← A Treatise on Cosmic Fire All

3. MANAS IS THAT WHICH PRODUCES COHESION — 3. MANAS LÀ CÁI TẠO RA SỰ CỐ KẾT

We need to remember here that we were earlier dealing with the Logos, and with the Heavenly Men as incorporate parts of His body of manifestation. In the tabulation above given we are dealing with each separately, [Page 332] and it should be observed that the manifestation of the groups of causal bodies on the mental plane is the colour manifestation of a Heavenly Man and His lowest point of objectivity. In man his lowest point of objectivity is the fifth subplane of the physical plane, as the liquid and the dense subplanes are not counted as principles any more than the cosmic liquid and dense (the astral and the systemic physical planes) count with a Heavenly Man.

Ở đây chúng ta cần nhớ rằng trước đó chúng ta đang bàn đến Thượng đế, và đến các Đấng Thiên Nhân như những phần nhập thể trong thể biểu hiện của Ngài. Trong bảng liệt kê trên đây, chúng ta đang xét từng vị một cách riêng biệt, [Page 332] và cần lưu ý rằng biểu hiện của các nhóm thể nguyên nhân trên cõi trí là biểu hiện màu sắc của một Đấng Thiên Nhân và là điểm khách quan thấp nhất của Ngài. Ở con người, điểm khách quan thấp nhất của y là cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần, vì các cõi phụ lỏng và đậm đặc không được tính là các nguyên khí, cũng như các cõi lỏng và đậm đặc vũ trụ (cõi cảm dục và cõi hồng trần hệ thống) không được tính đối với một Đấng Thiên Nhân.

We have seen that manas or mind is the fifth principle, or the basic vibration of the cosmic mental plane, the fifth plane; it was therefore impulse originating from the causal levels of the cosmic mental plane, which drove our solar Logos into manifestation, in the same way that the force which brings man into incarnation emanates from his causal body on the mental plane of the solar system. We have seen also that manas is that discriminative faculty which animates all substance, and which is also the electrical fire of the system showing forth as attraction and repulsion, with all that is involved in those two words. In the widest sense of the idea the Laws of Economy and of Synthesis are only divisions of that same cosmic law of which Attraction and Repulsion are also manifestations. This cosmic law, demonstrating thus in a threefold manner, might (for lack of a better term) be called the Law of Being, and is of a nature so incomprehensible to the finite mind of man that he can only sense it partially through the aforesaid three branches.

Chúng ta đã thấy rằng manas hay trí tuệ là nguyên khí thứ năm, hay rung động căn bản của cõi trí vũ trụ, cõi thứ năm; do đó chính xung lực phát sinh từ các cấp độ nguyên nhân của cõi trí vũ trụ đã thúc đẩy Thái dương Thượng đế của chúng ta đi vào biểu hiện, cũng theo cùng cách mà mãnh lực đưa con người vào nhập thể phát xuất từ thể nguyên nhân của y trên cõi trí của hệ mặt trời. Chúng ta cũng đã thấy rằng manas là năng lực phân biện làm sinh động mọi chất liệu, và cũng là lửa điện của hệ thống biểu lộ thành hấp dẫn và đẩy lùi, cùng mọi điều hàm chứa trong hai từ ấy. Theo nghĩa rộng nhất của ý niệm này, các Định luật Tiết Kiệm và Tổng Hợp chỉ là những phân bộ của cùng một định luật vũ trụ mà Hấp Dẫn và Đẩy Lùi cũng là các biểu hiện. Định luật vũ trụ này, biểu lộ như thế theo cách tam phân, có thể (vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn) được gọi là Định luật Bản Thể, và có bản chất khó hiểu đến mức trí tuệ hữu hạn của con người chỉ có thể cảm nhận nó phần nào qua ba nhánh nói trên.

3. MANAS IS THAT WHICH PRODUCES COHESION — 3. MANAS LÀ CÁI TẠO RA SỰ CỐ KẾT

We come now to our third definition: The manasic principle is above all else that cohesive something which enables an Entity (whether Logos, Heavenly Man, or man) to work:

Giờ đây chúng ta đến định nghĩa thứ ba: nguyên khí manas trên hết mọi sự là cái gì đó có tính cố kết, giúp cho một Thực Thể (dù là Thượng đế, Đấng Thiên Nhân, hay con người) có thể hoạt động:

a. Through form, and thus exist. [Page 333]

a. Qua hình tướng, và như thế tồn tại. [Page 333]

b. By means of progressive development or cyclic evolution.

b. Bằng phương tiện của sự phát triển tiến bộ hay tiến hoá theo chu kỳ.

c. On certain planes, that are, for the entity concerned, the battleground of life, and the field of experience.

c. Trên những cõi nhất định, là chiến trường của sự sống và là lĩnh vực kinh nghiệm đối với thực thể liên hệ.

d. By the method of manifestation, which is a gradual growth from a dim and distant dawn through an ever increasing splendour of light to a blaze of effulgent glory; then through a steadily dimming twilight to final obscuration. Dawn, day, midday, twilight, night—thus is the order for the Logos, for a planetary Logos, and for man.

d. Bằng phương pháp biểu hiện, vốn là một sự tăng trưởng dần dần từ bình minh mờ nhạt và xa xăm qua ánh huy hoàng ngày càng tăng của ánh sáng đến một ngọn lửa vinh quang rực rỡ; rồi qua hoàng hôn mờ dần đều đặn đến sự che mờ cuối cùng. Bình minh, ban ngày, giữa trưa, hoàng hôn, đêm tối—đó là trật tự đối với Thượng đế, đối với một Hành Tinh Thượng đế, và đối với con người.

If the above four points are carefully studied, it will be found that they are fairly comprehensive, and embody the four points that are as yet the only ones available for man in this fourth round.

Nếu bốn điểm trên được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy rằng chúng khá bao quát, và bao hàm bốn điểm mà hiện nay là những điểm duy nhất khả dụng cho con người trong cuộc tuần hoàn thứ tư này.

Man regards himself as a synthesised aggregate of physical body, emotional nature, and mentality, yet knows himself as more than these three, and recognises himself as the utiliser of form, of emotion, and of mentality, holding them all together coherently so that he is a unit. A planetary Logos similarly does the same, with the difference that manas is not the medium whereby he is a coherent whole. Owing to his more advanced stage of development, wisdom is for Him the dominant factor. A solar logos achieves through Will what a planetary Logos does through wisdom or buddhi, and man (on his tiny scale) through manas. Yet, as both planetary Logos and man are but parts of their greater whole, the electric fire of will permeates them also, merging with the solar fire of buddhi, and fanning the fires of matter. In all these distinctions and differentiations it must be remembered that they do not exist from the logoic standpoint, but are only to be predicated in relation [Page 334] to the lesser bodies which are included in the solar ring-pass-not.

Con người xem mình là một tổng thể tổng hợp gồm thể xác, bản chất cảm xúc, và trí tuệ, tuy nhiên biết mình còn hơn ba điều ấy, và nhận ra mình là kẻ sử dụng hình tướng, cảm xúc, và trí tuệ, giữ tất cả chúng lại với nhau một cách cố kết để y là một đơn vị. Một Hành Tinh Thượng đế cũng làm điều tương tự, với khác biệt là manas không phải là môi trường nhờ đó Ngài là một toàn thể cố kết. Do giai đoạn phát triển cao hơn của Ngài, minh triết là yếu tố chi phối đối với Ngài. Một Thái dương Thượng đế thành tựu bằng Ý Chí điều mà một Hành Tinh Thượng đế thực hiện bằng minh triết hay Bồ đề, và con người (trên quy mô nhỏ bé của mình) bằng manas. Tuy nhiên, vì cả Hành Tinh Thượng đế lẫn con người chỉ là những phần của toàn thể lớn hơn của mình, lửa điện của ý chí cũng thấm nhuần họ, hòa nhập với lửa thái dương của Bồ đề, và quạt bùng các ngọn lửa của vật chất. Trong mọi sự phân biệt và biến phân này, phải nhớ rằng chúng không tồn tại từ quan điểm logoic, mà chỉ có thể được khẳng định trong liên hệ [Page 334] với các thể nhỏ hơn được bao hàm trong vòng-giới-hạn thái dương.

A man is a coherent unit in objective manifestation for very brief periods on the physical plane simply because as yet he works only through manas and not through wisdom. His cycles are consequently soon run, and gone like a flash in the night. A planetary Logos, Who is perfected manas and works through wisdom, has longer cycles, and from the angle of vision of man endures for aeons; His life is the basis of the comparative permanence of the egoic cycles of man. The cycle of objectivity of a solar Logos persists for the greater mahamanvantara or solar cycle because it is based on will as well as on wisdom and manas. Therefore, it will be apparent that:

Con người là một đơn vị cố kết trong biểu hiện khách quan trong những thời kỳ rất ngắn trên cõi hồng trần chỉ vì hiện nay y chỉ hoạt động qua manas chứ chưa qua minh triết. Do đó các chu kỳ của y nhanh chóng hoàn tất, và qua đi như một tia chớp trong đêm. Một Hành Tinh Thượng đế, Đấng là manas hoàn hảo và hoạt động qua minh triết, có các chu kỳ dài hơn, và từ góc nhìn của con người thì tồn tại qua các đại kiếp; sự sống của Ngài là nền tảng cho tính thường tồn tương đối của các chu kỳ chân ngã của con người. Chu kỳ khách quan của một Thái dương Thượng đế kéo dài suốt đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn hay chu kỳ thái dương vì nó được đặt nền trên ý chí cũng như trên minh triết và manas. Do đó, sẽ hiển nhiên rằng:

a. Manas or intelligence is the basis of the separative manifestation of man.

a. Manas hay trí tuệ là nền tảng của biểu hiện phân ly của con người.

b. Wisdom or buddhi is the basis of the group manifestation of a Heavenly Man.

b. Minh triết hay Bồ đề là nền tảng của biểu hiện nhóm của một Đấng Thiên Nhân.

c. Will is the basis of the One Life which synthesises all groups.

c. Ý chí là nền tảng của Sự Sống Duy Nhất tổng hợp mọi nhóm.

Therefore again, in studying this Fire of Mind, we must remember that it is that which man is developing and with which he is learning to work, but that it is also that which a Heavenly Man has developed in an earlier system; it is to Him as automatic in its action as is the subconscious activity of a man’s physical organs.

Vì vậy, một lần nữa, khi nghiên cứu Lửa của Trí Tuệ này, chúng ta phải nhớ rằng đó là điều con người đang phát triển và đang học cách làm việc với nó, nhưng đó cũng là điều mà một Đấng Thiên Nhân đã phát triển trong một hệ thống trước; đối với Ngài, nó tự động trong hoạt động của mình cũng như hoạt động tiềm thức của các cơ quan hồng trần của con người vậy.

4. MANAS IS THE KEY TO THE FIFTH KINGDOM IN NATURE — 4. MANAS LÀ CHÌA KHÓA ĐẾN GIỚI THỨ NĂM TRONG THIÊN NHIÊN

We might also define manas as the key to the door through which entrance is made into th5. MANAS IS THE SYNTHESIS OF FIVE RAYSe fifth kingdom of nature, the spiritual kingdom. Each of the five kingdoms is entered by some one key, and in connection the first two kingdoms—the mineral and vegetable—the key or method whereby the life escapes into the higher kingdom is so inexplicable to man as his present stage [Page 335] of intelligent apprehension that we will not pause to consider it. In relation to the animal kingdom it might be said that the key whereby entrance is effected into the human kingdom is that of instinct. This instinct, towards the final stages of the animal’s evolution, and as it becomes more and more detached from the group soul, (126) becomes transmuted into mentality, or into that embryo mind which is latent in animal-man, and which simply needed the stimulating vibration which emanated from the Earth’s Primary to be fanned into something definitely human. We must always bear in mind that the method of individualisation on this globe was not the one followed on others, and that many of the present advanced units of humanity individualised normally, and through the driving force of evolution itself. They found (to express it as far as possible in terms of fire), their opposite electrical pole through the activity of animal instinct, and by the blending of the two a human being was produced,—the union of the three fires in the causal vehicle.

Chúng ta cũng có thể định nghĩa manas là chìa khóa của cánh cửa qua đó sự đi vào giới thứ năm trong thiên nhiên, giới tinh thần, được thực hiện. Mỗi một trong năm giới được đi vào bằng một chìa khóa nào đó, và liên hệ với hai giới đầu tiên—giới kim thạch và giới thực vật—chìa khóa hay phương pháp nhờ đó sự sống thoát vào giới cao hơn khó giải thích đối với con người ở giai đoạn hiện nay của [Page 335] sự lĩnh hội thông minh của y đến mức chúng ta sẽ không dừng lại để xem xét nó. Liên hệ với giới động vật, có thể nói rằng chìa khóa nhờ đó sự đi vào giới nhân loại được thực hiện là bản năng. Bản năng này, vào các giai đoạn cuối của sự tiến hoá của con vật, và khi nó ngày càng tách rời khỏi Hồn nhóm, (126) được chuyển hoá thành trí tuệ, hay thành cái mầm trí tuệ tiềm ẩn trong người thú, và chỉ cần rung động kích thích phát ra từ Đấng Sơ Khởi của Trái Đất để được quạt bùng thành một cái gì đó rõ rệt là con người. Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng phương pháp biệt ngã hóa trên bầu hành tinh này không phải là phương pháp được theo trên các bầu hành tinh khác, và rằng nhiều đơn vị hiện nay tiến bộ của nhân loại đã biệt ngã hóa một cách bình thường, và qua chính động lực thúc đẩy của tiến hoá. Họ đã tìm thấy (để diễn đạt điều đó càng nhiều càng tốt bằng các thuật ngữ của lửa) cực điện đối nghịch của mình qua hoạt động của bản năng động vật, và bằng sự dung hợp của hai cực ấy mà một con người được tạo ra,—sự hợp nhất của ba ngọn lửa trong vận cụ nguyên nhân.

(126) “A Group-soul is a collection of permanent Triads in a triple envelope of monadic essence. The permanent Triads are a reflection upon the lower planes of the spiritual Triads on the higher. This description is true of all group-souls functioning on the physical plane, but gives no idea of the extreme complexity of the subject.”—From A Study in Consciousness, by Annie Besant. (back)

(126) “Một Hồn nhóm là một tập hợp các Tam nguyên trường tồn trong một bao bọc tam phân bằng tinh chất chân thần. Các Tam nguyên trường tồn là một phản ánh trên các cõi thấp của các Tam nguyên tinh thần trên các cõi cao. Mô tả này đúng với mọi hồn nhóm hoạt động trên cõi hồng trần, nhưng không cho ý niệm nào về tính cực kỳ phức tạp của chủ đề này.”—Trích từ Nghiên Cứu về Tâm Thức, của Annie Besant. (trở lại)

Man passes into the fifth kingdom through the transmutation of the discriminative faculty of mind, which—as in the animal’s individualisation—brings about at a certain stage a spiritual individualisation which is the correspondence on higher levels to what transpired in Lemurian days. Therefore, we have:

Con người đi vào giới thứ năm qua sự chuyển hoá năng lực phân biện của trí tuệ, năng lực này—cũng như trong sự biệt ngã hóa của động vật—ở một giai đoạn nhất định tạo ra một sự biệt ngã hóa tinh thần, là sự tương ứng trên các cấp độ cao với điều đã xảy ra trong những ngày Lemuria. Do đó, chúng ta có:

Instinct

The key from the animal into the human kingdom or from the third into the fourth kingdom.

Manas

The key from the human into the spiritual kingdom, or from the fourth kingdom into the fifth kingdom.

[Page 336] Higher we need not go, for the transmutation of manas proceeds, and much as yet remains to be done.

[Page 336] Chúng ta không cần đi cao hơn nữa, vì sự chuyển hoá của manas vẫn đang tiếp diễn, và còn nhiều điều phải làm.

5. MANAS IS THE SYNTHESIS OF FIVE RAYS — 5. MANAS LÀ SỰ TỔNG HỢP CỦA NĂM CUNG

One other definition might be given even though its abstruseness may prove but a bewilderment to the student.

Có thể đưa ra thêm một định nghĩa nữa dù tính thâm áo của nó có thể chỉ gây bối rối cho đạo sinh.

Manas is the united faculty of four of the Heavenly Men, synthesised through a fifth Heavenly Man on the third plane of the system. These five Heavenly Men were the logoic embodiment in an earlier system and achieved the fullness of manasic life. Their synthetic life is that which is primarily understood when we speak of Brahma, that cosmic Entity Who is the sum-total of logoic active intelligence. For lack of better terms we call Them the Lords of the four minor Rays, Who find Their synthesis through the third Ray of Activity. They have been called in an endeavour to express the principles which They embody:

Manas là năng lực hợp nhất của bốn Đấng Thiên Nhân, được tổng hợp qua một Đấng Thiên Nhân thứ năm trên cõi thứ ba của hệ thống. Năm Đấng Thiên Nhân này là hiện thân logoic trong một hệ thống trước và đã đạt đến sự viên mãn của sự sống manas. Sự sống tổng hợp của Các Ngài là điều chủ yếu được hiểu khi chúng ta nói đến Brahma, Thực Thể vũ trụ là tổng thể của trí tuệ hoạt động logoic. Vì thiếu những thuật ngữ tốt hơn, chúng ta gọi Các Ngài là các Đấng Chúa Tể của bốn Cung nhỏ, những Đấng tìm thấy sự tổng hợp của mình qua cung ba Hoạt Động. Các Ngài đã được gọi như thế trong nỗ lực diễn tả các nguyên khí mà Các Ngài hiện thân:

1. The Lord of Ceremonial Magic.

1. Đấng Chúa Tể của Huyền Thuật Nghi Lễ.

2. The Lord of Abstract Idealism, or Devotion.

2. Đấng Chúa Tể của Chủ Nghĩa Duy Tâm Trừu Tượng, hay Sùng Tín.

3. The Lord of Concrete Science.

3. Đấng Chúa Tể của Khoa Học Cụ Thể.

4. The Lord of Harmony and Art.

4. Đấng Chúa Tể của Hài Hòa và Nghệ Thuật.

These four function through the fourth cosmic ether, and have vehicles of buddhic matter. They merge into the greater life of the Lord of the third Ray of Aspect on atmic levels, and these four (with the one synthetic Ray), are the totality of manasic energy. They are the life of the five lower planes. They are the five Kumaras, and two remain, making the seven Kumaras or Builders of the universe; these five have been called the five Mind-born Sons of Brahma. (S. D., I, 119, 493; II, 111, 112.) Manas, therefore, is the psychic effect of Their united group work, and shows forth in different ways according to the units involved, the forms [Page 337] animated, and the planes concerned. They demonstrate predominantly on the five lower subplanes of each plane, and this factor should be remembered in connection with the major initiations of manas. Nevertheless—as They are the sumtotal of the third or Brahma aspect—Their main sphere of influence is on the lowest or third division of the manifested universe or on the mental, astral, and physical planes.

Bốn Đấng này hoạt động qua dĩ thái vũ trụ thứ tư, và có các vận cụ bằng vật chất Bồ đề. Các Ngài hòa nhập vào sự sống lớn hơn của Đấng Chúa Tể của cung ba Trạng Thái trên các cấp độ atma, và bốn Đấng này (cùng với một Cung tổng hợp) là toàn thể năng lượng manas. Các Ngài là sự sống của năm cõi thấp. Các Ngài là năm Kumara, và còn lại hai vị, tạo thành bảy Kumara hay các Đấng Kiến Tạo của vũ trụ; năm vị này đã được gọi là năm Người Con do Tâm sinh của Brahma. (S. D., I, 119, 493; II, 111, 112.) Do đó, manas là hiệu quả thông linh của công việc nhóm hợp nhất của Các Ngài, và biểu lộ theo những cách khác nhau tùy theo các đơn vị liên hệ, các hình tướng được [Page 337] làm sinh động, và các cõi liên hệ. Các Ngài biểu lộ chủ yếu trên năm cõi phụ thấp của mỗi cõi, và yếu tố này cần được ghi nhớ liên hệ với các cuộc điểm đạo lớn của manas. Tuy nhiên—vì Các Ngài là tổng thể của phương diện thứ ba hay phương diện Brahma—khối cầu ảnh hưởng chính của Các Ngài là trên phân bộ thấp nhất hay thứ ba của vũ trụ biểu hiện, tức là trên các cõi trí, cảm dục, và hồng trần.

I would here suggest a third division of the major planes of the system which will hold much of interest for the real student of occultism.

Ở đây tôi muốn gợi ý một sự phân chia thứ ba của các cõi chính trong hệ thống, điều sẽ chứa đựng nhiều điều lý thú cho đạo sinh chân chính của huyền bí học.

First Logos

Mahadeva.

Will Aspect

First plane.

Second Logos

Vishnu

Wisdom Aspect

Second, Third, Fourth.

Third Logos

Brahma

Intelligence

Fifth, Sixth, Seventh.

In these five definitions of manas we have suggested scope for thought and much has been hinted at for those who have ears to hear. Many more explanatory words might be spoken but we aim to start students thinking for themselves, and seek to see them defining these ideas in their own words.

Trong năm định nghĩa này về manas, chúng ta đã gợi ra phạm vi cho tư tưởng và đã ám chỉ nhiều điều cho những ai có tai để nghe. Có thể nói thêm nhiều lời giải thích nữa, nhưng chúng tôi nhắm đến việc khởi động đạo sinh tự suy nghĩ, và mong thấy họ định nghĩa các ý tưởng này bằng chính lời lẽ của mình.

6. MANAS IS THE INTELLIGENT WILL OR PURPOSE OF AN EXISTENCE — 6. MANAS LÀ Ý CHÍ THÔNG MINH HAY MỤC ĐÍCH CỦA MỘT HIỆN HỮU

Manas might finally be defined as the intelligent will and ordered purpose of every self-conscious entity. I would urge the student to bear in mind certain basic facts which will serve to keep his mind clear, and which will enable him to comprehend something of the place which this fire of mind holds in the cosmos and the solar system, and (needless to say), in his life also,—the reflection of the other two.

Cuối cùng, manas có thể được định nghĩa là ý chí thông minh và mục đích có trật tự của mọi thực thể ngã thức. Tôi muốn thúc giục đạo sinh ghi nhớ một số sự kiện căn bản sẽ giúp giữ cho thể trí của y được sáng rõ, và sẽ giúp y thấu hiểu phần nào vị trí mà lửa của trí tuệ này giữ trong vũ trụ và trong hệ mặt trời, và dĩ nhiên, cả trong đời sống của chính y nữa,—sự phản ánh của hai lửa kia.

He should ever remember that manas is a principle of the Logos, and necessarily therefore is felt in all those [Page 338] evolutions which are a part of His nature but is allied especially to the throat and head centres; it is the active intelligent factor which enables a solar Logos, a planetary Logos or Heavenly Man, and a human being to:

Y nên luôn luôn nhớ rằng manas là một nguyên khí của Thượng đế, và do đó tất yếu được cảm nhận trong mọi [Page 338] tiến hoá là một phần của bản chất Ngài nhưng đặc biệt liên kết với các trung tâm cổ họng và đầu; đó là yếu tố hoạt động thông minh giúp cho một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế hay Đấng Thiên Nhân, và một con người có thể:

a. Use intelligently a form or vehicle.

a. Sử dụng một hình tướng hay vận cụ một cách thông minh.

b. Build faculty into the causal body.

b. Xây dựng năng lực vào thể nguyên nhân.

c. Reap the benefit of experience.

c. Gặt hái lợi ích của kinh nghiệm.

d. Expand the consciousness.

d. Mở rộng tâm thức.

e. Make progress towards a specified goal.

e. Tiến bộ hướng đến một mục tiêu xác định.

f. Discriminate between the two poles.

f. Phân biện giữa hai cực.

g. Choose the direction in which his activity shall trend.

g. Chọn hướng mà hoạt động của y sẽ nghiêng theo.

h. Perfect the form as well as use it.

h. Hoàn thiện hình tướng cũng như sử dụng nó.

i. Obtain control of active substance, and turn its forces into desired channels.

i. Đạt được sự kiểm soát chất liệu hoạt động, và chuyển các mãnh lực của nó vào những kênh dẫn mong muốn.

j. Co-ordinate the different grades of matter, and synthesise the utilised forms till each and all show a unanimous line of action and express simultaneously the will of the Indweller.

j. Phối hợp các cấp độ vật chất khác nhau, và tổng hợp các hình tướng được sử dụng cho đến khi mỗi và tất cả đều biểu lộ một đường lối hành động nhất trí và biểu lộ đồng thời ý chí của Đấng Ngự Bên Trong.

All these ends are the result of the manasic development and perhaps the student might apprehend the underlying idea more clearly if it is realised that

Tất cả các mục tiêu này là kết quả của sự phát triển manas, và có lẽ đạo sinh có thể lĩnh hội ý tưởng nền tảng rõ hơn nếu chứng nghiệm rằng

a. The Spirit employs manas in all that concerns matter, the electrical substance, or the active akasha.

a. Tinh thần sử dụng manas trong mọi điều liên quan đến vật chất, chất liệu điện, hay akasha hoạt động.

b. The Spirit employs buddhi in all that relates to the psyche, that relates to the soul of the world, to the soul of an individual, or to the soul of every form.

b. Tinh thần sử dụng buddhi trong mọi điều liên hệ đến psyche, liên hệ đến linh hồn của thế giới, đến linh hồn của một cá nhân, hay đến linh hồn của mọi hình tướng.

c. The Spirit employs will or atma in all that relates to the essence of all, to itself, considering the essence and the Self as pure Spirit as distinguished from spirit-matter.

c. Tinh thần sử dụng phương diện ý chí hay atma trong mọi điều liên hệ đến tinh túy của vạn hữu, đến chính nó, xét tinh túy và Bản Ngã như Tinh thần thuần túy phân biệt với tinh thần-vật chất.

In the first case, the distinctive quality of manas is discrimination which enables the Spirit to differentiate between: [Page 339]

Trong trường hợp thứ nhất, phẩm tính đặc thù của manas là sự phân biện, giúp Tinh thần phân biệt giữa: [Page 339]

1. The Self and the Not-Self.

1. Bản Ngã và Phi-Ngã.

2. Spirit and Matter.

2. Tinh thần và Vật chất.

3. The planes and the subplanes.

3. Các cõi và các cõi phụ.

4. The different grades of atomic matter in the system.

4. Các cấp độ khác nhau của vật chất nguyên tử trong hệ thống.

5. Vibrations, engendered by will, working through love-wisdom, and energising substance.

5. Các rung động, được tạo ra bởi ý chí, hoạt động qua bác ái – minh triết, và tiếp năng lượng cho chất liệu.

6. All that concerns forms of every kind and in every type of essential existence.

6. Mọi điều liên quan đến các hình tướng thuộc mọi loại và trong mọi kiểu hiện hữu bản chất.

In the second case, the buddhic principle has for its distinctive quality love, and demonstrates as wisdom working through love and producing:

Trong trường hợp thứ hai, nguyên khí Bồ đề có phẩm tính đặc thù là bác ái, và biểu lộ như minh triết hoạt động qua bác ái và tạo ra:

1. Unity between all Selves.

1. Sự hợp nhất giữa mọi Bản Ngã.

2. Group coherence.

2. Sự cố kết nhóm.

3. Qualities that are distinctively along the line of what we call love.

3. Các phẩm tính đặc biệt theo đường lối của điều chúng ta gọi là bác ái.

4. Effective work in connection with evolution, or the fundamentals of hierarchical work.

4. Công việc hữu hiệu liên hệ với tiến hoá, hay các nền tảng của công việc phân cấp.

In the third case the Spirit employs the will aspect or atma (in man), which has, for its distinctive feature, that coherent force which keeps the purpose of the entity ever in view, working it out through love in substantial form.

Trong trường hợp thứ ba, Tinh thần sử dụng phương diện ý chí hay atma (trong con người), phương diện này có, như đặc điểm riêng biệt của nó, mãnh lực cố kết giữ cho mục đích của thực thể luôn luôn ở trong tầm nhìn, triển khai nó qua bác ái trong hình tướng chất liệu.

I have pointed out these distinctions as it serves to bring the scope, and equally the limitations, of the active mental principle somewhat more clearly before the student. In the Hall of Ignorance the accumulative side of manas and its ability to store and acquire knowledge and information is being developed. A man, for instance, acquires facts, and application, and sets up vibrations which have to be worked out intelligently. The acquisitive side of this principle is showing forth. In the Hall of Learning the discriminative side is being developed, and the man learns not only to choose but to discard, and he begins to merge the two poles intelligently. In the [Page 340] Hall of Wisdom he discards also, and perfectly blends the two poles, thereby producing that objective something we call light. The illuminating side of manas is shown. He becomes an intelligent creator, and by the time he has taken the four major initiations he has:

Tôi đã chỉ ra những phân biệt này vì điều đó giúp đưa phạm vi, và đồng thời cả những giới hạn, của nguyên khí trí tuệ hoạt động hiện ra phần nào rõ hơn trước đạo sinh. Trong Phòng Vô Minh phương diện tích lũy của manas và khả năng lưu trữ, thu nhận tri thức và thông tin của nó đang được phát triển. Chẳng hạn, một người thu nhận các sự kiện và sự ứng dụng, và thiết lập các rung động phải được triển khai một cách thông minh. Phương diện thu nhận của nguyên khí này đang biểu lộ. Trong Phòng Hiểu Biết phương diện phân biện đang được phát triển, và con người học không chỉ chọn lựa mà còn loại bỏ, và y bắt đầu hòa nhập hai cực một cách thông minh. Trong [Page 340] Phòng Minh triết y cũng loại bỏ, và dung hợp hoàn hảo hai cực, nhờ đó tạo ra cái gì đó khách quan mà chúng ta gọi là ánh sáng. Phương diện soi sáng của manas được biểu lộ. Y trở thành một đấng kiến tạo thông minh, và vào lúc y đã trải qua bốn cuộc điểm đạo lớn, y đã:

1. Developed perfectly the Brahma aspect, which—as pointed out—functions primarily in the three worlds. It is the active intelligent aspect.

1. Phát triển hoàn hảo phương diện Brahma, phương diện—như đã chỉ ra—hoạt động chủ yếu trong ba cõi giới. Đó là phương diện hoạt động thông minh.

2. Achieved the point of development at which a Heavenly Man, the Divine Manasaputra, commenced this circle of manifestation we call a solar system.

2. Đạt đến điểm phát triển mà tại đó một Đấng Thiên Nhân, Đấng Manasaputra thiêng liêng, đã khởi đầu vòng biểu hiện này mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời.

3. Transmuted manas into wisdom or love.

3. Chuyển hoá manas thành minh triết hay bác ái.

4. Synthesised the Rays of Activity or Intelligence and is beginning to merge this synthesis into the higher one of love-wisdom.

4. Tổng hợp các Cung Hoạt Động hay Trí Tuệ và đang bắt đầu hòa nhập sự tổng hợp này vào sự tổng hợp cao hơn của bác ái – minh triết.

To sum it all up in words of fire: The fire of matter has blazed out perfectly, and the vibratory activity of the man has been keyed up to synchronise with that of a Heavenly Man, thus enabling a man to function consciously, or be vitally active on the buddhic plane.

Tóm lại tất cả bằng những lời của lửa: Lửa của vật chất đã bùng cháy một cách hoàn hảo, và hoạt động rung động của con người đã được nâng lên để đồng bộ với hoạt động của một Đấng Thiên Nhân, nhờ đó giúp con người hoạt động một cách hữu thức, hay sinh động thiết yếu trên cõi Bồ đề.

The fire of mind has blended with the fire of matter and has stimulated it to such an extent that it has brought about the liberation of the entity, man, from the three worlds, and has occultly “obscured” his manifestation on the three planes in exactly the same way as the manifestation of a Logos “goes out” (occultly) when the fires are sufficiently fierce. As regards the fire of Spirit, or pure electric fire, this is finally synthesised with the other two and brings about the escape of the life on to another plane cosmically considered. [Page 341]

Lửa của trí tuệ đã hòa trộn với lửa của vật chất và đã kích thích nó đến mức giải phóng thực thể là con người ra khỏi ba cõi giới, và một cách huyền bí đã “làm lu mờ” biểu hiện của y trên ba cõi đúng theo cùng cách mà biểu hiện của một Thượng đế “tắt đi” (theo nghĩa huyền bí) khi các ngọn lửa đủ mãnh liệt. Còn về lửa của Tinh thần, hay Lửa Điện thuần túy, thì cuối cùng nó được tổng hợp với hai lửa kia và đưa đến sự thoát ra của sự sống sang một cõi khác nếu xét theo vũ trụ.[Page 341]

A MAN

CON NGƯỜI

a. The blending of the fire of matter and of the fire of mind liberates from the three worlds.

a. Sự hòa trộn của lửa vật chất và lửa trí tuệ giải phóng khỏi ba cõi giới.

b. The blending of electric fire with the two other fires brings about liberation from the five lower planes, and enables a man to function consciously on the cosmic physical plane.

b. Sự hòa trộn của Lửa Điện với hai lửa kia đem lại sự giải phóng khỏi năm cõi thấp, và giúp con người hoạt động một cách hữu thức trên cõi hồng trần vũ trụ.

A HEAVENLY MAN

MỘT ĐẤNG THIÊN NHÂN

a. The blending of the fire of matter and of mind liberates from the three planes of His manifestation.

a. Sự hòa trộn của lửa vật chất và lửa trí tuệ giải phóng Ngài khỏi ba cõi biểu hiện của Ngài.

b. The blending of the electric fire in His case brings about escape from the planetary ring-pass-not and enables Him to function consciously on the cosmic astral plane.

b. Sự hòa trộn của Lửa Điện trong trường hợp của Ngài đem lại sự thoát ra khỏi vòng-giới-hạn hành tinh và giúp Ngài hoạt động một cách hữu thức trên cõi cảm dục vũ trụ.

A SOLAR LOGOS

MỘT THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ

a. The blending of the fire of matter and of mind liberates Him from the solar ring-pass-not, and gives Him the freedom of the cosmic physical, astral and the lower subplanes of the cosmic mental planes.

a. Sự hòa trộn của lửa vật chất và lửa trí tuệ giải phóng Ngài khỏi vòng-giới-hạn thái dương, và ban cho Ngài sự tự do của cõi hồng trần vũ trụ, cõi cảm dục vũ trụ và các cõi phụ thấp của cõi trí vũ trụ.

b. The blending of electric fire with the other two enables Him to function consciously in His causal body thus paralleling the work of Man in the three worlds.

b. Sự hòa trộn của Lửa Điện với hai lửa kia giúp Ngài hoạt động một cách hữu thức trong thể nguyên nhân của Ngài, như thế song hành với công việc của Con Người trong ba cõi giới.

Cosmic Fire S4

DIVISION B - MANAS AS A COSMIC, SYSTEMIC AND HUMAN FACTOR — PHÂN ĐOẠN B - MANAS NHƯ MỘT NHÂN TỐ VŨ TRỤ, THÁI DƯƠNG HỆ VÀ NHÂN LOẠI

I. THE ORIGIN OF MANAS, OR MIND

I. NGUỒN GỐC CỦA MANAS, HAY TRÍ TUỆ

1. Cosmic Manas.

1. Manas vũ trụ.

a. The process of individualisation.

a. Tiến trình biệt ngã hóa.

b. The method of initiation.

b. Phương pháp điểm đạo.

2. Planetary Manas.

2. Manas hành tinh.

a. Consciousness and existence.

a. Tâm thức và hiện hữu.

b. Will and ordered purpose.

b. Ý chí và mục đích có trật tự.

3. Human Manas.

3. Manas nhân loại.

a. Man and the planetary Logos.

a. Con người và Hành Tinh Thượng đế.

b. The Logos of our scheme.

b. Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta.

c. Venus and the Earth chain.

c. Sao Kim và Dãy Địa Cầu.

4. Manas and the Earth Chain.

4. Manas và Dãy Địa Cầu.

a. The Earth chain and the incarnating monads.

a. Dãy Địa Cầu và các chân thần đang lâm phàm.

b. The fourth kingdom and the Hierarchy.

b. giới thứ tư và Thánh Đoàn.

c. A Prophecy.

c. Một lời tiên tri.

d. A Summation.

d. Một sự tổng kết.

II. THE POSITION OF MANAS

II. VỊ TRÍ CỦA MANAS

1. Manas and Karma.

1. Manas và nghiệp quả.

2. Manas and karmic purpose.

2. Manas và mục đích nghiệp quả.

III. THE PRESENT STAGE OF MANASIC DEVELOPMENT

III. GIAI ĐOẠN HIỆN NAY CỦA SỰ PHÁT TRIỂN MANAS

1. In the planets.

1. Trong các hành tinh.

2. In the system.

2. Trong hệ thống.

3. On the Earth. [Page 343]

3. Trên Trái Đất. [Page 343]

IV. THE FUTURE OF MANAS

IV. TƯƠNG LAI CỦA MANAS

1. The characteristics of Manas.

1. Các đặc tính của Manas.

a. Discrimination.

a. Phân biện.

b. Ordered activity.

b. Hoạt động có trật tự.

c. Adaptability.

c. Khả năng thích ứng.

2. Developments of the Human Mind.

2. Những phát triển của trí tuệ con người.

a. Ray effects.

a. Các hiệu ứng của cung.

b. Animals, men and the rays.

b. Động vật, những người nam và nữ, và các cung.

c. Types of Karma.

c. Các loại nghiệp quả.

3. Manas in the Final Rounds.

3. Manas trong các cuộc tuần hoàn cuối cùng.

a. The transmutative process.

a. Tiến trình chuyển hoá.

b. Synthesis.

b. Tổng hợp.

I. THE ORIGIN OF MANAS, OR MIND — i. NGUỒN GỐC CỦA MANAS, HAY TRÍ TUỆ

WHAT we are dealing with here (taking these three factors in their order), is the fire of mind in connection with a solar Logos. It has been earlier pointed out that mind has already been developed in a Heavenly Man, and therefore we must equally predicate anent a solar Logos that cosmic mind, or the fifth Principle, is His prime characteristic, and was perfected by Him in an earlier system. We might now consider our first subdivision:

Điều chúng ta đang bàn đến ở đây (xét ba yếu tố này theo thứ tự của chúng) là lửa của trí tuệ trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế. Trước đây đã chỉ ra rằng trí tuệ đã được phát triển nơi một Đấng Thiên Nhân, và vì vậy chúng ta cũng phải khẳng định tương tự về một Thái dương Thượng đế rằng trí tuệ vũ trụ, hay nguyên khí thứ năm, là đặc tính chủ yếu của Ngài, và đã được Ngài hoàn thiện trong một hệ thống trước đó. Giờ đây chúng ta có thể xét đến phân mục thứ nhất của mình:

1. Cosmic Manas. — 1. Manas vũ trụ.

Whence comes this fire? Where originates this vital heat, or vibratory activity, which is predominantly a feature of all conceivable Beings? How far back is it possible for us to go? Can we conceive of its origin? What is this downpouring fire that animates the darkness of matter?

Lửa này từ đâu đến? Nhiệt thiết yếu này, hay hoạt động rung động này, vốn nổi trội như một đặc trưng của mọi Hữu thể có thể quan niệm được, phát sinh ở đâu? Chúng ta có thể đi ngược về bao xa? Chúng ta có thể quan niệm được nguồn gốc của nó chăng? Lửa tuôn đổ này là gì mà làm sinh động bóng tối của vật chất?

a. The Process of Individualisation. Perhaps it may help somewhat if we here consider the question of INDIVIDUALISATION, or the process of intelligent self-realisation [Page 344]

a. Tiến trình biệt ngã hóa. Có lẽ sẽ phần nào hữu ích nếu ở đây chúng ta xét đến vấn đề BIỆT NGÃ HÓA, hay tiến trình tự chứng nghiệm một cách thông minh [Page 344]

[Page 345] which so strikingly differentiates men from the animals. At individualisation the two poles are approximated, and at their meeting light streams forth, irradiating the cave of matter, and lighting the pathway that must be trodden by the Pilgrim on his way back to his source.

[Page 345] vốn phân biệt con người với loài vật một cách nổi bật như thế. Khi biệt ngã hóa, hai cực được đưa lại gần nhau, và tại điểm gặp gỡ của chúng ánh sáng tuôn ra, chiếu rọi hang động của vật chất, và soi sáng con đường mà Người Lữ Hành phải bước đi trên đường trở về nguồn cội của mình.

This irradiation brings about, in connection with man,

Sự chiếu rọi này, trong liên hệ với con người, đem lại:

Self-realisation.

Tự chứng nghiệm.

Purpose.

Mục đích.

Separation from all other individualised selves, or spheres.

Sự tách biệt khỏi mọi bản ngã biệt ngã hóa khác, hay các khối cầu khác.

Consciousness, above all.

Trên hết là tâm thức.

Ability to evolve.

Khả năng tiến hoá.

Capacity to “shine ever more and more unto the perfect day.”

Năng lực “chiếu sáng ngày càng hơn cho đến ngày toàn hảo.”

This is equally true of a solar Logos, and of a Heavenly Man.

Điều này cũng đúng như vậy đối với một Thái dương Thượng đế và một Đấng Thiên Nhân.

Individualisation is literally the coming together (out of the darkness of abstraction), of the two factors of Spirit and matter by means of a third factor, the intelligent will, purpose and action of an Entity. By the approximation of these two poles light is produced, a flame shines forth, a sphere of radiant glory is seen which gradually increases the intensity of its light, its heat and its radiance until capacity is reached, or that which we call perfection. We should note and distinguish the words light, heat and radiance, which are the distinctive features of all individualised entities from Gods to men.

Biệt ngã hóa theo nghĩa đen là sự đến gần nhau (ra khỏi bóng tối của sự trừu xuất) của hai yếu tố tinh thần và vật chất nhờ một yếu tố thứ ba, là ý chí, mục đích và hành động thông minh của một Thực Thể. Do sự tiếp cận của hai cực này mà ánh sáng được tạo ra, một ngọn lửa bừng sáng, một khối cầu vinh quang rực rỡ xuất hiện và dần dần gia tăng cường độ ánh sáng, nhiệt và sự rạng ngời của nó cho đến khi đạt tới năng lực, hay điều mà chúng ta gọi là sự toàn hảo. Chúng ta nên lưu ý và phân biệt các từ ánh sáng, nhiệt và sự rạng ngời, là những đặc điểm phân biệt của mọi thực thể biệt ngã hóa từ các Thượng đế đến con người.

Man is beginning to arrive partially at the secret of this phenomenon through his ability to produce through scientific knowledge, that which is called electric light and which is used by man for illumination, heat and healing. As more anent this matter is discovered by physical plane students, the whole question of existence and of creative activity will become clearer.

Con người đang bắt đầu phần nào đạt đến bí mật của hiện tượng này nhờ khả năng tạo ra, qua tri thức khoa học, điều được gọi là ánh sáng điện và được con người dùng để soi sáng, sưởi ấm và chữa lành. Khi các đạo sinh cõi hồng trần khám phá thêm về vấn đề này, toàn bộ câu hỏi về hiện hữu và hoạt động sáng tạo sẽ trở nên sáng tỏ hơn.

As regards the origin of the fire of mind something [Page 346] more may be learned through studying the various methods of individualisation. In connection with man these methods are three in number as far as we can tell, though the probability of there being several other methods which are inconceivable to man’s finite comprehension, is quite possible. These methods are:

Về nguồn gốc của lửa trí tuệ, có thể học được thêm đôi điều [Page 346] qua việc nghiên cứu các phương pháp biệt ngã hóa khác nhau. Trong liên hệ với con người, các phương pháp này có ba loại theo như chúng ta có thể biết, dù khả năng có một số phương pháp khác nữa mà trí hiểu hữu hạn của con người không thể quan niệm được là điều hoàn toàn có thể. Các phương pháp ấy là:

First, the method pursued on the moon-chain (the planetary manifestation previous to ours), when, through innate force and energy, the conjunction of the three fires was brought about and the fire of matter contacted the fire of Spirit through the latent presence of the fiery spark of mind. This spark of mind, working through the instinct, drove the material form or substance, into such activity that it was enabled to reach up to heights where its opposite pole could be contacted. Animal-man aspired; Spirit answered; the vibration of the germ of mentality had permeated the substance like yeast. Thus was consciousness awakened. In the previous solar system, in connection with the Heavenly Men, this was the method pursued by Them, and These advanced cosmic Beings entered into consciousness and mastered the three lower planes of the cosmic physical,—the planes which man is endeavouring to master now. They individualised as the result of work accomplished during incomprehensible aeons of endeavour. (128) The earlier solar system was much longer in duration than this one will be, and force in matter was generated by the progression of the ages. It was the period of the vitalisation of the spirillae in the physical permanent atom of the Logos.

Thứ nhất, phương pháp được theo đuổi trên Dãy Mặt Trăng (biểu hiện hành tinh có trước biểu hiện của chúng ta), khi mà nhờ mãnh lực và năng lượng bẩm sinh, sự giao hội của ba ngọn lửa đã được tạo ra và lửa của vật chất tiếp xúc với lửa của Tinh thần qua sự hiện diện tiềm ẩn của tia lửa trí tuệ. Tia lửa trí tuệ này, hoạt động qua bản năng, đã thúc đẩy hình tướng vật chất hay chất liệu vào một hoạt động mạnh đến mức nó có thể vươn lên những đỉnh cao nơi cực đối nghịch của nó có thể được tiếp xúc. Người thú đã khát vọng; Tinh thần đáp ứng; rung động của mầm mống trí tuệ đã thấm nhuần chất liệu như men. Nhờ đó tâm thức được đánh thức. Trong hệ mặt trời trước, trong liên hệ với các Đấng Thiên Nhân, đây là phương pháp được Các Ngài theo đuổi, và các Hữu thể vũ trụ tiến hóa cao này đã đi vào tâm thức và làm chủ ba cõi thấp của cõi hồng trần vũ trụ,—những cõi mà con người hiện đang nỗ lực làm chủ. Các Ngài biệt ngã hóa như kết quả của công việc được hoàn thành trong những đại kiếp nỗ lực không thể hiểu nổi. (128) Hệ mặt trời trước kéo dài lâu hơn nhiều so với hệ này, và mãnh lực trong vật chất đã được tạo ra bởi sự tiến triển của các thời đại. Đó là thời kỳ tiếp sinh lực cho các loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế.

(128) The period of the individualisation of a solar Logos goes back further still and need not concern us here, save to remember that the Law of Analogy holds good. (back)

(128) Thời kỳ biệt ngã hóa của một Thái dương Thượng đế còn lùi xa hơn nữa và không cần liên quan đến chúng ta ở đây, ngoại trừ việc ghi nhớ rằng định luật tương đồng vẫn đúng. (back)

In this method of individualisation, the emphasis is laid on the fact that the principle of manas is a part of the logoic character, and is part of His very nature. It, therefore, has its origin in His Being or Self; it is [Page 347] part of the content of the logoic Causal Body, and therefore permeates all manifestation which originates with Him. Hence the accuracy of the statement that cosmic manas originates on the cosmic mental plane, and is a portion of the fire that animates that plane.

Trong phương pháp biệt ngã hóa này, sự nhấn mạnh được đặt trên sự kiện rằng nguyên khí manas là một phần của đặc tính logoic, và là một phần của chính bản chất của Ngài. Vì vậy, nó có nguồn gốc trong Hữu thể hay Bản Ngã của Ngài; nó là [Page 347] một phần của nội dung của thể nguyên nhân logoic, và do đó thấm nhuần mọi biểu hiện phát sinh từ Ngài. Vì thế, phát biểu rằng manas vũ trụ phát sinh trên cõi trí vũ trụ, và là một phần của ngọn lửa làm sinh động cõi ấy, là hoàn toàn chính xác.

Second, in the second solar system, and in connection with the method employed therein, another point merits attention. This fire of mind has its source in a constellation until recently unrecognized by exoteric science as having any relation of an intimate nature to our solar system, owing to its tremendous distance away. The sun “Sirius” is the source of logoic manas in the same sense as the Pleiades are connected with the evolution of manas in the seven Heavenly Men, and Venus was responsible for the coming in of mind in the Earth chain. Each was primary to the other, or was the agent which produced the first flicker of consciousness in the particular groups involved. In every case the method was that of a slow evolutionary growth till the consciousness suddenly blazed forth owing to the interposition of force, apparently from an extraneous source,

Thứ hai, trong hệ mặt trời thứ hai, và trong liên hệ với phương pháp được dùng trong đó, có một điểm khác đáng được chú ý. Lửa trí tuệ này có nguồn của nó trong một chòm sao mà cho đến gần đây khoa học ngoại môn chưa công nhận là có bất kỳ liên hệ mật thiết nào với hệ mặt trời của chúng ta, do khoảng cách vô cùng xa xôi của nó. Mặt trời “Sirius” là nguồn của manas logoic theo cùng ý nghĩa như Thất Tinh có liên hệ với sự tiến hoá của manas trong bảy Đấng Thiên Nhân, và Sao Kim chịu trách nhiệm cho sự giáng lâm của trí tuệ trong Dãy Địa Cầu. Mỗi nguồn đều là nguồn sơ khởi đối với nguồn kia, hay là tác nhân tạo ra tia chớp đầu tiên của tâm thức trong các nhóm liên hệ. Trong mọi trường hợp, phương pháp là sự tăng trưởng tiến hoá chậm rãi cho đến khi tâm thức đột nhiên bùng sáng do sự xen vào của mãnh lực, dường như từ một nguồn bên ngoài,

1. The Logos

Solar System

Sirius

2. Seven Heavenly Men

Planetary scheme

Pleiades

3. Heavenly Man

Earth chain

Venus

This second method therefore is that which is brought about by the hastening of the evolutionary process through influences from outside; these tend to awaken consciousness, and to bring about the merging of the poles. The first method touched upon was that of the earlier solar system. The method we are now considering is the distinctive one of this solar system and will persist till the end of the mahamanvantara.

Vì vậy, phương pháp thứ hai này là phương pháp được tạo ra bởi sự thúc đẩy nhanh tiến trình tiến hoá qua các ảnh hưởng từ bên ngoài; các ảnh hưởng này có khuynh hướng đánh thức tâm thức và đem lại sự hòa nhập của các cực. Phương pháp thứ nhất vừa được đề cập là phương pháp của hệ mặt trời trước. Phương pháp mà chúng ta hiện đang xét là phương pháp đặc trưng của hệ mặt trời này và sẽ tiếp tục cho đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa.

That the earlier method was seen in the moon-chain is only evidence of the steadfastness of the Law of Repetition by which every large cycle includes, in its earlier [Page 348] stages, all the lesser, and repeats the earlier procedure. This is a recognised fact, for instance, in the building of man’s physical body, for the foetus reproduces all earlier stages and forms till the human is achieved; again, as we know, the fourth round reproduces briefly the earlier three but has its own distinctive quality.

Việc phương pháp trước đó được thấy trong Dãy Mặt Trăng chỉ là bằng chứng về tính kiên định của Định luật Lặp lại, theo đó mỗi chu kỳ lớn đều bao gồm, trong các giai đoạn đầu tiên của nó, mọi chu kỳ nhỏ hơn, và lặp lại tiến trình trước đó. Đây là một sự kiện được công nhận, chẳng hạn, trong việc xây dựng thể xác của con người, vì bào thai tái hiện mọi giai đoạn và hình thức trước đó cho đến khi đạt được hình thể con người; thêm nữa, như chúng ta biết, cuộc tuần hoàn thứ tư tái hiện vắn tắt ba cuộc trước nhưng có phẩm tính đặc trưng riêng của nó.

b. The Method of Initiation. In this second method the “Rods of Initiation” are used to effect certain results. These rods are of four kinds:

b. Phương pháp điểm đạo. Trong phương pháp thứ hai này, các “Thần Trượng Điểm đạo” được dùng để tạo ra những kết quả nhất định. Các thần trượng này có bốn loại:

1. Cosmic, used by a cosmic Logos in the initiations of a solar Logos, and of the three major planetary Logoi.

1. Vũ trụ, được một Thượng đế vũ trụ sử dụng trong các cuộc điểm đạo của một Thái dương Thượng đế và của ba Hành Tinh Thượng đế lớn.

2. Systemic, used by a solar Logos in the initiations of a planetary Logos.

2. Thái dương hệ, được một Thái dương Thượng đế sử dụng trong các cuộc điểm đạo của một Hành Tinh Thượng đế.

3. Planetary, used by a planetary Logos for initiatory purposes, and for the third, the fourth, and fifth major initiations, with the two higher.

3. Hành tinh, được một Hành Tinh Thượng đế sử dụng cho các mục đích điểm đạo, và cho lần điểm đạo lớn thứ ba, thứ tư và thứ năm, cùng với hai lần cao hơn.

4. Hierarchical, used by an occult Hierarchy for minor Initiations, and for the first two initiations of manas by the Bodhisattva. (129)

4. Thuộc Thánh Đoàn, được một Thánh đoàn huyền bí sử dụng cho các cuộc điểm đạo nhỏ, và cho hai lần điểm đạo đầu tiên của manas bởi Đức Bồ Tát. (129)

(129) The above information about the “Rods” is taken out of Initiation Human and Solar, page 126. (back)

(129) Thông tin trên về các “Thần Trượng” được trích từ Điểm Đạo Nhân Loại và Thái Dương, trang 126. (back)

When man individualised in Lemurian days (about eighteen million years ago), it was the application of the Rod of Initiation to the Logos of our Earth chain which brought about the event and touched into activity certain centres in His body with their corresponding groups. This application, bringing about consciousness on some plane, may be regarded as literally the awakening of the lives concerned to participate in intelligent work on the mental plane. Animal man was conscious on the physical, and on the astral planes. By the stimulation effected by the electric rod this animal man awoke to consciousness on the mental. Thus the three bodies were co-ordinated, and the Thinker enabled to function in them.

Khi con người biệt ngã hóa trong thời Lemuria (khoảng mười tám triệu năm trước), chính việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo lên Thượng đế của Dãy Địa Cầu chúng ta đã tạo ra biến cố ấy và chạm vào hoạt động của một số trung tâm nhất định trong thể của Ngài cùng với các nhóm tương ứng của chúng. Sự áp dụng này, tạo ra tâm thức trên một cõi nào đó, có thể được xem theo nghĩa đen là sự đánh thức các sự sống liên hệ để tham dự vào công việc thông minh trên cõi trí. Người thú đã có tâm thức trên cõi hồng trần và trên cõi cảm dục. Nhờ sự kích thích do thần trượng điện tạo ra, người thú này thức tỉnh đến tâm thức trên cõi trí. Nhờ đó ba thể được phối hợp, và Kẻ Tư Tưởng có thể hoạt động trong chúng.

[Page 349] All Rods of Initiation cause certain effects:

[Page 349] Mọi Thần Trượng Điểm đạo đều gây ra những hiệu quả nhất định:

a. Stimulation of the latent fires till they blaze.

a. Kích thích các ngọn lửa tiềm ẩn cho đến khi chúng bùng cháy.

b. Synthesis of the fires through an occult activity that brings them within the radius of each other.

b. Tổng hợp các ngọn lửa qua một hoạt động huyền bí đưa chúng vào trong bán kính của nhau.

c. Increase of the vibratory activity of some centre, whether in man, a Heavenly Man, or a solar Logos.

c. Gia tăng hoạt động rung động của một trung tâm nào đó, dù là trong con người, một Đấng Thiên Nhân, hay một Thái dương Thượng đế.

d. Expansion of all the bodies, but primarily of the causal,—this also in speaking of all the three types of Entities.

d. Sự mở rộng của mọi thể, nhưng chủ yếu là thể nguyên nhân,—điều này cũng đúng khi nói về cả ba loại Thực Thể.

All these results were seen when the Heavenly Man of our scheme took initiation eighteen million years ago. This initiation was brought about—as earlier pointed out—by a peculiar juxtaposition of chains, globes and schemes, and caused such a stimulation of all the latent manasic units within His body that a downflow of pure manas from the planetary manasic permanent atom was possible along the path of the planetary antaskarana—a channel which exists in the case of the planetary Logos, and which has not to be built as in the case of man. Along with this juxtaposition came a similar alignment with one of the Pleiades, permitting of manasic influence from that source.(S.D.,II, 711,725,726) (130)

Tất cả những kết quả này đã được thấy khi Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta nhận điểm đạo cách đây mười tám triệu năm. Cuộc điểm đạo này đã được tạo ra—như đã chỉ ra trước đây—bởi một sự đặt kề đặc biệt của các dãy, các bầu hành tinh và các hệ hành tinh, và đã gây nên một sự kích thích mạnh đến mức đối với mọi đơn vị manas tiềm ẩn trong thể của Ngài, một sự tuôn xuống của manas thuần túy từ nguyên tử trường tồn manas hành tinh đã trở nên khả hữu dọc theo con đường của antahkarana hành tinh—một kênh tồn tại trong trường hợp của Hành Tinh Thượng đế, và không phải được xây dựng như trong trường hợp của con người. Cùng với sự đặt kề này là một sự chỉnh hợp tương tự với một trong Thất Tinh, cho phép ảnh hưởng manas từ nguồn đó.(S.D.,II, 711,725,726) (130)

(130) “The Secret of the Pleiades and of their relation to the Seven Rishis of the Great Bear, and therefore to our Seven Heavenly Men, is not yet to be revealed. It is known only in detail to the Chohans of the Seventh Initiation, though the fact that there is such a relation is now exoteric.” H. P. B. speaks of it in the Secret Doctrine. (S. D., II, 711, 725, 726) (back)

(130) “Bí mật của Thất Tinh và mối liên hệ của chúng với Bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh, và do đó với bảy Đấng Thiên Nhân của chúng ta, vẫn chưa được tiết lộ. Điều đó chỉ được các Chohan của lần điểm đạo thứ bảy biết rõ chi tiết, mặc dù sự kiện rằng có một mối liên hệ như thế hiện nay đã là ngoại môn.” H. P. B. có nói về điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (S. D., II, 711, 725, 726) (back)

Third, the third method of individualisation is the one to be followed in the next solar system, though it will have its faint beginnings in this one. It is not based on latent activity as in the first case, nor in electrical polarity as in the second, but in a peculiar process of “occult abstraction” (using the word “abstraction” in its basic sense as “the drawing out” of essence). This occult abstraction is brought about by an effort of the will at present incomprehensible. The first method of individualisation [Page 350] is that of the third aspect, or latent activity, and follows the line of least resistance under the Law of Economy; the second method is the purely electrical one, and works under the Law of Attraction; whilst the third method lies hidden in dynamic will and is as yet to us impossible and incomprehensible.

Thứ ba, phương pháp biệt ngã hóa thứ ba là phương pháp sẽ được theo trong hệ mặt trời kế tiếp, dù nó sẽ có những khởi đầu mờ nhạt trong hệ này. Nó không dựa trên hoạt động tiềm ẩn như trong trường hợp thứ nhất, cũng không dựa trên cực tính điện như trong trường hợp thứ hai, mà dựa trên một tiến trình đặc biệt của “sự trừu xuất huyền bí” (dùng từ “trừu xuất” theo nghĩa căn bản của nó là “rút tinh chất ra”). Sự trừu xuất huyền bí này được tạo ra bởi một nỗ lực của ý chí hiện nay không thể hiểu được. Phương pháp biệt ngã hóa thứ nhất [Page 350] là phương pháp của phương diện thứ ba, hay hoạt động tiềm ẩn, và đi theo con đường ít trở ngại nhất dưới Định luật Tiết Kiệm; phương pháp thứ hai là phương pháp thuần điện, và hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn; còn phương pháp thứ ba ẩn giấu trong ý chí năng động và hiện vẫn là điều bất khả và không thể hiểu được đối với chúng ta.

2. Planetary Manas. — 2. Manas hành tinh.

We sought in the foregoing, to understand somewhat the origin of manas—whether cosmic, or otherwise—through the consideration of human individualisation and the method thereof. We saw that individualisation is the conscious apprehension of the Self of its relation to all that constitutes the Not-Self, and that it is evoked in three ways, of which only two as yet are even dimly comprehensible. In each case this awakening of consciousness is preceded by a period of gradual development, is instantaneous at the moment of Self-Realisation for the first time, and is succeeded by another period of gradual evolution. This period of gradual evolution leads up to another crisis which we call initiation. In one we have initiation into conscious existence, in the other initiation into spiritual existence or group identification.

Trong phần trên, chúng ta đã tìm cách phần nào thấu hiểu nguồn gốc của manas—dù là vũ trụ hay loại khác—qua việc xem xét sự biệt ngã hóa của con người và phương pháp của nó. Chúng ta đã thấy rằng biệt ngã hóa là sự nắm bắt một cách hữu thức của Bản Ngã về mối liên hệ của nó với tất cả những gì cấu thành Phi-Ngã, và rằng nó được gợi lên theo ba cách, trong đó chỉ có hai cách hiện nay còn có thể được hiểu một cách mơ hồ. Trong mỗi trường hợp, sự thức tỉnh tâm thức này được đi trước bởi một thời kỳ phát triển dần dần, là tức thời vào khoảnh khắc Tự Chứng Nghiệm lần đầu tiên, và được tiếp nối bởi một thời kỳ tiến hoá dần dần khác. Thời kỳ tiến hoá dần dần này dẫn đến một cuộc khủng hoảng khác mà chúng ta gọi là điểm đạo. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có điểm đạo vào hiện hữu hữu thức; trong trường hợp kia, điểm đạo vào hiện hữu tinh thần hay sự đồng hoá nhóm.

For a solar Logos individualisation dates back to stages far anterior to the triplicity of solar systems which constitutes for Him the Eternal Now, but which from man’s point of view embody the past, the present, and the future. A planetary Logos individualised in a previous system; a man individualises in this; the planetary entities, now involutionary, will individualise in the next.

Đối với một Thái dương Thượng đế, sự biệt ngã hóa có từ những giai đoạn rất lâu trước bộ ba các hệ mặt trời vốn cấu thành đối với Ngài Hiện Tại Vĩnh Cửu, nhưng từ quan điểm của con người lại bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai. Một Hành Tinh Thượng đế đã biệt ngã hóa trong một hệ thống trước; con người biệt ngã hóa trong hệ này; các thực thể hành tinh, hiện đang giáng hạ tiến hoá, sẽ biệt ngã hóa trong hệ kế tiếp.

a. Consciousness and Existence. From the wider point of view the terms initiation and individualisation are synonymous; they both express the idea of an expansion of consciousness, or of entrance into a new kingdom of nature. The faculty of acquiring knowledge [Page 351] must be realised as paralleling the development of the sense of sight, or vision, as earlier pointed out. The fire of mind shone forth and illuminated animal man in Lemurian days, during that vast cycle wherein sight opened up for him the physical plane. The relationship between sight and mind is a very close one, and must not be lost from sight. In the first round, and in the first root-race of this round, hearing was the sense developed. In the second round and the second root-race touch was evolved. In the third round and corresponding root-race sight was added to the other two, and the Self which hears, and the Not-self which is touched, or apprehended as tangible, are related and connected by sight,—the correspondence to the intelligence that links. Thus is brought about the blending of the three fires, and illumination is present. But through all this evolutionary development the ONE Who hears, touches, and sees, persists and interprets according to the stage of the development of the manasic principle within Him. This basic Interpreter is the Entity Who is independent of an existence which ever necessitates a form. His is the life that causes matter to vibrate and He is therefore “fire by friction”; His is the life of pure Spirit which wills to be, and which utilises form, and is therefore electrical impulse on the cosmic physical plane or “electric fire”; His is the life that not only animates the atoms and electrifies them by His Own nature, but likewise knows itself to be one with all yet apart from all,—the thinking, discriminating, Self-realising something that we call MIND or Solar Fire. Universal mind or manas permeates all, and is equally that Self-knowing, individualised Entity Whose body contains our solar Logos as well as certain other solar Logoi; Whose fire, heat and radiation embrace certain other solar systems and unify them with our own system so that one complete vital body forms the manifestation of this mighty cosmic Being. [Page 352] Vortices of force on the cosmic etheric plane form the etheric framework of seven solar systems in the same way that the bodies of the seven Heavenly Men are the etheric centres for a solar Logos, and as the seven centres in man (existing in etheric matter), are the animating electrical impulse of his life.

a. Tâm thức và hiện hữu. Từ quan điểm rộng lớn hơn, các thuật ngữ điểm đạo và biệt ngã hóa là đồng nghĩa; cả hai đều biểu đạt ý niệm về một sự mở rộng tâm thức, hay sự đi vào một giới mới của thiên nhiên. Năng lực tiếp thu tri thức [Page 351] phải được nhận ra là song hành với sự phát triển của giác quan thị giác, hay tầm nhìn, như đã chỉ ra trước đây. Lửa của trí tuệ đã bừng sáng và soi sáng người thú trong thời Lemuria, trong chu kỳ rộng lớn ấy khi thị giác mở ra cho y cõi hồng trần. Mối liên hệ giữa thị giác và trí tuệ là rất mật thiết, và không được bỏ qua. Trong cuộc tuần hoàn thứ nhất, và trong giống dân gốc thứ nhất của cuộc tuần hoàn này, thính giác là giác quan được phát triển. Trong cuộc tuần hoàn thứ hai và giống dân gốc thứ hai, xúc giác được tiến hóa. Trong cuộc tuần hoàn thứ ba và giống dân gốc tương ứng, thị giác được thêm vào hai giác quan kia, và Bản Ngã nghe, cùng Phi-ngã được chạm đến, hay được nắm bắt như hữu hình, được liên hệ và nối kết bởi thị giác,—sự tương ứng với trí tuệ nối kết. Nhờ đó sự hòa trộn của ba ngọn lửa được tạo ra, và sự soi sáng hiện diện. Nhưng xuyên suốt toàn bộ sự phát triển tiến hoá này, Đấng Duy Nhất nghe, chạm và thấy vẫn tồn tại và diễn giải tùy theo giai đoạn phát triển của nguyên khí manas bên trong Ngài. Đấng Diễn Giải căn bản này là Thực Thể độc lập với một hiện hữu luôn luôn đòi hỏi một hình tướng. Sự sống của Ngài là sự sống làm cho vật chất rung động và vì vậy Ngài là “Lửa ma sát”; sự sống của Ngài là sự sống của Tinh thần thuần túy vốn muốn hiện hữu, và sử dụng hình tướng, và vì vậy là xung động điện trên cõi hồng trần vũ trụ hay “Lửa Điện”; sự sống của Ngài là sự sống không những làm sinh động các nguyên tử và điện hóa chúng bằng chính bản chất của Ngài, mà còn tự biết mình là một với tất cả nhưng vẫn tách biệt khỏi tất cả,—một cái gì biết suy tư, biết phân biện, tự chứng nghiệm mà chúng ta gọi là TRÍ TUỆ hay Lửa Thái dương. Trí tuệ vũ trụ hay manas thấm nhuần tất cả, và cũng chính là Thực Thể biệt ngã hóa, tự tri ấy mà thể của Ngài bao hàm Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như một số Thái dương Thượng đế khác; lửa, nhiệt và sự bức xạ của Ngài bao trùm một số hệ mặt trời khác và hợp nhất chúng với hệ của chúng ta để một thể sinh lực hoàn chỉnh tạo thành biểu hiện của Hữu thể vũ trụ hùng mạnh này. [Page 352] Các xoáy mãnh lực trên cõi dĩ thái vũ trụ tạo thành bộ khung dĩ thái của bảy hệ mặt trời theo cùng cách mà các thể của bảy Đấng Thiên Nhân là các trung tâm dĩ thái đối với một Thái dương Thượng đế, và như bảy trung tâm trong con người (tồn tại trong vật chất dĩ thái) là xung động điện làm sinh động sự sống của y.

To express the origin of manas apart from manifestation through a congery of systems, a solar system, or a man is for us impossible. Only as one grasps the fact that each planetary scheme, for instance, serves as the body of a Heavenly Man Who is the directing Mind in that scheme, and the animating principle of manas or the active discriminating faculty which every atom in that scheme evinces; only when it is realised that a solar Logos is similarly the manasic principle of those large atoms we call schemes in their totality; only when it is apprehended that a cosmic Logos is again the instigating mind of the still vaster atoms we call systems; only when it is admitted that man is the animating discriminative faculty of the tiny spheres which form his body of manifestation; and finally, only when all this is meditated upon, and its truth accepted, will this question of the origin of manas assume a less abstruse character, and the difficulty of its comprehension be less appalling.

Đối với chúng ta, việc diễn đạt nguồn gốc của manas tách rời khỏi biểu hiện qua một tập hợp các hệ thống, một hệ mặt trời, hay một con người là điều bất khả. Chỉ khi nào người ta nắm được sự kiện rằng chẳng hạn mỗi hệ hành tinh đều phục vụ như thể của một Đấng Thiên Nhân là Trí Tuệ chỉ đạo trong hệ ấy, và là nguyên khí làm sinh động của manas hay năng lực phân biện hoạt động mà mọi nguyên tử trong hệ ấy đều biểu lộ; chỉ khi nào nhận ra rằng một Thái dương Thượng đế cũng tương tự là nguyên khí manas của những nguyên tử lớn mà chúng ta gọi là các hệ hành tinh trong tổng thể của chúng; chỉ khi nào nắm bắt được rằng một Thượng đế vũ trụ lại là trí tuệ khởi phát của những nguyên tử còn rộng lớn hơn mà chúng ta gọi là các hệ thống; chỉ khi nào thừa nhận rằng con người là năng lực phân biện làm sinh động của những khối cầu nhỏ bé tạo thành thể biểu hiện của y; và cuối cùng, chỉ khi nào tất cả điều này được tham thiền và chân lý của nó được chấp nhận, thì câu hỏi về nguồn gốc của manas mới mang tính ít trừu tượng khó hiểu hơn, và khó khăn trong việc thấu hiểu nó mới bớt đáng sợ hơn.

Man, the Thinker, the Knower, the manasic principle in the centre of the many spheres which form his bodies, manipulates electrical force in three departments (the physical, astral and mental bodies) through seven centres which are the focal points of force, and of its intelligent dispersal throughout his little system to the myriads of lesser atoms, which are the cells in these spheres.

Con người, Kẻ Tư Tưởng, thức giả, nguyên khí manas ở trung tâm của nhiều khối cầu tạo thành các thể của y, vận dụng mãnh lực điện trong ba lĩnh vực (thể xác, thể cảm dục và thể trí) qua bảy trung tâm là các tiêu điểm của mãnh lực, và của sự phân phối thông minh của nó khắp hệ thống nhỏ bé của y đến vô số nguyên tử nhỏ hơn, là các tế bào trong những khối cầu ấy.

A Heavenly Man equally, and in a wider sense, the Thinker and Knower, the manasic or mind principle plus the buddhic or Christ principle, manipulates electrical force through three principal vehicles or globes in atmic, buddhic, and manasic matter, dispersing it from thence [Page 353] to the myriads of cells which correspond to the deva and human units.

Một Đấng Thiên Nhân cũng vậy, và theo nghĩa rộng hơn, là Kẻ Tư Tưởng và thức giả, nguyên khí manas hay trí tuệ cộng với nguyên khí Bồ đề hay nguyên khí Christ, vận dụng mãnh lực điện qua ba vận cụ hay bầu hành tinh chính trong vật chất atma, Bồ đề và manas, rồi từ đó phân phối nó [Page 353] đến vô số tế bào tương ứng với các đơn vị thiên thần và nhân loại.

A solar Logos in a still wider sense is the permeating universal Mind, the manasic principle, plus the buddhic and the will principle, working in three major schemes, by means of seven centres of force, and through the myriads of groups which are the cells in His body, in the same way as human beings are the cells in the body of a Heavenly Man.

Một Thái dương Thượng đế theo nghĩa còn rộng lớn hơn là Trí Tuệ Vũ Trụ thấm nhuần, nguyên khí manas, cộng với nguyên khí Bồ đề và nguyên khí ý chí, hoạt động trong ba hệ hành tinh lớn, bằng bảy trung tâm mãnh lực, và qua vô số nhóm là các tế bào trong thể của Ngài, theo cùng cách mà con người là các tế bào trong thể của một Đấng Thiên Nhân.

The cosmic Logos of our system works similarly through three major systems (of which ours is not one), utilising seven solar systems (of which ours is one), for the distribution of His force and having myriads of sevenfold groups as the cells of His body.

Thượng đế vũ trụ của hệ thống chúng ta cũng hoạt động tương tự qua ba hệ thống lớn (trong đó hệ của chúng ta không phải là một), sử dụng bảy hệ mặt trời (trong đó hệ của chúng ta là một), để phân phối mãnh lực của Ngài và có vô số nhóm thất phân làm các tế bào trong thể của Ngài.

b. Will and ordered purpose. Thus all that we can really predicate anent the origin of manas is that it is the unified will-activity, or the purposeful expression of the realised Identity of some great Self which colours the life and swings into intelligent co-operation all the lesser units included in its sphere of influence. Each of us, in illustration, is the thinking purposeful Entity who acts as the manasic principle, and the spring of action, to all the units included in our three bodies. Each of us sways them to our will; we act, and by acting, force co-operation as we see fit. The Logos does the same on a larger scale. In this thought lies light on the question of karma, of free-will and of responsibility. Manas is, really WILL working itself out on the physical plane, and the truth of this will be seen when it is realised that all our planes form the cosmic physical plane, whereon an Entity, inconceivably greater than our Logos, is working out a set purpose through the Logos, through us, through all Spirit-substance that is included within His sphere of radiatory activity.

b. Ý chí và mục đích có trật tự. Vì vậy, tất cả những gì chúng ta thực sự có thể khẳng định về nguồn gốc của manas là nó là hoạt động-ý chí hợp nhất, hay biểu hiện có mục đích của Bản Sắc đã chứng nghiệm của một Đại Ngã nào đó, Đấng tô màu sự sống và đưa vào sự hợp tác thông minh tất cả các đơn vị nhỏ hơn nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài. Mỗi chúng ta, để minh họa, là Thực Thể suy tư có mục đích, hoạt động như nguyên khí manas và là nguồn suối hành động đối với mọi đơn vị nằm trong ba thể của mình. Mỗi chúng ta chi phối chúng theo ý chí của mình; chúng ta hành động, và bằng hành động, buộc sự hợp tác theo như chúng ta thấy thích hợp. Thượng đế cũng làm như vậy trên một quy mô lớn hơn. Trong tư tưởng này có ánh sáng cho vấn đề nghiệp quả, tự do ý chí và trách nhiệm. Manas thực sự là Ý CHÍ đang tự triển khai trên cõi hồng trần, và chân lý của điều này sẽ được thấy khi người ta nhận ra rằng tất cả các cõi của chúng ta tạo thành cõi hồng trần vũ trụ, nơi một Thực Thể lớn lao hơn Thượng đế của chúng ta một cách không thể quan niệm đang triển khai một mục đích nhất định qua Thượng đế, qua chúng ta, qua toàn bộ chất liệu-tinh thần nằm trong phạm vi hoạt động bức xạ của Ngài.

Certain problems of real interest are prone to enter our minds, but they serve only to develop abstract thought [Page 354] and to expand the consciousness, for they are as yet insoluble and will remain so. Some of them might be enumerated as follows:

Một số vấn đề thật sự đáng quan tâm thường có khuynh hướng đi vào trí tuệ chúng ta, nhưng chúng chỉ phục vụ cho việc phát triển tư tưởng trừu tượng [Page 354] và mở rộng tâm thức, vì hiện nay chúng chưa thể giải được và sẽ vẫn như vậy. Một vài trong số đó có thể được liệt kê như sau:

1. Who is the cosmic Entity in Whose scheme our Logos plays his little part?

1. Thực thể vũ trụ là ai mà trong hệ hành tinh của Ngài, Thượng đế của chúng ta đóng vai trò nhỏ bé của mình?

2. What is the nature of the great purpose He is working out?

2. Bản chất của mục đích lớn lao mà Ngài đang triển khai là gì?

3. Which centre in His body is represented by our solar system?

3. Hệ mặt trời của chúng ta tượng trưng cho trung tâm nào trong thể của Ngài?

4. What is the nature of the incarnation He is now undergoing?

4. Bản chất của cuộc lâm phàm mà Ngài hiện đang trải qua là gì?

5. What are the ten systems—the three and the seven—of which our solar system is one? Must we look for the major three within the seven, or extraneously?

5. Mười hệ thống—ba và bảy—mà trong đó hệ mặt trời của chúng ta là một, là những hệ nào? Chúng ta phải tìm ba hệ lớn trong bảy hệ ấy, hay ở bên ngoài chúng?

6. What is the coloring or basic quality of this cosmic Entity?

6. Sắc thái hay phẩm tính căn bản của Thực thể vũ trụ này là gì?

7. Is the colouring of the fourth cosmic ether (the buddhic plane), blue, or is it violet to correspond with our fourth physical ether? Why is buddhi exoterically regarded as yellow in color?

7. Màu sắc của dĩ thái vũ trụ thứ tư (cõi Bồ đề) là xanh lam, hay là tím để tương ứng với dĩ thái hồng trần thứ tư của chúng ta? Tại sao Bồ đề lại được xem ngoại môn là có màu vàng?

8. Which are the primary three centres in the body of our solar Logos and which the minor four?

8. Ba trung tâm chính trong thể của Thái dương Thượng đế chúng ta là những trung tâm nào và bốn trung tâm phụ là những trung tâm nào?

9. What is the karma of the different schemes?

9. Nghiệp quả của các hệ hành tinh khác nhau là gì?

10. What is the over-balancing karma of the Logos Himself as it affects the ten schemes within His system?

10. Nghiệp quả trội hơn của chính Thượng đế ảnh hưởng đến mười hệ hành tinh trong hệ của Ngài là gì?

All these questions, and numbers of others, will arise in the mind of the interested student, but beyond the formulation of them he may not as yet go, though the fifth round will see the realisation, by men, of the nature of the karma of the Logos of our chain. Words, as oft we have been told, blind and stultify.

Tất cả những câu hỏi này, cùng vô số câu hỏi khác, sẽ nảy sinh trong trí tuệ của đạo sinh quan tâm, nhưng ngoài việc hình thành chúng ra thì hiện y chưa thể đi xa hơn, mặc dù cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ chứng kiến con người chứng nghiệm được bản chất của nghiệp quả của Thượng đế của dãy chúng ta. Từ ngữ, như chúng ta thường được bảo, làm mù lòa và làm trì độn.

In summing up, this quality of manas may be somewhat apprehended if the student regards it as the intelligent [Page 355] will. the active purpose, and the fixed idea of some Entity which brings about existence, utilises form, and works out effects from causes through discrimination in matter, separation into form, and the driving of all units within His sphere of influence to the fulfilment of that set purpose. Man is the originating source of mind as regards the matter of his vehicles, and their latent manasic impulse. So again with a Heavenly Man and His larger sphere of influence, and so with the solar Logos. Each discriminated, and thus formed His ring-pass-not; each has a purpose in view for every incarnation; each is actively following and intelligently working to effect certain ends, and thus each is the originator of manas to His scheme; each is the animating fire of intelligence to his system; each, through this very manasic principle individualises, expands gradually this self-realisation till it includes the ring-pass-not of the Entity through Whom the fifth principle comes to him; and each attains initiation, and eventually escapes from form.

Để tổng kết, phẩm tính này của manas có thể được phần nào nắm bắt nếu đạo sinh xem nó như ý chí thông minh, [Page 355] mục đích hoạt động, và ý tưởng cố định của một Thực Thể nào đó, Đấng tạo ra hiện hữu, sử dụng hình tướng, và triển khai các kết quả từ các nguyên nhân qua sự phân biện trong vật chất, sự tách biệt thành hình tướng, và sự thúc đẩy mọi đơn vị trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài đến chỗ hoàn thành mục đích đã định ấy. Con người là nguồn gốc khởi phát của trí tuệ đối với vật chất của các vận cụ của mình, và xung động manas tiềm ẩn của chúng. Điều này cũng đúng với một Đấng Thiên Nhân và phạm vi ảnh hưởng rộng lớn hơn của Ngài, và cũng đúng với Thái dương Thượng đế. Mỗi Đấng đã phân biện, và nhờ đó hình thành vòng-giới-hạn của Ngài; mỗi Đấng đều có một mục đích nhắm đến cho mỗi lần lâm phàm; mỗi Đấng đang tích cực theo đuổi và làm việc một cách thông minh để đạt đến những cứu cánh nhất định, và do đó mỗi Đấng là nguồn khởi phát của manas đối với hệ hành tinh của Ngài; mỗi Đấng là ngọn lửa làm sinh động của trí tuệ đối với hệ thống của mình; mỗi Đấng, qua chính nguyên khí manas này, biệt ngã hóa, dần dần mở rộng sự tự chứng nghiệm này cho đến khi nó bao gồm vòng-giới-hạn của Thực Thể mà qua Ngài nguyên khí thứ năm đến với mình; và mỗi Đấng đạt đến điểm đạo, và cuối cùng thoát khỏi hình tướng.

3. Human Manas. — 3. Manas nhân loại.