoạn thần bí của sự phát triển quả thực đi trước giai đoạn huyền bí học, cũng như giai đoạn phát triển của phàm ngã đi trước giai đoạn khai mở linh hồn. |
|
68. If we follow this hypothesis, then the occult method of progression will be counterclockwise. |
68. Nếu theo giả thuyết này, thì phương pháp tiến triển huyền bí học sẽ là ngược chiều kim đồng hồ. |
|
69. The sixth ray is particularly the ‘Ray of Mysticism’. |
69. Cung sáu đặc biệt là “Cung của Thần Bí Học”. |
|
“b. The sixth ray produced the mystic as its culminating type of aspirant.” (EP I 359) |
“b. Cung sáu đã tạo ra nhà thần bí như kiểu người chí nguyện cao điểm của nó.” (EP I 359) |
|
70. Interestingly, the monadic ray of Venus is the sixth (cf. TCF 595). However, the major monadic ray of any entity cannot be one of the rays of attribute. The major monadic ray must be a ray of aspect, and given the nature of Venus, the most likely ray of aspect will be the second Ray of Love-Wisdom. |
70. Điều thú vị là cung chân thần của Sao Kim là cung sáu (x. TCF 595). Tuy nhiên, cung chân thần chính của bất kỳ thực thể nào cũng không thể là một trong các Cung Thuộc Tính. Cung chân thần chính phải là một Cung Trạng Thái, và xét theo bản chất của Sao Kim, Cung Trạng Thái có khả năng nhất sẽ là cung hai Bác Ái – Minh Triết. |
|
71. We would thus find that by proceeding clockwise (and thus, according to this hypothesis, mystically) Venus would become the sixth scheme and this number six would be correlated with its minor monadic ray. |
71. Như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng bằng cách tiến theo chiều kim đồng hồ (và do đó, theo giả thuyết này, theo lối thần bí), Sao Kim sẽ trở thành hệ thứ sáu và con số sáu này sẽ tương ứng với cung chân thần phụ của nó. |
|
72. However, were we to proceed counterclockwise (and, thus, according to this hypothesis, occultly) then Venus would be numbered as the second scheme, and this numbering would correlate with its major monadic ray (hypothetically, the second), as well as with its hypothesized personality ray. |
72. Tuy nhiên, nếu chúng ta tiến ngược chiều kim đồng hồ (và do đó, theo giả thuyết này, theo lối huyền bí học) thì Sao Kim sẽ được đánh số là hệ thứ hai, và cách đánh số này sẽ tương ứng với cung chân thần chính của nó (theo giả thuyết là cung hai), cũng như với cung phàm ngã được giả định của nó. |
|
73. We are not told how to count “mystically” or “occultly”, but the direction in which the counting proceeds would seem to be significant, and we are told something about the significance of clockwise and counterclockwise directions. |
73. Chúng ta không được cho biết phải đếm “theo lối thần bí” hay “theo lối huyền bí học” như thế nào, nhưng hướng mà sự đếm tiến hành dường như là điều có ý nghĩa, và chúng ta được cho biết đôi điều về ý nghĩa của các hướng theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ. |
|
74. Counterclockwise progression preserves the natural order of the zodiacal signs and also the system of numbering used when enumerating schemes and the constituents of schemes and chains. |
74. Sự tiến triển ngược chiều kim đồng hồ bảo tồn trật tự tự nhiên của các dấu hiệu hoàng đạo và cả hệ thống đánh số được dùng khi liệt kê các hệ hành tinh cùng các thành phần của các hệ hành tinh và các dãy. |
|
Inversely, Jupiter will be either the second or the sixth, |
Ngược lại, Sao Mộc sẽ hoặc là thứ hai hoặc là thứ sáu, |
|
75. Jupiter and Venus are two planets closely related in some respects, and inimical in others (at least in Hindu Mythology). |
75. Sao Mộc và Sao Kim là hai hành tinh có liên hệ chặt chẽ với nhau ở một số phương diện, và đối nghịch nhau ở những phương diện khác (ít nhất là trong Thần thoại Ấn Độ). |
|
76. It is not a foregone conclusion that because the Venus or Jupiter schemes are to be numbered as the second or sixth that the rays of these planets would be the second or sixth, but in the case of Venus, it is almost certainly so, and in the case of Jupiter, the second ray is given as its most prominent ray. |
76. Không phải là một kết luận tất yếu rằng vì các hệ hành tinh Sao Kim hay Sao Mộc được đánh số là thứ hai hay thứ sáu thì các cung của các hành tinh này cũng sẽ là cung hai hay cung sáu; nhưng trong trường hợp của Sao Kim thì điều đó gần như chắc chắn là đúng, và trong trường hợp của Sao Mộc, cung hai được nêu là cung nổi trội nhất của nó. |
|
77. The second ray nature of Jupiter is obvious at this stage of solar systemic development, though when non-esoteric astrologers think about Venus, they will often think of it in terms of second ray qualities. |
77. Bản chất cung hai của Sao Mộc là điều hiển nhiên ở giai đoạn này của sự phát triển hệ mặt trời, mặc dù khi các nhà chiêm tinh học không nội môn nghĩ về Sao Kim, họ thường nghĩ về nó theo các phẩm tính cung hai. |
|
78. The soul ray of Jupiter is the second; the soul ray of Venus is the fifth (and thus on the manasic rather than on the love-wisdom line). |
78. Cung linh hồn của Sao Mộc là cung hai; cung linh hồn của Sao Kim là cung năm (và do đó thuộc tuyến manas hơn là tuyến bác ái-minh triết). |
|
79. Is mysticism related to the soul? Is occultism related to the Monad? There is reason to believe this to be the case. |
79. Thần bí học có liên hệ với linh hồn chăng? Huyền bí học có liên hệ với chân thần chăng? Có lý do để tin rằng đúng là như vậy. |
|
80. Mysticism is a reaching out towards the soul. In the occult method of reaching out towards the soul there eventuates identification as the soul, suggesting the identificatory nature of the Monad behind the entire process. |
80. Thần bí học là một sự vươn tới linh hồn. Trong phương pháp huyền bí học của việc vươn tới linh hồn, sẽ xảy ra sự đồng hoá như linh hồn, gợi ý bản chất đồng nhất hóa của chân thần đứng sau toàn bộ tiến trình. |
|
81. While the soul ray of Jupiter is the second, thus correlating Jupiter’s number and position on Chart VI with the mystical way of counting (if our hypothesis is correct), its monadic ray may be the seventh becoming the first. (This, of course, remains to be verified.) If the occult method of counting is counterclockwise, the Jupiter position would be the sixth. There is probably no way we can associate the higher nature of Jupiter with the sixth ray, but there are other methods of associating Jupiter with the sixth ray. |
81. Trong khi cung linh hồn của Sao Mộc là cung hai, do đó tương ứng số và vị trí của Sao Mộc trên Biểu đồ VI với cách đếm thần bí (nếu giả thuyết của chúng ta là đúng), thì cung chân thần của nó có thể là cung bảy trở thành cung một. (Dĩ nhiên, điều này vẫn còn phải được kiểm chứng.) Nếu phương pháp đếm huyền bí học là ngược chiều kim đồng hồ, thì vị trí của Sao Mộc sẽ là thứ sáu. Có lẽ không có cách nào để chúng ta liên kết bản chất cao hơn của Sao Mộc với cung sáu, nhưng vẫn có những phương pháp khác để liên kết Sao Mộc với cung sáu. |
|
82. It may be, however, that we cannot associate clockwise and counterclockwise progression with what the Tibetan means by mystical and occult methods of counting. This caveat must be kept in mind. |
82. Tuy nhiên, có thể là chúng ta không thể liên kết sự tiến triển theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ với điều mà Chân sư Tây Tạng muốn nói bởi các phương pháp đếm thần bí và huyền bí học. Sự dè dặt này phải được ghi nhớ. |
|
83. Here is a factor to consider and it offers a different perspective. There is good reason to believe that when our solar system is further progressed it will be easy to identify Jupiter as the solar logoic heart center and Venus as the solar plexus center. |
83. Đây là một yếu tố cần xem xét và nó đưa ra một góc nhìn khác. Có lý do xác đáng để tin rằng khi hệ mặt trời của chúng ta tiến bộ hơn nữa, sẽ dễ dàng nhận ra Sao Mộc là trung tâm tim của Thái dương Thượng đế và Sao Kim là trung tâm tùng thái dương. |
|
84. If this is true, at a moderately high stage of solar logoic unfoldment, the number two will correlate with Jupiter and the number six with Venus. Presently, however, Venus is much associated with love, attraction and, in general, with qualities to be associated with the second ray. Jupiter, as the planet of ‘enthusiastic expansion’ is presently much associated with the sixth (though its second ray qualities, even presently, cannot be ignored). |
84. Nếu điều này là đúng, thì ở một giai đoạn khai mở tương đối cao của Thái dương Thượng đế, con số hai sẽ tương ứng với Sao Mộc và con số sáu với Sao Kim. Tuy nhiên, hiện nay Sao Kim được liên kết rất nhiều với tình thương, sự hấp dẫn và nói chung với các phẩm tính được gắn với cung hai. Sao Mộc, với tư cách là hành tinh của “sự mở rộng đầy nhiệt thành”, hiện nay được liên kết rất nhiều với cung sáu (mặc dù các phẩm tính cung hai của nó, ngay cả hiện nay, cũng không thể bị bỏ qua). |
|
85. If the occultism represents a higher stage of realization than mysticism, then occultly Venus would be in the sixth place and Jupiter in the second. Mystically (and thus from the perspective of a lower turn of the spiral) the reverse would be the case—Venus in the second place and Jupiter, per force, in the sixth. |
85. Nếu huyền bí học tượng trưng cho một giai đoạn chứng nghiệm cao hơn so với thần bí học, thì theo lối huyền bí học Sao Kim sẽ ở vị trí thứ sáu và Sao Mộc ở vị trí thứ hai. Theo lối thần bí (và do đó từ góc nhìn của một vòng xoắn thấp hơn), điều ngược lại sẽ là đúng — Sao Kim ở vị trí thứ hai và Sao Mộc, tất yếu, ở vị trí thứ sáu. |
|
86. In such a pattern, the clockwise method of counting would represent occultism and the counterclockwise method, mysticism. |
86. Trong một mô hình như vậy, phương pháp đếm theo chiều kim đồng hồ sẽ tượng trưng cho huyền bí học và phương pháp ngược chiều kim đồng hồ tượng trưng cho thần bí học. |
|
87. What is important to realize, is that the spiritual status of Jupiter is greater and higher than that of Venus (even though Venus is more unfolded). From the perspective of spiritual status, Jupiter should definitely be in the second position and Venus in the sixth. This may cause some reversal of our ideas, but the place of Jupiter as a great heart center (cf. EA 517 for the microcosmic analogy) cannot be ignored (this despite the fact that Venus is presently mentioned in relation to the solar logoic heart center—cf. TCF 182) |
87. Điều quan trọng cần chứng nghiệm là địa vị tinh thần của Sao Mộc lớn hơn và cao hơn địa vị tinh thần của Sao Kim (dù Sao Kim khai mở hơn). Từ góc nhìn của địa vị tinh thần, Sao Mộc chắc chắn phải ở vị trí thứ hai và Sao Kim ở vị trí thứ sáu. Điều này có thể khiến một số ý tưởng của chúng ta bị đảo ngược, nhưng vị trí của Sao Mộc như một trung tâm tim vĩ đại (x. EA 517 về phép loại suy tiểu thiên địa) không thể bị bỏ qua (dù thực tế là Sao Kim hiện nay được nhắc đến trong liên hệ với trung tâm tim của Thái dương Thượng đế — x. TCF 182) |
|
88. The matter is not easy to solve. The given order of the planetary schemes is not from lesser to greater, even though Jupiter and Saturn are the greatest of the seven (i.e., the planets with the highest spiritual status). Nor is the given order from greater to lesser. |
88. Vấn đề này không dễ giải quyết. Thứ tự đã cho của các hệ hành tinh không phải từ thấp đến cao, dù Sao Mộc và Sao Thổ là lớn nhất trong bảy hành tinh (tức các hành tinh có địa vị tinh thần cao nhất). Thứ tự đã cho cũng không phải từ cao đến thấp. |
|
89. We should simply keep as a touchstone the thought that the spiritual status of Jupiter is higher than that of Venus. |
89. Chúng ta chỉ nên giữ như một chuẩn mực tư tưởng rằng địa vị tinh thần của Sao Mộc cao hơn địa vị của Sao Kim. |
|
and it must be remembered that: |
và phải nhớ rằng: |
|
[Page 370] |
|
|
a. The planets Venus and Jupiter are exceedingly closely connected with the Earth, and form eventually an esoteric triangle. |
a. Các hành tinh Sao Kim và Sao Mộc có liên hệ cực kỳ chặt chẽ với Trái Đất, và cuối cùng tạo thành một tam giác nội môn. |
|
90. This triangle is closely related to the coming to Earth of the Solar Angels. Venus and Jupiter are the two planets most closely associated with the causal body which was formed (in our chain at least) by means of the intervention of the Solar Angels. |
90. Tam giác này có liên hệ chặt chẽ với việc các Thái dương Thiên Thần đến Trái Đất. Sao Kim và Sao Mộc là hai hành tinh gắn bó chặt chẽ nhất với thể nguyên nhân, vốn đã được hình thành (ít nhất trong dãy của chúng ta) nhờ sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần. |
|
91. The fact that the three form an esoteric triangle alerts us to the probability that the personality aspects of the three planets are not involved. |
91. Sự kiện cả ba tạo thành một tam giác nội môn báo cho chúng ta biết khả năng là các phương diện phàm ngã của ba hành tinh này không can dự vào. |
|
92. Further, the influence of these three will be more subjective or esoteric than outwardly evident. |
92. Hơn nữa, ảnh hưởng của bộ ba này sẽ mang tính chủ quan hay nội môn hơn là biểu lộ rõ rệt ra bên ngoài. |
|
93. The esoteric aspects of planets (or human beings) are their soul and monadic aspects. |
93. Các phương diện nội môn của các hành tinh (hay của con người) là các phương diện linh hồn và chân thần của chúng. |
|
94. The soul rays of Jupiter and the Earth are probably the same (the second ray). We come to this conclusion if we believe that when DK gives the ray of a sacred planet, He is giving its soul ray. He always discusses Jupiter as a second ray planet and so, by this hypothesis, we would consider that Jupiter is possessed of a second ray soul. As for the second ray soul of Earth, it is simply given (cf. EA 619). |
94. Các cung linh hồn của Sao Mộc và Trái Đất có lẽ là giống nhau (cung hai). Chúng ta đi đến kết luận này nếu tin rằng khi Chân sư DK nêu cung của một hành tinh thiêng liêng, thì Ngài đang nêu cung linh hồn của nó. Ngài luôn bàn đến Sao Mộc như một hành tinh cung hai, và vì vậy, theo giả thuyết này, chúng ta sẽ xem Sao Mộc sở hữu một linh hồn cung hai. Còn về linh hồn cung hai của Trái Đất, điều đó đơn giản đã được nêu ra (x. EA 619). |
|
ARIES is the constellation through which initiating conditions will stream into our solar system. It embodies the will-to-create that which will express the will-to-good. It is the monadic ray of our planetary Logos, Whose Soul ray is the second and the personality ray the third. You can note here, therefore, how the transmitting ray of our planetary Logos is the first; and hence the place which the will plays in our human evolutionary process; His transforming ray is the second and that eventually brings transfiguration through the medium of the third… (EA 619) |
BẠCH DƯƠNG là chòm sao qua đó các điều kiện điểm đạo sẽ tuôn vào hệ mặt trời của chúng ta. Nó hiện thân cho Ý Chí-hướng Sáng Tạo cái sẽ biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện. Đó là cung chân thần của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, Đấng có cung linh hồn là cung hai và cung phàm ngã là cung ba. Vì vậy, ở đây bạn có thể lưu ý cung truyền dẫn của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta là cung một; và do đó là vị trí mà ý chí giữ trong tiến trình tiến hoá nhân loại của chúng ta; cung chuyển đổi của Ngài là cung hai và điều đó cuối cùng mang lại sự Biến hình thông qua trung gian của cung ba… (EA 619) |
|
95. As for Venus, there is much second ray associated with it (not only through its personality nature—very likely the second ray), but through its hypothesized major monadic ray. |
95. Còn đối với Sao Kim, có rất nhiều cung hai gắn với nó (không chỉ qua bản chất phàm ngã của nó — rất có thể là cung hai), mà còn qua cung chân thần chính được giả định của nó. |
|
96. Thus, we would see the esoteric connection between these three, based largely upon the second ray. |
96. Như vậy, chúng ta sẽ thấy mối liên hệ nội môn giữa ba hành tinh này, phần lớn dựa trên cung hai. |
|
97. It would seem that the result of their association (from the Earth’s perspective) would be the evocation of the soul ray of our Planetary Logos—the second ray. |
97. Dường như kết quả của sự liên kết của chúng (từ góc nhìn của Trái Đất) sẽ là sự gợi lên cung linh hồn của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta — cung hai. |
|
98. When examining this triangle, the Earth would represent the third aspect, Venus the second and Jupiter (“King of the Gods”) the first. |
98. Khi khảo sát tam giác này, Trái Đất sẽ tượng trưng cho phương diện thứ ba, Sao Kim cho phương diện thứ hai và Sao Mộc (“Vua của các Thượng đế”) cho phương diện thứ nhất. |
|
99. We must note that this triangle is not yet fully functioning. We are told that only “eventually” will these three planets form an esoteric triangle. The link between Venus and the Earth is, however, definite and operative. We do not know enough to speak of the link between Jupiter and Venus. We can imagine that as the second ray soul of the Planetary Logos of the Earth emerges into prominence, it will indicate that Jupiter (with its second ray soul) has become more closely related to the Earth. |
99. Chúng ta phải lưu ý rằng tam giác này chưa vận hành đầy đủ. Chúng ta được cho biết rằng chỉ “cuối cùng” ba hành tinh này mới tạo thành một tam giác nội môn. Tuy nhiên, mối liên kết giữa Sao Kim và Trái Đất là xác định và đang hoạt động. Chúng ta không biết đủ để nói về mối liên kết giữa Sao Mộc và Sao Kim. Chúng ta có thể hình dung rằng khi linh hồn cung hai của Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất nổi lên thành nổi bật, điều đó sẽ cho thấy Sao Mộc (với linh hồn cung hai của nó) đã trở nên liên hệ chặt chẽ hơn với Trái Đất. |
|
b. Saturn is the synthesising scheme for the four planets which embody manas purely and simply, or is the major resolution of the minor four, and eventually for all the seven. |
b. Sao Thổ là hệ hành tinh tổng hợp cho bốn hành tinh hiện thân cho manas một cách thuần túy và đơn giản, hay là sự phân giải chính của bốn hành tinh phụ, và cuối cùng là của cả bảy. |
|
100. When we read this, we think (microcosmically) of the four head centers and then of the seven (cf. points 4 and 5, TCF 170). |
100. Khi đọc điều này, chúng ta nghĩ (theo tiểu thiên địa) đến bốn trung tâm đầu và rồi đến bảy trung tâm (x. các điểm 4 và 5, TCF 170). |
|
101. In Chart VI, “all the seven” are represented within the largest circle contained within the even larger oval. The large circle includes Vulcan, Venus, Mars, Earth, Mercury, Jupiter and (shall we say?) “exoteric” Saturn. |
101. Trong Biểu đồ VI, “cả bảy” được biểu thị bên trong vòng tròn lớn nhất nằm trong hình bầu dục còn lớn hơn nữa. Vòng tròn lớn bao gồm Vulcan, Sao Kim, Sao Hỏa, Trái Đất, Sao Thủy, Sao Mộc và (chúng ta có thể nói chăng?) Sao Thổ “ngoại môn”. |
|
102. When one looks at the seven, which of them are the four which “embody manas purely and simply” and are, thus, the “minor four”? |
102. Khi nhìn vào bảy hành tinh này, hành tinh nào trong số đó là bốn hành tinh “hiện thân cho manas một cách thuần túy và đơn giản” và do đó là “bốn hành tinh phụ”? |
|
103. We will offer two hypotheses. Below is the first and the second will be offered as we proceed in the text. |
103. Chúng tôi sẽ đưa ra hai giả thuyết. Dưới đây là giả thuyết thứ nhất và giả thuyết thứ hai sẽ được đưa ra khi chúng ta tiếp tục trong bản văn. |
|
104. We would have to include the two non-sacred planets here listed—Earth and Mars. Pluto is also a non-sacred planets and could be considered as one that embodies “manas purely and simply”, but it is not listed here and therefore its inclusion is probably unwarranted. |
104. Chúng ta sẽ phải bao gồm ở đây hai hành tinh không thiêng liêng được liệt kê — Trái Đất và Sao Hỏa. Sao Diêm Vương cũng là một hành tinh không thiêng liêng và có thể được xem là một hành tinh hiện thân cho “manas một cách thuần túy và đơn giản”, nhưng nó không được liệt kê ở đây và vì vậy việc bao gồm nó có lẽ là không có cơ sở. |
|
105. We might not be able to include Jupiter, as its spiritual status is too high, if we use spiritual status as a major criterion for inclusion. |
105. Chúng ta có thể không thể bao gồm Sao Mộc, vì địa vị tinh thần của nó quá cao, nếu chúng ta dùng địa vị tinh thần như một tiêu chuẩn chính để bao gồm. |
|
106. Mercury is highly manasic and should probably be included, but certainly has its major buddhic associations. |
106. Sao Thủy có tính manas rất cao và có lẽ nên được bao gồm, nhưng chắc chắn nó cũng có những liên hệ Bồ đề chủ yếu. |
|
107. We are left with a choice between Venus and Vulcan. We know much about the advanced manasic nature of Venus but it is hardly a planet which embodies manas purely and simply, but then, neither does Vulcan. |
107. Chúng ta còn lại một sự lựa chọn giữa Sao Kim và Vulcan. Chúng ta biết nhiều về bản chất manas tiến bộ của Sao Kim, nhưng đó khó có thể là một hành tinh hiện thân cho manas một cách thuần túy và đơn giản; nhưng rồi Vulcan cũng vậy. |
|
108. Although Venus is more unfolded than Vulcan, it does not mean that the spiritual status of Venus is higher than Vulcan. In fact, Vulcan, so closely associated with the Sun, may be thought of a planet with greater spiritual status than Venus (even though that status is not yet fully manifesting). |
108. Dù Sao Kim khai mở hơn Vulcan, điều đó không có nghĩa là địa vị tinh thần của Sao Kim cao hơn Vulcan. Thật ra, Vulcan, vốn gắn bó rất chặt với Mặt Trời, có thể được xem là một hành tinh có địa vị tinh thần cao hơn Sao Kim (dù địa vị ấy chưa biểu lộ đầy đủ). |
|
109. An external example indicating that Vulcan may have a higher spiritual status than Venus is the following: while Venus rules the ajna center in human beings, Vulcan is often associated with the crown center (cf. EA 517) or, inferentially, with the seven master head centers. We see in this the greater ‘spiritual authority’ of Vulcan. |
109. Một ví dụ bên ngoài cho thấy Vulcan có thể có địa vị tinh thần cao hơn Sao Kim là như sau: trong khi Sao Kim cai quản trung tâm ajna nơi con người, Vulcan thường được liên kết với trung tâm đỉnh đầu (x. EA 517) hoặc, theo suy luận, với bảy trung tâm đầu chủ yếu. Chúng ta thấy trong điều này “thẩm quyền tinh thần” lớn hơn của Vulcan. |
|
110. So perhaps (within the context of Chart VI and, thus, excluding Pluto) the planets which embody manas purely and simply are Mars, Earth, Venus and Mercury (given in hypothesized order of their spiritual status, from lower to higher). |
110. Vậy có lẽ (trong bối cảnh của Biểu đồ VI và do đó loại trừ Sao Diêm Vương), các hành tinh hiện thân cho manas một cách thuần túy và đơn giản là Sao Hỏa, Trái Đất, Sao Kim và Sao Thủy (được nêu theo thứ tự giả định về địa vị tinh thần của chúng, từ thấp đến cao). |
|
111. Eventually, Vulcan and Jupiter would be included as well as the ‘central Saturn-scheme’ or what we might call the ‘exoteric Saturn’. |
111. Cuối cùng, Vulcan và Sao Mộc cũng sẽ được bao gồm, cũng như “hệ hành tinh Sao Thổ trung tâm” hay điều mà chúng ta có thể gọi là “Sao Thổ ngoại môn”. |
|
112. Saturn may be the resolution for “all the seven”, but what is the resolution for Saturn? This resolution, we must remember, occurs on planes subtler than the physical. |
112. Sao Thổ có thể là sự phân giải cho “cả bảy”, nhưng điều gì là sự phân giải cho Sao Thổ? Chúng ta phải nhớ rằng sự phân giải này xảy ra trên những cõi vi tế hơn cõi hồng trần. |
|
113. We may judge that Uranus or Neptune would be the resolution for Saturn. We could assume that Uranus would be the final planetary resolver, but as this is a second ray solar system, we should not eliminate the possibility that Neptune could be (even though, according to HPB, it does not “belong” to our solar system—a mystery). |
113. Chúng ta có thể phán đoán rằng Sao Thiên Vương hay Sao Hải Vương sẽ là sự phân giải cho Sao Thổ. Chúng ta có thể giả định rằng Sao Thiên Vương sẽ là đấng phân giải hành tinh cuối cùng, nhưng vì đây là một hệ mặt trời cung hai, chúng ta không nên loại trừ khả năng Sao Hải Vương có thể là như vậy (dù theo HPB, nó không “thuộc về” hệ mặt trời của chúng ta — một điều huyền nhiệm). |
|
c. Mercury, the star of the intuition, or of transmuted manas, is, at this stage, considered as the fifth scheme. |
c. Sao Thủy, ngôi sao của trực giác, hay của manas đã được chuyển hoá, được, ở giai đoạn này, xem là hệ thứ năm. |
|
114. Here are some important names for Mercury: |
114. Đây là một số danh xưng quan trọng của Sao Thủy: |
|
a. The “star of the intuition” |
a. “ngôi sao của trực giác” |
|
b. The ‘star of transmuted manas’. |
b. “ngôi sao của manas đã được chuyển hoá”. |
|
115. We can judge that the intuition is “transmuted manas”. |
115. Chúng ta có thể phán đoán rằng trực giác là “manas đã được chuyển hoá”. |
|
116. Elsewhere (TCF 287) we learn that the intuition is the “transcendental mind”. Thus, “transmuted manas” is the “transcendental mind”. |
116. Ở nơi khác (TCF 287), chúng ta học rằng trực giác là “Trí Tuệ Siêu Việt”. Như vậy, “manas đã được chuyển hoá” là “Trí Tuệ Siêu Việt”. |
|
117. We are learning that not only is Venus a planet of transmutation but so is Mercury. |
117. Chúng ta đang học rằng không chỉ Sao Kim là một hành tinh của sự chuyển hoá mà Sao Thủy cũng vậy. |
|
118. Again, watch the phrase “at this time”, indicating again that ‘function correlates with phase’. Perhaps one day, Mercury with its hypothesized major monadic ray as the third will be the third scheme. |
118. Một lần nữa, hãy chú ý cụm từ “ở thời điểm này”, lại cho thấy rằng “chức năng tương ứng với pha”. Có lẽ một ngày nào đó, Sao Thủy với cung chân thần chính được giả định là cung ba sẽ là hệ thứ ba. |
|
119. We are also learning that transmutation is not a process related merely to the physical-etheric plane even though transmutation is a process ‘lower’ than either transformation or transfiguration. |
119. Chúng ta cũng đang học rằng sự chuyển hoá không phải là một tiến trình chỉ liên hệ với cõi hồng trần-dĩ thái, dù sự chuyển hoá là một tiến trình “thấp” hơn cả chuyển đổi lẫn Biến hình. |
|
120. From the solar logoic perspective, however, transmutation applies very much to the lower twenty one sub-planes, release from which takes us into transcendental realms, the realms of the spiritual triad where Mercury (under the tutelage of Jupiter and Neptune) demonstrates a super-manasic function. |
120. Tuy nhiên, từ góc nhìn của Thái dương Thượng đế, sự chuyển hoá áp dụng rất nhiều cho hai mươi mốt cõi phụ thấp, sự giải thoát khỏi đó đưa chúng ta vào các lĩnh vực siêu việt, các lĩnh vực của Tam Nguyên Tinh Thần, nơi Sao Thủy (dưới sự hướng dẫn của Sao Mộc và Sao Hải Vương) biểu lộ một chức năng siêu-manas. |
|
121. Perhaps the eventual goal of Mercury is the third sub-plane of the cosmic physical plane, the plane of atma—not only the plane of spiritual will but, from another perspective, the plane of universal mind. In this respect, Mercury has much to learn from Saturn, a planet which, we may infer, shares the same major monadic ray. |
121. Có lẽ mục tiêu rốt ráo của Sao Thủy là cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ, cõi atma—không chỉ là cõi của ý chí tinh thần mà, từ một góc nhìn khác, còn là cõi của trí tuệ vũ trụ. Về phương diện này, Sao Thủy có nhiều điều phải học từ Sao Thổ, một hành tinh mà, như ta có thể suy ra, cùng chia sẻ một cung chân thần chính. |
|
122. We might pause here to examine the significance of a clockwise numbering of the schemes which would begin rather than end with the central Saturn-scheme. We can view this numbering largely from a chakric perspective: |
122. Ở đây, chúng ta có thể dừng lại để khảo sát thâm nghĩa của một cách đánh số theo chiều kim đồng hồ cho các hệ hành tinh, trong đó hệ Sao Thổ trung tâm sẽ là điểm khởi đầu thay vì điểm kết thúc. Chúng ta có thể nhìn cách đánh số này phần lớn từ góc độ luân xa: |
|
a. The central Saturn-scheme (taken first) can correlate with the head center in that Saturn is the “head” of the Brahmic planets. It is also a powerful representative of Shamballa (cf. EA 442) The head center is a first ray center and Saturn has a prominent first ray. |
a. Hệ Sao Thổ trung tâm (được lấy đầu tiên) có thể tương ứng với trung tâm đầu, vì Sao Thổ là “đầu” của các hành tinh Brahma. Nó cũng là một đại diện mạnh mẽ của Shamballa (x. EA 442). Trung tâm đầu là một trung tâm cung một và Sao Thổ có cung một nổi bật. |
|
b. The Jupiter-scheme (taken second) can correlate with the ajna center which is the center of vision, just as Jupiter is one of the major planets of vision. The ajna is (a high point of evolution) the second ray center and Jupiter is a second ray planet. |
b. Hệ Sao Mộc (được lấy thứ hai) có thể tương ứng với trung tâm ajna, là trung tâm của tầm nhìn, cũng như Sao Mộc là một trong những hành tinh chính của tầm nhìn. Ajna là (ở một điểm tiến hoá cao) trung tâm cung hai và Sao Mộc là một hành tinh cung hai. |
|
c. The Mercury-scheme (taken third) can correlate with the throat center. The close association between Mercury and the faculty of speech is obvious. Mercury has much of the third ray: hypothetically, its personality ray and its major monadic ray. |
c. Hệ Sao Thủy (được lấy thứ ba) có thể tương ứng với trung tâm cổ họng. Mối liên hệ mật thiết giữa Sao Thủy và năng lực ngôn ngữ là điều hiển nhiên. Sao Thủy mang nhiều cung ba: theo giả thuyết, đó là cung phàm ngã và cung chân thần chính của nó. |
|
d. The Earth-scheme (taken fourth, as in the list given on TCF 369) has a definite association with the heart center through its symbol of the cross, its second ray soul, and the degree of suffering existent upon this planet. It is the heart that is the major organ of suffering. |
d. Hệ Trái Đất (được lấy thứ tư, như trong danh sách nêu ở TCF 369) có một liên hệ xác định với trung tâm tim qua biểu tượng thập giá của nó, cung linh hồn hai của nó, và mức độ đau khổ hiện hữu trên hành tinh này. Chính tim là cơ quan chính của đau khổ. |
|
e. The Mars-scheme (taken fifth) is easily correlated with the solar plexus center (The fifth chakra numbering from above). The ray most frequently associated with Mars (at this time) is the sixth ray and the ray expressing most prominently through the solar plexus center is the sixth. |
e. Hệ Sao Hỏa (được lấy thứ năm) dễ dàng được tương ứng với trung tâm tùng thái dương (luân xa thứ năm tính từ trên xuống). Cung thường được liên kết nhất với Sao Hỏa (vào lúc này) là cung sáu, và cung biểu lộ nổi bật nhất qua trung tâm tùng thái dương cũng là cung sáu. |
|
f. The Venus-scheme (taken sixth) can be correlated with the sacral center (the sixth chakra, numbering from above), for Venus, in its lower demonstration, is commonly associated with sex and sexual attraction. |
f. Hệ Sao Kim (được lấy thứ sáu) có thể được tương ứng với trung tâm xương cùng (luân xa thứ sáu tính từ trên xuống), vì Sao Kim, trong biểu hiện thấp của nó, thường được liên kết với tính dục và sự hấp dẫn giới tính. |
|
g. The Vulcan-scheme (taken in the seventh place) can be correlated with the base of the spine center, considering that center as an anchor for the energy system. One symbol used for Vulcan (the downward pointing arrow) suggests the material anchorage for which the base is responsible. |
g. Hệ Vulcan (được lấy ở vị trí thứ bảy) có thể được tương ứng với trung tâm đáy cột sống, nếu xem trung tâm ấy như một điểm neo cho hệ thống năng lượng. Một biểu tượng dùng cho Vulcan (mũi tên chỉ xuống) gợi ý sự neo đậu vật chất mà đáy cột sống chịu trách nhiệm. |
|
h. |
h. |
|
i. Interestingly, we are also told the following of Vulcan: |
i. Điều thú vị là, chúng ta cũng được cho biết điều sau đây về Vulcan: |
|
1. The etheric vehicle from the circulatory angle, is governed by the Moon, as it veils Vulcan. (EH 143) |
1. Vận cụ dĩ thái, xét từ góc độ tuần hoàn, được cai quản bởi Mặt Trăng, khi nó che phủ Vulcan. (EH 143) |
|
Add to this the fact that the base of the spine center is directly correlated with the etheric body (cf. TCF 167), and we have a justification for associating Vulcan with the base of the spine center. |
Cộng thêm vào đó sự kiện rằng trung tâm đáy cột sống có tương quan trực tiếp với thể dĩ thái (x. TCF 167), và chúng ta có một cơ sở để liên kết Vulcan với trung tâm đáy cột sống. |
|
123. Interestingly, if we were to attempt to correlate the list of planetary schemes in the order in which the Tibetan presented them, the chakric correlations would be far less convincing (as a whole). |
123. Điều thú vị là, nếu chúng ta thử tương ứng danh sách các hệ hành tinh theo thứ tự mà Chân sư Tây Tạng đã trình bày, thì các tương ứng luân xa sẽ kém thuyết phục hơn nhiều (xét trên toàn thể). |
|
124. It can be said however, that since a chakra is a kind of atom, every ray, every zodiacal sign and every planet can be perceived as having some degree of influence within it. |
124. Tuy nhiên, có thể nói rằng vì một luân xa là một loại nguyên tử, nên mọi cung, mọi dấu hiệu hoàng đạo và mọi hành tinh đều có thể được nhận thức là có một mức độ ảnh hưởng nào đó bên trong nó. |
|
See [geometrical] figure [below] |
Xem hình [geometrical] [below] |
|
125. Chart VI depicts the seven Brahmic schemes somewhat graphically. Here (TCF 370) we are given a geometrical schematic conveying the same idea. |
125. Biểu đồ VI mô tả bảy hệ Brahma theo cách phần nào có tính đồ họa. Ở đây (TCF 370), chúng ta được cho một sơ đồ hình học truyền đạt cùng một ý tưởng. |
|
126. The oppositions so clearly evident in this six-pointed star are significant. The pairs represented are not without reason. |
126. Những đối vị hiện rõ trong ngôi sao sáu cánh này mang nhiều thâm nghĩa. Những cặp được biểu thị không phải là không có lý do. |
|
127. The Venus/Jupiter opposition is significant in terms of similarity of rays (namely the second) and in relation to the causal body. Both of these planets are significantly related to the Christ aspect. |
127. Đối vị Sao Kim/Sao Mộc có ý nghĩa xét theo sự tương đồng về cung (cụ thể là cung hai) và trong liên hệ với thể nguyên nhân. Cả hai hành tinh này đều có liên hệ quan trọng với phương diện Christ. |
|
128. Mars and Mercury have a strong connection via the fifth ray. Their positions as schemes are reflected within the Earth-scheme through the positions of the Mars and Mercury globes relative to the Earth globe. Just as the Mars, Earth and Mercury schemes are the third, fourth and fifth respectively, so the Mars, Earth and Mercury globes (of the Earth-chain) are the third, fourth and fifth respectively. |
128. Sao Hỏa và Sao Thủy có một liên hệ mạnh qua cung năm. Vị trí của chúng như những hệ được phản ánh bên trong hệ Trái Đất qua vị trí của các bầu hành tinh Sao Hỏa và Sao Thủy tương đối với bầu hành tinh Trái Đất. Cũng như các hệ Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy lần lượt là thứ ba, thứ tư và thứ năm, thì các bầu hành tinh Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy (của Dãy Địa Cầu) cũng lần lượt là thứ ba, thứ tư và thứ năm. |
|
129. The relationship between Vulcan and the Earth is significant. Graduates of the Earth School are called “living stones” and those of the Vulcan School, “fiery stones”. |
129. Mối liên hệ giữa Vulcan và Trái Đất thật có ý nghĩa. Những người tốt nghiệp Trường học Trái Đất được gọi là “những viên đá sống”, còn những người của Trường Vulcan là “những viên đá rực lửa”. |
|
130. In any case, there is to be found something deeply associated with materiality on or in both of these planets. They are closely related to the factor of concretion. Their relationship to Taurus is also evident, with Vulcan being both the hierarchical and esoteric ruler of Taurus, and Earth having an especially close relationship to Taurus. |
130. Dù sao đi nữa, có thể tìm thấy một điều gì đó gắn bó sâu xa với tính vật chất trên hoặc trong cả hai hành tinh này. Chúng liên hệ mật thiết với yếu tố kết tinh đặc cứng. Mối liên hệ của chúng với Kim Ngưu cũng hiển nhiên, khi Vulcan vừa là chủ tinh huyền môn vừa là chủ tinh Thánh đoàn của Kim Ngưu, còn Trái Đất thì có một mối liên hệ đặc biệt gần gũi với Kim Ngưu. |
|
Venus holds a unique relation to the Earth, different to that of any other planet and this, therefore, brings about a much closer relation between Taurus and the Earth than perhaps exists in any other zodiacal relation where our planet is concerned. (EA 382-383) |
Sao Kim giữ một mối liên hệ độc nhất với Trái Đất, khác với mối liên hệ của bất kỳ hành tinh nào khác, và điều này, do đó, tạo nên một mối liên hệ gần gũi hơn nhiều giữa Kim Ngưu và Trái Đất so với có lẽ tồn tại trong bất kỳ tương quan hoàng đạo nào khác có liên quan đến hành tinh chúng ta. (EA 382-383) |
|
131. We might say that Vulcan will be important in teaching the Logos of Earth to respond more effectively to its first ray Monad, which, presently, is “non-effective” because Earth is numbered among the non-sacred planets. |
131. Chúng ta có thể nói rằng Vulcan sẽ quan trọng trong việc dạy Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất đáp ứng hữu hiệu hơn với chân thần cung một của Ngài, vốn hiện nay “không hữu hiệu” vì Trái Đất được xếp vào số các hành tinh không thiêng liêng. |
|
“A non-sacred planet, such as the Earth, is still subject to the ray of the personality of the informing Life, and the correspondence to the esoteric monadic ray is non-effective.” (EA 363) |
“Một hành tinh không thiêng liêng, như Trái Đất, vẫn còn chịu sự chi phối của cung phàm ngã của Sự Sống đang thấm nhuần nó, và sự tương ứng với cung chân thần huyền môn thì không hữu hiệu.” (EA 363) |
|
132. If we consider the relative spiritual status of the Logos of Vulcan and the Logos of Venus, it may be that the Vulcanian Logos is more advanced for reasons suggested above. |
132. Nếu chúng ta xét địa vị tinh thần tương đối của Hành Tinh Thượng đế của Vulcan và Hành Tinh Thượng đế của Sao Kim, thì có thể Hành Tinh Thượng đế của Vulcan tiến bộ hơn vì những lý do đã gợi ra ở trên. |
|
133. We can infer this from the fact that in the microcosm, Venus represents the ajna centers whereas Vulcan represents for disciples and initiates the head center or alternatively the seven major head centers in or above the head. |
133. Chúng ta có thể suy ra điều này từ sự kiện rằng trong tiểu thiên địa, Sao Kim tượng trưng cho các trung tâm ajna, còn Vulcan tượng trưng, đối với các đệ tử và điểm đạo đồ, cho trung tâm đầu hoặc, cách khác, cho bảy trung tâm đầu chính trong hoặc trên đầu. |
|
134. If the Logos of Vulcan has a higher spiritual status than the Logos of Venus, then the Vulcanian Logos is surely more advanced than the Logos of Earth (for which Venus is the “alter ego” and ‘Guide’). |
134. Nếu Hành Tinh Thượng đế của Vulcan có địa vị tinh thần cao hơn Hành Tinh Thượng đế của Sao Kim, thì Hành Tinh Thượng đế của Vulcan hẳn nhiên tiến bộ hơn Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất (mà đối với nó Sao Kim là “alter ego” và là ‘Đấng Hướng Dẫn’). |
|
135. There is a stream of Monads which came (or come), so it would seem, from Vulcan to the Earth. The section on “Primary Lotuses” (TCF 841-842) tells us somewhat of these types of human beings and the inference may reasonably be made that such Monads are from the planet Vulcan. Whether or not such the flow is reciprocal, we do not know. |
135. Có một dòng các chân thần đã đến (hoặc đến), dường như vậy, từ Vulcan sang Trái Đất. Phần nói về “Các Hoa Sen Sơ Cấp” (TCF 841-842) cho chúng ta biết phần nào về các loại người này, và có thể suy luận hợp lý rằng những chân thần ấy đến từ hành tinh Vulcan. Chúng ta không biết liệu dòng chảy ấy có tính hỗ tương hay không. |
|
136. It may be that the Monads coming from Vulcan to Earth will be important in the next solar system at which time the first ray Monad of the Planetary Logos of the Earth will be strongly emergent. |
136. Có thể những chân thần đến từ Vulcan sang Trái Đất sẽ quan trọng trong hệ mặt trời kế tiếp, vào thời điểm chân thần cung một của Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất sẽ xuất hiện mạnh mẽ. |
|
137. The Monads which came (or come) from Venus characterized by the second ray (as are those from Jupiter) and will be emergent in the present solar system. |
137. Những chân thần đã đến (hoặc đến) từ Sao Kim được đặc trưng bởi cung hai (cũng như những chân thần từ Sao Mộc) và sẽ xuất hiện trong hệ mặt trời hiện tại. |
|
138. We should study this six-pointed star with care. It will reveal much about important relationships within our solar system. |
138. Chúng ta nên nghiên cứu ngôi sao sáu cánh này một cách cẩn trọng. Nó sẽ tiết lộ nhiều điều về những mối liên hệ quan trọng trong hệ mặt trời của chúng ta. |
|
139. The triangle Vulcan/Venus/Earth will have much to do in the release of Earth’s potential for radiance. Venus will nurture Earth’s second ray soul and Vulcan will galvanize Earth’s first ray Monad—when the time is right. Vulcan calls forth the ‘light potential of matter. |
139. Tam giác Vulcan/Sao Kim/Trái Đất sẽ có nhiều liên quan đến việc giải phóng tiềm năng rạng ngời của Trái Đất. Sao Kim sẽ nuôi dưỡng cung linh hồn hai của Trái Đất và Vulcan sẽ kích hoạt chân thần cung một của Trái Đất—khi thời điểm thích hợp. Vulcan gọi ra ‘tiềm năng ánh sáng của vật chất’. |
|
140. A study of this geometric star (TCF 370) will reveal a number of possible triangles (as well as other significant geometric figures), each, no doubt with its specific meaning, not only for the solar system but for Earth. |
140. Việc nghiên cứu ngôi sao hình học này (TCF 370) sẽ tiết lộ một số tam giác khả dĩ (cũng như những hình hình học quan trọng khác), mỗi hình, hẳn nhiên, đều có ý nghĩa riêng của nó, không chỉ đối với hệ mặt trời mà còn đối với Trái Đất. |


|
Therefore, the Heavenly Men of Venus and Jupiter are magnetically linked with the Heavenly Man of our scheme. |
Do đó, các Đấng Thiên Nhân của Sao Kim và Sao Mộc được liên kết từ tính với Đấng Thiên Nhân của hệ chúng ta. |
|
141. This proceeds, as explained, largely along the second ray line. The word “magnetically” (often a word signifying the presence of the second ray) is an indication of the second ray nature of the Venus/Jupiter/Earth relationship. |
141. Điều này diễn ra, như đã giải thích, phần lớn theo đường cung hai. Từ “từ tính” (thường là một từ biểu thị sự hiện diện của cung hai) là một chỉ dấu về bản chất cung hai của mối liên hệ Sao Kim/Sao Mộc/Trái Đất. |
|
142. Since, in terms of humanity, the soul represents the second aspect of divinity and is focussed on the fifth plan, the second and fifth rays of Jupiter and Venus are instrumental in evoking not only the soul of humanity but the soul of our Planetary Logos Whose causal body is focussed on the fifth cosmic sub-plane. |
142. Vì, xét theo nhân loại, linh hồn tượng trưng cho phương diện thứ hai của thiên tính và được tập trung trên cõi thứ năm, nên các cung hai và năm của Sao Mộc và Sao Kim là những tác nhân gợi lên không chỉ linh hồn của nhân loại mà còn linh hồn của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, Đấng mà thể nguyên nhân của Ngài được tập trung trên cõi phụ vũ trụ thứ năm. |
|
The relationship of the Logos of Jupiter and His influence will not be realised nor felt until the sixth [Page 371] round is in full force, though during the sixth root-race His vibration will be acknowledged and sensed; |
Mối liên hệ của Hành Tinh Thượng đế của Sao Mộc và ảnh hưởng của Ngài sẽ không được chứng nghiệm cũng không được cảm nhận cho đến khi cuộc tuần hoàn thứ sáu [Page 371] hoàn toàn có hiệu lực, mặc dù trong giống dân gốc thứ sáu rung động của Ngài sẽ được thừa nhận và cảm nhận; |
|
143. We can see from what is here said that the numbering of the planetary schemes (as presented by the Tibetan on TCF 369) is not insignificant or without meaning. |
143. Từ điều được nói ở đây, chúng ta có thể thấy rằng việc đánh số các hệ hành tinh (như Chân sư Tây Tạng trình bày ở TCF 369) không phải là không quan trọng hay không có ý nghĩa. |
|
144. Jupiter is directly associated with the sixth or buddhic principle which will be emergent in the sixth round (and also, to a degree) within the sixth root race. |
144. Sao Mộc được liên kết trực tiếp với nguyên khí thứ sáu hay nguyên khí Bồ đề, nguyên khí sẽ xuất hiện trong cuộc tuần hoàn thứ sáu (và cũng, ở một mức độ nào đó) trong giống dân gốc thứ sáu. |
|
145. In the sixth round it may be inferred that the monadic vibration (from plane six) will also be emergent, especially for Monads upon the second ray. Again, within the sixth root race of our present round we may expect a foreshadowing of this. |
145. Trong cuộc tuần hoàn thứ sáu, có thể suy ra rằng rung động chân thần (từ cõi sáu) cũng sẽ xuất hiện, đặc biệt đối với các chân thần trên cung hai. Một lần nữa, trong giống dân gốc thứ sáu của cuộc tuần hoàn hiện tại của chúng ta, ta có thể mong đợi một sự báo trước điều này. |
|
146. From the foregoing, we see that there is a definite and significant relationship of the Jupiter-scheme to the number six. |
146. Từ những điều trên, chúng ta thấy rằng có một mối liên hệ xác định và quan trọng giữa hệ Sao Mộc với số sáu. |
|
147. Microcosmically, this certainly operates exoterically in relation to faith-related Jupiterian characteristics. |
147. Trong tiểu thiên địa, điều này chắc chắn vận hành ngoại môn trong liên hệ với các đặc tính Sao Mộc gắn với đức tin. |
|
148. The esoteric connections are also deep and relate to the buddhic and monadic dimensions of life. |
148. Các mối liên hệ huyền môn cũng sâu sắc và liên quan đến các chiều kích Bồ đề và chân thần của sự sống. |
|
149. Since we are just entering the sixth subrace of the fifth root race, some small ripple of this Jupiterian vibration may also be sensed by those who are closely attuned to it and sufficiently sensitive. |
149. Vì chúng ta đang vừa bước vào giống dân phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm, nên một gợn sóng nhỏ nào đó của rung động Sao Mộc này cũng có thể được cảm nhận bởi những ai chỉnh hợp chặt chẽ với nó và đủ nhạy cảm. |
|
in the middle of the fifth round the Logos of Mercury will, with the Logos of the Venus scheme, and of our Earth, form a temporary triangle of force. |
giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, Hành Tinh Thượng đế của Sao Thủy sẽ, cùng với Hành Tinh Thượng đế của hệ Sao Kim và của Trái Đất chúng ta, tạo thành một tam giác mãnh lực tạm thời. |
|
150. The fifth round is the period during which the “Judgment Day” will occur. This is the so-called “separation of the sheep from the goats”. |
150. Cuộc tuần hoàn thứ năm là giai đoạn trong đó “Ngày Phán Xét” sẽ xảy ra. Đây là điều được gọi là “sự phân tách chiên khỏi dê”. |
|
151. Could this important planetary event be related to the formation of the Mercury/Venus/Earth triangle? |
151. Liệu biến cố hành tinh quan trọng này có thể liên hệ với sự hình thành tam giác Sao Thủy/Sao Kim/Trái Đất chăng? |
|
152. The Logos of Venus must definitely be involved in the “Judgment Day”. That “Day” will separate those who can begin to live within the etheric nature of the Planetary Logos (beginning, so we may hypothesize, with the higher mental plane) from those who would choose to remain focussed upon the eighteen lower subplanes, from which the focus of our Planetary Logos will be removed. |
152. Hành Tinh Thượng đế của Sao Kim chắc chắn phải dự phần trong “Ngày Phán Xét”. “Ngày” ấy sẽ phân tách những ai có thể bắt đầu sống trong bản chất dĩ thái của Đức Hành Tinh Thượng Đế (khởi đầu, như ta có thể giả thuyết, với Cõi thượng trí) khỏi những ai chọn ở lại tập trung trên mười tám cõi phụ thấp, khỏi đó tiêu điểm của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta sẽ được rút đi. |
|
153. We may presume that the formation of the triangle will enable humanity to live more successfully the life of the soul and of the spiritual triad. |
153. Chúng ta có thể giả định rằng sự hình thành tam giác sẽ giúp nhân loại sống thành công hơn đời sống của linh hồn và của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
154. Notice that triangles of force between schemes may be “temporary”. They are often based upon the developmental phase through which the Solar Logos is passing (and through which the Planetary Logoi involved are passing). |
154. Hãy lưu ý rằng các tam giác mãnh lực giữa các hệ có thể là “tạm thời”. Chúng thường dựa trên giai đoạn phát triển mà Thái dương Thượng đế đang đi qua (và mà các Hành Tinh Thượng đế liên hệ cũng đang đi qua). |
|
We have here information given that has only been hinted at hitherto but for which, in this fifth subrace and in this fourth round, the world is now ready; it holds the solution of the mystery of this round. |
Chúng ta có ở đây thông tin được ban ra mà cho đến nay chỉ mới được ám chỉ, nhưng đối với điều đó, trong giống dân phụ thứ năm này và trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, thế giới nay đã sẵn sàng; nó nắm giữ lời giải cho huyền nhiệm của cuộc tuần hoàn này. |
|
155. The fifth subrace is mentally focussed and is equipped for the receipt of knowledge and, hopefully, its correct application. |
155. Giống dân phụ thứ năm được tập trung trí tuệ và được trang bị để tiếp nhận tri thức và, hy vọng là, áp dụng nó một cách đúng đắn. |
|
156. We do not know what may be the “mystery of this round”—the fourth in the fourth chain, the Earth-chain. May it be related to the development of an intelligent, intuitive humanity, which frees itself from the eighteen lower sub-planes, and eventually, from the twenty-one lower sub-planes? Perhaps such a liberation will not be fully achieved until the sixth round, but intimations of the possibility can be felt in the fourth. |
156. Chúng ta không biết “huyền nhiệm của cuộc tuần hoàn này” có thể là gì—cuộc tuần hoàn thứ tư trong dãy thứ tư, Dãy Địa Cầu. Liệu nó có liên hệ với sự phát triển của một nhân loại thông minh, trực giác, tự giải thoát khỏi mười tám cõi phụ thấp, và cuối cùng khỏi hai mươi mốt cõi phụ thấp chăng? Có lẽ sự giải thoát như thế sẽ không được đạt trọn vẹn cho đến cuộc tuần hoàn thứ sáu, nhưng những gợi báo về khả năng ấy có thể được cảm nhận trong cuộc tuần hoàn thứ tư. |
|
157. The growing influence of Mercury, Venus and Jupiter are of great importance if the purpose of the fourth round is to be achieved. Mercury and Jupiter are the two exoteric rulers of all signs of the Mutable Cross, the Cross which prepares man for the life of the soul. Venus is that planet which (through the meditation of the Solar Angels), particularly, represents the onset of soul-life within humanity. |
157. Ảnh hưởng ngày càng tăng của Sao Thủy, Sao Kim và Sao Mộc có tầm quan trọng lớn nếu mục đích của cuộc tuần hoàn thứ tư phải được hoàn thành. Sao Thủy và Sao Mộc là hai chủ tinh ngoại môn của mọi dấu hiệu thuộc Thập Giá Biến đổi, thập giá chuẩn bị con người cho đời sống của linh hồn. Sao Kim là hành tinh đặc biệt tượng trưng cho sự khởi phát của đời sống linh hồn trong nhân loại (thông qua tham thiền của các Thái dương Thiên Thần). |
|
Third, |
Thứ ba, |
|
158. We are in that section of the book which began on TCF 367; it is called “Venus and the Earth-chain”. |
158. Chúng ta đang ở trong phần của cuốn sách bắt đầu tại TCF 367; phần này được gọi là “Sao Kim và Dãy Địa Cầu”. |
|
the statement that the great Kumara or the One Initiator came to this planet from Venus is true in so far as it embodies the fact that He came to this dense planet (the fourth) in the fourth chain from that chain in our scheme which is called the “Venus” chain, and which is the second chain. |
mệnh đề rằng Đại Kumara hay Đấng Điểm đạo Duy Nhất đã đến hành tinh này từ Sao Kim là đúng trong chừng mực nó hàm chứa sự kiện rằng Ngài đã đến hành tinh đậm đặc này (hành tinh thứ tư) trong dãy thứ tư từ dãy trong hệ chúng ta được gọi là dãy “Sao Kim”, và đó là dãy thứ hai. |
|
159. We recall that the Venus-chain can be considered either the second or the sixth. Is the numbering used in the section immediately above presented from the mystical or occult perspective? |
159. Chúng ta nhớ rằng Dãy Sao Kim có thể được xem là dãy thứ hai hoặc thứ sáu. Cách đánh số được dùng trong phần ngay trên đây được trình bày từ góc nhìn thần bí hay huyền bí học? |
|
160. We also recall that the fourth chain of the Venus-scheme was involved in this “transaction”. |
160. Chúng ta cũng nhớ rằng dãy thứ tư của hệ Sao Kim đã dự phần vào “giao dịch” này. |
|
161. We may judge that since the Great Kumara is known as the “Lord of Venusian Love” (IHS 211), He is inspired by the Logos of Venus just as He is by the Solar Logos. |
161. Chúng ta có thể phán đoán rằng vì Đại Kumara được biết đến như “Chúa Tể của Bác ái Kim Tinh” (IHS 211), nên Ngài được cảm hứng bởi Hành Tinh Thượng đế của Sao Kim cũng như bởi Thái dương Thượng đế. |
|
The fourth chain in the Venus scheme and the fourth globe in that chain were closely involved in the transaction. (TCF 299-300) |
Dãy thứ tư trong hệ Sao Kim và bầu hành tinh thứ tư trong dãy ấy đã dự phần mật thiết vào giao dịch này. (TCF 299-300) |
|
162. We see we have an alignment between the following: |
162. Chúng ta thấy có một sự chỉnh hợp giữa những điều sau đây: |
|
a. Venus as the second scheme |
a. Sao Kim như hệ thứ hai |
|
b. The fourth chain in the Venus-scheme |
b. Dãy thứ tư trong hệ Sao Kim |
|
c. The second chain in the Earth-scheme |
c. Dãy thứ hai trong hệ Trái Đất |
|
d. The fourth chain in the Earth-scheme |
d. Dãy thứ tư trong hệ Trái Đất |
|
e. The second globe of the Earth-scheme |
e. Bầu hành tinh thứ hai của hệ Trái Đất |
|
f. The fourth globe of the Earth-scheme (our “dense planet”) |
f. Bầu hành tinh thứ tư của hệ Trái Đất (hành tinh “đậm đặc” của chúng ta) |
|
163. Our planet is called the “dense planet”, not because it is entirely dense, but because it includes within its manifesting dimensions that dimension of density which is not the case with any other presently manifesting globes within the Earth-scheme. |
163. Hành tinh của chúng ta được gọi là “hành tinh đậm đặc”, không phải vì nó hoàn toàn đậm đặc, mà vì nó bao gồm trong các chiều biểu hiện của mình chiều kích đậm đặc ấy, điều không xảy ra với bất kỳ bầu hành tinh nào khác hiện đang biểu hiện trong hệ Trái Đất. |
|
164. We are being given the details of the ‘path’ taken by the Great Kumara in His descent to the Earth globe. |
164. Chúng ta đang được cho biết các chi tiết về “con đường” mà Đại Kumara đã đi trong sự giáng hạ của Ngài xuống bầu hành tinh Trái Đất. |
|
He came via the second globe in our chain; His scarcely felt vibration was sensed (occultly) in the second round, |
Ngài đến qua bầu hành tinh thứ hai trong dãy của chúng ta; rung động hầu như không thể cảm thấy của Ngài đã được cảm nhận (một cách huyền bí) trong cuộc tuần hoàn thứ hai, |
|
165. The second round of the Earth-chain was a period when (in relation to our fourth globe), we are told in The Secret Doctrine, some of the Agnishvattas or Solar Angels ‘looked down’ to see if there might be any forms through which they might express. They found none. |
165. Cuộc tuần hoàn thứ hai của Dãy Địa Cầu là một giai đoạn mà (liên hệ với bầu hành tinh thứ tư của chúng ta), như chúng ta được cho biết trong Giáo Lý Bí Nhiệm, một số Agnishvatta hay Thái dương Thiên Thần đã ‘nhìn xuống’ để xem có hình tướng nào qua đó họ có thể biểu lộ hay không. Họ không tìm thấy gì cả. |
|
but only in the third root-race of the fourth round did conditions permit of His physical incarnation and of His coming as the Avatar. |
nhưng chỉ đến giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư thì các điều kiện mới cho phép sự lâm phàm hồng trần của Ngài và sự đến của Ngài như một Đấng Hoá Thân. |
|
166. We are speaking of the coming of Sanat Kumara to our dense globe some eighteen and a half million years ago. |
166. Chúng ta đang nói về sự đến của Đức Sanat Kumara tới bầu hành tinh đậm đặc của chúng ta vào khoảng mười tám triệu rưỡi năm trước. |
|
167. This coming is called a “physical incarnation”. Judging from the ‘path’ He took, we may estimate the Sanat Kumara was already ‘incarnated’ (though not, strictly speaking, physically) on another globe and within another chain in the Earth-scheme. |
167. Sự đến này được gọi là một “sự lâm phàm hồng trần”. Xét theo “con đường” Ngài đã đi, chúng ta có thể ước đoán rằng Đức Sanat Kumara đã “lâm phàm” trên một bầu hành tinh khác và trong một dãy khác của hệ Trái Đất (dù, nói cho đúng, không phải về mặt hồng trần). |
|
168. The taking of an incarnation by a great Being necessitates a particularized focalization of attention at a certain dimensional level. We know there are incarnations possible other than physical incarnations—for man and for Sanat Kumara as well. |
168. Việc một Đại Hữu Thể nhận lấy một kiếp lâm phàm đòi hỏi một sự tập trung chú ý chuyên biệt ở một cấp độ chiều kích nhất định. Chúng ta biết rằng có những sự lâm phàm khác ngoài lâm phàm hồng trần—đối với con người và đối với Đức Sanat Kumara cũng vậy. |
|
Very reverently might it be said that the first three rounds and the two succeeding root-races in this chain correspond to the period prior to birth; |
Một cách hết sức cung kính, có thể nói rằng ba cuộc tuần hoàn đầu tiên và hai giống dân gốc kế tiếp trong dãy này tương ứng với giai đoạn trước khi sinh; |
|
169. When speaking of Sanat Kumara (and even of the Christ, relatively a lesser Avatar), the Tibetan frequently adopts a reverential tone. |
169. Khi nói về Đức Sanat Kumara (và ngay cả về Đức Christ, một Đấng Hoá Thân tương đối thấp hơn), Chân sư Tây Tạng thường dùng một giọng điệu cung kính. |
|
170. In speaking of the coming of Sanat Kumara to our planet, we are using the analogy of the prenatal period to describe a certain early phase in the process of the Earth-chain, and the period of birth possibly to describe the phase in planetary development which witnessed His ‘arrival’ upon (and ‘within’) our little planet. (Later DK speaks of birth into a higher dimension, which should not be confused with the birth mentioned in the section above.) |
170. Khi nói về sự đến của Đức Sanat Kumara tới hành tinh chúng ta, chúng ta đang dùng phép tương đồng của thời kỳ tiền sản để mô tả một giai đoạn sớm nào đó trong tiến trình của Dãy Địa Cầu, và thời kỳ sinh ra có lẽ để mô tả giai đoạn trong sự phát triển hành tinh đã chứng kiến sự “đến” của Ngài trên (và “trong”) hành tinh nhỏ bé của chúng ta. (Về sau Chân sư DK nói đến sự sinh vào một chiều kích cao hơn, điều này không nên bị nhầm với sự sinh được nhắc đến trong phần trên.) |
|
171. During the first three rounds and the two succeeding root races of our globe, it seems we are to understand that Sanat Kumara was not yet technically incarnated on our planet. |
171. Trong ba cuộc tuần hoàn đầu tiên và hai giống dân gốc kế tiếp của bầu hành tinh chúng ta, dường như chúng ta phải hiểu rằng Đức Sanat Kumara về mặt kỹ thuật vẫn chưa lâm phàm trên hành tinh chúng ta. |
|
172. Yet, something seems to be missing. What of the period of the fourth round as it affected the first three globes of the Earth-chain? These are not mentioned, and yet it would seem a logical necessity that if Sanat Kumara was not fully incarnated on the fourth globe during its first two root races, He could not have been fully incarnated during that earlier fourth round period when the focus was upon the first three globes. |
172. Tuy nhiên, dường như vẫn còn thiếu một điều gì đó. Còn giai đoạn của cuộc tuần hoàn thứ tư khi nó tác động lên ba bầu hành tinh đầu tiên của Dãy Địa Cầu thì sao? Những bầu hành tinh này không được nhắc đến, nhưng dường như theo logic, nếu Đức Sanat Kumara chưa hoàn toàn lâm phàm trên bầu hành tinh thứ tư trong hai giống dân gốc đầu tiên của nó, thì Ngài cũng không thể đã hoàn toàn lâm phàm trong giai đoạn sớm hơn của cuộc tuần hoàn thứ tư ấy khi tiêu điểm đặt trên ba bầu hành tinh đầu tiên. |
|
173. We may wish to compare this analogy concerning the pre-natal period and subsequent birth with what is said in general of the development of a Heavenly Man a bit earlier in the text: |
173. Chúng ta có thể muốn so sánh phép tương đồng này về thời kỳ tiền sản và sự sinh ra tiếp theo với điều được nói một cách tổng quát về sự phát triển của một Đấng Thiên Nhân sớm hơn một chút trong bản văn: |
|
a. To attain to full self-consciousness, or to individual consciousness on the five planes; to vibrate with conscious activity within Their Own ring-pass-not, a planetary scheme. This covers a period in the scheme of involution, and of that period during the evolutionary stage which is comprised within the first three rounds up to the entrance upon the fourth round. (TCF 290) |
a. Để đạt đến ngã thức trọn vẹn, hay tâm thức cá nhân trên năm cõi; để rung động với hoạt động hữu thức trong vòng-giới-hạn của Chính Các Ngài, một hệ hành tinh. Điều này bao trùm một giai đoạn trong hệ giáng hạ tiến hoá, và của giai đoạn ấy trong thời kỳ thăng thượng tiến hoá được bao gồm trong ba cuộc tuần hoàn đầu tiên cho đến lúc bước vào cuộc tuần hoàn thứ tư. (TCF 290) |
|
174. Interestingly the phase of the development of a Heavenly Man just cited corresponds with the period of development leading to the first initiation. |
174. Điều thú vị là giai đoạn phát triển của một Đấng Thiên Nhân vừa được trích dẫn tương ứng với thời kỳ phát triển dẫn đến lần điểm đạo thứ nhất. |
|
175. The coming of Sanat Kumara to our fourth globe was certainly a kind of initiation for the Planetary Logos—was it a first initiation, or could it be numbered in another way? |
175. Sự đến của Đức Sanat Kumara tới bầu hành tinh thứ tư của chúng ta chắc chắn là một loại điểm đạo đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế—đó có phải là lần điểm đạo thứ nhất, hay có thể được đánh số theo cách khác? |
|
176. The first initiation is the ‘Initiation of Birth’. The extract from TCF 290 seems to suggest (if compared with a parallel section describing the development of a human being up to the first initiation—cf. TCF 289) that the first initiation occurs at “the entrance of the fourth round”, but other references suggest that the first initiation (at least for our Planetary Logos) occurs after the first two root races (presumably on our globe). |
176. Lần điểm đạo thứ nhất là ‘Điểm Đạo Sinh Ra’. Đoạn trích từ TCF 290 dường như gợi ý (nếu so với một phần song song mô tả sự phát triển của một con người cho đến lần điểm đạo thứ nhất—x. TCF 289) rằng lần điểm đạo thứ nhất xảy ra vào “lúc bước vào cuộc tuần hoàn thứ tư”, nhưng những tham chiếu khác gợi ý rằng lần điểm đạo thứ nhất (ít nhất đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta) xảy ra sau hai giống dân gốc đầu tiên (có lẽ trên bầu hành tinh của chúng ta). |
|
177. In the section immediately below, it is suggested that the awakening of the principle of mind in infant humanity was only a kind of “quickening” for Sanat Kumara (considered as Planetary Logos), but then we have to ask whether the implantation of the spark of mind (some twenty one million years ago) should be considered a different phase in Sanat Kumara’s initiatory life than the period when He and His Kumaras arrived on this planet (some eighteen and a half million years ago). Perhaps Sanat Kumara was not fully incarnated at the quickening, but was incarnated two and half million years later. |
177. Trong phần ngay dưới đây, có gợi ý rằng sự thức tỉnh nguyên khí trí tuệ trong nhân loại sơ sinh chỉ là một loại “sự linh động đầu tiên” đối với Đức Sanat Kumara (được xem như Đức Hành Tinh Thượng Đế), nhưng khi đó chúng ta phải hỏi liệu việc cấy vào tia lửa trí tuệ (khoảng hai mươi mốt triệu năm trước) có nên được xem là một giai đoạn khác trong đời sống điểm đạo của Đức Sanat Kumara so với giai đoạn khi Ngài và các Kumara của Ngài đến hành tinh này (khoảng mười tám triệu rưỡi năm trước) hay không. Có lẽ Đức Sanat Kumara chưa hoàn toàn lâm phàm vào lúc sự linh động đầu tiên xảy ra, nhưng đã lâm phàm hai triệu rưỡi năm sau đó. |
|
and that His coming in the fourth round with the subsequent awakening of manas in the human units find their analogy in the awakening of the life principle in the unborn infant at the fourth month. |
và rằng sự đến của Ngài trong cuộc tuần hoàn thứ tư cùng với sự thức tỉnh manas tiếp theo trong các đơn vị nhân loại tìm thấy phép tương đồng của nó trong sự thức tỉnh của nguyên khí sự sống trong thai nhi vào tháng thứ tư. |
|
178. The awakening of manas in the human units (or in the animal man of that period) is here analogized as the “quickening” which occurs in the unborn infant at the fourth month. |
178. Sự thức tỉnh manas trong các đơn vị nhân loại (hay trong người thú của thời kỳ ấy) ở đây được ví như “sự linh động đầu tiên” xảy ra trong thai nhi vào tháng thứ tư. |
|
179. We must reinforce the idea that the awakening of manas occurred some twenty-one million years ago whereas Sanat Kumara and His fellow Kumaras established themselves on the fourth globe about eighteen and a half million years ago. |
179. Chúng ta phải củng cố ý tưởng rằng sự thức tỉnh manas đã xảy ra khoảng hai mươi mốt triệu năm trước, trong khi Đức Sanat Kumara và các Kumara đồng hành của Ngài thiết lập chính mình trên bầu hành tinh thứ tư khoảng mười tám triệu rưỡi năm trước. |
|
180. If the quickening occurred at the coming of Sanat Kumara to our globe, when did the “birth” occur, if, indeed it occurred? |
180. Nếu sự linh động đầu tiên xảy ra vào lúc Đức Sanat Kumara đến bầu hành tinh của chúng ta, thì “sự sinh” đã xảy ra khi nào, nếu quả thật nó đã xảy ra? |
|
181. The Planetary Logos through Sanat Kumara is presently undergoing a kind of fourth initiation within the fourth chain (the Earth-chain) and upon the fourth globe, so clearly the “birth” has long ago occurred. At least one kind of birth occurred long ago. |
181. Đức Hành Tinh Thượng Đế qua Đức Sanat Kumara hiện đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư trong dãy thứ tư (Dãy Địa Cầu) và trên bầu hành tinh thứ tư, vì vậy rõ ràng “sự sinh” đã xảy ra từ lâu. Ít nhất một loại sinh ra đã xảy ra từ lâu. |
|
182. Perhaps a recognition by animal man in whom the “spark of mind” had been implanted that he truly existed as a distinct individual could be considered the equivalent of a kind of birth. Did this recognition occur more at the time of the coming of Sanat Kumara eighteen and a half million years ago than at the time the spark was implanted two and a half million years earlier? |
182. Có lẽ việc người thú, trong đó “tia lửa trí tuệ” đã được cấy vào, nhận ra rằng y thực sự hiện hữu như một cá thể riêng biệt có thể được xem là tương đương với một loại sinh ra. Phải chăng sự nhận ra này xảy ra nhiều hơn vào lúc Đức Sanat Kumara đến cách đây mười tám triệu rưỡi năm so với lúc tia lửa được cấy vào sớm hơn hai triệu rưỡi năm? |
|
The analogy holds good, for a Heavenly Man at the end of the seventh round reaches full maturity, |
Phép tương đồng này là đúng, vì một Đấng Thiên Nhân vào cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy đạt đến sự trưởng thành trọn vẹn, |
|
183. Is “full maturity” equivalent to the fifth in a series of seven initiations? Is it equivalent to the age of thirty-five in a man? Or is it equivalent to the seventh initiation and to the age of forty-nine? |
183. “Sự trưởng thành trọn vẹn” có tương đương với lần điểm đạo thứ năm trong một chuỗi bảy lần điểm đạo không? Nó có tương đương với tuổi ba mươi lăm ở con người không? Hay nó tương đương với lần điểm đạo thứ bảy và với tuổi bốn mươi chín? |
|
184. The seventh round here discussed appears to be the seventh round of the fourth chain. If this is the case, then period when the Heavenly Man reaches maturity relates, more to a Chain Lord and a chain than to the Heavenly Man (comprising seven chains) and, thus, the entire planetary scheme, because there must be a focus upon and within three more chains within the Earth-scheme before the full maturity of the Heavenly Man (on a scheme level) can be achieved. At least, it would seem so. |
184. Cuộc tuần hoàn thứ bảy được bàn ở đây dường như là cuộc tuần hoàn thứ bảy của dãy thứ tư. Nếu đúng như vậy, thì giai đoạn khi Đấng Thiên Nhân đạt đến trưởng thành liên hệ nhiều hơn đến một Chúa Tể của Dãy và một dãy hơn là đến Đấng Thiên Nhân (bao gồm bảy dãy) và do đó đến toàn bộ hệ hành tinh, bởi vì phải còn có một tiêu điểm trên và trong ba dãy nữa trong hệ Trái Đất trước khi sự trưởng thành trọn vẹn của Đấng Thiên Nhân (ở cấp độ hệ) có thể đạt được. Ít nhất, dường như là như vậy. |
|
185. Note that DK uses the article “a” before the term Heavenly Man. |
185. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK dùng mạo từ “một” trước thuật ngữ Đấng Thiên Nhân. |
|
186. If, however, DK is no longer speaking of chain rounds above when He says “at the even of the seventh round”, but of scheme rounds, we have an entirely different prospect. |
186. Tuy nhiên, nếu Chân sư DK không còn nói về các cuộc tuần hoàn của dãy ở trên khi Ngài nói “vào cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy”, mà nói về các cuộc tuần hoàn của hệ, thì chúng ta có một viễn cảnh hoàn toàn khác. |
|
187. One method of occult blinding is to begin by using a specific term within a given context, and then switching contexts while preserving the same term. The term “round” might be such a term, for there are chain rounds and scheme rounds. |
187. Một phương pháp làm mù huyền bí là bắt đầu bằng cách dùng một thuật ngữ chuyên biệt trong một ngữ cảnh nhất định, rồi chuyển ngữ cảnh mà vẫn giữ nguyên thuật ngữ ấy. Thuật ngữ “cuộc tuần hoàn” có thể là một thuật ngữ như vậy, vì có những cuộc tuần hoàn của dãy và hệ. |
|
188. If “a” Heavenly Man is a Chain Lord, then He reaches full maturity in relation to His chain, probably after seven rounds, OR, adding a rounding out process, after the addition of certain subjective rounds, either two or three. |
188. Nếu “một” Đấng Thiên Nhân là một Chúa Tể của Dãy, thì Ngài đạt đến sự trưởng thành trọn vẹn trong liên hệ với dãy của Ngài, có lẽ sau bảy cuộc tuần hoàn, HOẶC, nếu cộng thêm một tiến trình hoàn tất, thì sau khi thêm vào một số cuộc tuần hoàn chủ quan, hoặc hai hoặc ba. |
|
189. If, however, “a” Heavenly Man is a Scheme Lord, then He reaches full maturity in relation to His scheme, probably after seven scheme rounds, OR, adding a rounding out process, after the addition of certain subjective scheme rounds, either two or three. |
189. Nhưng nếu “một” Đấng Thiên Nhân là một Chúa Tể của Hệ, thì Ngài đạt đến sự trưởng thành trọn vẹn trong liên hệ với hệ của Ngài, có lẽ sau bảy cuộc tuần hoàn của hệ, HOẶC, nếu cộng thêm một tiến trình hoàn tất, thì sau khi thêm vào một số cuộc tuần hoàn hệ chủ quan, hoặc hai hoặc ba. |
|
but requires the final process of rounding out and perfecting which He attains during the two final periods |
nhưng cần đến tiến trình hoàn tất và hoàn thiện cuối cùng mà Ngài đạt được trong hai giai đoạn cuối |
|
190. What is the meaning of “two final periods”? We are told below. They are |
190. “Hai giai đoạn cuối” có nghĩa là gì? Chúng ta được cho biết ở dưới. Chúng là |
|
a. Synthesis into the three major schemes |
a. Tổng hợp vào ba hệ chính |
|
b. Resolution into the final one. |
b. Phân giải vào Đấng cuối cùng. |
|
191. If DK is speaking of the true Heavenly Man (the Planetary Logos), is seems very unlikely that synthesis into the three major schemes could begin after the completion of the fourth chain! |
191. Nếu Chân sư DK đang nói về Đấng Thiên Nhân đích thực (Đức Hành Tinh Thượng Đế), thì dường như rất khó có khả năng việc tổng hợp vào ba hệ chính có thể bắt đầu sau khi dãy thứ tư hoàn tất! |
|
192. Instead, it seems far more likely that synthesis and absorption would begin after the completion of the seventh chain. |
192. Thay vào đó, dường như có khả năng hơn nhiều rằng sự tổng hợp và hấp thu sẽ bắt đầu sau khi dãy thứ bảy hoàn tất. |
|
193. Are these more rounds than seven, just as there are more chains than seven and more schemes than seven? If there are actually nine or ten chains per scheme, why should there not be rounds corresponding to the number of chains? |
193. Có phải đây là những cuộc tuần hoàn nhiều hơn bảy, cũng như có nhiều dãy hơn bảy và nhiều hệ hơn bảy không? Nếu thực sự có chín hay mười dãy trong mỗi hệ, thì tại sao lại không có những cuộc tuần hoàn tương ứng với số lượng các dãy? |
|
194. The possibility must be explored. If such additional rounds exist, they could be active in the process of synthesis and resolution. |
194. Khả năng này phải được khảo sát. Nếu những cuộc tuần hoàn bổ sung như thế tồn tại, chúng có thể hoạt động trong tiến trình tổng hợp và phân giải. |
|
195. The matter is intricate and we will not solve it at this time. |
195. Vấn đề này rất phức tạp và chúng ta sẽ không giải quyết nó vào lúc này. |
|
a. Of synthesis into the major three schemes. |
a. Về sự tổng hợp vào ba hệ chính. |
|
196. Since the numbers seven and three are closely related, the Heavenly Man is probably synthesized into one of the major three synthesizing schemes during the period when the seventh chain is focal in the mind of the Heavenly Man or upon the completion of that period.. |
196. Vì các số bảy và ba có liên hệ mật thiết, nên Đấng Thiên Nhân có lẽ được tổng hợp vào một trong ba hệ tổng hợp chính trong giai đoạn khi dãy thứ bảy là tiêu điểm trong trí tuệ của Đấng Thiên Nhân hoặc khi giai đoạn ấy hoàn tất.. |
|
197. Given this hypothesis, the abstraction period preparing for this absorption into one of the major three schemes would occur during the period in which the fifth and sixth chains of the scheme were emphasized. |
197. Theo giả thuyết này, giai đoạn trừu xuất chuẩn bị cho sự hấp thu vào một trong ba hệ chính sẽ xảy ra trong giai đoạn mà dãy thứ năm và thứ sáu của hệ được nhấn mạnh. |
|
b. Of resolution into the final one; |
b. Về sự phân giải vào Đấng cuối cùng; |
|
198. The resolution of the Heavenly Man into the “final one” must occur after He has been synthesized into one of the synthesizing planets. We are here considering the “final one” to be the Sun/Solar Logos. |
198. Sự phân giải của Đấng Thiên Nhân vào “Đấng cuối cùng” hẳn phải xảy ra sau khi Ngài đã được tổng hợp vào một trong các hành tinh tổng hợp. Ở đây chúng ta đang xem “Đấng cuối cùng” là Mặt Trời/Thái dương Thượng đế. |
|
199. If this is the case, we see that the Heavenly Man may well retain His identity even after He is absorbed into a synthesizing scheme. |
199. Nếu đúng như vậy, chúng ta thấy rằng Đấng Thiên Nhân rất có thể vẫn giữ được bản sắc của Ngài ngay cả sau khi Ngài được hấp thu vào một hệ tổng hợp. |
|
200. From the point of view of that type of Heavenly Man who is a Chain Lord, the “final one” is the Planetary Logos in His entirety, and not yet the Solar Logos. |
200. Từ quan điểm của loại Đấng Thiên Nhân là một Chúa Tể của Dãy, thì “Đấng cuối cùng” là Đức Hành Tinh Thượng Đế trong toàn thể của Ngài, chứ chưa phải là Thái dương Thượng đế. |
|
201. From the point of view of that type of Heavenly Man who is a Scheme Lord (and, thus, a Planetary Logos) the “final one” is the Solar Logos. |
201. Theo quan điểm của loại Đấng Thiên Nhân là Chúa Tể của một hệ hành tinh (và do đó là một Hành Tinh Thượng đế), “Đấng cuối cùng” là Thái dương Thượng đế. |
|
making again—with reverence may it be said—the nine cycles which cover the gestation of a Heavenly Man, and which precede His birth into yet higher worlds. |
xin được nói lại—với tất cả lòng tôn kính—chín chu kỳ bao trùm thời kỳ thai nghén của một Đấng Thiên Nhân, và là những chu kỳ đi trước sự giáng sinh của Ngài vào những thế giới còn cao hơn nữa. |
|
202. We are speaking of a form of birth which leads not to incarnation upon the fourth globe, but to liberation into higher spheres. |
202. Chúng ta đang nói về một hình thức sinh ra không dẫn đến sự nhập thể trên bầu hành tinh thứ tư, mà dẫn đến sự giải thoát vào các khối cầu cao hơn. |
|
203. To arrive at “nine cycles”, we will include seven rounds and two additional cycles (synthesis and resolution). As stated above, synthesis and resolution may be associated with additional or, perhaps, “inner” rounds. |
203. Để đạt đến “chín chu kỳ”, chúng ta sẽ bao gồm bảy cuộc tuần hoàn và hai chu kỳ bổ sung (tổng hợp và phân giải). Như đã nói ở trên, tổng hợp và phân giải có thể được liên kết với các cuộc tuần hoàn bổ sung hoặc, có lẽ, các cuộc tuần hoàn “nội tại”. |
|
204. DK has been talking about gestation and birth, and also (implicitly) of initiation. |
204. Chân sư DK đã nói về sự thai nghén và sinh ra, đồng thời cũng nói (một cách hàm ẩn) về điểm đạo. |
|
205. If our Planetary Logos is presently going through a kind of fourth initiation then the “Initiation of Birth” (the first initiation) must have occurred. |
205. Nếu Hành Tinh Thượng đế của chúng ta hiện đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư, thì “Điểm Đạo Giáng Sinh” (lần điểm đạo thứ nhất) hẳn đã xảy ra. |
|
206. Yet here, DK is speaking of the period during which the Planetary Logos’ initiations are occurring as if it was a period of “gestation”. |
206. Tuy nhiên, ở đây, Chân sư DK đang nói về thời kỳ trong đó các lần điểm đạo của Hành Tinh Thượng đế đang diễn ra như thể đó là một thời kỳ “thai nghén”. |
|
207. So, two processes are occurring in parallel: |
207. Vì vậy, có hai tiến trình đang diễn ra song song: |
|
a. In one process, the Planetary Logos, takes incarnation and undergoes certain initiation on our globe (cf. TCF 384) |
a. Trong một tiến trình, Hành Tinh Thượng đế nhập thể và trải qua một số điểm đạo nhất định trên bầu hành tinh của chúng ta (x. TCF 384) |
|
b. In another process, all that transpires for the Planetary Logos upon our globe is as a gestation process, preparatory to birth into “yet higher worlds”—higher than our globe. |
b. Trong một tiến trình khác, mọi điều xảy ra đối với Hành Tinh Thượng đế trên bầu hành tinh của chúng ta đều là một tiến trình thai nghén, chuẩn bị cho sự sinh ra vào “những thế giới còn cao hơn nữa”—cao hơn bầu hành tinh của chúng ta. |
|
208. If we are not cautious here, we will miss noting these parallel processes. |
208. Nếu ở đây chúng ta không thận trọng, chúng ta sẽ không nhận ra các tiến trình song song này. |
|
209. For the first kind of process, it would seem that the coming of Sanat Kumara to our planet was a kind of birth and an initiation as well to be followed by a series of initiations—taking in relation to our globe. |
209. Đối với loại tiến trình thứ nhất, dường như việc Đức Sanat Kumara đến hành tinh của chúng ta là một loại giáng sinh và cũng là một điểm đạo, tiếp theo sau là một chuỗi các điểm đạo—diễn ra trong liên hệ với bầu hành tinh của chúng ta. |
|
210. For the second kind of process, a number of initiations have to be completed within our chain and upon our globe before birth (into higher worlds occurs). These initiations, from this second perspective, would be taking place during a kind of continuing pre-natal process. |
210. Đối với loại tiến trình thứ hai, một số điểm đạo phải được hoàn tất trong dãy của chúng ta và trên bầu hành tinh của chúng ta trước khi sự sinh ra (vào các thế giới cao hơn) xảy ra. Từ quan điểm thứ hai này, các điểm đạo ấy sẽ diễn ra trong một loại tiến trình tiền sản liên tục. |
|
211. Could it be that those higher worlds represent life upon the fifth chain? If so, the Planetary Logos will be present in a form other than that of Sanat Kumara (Who ‘leaves’ after the “Judgment Day” of the fifth found of the fourth chain). |
211. Có thể nào những thế giới cao hơn ấy tượng trưng cho sự sống trên dãy thứ năm? Nếu vậy, Hành Tinh Thượng đế sẽ hiện diện trong một hình thức khác với hình thức của Đức Sanat Kumara (Đấng “rời đi” sau “Ngày Phán Xét” của cuộc tuần hoàn thứ năm của dãy thứ tư). |
|
212. Much caution is required in dealing with these matters. We must always be on the alert to differentiate chain rounds from scheme rounds. When “nine cycles” are discussed, we must make sure that all of these cycles are rounds. Perhaps only some of them are; perhaps all of them are. |
212. Cần hết sức thận trọng khi bàn đến những vấn đề này. Chúng ta phải luôn cảnh giác để phân biệt các cuộc tuần hoàn của dãy với các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh. Khi “chín chu kỳ” được bàn đến, chúng ta phải bảo đảm rằng tất cả các chu kỳ ấy đều là các cuộc tuần hoàn. Có lẽ chỉ một số trong đó là như vậy; có lẽ tất cả đều là như vậy. |
|
213. In the information here presented, there is far more that is hidden than revealed. Perhaps, every chain can have ten globes, seven of which are objective, three of which are subjective with tenth holding the place of the “One Resolver”. |
213. Trong thông tin được trình bày ở đây, điều bị che giấu nhiều hơn điều được mặc khải. Có lẽ mỗi dãy có thể có mười bầu hành tinh, bảy trong số đó là khách quan, ba trong số đó là chủ quan, với bầu thứ mười giữ vị trí của “Đấng Phân Giải Duy Nhất”. |
|
214. Perhaps every scheme can have ten chains, seven of which are more objective, and three of which are subjective with the tenth holding the place of the “One Resolver”. |
214. Có lẽ mỗi hệ hành tinh có thể có mười dãy, bảy trong số đó khách quan hơn, và ba trong số đó là chủ quan, với dãy thứ mười giữ vị trí của “Đấng Phân Giải Duy Nhất”. |
|
215. Given such a structure, there could be more than seven rounds per congery of globes (chain rounds) or per congery of chains (scheme rounds). The final rounds (would there be two additional or even three?) could be related to what is called the “Inner Round”. And the final rounds could be periods in which the processes of synthesis and resolution occur. |
215. Với một cấu trúc như vậy, có thể có nhiều hơn bảy cuộc tuần hoàn cho mỗi congery các bầu hành tinh (các cuộc tuần hoàn của dãy) hoặc cho mỗi congery các dãy (các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh). Các cuộc tuần hoàn cuối cùng (liệu có thêm hai hay thậm chí ba?) có thể liên hệ với điều được gọi là “Cuộc Tuần Hoàn Nội Tại”. Và các cuộc tuần hoàn cuối cùng có thể là những thời kỳ trong đó các tiến trình tổng hợp và phân giải xảy ra. |
|
216. The point is that subjectively such additional rounds could exist, even though evidence for their existence must be based upon extrapolated inference. |
216. Vấn đề là, về mặt chủ quan, những cuộc tuần hoàn bổ sung như vậy có thể tồn tại, mặc dù bằng chứng cho sự tồn tại của chúng phải dựa trên suy luận ngoại suy. |
|
217. In any case, we find Master DK apparently mixing chain rounds with chain cycles that may not be rounds; or mixing scheme rounds with scheme cycles which may not be scheme rounds—in order to arrive at the number nine, which number indicates a readiness for the Heavenly Man’s true birth (into higher worlds or dimensions). It is this apparent or possible mixture which has generated the need for such complex speculations. |
217. Dù sao đi nữa, chúng ta thấy Chân sư DK dường như đang trộn lẫn các cuộc tuần hoàn của dãy với các chu kỳ của dãy có thể không phải là các cuộc tuần hoàn; hoặc trộn lẫn các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh với các chu kỳ của hệ hành tinh có thể không phải là các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh—để đi đến con số chín, con số biểu thị sự sẵn sàng cho sự giáng sinh đích thực của Đấng Thiên Nhân (vào các thế giới hay chiều kích cao hơn). Chính sự pha trộn có vẻ như vậy hoặc có thể như vậy đã tạo ra nhu cầu cho những suy đoán phức tạp như thế. |
|
218. If a Heavenly Man is absorbed into one of the three synthesizing planets it is certainly equivalent to an initiation and to a birth “into yet higher worlds”. |
218. Nếu một Đấng Thiên Nhân được hấp thu vào một trong ba hành tinh tổng hợp, thì điều đó chắc chắn tương đương với một điểm đạo và với một sự sinh ra “vào những thế giới còn cao hơn nữa”. |
|
219. So in the progress of a Heavenly Man (or of Sanat Kumara) we have a kind of birth into incarnation on our globe accompanied by a series of initiations, AND a kind of later birth into higher worlds in relation to which all the initiations on our globe are as pre-natal events. |
219. Vì vậy, trong tiến trình của một Đấng Thiên Nhân (hay của Đức Sanat Kumara), chúng ta có một loại giáng sinh vào nhập thể trên bầu hành tinh của chúng ta đi kèm với một chuỗi các điểm đạo, VÀ một loại giáng sinh về sau vào các thế giới cao hơn mà trong tương quan với nó, tất cả các điểm đạo trên bầu hành tinh của chúng ta đều là những biến cố tiền sản. |
|
220. An unfolding incarnational, developmental process (complete with its initiations) is simply a prenatal period in relation to a future birth of a higher kind. |
220. Một tiến trình nhập thể và phát triển đang khai mở (bao gồm cả các điểm đạo của nó) chỉ đơn giản là một thời kỳ tiền sản trong tương quan với một sự sinh ra tương lai thuộc loại cao hơn. |
|
221. Are we aware that DK has been speaking of two types of processes simultaneously? |
221. Chúng ta có nhận ra rằng Chân sư DK đã nói đồng thời về hai loại tiến trình không? |
|
In this lies much food for thought, and much of moment [Page 372] for the profound student. |
Chính trong điều này có nhiều điều đáng suy ngẫm, và nhiều điều hệ trọng [Page 372] đối với đạo sinh sâu sắc. |
|
222. We have been attempting to digest somewhat the “food for thought” offered. There is often far more to the statements offered by DK than meets the eye. |
222. Chúng ta đã cố gắng phần nào tiêu hóa “nhiều điều đáng suy ngẫm” được đưa ra. Thường có nhiều điều hơn trong những phát biểu do Chân sư DK đưa ra so với điều mắt thấy. |
|
223. The Teaching is given and yet layer after layer of deeper teaching lies beneath that which has been presented. How deep do we wish to go? |
223. Giáo Huấn được ban ra, nhưng hết lớp này đến lớp khác của giáo huấn sâu xa hơn nằm bên dưới điều đã được trình bày. Chúng ta muốn đi sâu đến mức nào? |
|
We might couple with these suggestions the recollection that we are speaking here only of the Logos of our own scheme, and must carefully differentiate other cycles for the other Logoi—a thing as yet impossible for us. |
Chúng ta có thể gắn với những gợi ý này sự ghi nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ đang nói về Thượng đế của hệ hành tinh riêng của chúng ta, và phải cẩn thận phân biệt các chu kỳ khác của các Thượng đế khác—một điều hiện giờ chúng ta chưa thể làm được. |
|
224. Earlier in the text DK speaks of Heavenly Men in general and of processes within Heavenly Men which parallel process within Solar Logoi and human beings (cf. the MDR tabulation titled “Tabulation on the Work of Three Types of Units” relating to TCF 290-291)). |
224. Trước đó trong văn bản, Chân sư DK nói về các Đấng Thiên Nhân nói chung và về các tiến trình bên trong các Đấng Thiên Nhân song hành với các tiến trình bên trong các Thái dương Thượng đế và con người (x. bảng MDR có tiêu đề “Bảng về Công Việc của Ba Loại Đơn Vị” liên hệ với TCF 290-291)). |
|
225. In what is said here, we are speaking only of our own Planetary Logos. |
225. Trong điều được nói ở đây, chúng ta chỉ đang nói về Hành Tinh Thượng đế của riêng chúng ta. |
|
226. We may note that we began speaking of Sanat Kumara but shortly transitioned to a discussion our Heavenly Man in general. |
226. Chúng ta có thể lưu ý rằng chúng ta đã bắt đầu nói về Đức Sanat Kumara nhưng chẳng bao lâu đã chuyển sang một cuộc thảo luận về Đấng Thiên Nhân của chúng ta nói chung. |
|
227. The fact that Sanat Kumara is sometimes considered the Heavenly Man (as the full Planetary Logos) and sometimes is not is difficult. |
227. Việc Đức Sanat Kumara đôi khi được xem là Đấng Thiên Nhân (như Hành Tinh Thượng đế trọn vẹn) và đôi khi lại không phải như vậy là điều khó hiểu. |
|
As this is meditated upon and studied, the wonder and beauty of the plan will become apparent. |
Khi điều này được tham thiền và nghiên cứu, sự kỳ diệu và vẻ đẹp của Thiên Cơ sẽ trở nên hiển nhiên. |
|
228. So many unsuspected seeds for meditation are presented by DK throughout this book. |
228. Có biết bao hạt giống tham thiền không ngờ tới được Chân sư DK trình bày xuyên suốt cuốn sách này. |
|
A clue to the idea of the final Avatar is likewise to be seen here. |
Một manh mối về ý niệm Đấng Hoá Thân cuối cùng cũng có thể được thấy ở đây. |
|
229. It would seem that every type of type of incarnation of a Planetary Logos is a kind of “Avatar”. Thus, temporary incarnations are lesser Avatars and the final incarnation, or consummating incarnation, is the “final Avatar”. |
229. Dường như mọi loại nhập thể của một Hành Tinh Thượng đế đều là một loại “Đấng Hoá Thân”. Vì vậy, các nhập thể tạm thời là những Đấng Hoá Thân nhỏ hơn, và nhập thể cuối cùng, hay nhập thể viên mãn, là “Đấng Hoá Thân cuối cùng”. |
|
230. Always, it is the same Planetary Logos incarnating but with different degrees of fullness. |
230. Luôn luôn vẫn là cùng một Hành Tinh Thượng đế nhập thể nhưng với những mức độ viên mãn khác nhau. |
|
Many temporary incarnations precede this consummating one, which will be the incarnation wherein the Heavenly Man, in the full beauty of His completed seven cycles, and prior to His merging into His synthesising goal, will demonstrate as the embodiment of that perfected quality, or logoic aspect, for which He primarily stands. |
Nhiều nhập thể tạm thời đi trước nhập thể viên mãn này, là nhập thể trong đó Đấng Thiên Nhân, trong vẻ đẹp trọn vẹn của bảy chu kỳ đã hoàn tất của Ngài, và trước khi hòa nhập vào mục tiêu tổng hợp của Ngài, sẽ biểu lộ như hiện thân của phẩm tính hoàn hảo ấy, hay phương diện logoic ấy, mà Ngài chủ yếu đại diện. |
|
231. Here we are certainly speaking of the Heavenly Man as the full Planetary Logos of a planetary scheme, in this case, our Earth-scheme. |
231. Ở đây chắc chắn chúng ta đang nói về Đấng Thiên Nhân như Hành Tinh Thượng đế trọn vẹn của một hệ hành tinh, trong trường hợp này là hệ Địa Cầu của chúng ta. |
|
232. The consummating incarnation seems to signify the completion of seven scheme rounds and a focus upon the seventh planetary chain. If additional chains or additional rounds are involved, they must involve the “merging into His synthesising goal” and be deeply subjective. |
232. Nhập thể viên mãn dường như biểu thị sự hoàn tất bảy cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh và sự tập trung vào dãy hành tinh thứ bảy. Nếu có các dãy bổ sung hay các cuộc tuần hoàn bổ sung liên quan, thì chúng hẳn phải liên quan đến “sự hòa nhập vào mục tiêu tổng hợp của Ngài” và mang tính chủ quan sâu sắc. |
|
233. The implication from what is written is that our Planetary Logos is not yet demonstrating the perfected quality of the logoic aspect for which He primarily stands. |
233. Hàm ý từ điều được viết là Hành Tinh Thượng đế của chúng ta vẫn chưa biểu lộ phẩm tính hoàn hảo của phương diện logoic mà Ngài chủ yếu đại diện. |
|
234. In this solar system that quality may well be the second ray, the soul ray of our Planetary Logos (cf. EA 619). |
234. Trong hệ mặt trời này, phẩm tính ấy rất có thể là cung hai, cung linh hồn của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (x. EA 619). |
|
235. The word “primarily” however, may be an interesting allusion to the “primary ray” which is the monadic ray—in the case of our Planetary Logos, the first. |
235. Tuy nhiên, từ “chủ yếu” có thể là một ám chỉ thú vị đến “cung chính yếu”, tức là cung chân thần—trong trường hợp Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, là cung một. |
|
236. It does not seem possible, however, that the ultimate monadic consummation for our Planetary Logos would occur in this solar system, a system so focussed on the expression of soul. |
236. Tuy nhiên, dường như không thể nào sự viên mãn chân thần tối hậu của Hành Tinh Thượng đế chúng ta lại xảy ra trong hệ mặt trời này, một hệ tập trung rất mạnh vào sự biểu lộ của linh hồn. |
|
237. We have in an earlier Commentary reviewed the different types of incarnations through which a Heavenly Man may express: |
237. Trong một Cổ Luận trước đây, chúng ta đã điểm lại các loại nhập thể khác nhau qua đó một Đấng Thiên Nhân có thể biểu lộ: |
|
a. A scheme incarnation |
a. Một nhập thể của hệ hành tinh |
|
b. Chain incarnations |
b. Các nhập thể của dãy |
|
c. Globe incarnations |
c. Các nhập thể của bầu hành tinh |
|
d. Incarnations through kingdoms of nature |
d. Các nhập thể qua các giới trong thiên nhiên |
|
e. Through races, subraces, root races and branch races, etc. |
e. Qua các nhân loại, giống dân phụ, giống dân gốc và các giống dân nhánh, v.v. |
|
238. All these are “temporary incarnations”. |
238. Tất cả những điều này đều là “nhập thể tạm thời”. |
|
239. The consummating incarnation involves (so reason informs us) the completion of at least seven scheme rounds—however these rounds may be executed (as there are at least two options for execution with much overlapping possible.) |
239. Nhập thể viên mãn bao hàm (theo như lý trí cho chúng ta biết) sự hoàn tất ít nhất bảy cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh—dù các cuộc tuần hoàn ấy được thực hiện theo cách nào đi nữa (vì có ít nhất hai phương án thực hiện với rất nhiều khả năng chồng lấn). |
|
a. For instance, one scheme round may be complete once all chains have experienced their first round, but the onset of rounds within the chains may follow an overlapping process—for instance the first round of the second chain beginning only once the second round of the first chain has begun. |
a. Chẳng hạn, một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh có thể hoàn tất khi mọi dãy đều đã trải qua cuộc tuần hoàn thứ nhất của mình, nhưng sự khởi đầu các cuộc tuần hoàn trong các dãy có thể theo một tiến trình chồng lấn—ví dụ, cuộc tuần hoàn thứ nhất của dãy thứ hai chỉ bắt đầu khi cuộc tuần hoàn thứ hai của dãy thứ nhất đã bắt đầu. |
|
b. Or, the completion of seven chain rounds may be considered one scheme round. This is a more linear approach and does not account for the paralleling activity apparently occurring on all chains simultaneously. |
b. Hoặc, sự hoàn tất bảy cuộc tuần hoàn của dãy có thể được xem là một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh. Đây là một cách tiếp cận tuyến tính hơn và không tính đến hoạt động song hành dường như đang xảy ra đồng thời trên mọi dãy. |
|
240. There are many possibilities and no satisfying way (at this point) of confirming what the truth may be. |
240. Có rất nhiều khả năng và hiện chưa có cách nào thỏa đáng để xác nhận chân lý có thể là gì. |
|
As a centre in the body logoic, He will be fully vitalised, and the logoic kundalini will have stimulated, and aroused to perfection His systemic Lotus. |
Là một trung tâm trong thể logoic, Ngài sẽ được tiếp sinh lực trọn vẹn, và kundalini logoic sẽ kích thích và khơi dậy đến mức hoàn hảo Hoa sen hệ thống của Ngài. |
|
241. We are still speaking of the “final Avatar”, considered as the consummating incarnation of our Planetary Logos. |
241. Chúng ta vẫn đang nói về “Đấng Hoá Thân cuối cùng”, được xem như nhập thể viên mãn của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
242. Like all other Planetary Logoi, our Planetary Logos expresses as a multi-dimensional “Lotus” within the many vehicles of our Solar Logos. Just as our chakric lotuses are multidimensional, so, we may presume, are the lotuses of our Solar Logos. |
242. Giống như mọi Hành Tinh Thượng đế khác, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta biểu lộ như một “Hoa sen” đa chiều trong nhiều vận cụ của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Cũng như các hoa sen luân xa của chúng ta là đa chiều, thì, chúng ta có thể giả định, các hoa sen của Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng vậy. |
|
243. Our Planetary Logos represents one of these multi-dimensional Lotuses. |
243. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta tượng trưng cho một trong những Hoa sen đa chiều ấy. |
|
244. We note that kundalini is an instrument which brings entities into fulness of expression. The kundalini guarantees full unfoldment. |
244. Chúng ta lưu ý rằng kundalini là một công cụ đưa các thực thể đến sự biểu lộ viên mãn. Kundalini bảo đảm sự khai mở trọn vẹn. |
|
For a brief period He will shine forth radiant as the Sun in His glory; then the kundalinic fire will pass in higher progressive spirals, and He will gradually become centred in the corresponding logoic head centre, the higher triangle or the major three schemes. |
Trong một thời gian ngắn, Ngài sẽ chiếu sáng rực rỡ như Mặt Trời trong vinh quang của Ngài; sau đó lửa kundalini sẽ đi qua trong những vòng xoắn ốc tiến hóa cao hơn, và Ngài sẽ dần dần trở nên tập trung trong trung tâm đầu logoic tương ứng, tam giác cao hơn hay ba hệ hành tinh chính yếu. |
|
245. Here is a glorious picture planetary-logoic consummation. |
245. Ở đây là một bức tranh huy hoàng về sự viên mãn của Hành Tinh Thượng đế. |
|
246. Much occultism is revealed in the section immediately above. |
246. Nhiều huyền bí học được mặc khải trong đoạn ngay trên. |
|
247. Kundalini brings about a consummating incarnation occurring when seven cycles have been completed, yet the kundalini pursues still higher progressive spirals. |
247. Kundalini mang lại một nhập thể viên mãn xảy ra khi bảy chu kỳ đã hoàn tất, tuy nhiên kundalini vẫn tiếp tục theo đuổi những vòng xoắn ốc tiến hóa còn cao hơn nữa. |
|
248. Cycles in excess of seven seem to be suggested. Nine cycles are discussed above (TCF 371) |
248. Dường như có gợi ý về các chu kỳ vượt quá số bảy. Chín chu kỳ đã được bàn ở trên (TCF 371) |
|
249. During this further and subjective development, the stages of obscuration and absorption (also called synthesis and resolution) are pursued. The kundalini is also instrumental in producing these more subjective states (lying within and ‘above’ the perfected objectivity of the number seven). |
249. Trong sự phát triển tiếp theo và mang tính chủ quan này, các giai đoạn che mờ và hấp thu (cũng được gọi là tổng hợp và phân giải) được theo đuổi. Kundalini cũng là công cụ tạo ra những trạng thái chủ quan hơn này (nằm bên trong và “ở trên” tính khách quan hoàn hảo của con số bảy). |
|
250. The three higher centers in any energy system are generally considered the head, heart and throat. It is possible, however, to abstract the three into the head (and even into the head center itself). |
250. Ba trung tâm cao hơn trong bất kỳ hệ thống năng lượng nào thường được xem là đầu, tim và cổ họng. Tuy nhiên, cũng có thể rút ba trung tâm ấy vào đầu (và thậm chí vào chính trung tâm đầu). |
|
251. If abstracted into the head, we would have the crown, the ajna and the alta major center represented (in the Solar Logos) by Uranus, Neptune and Saturn respectively. |
251. Nếu được rút vào đầu, chúng ta sẽ có trung tâm đỉnh đầu, ajna và trung tâm alta major, lần lượt được biểu thị (trong Thái dương Thượng đế) bởi Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Thổ. |
|
252. If abstracted into the crown center, then the “Jewel in the Lotus” of the twelve petalled head center would be represented by Uranus, the twelve major petals by Neptune and all the other petals by Saturn. |
252. Nếu được rút vào trung tâm đỉnh đầu, thì “Ngọc trong Hoa Sen” của trung tâm đầu mười hai cánh sẽ được biểu thị bởi Sao Thiên Vương, mười hai cánh chính bởi Sao Hải Vương, và tất cả các cánh khác bởi Sao Thổ. |
|
253. Will the Heavenly Man be centered in one logoic head center or in a triangle? Or is the “corresponding logoic head center” really a triangle? The words used are slightly ambiguous. |
253. Đấng Thiên Nhân sẽ tập trung trong một trung tâm đầu logoic hay trong một tam giác? Hay “trung tâm đầu logoic tương ứng” thực ra là một tam giác? Những từ được dùng hơi mơ hồ. |
|
254. We will have to discover in the Heavenly Man the analogy to the seven higher head centers, the “greater seven” in the life of the microcosm. Are there inner schemes which relate to these seven head centers? Just as the “greater seven” may be considered important in the absorption of the life force of the microcosm at the time of abstraction, is there a parallel in the life of the Heavenly Man? |
254. Chúng ta sẽ phải khám phá nơi Đấng Thiên Nhân sự tương đồng với bảy trung tâm đầu cao hơn, “bảy lớn hơn” trong đời sống của tiểu thiên địa. Có những hệ hành tinh nội tại nào liên hệ với bảy trung tâm đầu này không? Cũng như “bảy lớn hơn” có thể được xem là quan trọng trong sự hấp thu sinh lực của tiểu thiên địa vào lúc rút ra, liệu có một sự song hành trong đời sống của Đấng Thiên Nhân không? |
|
To illustrate by means of a human being, the microcosm: Man attains a period of high development wherein his heart and throat centre are perfected and vitalised; |
Để minh họa bằng con người, tức tiểu thiên địa: Con người đạt đến một thời kỳ phát triển cao trong đó trung tâm tim và trung tâm cổ họng của y được hoàn thiện và tiếp sinh lực; |
|
255. To clarify the process which occurs in relation a Heavenly Man, DK uses the human analogy. |
255. Để làm sáng tỏ tiến trình xảy ra trong liên hệ với một Đấng Thiên Nhân, Chân sư DK dùng phép tương đồng nơi con người. |
|
256. We are speaking here of developmental phases involving, eventually, the three major chakras. |
256. Ở đây chúng ta đang nói về các giai đoạn phát triển cuối cùng liên quan đến ba luân xa chính. |
|
257. As stated, the three major centers are usually considered head, heart and throat. |
257. Như đã nói, ba trung tâm chính thường được xem là đầu, tim và cổ họng. |
|
258. Immediately above DK mentions a developmental phase in which two of the three major centers are perfected and vitalized. |
258. Ngay phía trên, Chân sư DK đề cập đến một giai đoạn phát triển trong đó hai trong ba trung tâm chính được hoàn thiện và tiếp sinh lực. |
|
259. The second and third aspects fully stimulated, coordinated and allied. |
259. Phương diện thứ hai và thứ ba được kích thích, phối hợp và liên kết trọn vẹn. |
|
they become radiant whorls of fire, fourth dimensional in action, and allied with each other and with some other centre; |
chúng trở thành những vòng xoáy lửa rực sáng, hoạt động trong chiều thứ tư, và liên kết với nhau và với một trung tâm nào khác; |
|
260. Another center (not yet the head center) is united with these two major centers. |
260. Một trung tâm khác (chưa phải là trung tâm đầu) được hợp nhất với hai trung tâm chính này. |
|
they become likewise the object of the attention of human kundalini. This is a period of great activity and magnetic usefulness. |
chúng cũng trở thành đối tượng của sự chú ý của kundalini nơi con người. Đây là một thời kỳ hoạt động lớn lao và hữu dụng từ tính. |
|
261. The two major centers and one other center form a triangle which becomes, likewise, the object of kundalini. |
261. Hai trung tâm chính và một trung tâm khác tạo thành một tam giác, tam giác này cũng trở thành đối tượng của kundalini. |
|
262. The very active (third aspect) and magnetic (second aspect) period described is one of soul expression. It is not yet the period of total consummation, obscuration and absorption. It is not yet the phase of synthesis and resolution. |
262. Thời kỳ rất hoạt động (phương diện thứ ba) và từ tính (phương diện thứ hai) được mô tả là một thời kỳ biểu lộ của linh hồn. Đó chưa phải là thời kỳ viên mãn hoàn toàn, che mờ và hấp thu. Đó chưa phải là giai đoạn tổng hợp và phân giải. |
|
It is succeeded by still another, wherein the three head centres are synthesising their seven minor correspondences, and the force of kundalini passes there. As above, so below. |
Tiếp theo đó là một thời kỳ khác nữa, trong đó ba trung tâm đầu đang tổng hợp bảy tương ứng nhỏ của chúng, và mãnh lực kundalini đi vào đó. trên sao, dưới vậy. |
|
263. We have here a decad and not simply a septenate. |
263. Ở đây chúng ta có một decad chứ không chỉ đơn giản là một bộ bảy. |
|
264. We are not sure of which three head centers DK may be speaking. |
264. Chúng ta không chắc Chân sư DK có thể đang nói đến ba trung tâm đầu nào. |
|
265. It is interesting that seven minor should correspond to three major. Usually, when dealing with correspondences, the corresponding groups have the same number of members. |
265. Điều đáng chú ý là bảy yếu tố nhỏ lại tương ứng với ba yếu tố lớn. Thông thường, khi bàn đến các tương ứng, các nhóm tương ứng có cùng số lượng thành viên. |
|
266. DK is speaking of a strictly spiritual period following upon the period of full soul expression through the activity aspect. |
266. Chân sư DK đang nói về một thời kỳ hoàn toàn tinh thần tiếp theo sau thời kỳ biểu lộ trọn vẹn của linh hồn qua phương diện hoạt động. |
|
267. We can imagine a period in which three supreme head center are synthesizing what are usually called the “seven head centers” (the “greater seven”). Or on a somewhat lesser scale, we could imagine that three of seven head centers (the “greater seven”) are synthesizing the seven centers called the “lesser seven”—all this occurring upon the “double circle” (cf. IHS 200). |
267. Chúng ta có thể hình dung một thời kỳ trong đó ba trung tâm đầu tối cao đang tổng hợp điều thường được gọi là “bảy trung tâm đầu” (“bảy lớn hơn”). Hoặc ở một quy mô nhỏ hơn đôi chút, chúng ta có thể hình dung rằng ba trong bảy trung tâm đầu (“bảy lớn hơn”) đang tổng hợp bảy trung tâm được gọi là “bảy nhỏ hơn”—tất cả điều này xảy ra trên “vòng tròn kép” (x. IHS 200). |
|
268. For the man, there are ten. For the Solar Logos there are ten, and (although no chart portrays it), for the Planetary Logos there are also ten. There are always a higher three and a lower seven. |
268. Đối với con người, có mười. Đối với Thái dương Thượng đế, có mười, và (mặc dù không có biểu đồ nào mô tả điều đó), đối với Hành Tinh Thượng đế cũng có mười. Luôn luôn có ba cao hơn và bảy thấp hơn. |
|
I have especially mentioned these two centres in the microcosm as they are closely concerned (on a larger scale) with the particular cycles through which our [Page 374] planetary Logos passes, and because they represent the third and second aspects. |
Tôi đặc biệt đề cập đến hai trung tâm này trong tiểu thiên địa vì chúng liên hệ mật thiết (trên quy mô lớn hơn) với các chu kỳ đặc thù mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trải qua, và vì chúng tượng trưng cho phương diện thứ ba và thứ hai. |
|
269. This is clear: “activity” suggests the third aspect and “magnetism” the second. |
269. Điều này rõ ràng: “hoạt động” gợi ý phương diện thứ ba và “từ tính” gợi ý phương diện thứ hai. |
|
270. Our Planetary Logos is not yet expressing as a Spirit. His monadic ray (while identified and numbered) is as yet occultly non-effective. |
270. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chưa biểu lộ như một Tinh thần. Cung chân thần của Ngài (dù đã được nhận diện và đánh số) hiện vẫn chưa hữu hiệu theo nghĩa huyền bí. |
|
271. His task is to become a full soul in expressive incarnation. |
271. Nhiệm vụ của Ngài là trở thành một linh hồn trọn vẹn trong nhập thể biểu lộ. |
|
272. This means that His second ray soul must infuse His third ray personality. |
272. Điều này có nghĩa là linh hồn cung hai của Ngài phải thấm nhuần phàm ngã cung ba của Ngài. |
|
273. Our Planetary Logos is taking a minor fourth initiation through His fourth chain, the Earth-chain. Once He takes His fifth minor initiation, He will become more highly expressive of His soul nature, at least through His fourth chain. |
273. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua một lần điểm đạo thứ tư nhỏ qua dãy thứ tư của Ngài, Dãy Địa Cầu. Một khi Ngài trải qua lần điểm đạo thứ năm nhỏ của Ngài, Ngài sẽ biểu lộ bản chất linh hồn của Ngài ở mức độ cao hơn, ít nhất là qua dãy thứ tư của Ngài. |
|
274. Yet it must not be forgotten that in a cosmic sense, He has not yet taken the second initiation, and so, from a scheme perspective, is yet far from being a fully expressing soul. |
274. Tuy nhiên, không được quên rằng theo nghĩa vũ trụ, Ngài vẫn chưa trải qua lần điểm đạo thứ hai, và vì vậy, từ quan điểm của hệ hành tinh, Ngài vẫn còn rất xa mới là một linh hồn biểu lộ trọn vẹn. |
|
275. Chart VI, immediately below, is one of the most challenging charts in TCF. We will attempt bring forward some thoughts which, if pondered, may lead to greater understanding. |
275. Biểu đồ VI, ngay bên dưới, là một trong những biểu đồ thách thức nhất trong TCF. Chúng ta sẽ cố gắng đưa ra một số tư tưởng mà, nếu được suy ngẫm, có thể dẫn đến sự thấu hiểu lớn hơn. |
|
276. Much that is said will necessarily be speculative and based upon the Law of Correspondences. |
276. Phần lớn những gì được nói ra tất yếu sẽ mang tính suy đoán và dựa trên định luật tương ứng. |
|
CHART VI |
BIỂU ĐỒ VI |
|
The Divine Septenary hanging from the Triad thus forming the Decad and its permutations 7, 5, 4, 3, (S.D. ( Vol. I, pp. 259) |
Bộ Bảy Thiêng Liêng treo từ Tam nguyên tinh thần xuống, do đó hình thành decad và các hoán vị của nó 7, 5, 4, 3, (S.D. ( Tập I, tr. 259) |
|
277. The Triad represented below is the Sun. We can call it the ‘Solar Triad’. |
277. Tam nguyên tinh thần được biểu thị bên dưới là Mặt Trời. Chúng ta có thể gọi nó là ‘Tam nguyên tinh thần Thái dương’. |
|
278. Even though the structures which ‘hang’ from the Triad are nine or ten in number, they are called the “Divine Septenary”. Some of the lesser structures within the nine or ten must, therefore, be enfolded into a seven. |
278. Mặc dù các cấu trúc “treo” từ Tam nguyên tinh thần xuống có số lượng là chín hoặc mười, chúng vẫn được gọi là “Bộ Bảy Thiêng Liêng”. Do đó, một số cấu trúc nhỏ hơn bên trong số chín hay mười ấy hẳn phải được bao hàm vào trong một bộ bảy. |
|
279. When the Divine Septenary is added to the ‘Solar Triad’, the Decad is produced. |
279. Khi Bộ Bảy Thiêng Liêng được cộng vào ‘Tam nguyên tinh thần Thái dương’, Decad được tạo thành. |
|
280. We can see that in occult philosophy there are many ways of counting. |
280. Chúng ta có thể thấy rằng trong triết học huyền bí có nhiều cách đếm. |
|
281. If one studies the geometry created by the arrangement of schemes and chains one can find most of the permutations 7, 5, 4, 3. Also 2 and 6 are to be found. The 5 is the most difficult to find but some methods of analyzing the scheme and their relationships may reveal it. |
281. Nếu nghiên cứu hình học được tạo ra bởi sự sắp xếp của các hệ hành tinh và các dãy, người ta có thể tìm thấy hầu hết các hoán vị 7, 5, 4, 3. Cả 2 và 6 cũng có thể được tìm thấy. Số 5 là khó tìm nhất nhưng một số phương pháp phân tích hệ hành tinh và các tương quan của chúng có thể làm lộ ra nó. |
|
282. According to the definition of “permutation” below, there are many ways to arrange the schemes given in Chart VI. The use of the word “permutations” (as HPB uses it) seems to suggest more than the formal definition. |
282. Theo định nghĩa về “hoán vị” dưới đây, có nhiều cách để sắp xếp các hệ hành tinh được nêu trong Biểu đồ VI. Việc dùng từ “hoán vị” (theo cách HPB dùng) dường như gợi ý nhiều hơn định nghĩa hình thức. |
|
The concept of a permutation expresses the idea that distinguishable objects may be arranged in various different orders. For instance, with the numbers one to six, each possible order makes a list of the numbers, without repetitions. One such permutation is: “3, 4, 6, 1, 2, 5”. |
Khái niệm hoán vị diễn tả ý tưởng rằng các đối tượng có thể phân biệt được có thể được sắp xếp theo nhiều trật tự khác nhau. Chẳng hạn, với các số từ một đến sáu, mỗi trật tự khả dĩ tạo thành một danh sách các số, không lặp lại. Một hoán vị như thế là: “3, 4, 6, 1, 2, 5”. |
|
There are a number of ways in which the permutation concept may be defined more formally. A permutation is an ordered sequence containing each symbol from a set once and only once; (Wikipedia) |
Có một số cách để định nghĩa khái niệm hoán vị một cách hình thức hơn. Hoán vị là một dãy có thứ tự chứa mỗi ký hiệu của một tập hợp một lần và chỉ một lần; (Wikipedia) |

|
283. We will now examine this chart for its implications. |
283. Bây giờ chúng ta sẽ khảo sát biểu đồ này về các hàm ý của nó. |
|
284. When studying this chart, please use the diagram in your TCF book as several details present in that chart were not accurately transferred into the electronic representation of the chart on the AAB CDRom. |
284. Khi nghiên cứu biểu đồ này, xin vui lòng dùng sơ đồ trong sách TCF của bạn vì một số chi tiết trong biểu đồ đó đã không được chuyển chính xác vào bản trình bày điện tử của biểu đồ trên AAB CDRom. |
|
285. We have a diagram presenting either nine or ten planetary schemes (depending upon how we wish to deal with the ‘double Saturn’). Included in the diagram is the Sun considered as the “One Resolver”. |
285. Chúng ta có một sơ đồ trình bày hoặc chín hoặc mười hệ hành tinh (tùy theo cách chúng ta muốn xử lý ‘Sao Thổ kép’). Trong sơ đồ có bao gồm Mặt Trời được xem như “Đấng Phân Giải Duy Nhất”. |
|
286. The three great aspects of divinity are represented by Uranus, Neptune and the large circle including six planetary schemes (Vulcan, Venus, Mars, Earth, Mercury and Jupiter) plus Saturn found in the center of the hexagon (let us call it the ‘central Saturn-scheme’ or ‘central Saturn’. |
286. Ba phương diện lớn của thiên tính được biểu thị bởi Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và vòng tròn lớn bao gồm sáu hệ hành tinh (Vulcan, Sao Kim, Sao Hỏa, Trái Đất, Sao Thủy và Sao Mộc) cộng với Sao Thổ nằm ở trung tâm của hình lục giác (chúng ta hãy gọi nó là ‘hệ Sao Thổ trung tâm’ hay ‘Sao Thổ trung tâm’. |
|
287. We notice that a large triangle connects the centers of the Uranus-scheme, the Neptune-scheme and the Saturn-scheme. |
287. Chúng ta nhận thấy một tam giác lớn nối các trung tâm của hệ Sao Thiên Vương, hệ Sao Hải Vương và hệ Sao Thổ. |
|
288. There appears to be a Saturn which is simply one of the sevenfold planetary schemes, and a greater Saturn which in the form of Brahma, includes six other planetary schemes (and perhaps more that are not shown in this diagram—planets such as Pluto and other planets of lower order). We will call the sevenfold system ‘greater Saturn’. |
288. Dường như có một Sao Thổ chỉ đơn giản là một trong bảy hệ hành tinh, và một Sao Thổ lớn hơn mà dưới hình thức Brahma, bao gồm sáu hệ hành tinh khác (và có lẽ còn nhiều hơn nữa không được trình bày trong sơ đồ này—những hành tinh như Sao Diêm Vương và các hành tinh khác thuộc cấp thấp hơn). Chúng ta sẽ gọi hệ thống bảy phần này là ‘Sao Thổ lớn hơn’. |
|
289. Saturn is said to be (eventually) the synthesizer or “major resolution” of all the seven. |
289. Sao Thổ được nói là (rốt cuộc) đấng tổng hợp hay “sự phân giải lớn” của cả bảy. |
|
“Saturn is the synthesising scheme for the four planets which embody manas pure and simple and is the major resolution for the minor four and eventually for all The Seven.” (EA 668-669, TCF 370) |
“Sao Thổ là hệ hành tinh tổng hợp cho bốn hành tinh hiện thân cho manas thuần túy và đơn giản, và là sự phân giải lớn cho bốn nhỏ hơn và cuối cùng cho tất cả Bảy.” (EA 668-669, TCF 370) |
|
290. It is important to know which “seven” are meant. If we study Chart VI we may understand that ‘greater Saturn’ may be synthesizer of six planetary schemes plus the ‘lesser Saturn’. |
290. Điều quan trọng là phải biết “bảy” nào được nói đến. Nếu nghiên cứu Biểu đồ VI, chúng ta có thể hiểu rằng ‘Sao Thổ lớn hơn’ có thể là đấng tổng hợp của sáu hệ hành tinh cộng với ‘Sao Thổ nhỏ hơn’. |
|
291. Often the term “minor four” may mean the four Rays of Attribute, but if we examine the planets distributing the Rays of Attribute we shall have to include not only Mercury and Venus (two very manasic planets) but also Uranus and Neptune (very reasonably the greatest planets in our solar system). It is highly unlikely that Saturn is the synthesizer of Uranus and Neptune (two highly advance, esoteric and synthetic planets). |
291. Thường thì thuật ngữ “bốn nhỏ hơn” có thể có nghĩa là bốn Các Cung Thuộc Tính, nhưng nếu khảo sát các hành tinh phân phối Các Cung Thuộc Tính, chúng ta sẽ phải bao gồm không chỉ Sao Thủy và Sao Kim (hai hành tinh rất manas) mà còn cả Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương (rất hợp lý là những hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời của chúng ta). Rất khó có khả năng Sao Thổ là đấng tổng hợp của Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương (hai hành tinh rất tiến bộ, nội môn và tổng hợp). |
|
292. If we simply focus on the diagram and choose the path of simplicity, we can choose to think that Saturn (‘greater Saturn’) is the synthesizer of the seven schemes diagramed within the large circle (as distinct from the large oval). |
292. Nếu chúng ta chỉ tập trung vào sơ đồ và chọn con đường đơn giản, chúng ta có thể chọn nghĩ rằng Sao Thổ (‘Sao Thổ lớn hơn’) là đấng tổng hợp của bảy hệ hành tinh được vẽ trong vòng tròn lớn (phân biệt với hình bầu dục lớn). |
|
293. Chart VI is an extensive diagram. It depicts the major stellar and planetary Entities within our solar system—i.e., nine or ten planetary chains (depending on how one chooses to count). It depicts seven planetary chains within every one of the planetary schemes. It depicts seven globes within each planetary chain. |
293. Biểu đồ VI là một sơ đồ rộng lớn. Nó mô tả các Thực Thể tinh tú và hành tinh chính yếu trong hệ mặt trời của chúng ta—tức là chín hay mười dãy hành tinh (tùy theo cách người ta chọn đếm). Nó mô tả bảy dãy hành tinh trong mỗi một hệ hành tinh. Nó mô tả bảy bầu hành tinh trong mỗi dãy hành tinh. |
|
294. We will focus on the arrangement of the chains and globes and the particular geometry which (when articulated rather than presented in a conventional manner—as in the Uranus and Neptune schemes) may reveal something about the nature of the chains especially. A later diagram (TCF 385) tells us even more about the structure of chains (within the Earth-scheme) and a little about the relative importance of globes within those chains. |
294. Chúng ta sẽ tập trung vào sự sắp xếp của các dãy và các bầu hành tinh cùng hình học đặc thù mà (khi được trình bày theo cách khai triển thay vì theo lối quy ước—như trong các hệ Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương) có thể tiết lộ điều gì đó về bản chất của đặc biệt là các dãy. Một sơ đồ về sau (TCF 385) cho chúng ta biết nhiều hơn nữa về cấu trúc của các dãy (trong hệ Địa Cầu) và một ít về tầm quan trọng tương đối của các bầu hành tinh trong các dãy ấy. |
|
295. We notice that the Sun is represented as a triangle. Really this triangle depicts the Solar Logos and not the physical Sun, just as any scheme given a usual planetary name represents the Planetary Logos Who uses that scheme as a vehicle of expression and not just the physical vehicle of that Logos. |
295. Chúng ta nhận thấy Mặt Trời được biểu thị như một tam giác. Thực ra tam giác này mô tả Thái dương Thượng đế chứ không phải Mặt Trời hồng trần, cũng như bất kỳ hệ hành tinh nào được gọi bằng một tên hành tinh thông thường đều tượng trưng cho Hành Tinh Thượng đế, Đấng dùng hệ ấy như một vận cụ biểu lộ, chứ không chỉ là vận cụ hồng trần của Thượng đế ấy. |
|
296. The uppermost triangle (the ‘Solar Triad’) should perhaps be represented as a triangle with a central “eye”. We do see that the importance of the center of the triangle is implied because a line extends downwards from the center of that triangle and goes straight to the very center of the triangle found in the center of the Uranus-scheme. |
296. Tam giác cao nhất (“Tam Nguyên Thái Dương”) có lẽ nên được biểu thị như một tam giác với một “mắt” ở trung tâm. Chúng ta quả thật thấy rằng tầm quan trọng của trung tâm tam giác được hàm ý, bởi vì một đường kéo xuống từ trung tâm của tam giác ấy và đi thẳng đến chính trung tâm của tam giác nằm ở trung tâm của hệ Uranus. |
|
297. We note that the line extending from the Sun is dotted, whereas the lines connecting the Uranus, Neptune and ‘greater Saturn’ schemes are continuous. |
297. Chúng ta lưu ý rằng đường kéo ra từ Mặt Trời là nét đứt, trong khi các đường nối các hệ Uranus, Neptune và “Saturn lớn hơn” thì là nét liền. |
|
298. A dotted line suggests a line of connection that is real but not yet complete. We will notice that between some of the planetary schemes within ‘greater Saturn’ dotted lines are drawn rather than continuous lines. |
298. Một đường nét đứt gợi ý một đường liên kết có thực nhưng chưa hoàn chỉnh. Chúng ta sẽ nhận thấy rằng giữa một số hệ hành tinh bên trong “Saturn lớn hơn”, các đường nét đứt được vẽ thay vì các đường nét liền. |
|
299. Dotted lines connect each of the six intra-Saturnian schemes with the ‘central Saturn-scheme’. By extension, dotted lines connect: |
299. Các đường nét đứt nối mỗi một trong sáu hệ nội-Saturn với “hệ Saturn trung tâm”. Theo sự mở rộng, các đường nét đứt nối: |
|
a. Vulcan and the Earth |
a. Vulcan và Trái Đất |
|
b. Mercury and Venus |
b. Mercury và Venus |
|
c. Jupiter and Mars |
c. Jupiter và Mars |
|
300. The triangles at the center of both the Uranus and Neptune schemes are like replicas of the triangle representing the Sun. In fact, every scheme has its triangular replication of the ‘Solar Triad’. |
300. Các tam giác ở trung tâm của cả hai hệ Uranus và Neptune giống như những bản sao của tam giác biểu thị Mặt Trời. Thật vậy, mỗi hệ đều có sự sao chép tam giác của “Tam Nguyên Thái Dương”. |
|
301. Our Solar Logos is dual, representing Love and Wisdom. It may be that, of all the planetary schemes, the Uranus and Neptune schemes more completely represent this duality. Uranus would be correlated with Wisdom and Neptune with Love. |
301. Thái dương Thượng đế của chúng ta là nhị nguyên, biểu thị Bác ái và minh triết. Có thể là, trong tất cả các hệ hành tinh, các hệ Uranus và Neptune biểu thị nhị nguyên tính này đầy đủ hơn cả. Uranus sẽ tương ứng với minh triết và Neptune với Bác ái. |
|
302. From another perspective, Uranus is a reflection of the Central Spiritual Sun and the electric fire of the Solar Logos, while Neptune is a reflection of the Heart of the Sun and the solar fire of the Solar Logos. |
302. Từ một góc nhìn khác, Uranus là một phản chiếu của Mặt trời Tinh thần Trung Ương và Lửa Điện của Thái dương Thượng đế, trong khi Neptune là một phản chiếu của Trái Tim của Mặt Trời và Lửa Thái dương của Thái dương Thượng đế. |
|
303. The Central Spiritual Sun and the Heart of the Sun are the two most esoteric factors in the constitution of the Solar Logos and they are reflected by the two most esoteric planets in our solar system. |
303. Mặt trời Tinh thần Trung Ương và Trái Tim của Mặt Trời là hai yếu tố huyền bí nhất trong cấu tạo của Thái dương Thượng đế, và chúng được phản chiếu bởi hai hành tinh huyền bí nhất trong hệ mặt trời của chúng ta. |
|
304. The triangles at the center of the Uranus and Neptune schemes are very easy to see because of the circular manner in which the seven chains are drawn in the diagrams representing these schemes. |
304. Các tam giác ở trung tâm của các hệ Uranus và Neptune rất dễ thấy vì cách thức hình tròn mà bảy dãy được vẽ trong các sơ đồ biểu thị các hệ này. |
|
305. However, if one looks closely, one sees that each of the schemes in Chart VI has a central triangle. |
305. Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ, người ta sẽ thấy rằng mỗi hệ trong Biểu Đồ VI đều có một tam giác trung tâm. |
|
306. In each scheme, therefore, there is a structure or relationship representing the ‘Solar Triad’. The ‘Solar Triad’ may, in fact, represent the Three Logoi of our solar system (Logoi surrounding and subsidiary to the Solar Logos). Our Solar Logos, per se, could then be represented as a point within the triangle or an “Eye” within the triangle. |
306. Vì vậy, trong mỗi hệ đều có một cấu trúc hay tương quan biểu thị “Tam Nguyên Thái Dương”. “Tam Nguyên Thái Dương” thật ra có thể biểu thị Ba Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta (Các Thượng đế bao quanh và phụ thuộc vào Thái dương Thượng đế). Khi ấy, chính Thái dương Thượng đế của chúng ta có thể được biểu thị như một điểm bên trong tam giác hay một “Mắt” bên trong tam giác. |
|
307. Could it be that each central triangle represents three subjective chains, for tenfoldness is to be found within each entity—from the atom (drawn by Babbitt), to the man, to the Heavenly Man to the Solar Logos. |
307. Có thể chăng mỗi tam giác trung tâm biểu thị ba dãy chủ quan, vì tính thập phân được tìm thấy trong mỗi thực thể—từ nguyên tử (do Babbitt vẽ), đến con người, đến Đấng Thiên Nhân, đến Thái dương Thượng đế. |
|
308. The Kabbalistic “Tree of Life” is the tenfold structure consisting of a three and a seven. Each of the schemes displays this structure. |
308. “Cây Sự Sống” của Kabbalah là cấu trúc thập phân gồm một ba và một bảy. Mỗi hệ đều biểu lộ cấu trúc này. |
|
309. There is much mystery concerning the true nature of the “inner round”. Perhaps there are some planetary schemes (like Mercury) in which the inner round plays a more prominent role in planetary process. But could it be that the inner triangle in each scheme (if it represents three deeply subjective chains) could be the planetary ‘locale’ in which a type of inner round could be pursued? This though is, of course, speculative. |
309. Có rất nhiều huyền nhiệm liên quan đến bản chất thực sự của “cuộc tuần hoàn nội tại”. Có lẽ có một số hệ hành tinh (như Mercury) trong đó cuộc tuần hoàn nội tại giữ một vai trò nổi bật hơn trong tiến trình hành tinh. Nhưng có thể chăng tam giác bên trong của mỗi hệ (nếu nó biểu thị ba dãy chủ quan sâu kín) có thể là “địa điểm” hành tinh nơi một loại cuộc tuần hoàn nội tại có thể được theo đuổi? Tuy nhiên, dẫu sao đây vẫn chỉ là suy đoán. |
|
310. Perhaps the important thing to notice is that the presence of the triangles within otherwise sevenfold schemes renders all these schemes (in a way) tenfold. The triangle is a three, which added to the seven chains make a ten. |
310. Có lẽ điều quan trọng cần lưu ý là sự hiện diện của các tam giác bên trong những hệ vốn là thất phân khiến cho tất cả các hệ này, theo một nghĩa nào đó, trở thành thập phân. Tam giác là một ba, cộng với bảy dãy tạo thành một mười. |
|
311. The number ten is often appearing in relation to otherwise sevenfold systems. |
311. Số mười thường xuất hiện trong liên hệ với những hệ vốn là thất phân. |
|
a. We are often told that there are ten planetary schemes even though we know there are more, and even though seven sacred planets and seven rays are customary methods of depicting the structure of our solar system. |
a. Chúng ta thường được bảo rằng có mười hệ hành tinh mặc dù chúng ta biết là có nhiều hơn, và mặc dù bảy hành tinh thiêng liêng và bảy cung là những phương pháp thông dụng để mô tả cấu trúc của hệ mặt trời chúng ta. |
|
b. We are also told that there are as many as ten chains within a planetary scheme, even though the usual method of depicting planetary schemes represents them as sevenfold. |
b. Chúng ta cũng được bảo rằng có đến mười dãy trong một hệ hành tinh, mặc dù phương pháp thông thường để mô tả các hệ hành tinh là biểu thị chúng như thất phân. |
|
312. Ten is the number of perfected synthesis whereas seven is the number of only a relative perfection. Ten is, therefore, a more synthetic number than seven. |
312. Mười là con số của sự tổng hợp hoàn thiện, trong khi bảy là con số chỉ của một sự hoàn thiện tương đối. Vì vậy, mười là một con số có tính tổng hợp hơn bảy. |
|
313. (Interestingly, in one reference, “ten” is also called a number of “relative perfection”—cf. TCF 823.) |
313. (Điều thú vị là, trong một tài liệu tham chiếu, “mười” cũng được gọi là con số của “sự hoàn thiện tương đối”—xem TCF 823.) |
|
314. All the planets embody the number “ten” if the central triangle is counted. |
314. Tất cả các hành tinh đều thể hiện con số “mười” nếu tam giác trung tâm được tính đến. |
|
315. The Solar Logos is also represented by a ten, as, (counting the double Saturn), there are ten planetary schemes shown within the large oval representing the solar system. |
315. Thái dương Thượng đế cũng được biểu thị bằng một mười, vì, (tính cả Saturn kép), có mười hệ hành tinh được trình bày trong hình bầu dục lớn biểu thị hệ mặt trời. |
|
316. It would seem important to include the Pluto scheme (such as it may be), but the planet Pluto had not be exoterically discovered when TCF was written and published. |
316. Có vẻ như điều quan trọng là phải bao gồm hệ Pluto (dù nó có thể là gì đi nữa), nhưng hành tinh Pluto chưa được khám phá một cách ngoại môn khi TCF được viết và xuất bản. |
|
317. We will note that very little information is given regarding the Uranus and Neptune schemes. They appear to be drawn in a conventional, unarticulated (in short, veiled) manner, devoid of revealing squares and triangles. One would imagine that it is not allowed to expose any secrets of their structure. |
317. Chúng ta sẽ lưu ý rằng có rất ít thông tin được đưa ra liên quan đến các hệ Uranus và Neptune. Chúng dường như được vẽ theo cách quy ước, không phân tiết (nói ngắn gọn là được che giấu), không có các hình vuông và tam giác mang tính tiết lộ. Người ta có thể tưởng tượng rằng không được phép phơi bày bất kỳ bí mật nào về cấu trúc của chúng. |
|
318. If, however, we consider the progression of squares, triangles and circles, we shall find the figure of the circle to represent the most advanced stage of unfoldment. It seems almost certain that, in relation to Uranus and Neptune, something is being concealed, but the circular design of the seven chains in each, may be telling us something about their advanced status. |
318. Tuy nhiên, nếu chúng ta xét đến sự tiến triển của các hình vuông, tam giác và hình tròn, chúng ta sẽ thấy hình tròn biểu thị giai đoạn tiến triển nhất của sự khai mở. Gần như chắc chắn rằng, trong liên hệ với Uranus và Neptune, có điều gì đó đang bị che giấu, nhưng thiết kế hình tròn của bảy dãy trong mỗi hệ có thể đang cho chúng ta biết điều gì đó về địa vị tiến hoá cao của chúng. |
|
319. We should realize that as complex as Chart VI may appear to be, it is much simplified. Missing are all the lines which could be drawn between numerically resonant chains; between numerically resonant chains and globes; and between numerically resonant globes. Only the major relationships have been depicted, which, given the present rather undeveloped stage of human intelligence, is wise. |
319. Chúng ta nên nhận ra rằng dù Biểu Đồ VI có vẻ phức tạp đến đâu, nó vẫn được đơn giản hóa rất nhiều. Thiếu vắng tất cả các đường có thể được vẽ giữa các dãy cộng hưởng về số; giữa các dãy cộng hưởng về số và các bầu hành tinh; và giữa các bầu hành tinh cộng hưởng về số. Chỉ những tương quan chính yếu mới được mô tả, điều này, xét đến giai đoạn hiện nay còn khá chưa phát triển của trí tuệ nhân loại, là khôn ngoan. |
|
320. We note that the Uranus-scheme is the direct recipient of the energy emanating from the center of the ‘Solar Triad’ (even though the line representing that energy flow is dotted). It is interesting to consider the present axial inclination of the planet Uranus. The north pole of Uranus is inclined almost directly towards the Sun. |
320. Chúng ta lưu ý rằng hệ Uranus là kẻ tiếp nhận trực tiếp năng lượng phát ra từ trung tâm của “Tam Nguyên Thái Dương” (mặc dù đường biểu thị dòng năng lượng ấy là nét đứt). Thật thú vị khi xem xét độ nghiêng trục hiện tại của hành tinh Uranus. Cực bắc của Uranus nghiêng gần như trực tiếp về phía Mặt Trời. |
|
321. The dotted line extending from the ‘Solar Triad’, promising a still fuller relationship at a later time, can be understood as extending into the ‘greater Saturn’ scheme and terminating at the center of the ‘central Saturn-scheme’. The first ray (Uranus, monadically) and the third ray (Saturn, monadically) are in direct alignment. Neptune (the second ray, monadically) is to the left and out of the direct alignment. |
321. Đường nét đứt kéo ra từ “Tam Nguyên Thái Dương”, hứa hẹn một tương quan còn đầy đủ hơn vào một thời điểm sau này, có thể được hiểu là kéo dài vào hệ “Saturn lớn hơn” và chấm dứt tại trung tâm của “hệ Saturn trung tâm”. Cung một (Uranus, về mặt chân thần) và cung ba (Saturn, về mặt chân thần) ở trong sự chỉnh hợp trực tiếp. Neptune (cung hai, về mặt chân thần) ở bên trái và nằm ngoài sự chỉnh hợp trực tiếp ấy. |
|
322. In Chart IX (TCF 823) showing the egoic lotus and its relationship to the antahkarana, we see the same kind of alignment between the first and third aspects, with the lotus (representing the second aspect) offset to the left. |
322. Trong Biểu Đồ IX (TCF 823) cho thấy hoa sen chân ngã và tương quan của nó với antahkarana, chúng ta thấy cùng một loại chỉnh hợp giữa phương diện thứ nhất và thứ ba, với hoa sen (biểu thị phương diện thứ hai) được hóa giải sang bên trái. |
|
323. The real complexity begins when we enter the realm of Brahma. |
323. Sự phức tạp thực sự bắt đầu khi chúng ta bước vào lĩnh vực của Brahma. |
|
324. The geometry of ‘six surrounding one’ is fundamental to the structure of our cosmos. It is an archetypal geometrical relationship. |
324. Hình học của “sáu bao quanh một” là nền tảng đối với cấu trúc của vũ trụ chúng ta. Đó là một tương quan hình học nguyên mẫu. |
|
325. As the head of the Brahmic pattern, Saturn (expressing the third ray) is the first of five and also the central factor among seven. |
325. Là đầu của mô hình Brahma, Saturn (biểu lộ cung ba) là thứ nhất trong năm và cũng là yếu tố trung tâm trong bảy. |
|
326. There is analogy between |
326. Có sự tương đồng giữa |
|
a. the central point within any triangle and the three vertices of the triangle, and |
a. điểm trung tâm bên trong bất kỳ tam giác nào và ba đỉnh của tam giác, và |
|
b. the central point within the hexagon and the six vertices of the hexagon. |
b. điểm trung tâm bên trong hình lục giác và sáu đỉnh của hình lục giác. |
|
327. The first relates to the dimension of Spirit and to the tetrahedron; the second relates to the realm of Matter. |
327. Điều thứ nhất liên hệ với chiều kích của tinh thần và với khối tứ diện; điều thứ hai liên hệ với lĩnh vực của vật chất. |
|
328. The primary ray within any sevenfold system of rays is always found at the center of the other six. |
328. Cung chính yếu trong bất kỳ hệ cung thất phân nào luôn luôn được tìm thấy ở trung tâm của sáu cung còn lại. |
|
329. Saturn is the primary ray within the Brahmic pattern—the third ray. It could be supposed that each of the other planetary schemes should represent one of the other six rays. This may be more the case in theory than in actuality. |
329. Saturn là cung chính yếu trong mô hình Brahma—cung ba. Có thể giả định rằng mỗi hệ hành tinh khác nên biểu thị một trong sáu cung còn lại. Điều này có thể đúng về mặt lý thuyết hơn là trong thực tế. |
|
330. For the sake of orientation to the Brahmic pattern let us tabulate some speculative hypotheses relating to the soul rays and monadic rays of the Planetary Logoi represented within the circle of ‘greater Saturn’. [1] |
330. Vì mục đích định hướng đối với mô hình Brahma, chúng ta hãy lập bảng một số giả thuyết suy đoán liên quan đến các cung linh hồn và các cung chân thần của các Hành Tinh Thượng đế được biểu thị trong vòng tròn của “Saturn lớn hơn”. [1] |
|
Planets |
Saturn |
Jupiter |
Mercury |
Earth |
Mars |
Venus |
Vulcan |
|
Monadic Ray |
3 |
7→1 or 2? |
5→3 |
1 |
5→1 |
6→2 |
4→2 |
|
Soul Ray |
3 or 1 |
2 |
4 |
2 |
1 |
5 |
1 |
|
Personality Ray |
1 or 7 |
7 or 6 |
3 |
3 |
6 |
2 |
5 or 7 |
|
Planets |
Uranus |
Pluto |
|
|
Monadic Ray |
1 |
2 |
5→3 |
|
Soul Ray |
7 |
6 |
6 |
|
Personality Ray |
3 or 5 |
4? or 3? |
1 |
|
331. We might as well include the speculations regarding Uranus and Neptune. Pluto is not listed in Chart VI but speculations are included.[2] |
331. Chúng ta cũng có thể bao gồm các suy đoán liên quan đến Uranus và Neptune. Pluto không được liệt kê trong Biểu Đồ VI nhưng các suy đoán vẫn được đưa vào.[2] |
|
332. We can see that, if there is any truth to these speculations, we do not have an even distribution of rays within our solar system (at least, if only the known planets are counted). |
332. Chúng ta có thể thấy rằng, nếu có chút chân lý nào trong các suy đoán này, thì chúng ta không có một sự phân bố đồng đều của các cung trong hệ mặt trời của chúng ta (ít nhất là nếu chỉ tính các hành tinh đã biết). |
|
333. When we study the ‘central Saturn-scheme’ and the six surrounding schemes, we immediately notice some geometrical similarities and differences. |
333. Khi nghiên cứu “hệ Saturn trung tâm” và sáu hệ bao quanh, chúng ta lập tức nhận thấy một số điểm tương đồng và khác biệt về hình học. |
|
334. As far as similarities, each scheme has three central chains arranged more or less as a triangle of chains. This is even true of the fifth or Mercury-scheme in which the central three have a relationship to a bounding triangle or square slightly different from all the others. |
334. Về những điểm tương đồng, mỗi hệ đều có ba dãy trung tâm được sắp xếp ít nhiều như một tam giác các dãy. Điều này thậm chí cũng đúng với hệ thứ năm hay hệ Mercury, trong đó ba dãy trung tâm có một tương quan với một tam giác hay hình vuông bao quanh hơi khác với tất cả các hệ khác. |
|
335. We also notice that in all schemes the size of the circles representing the chains varies. The central three chains in each scheme are represented by circles which are larger than the subsidiary or minor four chains. This difference simply represents the ‘centrality’ or greater importance of the three. |
335. Chúng ta cũng nhận thấy rằng trong mọi hệ, kích thước của các vòng tròn biểu thị các dãy là khác nhau. Ba dãy trung tâm trong mỗi hệ được biểu thị bằng những vòng tròn lớn hơn bốn dãy phụ thuộc hay thứ yếu. Sự khác biệt này đơn giản chỉ biểu thị “tính trung tâm” hay tầm quan trọng lớn hơn của bộ ba. |
|
336. We notice that within the ‘central Saturn-scheme’ a square consisting, it appears, of dotted lines connects the subsidiary four chains. |
336. Chúng ta nhận thấy rằng bên trong “hệ Saturn trung tâm”, một hình vuông gồm, dường như là, các đường nét đứt nối bốn dãy phụ thuộc. |
|
337. Four other schemes (Vulcan, Mars, Earth and Jupiter) are similar in appearance to the central Saturn-scheme in that each has four subsidiary chains arranged in a square; however the lines which connect the members of the square are not dotted, but are continuous. Is this a purposeful difference? If so, it tells of an integration yet to be achieved within the central Saturn-scheme (which, let us remember) stands at a relatively early stage of unfoldment. |
337. Bốn hệ khác (Vulcan, Mars, Trái Đất và Jupiter) có bề ngoài tương tự hệ Saturn trung tâm ở chỗ mỗi hệ có bốn dãy phụ thuộc được sắp xếp thành một hình vuông; tuy nhiên các đường nối các thành viên của hình vuông ấy không phải là nét đứt, mà là nét liền. Đây có phải là một khác biệt có chủ ý không? Nếu đúng vậy, nó cho biết một sự tích hợp vẫn còn phải đạt được bên trong hệ Saturn trung tâm (mà, chúng ta hãy nhớ, đang đứng ở một giai đoạn tương đối sớm của sự khai mở). |
|
338. Thus, five schemes emphasize the square and, thus, a degree of subjection to materiality, for the square (in one of its interpretations) is the symbol of matter. |
338. Như vậy, năm hệ nhấn mạnh hình vuông và do đó nhấn mạnh một mức độ lệ thuộc vào tính vật chất, vì hình vuông (trong một trong những cách diễn giải của nó) là biểu tượng của vật chất. |
|
339. Amongst these five schemes there is a developmental differentiation. |
339. Trong năm hệ này có một sự biến phân về phát triển. |
|
a. Saturn, Jupiter and Vulcan are all focussed in their third chain, fourth globe. |
a. Saturn, Jupiter và Vulcan đều tập trung trong dãy thứ ba, bầu hành tinh thứ tư của chúng. |
|
b. Earth and Mars (though of lesser spiritual status) are further unfolded, and focussed in their fourth chain and fourth globe. |
b. Trái Đất và Mars (dù có địa vị tinh thần thấp hơn) lại khai mở hơn, và tập trung trong dãy thứ tư và bầu hành tinh thứ tư của chúng. |
|
340. The particular chain and globe in which these five Planetary Logoi may be focussed is not shown in the chart except in one instance—the diagram representing our own Planetary Logos. The fourth chain and fourth globe are labeled. |
340. Dãy và bầu hành tinh cụ thể mà năm Hành Tinh Thượng đế này có thể đang tập trung vào không được cho thấy trong biểu đồ, ngoại trừ trong một trường hợp—sơ đồ biểu thị chính Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Dãy thứ tư và bầu hành tinh thứ tư được ghi nhãn. |
|
341. If one looks closely one will see that, although the diagrams for Mars, Earth, Jupiter and Vulcan are all similar, and emphasize the square, the Mars and Vulcan schemes are more alike, and the Earth and Jupiter schemes are more alike. |
341. Nếu quan sát kỹ, người ta sẽ thấy rằng, mặc dù các sơ đồ của Mars, Trái Đất, Jupiter và Vulcan đều tương tự nhau và nhấn mạnh hình vuông, các hệ Mars và Vulcan giống nhau hơn, còn các hệ Trái Đất và Jupiter cũng giống nhau hơn. |
|
342. Each of these four schemes is connected to the central Saturn-scheme by a dotted line, but in the case of the Mars and Vulcan schemes, the dotted line bisects one of the sides of the square; in the case of the Jupiter and Earth-scheme, the dotted line seems to come from (or, at least, through) that one of the four minor chains which is closest to the center of the central Saturn-scheme. |
342. Mỗi một trong bốn hệ này được nối với hệ Saturn trung tâm bằng một đường nét đứt, nhưng trong trường hợp các hệ Mars và Vulcan, đường nét đứt chia đôi một trong các cạnh của hình vuông; còn trong trường hợp hệ Jupiter và hệ Trái Đất, đường nét đứt dường như xuất phát từ (hoặc ít nhất là đi qua) một trong bốn dãy nhỏ nằm gần trung tâm của hệ Saturn trung tâm nhất. |
|
343. The suggestion is of the greater materiality of the Mars and Vulcan schemes. For the Jupiter and Earth schemes the squares (as they are oriented towards ‘central Saturn’) seem represented more as diamonds, which emphasizes the potential for triangulation. |
343. Điều này gợi ý về tính vật chất lớn hơn của các hệ Mars và Vulcan. Đối với các hệ Jupiter và Trái Đất, các hình vuông (khi chúng được định hướng về phía “Saturn trung tâm”) dường như được biểu thị nhiều hơn như những hình thoi, điều này nhấn mạnh tiềm năng tam giác hóa. |
|
344. In all these figures, the triangle is to be considered as representative of a more elevated relationship than the square. |
344. Trong tất cả các hình này, tam giác phải được xem là biểu thị một tương quan cao hơn hình vuông. |
|
345. Notice in the Mars and Vulcan schemes, a kind of small trapezoid formed by two of the three adjoining central chains and the two minor chains closest to the central Saturn-scheme. The base line of the central triangle within the Mars and Vulcan schemes forms the shortest of the parallel sides of the trapezoid. This trapezoidal figure, shared by both, cannot be without significance. |
345. Hãy lưu ý trong các hệ Mars và Vulcan, một loại hình thang nhỏ được tạo thành bởi hai trong ba dãy trung tâm liền kề và hai dãy nhỏ gần hệ Saturn trung tâm nhất. Đường đáy của tam giác trung tâm trong các hệ Mars và Vulcan tạo thành cạnh song song ngắn hơn của hình thang. Hình thang này, được cả hai cùng chia sẻ, không thể là không có ý nghĩa. |
|
346. If one looks carefully at the relationship between the inner triangle and the trapezoid, one will almost see the “apron” as it is worn in Masonry. A kind of figure “M” is formed. “M” for Matter and “M” for Master. |
346. Nếu quan sát cẩn thận tương quan giữa tam giác bên trong và hình thang, người ta gần như sẽ thấy “chiếc tạp dề” như nó được mang trong Hội Tam Điểm. Một loại hình chữ “M” được tạo thành. “M” cho Matter và “M” cho Master. |
|
347. The relationship between Mars and Vulcan is very interesting for it is said that “Vulcan burnishes the shield of Mars”. Mars represents rough potential which Vulcan refines. |
347. Tương quan giữa Mars và Vulcan rất thú vị vì có nói rằng “Vulcan đánh bóng chiếc khiên của Mars”. Mars biểu thị tiềm năng thô ráp mà Vulcan tinh luyện. |
|
348. From the Masonic perspective, Mars represents the “rough ashlar” or crude stone which must be hewn and polished until it becomes the “smooth ashlar”. This is the work of Vulcan. |
348. Từ góc nhìn Tam Điểm, Mars biểu thị “khối đá thô” hay viên đá chưa gia công, phải được đẽo gọt và đánh bóng cho đến khi trở thành “khối đá nhẵn”. Đây là công việc của Vulcan. |
|
349. In Masonry, Mars and Vulcan are always at war. In fact, as the Tibetan tells us, Cain kills Abel. Vulcan is Cain and Abel, the shepherd, is Mars. |
349. Trong Hội Tam Điểm, Mars và Vulcan luôn ở trong chiến tranh. Thật vậy, như Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta, Cain giết Abel. Vulcan là Cain và Abel, người chăn cừu, là Mars. |
|
350. Vulcan and Mars share the first ray though on different levels, presumably. |
350. Vulcan và Mars cùng chia sẻ cung một, tuy nhiên có lẽ ở những cấp độ khác nhau. |
|
351. Jupiter and Earth, interestingly, share the same soul ray, the second Ray of Love-Wisdom. The quality of abundance is at work in each—on Earth through the incredible variety of natural life. |
351. Điều thú vị là Jupiter và Trái Đất cùng chia sẻ một cung linh hồn, cung hai của Bác Ái – Minh Triết. Phẩm tính phong phú hoạt động trong mỗi hệ—trên Trái Đất thông qua sự đa dạng đáng kinh ngạc của sự sống tự nhiên. |
|
352. In both the Earth and Jupiter diagram there is something of a kite formation in the way that the minor chains are connected to the major internal chain closest to the central Saturn-scheme. |
352. Trong cả sơ đồ Trái Đất lẫn Jupiter đều có phần nào một hình cánh diều trong cách các dãy nhỏ được nối với dãy nội tại lớn gần hệ Saturn trung tâm nhất. |
|
353. The kite strengthens the emphasis on the diamond rather than the square. The diamond suggests soul expression just as the square suggests personality expression. |
353. Hình cánh diều làm mạnh thêm sự nhấn mạnh vào hình thoi hơn là hình vuông. Hình thoi gợi ý sự biểu lộ của linh hồn cũng như hình vuông gợi ý sự biểu lộ của phàm ngã. |
|
354. We know from the Tibetan’s Triangles Work that it is necessary for the etheric body of the Earth to be changed from a pattern of squares into a pattern of triangles. Four triangles are produced by the kite formation (of dotted lines) and the potential for triangularization is definitely indicated. |
354. Chúng ta biết từ Công Trình Tam Giác của Chân sư Tây Tạng rằng thể dĩ thái của Trái Đất cần phải được chuyển đổi từ một mô hình các hình vuông thành một mô hình các tam giác. Bốn tam giác được tạo ra bởi hình cánh diều (bằng các đường nét đứt), và tiềm năng tam giác hóa được chỉ ra một cách rõ ràng. |
|
355. Surrounding central Saturn we have six schemes. We might think these schemes would come in pairs: |
355. Bao quanh Saturn trung tâm, chúng ta có sáu hệ. Chúng ta có thể nghĩ rằng các hệ này sẽ đi thành từng cặp: |
|
a. Vulcan/Mars |
a. Vulcan/Mars |
|
b. Jupiter/Earth |
b. Jupiter/Trái Đất |
|
c. Mercury/Venus |
c. Mercury/Venus |
|
356. In some ways, this is the case, but Mercury/Venus are not an exact pair as the others are. The Mercury and Venus-schemes are similar but not identical as Mars/Vulcan and Earth/Jupiter are. |
356. Theo một số phương diện, đúng là như vậy, nhưng Mercury/Venus không phải là một cặp chính xác như các cặp kia. Các hệ Mercury và Venus tương tự nhau nhưng không đồng nhất như Mars/Vulcan và Trái Đất/Jupiter. |
|
357. When we remember that Mars is the “alter ego” of Pluto, the relationship between Vulcan and Mars seems to include Pluto, a first ray planet with which Vulcan is often paired. |
357. Khi chúng ta nhớ rằng Mars là “alter ego” của Pluto, tương quan giữa Vulcan và Mars dường như bao gồm cả Pluto, một hành tinh cung một mà Vulcan thường được ghép cặp cùng. |
|
358. Mercury and Venus (the most unfolded of all the schemes—i.e., the closest to obscuration, synthesis, resolution, absorption) represent a significant departure from the forms by which the other schemes are represented. |
358. Mercury và Venus (là những hệ khai mở nhất trong tất cả các hệ—tức là gần nhất với sự che khuất, tổng hợp, phân giải, hấp thụ) biểu thị một sự lệch đáng kể khỏi những hình thức mà các hệ khác được biểu thị. |
|
359. Mercury and Venus both significantly represent triangularization and the kite figure. In both the four minor chains (made of smaller circles) are arranged in the form of a kite. |
359. Cả Mercury lẫn Venus đều biểu thị một cách đáng kể sự tam giác hóa và hình cánh diều. Trong cả hai, bốn dãy nhỏ (được tạo bằng những vòng tròn nhỏ hơn) được sắp xếp theo hình cánh diều. |
|
360. Interestingly however, they are both kites are oriented in the same direction. This means that the point of the kite for the Mercury-scheme points in the same direction as the point of the kite in the Venus-scheme. |
360. Tuy nhiên, điều thú vị là cả hai hình cánh diều ấy đều được định hướng theo cùng một hướng. Điều này có nghĩa là đỉnh của hình cánh diều của hệ Mercury chỉ theo cùng hướng với đỉnh của hình cánh diều trong hệ Venus. |
|
361. The Mercury kits points towards the ‘central Saturn-scheme’, but the Venus kite points directly away from the central Saturn-scheme. The Venus kite seems to be pointing more in the direction of the Neptune-scheme, but not exactly. The Mercury kite is pointing directly towards central Saturn. |
361. Hình cánh diều của Mercury hướng về phía “hệ Saturn trung tâm”, nhưng hình cánh diều của Venus lại chỉ trực tiếp ra xa khỏi hệ Saturn trung tâm. Hình cánh diều của Venus dường như chỉ nhiều hơn về phía hệ Neptune, nhưng không hoàn toàn chính xác. Hình cánh diều của Mercury chỉ trực tiếp về phía Saturn trung tâm. |
|
362. Unless there is a mistake in the drawing, it is to be noticed that only one of the four minor chains of the Mercury-scheme touch the circle which contains all the Mercury chains. This is unique with regard to Mercury and must be significant. |
362. Trừ phi có sai sót trong bản vẽ, cần lưu ý rằng chỉ một trong bốn dãy nhỏ của hệ Mercury chạm vào vòng tròn chứa tất cả các dãy của Mercury. Điều này là độc nhất đối với Mercury và hẳn phải có ý nghĩa. |
|
363. In all other schemes, all the four minor chains touch what we might cal the ‘scheme circle’. In the case of Uranus and Neptune (though the diagrams seem conventionalized) it would seem that all seven of the chains touch the scheme circle (i.e., the circle which defines the boundary of the scheme). |
363. Trong tất cả các hệ khác, cả bốn dãy nhỏ đều chạm vào điều mà chúng ta có thể cal là “vòng tròn hệ”. Trong trường hợp Uranus và Neptune (dù các sơ đồ có vẻ đã được quy ước hóa) thì dường như cả bảy dãy đều chạm vào vòng tròn hệ (tức là vòng tròn xác định ranh giới của hệ). |
|
364. Mercury, thus, is in a somewhat abstracted condition. While Mercury is not as close to obscuration as Venus, it is the most mobile of the planets and thus, in a manner, untethered. Some form of abstracted, internal development seems to be suggested. We may wish to relate the detached appearance of the Mercury-scheme to the fact that Mercury, of all planetary schemes, seems to have the most to do with the “inner round”. The fact that Mercury is often represented with wings may also further the impression of detachment or abstraction conveyed by the way it is diagrammatically represented. |
364. Vì vậy, Mercury ở trong một trạng thái phần nào trừu xuất. Dù Mercury không gần sự che khuất bằng Venus, nó là hành tinh linh động nhất và vì thế, theo một nghĩa nào đó, không bị neo buộc. Dường như có sự gợi ý về một hình thức phát triển nội tại, trừu xuất. Chúng ta có thể muốn liên hệ vẻ ngoài tách rời của hệ Mercury với sự kiện rằng Mercury, trong tất cả các hệ hành tinh, dường như có liên quan nhiều nhất đến “cuộc tuần hoàn nội tại”. Việc Mercury thường được biểu thị với đôi cánh cũng có thể càng làm tăng ấn tượng về sự tách rời hay trừu xuất được truyền đạt qua cách nó được biểu diễn bằng sơ đồ. |
|
365. Venus is represented in a manner which suggests the constellation known as the Swan or the Northern Cross. As Venus is closely associated with the Christ and with the Love-Wisdom energy, this is not surprising. |
365. Venus được biểu thị theo một cách gợi lên chòm sao được biết đến là Thiên Nga hay Thập Giá Phương Bắc. Vì Venus gắn bó chặt chẽ với Đức Christ và với năng lượng Bác Ái – Minh Triết, điều này không có gì đáng ngạc nhiên. |
|
366. Venus presents a much more coherent picture than Mercury (a planet known from its mobility and its ‘scatter’). |
366. Venus trình bày một bức tranh mạch lạc hơn nhiều so với Mercury (một hành tinh được biết đến bởi tính linh động và sự “phân tán” của nó). |
|
367. The central triangle of chains within Venus are oriented towards central Saturn just as are the central triangle of chains within Mercury. But note that in the case of Venus, this central triangle of chains is well contained within a bounding triangle whereas for Mercury this is definitely not the case. |
367. Tam giác trung tâm của các dãy bên trong Venus được định hướng về phía Saturn trung tâm cũng như tam giác trung tâm của các dãy bên trong Mercury. Nhưng hãy lưu ý rằng trong trường hợp Venus, tam giác trung tâm của các dãy này được chứa rất gọn trong một tam giác bao quanh, còn đối với Mercury thì rõ ràng không phải như vậy. |
|
368. It would seem that in Venus, the six-pointed star (a higher triangle and a lower) are very well integrated, the lower being a very good representation of the higher (though no six-pointed star is depicted specifically). |
368. Có vẻ như trong Venus, ngôi sao sáu cánh (một tam giác cao hơn và một tam giác thấp hơn) được tích hợp rất tốt, tam giác thấp hơn là một biểu thị rất tốt của tam giác cao hơn (dù không có ngôi sao sáu cánh nào được mô tả một cách cụ thể). |
|
369. We also note that in the Venus-scheme there are no dotted lines (except for the dotted line connecting to the ‘central Saturn-scheme’). This signifies completion. In Mars, Vulcan, Earth and Jupiter at least one dotted line can be found connecting various chains. |
369. Chúng ta cũng lưu ý rằng trong hệ Venus không có đường nét đứt nào (ngoại trừ đường nét đứt nối với “hệ Saturn trung tâm”). Điều này biểu thị sự hoàn tất. Trong Mars, Vulcan, Trái Đất và Jupiter, có thể tìm thấy ít nhất một đường nét đứt nối các dãy khác nhau. |
|
370. Mercury, too, has no dotted lines except the one connecting to central Saturn, but the diagram for Mercury looks less beautiful, less coherent than Venus. |
370. Mercury cũng không có đường nét đứt nào ngoại trừ đường nối với Saturn trung tâm, nhưng sơ đồ của Mercury trông kém đẹp hơn, kém mạch lạc hơn Venus. |
|
371. If we think of both the Venus and Mercury scheme symbolically as birds with wings, Venus seems to be flying away from central Saturn and Mercury towards it. It may be significant in this regard that the major monadic rays of Saturn and Mercury are hypothesized to be the same—namely the third (with Mercury transitioning from emphasis upon the fifth to emphasis upon the third at a certain point of solar systemic development). |
371. Nếu chúng ta nghĩ một cách biểu tượng về cả hệ Venus lẫn Mercury như những con chim có cánh, thì Venus dường như đang bay ra xa Saturn trung tâm còn Mercury thì bay về phía đó. Có thể điều này có ý nghĩa ở chỗ các cung chân thần chính của Saturn và Mercury được giả thuyết là giống nhau—cụ thể là cung ba (với Mercury chuyển tiếp từ sự nhấn mạnh vào cung năm sang sự nhấn mạnh vào cung ba tại một điểm nào đó trong sự phát triển của hệ mặt trời). |
|
372. Because the diagram for Mercury is smaller than that of Venus, the three central chains will not fit into any bounded figure such as a triangle or a kite/diamond. This seems to say something about the integration of the three with the four in the Mercury figure. It is not as coherent or well-structured as is the case with Venus. |
372. Bởi vì sơ đồ của Mercury nhỏ hơn sơ đồ của Venus, ba dãy trung tâm sẽ không thể nằm gọn trong bất kỳ hình giới hạn nào như tam giác hay cánh diều/hình thoi. Điều này dường như nói lên điều gì đó về sự tích hợp của bộ ba với bộ bốn trong hình Mercury. Nó không mạch lạc hay có cấu trúc tốt như trường hợp của Venus. |
|
373. In all schemes, the four lesser chains (whether in the form of squares, diamonds or kites) all represent manifestation. With Mercury, the fourfold figure representing manifestation cannot (so it seems) contain the three higher principles represented by the three inner chains. They are too ‘big’. The principles of abstraction (the first three Rays of Aspect) are not expressing as fully as possible through the structure representing outer expression. |
373. Trong mọi hệ, bốn dãy nhỏ hơn (dù ở dạng hình vuông, hình thoi hay cánh diều) đều biểu thị sự biểu hiện. Với Mercury, hình tứ phân biểu thị sự biểu hiện không thể (dường như là vậy) chứa đựng ba nguyên khí cao hơn được biểu thị bởi ba dãy bên trong. Chúng quá “lớn”. Các nguyên khí của sự trừu xuất (ba Cung Trạng Thái đầu tiên) không biểu lộ đầy đủ nhất có thể qua cấu trúc biểu thị sự biểu lộ bên ngoài. |
|
374. It seems, again, that Mercury is detached and somewhat ‘floating’ within the sphere of possible expression. |
374. Dường như, một lần nữa, Mercury tách rời và phần nào “lơ lửng” trong khối cầu của sự biểu lộ khả hữu. |
|
375. When studying the two schemes Mercury and Venus (so closely related to both soul and mind, and to the number five), there are inversions and oppositions. |
375. Khi nghiên cứu hai hệ Mercury và Venus (gắn bó rất chặt chẽ với cả linh hồn lẫn trí tuệ, và với con số năm), có những sự đảo ngược và đối vị. |
|
376. In Venus, the minor chain closest to central Saturn is supported by three other minor chains which touch the scheme circle. Not so for Mercury. There is the sense that the one minor chain touching the scheme circle and closest to central Saturn is ‘on its own’. |
376. Trong Venus, dãy nhỏ gần Saturn trung tâm nhất được nâng đỡ bởi ba dãy nhỏ khác chạm vào vòng tròn hệ. Mercury thì không như vậy. Có cảm giác rằng một dãy nhỏ chạm vào vòng tròn hệ và gần Saturn trung tâm nhất thì “đơn độc một mình”. |
|
377. Do we think that Mercury will expand and begin touching the scheme circle as Venus does? If the Mercury kite were to enlarge, the three inner chains would fit elegantly within it with one inner chain above the horizontal arm of the kite and the other two below it. But we cannot say that this will happen or should happen. The somewhat lopsided appearance of the Mercury diagram may simply reflect the proper condition of Mercury (at this time). |
377. Chúng ta có nghĩ rằng Mercury sẽ mở rộng và bắt đầu chạm vào vòng tròn hệ như Venus không? Nếu hình cánh diều của Mercury được mở rộng, ba dãy bên trong sẽ nằm gọn một cách thanh nhã trong đó, với một dãy bên trong ở trên cánh tay ngang của cánh diều và hai dãy kia ở dưới nó. Nhưng chúng ta không thể nói rằng điều này sẽ xảy ra hay nên xảy ra. Vẻ ngoài hơi lệch của sơ đồ Mercury có thể đơn giản chỉ phản ánh tình trạng thích hợp của Mercury (vào lúc này). |
|
378. Mercury, too, is nearing a state of obscuration (we are told), and perhaps the appearance of the Mercury diagram reflects this, with its strong emphasis upon abstraction. |
378. Mercury cũng đang tiến gần đến một trạng thái che khuất (như chúng ta được bảo), và có lẽ vẻ ngoài của sơ đồ Mercury phản ánh điều này, với sự nhấn mạnh mạnh mẽ của nó vào sự trừu xuất. |
|
379. From the geometrical perspective, we see different figures appearing within the ‘greater Saturn’ circle. |
379. Từ góc nhìn hình học, chúng ta thấy những hình khác nhau xuất hiện trong vòng tròn “Saturn lớn hơn”. |
|
380. The hexagon is the largest figure and relates the circumferential six. |
380. Hình lục giác là hình lớn nhất và liên hệ sáu yếu tố ở chu vi. |
|
381. Then there are equilateral triangles with continuous lines: |
381. Kế đó là các tam giác đều với các đường nét liền: |
|
a. Vulcan—Mars—Mercury |
a. Vulcan—Mars—Mercury |
|
b. Venus—Earth—Jupiter |
b. Venus—Trái Đất—Jupiter |
|
c. Mars—Mercury—Vulcan |
c. Mars—Mercury—Vulcan |
|
d. Earth—Jupiter—Venus |
d. Trái Đất—Jupiter—Venus |
|
e. Mercury—Vulcan—Mars |
e. Mercury—Vulcan—Mars |
|
f. Jupiter—Venus–Mars |
f. Jupiter—Venus–Mars |
|
382. In a way there are only two equilateral triangles, but the six forms listed above shows different schemes occupying a kind of ‘starting’ or apex position. Given the six equilateral triangles, all schemes occupy every one of the three possible positions. |
382. Theo một nghĩa nào đó, thực ra chỉ có hai tam giác đều, nhưng sáu hình thức được liệt kê ở trên cho thấy các hệ khác nhau chiếm giữ một loại vị trí “khởi đầu” hay vị trí đỉnh. Với sáu tam giác đều ấy, mọi hệ đều chiếm mỗi một trong ba vị trí khả hữu. |
|
383. The triangle containing Vulcan, Mars and Mercury represents a harder line, and the Venus, Earth and Jupiter triangle a softer line. |
383. Tam giác chứa Vulcan, Mars và Mercury biểu thị một tuyến cứng hơn, còn tam giác Venus, Trái Đất và Jupiter biểu thị một tuyến mềm hơn. |
|
384. Just as there are three forms of each of the two triangles (making six), there are also six six-pointed stars, every star involving all six schemes, but each star differently oriented. |
384. Cũng như có ba hình thức của mỗi một trong hai tam giác (tạo thành sáu), cũng có sáu ngôi sao sáu cánh, mỗi ngôi sao đều bao gồm tất cả sáu hệ, nhưng mỗi ngôi sao được định hướng khác nhau. |
|
385. Each such star could be analyzed according to the position taken by each scheme. |
385. Mỗi ngôi sao như vậy có thể được phân tích theo vị trí mà mỗi hệ đảm nhận. |
|
386. In the main six-pointed star Vulcan is placed at the highest point and Earth at the lowest. Venus and Mars are to the upper left and lower left respectively, and Jupiter and Mercury are to the upper right and lower right respectively. |
386. Trong ngôi sao sáu cánh chính, Vulcan được đặt ở điểm cao nhất và Trái Đất ở điểm thấp nhất. Venus và Mars lần lượt ở phía trên bên trái và phía dưới bên trái, còn Jupiter và Mercury lần lượt ở phía trên bên phải và phía dưới bên phải. |
|
387. In one or other form of the six-pointed star, each scheme will be found in each position. |
387. Trong hình thức này hay hình thức khác của ngôi sao sáu cánh, mỗi hệ sẽ được tìm thấy ở mỗi vị trí. |
|
388. Just as there are six six-pointed stars, so there can be seen six five-pointed figures (neither stars nor pentagrams), but five-sided, each looking something like an envelope (or, a Masonic Apron)—a triangle over a rectangle. From each such figure, one of the schemes will be left out. |
388. Cũng như có sáu ngôi sao sáu cánh, cũng có thể thấy sáu hình năm cạnh (không phải sao cũng không phải ngũ giác sao), nhưng là hình năm cạnh, mỗi hình trông hơi giống một phong bì (hay một Tạp Dề Tam Điểm)—một tam giác trên một hình chữ nhật. Từ mỗi hình như vậy, một trong các hệ sẽ bị bỏ ra ngoài. |
|
389. As well, there are six rectangles (four sided figures). Are they sacred rectangles? |
389. Ngoài ra, còn có sáu hình chữ nhật (các hình bốn cạnh). Chúng có phải là những hình chữ nhật thiêng liêng không? |
|
390. These six are as follows: |
390. Sáu hình này như sau: |
|
a. Vulcan—Venus—Earth—Mercury |
a. Vulcan—Venus—Trái Đất—Mercury |
|
b. Venus—Mars—Mercury—Jupiter |
b. Venus—Mars—Mercury—Jupiter |
|
c. Mars—Earth—Jupiter—Vulcan |
c. Mars—Trái Đất—Jupiter—Vulcan |
|
d. Earth—Mercury—Vulcan—Venus |
d. Trái Đất—Mercury—Vulcan—Venus |
|
e. Mercury—Jupiter—Venus—Mars |
e. Mercury—Jupiter—Venus—Mars |
|
f. Jupiter—Venus—Mars—Mercury |
f. Jupiter—Venus—Mars—Mercury |
|
391. Really, of course, there are only three different rectangles. |
391. Thực ra, dĩ nhiên, chỉ có ba hình chữ nhật khác nhau. |
|
a. From one of these rectangles Venus and Mercury are left out and so only those schemes which emphasize squares are to be found. |
a. Từ một trong các hình chữ nhật này, Venus và Mercury bị bỏ ra ngoài, và vì vậy chỉ còn những hệ nhấn mạnh hình vuông được tìm thấy. |
|
b. From the other rectangle, Vulcan and Earth are left out, and so the rectangle will lose something of the factor of concretion. |
b. Từ hình chữ nhật khác, Vulcan và Trái Đất bị bỏ ra ngoài, và vì vậy hình chữ nhật ấy sẽ mất đi phần nào yếu tố cụ thể hóa. |
|
c. From yet another rectangle, Jupiter and Mars are left out, leaving the rectangle devoid of the more enthusiastic energies. |
c. Từ một hình chữ nhật khác nữa, Jupiter và Mars bị bỏ ra ngoài, khiến hình chữ nhật không còn những năng lượng nhiệt thành hơn. |
|
392. Continuing to consider the triangles formed by continuous lines, there are six minor or peripheral triangles and they are isosceles rather than equilateral. |
392. Tiếp tục xem xét các tam giác được tạo thành bởi các đường nét liền, có sáu tam giác nhỏ hay ở ngoại vi, và chúng là tam giác cân chứ không phải tam giác đều. |
|
a. Vulcan—Venus—Mars |
a. Vulcan—Venus—Mars |
|
b. Venus—Mars—Earth |
b. Venus—Mars—Trái Đất |
|
c. Mars—Earth—Mercury |
c. Mars—Trái Đất—Mercury |
|
d. Earth—Mercury—Jupiter |
d. Trái Đất—Sao Thủy—Sao Mộc |
|
e. Mercury—Jupiter—Vulcan |
e. Sao Thủy—Sao Mộc—Vulcan |
|
f. Jupiter—Vulcan—Venus |
f. Sao Mộc—Vulcan—Sao Kim |
|
393. All triangles will have their distinct potentials and all will have three modes of expression depending upon which planet (at any one time) represents the first, second or third aspects. |
393. Mọi tam giác sẽ có những tiềm năng riêng biệt của chúng và tất cả sẽ có ba phương thức biểu hiện tùy theo hành tinh nào (vào bất kỳ thời điểm nào) đại diện cho phương diện thứ nhất, thứ hai hay thứ ba. |
|
394. We can now consider the dotted lines and the figures they generate when combined with the continuous lines. |
394. Giờ đây chúng ta có thể xem xét các đường chấm và các hình mà chúng tạo ra khi kết hợp với các đường liền. |
|
395. A number of apparently 3/45 triangles are also formed as six kites are bisected. 3-/4/5 triangles are sacred and ‘Mercurial’ (for the rays of Mercury are 3, 4 and 5—at least they are hypothesized to be such). |
395. Một số tam giác 3/45 theo bề ngoài cũng được hình thành khi sáu hình diều bị chia đôi. Các tam giác 3-/4/5 là thiêng liêng và “thuộc Sao Thủy” (vì các cung của Sao Thủy là 3, 4 và 5—ít nhất chúng được giả thuyết là như vậy). |
|
a. Vulcan—Mars—Earth |
a. Vulcan—Sao Hỏa—Trái Đất |
|
b. Venus—Mars—Mercury |
b. Sao Kim—Sao Hỏa—Sao Thủy |
|
c. Mars—Earth—Jupiter |
c. Sao Hỏa—Trái Đất—Sao Mộc |
|
d. Earth—Mercury—Venus |
d. Trái Đất—Sao Thủy—Sao Kim |
|
e. Mercury—Jupiter—Venus |
e. Sao Thủy—Sao Mộc—Sao Kim |
|
f. Jupiter—Vulcan–Mars |
f. Sao Mộc—Vulcan–Sao Hỏa |
|
396. To deal with the meanings of these triangles is beyond the scope of the present analysis, but I have written a draft for a book in which all triangles are dealt with in their three (or six) permutations, for the wheel turns in two directions. |
396. Việc bàn đến ý nghĩa của các tam giác này vượt quá phạm vi của phần phân tích hiện tại, nhưng tôi đã viết một bản thảo cho một cuốn sách trong đó mọi tam giác đều được bàn đến trong ba (hay sáu) hoán vị của chúng, vì bánh xe quay theo hai hướng. |
|
397. As well it should be mentioned that central Saturn forms a triangle with every adjacent pair of schemes and with every alternating pair of schemes. |
397. Cũng cần nói thêm rằng Sao Thổ trung tâm tạo thành một tam giác với mọi cặp hệ hành tinh kề nhau và với mọi cặp hệ hành tinh xen kẽ. |
|
398. As well, central Saturn form six diamond figures with each three adjacent schemes: |
398. Ngoài ra, Sao Thổ trung tâm tạo thành sáu hình thoi với mỗi ba hệ hành tinh kề nhau: |
|
a. Saturn—Vulcan—Venus—Mars |
a. Sao Thổ—Vulcan—Sao Kim—Sao Hỏa |
|
b. Saturn—Venus—Mars—Earth |
b. Sao Thổ—Sao Kim—Sao Hỏa—Trái Đất |
|
c. Etc. |
c. Vân vân. |
|
399. There are also some irregular figures formed—namely kites and trapezoids—all with their own quality of interaction. Every trapezoid is four-sided and yet central Saturn as a fifth factor is included (in the base line) of every one. |
399. Cũng có một số hình bất quy tắc được tạo thành—cụ thể là các hình diều và hình thang—tất cả đều có phẩm tính tương tác riêng của chúng. Mọi hình thang đều có bốn cạnh, vậy mà Sao Thổ trung tâm với tư cách là yếu tố thứ năm vẫn được bao gồm (trong đường đáy) của mỗi hình. |
|
400. Kites: |
400. Các hình diều: |
|
a. Vulcan (apex)—Venus—Earth (base)—Jupiter (leaving out Mars and Mercury) |
a. Vulcan (đỉnh)—Sao Kim—Trái Đất (đáy)—Sao Mộc (bỏ ra Sao Hỏa và Sao Thủy) |
|
b. Venus (apex)—Mars—Mercury (base)—Vulcan (leaving out Earth and Jupiter) |
b. Sao Kim (đỉnh)—Sao Hỏa—Sao Thủy (đáy)—Vulcan (bỏ ra Trái Đất và Sao Mộc) |
|
c. Mars (apex)—Earth—Jupiter (base)—Venus (leaving out Mercury and Vulcan) |
c. Sao Hỏa (đỉnh)—Trái Đất—Sao Mộc (đáy)—Sao Kim (bỏ ra Sao Thủy và Vulcan) |
|
d. Earth (apex)—Mercury—Vulcan (base)—Mars (leaving out Venus and Jupiter) |
d. Trái Đất (đỉnh)—Sao Thủy—Vulcan (đáy)—Sao Hỏa (bỏ ra Sao Kim và Sao Mộc) |
|
e. Mercury (apex)—Jupiter—Venus (base)—Earth (leaving out Vulcan and Mars) |
e. Sao Thủy (đỉnh)—Sao Mộc—Sao Kim (đáy)—Trái Đất (bỏ ra Vulcan và Sao Hỏa) |
|
f. Jupiter (apex)—Vulcan—Mars (base)—Mercury (leaving out Vulcan and Earth |
f. Sao Mộc (đỉnh)—Vulcan—Sao Hỏa (đáy)—Sao Thủy (bỏ ra Vulcan và Trái Đất |
|
401. Every kite is a ‘bird’, an angel and a cross. Each will have its particular meaning. For each the higher triangle and its apex will express through a base. The symbol of the Cardinal Cross (EA 561) suggests a kite. God geometrizes. |
401. Mọi hình diều đều là một “con chim”, một thiên thần và một thập giá. Mỗi hình sẽ có ý nghĩa riêng của nó. Đối với mỗi hình, tam giác cao hơn và đỉnh của nó sẽ biểu hiện qua một đáy. Biểu tượng của Thập Giá Chủ Yếu (EA 561) gợi ra một hình diều. Thượng đế hình học hóa. |
|
402. Trapezoids: |
402. Các hình thang: |
|
a. Vulcan—Venus—Mars—Jupiter |
a. Vulcan—Sao Kim—Sao Hỏa—Sao Mộc |
|
b. Venus—Mars—Earth—Vulcan |
b. Sao Kim—Sao Hỏa—Trái Đất—Vulcan |
|
c. Mars—Earth—Mercury—Venus |
c. Sao Hỏa—Trái Đất—Sao Thủy—Sao Kim |
|
d. Earth—Mercury—Jupiter—Mars |
d. Trái Đất—Sao Thủy—Sao Mộc—Sao Hỏa |
|
e. Mercury—Jupiter—Vulcan—Earth |
e. Sao Thủy—Sao Mộc—Vulcan—Trái Đất |
|
f. Jupiter—Vulcan—Venus–Mercury |
f. Sao Mộc—Vulcan—Sao Kim–Sao Thủy |
|
403. Just as every trapezoid, though four-sided suggests a five because of ‘central Saturn’, so does every kite suggest a five, as will be especially evident (on close examination) in the cases of Earth, Jupiter, Mercury, Venus and Saturn. |
403. Cũng như mọi hình thang, dù có bốn cạnh, vẫn gợi ra số năm vì có “Sao Thổ trung tâm”, thì mọi hình diều cũng gợi ra số năm, như sẽ đặc biệt hiển nhiên (khi khảo sát kỹ) trong các trường hợp của Trái Đất, Sao Mộc, Sao Thủy, Sao Kim và Sao Thổ. |
|
404. All the schemes are related to every other scheme in a number of ways. Each type of relationship has its own quality. |
404. Mọi hệ hành tinh đều liên hệ với mọi hệ hành tinh khác theo nhiều cách. Mỗi loại liên hệ đều có phẩm tính riêng của nó. |
|
405. Each geometrical figure will have a sound and will create a chord of music. All must be blended together to create a final synthesis. |
405. Mỗi hình hình học sẽ có một âm điệu và sẽ tạo ra một hợp âm âm nhạc. Tất cả phải được hòa trộn với nhau để tạo nên một tổng hợp chung cuộc. |
|
406. The picture is one of the geometrical synthesis of diverse qualities. There are pairs, triangles, four-sided figures, trapezoids and kites implying the number five, a hexagon and numerous hexagrams, and, of course, the final seven. |
406. Bức tranh này là một bức tranh về sự tổng hợp hình học của các phẩm tính đa dạng. Có các cặp, các tam giác, các hình bốn cạnh, các hình thang và các hình diều hàm ý số năm, một hình lục giác và vô số hình sao sáu cánh, và dĩ nhiên là số bảy chung cuộc. |
|
407. Our solar system is a vast geometrically (and, therefore, musically) related process. Emphasis is constantly changing and so is predominating quality. All structures are evolving and changing emphasis of orientation and emphasis within configuration. |
407. Hệ mặt trời của chúng ta là một tiến trình bao la có liên hệ hình học (và do đó, liên hệ âm nhạc). Sự nhấn mạnh liên tục thay đổi và phẩm tính trội cũng vậy. Mọi cấu trúc đều đang tiến hoá và thay đổi sự nhấn mạnh về định hướng cũng như sự nhấn mạnh bên trong cấu hình. |
|
408. That which is configured within the large oval is said to persist “from the middle of the Third Root Race, at the fourth Found to the ‘Judgment Day’ in the middle of the Fifth Round.” (The sentence immediately beneath the large oval.) |
408. Điều được cấu hình bên trong hình bầu dục lớn được nói là tồn tại “từ giữa Giống dân gốc Thứ Ba, ở Found thứ tư cho đến ‘Ngày Phán Xét’ vào giữa Cuộc tuần hoàn Thứ Năm.” (Câu ngay bên dưới hình bầu dục lớn.) |
|
409. Considering that we are dealing with solar systemic arrangements and inter-planetary design, this is not a very long time. |
409. Xét rằng chúng ta đang bàn đến các sắp xếp thuộc hệ mặt trời và thiết kế liên hành tinh, thì đây không phải là một thời gian quá dài. |
|
410. It would seem that Venus and Mercury will be particularly potent at the time of the “Judgment Day”. Kites and triangles will be important at that time of soul-domination. |
410. Có vẻ như Sao Kim và Sao Thủy sẽ đặc biệt mạnh mẽ vào thời điểm của “Ngày Phán Xét”. Các hình diều và các tam giác sẽ quan trọng vào thời kỳ linh hồn chi phối đó. |
|
411. The process of seven of the dense physical planets is described. We learn from the description the following: |
411. Tiến trình của bảy hành tinh hồng trần đậm đặc được mô tả. Từ phần mô tả, chúng ta học được những điều sau đây: |
|
a. That Vulcan is, indeed, a dense physical planet. There are many present theories to the contrary. |
a. Rằng Vulcan quả thực là một hành tinh hồng trần đậm đặc. Hiện có nhiều lý thuyết trái ngược với điều này. |
|
b. Nothing is given re the Uranus and Neptune schemes. The Planetary Logoi of these planets are focussed, no doubt, through certain chains and globes, but we are left in the dark on that subject. |
b. Không có gì được nêu ra liên quan đến các hệ hành tinh của Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương. Các Hành Tinh Thượng đế của các hành tinh này hẳn là tập trung, không nghi ngờ gì, qua một số dãy và bầu hành tinh nào đó, nhưng chúng ta vẫn bị để trong bóng tối về chủ đề ấy. |
|
c. Of the planetary schemes for which information is given, Jupiter, Saturn and Vulcan (all powerful sacred planets) are, apparently, equally unfolded, focussing in the third chain and the fourth globe. |
c. Trong các hệ hành tinh mà thông tin được cung cấp, Sao Mộc, Sao Thổ và Vulcan (tất cả đều là những hành tinh thiêng liêng hùng mạnh) dường như được khai mở ngang nhau, tập trung trong dãy thứ ba và bầu hành tinh thứ tư. |
|
d. Mars and the Earth are about equally unfolded, focusing in the fourth chain and the fourth globe. From other discussions we know that the Earth is closer to the status of a sacred planet than is Mars. |
d. Sao Hỏa và Trái Đất được khai mở gần như ngang nhau, tập trung trong Dãy Thứ Tư và bầu hành tinh thứ tư. Từ những bàn luận khác, chúng ta biết rằng Trái Đất gần với địa vị của một hành tinh thiêng liêng hơn là Sao Hỏa. |
|
e. Mercury is more unfolded than any schemes mentioned, thus far, being in its fourth chain, fifth globe. |
e. Sao Thủy được khai mở hơn bất kỳ hệ hành tinh nào đã được nhắc đến cho đến nay, đang ở trong dãy thứ tư, thứ năm bầu hành tinh. |
|
f. Venus is the most unfolded of all, focussing in its fifth chain, fifth globe. |
f. Sao Kim là hành tinh được khai mở nhất trong tất cả, tập trung trong dãy thứ năm, bầu hành tinh thứ năm. |
|
g. Interestingly the two most unfolded planets are represented by designs which vary most from the designs of the other schemes within ‘greater Saturn’ and are, so it seems, the most distinctive. |
g. Điều thú vị là hai hành tinh được khai mở nhất được biểu thị bằng những thiết kế khác biệt nhiều nhất so với các thiết kế của những hệ hành tinh khác bên trong ‘Sao Thổ lớn hơn’ và vì thế, dường như, là đặc thù nhất. |
|
h. We should not imagine that dense planets can appear only within fourth chains. In three cases they appear within third chains and in one case within a fifth chain. In these instances, it leads one to question about the degree of materiality of any globe in a fourth chain associated with a third or fifth chain that has a physical planet, because third and fifth chains are generally more subtle and less material than fourth chains. This question is predicated upon the inference that all chains are simultaneously active though to far different degrees |
h. Chúng ta không nên tưởng rằng các hành tinh đậm đặc chỉ có thể xuất hiện trong các dãy thứ tư. Trong ba trường hợp chúng xuất hiện trong các dãy thứ ba và trong một trường hợp trong một dãy thứ năm. Trong những trường hợp này, điều đó khiến người ta đặt câu hỏi về mức độ vật chất của bất kỳ bầu hành tinh nào trong một dãy thứ tư liên kết với một dãy thứ ba hay thứ năm có một hành tinh hồng trần, bởi vì các dãy thứ ba và thứ năm nói chung tinh tế hơn và ít vật chất hơn các dãy thứ tư. Câu hỏi này dựa trên suy luận rằng mọi dãy đều đồng thời hoạt động dù ở những mức độ rất khác nhau |
|
i. In other words, if there is a dense physical planet in a third or fifth chain, why should there not also be a dense physical planet in the associated fourth chain? Fourth chains exist at deeper levels of ‘prakritic immersion’ than do third or fifth chains, and so, how shall that deeper prakritic immersion be expressed? |
i. Nói cách khác, nếu có một hành tinh hồng trần đậm đặc trong một dãy thứ ba hay thứ năm, thì tại sao lại không có một hành tinh hồng trần đậm đặc trong dãy thứ tư liên kết? Các dãy thứ tư tồn tại ở những cấp độ ‘chìm đắm vào prakriti’ sâu hơn các dãy thứ ba hay thứ năm, và như thế, sự chìm đắm vào prakriti sâu hơn đó sẽ được biểu hiện ra sao? |
|
412. We are only scratching the surface in this analysis of Chart VI. A huge amount of thought could be invested in the further investigation of meanings to be derived from this chart. In centuries ahead, perhaps far more of its hidden secrets will be fathomed. For now we deal with only the most obvious outlines. |
412. Chúng ta mới chỉ chạm vào bề mặt trong phần phân tích này về Biểu Đồ VI. Một lượng tư tưởng khổng lồ có thể được đầu tư vào việc khảo sát sâu hơn những ý nghĩa có thể rút ra từ biểu đồ này. Trong các thế kỷ sắp tới, có lẽ nhiều bí mật ẩn giấu của nó sẽ được thấu hiểu hơn rất nhiều. Hiện giờ chúng ta chỉ bàn đến những nét đại cương hiển nhiên nhất. |
|
413. We now return to the general text. |
413. Giờ đây chúng ta trở lại phần văn bản tổng quát. |
|
We need to bear in mind that the stimulation of the centres is of three kinds, and the distinction between the three must be kept clear. |
Chúng ta cần ghi nhớ rằng sự kích thích các trung tâm có ba loại, và sự phân biệt giữa ba loại ấy phải được giữ cho rõ ràng. |
|
414. This is one of those sections in TCF in which DK speaks of the kinds of incarnations which may be taken by a Solar Logos. |
414. Đây là một trong những phần trong TCF mà Chân sư DK nói về các loại lâm phàm mà một Thái dương Thượng đế có thể đảm nhận. |
|
415. We note that at first the Solar Logos works through large planetary structures (i.e., through the major chakras of His system). |
415. Chúng ta lưu ý rằng lúc đầu Thái dương Thượng đế hoạt động qua các cấu trúc hành tinh lớn (tức là qua các luân xa chính của hệ của Ngài). |
|
416. Progressively, He works through lesser planetary structures such as chains and finally through globes. |
416. Dần dần, Ngài hoạt động qua các cấu trúc hành tinh nhỏ hơn như các dãy và cuối cùng qua các bầu hành tinh. |
|
417. We are speaking of those areas within the solar logoic ring-pass-not which are stimulated by solar logoic kundalini. |
417. Chúng ta đang nói về những khu vực bên trong vòng-giới-hạn thái dương thượng đế được kích thích bởi kundalini thái dương thượng đế. |
|
First, the vitalisation of the logoic centres, or the pouring through the seven schemes, during stupendous cycles, of logoic kundalini. |
Trước hết, là sự tiếp sinh lực cho các trung tâm logoic, hay sự tuôn đổ qua bảy hệ hành tinh, trong những chu kỳ lớn lao, của kundalini logoic. |
|
418. If our solar system lasts some 311,040,000,000,000 years (cf. TCF 40), we see that we have plenty of time for the appearance and disappearance of stupendous cycles. |
418. Nếu hệ mặt trời của chúng ta kéo dài khoảng 311,040,000,000,000 năm (xem TCF 40), chúng ta thấy rằng mình có rất nhiều thời gian cho sự xuất hiện và biến mất của các chu kỳ lớn lao. |
|
419. Note that again we speak of “seven schemes” instead of ten. That there are ten (or even many more) has become obvious. |
419. Lưu ý rằng một lần nữa chúng ta nói đến “bảy hệ hành tinh” thay vì mười. Việc có mười (hay thậm chí nhiều hơn nữa) đã trở nên hiển nhiên. |
|
There are more than 115 of such bodies to be reckoned with, and all are at varying stages of vibratory [Page 794] impulse. They have definite orbits, they turn upon their axis, they draw their “life” and substance from the sun, but owing to their relative insignificance, they have not yet been considered factors of moment. (TCF 793-794) |
Có hơn 115 thiên thể như thế cần được tính đến, và tất cả đều ở những giai đoạn khác nhau của xung lực rung động [Page 794]. Chúng có những quỹ đạo xác định, chúng quay trên trục của mình, chúng rút lấy “sự sống” và chất liệu của chúng từ mặt trời, nhưng do tính không đáng kể tương đối của chúng, chúng vẫn chưa được xem là những yếu tố quan trọng. (TCF 793-794) |
|
420. Perhaps it could be said that the seven major schemes in some way ‘contain’ all the others. |
420. Có lẽ có thể nói rằng bảy hệ hành tinh chính theo một cách nào đó ‘bao hàm’ tất cả những hệ khác. |
|
421. The planetary schemes are “logoic centres” or chakras. |
421. Các hệ hành tinh là những “trung tâm logoic” hay các luân xa. |
|
Next, the vitalisation of the planetary centres, or the pouring through the seven chains of a scheme, of planetary kundalini. |
Tiếp theo, là sự tiếp sinh lực cho các trung tâm hành tinh, hay sự tuôn đổ qua bảy dãy của một hệ hành tinh, của kundalini hành tinh. |
|
422. Again, seven chains instead of ten. This is a mystery and probably depends much upon the point in the planetary developmental process when the chains are counted. |
422. Một lần nữa, là bảy dãy thay vì mười. Đây là một huyền nhiệm và có lẽ phụ thuộc nhiều vào điểm trong tiến trình phát triển hành tinh khi các dãy được đếm. |
|
423. In this point we are dealing with intra-planetary stimulation. |
423. Ở điểm này chúng ta đang bàn đến sự kích thích nội hành tinh. |
|
Finally, the vitalisation of the centres of a planetary Logos during some particular major incarnation, or the pouring through the seven globes of a chain, of kundalini. |
Sau cùng, là sự tiếp sinh lực cho các trung tâm của một Hành Tinh Thượng đế trong một lần lâm phàm lớn đặc biệt nào đó, hay sự tuôn đổ qua bảy bầu hành tinh của một dãy, của kundalini. |
|
424. We should not imagine that the chains are not “centres of a planetary Logos”. It would seem that the chains are the seven (or more) greater centers in a Planetary Logos and the globes are lesser centers. |
424. Chúng ta không nên tưởng rằng các dãy không là “các trung tâm của một Hành Tinh Thượng đế”. Có vẻ như các dãy là bảy (hay nhiều hơn) trung tâm lớn hơn trong một Hành Tinh Thượng đế và các bầu hành tinh là các trung tâm nhỏ hơn. |
|
425. When speaking of the incarnations of a Planetary Logos, an incarnation on a globe is considered major. Is there no such thing as an incarnation through a chain? One would think there must be, and certainly there are periods in the life of a Planetary Logos when one chain is receiving greater emphasis than all the others. This would surely be a kind of incarnation for the Planetary Logos. |
425. Khi nói về các lần lâm phàm của một Hành Tinh Thượng đế, một lần lâm phàm trên một bầu hành tinh được xem là lớn. Chẳng lẽ không có điều như một lần lâm phàm qua một dãy sao? Người ta sẽ nghĩ là phải có, và chắc chắn có những giai đoạn trong sự sống của một Hành Tinh Thượng đế khi một dãy nhận được sự nhấn mạnh lớn hơn tất cả những dãy khác. Điều này hẳn sẽ là một loại lâm phàm đối với Hành Tinh Thượng đế. |
|
426. The following is only one reference describing chains as chakras of a Heavenly Man: |
426. Sau đây chỉ là một dẫn chiếu mô tả các dãy như các luân xa của một Đấng Thiên Nhân: |
|
Each of the seven chains might be looked upon as picturing the seven centres of one of the Heavenly Men. (TCF 206) |
Mỗi một trong bảy dãy có thể được xem như phác họa bảy trung tâm của một trong các Đấng Thiên Nhân. (TCF 206) |
|
427. In any case, kundalini is instrumental in the vitalization of schemes, chains and globes. |
427. Dù sao đi nữa, kundalini là công cụ trong sự tiếp sinh lực cho các hệ hành tinh, các dãy và các bầu hành tinh. |
|
428. The paths pursued by kundalini must be marvelous to behold! |
428. Những con đường mà kundalini đi theo hẳn là kỳ diệu biết bao khi được chiêm ngưỡng! |
|
It should be stated here that: |
Ở đây cần nói rõ rằng: |
|
A major incarnation is one in which a planetary Logos takes some initiation. |
Một lần lâm phàm lớn là lần trong đó một Hành Tinh Thượng đế đảm nhận một điểm đạo nào đó. |
|
429. It is, therefore, evident that in our Earth-chain and on our fourth globe the Planetary Logos is undergoing a major incarnation. He is process, at the moment, of taking the fourth in a series of seven initiations. (cf. TCF 384) |
429. Vì vậy, hiển nhiên là trong Dãy Địa Cầu của chúng ta và trên bầu hành tinh thứ tư của chúng ta, Hành Tinh Thượng đế đang trải qua một lần lâm phàm lớn. Hiện nay Ngài đang trong tiến trình đảm nhận lần điểm đạo thứ tư trong một chuỗi bảy lần điểm đạo. (xem TCF 384) |
|
He may, and does, pass through many incarnations without taking initiation. |
Ngài có thể, và quả thực có, trải qua nhiều lần lâm phàm mà không đảm nhận điểm đạo. |
|
430. These incarnations can be of a lesser kind. A globe incarnation (as we have just seen above) is a “major” incarnation. |
430. Những lần lâm phàm này có thể thuộc loại nhỏ hơn. Một lần lâm phàm trên bầu hành tinh (như chúng ta vừa thấy ở trên) là một lần lâm phàm “lớn”. |
|
When He does take initiation, it is interesting to note that He does so during some incarnation in which He takes a vehicle of etheric matter as is the case at this time. |
Khi Ngài thực sự đảm nhận điểm đạo, điều đáng chú ý là Ngài làm như vậy trong một lần lâm phàm nào đó mà Ngài mang lấy một vận cụ bằng vật chất dĩ thái như trường hợp hiện nay. |
|
431. This seems to be a confirmation of the idea that initiation (for whatever type of self-consciousness unit, and usually) requires a physical vehicle. (Exceptions, however, can be found throughout the Teaching.) |
431. Điều này dường như xác nhận ý tưởng rằng điểm đạo (đối với bất kỳ loại đơn vị ngã thức nào, và thường là như vậy) đòi hỏi một vận cụ hồng trần. (Tuy nhiên, có thể tìm thấy những ngoại lệ khắp Giáo Huấn.) |
|
432. We remember that in relation to the Planetary Logoi, the etheric vehicle is the physical vehicle. |
432. Chúng ta nhớ rằng liên quan đến các Hành Tinh Thượng đế, vận cụ dĩ thái chính là vận cụ hồng trần. |
|
433. If there are chains which do not have etheric-physical globes, will it mean that no planetary logoic incarnation can be taken in such chains? This would not seem logical. |
433. Nếu có những dãy không có các bầu hành tinh dĩ thái-hồng trần, liệu điều đó có nghĩa là không thể có lần lâm phàm hành tinh thượng đế nào trong những dãy như thế không? Điều này dường như không hợp lý. |
|
434. When our Planetary Logos moves on to emphasize the fifth chain, for instance, will there be etheric globes in that chain so that initiation becomes possible? |
434. Chẳng hạn, khi Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chuyển sang nhấn mạnh dãy thứ năm, liệu sẽ có các bầu hành tinh dĩ thái trong dãy đó để điểm đạo trở nên khả hữu chăng? |
|
435. What of the possibility of initiation upon the sixth chain of the Earth-scheme or the seventh? Such elevated chains will probably not offer the Planetary Logos the possibility of taking vehicles of etheric matter. |
435. Còn khả năng điểm đạo trên dãy thứ sáu của hệ Địa Cầu hay dãy thứ bảy thì sao? Những dãy cao như thế có lẽ sẽ không đem lại cho Hành Tinh Thượng đế khả năng mang lấy các vận cụ bằng vật chất dĩ thái. |
|
436. We are told that some planets in our solar system have for their densest vehicle an etheric vehicle. They have not yet materialized (i.e., gathered dense matter around their etheric substance). |
436. Chúng ta được cho biết rằng một số hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta có vận cụ đậm đặc nhất là một vận cụ dĩ thái. Chúng chưa hiện hình (tức là chưa gom tụ vật chất đậm đặc quanh chất liệu dĩ thái của chúng). |
|
437. May it be that only third, fourth and fifth chains have the possibility of including an etheric-physical globe? From Chart VI and what is said of the dense physical planets (below the chart), we see that dense globes are only produced in third, fourth or fifth chains. |
437. Có thể chăng chỉ các dãy thứ ba, thứ tư và thứ năm mới có khả năng bao gồm một bầu hành tinh dĩ thái-hồng trần? Từ Biểu Đồ VI và điều được nói về các hành tinh hồng trần đậm đặc (bên dưới biểu đồ), chúng ta thấy rằng các bầu hành tinh đậm đặc chỉ được tạo ra trong các dãy thứ ba, thứ tư hoặc thứ năm. |
|
The Logos of our scheme is preparing for initiation and hence the terrific tests and trials, incident to life on our planet during this cycle, are easily accounted for. |
Hành Tinh Thượng đế của hệ chúng ta đang chuẩn bị cho điểm đạo và do đó những thử thách và khảo nghiệm khủng khiếp, gắn liền với sự sống trên hành tinh chúng ta trong chu kỳ này, đều có thể được giải thích dễ dàng. |
|
438. It is important to note that our Planetary Logos is only “preparing” for initiation. Some imagine that He will take it in the relatively immediate future or is taking it right now, but it would seem that a greater degree of soul-infusion in the human race is required if this is to occur. |
438. Điều quan trọng cần lưu ý là Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chỉ đang “chuẩn bị” cho điểm đạo. Một số người tưởng rằng Ngài sẽ đảm nhận nó trong tương lai tương đối gần hoặc đang đảm nhận nó ngay lúc này, nhưng dường như cần có một mức độ linh hồn thấm nhuần lớn hơn trong nhân loại nếu điều này muốn xảy ra. |
|
439. Even though conditions on our planet are only those of preparation for initiation, the experiences through which we (and all lower kingdoms) are passing are dire. Because it is a fourth initiation, human-kind, the fourth kingdom, is experiencing the greater pain. |
439. Dù các điều kiện trên hành tinh chúng ta chỉ là những điều kiện chuẩn bị cho điểm đạo, những kinh nghiệm mà chúng ta (và tất cả các giới thấp hơn) đang trải qua vẫn rất khốc liệt. Bởi vì đây là lần điểm đạo thứ tư, nhân loại, giới thứ tư, đang trải nghiệm nỗi đau lớn hơn cả. |
|
440. It should be remembered that the path to each initiation is over a “burning ground”. |
440. Cần nhớ rằng con đường dẫn đến mỗi lần điểm đạo đều đi qua một “vùng đất cháy”. |
|
441. Of what cycle is DK speaking? It may be lengthier than we imagine. |
441. Chân sư DK đang nói đến chu kỳ nào? Có thể nó dài hơn chúng ta tưởng. |
|
442. It seems clear that the Planetary Logos is taking initiation “during this cycle” and, thus, most probably over a relatively long period of time. The fourth initiation for the Planetary Logos will not be the relatively rapid affair it is in the life of a human being.— |
442. Có vẻ rõ ràng rằng Hành Tinh Thượng đế đang đảm nhận điểm đạo “trong chu kỳ này” và do đó rất có thể là trong một khoảng thời gian tương đối dài. Lần điểm đạo thứ tư đối với Hành Tinh Thượng đế sẽ không là một sự việc tương đối nhanh chóng như trong đời sống của một con người.— |
|
The Logos of our scheme, Sanat Kumara, will take a major initiation in the middle of the fifth round, but is preparing for a minor one at this time. |
Hành Tinh Thượng đế của hệ chúng ta, Đức Sanat Kumara, sẽ đảm nhận một điểm đạo lớn vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, nhưng hiện nay đang chuẩn bị cho một điểm đạo nhỏ. |
|
443. This is a most important statement. Is Sanat Kumara the personality of the Planetary Logos? Is Sanat Kumara the soul of the Planetary Logos? Or is Sanat Kumara actually the Planetary Logos? |
443. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng. Đức Sanat Kumara có phải là phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế không? Đức Sanat Kumara có phải là linh hồn của Hành Tinh Thượng đế không? Hay Đức Sanat Kumara thực sự chính là Hành Tinh Thượng đế? |
|
444. It is perhaps unusual to think of a fourth initiation as a “minor initiation”, but a Planetary Logos is not a sacred planet until that Logos has taken the fifth initiation. Compared, therefore, to the fifth initiation in the series of seven (cf. TCF 384), the fourth initiation is still minor. |
444. Có lẽ thật khác thường khi nghĩ về lần điểm đạo thứ tư như một “điểm đạo nhỏ”, nhưng một Hành Tinh Thượng đế không phải là một hành tinh thiêng liêng cho đến khi Thượng đế ấy đã đảm nhận lần điểm đạo thứ năm. Vì vậy, so với lần điểm đạo thứ năm trong chuỗi bảy lần (xem TCF 384), lần điểm đạo thứ tư vẫn còn là nhỏ. |
|
445. One would think that the Planetary Logos would take a kind of fifth initiation in His fifth chain, a sixth initiation in His sixth chain and His seventh in His seventh chain. This may still be true even though we are told that he will take a “major initiation” in the fifth round (presumably in this fourth chain). That “major initiation” might not be the same as the fifth in the series of seven. |
445. Người ta sẽ nghĩ rằng Hành Tinh Thượng đế sẽ đảm nhận một loại lần điểm đạo thứ năm trong dãy thứ năm của Ngài, lần điểm đạo thứ sáu trong dãy thứ sáu của Ngài và lần thứ bảy trong dãy thứ bảy của Ngài. Điều này vẫn có thể đúng dù chúng ta được cho biết rằng y sẽ đảm nhận một “điểm đạo lớn” trong cuộc tuần hoàn thứ năm (có lẽ trong dãy thứ tư này). “Điểm đạo lớn” đó có thể không giống với lần thứ năm trong chuỗi bảy lần. |
|
446. If we consult TCF 384, the next major initiation (called a “cosmic initiation”) for which our Planetary Logos is preparing is the second. |
446. Nếu chúng ta tham khảo TCF 384, lần điểm đạo lớn kế tiếp (được gọi là một “điểm đạo vũ trụ”) mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang chuẩn bị là lần thứ hai. |
|
447. Thus far, we seem to be dealing three categories of initiation for the Planetary Logos, two of which may be the same: |
447. Cho đến nay, dường như chúng ta đang bàn đến ba loại điểm đạo đối với Hành Tinh Thượng đế, trong đó hai loại có thể là một: |
|
a. Minor initiations |
a. Các điểm đạo nhỏ |
|
b. Major initiations |
b. Các điểm đạo lớn |
|
c. Cosmic initiations |
c. Các điểm đạo vũ trụ |
|
448. Could the major initiation for which our Planetary Logos is preparing, and which will occur in the fifth round of the fourth chain, be the “second cosmic initiation”? |
448. Liệu điểm đạo lớn mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang chuẩn bị, và sẽ xảy ra trong cuộc tuần hoàn thứ năm của dãy thứ tư, có thể là “lần điểm đạo vũ trụ thứ hai” chăng? |
|
449. The series of minor and cosmic initiations could take place in at least two ways: |
449. Chuỗi các điểm đạo nhỏ và các điểm đạo vũ trụ có thể diễn ra theo ít nhất hai cách: |
|
a. In the case of our Planetary Logos, either the entire series of seven must be completed before He is able to take the second cosmic initiation… |
a. Trong trường hợp của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, hoặc là toàn bộ chuỗi bảy lần phải được hoàn tất trước khi Ngài có thể đảm nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ hai… |
|
b. Or there is a kind of overlapping going on between these two types of initiations. Let us say that the Planetary Logos is due to take the third or even the fourth cosmic initiation in this solar system. It may be that those cosmic initiations occur during the series of minor or chain initiations. |
b. Hoặc có một loại chồng lấn nào đó đang diễn ra giữa hai loại điểm đạo này. Chúng ta hãy chỉ nói rằng Hành Tinh Thượng đế được định là sẽ đảm nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ ba hay thậm chí thứ tư trong hệ mặt trời này. Có thể những điểm đạo vũ trụ ấy xảy ra trong khi chuỗi các điểm đạo nhỏ hay điểm đạo dãy đang diễn ra. |
|
c. This would mean that the fourth chain initiation (occurring on our Earth chain and considered minor) could be followed by the second cosmic initiation even before the fifth chain initiation occurs. |
c. Điều này có nghĩa là điểm đạo dãy thứ tư (xảy ra trên Dãy Địa Cầu của chúng ta và được xem là nhỏ) có thể được tiếp theo bởi lần điểm đạo thứ hai vũ trụ ngay cả trước khi điểm đạo dãy thứ năm xảy ra. |
|
d. In such a case the second cosmic initiation could occur while the Planetary Logos is still focussed within His fourth chain! |
d. Trong trường hợp như vậy, lần điểm đạo vũ trụ thứ hai có thể xảy ra trong khi Hành Tinh Thượng đế vẫn còn tập trung trong dãy thứ tư của Ngài! |
|
e. I had previously thought that the entire series of seven would have to elapse before the second cosmic initiation could occur, but there may be other possibilities. |
e. Trước đây tôi đã nghĩ rằng toàn bộ chuỗi bảy lần sẽ phải trôi qua trước khi lần điểm đạo vũ trụ thứ hai có thể xảy ra, nhưng có thể còn những khả năng khác. |
|
450. This new (new to me) view of the possibilities would have implications in relation to the initiations which the Solar Logos is in process of taking—a series of nine (minor) with the third cosmic initiation being His goal. |
450. Quan điểm mới này (mới đối với tôi) về các khả năng sẽ có những hàm ý liên quan đến các điểm đạo mà Thái dương Thượng đế đang trong tiến trình đảm nhận—một chuỗi chín lần (nhỏ) với lần điểm đạo thứ ba vũ trụ là mục tiêu của Ngài. |
|
451. Similarly, the cosmic initiations could occur during the taking of the nine minor (the fourth minor is probably now in progress through our Earth-scheme). This would make sense as the Solar Logos is due to take either the fourth cosmic initiation or the fourth and fifth cosmic initiation in this solar system. |
451. Tương tự, các điểm đạo vũ trụ có thể xảy ra trong khi chín điểm đạo nhỏ đang được đảm nhận (lần nhỏ thứ tư có lẽ hiện đang diễn ra qua hệ Địa Cầu của chúng ta). Điều này sẽ hợp lý vì Thái dương Thượng đế được định là sẽ đảm nhận hoặc lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc cả lần điểm đạo vũ trụ thứ tư và thứ năm trong hệ mặt trời này. |
|
452. The exact relationship between apparently “minor” initiations and major or cosmic initiations may not be easy to determine, but the Tibetan gives enough hints for us to offer intelligent speculations. |
452. Mối liên hệ chính xác giữa các điểm đạo có vẻ “nhỏ” và các điểm đạo lớn hay vũ trụ có thể không dễ xác định, nhưng Chân sư Tây Tạng đưa ra đủ gợi ý để chúng ta có thể đưa ra những suy đoán thông minh. |
|
The Logos of our scheme has been in physical incarnation (having a body of etheric matter) since the middle of the Lemurian root-race, and will remain with us until what is called “the judgment day” in the next round. |
Hành Tinh Thượng đế của hệ chúng ta đã ở trong lâm phàm hồng trần (có một thể bằng vật chất dĩ thái) từ giữa giống dân gốc Lemuria, và sẽ ở lại với chúng ta cho đến điều được gọi là “ngày phán xét” trong cuộc tuần hoàn kế tiếp. |
|
453. When speaking of the “Logos of our scheme”, DK may again be speaking of Sanat Kumara, as above. |
453. Khi nói về “Hành Tinh Thượng đế của hệ chúng ta”, Chân sư DK có thể lại đang nói về Đức Sanat Kumara, như ở trên. |
|
454. In a way, the Planetary Logos can never leave us, but His focal incarnation, through Sanat Kumara and on this fourth globe, may be in some respect terminated at the “Judgment Day”. |
454. Theo một nghĩa nào đó, Hành Tinh Thượng đế không bao giờ có thể rời bỏ chúng ta, nhưng lần lâm phàm tiêu điểm của Ngài, qua Đức Sanat Kumara và trên bầu hành tinh thứ tư này, có thể ở một phương diện nào đó chấm dứt vào “Ngày Phán Xét”. |
|
455. VSK offers the following: “Let’s note that this is the world period referred to in the EA chart page 34-35, as well as that timeframe as given on this TCF chart VI page 373.” |
455. VSK đưa ra điều sau đây: “Hãy lưu ý rằng đây là thời kỳ thế giới được nhắc đến trong biểu đồ EA trang 34-35, cũng như khung thời gian được nêu trong biểu đồ VI của TCF trang 373.” |
|
456. May it be suggested that when (on EA 34) DK speaks of a “world cycle”, it may or may not be the same as the span discussed here? |
456. Có thể gợi ý rằng khi (trong EA 34) Chân sư DK nói về một “chu kỳ thế giới”, thì nó có thể là hoặc không là cùng khoảng thời gian được bàn đến ở đây chăng? |
|
457. It may be presumed that the fourth globe has had, since its inception, a body of etheric matter. This is not the body of which DK seems to be speaking. Rather, it is as if the Planetary Logos/Sanat Kumara takes His own body of etheric matter within the etheric body of the globe. |
457. Có thể giả định rằng bầu hành tinh thứ tư, từ khi khởi đầu, đã có một thể bằng vật chất dĩ thái. Đây không phải là thể mà Chân sư DK dường như đang nói đến. Đúng hơn, dường như Hành Tinh Thượng đế/Đức Sanat Kumara mang lấy chính thể bằng vật chất dĩ thái của Ngài bên trong thể dĩ thái của bầu hành tinh. |
|
458. The span of Sanat Kumara’s incarnation on the fourth globe is memorable: from human individualization until the “Judgment Day”. |
458. Khoảng thời gian lâm phàm của Đức Sanat Kumara trên bầu hành tinh thứ tư thật đáng ghi nhớ: từ lúc biệt ngã hóa của con người cho đến “Ngày Phán Xét”. |
|
459. In terms of the initiations of the Planetary Logos: individualization was a kind of planetary initiation; we are preparing for a fourth initiation now and the “Judgment Day” will be an initiation (in fact, a major initiation). |
459. Xét theo các điểm đạo của Hành Tinh Thượng đế: biệt ngã hóa là một loại điểm đạo hành tinh; hiện nay chúng ta đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ tư và “Ngày Phán Xét” sẽ là một điểm đạo (thực ra là một điểm đạo lớn). |
|
460. The Planetary Logos, in a way, pervades His entire planetary manifestation, including chains and globes. This, it would seem, is a constant. |
460. Theo một nghĩa nào đó, Hành Tinh Thượng đế thấm khắp toàn bộ biểu hiện hành tinh của Ngài, bao gồm các dãy và các bầu hành tinh. Điều này, dường như, là một hằng số. |
|
461. Planetary logoic incarnation, however, seems to be different matter from pervasion; rather, it seems to be a deliberate focus for a specific duration. |
461. Tuy nhiên, sự lâm phàm hành tinh thượng đế dường như là một vấn đề khác với sự thấm khắp; đúng hơn, nó dường như là một sự tập trung có chủ ý trong một thời lượng xác định. |
|
At that point in His career He will have achieved the necessary vitalisation of the particular centre which is occupying His attention, will have “seen of the travail of His Soul” in connection with the units of the human [Page 375] Hierarchy who go to the composition of this centre, and will drop His present form, will turn His attention to another and higher centre, and give of His force to the units of a different calibre, from another branch of the human Hierarchy, who respond to the vibration of that centre. |
Vào thời điểm đó trong sự nghiệp của Ngài, Ngài sẽ đạt được sự tiếp sinh lực cần thiết cho trung tâm đặc biệt đang chiếm giữ sự chú ý của Ngài, sẽ đã “thấy nỗi nhọc nhằn của Linh hồn Ngài” liên quan đến các đơn vị của Thánh Đoàn nhân loại [Page 375]hợp thành trung tâm này, và sẽ buông bỏ hình tướng hiện tại của Ngài, sẽ chuyển sự chú ý của Ngài sang một trung tâm khác và cao hơn, và ban mãnh lực của Ngài cho các đơn vị có tầm mức khác, từ một nhánh khác của Thánh Đoàn nhân loại, những đơn vị đáp ứng với rung động của trung tâm ấy. |
|
462. This is quite an amazing paragraph discussing the goals and objectives of our Planetary Logos. |
462. Đây là một đoạn văn thật đáng kinh ngạc bàn về các mục tiêu và mục đích của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
463. The Planetary Logos is presently passing through a fourth initiation in His fourth chain and on His fourth globe. From R&I 340 we learn that the heart chakra is especially stimulated at the fourth initiation and we may analogize to the Planetary Logos. |
463. Hiện nay Hành Tinh Thượng đế đang trải qua lần điểm đạo thứ tư trong dãy thứ tư của Ngài và trên bầu hành tinh thứ tư của Ngài. Từ R&I 340 chúng ta biết rằng luân xa tim được kích thích đặc biệt ở lần điểm đạo thứ tư và chúng ta có thể suy theo phép tương đồng với Hành Tinh Thượng đế. |
|
464. We have learned also that the coming of the Solar Angels corresponded with the awakening of the planetary heart. |
464. Chúng ta cũng đã học được rằng sự xuất hiện của các Thái dương Thiên Thần tương ứng với sự thức tỉnh của tim hành tinh. |
|
Only as the heart centre of a Heavenly Man (each in His cycle and each differing cyclically) becomes vitalised and attains a certain vibratory capacity does the individualisation of the Monads become possible under the Law. (TCF 684) |
Chỉ khi trung tâm tim của một Đấng Thiên Nhân (mỗi Đấng trong chu kỳ của Ngài và mỗi Đấng khác nhau theo chu kỳ) được tiếp sinh lực và đạt đến một năng lực rung động nhất định thì sự biệt ngã hóa của các chân thần mới trở nên khả hữu theo Định luật. (TCF 684) |
|
465. The phrase—“seen of the travail of His Soul” may give the hint that the heart center is especially involved, for the heart, the soul and the causal body (which will become the vehicle of polarization for three-fifths of humanity at the “Judgment Day”) are all closely related. |
465. Cụm từ—“thấy nỗi nhọc nhằn của Linh hồn Ngài” có thể gợi ý rằng trung tâm tim đặc biệt liên hệ, vì tim, linh hồn và thể nguyên nhân (sẽ trở thành vận cụ phân cực cho ba phần năm nhân loại vào “Ngày Phán Xét”) đều liên hệ mật thiết với nhau. |
|
466. The units of the human Hierarchy that go to the composition of the center in question may well be the members of the Spiritual Hierarchy of the time. The Spiritual Hierarchy is the planetary heart center. |
466. Các đơn vị của Thánh Đoàn nhân loại hợp thành trung tâm đang được nói đến rất có thể là các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần vào thời đó. Huyền Giai Tinh Thần là trung tâm tim hành tinh. |
|
467. The dropping of His present form seems to be the dropping of His etheric vehicle which He took in middle Lemurian times. |
467. Việc buông bỏ hình tướng hiện tại của Ngài dường như là việc buông bỏ vận cụ dĩ thái mà Ngài đã mang lấy vào giữa thời Lemuria. |
|
468. The power of love and mind fused will be prominent at the “Judgment Day”. Venus and Mercury will, it seems, be influential. |
468. Quyền năng của tình thương và trí tuệ được dung hợp sẽ nổi bật vào “Ngày Phán Xét”. Dường như Sao Kim và Sao Thủy sẽ có ảnh hưởng. |
|
in the middle of the fifth round the Logos of Mercury will, with the Logos of the Venus scheme, and of our Earth, form a temporary triangle of force. (TCF 371) |
vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, Hành Tinh Thượng đế của Sao Thủy sẽ, cùng với Hành Tinh Thượng đế của hệ Sao Kim và của Trái Đất chúng ta, tạo thành một tam giác mãnh lực tạm thời. (TCF 371) |
|
469. Once there is a requisite degree of soul infusion (love-light infusion) in the vehicles of the Planetary Logos, it would seem that He would turn His attention to the cultivation of the will. This will be, in part, a preparation for incarnation in the next solar system—the will system. The center to be cultivated, therefore, may well be one of the head centers. |
469. Một khi có được mức độ linh hồn thấm nhuần cần thiết (sự thấm nhuần tình thương-ánh sáng) trong các vận cụ của Hành Tinh Thượng đế, dường như Ngài sẽ chuyển sự chú ý sang việc vun bồi ý chí. Điều này sẽ, một phần, là sự chuẩn bị cho lâm phàm trong hệ mặt trời kế tiếp—hệ thống ý chí. Do đó, trung tâm cần được vun bồi rất có thể là một trong các trung tâm đầu. |
|
It would be well to enlarge here a little on the connection between Venus and the Earth, which is hinted at in some of the occult books, and is somewhat touched upon in this. I have stated that the interaction between the two schemes is due largely to their positive and negative polarity, |
Ở đây sẽ là điều tốt nếu khai triển thêm đôi chút về mối liên hệ giữa Sao Kim và Trái Đất, điều được gợi ra trong một số sách huyền bí học, và cũng được chạm đến phần nào trong tác phẩm này. Tôi đã nói rằng sự tương tác giữa hai hệ hành tinh phần lớn là do tính phân cực dương và âm của chúng, |
|
470. We remember the following dealing with the negative polarity of Venus relative to our Earth which is experiencing a positive incarnation. |
470. Chúng ta nhớ đoạn sau đây bàn về tính phân cực âm của Sao Kim so với Trái Đất chúng ta, vốn đang trải qua một lần lâm phàm dương. |
|
Venus is negatively polarised, and hence it became possible for a mysterious absorption by the Earth of Venusian force. Again in this connection the question of sex may serve to elucidate. The karmic tie between the two Heavenly Men—one in a positive incarnation and the other in a negative—caused the working out of an old debt and a planetary alliance. (TCF 323) |
Kim Tinh được phân cực âm, và do đó đã trở nên có thể xảy ra một sự hấp thụ huyền nhiệm của Địa Cầu đối với lực Kim Tinh. Một lần nữa, trong mối liên hệ này, vấn đề tính dục có thể giúp làm sáng tỏ. Mối ràng buộc nghiệp quả giữa hai Đấng Thiên Nhân—một Đấng trong một lần lâm phàm dương tính và Đấng kia trong một lần lâm phàm âm tính—đã gây ra sự giải quyết một món nợ cũ và một liên minh hành tinh. (TCF 323) |
|
and I pointed out that a similar relation underlies the relation of the Pleiades and the seven schemes of our solar system, and also the relation of Sirius and the system itself. |
và tôi đã chỉ ra rằng một mối liên hệ tương tự làm nền tảng cho mối liên hệ giữa chòm Thất Tinh và bảy hệ hành tinh của hệ mặt trời chúng ta, và cả mối liên hệ giữa Sirius và chính hệ này. |
|
471. The following will be relevant to the polarity of the Pleiades relative to the polarity of the seven Heavenly Men. |
471. Điều sau đây sẽ có liên quan đến sự phân cực của chòm Thất Tinh so với sự phân cực của bảy Đấng Thiên Nhân. |
|
Just as Venus is negatively polarised to our Earth scheme, so the seven stars of the Pleiades are negatively polarised to our seven schemes. (TCF 378) |
Cũng như Kim Tinh được phân cực âm đối với hệ Địa Cầu của chúng ta, thì bảy ngôi sao của chòm Thất Tinh cũng được phân cực âm đối với bảy hệ của chúng ta. (TCF 378) |
|
472. May it be the Sirius is negatively polarized in relation to our Sun? The pattern seems to be set: the greater of the two seems to receive from the lesser. We might think so, but it turns out not to be the case as we will learn later. |
472. Có thể nào Sirius được phân cực âm trong mối liên hệ với Mặt Trời của chúng ta chăng? Mô hình dường như đã được thiết lập: Đấng lớn hơn trong hai Đấng dường như nhận từ Đấng nhỏ hơn. Chúng ta có thể nghĩ như vậy, nhưng hóa ra không phải thế như chúng ta sẽ biết về sau. |
|
This, therefore, sweeps into close interaction three great systems: |
Do đó, điều này đưa ba hệ thống vĩ đại vào sự tương tác mật thiết: |
|
1. The system of Sirius, |
1. Hệ thống Sirius, |
|
2. The system of the Pleiades, |
2. Hệ thống chòm Thất Tinh, |
|
3. The system of which our sun is the focal point, |
3. Hệ thống mà mặt trời chúng ta là tiêu điểm, |
|
473. Two members of the “three great constellations”, Sirius and the Pleiades, are here mentioned in relation to our solar system. |
473. Hai thành viên của “ba chòm sao lớn”, Sirius và chòm Thất Tinh, ở đây được nhắc đến trong mối liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta. |
|
474. The Logos of Sirius stimulates our Solar Logos especially, and the Pleiades are a source of stimulation for our Heavenly Men. |
474. Thượng đế của Sirius đặc biệt kích thích Thái dương Thượng đế của chúng ta, và chòm Thất Tinh là một nguồn kích thích đối với các Đấng Thiên Nhân của chúng ta. |
|
making, as we will have noted, a cosmic triangle. |
tạo thành, như chúng ta hẳn đã lưu ý, một tam giác vũ trụ. |
|
475. Our Solar Logos is a cosmic being; the Logoi or Sirius and of the Pleiades are even greater on the cosmic scale. |
475. Thái dương Thượng đế của chúng ta là một vũ trụ thể; các Thượng đế của Sirius và của chòm Thất Tinh còn vĩ đại hơn nữa trên quy mô vũ trụ. |
|
Within our system there are several such triangles, varying at different stages; |
Trong nội bộ hệ thống chúng ta có một số tam giác như thế, biến đổi ở các giai đoạn khác nhau; |
|
476. DK is speaking of that which transpires within our system; the triangle mentioned must therefore at least involve some Planetary Logoi. |
476. Chân sư DK đang nói về điều diễn ra bên trong hệ thống chúng ta; vì vậy tam giác được nhắc đến ít nhất phải bao gồm một số Đức Hành Tinh Thượng Đế. |
|
according to their relation to each other, the differentiated force of the different schemes can pass from scheme to scheme, and thus the units of life on the different rays or streams of force become temporarily intermingled. |
tùy theo mối liên hệ của chúng với nhau, lực đã biến phân của các hệ khác nhau có thể truyền từ hệ này sang hệ khác, và do đó các đơn vị sự sống trên các cung hay các dòng lực khác nhau trở nên tạm thời hòa lẫn vào nhau. |
|
477. The Tibetan seems to be speaking of triangles which are formed between the different schemes. We studied this kind of triangle in relation to ‘greater Saturn’ and the schemes He ‘encloses’. |
477. Chân sư Tây Tạng dường như đang nói về những tam giác được hình thành giữa các hệ khác nhau. Chúng ta đã nghiên cứu loại tam giác này trong mối liên hệ với ‘Saturn lớn hơn’ và các hệ mà Ngài ‘bao hàm’. |
|
478. Triangles are a method for the exchange of different qualities of energy. |
478. Tam giác là một phương pháp để trao đổi các phẩm tính năng lượng khác nhau. |
|
479. The three members of a triangle each express, principally, a different quality of energy or force and share their quality with each other. |
479. Ba thành viên của một tam giác, về căn bản, mỗi thành viên biểu lộ một phẩm tính năng lượng hay mãnh lực khác nhau và chia sẻ phẩm tính của mình với nhau. |
|
In all these triangles (cosmic, systemic, planetary, and human) two points of the triangle represent each a different polarity, and one point represents the point of equilibrium, of synthesis or merging. |
Trong tất cả các tam giác này (vũ trụ, hệ thống, hành tinh và nhân loại) hai điểm của tam giác mỗi điểm biểu thị một cực tính khác nhau, và một điểm biểu thị điểm quân bình, của tổng hợp hay hòa nhập. |
|
480. There are triangles between constellations; there are triangles between solar systems; there are triangles between planets and even triangles between human beings. All these types of triangles are horizontal. |
480. Có những tam giác giữa các chòm sao; có những tam giác giữa các hệ mặt trời; có những tam giác giữa các hành tinh và thậm chí cả những tam giác giữa con người. Tất cả các loại tam giác này đều là ngang. |
|
481. If we look for more vertical triangles, there are triangles which unite a cosmic, a stellar and a planetary factor; or which unite one cosmic factor and two stellar factors; or two cosmic and one stellar; etc., etc. The possible combinations are many. |
481. Nếu chúng ta tìm những tam giác thẳng đứng hơn, thì có những tam giác kết hợp một yếu tố vũ trụ, một yếu tố tinh tú và một yếu tố hành tinh; hoặc kết hợp một yếu tố vũ trụ và hai yếu tố tinh tú; hoặc hai yếu tố vũ trụ và một yếu tố tinh tú; v.v. và v.v. Những tổ hợp khả hữu thì rất nhiều. |
|
482. The many vertical and horizontal triangles, when associated, contribute to the formation of cosmic crosses (not the horizontal Mutable, Fixed and Cardinal crosses). |
482. Nhiều tam giác thẳng đứng và ngang, khi được liên kết, góp phần vào sự hình thành các thập giá vũ trụ (không phải các thập giá ngang Biến đổi, Cố Định và Chủ Yếu). |
|
483. DK speaks of polarity—of positive, negative and a neutral point of equilibrium, or synthesis, or merging. Every triangle demonstrates these three types of polarity. We might call them positive, negative and magnetic. |
483. Chân sư DK nói về cực tính—về một điểm dương, âm và một điểm quân bình trung tính, hay tổng hợp, hay hòa nhập. Mỗi tam giác biểu hiện ba loại cực tính này. Chúng ta có thể gọi chúng là dương, âm và từ tính. |
|
484. If, in the microcosm, we compare the head, throat and heart centers, then (given a sufficiently high point of evolution) the head would be positive, the throat negative and the heart neutral, balancing, synthesizing, merging—i.e., magnetic. |
484. Nếu, trong tiểu thiên địa, chúng ta so sánh các trung tâm đầu, cổ họng và tim, thì (với một điểm tiến hoá đủ cao) đầu sẽ là dương, cổ họng là âm và tim là trung tính, quân bình, tổng hợp, hòa nhập—tức là, từ tính. |
|
This should be borne in mind in studying both the macrocosmic and the microcosmic centres, for it accounts for diversity in manifestation, in forms and in quality. |
Điều này cần được ghi nhớ khi nghiên cứu cả các trung tâm đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, vì nó giải thích sự đa dạng trong biểu hiện, trong các hình tướng và trong phẩm tính. |
|
485. DK is telling us how different kinds of centers become linked in triangular formation. |
485. Chân sư DK đang cho chúng ta biết các loại trung tâm khác nhau được nối kết thành hình tam giác như thế nào. |
|
486. It is through sharing and mutual exchange that centers of one particular quality become enriched through the infusion of multiple other qualities. |
486. Chính nhờ sự chia sẻ và trao đổi hỗ tương mà các trung tâm của một phẩm tính đặc thù được làm phong phú nhờ sự thấm nhuần của nhiều phẩm tính khác. |
|
A correspondence might here also be pointed out which [Page 376] may serve to convey light to those who have eyes to see: |
Một sự tương ứng cũng có thể được chỉ ra ở đây, điều mà [Page 376] có thể giúp soi sáng cho những ai có mắt để thấy: |
|
487. The power to see, to climb the mountain of vision on one’s own, must be built up over many life cycles. |
487. Năng lực thấy, tự mình leo lên ngọn núi của tầm nhìn, phải được xây dựng qua nhiều chu kỳ sống. |
|
The Venus scheme, being in the fifth round, had the fifth principle of manas co-ordinated and developed, the minor four manasic aspects had been synthesised, and the buddhic aspect was being provided with a means of expression through the medium of the perfected fifth. |
Hệ Kim Tinh, vì đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm, đã có nguyên khí thứ năm là manas được phối hợp và phát triển, bốn phương diện manas thứ yếu đã được tổng hợp, và phương diện Bồ đề đang được cung cấp một phương tiện biểu lộ qua trung gian của phương diện thứ năm đã được hoàn thiện. |
|
488. What is said here is reminiscent of the discussion of Venus and its relation to the cosmic astral plane. Venus was subjugating the fifth sub-plane (counting from below), was working on the sixth and probably becoming sensitive to the seventh. |
488. Điều được nói ở đây gợi nhớ đến cuộc thảo luận về Kim Tinh và mối liên hệ của nó với cõi cảm dục vũ trụ. Kim Tinh đã chế ngự cõi phụ thứ năm (tính từ dưới lên), đang hoạt động trên cõi phụ thứ sáu và có lẽ đang trở nên nhạy cảm với cõi phụ thứ bảy. |
|
489. What Venus was doing within itself is similar to what Saturn must do in relation to the four strictly manasic schemes. |
489. Điều Kim Tinh đang làm trong chính nó tương tự như điều Sao Thổ phải làm trong mối liên hệ với bốn hệ thuần túy manas. |
|
In each round one subplane of the cosmic astral plane is brought under control, and the consciousness of the Heavenly Man expands to include one subplane more. The planetary Lord of Venus has dominated and controlled the five subplanes and is working on the sixth. (TCF 291) |
Trong mỗi cuộc tuần hoàn, một cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ được đưa vào sự kiểm soát, và tâm thức của Đấng Thiên Nhân mở rộng để bao gồm thêm một cõi phụ nữa. Chúa Tể hành tinh của Kim Tinh đã chế ngự và kiểm soát năm cõi phụ và đang hoạt động trên cõi phụ thứ sáu. (TCF 291) |
|
490. Humanity on its own level is working on perfecting the higher levels of the fifth sub-plane of the cosmic physical plane—i.e., becoming fully soul conscious. |
490. Nhân loại trên cấp độ riêng của mình đang hoạt động để hoàn thiện các cấp độ cao hơn của cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ—tức là trở nên hoàn toàn có tâm thức linh hồn. |
|
491. The human race is on the eve of the sixth root race; this is the microcosmic analogy to the buddhic progress of Venus. |
491. Nhân loại đang ở ngưỡng của giống dân gốc thứ sáu; đây là sự tương đồng vi mô với sự tiến bộ Bồ đề của Kim Tinh. |
|
492. The stimulation of the buddhic aspect in man corresponds to the work being done by Venus on the sixth sub-plane of the cosmic astral plane. |
492. Sự kích thích phương diện Bồ đề trong con người tương ứng với công việc mà Kim Tinh đang thực hiện trên cõi phụ thứ sáu của cõi cảm dục vũ trụ. |
|
493. It is strange to speak of a scheme being in the fifth round unless we are speaking of scheme rounds. This is one of the few references in TCF which suggest the existence not only of chain rounds but of scheme rounds. |
493. Thật lạ khi nói một hệ đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm trừ phi chúng ta đang nói về các cuộc tuần hoàn của hệ. Đây là một trong số ít những chỗ dẫn trong TCF gợi ý sự tồn tại không chỉ của các cuộc tuần hoàn của dãy mà còn của các cuộc tuần hoàn của hệ. |
|
494. It may be that the Venus-scheme is in both its fifth scheme round and fifth chain round (with respect to its fifth chain). |
494. Có thể hệ Kim Tinh đang ở cả cuộc tuần hoàn thứ năm của hệ lẫn cuộc tuần hoàn thứ năm của dãy (xét theo dãy thứ năm của nó). |
|
Our Heavenly Man, in the fifth round, will have attained a paralleling point in evolution, and the fifth principle will, as stated, be no longer the object of His attention as regards the human units. |
Đấng Thiên Nhân của chúng ta, trong cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ đạt tới một điểm tiến hoá song hành, và nguyên khí thứ năm, như đã nói, sẽ không còn là đối tượng chú tâm của Ngài đối với các đơn vị nhân loại nữa. |
|
495. Are we speaking here of the fifth round on the fourth chain (and thus of a chain round—the round which will see the “Judgment Day”)? |
495. Ở đây chúng ta đang nói về cuộc tuần hoàn thứ năm trên dãy thứ tư (và như vậy là một cuộc tuần hoàn của dãy—cuộc tuần hoàn sẽ chứng kiến “Ngày Phán Xét”) phải không? |
|
496. Or is this reference similar to that immediately above concerning Venus in its fifth round, and are we speaking of a scheme round in relation to the Earth-scheme? |
496. Hay chỗ dẫn này tương tự như chỗ ngay trên nói về Kim Tinh trong cuộc tuần hoàn thứ năm của nó, và chúng ta đang nói về một cuộc tuần hoàn của hệ trong mối liên hệ với hệ Địa Cầu? |
|
497. It would seem that (since we have been talking of the “Judgment Day” in the fifth round of the fourth chain) that the reference here may be to a chain round. |
497. Có vẻ như (vì chúng ta đã nói về “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm của dãy thứ tư) chỗ dẫn ở đây có thể là nói đến một cuộc tuần hoàn của dãy. |
|
498. At the time of the “Judgment Day”, at least the lower fifth principle will no longer be the object of our Planetary Logos’ attention; His attention, it would seem, would be turned to the higher mental plane and towards the buddhic principle. Three fifths of humanity will be polarized in the causal body and so the higher fifth principle would still be relevant. But the cultivation of the principle of buddhi within the human race will be the next planetary objective. |
498. Vào thời điểm của “Ngày Phán Xét”, ít nhất nguyên khí thứ năm thấp hơn sẽ không còn là đối tượng chú tâm của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta nữa; dường như sự chú tâm của Ngài sẽ hướng về Cõi thượng trí và về nguyên khí Bồ đề. Ba phần năm nhân loại sẽ được phân cực trong thể nguyên nhân và vì vậy nguyên khí thứ năm cao hơn vẫn còn thích đáng. Nhưng việc vun bồi nguyên khí buddhi trong nhân loại sẽ là mục tiêu hành tinh kế tiếp. |
|
499. If, however, our Planetary Logos is to attain a point of evolution paralleling that which Venus has now achieved, we must remember that Venus is one chain ahead of our Planetary Logos, not just one round. |
499. Tuy nhiên, nếu Hành Tinh Thượng đế của chúng ta phải đạt tới một điểm tiến hoá song hành với điều mà Kim Tinh hiện nay đã đạt được, chúng ta phải nhớ rằng Kim Tinh đi trước Hành Tinh Thượng đế của chúng ta một dãy, chứ không chỉ một cuộc tuần hoàn. |
|
500. Can our Planetary Logos achieve a paralleling point of evolution to Venus’ present point in the fifth round of our fourth chain, or do we have to wait until the fifth round of our fifth chain? |
500. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta có thể đạt tới một điểm tiến hoá song hành với điểm hiện tại của Kim Tinh trong cuộc tuần hoàn thứ năm của dãy thứ tư của chúng ta, hay chúng ta phải chờ đến cuộc tuần hoàn thứ năm của dãy thứ năm của chúng ta? |
|
501. Here is a question regarding Venus: is it true to say that Venus is in— |
501. Ở đây có một câu hỏi liên quan đến Kim Tinh: có đúng khi nói rằng Kim Tinh đang ở— |
|
a. Its fifth scheme round? |
a. cuộc tuần hoàn thứ năm của hệ của nó chăng? |
|
b. Its fifth chain? |
b. dãy thứ năm của nó chăng? |
|
c. The fifth chain-round of that fifth chain |
c. cuộc tuần hoàn dãy thứ năm của dãy thứ năm ấy chăng |
|
d. The fifth globe of the fifth chain? |
d. bầu hành tinh thứ năm của dãy thứ năm chăng? |
|
502. Such questions have not often been asked together. |
502. Những câu hỏi như thế này không thường được đặt ra cùng nhau. |
|
503. If the above is true of Venus, the Planetary Logos of the Earth-scheme will not achieve Venus’ present point of evolution until another scheme round is in progress; until the His focus is on His fifth chain; and until, within that fifth chain, He is experiencing His fifth chain round in relation to the fifth globe of that chain. |
503. Nếu điều trên là đúng đối với Kim Tinh, thì Hành Tinh Thượng đế của hệ Địa Cầu sẽ không đạt được điểm tiến hoá hiện tại của Kim Tinh cho đến khi một cuộc tuần hoàn khác của hệ đang diễn tiến; cho đến khi tiêu điểm của Ngài ở trên dãy thứ năm của Ngài; và cho đến khi, trong dãy thứ năm ấy, Ngài đang trải nghiệm cuộc tuần hoàn dãy thứ năm của Ngài trong mối liên hệ với bầu hành tinh thứ năm của dãy ấy. |
|
504. Further, it is to be remembered that Venus, like all other Planetary Logos was to have achieved his goal in seven rounds (presumably seven scheme rounds), but, due to greatly accelerated progress, achieve the goal in five rounds (presumably five scheme rounds). |
504. Hơn nữa, cần nhớ rằng Kim Tinh, cũng như mọi Hành Tinh Thượng đế khác, lẽ ra đã phải đạt mục tiêu của mình trong bảy cuộc tuần hoàn (có lẽ là bảy cuộc tuần hoàn của hệ), nhưng do sự tiến bộ được gia tốc rất mạnh, đã đạt mục tiêu trong năm cuộc tuần hoàn (có lẽ là năm cuộc tuần hoàn của hệ). |
|
505. Is the suggestion being made the Logos of the Earth-scheme will do the same—in five scheme rounds and not in seven? We have been no great example of acceleration up to this point in our development, but that fact does not preclude the possibility. |
505. Có phải điều được gợi ý là Thượng đế của hệ Địa Cầu cũng sẽ làm như vậy—trong năm cuộc tuần hoàn của hệ chứ không phải trong bảy? Cho đến thời điểm này trong sự phát triển của chúng ta, chúng ta không phải là một tấm gương lớn về sự gia tốc, nhưng sự kiện ấy không loại trừ khả năng đó. |
|
506. By the time the focus is within the fifth chain of the Earth-scheme, it could easily be understood that buddhi would be the next object of attention. At the “Judgment Day”, however, when so many human beings will be focused within the causal body, it would seem premature of the Planetary Logos to abandon His focus upon at least the higher aspects of the fifth principle. |
506. Đến lúc tiêu điểm nằm trong dãy thứ năm của hệ Địa Cầu, có thể dễ dàng hiểu rằng buddhi sẽ là đối tượng chú tâm kế tiếp. Tuy nhiên, vào “Ngày Phán Xét”, khi rất nhiều con người sẽ được tập trung trong thể nguyên nhân, thì dường như sẽ là quá sớm để Hành Tinh Thượng đế từ bỏ sự chú tâm của Ngài vào ít nhất các phương diện cao hơn của nguyên khí thứ năm. |
|
Five stages of activity mark the development and utilisation of the mind principle; |
Năm giai đoạn hoạt động đánh dấu sự phát triển và sử dụng nguyên khí trí tuệ; |
|
507. Brahma is fivefold comprising one Ray of Aspect and four Rays of Attribute. |
507. Brahma là ngũ phân gồm một Cung Trạng Thái và bốn Cung Thuộc Tính. |
|
508. The five-pointed Star of Initiation signifies a high stage in the development and utilization of the mind principle. |
508. Ngôi Sao Điểm Đạo năm cánh biểu thị một giai đoạn cao trong sự phát triển và sử dụng nguyên khí trí tuệ. |
|
there are three stages of acquisition, and two wherein that which has been acquired is used. |
có ba giai đoạn thủ đắc, và hai giai đoạn trong đó điều đã được thủ đắc được sử dụng. |
|
509. In relation to the seven globes of any chain, the first three globes might be considered ‘globes of acquisition’ and the next two, ‘globes of utilization’. The last two are ‘globes of abstraction’. In any sevenfold system, the sixth and seventh levels of vibration are associated with abstraction and synthesis. This idea parallels the fact that Neptune and Uranus (on the sixth and seventh rays respectively—from the soul perspective) are planets of abstraction and synthesis. That they express the second and first rays (monadically) can also be linked with the tendency to abstraction found in relation to first and second planes (counting from above)—planes which, from another perspective, are the seventh and sixth respectively. |
509. Trong mối liên hệ với bảy bầu hành tinh của bất kỳ dãy nào, ba bầu hành tinh đầu tiên có thể được xem là ‘các bầu hành tinh của sự thủ đắc’ và hai bầu hành tinh kế tiếp là ‘các bầu hành tinh của sự sử dụng’. Hai bầu hành tinh cuối là ‘các bầu hành tinh của sự trừu xuất’. Trong bất kỳ hệ thống thất phân nào, các cấp độ rung động thứ sáu và thứ bảy đều gắn liền với sự trừu xuất và tổng hợp. Ý tưởng này song hành với sự kiện rằng Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương (lần lượt trên cung sáu và cung bảy—xét từ góc độ linh hồn) là những hành tinh của sự trừu xuất và tổng hợp. Việc chúng biểu lộ cung hai và cung một (về mặt chân thần) cũng có thể được liên kết với khuynh hướng trừu xuất được tìm thấy trong mối liên hệ với các cõi thứ nhất và thứ hai (tính từ trên xuống)—những cõi mà, từ một góc nhìn khác, lần lượt là cõi thứ bảy và thứ sáu. |
|
This is too intricate a calculation for us to enter into it here, and it cannot be undertaken except by an initiate, for it involves ability to study the cycles of the earlier solar system, |
Đây là một phép tính quá phức tạp để chúng ta đi vào ở đây, và không thể được thực hiện ngoại trừ bởi một điểm đạo đồ, vì nó bao hàm khả năng nghiên cứu các chu kỳ của hệ mặt trời trước đó, |
|
510. The immediately earlier solar system was one in which manas was much developed and utilized. |
510. Hệ mặt trời ngay trước đó là một hệ trong đó manas đã được phát triển và sử dụng rất nhiều. |
|
511. We note that DK is cautious about what He will discuss in this book. He knows the level of complexity we can handle; it is not very high. |
511. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK thận trọng về những gì Ngài sẽ bàn đến trong quyển sách này. Ngài biết mức độ phức tạp mà chúng ta có thể xử lý; nó không cao lắm. |
|
but it might be noted that (judging from the microcosm on the earth planet) this is just what might be expected. |
nhưng có thể lưu ý rằng (phán đoán từ tiểu thiên địa trên hành tinh địa cầu) đây chính là điều có thể được mong đợi. |
|
512. We seek to understand the un-understandable through the understandable. |
512. Chúng ta tìm cách thấu hiểu điều không thể thấu hiểu thông qua điều có thể thấu hiểu. |
|
Man developed manas in this round during the third, fourth and fifth root-races, and utilises it for the development of the intuition and of the higher consciousness during the sixth and seventh. |
Con người đã phát triển manas trong cuộc tuần hoàn này trong các giống dân gốc thứ ba, thứ tư và thứ năm, và sử dụng nó cho sự phát triển của trực giác và của tâm thức cao hơn trong giống dân thứ sáu và thứ bảy. |
|
513. We note that the numbers three, four and five are manasic. From what is said here about root races, we might expect that manas could be developed on the third, fourth and fifth globes of any chain, and perhaps through the third, fourth and fifth rounds of chains which were the third, fourth and fifth. |
513. Chúng ta lưu ý rằng các số ba, bốn và năm là các số manas. Từ điều được nói ở đây về các giống dân gốc, chúng ta có thể mong đợi rằng manas có thể được phát triển trên các bầu hành tinh thứ ba, thứ tư và thứ năm của bất kỳ dãy nào, và có lẽ qua các cuộc tuần hoàn thứ ba, thứ tư và thứ năm của các dãy vốn là dãy thứ ba, thứ tư và thứ năm. |
|
514. It cannot be said that manas was developed in the third round of our present chain, but only during the fourth and presumably during the fifth to come. |
514. Không thể nói rằng manas đã được phát triển trong cuộc tuần hoàn thứ ba của dãy hiện tại của chúng ta, mà chỉ trong cuộc tuần hoàn thứ tư và có lẽ trong cuộc tuần hoàn thứ năm sắp tới. |
|
515. As earlier stated, the manasic numbers are three, four and five correlated with the hypothesized rays of Mercury from personality to Monad. |
515. Như đã nói trước đây, các con số manas là ba, bốn và năm, tương quan với các cung được giả định của Sao Thủy từ phàm ngã đến chân thần. |
|
516. In the section above DK is dealing with smaller spans—the span of root races. Part of the third and all of the fourth and fifth root races are manasic in terms of the development of the human race. The development of the intuition and of atmic consciousness (called here “higher consciousness”) are the projects of the sixth and seventh root races. Obviously, this will not apply to all of the human race, for many will not even be treading the Path until well into the next round. |
516. Trong phần trên, Chân sư DK đang bàn đến những khoảng nhỏ hơn—khoảng của các giống dân gốc. Một phần của giống dân gốc thứ ba và toàn bộ giống dân gốc thứ tư và thứ năm là manas xét theo sự phát triển của nhân loại. Sự phát triển của trực giác và của tâm thức atma (ở đây được gọi là “tâm thức cao hơn”) là các dự án của giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy. Hiển nhiên, điều này sẽ không áp dụng cho toàn bộ nhân loại, vì nhiều người thậm chí sẽ chưa bước trên Con Đường cho đến tận sâu trong cuộc tuần hoàn kế tiếp. |
|
During an incarnation by a planetary Logos in a chain, during one round He demonstrates through His seven centres or globes manas on three globes, and utilises it for specific purposes on the final two. |
Trong một lần lâm phàm của một Hành Tinh Thượng đế trong một dãy, trong một cuộc tuần hoàn Ngài biểu lộ qua bảy trung tâm hay bảy bầu hành tinh của Ngài manas trên ba bầu hành tinh, và sử dụng nó cho những mục đích đặc thù trên hai bầu hành tinh cuối. |
|
517. DK has extended the analogy as suggested above. Just as the third, fourth and fifth root races are fields of development for manas, so, for a Planetary Logos, are the third, fourth and fifth globes. |
517. Chân sư DK đã mở rộng phép loại suy như đã gợi ý ở trên. Cũng như các giống dân gốc thứ ba, thứ tư và thứ năm là những lĩnh vực phát triển cho manas, thì đối với một Hành Tinh Thượng đế, các bầu hành tinh thứ ba, thứ tư và thứ năm cũng như vậy. |
|
518. Processes pursued on the sixth and seventh globes are related to the cultivation of planetary logoic intuition and, analogously, “higher consciousness”. Manas is used by intuition and by purpose (spiritual will) |
518. Các tiến trình được theo đuổi trên các bầu hành tinh thứ sáu và thứ bảy có liên hệ với việc vun bồi trực giác hành tinh logoic và, theo phép loại suy, “tâm thức cao hơn”. Manas được trực giác và mục đích (ý chí tinh thần) sử dụng |
|
This is a lesser cycle to that in which we view the seven chains as His seven centres. |
Đây là một chu kỳ nhỏ hơn so với chu kỳ trong đó chúng ta xem bảy dãy là bảy trung tâm của Ngài. |
|
519. This is an important statement. We understand with definiteness that a Planetary Logos definitely incarnates through chains, just as He does through globes. |
519. Đây là một phát biểu quan trọng. Chúng ta hiểu một cách rõ ràng rằng một Hành Tinh Thượng đế chắc chắn lâm phàm qua các dãy, cũng như Ngài lâm phàm qua các bầu hành tinh. |
|
These words are chosen with care; I say not “acquires manas”; He but produces that which is inherent. |
Những lời này được chọn lựa cẩn thận; tôi không nói “thủ đắc manas”; Ngài chỉ làm phát lộ điều vốn cố hữu. |
|
520. Manas is inherent within a Planetary Logos. He need not acquire it as must a man. He is manas, in many respects. |
520. Manas vốn cố hữu trong một Hành Tinh Thượng đế. Ngài không cần thủ đắc nó như con người phải làm. Về nhiều phương diện, Ngài là manas. |
|
521. And yet it is said of a Solar Logos that presently He is turning His attention to the development of “cosmic mind” (cf. LOM 52-53). |
521. Tuy nhiên, về một Thái dương Thượng đế, người ta lại nói rằng hiện nay Ngài đang hướng sự chú tâm của mình đến sự phát triển của “trí tuệ vũ trụ” (x. LOM 52-53). |
|
522. The Planetary Logos need not acquire manas as man expresses manas, but there may be systemic and cosmic acquisitions of manas which represent for Him a next step ahead. |
522. Hành Tinh Thượng đế không cần thủ đắc manas như con người biểu lộ manas, nhưng có thể có những sự thủ đắc manas ở cấp hệ thống và vũ trụ, những điều biểu thị cho Ngài một bước tiến kế tiếp. |
|
It must be remembered that just as the planes of a solar system stand for a different purpose, vibrate to a different key, and serve their own specific ends, so do the globes serve an analogous function. |
Phải nhớ rằng cũng như các cõi của một hệ mặt trời tượng trưng cho một mục đích khác nhau, rung động theo một chủ âm khác nhau, và phục vụ những cứu cánh đặc thù riêng của chúng, thì các bầu hành tinh cũng phục vụ một chức năng tương tự như vậy. |
|
523. The Tibetan is speaking of qualitative differentiation. Each sub-plane of a solar plane has its own vibration, key and purpose. So do each of the seven globes. |
523. Chân sư Tây Tạng đang nói về sự biến phân phẩm tính. Mỗi cõi phụ của một cõi trong hệ mặt trời đều có rung động, chủ âm và mục đích riêng của nó. Mỗi một trong bảy bầu hành tinh cũng vậy. |
|
524. There are, apparently, certain globes which, in their quality, are similar to certain planes and sub-planes. |
524. Hiển nhiên có những bầu hành tinh nào đó, về phẩm tính của chúng, tương tự với những cõi và cõi phụ nào đó. |
|
525. While the sub-planes seem to ascend or descend, six of the globes in a sevenfold system seem to be paired in parallel (three parallel pairs) and one unpaired globe. For this reason it is not entirely easy to match seven globes to seven planes. |
525. Trong khi các cõi phụ dường như đi lên hoặc đi xuống, thì sáu bầu hành tinh trong một hệ thống thất phân dường như được ghép thành các cặp song song (ba cặp song song) và một bầu hành tinh không ghép cặp. Vì lý do này, không hoàn toàn dễ dàng để ghép bảy bầu hành tinh với bảy cõi. |
|
a. Globe 1, is that of ultimate abstraction, and of origination. It is the initial globe of manifestation. |
a. Bầu hành tinh 1 là bầu của sự trừu xuất tối hậu, và của sự khởi nguyên. Nó là bầu hành tinh khởi đầu của biểu hiện. |
|
526. This globe holds an analogy to the “Sea of Fire” on the first sub-plane of the cosmic physical plane. |
526. Bầu hành tinh này giữ một sự tương đồng với “Biển Lửa” trên cõi phụ thứ nhất của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
[Page 377] |
|
|
b. Globe 2, is the first sheath in which a Heavenly Man embodies Himself. |
b. Bầu hành tinh 2 là lớp vỏ đầu tiên trong đó một Đấng Thiên Nhân nhập thể. |
|
527. Such embodiment is a parallel to the activity of the monadic plane. |
527. Sự nhập thể như vậy song hành với hoạt động của cõi chân thần. |
|
528. The monadic plane embodies planetary logoic archetypes. |
528. Cõi chân thần nhập thể các nguyên mẫu logoic hành tinh. |
|
c. Globes 3, 4, 5, are those through which He demonstrates the possession of the manasic principle. |
c. Các bầu hành tinh 3, 4, 5 là những bầu mà qua đó Ngài biểu lộ sự sở hữu nguyên khí manas. |
|
529. The globe parallels here are to the atmic, buddhic and manasic planes (at least from one perspective), though globes three and five may be considered more manasic that globe four. |
529. Các sự tương ứng của bầu hành tinh ở đây là với các cõi atma, Bồ đề và manas (ít nhất từ một góc nhìn), mặc dù các bầu hành tinh ba và năm có thể được xem là manas hơn bầu hành tinh bốn. |
|
d. Globes 6 and 7, are the ones through which He manifests buddhi, through forms built by means of the manasic principle. |
d. Các bầu hành tinh 6 và 7 là những bầu mà qua đó Ngài biểu lộ buddhi, qua các hình tướng được xây dựng bằng phương tiện của nguyên khí manas. |
|
530. However, we do not continue descending in our analogy. Globes six and seven are not analogous to the astral (sixth) and physical (seventh) sub-planes of the cosmic physical plane, but rather to the buddhic and atmic planes, or even, by resonance, to the monadic and logoic sub-planes. |
530. Tuy nhiên, trong phép loại suy của chúng ta, chúng ta không tiếp tục đi xuống. Các bầu hành tinh sáu và bảy không tương tự với các cõi phụ cảm dục (thứ sáu) và hồng trần (thứ bảy) của cõi hồng trần vũ trụ, mà đúng hơn là với các cõi Bồ đề và atma, hoặc thậm chí, do cộng hưởng, với các cõi phụ chân thần và logoic. |
|
531. So we see that we do not have a perfectly neat parallelism. |
531. Vì vậy chúng ta thấy rằng chúng ta không có một sự song hành hoàn toàn gọn ghẽ. |
|
532. The qualities of the globes are set forth. |
532. Các phẩm tính của các bầu hành tinh đã được trình bày. |
|
533. The parallels between globes one and seven, two and six and three and five are not much emphasized in this description. |
533. Những sự song hành giữa bầu hành tinh một và bảy, hai và sáu, và ba và năm không được nhấn mạnh nhiều trong phần mô tả này. |
|
534. However while planes are progressively more fine or gross, depending upon the direction in which we are counting, this cannot be said of the series of globes. |
534. Tuy nhiên, trong khi các cõi ngày càng vi tế hơn hoặc thô trược hơn, tùy theo chiều chúng ta đang đếm, thì điều này không thể nói về chuỗi các bầu hành tinh. |
|
This can be equally predicated on a larger scale of a chain. |
Điều này cũng có thể được khẳng định tương tự trên một quy mô lớn hơn đối với một dãy. |
|
535. If globes can be compared to planes and sub-planes, then so can chains. |
535. Nếu các bầu hành tinh có thể được so sánh với các cõi và cõi phụ, thì các dãy cũng vậy. |
|
536. The same difficulties in finding an exact parallelism between chains and planes will apply. |
536. Những khó khăn tương tự trong việc tìm ra một sự song hành chính xác giữa các dãy và các cõi cũng sẽ được áp dụng. |
|
An interesting correspondence of a very occult nature can be worked out by the advanced student in connection also with the seven schemes. |
Một sự tương ứng thú vị có bản chất rất huyền bí cũng có thể được đạo sinh cao cấp khai triển trong mối liên hệ với bảy hệ. |
|
537. Globes and chains have certain correspondences to planes and sub-planes. |
537. Các bầu hành tinh và các dãy có những sự tương ứng nhất định với các cõi và cõi phụ. |
|
538. DK is saying that planetary schemes also have such correspondences. We are speaking, presumably, of the seven major schemes which represent the seven rays just as the planes and sub-planes do. |
538. Chân sư DK đang nói rằng các hệ hành tinh cũng có những sự tương ứng như vậy. Có lẽ chúng ta đang nói về bảy hệ chính biểu thị bảy cung cũng như các cõi và cõi phụ biểu thị. |
|
539. Here are the factors among which we are seeking to find similarities and parallelisms: |
539. Đây là những yếu tố mà giữa chúng ta đang tìm cách nhận ra những điểm tương đồng và những sự song hành: |
|
a. Schemes |
a. Các hệ |
|
b. Chains |
b. Các dãy |
|
c. Globes |
c. Các bầu hành tinh |
|
d. Planes |
d. Các cõi |
|
e. Sub-planes |
e. Các cõi phụ |
|
540. Perhaps rounds can be added as well. |
540. Có lẽ các cuộc tuần hoàn cũng có thể được thêm vào. |
|
There are two which may be considered primarily archetypal, causal, or involving abstraction; three in which manas is manifested, and two in which already buddhi is manasically demonstrating. |
Có hai hệ có thể được xem là chủ yếu nguyên mẫu, nguyên nhân, hay bao hàm sự trừu xuất; ba hệ trong đó manas được biểu lộ, và hai hệ trong đó buddhi đã đang biểu lộ một cách manas. |
|
541. DK is speaking of planetary schemes. He is comparing them to the descriptions (found above) of the list of globes. |
541. Chân sư DK đang nói về các hệ hành tinh. Ngài đang so sánh chúng với các mô tả (được tìm thấy ở trên) của danh sách các bầu hành tinh. |
|
542. We are dealing with three categories: |
542. Chúng ta đang xử lý ba phạm trù: |
|
a. Abstraction |
a. Sự trừu xuất |
|
b. Manifestation of Manas |
b. Sự biểu lộ của Manas |
|
c. Buddhic demonstration through Manas. |
c. Sự biểu lộ Bồ đề qua Manas. |
|
543. We will set forth two possibilities. Here is the first. |
543. Chúng ta sẽ trình bày hai khả năng. Đây là khả năng thứ nhất. |
|
544. The schemes of abstraction may be Uranus and Neptune, or on a lower turn of the spiral, Saturn and Jupiter. Saturn and Jupiter (represented by physical vehicles which are gaseous giants) are relatively schemes of abstraction though not as abstractive as Uranus and Neptune. |
544. Các hệ của sự trừu xuất có thể là Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, hoặc ở một vòng xoắn thấp hơn, Sao Thổ và Sao Mộc. Sao Thổ và Sao Mộc (được biểu hiện bằng các hiện thể hồng trần là những khối khí khổng lồ) tương đối là những hệ của sự trừu xuất, dù không có tính trừu xuất bằng Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương. |
|
545. The schemes of Vulcan, Earth and Mars may be considered those in which manas is manifested. |
545. Các hệ của Vulcan, Địa Cầu và Sao Hỏa có thể được xem là những hệ trong đó manas được biểu lộ. |
|
546. Venus and Mercury may be considered schemes in which buddhi is manasically demonstrating. |
546. Kim Tinh và Sao Thủy có thể được xem là những hệ trong đó buddhi đang biểu lộ một cách manas. |
|
a. Mercury is one of the main ‘rulers’ of the buddhic plane (as we learn, because for human beings, the color of that plane is considered yellow, the specifically manasic colour). |
a. Sao Thủy là một trong những ‘chủ tinh’ chính của cõi Bồ đề (như chúng ta được biết, bởi vì đối với con người, màu của cõi ấy được xem là vàng, màu sắc đặc thù của manas). |
|
b. Venus, we have been told, is already working in relation to the sixth sub-plane of the cosmic astral plane on which the sixth principle of cosmic buddhi is reflected. |
b. Chúng ta đã được cho biết rằng Kim Tinh đã đang hoạt động trong mối liên hệ với cõi phụ thứ sáu của cõi cảm dục vũ trụ, trên đó nguyên khí thứ sáu của Bồ đề vũ trụ được phản chiếu. |
|
c. Pluto is not included in the planetary enumeration, but it could well be considered as planet of manasic manifestation. |
c. Sao Diêm Vương không được bao gồm trong sự liệt kê hành tinh, nhưng hoàn toàn có thể được xem là hành tinh của sự biểu lộ manas. |
|
Of these two, Venus is one and thus we have the three and the two which make the five schemes of the five Kumaras, Who are Brahma.36 |
Trong hai hệ này, Kim Tinh là một và như vậy chúng ta có ba và hai hợp thành năm hệ của năm Kumaras, Đấng là Brahma.36 |
|
547. DK is not counting the planets of abstraction in the five Brahmic schemes. |
547. Chân sư DK không tính các hành tinh của sự trừu xuất vào trong năm hệ Brahmic. |
|
548. Notice that we have included non-sacred planets in our assignment. |
548. Hãy lưu ý rằng chúng ta đã bao gồm các hành tinh không thiêng liêng trong sự quy định của mình. |
|
549. Were we to ignore the non-sacred planets the assignment might look somewhat different, and this is the second of the two possibilities: |
549. Nếu chúng ta bỏ qua các hành tinh không thiêng liêng thì sự quy định có thể trông hơi khác, và đây là khả năng thứ hai trong hai khả năng: |
|
a. The two planets of abstraction would be Uranus and Neptune |
a. Hai hành tinh của sự trừu xuất sẽ là Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương |
|
b. The three planets in which manas is manifesting would be Vulcan, Jupiter and Saturn (all of them in their third or manasic chain). |
b. Ba hành tinh trong đó manas đang biểu lộ sẽ là Vulcan, Sao Mộc và Sao Thổ (tất cả chúng đều ở dãy thứ ba hay dãy manas của chúng). |
|
c. The two planets in which buddhi is manasically expressive would be Venus and Mercury. |
c. Hai hành tinh trong đó buddhi biểu lộ qua manas sẽ là Kim Tinh và Sao Thủy. |
|
550. It becomes necessary to offer this alternative point of view, as Saturn simply must be included within the “five Kumaras, Who are Brahma”, and in the earlier assignment or possibility, Saturn was considered a planet of abstraction. |
550. Cần phải đưa ra quan điểm thay thế này, vì Sao Thổ đơn giản phải được bao gồm trong “năm Kumaras, Đấng là Brahma”, và trong sự quy định hay khả năng trước đó, Sao Thổ được xem là một hành tinh của sự trừu xuất. |
|
551. In this second assignment, Earth, Mars and Pluto would be subsidiaries of the planets manifesting manas. |
551. Trong sự quy định thứ hai này, Địa Cầu, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương sẽ là những hành tinh phụ thuộc của các hành tinh biểu lộ manas. |
|
552. We note that Kumaras can be intra-planetary (i.e., Sanat Kumara and the Buddhas of Activity) or planetary (the Planetary Logoi). |
552. Chúng ta lưu ý rằng các Kumaras có thể là nội hành tinh (tức là, Đức Sanat Kumara và các Đức Phật Hoạt Động) hoặc hành tinh (các Hành Tinh Thượng đế). |
|
36: Students must carefully differentiate between the five Mind born Sons of Brahma, the five true Kumaras and their representatives on our earth planet, Those Who stand around Sanat Kumara Who may be stated (esoterically understood) to represent Himself. |
36: Đạo sinh phải cẩn thận phân biệt giữa năm Con của Brahma sinh ra từ Trí Tuệ, năm Kumaras chân chính và các đại diện của Các Ngài trên hành tinh địa cầu của chúng ta, Những Đấng đứng quanh Đức Sanat Kumara, những Đấng mà có thể nói (nếu được thấu hiểu một cách huyền bí) là đại diện cho chính Ngài. |
|
553. DK is saying the same thing in different words. The “five Mind born Sons of Brahma” are Planetary Logoi. |
553. Chân sư DK đang nói cùng một điều bằng những lời khác. “Năm Con của Brahma sinh ra từ Trí Tuệ” là các Hành Tinh Thượng đế. |
|
554. Each of these “five true Kumaras” as representatives on “our earth planet”. |
554. Mỗi một trong “năm chân chính Kumaras” này đều có các đại diện trên “hành tinh địa cầu của chúng ta”. |
|
555. Sanat Kumara (when not being considered as a full Planetary Logos) only represents a true planetary Kumara and so each of the three Buddhas of Activity and, as well, the three “Esoteric Kumaras”. |
555. Đức Sanat Kumara (khi không được xem như một Hành Tinh Thượng đế trọn vẹn) chỉ đại diện cho một Kumara hành tinh chân chính, và ba Đức Phật Hoạt Động cũng vậy, cũng như ba “Kumaras Nội Môn”. |
|
Just as Venus is negatively polarised to our Earth scheme, so the seven stars of the Pleiades are negatively polarised to our seven schemes. |
Cũng như Kim Tinh được phân cực âm đối với hệ Địa Cầu của chúng ta, thì bảy ngôi sao của chòm Thất Tinh cũng được phân cực âm đối với bảy hệ của chúng ta. |
|
556. What is interesting is to realize that the greater Entity is “negatively polarized” to the lesser Entity. Apparently these polarizations may be related to ancient karmic debts. |
556. Điều thú vị là nhận ra rằng Thực Thể lớn hơn lại được “phân cực âm” đối với Thực Thể nhỏ hơn. Hiển nhiên những sự phân cực này có thể liên hệ với những món nợ nghiệp quả cổ xưa. |
|
A very pertinent question might here be asked. We might justly enquire (in connection with the point that Venus is negatively polarised, and also that the Pleiades are equally so) why they should be termed negative if they are the donors and not the receivers, for to be negative is surely to be receptive. |
Một câu hỏi rất thích đáng có thể được nêu ra ở đây. Chúng ta có thể hoàn toàn chính đáng mà hỏi (liên quan đến điểm rằng Kim Tinh được phân cực âm, và chòm Thất Tinh cũng vậy) vì sao chúng lại được gọi là âm nếu chúng là bên ban cho chứ không phải bên nhận, bởi vì âm tính hẳn nhiên là có tính tiếp nhận. |
|
557. This, of course, is the question. |
557. Dĩ nhiên, đây là câu hỏi. |
|
This is indeed so, but the question arises in our minds, owing to lack of information, and consequent misapprehension. |
Quả thật là như vậy, nhưng câu hỏi ấy nảy sinh trong tâm trí chúng ta do sự thiếu thông tin, và sự hiểu lầm phát sinh từ đó. |
|
558. Some think that information is unnecessary when compared to the necessity for wisdom. But the second is surely based upon the first. |
558. Một số người nghĩ rằng thông tin là không cần thiết khi so với sự cần thiết của minh triết. Nhưng điều thứ hai chắc chắn được đặt nền trên điều thứ nhất. |
|
Venus may have had much to do with the impartation of the stimulation which resulted in great events on Earth via the Venus chain of our scheme, but our scheme gave, in a mysterious manner, more than was received, though the [Page 378] gift was not of the same nature. |
Sao Kim có thể đã có rất nhiều liên quan đến sự truyền đạt kích thích lực đã dẫn đến những biến cố lớn trên Trái Đất qua dãy Sao Kim của hệ hành tinh chúng ta, nhưng hệ hành tinh chúng ta, theo một cách huyền nhiệm, đã cho nhiều hơn điều đã nhận, mặc dù [Page 378] món quà ấy không cùng bản chất. |
|
559. The explanation is given. Because Venus is greater and more advanced that our Earth we naturally think that Venus must be the sole donor, but even in human exchanges the greater human being (in the process of bestowal) receives much from the lesser human being. |
559. Lời giải thích đã được đưa ra. Bởi vì Sao Kim lớn hơn và tiến bộ hơn Trái Đất của chúng ta, nên tự nhiên chúng ta nghĩ rằng Sao Kim hẳn phải là bên cho duy nhất, nhưng ngay cả trong những trao đổi của con người, con người lớn hơn (trong tiến trình ban cho) cũng nhận được nhiều từ con người nhỏ hơn. |
|
560. From another perspective, “the fifth feeds on the fourth”. (R&I 21) Perhaps a Solar Angel receives much from a man. On a lower turn of the spiral, even the Kingdom of Souls ‘feeds’ upon humanity, however much it nourishes humanity. |
560. Từ một góc nhìn khác, “thứ năm nuôi dưỡng thứ tư”. (R&I 21) Có lẽ một Thái dương Thiên Thần nhận được nhiều từ một con người. Ở một vòng xoắn thấp hơn, ngay cả Thiên Giới của các linh hồn cũng ‘nuôi dưỡng’ nhân loại, dù nó nuôi dưỡng nhân loại đến đâu đi nữa. |
|
561. When the donor is, strictly speaking, an “Avatar”, reception from the lesser may not be a factor. |
561. Khi bên cho, nói một cách nghiêm ngặt, là một “Đấng Hoá Thân”, thì sự tiếp nhận từ bên thấp hơn có thể không phải là một yếu tố. |
|
562. |
562. |
|
An avatar can learn nothing from the place of His appearance. (TCF 725) |
Một Đấng Hoá Thân không thể học được điều gì từ nơi Ngài xuất hiện. (TCF 725) |
|
563. We are not in a position to solve this mystery but a few hints are given. The nature of the gift from Venus is somewhat understood as the basis of the coming of the Solar Angels and the bestowal of the “spark of mind”. |
563. Chúng ta không ở vào vị thế để giải quyết huyền nhiệm này, nhưng một vài gợi ý đã được đưa ra. Bản chất của món quà từ Sao Kim phần nào được hiểu như là nền tảng cho sự giáng lâm của các Thái dương Thiên Thần và sự ban cho “tia lửa trí tuệ”. |
|
564. The gift from Earth to Venus (the “paralleling event” mentioned below) has never been discussed. |
564. Món quà từ Trái Đất đến Sao Kim (biến cố song hành được nhắc đến dưới đây) chưa bao giờ được bàn đến. |
|
The coming in of the Venusian influence to our chain, and to our planet, with the subsequent stimulation of certain groups in the fourth Creative Hierarchy, the human, caused a paralleling event of even greater magnitude in the Venus scheme. |
Sự đi vào của ảnh hưởng Kim tinh vào dãy của chúng ta, và vào hành tinh chúng ta, cùng với sự kích thích tiếp theo đối với một số nhóm trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức nhân loại, đã gây ra một biến cố song hành còn lớn lao hơn nữa trong hệ hành tinh Kim tinh. |
|
565. We are speaking of the event on Venus that paralleled the process of individualization in relation to animal man on Earth. |
565. Chúng ta đang nói về biến cố trên Sao Kim đã song hành với tiến trình biệt ngã hóa liên quan đến người thú trên Trái Đất. |
|
This affected the sixth Hierarchy, one of the deva Hierarchies, dwelling in the Venus scheme. |
Điều này đã tác động đến Huyền Giai thứ sáu, một trong các Huyền Giai thiên thần, cư ngụ trong hệ hành tinh Kim tinh. |
|
566. The deva hierarchy affected cannot necessarily be found in the list of Creative Hierarchies given in EA 34-35. |
566. Huyền giai thiên thần bị tác động không nhất thiết có thể được tìm thấy trong danh sách các Huyền Giai Sáng Tạo được nêu trong EA 34-35. |
|
567. It is interesting that the third kingdom of nature was affected on Earth and the sixth hierarchy on Venus. The numbers three and six are intimately related as DK has told us (just as one and two, and two and four). |
567. Thật thú vị khi giới thứ ba của bản chất bị tác động trên Trái Đất và huyền giai thứ sáu trên Sao Kim. Các số ba và sáu có liên hệ mật thiết với nhau như Chân sư DK đã nói với chúng ta (cũng như một và hai, và hai và bốn). |
|
568. We can imagine the intricacy of the hierarchical orders of devas. Our own studies of ‘angelology’ reveal many different orders of angels. |
568. Chúng ta có thể hình dung sự phức tạp của các trật tự huyền giai của các thiên thần. Những nghiên cứu riêng của chúng ta về ‘thiên thần học’ cho thấy nhiều trật tự thiên thần khác nhau. |
|
This stimulation emanated via our sixth chain (or the second according to the angle of vision) and affected a corresponding chain in the Venus scheme. |
Sự kích thích này phát ra qua dãy thứ sáu của chúng ta (hay dãy thứ hai tùy theo góc nhìn) và tác động đến một dãy tương ứng trong hệ hành tinh Kim tinh. |
|
569. The number six is the basis of the exchange. |
569. Số sáu là nền tảng của sự trao đổi. |
|
570. Whether or not the stimulation came from our sixth chain or our second (in this Earth-chain), we must realize that this statement convinces us that in any planetary scheme, there is more than one planetary chain simultaneously active. |
570. Dù sự kích thích đến từ dãy thứ sáu hay dãy thứ hai của chúng ta (trong Dãy Địa Cầu này), chúng ta phải nhận ra rằng phát biểu này thuyết phục chúng ta rằng trong bất kỳ hệ hành tinh nào, có hơn một dãy hành tinh đồng thời hoạt động. |
|
571. The old theosophical idea that a chain arises only after the preceding chain has disappeared is inaccurate. |
571. Quan niệm Thông Thiên Học cũ cho rằng một dãy chỉ xuất hiện sau khi dãy trước đó đã biến mất là không chính xác. |
|
572. Earlier in this commentary we discussed Venus and Jupiter as two schemes which could be understood in relation to the number two or the number six depending upon whether the method of counting the schemes was mystical or occult. |
572. Trước đó trong phần bình giải này, chúng ta đã bàn đến Sao Kim và Sao Mộc như hai hệ hành tinh có thể được hiểu liên hệ với số hai hay số sáu tùy theo phương pháp đếm các hệ hành tinh là thần bí hay huyền bí học. |
|
573. Now we are talking on the chain level but the same principle applies. |
573. Giờ đây chúng ta đang nói ở cấp độ dãy, nhưng cùng một nguyên lý vẫn áp dụng. |
|
574. The sixth chain of our Earth-scheme is the Mars-chain and the second is the Venus-chain. |
574. Dãy thứ sáu của hệ Địa Cầu chúng ta là dãy Sao Hỏa và dãy thứ hai là dãy Sao Kim. |
|
575. Mars, of course, is related to Venus, but perhaps we should ponder on the likelihood that our own Venus-chain (from which Sanat Kumara ‘came’) may have been involved in the transaction. |
575. Dĩ nhiên, Sao Hỏa có liên hệ với Sao Kim, nhưng có lẽ chúng ta nên suy ngẫm về khả năng rằng chính dãy Sao Kim của chúng ta (từ đó Đức Sanat Kumara đã ‘đến’) có thể đã tham dự vào sự trao đổi này. |
|
576. If our second chain (the Venus chain) was involved, then a second chain within the Venus-scheme would be involved; if our sixth chain (the Mars chain) was involved, then a sixth chain within the Venus-scheme would have been involved. |
576. Nếu dãy thứ hai của chúng ta (dãy Sao Kim) có liên quan, thì một dãy thứ hai trong hệ hành tinh Kim tinh cũng sẽ có liên quan; nếu dãy thứ sáu của chúng ta (dãy Sao Hỏa) có liên quan, thì một dãy thứ sáu trong hệ hành tinh Kim tinh cũng sẽ có liên quan. |
|
577. The stimulation from Venus which promoted the coming of the Solar Angels occurred in relation to our Venus chain (and probably the Venus globe in that second chain—occultly considered). Would it be likely that the reciprocity also occurred via that same chain? |
577. Sự kích thích từ Sao Kim đã thúc đẩy sự giáng lâm của các Thái dương Thiên Thần xảy ra liên hệ với dãy Sao Kim của chúng ta (và có lẽ là bầu hành tinh Sao Kim trong dãy thứ hai ấy—xét theo huyền bí học). Liệu có khả năng rằng tính tương hỗ cũng xảy ra qua chính dãy đó chăng? |
|
The magnitude of the difference may be seen in the fact that in our case one globe alone was affected, whereas the influence of our scheme on the Venusian was such that an entire chain was stimulated. |
Mức độ khác biệt có thể thấy trong sự kiện rằng trong trường hợp của chúng ta chỉ một bầu hành tinh duy nhất bị tác động, trong khi ảnh hưởng của hệ hành tinh chúng ta lên hệ Kim tinh lại đến mức toàn bộ một dãy đã được kích thích. |
|
578. This is important and suggests the great gift given by the Planetary Logos of our Earth to the Planetary Logos of Venus. |
578. Điều này quan trọng và gợi ý món quà lớn lao mà Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất đã ban cho Đức Hành Tinh Thượng Đế của Sao Kim. |
|
579. It should be noted that if Sanat Kumara and His associated Kumaras came to our Earth globe only, then that Earth-globe cannot be composed of physical matter only because the higher aspects of Sanat Kumara and His Kumaras could not exist upon our globe if that was the case. |
579. Cần lưu ý rằng nếu Đức Sanat Kumara và các Kumaras đi cùng Ngài chỉ đến bầu hành tinh Trái Đất của chúng ta mà thôi, thì bầu hành tinh Trái Đất ấy không thể chỉ được cấu thành bằng vật chất hồng trần mà thôi bởi vì các phương diện cao hơn của Đức Sanat Kumara và các Kumaras của Ngài không thể tồn tại trên bầu hành tinh chúng ta nếu quả là như vậy. |
|
580. The foregoing sections point again to the importance of being able to count both “mystically” and “occultly” |
580. Những phần trên một lần nữa chỉ ra tầm quan trọng của việc có thể đếm cả theo lối “thần bí” lẫn “huyền bí học” |
|
This was brought about through the positive polarity of the Heavenly Man of the Earth scheme. |
Điều này đã được mang lại qua cực tính dương của Đấng Thiên Nhân của hệ Địa Cầu. |
|
581. It sounds as if much of the initiative for the exchange originated with the Heavenly Man of our Earth-scheme. The positive pole takes action first. |
581. Điều này nghe như thể phần lớn sáng kiến cho sự trao đổi bắt nguồn từ Đấng Thiên Nhân của hệ Địa Cầu chúng ta. Cực dương hành động trước. |
|
Therefore, enlarging the concept, we can note the fact that our Heavenly Men are the transmitters, via their seven schemes, to the seven stars of the Pleiades. |
Vì vậy, mở rộng khái niệm này, chúng ta có thể ghi nhận sự kiện rằng các Đấng Thiên Nhân của chúng ta là những vị truyền dẫn, qua bảy hệ hành tinh của Các Ngài, đến bảy ngôi sao của chòm Thất Nữ. |
|
582. We are analogizing. The bestowal by the Planetary Logos of Earth to the Planetary Logos of Venus is paralleled by the bestowal by seven Heavenly Men to the informing Lives of the Pleiades. |
582. Chúng ta đang suy luận theo tương đồng. Sự ban cho bởi Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất cho Đức Hành Tinh Thượng Đế của Sao Kim song hành với sự ban cho của bảy Đấng Thiên Nhân đối với các Sự Sống phú linh cho chòm Thất Nữ. |
|
583. We do, remember, however, that the Pleiades bestowed manas upon the Heavenly Men just as Sirius bestowed manas upon our Solar Logos. |
583. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng chính chòm Thất Nữ đã ban manas cho các Đấng Thiên Nhân cũng như Sirius đã ban manas cho Thái dương Thượng đế của chúng ta. |
|
Our solar system is negatively polarised as regards the sun Sirius, which influences our entire system psychically via the three synthesising schemes—Uranus, Neptune, Saturn—the latter, Saturn, being the focal point for the transmission of cosmic manas to the entire seven schemes. |
Hệ mặt trời của chúng ta phân cực âm đối với mặt trời Sirius, vốn ảnh hưởng toàn bộ hệ thống chúng ta một cách thông linh qua ba hệ hành tinh tổng hợp—Thiên Vương, Hải Vương, Thổ Tinh—trong đó hành tinh sau cùng, Thổ Tinh, là tiêu điểm cho sự truyền dẫn manas vũ trụ đến toàn bộ bảy hệ hành tinh. |
|
584. We are dealing here with great cosmic facts. |
584. Ở đây chúng ta đang xử lý những sự kiện vũ trụ lớn lao. |
|
585. We are not told what the ‘gift’ of the seven Heavenly Men to the Pleiades may have been. |
585. Chúng ta không được cho biết ‘món quà’ của bảy Đấng Thiên Nhân dành cho chòm Thất Nữ có thể là gì. |
|
586. However the pattern is now seen as reversed. Venus is greater than Earth and Venus is negatively polarized to the Earth. Earth is the major transmitter. The Pleiades are greater than the seven Heavenly Men of our solar system, and the Pleiades are negatively polarized with respect to the seven Heavenly Men. The seven Heavenly Men, therefore, are the major transmitters with respect to the Pleiades. |
586. Tuy nhiên, giờ đây mô hình được thấy là đảo ngược. Sao Kim lớn hơn Trái Đất và Sao Kim phân cực âm đối với Trái Đất. Trái Đất là bên truyền dẫn chính. Chòm Thất Nữ lớn hơn bảy Đấng Thiên Nhân của hệ mặt trời chúng ta, và chòm Thất Nữ phân cực âm đối với bảy Đấng Thiên Nhân. Do đó, bảy Đấng Thiên Nhân là những vị truyền dẫn chính đối với chòm Thất Nữ. |
|
587. However, our Solar Logos is a Being lesser in development than the Logos of Sirius, and our Solar Logos is negatively polarized with respect to Sirius. Thus, our Solar Logos is not the major donor in any exchange between them. Rather, Sirius is the major donor. |
587. Tuy nhiên, Thái dương Thượng đế của chúng ta là một Hữu thể kém phát triển hơn Thượng đế của Sirius, và Thái dương Thượng đế của chúng ta phân cực âm đối với Sirius. Vì vậy, Thái dương Thượng đế của chúng ta không phải là bên cho chính trong bất kỳ sự trao đổi nào giữa hai Đấng. Trái lại, Sirius là bên cho chính. |
|
588. We do not really know what our Heavenly Man gave to the Heavenly Man of Venus. We do not really know what the seven Heavenly Men gave to the Logoi of the Pleiades. We are, however, told somewhat about what the Logos of Sirius (a cosmic Initiator with respect to our Solar Logos) gave to our Solar Logos—manas of a cosmic kind. |
588. Chúng ta thực sự không biết Đấng Thiên Nhân của chúng ta đã ban gì cho Đấng Thiên Nhân của Sao Kim. Chúng ta thực sự không biết bảy Đấng Thiên Nhân đã ban gì cho các Thượng đế của chòm Thất Nữ. Tuy nhiên, phần nào chúng ta được cho biết về điều mà Thượng đế của Sirius (một Đấng Điểm đạo vũ trụ đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta) đã ban cho Thái dương Thượng đế của chúng ta—manas thuộc loại vũ trụ. |
|
The sun “Sirius” is the source of logoic manas in the same sense as the Pleiades are connected with the evolution of manas in the seven Heavenly Men, and Venus was responsible for the coming in of mind in the Earth chain. (TCF 347) |
Mặt trời “Sirius” là nguồn của manas logoi theo cùng ý nghĩa như chòm Thất Nữ có liên hệ với sự tiến hoá của manas trong bảy Đấng Thiên Nhân, và Sao Kim chịu trách nhiệm cho sự đi vào của trí tuệ trong Dãy Địa Cầu. (TCF 347) |
|
589. The three synthesizing planets are agents of transmission of Sirian energy. |
589. Ba hành tinh tổng hợp là những tác nhân truyền dẫn năng lượng Sirian. |
|
590. We may assume that Sirian Will is transmitted via Uranus; Sirian Love via Neptune; and Sirian Manas via Saturn. |
590. Chúng ta có thể giả định rằng Ý Chí Sirian được truyền qua Thiên Vương; Bác ái Sirian qua Hải Vương; và Manas Sirian qua Thổ Tinh. |
|
591. It seems that manas reaches the Heavenly Men from two Sources: |
591. Có vẻ như manas đến với các Đấng Thiên Nhân từ hai Nguồn: |
|
a. From the seven Pleiades who bestow manas upon the Heavenly Men, or are at least influential in the evolution of manas in the seven Heavenly Man. |
a. Từ bảy vị trong chòm Thất Nữ, những Đấng ban manas cho các Đấng Thiên Nhân, hoặc ít nhất có ảnh hưởng trong sự tiến hoá của manas nơi bảy Đấng Thiên Nhân. |
|
b. And from Sirius, Who, via Saturn, transmits “cosmic manas to the entire seven schemes”. |
b. Và từ Sirius, Đấng, qua Thổ Tinh, truyền “manas vũ trụ đến toàn bộ bảy hệ hành tinh”. |
|
592. Here again, we have to consider two ‘Saturns’. Is it ‘greater Saturn’ that is the major transmitter of manas to the entire seven schemes (which include ‘lesser Saturn’)? |
592. Ở đây một lần nữa, chúng ta phải xét hai ‘Thổ Tinh’. Có phải ‘Thổ Tinh lớn hơn’ là bên truyền dẫn chính của manas đến toàn bộ bảy hệ hành tinh (bao gồm ‘Thổ Tinh nhỏ hơn’) không? |
|
593. Usually Sirius is discussed as the transmitter of manas to the Solar Logos. Here we see this transmission, via Saturn, reaches all the Heavenly Men. |
593. Thông thường Sirius được bàn đến như bên truyền dẫn manas cho Thái dương Thượng đế. Ở đây chúng ta thấy sự truyền dẫn này, qua Thổ Tinh, vươn tới tất cả các Đấng Thiên Nhân. |
|
594. Is there a distinction between the type of manas transmitted to the Heavenly Men by Sirius or presumably promoted by the Pleiades? Perhaps Sirius is more involved with the transmission of what we might call ‘higher manas’. |
594. Có sự phân biệt nào giữa loại manas được Sirius truyền cho các Đấng Thiên Nhân và loại manas được chòm Thất Nữ, theo giả định, thúc đẩy không? Có lẽ Sirius liên quan nhiều hơn đến sự truyền dẫn điều mà chúng ta có thể gọi là ‘thượng manas’. |