← 12 dấu hiệu hoàng đạo – Douglas Baker

THE PATH of GEMINI – CON ĐƯỜNG CỦA SONG TỬ

Trích nội dung chương

Tabloid newspapers would be very fitting for this aspect, because they are smaller, and Gemini rules that which is small, petite, charming and has a lovely form, as opposed to the great tall, elongated things of Sagittarius. Anyone who has tried to read a newspaper in a crowded train knows how much easier the tabloid papers are to handle. Báo khổ nhỏ rất phù hợp với góc hợp này, vì chúng nhỏ hơn, mà Song Tử cai quản những gì nhỏ bé, thanh tú, duyên dáng và có hình thể đáng yêu, trái ngược với những vật cao lớn, thuôn dài của Nhân Mã. Bất cứ ai từng cố đọc báo trên một chuyến tàu đông đúc đều biết báo khổ nhỏ dễ sử dụng hơn nhiều.


Tabloid newspapers would be very fitting for this aspect, because they are smaller, and Gemini rules that which is small, petite, charming and has a lovely form, as opposed to the great tall, elongated things of Sagittarius. Anyone who has tried to read a newspaper in a crowded train knows how much easier the tabloid papers are to handle.

Báo khổ nhỏ rất phù hợp với góc hợp này, vì chúng nhỏ hơn, mà Song Tử cai quản những gì nhỏ bé, thanh tú, duyên dáng và có hình thể đáng yêu, trái ngược với những vật cao lớn, thuôn dài của Nhân Mã. Bất cứ ai từng cố đọc báo trên một chuyến tàu đông đúc đều biết báo khổ nhỏ dễ sử dụng hơn nhiều.

Gemini also rules hallways, where letters arrive. Letters are left on the hall stand, and as you come in and go out, in Geminian style, you can pick up your letters. Communication is often first established in the hall, where a caller is greeted at the door. In the days when households had only one telephone, it was usually kept in the hall. Communications that are short in duration come under Gemini, whereas extended or long distance communications come under Sagittarius. Shortness in any dimension is a Gemini feature, whether it be length, height or duration. Words such as ‘soon’ or ‘briefly’ are typical of this sign.

Song Tử cũng cai quản hành lang, nơi thư từ được chuyển đến. Thư được đặt trên chiếc bàn ở hành lang, và khi ra vào theo phong cách Song Tử, các bạn có thể tiện tay lấy thư. Sự giao tiếp thường được thiết lập lần đầu tại hành lang, nơi người đến thăm được chào đón ở cửa. Vào thời mỗi gia đình chỉ có một chiếc điện thoại, nó thường được đặt ở hành lang. Những cuộc giao tiếp ngắn ngủi thuộc Song Tử, còn những cuộc giao tiếp kéo dài hoặc đường dài thuộc Nhân Mã. Sự ngắn ngủi trong bất kỳ chiều kích nào cũng là đặc điểm của Song Tử, dù đó là chiều dài, chiều cao hay thời lượng. Những từ như “sớm” hoặc “vắn tắt” là điển hình của dấu hiệu này.

Gemini and the third house are associated with schools and education, but not universities and higher education, which belong to the complementary sign of Sagittarius. When interpreting an astrological aspect, you should bear in mind its complimentary sign, especially where Gemini, Venus, or the third house are involved. The complimentary phenomena does not necessarily mean an opposing effect. Gemini brings two things together; they may be very dissimilar, but both are expressed. With schools and lower education, there is always the possibility that the school child might go on to higher education or university. So, with Gemini, we have the school teacher and his lessons, which become, in Sagittarius, the don or the professor and his seminars. The study of foreign languages is appropriate here, as anything foreign comes under Sagittarius, and Gemini rules the learning of languages.

Song Tử và nhà ba liên quan đến trường học và giáo dục, nhưng không liên quan đến đại học và giáo dục bậc cao, vốn thuộc dấu hiệu bổ túc là Nhân Mã. Khi diễn giải một góc hợp chiêm tinh, các bạn nên ghi nhớ dấu hiệu bổ túc của nó, đặc biệt khi có liên quan đến Song Tử, Sao Kim hoặc nhà ba. Hiện tượng bổ túc không nhất thiết hàm ý một tác động đối nghịch. Song Tử đưa hai điều lại với nhau; chúng có thể rất khác biệt, nhưng cả hai đều được biểu lộ. Đối với trường học và giáo dục bậc thấp, luôn có khả năng học sinh sẽ tiếp tục lên bậc giáo dục cao hơn hoặc vào đại học. Vì vậy, với Song Tử, chúng ta có giáo viên trường học và các bài học của họ; sang Nhân Mã, họ trở thành giảng viên hoặc giáo sư cùng những buổi chuyên đề. Việc nghiên cứu ngoại ngữ rất thích hợp ở đây, vì bất cứ điều gì ngoại quốc đều thuộc Nhân Mã, còn Song Tử cai quản việc học ngôn ngữ.

Finally, I include an example of how enriching a knowledge of astrology can be in understanding subjective imagery. In the new astrology we meditate on everyday objects which symbolise a sign to glean insight into its meaning. A common feature of our ‘externa’ or outer surroundings is that of the humble bicycle, something that we see often and may even ride ourselves. With its two wheels, the bicycle is an obvious symbol of duality and is therefore related to Gemini and the Second Ray.

Sau cùng, tôi đưa ra một ví dụ về cách tri thức chiêm tinh học có thể làm phong phú sự thấu hiểu của chúng ta đối với hình ảnh chủ quan. Trong chiêm tinh học mới, chúng ta tham thiền về những vật dụng hằng ngày tượng trưng cho một dấu hiệu nhằm thu nhận sự thấu suốt về ý nghĩa của nó. Một đặc điểm quen thuộc trong ngoại cảnh của chúng ta là chiếc xe đạp giản dị, vật mà chúng ta thường thấy và thậm chí có thể tự mình sử dụng. Với hai bánh xe, xe đạp rõ ràng là biểu tượng của Nhị nguyên, do đó liên hệ với Song Tử và cung hai.

The cyclist clutches the handlebars with his two hands and produces the action of pedalling: both Gemini factors. The two wheels of the bicycle can be compared to the duality of the personality and the Higher Self, as can the upper and lower halves of the rider. The lower half of the rider turns the pedals and transmits the power to the rear wheel, producing the driving force of the bicycle. This suggests the personality, which transmits the driving force—the psychological drives. But the higher part of the rider, suggesting the soul, steers the bicycle through the front wheel, dictating the direction it will take, the balance of the whole mechanism, the changing of the gears and so on. There is a wealth of insight to be derived from meditating on such symbols, typical of those that can appear in the dream life. If you cycle to work every day this would be an inevitable part of your dream life, and the Soul would seize upon it to express meaning and energy for your personality.

Người đi xe đạp nắm ghi-đông bằng hai tay và thực hiện động tác đạp xe: cả hai đều là những yếu tố Song Tử. Hai bánh xe có thể được so sánh với Nhị nguyên giữa phàm nhân và Bản Ngã Cao Siêu, cũng như nửa thân trên và nửa thân dưới của người đi xe. Nửa thân dưới xoay bàn đạp và truyền lực đến bánh sau, tạo ra mãnh lực vận hành của xe đạp. Điều này gợi đến phàm nhân, vốn truyền dẫn mãnh lực thúc đẩy—các động lực tâm lý. Nhưng phần thân trên, gợi đến linh hồn, điều khiển xe đạp qua bánh trước, quyết định hướng đi, sự thăng bằng của toàn bộ bộ máy, việc chuyển số, v.v. Có thể thu được vô số thấu suốt khi tham thiền về những biểu tượng như vậy, vốn điển hình cho những gì có thể xuất hiện trong đời sống giấc mơ. Nếu các bạn đạp xe đi làm hằng ngày, điều này tất yếu sẽ trở thành một phần trong đời sống giấc mơ, và linh hồn sẽ tận dụng nó để biểu đạt ý nghĩa và năng lượng cho phàm nhân.

The symbolism of the bicycle does not stop here—there is a much higher meaning. We have seen that Gemini rules arguments, squabbles, differences, splits, separations, and so on. Within the same archetype, however, there is implied the opposite quality of union or the merging of two distinct parts. At its highest level, this is the merging of the immortal self with the individualised personality, or the ability of a higher stream of evolution to blend with a lower one.

Tính biểu tượng của xe đạp không dừng lại ở đây—nó còn có một ý nghĩa cao hơn nhiều. Chúng ta đã thấy rằng Song Tử cai quản những cuộc tranh luận, cãi vã, bất đồng, chia rẽ, phân ly, v.v. Tuy nhiên, trong cùng một nguyên mẫu, phẩm tính đối nghịch của sự hợp nhất hay sự hòa nhập giữa hai phần riêng biệt cũng được hàm ý. Ở cấp độ cao nhất, đó là sự hòa nhập của bản ngã bất tử với phàm ngã đã biệt ngã hóa, hoặc khả năng một dòng tiến hoá cao hơn hòa quyện với một dòng thấp hơn.

We should not forget that before it can be part of this ‘divine mechanism,’ the personality must be rounded out. If a wheel is buckled or wobbly, if the spokes are loose, if there is any misalignment, then the bicycle is not fit for the rider to be seated on and there will not be a bringing together of the two factors. The Higher Self cannot use a personality or ‘mechanism’ that is neglected and unintegrated.

Chúng ta không nên quên rằng trước khi có thể trở thành một phần của “bộ máy thiêng liêng” này, phàm ngã phải được phát triển toàn diện. Nếu bánh xe bị cong hoặc đảo, nan hoa bị lỏng, hay có bất kỳ sự lệch chỉnh hợp nào, thì chiếc xe không thích hợp để Đấng Kỵ Sĩ ngồi lên, và hai yếu tố sẽ không thể kết hợp. Bản Ngã Cao Siêu không thể sử dụng một phàm ngã hay “bộ máy” bị bỏ bê và chưa tích hợp.

There is already an immense amount of meaning here but the analogy can be carried even further. A simple symbol like a bicycle being ridden implies something about the existence of a divine plan for that bicycle and its rider. Where is it going? What sort of terrain lies ahead? Is there a group of cyclists who must be joined? Is there a rendezvous at the top of a hill or at the bottom of a valley? Is it in the middle of a wood? Hence it can be seen that from a very simple symbol, one can build up a beautiful inner structure with boundless possibilities.

Ở đây đã có một lượng ý nghĩa vô cùng phong phú, nhưng phép tương đồng còn có thể được triển khai xa hơn. Một biểu tượng đơn giản như chiếc xe đạp đang được điều khiển hàm ý điều gì đó về sự hiện hữu của Thiên Cơ dành cho chiếc xe và người điều khiển nó. Nó đang đi đâu? Địa hình nào nằm phía trước? Có một nhóm người đi xe đạp mà y phải gia nhập không? Có cuộc hội ngộ nào trên đỉnh đồi hay dưới đáy thung lũng không? Nó có ở giữa khu rừng không? Do đó, có thể thấy rằng từ một biểu tượng rất đơn giản, người ta có thể kiến tạo một cấu trúc nội tâm đẹp đẽ với những khả năng vô tận.

Keywords for Gemini, Venus and the Third House – Các từ khóa của Song Tử, Sao Kim và Nhà Ba

Brothers & sisters; twins; pairs; the number 2; duality; in relation to; relative to; half; semi-; arms; limbs; hands; fingers; movement; short journeys; path; road; running; jogging; walking; tennis; athletics; cricket; act; do; happen; splits; separations; depart; go; leave; exit; meet; visit; early education; school; teacher; pupil; lesson; learn; instruction; thought; communication; language; letter; print; literature; writing; written word; story; English; Britain; divisiveness; discord; arguments; disagree; dispute; short; little; small; small birds; soon; nearly; near; here; neighbourhood; neighbours; relatives; nephew; niece; cousin; aunt; uncle; eyes; vision; look; see; lungs; breath; respiration; etheric body; innovations; new things; fresh; young; youthful; early; things that are scintillating, numinostic; gloss; shine; bright; luminous; light; illuminate; grace; charm; elegance; female; feminine; lady; beauty; handsome; fine, of high quality; good taste; lovely; pleasant; please; pleasure; enjoy; like; affection; glad; polite; courteous; harmony; correspondence; rapport; amend; assuage; better; human; ethics; good; right; truth; reason; valid; charity; easy; simple; effortless; ready; calm; clear; talent; window; picture frame; hallways (where letters are kept); indigo; orange; second ray (love-wisdom).

Anh chị em; sinh đôi; các cặp; số 2; Nhị nguyên; liên quan đến; tương quan với; một nửa; bán-; cánh tay; tứ chi; bàn tay; ngón tay; chuyển động; hành trình ngắn; đường mòn; đường sá; chạy; chạy bộ; đi bộ; quần vợt; điền kinh; bóng gậy; hành động; làm; xảy ra; chia tách; phân ly; khởi hành; đi; rời khỏi; thoát ra; gặp gỡ; thăm viếng; giáo dục ban đầu; trường học; giáo viên; học sinh; bài học; học hỏi; hướng dẫn; tư tưởng; giao tiếp; ngôn ngữ; thư từ; in ấn; văn chương; viết; chữ viết; câu chuyện; tiếng Anh; nước Anh; tính chia rẽ; bất hòa; tranh luận; bất đồng; tranh chấp; ngắn; bé; nhỏ; chim nhỏ; sớm; gần như; gần; ở đây; khu lân cận; hàng xóm; họ hàng; cháu trai; cháu gái; anh chị em họ; cô hoặc dì; chú hoặc bác; mắt; tầm nhìn; nhìn; thấy; phổi; hơi thở; hô hấp; thể dĩ thái; những đổi mới; những điều mới; tươi mới; trẻ; trẻ trung; sớm; những vật lấp lánh, mang tính linh diệu; bóng láng; tỏa sáng; sáng; rực sáng; ánh sáng; soi sáng; duyên dáng; sức quyến rũ; thanh lịch; nữ; nữ tính; quý bà; vẻ đẹp; tuấn tú; tinh tế, phẩm chất cao; thị hiếu tốt; đáng yêu; dễ chịu; làm hài lòng; niềm vui; thưởng thức; yêu thích; tình cảm; vui mừng; lịch sự; nhã nhặn; hài hòa; sự tương ứng; sự hòa hợp; sửa đổi; xoa dịu; tốt hơn; con người; đạo đức; tốt; đúng; chân lý; lý trí; xác đáng; lòng bác ái; dễ dàng; đơn giản; không tốn công; sẵn sàng; bình tĩnh; rõ ràng; tài năng; cửa sổ; khung tranh; hành lang, nơi lưu giữ thư từ; màu chàm; màu cam; cung hai, Bác Ái – Minh Triết.

THE PATH of GEMINI – CON ĐƯỜNG CỦA SONG TỬ

For double the vision my eyes do see,

Vì mắt tôi nhìn thấy tầm nhìn kép,

And a double vision is always with me.

Và tầm nhìn kép luôn ở bên tôi.

With my inward eye ’tis an old man grey,

Với nội nhãn, đó là một ông lão tóc hoa râm,

With my outward, a Thistle across my way.

Với ngoại nhãn, một cây kế chắn ngang đường.

— William Blake, Letter to Thomas Butts

— William Blake, Thư gửi Thomas Butts

To everything veiled or hidden, there is an exoteric or outer counterpart. The fire that we see in our grates is but the outer manifestation of a duality. The glucose molecule sustains the gross physical tissues but the vitality globule sustains the etheric body. We call the former process metabolism and the latter vitalisation. Under control, they become dieting and pranayama. We talk of extrovert and introvert personalities and know that at inner levels the extroversion and introversion become reversed. Everywhere there is duality. Night and day or diurnal rhythm are not just convenient phases of a twenty-four hour period but are incorporated into body clocks to which the physical and psychic bodies react.

Đối với mọi điều bị che phủ hoặc ẩn giấu, đều có một Đối phần ngoại môn hay bên ngoài. Ngọn lửa chúng ta thấy trong lò sưởi chỉ là biểu hiện bên ngoài của một Nhị nguyên. Phân tử đường nuôi dưỡng các mô thể xác thô trọng, nhưng Sinh khí cầu nuôi dưỡng thể dĩ thái. Chúng ta gọi tiến trình trước là sự trao đổi chất và tiến trình sau là sự tiếp sinh lực. Khi được kiểm soát, chúng trở thành việc điều chỉnh chế độ ăn và kiểm soát hơi thở. Chúng ta nói về những phàm ngã hướng ngoại và hướng nội, đồng thời biết rằng ở các cấp độ bên trong, sự hướng ngoại và hướng nội bị đảo ngược. Nhị nguyên hiện diện khắp nơi. Đêm và ngày hay nhịp điệu ngày đêm không chỉ là những giai đoạn thuận tiện trong một chu kỳ hai mươi bốn giờ, mà còn được tích hợp vào đồng hồ sinh học để thể xác và các thể thông linh đáp ứng.

In man, there is the soul and its mechanisms. The indwelling reality uses the outer vehicles to interact with its material environment. This is but an expression of the interplay between spirit and matter.

Trong con người có linh hồn và các bộ máy của nó. Thực tại nội tại sử dụng các hiện thể bên ngoài để tương tác với môi trường vật chất. Đây chỉ là một biểu hiện của sự tương tác giữa tinh thần và vật chất.

Gemini, more than any other sign in the zodiac, expresses and is sensitive to these dualities. The very waxing and waning of the Moon, a Geminian quality which so profoundly affects the Earth, gives incredible sensitivity to those born with Moon in Gemini, and the certainty that that sensitivity will be outwardly expressed in dualities. Every zodiacal sign has its opposite sign acting as a polarity, giving duality. Gemini is receptive to the qualities stemming from all six dualities arising from the twelve signs. The human vehicles of consciousness, from the physical body inwards, all express this duality. Every organ in the body has an opposite polarity at etheric levels in the brain region. The dimorphic expressions of the body in terms of two hands, two eyes, twin cerebral hemispheres, double chromosomes, imply Geminian affinity.

Hơn bất kỳ dấu hiệu nào khác trong Hoàng đạo, Song Tử biểu đạt và nhạy cảm với những Nhị nguyên này. Chính sự tròn khuyết của Mặt Trăng, một phẩm tính Song Tử có ảnh hưởng sâu sắc đến Trái Đất, đem lại sự nhạy cảm phi thường cho những người sinh ra với Mặt Trăng ở Song Tử, và bảo đảm rằng sự nhạy cảm ấy sẽ được biểu lộ ra bên ngoài qua các Nhị nguyên. Mỗi dấu hiệu hoàng đạo đều có dấu hiệu đối nghịch hoạt động như một cực tính, tạo nên Nhị nguyên. Song Tử tiếp nhận các phẩm tính xuất phát từ cả sáu Nhị nguyên nảy sinh từ mười hai dấu hiệu. Tất cả các hiện thể tâm thức của con người, từ thể xác hướng vào trong, đều biểu đạt Nhị nguyên này. Mỗi cơ quan trong thể xác đều có một cực tính đối nghịch ở các cấp độ dĩ thái trong vùng não. Những biểu hiện nhị hình của cơ thể như hai bàn tay, hai mắt, hai bán cầu não và các nhiễm sắc thể kép đều hàm ý mối tương ứng với Song Tử.

In the struggles of the disciple towards the Light, Gemini plays a great part which may often appear to us to be cruel but it is one which inexorably brings into play those forces which resolve duality in terms of a fluid synthesis. The alternation of electric current brings a synthesis with special qualities which makes its uses more suitable for some purposes than direct or non-alternating current.

Trong cuộc đấu tranh của đệ tử hướng đến Ánh sáng, Song Tử giữ một vai trò lớn lao, đôi khi có vẻ tàn nhẫn đối với chúng ta, nhưng nó tất yếu đưa vào hoạt động những mãnh lực giải quyết Nhị nguyên bằng một sự tổng hợp linh động. Dòng điện xoay chiều tạo ra một sự tổng hợp với các phẩm tính đặc biệt, khiến nó phù hợp với một số mục đích hơn dòng điện một chiều.

Mediumship is also an aspect of duality in which Gemini can play a great part. But mediumship itself has duality in that there is both unconscious and conscious mediumship. The latter is but an expression of that duality which we describe with the affirmation of ‘I am . . . That.’ The Geminian can know, more than any other, the meaning of spiritual isolation and separation, whether he sits at the top of the tower of his spiritual endeavours, or whether he is surrounded with the common masses in everyday life, who haven’t the faintest concept of his spiritual insights.

Hiện tượng đồng tử cũng là một phương diện của Nhị nguyên mà trong đó Song Tử có thể giữ vai trò quan trọng. Nhưng bản thân hiện tượng đồng tử cũng có Nhị nguyên, vì có cả trạng thái đồng tử vô thức lẫn hữu thức. Trạng thái sau chỉ là một biểu hiện của Nhị nguyên mà chúng ta mô tả bằng lời khẳng định: “Tôi là... Đấng Đó.” Hơn bất kỳ ai khác, người Song Tử có thể biết ý nghĩa của sự cô lập và phân ly về tinh thần, dù y ngồi trên đỉnh ngọn tháp của những nỗ lực tinh thần hay bị bao quanh bởi quần chúng bình thường trong đời sống hằng ngày, những người không có chút quan niệm nào về các thấu suốt tinh thần của y.

The energies of Gemini prevent concretion of ideas before they settle into a mould that can’t be changed. What are these energies? They derive from very high sources related to cosmic beings. We recognise them when they are disseminated by beings like the Christ and the Buddha and feel them inwardly when we practise disciplines taught by these two great spiritual entities. The two of them together expressed the Second Ray qualities of Gemini, the Ray of Love-Wisdom, itself a duality. The religion of the Christ was meant to express Love and Devotion but became concretised or dogmatised when the Geminian forces could not maintain fluidity. Gemini permits continued spiritual growth in diversity of forms and acts against crystallisation. If Love had been wisely applied and Wisdom lovingly applied by the Catholic Church during its era, we would have had on this planet today a wisdom religion which it so desparately needs. Instead we have a Catholic Church burdened with the heavy karma of the era of its Inquisition.

Các năng lượng Song Tử ngăn ý tưởng đông cứng trước khi chúng định hình thành một khuôn mẫu không thể thay đổi. Những năng lượng này là gì? Chúng bắt nguồn từ những nguồn rất cao liên quan đến các Sinh Mệnh vũ trụ. Chúng ta nhận ra chúng khi những Đấng như Đức Christ và Đức Phật phổ truyền chúng, đồng thời cảm nhận chúng bên trong khi thực hành các giới luật do hai Đấng tinh thần vĩ đại này giảng dạy. Cả hai cùng biểu đạt những phẩm tính cung hai của Song Tử, tức Cung Bác Ái – Minh Triết, vốn tự nó là một Nhị nguyên. Tôn giáo của Đức Christ vốn nhằm biểu đạt Tình thương và Sự Sùng tín, nhưng đã trở nên đông cứng hay giáo điều hóa khi các mãnh lực Song Tử không thể duy trì tính linh động. Song Tử cho phép sự tăng trưởng tinh thần liên tục trong nhiều hình tướng đa dạng và chống lại sự kết tinh. Nếu Giáo hội Công giáo đã áp dụng Tình thương một cách minh triết và áp dụng Minh triết một cách đầy bác ái trong thời đại của mình, ngày nay chúng ta đã có trên hành tinh này một tôn giáo minh triết mà nó đang hết sức cần đến. Thay vào đó, chúng ta có một Giáo hội Công giáo mang gánh nặng nghiệp quả của thời kỳ Tòa án Dị giáo.

Man expresses in himself a duality which is of special concern to the esotericist. This is the duality of living whilst expressing either the energy centres that lie above the diaphragm or those below it. In terms of yoga, it is an interaction of chakras and a transmutation of their energies. Spiritual progress involves the steady transfer of the energies of:

Trong chính mình, con người biểu đạt một Nhị nguyên đặc biệt đáng quan tâm đối với nhà bí truyền học. Đó là Nhị nguyên của việc sống trong khi biểu đạt các trung tâm năng lượng nằm trên hoặc dưới cơ hoành. Xét theo thuật yoga, đó là sự tương tác giữa các luân xa và sự chuyển hoá năng lượng của chúng. Sự tiến bộ tinh thần bao hàm việc đều đặn chuyển dịch năng lượng của:

• The Chakra at the Base of the Spine to the Head Chakra.

• Luân xa ở đáy cột sống lên Luân xa đầu.

• The energies of the Sacral Chakra to the Throat Chakra.

• Năng lượng của Luân xa xương cùng lên Luân xa cổ họng.

• The energies of the Solar Plexus Chakra to the Heart Chakra, etc. . . .

• Năng lượng của Luân xa tùng thái dương lên Luân xa tim, v.v...

Gemini provides just those fluidic qualities which permit a healthy flow of life forces from lower centres to their higher counterparts or alter egos. Gemini rules the etheric part of the physical body and it is in the etheric that the chakras and their tracts exist.

Song Tử cung cấp chính những phẩm tính linh động cho phép các mãnh lực sự sống lưu chuyển lành mạnh từ những trung tâm thấp đến các Đối phần cao hơn hay những bản ngã khác của chúng. Song Tử cai quản phần dĩ thái của thể xác, và chính trong thể dĩ thái mà các luân xa cùng những đường dẫn của chúng hiện hữu.

The planet Mercury, as the orthodox ruler of Gemini promotes and maintains fluidity of movement without providing opportunity for synthesis. Venus, on the other hand, as the esoteric ruler of Gemini, offers to the disciple truly on the Path, the sustained attraction of energies to their higher centres and their synthesis with the qualities of those centres. Venus relates pairs of opposites; Mercury keeps them fluid and separate.

Sao Thủy, với tư cách chủ tinh ngoại môn của Song Tử, thúc đẩy và duy trì tính linh động của chuyển động mà không tạo cơ hội cho sự tổng hợp. Mặt khác, Sao Kim, với tư cách chủ tinh nội môn của Song Tử, đem đến cho đệ tử thực sự ở trên Đường Đạo sức hút bền vững của các năng lượng hướng về những trung tâm cao hơn và sự tổng hợp của chúng với các phẩm tính của những trung tâm ấy. Sao Kim liên kết các cặp đối nghịch; Sao Thủy giữ chúng linh động và tách biệt.

In the disciple with Gemini as a birth sign, Venus makes the contrast between the energies of desire (below the diaphragm) and those of spiritual will and love (above the diaphragm) so great that it is forced into the consciousness of the individual constantly.

Ở đệ tử có Song Tử là dấu hiệu mặt trời, Sao Kim làm cho sự tương phản giữa các năng lượng dục vọng ở dưới cơ hoành với các năng lượng của ý chí tinh thần và bác ái ở trên cơ hoành trở nên lớn đến mức nó liên tục buộc tâm thức cá nhân phải nhận biết.

When Gemini is rising in the horoscope, the Soul’s purpose is indicated clearly through the position of Venus in the chart. That purpose will be in the field of teaching, for the Ray of Love-Wisdom is that of the great teachers and healers of the world. The healing aspects of the Second Ray are better expressed in some of the other signs which also have Second Ray affinities.

Khi Song Tử là dấu hiệu mọc trong lá số chiêm tinh, mục đích của linh hồn được biểu thị rõ ràng qua vị trí của Sao Kim trong lá số. Mục đích ấy sẽ nằm trong lĩnh vực giảng dạy, vì Cung Bác Ái – Minh Triết là cung của những vị huấn sư và nhà trị liệu vĩ đại trên thế giới. Các phương diện chữa lành của cung hai được biểu đạt tốt hơn trong một số dấu hiệu khác cũng có mối tương ứng với cung hai.

The Ray of Love-Wisdom as it flows through Gemini conveys duality in all its expressions. As the Ray of the World Server, it acts reciprocally in its duality as both the server and the area of the service being rendered. The author, with Moon in Gemini, is a medically qualified healer and has taught young and old all his life. It is part of his creed, tried and tested by thirty years of application, that:

Khi tuôn chảy qua Song Tử, Cung Bác Ái – Minh Triết truyền tải Nhị nguyên trong mọi biểu hiện của nó. Với tư cách Cung của Người Phụng Sự Thế Gian, trong Nhị nguyên của mình, nó tác động hỗ tương vừa như người phụng sự vừa như lĩnh vực nhận sự phụng sự. Tác giả, người có Mặt Trăng ở Song Tử, là một nhà trị liệu có bằng cấp y khoa và đã giảng dạy cho cả người trẻ lẫn người già suốt đời. Một phần trong tín điều của ông, đã được thử nghiệm và kiểm chứng qua ba mươi năm áp dụng, là:

• In teaching we are taught.

• Khi giảng dạy, chúng ta được dạy.

• In healing we are healed.

• Khi chữa lành, chúng ta được chữa lành.

• In loving we are loved.

• Khi yêu thương, chúng ta được yêu thương.

• In serving we are served.

• Khi phụng sự, chúng ta được phụng sự.

Thus is expressed the duality and reciprocity of the Ray of Love-Wisdom through the sign of Gemini. The Soul’s purpose of Gemini is never far from these tenets.

Như vậy, Nhị nguyên và tính hỗ tương của Cung Bác Ái – Minh Triết được biểu đạt qua dấu hiệu Song Tử. Mục đích linh hồn của Song Tử không bao giờ xa rời những nguyên lý này.

It is the mind that is kept receptive (mutable), that is most easily taught. Equally so, the same quality of mind has the makings of a teacher. This is taken to the ultimate in the harsh but effective teaching method known as brain-washing, wherein the mind, no longer anchored to the security of previous hopes and wishes, entrenched attitudes, codes of conduct, etc., becomes highly unstable (receptive and mutable), and correspondingly more impressionable and susceptible to indoctrination (see Meditation, the Theory and Practice, by the author, pages 108-114).

Chính thể trí được duy trì ở trạng thái tiếp nhận và có thể biến đổi là thể trí dễ được dạy dỗ nhất. Tương tự, cùng phẩm tính thể trí ấy cũng chứa đựng tiềm năng trở thành một huấn sư. Điều này được đẩy đến cực điểm trong phương pháp giảng dạy khắc nghiệt nhưng hữu hiệu được gọi là tẩy não, trong đó thể trí, không còn neo giữ vào cảm giác an toàn của những hy vọng và mong muốn trước kia, các thái độ cố thủ, quy tắc ứng xử, v.v., trở nên hết sức bất ổn, tức dễ tiếp nhận và biến đổi, do đó cũng dễ chịu ấn tượng và dễ bị nhồi sọ hơn; xem tác phẩm Tham Thiền, Lý Thuyết và Thực Hành của tác giả, trang 108-114.

At its worst, Gemini is where instability of mind can lead to rank psychosis, where genius and insanity may be akin. This is where the right hand is the mirror-image of the left and where white magic can easily become black. At its best Gemini is the meeting place of higher and lower consciousness, of the pupil and the teacher, of the noviciate and the initiate, of the neophyte and the Master. It is the sign of the amanuensis, where the hand becomes the hand of the Master. (Alice Bailey has the Sun, ruler of her rising sign, placed in the sign of Gemini).

Ở trạng thái tệ hại nhất, Song Tử là nơi sự bất ổn của thể trí có thể dẫn đến chứng loạn thần rõ rệt, nơi thiên tài và điên loạn có thể gần gũi nhau. Đây là nơi bàn tay phải trở thành ảnh phản chiếu của bàn tay trái và Chánh Thuật có thể dễ dàng biến thành Hắc thuật. Ở trạng thái tốt đẹp nhất, Song Tử là nơi gặp gỡ của tâm thức cao và thấp, của học sinh và huấn sư, của người tập sự và điểm đạo đồ, của người sơ cơ và Chân sư. Đó là dấu hiệu của người chấp bút, nơi bàn tay trở thành bàn tay của Chân sư. Bà Alice Bailey có Mặt Trời, chủ tinh của dấu hiệu mọc của Bà, nằm trong dấu hiệu Song Tử.

Gemini brings a healthy mutability that ensures the effectiveness of the Ray of Teaching. The Soul’s purpose when Gemini is rising is epitomised in the keynote:

Song Tử mang lại một tính biến đổi lành mạnh, bảo đảm tính hiệu quả của Cung Giảng Dạy. Khi Song Tử là dấu hiệu mọc, mục đích của linh hồn được thể hiện cô đọng trong chủ âm:

I maintain the fertility (mutability) of the soil;

Tôi duy trì độ màu mỡ, tức khả năng biến đổi, của đất;

In that I plant the seeds of higher thought.

Trong đó tôi gieo những hạt giống tư tưởng cao siêu.

Teaching, ultimately, is seduction. It is seduction at higher levels than the physical. It may be seduction at emotional and mental levels. All seduction, at any level, implies the planting of the seed. The disciple in Gemini is the seedsman and his soil is the mind—sometimes prepared and fertile, sometimes barren and uncultivated. His task is to open, maintain and facilitate the lines of communication (the antakarana) between lower and higher mind, eventuating in their unification. He is a mediator between man and his gods, an intermediary between the twin evolutions of soul and personality, moving with ease between the dual aspects of humanity and helping to blend them into a greater synthesis.

Xét đến cùng, giảng dạy là sự quyến dụ. Đó là sự quyến dụ ở các cấp độ cao hơn cõi hồng trần. Nó có thể là sự quyến dụ ở các cấp độ cảm xúc và trí tuệ. Mọi sự quyến dụ ở bất kỳ cấp độ nào đều hàm ý việc gieo hạt giống. Đệ tử trong Song Tử là người gieo hạt, còn đất của y là thể trí—đôi khi đã được chuẩn bị và màu mỡ, đôi khi cằn cỗi và chưa được vun trồng. Nhiệm vụ của y là mở ra, duy trì và tạo thuận lợi cho các đường giao tiếp, tức antahkarana, giữa hạ trí và thượng trí, cuối cùng dẫn đến sự hợp nhất của chúng. Y là người trung gian giữa con người và các vị thần của mình, là cầu nối giữa hai dòng tiến hoá song đôi của linh hồn và phàm ngã, dễ dàng di chuyển giữa hai phương diện của nhân loại và giúp hòa quyện chúng thành một sự tổng hợp lớn hơn.

This is the sign in which the Soul’s purpose might best be served in teaching the young, perhaps with New Age methods (especially with Jupiter). Relatives, especially brothers and sisters, may also be meant to share in the Soul’s work.

Đây là dấu hiệu mà mục đích của linh hồn có thể được phụng sự tốt nhất qua việc giảng dạy người trẻ, có lẽ bằng các phương pháp Kỷ Nguyên Mới, đặc biệt khi có Sao Mộc. Họ hàng, nhất là anh chị em, cũng có thể được định để cùng tham gia công việc của linh hồn.

When the ruler of the rising sign is placed in Gemini or the third house there are many opportunities for the Soul to express itself. It may well be that the disciple’s Soul’s purpose is but to express the wisdom to those he meets during his commuting to and from business each day. Socrates would be an example of this. He never hesitated to buttonhole anyone in the streets of old Athens with his philosophical discourses. Plato taught the pupils in his academy whilst strolling in the gardens.

Khi chủ tinh của dấu hiệu mọc nằm trong Song Tử hoặc nhà ba, linh hồn có nhiều cơ hội biểu đạt chính mình. Có thể mục đích linh hồn của đệ tử chỉ là biểu đạt minh triết cho những người y gặp trên đường đi làm và trở về mỗi ngày. Socrates là một ví dụ. Ông không bao giờ ngần ngại giữ bất kỳ ai trên các đường phố Athens cổ để trình bày những luận thuyết triết học của mình. Plato giảng dạy các môn sinh trong học viện của ông khi đang dạo bước trong vườn.

Gemini may also indicate short inward travel, perhaps through meditation, a process of inward movement which the Master R.B. called ‘esolepsy’. There may even be transient loss of consciousness provoked by hypoglycaemia (low blood sugar), especially if Virgo is on the cusp of the third house, during which inner communication may be conducted, for this is the natural house of Gemini, the house of ‘short inner communications.’ These may be numerous and affect the disciple’s decision making, or with Mercury or Neptune afflicted in this house, there may be even be aberrations under the guise of schizophrenia.

Song Tử cũng có thể biểu thị một hành trình ngắn vào bên trong, có lẽ qua tham thiền, một tiến trình chuyển động nội tâm mà Chân sư R.B. gọi là “nội nhập”. Thậm chí có thể xảy ra sự mất tâm thức thoáng qua do hạ đường huyết, đặc biệt nếu Xử Nữ nằm trên đỉnh nhà ba; trong thời gian ấy, sự giao tiếp nội tâm có thể diễn ra, vì đây là nhà tự nhiên của Song Tử, nhà của “những cuộc giao tiếp nội tâm ngắn”. Những cuộc giao tiếp này có thể rất nhiều và ảnh hưởng đến việc ra quyết định của đệ tử; hoặc nếu Sao Thủy hay Sao Hải Vương chịu góc hợp bất lợi trong nhà này, thậm chí có thể xuất hiện những lệch lạc dưới hình thức tâm thần phân liệt.

There is no need to run outside

Không cần phải chạy ra ngoài

For better seeing.

Để nhìn thấy rõ hơn.

Nor to peer from a window. Rather abide

Cũng không cần nhìn chăm chú qua cửa sổ. Thay vào đó, hãy an trú

At the centre of your being;

Tại trung tâm Bản Thể của mình;

For the more you leave it, the less you learn.

Vì càng rời xa nó, các bạn càng học được ít hơn.

Search your heart and see

Hãy dò xét trái tim mình và xem

If he is wise who takes each turn;

Liệu người đi theo mọi khúc quanh có minh triết chăng;

The way to do is the way to be.

Con đường hành động là con đường hiện tồn.

— Lao Tzu, The Way of Life

— Lão Tử, Đạo của Đời Sống

THE AGE of GEMINI: – THỜI ĐẠI SONG TỬ:

From Towards Aquarius by Vera W. Reid – Trích từ Hướng Đến Bảo Bình của Vera W. Reid

Now the two primal spirits, who reveal themselves in vision as twins, are the Better and the Bad in thought, word and action. And between these two, the wise ones choose aright, the foolish not so.— Zend Avesta.

Giờ đây, hai tinh thần nguyên sơ, tự hiển lộ trong linh ảnh như một cặp song sinh, là Thiện và Ác trong tư tưởng, lời nói và hành động. Giữa hai bên, người minh triết chọn điều đúng đắn, còn kẻ ngu muội thì không.— Kinh Cổ Ba Tư.

Behold the Lord of the One Face is with me. Hail thou who art victorious . . . thou Lord of the divine Twin-gods, who livest in the divine Twin-gods. Strengthen thou me according as thou has strengthened thyself and, show thyself upon earth, O thou that returnest and withdrawest thyself, and let thy will be done.— Egyptian Book of the Dead.

Hãy nhìn xem, Chúa Tể của Nhất Diện đang ở cùng ta. Kính chào Ngài, Đấng chiến thắng... Chúa Tể của cặp Thần Song Sinh thiêng liêng, Đấng sống trong cặp Thần Song Sinh thiêng liêng. Xin hãy củng cố ta như Ngài đã củng cố chính mình, hãy hiển lộ trên đất, hỡi Đấng trở lại rồi rút lui, và nguyện Ý Chí của Ngài được thực hiện.— Tử Thư Ai Cập.

The Celestial Zodiac – Hoàng Đạo Thiên Thể

The sun radiates light and heat in a relatively constant stream throughout the solar system. From the terrestrial point of view, however, the Sun’s power increases and decreases in daily, yearly and Great Yearly cycles, due to the axial, orbital and precessional movements of the Earth. Each of these solar life cycles, consisting of the birth, life, death and resurrection of the Sun, is enacted against the background of the celestial zodiac. Thus, to the initiates of the ancient wisdom, the zodiac was the formula of a sequential life-process applicable to every manifestation of life.

Mặt Trời phát xạ ánh sáng và nhiệt lượng thành một dòng tương đối ổn định khắp hệ mặt trời. Tuy nhiên, nhìn từ Trái Đất, quyền năng của Mặt Trời tăng giảm theo các chu kỳ ngày, năm và Đại Niên do chuyển động quanh trục, quỹ đạo và tuế sai của Trái Đất. Mỗi chu kỳ sự sống mặt trời này, bao gồm sự sinh ra, đời sống, cái chết và sự phục sinh của Mặt Trời, đều diễn ra trên nền Hoàng đạo thiên thể. Vì vậy, đối với các điểm đạo đồ của Minh Triết cổ đại, Hoàng đạo là công thức của một tiến trình sự sống tuần tự, có thể áp dụng cho mọi biểu hiện của sự sống.

The signs of the zodiac are, therefore, the glyphs of a universal language common to seekers of truth, irrespective of creed, time or race. It is for this reason that astrology was known as the sacred or the divine science and its symbolism was that of the mystery or wisdom teachings upon which the orthodox faiths of the world are founded. It is a science whose use of symbolism necessitates the full use of the intuitive faculties. Like a book of life, its wisdom is available to all those who read it, according to the level of their intuitive capacity and spiritual maturity. It is difficult for many to realise the potency and psychic content of such a language but to the great initiates of all ages, whose minds were illumined by wisdom, the twelve signs of the zodiac were the twelve gates of another world whose beauty and dazzling splendour caused the physical realm to appear as a candle in the sunlight.

Do đó, các dấu hiệu Hoàng đạo là những ký hiệu của một ngôn ngữ phổ quát, chung cho mọi người tìm kiếm chân lý, bất kể tín ngưỡng, thời đại hay nhân loại. Chính vì vậy, chiêm tinh học từng được biết đến như khoa học thiêng liêng hay khoa học thần thánh, và hệ biểu tượng của nó là hệ biểu tượng của các giáo lý huyền nhiệm hay minh triết, vốn là nền tảng của những tín ngưỡng chính thống trên thế giới. Đây là một khoa học mà việc sử dụng biểu tượng đòi hỏi vận dụng đầy đủ các năng lực trực giác. Giống như một cuốn sách sự sống, minh triết của nó dành sẵn cho tất cả những ai đọc nó, tùy theo cấp độ năng lực trực giác và mức trưởng thành tinh thần của họ. Nhiều người khó nhận ra quyền năng và nội dung thông linh của một ngôn ngữ như vậy; nhưng đối với các điểm đạo đồ vĩ đại của mọi thời đại, những vị có thể trí được minh triết soi sáng, mười hai dấu hiệu Hoàng đạo là mười hai cánh cổng dẫn vào một thế giới khác, nơi vẻ đẹp và ánh huy hoàng chói lọi khiến cõi hồng trần chỉ như ngọn nến dưới ánh Mặt Trời.

Astrological Symbolism of Gemini: The Twins

Biểu tượng Chiêm tinh của Song Tử: Cặp Song Sinh

When, about 8,000 years ago, the Sun moved into the sign of Gemini, the Twins, the psychic and emotional qualities of Cancer and its orthodox ruler, the Moon, were replaced by those of an entirely different character.

Khoảng 8.000 năm trước, khi Mặt Trời tiến vào dấu hiệu Song Tử, các phẩm tính thông linh và cảm xúc của Cự Giải cùng chủ tinh ngoại môn của nó là Mặt Trăng đã được thay thế bằng những phẩm tính có tính chất hoàn toàn khác.

Gemini is a mutable air sign whose characteristics are ingenuity, invention, literary ability and reasoning power. Its orthodox ruler, Mercury, the messenger of the gods, is the planet of intellect. The polar opposite of Gemini is the fire sign of Sagittarius, the centaur, whose orthodox ruler is the planet Jupiter, whose protective and beneficent qualities were operative in the preceding Age of Cancer.

Song Tử là một dấu hiệu hành khí biến đổi, có các đặc điểm là sự khéo léo, óc phát minh, năng lực văn chương và khả năng suy luận. Chủ tinh ngoại môn của nó, Sao Thủy, sứ giả của các vị thần, là hành tinh của trí năng. Cực đối nghịch của Song Tử là dấu hiệu hành hỏa Nhân Mã, tức nhân mã, có chủ tinh ngoại môn là Sao Mộc, hành tinh mà các phẩm tính bảo hộ và ban phúc đã hoạt động trong Thời Đại Cự Giải trước đó.

Gemini and Sagittarius are both dual signs and there is evidence to show that the principle of duality was the outstanding feature of this period when they were in the ascendant. It permeates the social and religious life of the age and is the direct outcome of the spiritual and maternal qualities of Leo and Cancer.

Song Tử và Nhân Mã đều là những dấu hiệu kép, và có bằng chứng cho thấy nguyên khí Nhị nguyên là đặc điểm nổi bật của thời kỳ chúng chiếm ưu thế. Nguyên khí này thấm nhuần đời sống xã hội và tôn giáo của thời đại, đồng thời là kết quả trực tiếp của các phẩm tính tinh thần và từ mẫu của Sư Tử cùng Cự Giải.

The Earth is the offspring of the Sun and the Moon. It is the form animated by the one and sustained by the other. Thus man, as child of the Earth, is a creature of dual nature. From his divine father, the Sun, he inherits the divine spark which animates the physical body bestowed by his mother the Moon. In the symbolism of the zodiac this fact is portrayed by the sequence of the signs Leo, Cancer and Gemini, the Twins.

Trái Đất là hậu duệ của Mặt Trời và Mặt Trăng. Nó là hình tướng được Mặt Trời làm sinh động và được Mặt Trăng duy trì. Do đó, con người, với tư cách đứa con của Trái Đất, là một sinh linh có bản chất kép. Từ người cha thiêng liêng là Mặt Trời, y thừa hưởng tia lửa thiêng liêng làm sinh động thể xác do người mẹ Mặt Trăng ban cho. Trong hệ biểu tượng Hoàng đạo, sự kiện này được mô tả qua trình tự các dấu hiệu Sư Tử, Cự Giải và Song Tử.

Students of comparative religion affirm that while all religious observances show evidence of sun worship, the earliest known form of deity was female. When a male god first appears he is primarily the son of a mother goddess and significant only as a symbol of her reproductive powers. Later he becomes her husband or brother and in this way the original deity assumes a dual form and is worshipped as two equal deities.

Các đạo sinh nghiên cứu tôn giáo so sánh khẳng định rằng, dù mọi nghi lễ tôn giáo đều cho thấy dấu vết của việc thờ Mặt Trời, hình thức Thượng đế cổ xưa nhất mà người ta biết lại là nữ giới. Khi một nam thần xuất hiện lần đầu, vị ấy trước hết là con trai của một nữ thần mẹ và chỉ có ý nghĩa như biểu tượng cho quyền năng sinh sản của bà. Về sau, vị ấy trở thành chồng hoặc anh em trai của bà; bằng cách đó, Thượng đế nguyên thủy mang hình thức kép và được thờ phụng như hai vị thần ngang hàng.

The Cult of the Twins

Tín Ngưỡng Cặp Song Sinh

Traces of dual organisation in both social and religious life exists in ancient civilisations. It is as evident in the west and across the Atlantic as in the east. W.J. Perry, speaking of the Phoenicians in Children of the Sun says:

Dấu vết của tổ chức nhị phân trong cả đời sống xã hội lẫn tôn giáo hiện hữu ở các nền văn minh cổ đại. Nó biểu hiện rõ rệt ở phương Tây và bên kia Đại Tây Dương cũng như ở phương Đông. Khi nói về người Phoenicia trong Những Đứa Con của Mặt Trời, Ông W.J. Perry viết:

“Their culture exhibits strong traces of the dual organisation. Tyre and Sidon seem to have formed a dual group of cities, with constant rivalry and hostility between them, but evidence is obscure on this point.

“Nền văn hóa của họ biểu lộ những dấu vết mạnh mẽ của tổ chức nhị phân. Tyre và Sidon dường như đã tạo thành một cặp thành phố, giữa chúng luôn có sự cạnh tranh và thù địch, nhưng bằng chứng về điểm này vẫn chưa rõ ràng.

Each city had two harbours, north and south. It is not said whether these had different functions but that of Carthage was also dual and was divided into military and commercial harbours . . . little is known of the political organisation, but what is known goes to link the Phoenicians still closer to the communities of the archaic civilisation of Polynesia and elsewhere.”

Mỗi thành phố có hai hải cảng, một ở phía bắc và một ở phía nam. Người ta không nói liệu chúng có những chức năng khác nhau hay không, nhưng hải cảng Carthage cũng có cấu trúc kép và được chia thành quân cảng cùng thương cảng... Người ta biết rất ít về tổ chức chính trị, nhưng những gì đã biết càng liên kết người Phoenicia chặt chẽ hơn với các cộng đồng của nền văn minh cổ sơ tại Polynesia và những nơi khác.”

As far as we know anything about it, this dual organisation of social life appears to have formed the background for a set of religious ideas founded on the worship of dual deities. Ancient peoples, almost without exception, have offered allegiance to pairs of gods—a custom which suggests the possible form of orthodox religion in this Age of Gemini.

Trong chừng mực chúng ta biết về nó, tổ chức nhị phân của đời sống xã hội dường như đã tạo thành nền tảng cho một hệ thống tư tưởng tôn giáo dựa trên việc thờ phụng các vị thần kép. Hầu như không có ngoại lệ, các dân tộc cổ đại đều tỏ lòng trung thành với những cặp thần—một phong tục gợi ý hình thức khả dĩ của tôn giáo chính thống trong Thời Đại Song Tử.

These ‘Twin Gods of the Sun’ are invariably associated with the elements and the winds in particular. They are born at one birth and depicted either in a state of eternal conflict or of perfect unity. Man, composed of an immortal soul functioning in a mortal body, is constantly torn in opposite directions. As he aspires towards the good through the dictates of higher nature so he is attracted towards evil by the desires of the lower.

Các “Thần Song Sinh của Mặt Trời” này luôn gắn liền với các nguyên tố, đặc biệt là gió. Họ được sinh ra trong cùng một lần sinh và được mô tả hoặc trong trạng thái xung đột vĩnh viễn, hoặc trong sự hợp nhất hoàn hảo. Con người, được cấu thành bởi một linh hồn bất tử hoạt động trong một thể xác hữu tử, liên tục bị giằng xé theo những hướng đối nghịch. Khi y hướng đến điều thiện theo mệnh lệnh của bản chất cao, y cũng bị dục vọng của bản chất thấp lôi cuốn về phía điều ác.

Warfare between the Twins symbolises the inherent duality in human nature in which the higher is ever at variance with the lower. Unity, on the other hand, depicts the ideal which will be achieved as man gains mastery over his lower self with its animal passions and desires. This ideal state is described in the Indian epic of the Mahabaharata as follows:

Cuộc chiến giữa Cặp Song Sinh tượng trưng cho Nhị nguyên cố hữu trong bản chất con người, nơi phần cao luôn bất hòa với phần thấp. Mặt khác, sự hợp nhất mô tả lý tưởng sẽ đạt được khi con người làm chủ phàm ngã cùng các đam mê và dục vọng thú tính của nó. Trạng thái lý tưởng này được mô tả trong thiên sử thi Ấn Độ Đại Sử Thi Ấn Độ như sau:

“There was in former days celebrated throughout the three worlds, two brothers named Sunda and Upasunda living together and incapable of being slain by anyone unless each slew the other. They ruled the same kingdom, lived in the same house, slept in the same bed, sat on the same seat and ate of the same dish . . . of exactly the same disposition and habits they seemed to be one individual divided into two parts.”

“Vào thời xưa, khắp ba cõi giới từng nổi danh hai anh em tên là Sunda và Upasunda, sống cùng nhau và không ai có thể giết được họ trừ khi người này giết người kia. Họ cai trị cùng một vương quốc, sống trong cùng một ngôi nhà, ngủ trên cùng một chiếc giường, ngồi trên cùng một chỗ và ăn chung một đĩa... Có tính khí và thói quen hoàn toàn giống nhau, họ dường như là một cá nhân bị chia thành hai phần.”

In the pictorial zodiac, Gemini is represented as two figures, either both male, or male and female, but always holding hands or otherwise linked.

Trong Hoàng đạo bằng hình ảnh, Song Tử được biểu thị bằng hai nhân vật, hoặc cả hai đều là nam, hoặc một nam một nữ, nhưng luôn nắm tay nhau hay được liên kết bằng cách nào đó.

The custom of first-footing—like the belief that it is unlucky to stumble at the threshold, or to cross it with the left foot—are relics from the Age when the Twins were the guardians of all doors and entrances. Pairs of gods, identified with sacred pillars similar to Jakim and Boaz at Jerusalem, are frequently found at the gates of Babylonian, Assyrian and Egyptian temples.

Phong tục người đầu tiên bước vào nhà trong năm mới—giống như niềm tin rằng vấp ngã ở ngưỡng cửa hoặc bước qua đó bằng chân trái là điều không may—là tàn tích từ Thời Đại mà Cặp Song Sinh là những vị bảo hộ mọi cánh cửa và lối vào. Các cặp thần, được đồng hoá với những cột trụ thiêng liêng tương tự Jakim và Boaz tại Jerusalem, thường xuất hiện ở cổng các đền thờ Babylon, Assyria và Ai Cập.

In like manner, two pillars of extreme antiquity and great sanctity were intimately associated with the Greater Mysteries of Eleusis. Only vague references are made to them for such rites were hidden from the uninitiated in silence and secrecy. Yet their presence is sufficient to remind us of a by-gone age when the ‘Two Heavenly Ones’ were the object of contemporary worship and religious belief. From very early times the island of Samothrace was dedicated to the cult of the Twins. Here the Pelasgians, the aboriginal people of Greece, celebrated the mysteries of the Cabeiri or the Great Ones consisting of a Mother-Goddess and her two children.

Tương tự, hai cột trụ vô cùng cổ xưa và hết sức thiêng liêng có liên hệ mật thiết với các Đại Huyền Nhiệm tại Eleusis. Người ta chỉ nhắc đến chúng một cách mơ hồ, vì các nghi lễ ấy được giữ kín với những người chưa được điểm đạo trong im lặng và bí mật. Tuy nhiên, sự hiện diện của chúng đủ để nhắc chúng ta về một thời đại đã qua, khi “Hai Đấng Thiên Thượng” là đối tượng của sự thờ phụng và niềm tin tôn giáo đương thời. Từ thời rất xa xưa, đảo Samothrace đã được dành riêng cho tín ngưỡng Cặp Song Sinh. Tại đây, người Pelasgia, cư dân bản địa Hy Lạp, cử hành những huyền nhiệm của các Cabeiri hay Các Đấng Cao Cả, gồm một Nữ Thần Mẹ và hai người con của bà.

Many centuries later these two deities were known to the Romans as Castor and Pollux. According to the legend, Leda, wife of Tyndarus, King of Sparta, gave birth to twin sons who, though born at one birth, were yet children of different fathers, the one divine and the other human:

Nhiều thế kỷ sau, người La Mã biết hai vị thần này dưới tên Castor và Pollux. Theo truyền thuyết, Leda, vợ của Tyndarus, vua Sparta, sinh một cặp con trai song sinh; dù ra đời trong cùng một lần sinh, họ lại là con của hai người cha khác nhau, một vị thiêng liêng và người kia là phàm nhân:

“And I saw Leda who bore Tyndarus twin sons, hardy of heart, Castor the tamer of horses and Poly-deuces, the boxer. These twin yet live, but the quickening earth is over them and even in the nether world they know the honour of Zeus. And they possess their life in turn, living one day and dying the next and they have gotten worship even as gods.”

“Và ta thấy Leda, người đã sinh cho Tyndarus hai con trai song sinh có trái tim dũng mãnh: Castor, người thuần hóa ngựa, và Poly-deuces, võ sĩ quyền Anh. Cặp song sinh này vẫn sống, nhưng đất sinh động phủ trên họ; ngay cả trong cõi âm, họ vẫn biết đến vinh dự của Zeus. Họ luân phiên sở hữu sự sống, sống một ngày rồi chết vào ngày kế tiếp, và họ đã được thờ phụng như các vị thần.”

This description of the Twins, one a boxer and the other as a tamer of horses, emphasises their connection with Gemini, the sign ruling the hands, and its polar opposite, Sagittarius, the centaur.

Sự mô tả Cặp Song Sinh, một người là võ sĩ quyền Anh và người kia là người thuần hóa ngựa, nhấn mạnh mối liên hệ của họ với Song Tử, dấu hiệu cai quản bàn tay, và cực đối nghịch của nó là Nhân Mã, tức nhân mã.

Castor and Pollux were known as the Dioscuri, the sons of Zeus, the god of the skies. They gave their name to the town of Dios which was afterwards renamed Colchis and is now known as Sebastopol. When Castor the mortal son was killed, Zeus, in answer to the prayer of his immortal son Pollux, transported them to the heaven world. There, forever united, they shine as the constellation of Gemini, the Twins. This event was commemorated by the Romans who stamped their earliest coinages with the images of the Heavenly Twins and the two stars of their constellation.

Castor và Pollux được gọi là Dioscuri, những người con của Zeus, vị thần bầu trời. Họ đặt tên cho thành Dios, về sau được đổi tên thành Colchis và ngày nay được biết đến là Sebastopol. Khi Castor, người con hữu tử, bị giết, Zeus đáp lại lời cầu nguyện của Pollux, người con bất tử, và đưa họ lên cõi thiên đường. Tại đó, vĩnh viễn hợp nhất, họ tỏa sáng thành chòm sao Song Tử. Người La Mã tưởng niệm sự kiện này bằng cách khắc hình Cặp Song Sinh Thiên Thượng cùng hai ngôi sao trong chòm sao của họ lên những đồng tiền cổ xưa nhất.

The extent of the cult of the Twins, like that of the Mother Goddess of the Age of Cancer, may be judged by the wealth of legend surrounding it. In the Egyptian Book of the Dead the god, Shu, and his shadow, Tefnut, are described as the “The Double Lion god”—a reference to the Sun in the dual sign of Gemini.

Phạm vi tín ngưỡng Cặp Song Sinh, cũng như tín ngưỡng Nữ Thần Mẹ trong Thời Đại Cự Giải, có thể được đánh giá qua kho tàng truyền thuyết phong phú bao quanh nó. Trong Tử Thư Ai Cập, thần Shu và cái bóng của ông là Tefnut được mô tả như “Thần Sư Tử Kép”—ám chỉ Mặt Trời trong dấu hiệu kép Song Tử.

From the Valley of the Euphrates comes the myth of the ‘Great Twins’ who built the first city—a story reminiscent of Romulus and Remus, the traditional founders of the city of Rome.

Từ Thung lũng Euphrates xuất hiện huyền thoại về “Cặp Song Sinh Vĩ Đại”, những vị đã xây dựng thành phố đầu tiên—một câu chuyện gợi nhớ Romulus và Remus, hai người theo truyền thống đã sáng lập thành Rome.

A striking example of twin deities is that of the Ancient Assyrian gods, Nebo and Tasmit, his wife. Nebo was identified with Mercury, the ruling planet of Gemini and, as god of literature and all forms of writing, is said to have invented the cuneiform script. He ‘enlightened the eyes’ while Tasmit ‘enlarged the ears’ in order that the written word might be more clearly understood and heard. To Nebo, at a later date, was dedicated the Temple of the Seven Lights of Heaven and Earth, with its extensive library composed of clay tablets.

Một ví dụ nổi bật về các vị thần song sinh là hai vị thần Assyria cổ đại, Nebo và vợ ông là Tasmit. Nebo được đồng hoá với Sao Thủy, hành tinh chủ quản Song Tử, và với tư cách thần văn chương cùng mọi hình thức chữ viết, người ta nói rằng ông đã phát minh ra chữ hình nêm. Ông “soi sáng đôi mắt”, còn Tasmit “mở rộng đôi tai”, để người ta có thể thấu hiểu và nghe chữ viết rõ ràng hơn. Về sau, Đền Thờ Bảy Ánh Sáng của Trời và Đất được hiến dâng cho Nebo, cùng một thư viện rộng lớn gồm các phiến đất sét.

The Art of Writing

Nghệ Thuật Viết

Gemini rules the hands, writing and all forms of literature. The orthodox association of this sign with Mercury, planet of mind, suggests that in this age of Gemini the mental faculties were quickened and man was stimulated to give his thoughts concrete form and to experiment with the construction of an alphabet and various scripts.

Song Tử cai quản bàn tay, chữ viết và mọi hình thức văn chương. Mối liên hệ ngoại môn giữa dấu hiệu này với Sao Thủy, hành tinh của thể trí, gợi rằng trong Thời Đại Song Tử, các năng lực trí tuệ được khơi dậy và con người được kích thích để mang tư tưởng của mình vào hình tướng cụ thể, đồng thời thử nghiệm việc xây dựng bảng chữ cái cùng nhiều hệ chữ viết khác nhau.

The Sumerians, an Asiatic people who settled in Mesopotamia at a remote period, are thought to have brought the art of writing with them from their original home in central Asia and to have transmitted it to the Babylonians and other contemporary peoples. Sir B. Wallis Budge says:

Người Sumer, một dân tộc Á châu định cư tại Mesopotamia vào thời xa xưa, được cho là đã mang nghệ thuật viết theo mình từ quê hương nguyên thủy ở Trung Á và truyền lại cho người Babylon cùng các dân tộc đương thời khác. Ông B. Wallis Budge nói:

“The oldest Sumerian documents known to us were written, according to some, in the fourth millennium BC, or according to others in the fifth millennium.”

“Theo một số người, những văn kiện Sumer cổ xưa nhất mà chúng ta biết được viết vào thiên niên kỷ thứ tư trước Công nguyên; theo những người khác, vào thiên niên kỷ thứ năm.”

Some authorities incline to the view that the Phoenicians preceded the Sumerians in the art of writing. In Children of the Sun W.J. Perry says:

Một số học giả nghiêng về quan điểm rằng người Phoenicia đã đi trước người Sumer trong nghệ thuật viết. Trong Những Đứa Con của Mặt Trời, Ông W.J. Perry viết:

“The Phoenicians were apparently the first nation in the Eastern Hemisphere to use a Phonetic alphabet, the characters being regarded as mere signs for sounds. It is a curious fact that at an equally early date we find a phonetic alphabet in Central America among the Mayas of Yucatan, whose traditions ascribe the origin of their civilisation to a land across the sea to the east.”

“Người Phoenicia dường như là dân tộc đầu tiên ở Đông Bán Cầu sử dụng một bảng chữ cái biểu âm, trong đó các ký tự chỉ được xem là những dấu hiệu biểu thị âm thanh. Một sự kiện kỳ lạ là vào một niên đại cũng sớm như vậy, chúng ta tìm thấy một bảng chữ cái biểu âm tại Trung Mỹ trong cộng đồng người Maya ở Yucatan; truyền thống của họ quy nguồn gốc nền văn minh của mình về một vùng đất bên kia biển ở phía đông.”

The fact that certain forms of script and some alphabets originated in the Age of Gemini seems to be well established, but the eagerness to inquire and to invent, characteristic of Gemini, show their effect more clearly in the following two thousand year period, that of the Age of Taurus. The characteristics of Taurus are practical rather than mental and therefore more suited to the prolonged effort of making records than those of the mercurial Gemini who would, if he could, be in two places at once.

Dường như người ta đã xác lập khá vững chắc sự kiện rằng một số dạng chữ viết và bảng chữ cái bắt nguồn từ Thời Đại Song Tử; nhưng lòng háo hức tìm hiểu và phát minh, vốn là đặc trưng của Song Tử, biểu lộ tác động rõ ràng hơn trong giai đoạn hai nghìn năm tiếp theo, tức Thời Đại Kim Ngưu. Những đặc điểm của Kim Ngưu mang tính thực tiễn hơn là trí tuệ, do đó phù hợp hơn với nỗ lực lâu dài để lập thành văn bản so với Song Tử linh hoạt như Sao Thủy, kẻ sẽ có mặt ở hai nơi cùng lúc nếu có thể.

Thus we find that the earliest contemporary records of the Babylonians and Assyrians coincide with the dawn of the age of Taurus. From this time, too, date the famous inscriptions of Menes, the first king of the first historical dynasty of Egypt who recorded the long line of his predecessors whose names till then had been handed down by word of mouth.

Do đó, chúng ta thấy rằng những văn kiện đương thời sớm nhất của người Babylon và Assyria trùng với buổi bình minh của Thời Đại Kim Ngưu. Cũng từ thời điểm này xuất hiện những bản khắc nổi tiếng của Menes, vị vua đầu tiên thuộc triều đại lịch sử đầu tiên của Ai Cập, người đã ghi lại danh sách dài các vị tiền nhiệm mà tên tuổi cho đến lúc ấy chỉ được truyền lại bằng lời nói.

Although historical evidence points to the introduction of writing in the Age of Gemini, between six and eight thousand years ago, it should be remembered that such developments of human ingenuity and progress might well occur many times in the course of the evolutionary process. In the Timaeus of Plato the initiate priests of Egypt explain this to Solon as follows:

Dù bằng chứng lịch sử cho thấy chữ viết được đưa vào sử dụng trong Thời Đại Song Tử, cách đây từ sáu đến tám nghìn năm, cần nhớ rằng những sự phát triển về tài khéo léo và tiến bộ của con người như vậy rất có thể đã xảy ra nhiều lần trong tiến trình tiến hoá. Trong tác phẩm Timaeus của Plato, các tư tế điểm đạo đồ Ai Cập giải thích điều này cho Solon như sau:

“Certain perturbations in the movement of heavenly bodies occur periodically, causing the destruction of millions of lives. After these cataclysms mankind lapses again into barbarity and forgets the art of writing. The Athenians, for instance, remember one world deluge, whilst there have been several. You do not know even your own origin, and you ignore that you are a feeble offshoot of a great and famous race.”

“Một số nhiễu loạn trong chuyển động của các thiên thể xảy ra theo chu kỳ, gây nên sự hủy diệt của hàng triệu sinh mạng. Sau những đại biến ấy, nhân loại lại rơi vào trạng thái man rợ và quên mất nghệ thuật viết. Chẳng hạn, người Athens chỉ nhớ một trận đại hồng thủy toàn cầu, trong khi đã có nhiều trận như vậy. Các ngươi thậm chí không biết nguồn gốc của chính mình và không biết rằng mình chỉ là một nhánh yếu ớt của một nhân loại vĩ đại và lừng danh.”

Rama and the Ramayana

Rama và Trường Ca Rama

In each month of the Great Year spiritual evolution has been quickened and redirected by the teaching of the great initiates of the true wisdom religion. In many cases the names of those who have performed this service for humanity are lost to us. In others posterity has been more fortunate and sacred traditions have preserved memory.

Trong mỗi tháng của Đại Niên, sự tiến hoá tinh thần đều được thúc đẩy và chuyển hướng qua giáo huấn của các điểm đạo đồ vĩ đại thuộc tôn giáo minh triết chân chính. Trong nhiều trường hợp, tên tuổi của những vị đã thực hiện sự phụng sự này cho nhân loại không còn được chúng ta biết đến. Trong những trường hợp khác, hậu thế may mắn hơn và các truyền thống thiêng liêng đã lưu giữ ký ức về họ.

A wealth of legend surrounds the life and words of Rama Chundra, whose gospel remains to this day a guiding influence in Indian thought. In ages long past, Rama, an incarnation of Vishnu, the all pervading supreme creator, is said to have lived and ruled as king on earth.

Một kho tàng truyền thuyết phong phú bao quanh cuộc đời và những lời dạy của Rama Chundra, người có phúc âm cho đến ngày nay vẫn là một ảnh hưởng dẫn dắt tư tưởng Ấn Độ. Vào những thời đại xa xưa, Rama, một hiện thân của Vishnu, Đấng Sáng Tạo Tối Cao thấm nhuần vạn vật, được cho là đã sống và cai trị trên trần thế với tư cách một vị vua.

The Ramayana, which made his name immortal, was written in its present form in the fourth century BC, yet there is no doubt that it was an Indian epic orally taught and transmitted hundreds—perhaps thousands—of years earlier. Thus it contains valuable records of religious and social life in periods for which no historical records are available. It also suggests that Rama was an actual and not, as first thought, a mythical character. For in this poem the planetary positions, as they are said to have been at the time of his birth, are given in detail. This constitutes the first personal horoscope in existence and establishes the fact that the person for whom it was made was born at some time prior to 3102 BC, probably somewhere about 5000 BC.

Tác phẩm Trường Ca Rama, khiến tên tuổi Ngài trở nên bất tử, được viết thành hình thức hiện nay vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên; tuy nhiên, không còn nghi ngờ gì rằng đó là một thiên sử thi Ấn Độ đã được truyền dạy bằng lời nói từ hàng trăm, có lẽ hàng nghìn năm trước. Vì vậy, tác phẩm chứa đựng những ghi chép quý giá về đời sống tôn giáo và xã hội trong những thời kỳ không còn văn kiện lịch sử. Nó cũng gợi rằng Rama là một nhân vật có thật, chứ không phải nhân vật thần thoại như người ta nghĩ lúc đầu. Trong trường ca này, vị trí các hành tinh được cho là hiện hữu vào lúc Ngài sinh ra được trình bày chi tiết. Đây là lá số chiêm tinh cá nhân đầu tiên còn tồn tại và xác lập rằng người được lập lá số đã sinh vào một thời điểm trước năm 3102 trước Công nguyên, có lẽ vào khoảng năm 5000 trước Công nguyên.

Duality is the theme of the Ramayana which describes the struggle for victory between the forces of good and evil. Rama, perfect in virtue, courage, benevolence, wisdom and charity, tells his twin brother:

Nhị nguyên là chủ đề của Trường Ca Rama, mô tả cuộc đấu tranh giành chiến thắng giữa các mãnh lực thiện và ác. Rama, hoàn hảo về đức hạnh, lòng can đảm, sự nhân từ, minh triết và lòng bác ái, nói với người em song sinh:

“Do thou rule the earth with me, for this thy good fortune no less than mine. My life and my kingdom I desire only because of thee.”

“Hãy cùng ta cai trị thế gian, vì vận may này thuộc về hiền đệ chẳng kém gì ta. Ta mong muốn đời sống và vương quốc của mình chỉ vì hiền đệ.”

Many animals, endowed with miraculous faculties, play their part in the drama that is unfolded. Outstanding among them all is Hanuman, the Monkey God, “Whose feats are great and his wisdom unrivalled.” Hanuman is also the “Wind God’s son, to whom all places are equally accessible.” The qualities attributed to him—quick wit, resourcefulness and ingenuity—are of Gemini, the dual sign associated, in its positive and negative aspects, with the wise ape or the chattering monkey. The Sister Nivedita in Myths of the Hindus and Buddhists writes:

Nhiều loài vật được phú cho những năng lực kỳ diệu đã góp phần vào vở kịch đang khai mở. Nổi bật hơn tất cả là Hanuman, Thần Khỉ, “Đấng có những kỳ công vĩ đại và minh triết vô song”. Hanuman cũng là “con trai của Thần Gió, người có thể đến mọi nơi dễ dàng như nhau”. Những phẩm tính được gán cho Ngài—trí thông minh nhanh nhạy, tài xoay xở và sự khéo léo—thuộc Song Tử, dấu hiệu kép liên hệ trong các phương diện tích cực và tiêu cực với loài vượn khôn ngoan hoặc con khỉ huyên thuyên. Nữ tu Nivedita viết trong Thần Thoại của Người Ấn Độ và Phật Tử:

“Hanuman must have been already ancient when the Ramayana was first conceived. The depth and seriousness assigned to him in his great poem assure him of unfading immortality. Whatever may have been his age or origin Hanuman is captured and placed by the Ramayana amongst religious conceptions of the first import.

“Hanuman hẳn đã rất cổ xưa khi Trường Ca Rama lần đầu được hình thành. Chiều sâu và tính nghiêm túc mà thiên trường ca vĩ đại dành cho Ngài bảo đảm cho Ngài sự bất tử không phai mờ. Bất kể niên đại hay nguồn gốc của Hanuman là gì, Trường Ca Rama đã nắm bắt và đặt Ngài vào hàng ngũ những quan niệm tôn giáo có tầm quan trọng bậc nhất.

When he bows to touch the foot of Rama, that prince who is also a divine incarnation, we witness the meeting point of early nature-worship with the great systems that are to sway the future of religion.

Khi Ngài cúi xuống chạm vào chân Rama, vị hoàng tử cũng là một hiện thân thiêng liêng, chúng ta chứng kiến điểm gặp gỡ giữa sự thờ phụng thiên nhiên thuở sơ khai với những hệ thống vĩ đại sẽ chi phối tương lai của tôn giáo.

But we must not forget that in this one figure those early systems have achieved a spiritual unity and made a lasting contribution to the idealism of man.”

Nhưng chúng ta không được quên rằng trong hình tượng duy nhất này, những hệ thống sơ khai ấy đã đạt được sự hợp nhất tinh thần và đóng góp lâu dài cho chủ nghĩa lý tưởng của con người.”

Transition From Gemini to Taurus – Chuyển tiếp từ Song Tử sang Kim Ngưu

In the transition period between the Ages of Gemini and Taurus we should expect to find evidence of critical events. One such event may well have been the series of floods which inundated Mesopotamia about this time:

Trong thời kỳ chuyển tiếp giữa các Kỷ nguyên Song Tử và Kim Ngưu, chúng ta nên kỳ vọng tìm thấy bằng chứng về những biến cố trọng đại. Một biến cố như thế rất có thể là chuỗi trận lụt đã nhấn chìm vùng Lưỡng Hà vào khoảng thời gian này:

“It is not therefore surprising that there should have been a flood about 4200 BC and that this should have wiped out a population living in reed huts on the river margin. What is surprising is that these people had been living unscathed on such sites for a period of eight hundred years.

“Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi một trận lụt xảy ra vào khoảng năm 4200 trước Công nguyên và quét sạch một cộng đồng sống trong những túp lều sậy ven sông. Điều đáng ngạc nhiên là những người này đã sống bình yên tại những nơi ấy suốt tám trăm năm.

During the following seven centuries from 4200 – 3400 BC there occurred at least three floods . . . If at later times there were fewer it was probably because the Sumerians had embanked the river to restrain the waters. How are we to account for the absence of disastrous inundations between 5000 and 4200 BC?”

Trong bảy thế kỷ tiếp theo, từ năm 4200 đến 3400 trước Công nguyên, ít nhất ba trận lụt đã xảy ra... Nếu về sau có ít trận lụt hơn, có lẽ là vì người Sumer đã đắp đê để kiềm chế dòng nước. Làm thế nào chúng ta giải thích được việc không có những trận ngập lụt thảm khốc nào từ năm 5000 đến 4200 trước Công nguyên?”

Legends of great floods are universal and for the most part have their origin in the submergence of Atlantis. In Comparison with these gigantic inundations the floods that swept away the peoples in the Euphrates and Tigris valleys seem insignificant. Yet it is probable that they had a profound affect on later cultural development among the peoples of Western Asia and on the Mediterranean countries. Since the general flow of migration was westwards the survivors would have travelled in that direction, and the effect of their invasion would have been felt far from the original scene of the catastrophe.

Các truyền thuyết về những trận đại hồng thủy có mặt khắp nơi và phần lớn bắt nguồn từ sự chìm xuống của Atlantis. So với những trận ngập lụt khổng lồ ấy, các trận lụt quét sạch những dân tộc trong thung lũng sông Euphrates và Tigris dường như không đáng kể. Tuy nhiên, có lẽ chúng đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển văn hóa về sau của các dân tộc Tây Á và các quốc gia vùng Địa Trung Hải. Vì dòng di cư nói chung hướng về phía tây, những người sống sót hẳn đã đi theo hướng đó, và ảnh hưởng từ cuộc xâm nhập của họ hẳn đã lan đến những nơi rất xa hiện trường ban đầu của thảm họa.

GEMINI RISING: GEMINI on the ASCENDANT – SONG TỬ MỌC: SONG TỬ tại ĐIỂM MỌC

The eyes are the window of the soul.—Proverb.

Đôi mắt là cửa sổ của linh hồn.—Tục ngữ.

The Sun and its position in the horoscope indicates the nature of the personality and affects its behaviour. But in esoteric astrology the preponderance of the personality is reduced and the Soul (or Higher Self) is considered much more important. The Higher Self is represented in the horoscope by the ‘rising sign.’

Mặt Trời và vị trí của nó trong lá số chiêm tinh biểu thị bản chất của phàm ngã và ảnh hưởng đến hành vi của phàm ngã. Nhưng trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, ưu thế của phàm nhân giảm đi, còn Linh hồn, hay Bản Ngã Cao Siêu, được xem là quan trọng hơn nhiều. Bản Ngã Cao Siêu được biểu thị trong lá số chiêm tinh qua “dấu hiệu mọc”.

The rising sign, also called the ascendant, refers to the sign of the zodiac which is on the eastern horizon at the moment of birth. A horoscope reveals it immediately at ‘nine o’clock’ on the chart. You don’t have to be born in Gemini to have this sign rising; in fact, you have one chance in twelve. Because the sign on the ascendant changes every two hours as the earth rotates, Gemini is rising for approximately two hours of every day. Hence it is important to know your time of birth before you can find out what rising sign you have and its significance.

Dấu hiệu mọc, còn gọi là điểm mọc, chỉ dấu hiệu hoàng đạo nằm trên chân trời phía đông vào thời điểm sinh. Lá số chiêm tinh cho thấy nó ngay tại vị trí “chín giờ”. Các bạn không nhất thiết phải sinh dưới dấu hiệu Song Tử mới có dấu hiệu này mọc; thực tế, xác suất là một trên mười hai. Vì dấu hiệu tại điểm mọc thay đổi hai giờ một lần khi Trái Đất tự quay, Song Tử mọc trong khoảng hai giờ mỗi ngày. Vì vậy, điều quan trọng là phải biết giờ sinh trước khi có thể xác định dấu hiệu mọc của mình và thâm nghĩa của nó.

In the new astrology the rising sign is of prime importance and is held to be of much greater significance than that of the Sun sign. Indeed, the whole science of astrology is moving towards emphasising the ascendant, in the light of recent scientific research indicating that rising signs, more than anything, give a degree of scientific corroboration to astrology.

Trong nền chiêm tinh học mới, dấu hiệu mọc có tầm quan trọng hàng đầu và được xem là có thâm nghĩa lớn hơn nhiều so với dấu hiệu Mặt Trời. Thật vậy, toàn bộ khoa học chiêm tinh đang tiến tới việc nhấn mạnh điểm mọc, dưới ánh sáng của những nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy rằng, hơn bất cứ yếu tố nào khác, các dấu hiệu mọc đem lại một mức độ chứng thực khoa học cho chiêm tinh học.

The Sun sign and rising sign are usually different, although they can be the same if the individual is born near the time of dawn. It may happen that those who are born with Gemini as their Sun sign will also have Gemini Rising. This means that both the Sun and Gemini were on the horizon at the time of birth. This is a very powerful configuration, and it will influence the whole chart. It will re-emphasise all the Geminian qualities in your life and will also give strong direction to those aspects of your existence which are spiritual.

Dấu hiệu Mặt Trời và dấu hiệu mọc thường khác nhau, mặc dù chúng có thể trùng nhau nếu một người sinh gần lúc bình minh. Những người sinh với Song Tử là dấu hiệu Mặt Trời cũng có thể có Song Tử mọc. Điều này có nghĩa là cả Mặt Trời lẫn Song Tử đều ở trên đường chân trời vào thời điểm sinh. Đây là một cấu hình rất mạnh và sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ lá số chiêm tinh. Nó sẽ nhấn mạnh lại mọi phẩm tính Song Tử trong đời sống các bạn, đồng thời định hướng mạnh mẽ cho những phương diện tinh thần trong sự hiện tồn của các bạn.

The rising sign drives the personality towards its spiritual goal and it moderates the efforts of the personality when the goal is other than spiritual. It also indicates one’s deepest potential which normally may never surface unless this sign is activated or already powerful. In advanced astrology, it is possible to ascertain the Soul’s Purpose in incarnation, through an examination of the rising sign and the aspects which are formed to it. Indeed, when a person is treading the Path of spiritual unfoldment, one should, more correctly take his rising sign, the place of the soul or Higher Self, as representing him, rather than his Sun sign.

Dấu hiệu mọc thúc đẩy phàm ngã hướng đến mục tiêu tinh thần và điều hòa các nỗ lực của phàm ngã khi mục tiêu không mang tính tinh thần. Nó cũng biểu thị tiềm năng sâu xa nhất của một người, vốn thông thường có thể không bao giờ xuất lộ trừ phi dấu hiệu này được kích hoạt hoặc vốn đã mạnh. Trong chiêm tinh học cao cấp, qua việc xem xét dấu hiệu mọc và các góc hợp hình thành với nó, người ta có thể xác định Thiên Ý của Linh hồn trong kiếp lâm phàm. Thật vậy, khi một người đang bước trên Con Đường khai mở tinh thần, đúng hơn nên lấy dấu hiệu mọc của y, vị trí của linh hồn hay Bản Ngã Cao Siêu, làm yếu tố đại diện cho y thay vì dấu hiệu Mặt Trời.

With Gemini Rising (on the ascendant) we should always consider the fact that the nature of man is not singular but dual. Gemini Rising conveys the very extremes of duality that can produce a personality that is either split and oscillating between two components or so nicely integrated as to give a third and unifying component. The fluctuating qualities of the sign, especially when the ascendant is afflicted, makes it difficult sometimes for these types to maintain relevance.

Với Song Tử mọc tại điểm mọc, chúng ta phải luôn xét đến sự kiện rằng bản chất con người không đơn nhất mà mang tính kép. Song Tử mọc truyền tải chính những cực điểm của nhị nguyên, có thể tạo nên một phàm ngã hoặc bị phân đôi và dao động giữa hai thành phần, hoặc được tích hợp hài hòa đến mức hình thành một thành phần thứ ba có tính hợp nhất. Các phẩm tính dao động của dấu hiệu này, đặc biệt khi điểm mọc chịu góc hợp bất lợi, đôi khi khiến những người thuộc kiểu này khó duy trì sự liên quan.

Those born in Gemini can be expert and extremely dextrous drivers of automobiles, but they have alarming propensities towards irrelevance in their driving that can unnerve passengers concerned for their own safety. Whilst driving, they will fiddle about with cigarette lighters, radio knobs, glove compartments, etc., frequently turning their heads to observe the distracting phenomena of the landscape or to direct their gaze at whoever they are talking to. Such behaviour, irrelevant to the central theme of maintaining the vehicle safely on a specified course, can also extend into the daily lives of those with Gemini Rising.

Những người sinh dưới dấu hiệu Song Tử có thể là các tài xế ô tô thành thạo và vô cùng khéo léo, nhưng họ có khuynh hướng đáng ngại là làm những việc không liên quan trong lúc lái xe, khiến các hành khách lo cho sự an toàn của mình phải căng thẳng. Khi lái xe, họ nghịch bật lửa, núm radio, ngăn đựng đồ, v.v., thường xuyên quay đầu quan sát những cảnh vật gây xao lãng hoặc nhìn người đang trò chuyện với mình. Hành vi không liên quan đến nhiệm vụ chính là giữ cho xe an toàn trên một lộ trình xác định như vậy cũng có thể lan sang đời sống hằng ngày của những người có Song Tử mọc.

A plea may be entered here for existentialism, with its emphasis on personal freedom and choice. We are all different from moment to moment in personality outlook. We all oscillate in personality qualities over a wide range, modified second by second through the intrusions of the time and space environment. For the great mass of mankind, the mind is a fluctuating stream of thoughts in the grip of the emotional body, being directed constantly as a helpless instrument towards the implementing of the drives, urges and libidinous promptings of the astral body. Sometimes the mind is sluggish even in the services that it provides to that astral authority.

Ở đây có thể biện hộ cho chủ nghĩa hiện sinh, vốn nhấn mạnh tự do và sự lựa chọn cá nhân. Xét về quan điểm của phàm ngã, tất cả chúng ta đều khác đi trong từng khoảnh khắc. Các phẩm tính phàm ngã của chúng ta đều dao động trên một phạm vi rộng, biến đổi từng giây do sự xâm nhập của môi trường thời gian và không gian. Đối với đại đa số nhân loại, thể trí là một dòng tư tưởng dao động nằm trong sự kìm giữ của thể cảm xúc, liên tục bị điều khiển như một công cụ bất lực nhằm thực hiện những thôi thúc, xung lực và sự kích động dục tính của thể cảm dục. Đôi khi thể trí trì trệ ngay cả trong những công việc mà nó thực hiện cho quyền lực cảm dục ấy.

In those with Gemini Rising the mind is highly energised and cavorts and displays with effervescence and wantonness. In some, especially those who are treading the path of self-unfoldment, this rising sign can arouse intense conflicts between the lower and Higher Self, as in that very necessary duality that was fought out by Arjuna on the battle field of Kuruksetra. Even in some spiritually mature and comparatively rounded-out individuals, some alarming discrepancies in behaviour, attire or personal idiosyncrasies are evident to a careful observer.

Ở những người có Song Tử mọc, thể trí được tiếp sinh lực mạnh mẽ, nhảy nhót và phô diễn với vẻ sôi nổi, phóng túng. Ở một số người, đặc biệt những ai đang bước trên con đường tự khai mở, dấu hiệu mọc này có thể khơi dậy những xung đột dữ dội giữa phàm ngã và Bản Ngã Cao Siêu, như tính nhị nguyên vô cùng cần thiết mà Arjuna đã chiến đấu để giải quyết trên chiến trường Kurukshetra. Ngay cả ở một số người trưởng thành về tinh thần và tương đối toàn diện, một nhà quan sát cẩn trọng vẫn có thể nhận thấy những khác biệt đáng ngại trong hành vi, trang phục hoặc các đặc tính cá nhân.

Where there is co-ordination of the dualities in anyone, the symbol of a catamaran with a single sail unfurled, being driven by a fast wind (Gemini is an air sign), is appropriate. The author once worked for a printing company that had this symbol and which constituted the blending of two separate printing companies that had merged. If I remember correctly, their unwieldy name—The Electric Press and Commercial Printing Company—gave an indication of their diverse and sometimes irrelevant activities.

Khi các nhị nguyên trong một người được phối hợp, hình tượng thích hợp là một chiếc thuyền hai thân giương một cánh buồm duy nhất, được gió mạnh đẩy đi, vì Song Tử là một dấu hiệu hành khí. Tác giả từng làm việc cho một công ty in dùng biểu tượng này, vốn thể hiện sự kết hợp của hai công ty in riêng biệt đã sáp nhập. Nếu tôi nhớ đúng, cái tên dài dòng của họ—Công ty In Điện và In Thương mại—cho thấy các hoạt động đa dạng và đôi khi chẳng liên quan gì với nhau.

Many subtle meanings and even inflections of speech give clues to the qualities of Gemini Rising. A federal reserve bank conveys the suggestion of two main banks and, indeed, ‘reserve’ implies an alternative whose assets can rise into prominence if called upon. A statement like “Is anybody listening?” is another example. Here we have the first and very objective person posing the question and, again, a less visible, more intangible (reserve) subjective listener. Taken to its highest application, this poses the objective personality and the subjective higher (inner) Self. The more objective entity is active in his speaking, and the more subjective is passive in his hearing. The disciple should be the blend of both.

Nhiều thâm nghĩa tinh tế, thậm chí cả ngữ điệu, cung cấp manh mối về các phẩm tính của Song Tử mọc. Một ngân hàng dự trữ liên bang gợi ý về hai ngân hàng chính, và quả thật, “dự trữ” hàm ý một phương án thay thế mà tài sản của nó có thể vươn lên vị trí nổi bật nếu được huy động. Một câu như “Có ai đang lắng nghe không?” là một ví dụ khác. Ở đây, chúng ta có người thứ nhất rất khách quan đang đặt câu hỏi, và một người nghe chủ quan, ít hữu hình, khó nắm bắt hơn, đóng vai trò dự trữ. Khi được áp dụng ở cấp độ cao nhất, điều này đặt phàm ngã khách quan bên cạnh Bản Ngã Cao Siêu chủ quan ở bên trong. Thực thể khách quan hơn thì chủ động trong việc nói, còn phần chủ quan hơn thì thụ động trong việc nghe. Đệ tử phải là sự hòa hợp của cả hai.

Going further with the use of symbols, we could pose the idea of a short journey in which a backseat driver occasionally interjects with advice. In the dream-life, the car is normally representative of the personality, and the driver of the soul. The implication here would be that there is a distracting and unnecessary factor in the life that could be interfering with the soul’s purpose. Gemini Rising often presents rising or potential conflicts within the native. These can also be within the makeup of those about him, or between himself and someone that has a connection with him, like a relative, a peer or especially a brother, a sister, or a twin. There can also be the conflict between a life of materialism and that of the spiritual path:

Tiếp tục sử dụng biểu tượng, chúng ta có thể nêu ý tưởng về một hành trình ngắn, trong đó một người ngồi ghế sau thỉnh thoảng xen vào đưa lời khuyên cho tài xế. Trong đời sống giấc mơ, chiếc xe thường đại diện cho phàm ngã, còn người lái đại diện cho linh hồn. Hàm ý ở đây là trong đời sống có một yếu tố gây xao lãng và không cần thiết, có thể cản trở Thiên Ý của linh hồn. Song Tử mọc thường làm xuất hiện những xung đột đang trỗi dậy hoặc tiềm tàng bên trong đương số. Chúng cũng có thể nằm trong cấu tạo của những người quanh y, hoặc giữa y với người có mối liên hệ với y, chẳng hạn một người họ hàng, người đồng trang lứa, đặc biệt là anh chị em ruột hay người song sinh. Cũng có thể có xung đột giữa đời sống duy vật và đời sống của con đường tinh thần:

No man can serve two masters . . .

Không ai có thể phụng sự hai chủ...

Ye cannot serve God and mammon.

Các ngươi không thể phụng sự Thượng đế lẫn tiền tài.

—Bible, St. Matthew, 24

—Kinh Thánh, Thánh Matthew, 24

In examining the structure of the archetype of wholeness, Carl Jung related its expression to certain basic patterns like syzygy (the conjunction of opposites), which are known only too well in astrology, and to signs with a double character like Gemini, wherein the oscillation between poles is maintained in a dynamic equilibrium that produces a third unifying factor, often extremely creative.

Khi khảo sát cấu trúc của nguyên mẫu toàn thể, Carl Jung liên hệ sự biểu hiện của nó với một số mô hình căn bản như sự kết đôi, tức sự đồng vị của các đối cực, vốn quá quen thuộc trong chiêm tinh học, và với những dấu hiệu mang tính chất kép như Song Tử, trong đó sự dao động giữa các cực được duy trì trong một thế cân bằng động, tạo ra một yếu tố hợp nhất thứ ba, thường có tính sáng tạo phi thường.

The ascendant rules the number one, and things that are one, so with this sign on the ascendant we look for the capacity to realise that two beings can be as one. We are, in a sense, two beings; we have somebody as part of us, an inner being who is truly with us and complements us. This being is like an elder brother; he is everything that we are hopeless in, everything that we fail in. He encourages and comforts us when we are down. He is someone who will fill in our memory when it is missing or has lapsed. Someone we can consult with, when things are difficult. He infiltrates us completely, knows our thoughts, our weaknesses, our strengths, everything about us. Such a being exists. That we can’t recognise him, is partly our problem. It is usually the problem of Gemini, especially when it is rising.

Điểm mọc cai quản số một và những gì là một; vì vậy, khi dấu hiệu này nằm tại điểm mọc, chúng ta tìm kiếm khả năng nhận ra rằng hai sinh linh có thể trở thành một. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta là hai sinh linh; chúng ta có một người nào đó là một phần của mình, một sinh linh bên trong thực sự ở cùng và bổ túc cho chúng ta. Sinh linh này giống như một Huynh Trưởng; Ngài là mọi điều mà chúng ta bất lực, mọi điều mà chúng ta thất bại. Ngài khích lệ và an ủi chúng ta khi chúng ta suy sụp. Ngài bổ khuyết ký ức của chúng ta khi nó thiếu hụt hoặc suy giảm. Ngài là người chúng ta có thể tham vấn khi gặp khó khăn. Ngài thấm nhập hoàn toàn vào chúng ta, biết tư tưởng, điểm yếu, điểm mạnh và mọi điều về chúng ta. Một Sinh Mệnh như thế thực sự hiện tồn. Việc chúng ta không thể nhận ra Ngài phần nào chính là vấn đề của mình. Đây thường là vấn đề của Song Tử, đặc biệt khi nó mọc.

In marriage, we learn to practice the understanding of a ‘second part’ of ourselves, a part that can be supportive. In the heterosexual stage of the development of mankind this is a learning to supplement our vacancies or inadequacies with a complementary being. This is a fundamental feature of marriage, not only in the mental and emotional realms, but also in the creative act on the physical level.

Trong hôn nhân, chúng ta học cách thực hành sự thấu hiểu đối với “phần thứ hai” của chính mình, một phần có thể nâng đỡ chúng ta. Ở giai đoạn dị tính trong sự phát triển của nhân loại, đây là việc học cách bổ sung những chỗ trống hoặc khiếm khuyết của chúng ta bằng một sinh linh tương hỗ. Đây là đặc điểm căn bản của hôn nhân, không chỉ trong các lĩnh vực trí tuệ và cảm xúc mà còn trong hành vi sáng tạo ở cấp độ hồng trần.

Gemini rules the hands, and this ascendant related to Saturn (which rules long periods of time) rules the hands of the clock and gives a more accurate pointer to particular times of the day when the long hand and the short hand of the clock coincide. Apart from noon and midnight, the times that are suggested by the bringing together of the two hands are, for instance, 2.10, 3.17, 4.20, etc. The inference of such a symbol would be the periodic and rhythmic merging of a duality. Meditation is such an activity, in which rhythm is very important—it is best to seat oneself at the same hour each day—and where the opportunity is presented for the personality and inner self to come together.

Song Tử cai quản đôi tay, và điểm mọc này, khi liên hệ với Sao Thổ vốn cai quản những khoảng thời gian dài, cai quản các kim đồng hồ và cung cấp chỉ dấu chính xác hơn về những thời điểm cụ thể trong ngày khi kim dài và kim ngắn trùng nhau. Ngoài chính ngọ và nửa đêm, những thời điểm do sự gặp nhau của hai kim gợi ra chẳng hạn là 2 giờ 10 phút, 3 giờ 17 phút, 4 giờ 20 phút, v.v. Hàm ý của biểu tượng này là sự hòa nhập có chu kỳ và nhịp nhàng của một nhị nguyên. Tham thiền là một hoạt động như thế, trong đó nhịp điệu rất quan trọng—tốt nhất nên ngồi tham thiền vào cùng một giờ mỗi ngày—và cơ hội được tạo ra để phàm ngã cùng chân ngã bên trong hội tụ.

The most spiritually advanced Gemini always has the possibility of a journey, via the road of the Antakarana, to the inner Self, and the journey is usually undertaken through the processes of meditation. In a rare few, however, the soul itself reaches down through the same Antakarana, plus the sutratmas (which link the higher triad with the lower), and the Fire of Venus (Hamsa the Swan) can be conveyed between the two.

Người Song Tử tiến bộ nhất về tinh thần luôn có khả năng thực hiện một hành trình qua con đường antahkarana đến chân ngã bên trong, và hành trình này thường được tiến hành qua các tiến trình tham thiền. Tuy nhiên, ở một số ít người hiếm hoi, chính linh hồn vươn xuống qua cùng antahkarana ấy, cộng với các sinh mệnh tuyến nối Tam Nguyên Tinh Thần cao với phần thấp, và Lửa của Sao Kim, Hamsa Thiên Nga, có thể được truyền dẫn giữa hai bên.

If Sagittarius Rising conveys the impression of “There!”, then Gemini Rising indicates “Here!” or “Nearby”; e.g., “There’s a churchyard nearby. I will show you. Here it is!” The simple sentences convey the sense of two people, something that is nearby, and a journey. Far too often, the inexperienced astrologer misses the subtle implication of these dualities and narrow separations.

Nếu Nhân Mã mọc truyền tải ấn tượng “Ở đằng kia!”, thì Song Tử mọc biểu thị “Ở đây!” hoặc “Gần đây”; chẳng hạn: “Gần đây có một nghĩa trang nhà thờ. Tôi sẽ chỉ cho các bạn. Nó ở đây!” Những câu đơn giản này truyền tải ý niệm về hai người, một điều gì đó ở gần và một hành trình. Người mới học chiêm tinh thường bỏ lỡ hàm ý tinh tế của những nhị nguyên và khoảng cách nhỏ hẹp này.

This ascendant produces unexpected journeys, arising sometimes from quite inconsequential events, or journeys that are undertaken without due consideration. For many Americans (America has a personality on the Sixth Ray of Devotion and Idealism), these journeys may frequently be made by air and at the behest of some emotional urge, using the mental faculties mercilessly to obtain satisfaction of the drives of the emotional body.

Điểm mọc này tạo ra những hành trình bất ngờ, đôi khi phát sinh từ các biến cố hoàn toàn không đáng kể, hoặc những hành trình được thực hiện mà không suy xét thỏa đáng. Đối với nhiều người Mỹ—nước Mỹ có phàm ngã thuộc Cung Sáu của Sùng tín và Chủ nghĩa Lý tưởng—những hành trình này thường được thực hiện bằng đường hàng không theo sự thôi thúc của một xung lực cảm xúc nào đó, trong khi họ khai thác không thương tiếc các năng lực trí tuệ để thỏa mãn những thôi thúc của thể cảm xúc.

Gemini Rising gives great dexterity to creative (first house) work so that paintings and sketches can be completed with startling rapidity. A personnel manger would do well to look carefully into the capacity of any applicant with Gemini Rising to retain employment at one firm for any length of time. The character of Gemini Rising in the more lowly types may be shiftlessness; in more mature individuals, shifting (a rolling stone); and in disciples, the rapid passing from one guru to another or from one point of attraction to another.

Song Tử mọc đem lại sự khéo léo lớn lao cho công việc sáng tạo thuộc nhà một, nhờ đó tranh vẽ và phác thảo có thể hoàn tất với tốc độ đáng kinh ngạc. Một quản lý nhân sự nên xem xét kỹ khả năng duy trì công việc lâu dài tại một công ty của bất kỳ ứng viên nào có Song Tử mọc. Ở những người thuộc kiểu thấp, đặc tính của Song Tử mọc có thể là tính vô trách nhiệm; ở những người trưởng thành hơn là sự thay đổi liên tục, như viên đá lăn; còn ở các đệ tử là nhanh chóng chuyển từ vị đạo sư này sang vị khác hoặc từ một điểm thu hút này sang điểm khác.

With Gemini Rising, unusual conditions involving communication may occur in which there are misunderstandings of dialect, inflections of speech, colloquialisms, and in which language barriers may play a part. This very frequently resolves itself into a matter of semantics. For the disciple, this may imply difficulties in understanding the abstruse language of the guru, especially if he takes the part of the Higher Self or is new to the district. As an example, there may be a difference of interpreting the word ‘semester’, which in some regions (and dictionaries) is regarded specifically as a period of study of four and a half months when it truly means a period of six months.

Với Song Tử mọc, có thể xảy ra những hoàn cảnh bất thường liên quan đến giao tiếp, trong đó người ta hiểu lầm phương ngữ, ngữ điệu, thành ngữ thông tục và các rào cản ngôn ngữ cũng có thể góp phần. Điều này rất thường trở thành một vấn đề ngữ nghĩa. Đối với đệ tử, nó có thể hàm ý những khó khăn trong việc thấu hiểu ngôn ngữ thâm áo của vị đạo sư, đặc biệt nếu vị ấy đóng vai trò Bản Ngã Cao Siêu hoặc mới đến địa phương. Chẳng hạn, có thể có sự khác biệt trong cách diễn giải từ “học kỳ”, vốn tại một số vùng và trong một số từ điển được xem cụ thể là thời gian học kéo dài bốn tháng rưỡi, trong khi ý nghĩa thực sự là sáu tháng.

The sign of Gemini on the ascendant can imply completely symbolic meanings which act like a numinostic energy to the outer events. The proverb “An eye for an eye and a tooth for a tooth” is a good example of this.

Dấu hiệu Song Tử tại điểm mọc có thể hàm ý những ý nghĩa hoàn toàn mang tính biểu tượng, tác động như một năng lượng thiêng nhiệm lên các biến cố bên ngoài. Tục ngữ “Mắt đền mắt, răng đền răng” là một ví dụ điển hình.

Gemini Rising often displays a duality in more obvious ways. It implies, for instance, two kinds of hair, the natural and that of the wig, all worn concurrently; or an earring which conveys duality through its being passed through a pierced earlobe; or there may be a false eye or an artificial limb.

Song Tử mọc thường biểu lộ nhị nguyên theo những cách rõ ràng hơn. Chẳng hạn, nó hàm ý hai loại tóc được dùng đồng thời: tóc tự nhiên và tóc giả; hoặc một chiếc khuyên tai truyền tải tính nhị nguyên qua việc xuyên qua dái tai đã bấm lỗ; hoặc có thể là mắt giả hay một chi giả.

Anatole France was born with Gemini Rising and Venus conjunct the ascendant. Many of the events of his life read like the details of the qualities associated with Gemini Rising:

Anatole France sinh ra với Song Tử mọc và Sao Kim đồng vị điểm mọc. Nhiều biến cố trong đời ông giống như những mô tả chi tiết về các phẩm tính gắn với Song Tử mọc:

• He was a refined artist.

• Ông là một nghệ sĩ tinh tế.

• “The ideal Frenchmen of letters.”

• “Văn nhân Pháp lý tưởng.”

• Awarded the Nobel Prize for literature.

• Được trao Giải Nobel Văn học.

• Son of a bookseller, he spent most of his life around books.

• Là con trai của một người bán sách, ông dành phần lớn cuộc đời giữa sách vở.

• He devoted his entire life to literature.

• Ông hiến trọn đời mình cho văn chương.

• He revived the classical tradition in literature.

• Ông phục hưng truyền thống cổ điển trong văn học.

• His liaison with Madame Caillavet inspired the novel Thais.

• Mối tình của ông với Bà Caillavet đã truyền cảm hứng cho tiểu thuyết Thais.

• Attacked both by traditionalists and by the literary avant-garde.

• Ông bị cả những người theo truyền thống lẫn giới văn chương tiên phong công kích.

• He was a human being, as well a literary sage.

• Ông vừa là một con người, vừa là một hiền triết văn chương.

Symbols for Gemini Rising: – Các biểu tượng của Song Tử mọc:

• School children skipping, hopping, jumping about in a lively way.

• Học sinh nhảy dây, nhảy lò cò và tung tăng một cách sinh động.

• ‘Girls and boys come out to play.’

• “Các cô bé và cậu bé ra ngoài chơi.”

• Bicycles.

• Xe đạp.

• Indigo blue.

• Màu xanh chàm.

• Fast-moving traffic.

• Dòng xe cộ di chuyển nhanh.

Key Thoughts for Gemini Rising – Những tư tưởng chủ yếu về Song Tử mọc

• Unify your dual nature—soul and personality. (Man is a blending of two kingdoms—see Anthropogenesis by the author)

• Hãy hợp nhất bản chất kép của các bạn—linh hồn và phàm ngã. Con người là sự hòa hợp của hai giới—xem tác phẩm Sự Phát Sinh Nhân Loại của tác giả.

• Use your agility of mind to become a spiritual gymnast, moving with ease between two worlds. Learn to live in both worlds more.

• Hãy dùng sự linh hoạt của trí tuệ để trở thành một vận động viên tinh thần, di chuyển dễ dàng giữa hai thế giới. Hãy học cách sống nhiều hơn trong cả hai thế giới.

• Create a dialogue with the Higher Self in the language of symbols.

• Hãy tạo lập một cuộc đối thoại với Bản Ngã Cao Siêu bằng ngôn ngữ biểu tượng.

Key Words and Phrases for Gemini Rising – Những từ và cụm từ chủ yếu về Song Tử mọc

Ascend; controversy arising; rising dissension between the two; causing rifts; rend asunder; at issue with her; intervene between them; arguments for and against; “That is what I think, though many would disagree;” an eye for an eye and a tooth for a tooth; in two minds; between two worlds; bring the two together; between the ego and the self; the other, inner, self; Castor and Pollux; love and wisdom; indispensable to students; I am a writer; always putting pen to paper; literary milestone; ready to leave or go; brothers and sisters on the Path; the eternal student.

Thăng lên; tranh luận nảy sinh; bất đồng ngày càng tăng giữa hai bên; gây chia rẽ; xé lìa; bất đồng với bà ấy; can thiệp giữa họ; lập luận thuận và chống; “Đó là điều tôi nghĩ, mặc dù nhiều người sẽ không đồng ý”; mắt đền mắt, răng đền răng; phân vân giữa hai ý; giữa hai thế giới; đưa hai bên lại với nhau; giữa chân ngã và bản ngã; bản ngã khác ở bên trong; Castor và Pollux; bác ái và minh triết; không thể thiếu đối với các đạo sinh; tôi là một nhà văn; luôn đặt bút viết; cột mốc văn chương; sẵn sàng rời đi; các huynh đệ trên Đường Đạo; đạo sinh vĩnh cửu.

I shall light a candle of understanding in thine heart, which shall not be put out.—The Bible (Apocrypha) II Esdras ch. 14, v. 25.

Ta sẽ thắp lên trong tim ngươi một ngọn nến thấu hiểu, và nó sẽ không bao giờ tắt.—Kinh Thánh, phần Ngoại thư, II Esdras, chương 14, câu 25.

VENUS: ESOTERIC RULER of GEMINI – SAO KIM: CHỦ TINH NỘI MÔN của SONG TỬ

Venus in your horoscope speaks for the sign of Gemini, often more eloquently than the sign itself.

Trong lá số chiêm tinh của các bạn, Sao Kim nói thay cho dấu hiệu Song Tử, thường hùng hồn hơn chính dấu hiệu này.

She walks in beauty, like the night

Nàng bước đi trong vẻ đẹp, tựa màn đêm

Of cloudless climes and starry skies;

Của những miền trời quang mây và đầy sao;

And all that’s best of dark and bright

Và mọi điều đẹp nhất của tối cùng sáng

Meet in her aspect and her eyes:

Hội tụ trong dung nhan và đôi mắt nàng:

Thus mellowed to that tender light

Nhờ thế dịu thành ánh sáng nhu hòa ấy

Which heaven to gaudy day denies.

Mà thiên đường khước từ ngày rực rỡ.

—Byron, She Walks in Beauty

—Byron, Nàng Bước Đi Trong Vẻ Đẹp

Mythology – Thần thoại

Venus is one of the most celebrated deities of the ancients. In ancient Roman mythology, she was the goddess of beauty, the mother of love, the mistress of the graces and pleasures, and the patroness of courtesans and the arts. The ancient Greeks knew her as Aphrodite. In Homer’s Iliad she is said to be the daughter of Zeus and Dione, one of his consorts, but in later legends she is described as having sprung from the foam of the sea after the mutilated genitals of Uranus were thrown there by Saturn. Her name (from the Greek, aphros, foam) may be translated ‘foam-risen.’ In Homeric legend Aphrodite is the wife of the lame and ugly god of fire, Hephaestus, or Vulcan. Among her many lovers was Ares, god of war, who in later mythology became her husband. She was also the rival of Persephone, queen of the underworld, for the love of the beautiful Greek youth Adonis.

Sao Kim là một trong những vị thần được người xưa tôn vinh nhiều nhất. Trong thần thoại La Mã cổ đại, bà là nữ thần sắc đẹp, mẹ của tình yêu, chủ nhân của duyên dáng và khoái lạc, đồng thời là vị bảo trợ của các kỹ nữ và nghệ thuật. Người Hy Lạp cổ đại gọi bà là Aphrodite. Trong sử thi Iliad của Homer, bà được cho là con gái của Zeus và Dione, một trong những người phối ngẫu của ông; nhưng trong các truyền thuyết về sau, bà được mô tả là sinh ra từ bọt biển sau khi Sao Thổ ném bộ phận sinh dục bị cắt rời của Sao Thiên Vương xuống đó. Tên của bà, bắt nguồn từ từ “bọt” trong tiếng Hy Lạp, có thể được dịch là “sinh ra từ bọt biển”. Trong truyền thuyết Homer, Aphrodite là vợ của Hephaestus, hay Vulcan, vị thần lửa què quặt và xấu xí. Trong số nhiều tình nhân của bà có Ares, thần chiến tranh, người trở thành chồng bà trong thần thoại về sau. Bà cũng là tình địch của Persephone, nữ vương âm phủ, trong việc giành tình yêu của chàng thanh niên Hy Lạp xinh đẹp Adonis.

Astrological Qualities – Các phẩm tính chiêm tinh

Venus is the ruler of Gemini and is one of the most benign planets in the horoscope. In aspect to other planets, she will bring out their finest qualities. A gracious, enlightening influence, she possesses many fine and lovely qualities, some of which are listed below. Venus:

Sao Kim là chủ tinh của Song Tử và là một trong những hành tinh tốt lành nhất trong lá số chiêm tinh. Khi tạo góc hợp với các hành tinh khác, bà sẽ làm nổi bật những phẩm tính tốt đẹp nhất của chúng. Là một ảnh hưởng duyên dáng và soi sáng, bà sở hữu nhiều phẩm tính tốt đẹp, đáng yêu, một số được liệt kê dưới đây. Sao Kim:

• Elevates, renovates and scintillates.

• Nâng cao, đổi mới và tỏa sáng.

• Attracts, refines and blends.

• Thu hút, tinh luyện và hòa trộn.

• Harmonises, stylises and supervises.

• Điều hòa, tạo phong cách và giám sát.

• Is sophisticated, educated and travelled.

• Tinh tế, có học thức và từng trải.

• Promotes accord, agreement and diplomacy.

• Thúc đẩy sự hòa hợp, đồng thuận và ngoại giao.

• Reciprocates, oscillates and co-ordinates opposites.

• Đáp lại, dao động và phối hợp các đối cực.

• Brings talent, grace and elegance.

• Mang lại tài năng, duyên dáng và thanh lịch.

• Brings poise, smoothness and beauty.

• Mang lại vẻ đĩnh đạc, mềm mại và xinh đẹp.

• Provides light and illumination.

• Cung cấp ánh sáng và sự soi sáng.

• Is malleable at her best, and negatively receptive at her worst.

• Linh hoạt khi biểu hiện tốt nhất, và tiếp nhận một cách tiêu cực khi biểu hiện tệ nhất.

These are the characteristics you would expect Venus to translate her energies into at a personality level. Such qualities will obviously be influenced and mitigated by other factors in the chart, such as the house and sign she is in, the position of the sign (Gemini) she rules, and the relationship of other planets to her. For instance, the selfless, not-attaching love, characteristic of Venus can become attaching and binding in Taurus, clawing in Cancer, demanding with Mars, probing in Sagittarius, suspicious in Pisces, etc.

Đây là những đặc tính mà người ta kỳ vọng Sao Kim chuyển tải năng lượng của bà thành ở cấp độ phàm ngã. Hiển nhiên, những phẩm tính ấy sẽ chịu ảnh hưởng và được điều chỉnh bởi các yếu tố khác trong lá số chiêm tinh, chẳng hạn nhà và dấu hiệu nơi bà ngự, vị trí của dấu hiệu Song Tử do bà cai quản, và mối quan hệ của các hành tinh khác với bà. Chẳng hạn, tình thương vô ngã, không chấp trước vốn là đặc tính của Sao Kim có thể trở thành sự gắn mắc và trói buộc trong Kim Ngưu, bám riết trong Cự Giải, đòi hỏi khi đi cùng Sao Hỏa, dò xét trong Nhân Mã, nghi ngờ trong Song Ngư, v.v.

It is worth noting that Venus’s position in the horoscope is always within 48 degrees of the Sun’s, therefore she will never be found more than two signs away from the Sun. She completes an orbit of the Sun in 225 days; however, due to periods of retrogradation (see below) it sometimes takes the planet more than a year to travel through all twelve signs of the zodiac. Venus spends, therefore, approximately three to four weeks in each sign.

Cần lưu ý rằng vị trí của Sao Kim trong lá số chiêm tinh luôn nằm trong phạm vi 48 độ so với Mặt Trời; vì thế, bà không bao giờ cách Mặt Trời quá hai dấu hiệu. Bà hoàn tất một quỹ đạo quanh Mặt Trời trong 225 ngày; tuy nhiên, do các thời kỳ nghịch hành, đôi khi hành tinh này mất hơn một năm để đi qua cả mười hai dấu hiệu hoàng đạo. Vì vậy, Sao Kim ở trong mỗi dấu hiệu khoảng ba đến bốn tuần.

Anything concerned with pleasure or pleasing is associated with this benign planet, which brings enjoyment and delight. When Venus is afflicted, however, there is unlikely to be happiness but rather disappointment. Such an aspect also suggests mental worry and torture, as well as awkwardness, argument and division.

Mọi điều liên quan đến khoái lạc hoặc sự làm hài lòng đều gắn với hành tinh tốt lành này, vốn mang lại niềm vui và sự thích thú. Tuy nhiên, khi Sao Kim chịu góc hợp bất lợi, khó có hạnh phúc mà thay vào đó là thất vọng. Một góc hợp như thế cũng gợi ra sự lo âu và đau khổ trí tuệ, cũng như vụng về, tranh cãi và chia rẽ.

Venus is the nearest planet to the Earth of the inferior planets (the ones between the Sun and the Earth). She reflects the Sun’s light more than any other planet in our solar system and can usually be seen very clearly with the naked eye, such is her brilliance. When her orbit brings her close to us she is a very beautiful morning star and can be seen even at midday by those who know where to look.

Trong số các hành tinh hạ đẳng nằm giữa Mặt Trời và Trái Đất, Sao Kim là hành tinh gần Trái Đất nhất. Bà phản chiếu ánh sáng Mặt Trời nhiều hơn bất cứ hành tinh nào khác trong hệ mặt trời của chúng ta và thường có thể được nhìn thấy rất rõ bằng mắt thường vì độ sáng rực của mình. Khi quỹ đạo đưa bà đến gần chúng ta, bà trở thành một sao mai vô cùng đẹp đẽ và những ai biết phải nhìn về đâu thậm chí có thể thấy bà vào giữa trưa.

Venus rules things that are new and scintillating. A well-aspected Venus often gives physical beauty and a youthful appearance. She governs the general refinement of the individual. She teaches children at school—boys at public schools (English language), and girls at finishing schools. The astrological glyph for Venus is, of course, widely used as a symbol for women. As was mentioned earlier, Venus and Gemini rule the lady, a woman of refinement and poise. In many civilisations, it is the female sex that maintains and improves the level of culture and beauty. In the presence of ladies, men are expected to dress with propriety and behave with refinement.

Sao Kim cai quản những gì mới mẻ và lấp lánh. Sao Kim có góc hợp tốt thường đem lại vẻ đẹp thể chất và diện mạo trẻ trung. Bà cai quản sự tinh tế nói chung của mỗi người. Bà dạy trẻ em ở trường—các cậu bé tại trường công theo cách gọi của người Anh, và các cô gái tại trường hoàn thiện nữ công. Tất nhiên, ký hiệu chiêm tinh của Sao Kim được sử dụng rộng rãi làm biểu tượng cho nữ giới. Như đã đề cập trước đó, Sao Kim và Song Tử cai quản quý bà, một người phụ nữ tinh tế và đĩnh đạc. Trong nhiều nền văn minh, nữ giới là bên duy trì và nâng cao trình độ văn hóa cùng cái đẹp. Khi có mặt các quý bà, người nam được kỳ vọng ăn mặc đúng mực và cư xử tinh tế.

Venus Through the Houses – Sao Kim qua các nhà

The position of Venus in the horoscope will give an indication of qualities like beauty, goodness, truth, harmony, serenity and youthfulness, depending on which house this benign planet is found:

Vị trí của Sao Kim trong lá số chiêm tinh sẽ biểu thị những phẩm tính như vẻ đẹp, điều thiện, chân lý, hòa hợp, tĩnh lặng và trẻ trung, tùy theo hành tinh tốt lành này nằm ở nhà nào:

• Venus in the first: The first house is where things last and persist. With Venus here, beauty is enduring, even epic in nature. A fair female, placed in a position of state (first house), with an attractiveness that can show up even amongst leaders (first house). A beauty that has national appeal.

• Sao Kim ở nhà một: Nhà một là nơi mọi vật tồn tại lâu dài và bền vững. Với Sao Kim ở đây, vẻ đẹp trường tồn, thậm chí mang tính sử thi. Một phụ nữ xinh đẹp ở địa vị quốc gia thuộc nhà một, với sức thu hút có thể nổi bật ngay cả giữa các nhà lãnh đạo thuộc nhà một. Một vẻ đẹp có sức hấp dẫn toàn quốc.

• Venus in the second: The beauty here is able to earn money. This is also where money is spent on beauty, where there is a beauty shop or boutique. A beautiful singing voice or eloquent speech.

• Sao Kim ở nhà hai: Vẻ đẹp ở đây có khả năng kiếm tiền. Đây cũng là nơi tiền được chi cho cái đẹp, nơi có thẩm mỹ viện hoặc cửa hàng thời trang. Một giọng hát đẹp hoặc lời nói hùng hồn.

• Venus in the third: Here the beauty is harmonious, scintillating, serene and moving. A beautiful schoolteacher; a delightful relationship; a comely figure.

• Sao Kim ở nhà ba: Ở đây vẻ đẹp hài hòa, lấp lánh, tĩnh lặng và cảm động. Một nữ giáo viên xinh đẹp; một mối quan hệ thú vị; một vóc dáng yêu kiều.

• Venus in the fourth: A beautiful child, which does not necessarily mean that when it grows up the child will be a beauty—quite often it doesn’t happen that way. Beauty in old age; little old lady passing by, catching everyone’s eye; a colourful beauty; beauty of impressionism.

• Sao Kim ở nhà bốn: Một đứa trẻ xinh đẹp, nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa rằng khi trưởng thành nó vẫn đẹp—khá thường xuyên là không. Vẻ đẹp lúc tuổi già; một bà lão nhỏ bé đi ngang qua, thu hút ánh mắt mọi người; vẻ đẹp đầy màu sắc; vẻ đẹp của trường phái ấn tượng.

• Venus in the fifth: A beauty that radiates itself. It is golden and has an aura about it. Beautiful sons and daughters that have a lovely radiant sunny disposition; charming and entertaining; sweet and lovely, lady be good.

• Sao Kim ở nhà năm: Một vẻ đẹp tự tỏa chiếu. Nó mang sắc vàng và có hào quang quanh mình. Những người con trai và con gái xinh đẹp với tính khí rạng rỡ, tươi sáng; duyên dáng và thú vị; ngọt ngào và đáng yêu, một quý bà đức hạnh.

• Venus in the sixth: In the house of refinement and purity, Venus brings an elegant, refined and pure sort of beauty, that is enhanced by lace. A beautiful waitress, whose service adds to the pleasure of the meal.

• Sao Kim ở nhà sáu: Trong nhà của sự tinh luyện và thanh khiết, Sao Kim mang lại một vẻ đẹp thanh lịch, tinh tế và thuần khiết, được ren làm nổi bật. Một nữ phục vụ xinh đẹp có sự phụng sự làm tăng niềm vui của bữa ăn.

• Venus in the seventh: A beautiful bride; a young bride or two; just two of us in our seventh heaven. A shiny new car.

• Sao Kim ở nhà bảy: Một cô dâu xinh đẹp; một hoặc hai cô dâu trẻ; chỉ hai chúng ta trong cõi hạnh phúc tuyệt vời. Một chiếc xe mới sáng bóng.

• Venus in the eighth: The ‘femme fatale,’ a beauty with a sting in her tail. She is a bitch and he is so chivalrous; beauty in the whorehouse. A brother or sister leaves you a lovely inheritance.

• Sao Kim ở nhà tám: “Người đàn bà nguy hiểm”, một mỹ nhân có nọc độc nơi đuôi. Bà ta là một người đàn bà độc địa, còn ông ấy quá hào hiệp; vẻ đẹp trong nhà thổ. Một người anh, chị hoặc em để lại cho các bạn một gia tài đáng quý.

• Venus in the ninth: A flamboyant beauty, a beauty that flings itself way out. A beautiful woman from abroad. Ideas have legs.

• Sao Kim ở nhà chín: Một vẻ đẹp phô trương, vươn mình ra thật xa. Một phụ nữ xinh đẹp từ nước ngoài. Ý tưởng có đôi chân.

• Venus in the tenth: Beautiful bone structure and teeth. A sophisticated and refined business executive.

• Sao Kim ở nhà mười: Cấu trúc xương và răng đẹp. Một nhà quản trị kinh doanh tinh tế và tao nhã.

• Venus in the eleventh: Beautiful friends that refresh you. An elegant stairway that leads to higher things.

• Sao Kim ở nhà mười một: Những người bạn xinh đẹp làm các bạn tươi mới. Một cầu thang thanh lịch dẫn đến những điều cao hơn.

• Venus in the twelfth: Beauty that is covered up and hidden. A messiah who brings new ideas and veiled teachings.

• Sao Kim ở nhà mười hai: Vẻ đẹp bị che phủ và ẩn giấu. Một đấng cứu thế mang đến những ý tưởng mới và giáo huấn được che màn.

The Spiritualising Qualities of Venus – Các phẩm tính tinh thần hóa của Sao Kim

In the new astrology Venus is considered the most highly evolved of all planetary energies. She unites, blends, merges and harmonises duality. Her power of attraction produces a creative interplay between previously disconnected factors and makes them meaningful in terms of each other. Venus relates the dualities of Gemini, including that of man’s higher and lower selves. It brings goodness to both in a relationship.

Trong nền chiêm tinh học mới, Sao Kim được xem là năng lượng tiến hóa cao nhất trong mọi năng lượng hành tinh. Bà hợp nhất, hòa trộn, dung hợp và điều hòa nhị nguyên. Quyền năng thu hút của bà tạo ra sự tương tác sáng tạo giữa những yếu tố trước đây tách biệt và khiến chúng trở nên có ý nghĩa trong tương quan với nhau. Sao Kim liên kết các nhị nguyên của Song Tử, bao gồm nhị nguyên giữa chân ngã và phàm ngã của con người. Bà mang điều thiện vào mối quan hệ của cả hai.

When his personality is orientated to the soul, the disciple is able to bring down the energies of the immortal Self and to construct linkages with the higher worlds. He learns to build a bridgehead to the Higher Self, to fashion, as it is described in the esoteric teachings, the Rainbow Bridgehead, the Antakarana. The resolution of pairs of opposites—the outer with the inner, the objective with the subjective—leads to the integration of personality and its orientation to the soul. Venus rules the Antakarana, the bridgehead which evolved mankind must construct in Atma-Buddhi-Manas to the Higher Self (See the author’s work, Meditation, the Theory and Practice, pages 22-3).

Khi phàm ngã của y hướng về linh hồn, đệ tử có thể đưa các năng lượng của Bản Ngã bất tử xuống và kiến tạo những mối liên kết với các thế giới cao. Y học cách xây dựng một đầu cầu đến Bản Ngã Cao Siêu, tạo dựng điều mà giáo lý nội môn mô tả là Đầu Cầu Vồng, antahkarana. Việc giải quyết các cặp đối cực—bên ngoài với bên trong, khách quan với chủ quan—dẫn đến sự tích hợp phàm ngã và sự định hướng của nó về linh hồn. Sao Kim cai quản antahkarana, đầu cầu mà nhân loại tiến hóa phải kiến tạo trong Atma-Bồ đề-Manas đến Bản Ngã Cao Siêu. Xem tác phẩm Tham Thiền, Lý Thuyết và Thực Hành của tác giả, trang 22-23.

Venus is the planet that rules the supergifted, the precious ones of mankind who are lost in the dross of materialism. Supergifted children are about one in a thousand. They are highly developed souls introduced as ‘Sons of Necessity’ into humble conditions on this planet. Their intelligence may only be average but their spiritual capacity is unassessably high (see the author’s work, Psychology of Discipleship, pages 77-115). Venus in the charts of the supergifted will show how their giftedness may be encouraged to surface.

Sao Kim là hành tinh cai quản những người siêu thiên phú, những con người quý báu của nhân loại bị lạc giữa cặn bã của chủ nghĩa duy vật. Khoảng một trong một nghìn trẻ em thuộc loại siêu thiên phú. Họ là những linh hồn phát triển cao, được đưa vào những hoàn cảnh khiêm nhường trên hành tinh này với tư cách “Những Người Con của Sự Cần Thiết”. Trí thông minh của họ có thể chỉ ở mức trung bình, nhưng khả năng tinh thần của họ cao đến mức không thể đánh giá. Xem tác phẩm Tâm Lý Học về Địa Vị Đệ Tử của tác giả, trang 77-115. Sao Kim trong lá số chiêm tinh của những người siêu thiên phú sẽ cho thấy cách khuyến khích thiên phú của họ xuất lộ.

Venus brings composure, harmony, assurance, grace and dignity. It manifests those attributes of the Divine so highly regarded by Plato—Truth, Beauty and Goodness—in combinations as no other planet can. The Fifth Ray qualities of Venus, seen so powerfully expressed in Aquarius as the capacity ‘to think in categories,’ brings the higher graces to humanity in categories. Venus rules swans, especially where they symbolise such spiritual qualities. The night before his father brought the young Plato to him for instruction, Socrates said he dreamt of a beautiful swan.

Sao Kim mang lại sự điềm tĩnh, hòa hợp, tự tin, duyên dáng và phẩm giá. Bà biểu hiện những thuộc tính của Thượng đế được Plato hết sức coi trọng—Chân, Thiện và Mỹ—trong những sự kết hợp mà không hành tinh nào khác có thể tạo ra. Các phẩm tính Cung Năm của Sao Kim, biểu hiện đầy quyền năng trong Bảo Bình thành khả năng “tư duy theo phạm trù”, mang những vẻ đẹp cao cả đến cho nhân loại theo từng phạm trù. Sao Kim cai quản thiên nga, đặc biệt khi chúng tượng trưng cho những phẩm tính tinh thần như vậy. Đêm trước khi cha của Plato trẻ tuổi đưa ông đến để thụ giáo, Socrates nói rằng ông đã mơ thấy một con thiên nga xinh đẹp.

Plato was a Nirmanakaya, one of the ‘divine rebels’ who step down from the bliss state of nirvana in order to help suffering mankind evolve. The planet which expresses the Nirmanakaya and the Venusian Fire that he wields is, of course, Venus. Hence this planet in the horoscope of the spiritually evolved indicates the degree and quality of Nirmanakaya influence and the accessibility of spiritual fire, and where it is likely to appear in their lives. Venus in Pisces, for instance, implies the rose—a flower expressing the harsh reality of thorny existence, as well as the devotion that the rose symbolises, and its fragrance, which is disseminated.

Plato là một Nirmanakaya, một trong những “người nổi loạn thiêng liêng” bước xuống khỏi trạng thái chí phúc của Niết Bàn để giúp nhân loại đau khổ tiến hóa. Hành tinh biểu hiện Nirmanakaya cùng Lửa Sao Kim mà vị ấy vận dụng tất nhiên là Sao Kim. Vì vậy, trong lá số chiêm tinh của người đã tiến hóa về tinh thần, hành tinh này biểu thị mức độ và phẩm tính ảnh hưởng của Nirmanakaya, khả năng tiếp cận lửa tinh thần và nơi nó có thể xuất hiện trong đời sống họ. Chẳng hạn, Sao Kim trong Song Ngư hàm ý hoa hồng—một loài hoa biểu hiện thực tại khắc nghiệt của sự hiện tồn đầy gai góc, cũng như lòng sùng tín mà hoa hồng tượng trưng và hương thơm lan tỏa của nó.

The Nirmanakayas express themselves in a variety of forms and in individuals with different capacities. They do not repeat old teachings. They do not energise structures that are worn out or repeated ad nauseam; they are innovators. That is why Venus is the indicator of the Nirmanakaya. This planet rules new things, things with numinosum—divine light radiated in patterns from Venusian blueprints. There are those creative individuals like Leonardo Da Vinci who anchor archetypes in the Earth. Da Vinci was an embodiment of the archetype of innovation with his tremendous range and capacity for implementing the designs which he sensed at the level of our alter ego planet.

Các Nirmanakaya biểu hiện qua nhiều hình tướng khác nhau và trong những người có các khả năng khác nhau. Các Ngài không lặp lại những giáo huấn cũ. Các Ngài không tiếp sinh lực cho những cấu trúc đã hao mòn hoặc được lặp lại đến nhàm chán; các Ngài là những nhà cách tân. Đó là lý do Sao Kim là chỉ dấu của Nirmanakaya. Hành tinh này cai quản những điều mới, những điều mang tính thiêng nhiệm—ánh sáng thiêng liêng tỏa ra thành các mô hình từ những bản thiết kế của Sao Kim. Có những cá nhân sáng tạo như Leonardo da Vinci, người neo giữ các nguyên mẫu vào Trái Đất. Da Vinci là hiện thân của nguyên mẫu đổi mới, với phạm vi và khả năng phi thường trong việc thực hiện những thiết kế mà ông cảm nhận ở cấp độ của hành tinh đối phần của chúng ta.

The mind can make

Trí tuệ có thể tạo nên

Substance, and people planets of its own

Chất liệu, và những hành tinh riêng có cư dân

With beings brighter than have been, and give

Là các sinh linh rực sáng hơn những gì từng có, và ban

A breath to forms which can outlive all flesh.

Hơi thở cho những hình tướng có thể trường tồn hơn mọi xác thịt.

— Byron, The Dream

—Byron, Giấc Mơ

Inwardly acting from the level of abstract thought and higher mind, Venus integrates the lower with the higher, harmoniously linking the mental faculties to turn knowledge into wisdom. It brings the light of higher manas to mankind, bestowing the highest reason and loving intellegence, and resolving the duality inherent in the lower mind. Venus gives rise to innovations embodying divine energy which scintillate, shine and illuminate; new modes of thinking and emotional expression; talent, grace, elegance—all things which cultivate right human relations and further the unfoldment of Love-Wisdom on the Earth.

Hoạt động từ bên trong ở cấp độ tư tưởng trừu tượng và thượng trí, Sao Kim tích hợp phần thấp với phần cao, liên kết hài hòa các năng lực trí tuệ để chuyển tri thức thành minh triết. Bà mang ánh sáng của manas cao đến cho nhân loại, ban tặng lý trí cao nhất và trí thông minh đầy bác ái, đồng thời giải quyết nhị nguyên vốn có trong hạ trí. Sao Kim làm nảy sinh những đổi mới hiện thân cho năng lượng thiêng liêng, vốn lấp lánh, tỏa sáng và soi sáng; những phương thức tư duy và biểu đạt cảm xúc mới; tài năng, duyên dáng và thanh lịch—mọi điều vun bồi các mối quan hệ đúng đắn của con người và thúc đẩy sự khai mở Bác Ái – Minh Triết trên Trái Đất.

Key Qualities of Venus: – Các phẩm tính chủ yếu của Sao Kim:

Refinement of taste; aesthetic values; truth, beauty and goodness; intelligence lovingly applied and love wisely applied; resolution of duality; connecting and blending of opposites; relates; communicates; negotiates; promotes diplomacy; goodwill; brotherhood; right human relations; the dislodgement and replacement of unreason; harmonious linking of mental faculties to turn knowledge into wisdom; synthesises lower and higher mind; brings the light of higher manas/abstract thought; constructs the antakarana; merging of personality and soul.

Sự tinh tế trong thị hiếu; các giá trị thẩm mỹ; chân, thiện và mỹ; trí thông minh được vận dụng bằng tình thương và tình thương được vận dụng bằng minh triết; giải quyết nhị nguyên; kết nối và hòa trộn các đối cực; liên kết; giao tiếp; thương lượng; thúc đẩy ngoại giao; thiện chí; tình huynh đệ; các mối quan hệ đúng đắn của con người; loại bỏ và thay thế sự phi lý; liên kết hài hòa các năng lực trí tuệ để chuyển tri thức thành minh triết; tổng hợp hạ trí và thượng trí; mang lại ánh sáng của manas cao hay tư tưởng trừu tượng; kiến tạo antahkarana; dung hợp phàm ngã và linh hồn.

Keywords for Venus – Các từ khóa của Sao Kim

Harmony; correspond; rapport; amend; assuage; reason; valid; gladness; pleasant; enjoy; delight; affection; charity; grace; poise; calmness; charm; charisma; polite; courtesy; elegance; fine; beautiful; lovely; feminine; ease; talent; supergifted; young; fresh; new; bright; shiny; scintillate; splendid; luminous; light; illuminate; lucid; clarity; learn; teacher; scholar; literary.

Hòa hợp; tương ứng; hòa thuận; sửa đổi; xoa dịu; lý trí; hợp lệ; vui mừng; dễ chịu; thưởng thức; thích thú; trìu mến; bác ái; duyên dáng; đĩnh đạc; bình tĩnh; quyến rũ; sức lôi cuốn; lịch thiệp; nhã nhặn; thanh lịch; tinh tế; xinh đẹp; đáng yêu; nữ tính; dễ dàng; tài năng; siêu thiên phú; trẻ trung; tươi mới; mới; sáng; bóng loáng; lấp lánh; huy hoàng; rực sáng; ánh sáng; soi sáng; sáng rõ; minh bạch; học hỏi; huấn sư; học giả; văn chương.

As far as we can discern, the sole purpose of human existence is to kindle a light in the darkness of mere being.—Carl Gustav Jung, Erinnerungen, Träume, Gedanken.

Trong phạm vi chúng ta có thể phân biện, mục đích duy nhất của sự hiện tồn con người là thắp lên một ngọn đèn trong bóng tối của sự hiện tồn đơn thuần.—Carl Gustav Jung, Hồi Ức, Giấc Mơ, Suy Tưởng.

Venus Retrograde – Sao Kim nghịch hành

Whenever we consider the qualities of a planet, we also have to take into account its relative motion, which can be direct, stationary, or retrograde. This is the phenomenon in which a planet, from the viewpoint of a person on the Earth, appears to slow down, become stationary, and then go backwards, in what astrologers call retrograde motion, before again going direct. The process is an optical illusion, which can be compared to an experience many of us have had, of being in a train that is being overtaken by another slightly faster train, giving the false sensation that our own train is going backwards.

Mỗi khi xem xét các phẩm tính của một hành tinh, chúng ta cũng phải tính đến chuyển động tương đối của nó, vốn có thể là thuận hành, đứng yên hoặc nghịch hành. Đây là hiện tượng trong đó, theo góc nhìn của một người trên Trái Đất, một hành tinh dường như chậm lại, đứng yên rồi đi ngược, trong chuyển động mà các nhà chiêm tinh gọi là nghịch hành, trước khi lại thuận hành. Tiến trình này là một ảo tưởng thị giác, có thể so sánh với trải nghiệm mà nhiều người trong chúng ta từng có khi ngồi trên một đoàn tàu đang bị một đoàn tàu khác chạy nhanh hơn đôi chút vượt qua, tạo cảm giác sai lầm rằng đoàn tàu của mình đang chạy lùi.

The retrograde effect is important and is one which we which must always bear in mind. It is, fittingly, something that is indirectly rather than directly expressed. It is implied rather than stated. It may also suggest something that is figurative. Venus in retrograde motion takes up qualities that are opposite or complimentary to its usual influence. The benign qualities of the planet in direct motion reverse themselves, often dramatically, turn sour, and can even cause havoc.

Hiệu ứng nghịch hành rất quan trọng và là điều chúng ta phải luôn ghi nhớ. Một cách thích hợp, nó được biểu hiện gián tiếp hơn là trực tiếp. Nó được hàm ý thay vì tuyên bố rõ ràng. Nó cũng có thể gợi ra một điều mang nghĩa bóng. Sao Kim nghịch hành tiếp nhận những phẩm tính đối lập hoặc bổ sung cho ảnh hưởng thông thường của bà. Các phẩm tính tốt lành của hành tinh khi thuận hành bị đảo ngược, thường một cách kịch tính, trở nên chua chát và thậm chí có thể gây hỗn loạn.

When Venus goes retrograde its shining nature becomes dull. As we have already seen, Venus direct gives the scintillating quality of things that are new. When we get a new book we treasure it. After a few weeks, however, it loses its sparkle and newness, and this is Venus retrograde. The latter brings tattiness and shabbiness, the sort of quality a car has when everyone uses it and no-one cares for it or is interested in what it looks like. Some people who buy new cars or furniture like to keep the clear plastic wrapping on the seats, to keep them ‘new’ and postpone the inevitable deterioration. Venus direct rules shiny cellophane and clear plastic wrapping; it is clear and transparent in nature. Venus retrograde is lack-lustre, matt and opaque.

Khi Sao Kim nghịch hành, bản chất rực sáng của bà trở nên mờ đục. Như chúng ta đã thấy, Sao Kim thuận hành đem lại phẩm tính lấp lánh của những điều mới mẻ. Khi có một quyển sách mới, chúng ta trân quý nó. Tuy nhiên, sau vài tuần, nó mất đi vẻ lấp lánh và mới mẻ; đó là Sao Kim nghịch hành. Trạng thái này mang lại vẻ cũ kỹ và tồi tàn, kiểu phẩm tính của một chiếc xe mà mọi người đều sử dụng nhưng chẳng ai chăm sóc hay quan tâm nó trông ra sao. Một số người mua xe hoặc đồ nội thất mới thích giữ nguyên lớp nhựa trong bọc ghế để chúng luôn “mới” và trì hoãn sự xuống cấp không thể tránh khỏi. Sao Kim thuận hành cai quản giấy bóng kính sáng loáng và lớp bọc nhựa trong; bản chất của nó trong suốt và rõ ràng. Sao Kim nghịch hành thì xỉn màu, lì và mờ đục.

Venus retrograde always makes me think of Long Beach in America. In the popular American television programme Baywatch, the beach at Malibu is filled with attractive and glamorous young people who look gorgeous and fresh. The sun at Longbeach, however, shines on old lounge lizards who do not reflect any freshness at all; they have drained all they could out of the sun and all their glamour has gone.

Sao Kim nghịch hành luôn khiến tôi nghĩ đến Long Beach ở Mỹ. Trong chương trình truyền hình Mỹ nổi tiếng Baywatch, bãi biển Malibu đầy những người trẻ hấp dẫn và quyến rũ, trông lộng lẫy và tươi mới. Tuy nhiên, mặt trời ở Long Beach chiếu lên những kẻ già nua chỉ biết hưởng lạc, hoàn toàn không phản chiếu chút tươi mới nào; họ đã hút cạn mọi thứ có thể từ mặt trời và toàn bộ vẻ quyến rũ của họ đã biến mất.

Venus direct looks at, sees, does; it rules transitive verbs or movement that is seen. You can observe a person and it is patently obvious if they are either inactive or doing something. If I were to physically kick something, it would be a very obvious movement; the astrological aspect for it would be Venus in Sagittarius, because Sagittarius rules the leg, and the movement comes under Venus. A brutal or harsh kick would be Venus in Sagittarius in the eighth house of Mars. But when you have the meaning less observable, less obvious, then you have Venus retrograde. If I were to give, figuratively, someone a ‘kick up the backside,’ that would be the same aspect but with Venus retrograde. It is a verb but the movement is implied or suggested rather than seen. It ‘is but it isn’t’ movement.

Sao Kim thuận hành nhìn, thấy và làm; bà cai quản các ngoại động từ hoặc chuyển động có thể nhìn thấy. Các bạn có thể quan sát một người và thấy rõ ràng rằng họ đang bất động hay làm điều gì đó. Nếu tôi dùng chân đá vào một vật, đó sẽ là một chuyển động rất rõ; góc hợp chiêm tinh tương ứng là Sao Kim trong Nhân Mã, vì Nhân Mã cai quản chân và chuyển động thuộc Sao Kim. Một cú đá tàn bạo hoặc dữ dội sẽ là Sao Kim trong Nhân Mã tại nhà tám của Sao Hỏa. Nhưng khi ý nghĩa khó quan sát và kém rõ ràng hơn, đó là Sao Kim nghịch hành. Nếu nói theo nghĩa bóng rằng tôi “đá vào mông” ai đó, thì đó vẫn là góc hợp ấy nhưng với Sao Kim nghịch hành. Đây là một động từ, nhưng chuyển động được hàm ý hoặc gợi ra thay vì được nhìn thấy. Nó là chuyển động “có mà không”.

Another example would be the phrase: “She was delighted.” Delight is something that is not really seen. To delight somebody – “I delighted the person by giving him a packet of sweets” – is Venus retrograde; there is no movement necessarily involved in it. “She was the delight of my eyes,” would also be Venus retrograde. “Clear the decks!” is another Venus retrograde statement, because it is used figuratively. Venus retrograde can be a ‘mover’ in a figurative sense, as a person with fruitful ideas who can effect movement. Venus rules the hands, but Venus retrograde is something or someone who is ‘handy,’ and useful to have around.

Một ví dụ khác là câu: “Bà ấy rất vui thích.” Sự vui thích không phải là điều thực sự có thể nhìn thấy. Làm ai đó vui thích—“Tôi làm người ấy vui thích bằng cách tặng y một gói kẹo”—là Sao Kim nghịch hành; nó không nhất thiết liên quan đến chuyển động. “Nàng là niềm vui trong mắt tôi” cũng là Sao Kim nghịch hành. “Hãy dọn sạch boong tàu!” là một câu khác thuộc Sao Kim nghịch hành vì nó được dùng theo nghĩa bóng. Sao Kim nghịch hành có thể là một “người thúc đẩy” theo nghĩa bóng, chẳng hạn một người có những ý tưởng hữu ích có thể tạo ra chuyển động. Sao Kim cai quản đôi tay, nhưng Sao Kim nghịch hành là một vật hoặc một người “tiện dụng” và hữu ích khi ở bên.

Venus retrograde does a ‘turn around,’ an action that reflects the retrograding motion. An appropriate example of this would be the unpleasant action of returning to school, when the holidays are over and the spirits have lost their sparkle. Venus direct reads and writes but Venus retrograde is illiterate and illegible; terms which are pejorative, another Venus retrograde quality. Venus, with its educational associations, might write an essay, whereas Venus direct will ‘essay’ in the sense of attempting to do something.

Sao Kim nghịch hành thực hiện một sự “quay ngược”, một hành động phản ánh chuyển động nghịch hành. Một ví dụ thích hợp là hành động khó chịu khi phải trở lại trường sau khi kỳ nghỉ kết thúc và tinh thần đã mất vẻ tươi sáng. Sao Kim thuận hành đọc và viết, nhưng Sao Kim nghịch hành thì mù chữ và chữ viết khó đọc; đây là những từ ngữ mang tính miệt thị, một phẩm tính khác của Sao Kim nghịch hành. Với những liên hệ về giáo dục, Sao Kim có thể viết một bài luận, trong khi Sao Kim thuận hành sẽ “thử” theo nghĩa cố gắng làm một điều gì đó.

Venus direct is, of course, beautiful harmony. Venus retrograde can be disharmony, but not to the extent of a quarrel or a split. It can produce a crack, but not complete separation. We should not forget that Venus, the planet of twins, is divisible. When it is afflicted it divides things into two; it splits, divides, separates, argues, quarrels. Venus retrograde, however, is indivisible, in fact it maintains unity. If you were hoping to make an important business deal and needed to choose a time when you must have absolute unity, it would be better to arrange it for the period when Venus is retrograde, rather than when Venus is direct but afflicted. There would be less likelihood of argument or division. There is a subtle difference, and we can often only look for subtle differences in the direct/retrograde relationship.

Tất nhiên, Sao Kim thuận hành là sự hòa hợp đẹp đẽ. Sao Kim nghịch hành có thể là bất hòa, nhưng không đến mức tranh cãi hoặc chia rẽ. Nó có thể tạo ra một vết nứt nhưng không hoàn toàn phân ly. Chúng ta không nên quên rằng Sao Kim, hành tinh của những người song sinh, có thể phân chia. Khi chịu góc hợp bất lợi, bà chia mọi vật thành hai; bà tách đôi, phân chia, phân ly, tranh luận và cãi vã. Tuy nhiên, Sao Kim nghịch hành thì bất khả phân; thực tế, nó duy trì sự hợp nhất. Nếu các bạn hy vọng thực hiện một giao dịch kinh doanh quan trọng và cần chọn thời điểm phải có sự hợp nhất tuyệt đối, tốt hơn nên sắp xếp vào thời kỳ Sao Kim nghịch hành thay vì khi Sao Kim thuận hành nhưng chịu góc hợp bất lợi. Khi ấy, khả năng xảy ra tranh cãi hoặc chia rẽ sẽ thấp hơn. Có một khác biệt tinh tế, và trong mối quan hệ thuận hành-nghịch hành, thường chúng ta chỉ có thể tìm kiếm những khác biệt tinh tế.

Venus direct is small and petite, but the retrograde is petty or small-minded. The direct sense suggests a woman or female but the retrograde is ‘womanish’ meaning that it is a man acting like a woman: “Oh, he’s like an old woman!” “Oh, he’s like a tart!” or “He’s behaving like a girl!” Here is the pejorative quality again.

Sao Kim thuận hành chỉ sự nhỏ nhắn và thanh tú, nhưng khi nghịch hành lại chỉ sự nhỏ nhen hoặc hẹp hòi. Nghĩa thuận hành gợi đến một phụ nữ hoặc nữ giới, nhưng nghĩa nghịch hành là “ẻo lả”, hàm ý một người đàn ông hành xử như phụ nữ: “Ôi, ông ấy giống một bà già quá!” “Ôi, ông ấy giống một cô nàng lẳng lơ quá!” hoặc “Ông ấy cư xử như con gái vậy!” Ở đây, phẩm tính miệt thị lại xuất hiện.

Brothers and sisters come under Venus direct, of course, but with the retrograde we find the step-brother or step-sister. It might also be a brother or sister on the Path, someone struggling spiritually, like yourself, but not a family member.

Dĩ nhiên, anh chị em ruột thuộc Sao Kim thuận hành, nhưng với Sao Kim nghịch hành, chúng ta có anh chị em kế. Đó cũng có thể là một huynh đệ hoặc tỷ muội trên Đường Đạo, một người đang phấn đấu về mặt tinh thần như chính các bạn, nhưng không phải thành viên trong gia đình.

Venus direct is sincere. Venus retrograde is insincere, as well as hurtful and malicious, discourteous and disrespectful. It can also be ironic, where there is a completely different or opposite meaning.

Sao Kim thuận hành là chân thành. Sao Kim nghịch hành là không chân thành, cũng như gây tổn thương và hiểm độc, bất nhã và thiếu tôn trọng. Nó cũng có thể chỉ sự mỉa mai, trong đó hàm ý hoàn toàn khác biệt hoặc trái ngược.

The word eventful comes under Venus direct, where there is a lot of activity. Uneventful is Venus retrograde because there is no activity, nothing going on. Docile is also Venus retrograde because it implies inactivity. Another subtle variation on this theme is that Venus ‘does’ but Venus retrograde ‘is capable of,’ but is not actually doing it. Things that are removable are Venus direct but those that are irremovable come under the retrograde. An irremovable stain, for instance, is Venus retrograde in Pisces: the latter rules stains and blemishes.

Từ “nhiều biến cố” thuộc Sao Kim thuận hành, nơi có rất nhiều hoạt động. “Không có biến cố” là Sao Kim nghịch hành vì không có hoạt động, không có gì diễn ra. “Ngoan ngoãn” cũng là Sao Kim nghịch hành vì nó hàm ý sự bất động. Một biến thể tinh tế khác của chủ đề này là Sao Kim “làm”, còn Sao Kim nghịch hành “có khả năng làm”, nhưng thực ra không làm. Những vật có thể tháo rời thuộc Sao Kim thuận hành, còn những vật không thể tháo rời thuộc Sao Kim nghịch hành. Chẳng hạn, một vết bẩn không thể tẩy sạch là Sao Kim nghịch hành trong Song Ngư: dấu hiệu sau cai quản các vết bẩn và tì vết.

Other Venus retrograde words are unhandsome, unlovely, unpleasant, untruthful, unpolished, un-English. A book of antonyms and synonyms is very useful when doing this kind of exercise; all the words used here have an antonym to them, which can indicate the retrograde/direct relationship.

Những từ khác thuộc Sao Kim nghịch hành là xấu xí, không đáng yêu, khó chịu, không trung thực, không trau chuốt, không mang tính Anh. Một cuốn từ điển từ trái nghĩa và đồng nghĩa rất hữu ích khi thực hiện loại bài tập này; mọi từ được dùng ở đây đều có từ trái nghĩa, qua đó có thể biểu thị mối quan hệ nghịch hành và thuận hành.

We know that Gemini and Venus are ‘this, here’ whereas Sagittarius is ‘that, over there.’ Venus retrograde is ‘the other’. As I have mentioned elsewhere, Venus and Gemini rule both England and America. England and the USA have a common soul, also ruled by Gemini. But an American in England is not English, so he comes under Venus retrograde. In America, Venus rules the American and the opposite applies; an Englishman in America is also Venus retrograde. The language spoken in America is English, but it is not the same as that spoken in England—‘it is but it isn’t.’ So American English comes under Venus retrograde in England. In America, pure spoken English, on the other hand, also comes under Venus retrograde.

Chúng ta biết rằng Song Tử và Sao Kim là “cái này, ở đây”, còn Nhân Mã là “cái kia, ở đằng kia”. Sao Kim nghịch hành là “cái khác”. Như tôi đã đề cập ở nơi khác, Sao Kim và Song Tử đều cai quản nước Anh và nước Mỹ. Nước Anh và Hoa Kỳ có chung một linh hồn, cũng do Song Tử cai quản. Nhưng một người Mỹ ở Anh không phải là người Anh, nên y thuộc Sao Kim nghịch hành. Ở Mỹ, Sao Kim cai quản người Mỹ và điều ngược lại cũng đúng; một người Anh ở Mỹ cũng thuộc Sao Kim nghịch hành. Ngôn ngữ được nói ở Mỹ là tiếng Anh, nhưng không giống tiếng Anh được nói tại nước Anh—“vừa là mà lại vừa không phải”. Vì vậy, tiếng Anh Mỹ tại nước Anh thuộc Sao Kim nghịch hành. Mặt khác, tại Mỹ, tiếng Anh nói thuần chuẩn cũng thuộc Sao Kim nghịch hành.

Keywords for Venus Retrograde: – Các từ khóa của Sao Kim nghịch hành:

Action or movement that is unseen, implied or figurative; uneventful; can but doesn’t; docile; irremovable; does a turn around; slight (inconsiderable); small (petty); crack (break without complete separation); indivisible; inharmonious; unpleasant; insincere; disrespect; dislike; inelegant; unlovely; rugged; womanish; illiterate; illegible; raw; unripe; dull; matt; opaque; step-brother; step-sister; otherwise; presumption; irony; handy.

Hành động hoặc chuyển động không nhìn thấy, được ngụ ý hoặc mang tính hình tượng; không có biến cố; có thể nhưng không làm; ngoan ngoãn; không thể tháo rời; quay vòng; nhỏ bé (không đáng kể); nhỏ nhen; vết nứt (gãy nhưng không tách rời hoàn toàn); không thể phân chia; không hài hòa; khó chịu; không chân thành; thiếu tôn trọng; không ưa; không thanh nhã; không đáng yêu; gồ ghề; ẻo lả; thất học; khó đọc; thô; chưa chín; xỉn; mờ lì; đục; anh em kế; chị em kế; theo cách khác; sự giả định; sự mỉa mai; tiện dụng.

GEMINI: by Roberto Assagioli – SONG TỬ: của Roberto Assagioli