← A Treatise on Cosmic Fire All

a. A Son of Necessity, or of desire

a. The importance of the astral permanent atom. There is one fact to be grasped in connection with the place of the permanent atom within the causal periphery and its evolution, that needs to be emphasised with care, and that is that the astral permanent atom in this solar system is the recipient of a great flow of force or energy, and receives more stimulation and energising than any of the others, and this for the following reasons: [Page 511]

a. Tầm quan trọng của nguyên tử trường tồn cảm dục. Có một sự kiện cần phải nắm bắt liên quan đến vị trí của nguyên tử trường tồn trong chu vi nhân thể và sự tiến hoá của nó, cần được nhấn mạnh cẩn trọng, và đó là nguyên tử trường tồn cảm dục trong hệ mặt trời này là nơi tiếp nhận một dòng mãnh lực hay năng lượng lớn, và nhận được nhiều kích thích và tiếp năng lượng hơn bất kỳ nguyên tử nào khác, vì các lý do sau đây: [Page 511]

First. The centre of polarisation for the fourth, or human kingdom, is in the astral consciousness viewing this kingdom as a unity in expression. From the astral, and through the desire nature, the majority of men inevitably direct and control the physical vehicle. The astral body is in the direct line of force via the buddhic from monadic levels, 2-4-6.

Thứ nhất. Trung tâm phân cực của giới thứ tư, hay giới nhân loại, nằm trong tâm thức cảm dục nếu xem giới này như một hợp nhất trong biểu hiện. Từ cõi cảm dục, và thông qua bản chất dục vọng, đa số con người tất yếu điều khiển và kiểm soát vận cụ hồng trần. Thể cảm dục nằm trên đường trực tiếp của mãnh lực qua Bồ đề từ các cấp độ chân thần, 2-4-6.

Second. The goal set before humanity is that of becoming Masters of the Wisdom, or conscious units in the Body of the Dragon of Wisdom or of Love. This a man achieves when he can function consciously in the buddhic vehicle, or when the astral permanent atom is superseded by the buddhic permanent atom.

Thứ hai. Mục tiêu đặt ra trước nhân loại là trở thành các Chân sư của Minh triết, hay những đơn vị hữu thức trong Thể của Rồng Minh triết hay Bác ái. Con người đạt được điều này khi y có thể hoạt động một cách hữu thức trong vận cụ Bồ đề, hay khi nguyên tử trường tồn cảm dục được thay thế bởi nguyên tử trường tồn Bồ đề.

Third. The next reason is that the second aspect of the Logos (that of love or the manifestation of the love nature of the Logos through the medium of the Son) is the one demonstrated in this system. This system is:

Thứ ba. Lý do kế tiếp là phương diện thứ hai của Thượng đế (đó là bác ái hay sự biểu hiện bản chất bác ái của Thượng đế qua trung gian của Con) là phương diện được biểu lộ trong hệ này. Hệ này là:

a. A Son of Necessity, or of desire

a. Một Con của Tất Yếu, hay của dục vọng

b. Vibrant to the key of the cosmic Ray of Love

b. Rung động theo chủ âm của cung vũ trụ Bác ái

c. The form through which this ray of cosmic Love (shown in the inter-relation between the Self and the Not-Self, or through duality) is expressing itself

c. Hình tướng mà qua đó cung Bác ái vũ trụ này (được biểu lộ trong mối tương quan giữa Bản Ngã và Phi-Ngã, hay qua nhị nguyên tính) đang tự biểu hiện

d. Governed by the cosmic Law of Attraction. The monads of love are the dominating quality. (I choose this word ‘quality’ specifically.)

d. Được cai quản bởi Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Các chân thần bác ái là phẩm tính chi phối. (Tôi chọn từ “phẩm tính” này một cách đặc biệt.)

Fourth. The centre in the cosmic body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID of which our solar Logos is the embodied force is the heart centre. Here we have one of the clues to the mystery of electricity. The sacred planets, with certain allied etheric spheres within the ring-pass-not, are parts of that heart centre, and are ‘petals in the Lotus,’ or in the heart centre of that great unknown Existence Who stands to the solar Logos as He in His turn stands to the Heavenly [Page 512] Men Who are His centres, and specially as He stands to the particular Heavenly Man Who is the embodied force of the logoic Heart centre. Therefore, it will be apparent to the careful student that the entire force and energy of the system and its life quality will be that which we call (having perforce to use handicapping, misleading words) LOVE. This will account for the fact that the force that plays through that cosmic heart centre will be the paramount force found in the manifestation of a solar Logos, and of a Heavenly Man; it will likewise produce its microcosmic analogy, and reflective reactions; hence the relative importance of the astral permanent atom within the causal periphery. It is in the direct line of active force emanating from the cosmic existence, and passing to it in ever lessening degree, via the solar Logos in His system of love, and the planetary Logos within a scheme, the Dragon of Wisdom-Love.

Thứ tư. Trung tâm trong thể vũ trụ của Đấng Bất Khả Tư Nghị mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là mãnh lực nhập thể chính là trung tâm tim. Ở đây chúng ta có một trong những đầu mối của huyền nhiệm điện lực. Các hành tinh thiêng liêng, cùng với một số khối cầu dĩ thái liên hệ trong vòng-giới-hạn, là những phần của trung tâm tim ấy, và là “các cánh hoa trong Hoa sen”, hay trong trung tâm tim của Sự Tồn Tại vĩ đại vô danh ấy, Đấng đứng đối với Thái dương Thượng đế cũng như Ngài đến lượt mình đứng đối với các Đấng Thiên Nhân [Page 512] là các trung tâm của Ngài, và đặc biệt là như Ngài đứng đối với Đấng Thiên Nhân đặc thù là mãnh lực nhập thể của trung tâm Tim của Thượng đế. Vì vậy, đối với đạo sinh cẩn trọng, sẽ hiển nhiên rằng toàn bộ mãnh lực và năng lượng của hệ cùng phẩm tính sự sống của nó sẽ là cái mà chúng ta gọi là (do buộc phải dùng những từ ngữ hạn hẹp và dễ gây hiểu lầm) BÁC ÁI. Điều này sẽ giải thích sự kiện rằng mãnh lực vận hành qua trung tâm tim vũ trụ ấy sẽ là mãnh lực tối thượng được tìm thấy trong sự biểu hiện của một Thái dương Thượng đế, và của một Đấng Thiên Nhân; nó cũng sẽ tạo ra phép loại suy vi thể của nó, và các phản ứng phản chiếu; do đó có tầm quan trọng tương đối của nguyên tử trường tồn cảm dục trong chu vi nhân thể. Nó nằm trên đường trực tiếp của mãnh lực hoạt động phát ra từ sự tồn tại vũ trụ, và truyền đến nó với mức độ ngày càng giảm, qua Thái dương Thượng đế trong hệ bác ái của Ngài, và Hành Tinh Thượng đế trong một hệ hành tinh, tức Rồng Minh triết-Bác ái.

This force when rightly directed and properly controlled is the great transmuting agency, which eventually will make of the human unit a Master of the Wisdom, a Lord of Love, a Dragon of Wisdom in lesser degree.

Mãnh lực này, khi được định hướng đúng và kiểm soát thích đáng, là tác nhân chuyển hoá vĩ đại, cuối cùng sẽ làm cho đơn vị nhân loại trở thành một Chân sư của Minh triết, một Chúa Tể của Bác ái, một Rồng Minh triết ở mức độ thấp hơn.

Finally: this solar system, the objective physical manifestation of the Logos, is interpenetrated by His astral body, as is the case with the human manifestation. As the Logos is polarised in His cosmic astral sheath and has not yet attained cosmic mental polarisation His force or desire nature is the main incentive for the subjective Life and lives that underlie the form.

Sau cùng: hệ mặt trời này, sự biểu hiện hồng trần khách quan của Thượng đế, được thể cảm dục của Ngài thâm nhập xuyên suốt, cũng như trường hợp của biểu hiện nhân loại. Vì Thượng đế được phân cực trong vỏ cảm dục vũ trụ của Ngài và chưa đạt đến sự phân cực trí tuệ vũ trụ, nên mãnh lực hay bản chất dục vọng của Ngài là động lực chính cho Sự sống chủ quan và các sự sống làm nền cho hình tướng.

If the student will ponder with care these five facts, he will get a clue to the problems of existence as realised around us, to the causes of the heat of the solar system, to the method of the cosmic Law of Attraction and Repulsion, which governs all atomic forms, and to the question of SEX which is apparent in every kingdom of nature. They give the clue also to the constitution of the Divine Hermaphrodite.

Nếu đạo sinh suy ngẫm cẩn trọng về năm sự kiện này, y sẽ có được một đầu mối cho các vấn đề của sự tồn tại như được nhận ra quanh chúng ta, cho các nguyên nhân của nhiệt trong hệ mặt trời, cho phương pháp của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi vũ trụ, vốn cai quản mọi hình tướng nguyên tử, và cho vấn đề GIỚI TÍNH vốn hiển hiện trong mọi giới của bản chất. Chúng cũng cho đầu mối về cấu tạo của Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng.

[Page 513] Therefore, it is necessary to bear in mind the relative importance of the permanent atom of the second aspect of the personality within the causal periphery, and to remember that the force which flows through that atom and which is the animating force of the astral body is following the lines of least resistance and really might be considered as bearing upon his physical manifestation in a manner twice as strong as that reaching him through the other two. The Logos expresses Himself now through the Divine Ray, His second aspect, and this Ray is the sumtotal of the radiation of the Lords of Wisdom, the Heavenly Men, the Dragons Who are Unity and Who are Love. Through Them this force flows, and They in turn clothe Themselves with form, or as H. P. B. expresses it ‘The primordial Ray becomes the vahan for the Divine Ray.’ (168) Their life animates every atom of substance when built into form, and Their life is the sumtotal of Logoic magnetism, or the great desire nature of the Logos going out after the Not-Self, producing the cosmic Marriage; it is the logoic demonstration of the sex appeal, His search for His polar opposite, and their mystic union.

[Page 513] Vì vậy, cần ghi nhớ tầm quan trọng tương đối của nguyên tử trường tồn của phương diện thứ hai của phàm ngã trong chu vi nhân thể, và nhớ rằng mãnh lực chảy qua nguyên tử ấy, vốn là mãnh lực linh hoạt của thể cảm dục, đang đi theo con đường ít trở ngại nhất và thực sự có thể được xem như tác động lên biểu hiện hồng trần của con người theo cách mạnh gấp đôi so với mãnh lực đến với y qua hai nguyên tử kia. Thượng đế hiện đang biểu lộ chính Ngài qua Cung Thiêng Liêng, phương diện thứ hai của Ngài, và Cung này là tổng số bức xạ của các Đấng Chúa Tể của Minh triết, các Đấng Thiên Nhân, các Rồng là Hợp Nhất và là Bác ái. Qua Các Ngài, mãnh lực này tuôn chảy, và đến lượt mình Các Ngài khoác lấy hình tướng, hay như H. P. B. diễn tả: “Cung nguyên thủy trở thành vahan cho Cung Thiêng Liêng.” (168) Sự sống của Các Ngài linh hoạt mọi nguyên tử của chất liệu khi được kiến tạo thành hình tướng, và sự sống của Các Ngài là tổng số từ điện của Thượng đế, hay bản chất dục vọng vĩ đại của Thượng đế hướng ra Phi-Ngã, tạo ra Cuộc Hôn Phối vũ trụ; đó là sự biểu lộ của Thượng đế về sức hấp dẫn giới tính, cuộc tìm kiếm của Ngài đối với cực đối nghịch của Ngài, và sự kết hợp thần bí của cả hai.

(168) The Divine Ray contains within itself seven other rays.

(168) Cung Thiêng Liêng chứa trong chính nó bảy cung khác.

It is the swan with the seven young ones.

Đó là thiên nga với bảy con non.

It is the Logos of love-wisdom with the seven planetary Logoi.

Đó là Thượng đế bác ái-minh triết với bảy Hành Tinh Thượng đế.

It is the Grand Man of the Heavens, with the seven Heavenly Men.

Đó là Đại Nhân của Thiên Giới, với bảy Đấng Thiên Nhân.

It is the One Boundless Principle, with the seven principles.

Đó là Nguyên Khí Duy Nhất Vô Biên, với bảy nguyên khí.

This is subjectively.

Đó là về mặt chủ quan.

It is the seven planets with their informing entities.

Đó là bảy hành tinh với các thực thể phú linh của chúng.

It is the seven planes with their animating principles.

Đó là bảy cõi với các nguyên khí linh hoạt của chúng.

Love-Wisdom is the manifestation of the astral (or desire) nature of the Solar Logos.—S. D., I, 103. (back)

Bác Ái – Minh Triết là sự biểu hiện của bản chất cảm dục (hay dục vọng) của Thái dương Thượng đế.—S. D., I, 103. (back)

This process is repeated by the microcosm following the line of his being, and this brings him likewise into incarnation, or into mystic union with form.

Tiến trình này được tiểu thiên địa lặp lại theo đường lối bản thể của mình, và điều này cũng đưa y vào lâm phàm, hay vào sự kết hợp thần bí với hình tướng.

b. The atomic triangle. The causal sheath is to the clairvoyant therefore a sphere of vibrant living substance; within it can be seen three fiery points. At the heart of the sphere is a central blaze of light, emitting [Page 514] rays; these rays are given as seven in number, and play upon these points or circles (analogous to the electrons in the atoms of science) and at this stage produce most effect upon the astral permanent atom. The physical permanent atom has a position relatively close to the positive centre, and the force plays through it, and passes on to the astral permanent atom in the form of five rays of parti-coloured light which blend with the intensely vivid hue of the astral permanent atom, and increase its intensity until the blaze is so excessive that it appears to the onlooker as if the two points blended, or the two electrons merged, and (in merging) produce such an intensity of light that they are seen as dissolving. The mental unit, having a position within the causal body analogous to the planet furthermost from the sun, becomes vibrant likewise, and the two other points (considered now as one) begin to interact with the mental unit, and a similar process is set up and is pursued until these two points—circulating around their positive centre—also approach each other, blend, merge, and dissolve. The centre of positive life gathers or synthesises the three points, and thus the three fires of the personality repeat on their tiny scale the microcosmic procedure as seen in the synthesis of electric fire, solar fire, and fire by friction, and only a blazing unit is left. This blazing unit, through the combined heat of its being, burns up the causal body, and escapes back on to the planes of abstraction. Thus man is the Path itself, and also the pilgrim upon the Path; thus does he burn, but is also the burning-ground.

b. Tam giác nguyên tử. Vì vậy, đối với nhà thông nhãn, vỏ nguyên nhân là một khối cầu chất liệu sống rung động; bên trong nó có thể thấy ba điểm lửa. Ở tim của khối cầu là một luồng sáng trung tâm, phát ra [Page 514] các tia; các tia này được cho là có số lượng bảy, và tác động lên các điểm hay vòng tròn này (tương tự như các electron trong các nguyên tử của khoa học) và ở giai đoạn này tạo ra hiệu quả lớn nhất trên nguyên tử trường tồn cảm dục. Nguyên tử trường tồn hồng trần có một vị trí tương đối gần trung tâm dương, và mãnh lực vận hành qua nó, rồi truyền sang nguyên tử trường tồn cảm dục dưới hình thức năm tia sáng nhiều màu hòa trộn với sắc thái cực kỳ rực rỡ của nguyên tử trường tồn cảm dục, và làm tăng cường độ của nó cho đến khi luồng sáng quá mức đến nỗi đối với người quan sát, dường như hai điểm hòa lẫn, hay hai electron hợp nhất, và (trong sự hợp nhất) tạo ra một cường độ ánh sáng đến mức chúng được thấy như đang tan biến. Đơn vị hạ trí, có một vị trí trong thể nguyên nhân tương tự như hành tinh xa mặt trời nhất, cũng trở nên rung động, và hai điểm kia (nay được xem như một) bắt đầu tương tác với đơn vị hạ trí, và một tiến trình tương tự được thiết lập và tiếp diễn cho đến khi hai điểm này—đang tuần hoàn quanh trung tâm dương của chúng—cũng tiến lại gần nhau, hòa lẫn, hợp nhất, và tan biến. Trung tâm của sự sống dương thu gom hay tổng hợp ba điểm, và như vậy ba lửa của phàm ngã lặp lại trên quy mô nhỏ bé của chúng tiến trình vi thể như được thấy trong sự tổng hợp của Lửa Điện, Lửa Thái dương, và Lửa ma sát, và chỉ còn lại một đơn vị rực cháy. Đơn vị rực cháy này, nhờ nhiệt kết hợp của bản thể nó, thiêu hủy thể nguyên nhân, và thoát trở lại các cõi trừu tượng. Như vậy con người chính là Con Đường, đồng thời cũng là kẻ hành hương trên Con Đường; như vậy y đốt cháy, nhưng cũng chính là vùng đất cháy.

The analogy holds true in the case of the microcosm viewed from monadic levels in his manifestation as Monad, Ego and Personality, and thus the process is carried on as it concerns a Heavenly Man, and likewise a solar Logos. Should the brain suffice to hold the concept, thus [Page 515] is the process also on cosmic levels for such high existences as the seven Rishis of the Great Bear, and that still greater Being, the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID.

Phép loại suy này vẫn đúng trong trường hợp tiểu thiên địa khi được nhìn từ các cấp độ chân thần trong biểu hiện của y như Chân thần, Chân ngã và phàm ngã, và như vậy tiến trình được tiếp tục khi liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, và cũng thế đối với một Thái dương Thượng đế. Nếu bộ não đủ sức nắm giữ khái niệm này, thì [Page 515] tiến trình ấy cũng diễn ra trên các cấp độ vũ trụ đối với những sự tồn tại cao cả như bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, và Đấng còn vĩ đại hơn nữa, Đấng Bất Khả Tư Nghị.

S5S7

3. The Spirillae and the Egoic Ray. — 3. Các loa tuyến và cung chân ngã.

We will take up now the subject of the spirillae within the permanent atom, and see in what manner they are affected by the egoic ray, remembering always that we are considering them as:

Bây giờ chúng ta sẽ bàn đến chủ đề các loa tuyến bên trong nguyên tử trường tồn, và xem chúng bị ảnh hưởng bởi cung chân ngã theo cách nào, luôn luôn nhớ rằng chúng ta đang xem xét chúng như:

First. The interior economy of the life germ on the three planes which concern man in the three worlds; second, as the seventh principle in each of the three sheaths; and third, as the positive nucleus of force which holds together the matter of the three sheaths.

Thứ nhất. Cơ cấu nội tại của mầm sống trên ba cõi liên quan đến con người trong ba cõi giới; thứ hai, như nguyên khí thứ bảy trong mỗi một của ba vỏ; và thứ ba, như hạt nhân dương của mãnh lực giữ cho vật chất của ba vỏ kết hợp lại với nhau.

Let us therefore study two things:

Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu hai điều:

The composition of the permanent atom.

Cấu tạo của nguyên tử trường tồn.

The difference between the mental unit and the astral and physical permanent atoms.

Sự khác biệt giữa đơn vị hạ trí và các nguyên tử trường tồn cảm dục và hồng trần.

To do this with clarity, and so bring some kind of definite concept into being from the dark regions of abstraction, let us tabulate:

Để làm điều này một cách rõ ràng, và nhờ đó đưa một loại khái niệm xác định nào đó vào hiện hữu từ những miền tối của sự trừu tượng, chúng ta hãy lập bảng:

a. The composition of the permanent atom: The permanent atom of the astral and physical planes is a sphere of physical or astral substance, composed of atomic matter, and characterised by the following qualities:

a. Cấu tạo của nguyên tử trường tồn: Nguyên tử trường tồn của cõi cảm dục và cõi hồng trần là một khối cầu chất liệu hồng trần hay cảm dục, được cấu thành từ vật chất nguyên tử, và được đặc trưng bởi các phẩm tính sau đây:

Responsiveness. This is its inherent power to respond to the vibration of some one of the Heavenly Men, as it is transmitted via the deva, or Brahma aspect, of His threefold nature. The permanent atom finds its place within the sphere of influence of one or other of the great devas who are the Raja-Lords of a plane.

Tính đáp ứng. Đây là quyền năng cố hữu của nó để đáp ứng với rung động của một trong các Đấng Thiên Nhân, khi rung động ấy được truyền qua phương diện thiên thần, hay Brahma, của bản chất tam phân của Ngài. Nguyên tử trường tồn tìm thấy vị trí của nó trong phạm vi ảnh hưởng của một hay một vị khác trong các đại thiên thần là các Raja-Chúa Tể của một cõi.

Form Building Power. These devas sound forth two syllables of the threefold microcosmic word and are each (on their own plane) the coherent agency which gathers [Page 516] substance into form, and attracts matter for purposes of objectivity. The astral sound produces the microcosmic ‘Son of Necessity,’ and when it reverberates on the physical plane produces physical incarnation, and the sudden appearance on etheric levels of the seven centres. The building of the dense physical is the result of consequent automatic action in deva essence, for it must ever be borne in mind that man is essentially (as regards the physical plane) an etheric being, and his dense physical body is esoterically regarded as ‘below the threshold’ and is not considered a principle.

Quyền năng kiến tạo hình tướng. Các thiên thần này xướng lên hai âm tiết của linh từ vi thể tam phân và mỗi vị (trên cõi riêng của mình) là tác nhân kết dính [Page 516] chất liệu thành hình tướng, và thu hút vật chất cho các mục đích khách quan. Âm thanh cảm dục tạo ra “Con của Tất Yếu” vi thể, và khi nó vang dội trên cõi hồng trần thì tạo ra sự lâm phàm hồng trần, và sự xuất hiện đột ngột trên các cấp độ dĩ thái của bảy trung tâm. Việc kiến tạo thể xác hồng trần đậm đặc là kết quả của hoạt động tự động tiếp theo trong tinh chất thiên thần, vì phải luôn ghi nhớ rằng con người về bản chất (xét theo cõi hồng trần) là một hữu thể dĩ thái, và thể xác hồng trần đậm đặc của y được xem một cách huyền bí là “dưới ngưỡng cửa” và không được coi là một nguyên khí.

Relative Permanency. In the seventh principle of all manifesting entities is stored up and developed capacity, acquired ability, and the atomic memory, or in other words the heredity of the Thinker, viewing him from the physical standpoint or from the emotional. There is no permanence whatever in the sheaths; they are built into temporary forms, and dissolved when the Thinker has exhausted their possibilities, but the seventh principle of each sheath gathers to itself the achieved qualities and stores them up—under the Law of Karma—to work out again and to demonstrate as the plane impulse at each fresh cycle of manifestation. This permanency is itself likewise only a relative one, and as the inner fire within the atom burns more brightly, as the external fires of the ego or solar fire beat upon it with ever increasing intensity, the atom in due time is consumed, and the inner blaze becomes so great that it destroys its encompassing wall.

Tính trường tồn tương đối. Trong nguyên khí thứ bảy của mọi thực thể đang biểu hiện đều được tích trữ và phát triển năng lực, khả năng đã đạt được, và ký ức nguyên tử, hay nói cách khác là di truyền của Đấng Tư Tưởng, khi nhìn y từ quan điểm hồng trần hay từ quan điểm cảm xúc. Không hề có sự trường tồn nào trong các vỏ; chúng được kiến tạo thành những hình tướng tạm thời, và bị giải thể khi Đấng Tư Tưởng đã khai thác hết các khả năng của chúng, nhưng nguyên khí thứ bảy của mỗi vỏ tự thu gom các phẩm tính đã đạt được và tích trữ chúng—dưới Định luật Nghiệp quả—để lại được triển khai và biểu lộ như xung lực của cõi trong mỗi chu kỳ biểu hiện mới. Tuy nhiên, chính tính trường tồn này cũng chỉ là tương đối, và khi ngọn lửa bên trong nguyên tử cháy sáng hơn, khi các lửa bên ngoài của chân ngã hay lửa thái dương đập vào nó với cường độ ngày càng tăng, thì nguyên tử đến lúc thích hợp sẽ bị thiêu hủy, và ngọn lửa bên trong trở nên lớn đến mức phá hủy bức tường bao quanh nó.

Heat. Herein lies the distinction between the permanent atoms on all planes, and the atomic matter of which they form a part. It is not easy to make this distinction clear, nor is it desirable at this time; the true facts of the case are one of the guarded secrets of initiation, but the distinction between the permanent atom, and atomic matter, may be somewhat comprehended if we state: [Page 517]

Nhiệt. Chính trong đây có sự phân biệt giữa các nguyên tử trường tồn trên mọi cõi và vật chất nguyên tử mà chúng là một phần của nó. Không dễ làm rõ sự phân biệt này, và hiện nay cũng không nên làm như vậy; các sự kiện chân thực của vấn đề là một trong những bí mật được canh giữ của điểm đạo, nhưng sự phân biệt giữa nguyên tử trường tồn và vật chất nguyên tử có thể phần nào được thấu hiểu nếu chúng ta nói rằng: [Page 517]

The permanent atom is one that has been appropriated by one of the lives that form the centres in the body of a solar Lord, whilst atomic matter per se goes to the formation of other parts of His great body of light.

Nguyên tử trường tồn là nguyên tử đã được một trong các sự sống tạo thành các trung tâm trong thể của một Chúa Tể Thái dương chiếm dụng, trong khi chính vật chất nguyên tử lại đi vào việc hình thành các phần khác của thể ánh sáng vĩ đại của Ngài.

A permanent atom is one which has come under the attractive power of the second aspect, whilst atomic matter itself is vitalised by the life of the third aspect.

Nguyên tử trường tồn là nguyên tử đã đi vào dưới quyền năng hấp dẫn của phương diện thứ hai, trong khi bản thân vật chất nguyên tử được tiếp sinh lực bởi sự sống của phương diện thứ ba.

A permanent atom follows the line of the least resistance of force, and is passing out of the control of the Deva Lord and coming under the control of positive life. This concerns the evolution of consciousness in substance.

Nguyên tử trường tồn đi theo con đường ít trở ngại nhất của mãnh lực, và đang thoát khỏi sự kiểm soát của Chúa Tể Thiên thần để đi vào dưới sự kiểm soát của sự sống dương. Điều này liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức trong chất liệu.

A permanent atom comes under the direct control of the lower of the three groups of Lipika Lords, and is the agency through which They work in the imposition of karma upon the particular entity who may be utilising it. They work directly with the permanent atoms of men, and produce results through the agency of form until they have exhausted the vibratory capacity of any particular atom; when this is the case the atom passes into the stage of obscuration, as does the seventh principle of any sheath. It comes under the influence of the first aspect, manifesting as the Destroyer.

Nguyên tử trường tồn đi vào dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhóm thấp hơn trong ba nhóm các Chúa Tể Lipika, và là tác nhân mà qua đó Các Ngài hoạt động trong việc áp đặt nghiệp quả lên thực thể đặc thù nào đang có thể sử dụng nó. Các Ngài làm việc trực tiếp với các nguyên tử trường tồn của con người, và tạo ra kết quả qua tác nhân của hình tướng cho đến khi các Ngài đã khai thác hết khả năng rung động của bất kỳ nguyên tử đặc thù nào; khi điều này xảy ra, nguyên tử đi vào giai đoạn bị che khuất, cũng như nguyên khí thứ bảy của bất kỳ vỏ nào. Nó đi vào dưới ảnh hưởng của phương diện thứ nhất, biểu hiện như Đấng Hủy Diệt.

Remember that in these affirmations we are concerning ourselves with the microcosm, and with the permanent atoms which are related to him; as regards the solar Logos manifesting in the system, we are concerned with but one permanent atom, and this is His physical permanent atom. It is thus true that within the permanent physical atom of the solar Logos lies hid the ability to respond consciously to the vibration of all the planes, lies hid the secret of the karmic purpose of His incarnation, [Page 518] and lies concealed the mystery of His functional activity; but we cannot penetrate the secret as yet of His three lower permanent atoms as they function as a unity within His causal vehicle. Until we can do this it is useless for us to conjecture as to His fundamental Being.

Hãy nhớ rằng trong những khẳng định này, chúng ta đang quan tâm đến tiểu thiên địa, và đến các nguyên tử trường tồn có liên hệ với y; còn đối với Thái dương Thượng đế đang biểu hiện trong hệ, chúng ta chỉ quan tâm đến một nguyên tử trường tồn duy nhất, và đó là nguyên tử trường tồn hồng trần của Ngài. Vì vậy, đúng là trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế có ẩn giấu khả năng đáp ứng một cách hữu thức với rung động của mọi cõi, có ẩn giấu bí mật về mục đích nghiệp quả của sự lâm phàm của Ngài, [Page 518] và có che giấu huyền nhiệm về hoạt động chức năng của Ngài; nhưng chúng ta hiện chưa thể thâm nhập bí mật về ba nguyên tử trường tồn thấp của Ngài khi chúng hoạt động như một hợp nhất trong vận cụ nguyên nhân của Ngài. Cho đến khi chúng ta có thể làm được điều này, thì việc phỏng đoán về Bản Thể căn bản của Ngài là vô ích.

The difference between them: The mental unit is in a unique and peculiar position as regards man, the Thinker in the causal body. This point will be discussed shortly, suffice it to say here that its mystery lies hid in the nature of the Heavenly Men Themselves. The following correspondence holds the key to this mystery, but it can only be indicated, leaving it to the student to work out the truth for himself. On the three planes of logoic manifestation—the highest three—we have the three aspects manifesting; on the buddhic plane, the fourth cosmic ether, we have the logoic etheric centres demonstrating, or those force vortices which animate the three lower planes of the dense physical manifestation. In connection with the Heavenly Men we have a secondary manifestation, and on the buddhic plane we have Their third aspect found, leaving for Their paramount manifestation of force, the cosmic gaseous plane, or the manasic plane; They are essentially the divine Thinkers, the Manasaputras. In connection, therefore, with the Microcosm, viewing him as part of a centre in the body of a Heavenly Man, we have a lesser descent within the gaseous or fire manifestation of a solar Lord. This concerns the three higher subplanes of what might be considered as the manifestation of Man’s three higher aspects in mental matter, whilst on the fourth subplane we have the mental centres of man within the periphery of his mental body, of which the mental unit is the unifying factor. This is—as has been earlier said—a deep mystery, and one that can be no further amplified.

Sự khác biệt giữa chúng: Đơn vị hạ trí ở trong một vị trí độc nhất và đặc thù đối với con người, Đấng Tư Tưởng trong thể nguyên nhân. Điểm này sẽ được bàn đến ngay sau đây; ở đây chỉ cần nói rằng huyền nhiệm của nó được che giấu trong bản chất của chính các Đấng Thiên Nhân. Sự tương ứng sau đây nắm giữ chìa khóa của huyền nhiệm này, nhưng chỉ có thể được nêu ra, để đạo sinh tự mình triển khai chân lý. Trên ba cõi của sự biểu hiện của Thượng đế—ba cõi cao nhất—chúng ta có ba phương diện đang biểu hiện; trên cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư, chúng ta có các trung tâm dĩ thái của Thượng đế đang biểu lộ, hay những xoáy mãnh lực linh hoạt ba cõi thấp của biểu hiện hồng trần đậm đặc. Liên hệ với các Đấng Thiên Nhân, chúng ta có một biểu hiện thứ cấp, và trên cõi Bồ đề chúng ta thấy phương diện thứ ba của Các Ngài, để lại cho sự biểu hiện mãnh lực tối thượng của Các Ngài là cõi khí trạng vũ trụ, hay cõi manas; về bản chất, Các Ngài là các Đấng Tư Tưởng thiêng liêng, các Manasaputra. Vì vậy, liên hệ với Tiểu thiên địa, khi xem y như một phần của một trung tâm trong thể của một Đấng Thiên Nhân, chúng ta có một sự giáng hạ nhỏ hơn trong biểu hiện khí trạng hay lửa của một Chúa Tể Thái dương. Điều này liên quan đến ba cõi phụ cao hơn của cái có thể được xem là biểu hiện của ba phương diện cao hơn của Con Người trong vật chất trí tuệ, trong khi trên cõi phụ thứ tư chúng ta có các trung tâm trí tuệ của con người trong chu vi của thể trí của y, mà đơn vị hạ trí là nhân tố hợp nhất. Đây là—như đã nói trước đây—một huyền nhiệm sâu xa, và không thể được khai triển thêm nữa.

b. The Planes and Fiery Energy. It seems desirable [Page 519] that we should here discuss the analogies on each plane, (169) with the seven sub-planes, reminding the student that we are speaking of the planes as the field of evolution of a solar Logos, and not only as a field for the development of man. In the solar system we have:

b. Các cõi và năng lượng lửa. Có vẻ thích hợp [Page 519] khi ở đây chúng ta nên bàn đến các phép loại suy trên mỗi cõi, (169) với bảy cõi phụ, nhắc đạo sinh rằng chúng ta đang nói về các cõi như trường tiến hoá của một Thái dương Thượng đế, chứ không chỉ như một trường cho sự phát triển của con người. Trong hệ mặt trời, chúng ta có:

(169) 1. The seven systemic planes are:

(169) 1. Bảy cõi của hệ là:

1. Divine plane... Logos... ..1st cosmic ether.

1. Cõi thiêng liêng... Thượng đế.....1st cosmic ether.

2. Monadic plane... Monad... .2nd cosmic ether.

2. Cõi chân thần... Chân thần....2nd cosmic ether.

3. Spiritual plane... .3rd cosmic ether.

3. Cõi tinh thần....3rd cosmic ether.

4. Intuitional plane... 4th cosmic ether.

4. Cõi trực giác... 4th cosmic ether.

5. Mental plane... Ego... gaseous plane.

5. Cõi trí.... Chân ngã... khí trạng.

6. Astral plane... ...liquid plane.

6. Cõi cảm dục... lỏng.

7. Physical... ... .gross.

7. Hồng trần.......thô đặc.

2. The seven differentiations in terms of fiery energy are:

2. Bảy sự biến phân xét theo năng lượng lửa là:

a. Plane of divine life... Father... Sea of fire.

a. Cõi của sự sống thiêng liêng..... Cha... Biển lửa.

b. Plane of monadic life... ..Son... Akasha.

b. Cõi của sự sống chân thần.....Con... Akasha.

c. Plane of atma... Holy Ghost... Aether.

c. Cõi atma... Chúa Thánh Thần... Aether.

d. Plane of buddhi, intuition... Central... .. Air.

d. Cõi Bồ đề, trực giác... Trung tâm..... Khí.

e. Plane of mind... ... . Fire.

e. Cõi trí........ Lửa.

f. Plane of desire... ... .Astral Light.

f. Cõi dục vọng...... Ánh sáng cảm dục.

g. Plane of physical... ... Ether

g. Cõi hồng trần...... Dĩ thái

Thought... . Thoughtforms... ..Materialisation.

Tư tưởng.... Hình tư tưởng..... Hiện hình.

Microcosm... .. Macrocosm.

Tiểu thiên địa..... Đại thiên địa.

3. Planes of logoic evolution... the seven planes.

3. Các cõi của sự tiến hoá của Thượng đế... bảy cõi.

Planes of Son’s evolution... . the six planes.

Các cõi của sự tiến hoá của Con... sáu cõi.

Planes of monadic evolution... the five planes.

Các cõi của sự tiến hoá chân thần... năm cõi.

Planes of human evolution... the three worlds.

Các cõi của sự tiến hoá nhân loại... ba cõi giới.

Seven is the number of the totality of manifestation.

Bảy là con số của toàn thể sự biểu hiện.

Three is the number of consciousness.

Ba là con số của tâm thức.

One is the number of Life or Spirit.

Một là con số của Sự sống hay tinh thần.

4. Electric fire... .. Solar fire... .. Fire by friction.

4. Lửa Điện..... Lửa Thái dương..... Lửa ma sát.

Father... . Son... .. Holy Ghost.

Cha... Con..... Chúa Thánh Thần.

Spirit... .. Consciousness... Matter. (back)

Tinh thần.... Tâm thức... Vật chất. (back)

First, the three higher planes, which have been rightly called the planes of the three aspects; second, the seventh logoic principle is on the first plane, and we can consider it as the impulse in physical matter which produced His body of objectivity.

Thứ nhất, ba cõi cao hơn, vốn đã được gọi đúng là các cõi của ba phương diện; thứ hai, nguyên khí thứ bảy của Thượng đế ở trên cõi thứ nhất, và chúng ta có thể xem nó như xung lực trong vật chất hồng trần đã tạo ra thể khách quan của Ngài.

On the second plane are found the seven Heavenly Men, Who are His principal centres of force. There are others, but we are not here concerned with Them. These latter have achieved a certain specific goal, and are the [Page 520] embodiment of centres which are now quiescent or out of manifestation, the logoic kundalini having turned its attention elsewhere. Under another enumeration they make the ten of the esoteric life, and can also be enumerated as twelve, thus forming the twelve-petalled Lotus, or the heart centre in the Body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID.

Trên cõi thứ hai có bảy Đấng Thiên Nhân, là các trung tâm mãnh lực chính của Ngài. Còn có những Đấng khác, nhưng ở đây chúng ta không quan tâm đến Các Ngài. Những Đấng sau này đã đạt được một mục tiêu đặc thù nào đó, và là hiện thân của các trung tâm hiện đang tĩnh lặng hay ngoài biểu hiện, vì kundalini của Thượng đế đã chuyển sự chú ý của nó sang nơi khác. Theo một cách liệt kê khác, Các Ngài tạo thành mười của sự sống huyền bí, và cũng có thể được liệt kê là mười hai, nhờ đó hình thành Hoa sen mười hai cánh, hay trung tâm tim trong Thể của Đấng Bất Khả Tư Nghị.

On the fourth cosmic ether the buddhic plane, are found the etheric centres of the Logos. There are to be found the esoteric planets and the Sun, viewed as the centre of the buddhic principles, and from thence the Logos animates His dense physical manifestation.

Trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề, có các trung tâm dĩ thái của Thượng đế. Ở đó có thể tìm thấy các hành tinh huyền bí và Mặt Trời, khi được xem như trung tâm của các nguyên khí Bồ đề, và từ đó Thượng đế linh hoạt biểu hiện hồng trần đậm đặc của Ngài.

Finally, on the three lower planes we have His gaseous, liquid, and dense bodies or sheaths, forming in themselves a unity in one peculiar sense; they are as much a coherent whole as the three higher planes form a unified triple expression of the three persons of the Trinity.

Sau cùng, trên ba cõi thấp chúng ta có các thể hay vỏ khí trạng, lỏng, và đậm đặc của Ngài, tự chúng tạo thành một hợp nhất theo một ý nghĩa đặc thù; chúng là một toàn thể kết dính cũng nhiều như ba cõi cao hơn tạo thành một biểu hiện tam phân hợp nhất của ba ngôi trong Tam Vị.

We have a similar analogy in the subplanes of each plane in the system, and this will become ever more apparent as man achieves a greater clarity of vision, and can consciously ascertain for himself the truth about the subjective life. Let us briefly take these planes and study the life or force manifestation on each, laying the emphasis upon the lower four, and not so much upon the planes which do not concern man so closely.

Chúng ta có một phép loại suy tương tự trong các cõi phụ của mỗi cõi trong hệ, và điều này sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên khi con người đạt được sự sáng tỏ lớn hơn của tầm nhìn, và có thể một cách hữu thức tự mình xác định chân lý về sự sống chủ quan. Chúng ta hãy ngắn gọn xét các cõi này và nghiên cứu sự biểu hiện của sự sống hay mãnh lực trên mỗi cõi, nhấn mạnh vào bốn cõi thấp, chứ không quá nhiều vào các cõi không liên quan mật thiết đến con người.

The Logoic Plane. The first, the second, and the third subplanes of the first cosmic ether respond specifically to the vibration of one of the three aspects, or to those cosmic Entities Whose influence reaches the matter of the planes from without the system altogether. On the fourth subplane comes a primary blending of the three fiery Lives, producing archetypally that force manifestation of electricity which eventually causes the blazing forth of the Sons of Light on the next plane. In this electrical connotation we have the three higher planes ever embodying the threefold Spirit aspect, the lower [Page 521] three embodying the threefold substance aspect, and then a plane of at-one-ment whereon an approximation is made which, on the path of return, marks the moment of achievement, and the point of triumph. This is succeeded by obscuration. Hence on every plane in the solar system we have a fourth plane whereon the struggle for perfect illumination, and subsequent liberation takes place, the battle ground, the Kurukshetra. Though for man the fourth plane, the buddhic, is the place of triumph, and the goal of his endeavour, for the Heavenly Man it is the battle-ground, while for the solar Logos it is the burning-ground.

Cõi của Thượng đế. Cõi phụ thứ nhất, thứ hai, và thứ ba của dĩ thái vũ trụ thứ nhất đáp ứng một cách đặc thù với rung động của một trong ba phương diện, hay với những Thực Thể vũ trụ mà ảnh hưởng của Các Ngài chạm đến vật chất của các cõi từ hoàn toàn bên ngoài hệ. Trên cõi phụ thứ tư diễn ra một sự hòa trộn sơ khởi của ba Sự Sống lửa, tạo ra theo nguyên mẫu sự biểu hiện mãnh lực của điện lực mà cuối cùng gây nên sự bừng cháy của các Con của Ánh sáng trên cõi kế tiếp. Trong hàm ý điện lực này, chúng ta có ba cõi cao hơn luôn luôn hiện thân cho phương diện Tinh thần tam phân, còn ba cõi [Page 521] thấp hiện thân cho phương diện chất liệu tam phân, và rồi một cõi hợp nhất nơi diễn ra một sự xích lại gần mà, trên Con Đường Trở Về, đánh dấu khoảnh khắc thành tựu, và điểm chiến thắng. Tiếp theo đó là sự che khuất. Vì thế trên mọi cõi trong hệ mặt trời, chúng ta có một cõi thứ tư nơi diễn ra cuộc đấu tranh cho sự soi sáng hoàn hảo, và sự giải thoát tiếp theo, chiến trường, Kurukshetra. Dù đối với con người, cõi thứ tư, cõi Bồ đề, là nơi chiến thắng, và là mục tiêu của nỗ lực của y, thì đối với Đấng Thiên Nhân đó là chiến trường, còn đối với Thái dương Thượng đế đó là vùng đất cháy.

This differentiation of the subplanes of the systemic planes into a higher three, a lower three, and a central plane of harmony is only so from the standpoint of electrical phenomena, and not from the standpoint of either pure Spirit, or pure substance, viewed apart from each other. It concerns the mystery of electricity, and the production of light. The three higher planes concern the central Forces or Lives, the three lower concern the lesser Forces or Lives. We must bear this carefully in mind, remembering that to the occultist there is no such thing as substance, but only Force in varying degrees, only Energy of differentiated quality, only Lives emanating from different sources, each distinctive and apart, and only Consciousness producing intelligent effect through the medium of space.

Sự biến phân này của các cõi phụ của các cõi của hệ thống thành ba cõi cao, ba cõi thấp, và một cõi trung tâm của sự hài hòa chỉ là như vậy khi nhìn từ quan điểm của các hiện tượng điện, chứ không phải từ quan điểm của tinh thần thuần túy hay chất liệu thuần túy, khi được xem tách rời nhau. Điều này liên quan đến huyền nhiệm của điện và sự tạo ra ánh sáng. Ba cõi cao liên quan đến các Mãnh Lực hay các Sự Sống trung tâm, ba cõi thấp liên quan đến các mãnh lực hay các sự sống nhỏ hơn. Chúng ta phải ghi nhớ điều này một cách cẩn trọng, nhớ rằng đối với nhà huyền bí học không hề có cái gọi là chất liệu, mà chỉ có Mãnh lực ở những cấp độ khác nhau, chỉ có Năng lượng với phẩm tính biến phân, chỉ có các Sự Sống phát xạ từ những nguồn khác nhau, mỗi sự sống đều riêng biệt và tách biệt, và chỉ có Tâm thức tạo ra hiệu quả thông minh qua trung gian của không gian.

I would point out that the Lord Agni shows forth His fiery life on the atomic subplane of each plane; He shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as ‘fire by friction’ on the fifth, sixth and seventh. From the point of view of the microcosm, the Spark in the Flame, man demonstrates as electric fire on the second plane, or the second cosmic ether; as solar fire on the third, fourth and the three higher subplanes of the fifth [Page 522] plane, and as fire by friction on the lower subplanes of the fifth, on the sixth, and seventh planes.

Tôi muốn chỉ ra rằng Chúa Tể Agni biểu lộ sự sống rực lửa của Ngài trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi; Ngài biểu lộ như lửa thái dương trên cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như ‘Lửa ma sát’ trên cõi phụ thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Từ quan điểm của tiểu thiên địa, Tia Lửa trong Ngọn Lửa, con người biểu lộ như Lửa Điện trên cõi thứ hai, hay dĩ thái vũ trụ thứ hai; như Lửa Thái dương trên cõi thứ ba, thứ tư và ba cõi phụ cao của cõi thứ năm [Page 522], và như Lửa ma sát trên các cõi phụ thấp của cõi thứ năm, trên cõi thứ sáu và cõi thứ bảy.

c. The Planes and the Three Fires. On every plane we have, relatively speaking:

c. Các Cõi và Ba Loại Lửa. Trên mỗi cõi, nói một cách tương đối, chúng ta có:

a. Electric fire demonstrating as the prime condition on the higher three.

a. Lửa Điện biểu lộ như điều kiện nguyên sơ trên ba cõi cao.

b. Fire by friction as the most significant factor on the lower three.

b. Lửa ma sát như yếu tố có ý nghĩa nổi bật nhất trên ba cõi thấp.

c. Solar fire, showing forth as the blaze produced by union on the central plane.

c. Lửa Thái dương, biểu lộ như ngọn lửa bùng lên do sự hợp nhất tạo ra trên cõi trung tâm.

In the solar system this is to be seen in connection with a Heavenly Man on the buddhic plane, where They blaze forth through Their etheric centres. In connection with man on the mental plane, we have a similar condition: the three higher subplanes concern the Spirit aspect in the causal body, the three lower subplanes concern primarily the mental sheath, or fire by friction; the fourth subplane is that on which the force centres of the mental body are to be found. So it is on the physical plane for man—his etheric centres being located in matter of the fourth ether.

Trong hệ mặt trời, điều này có thể được thấy liên hệ với một Đấng Thiên Nhân trên cõi Bồ đề, nơi Các Ngài bừng cháy qua các trung tâm dĩ thái của Các Ngài. Liên hệ với con người trên cõi trí, chúng ta có một tình trạng tương tự: ba cõi phụ cao liên quan đến phương diện tinh thần trong thể nguyên nhân, ba cõi phụ thấp chủ yếu liên quan đến thể trí, hay Lửa ma sát; cõi phụ thứ tư là cõi mà trên đó có thể tìm thấy các trung tâm mãnh lực của thể trí. Trên cõi hồng trần đối với con người cũng vậy—các trung tâm dĩ thái của y nằm trong vật chất của dĩ thái thứ tư.

Each of the three Persons of the Trinity manifests equally as does a man, as Spirit, Soul or Ego, and Substance. In connection with Brahma, we have the Spirit aspect animating the three higher subplanes of every plane, or the first fire aspect. His soul aspect is found on the fourth subplane of each plane whereon are situated the etheric centres of all manifested entities. His substance aspect is primarily contacted on the three lower subplanes. Hence we have the forty-nine fires of matter, or the seven fires of each plane, the union of the higher three and the lower three producing that blaze which we call the wheels of fire or the centres on the fourth subplane of each plane.

Mỗi một trong Ba Ngôi đều biểu lộ bình đẳng như con người biểu lộ, với tư cách là tinh thần, linh hồn hay chân ngã, và chất liệu. Liên hệ với Brahma, chúng ta có phương diện tinh thần tiếp sinh lực cho ba cõi phụ cao của mỗi cõi, hay phương diện lửa thứ nhất. Phương diện linh hồn của Ngài được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi, nơi các trung tâm dĩ thái của mọi thực thể biểu hiện tọa lạc. Phương diện chất liệu của Ngài chủ yếu được tiếp xúc trên ba cõi phụ thấp. Do đó chúng ta có bốn mươi chín ngọn lửa của vật chất, hay bảy ngọn lửa của mỗi cõi, sự hợp nhất của ba cõi cao và ba cõi thấp tạo ra ngọn lửa bùng cháy mà chúng ta gọi là các bánh xe lửa hay các trung tâm trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi.

In connection with the second aspect there is a similar [Page 523] condition. Solar fire blazes forth in its electrical aspect on the second plane, and demonstrates thus also on the third and fourth planes, but finds its central demonstration on manasic levels, shining through the causal vehicles of the egoic groups. Only two and a half planes then remain through which the fire by friction aspect may manifest, eighteen subplanes in all which concern the third aspect of the second Person of the logoic Trinity.

Liên hệ với phương diện thứ hai cũng có một [Page 523] tình trạng tương tự. Lửa Thái dương bừng cháy trong phương diện điện của nó trên cõi thứ hai, và cũng biểu lộ như vậy trên cõi thứ ba và thứ tư, nhưng tìm thấy sự biểu lộ trung tâm của nó trên các cấp độ manas, chiếu sáng qua các vận cụ nguyên nhân của các nhóm chân ngã. Khi đó chỉ còn lại hai cõi rưỡi mà qua đó phương diện Lửa ma sát có thể biểu lộ, tổng cộng là mười tám cõi phụ liên quan đến phương diện thứ ba của Ngôi thứ hai của Ba Ngôi Thượng đế.

For man, the microcosm, a similar differentiation is possible; His Monad can be studied in its threefold essence on its own plane, his egoic aspect likewise, and the Brahma aspect of the Ego is found within the permanent atoms. Students should therefore study with care:

Đối với con người, tiểu thiên địa, một sự biến phân tương tự là có thể; Chân thần của y có thể được nghiên cứu trong bản chất tam phân của nó trên chính cõi của nó, phương diện chân ngã của y cũng vậy, và phương diện Brahma của Chân ngã được tìm thấy trong các nguyên tử trường tồn. Vì vậy, các đạo sinh nên cẩn trọng nghiên cứu:

1. The Planes. The manifestation of Brahma, the third or substance aspect, and should apply to this Entity the same triple constitution as is apparent in the other two. The planes of electric fire, the planes of his lower nature, and the point of blazing forth or conflagration for him (the etheric centres) must be carefully studied. Brahma is the positive life of matter; He is the revelation of substance and the blaze that can be seen.

1. Các Cõi. Sự biểu lộ của Brahma, phương diện thứ ba hay phương diện chất liệu, và nên áp dụng cho Thực Thể này cùng một cấu tạo tam phân như được thấy rõ nơi hai Đấng kia. Các cõi của Lửa Điện, các cõi của bản chất thấp của Ngài, và điểm bừng cháy hay bốc lửa đối với Ngài (các trung tâm dĩ thái) phải được nghiên cứu cẩn thận. Brahma là sự sống dương của vật chất; Ngài là sự mặc khải của chất liệu và là ngọn lửa bùng cháy có thể được nhìn thấy.

2. Vibration. The manifestation of the second aspect. These vibrations of consciousness are the major three words which are the sumtotal of egoic life, the minor three which govern the third aspect of the Ego, and the chord of at-one-ment which is that which is sounding forth now.

2. Rung động. Sự biểu lộ của phương diện thứ hai. Những rung động của tâm thức này là ba Linh từ chính yếu, là tổng thể của sự sống chân ngã, ba linh từ phụ chi phối phương diện thứ ba của Chân ngã, và hợp âm của sự hợp nhất là điều hiện đang vang lên.

The three aspects of Spirit as they are seen can only be expressed in terms of the other two in this solar system, and of their nature extra-systemically nought can profitably be said at this stage of cognition.

Ba phương diện của tinh thần như được thấy chỉ có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ của hai phương diện kia trong hệ mặt trời này, còn về bản chất của chúng ngoài hệ thống thì ở giai đoạn nhận thức này không thể nói gì hữu ích được.

The above thoughts upon the planes, and the ninefold nature of all that is, take one into regions as yet almost beyond the grasp of man; yet only when the substance [Page 524] aspect is studied by the scientist in its triple nature will truth be approximated, and the true nature of electrical phenomena be comprehended; then and only then will electricity be harnessed and utilised by man as a unity, and not just in one of its aspects as at present; the negative electricity of the planet is all that is as yet contacted for commercial purposes. It must be remembered that this term is used in the sense of negative in relation to solar electricity. When man has found out how to contact and utilise positive solar electricity in combination with negative planetary electricity, we shall have a very dangerous condition brought about, and one of the factors which will eventually manifest in the destruction of the fifth root race by fire. At that great cataclysm—as the Bible says “the Heavens will melt with fervent heat.” (Bible. II Peter, 3:10.) This will be seen in a still greater degree in the next round, and will cause that destruction by fire of the forms of the men who have failed, which will liberate the lives on a stupendous scale, and thus temporarily ‘purify’ the Earth from elements which would tend to hinder the evolutionary process. As the cycles pass away, the balancing of these fiery currents will be gradually brought about, and will result in a planetary condition of harmony, and of esoteric equality, which will provide ideal environment for harmonious man.

Những tư tưởng trên về các cõi, và bản chất cửu phân của mọi cái đang hiện hữu, đưa người ta vào những lĩnh vực hiện còn gần như vượt ngoài sự nắm bắt của con người; tuy nhiên, chỉ khi phương diện chất liệu [Page 524] được nhà khoa học nghiên cứu trong bản chất tam phân của nó thì chân lý mới được xấp xỉ, và bản chất thực sự của các hiện tượng điện mới được thấu hiểu; khi đó và chỉ khi đó điện mới được con người chế ngự và sử dụng như một nhất thể, chứ không chỉ trong một phương diện của nó như hiện nay; điện âm của hành tinh là tất cả những gì cho đến nay mới được tiếp xúc vì mục đích thương mại. Cần nhớ rằng thuật ngữ này được dùng theo nghĩa âm so với điện thái dương. Khi con người khám phá được cách tiếp xúc và sử dụng điện thái dương dương tính kết hợp với điện hành tinh âm tính, chúng ta sẽ có một tình trạng rất nguy hiểm được tạo ra, và đó là một trong những yếu tố rốt cuộc sẽ biểu lộ trong sự hủy diệt giống dân gốc thứ năm bằng lửa. Trong đại biến động ấy—như Kinh Thánh nói “các tầng trời sẽ tan chảy vì sức nóng dữ dội.” (Kinh Thánh. II Peter, 3:10.) Điều này sẽ được thấy ở mức độ còn lớn hơn trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, và sẽ gây ra sự hủy diệt bằng lửa đối với các hình tướng của những người đã thất bại, điều sẽ giải thoát các sự sống trên một quy mô khổng lồ, và do đó tạm thời “thanh lọc” Trái Đất khỏi những yếu tố có khuynh hướng cản trở tiến trình tiến hoá. Khi các chu kỳ trôi qua, sự quân bình của các dòng lửa này sẽ dần dần được thực hiện, và sẽ đưa đến một tình trạng hành tinh hài hòa, và một sự bình đẳng huyền bí, sẽ cung cấp môi trường lý tưởng cho con người hài hòa.

Only when the soul aspect is studied by the psychologist in its threefold essential nature will the mystery of consciousness become apparent, and the nature of the three magnetic groups, in their various subdivisions with their consequent effectual radiation become a factor in the public life. This concerns itself with the definite development of the psyche under law, with the scientific expansion of the consciousness, and will eventually bring about conditions wherein the work, preliminary to the first initiation, will be purely exoteric, and no longer[Page 525] part of an esoteric process. In due course of time, it will be found that the self-induced efforts whereby a man consciously prepares his centres for the application of the Rod of Initiation at the first Initiation, will be the subject of books, and of lectures, and form part of the ordinary thought of the masses. This again will eventuate in a cleavage between the two groups in the middle of the fifth round. It must be remembered that this cleavage will be part of a natural process, and not a drastic ruling, imposed upon an unwilling people. The KNOWERS and the students of the Knowledge—actuated by group consciousness, and working consciously—will separate themselves in group formation from those who know not, and from those who care not. This cleavage will be self-induced, and a natural outgrowth of the group life; it will in itself be of a temporary nature for the fundamental aim in view will be the bringing about of an eventual closer merging; it will mark primarily the line of demarcation between the lower four Rays of consciousness, and the higher three. It is also a mystery hid in the relationship between the four exoteric Kumaras, (S.D., I, 116, 493; II, 112, 149) and the esoteric three, and from the point of view of man separates those who are developing the consciousness of the Triad from those who as yet are living the life of the Quaternary. It concerns those who respond to the solar Lords, distinguishing them from those who recognise as yet only the control of the lunar Lords. In terms of Fire: those who warm themselves by means of fire by friction and respond not to the heat of solar fire remain within the cavern, thus living in the dark; whilst those whose being is irradiated by the Sun of Wisdom, and who bask in the rays of solar heat dwell in the light, and enjoy an ever increasing freedom, and vital existence.

Chỉ khi phương diện linh hồn được nhà tâm lý học nghiên cứu trong bản chất cốt yếu tam phân của nó thì huyền nhiệm của tâm thức mới trở nên hiển nhiên, và bản chất của ba nhóm từ tính, trong các phân nhóm khác nhau của chúng cùng với sự bức xạ hiệu quả phát sinh từ đó, mới trở thành một yếu tố trong đời sống công cộng. Điều này liên quan đến sự phát triển xác định của psyche dưới định luật, đến sự mở rộng tâm thức một cách khoa học, và rốt cuộc sẽ tạo ra những điều kiện trong đó công việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất sẽ hoàn toàn ngoại môn, và không còn[Page 525] là một phần của tiến trình nội môn nữa. Đến đúng thời điểm, người ta sẽ thấy rằng những nỗ lực do chính mình khởi xướng, nhờ đó con người chuẩn bị các trung tâm của mình một cách hữu thức cho việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ nhất, sẽ là chủ đề của sách vở và các bài giảng, và tạo thành một phần của tư tưởng thông thường của quần chúng. Điều này lại sẽ dẫn đến một sự phân tách giữa hai nhóm vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm. Cần nhớ rằng sự phân tách này sẽ là một phần của một tiến trình tự nhiên, chứ không phải một sự cai quản khắc nghiệt áp đặt lên một dân chúng không tự nguyện. Các THỨC GIẢ và các đạo sinh của Hiểu Biết—được thúc đẩy bởi tâm thức nhóm, và làm việc một cách hữu thức—sẽ tự tách mình ra trong sự hình thành nhóm khỏi những người không biết, và khỏi những người không quan tâm. Sự phân tách này sẽ do chính họ tạo ra, và là một sự tăng trưởng tự nhiên của đời sống nhóm; tự thân nó sẽ chỉ có tính tạm thời vì mục tiêu căn bản được nhắm đến sẽ là đưa đến một sự hòa nhập gần gũi hơn về sau; trước hết nó sẽ đánh dấu ranh giới phân định giữa bốn Cung thấp của tâm thức và ba Cung cao. Nó cũng là một huyền nhiệm ẩn giấu trong mối liên hệ giữa bốn Đức Kumara ngoại môn, (S.D., I, 116, 493; II, 112, 149) và ba Đức Kumara nội môn, và từ quan điểm của con người, nó phân cách những ai đang phát triển tâm thức của Tam nguyên tinh thần với những ai hiện vẫn đang sống đời sống của Tứ nguyên. Điều này liên quan đến những ai đáp ứng với các nhật tinh quân, phân biệt họ với những ai hiện vẫn chỉ nhận biết sự kiểm soát của các nguyệt tinh quân. Nói theo thuật ngữ của Lửa: những ai sưởi ấm mình bằng Lửa ma sát và không đáp ứng với sức nóng của Lửa Thái dương thì vẫn ở trong hang động, do đó sống trong bóng tối; còn những ai mà bản thể được Mặt Trời Minh Triết chiếu rọi, và tắm mình trong các tia nhiệt thái dương thì sống trong ánh sáng, và hưởng một sự tự do cùng sự tồn tại sinh động ngày càng gia tăng.

The true significance of the three aspects of Spirit is only becoming apparent to the initiate of high degree, [Page 526] and cannot be expressed in words, nor comprehended by man before he has passed out of the human kingdom into the spiritual. Therefore, it is needless for us to pause here to consider it at greater length.

Ý nghĩa thực sự của ba phương diện của tinh thần chỉ mới trở nên hiển nhiên đối với điểm đạo đồ cấp cao, [Page 526] và không thể diễn tả bằng lời, cũng không thể được con người thấu hiểu trước khi y đã vượt ra khỏi giới nhân loại để đi vào giới tinh thần. Vì vậy, chúng ta không cần dừng lại ở đây để xem xét nó dài hơn nữa.

We might sum up the matter in terms of the Old Commentary from which source H. P. B. quoted so often:

Chúng ta có thể tóm lược vấn đề bằng những thuật ngữ của Cổ Luận, nguồn mà H. P. B. đã trích dẫn rất thường xuyên:

“The Blessed Ones hide Their threefold nature, but reveal Their triple essence by means of the three great groups of atoms. Three are the atoms, and threefold the radiation. The inner core of fire hides itself and is known only through radiation and that which radiates. Only after the blaze dies out and the heat is no longer felt can the fire be known.”

“Các Đấng Chân Phúc che giấu bản chất tam phân của Các Ngài, nhưng mặc khải tinh túy bộ ba của Các Ngài qua ba nhóm nguyên tử lớn. Có ba nguyên tử, và bức xạ cũng tam phân. Lõi lửa bên trong tự che giấu và chỉ được biết qua bức xạ và cái đang bức xạ. Chỉ sau khi ngọn lửa bùng cháy tắt đi và sức nóng không còn được cảm thấy nữa thì lửa mới có thể được biết.”

S5S8

We can now resume our consideration of the mystery of the mental unit, and note wherein it differs from the other permanent atoms; we might then briefly summarise a mass of esoteric information anent the permanent atoms, which will suffice for many years to come as the basis of investigation for occult students. The permanent atoms, and their internal economy, will remain a mystery for a long time, and only a few general indications can here be given.

Giờ đây chúng ta có thể tiếp tục việc xem xét huyền nhiệm của đơn vị hạ trí, và lưu ý nó khác với các nguyên tử trường tồn khác ở điểm nào; rồi sau đó chúng ta có thể tóm lược ngắn gọn một khối lượng thông tin huyền bí liên quan đến các nguyên tử trường tồn, điều sẽ đủ làm nền tảng nghiên cứu cho các đạo sinh huyền bí học trong nhiều năm tới. Các nguyên tử trường tồn, và cơ cấu nội tại của chúng, sẽ còn là một huyền nhiệm trong một thời gian dài, và ở đây chỉ có thể đưa ra một vài chỉ dẫn tổng quát.

The fundamental difference between the mental unit and the other two atoms consists in the fact that it contains only four spirillae instead of seven. This is brought about by the very facts of evolution itself, for the mental unit is the first aspect of the personality triad, or of man functioning, in the human kingdom on the three lower planes. At his transference into the spiritual kingdom, these three aspects—the mental body, the astral body, and the physical body—are synthesised into the higher by a dual process:

Sự khác biệt căn bản giữa đơn vị hạ trí và hai nguyên tử kia nằm ở chỗ nó chỉ chứa bốn loa tuyến thay vì bảy. Điều này được tạo ra bởi chính các sự kiện của tiến hoá, vì đơn vị hạ trí là phương diện thứ nhất của tam nguyên phàm ngã, hay của con người đang hoạt động trong giới nhân loại trên ba cõi thấp. Khi y chuyển dịch vào giới tinh thần, ba phương diện này—thể trí, thể cảm dục, và thể xác—được tổng hợp vào cái cao hơn bằng một tiến trình kép:

1. His polarisation shifts from out of the lower three atoms into the Triadal atoms.

1. Sự phân cực của y chuyển ra khỏi ba nguyên tử thấp để đi vào các nguyên tử của Tam nguyên tinh thần.

2. The force which these atoms generate and embody is merged and blended into the higher force points.

2. Mãnh lực mà các nguyên tử này tạo ra và thể hiện được hòa nhập và dung hợp vào các điểm mãnh lực cao hơn.

[Page 527] A permanent atom is the positive nucleus or germ substance to the sheath wherein it is found. It is that which is the basis of form-building, and it is literally a vibrant point of force, emanating from the second aspect of the Monad, which aggregates to itself, and subsequently builds into form, the negative or third aspect. But it must here be remembered that this second aspect is itself dual, and that in considering the permanent atoms we are dealing with the feminine aspect of the second Person. The spirillae therefore are but streams of force, or second aspect vitality which circulates geometrically within the circumscribing wall of substance, composed of third aspect force or substance. What has been said of objectivity, or of the cosmic atom can be equally well predicated of the permanent atom of man the microcosm:

[Page 527] Một nguyên tử trường tồn là hạt nhân dương hay chất liệu mầm mống đối với lớp vỏ mà trong đó nó được tìm thấy. Nó là cái làm nền tảng cho việc xây dựng hình tướng, và theo nghĩa đen là một điểm mãnh lực rung động, phát ra từ phương diện thứ hai của chân thần, tự tập hợp quanh mình, rồi sau đó xây dựng thành hình tướng, phương diện âm hay phương diện thứ ba. Nhưng ở đây cần nhớ rằng phương diện thứ hai này tự nó là nhị phân, và khi xem xét các nguyên tử trường tồn, chúng ta đang xử lý phương diện nữ tính của Ngôi thứ hai. Vì vậy, các loa tuyến chỉ là những dòng mãnh lực, hay sinh lực của phương diện thứ hai lưu chuyển theo hình học bên trong bức tường bao quanh của chất liệu, vốn được cấu thành bởi mãnh lực hay chất liệu của phương diện thứ ba. Điều đã được nói về tính khách quan, hay về nguyên tử vũ trụ, cũng có thể được khẳng định tương tự về nguyên tử trường tồn của con người, tiểu thiên địa:

“The primordial ray is the vehicle of the divine Ray.” (S.D., I, 108) Negative force forms a receptacle for positive force. Atoms are but force centres, and the centres as we know of them are but aggregates of force points which have reached a specific point in evolution, and are responding to the first great aspect in some degree, or to electric fire.

“Tia nguyên sơ là vận cụ của Tia thiêng liêng.” (S.D., I, 108) Mãnh lực âm tạo thành một vật chứa cho mãnh lực dương. Các nguyên tử chỉ là những trung tâm mãnh lực, và các trung tâm như chúng ta biết chỉ là những tập hợp của các điểm mãnh lực đã đạt đến một điểm tiến hoá nhất định, và đang đáp ứng ở một mức độ nào đó với phương diện lớn thứ nhất, hay với Lửa Điện.

This sentence, is one to be seriously pondered, for it holds hid much information for the student, and when duly comprehended will result in the light of knowledge being shed upon the problems of manifestation. It concerns the secret of the position of the different kingdoms of nature within the logoic body, and their place and part, for all depends upon the type of force which animates, upon the interplay of that force in substance, upon the dual, triple, or united aspect of force, and upon its septenary demonstration in form-building.

Câu này là điều cần được suy ngẫm nghiêm túc, vì nó ẩn chứa nhiều thông tin cho đạo sinh, và khi được thấu hiểu đúng mức sẽ khiến ánh sáng tri thức được rọi vào các vấn đề của sự biểu hiện. Nó liên quan đến bí mật về vị trí của các giới khác nhau trong thiên nhiên bên trong thể của Thượng đế, và vị trí cùng vai trò của chúng, vì mọi sự đều tùy thuộc vào loại mãnh lực đang tiếp sinh lực, vào sự tương tác của mãnh lực đó trong chất liệu, vào phương diện nhị phân, tam phân hay hợp nhất của mãnh lực, và vào sự biểu lộ thất phân của nó trong việc xây dựng hình tướng.

Every atom is a focal point of force, the force of substance itself, the life or vitality of the third aspect, the [Page 528] life of that cosmic Entity Who is to the Logos the negative aspect of electricity.

Mỗi nguyên tử là một tiêu điểm của mãnh lực, mãnh lực của chính chất liệu, sự sống hay sinh lực của phương diện thứ ba, sự [Page 528] sống của Thực Thể vũ trụ mà đối với Thượng đế là phương diện âm của điện.

Every form (173) and aggregate of atoms, is simply a force centre produced by the action of positive force and its interaction with negative energy. It is the vitality of the second aspect working in conjunction with the third, and producing—in time and space—that illusion or maya which temporarily blazes forth, and attracts attention, creating the impression that matter is a concrete something. There is no such thing as concretion in reality; [Page 529] there is only force of different kinds, and the effect produced on consciousness by their interplay.

Mỗi hình tướng (173) và tập hợp các nguyên tử chỉ đơn giản là một trung tâm mãnh lực được tạo ra bởi tác động của mãnh lực dương và sự tương tác của nó với năng lượng âm. Đó là sinh lực của phương diện thứ hai hoạt động cùng với phương diện thứ ba, và tạo ra—trong thời gian và không gian—ảo tưởng hay ảo lực tạm thời bừng sáng, thu hút sự chú ý, tạo nên ấn tượng rằng vật chất là một cái gì đó cụ thể. Thực tại không hề có cái gọi là sự đông đặc; [Page 529] chỉ có mãnh lực thuộc những loại khác nhau, và hiệu quả được tạo ra trên tâm thức bởi sự tương tác của chúng.

(173) Forms.

(173) Các hình tướng.

1. Divine ideation passes from the abstract to the concrete or visible form.

1. Ý niệm thiêng liêng chuyển từ trừu tượng sang hình tướng cụ thể hay hữu hình.

a. The objective is an emanation of the subjective.—S. D., I, 407.

a. Cái khách quan là một phát xạ của cái chủ quan.—S. D., I, 407.

b. Impulse is spirit energy causing objectivity.—S. D., I, 349; S. D., I, 683.

b. Xung lực là năng lượng tinh thần gây ra tính khách quan.—S. D., I, 349; S. D., I, 683.

c. The Logos renders objective a concealed thought.—S. D., II, 28.

c. Thượng đế làm cho một tư tưởng ẩn kín trở nên khách quan.—S. D., II, 28.

2. Three things required before any form of energy can become objective.—S. D., I, 89.

2. Cần có ba điều trước khi bất kỳ hình thức năng lượng nào có thể trở nên khách quan.—S. D., I, 89.

1. Privation... .. Separation. Initial impulse. Energy. Will.

1. Sự thiếu vắng..... Sự tách biệt. Xung lực ban đầu. Năng lượng. Ý chí.

2. Form... Quality or shape. Nature. Love.

2. Hình tướng... Phẩm tính hay hình dạng. Bản chất. Bác ái.

3. Matter... Objective sphere. Intelligent activity.

3. Vật chất... Khối cầu khách quan. Hoạt động thông minh.

See S. D., III, 561.

Xem S. D., III, 561.

3. Life precedes form.--S. D., I, 242.

3. Sự sống có trước hình tướng.--S. D., I, 242.

a. The Thinker ever remains.—S. D., II, 28.

a. Đấng Tư Tưởng vẫn luôn tồn tại.—S. D., II, 28.

b. Force of life is the transformation into energy of the thought of the Logos.—See S. D., III, 179.

b. Mãnh lực của sự sống là sự chuyển đổi thành năng lượng của tư tưởng của Thượng đế.—Xem S. D., III, 179.

4. Spirit evolves through form and out of form.--S. D., I, 680.

4. Tinh thần tiến hoá qua hình tướng và ra khỏi hình tướng.--S. D., I, 680.

a. Spirit has to acquire full self-consciousness.—S. D., I, 215.

a. Tinh thần phải đạt được ngã thức trọn vẹn.—S. D., I, 215.

b. Form imprisons spirit.—S. D., II, 775.

b. Hình tướng giam cầm tinh thần.—S. D., II, 775.

c. The principle of limitation is form.—S. D., III, 561.

c. Nguyên khí của sự giới hạn là hình tướng.—S. D., III, 561.

d. Spirit informs all sheaths.—S. D., I, 669 note.

d. Tinh thần thấm nhuần mọi lớp vỏ.—S. D., I, 669 note.

e. Spirit passes through the cycle of Being.—S. D., I, 160.

e. Tinh thần đi qua chu kỳ của Bản Thể.—S. D., I, 160.

5. The devas are the origin of form.--S. D., I, 488.

5. Các thiên thần là nguồn gốc của hình tướng.--S. D., I, 488.

They exist in two great groups:

Các vị tồn tại trong hai nhóm lớn:

a. The Ahhi are the vehicle of divine thought.—S. D., I, 70.

a. Các Ahhi là vận cụ của tư tưởng thiêng liêng.—S. D., I, 70.

b. The Army of the Voice.—S. D., I, 124.

b. Đạo Quân của Tiếng Nói.—S. D., I, 124.

They are the sum-total of the substance of the four higher planes and of the three lower.

Các vị là tổng thể của chất liệu của bốn cõi cao và của ba cõi thấp.

6. There is a form which combines all forms.—S. D., I, 118.

6. Có một hình tướng kết hợp mọi hình tướng.—S. D., I, 118.

See S. D., I, 77.

Xem S. D., I, 77.

This Form is the sum-total of all that is manifested, or the entire solar sphere or system. This contains:

Hình Tướng này là tổng thể của mọi cái được biểu hiện, hay toàn bộ khối cầu thái dương hoặc hệ thống. Nó bao gồm:

a. The ten planetary schemes and all that is therein.

a. Mười hệ hành tinh và mọi thứ trong đó.

b. All the lesser interplanetary bodies.

b. Mọi thiên thể liên hành tinh nhỏ hơn.

c. The deva and human evolutions.

c. Các tiến hoá thiên thần và nhân loại.

d. The kingdoms of nature everywhere.

d. Các giới trong thiên nhiên ở khắp nơi.

e. The involutionary and evolutionary Gods.

e. Các Thượng đế giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá.

f. Every atom of substance on every plane.

f. Mọi nguyên tử chất liệu trên mọi cõi.

7. All forms are destroyed periodically.

7. Mọi hình tướng đều bị hủy diệt theo chu kỳ.

Read carefully S. D., I, 397-401. (back)

Hãy đọc cẩn thận S. D., I, 397-401. (back)

Back of all forms and of all substances (as yet but little contacted and realised) lies a third type of force, which utilises these two other factors to produce eventual harmony, and which is itself on its own plane the sumtotal of the second. It can be called:

Đằng sau mọi hình tướng và mọi chất liệu (cho đến nay mới chỉ được tiếp xúc và chứng nghiệm rất ít) có một loại mãnh lực thứ ba, sử dụng hai yếu tố kia để tạo ra sự hài hòa rốt ráo, và chính nó trên cõi riêng của nó là tổng thể của phương diện thứ hai. Nó có thể được gọi là:

a. The one synthesising Life.

a. Sự sống tổng hợp duy nhất.

b. Electric fire.

b. Lửa Điện.

c. The point of equilibrium.

c. Điểm quân bình.

d. Unity or harmony.

d. Hợp nhất hay hài hòa.

e. Pure Spirit.

e. Tinh thần thuần túy.

f. Dynamic Will.

f. Ý Chí năng động.

g. Existence.

g. Sự tồn tại.

It is a Force, working through a dual manifestation of differentiated force, through the energy of matter, the coherency of forms, through force centres, and force points. It is FOHAT in triple demonstration, of which the final or third is as yet unknown and inconceivable.

Đó là một Mãnh lực, hoạt động qua một biểu hiện nhị phân của mãnh lực biến phân, qua năng lượng của vật chất, sự kết dính của các hình tướng, qua các trung tâm mãnh lực, và các điểm mãnh lực. Đó là FOHAT trong sự biểu lộ bộ ba, mà biểu lộ cuối cùng hay thứ ba của nó hiện vẫn chưa được biết và không thể quan niệm được.

This brings me to the consideration of the fact earlier stated that the mental unit possesses but four of the streams of force. Each of the streams of force in the permanent atoms vibrates to the note of a particular subplane, and serves as the medium for the vitalisation of the matter of the subplane, which is built into any particular body around a permanent atom. It is the force of the Heavenly Man as it animates the cells of His form, and holds them as a coherent unity. Here it must be remembered that, from the point of view of the microcosm, the aspect of pure Spirit or of Electric Fire remains in this solar system as an abstraction. A man can attain group consciousness; he can vibrate to the note of the Heavenly Man in Whose body he is a cell; he can demonstrate in relative perfection fire by friction and solar fire, but it remains for a later mahamanvantara to reveal [Page 530] the true nature of Spirit. Therefore in man, functioning in the human family, this fact is apparent and the correspondence to be seen. Until he passes out of the three worlds, and until he becomes a Master of the Wisdom, he has this truth concealed in these three aspects. The mental is not a septenary permanent atom, but only responds to four types of force, and not to the entire range of vibrations. Herein lies a reason for tolerance. Until a man is coming consciously under the control of the Ego and is beginning to sense the vibration of the manasic permanent atom, it is useless to expect him to respond to certain ideals, or to grasp certain aspects of truth. The mental unit suffices for his need, and no bridge exists between it and the manasic permanent atom.

Điều này đưa tôi đến việc xem xét sự kiện đã được nêu trước đây rằng đơn vị hạ trí chỉ sở hữu bốn dòng mãnh lực. Mỗi dòng mãnh lực trong các nguyên tử trường tồn rung động theo âm điệu của một cõi phụ nhất định, và phục vụ như trung gian cho việc tiếp sinh lực chất liệu của cõi phụ ấy, vốn được xây dựng vào bất kỳ thể nào quanh một nguyên tử trường tồn. Đó là mãnh lực của một Đấng Thiên Nhân khi nó tiếp sinh lực cho các tế bào của hình tướng của Ngài, và giữ chúng như một nhất thể kết dính. Ở đây cần nhớ rằng, từ quan điểm của tiểu thiên địa, phương diện của tinh thần thuần túy hay của Lửa Điện vẫn là một sự trừu tượng trong hệ mặt trời này. Con người có thể đạt đến tâm thức nhóm; y có thể rung động theo âm điệu của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài y là một tế bào; y có thể biểu lộ ở mức tương đối hoàn hảo Lửa ma sát và Lửa Thái dương, nhưng phải chờ đến một Đại giai kỳ sinh hóa sau này mới mặc khải [Page 530] bản chất thực sự của tinh thần. Vì vậy nơi con người, đang hoạt động trong gia đình nhân loại, sự kiện này là hiển nhiên và sự tương ứng có thể được thấy. Cho đến khi y vượt ra khỏi ba cõi giới, và cho đến khi y trở thành một Chân sư Minh Triết, chân lý này vẫn bị che giấu khỏi y trong ba phương diện ấy. Cái trí không phải là một nguyên tử trường tồn thất phân, mà chỉ đáp ứng với bốn loại mãnh lực, chứ không phải toàn bộ phạm vi rung động. Chính trong đó có một lý do cho sự khoan dung. Cho đến khi con người đang đi vào một cách hữu thức dưới sự kiểm soát của Chân ngã và bắt đầu cảm nhận rung động của nguyên tử trường tồn manas, thì thật vô ích khi mong đợi y đáp ứng với một số lý tưởng nhất định, hay nắm bắt một số phương diện nhất định của chân lý. Đơn vị hạ trí là đủ cho nhu cầu của y, và không có cây cầu nào tồn tại giữa nó với nguyên tử trường tồn manas.

Two and a half planes are concerned with the evolution of man, per se, in the fourth kingdom, and he only begins to transcend them as he nears the Path and treads it. From the standpoint of average man in physical incarnation, the egoic consciousness, within the causal periphery, is as abstract as is the Logos viewed as the Dweller within the system. These two and a half planes are of peculiar interest to the Logos, as they embody:

Hai cõi rưỡi liên quan đến sự tiến hoá của chính con người trong giới thứ tư, và y chỉ bắt đầu vượt lên trên chúng khi y đến gần Con Đường và bước đi trên đó. Từ quan điểm của con người trung bình đang lâm phàm trên cõi hồng trần, tâm thức chân ngã, bên trong chu vi nhân thể, cũng trừu tượng như Thượng đế khi được xem là Kẻ Chận Ngõ bên trong hệ thống. Hai cõi rưỡi này đặc biệt đáng quan tâm đối với Thượng đế, vì chúng thể hiện:

That which, for Him, lies below the threshold of consciousness.

Điều mà, đối với Ngài, nằm bên dưới ngưỡng tâm thức.

Those centres from which logoic kundalini is turning.

Những trung tâm mà từ đó kundalini của Thượng đế đang xoay chuyển.

That which is not considered a principle.

Điều không được xem là một nguyên khí.

That which is gradually passing into obscuration.

Điều đang dần dần đi vào sự lu mờ.

It is impossible to enlarge further upon this mystery.

Không thể khai triển thêm về huyền nhiệm này.

4. Summary.

4. Tóm lược.

Before proceeding further, however, it might be well to sum up some of the facts anent the spirillae and the atom, and then we can take up the subject of the causal body and man, the individual. [Page 531]

Tuy nhiên, trước khi đi xa hơn, có lẽ nên tóm lược một số sự kiện liên quan đến các loa tuyến và nguyên tử, rồi sau đó chúng ta có thể bàn đến chủ đề thể nguyên nhân và con người, cá thể. [Page 531]

1. The four lower spirillae are definitely under the influence of the personality Ray.

1. Bốn loa tuyến thấp chắc chắn nằm dưới ảnh hưởng của cung phàm ngã.

2. The fifth and sixth spirillae are more specifically under the egoic Ray, whatever that Ray may be.

2. Loa tuyến thứ năm và thứ sáu đặc biệt nằm dưới cung chân ngã, bất kể cung ấy là cung nào.

3. The fifth spirilla has a peculiar value inasmuch as it synthesises the lower four. It is the third when counting the streams of spiral force from the standpoint of the atomic pole. It vibrates to five types of force.

3. Loa tuyến thứ năm có một giá trị đặc biệt vì nó tổng hợp bốn loa tuyến thấp. Nó là loa tuyến thứ ba khi đếm các dòng mãnh lực xoắn ốc từ quan điểm của cực nguyên tử. Nó rung động với năm loại mãnh lực.

4. The spirillae are literally ten in number, three major and seven minor. But from the unity point of view, they are the four and the major three, the remaining lesser three being counted as one with their major, inasmuch as they are direct reflections.

4. Các loa tuyến theo nghĩa đen có số lượng là mười, ba lớn và bảy nhỏ. Nhưng từ quan điểm nhất thể, chúng là bốn và ba lớn, ba nhỏ còn lại được tính là một với cái lớn của chúng, vì chúng là những phản chiếu trực tiếp.

5. The permanent atoms are not heart-shaped as portrayed in certain books. A certain number of atoms are of that type but they are not the permanent atoms which are more definitely spheroidal and are slightly flattened at the top, where the correspondence to the polar depression may be found, and equally flattened at the under surface.

5. Các nguyên tử trường tồn không có hình trái tim như được mô tả trong một số sách. Một số nguyên tử thuộc loại đó nhưng chúng không phải là các nguyên tử trường tồn, vốn có hình cầu rõ rệt hơn và hơi dẹt ở phía trên, nơi có thể tìm thấy sự tương ứng với chỗ lõm cực, và cũng dẹt tương tự ở mặt dưới.

6. The arrangement of the spirillae within the permanent atoms varies on each plane and the ones most frequently described are those of the physical plane. The arrangement of these tiny force vortices and their internal economy on each plane is one of the secrets of initiation and may not be revealed. One hint only may be given to guide the student: The astral permanent atom has its internal streams of force arranged so that the spirals do approach quite closely the conformation of a heart, though the pointed end is eliminated. The buddhic permanent atom has its spirillae arranged so as to form approximately a figure eight with a central stream bisecting the double spiral.

6. Sự sắp xếp của các loa tuyến bên trong các nguyên tử trường tồn thay đổi trên mỗi cõi và những kiểu được mô tả thường xuyên nhất là của cõi hồng trần. Sự sắp xếp của các xoáy mãnh lực cực nhỏ này và cơ cấu nội tại của chúng trên mỗi cõi là một trong những bí mật của điểm đạo và không thể được tiết lộ. Chỉ có thể đưa ra một gợi ý để hướng dẫn đạo sinh: nguyên tử trường tồn cảm dục có các dòng mãnh lực nội tại được sắp xếp sao cho các vòng xoắn khá gần với hình dạng của một trái tim, dù đầu nhọn đã bị loại bỏ. Nguyên tử trường tồn Bồ đề có các loa tuyến được sắp xếp để tạo thành gần đúng hình số tám với một dòng trung tâm chia đôi vòng xoắn kép.

7. The closer the approach to reality the simpler will be found the arrangement of the spirilla. These streams of force show a septenary arrangement in the [Page 532] lower three permanent atoms of man, while the higher three contain but three spirillae—the major three.

7. Càng đến gần thực tại thì sự sắp xếp của các loa tuyến sẽ càng được thấy là đơn giản hơn. Các dòng mãnh lực này cho thấy một sự sắp xếp thất phân trong [Page 532] ba nguyên tử trường tồn thấp của con người, trong khi ba nguyên tử cao chỉ chứa ba loa tuyến—ba loa tuyến lớn.

8. It should be noted that there are but six permanent atoms connected with human evolution, while a Heavenly Man has but five, and even then only one in the solar system. (The mystery of a planet and its central life has not yet been revealed. It is connected with another manifestation of which as yet nought is known.)

8. Cần lưu ý rằng chỉ có sáu nguyên tử trường tồn liên hệ với sự tiến hoá của con người, trong khi một Đấng Thiên Nhân chỉ có năm, và ngay cả như vậy cũng chỉ có một trong hệ mặt trời. (Huyền nhiệm của một hành tinh và sự sống trung tâm của nó vẫn chưa được mặc khải. Nó liên hệ với một biểu hiện khác mà hiện nay chưa biết gì cả.)

9. It should be remembered that we are dealing with a physical incarnation of these great Entities and that Their permanent atoms, with the exception of the physical, are extra-systemic.

9. Cần nhớ rằng chúng ta đang xử lý một sự nhập thể hồng trần của các Thực Thể vĩ đại này và các nguyên tử trường tồn của Các Ngài, ngoại trừ nguyên tử hồng trần, đều ở ngoài hệ thống.

10. The causal body of the Heavenly Men is upon the third subplane of the cosmic mental plane, while that of the solar Logos and those of the three Persons of the logoic Trinity are upon the first subplane.

10. Thể nguyên nhân của các Đấng Thiên Nhân ở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ, trong khi thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế và của Ba Ngôi của Ba Ngôi Thượng đế ở trên cõi phụ thứ nhất.

11. The permanent atoms of men are upon the atomic subplane of each plane, with the one exception of the mental unit. Those of the animal groups are upon the second subplane; those of the vegetable groups are upon the third subplane; those of the mineral groups are upon the fourth subplane. There is, therefore, a close analogy between these focal points of force of the group—human or otherwise—and a chain, a globe, and a round, and in their due application comes enlightenment. The sumtotal of the permanent atoms of any particular kingdom form the streams of force or spirillae in the greater atoms of solar entities or of lunar entities, while the sumtotal of the permanent atoms of man in the spiritual kingdom (the three triadal atoms, atma-buddhi-manas) form the spiral streams of force within certain centres.

11. Các nguyên tử trường tồn của con người ở trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi, chỉ trừ đơn vị hạ trí. Các nguyên tử của các nhóm động vật ở trên cõi phụ thứ hai; của các nhóm thực vật ở trên cõi phụ thứ ba; của các nhóm khoáng vật ở trên cõi phụ thứ tư. Do đó có một sự tương đồng chặt chẽ giữa các tiêu điểm mãnh lực này của nhóm—nhân loại hay khác—với một dãy, một bầu hành tinh, và một cuộc tuần hoàn, và trong sự áp dụng đúng đắn của chúng có giác ngộ. Tổng thể các nguyên tử trường tồn của bất kỳ giới nào tạo thành các dòng mãnh lực hay các loa tuyến trong các nguyên tử lớn hơn của các thực thể thái dương hay các thực thể thái âm, trong khi tổng thể các nguyên tử trường tồn của con người trong giới tinh thần (ba nguyên tử tam nguyên tinh thần, atma-buddhi-manas) tạo thành các dòng mãnh lực xoắn ốc bên trong một số trung tâm nhất định.

12. As the permanent atoms become radioactive in due course of evolution, the result within the centre is a marked increase of vibration.

12. Khi các nguyên tử trường tồn trở nên phóng xạ theo tiến trình tiến hoá, kết quả bên trong trung tâm là một sự gia tăng rung động rõ rệt.

13. The permanent atoms concern solar entities when they are found on or above the higher mental. They [Page 533] concern lunar entities on the lower mental, the astral and the physical planes.

13. Các nguyên tử trường tồn liên quan đến các thực thể thái dương khi chúng được tìm thấy trên hay bên trên cõi thượng trí. Chúng [Page 533] liên quan đến các thực thể thái âm trên cõi hạ trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần.

14. It should be noted that in this solar system the following entities manifest through:

14. Cần lưu ý rằng trong hệ mặt trời này các thực thể sau đây biểu lộ qua:

I. One permanent atom... the physical.

I. Một nguyên tử trường tồn... nguyên tử hồng trần.

1. A solar Logos.

1. Một Thái dương Thượng đế.

2. The three major Rays, or Lords of Aspect.

2. Ba Cung lớn, hay các Đấng Chúa Tể của Các Cung Trạng Thái.

3. The seven Heavenly Men.

3. Bảy Đấng Thiên Nhân.

4. The forty-nine Regents of the planetary chains.

4. Bốn mươi chín Đấng Nhiếp Chính của các dãy hành tinh.

II. Two permanent atoms... the physical and the astral.

II. Hai nguyên tử trường tồn... nguyên tử hồng trần và cảm dục.

1. The seven Lords of the globes in every chain.

1. Bảy Chúa Tể của các bầu hành tinh trong mỗi dãy.

2. The forty-nine Root Manus.

2. Bốn mươi chín Đức Manu gốc.

3. The seventy-seven Embodiers of form—a group of solar Lords Who are concerned with form building, working primarily on the first ray.

3. Bảy mươi bảy Đấng Hiện Thân của hình tướng—một nhóm các Chúa Tể thái dương liên quan đến việc xây dựng hình tướng, hoạt động chủ yếu trên Cung một.

4. Certain of the Avatars, Who are selected by the Logos to carry a certain type of force at stated intervals and thus further the evolution of the psyche.

4. Một số Đấng Hoá Thân, được Thượng đế chọn để mang một loại mãnh lực nhất định vào những khoảng thời gian đã định và do đó thúc đẩy sự tiến hoá của psyche.

III. Three permanent atoms... physical, astral, and mental.

III. Ba nguyên tử trường tồn... hồng trần, cảm dục, và trí tuệ.

1. The Lords of the third Kingdom, the animal. They are seven Entities whose bodies are made up of animal souls just as the Heavenly Men embody for man the Buddhic principle, so these lords embody for the animal kingdom the manasic principle, which is the goal of the evolutionary process for them.

1. Các Chúa Tể của giới thứ ba, giới động vật. Các Ngài là bảy Thực Thể mà các thể của Các Ngài được cấu thành bởi các hồn nhóm động vật, cũng như các Đấng Thiên Nhân thể hiện nguyên khí Bồ đề cho con người, thì các chúa tể này thể hiện nguyên khí manas cho giới động vật, vốn là mục tiêu của tiến trình tiến hoá đối với chúng.

2. Certain great entities who embody a whole range of existences upon five of the planets, of which the earth is not one, but who in due course of time will come to be recognised as having a powerful effect upon man on the earth, via the three Buddhas of Activity. A hint as to this esoteric influence comes to man in the close connection existing between the Earth and Mercury. As yet it is not possible to enlarge further.

2. Một số thực thể vĩ đại thể hiện toàn bộ một phạm vi các sự tồn tại trên năm hành tinh, trong đó Trái Đất không phải là một, nhưng đến đúng thời điểm sẽ được nhận biết là có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên con người trên Trái Đất, thông qua ba Đức Phật Hoạt Động. Một gợi ý về ảnh hưởng huyền bí này đến với con người qua mối liên hệ chặt chẽ hiện có giữa Trái Đất và Sao Thủy. Hiện chưa thể khai triển thêm.

3. The entities who are the sumtotal of those group souls who contain definite permanent triads. Nine triads constitute the body of one of these entities.

3. Các thực thể là tổng thể của những hồn nhóm chứa các tam nguyên trường tồn xác định. Chín tam nguyên cấu thành thể của một trong các thực thể này.

1V. Through four permanent atoms... physical, astral, mental and buddhic.

1V. Qua bốn nguyên tử trường tồn... hồng trần, cảm dục, trí tuệ và Bồ đề.

1. Eight groups of solar Entities Who form the subjective life of the seven centres in the body of Brahma, viewing Him as a separate cosmic Entity, [Page 534] dissociated from His two brothers. They are the seven Sons of Fohat, with the eighth Son included, and They are the final differentiation of the forty-nine fires, prior to Their union with the fire of Eros. Thus is it expressed by H. P. B. (S.D.,I, 139,144)

1. Tám nhóm Thực Thể thái dương tạo thành sự sống chủ quan của bảy trung tâm trong thể của Brahma, khi xem Ngài như một Thực Thể vũ trụ biệt lập, [Page 534] tách rời khỏi hai Huynh đệ của Ngài. Các Ngài là bảy Con của Fohat, kể cả Người Con thứ tám, và Các Ngài là sự biến phân cuối cùng của bốn mươi chín ngọn lửa, trước khi hợp nhất với lửa của Eros. H. P. B. đã diễn tả như vậy. (S.D.,I, 139,144)

2. That Entity Who works through the FORM of a planetary occult Hierarchy, using it as His body of manifestation, and regarding it as the centre through which His force can flow. It should be remembered that all such groups on every planet form a vehicle for the life of a great Individual Who gives to that Hierarchy its distinctive colouring and its unique keynote.

2. Thực Thể hoạt động qua HÌNH TƯỚNG của một Thánh đoàn huyền bí hành tinh, dùng nó như thể biểu hiện của Ngài, và xem nó như trung tâm mà qua đó mãnh lực của Ngài có thể tuôn chảy. Cần nhớ rằng mọi nhóm như vậy trên mỗi hành tinh đều tạo thành một vận cụ cho sự sống của một Cá Thể vĩ đại, Đấng ban cho Thánh đoàn ấy sắc thái đặc thù và chủ âm độc nhất của nó.

3. A number of solar Deities Who are the radiators of solar magnetism, and the life of form.

3. Một số Thượng đế thái dương là những Đấng bức xạ từ điện thái dương, và là sự sống của hình tướng.

4. A peculiar group of Beings connected with a certain constellation and the lesser Dragon, who have their habitat on Neptune and work with the sixth principle in the solar system. They take physical form, animated by purified desire, controlled by mind, and are the dispensers of love-wisdom by means of certain of the “Halls of Wisdom” on the various planets. The words “Halls of Wisdom” in their esoteric significance describe a stage of consciousness not a location.

4. Một nhóm Hữu Thể đặc biệt liên hệ với một chòm sao nhất định và Tiểu Long, có nơi cư ngụ trên Sao Hải Vương và hoạt động với nguyên khí thứ sáu trong hệ mặt trời. Các vị mang hình thể hồng trần, được tiếp sinh lực bởi dục vọng đã được thanh lọc, được trí tuệ kiểm soát, và là những Đấng phân phối Bác Ái – Minh Triết qua một số “Phòng Minh triết” trên các hành tinh khác nhau. Các từ “Phòng Minh triết” trong ý nghĩa huyền bí của chúng mô tả một giai đoạn tâm thức chứ không phải một địa điểm.

V. Through five permanent atoms... physical, astral, mental, buddhic and atmic.

V. Qua năm nguyên tử trường tồn... hồng trần, cảm dục, trí tuệ, Bồ đề và atma.

1. The Lords of certain subplanes who work under the Raja-Lord of a plane and who are themselves vibration and activity.

1. Các Chúa Tể của một số cõi phụ, hoạt động dưới quyền Chúa Tể Raja của một cõi và chính các Ngài là rung động và hoạt động.

2. The lesser Heavenly Men on the buddhic level, Who reflect Their higher prototypes on the second plane of the system.

2. Các Đấng Thiên Nhân nhỏ hơn trên cấp độ Bồ đề, phản chiếu các nguyên mẫu cao hơn của Các Ngài trên cõi thứ hai của hệ thống.

3. The entities who are the sum-total of group consciousness on egoic levels, remembering that these groups are differentiated and are formed of aggregates of seven, until there are formed forty-nine groups of seven egoic vehicles forming one group which is the body of this lesser solar Deity. There is a multiplicity of these groups of forty-nine. This has been somewhat stated before when it has been [Page 535] announced that a Master with His particular band of disciples and initiates form a group or force centre. These groups have their permanent atoms as do all lives seeking objective expression.

3. Các thực thể là tổng thể của tâm thức nhóm trên các cấp độ chân ngã, nhớ rằng các nhóm này được biến phân và được tạo thành từ những tập hợp bảy, cho đến khi hình thành bốn mươi chín nhóm bảy vận cụ chân ngã tạo thành một nhóm là thể của vị Thượng đế thái dương nhỏ hơn này. Có rất nhiều nhóm bốn mươi chín như vậy. Điều này đã phần nào được nói đến trước đây khi đã [Page 535] công bố rằng một Chân sư cùng nhóm đệ tử và điểm đạo đồ đặc thù của Ngài tạo thành một nhóm hay trung tâm mãnh lực. Các nhóm này có các nguyên tử trường tồn của chúng cũng như mọi sự sống đang tìm kiếm sự biểu lộ khách quan.

4. The entities who are the sumtotal of the vegetable kingdom in its diversity of manifestation in different globes, chains and schemes.

4. Các thực thể là tổng thể của giới thực vật trong tính đa dạng biểu hiện của nó trên các bầu hành tinh, các Dãy và các hệ hành tinh khác nhau.

VI. Through six permanent atoms... physical, astral, two mental, buddhic and atmic.

VI. Qua sáu nguyên tử trường tồn... hồng trần, cảm dục, hai trí tuệ, Bồ đề và atma.

MAN.

CON NGƯỜI.

All that is here stated is an enlargement of the data given about the “Army of the Voice,” (S.D., I, 121) and an endeavour to show that many diverse lives (all embodying lesser lives, or embodied in greater ones themselves) are to be found within the various schemes. We have dealt only with those likewise which are superhuman or human, with those who have been or are MEN. We have not dealt with the subhuman, or with the lunar lords or lesser pitris, for their day is not yet, and they progress as the tide of evolution progresses, unconsciously and not self-consciously. We have dealt with these entities and their permanent atoms in connection with their manifestation in a solar system, and have not carried it beyond the solar ring-pass-not. All the permanent atoms concern physical matter and manifestation. The highest permanent atom of man, the atmic, is, after all, an atom of the third cosmic ether, and this should be pondered upon and studied. We have considered these various personalities (and the word ‘personality’ is chosen deliberately, for what are They but personalities, or Beings, in physical incarnation?) from the standpoint of Their lowest force point first. We have discussed the permanent atom as a point of contact with the force of a plane, of a planet, of a chain, of a scheme, or of a system. This should ever be borne in mind.

Tất cả những gì được trình bày ở đây là sự khai triển rộng hơn các dữ kiện đã được nêu về “Đạo quân của Tiếng Nói,” (S.D., I, 121) và là một nỗ lực nhằm chỉ ra rằng nhiều sự sống đa dạng (tất cả đều hiện thân cho các sự sống nhỏ hơn, hoặc chính chúng lại được hiện thân trong các sự sống lớn hơn) có thể được tìm thấy trong các hệ hành tinh khác nhau. Chúng ta chỉ bàn đến những vị cũng là siêu nhân loại hoặc nhân loại, những vị đã từng là hoặc đang là CON NGƯỜI. Chúng ta không bàn đến giới dưới nhân loại, cũng không bàn đến các nguyệt tinh quân hay các thái âm tổ phụ thấp hơn, vì ngày của họ chưa đến, và họ tiến triển khi thủy triều tiến hoá tiến triển, một cách vô thức chứ không phải bằng ngã thức. Chúng ta đã bàn đến các thực thể này và các nguyên tử trường tồn của họ trong liên hệ với sự biểu hiện của họ trong một hệ mặt trời, và không vượt ra ngoài vòng-giới-hạn thái dương. Tất cả các nguyên tử trường tồn đều liên quan đến vật chất hồng trần và sự biểu hiện. Nguyên tử trường tồn cao nhất của con người, nguyên tử atma, rốt cuộc vẫn là một nguyên tử của dĩ thái vũ trụ thứ ba, và điều này cần được suy ngẫm và nghiên cứu. Chúng ta đã xem xét các phàm ngã khác nhau này (và từ ‘phàm ngã’ được chọn một cách có chủ ý, vì Các Ngài là gì nếu không phải là các phàm ngã, hay các Hữu thể, đang lâm phàm hồng trần?) trước hết từ quan điểm của điểm mãnh lực thấp nhất của Các Ngài. Chúng ta đã bàn về nguyên tử trường tồn như một điểm tiếp xúc với mãnh lực của một cõi, của một hành tinh, của một Dãy, của một hệ hành tinh, hay của một hệ thống. Điều này phải luôn luôn được ghi nhớ.

It is to be recognised that much that is written above [Page 536] may seem incomprehensible, but when scientists come to understand and regulate force, that which is written here will become plainer; it will be seen that we have dealt with the positive force in all negative forms above, and including the human kingdom.

Cần nhận ra rằng nhiều điều được viết ở trên [Page 536] có thể dường như khó hiểu, nhưng khi các nhà khoa học đi đến chỗ thấu hiểu và điều chỉnh được mãnh lực, thì những gì được viết ở đây sẽ trở nên sáng tỏ hơn; người ta sẽ thấy rằng chúng ta đã bàn đến mãnh lực dương trong mọi hình tướng âm ở trên và bao gồm cả giới nhân loại.

S5S9

III. THE EGOIC LOTUS — III. HOA SEN CHÂN NGÃ

(176)

(176)

(176) The Egoic Lotus “...the laws of karma are adjusted, the clue being found in the mastery of the sixteen rays of the Ego, for which sixteen rays sixteen mantras or words are given, the real pronunciation being however reserved for initiates only.”—Kali Upanishad.

(176) Hoa Sen Chân Ngã “...các định luật nghiệp quả được điều chỉnh, đầu mối được tìm thấy trong sự làm chủ mười sáu cung của chân ngã, mà tương ứng với mười sáu cung ấy là mười sáu mantram hay linh từ, tuy nhiên cách phát âm thực sự chỉ dành riêng cho các điểm đạo đồ.”—Kali Upanishad.

“The mystery of the sixteen rays of the Ego will be revealed when the force of the Sacred Tetraktys is merged with that of the Holy Twelve.”—The Old Commentary.

“Bí nhiệm của mười sáu cung của chân ngã sẽ được mặc khải khi mãnh lực của Tetraktys Thiêng Liêng được hòa nhập với mãnh lực của Mười Hai Thiêng Liêng.”—Cổ Luận.

The Primordial is the Ray and the direct emanation of the first Sacred Four.—S. D., I, 115, 116.

Đấng Nguyên Sơ là Cung và là sự phát xạ trực tiếp của Bốn Đấng Thiêng Liêng đầu tiên.—S. D., I, 115, 116.

The Sacred Four are:—

Bốn Đấng Thiêng Liêng là:—

Father... Spirit. Existence. Unity.

Cha... Tinh thần. Hiện hữu. Hợp nhất.

The Son... Soul. Love-Wisdom. Duality.

Con... Linh hồn. Bác Ái – Minh Triết. Nhị nguyên tính.

Mother... Matter. The trinity.

Mẹ... Vật chất. Bộ ba.

and their united manifestation making

và sự biểu hiện hợp nhất của các Ngài tạo thành

The active evolving solar system, the logoic ring-pass-not.

Hệ mặt trời hoạt động đang tiến hoá, vòng-giới-hạn logoic.

This is the Macrocosm. (back)

Đây là Đại thiên địa. (trở lại)

We must now deal with the subject of the causal body on its own plane from the point of view of FIRE. We have studied it briefly from the more ordinary angle, and in materialistic terms, considering it as a vehicle of rarefied substance, containing within itself the seventh principle of each of the two lower sheaths of the microcosm, and the mental unit. This latter is that which embodies the first aspect in manifestation, and which is analogous to the first logoic aspect—one that in this solar system does not come to full demonstration.

Giờ đây chúng ta phải bàn đến chủ đề thể nguyên nhân trên chính cõi của nó từ quan điểm của LỬA. Chúng ta đã nghiên cứu nó một cách ngắn gọn từ góc độ thông thường hơn, và bằng các thuật ngữ duy vật, xem nó như một vận cụ của chất liệu tinh luyện, chứa trong chính nó nguyên khí thứ bảy của mỗi một trong hai vỏ bọc thấp của tiểu thiên địa, cùng với đơn vị hạ trí. Chính cái sau này là cái hiện thân cho phương diện thứ nhất trong biểu hiện, và là tương đồng với phương diện logoic thứ nhất—một phương diện trong hệ mặt trời này không đi đến chỗ biểu lộ trọn vẹn.

I would like to point out here that in studying the solar system as the physical manifestation of a solar Logos, we are investigating:

Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng khi nghiên cứu hệ mặt trời như biểu hiện hồng trần của một Thái dương Thượng đế, chúng ta đang khảo cứu:

a. The physical permanent atom of a solar Logos as contained within the logoic causal body on its own plane.

a. Nguyên tử trường tồn hồng trần của một Thái dương Thượng đế như được chứa trong thể nguyên nhân logoic trên chính cõi của nó.

b. The seven types of force, or the seven logoic spirillae within that permanent atom. This, if realised, [Page 537] gives a new outlook upon the subject of plane vibration.

b. Bảy loại mãnh lực, hay bảy loa tuyến logoic bên trong nguyên tử trường tồn đó. Điều này, nếu được chứng nghiệm, [Page 537] sẽ đem lại một nhãn quan mới về chủ đề rung động cõi giới.

c. The close correspondence between the planes and the seven spirillae in the permanent atom of a solar Logos.

c. Sự tương ứng mật thiết giữa các cõi và bảy loa tuyến trong nguyên tử trường tồn của một Thái dương Thượng đế.

We have touched upon these spirillae and their function very briefly, and can now approach the question of the egoic Ray and the fire of mind from the subjective point of view, or in terms of fire.

Chúng ta đã chạm đến các loa tuyến này và chức năng của chúng một cách rất ngắn gọn, và giờ đây có thể tiếp cận vấn đề cung chân ngã và lửa của trí tuệ từ quan điểm chủ quan, hay bằng các thuật ngữ của lửa.

1. Centres or Wheels of Energy.

1. Các Trung tâm hay Bánh xe Năng lượng.

a. Centres of force. We shall again reach the clarity of vision desirable if we study the subject of monadic development from the angle of vision of the human unit. It has been taught in many occult text books that man has seven centres of force (or ten, according to some calculations); that three of these centres are paramount, and eventually synthesise the other four, or absorb their force or energy. This produces their eventual obscuration, or their passing out of manifestation; they occultly ‘die.’ This is paralleled in the logoic centres, the planetary schemes, which also in due course of time pass into obscuration, and transmit their energy to the major three schemes. The three main centres in the Microcosm are the Head, the Heart and the Throat.

a. Các trung tâm mãnh lực. Chúng ta sẽ lại đạt được sự sáng tỏ của tầm nhìn mong muốn nếu nghiên cứu chủ đề phát triển chân thần từ góc nhìn của đơn vị nhân loại. Trong nhiều sách giáo khoa huyền bí học đã dạy rằng con người có bảy trung tâm mãnh lực (hoặc mười, theo một số cách tính); rằng ba trong số các trung tâm này là tối quan trọng, và cuối cùng tổng hợp bốn trung tâm kia, hoặc hấp thu mãnh lực hay năng lượng của chúng. Điều này tạo ra sự lu mờ cuối cùng của chúng, hay việc chúng ra khỏi biểu hiện; theo huyền bí học, chúng “chết.” Điều này song hành với các trung tâm logoic, tức các hệ hành tinh, vốn cũng theo thời gian đi vào sự lu mờ, và truyền năng lượng của chúng cho ba hệ hành tinh chính. Ba trung tâm chính trong Tiểu thiên địa là Đầu, Tim và Cổ họng.

1.

The Head centre

The Monad

Will

Spirit.

2.

The Heart centre

The Ego

Love

Consciousness.

3.

The Throat centre

The Personality

Activity

Matter.