We are now to consider primarily man and the manasic principle, its development in the fourth Creative Hierarchy, the human Monads, with special reference to our Earth chain.
Giờ đây chúng ta sẽ chủ yếu xét đến con người và nguyên khí manas, sự phát triển của nó trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, các Chân thần nhân loại, với sự quy chiếu đặc biệt đến Dãy Địa Cầu của chúng ta.
We have seen that, to all intents and purposes, manas is the active will of an Entity working itself out through all the lesser lives who go to the content of the ring-pass-not or sphere of influence of the indwelling Existence. Therefore—as concerning man on this chain—he is but expressing the purpose and the will in action of the planetary Logos in Whose body he is a cell or lesser life.
Chúng ta đã thấy rằng, xét về mọi phương diện thực tiễn, manas là ý chí năng động của một Thực Thể đang tự biểu lộ qua mọi sự sống nhỏ hơn, những sự sống cấu thành nội dung của vòng-giới-hạn hay khối cầu ảnh hưởng của Sự Tồn Tại nội tại. Do đó—xét về con người trên dãy này—y chỉ đang biểu lộ mục đích và ý chí trong hành động của Hành Tinh Thượng đế mà trong thể của Ngài, y là một tế bào hay sự sống nhỏ hơn.
Certain mysteries arise consequently for our consideration which are connected with the life cycles of the Heavenly Man of our scheme, and particularly in relation to that special incarnation of His which we call the cycle [Page 356] of manifestation on the dense physical globe, the earth. He wears the planetary body as man wears the robe of the physical body, and by means of this objective form He works His purposes out on the physical plane, through the factor of mind achieving certain goals. Incidentally, the cells in His body conform to that Mind which plays upon them, just as man, the intelligent principle of incarnation on the physical plane, brings into conformity with his purpose the atoms of his body, and stimulates ever more and more the spirillae of those atoms by the force of his mind playing upon them.
Do đó, có những huyền nhiệm nhất định nảy sinh để chúng ta xem xét, liên hệ với các chu kỳ sự sống của Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta, và đặc biệt liên hệ với lần lâm phàm đặc biệt ấy của Ngài mà chúng ta gọi là chu kỳ [Page 356] biểu hiện trên bầu hành tinh hồng trần đậm đặc, là Trái Đất. Ngài khoác lấy thể hành tinh như con người khoác chiếc áo của thể xác, và nhờ hình tướng khách quan này, Ngài thực hiện các mục đích của Ngài trên cõi hồng trần, qua yếu tố trí tuệ, đạt được những mục tiêu nhất định. Nhân tiện, các tế bào trong thể của Ngài tuân theo Trí Tuệ đang tác động lên chúng, cũng như con người, nguyên khí thông minh của sự lâm phàm trên cõi hồng trần, khiến các nguyên tử trong thể mình phù hợp với mục đích của y, và ngày càng kích thích các loa tuyến của những nguyên tử ấy bằng mãnh lực của trí tuệ y tác động lên chúng.
Here comes the opportunity to make clear something that is oft lost sight of in the general fog surrounding this subject. The human and deva units on the upward arc, who are the cells in His body, go to the formation of the centres, and not to the remainder of the cellular vital substance of His vehicles. Man has a body made up of matter which is applied to different uses, yet which forms a unit. In this unit there are certain areas of more vital importance than other areas from the standpoint of energising force. Such an area as the heart may, in this connection, be considered and compared (as regards force value) with such an area as the calf of the leg. The entity, man, utilises both, but the heart centre is of paramount importance. Thus is it also with a Heavenly Man. The two great Hierarchies—deva and human—are force centres in the body of a planetary Logos; the other evolutions of an involutionary nature extant within the scheme, and the remainder of the active substance of the globes, and all contained therein, go to the content of the remainder of His body.
Ở đây có cơ hội để làm sáng tỏ một điều thường bị bỏ quên trong màn sương mù chung bao quanh đề tài này. Các đơn vị nhân loại và thiên thần trên cung đi lên, là những tế bào trong thể của Ngài, cấu thành các trung tâm, chứ không phải phần còn lại của chất liệu sinh lực tế bào trong các vận cụ của Ngài. Con người có một thể được tạo thành từ vật chất được dùng vào những công dụng khác nhau, tuy vậy vẫn tạo thành một đơn vị. Trong đơn vị này có những khu vực quan trọng về sinh lực hơn các khu vực khác xét từ quan điểm của mãnh lực tiếp năng. Chẳng hạn, một khu vực như tim có thể, trong mối liên hệ này, được xem xét và so sánh (về giá trị mãnh lực) với một khu vực như bắp chân. Thực thể là con người sử dụng cả hai, nhưng trung tâm tim có tầm quan trọng tối thượng. Với một Đấng Thiên Nhân cũng vậy. Hai Huyền Giai lớn—thiên thần và nhân loại—là các trung tâm mãnh lực trong thể của một Hành Tinh Thượng đế; các tiến hoá khác có bản chất giáng hạ tiến hoá hiện tồn trong hệ hành tinh, cùng phần còn lại của chất liệu hoạt động của các bầu hành tinh, và mọi thứ chứa trong đó, cấu thành nội dung của phần còn lại trong thể của Ngài.
a. Man and the planetary Logos. With the deva evolution at this point we have nought to do. I seek to concentrate attention on man, as he functions on earth. In order to clarify the idea of manas and its relation to a human being it is necessary to point out certain things [Page 357] in connection with a Heavenly Man which must be borne in mind.
a. Con người và Hành Tinh Thượng đế. Ở điểm này, chúng ta không bàn đến tiến hoá thiên thần. Tôi tìm cách tập trung sự chú ý vào con người, như y hoạt động trên Trái Đất. Để làm sáng tỏ ý niệm về manas và mối liên hệ của nó với một con người, cần phải chỉ ra một số điều [Page 357] liên quan đến một Đấng Thiên Nhân mà phải được ghi nhớ.
First, that each Heavenly Man holds the position of a centre in the body of a solar Logos; therefore, the Logos of a scheme will embody some outstanding characteristic. The ten schemes are the seven, and the synthesising three—not the seven and a lower three. The lower centres were vital in the last solar system (from the esoteric standpoint), and are not counted in this; they were synthesised and absorbed during the obscuration process of System I.
Thứ nhất, mỗi Đấng Thiên Nhân giữ vị trí của một trung tâm trong thể của một Thái dương Thượng đế; do đó, Thượng đế của một hệ hành tinh sẽ hiện thân cho một đặc tính nổi bật nào đó. Mười hệ hành tinh là bảy và ba hệ tổng hợp—không phải bảy và ba hệ thấp. Các trung tâm thấp có sinh lực trong hệ mặt trời trước (xét theo quan điểm huyền bí), và không được tính trong hệ này; chúng đã được tổng hợp và hấp thu trong tiến trình che khuất của Hệ I.
Secondly, each Heavenly Man is consequently the embodiment of a particular kind of electrical force which flows through His scheme as man’s force flows through some one of the etheric centres in his body. Each scheme, as each human centre, will
Thứ hai, do đó, mỗi Đấng Thiên Nhân là hiện thân của một loại mãnh lực điện đặc thù chảy qua hệ hành tinh của Ngài cũng như mãnh lực của con người chảy qua một trong các trung tâm dĩ thái trong thể y. Mỗi hệ hành tinh, cũng như mỗi trung tâm của con người, sẽ
a. Vibrate to some one key.
a. Rung động theo một chủ âm nào đó.
b. Have its own colouring.
b. Có màu sắc riêng của nó.
c. Resemble, when seen from the higher planes, a vast lotus.
c. Giống như một hoa sen khổng lồ khi được nhìn từ các cõi cao hơn.
d. Possess, according to its vibratory capacity, a definite number of petals.
d. Sở hữu, tùy theo khả năng rung động của nó, một số lượng cánh hoa xác định.
e. Be connected in geometrical formation with certain other centres of Heavenly Men, making systemic triangles. (132)
e. Được nối kết trong sự sắp xếp hình học với một số trung tâm khác của các Đấng Thiên Nhân, tạo thành các tam giác hệ thống. (132)
(132) A hint of this triangle of force was conveyed in Letters on Occult Meditation, page 79-84, when speaking of man and his centres. (back)
(132) Một gợi ý về tam giác mãnh lực này đã được truyền đạt trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí, trang 79-84, khi nói về con người và các trung tâm của y. (back)
f. Be characterised by different stages of activity according to the initiation towards which the Logos may be working. Thus, at one period one centre or Heavenly Man may be the subject of logoic attention, and of specialised stimulation, and at another period a totally different scheme may be the object of vitalisation. For some time the Logos has turned His attention to the Earth Scheme and to Saturn, whilst Uranus is receiving [Page 358] stimulation. Much is therefore accentuated, and increased evolutionary development is the consequence of this divine attention.
f. Được đặc trưng bởi những giai đoạn hoạt động khác nhau tùy theo cuộc điểm đạo mà Thượng đế có thể đang hướng tới. Vì vậy, vào một thời kỳ, một trung tâm hay một Đấng Thiên Nhân có thể là đối tượng được Thượng đế chú ý và được kích thích chuyên biệt, còn vào một thời kỳ khác, một hệ hành tinh hoàn toàn khác có thể là đối tượng được tiếp sinh lực. Trong một thời gian, Thượng đế đã hướng sự chú ý của Ngài đến Dãy Địa Cầu Hệ hành tinh và đến Sao Thổ, trong khi Sao Thiên Vương đang nhận được [Page 358] sự kích thích. Do đó, nhiều điều được nhấn mạnh, và sự phát triển tiến hoá gia tăng là hệ quả của sự chú ý thiêng liêng này.
When these facts are borne in mind it will be seen that the interaction, and the complexity, is of vast proportions, and man can do no more than accept the fact, and leave the explanation until his consciousness is of greater scope.
Khi ghi nhớ các sự kiện này, người ta sẽ thấy rằng sự tương tác và tính phức tạp có quy mô vô cùng lớn, và con người không thể làm gì hơn ngoài việc chấp nhận sự kiện ấy, và để phần giải thích lại cho đến khi tâm thức của y có phạm vi rộng lớn hơn.
Third, one of the mysteries revealed at initiation is that of the logoic centre which our scheme represents, and the type of electrical fire which is flowing through it. The “Seven Brothers,” or the seven types of fohatic force, express Themselves through the seven centres, and the One Who is animating our scheme stands revealed at the third Initiation. It is by knowledge of the nature and quality of the electrical force of our centre, and by realisation of the place our centre holds in the body logoic, that the Hierarchy achieves the aims of evolution. It will be obvious that the Heavenly Man Who stands for the kundalini centre, for instance, will work differently, and have a different purpose and method, from His Brother Who stands for the heart centre in the body logoic, or to the Heavenly Man Who embodies the logoic solar plexus. From this it is apparent that:
Thứ ba, một trong những huyền nhiệm được mặc khải lúc điểm đạo là huyền nhiệm về trung tâm Thượng đế mà hệ hành tinh chúng ta đại diện, và loại lửa điện đang chảy qua nó. “Bảy Huynh Đệ,” hay bảy loại mãnh lực fohat, tự biểu lộ qua bảy trung tâm, và Đấng đang phú linh cho hệ hành tinh chúng ta được mặc khải ở lần điểm đạo thứ ba. Chính nhờ tri thức về bản chất và phẩm tính của mãnh lực điện nơi trung tâm của chúng ta, và nhờ chứng nghiệm về vị trí mà trung tâm chúng ta giữ trong thể Thượng đế, mà Thánh đoàn đạt được các mục tiêu của tiến hoá. Hiển nhiên là chẳng hạn, Đấng Thiên Nhân đại diện cho trung tâm kundalini sẽ hoạt động khác đi, và có mục đích cùng phương pháp khác với Huynh Đệ của Ngài là Đấng đại diện cho trung tâm tim trong thể Thượng đế, hay với Đấng Thiên Nhân hiện thân cho tùng thái dương Thượng đế. Từ đó hiển nhiên rằng:
a. The type of electrical force
a. Loại mãnh lực điện
b. The vibratory action
b. Tác động rung động
c. The purpose
c. Mục đích
d. The evolutionary development
d. Sự phát triển tiến hoá
e. The dual and triangular interaction
e. Sự tương tác nhị nguyên và tam giác
of all the Heavenly Men will differ, and so will the evolutions that form the cells in Their Bodies differ likewise. Little has as yet been revealed anent the types of evolutions which are to be found in the other schemes of our system. Suffice it to say that in all the schemes, on some [Page 359] globe in the scheme, human beings or self-conscious units, are to be found. Conditions of life, environment and form may differ, but the human Hierarchy works in all schemes.
của tất cả các Đấng Thiên Nhân sẽ khác nhau, và các tiến hoá tạo thành những tế bào trong Các thể của Các Ngài cũng sẽ khác nhau tương ứng. Cho đến nay, rất ít điều được mặc khải về các loại tiến hoá có thể tìm thấy trong các hệ hành tinh khác của hệ thống chúng ta. Chỉ cần nói rằng trong mọi hệ hành tinh, trên một [Page 359] bầu hành tinh nào đó trong hệ hành tinh, đều có thể tìm thấy những con người hay các đơn vị ngã thức. Các điều kiện sống, môi trường và hình tướng có thể khác nhau, nhưng Huyền Giai nhân loại hoạt động trong mọi hệ hành tinh.
It must also be borne in mind that just as all seven Heavenly Men are found in the body logoic, and are Themselves under the influence of seven solar Logoi (using the word “influence” in its astrological sense), so in a planetary scheme with its seven globes each is astrologically under the influence of all the seven Heavenly Men. A scheme is but a replica of a system. Each of the Heavenly Men pours forth His radiation or influence, and stimulates in some way some other centre or globe. To word it otherwise, His magnetism is felt by His Brothers in a greater or less degree according to the work being undertaken at any one time. At present the Heavenly Men, representing centres at different stages of stimulation, being not all equally developed and being not as yet psychically unified, this magnetic interplay is little realised, and the psychic flow from one scheme to another is little utilised or comprehended. As time elapses this interplay of force will become more evident and the force will be consciously employed. When men, for instance, know
Cũng phải ghi nhớ rằng cũng như cả bảy Đấng Thiên Nhân đều hiện diện trong thể Thượng đế, và chính Các Ngài chịu ảnh hưởng của bảy Thái dương Thượng đế (dùng từ “ảnh hưởng” theo nghĩa chiêm tinh học của nó), thì trong một hệ hành tinh với bảy bầu hành tinh của nó, mỗi bầu cũng chịu ảnh hưởng chiêm tinh học của cả bảy Đấng Thiên Nhân. Một hệ hành tinh chỉ là bản sao của một hệ thống. Mỗi Đấng Thiên Nhân tuôn đổ bức xạ hay ảnh hưởng của Ngài, và kích thích theo một cách nào đó một trung tâm hay bầu hành tinh khác. Nói cách khác, từ điện của Ngài được các Huynh Đệ của Ngài cảm nhận ở mức độ nhiều hay ít tùy theo công việc đang được đảm trách vào bất kỳ lúc nào. Hiện nay, vì các Đấng Thiên Nhân đại diện cho những trung tâm ở các giai đoạn kích thích khác nhau, không phải tất cả đều phát triển ngang nhau và cũng chưa được hợp nhất về mặt thông linh, nên sự tương tác từ tính này ít được nhận biết, và dòng chảy thông linh từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác ít được sử dụng hay thấu hiểu. Khi thời gian trôi qua, sự tương tác mãnh lực này sẽ trở nên hiển nhiên hơn và mãnh lực ấy sẽ được sử dụng một cách hữu thức. Chẳng hạn, khi con người biết
The quality of the force flowing through their particular scheme;
Phẩm tính của mãnh lực chảy qua hệ hành tinh riêng của họ;
The purpose and name of the centre they stand within;
Mục đích và tên của trung tâm mà họ đứng trong đó;
The centre or Heavenly Man with Whom the Logos of their scheme is allied;
Trung tâm hay Đấng Thiên Nhân mà Thượng đế của hệ hành tinh họ liên kết với;
Which two schemes form, with their own, a triangle for logoic force at a certain stage of evolutionary development;
Hai hệ hành tinh nào cùng với hệ của họ tạo thành một tam giác cho mãnh lực Thượng đế ở một giai đoạn phát triển tiến hoá nhất định;
The secret of the cycles, or the periods of stimulation or obscuration;
Bí mật của các chu kỳ, hay các thời kỳ kích thích hoặc che khuất;
then will the body logoic begin to achieve its purpose; [Page 360] then will the Logos of our system begin to blend and merge and co-ordinate all His vehicles; then will the force flow through all the centres unimpeded; and then will the glory shine out, and each cell in every body—logoic, planetary, deva and human, blaze forth with perfected glory, vibrate with adjusted accuracy, and a major cosmic initiation be taken.
thì thể Thượng đế sẽ bắt đầu đạt được mục đích của nó; [Page 360] khi ấy Thượng đế của hệ thống chúng ta sẽ bắt đầu dung hợp, hòa nhập và phối hợp tất cả các vận cụ của Ngài; khi ấy mãnh lực sẽ chảy qua mọi trung tâm không bị ngăn trở; và khi ấy vinh quang sẽ tỏa sáng, và mỗi tế bào trong mọi thể—Thượng đế, hành tinh, thiên thần và nhân loại—sẽ bừng cháy với vinh quang hoàn hảo, rung động với sự chính xác đã được điều chỉnh, và một cuộc điểm đạo vũ trụ lớn sẽ được tiếp nhận.
b. The Logos of our Scheme. The Heavenly Man or planetary Logos of the Earth scheme can be considered in various ways, and as is our custom we will simply tabulate the statements anent Him which, when considered at length by the individual student, should serve to make the FACT of the essential Personality of this great Entity, the work that He is endeavouring to accomplish, and the relationship of the human Hierarchy to Him, a greater reality. We must bear in mind in studying this matter that it will not be possible to reveal for general publication details as to His specific Identity, His number and His scope of conscious development. Such mysteries, as earlier pointed out, are reserved for those who are pledged to keep silent. But some general idea may be conveyed before we take up specifically this chain and round.
b. Thượng đế của Hệ hành tinh chúng ta. Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Trái Đất có thể được xem xét theo nhiều cách, và như thường lệ, chúng ta sẽ chỉ đơn giản liệt kê thành bảng những phát biểu liên quan đến Ngài; khi được từng đạo sinh suy ngẫm kỹ lưỡng, chúng sẽ giúp làm cho SỰ KIỆN về Phàm ngã cốt yếu của Thực Thể vĩ đại này, công việc mà Ngài đang cố gắng hoàn thành, và mối liên hệ của Huyền Giai nhân loại với Ngài, trở thành một thực tại lớn hơn. Khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta phải ghi nhớ rằng sẽ không thể tiết lộ để công bố rộng rãi những chi tiết về Bản Sắc đặc thù của Ngài, con số của Ngài và phạm vi phát triển hữu thức của Ngài. Những huyền nhiệm như thế, như đã chỉ ra trước đây, được dành cho những ai đã thệ nguyện giữ im lặng. Nhưng một vài ý niệm tổng quát có thể được truyền đạt trước khi chúng ta chuyên biệt bàn đến dãy này và cuộc tuần hoàn này.
It might be asked wherein all this information is of use, and what purpose it serves in this hour of the world’s need. Apart from the fact that the cyclic giving out of the truth works under the law, and may not be gain-said, it is suggested for consideration that much advantage will be felt when men in large numbers conceive of the purpose of specific manifestations, when they realise that all forms are but the modes of expression of certain Entities or Beings, Who occupy them for cycles of definite duration in order to attain a purpose, and that each life—great or small—serves its own ends, yet subserves the greater ends of the Being in Whose body it is a corporate part. The details of the plan may not be given. [Page 361] The general outline—solar, planetary, and hierarchical—may be suggested, and by the very suggestion, bring order into the thoughts of men as they view the apparent chaos of the moment. Let us not forget, that when order is brought about, and united thought produced on the mental plane, then order transpires eventually on the physical plane.
Người ta có thể hỏi thông tin này hữu ích ở điểm nào, và nó phục vụ mục đích gì trong giờ phút thế giới đang cần đến như hiện nay. Ngoài sự kiện rằng việc tuần hoàn tiết lộ chân lý vận hành theo định luật và không thể bị phủ nhận, xin gợi ý để suy xét rằng sẽ có nhiều lợi ích khi số đông con người hình dung được mục đích của những biểu hiện đặc thù, khi họ nhận ra rằng mọi hình tướng chỉ là những phương thức biểu lộ của những Thực Thể hay Đấng nhất định, các Đấng chiếm ngụ chúng trong những chu kỳ có thời lượng xác định để đạt tới một mục đích, và rằng mỗi sự sống—lớn hay nhỏ—đều phục vụ các cứu cánh riêng của nó, nhưng đồng thời phụng sự các cứu cánh lớn hơn của Đấng mà trong thể của Ngài nó là một phần hợp thành. Những chi tiết của Thiên Cơ không thể được tiết lộ. [Page 361] Có thể gợi ra đại cương tổng quát—về mặt thái dương, hành tinh và huyền giai—và chính nhờ sự gợi ra ấy mà đem lại trật tự vào tư tưởng của con người khi họ nhìn vào sự hỗn loạn bề ngoài của hiện thời. Chúng ta đừng quên rằng khi trật tự được thiết lập, và tư tưởng hợp nhất được tạo ra trên cõi trí, thì cuối cùng trật tự cũng sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần.
The planetary Logos of this scheme is one of the four minor Logoi, or Lords of the Rays, and is specially concerned therefore with the development of one attribute of manas. Each of the four minor Rays is, as we know, eventually synthesised, or absorbed into that Ray which is represented on our earth by the Mahachohan. He is the Lord of the third major Ray or Aspect, and synthesises the four. These four Rays with their synthesising Ray make the five rays of Manas or Mind. We can consider them as:
Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh này là một trong bốn Thượng đế nhỏ, hay các Chúa Tể của các Cung, và do đó đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của một thuộc tính của manas. Mỗi một trong bốn Cung nhỏ, như chúng ta biết, rốt cuộc đều được tổng hợp, hay hấp thu vào Cung được đại diện trên Trái Đất chúng ta bởi Đức Mahachohan. Ngài là Chúa Tể của Cung lớn thứ ba hay Phương diện thứ ba, và tổng hợp cả bốn. Bốn Cung này cùng với Cung tổng hợp của chúng tạo thành năm cung của Manas hay Trí Tuệ. Chúng ta có thể xem chúng như:
a. The fivefold Brahma Aspect.
a. Phương diện Brahma ngũ phân.
b. They were the five Rays of prime importance in the first solar system, and were the five individualised Heavenly Men, called the Mind-born Sons of Brahma. Through the individualisation of the four in that system the individualisation of the great cosmic Entity we call Brahma was brought about. He individualised and the four go to the content of His body.
b. Chúng là năm Cung có tầm quan trọng hàng đầu trong hệ mặt trời thứ nhất, và là năm Đấng Thiên Nhân biệt ngã hóa được gọi là các Con do Trí Tuệ sinh ra của Brahma. Qua sự biệt ngã hóa của bốn vị trong hệ thống ấy, sự biệt ngã hóa của Thực Thể vũ trụ vĩ đại mà chúng ta gọi là Brahma đã được thực hiện. Ngài đã biệt ngã hóa và bốn vị ấy cấu thành nội dung của thể Ngài.
c. They are represented on our earth by the five Kumaras Who obeyed the Law, and took human form, as H. P. B. (S.D., I, 493) hints in several passages in the Secret Doctrine.
c. Chúng được đại diện trên Trái Đất chúng ta bởi năm Kumara đã tuân theo Định luật và mang lấy hình tướng con người, như H. P. B. (S.D., I, 493) gợi ý trong vài đoạn của Giáo Lý Bí Nhiệm.
This scheme is considered as the fourth and the one of the most importance in the system during this particular cycle for the following reasons:
Hệ hành tinh này được xem là hệ thứ tư và là hệ quan trọng nhất trong hệ thống trong chu kỳ đặc biệt này vì những lý do sau:
Our solar system, being considered as of the fourth [Page 362] order, and our scheme being the fourth in order, there is consequently a moment of special opportunity afforded our planetary Logos through the alignment brought about. It eventuates in the turning of the attention of the logoic kundalini fire towards this centre, our scheme, and the subsequent results are in process of working out.
Hệ mặt trời của chúng ta, được xem là thuộc bậc thứ tư [Page 362] và hệ hành tinh của chúng ta là hệ thứ tư theo thứ tự, nên do đó có một thời điểm cơ hội đặc biệt được dành cho Hành Tinh Thượng đế của chúng ta nhờ sự chỉnh hợp được tạo ra. Điều này dẫn đến việc lửa kundalini Thượng đế hướng sự chú ý của nó về trung tâm này, tức hệ hành tinh của chúng ta, và các kết quả tiếp theo hiện đang trong tiến trình biểu lộ.
Within the scheme the chain that concerns us the most, and which is temporarily of the most vital importance to the planetary Logos, is the Earth chain, the fourth in order again, thus bringing about another alignment of very grave moment. This carries with it special opportunity, and permits of the entry of force from the cosmos itself, or of extra-systemic electrical vitality. This super-stimulation results in what looks to us like cataclysms, and a stupendous shattering of forms, but it is simply the necessary sequence to the vitalisation of the life within the form, and the breaking of the limiting form unable to bear the cosmic action.
Trong hệ hành tinh, dãy liên quan đến chúng ta nhiều nhất, và tạm thời có tầm quan trọng sinh tử nhất đối với Hành Tinh Thượng đế, là Dãy Địa Cầu, lại là dãy thứ tư theo thứ tự, do đó tạo ra một sự chỉnh hợp khác có ý nghĩa vô cùng trọng đại. Điều này mang theo cơ hội đặc biệt, và cho phép mãnh lực từ chính vũ trụ đi vào, hay sinh lực điện ngoài hệ thống. Sự siêu kích thích này dẫn đến điều đối với chúng ta trông như những đại biến động, và một sự phá vỡ hình tướng khủng khiếp, nhưng đó chỉ là hệ quả tất yếu của việc tiếp sinh lực cho sự sống bên trong hình tướng, và sự phá vỡ hình tướng giới hạn không thể chịu nổi tác động vũ trụ.
Again within the chain, the globe at present receiving planetary polarisation, or at present embodying in a special sense the life of the planetary Logos is the Earth, the fourth in order. This brings about a still further alignment.
Lại nữa, trong dãy, bầu hành tinh hiện đang nhận sự phân cực hành tinh, hay hiện đang hiện thân theo một ý nghĩa đặc biệt cho sự sống của Hành Tinh Thượng đế, là Trái Đất, bầu thứ tư theo thứ tự. Điều này tạo ra một sự chỉnh hợp sâu hơn nữa.
Add to the above facts the accepted knowledge that this is the fourth round and we have a fivefold alignment which is of paramount significance to us all, though it had even greater significance and force in the fourth root-race, and brought about that stupendous psychic event—the opening of the door of Initiation to the human Hierarchy.
Thêm vào các sự kiện trên tri thức đã được chấp nhận rằng đây là cuộc tuần hoàn thứ tư và chúng ta có một sự chỉnh hợp ngũ phân có ý nghĩa tối thượng đối với tất cả chúng ta, mặc dù nó còn có ý nghĩa và mãnh lực lớn hơn nữa trong giống dân gốc thứ tư, và đã đưa đến biến cố thông linh phi thường ấy—sự mở cánh cửa Điểm đạo cho Huyền Giai nhân loại.
These very important facts merit close attention, and the consideration of all occult students. They hold the key whereby some comprehension of manas and of planetary evolution may come about. What have we, therefore, in this special cyclic alignment? [Page 363]
Những sự kiện rất quan trọng này đáng được chú ý kỹ lưỡng và được mọi đạo sinh huyền bí học suy xét. Chúng nắm giữ chiếc chìa khóa nhờ đó có thể đạt được một phần thấu hiểu về manas và về tiến hoá hành tinh. Vậy thì, trong sự chỉnh hợp chu kỳ đặc biệt này, chúng ta có gì? [Page 363]
1. A solar system of the fourth order.
1. Một hệ mặt trời thuộc bậc thứ tư.
2. The fourth scheme in the system.
2. Hệ hành tinh thứ tư trong hệ thống.
3. The fourth chain in the scheme.
3. Dãy thứ tư trong hệ hành tinh.
4. The fourth globe in the chain.
4. Bầu hành tinh thứ tư trong dãy.
5. The fourth round. (134)
5. Cuộc tuần hoàn thứ tư. (134)
(134) Compare also the following correspondences:
(134) Cũng hãy đối chiếu các tương ứng sau đây:
The sacred Tetraktys.............. The manifested Logos.
Tetraktys thiêng liêng.............. Thượng đế biểu hiện.
The Fourth Creative Hierarchy...... The Human.
Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư......... Con người.
The Fourth Principle.............. Lower Mind.
Nguyên khí thứ tư................ Hạ trí.
The Fourth Race................. Kamamanas.
Nhân loại thứ tư................. Kamamanas.
The Fourth Element...............Water, S. D., I, 95. I, 640.
Nguyên tố thứ tư................Nước, S. D., I, 95. I, 640.
The Four Truths..................S. D., I, 70.
Bốn Chân Lý...................S. D., I, 70.
The Four Propositions.............S. D., I, 107.
Bốn Mệnh đề..................S. D., I, 107.
The Four Initiations...............S. D., I, 227.
Bốn lần điểm đạo...............S. D., I, 227.
The Fourth Plane.................Buddhi, fourth cosmic ether.
Cõi thứ tư....................Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư.
The Fourth physical sub-plane...... The Fourth Ether.
Cõi phụ hồng trần thứ tư......... Dĩ thái thứ tư.
The Fourth Round................The Present. (back)
Cuộc tuần hoàn thứ tư.............Hiện tại. (back)
All these are found active within the same cycle, and all therefore bring about a simultaneous alignment which results in the clearing of a channel direct from the heart of our scheme through every ring-pass-not to the cosmic correspondence, found outside the solar sphere.
Tất cả những điều này đều được thấy là hoạt động trong cùng một chu kỳ, và do đó tất cả cùng tạo ra một sự chỉnh hợp đồng thời, kết quả là khai thông một kênh trực tiếp từ trái tim của hệ hành tinh chúng ta xuyên qua mọi vòng-giới-hạn đến tương ứng vũ trụ, được tìm thấy bên ngoài khối cầu thái dương.
To the above realisation, we must add yet the further fact that the fourth Creative Hierarchy is the one whose evolution we are considering, and it will be apparent to the most superficial student that in these thoughts lies hidden the clue, not only to man but to the entire cyclic evolution in which he is taking part.
Vào sự chứng nghiệm trên, chúng ta còn phải thêm một sự kiện nữa là Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là Huyền Giai mà chúng ta đang xem xét sự tiến hoá của nó, và ngay cả đạo sinh hời hợt nhất cũng sẽ thấy rõ rằng trong những tư tưởng này ẩn giấu đầu mối không chỉ về con người mà còn về toàn bộ tiến hoá chu kỳ mà y đang tham dự.
The fourth Creative Hierarchy is essentially the Hierarchy of manas. This is no play on words, but a statement of deep occult significance. The statement has been made with entire accuracy that five Hierarchies out of the twelve have passed out and that seven remain. Of these seven, our human Hierarchy is the fourth, making it literally the ninth when counting the entire twelve. In this connection it would be well to link up the statements that have been made to the effect that the five Kumaras or Heavenly Men Who definitely embody the manasic principle (or the five Rays over which the systemic correspondence to the Mahachohan presides) developed [Page 364] manas in an earlier system; They passed out of the wave of manasic influence as far as their own Nature is concerned.
Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư về bản chất là Huyền Giai của manas. Đây không phải là một lối chơi chữ, mà là một phát biểu có ý nghĩa huyền bí sâu xa. Phát biểu rằng năm Huyền Giai trong số mười hai đã đi qua và bảy Huyền Giai còn lại đã được nêu ra với sự chính xác hoàn toàn. Trong bảy Huyền Giai ấy, Huyền Giai nhân loại của chúng ta là Huyền Giai thứ tư, khiến nó theo nghĩa đen là thứ chín khi tính toàn bộ mười hai. Trong mối liên hệ này, nên liên kết các phát biểu đã được nêu rằng năm Kumara hay Đấng Thiên Nhân, những Đấng hiện thân một cách xác định cho nguyên khí manas (hay năm Cung mà tương ứng hệ thống với Đức Mahachohan chủ trì) đã phát triển [Page 364] manas trong một hệ thống trước đó; Các Ngài đã vượt ra khỏi làn sóng ảnh hưởng manas xét theo bản chất riêng của Các Ngài.
We must remember also that nine is the number of Initiation, or of the major Initiations of Manas, wherein man becomes a perfect Nine, or literally is the number of his Hierarchy. This is from the standpoint of the three systems, though his present systemic number may be four.
Chúng ta cũng phải nhớ rằng chín là con số của Điểm đạo, hay của các cuộc điểm đạo lớn của Manas, trong đó con người trở thành một Chín hoàn hảo, hay theo nghĩa đen là con số của Huyền Giai của y. Điều này xét từ quan điểm của ba hệ thống, mặc dù con số hệ thống hiện tại của y có thể là bốn.
In occupying ourselves with these various statements anent our scheme and its Ruler we have seen that this particular cycle, or incarnation of His, is one of great importance, not only to Himself but to the entire system. The planetary Logos of this scheme is primarily occupied with a particular group of units, or with those Monads who vibrate to His key, are colored by the same colour as Himself, answer to the same number, and are esoterically known by the same Name. One point here needs emphasis: all Monads pass at different times under the influence of the different planetary Logoi, and all are found at some time in each scheme. This does not mean that every human unit passes a period of incarnation in each scheme. It means that on some one globe in every scheme, human units will be found either prior to physical incarnation, between different egoic cycles (a totally different thing to periods between physical lives), between different rounds or manvantaras, or between the various root-races and subraces. As stated in various occult books, many of the present advanced humanity individualised on the moon chain, and only took physical bodies in the earth chain during the fourth root-race, thus escaping incarnation during the first three rounds, and the first two races of the fourth round. In the interim, they came under the planetary influence of another Logos of a scheme, and were occupied during that immense period of time in fanning the manasic flame, and developing [Page 365] the attributes of manas, so that the Atlantean root-race found them adequately equipped to cope with life conditions.
Khi khảo sát những phát biểu khác nhau này liên quan đến hệ hành tinh của chúng ta và Đấng Cai Quản của nó, chúng ta đã thấy rằng chu kỳ đặc biệt này, hay lần lâm phàm này của Ngài, là một chu kỳ có tầm quan trọng lớn lao, không chỉ đối với chính Ngài mà còn đối với toàn bộ hệ thống. Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh này trước hết bận tâm đến một nhóm đơn vị đặc thù, hay với những chân thần rung động theo chủ âm của Ngài, được nhuốm cùng màu với chính Ngài, đáp ứng cùng một con số, và một cách huyền bí được biết đến bằng cùng một Danh. Có một điểm ở đây cần được nhấn mạnh: mọi chân thần đều đi qua dưới ảnh hưởng của các Hành Tinh Thượng đế khác nhau vào những thời điểm khác nhau, và tất cả đều được tìm thấy vào một lúc nào đó trong mỗi hệ hành tinh. Điều này không có nghĩa là mọi đơn vị nhân loại đều trải qua một thời kỳ lâm phàm trong mỗi hệ hành tinh. Nó có nghĩa là trên một bầu hành tinh nào đó trong mọi hệ hành tinh, các đơn vị nhân loại sẽ được tìm thấy hoặc trước khi lâm phàm hồng trần, hoặc giữa các chu kỳ chân ngã khác nhau (một điều hoàn toàn khác với các giai đoạn giữa những kiếp sống hồng trần), hoặc giữa các cuộc tuần hoàn hay các giai kỳ sinh hóa khác nhau, hoặc giữa các giống dân gốc và giống dân phụ khác nhau. Như đã nêu trong nhiều sách huyền bí học, nhiều người trong nhân loại tiến bộ hiện nay đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng, và chỉ mang thể xác trong Dãy Địa Cầu vào giống dân gốc thứ tư, nhờ đó tránh được sự lâm phàm trong ba cuộc tuần hoàn đầu và hai nhân loại đầu của cuộc tuần hoàn thứ tư. Trong khoảng trung gian ấy, họ chịu ảnh hưởng hành tinh của một Thượng đế khác của một hệ hành tinh, và đã dành trọn thời kỳ mênh mông đó để quạt bùng ngọn lửa manas, và phát triển [Page 365] các thuộc tính của manas, để rồi giống dân gốc Atlantis thấy họ được trang bị đầy đủ để đối phó với các điều kiện sống.
This participation in the life and influence of the different schemes is effected in four different ways:
Sự tham dự này vào sự sống và ảnh hưởng của các hệ hành tinh khác nhau được thực hiện theo bốn cách khác nhau:
First, through passing the interim between egoic cycles of physical incarnation on the particular globe of their scheme, which numerically coincides with the particular other scheme whose influence is desired, either from deliberate choice or karmically necessitated. Each globe in a chain is occultly linked with the chain of its own number, and with the scheme of a similar number. For instance: Globe 2, Chain 2, and scheme 2 during round 2 are specially linked and vitalised, and are the focal point of peculiar attention on the part of the Logos of that scheme. Similarly (again in illustration) globe 2, chain 2 during round 2 in any scheme such as the fifth, for instance, are aligned or connected esoterically with the second scheme. This gives opportunity for the units in the body of any Logos to come under the influence of another Logos, and within his vibratory radiation.
Thứ nhất, bằng cách trải qua khoảng trung gian giữa các chu kỳ chân ngã của sự lâm phàm hồng trần trên bầu hành tinh đặc thù của hệ hành tinh họ, bầu này trùng hợp về số học với hệ hành tinh đặc thù khác mà ảnh hưởng của nó được mong muốn, hoặc do lựa chọn có chủ ý hoặc do nghiệp quả bắt buộc. Mỗi bầu hành tinh trong một dãy được nối kết huyền bí với dãy cùng số của nó, và với hệ hành tinh có cùng số. Chẳng hạn: Bầu 2, Dãy 2, và hệ hành tinh 2 trong cuộc tuần hoàn 2 được nối kết và tiếp sinh lực một cách đặc biệt, và là tiêu điểm của sự chú ý đặc thù từ phía Thượng đế của hệ hành tinh ấy. Tương tự như vậy (lại lấy ví dụ), bầu 2, dãy 2 trong cuộc tuần hoàn 2 ở bất kỳ hệ hành tinh nào chẳng hạn như hệ thứ năm, đều được chỉnh hợp hay nối kết một cách huyền bí với hệ hành tinh thứ hai. Điều này tạo cơ hội cho các đơn vị trong thể của bất kỳ Thượng đế nào đi vào dưới ảnh hưởng của một Thượng đế khác, và trong bức xạ rung động của ông.
Second, through a direct transference of the units in incarnation in any scheme (during an interlude) to some globe in another scheme where they are subjected to the stimulation and vibration peculiar to that scheme. These two methods are the most usual. This transference will seem mysteriously impossible unless the student is careful to realise that it is the transference of the individualised lives and not the transference of the forms which they occupy. The whole matter is psychic, and based on the unity of the anima mundi. It is only possible at those periods when two Heavenly Men are mutually finding each other—under the Law of Attraction—and thus swinging into the magnetic radius of each other.
Thứ hai, bằng một sự chuyển dịch trực tiếp các đơn vị đang lâm phàm trong bất kỳ hệ hành tinh nào (trong một quãng xen kẽ) sang một bầu hành tinh nào đó trong một hệ hành tinh khác, nơi họ chịu sự kích thích và rung động đặc thù của hệ hành tinh ấy. Hai phương pháp này là thông thường nhất. Sự chuyển dịch này sẽ có vẻ bí ẩn đến mức bất khả trừ phi đạo sinh cẩn thận nhận ra rằng đó là sự chuyển dịch của các sự sống đã biệt ngã hóa chứ không phải sự chuyển dịch của các hình tướng mà chúng chiếm ngụ. Toàn bộ vấn đề này là thông linh, và dựa trên sự hợp nhất của anima mundi. Nó chỉ có thể xảy ra vào những thời kỳ khi hai Đấng Thiên Nhân đang cùng tìm thấy nhau—dưới Định luật Hấp Dẫn—và do đó cùng đi vào bán kính từ tính của nhau.
Third, through a conscious passage of the initiate, [Page 366] through initiation, from one scheme to another. This is frequently done, and hints of it have been given by different writers and thinkers, though several have confused the globes of their own chain with the scheme of the same number, or have mistaken another chain within the scheme for another scheme.
Thứ ba, bằng sự chuyển qua có ý thức của điểm đạo đồ, [Page 366] qua điểm đạo, từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác. Điều này thường xuyên được thực hiện, và những gợi ý về nó đã được nhiều tác giả và tư tưởng gia đưa ra, dù một số người đã nhầm lẫn các bầu hành tinh của dãy riêng họ với hệ hành tinh cùng số, hoặc đã lầm một dãy khác trong hệ hành tinh là một hệ hành tinh khác.
Fourth, the fourth method of transference of consciousness, and the bringing of the life units under the focal power of a Lord of a Ray, can be brought about through knowledge of certain mantrams and formulae. On this we may not enlarge as these mantrams are esoteric and the use of them is fraught with much danger to the uninitiated.
Thứ tư, phương pháp thứ tư của sự chuyển dịch tâm thức, và việc đưa các đơn vị sự sống vào dưới quyền năng tiêu điểm của một Chúa Tể Cung, có thể được thực hiện nhờ tri thức về một số mantram và công thức nhất định. Về điều này, chúng ta không thể nói rộng hơn vì các mantram ấy là huyền bí và việc sử dụng chúng đầy dẫy hiểm nguy cho người chưa được điểm đạo.
The planetary Logos of this scheme is called “the First Kumara,” the One Initiator, and the statement is made that He came to this planet from Venus, Venus being “the Earth’s primary.” This needs elucidation somewhat, though it may not be permitted to do more than convey a few hints as to the truth. The fact is one of the most mysterious in the development of our scheme, and in it lies hidden the secret of this world cycle. It is not easy to convey the truth and words but seem to veil and cloak.
Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh này được gọi là “Kumara Thứ Nhất,” Đấng Điểm đạo Duy Nhất, và có lời phát biểu rằng Ngài đã đến hành tinh này từ Sao Kim, Sao Kim là “nguyên mẫu sơ khởi của Trái Đất.” Điều này cần được làm sáng tỏ phần nào, dù có lẽ không được phép làm hơn ngoài việc truyền đạt vài gợi ý về chân lý. Sự kiện này là một trong những điều huyền bí nhất trong sự phát triển của hệ hành tinh chúng ta, và trong đó ẩn giấu bí mật của chu kỳ thế giới này. Không dễ truyền đạt chân lý, và lời nói dường như chỉ che phủ và bao bọc nó.
Perhaps a hint may be given in pointing out that there is an analogy between the coming in of the Ego in full sway and its taking hold at certain periods in the life of a human being. At seven years we are told the Ego “takes hold,” and again at adolescence; at twenty-one that hold may be made still firmer. Again, as lives are passed, the Ego (in connection with a human being) grips its vehicles and so sways them to his purpose with more effect and fullness. The same procedure can be seen in relation to a Heavenly Man and His body of manifestation, a scheme. It must be remembered that every scheme has seven chains; that each chain has seven globes, making a totality of forty-nine globes; [Page 367] that each globe is again in turn occupied by the life of the Logos during what we call seven rounds, making literally three hundred and forty-three incarnations, or fresh impulses to manifest. We must add to these major manifestations such lesser ones as those named by us root-races, and subraces, also branch races, and thus we are faced with a complexity that is enough to stagger the average student. The planetary wheel of life turns on its lesser scale the wheel of life of the little pilgrim we call man; as it turns, it sweeps the life of the evolving planetary Logos into ever new forms and experiences until the fire of Spirit burns up all lesser fires.
Có lẽ có thể đưa ra một gợi ý bằng cách chỉ ra rằng có một sự tương đồng giữa việc chân ngã đi vào trong quyền năng trọn vẹn và việc nó nắm quyền vào những thời kỳ nhất định trong đời sống của một con người. Người ta nói rằng vào bảy tuổi chân ngã “nắm quyền,” và lại một lần nữa vào tuổi dậy thì; đến hai mươi mốt tuổi, sự nắm quyền ấy có thể còn được làm cho vững chắc hơn. Lại nữa, khi các kiếp sống trôi qua, chân ngã (liên hệ với một con người) nắm lấy các vận cụ của nó và do đó chi phối chúng theo mục đích của y một cách hữu hiệu và đầy đủ hơn. Cùng một tiến trình như vậy có thể được thấy trong mối liên hệ với một Đấng Thiên Nhân và thể biểu hiện của Ngài, tức một hệ hành tinh. Phải nhớ rằng mỗi hệ hành tinh có bảy dãy; mỗi dãy có bảy bầu hành tinh, tạo thành tổng số bốn mươi chín bầu hành tinh; [Page 367] rằng mỗi bầu hành tinh lại lần lượt được sự sống của Thượng đế chiếm ngụ trong điều mà chúng ta gọi là bảy cuộc tuần hoàn, theo nghĩa đen tạo thành ba trăm bốn mươi ba lần lâm phàm, hay những xung lực mới để biểu hiện. Chúng ta còn phải thêm vào những biểu hiện lớn này những biểu hiện nhỏ hơn như những gì chúng ta gọi là giống dân gốc, giống dân phụ, và cả các chủng tộc nhánh, và như vậy chúng ta đối diện với một sự phức tạp đủ làm cho đạo sinh trung bình choáng váng. Bánh xe sự sống hành tinh quay, ở quy mô nhỏ hơn của nó, bánh xe sự sống của người hành hương nhỏ bé mà chúng ta gọi là con người; khi nó quay, nó cuốn sự sống của Hành Tinh Thượng đế đang tiến hoá vào những hình tướng và kinh nghiệm luôn mới cho đến khi lửa của tinh thần thiêu rụi mọi lửa nhỏ hơn.
As earlier pointed out, each Heavenly Man is linked with one of His Brothers under the Law of Mutual Attraction, which manifests so degradingly as yet upon the physical plane, through the life of the human unit, imprisoned in physical form. Psychically the link is of a different nature, and such a link is found between the planetary Logos of the scheme we call Venus, and the Logos of our scheme. This psychic interaction has its cyclic ebb and flow, as ebbs and flows all life force. In Lemurian days came a period of close interaction which brought about an incarnation on the physical planet of the Logos of our scheme, the Head of the Hierarchy, and the One Initiator. This could not have been effected had not the planetary Logos of the Venus scheme been in a position to link up closely with ours.
Như đã chỉ ra trước đây, mỗi Đấng Thiên Nhân được nối kết với một Huynh Đệ của Ngài dưới Định luật Hấp Dẫn Tương Hỗ, định luật hiện đang biểu lộ một cách hạ thấp trên cõi hồng trần qua đời sống của đơn vị nhân loại bị giam hãm trong hình tướng hồng trần. Về mặt thông linh, sự nối kết ấy có bản chất khác, và một sự nối kết như vậy được tìm thấy giữa Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh mà chúng ta gọi là Sao Kim, và Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta. Sự tương tác thông linh này có thủy triều lên xuống theo chu kỳ, cũng như mọi mãnh lực sự sống đều lên xuống như vậy. Vào thời Lemuria đã đến một thời kỳ tương tác mật thiết, đưa đến một lần lâm phàm trên hành tinh hồng trần của Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta, Đầu của Thánh đoàn, và Đấng Điểm đạo Duy Nhất. Điều này không thể được thực hiện nếu Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Sao Kim không ở trong vị thế có thể nối kết chặt chẽ với hệ của chúng ta.
c. Venus and the Earth Chain. This question of the coming of the Lords of Flame to the planet Earth is deeply involved (as stated above) in the relationship existing between the Heavenly Man of the Earth scheme and the Lord of the Venus scheme. Until more detailed information is permitted publication anent these two great Entities, little more can be done beyond indicating some probabilities, and pointing out certain factors which students should carefully bear in mind. The statement [Page 368] has been made that (owing to the Venusian scheme being in its fifth round) its humanity is consequently further advanced than ours, and can help us, and that this help came in Lemurian days. This is an instance of a partial truth and its misinterpretation. The Venusian scheme is—as stated in the Secret Doctrine (I, 187. II, 33-36,626)—in its fifth and last round; its humanity is very far ahead of ours in certain particulars, but the momentous occurrence in the third root-race was due to the following causes, and not to the factor of the greater advancement of a certain group of human beings:
c. Sao Kim và Dãy Địa Cầu. Vấn đề về sự giáng lâm của các Chúa Tể của Lửa đến hành tinh Trái Đất có liên hệ sâu xa (như đã nêu ở trên) với mối quan hệ hiện tồn giữa Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh Trái Đất và Chúa Tể của hệ hành tinh Sao Kim. Cho đến khi được phép công bố thông tin chi tiết hơn liên quan đến hai Thực Thể vĩ đại này, chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một vài khả năng, và nêu lên một số yếu tố mà đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ. Phát biểu [Page 368] đã được nêu rằng (do hệ hành tinh Sao Kim đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm) nhân loại của nó vì thế tiến bộ hơn chúng ta, và có thể giúp chúng ta, và rằng sự trợ giúp này đã đến vào thời Lemuria. Đây là một ví dụ về chân lý bộ phận và sự diễn giải sai của nó. Hệ hành tinh Sao Kim—như đã nêu trong Giáo Lý Bí Nhiệm (I, 187. II, 33-36,626)—đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm và cuối cùng; nhân loại của nó vượt xa chúng ta trong một số phương diện nhất định, nhưng biến cố trọng đại trong giống dân gốc thứ ba là do các nguyên nhân sau đây, chứ không phải do yếu tố tiến bộ hơn của một nhóm người nào đó:
First, the Venus Scheme, viewed as a logoic centre, is more active than ours, and therefore its radiatory magnetism is far more widely spread. Its radiation is such that on the buddhic plane it swept within its magnetic radius that chain in our scheme which is composed predominantly of buddhic matter. Then, via that chain, it magnetised the corresponding globe in our chain, and this resulted in a specific vitalisation in the dense planet itself.
Thứ nhất, hệ hành tinh Sao Kim, khi được nhìn như một trung tâm Thượng đế, hoạt động mạnh hơn hệ của chúng ta, và do đó từ điện bức xạ của nó lan tỏa rộng hơn nhiều. Bức xạ của nó có tính chất đến mức trên cõi Bồ đề, nó đã quét vào trong bán kính từ tính của nó dãy trong hệ hành tinh chúng ta vốn được cấu thành chủ yếu bằng vật chất Bồ đề. Rồi, thông qua dãy ấy, nó từ hóa bầu hành tinh tương ứng trong dãy của chúng ta, và điều này dẫn đến một sự tiếp sinh lực đặc thù trong chính hành tinh đậm đặc ấy.
Second, just as in the case of man, certain triangles of force are found at different stages of evolution, or (to word it otherwise) different centres become geometrically linked, such as the
Thứ hai, cũng như trong trường hợp của con người, những tam giác mãnh lực nhất định được tìm thấy ở các giai đoạn tiến hoá khác nhau, hay (nói cách khác) những trung tâm khác nhau trở nên nối kết về mặt hình học, chẳng hạn như
a. Base of the spine,
a. Đáy cột sống,
b. Solar plexus,
b. Tùng thái dương,
c. Heart;
c. Tim;
or again,
hoặc lại nữa,
a. Solar Plexus,
a. Tùng thái dương,
b. Heart
b. Tim
c. Throat
c. Cổ họng
so, in the case of a Heavenly Man, or of a solar Logos, a similar event occurs. Such an event transpires in this round in relation to the centre which our planetary Logos [Page 369] embodies. It became geometrically linked with two other centres, of which Venus was one, and logoic Kundalini—circulating with tremendous force through this adjusted Triangle—brought about that intensification of vibration in the human family which resulted in individualisation. We might here enumerate the schemes as a basis for our further work:
thì trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân, hay của một Thái dương Thượng đế, một biến cố tương tự cũng xảy ra. Một biến cố như vậy đang diễn ra trong cuộc tuần hoàn này liên hệ với trung tâm mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta [Page 369] hiện thân. Nó đã trở nên nối kết về mặt hình học với hai trung tâm khác, trong đó Sao Kim là một, và kundalini Thượng đế—lưu chuyển với mãnh lực ghê gớm qua Tam giác đã được điều chỉnh này—đã đưa đến sự tăng cường rung động trong gia đình nhân loại, kết quả là sự biệt ngã hóa. Ở đây, chúng ta có thể liệt kê các hệ hành tinh như một cơ sở cho công việc tiếp theo của mình:
The seven planets, centres, or schemes:
Bảy hành tinh, các trung tâm, hay các hệ hành tinh:
1. Vulcan (the sun, exoterically considered).
1. Vulcan (mặt trời, xét theo ngoại môn).
2. Venus.
2. Sao Kim.
3. Mars.
3. Sao Hỏa.
4. Earth.
4. Trái Đất.
5. Mercury.
5. Sao Thủy.
6. Jupiter.
6. Sao Mộc.
7. Saturn.
7. Sao Thổ.
The three synthesising planets:
Ba hành tinh tổng hợp:
1. Uranus.
1. Sao Thiên Vương.
2. Neptune.
2. Sao Hải Vương.
3. Saturn.
3. Sao Thổ.
The One Resolver.
Đấng Hóa Giải Duy Nhất.
The SUN.
MẶT TRỜI.
I would caution you here against attaching any importance to the sequence followed in numbering these seven schemes, either in connection with their order of development or importance, or their position in relation to the central planet, the sun, or to each other. Only two are to be considered numerically accurate at this stage and in this round, i.e., our Earth, the fourth scheme, and Venus, the second. Venus is either the second or the sixth scheme, according to whether the schemes are counted mystically or occultly. Inversely, Jupiter will be either the second or the sixth, and it must be remembered that: [Page 370]
Ở đây, tôi muốn cảnh báo bạn đừng gán bất kỳ tầm quan trọng nào cho trình tự được dùng để đánh số bảy hệ hành tinh này, dù là liên hệ đến thứ tự phát triển hay tầm quan trọng của chúng, hay vị trí của chúng đối với hành tinh trung tâm là mặt trời, hoặc đối với nhau. Chỉ có hai hệ được xem là chính xác về mặt số học ở giai đoạn này và trong cuộc tuần hoàn này, tức Trái Đất của chúng ta, hệ hành tinh thứ tư, và Sao Kim, hệ thứ hai. Sao Kim hoặc là hệ thứ hai hoặc là hệ thứ sáu, tùy theo các hệ hành tinh được đếm theo cách thần bí hay huyền bí. Theo chiều ngược lại, Sao Mộc sẽ hoặc là hệ thứ hai hoặc là hệ thứ sáu, và phải nhớ rằng: [Page 370]
a. The planets Venus and Jupiter are exceedingly closely connected with the Earth, and form eventually an esoteric triangle.
a. Các hành tinh Sao Kim và Sao Mộc có liên hệ cực kỳ mật thiết với Trái Đất, và cuối cùng tạo thành một tam giác huyền bí.
b. Saturn is the synthesising scheme for the four planets which embody manas purely and simply, or is the major resolution of the minor four, and eventually for all the seven.
b. Sao Thổ là hệ hành tinh tổng hợp cho bốn hành tinh hiện thân cho manas một cách thuần túy và đơn giản, hay là sự hóa giải lớn của bốn hành tinh nhỏ, và cuối cùng là của cả bảy.
c. Mercury, the star of the intuition, or of transmuted manas, is, at this stage, considered as the fifth scheme.
c. Sao Thủy, ngôi sao của trực giác, hay của manas đã được chuyển hoá, ở giai đoạn này được xem là hệ hành tinh thứ năm.
Therefore, the Heavenly Men of Venus and Jupiter are magnetically linked with the Heavenly Man of our scheme. The relationship of the Logos of Jupiter and His influence will not be realised nor felt until the sixth [Page 371] round is in full force, though during the sixth root-race His vibration will be acknowledged and sensed; in the middle of the fifth round the Logos of Mercury will, with the Logos of the Venus scheme, and of our Earth, form a temporary triangle of force. We have here information given that has only been hinted at hitherto but for which, in this fifth subrace and in this fourth round, the world is now ready; it holds the solution of the mystery of this round.
Do đó, các Đấng Thiên Nhân của Sao Kim và Sao Mộc được liên kết bằng từ tính với Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta. Mối liên hệ của Thượng đế của Sao Mộc và ảnh hưởng của Ngài sẽ không được chứng nghiệm cũng không được cảm nhận cho đến khi cuộc tuần hoàn thứ sáu [Page 371] hoàn toàn sung mãn, mặc dù trong giống dân gốc thứ sáu rung động của Ngài sẽ được thừa nhận và cảm nhận; vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, Thượng đế của Sao Thủy sẽ cùng với Thượng đế của hệ hành tinh Sao Kim và của Trái Đất chúng ta tạo thành một tam giác lực tạm thời. Ở đây chúng ta có thông tin được ban ra mà cho đến nay mới chỉ được ám chỉ, nhưng đối với điều đó, trong giống dân phụ thứ năm này và trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, thế giới nay đã sẵn sàng; nó nắm giữ lời giải cho huyền nhiệm của cuộc tuần hoàn này.
Third, the statement that the great Kumara or the One Initiator came to this planet from Venus is true in so far as it embodies the fact that He came to this dense planet (the fourth) in the fourth chain from that chain in our scheme which is called the “Venus” chain, and which is the second chain. He came via the second globe in our chain; His scarcely felt vibration was sensed (occultly) in the second round, but only in the third root-race of the fourth round did conditions permit of His physical incarnation and of His coming as the Avatar. Very reverently might it be said that the first three rounds and the two succeeding root-races in this chain correspond to the period prior to birth; and that His coming in the fourth round with the subsequent awakening of manas in the human units find their analogy in the awakening of the life principle in the unborn infant at the fourth month.
Thứ ba, lời khẳng định rằng Đại Kumara hay Đấng Điểm đạo Duy Nhất đã đến hành tinh này từ Sao Kim là đúng trong chừng mực nó bao hàm sự kiện rằng Ngài đã đến hành tinh đậm đặc này (hành tinh thứ tư) trong dãy thứ tư từ dãy ấy trong hệ hành tinh chúng ta, dãy được gọi là dãy “Sao Kim”, và là dãy thứ hai. Ngài đến qua bầu hành tinh thứ hai trong dãy của chúng ta; rung động hầu như không thể cảm nhận của Ngài đã được cảm biết (một cách huyền bí) trong cuộc tuần hoàn thứ hai, nhưng chỉ đến giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư thì các điều kiện mới cho phép sự lâm phàm hồng trần của Ngài và việc Ngài đến như một Đấng Hoá Thân. Với tất cả lòng tôn kính, có thể nói rằng ba cuộc tuần hoàn đầu tiên và hai giống dân gốc kế tiếp trong dãy này tương ứng với giai đoạn trước khi sinh; và việc Ngài đến trong cuộc tuần hoàn thứ tư cùng với sự thức tỉnh tiếp theo của manas trong các đơn vị nhân loại tìm thấy sự tương đồng của nó trong sự thức tỉnh của nguyên khí sự sống nơi thai nhi chưa sinh vào tháng thứ tư.
The analogy holds good, for a Heavenly Man at the end of the seventh round reaches full maturity, but requires the final process of rounding out and perfecting which He attains during the two final periods
Sự tương đồng này hoàn toàn đúng, vì một Đấng Thiên Nhân vào cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy đạt đến sự trưởng thành viên mãn, nhưng cần tiến trình cuối cùng của sự hoàn tất và hoàn thiện mà Ngài đạt được trong hai giai đoạn cuối cùng
a. Of synthesis into the major three schemes.
a. Của sự tổng hợp vào ba hệ hành tinh chính.
b. Of resolution into the final one;
b. Của sự phân giải vào hệ hành tinh tối hậu duy nhất;
making again—with reverence may it be said—the nine cycles which cover the gestation of a Heavenly Man, and which precede His birth into yet higher worlds. In this lies much food for thought, and much of moment [Page 372] for the profound student. We might couple with these suggestions the recollection that we are speaking here only of the Logos of our own scheme, and must carefully differentiate other cycles for the other Logoi—a thing as yet impossible for us. As this is meditated upon and studied, the wonder and beauty of the plan will become apparent.
như thế lại tạo thành—xin được nói với lòng tôn kính—chín chu kỳ bao trùm thời kỳ thai nghén của một Đấng Thiên Nhân, và đi trước sự sinh ra của Ngài vào những thế giới còn cao hơn nữa. Chính trong đó có nhiều điều đáng suy ngẫm, và nhiều điều hệ trọng [Page 372] đối với đạo sinh sâu sắc. Chúng ta có thể gắn với những gợi ý này sự ghi nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ đang nói về Thượng đế của chính hệ hành tinh chúng ta, và phải cẩn thận phân biệt các chu kỳ khác của các Thượng đế khác—một điều hiện nay vẫn chưa thể đối với chúng ta. Khi điều này được tham thiền và nghiên cứu, sự kỳ diệu và vẻ đẹp của Thiên Cơ sẽ trở nên hiển nhiên.
A clue to the idea of the final Avatar is likewise to be seen here. Many temporary incarnations precede this consummating one, which will be the incarnation wherein the Heavenly Man, in the full beauty of His completed seven cycles, and prior to His merging into His synthesising goal, will demonstrate as the embodiment of that perfected quality, or logoic aspect, for which He primarily stands. As a centre in the body logoic, He will be fully vitalised, and the logoic kundalini will have stimulated, and aroused to perfection His systemic Lotus. For a brief period He will shine forth radiant as the Sun in His glory; then the kundalinic fire will pass in higher progressive spirals, and He will gradually become centred in the corresponding logoic head centre, the higher triangle or the major three schemes. To illustrate by means of a human being, the microcosm: Man attains a period of high development wherein his heart and throat centre are perfected and vitalised; they become radiant whorls of fire, fourth dimensional in action, and allied with each other and with some other centre; they become likewise the object of the attention of human kundalini. This is a period of great activity and magnetic usefulness. It is succeeded by still another, wherein the three head centres are synthesising their seven minor correspondences, and the force of kundalini passes there. As above, so below. [Page 373]
Một đầu mối cho ý niệm về Đấng Hoá Thân tối hậu cũng có thể được thấy ở đây. Nhiều lần lâm phàm tạm thời đi trước lần lâm phàm viên mãn này, là lần lâm phàm trong đó Đấng Thiên Nhân, trong toàn bộ vẻ đẹp của bảy chu kỳ đã hoàn tất của Ngài, và trước khi hòa nhập vào mục tiêu tổng hợp của Ngài, sẽ biểu lộ như hiện thân của phẩm tính hoàn hảo ấy, hay phương diện logoic ấy, mà trước hết Ngài đại diện. Là một trung tâm trong thể của Thượng đế, Ngài sẽ được tiếp sinh lực trọn vẹn, và kundalini của Thượng đế sẽ kích thích và khơi dậy đến mức hoàn hảo Hoa sen hệ thống của Ngài. Trong một thời gian ngắn, Ngài sẽ chiếu sáng rực rỡ như Mặt Trời trong vinh quang của Ngài; rồi lửa kundalini sẽ đi qua trong những vòng xoắn tiến hoá cao hơn, và Ngài sẽ dần dần trở nên tập trung trong trung tâm đầu tương ứng của Thượng đế, tam giác cao hơn hay ba hệ hành tinh chính. Để minh hoạ bằng con người, tiểu thiên địa: Con người đạt đến một giai đoạn phát triển cao trong đó trung tâm tim và trung tâm cổ họng của y được hoàn thiện và tiếp sinh lực; chúng trở thành những vòng xoáy lửa rực sáng, hoạt động theo chiều thứ tư, và liên kết với nhau cũng như với một trung tâm khác; chúng cũng trở thành đối tượng chú ý của kundalini nơi con người. Đây là một giai đoạn hoạt động lớn lao và hữu dụng từ tính. Tiếp theo đó là một giai đoạn khác nữa, trong đó ba trung tâm đầu đang tổng hợp bảy đối ứng nhỏ của chúng, và lực của kundalini đi qua đó. Trên sao, dưới vậy. [Page 373]
CHART VI
BIỂU ĐỒ VI
The Divine septenary hanging from the Triad thus forming the Decad and its permutations 7,5,4,3. (S.D. Vol. I, pp.259)
Thất nguyên thiêng liêng treo từ Tam nguyên tinh thần, như thế tạo thành Thập nguyên và các hoán vị của nó 7,5,4,3. (G.L.B.N. Tập I, tr.259)
Solar Septenary Chart - from the middle of the Third Root Race, at the Fourth Round to the “Judgement Day” in the middle of the Fifth Round
Biểu đồ Thất nguyên Thái Dương - từ giữa Giống dân gốc thứ ba, tại Cuộc tuần hoàn thứ tư cho đến “Ngày phán xét” vào giữa Cuộc tuần hoàn thứ năm
THE DENSE PHYSICAL PLANET
HÀNH TINH HỒNG TRẦN ĐẬM ĐẶC
Earth
4th Chain
4th Globe
Mars
4th Chain
4th Globe
Jupiter
3rd Chain
4th Globe
Vulcan
3rd Chain
4th Globe
Saturn
3rd Chain
4th globe
Venus
5th Chain
5th Globe
Mercury
4th Chain
5th Globe
I have especially mentioned these two centres in the microcosm as they are closely concerned (on a larger scale) with the particular cycles through which our [Page 374] planetary Logos passes, and because they represent the third and second aspects.
Tôi đặc biệt đề cập đến hai trung tâm này trong tiểu thiên địa vì chúng liên hệ mật thiết (trên quy mô lớn hơn) với các chu kỳ đặc thù mà [Page 374] Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua, và vì chúng biểu hiện phương diện thứ ba và thứ hai.
We need to bear in mind that the stimulation of the centres is of three kinds, and the distinction between the three must be kept clear.
Chúng ta cần ghi nhớ rằng sự kích thích các trung tâm có ba loại, và phải giữ rõ sự phân biệt giữa ba loại ấy.
First, the vitalisation of the logoic centres, or the pouring through the seven schemes, during stupendous cycles, of logoic kundalini.
Thứ nhất, sự tiếp sinh lực cho các trung tâm của Thượng đế, hay sự tuôn chảy qua bảy hệ hành tinh, trong những chu kỳ đồ sộ, của kundalini của Thượng đế.
Next, the vitalisation of the planetary centres, or the pouring through the seven chains of a scheme, of planetary kundalini.
Kế đến, sự tiếp sinh lực cho các trung tâm hành tinh, hay sự tuôn chảy qua bảy dãy của một hệ hành tinh, của kundalini hành tinh.
Finally, the vitalisation of the centres of a planetary Logos during some particular major incarnation, or the pouring through the seven globes of a chain, of kundalini.
Sau cùng, sự tiếp sinh lực cho các trung tâm của một Hành Tinh Thượng đế trong một lần lâm phàm lớn đặc thù nào đó, hay sự tuôn chảy qua bảy bầu hành tinh của một dãy, của kundalini.
It should be stated here that:
Ở đây cần nói rõ rằng:
A major incarnation is one in which a planetary Logos takes some initiation. He may, and does, pass through many incarnations without taking initiation. When He does take initiation, it is interesting to note that He does so during some incarnation in which He takes a vehicle of etheric matter as is the case at this time.
Một lần lâm phàm lớn là lần trong đó một Hành Tinh Thượng đế nhận một điểm đạo nào đó. Ngài có thể, và thực sự có, trải qua nhiều lần lâm phàm mà không nhận điểm đạo. Khi Ngài nhận điểm đạo, điều đáng chú ý là Ngài làm như vậy trong một lần lâm phàm nào đó mà Ngài mang một vận cụ bằng vật chất dĩ thái như trường hợp hiện nay.
The Logos of our scheme is preparing for initiation and hence the terrific tests and trials, incident to life on our planet during this cycle, are easily accounted for.
Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta đang chuẩn bị cho điểm đạo và vì thế những thử thách và khảo nghiệm ghê gớm gắn liền với sự sống trên hành tinh chúng ta trong chu kỳ này có thể dễ dàng được giải thích.
The Logos of our scheme, Sanat Kumara, will take a major initiation in the middle of the fifth round, but is preparing for a minor one at this time.
Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta, Đức Sanat Kumara, sẽ nhận một điểm đạo lớn vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, nhưng hiện nay đang chuẩn bị cho một điểm đạo nhỏ.
The Logos of our scheme has been in physical incarnation (having a body of etheric matter) since the middle of the Lemurian root-race, and will remain with us until what is called “the judgment day” in the next round. At that point in His career He will have achieved the necessary vitalisation of the particular centre which is occupying His attention, will have “seen of the travail of His Soul” in connection with the units of the human [Page 375] Hierarchy who go to the composition of this centre, and will drop His present form, will turn His attention to another and higher centre, and give of His force to the units of a different calibre, from another branch of the human Hierarchy, who respond to the vibration of that centre.
Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta đã lâm phàm hồng trần (có một thể bằng vật chất dĩ thái) từ giữa giống dân gốc Lemuria, và sẽ ở với chúng ta cho đến điều được gọi là “ngày phán xét” trong cuộc tuần hoàn kế tiếp. Vào thời điểm đó trong sự nghiệp của Ngài, Ngài sẽ đạt được sự tiếp sinh lực cần thiết cho trung tâm đặc thù đang chiếm giữ sự chú ý của Ngài, sẽ “thấy được công lao khổ nhọc của Linh hồn Ngài” liên hệ với các đơn vị của [Page 375] Thánh Đoàn nhân loại cấu thành trung tâm này, và sẽ từ bỏ hình tướng hiện tại của Ngài, sẽ chuyển sự chú ý của Ngài sang một trung tâm khác cao hơn, và ban mãnh lực của Ngài cho các đơn vị có phẩm cấp khác, từ một nhánh khác của Thánh Đoàn nhân loại, là những đơn vị đáp ứng với rung động của trung tâm ấy.
It would be well to enlarge here a little on the connection between Venus and the Earth, which is hinted at in some of the occult books, and is somewhat touched upon in this. I have stated that the interaction between the two schemes is due largely to their positive and negative polarity, and I pointed out that a similar relation underlies the relation of the Pleiades and the seven schemes of our solar system, and also the relation of Sirius and the system itself. This, therefore, sweeps into close interaction three great systems:
Ở đây sẽ là điều tốt nếu khai triển thêm đôi chút về mối liên hệ giữa Sao Kim và Trái Đất, điều đã được ám chỉ trong một số sách huyền bí học, và cũng được chạm đến phần nào trong tác phẩm này. Tôi đã nói rằng sự tương tác giữa hai hệ hành tinh phần lớn là do sự phân cực dương và âm của chúng, và tôi đã chỉ ra rằng một mối liên hệ tương tự cũng làm nền cho mối liên hệ giữa chòm Thất Tinh và bảy hệ hành tinh của hệ mặt trời chúng ta, cũng như mối liên hệ giữa Sirius và chính hệ thống này. Vì vậy, điều này đưa vào sự tương tác mật thiết ba hệ thống lớn:
1. The system of Sirius,
1. Hệ thống Sirius,
2. The system of the Pleiades,
2. Hệ thống chòm Thất Tinh,
3. The system of which our sun is the focal point,
3. Hệ thống mà mặt trời chúng ta là tiêu điểm,
making, as we will have noted, a cosmic triangle. Within our system there are several such triangles, varying at different stages; according to their relation to each other, the differentiated force of the different schemes can pass from scheme to scheme, and thus the units of life on the different rays or streams of force become temporarily intermingled. In all these triangles (cosmic, systemic, planetary, and human) two points of the triangle represent each a different polarity, and one point represents the point of equilibrium, of synthesis or merging. This should be borne in mind in studying both the macrocosmic and the microcosmic centres, for it accounts for diversity in manifestation, in forms and in quality.
tạo thành, như chúng ta hẳn đã lưu ý, một tam giác vũ trụ. Bên trong hệ thống chúng ta có một số tam giác như thế, thay đổi theo các giai đoạn khác nhau; tùy theo mối liên hệ của chúng với nhau, mãnh lực biệt phân của các hệ hành tinh khác nhau có thể chuyển từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác, và như thế các đơn vị sự sống trên các cung hay các dòng lực khác nhau trở nên tạm thời hòa lẫn vào nhau. Trong tất cả các tam giác này (vũ trụ, hệ thống, hành tinh và nhân loại), hai điểm của tam giác mỗi điểm biểu hiện một sự phân cực khác nhau, và một điểm biểu hiện điểm quân bình, tổng hợp hay hòa nhập. Điều này cần được ghi nhớ khi nghiên cứu cả các trung tâm đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, vì nó giải thích sự đa dạng trong biểu hiện, trong các hình tướng và trong phẩm tính.
A correspondence might here also be pointed out which [Page 376] may serve to convey light to those who have eyes to see:
Ở đây cũng có thể chỉ ra một sự tương ứng mà [Page 376] có thể giúp soi sáng cho những ai có mắt để thấy:
The Venus scheme, being in the fifth round, had the fifth principle of manas co-ordinated and developed, the minor four manasic aspects had been synthesised, and the buddhic aspect was being provided with a means of expression through the medium of the perfected fifth. Our Heavenly Man, in the fifth round, will have attained a paralleling point in evolution, and the fifth principle will, as stated, be no longer the object of His attention as regards the human units.
Hệ hành tinh Sao Kim, vì đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ năm, đã có nguyên khí thứ năm là manas được phối hợp và phát triển, bốn phương diện manas nhỏ đã được tổng hợp, và phương diện Bồ đề đang được cung cấp một phương tiện biểu lộ qua trung gian của phương diện thứ năm đã được hoàn thiện. Đấng Thiên Nhân của chúng ta, trong cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ đạt đến một điểm tiến hoá song hành, và nguyên khí thứ năm, như đã nói, sẽ không còn là đối tượng chú ý của Ngài xét về các đơn vị nhân loại nữa.
Five stages of activity mark the development and utilisation of the mind principle; there are three stages of acquisition, and two wherein that which has been acquired is used. This is too intricate a calculation for us to enter into it here, and it cannot be undertaken except by an initiate, for it involves ability to study the cycles of the earlier solar system, but it might be noted that (judging from the microcosm on the earth planet) this is just what might be expected. Man developed manas in this round during the third, fourth and fifth root-races, and utilises it for the development of the intuition and of the higher consciousness during the sixth and seventh. During an incarnation by a planetary Logos in a chain, during one round He demonstrates through His seven centres or globes manas on three globes, and utilises it for specific purposes on the final two. This is a lesser cycle to that in which we view the seven chains as His seven centres. These words are chosen with care; I say not “acquires manas”; He but produces that which is inherent. It must be remembered that just as the planes of a solar system stand for a different purpose, vibrate to a different key, and serve their own specific ends, so do the globes serve an analogous function.
Năm giai đoạn hoạt động đánh dấu sự phát triển và sử dụng nguyên khí trí tuệ; có ba giai đoạn thủ đắc, và hai giai đoạn trong đó điều đã được thủ đắc được sử dụng. Đây là một phép tính quá phức tạp để chúng ta đi vào ở đây, và không thể được thực hiện ngoại trừ bởi một điểm đạo đồ, vì nó bao hàm khả năng nghiên cứu các chu kỳ của hệ mặt trời trước, nhưng có thể lưu ý rằng (xét từ tiểu thiên địa trên hành tinh Trái Đất) đây chính là điều có thể được mong đợi. Con người đã phát triển manas trong cuộc tuần hoàn này trong các giống dân gốc thứ ba, thứ tư và thứ năm, và sử dụng nó cho sự phát triển của trực giác và của tâm thức cao hơn trong giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy. Trong một lần lâm phàm của một Hành Tinh Thượng đế trong một dãy, trong một cuộc tuần hoàn Ngài biểu lộ qua bảy trung tâm hay bảy bầu hành tinh của Ngài manas trên ba bầu hành tinh, và sử dụng nó cho các mục đích đặc thù trên hai bầu cuối cùng. Đây là một chu kỳ nhỏ hơn so với chu kỳ trong đó chúng ta xem bảy dãy như bảy trung tâm của Ngài. Những lời này được chọn lựa cẩn thận; tôi không nói “thủ đắc manas”; Ngài chỉ làm hiển lộ điều vốn nội tại. Phải nhớ rằng cũng như các cõi của một hệ mặt trời đại diện cho một mục đích khác nhau, rung động theo một chủ âm khác nhau, và phục vụ các cứu cánh đặc thù riêng của chúng, thì các bầu hành tinh cũng phục vụ một chức năng tương tự.
a. Globe 1, is that of ultimate abstraction, and of origination. It is the initial globe of manifestation. [Page 377]
a. Bầu hành tinh 1 là bầu của sự trừu xuất tối hậu và của sự khởi nguyên. Nó là bầu hành tinh khởi đầu của biểu hiện. [Page 377]
b. Globe 2, is the first sheath in which a Heavenly Man embodies Himself.
b. Bầu hành tinh 2 là lớp vỏ đầu tiên trong đó một Đấng Thiên Nhân nhập thể chính Ngài.
c. Globes 3, 4, 5, are those through which He demonstrates the possession of the manasic principle.
c. Các bầu hành tinh 3, 4, 5 là những bầu mà qua đó Ngài biểu lộ sự sở hữu nguyên khí manas.
d. Globes 6 and 7, are the ones through which He manifests buddhi, through forms built by means of the manasic principle.
d. Các bầu hành tinh 6 và 7 là những bầu mà qua đó Ngài biểu lộ Bồ đề, qua các hình tướng được kiến tạo bằng nguyên khí manas.
This can be equally predicated on a larger scale of a chain.
Điều này cũng có thể được khẳng định tương tự trên quy mô lớn hơn đối với một dãy.
An interesting correspondence of a very occult nature can be worked out by the advanced student in connection also with the seven schemes. There are two which may be considered primarily archetypal, causal, or involving abstraction; three in which manas is manifested, and two in which already buddhi is manasically demonstrating. Of these two, Venus is one and thus we have the three and the two which make the five schemes of the five Kumaras, Who are Brahma. (136)
Một sự tương ứng thú vị có bản chất rất huyền bí cũng có thể được đạo sinh tiến bộ khai triển liên hệ với bảy hệ hành tinh. Có hai hệ có thể được xem là chủ yếu nguyên mẫu, nguyên nhân, hay bao hàm sự trừu xuất; ba hệ trong đó manas được biểu lộ, và hai hệ trong đó Bồ đề đã đang biểu lộ theo cách manas. Trong hai hệ này, Sao Kim là một, và như thế chúng ta có ba và hai hợp thành năm hệ hành tinh của năm Kumara, Các Ngài là Brahma. (136)
(136) Students must carefully differentiate between the five Mind born Sons of Brahma, the five true Kumaras and their representatives on our earth planet, Those Who stand around Sanat Kumara Who may be stated (esoterically understood) to represent Himself. (back)
(136) Đạo sinh phải cẩn thận phân biệt giữa năm Con của Brahma sinh ra từ Trí Tuệ, năm Kumara chân chính và các đại diện của Các Ngài trên hành tinh Trái Đất chúng ta, Những Đấng đứng quanh Đức Sanat Kumara, những Đấng có thể nói (nếu được hiểu theo huyền bí học) là đại diện cho chính Ngài. (back)
Just as Venus is negatively polarised to our Earth scheme, so the seven stars of the Pleiades are negatively polarised to our seven schemes.
Cũng như hệ hành tinh Sao Kim được phân cực âm đối với hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta, thì bảy ngôi sao của chòm Thất Tinh cũng được phân cực âm đối với bảy hệ hành tinh của chúng ta.
A very pertinent question might here be asked. We might justly enquire (in connection with the point that Venus is negatively polarised, and also that the Pleiades are equally so) why they should be termed negative if they are the donors and not the receivers, for to be negative is surely to be receptive. This is indeed so, but the question arises in our minds, owing to lack of information, and consequent misapprehension. Venus may have had much to do with the impartation of the stimulation which resulted in great events on Earth via the Venus chain of our scheme, but our scheme gave, in a mysterious manner, more than was received, though the [Page 378] gift was not of the same nature. The coming in of the Venusian influence to our chain, and to our planet, with the subsequent stimulation of certain groups in the fourth Creative Hierarchy, the human, caused a paralleling event of even greater magnitude in the Venus scheme. This affected the sixth Hierarchy, one of the deva Hierarchies, dwelling in the Venus scheme. This stimulation emanated via our sixth chain (or the second according to the angle of vision) and affected a corresponding chain in the Venus scheme. The magnitude of the difference may be seen in the fact that in our case one globe alone was affected, whereas the influence of our scheme on the Venusian was such that an entire chain was stimulated. This was brought about through the positive polarity of the Heavenly Man of the Earth scheme.
Ở đây có thể nêu ra một câu hỏi rất xác đáng. Chúng ta có thể hoàn toàn chính đáng mà hỏi (liên hệ với điểm rằng Sao Kim được phân cực âm, và chòm Thất Tinh cũng như vậy) tại sao chúng lại được gọi là âm nếu chúng là bên ban cho chứ không phải bên nhận, vì âm hẳn phải là tiếp nhận. Quả thật là như vậy, nhưng câu hỏi nảy sinh trong trí chúng ta do thiếu thông tin, và hậu quả là hiểu sai. Sao Kim có thể đã liên hệ rất nhiều đến việc truyền đạt sự kích thích dẫn đến những biến cố lớn trên Trái Đất qua dãy Sao Kim của hệ hành tinh chúng ta, nhưng hệ hành tinh chúng ta đã ban ra, theo một cách huyền nhiệm, nhiều hơn điều đã nhận, mặc dù [Page 378] món quà không cùng bản chất. Sự đi vào của ảnh hưởng Kim tinh vào dãy của chúng ta, và vào hành tinh chúng ta, cùng với sự kích thích tiếp theo đối với một số nhóm trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức nhân loại, đã gây ra một biến cố song hành còn lớn lao hơn trong hệ hành tinh Sao Kim. Điều này ảnh hưởng đến Huyền Giai thứ sáu, một trong các Huyền Giai thiên thần, cư ngụ trong hệ hành tinh Sao Kim. Sự kích thích này phát ra qua dãy thứ sáu của chúng ta (hay dãy thứ hai tùy theo góc độ tầm nhìn) và ảnh hưởng đến một dãy tương ứng trong hệ hành tinh Sao Kim. Mức độ khác biệt có thể thấy trong sự kiện rằng trong trường hợp của chúng ta chỉ một bầu hành tinh duy nhất bị ảnh hưởng, trong khi ảnh hưởng của hệ hành tinh chúng ta lên hệ Sao Kim lại đến mức cả một dãy được kích thích. Điều này được tạo ra nhờ sự phân cực dương của Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh Trái Đất.
Therefore, enlarging the concept, we can note the fact that our Heavenly Men are the transmitters, via their seven schemes, to the seven stars of the Pleiades. Our solar system is negatively polarised as regards the sun Sirius, which influences our entire system psychically via the three synthesising schemes—Uranus, Neptune, Saturn—the latter, Saturn, being the focal point for the transmission of cosmic manas to the entire seven schemes.
Do đó, mở rộng khái niệm, chúng ta có thể ghi nhận sự kiện rằng các Đấng Thiên Nhân của chúng ta là những vị truyền dẫn, qua bảy hệ hành tinh của Các Ngài, đến bảy ngôi sao của chòm Thất Tinh. Hệ mặt trời chúng ta được phân cực âm đối với mặt trời Sirius, mặt trời này ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống chúng ta một cách thông linh qua ba hệ hành tinh tổng hợp—Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương, Sao Thổ—trong đó Sao Thổ là tiêu điểm cho sự truyền dẫn manas vũ trụ đến toàn bộ bảy hệ hành tinh.
4. Manas and the Earth Chain — 4. Manas và Dãy Địa Cầu
We have brought our consideration of our first point, the origin of cosmic and systemic manas, down to certain facts concerning our chain, and have (with the utmost brevity) passed in review the larger aspect of the question. We touched first of all upon the subject of cosmic manas, as it concerned our Logos and the Heavenly Men. Then we considered it more specifically in its relation to the individual Heavenly Men, and finally brought it down to that which more nearly concerns ourselves— [Page 379] manas and the Heavenly Man of our scheme. Having proceeded thus far, we considered the stimulation of manas in our own chain, and saw that, in connection with our Earth, it came:
Chúng ta đã đưa sự khảo cứu điểm thứ nhất của mình, nguồn gốc của manas vũ trụ và hệ thống, xuống đến một số sự kiện liên quan đến dãy của chúng ta, và đã (với sự ngắn gọn tối đa) điểm lại phương diện lớn hơn của vấn đề. Trước hết chúng ta đã chạm đến chủ đề manas vũ trụ, trong chừng mực nó liên hệ đến Thượng đế của chúng ta và các Đấng Thiên Nhân. Sau đó chúng ta xét nó cụ thể hơn trong mối liên hệ với từng Đấng Thiên Nhân riêng biệt, và cuối cùng đưa nó xuống đến điều gần gũi với chúng ta hơn— [Page 379] manas và Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta. Sau khi tiến xa đến mức ấy, chúng ta đã xét sự kích thích manas trong chính dãy của chúng ta, và thấy rằng, liên hệ với Trái Đất chúng ta, nó đến:
Via the Venus chain of our scheme.
Qua dãy Sao Kim của hệ hành tinh chúng ta.
As the result of a stimulation, originating in the Venus scheme.
Là kết quả của một sự kích thích, phát sinh trong hệ hành tinh Sao Kim.
Because logoic kundalini had vitalised one of the systemic triangles of force, of which (temporarily) Venus and the Earth formed two points of the triangle.
Bởi vì kundalini của Thượng đế đã tiếp sinh lực cho một trong các tam giác lực của hệ thống, mà trong đó (tạm thời) Sao Kim và Trái Đất tạo thành hai điểm của tam giác.
This produced the individualisation of those, particularly in the human Hierarchy, who form a particular centre in the body of the planetary Logos.
Điều này tạo ra sự biệt ngã hóa của những đơn vị, đặc biệt trong Huyền Giai nhân loại, là những đơn vị tạo thành một trung tâm đặc thù trong thể của Hành Tinh Thượng đế.
a. The Earth Chain and the Incarnating Monads.
a. Dãy Địa Cầu và các chân thần đang nhập thể.
We have reached, therefore, a point wherein (having cursorily dealt above with the origin of cosmic, systemic, and planetary manas), it is now possible for us to come definitely down to the consideration of our Earth chain within the Earth scheme, and see something of the origin of the manasic principle in the present group of incarnating egos, units of the fourth Creative Hierarchy. It is necessary here for students to remember that only one group in the fourth Hierarchy was affected by the coming in of manas in the third root-race, and that therefore in incarnation on the planet at this time are component parts of the two groups: one group, which received the manasic stimulation during this world period, and another group which received the stimulation during the previous chain. The last named group can be seen incarnating in all those who tread the Probationary Path, who are counted as the advanced units of the race, and considered as the notables among men. Owing to the difference between the two groups may be traced much of the world unrest. This difference lies in the following [Page 380] factors, which, for purposes of clarity, it might be well to enumerate:
Do đó, chúng ta đã đạt đến một điểm mà tại đó (sau khi đã đề cập sơ lược ở trên đến nguồn gốc của manas vũ trụ, hệ thống và hành tinh), nay chúng ta có thể đi hẳn xuống việc xem xét Dãy Địa Cầu của chúng ta bên trong hệ hành tinh Địa Cầu, và thấy phần nào nguồn gốc của nguyên khí manas trong nhóm chân ngã đang nhập thể hiện nay, các đơn vị của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Ở đây, đạo sinh cần nhớ rằng chỉ có một nhóm trong Huyền Giai thứ tư bị ảnh hưởng bởi sự đi vào của manas trong giống dân gốc thứ ba, và vì thế hiện đang lâm phàm trên hành tinh này là các thành phần của hai nhóm: một nhóm đã nhận sự kích thích manas trong thời kỳ thế giới này, và một nhóm khác đã nhận sự kích thích trong dãy trước. Nhóm được nêu sau cùng có thể được thấy đang lâm phàm trong tất cả những ai bước trên Con Đường Dự Bị, những người được kể là các đơn vị tiến bộ của nhân loại, và được xem là những người nổi bật giữa loài người. Do sự khác biệt giữa hai nhóm này mà phần lớn tình trạng bất an của thế giới có thể được truy nguyên. Sự khác biệt này nằm trong các [Page 380] yếu tố sau đây, mà để rõ ràng, có lẽ nên liệt kê ra:
The fact that each group forms a different centre in the body of a Heavenly Man.
Sự kiện rằng mỗi nhóm tạo thành một trung tâm khác nhau trong thể của một Đấng Thiên Nhân.
The difference in the method of individualisation.
Sự khác biệt trong phương pháp biệt ngã hóa.
The different rate of vibration of the two centres.
Tốc độ rung động khác nhau của hai trung tâm.
The fact, therefore, that in each chain the planetary Logos takes a different initiation, affecting different centres; and so bringing into manifestation different lesser entities.
Do đó, sự kiện rằng trong mỗi dãy, Hành Tinh Thượng đế nhận một điểm đạo khác nhau, ảnh hưởng đến các trung tâm khác nhau; và như thế đưa vào biểu hiện các thực thể nhỏ hơn khác nhau.
Students, when considering these things, need to view the matter from the following angles—some quite possible lines of approach for us, others which we are only capable as yet of dimly anticipating. The occult fact, as stated by the English poet Pope, “The proper study of mankind, is man,” is embodied in the investigation of all these vast cycles.
Khi xem xét những điều này, đạo sinh cần nhìn vấn đề từ các góc độ sau đây—một số là những đường tiếp cận hoàn toàn khả dĩ đối với chúng ta, một số khác thì hiện nay chúng ta mới chỉ có thể mơ hồ dự cảm. Sự kiện huyền bí học, như thi sĩ Anh Pope đã nói, “Đối tượng nghiên cứu thích đáng của nhân loại là con người,” được hàm chứa trong việc khảo cứu tất cả các chu kỳ bao la này.
The cosmic angle. This involves the study of the place of the solar Logos within His greater sphere, the study of extra-systemic psychology and astronomy, and the consideration of the relation existing between our system and other constellations, and of our path in the vast arc of the heavens. It bears on the relation of the various suns with their circulating attendants, and of the planets with each other; it concerns the study of their individual polarisation, and their interaction with their polar opposites. It will lead the student into regions of logical speculation, into the study of cosmic electricity, and the universal Law of attraction, and is as yet much beyond the comprehension of even the most advanced students at this time, and will only become a science (reduced to form and text-book if I might so express it) during the final part of the next round.
Góc độ vũ trụ. Điều này bao hàm việc nghiên cứu vị trí của Thái dương Thượng đế trong khối cầu lớn hơn của Ngài, nghiên cứu tâm lý học và thiên văn học ngoài hệ thống, và xem xét mối liên hệ hiện hữu giữa hệ thống chúng ta với các chòm sao khác, cũng như con đường của chúng ta trong vòng cung bao la của bầu trời. Nó liên quan đến mối liên hệ của các mặt trời khác nhau với các tùy hành quay quanh chúng, và của các hành tinh với nhau; nó liên hệ đến việc nghiên cứu sự phân cực riêng của chúng, và sự tương tác của chúng với các cực đối nghịch của chúng. Nó sẽ dẫn đạo sinh vào những miền suy đoán hợp lý, vào việc nghiên cứu điện vũ trụ, và Định luật hấp dẫn phổ quát, và hiện nay vẫn vượt xa sự thấu hiểu của ngay cả những đạo sinh tiến bộ nhất, và chỉ sẽ trở thành một khoa học (được quy về hình thức và giáo trình, nếu tôi có thể nói như vậy) trong phần cuối của cuộc tuần hoàn kế tiếp.
The systemic angle. This deals with the place of the Heavenly Men within the body logoic, Their mutual [Page 381] interplay, and Their rational interdependence, and with the cycles wherein each in turn, or in dual formation, is the recipient of logoic force. It necessitates the study of the solar system as a unit, of the astronomical and orbital relation of the Sun to the planets. The systemic triangles will eventually become a subject of popular speculation, then of investigation, of scientific demonstration, and finally be known to be proved and authenticated fact,—but the time is not yet. The different polarities of the schemes will be studied, and information, that is now imparted only to initiates of the third Initiation, will eventually become exoteric. In due course of time systemic information along the lines of:
Góc độ hệ thống. Điều này bàn đến vị trí của các Đấng Thiên Nhân trong thể của Thượng đế, sự tương tác lẫn nhau của Các Ngài, và sự tương thuộc hợp lý của Các Ngài, cũng như các chu kỳ trong đó mỗi vị lần lượt, hay trong sự hình thành nhị phân, là bên tiếp nhận lực của Thượng đế. Nó đòi hỏi việc nghiên cứu hệ mặt trời như một đơn vị, mối liên hệ thiên văn và quỹ đạo của Mặt Trời với các hành tinh. Các tam giác hệ thống cuối cùng sẽ trở thành một đề tài suy đoán phổ biến, rồi thành đối tượng khảo cứu, chứng minh khoa học, và sau cùng được biết đến như sự kiện đã được chứng minh và xác thực,—nhưng thời điểm ấy vẫn chưa đến. Các sự phân cực khác nhau của các hệ hành tinh sẽ được nghiên cứu, và thông tin hiện nay chỉ được truyền đạt cho các điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ ba cuối cùng sẽ trở nên ngoại môn. Đến đúng thời, thông tin hệ thống theo các đường lối như:[Page 381]
a. The vitalisation of the schemes
a. Sự tiếp sinh lực cho các hệ hành tinh
b. Interaction between two schemes
b. Sự tương tác giữa hai hệ hành tinh
c. The periods of incarnation of a planetary Logos on the physical plane
c. Các thời kỳ lâm phàm của một Hành Tinh Thượng đế trên cõi hồng trần
d. The initiation of the planetary Logos,
d. Điểm đạo của Hành Tinh Thượng đế,
will be reduced to law and order. As yet but dim speculations and hints that appeal only to the spiritual and the intuitive are in any way possible. The early part of the next round will see more widespread knowledge and interest in this matter.
sẽ được quy về định luật và trật tự. Hiện nay mới chỉ có những suy đoán mơ hồ và những ám chỉ chỉ hấp dẫn đối với người có tinh thần và trực giác là phần nào khả hữu. Phần đầu của cuộc tuần hoàn kế tiếp sẽ chứng kiến tri thức và sự quan tâm rộng rãi hơn về vấn đề này.
The planetary angle. This point of view concerns itself with the history of the individual scheme, and with the consciousness, and evolution of some particular Heavenly Man. The student in studying along these lines must endeavour to get some grasp of the scheme as a unit, as a body corporate with its seven centres and forty-nine globes, and with the triangle formed between them. Separate chains are either
Góc độ hành tinh. Quan điểm này quan tâm đến lịch sử của từng hệ hành tinh riêng biệt, và đến tâm thức cùng sự tiến hoá của một Đấng Thiên Nhân đặc thù nào đó. Đạo sinh khi nghiên cứu theo các đường lối này phải cố gắng nắm được phần nào hệ hành tinh như một đơn vị, như một cơ thể tập thể với bảy trung tâm và bốn mươi chín bầu hành tinh của nó, cùng với tam giác được hình thành giữa chúng. Các dãy riêng biệt hoặc là
The object of planetary stimulation,
Đối tượng của sự kích thích hành tinh,
The sphere of the incarnation of a planetary Logos,
Khối cầu của sự lâm phàm của một Hành Tinh Thượng đế,
Emerging into objectivity, [Page 382]
Đang xuất hiện vào tính khách quan, [Page 382]
Manifesting,
Đang biểu lộ,
Gradually entering into obscurity.
Dần dần đi vào sự mờ khuất.
This point of view is as yet impossible for the average thinker, for it involves an expansion of consciousness unattainable by man. Nevertheless the endeavour to comprehend serves a useful purpose, for it sets a goal for man and enables him to enlarge his present concept.
Quan điểm này hiện nay vẫn là điều bất khả đối với nhà tư tưởng trung bình, vì nó bao hàm một sự mở rộng tâm thức mà con người chưa thể đạt được. Tuy nhiên, nỗ lực thấu hiểu vẫn phục vụ một mục đích hữu ích, vì nó đặt ra một mục tiêu cho con người và giúp y mở rộng quan niệm hiện tại của mình.
The chain angle. This brings the whole idea more within the range of possibility, and has already been indicated to students in Volume II, of the Secret Doctrine. The student is narrowed down to the contemplation of the seven globes of the chain of which he is a component, though microscopic, part. He has for investigation the globes as seen in time, with their mutual interplay; he has for study the part each one may be playing in the great cycle of a Heavenly Man. For instance, in the present Earth chain which concerns us the most nearly, the fourth globe is of paramount interest, inasmuch as it is the physical plane vehicle for a Heavenly Man in dense objective incarnation. Yet it must not be forgotten that, though manifesting thus objectively, He embodies in totality the chain and the scheme. The idea may be clarified for the student if it is stated that:
Góc độ dãy. Điều này đưa toàn bộ ý tưởng vào gần phạm vi khả hữu hơn, và đã được chỉ ra cho đạo sinh trong Tập II của Giáo Lý Bí Nhiệm. Đạo sinh được thu hẹp vào việc chiêm ngưỡng bảy bầu hành tinh của dãy mà y là một phần cấu thành, dù là phần vi mô. Y có để khảo cứu các bầu hành tinh như được thấy trong thời gian, với sự tương tác lẫn nhau của chúng; y có để nghiên cứu vai trò mà mỗi bầu có thể đang đảm nhiệm trong chu kỳ lớn của một Đấng Thiên Nhân. Chẳng hạn, trong Dãy Địa Cầu hiện nay là dãy liên hệ gần gũi nhất với chúng ta, bầu hành tinh thứ tư có tầm quan trọng tối cao, vì nó là vận cụ cõi hồng trần cho một Đấng Thiên Nhân trong sự lâm phàm khách quan đậm đặc. Tuy nhiên, không được quên rằng, dù biểu lộ một cách khách quan như thế, Ngài hiện thân trong tính toàn thể cả dãy lẫn hệ hành tinh. Ý tưởng này có thể được làm sáng tỏ cho đạo sinh nếu nói rằng:
A scheme, in its totality, corresponds to the Monad, or to the monadic auric egg, in connection with a human being and his forty-nine cycles.
Một hệ hành tinh, trong tính toàn thể của nó, tương ứng với chân thần, hay với noãn hào quang chân thần, liên hệ với một con người và bốn mươi chín chu kỳ của y.
A chain, (137) in its totality corresponds to the body egoic of a human being, to the causal body with its seven great [Page 383] cycles mentioned elsewhere in these pages, and hinted at in certain occult books.
Một dãy, (137) trong tính toàn thể của nó tương ứng với thể chân ngã của một con người, với thể nguyên nhân cùng bảy chu kỳ lớn của nó [Page 383] được nhắc đến ở nơi khác trong những trang này, và được ám chỉ trong một số sách huyền bí học.
(137) Chain—a series of seven globes or worlds which form the field of evolution during the planetary cycle or manvantara. The first three of these globes—generally known as A., B. and C. form a descending arc, the densest physical matter of the descent being reached in the fourth globe, D, of which our earth is an instance. The fifth globe, E, on the ascending arc (correspondence to C on the descending arc) usually belongs to the astral plane, and the sixth and seventh F and G (correspondence to B and A on the descending arc) to the Rupa and Arupa levels of the mental plane; these therefore are invisible to ordinary sight. (back)
(137) Dãy—một chuỗi gồm bảy bầu hành tinh hay thế giới tạo thành trường tiến hoá trong chu kỳ hành tinh hay giai kỳ sinh hóa. Ba bầu hành tinh đầu tiên này—thường được biết là A., B. và C.—tạo thành vòng cung đi xuống, vật chất hồng trần đậm đặc nhất của sự đi xuống đạt đến ở bầu hành tinh thứ tư, D, mà Trái Đất chúng ta là một ví dụ. Bầu hành tinh thứ năm, E, trên vòng cung đi lên (tương ứng với C trên vòng cung đi xuống) thường thuộc cõi cảm dục, và bầu thứ sáu và thứ bảy F và G (tương ứng với B và A trên vòng cung đi xuống) thuộc các cấp độ Rupa và Arupa của cõi trí; vì vậy chúng vô hình đối với thị giác thông thường. (back)
A globe, with its seven races corresponds to a particular series of incarnations in connection with a man, incarnate or discarnate, for all globes are not on physical levels.
Một bầu hành tinh, với bảy nhân loại của nó, tương ứng với một chuỗi lâm phàm đặc thù liên hệ với một con người, đang lâm phàm hay không lâm phàm, vì không phải mọi bầu hành tinh đều ở các cấp độ hồng trần.
A physical globe, in a chain corresponds to a particular physical incarnation of a man. The planetary Logos takes physical form in His planet and is its life and works out His purposes.
Một bầu hành tinh hồng trần, trong một dãy tương ứng với một lần lâm phàm hồng trần đặc thù của một con người. Hành Tinh Thượng đế mang hình tướng hồng trần trong hành tinh của Ngài và là sự sống của nó, đồng thời thực hiện các mục đích của Ngài.
A root-race, simply is analogous to the “seven parts” (as Shakespeare phrases it) as played by the midget, man. In a root-race a Heavenly Man is simply living out His life, working through some experience in the great work of developing buddhi or corporate action, (for buddhi is the unifying principle of groups) and, in the process of experiencing and developing, He sweeps into His vibratory capacity all the cells in His body. In the case of a human being the cells in his body (the material cells) are involutionary lives, animated by the third Logos, co-operating with the second Logos. In the case of a planetary Logos, the cells in His body are evolutionary lives (deva and human units) animated by the life of the second Logos, co-operating with the first Logos, and utilising the activities of the third Logos for purposes of manifesting.
Một giống dân gốc, đơn giản là tương tự với “bảy phần” (như Shakespeare diễn đạt) do con người tí hon đảm nhiệm. Trong một giống dân gốc, một Đấng Thiên Nhân đơn giản là đang sống trọn đời sống của Ngài, đang trải qua một kinh nghiệm nào đó trong công việc lớn lao là phát triển Bồ đề hay hoạt động tập thể, (vì Bồ đề là nguyên khí hợp nhất của các nhóm) và, trong tiến trình kinh nghiệm và phát triển, Ngài cuốn vào năng lực rung động của Ngài tất cả các tế bào trong thể Ngài. Trong trường hợp con người, các tế bào trong thể y (các tế bào vật chất) là các sự sống giáng hạ tiến hoá, được linh hoạt bởi Thượng đế thứ ba, hợp tác với Thượng đế thứ hai. Trong trường hợp một Hành Tinh Thượng đế, các tế bào trong thể Ngài là các sự sống thăng thượng tiến hoá (các đơn vị thiên thần và nhân loại) được linh hoạt bởi sự sống của Thượng đế thứ hai, hợp tác với Thượng đế thứ nhất, và sử dụng các hoạt động của Thượng đế thứ ba cho các mục đích biểu hiện.
Having pointed out these things, the place the Earth chain and globe play in the evolution of the planetary Logos of the Earth scheme should be clearer to the student.
Sau khi đã chỉ ra những điều này, vị trí mà Dãy Địa Cầu và bầu hành tinh Địa Cầu đảm nhiệm trong sự tiến hoá của Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu hẳn sẽ rõ ràng hơn đối với đạo sinh.
The wheel turns, and in its turning sweeps into objectivity one of its seven globes, or brings into manifestation on the physical plane that great Entity Whose life animates the whole scheme. It must be borne in mind that just as man is handicapped by his physical body, [Page 384] and finds himself unable to express through it the entire content of his egoicconsciousness, so a Heavenly Man, when taking to Himself a dense physical vehicle in any particular chain, is also handicapped, and is unable to express in perfection on the globe the full beauty of His Life or the splendour of His manifesting Consciousness.
Bánh xe quay, và trong sự quay của nó cuốn một trong bảy bầu hành tinh của nó vào tính khách quan, hay đưa vào biểu hiện trên cõi hồng trần Thực Thể vĩ đại mà sự sống của Ngài linh hoạt toàn bộ hệ hành tinh. Phải ghi nhớ rằng cũng như con người bị hạn chế bởi thể xác của mình, [Page 384] và thấy mình không thể biểu lộ qua nó toàn bộ nội dung của tâm thức chân ngã của mình, thì một Đấng Thiên Nhân, khi mang cho mình một vận cụ hồng trần đậm đặc trong một dãy đặc thù nào đó, cũng bị hạn chế, và không thể biểu lộ một cách hoàn hảo trên bầu hành tinh vẻ đẹp trọn vẹn của Sự sống Ngài hay sự huy hoàng của Tâm thức đang biểu lộ của Ngài.
It might here be stated in connection with the planetary Logos of our scheme that:
Ở đây có thể nói liên hệ với Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta rằng:
a. He is in physical incarnation.
a. Ngài đang lâm phàm hồng trần.
b. He is midway through His career upon the cosmic Path of Initiation, and consequently is to take the fourth Initiation in this chain. Well may this globe, therefore, be considered the globe of sorrow and of pain, for through it our planetary Logos is undergoing that which the mystic calls “the Crucifixion.”
b. Ngài đang ở giữa chặng đường sự nghiệp của Ngài trên Con Đường Điểm Đạo vũ trụ, và do đó sẽ nhận lần điểm đạo thứ tư trong dãy này. Vì vậy, bầu hành tinh này hoàn toàn có thể được xem là bầu hành tinh của đau buồn và đau đớn, vì qua nó Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua điều mà nhà thần bí gọi là “Sự Đóng Đinh.”
c. The cells in His body—those cells through which He feels, and senses, and experiences,—are, in this world period, rent by pain and suffering, for His is the consciousness at the centre of the Body, and theirs is the capacity to suffer, so that by means of them He may learn the meaning of systemic dispassion, be dissociated from all forms and material substance, and upon the cross of matter eventually find liberation and the freedom of the Spirit.
c. Các tế bào trong thể Ngài—những tế bào mà qua đó Ngài cảm nhận, tri giác và kinh nghiệm,—trong thời kỳ thế giới này đang bị xé rách bởi đau đớn và khổ đau, vì của Ngài là tâm thức ở trung tâm của Thể, còn của chúng là năng lực chịu đau khổ, để nhờ chúng Ngài có thể học được ý nghĩa của sự vô chấp hệ thống, được tách rời khỏi mọi hình tướng và chất liệu vật chất, và trên thập giá của vật chất cuối cùng tìm thấy sự giải thoát và tự do của tinh thần.
The same equally can be predicated of a solar Logos with the following interesting sequence carefully borne in mind:
Điều tương tự cũng có thể được khẳng định đối với một Thái dương Thượng đế, với chuỗi kế tiếp thú vị sau đây cần được ghi nhớ cẩn thận:
The solar Logos has for objective nine initiations, the third cosmic Initiation being His goal.
Thái dương Thượng đế có chín điểm đạo làm mục tiêu, lần điểm đạo vũ trụ thứ ba là đích đến của Ngài.
Our planetary Logos has for objective seven initiations, the second cosmic Initiation being His goal.
Hành Tinh Thượng đế của chúng ta có bảy điểm đạo làm mục tiêu, lần điểm đạo vũ trụ thứ hai là đích đến của Ngài.
Man has for objective five initiations, the first cosmic Initiation being his goal. [Page 385]
Con người có năm điểm đạo làm mục tiêu, lần điểm đạo vũ trụ thứ nhất là đích đến của y. [Page 385]
[Page 386] If we link this up with that earlier imparted concerning initiation and the sun Sirius, we will have a clue to the triple cosmic Path.
[Page 386] Nếu chúng ta liên kết điều này với những gì đã được truyền đạt trước đây liên quan đến điểm đạo và mặt trời Sirius, chúng ta sẽ có một đầu mối cho Con Đường vũ trụ tam phân.
b. The Fourth Kingdom and the Hierarchy of the Planet. Certain facts have already been grasped and realised by the average occult student who has been pondering this teaching with care. He is aware that the juncture of Spirit-matter and mind, or manas, was effected during the third root-race, and that the definitely human family became present upon earth from that date. He knows that this was brought about by the coming, in bodily Presence, of certain great Entities, and he has learned that these Entities came from the Venusian chain, that They achieved the necessary juncture, undertook the government of the planet, founded the occult Hierarchy, and that—though some remain with the chain—the remainder have returned to Their originating source. This in many ways sums up the totality of the present knowledge. Let us briefly enlarge upon it, correct certain erroneous interpretations, and ascertain one or two new facts. We might tabulate these as follows:
b. Giới thứ tư và Thánh Đoàn của hành tinh. Một số sự kiện đã được đạo sinh huyền bí học trung bình, người đã suy ngẫm cẩn thận giáo huấn này, nắm bắt và chứng nghiệm. Y biết rằng sự tiếp giáp của tinh thần-vật chất và trí tuệ, hay manas, đã được thực hiện trong giống dân gốc thứ ba, và rằng gia đình nhân loại theo nghĩa xác định đã hiện diện trên trái đất từ thời điểm đó. Y biết rằng điều này được mang lại bởi sự đến, trong Hiện Diện có hình thể, của một số Thực Thể vĩ đại, và y đã học rằng các Thực Thể này đến từ dãy Kim tinh, rằng Các Ngài đã thực hiện sự tiếp giáp cần thiết, đảm nhận việc cai quản hành tinh, sáng lập Thánh Đoàn huyền bí học, và rằng—dù một số vẫn ở lại với dãy—phần còn lại đã trở về nguồn gốc xuất phát của Các Ngài. Điều này theo nhiều cách tóm lược toàn bộ tri thức hiện nay. Chúng ta hãy ngắn gọn khai triển thêm về nó, chỉnh lại một số cách giải thích sai lầm, và xác định một hoặc hai sự kiện mới. Chúng ta có thể lập bảng những điều này như sau:
First, it should be borne in mind by the occult student that:
Thứ nhất, đạo sinh huyền bí học cần ghi nhớ rằng:
a. This advent signalised the taking of a physical vehicle by the planetary Logos, and was literally the coming of the Avatar.
a. Sự giáng lâm này báo hiệu việc Hành Tinh Thượng đế mang một vận cụ hồng trần, và theo nghĩa đen là sự đến của Đấng Hoá Thân.
b. That this advent was brought about by a definite systemic alignment which involved:
b. Sự giáng lâm này được mang lại bởi một sự chỉnh hợp hệ thống xác định, bao gồm:
The Venus scheme of the system.
Hệ hành tinh Sao Kim của hệ thống.
The Venus chain of the Earth scheme.
Dãy Sao Kim của hệ hành tinh Địa Cầu.
The Venus globe of the Earth chain.
Bầu hành tinh Sao Kim của Dãy Địa Cầu.
c. That the planetary Logos did not come from the Venus scheme but from the Venus chain of His own scheme, the Earth scheme. Owing to systemic [Page 387] alignment logoic kundalini could flow through a certain triangle of which two points were Venus and the Earth. This caused an acceleration of vibration, and enabled the Heavenly Man of our scheme to take a minor initiation, and to set about His preparations for a major initiation.
c. Hành Tinh Thượng đế không đến từ hệ hành tinh Sao Kim mà từ dãy Sao Kim của chính hệ hành tinh Ngài, tức hệ hành tinh Địa Cầu. Do sự chỉnh hợp hệ thống [Page 387] nên kundalini của Thượng đế có thể chảy qua một tam giác nào đó mà hai điểm là Sao Kim và Trái Đất. Điều này gây ra sự gia tốc rung động, và giúp Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta nhận một điểm đạo nhỏ, và bắt đầu các chuẩn bị của Ngài cho một điểm đạo lớn.
Next, it should also be remembered that in considering this matter we must be careful to view it not only as it affects our own globe and its present humanity, but from the systemic and cosmic point of view, or from the angle of its importance to a planetary Logos and a solar Logos. Hence it is a fact that this event was not only the result of the taking of a minor initiation by our Earth Logos, but in the Venus scheme it was signalised by the taking of a major initiation by the Venusian planetary Logos on His fifth chain. In connection with a solar Logos it followed upon the stimulation of one of His centres and from the geometrical progression of the fire through the earlier mentioned Triangle.
Kế đến, cũng cần nhớ rằng khi xem xét vấn đề này, chúng ta phải cẩn thận nhìn nó không chỉ theo cách nó ảnh hưởng đến chính bầu hành tinh chúng ta và nhân loại hiện tại của nó, mà còn từ quan điểm hệ thống và vũ trụ, hay từ góc độ tầm quan trọng của nó đối với một Hành Tinh Thượng đế và một Thái dương Thượng đế. Vì thế, sự kiện này không chỉ là kết quả của việc Địa Cầu Thượng đế của chúng ta nhận một điểm đạo nhỏ, mà trong hệ hành tinh Sao Kim nó còn được báo hiệu bằng việc Hành Tinh Thượng đế Kim tinh nhận một điểm đạo lớn trên dãy thứ năm của Ngài. Liên hệ với một Thái dương Thượng đế, nó tiếp theo sau sự kích thích một trong các trung tâm của Ngài và từ sự tiến triển theo cấp số nhân của lửa qua Tam giác đã được nhắc đến trước đó.
It has been stated that one hundred and four Kumaras came from Venus to the Earth; literally the figure is one hundred and five, when the synthesising Unit, the Lord of the World Himself, is counted as one. There remain still with Him the three Buddhas of Activity. I would call attention to the dual significance of that name, “Buddha of Activity,” bearing out, as it does, the reality of the fact that Entities at Their stage of evolution are active love-wisdom and embody in Themselves the two aspects. The three Buddhas of activity have a correspondence to the three persons of the Trinity.
Đã có lời nói rằng một trăm lẻ bốn Kumara đã đến từ Sao Kim đến Trái Đất; theo nghĩa đen con số là một trăm lẻ năm, khi Đơn Vị tổng hợp, chính Đức Chúa Tể Thế Giới, được tính là một. Vẫn còn ở lại với Ngài là ba Đức Phật Hoạt Động. Tôi muốn lưu ý đến ý nghĩa nhị nguyên của danh xưng ấy, “Đức Phật Hoạt Động,” vì nó xác nhận tính chân thực của sự kiện rằng các Thực Thể ở giai đoạn tiến hoá của Các Ngài là Bác Ái – Minh Triết năng động và hiện thân trong chính Các Ngài hai phương diện ấy. Ba Đức Phật Hoạt Động có một sự tương ứng với ba ngôi của Tam Vị.
These Entities are divided into three groups of thirty-five each, and in Themselves embody the three major centres of the planetary Logos, those three groups which we know as the “three departments,” for it should be emphasised that each department forms a centre: [Page 388]
Các Thực Thể này được chia thành ba nhóm, mỗi nhóm ba mươi lăm vị, và trong chính Các Ngài hiện thân ba trung tâm chính của Hành Tinh Thượng đế, ba nhóm mà chúng ta biết là “ba ban”, vì cần nhấn mạnh rằng mỗi ban tạo thành một trung tâm: [Page 388]
a.
The Head centre
The Ruling Department
b.
The Heart centre
The Teaching Department
c.
The Throat centre
The Mahachohan’s Department. This centre synthesises the lesser four, just as the third Ray synthesises the minor four.