← A Treatise on Cosmic Fire All

a. First Group of Petals—Knowledge Petals:

It will, therefore, be apparent that just as in man these centres are related to the threefold spiritual man in his total development, so the three types of centres—microcosmic or macrocosmic—come gradually more and more under the vitalising power of one of the three aspects of the Logos. These centres are recognised also as focal points of active force, manifesting to the vision [Page 538] of the clairvoyant as fiery wheels or the flaming petals of a lotus.

Do đó, sẽ hiển nhiên rằng cũng như nơi con người các trung tâm này liên hệ với con người tinh thần tam phân trong toàn bộ sự phát triển của y, thì ba loại trung tâm—vi mô hay vĩ mô—cũng dần dần ngày càng nằm dưới quyền năng tiếp sinh lực của một trong ba phương diện của Logos. Các trung tâm này cũng được nhận biết như những tiêu điểm của mãnh lực hoạt động, biểu hiện ra trước linh thị [Page 538] của nhà thông nhãn như những bánh xe lửa hay những cánh hoa rực cháy của một hoa sen.

b. The causal body... monadic heart centre. In studying the egoic body it should be remembered that the causal body is the correspondence in the monadic manifestation to the heart centre. It is a flaming wheel of fire within the monadic auric egg, which embraces the five planes of monadic manifestation; it is also seen as the twelve-petalled Lotus. Of these twelve petals, the innermost three are unrevealed, or are embryonic, and hence the causal body is frequently considered as a nine-petalled Lotus, or as a wheel of fire with only nine spokes or whorls. This is essentially true as regards the evolutionary process, but when a man has succeeded in awakening or unfolding the nine petals, or in arousing the fire of the nine spokes or whorls (which is practically consummated at the three major Initiations) the inner three are revealed. They respond to the monadic vibration, to the aspect of pure Spirit; it is the stimulation or revelation of these inner petals, by the One Initiator at the third and fourth Initiations which brings about the final conflagration and the blazing up of the causal body with the subsequent liberation of the central positive Life or Fire. 2. The Twelve-Petalled Egoic Lotus

b. Thể nguyên nhân... trung tâm tim chân thần. Khi nghiên cứu thể chân ngã, cần nhớ rằng thể nguyên nhân là đối phần trong biểu hiện chân thần với trung tâm tim. Nó là một bánh xe lửa rực cháy bên trong noãn hào quang chân thần, bao trùm năm cõi của biểu hiện chân thần; nó cũng được thấy như Hoa Sen mười hai cánh. Trong mười hai cánh này, ba cánh trong cùng chưa được mặc khải, hay còn ở trạng thái phôi thai, và do đó thể nguyên nhân thường được xem như một Hoa Sen chín cánh, hay như một bánh xe lửa chỉ có chín nan hay vòng xoáy. Điều này về căn bản là đúng xét theo tiến trình tiến hoá, nhưng khi một người đã thành công trong việc đánh thức hay khai mở chín cánh, hoặc khơi dậy lửa của chín nan hay vòng xoáy (điều này trên thực tế được hoàn tất ở ba lần Điểm đạo lớn) thì ba cánh bên trong được mặc khải. Chúng đáp ứng với rung động chân thần, với phương diện Tinh thần thuần túy; chính sự kích thích hay sự mặc khải của các cánh bên trong này, do Đấng Điểm đạo Duy Nhất thực hiện ở lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư, đem lại sự bùng cháy sau cùng và sự bốc sáng của thể nguyên nhân cùng với sự giải phóng tiếp theo của Sự sống hay Lửa dương trung tâm. 2. Hoa Sen Chân Ngã Mười Hai Cánh

Solar Fire is dual. It is the fire of matter or substance and the fire of mind blended. This makes man the six-pointed Star of Light, for each of these fires is triple. The fire of mind is also in essence dual, bringing in another triplicity, thus making the nine. When a man has awakened the nine fires, and has unfolded the nine petals, and when he has received the stimulus which is imparted at initiation, through being brought into conscious contact with the electric spark of his own particular Heavenly Man, they all blend and merge. The [Page 539] inner three which complete the twelve, and which are concerned with the final, and essentially spiritual stages, of his evolution, are really related more intimately to the evolution of the Heavenly Man, and are connected with the stimulus which He receives Himself in contacting the logoic electric spark, or the pure Spirit aspect of the Logos.

Lửa Thái dương là nhị phân. Nó là lửa của vật chất hay chất liệu và lửa của trí tuệ được hòa trộn. Điều này làm cho con người trở thành Ngôi Sao Ánh Sáng sáu cánh, vì mỗi ngọn lửa này đều là tam phân. Lửa của trí tuệ cũng về bản chất là nhị phân, đưa vào một bộ ba khác, do đó thành chín. Khi một người đã đánh thức chín ngọn lửa, và đã khai mở chín cánh, và khi y đã nhận được sự kích thích được truyền ban lúc điểm đạo, qua việc được đưa vào tiếp xúc hữu thức với tia lửa điện của Đấng Thiên Nhân riêng của mình, thì tất cả chúng hòa trộn và dung hợp. Ba cánh [Page 539] bên trong hoàn tất số mười hai, và liên quan đến các giai đoạn cuối cùng, và về căn bản là tinh thần, của sự tiến hoá của y, thực ra liên hệ mật thiết hơn với sự tiến hoá của Đấng Thiên Nhân, và được nối kết với sự kích thích mà chính Ngài nhận được khi tiếp xúc với tia lửa điện logoic, hay phương diện Tinh thần thuần túy của Logos.

It should here be noted that this ninefold development is hinted at in the Secret Doctrine in the various places where H. P. B. deals with the Kumaras (S. D., II, 257.) or the Heavenly Men, of Whom the microcosm is a reflection. She calls Them the Lords of Knowledge, the Lords of Love and the Lords of Sacrifice. Each of Them is a nine-petalled Lotus in the logoic body. They are the flaming Wheels, and in Their various names, as found in the Secret Doctrine, may be discovered the clue to the mystery. Let us realise this clearly, nevertheless, as regards the microcosm, and later extend the idea to the Heavenly Men. Let us picture the nine-petalled egoic lotus, the heart centre in the monadic consciousness, unfolding each of its petals in groups of three upon the three subplanes of the higher mental. Their unfoldment is worked out through the evolutionary process, undergone on the three planes in the three worlds, or within the three Halls of Ignorance, of Learning, and of Wisdom.

Cần lưu ý ở đây rằng sự phát triển cửu phân này được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm tại nhiều chỗ nơi H. P. B. bàn đến các Kumaras (S. D., II, 257.) hay các Đấng Thiên Nhân, mà tiểu thiên địa là sự phản chiếu của Các Ngài. Bà gọi Các Ngài là các Chúa Tể của Tri Thức, các Chúa Tể của Bác Ái và các Chúa Tể của Hi Sinh. Mỗi vị trong Các Ngài là một Hoa Sen chín cánh trong thể logoic. Các Ngài là những Bánh Xe rực cháy, và trong các danh xưng khác nhau của Các Ngài, như được tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm, có thể tìm ra đầu mối của bí nhiệm. Tuy nhiên, trước hết hãy nhận thức điều này một cách rõ ràng đối với tiểu thiên địa, rồi sau đó mở rộng ý tưởng ấy đến các Đấng Thiên Nhân. Hãy hình dung hoa sen chân ngã chín cánh, trung tâm tim trong tâm thức chân thần, khai mở từng cánh của nó thành từng nhóm ba trên ba cõi phụ của cõi thượng trí. Sự khai mở của chúng được thực hiện qua tiến trình tiến hoá, trải qua trên ba cõi trong ba cõi giới, hay trong ba Phòng Vô Minh, Hiểu Biết và Minh triết.

a. First Group of Petals—Knowledge Petals:

a. Nhóm Cánh Hoa Thứ Nhất—các cánh hoa tri thức:

1. The Petal of Knowledge for the physical plane. Through the breaking of the Law and the ensuing suffering the price of ignorance is paid and knowledge is achieved. This unfoldment is brought about through physical plane experience.

1. Cánh hoa Tri Thức cho cõi hồng trần. Qua việc vi phạm Định luật và nỗi đau khổ tiếp theo, cái giá của vô minh được trả và tri thức được đạt đến. Sự khai mở này được đem lại qua kinh nghiệm cõi hồng trần.

2. The Petal of Love for the physical plane. Unfolds through physical relationships, and the gradual growth of love from love of self to love of others. [Page 540]

2. Cánh hoa Bác ái cho cõi hồng trần. Khai mở qua các mối quan hệ hồng trần, và sự tăng trưởng dần dần của tình thương từ tình thương bản thân đến tình thương người khác. [Page 540]

3. The Petal of Sacrifice for the physical plane. This unfoldment is brought about through the driving force of circumstances, and not of free will. It is the offering up of the physical body upon the altar of desire—low desire to begin with, but aspiration towards the end, though still desire. As man in the early stages of his evolution is polarised on the physical, much of this is undergone unconsciously and without any realisation of what is being consummated, but the result in the causal body is seen in a twofold increase of heat or of activity:

3. Cánh hoa hi sinh cho cõi hồng trần. Sự khai mở này được đem lại qua động lực thúc đẩy của hoàn cảnh, chứ không phải của ý chí tự do. Đó là sự dâng hiến thể xác lên bàn thờ của dục vọng—lúc đầu là dục vọng thấp, nhưng về sau là khát vọng, tuy vẫn còn là dục vọng. Vì con người trong các giai đoạn đầu của sự tiến hoá được phân cực trên cõi hồng trần, nên phần lớn điều này được trải qua một cách vô thức và không có bất kỳ sự chứng nghiệm nào về điều đang được hoàn tất, nhưng kết quả trong thể nguyên nhân được thấy trong sự gia tăng nhiệt hay hoạt động theo hai mặt:

The physical permanent atom becomes radioactive or a radiant point of fire.

Nguyên tử trường tồn hồng trần trở nên có tính phóng xạ hay thành một điểm lửa rực sáng.

The lower three petals become vibrant and begin to unfold until fully developed.

Ba cánh hoa thấp trở nên rung động và bắt đầu khai mở cho đến khi phát triển đầy đủ.

b. Second Group of Petals—Love Petals:

b. Nhóm Cánh Hoa Thứ Hai—các cánh hoa bác ái:

1. The Petal of Knowledge, for the astral plane; unfoldment is brought about by the conscious balancing of the pairs of opposites, and the gradual utilisation of the Law of Attraction and Repulsion. The man passes out of the Hall of Ignorance where, from the egoic point of view, he works blindly and begins to appreciate the effects of his physical plane life; by a realisation of his essential duality he begins to comprehend causes.

1. Cánh hoa Tri Thức, cho cõi cảm dục; sự khai mở được đem lại bởi sự quân bình hữu thức các cặp đối nghịch, và việc sử dụng dần dần Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Con người đi ra khỏi Phòng Vô Minh, nơi mà từ quan điểm chân ngã, y làm việc một cách mù quáng và bắt đầu nhận thức các hiệu quả của đời sống cõi hồng trần của mình; nhờ chứng nghiệm về tính nhị nguyên thiết yếu của mình, y bắt đầu thấu hiểu các nguyên nhân.

2. The Petal of Love for the astral plane; unfoldment is brought about through the process of gradually transmuting the love of the subjective nature or of the Self within. This has a dual effect and works through on to the physical plane in many lives of turmoil, of endeavour and of failure as a man strives to turn his attention to the love of the Real.

2. Cánh hoa Bác ái cho cõi cảm dục; sự khai mở được đem lại qua tiến trình dần dần chuyển hoá tình thương của bản chất chủ quan hay của Bản Ngã bên trong. Điều này có tác động nhị phân và tác động xuyên xuống cõi hồng trần qua nhiều kiếp sống đầy xáo trộn, nỗ lực và thất bại khi một người cố gắng hướng sự chú ý của mình đến tình thương đối với Cái Thực.

3. The Petal of Sacrifice for the astral plane; unfoldment is brought about by the attitude of man as he [Page 541] consciously endeavours to give up his own desires for the sake of his group. His motive is still somewhat a blind one, and still coloured by the desire for a return of that which he gives and for love from those he seeks to serve, but it is of a much higher order than the blind sacrifice to which a man is driven by circumstances as is the case in the earlier unfoldment. As this threefold enlightenment or unfoldment proceeds, again a dual result is seen:

3. Cánh hoa hi sinh cho cõi cảm dục; sự khai mở được đem lại bởi thái độ của con người khi y [Page 541] hữu thức nỗ lực từ bỏ các dục vọng riêng của mình vì lợi ích của nhóm mình. Động cơ của y vẫn còn phần nào mù quáng, và vẫn còn nhuốm màu bởi ham muốn được đền đáp cho điều mình cho đi và được yêu thương từ những người mà y tìm cách phụng sự, nhưng nó thuộc một trật tự cao hơn nhiều so với sự hi sinh mù quáng mà một người bị hoàn cảnh thúc ép phải làm như trong sự khai mở trước đó. Khi sự soi sáng hay khai mở tam phân này tiến triển, lại thấy một kết quả nhị phân:

The astral permanent atom comes into full activity and radiance, as regards five of its spirillae, and the two atoms of the physical and the astral planes are equally vibrant.

Nguyên tử trường tồn cảm dục đi vào hoạt động và sự rực sáng trọn vẹn, xét theo năm loa tuyến của nó, và hai nguyên tử của cõi hồng trần và cõi cảm dục rung động ngang nhau.

The three petals of the central ring of the egoic lotus come also into full unfoldment, and the heart centre of the Monad is seen as a wheel of fire with six of its spokes in full display of energy and rapidly rotating.

Ba cánh hoa của vòng trung tâm của hoa sen chân ngã cũng đi vào sự khai mở trọn vẹn, và trung tâm tim của Chân thần được thấy như một bánh xe lửa với sáu nan của nó biểu lộ năng lượng trọn vẹn và quay rất nhanh.

c. Third Group of Petals—Sacrifice Petals:

c. Nhóm Cánh Hoa Thứ Ba—các cánh hoa hi sinh:

1. The Petal of Knowledge for the mental plane; its unfoldment marks the period wherein the man consciously utilizes all that he has gained or is gaining under the law for the definite benefit of humanity.

1. Cánh hoa Tri Thức cho cõi trí; sự khai mở của nó đánh dấu giai đoạn trong đó con người hữu thức sử dụng tất cả những gì y đã đạt được hoặc đang đạt được dưới định luật vì lợi ích xác định của nhân loại.

Each of the groups of petals is distinguished by a predominant colouring; Knowledge, on the physical plane, with the colouring of the other two subsidiary; Love, on the astral plane, with the light of sacrifice weaker in tone than the other two, which practically show forth in equal brilliancy. On the mental plane, the light of sacrifice comes to its full display, and all that is seen is coloured by that light.

Mỗi nhóm cánh hoa được phân biệt bởi một màu sắc trội; Tri Thức, trên cõi hồng trần, với màu sắc của hai cánh kia là phụ; Bác ái, trên cõi cảm dục, với ánh sáng của hi sinh yếu sắc hơn hai cánh kia, vốn thực tế biểu lộ với độ rực sáng gần như ngang nhau. Trên cõi trí, ánh sáng của hi sinh đi đến chỗ biểu lộ trọn vẹn, và tất cả những gì được thấy đều nhuốm màu bởi ánh sáng ấy.

2. The Petal of Love on the mental plane is unfolded [Page 542] through the conscious steady application of all the powers of the soul to the service of humanity with no thought of return nor any desire for reward for the immense sacrifice involved.

2. Cánh hoa Bác ái trên cõi trí được khai mở [Page 542] qua việc áp dụng hữu thức và bền bỉ mọi quyền năng của linh hồn vào việc phụng sự nhân loại mà không nghĩ đến sự đền đáp hay bất kỳ ham muốn phần thưởng nào cho sự hi sinh to lớn liên hệ đến đó.

3. The Petal of Sacrifice for the mental plane: demonstrates as the predominant bias of the soul as seen in a series of many lives spent by the initiate prior to his final emancipation. He becomes in his sphere the “Great Sacrifice.”

3. Cánh hoa hi sinh cho cõi trí: biểu lộ như khuynh hướng trội của linh hồn như được thấy trong một chuỗi nhiều kiếp sống do điểm đạo đồ trải qua trước khi được giải thoát sau cùng. Y trở thành trong phạm vi của mình “Đại Hi Sinh.”

This stage can be seen objectively to the eye of the clairvoyant as dual in effect:

Giai đoạn này có thể được thấy một cách khách quan đối với mắt của nhà thông nhãn như có tác động nhị phân:

a. The mental unit becomes a radiant point of light; its four spirillae transmit force with intense rapidity.

a. Đơn vị hạ trí trở thành một điểm sáng rực; bốn loa tuyến của nó truyền mãnh lực với tốc độ cực kỳ mãnh liệt.

b. The three higher petals unfold, and the nine-petalled lotus is seen perfected.

b. Ba cánh hoa cao hơn khai mở, và hoa sen chín cánh được thấy là hoàn hảo.

The causal body is then (expressed in terms of fire) a blazing centre of heat, radiating to its group warmth and vitality. Within the periphery of the egoic wheel can be seen the nine spokes rotating with intense rapidity and—after the third Initiation—becoming fourth dimensional, or the wheels “turn upon” themselves. (Bible. Ezekiel, 1:15:21) In the midst forming a certain geometrical triangle (differing according to the ray of the Monad) can be seen three points of fire, or the permanent atoms and the mental unit, in all their glory; at the centre can be seen a central blaze of glory growing in intensity as the three inner petals respond to the stimulation. When the fire of matter, of “fire by friction,” becomes sufficiently intense; when the fire of mind of solar fire (which vitalises the nine petals) becomes equally fierce, and when the electric spark at the innermost centre blazes out and can be seen, the [Page 543] entire causal body becomes radioactive. Then the fires of substance (the vitality of the permanent atoms) escape from the atomic spheres, and add their quota to the great sphere in which they are contained; the fire of mind blends with its emanating source, and the central life escapes. This is the great liberation. The man, in terms of human endeavour, has achieved his goal. He has passed through the three Halls and in each has transferred that which he gained therein to the content of his consciousness; he has in ordered sequence developed and opened the petals of the lotus—first opening the lower three, which involves a process covering a vast period of time. Then the second series of petals are opened, during a period of time covering his participation intelligently in world affairs until he enters the spiritual kingdom at the first Initiation; and a final and briefer period wherein the three higher or inner ring of petals are developed and opened.

Khi đó thể nguyên nhân (được diễn tả bằng các thuật ngữ của lửa) là một trung tâm nhiệt rực cháy, tỏa ra cho nhóm của nó sự ấm áp và sinh lực. Trong chu vi của bánh xe chân ngã có thể thấy chín nan quay với tốc độ cực kỳ nhanh và—sau lần điểm đạo thứ ba—trở thành bốn chiều, hay các bánh xe “quay trên” chính chúng. (Kinh Thánh. Ezekiel, 1:15:21) Ở giữa, tạo thành một tam giác hình học nhất định (khác nhau tùy theo cung của Chân thần), có thể thấy ba điểm lửa, hay các nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí, trong toàn bộ vinh quang của chúng; tại trung tâm có thể thấy một ngọn lửa vinh quang trung tâm tăng dần cường độ khi ba cánh hoa bên trong đáp ứng với sự kích thích. Khi lửa của vật chất, của “Lửa ma sát,” trở nên đủ mãnh liệt; khi lửa của trí tuệ của Lửa Thái dương (tiếp sinh lực cho chín cánh hoa) trở nên dữ dội tương đương, và khi tia lửa điện ở trung tâm sâu kín nhất bùng cháy và có thể được thấy, thì [Page 543] toàn bộ thể nguyên nhân trở nên có tính phóng xạ. Khi đó các ngọn lửa của chất liệu (sinh lực của các nguyên tử trường tồn) thoát ra khỏi các khối cầu nguyên tử, và góp phần của chúng vào khối cầu lớn trong đó chúng được chứa đựng; lửa của trí tuệ hòa nhập với nguồn phát xạ của nó, và sự sống trung tâm thoát ra. Đây là sự giải thoát lớn lao. Con người, xét theo nỗ lực của nhân loại, đã đạt được mục tiêu của mình. Y đã đi qua ba Phòng và trong mỗi Phòng đã chuyển dịch điều mình đạt được ở đó vào nội dung tâm thức của mình; y đã theo trình tự có trật tự phát triển và khai mở các cánh hoa của hoa sen—trước hết khai mở ba cánh thấp, điều này bao hàm một tiến trình kéo dài qua một thời kỳ vô cùng lâu dài. Sau đó loạt cánh hoa thứ hai được khai mở, trong một thời kỳ bao gồm sự tham dự một cách thông minh của y vào các công việc thế gian cho đến khi y đi vào giới tinh thần ở lần điểm đạo thứ nhất; và một thời kỳ cuối cùng ngắn hơn trong đó ba cánh hoa cao hơn hay vòng trong được phát triển và khai mở.

In closing what may be said on this subject of the egoic Ray and fire of mind, I would request the student to bear the following points in mind:

Để kết thúc những gì có thể nói về chủ đề cung chân ngã và lửa của trí tuệ này, tôi xin yêu cầu đạo sinh ghi nhớ các điểm sau đây:

First. That the order of the development of the petals and the stimulation of the fires depends upon the Ray of the Monad, and the subray upon which the causal body finds itself. This thought would bear expansion, and would prove a fruitful source of study to the occult investigator.

Thứ nhất. Rằng trật tự phát triển của các cánh hoa và sự kích thích các ngọn lửa tùy thuộc vào cung của Chân thần, và cung phụ mà trên đó thể nguyên nhân tự thấy mình ở đó. Tư tưởng này đáng được khai triển, và sẽ chứng tỏ là một nguồn nghiên cứu phong phú cho nhà khảo cứu huyền bí học.

Second. That this unfoldment proceeds slowly in the early stages, and only proceeds with rapidity as the man himself works at it with conscious effort.

Thứ hai. Rằng sự khai mở này tiến hành chậm chạp trong các giai đoạn đầu, và chỉ tiến hành nhanh chóng khi chính con người làm việc với nó bằng nỗ lực hữu thức.

The Ego takes no active interest in the development until the second petal in the second series is beginning to open. Before that time, the work proceeds under the [Page 544] law of its being and through the inherent life of the second Logos which is the life of the petals of the lotus. The life of the first Logos, working through the SELF (who dwells in a form built by the life or energy of the second Logos out of force-substance animated by the life of the third Logos) only responds to opportunity when the above mentioned stage is reached.

Chân ngã không có sự quan tâm tích cực nào đến sự phát triển cho đến khi cánh hoa thứ hai trong loạt thứ hai bắt đầu khai mở. Trước thời điểm đó, công việc tiến hành dưới [Page 544] định luật hiện hữu của nó và qua sự sống cố hữu của Logos thứ hai, vốn là sự sống của các cánh hoa của hoa sen. Sự sống của Logos thứ nhất, hoạt động qua BẢN NGÃ (đấng ngự trong một hình tướng được xây dựng bởi sự sống hay năng lượng của Logos thứ hai từ chất liệu-mãnh lực được tiếp sinh lực bởi sự sống của Logos thứ ba) chỉ đáp ứng với cơ hội khi giai đoạn nói trên đã đạt tới.

Finally: The ceremony of initiation is only undergone when the causal body is in a condition to respond to the Will aspect of the Heavenly Man (the first aspect) and to do this through the glad co-operation of the fully conscious self.

Sau cùng: nghi lễ điểm đạo chỉ được trải qua khi thể nguyên nhân ở trong tình trạng có thể đáp ứng với phương diện Ý Chí của Đấng Thiên Nhân (phương diện thứ nhất) và làm điều này qua sự hợp tác hoan hỉ của bản ngã hoàn toàn hữu thức.

More on this is not now possible, but enough has here been indicated to open up various lines of study. These, if followed, will lead the student to much of practical value and application.

Hiện giờ không thể nói thêm về điều này, nhưng ở đây đã chỉ ra đủ để mở ra nhiều đường hướng nghiên cứu khác nhau. Nếu được theo đuổi, những đường hướng này sẽ dẫn đạo sinh đến nhiều điều có giá trị và ứng dụng thực tiễn.

3. Summary.

3. Tóm lược.

Our next subject concerns itself with the elementals of the mental plane, with the thought forms they animate, and with the consideration of them as force centres, capable of producing results—constructive, if rightly directed; destructive, if left blindly to follow their own course. Before taking up this matter, however, I want to gather together some threads of thought in connection with the matter just dealt with. If we have carefully followed the data given about the egoic manifestation on its own plane, and the fires of the causal body, we shall have noted the close resemblance between that egoic body, viewed as a force centre, and certain aspects of logoic manifestation.

Chủ đề kế tiếp của chúng ta bàn đến các hành khí của cõi trí, các hình tư tưởng mà chúng tiếp sinh lực, và việc xem xét chúng như các trung tâm mãnh lực, có khả năng tạo ra các kết quả—xây dựng, nếu được định hướng đúng; hủy diệt, nếu bị bỏ mặc một cách mù quáng để đi theo lộ trình riêng của chúng. Tuy nhiên, trước khi đề cập đến vấn đề này, tôi muốn gom lại một số sợi chỉ tư tưởng liên hệ với vấn đề vừa được bàn đến. Nếu chúng ta đã cẩn thận theo dõi các dữ kiện được đưa ra về biểu hiện chân ngã trên chính cõi của nó, và các ngọn lửa của thể nguyên nhân, chúng ta sẽ nhận thấy sự tương tự mật thiết giữa thể chân ngã đó, được xem như một trung tâm mãnh lực, và một số phương diện của biểu hiện logoic.

The causal body has been seen as a wheel of fire, containing within its periphery three focal points of energy, the permanent atoms. They are analogous, as earlier pointed out, to the seventh principle of each of the three aspects—will or power, love-wisdom, and active intelligence. [Page 545] Each of these focal points has its own internal economy, as seen in the spirillae, which are essentially streams of force, responding to stimulation and vibration, aroused within and without their limiting ring-pass-not. The internal life of the permanent atom, and that which animates and produces its activity, is the life of the third aspect; the force playing upon it and through it is the life of the second aspect. As evolution proceeds the intensity of the life forces from within and those which affect it from without, grows gradually stronger and stronger, and the light of the permanent atoms increases, the petals of the lotus unfold, and the spokes of the radiatory fire come into action. Bear in mind here, that the permanent atoms are concerned with the substance aspect of Existence or Becoming, while the petals of the lotus, or the fiery spokes of the wheel, deal specifically with the psychical aspect, or the development of consciousness; the central nucleus, or the three inner petals, embodies the aspect of pure Spirit.

Thể nguyên nhân đã được thấy như một bánh xe lửa, chứa trong chu vi của nó ba tiêu điểm năng lượng, tức các nguyên tử trường tồn. Như đã chỉ ra trước đây, chúng tương đồng với nguyên khí thứ bảy của mỗi một trong ba phương diện—ý chí hay quyền năng, bác ái-minh triết, và trí tuệ hoạt động. [Page 545] Mỗi tiêu điểm này có cơ cấu nội tại riêng của nó, như được thấy trong các loa tuyến, vốn về bản chất là các dòng mãnh lực, đáp ứng với sự kích thích và rung động, được khơi dậy bên trong và bên ngoài vòng-giới-hạn giới hạn của chúng. Sự sống nội tại của nguyên tử trường tồn, và cái tiếp sinh lực và tạo ra hoạt động của nó, là sự sống của phương diện thứ ba; mãnh lực tác động lên nó và xuyên qua nó là sự sống của phương diện thứ hai. Khi tiến hoá tiếp diễn, cường độ của các mãnh lực sự sống từ bên trong và những mãnh lực tác động lên nó từ bên ngoài dần dần mạnh hơn và mạnh hơn, và ánh sáng của các nguyên tử trường tồn gia tăng, các cánh hoa của hoa sen khai mở, và các nan của lửa bức xạ đi vào hoạt động. Hãy ghi nhớ ở đây, rằng các nguyên tử trường tồn liên quan đến phương diện chất liệu của Hiện Hữu hay Đang Trở Thành, trong khi các cánh hoa của hoa sen, hay các nan lửa của bánh xe, đặc biệt liên quan đến phương diện thông linh, hay sự phát triển của tâm thức; hạt nhân trung tâm, hay ba cánh hoa bên trong, hiện thân cho phương diện Tinh thần thuần túy.

All three lines of evolution are proceeding simultaneously, and have a reflex action the one upon the other; it is this which produces the consequent perfection of unfoldment. It is neither possible nor desirable to follow each line of this threefold evolution separately, nor to consider them as dissociated from each other. The interplay is too accurate, and the mutual stimulation too important to be neglected by the student of egoic evolution.

Cả ba đường tiến hoá đều đang tiến hành đồng thời, và có tác động phản hồi lẫn nhau; chính điều này tạo ra sự hoàn hảo tiếp theo của sự khai mở. Không thể cũng không nên theo dõi riêng rẽ từng đường của sự tiến hoá tam phân này, cũng không nên xem chúng như tách rời nhau. Sự tương tác quá chính xác, và sự kích thích hỗ tương quá quan trọng để bị đạo sinh của sự tiến hoá chân ngã bỏ qua.

It is, as stated elsewhere, through the permanent atoms that the Ego comes en rapport with his objective world; he works upon and through his environment successfully or blindly just in so far as he can energise his permanent atoms, and bring the spirillae out of latency into potency. This only becomes possible as he unfolds the petals of the lotus. It must be remembered that the three lower petals when fully unfolded affect, through [Page 546] their vitality, the three major spirillae in the physical permanent atom. As the second ring of petals gradually opens, the astral permanent atom undergoes a similar process, leading up to the full arousing of the spirillae within the mental unit.

Như đã nói ở nơi khác, chính qua các nguyên tử trường tồn mà chân ngã tiếp xúc với thế giới khách quan của mình; y tác động lên và xuyên qua môi trường của mình một cách thành công hay mù quáng đúng theo mức độ y có thể truyền năng lượng cho các nguyên tử trường tồn của mình, và đưa các loa tuyến từ trạng thái tiềm ẩn vào trạng thái hữu lực. Điều này chỉ trở nên khả hữu khi y khai mở các cánh hoa của hoa sen. Cần nhớ rằng ba cánh hoa thấp khi được khai mở hoàn toàn sẽ tác động, qua [Page 546] sinh lực của chúng, lên ba loa tuyến chính trong nguyên tử trường tồn hồng trần. Khi vòng cánh hoa thứ hai dần dần mở ra, nguyên tử trường tồn cảm dục trải qua một tiến trình tương tự, dẫn đến sự khơi dậy trọn vẹn các loa tuyến bên trong đơn vị hạ trí.

Here I would point out that there is a slight difference in the case of the mental unit, for the four spirillae of the mental unit are aroused to full activity when the knowledge petal of the final three opens. The opening of the remaining two reveal the glowing threefold flower which lies at the centre of egoic manifestation.

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng có một khác biệt nhỏ trong trường hợp của đơn vị hạ trí, vì bốn loa tuyến của đơn vị hạ trí được khơi dậy đến hoạt động trọn vẹn khi cánh hoa tri thức của ba cánh cuối cùng mở ra. Việc mở hai cánh còn lại mặc khải đóa hoa tam phân rực sáng nằm ở trung tâm của biểu hiện chân ngã.

It would be wise to sound a note of warning here in connection with this question of egoic unfoldment. What has been said here has been but the formulation of the general plan of egoic unfoldment as interpreted in terms of consciousness or of fire. In studying the subject with due personal application, the student should bear in mind the following facts:

Sẽ là khôn ngoan nếu nêu lên một lời cảnh báo ở đây liên quan đến vấn đề khai mở chân ngã này. Những gì đã được nói ở đây chỉ là sự trình bày của kế hoạch tổng quát về sự khai mở chân ngã như được diễn giải bằng các thuật ngữ của tâm thức hay của lửa. Khi nghiên cứu chủ đề này với sự ứng dụng cá nhân thích đáng, đạo sinh nên ghi nhớ các sự kiện sau:

First, that according to the Ray of the Monad, so will the petals unfold. For instance, if the Ray of the Monad is the second Ray, the knowledge petal will be the first to open, but the second petal of love will almost parallel its development, being for that particular type of Ego the line of easiest unfoldment; the knowledge petal will be for it the most difficult to open.

Thứ nhất, rằng tùy theo cung của Chân thần mà các cánh hoa sẽ khai mở. Chẳng hạn, nếu cung của Chân thần là cung hai, cánh hoa tri thức sẽ là cánh đầu tiên mở ra, nhưng cánh hoa bác ái thứ hai sẽ gần như song hành với sự phát triển của nó, vì đối với loại chân ngã đặc biệt đó, đây là đường khai mở dễ dàng nhất; cánh hoa tri thức sẽ là cánh khó mở nhất đối với nó.

Second, that the effects of one circle of petals opening will be felt within the next circle at an early stage and will cause a vibratory response, hence the greater rapidity of the later stages of unfoldment as compared with the first.

Thứ hai, rằng các hiệu quả của việc một vòng cánh hoa mở ra sẽ được cảm nhận trong vòng kế tiếp ở một giai đoạn sớm và sẽ gây ra một đáp ứng rung động, do đó các giai đoạn khai mở về sau diễn ra nhanh hơn nhiều so với giai đoạn đầu.

Third, that there exist many cases of uneven or unequal unfoldment. Quite frequently people are found with perhaps two petals unfolded in the first circle and one still in latency, while a petal within the central or second ring may be in full development. This is the explanation frequently of the power in service along [Page 547] certain lines displayed by some, coupled with a comparatively low stage of development or of consciousness (egoically speaking). This is due to varying causes, such as the karma of the Monad itself on its high plane and the strength of the monadic grip upon the ego; many lives given to a particular line of action, resulting in the setting up of a strong vibration—one so strong that it renders the development of response to subsidiary vibrations difficult of attainment; certain peculiar conditions hidden in the evolution of any particular Lord of a Ray, and the effect of that condition upon a particular group of cells; the group karma of a collection or congery of causal bodies, and their mutual interplay. Every egoic unit or monadic force centre has a definite effect upon the group or community of Egos in which it may have a place, and as the interaction proceeds results are sometimes produced of a temporarily unexpected nature.

Thứ ba, rằng có nhiều trường hợp khai mở không đồng đều hay không cân xứng. Khá thường xuyên người ta thấy những người có thể đã khai mở hai cánh hoa trong vòng thứ nhất và một cánh vẫn còn tiềm ẩn, trong khi một cánh hoa trong vòng trung tâm hay vòng thứ hai có thể đang phát triển đầy đủ. Đây thường là lời giải thích cho quyền năng phụng sự theo [Page 547] một số đường hướng nhất định được một số người biểu lộ, đi kèm với một giai đoạn phát triển hay tâm thức tương đối thấp (xét theo chân ngã). Điều này là do nhiều nguyên nhân khác nhau, như nghiệp quả của chính Chân thần trên cõi cao của nó và sức mạnh của sự nắm giữ chân thần lên chân ngã; nhiều kiếp sống được hiến cho một đường hành động đặc biệt, dẫn đến việc thiết lập một rung động mạnh—mạnh đến mức khiến sự phát triển khả năng đáp ứng với các rung động phụ trở nên khó đạt được; một số điều kiện đặc thù ẩn giấu trong sự tiến hoá của một Chúa Tể Cung nào đó, và tác động của điều kiện ấy lên một nhóm tế bào nhất định; nghiệp quả nhóm của một tập hợp hay cụm các thể nguyên nhân, và sự tương tác hỗ tương của chúng. Mỗi đơn vị chân ngã hay trung tâm mãnh lực chân thần đều có một tác động xác định lên nhóm hay cộng đồng các chân ngã mà nó có thể có một vị trí trong đó, và khi sự tương tác tiếp diễn, đôi khi tạo ra những kết quả có tính chất tạm thời bất ngờ.

These points should be carefully borne in mind by the student of egoic evolution. This whole subject is of interest in that it is the next step ahead for the students of occult psychology. Much will be eventually ascertained which will throw new light upon the possibility of work upon the physical plane for man. The whole secret of success in any endeavour or enterprise is primarily based on two things:

Những điểm này cần được đạo sinh của sự tiến hoá chân ngã ghi nhớ cẩn thận. Toàn bộ chủ đề này đáng quan tâm vì nó là bước kế tiếp phía trước cho các đạo sinh của Tâm Lý Học Nội Môn. Cuối cùng sẽ xác định được nhiều điều, và những điều ấy sẽ soi rọi ánh sáng mới lên khả năng làm việc trên cõi hồng trần của con người. Toàn bộ bí mật của thành công trong bất kỳ nỗ lực hay công việc nào trước hết dựa trên hai điều:

First, the ability of the Ego to work through the personality, using it simply as the medium of expression.

Thứ nhất, khả năng của chân ngã làm việc qua phàm ngã, chỉ dùng nó như phương tiện biểu đạt.

Second, the karma of the egoic group as it becomes more apparent on the physical plane. Hitherto, much has been said and taught about individual karma. Group karma in the future will slowly assume its rightful place in the thought of students, and this will lead to more intelligent co-operation, to a more sympathetic understanding of group responsibilities, and to a more adequate solution of group problems.

Thứ hai, nghiệp quả của nhóm chân ngã khi nó trở nên hiển nhiên hơn trên cõi hồng trần. Cho đến nay, nhiều điều đã được nói và dạy về nghiệp quả cá nhân. Trong tương lai, nghiệp quả nhóm sẽ từ từ giữ vị trí đúng đắn của nó trong tư tưởng của các đạo sinh, và điều này sẽ dẫn đến sự hợp tác thông minh hơn, đến sự thấu hiểu đầy cảm thông hơn về các trách nhiệm nhóm, và đến một giải pháp thích đáng hơn cho các vấn đề nhóm.

[Page 548] The study of occult psychology involves a true conception of the nature of the Ego, or the arousing of the Ego to full activity in manifestation; it will necessitate the sound formulation of the laws of egoic unfoldment, of the methods whereby, petal by petal, the lotus may be brought to perfection, and of the triple nature of its evolution; it will bring about an eventual apprehension of the true meaning of force, and of energy in its dual aspect—internal vibration and external radiation; it will produce the centering of the attention of all advanced students upon the centres—in this case not the physical centres on etheric levels but upon the psychical centres, such as the Ego in the causal body and egoic groups. This will produce later a better comprehension of the effect of one consciousness upon another consciousness on the physical plane, and this knowledge will be scientifically utilised to produce specific results in group evolution, and thus some of the world problems will find solution. Finally, the laws of fire will be studied, the nature of heat, of radiation and of flame will be occultly investigated, and the action of one fire upon another fire, the result of radiation from one conscious sphere to another will be realised; the method of arousing consciousness on the different planes by action upon the fires of the causal body and their stimulation will be gradually revealed.

[Page 548] Việc nghiên cứu Tâm Lý Học Nội Môn bao hàm một quan niệm chân chính về bản chất của chân ngã, hay việc khơi dậy chân ngã đến hoạt động trọn vẹn trong biểu hiện; nó sẽ đòi hỏi sự hình thành vững chắc các định luật của sự khai mở chân ngã, của các phương pháp nhờ đó, từng cánh hoa một, hoa sen có thể được đưa đến chỗ hoàn hảo, và của bản chất tam phân của sự tiến hoá của nó; nó sẽ đem lại sự lĩnh hội cuối cùng về ý nghĩa chân thực của mãnh lực, và của năng lượng trong phương diện nhị phân của nó—rung động bên trong và bức xạ bên ngoài; nó sẽ làm cho sự chú ý của mọi đạo sinh tiến bộ tập trung vào các trung tâm—trong trường hợp này không phải các trung tâm hồng trần trên các cấp dĩ thái mà là các trung tâm thông linh, như chân ngã trong thể nguyên nhân và các nhóm chân ngã. Điều này về sau sẽ tạo ra sự thấu hiểu tốt hơn về tác động của một tâm thức lên một tâm thức khác trên cõi hồng trần, và tri thức này sẽ được sử dụng một cách khoa học để tạo ra các kết quả xác định trong sự tiến hoá nhóm, và như vậy một số vấn đề của thế giới sẽ tìm được giải pháp. Sau cùng, các định luật của lửa sẽ được nghiên cứu, bản chất của nhiệt, của bức xạ và của ngọn lửa sẽ được khảo cứu một cách huyền bí, và tác động của ngọn lửa này lên ngọn lửa khác, kết quả của sự bức xạ từ khối cầu hữu thức này sang khối cầu hữu thức khác sẽ được chứng nghiệm; phương pháp khơi dậy tâm thức trên các cõi khác nhau bằng tác động lên các ngọn lửa của thể nguyên nhân và sự kích thích chúng sẽ dần dần được mặc khải.

The whole question is slowly, very slowly, coming to the fore in human thought (even though this is little realised) through the study of vocational education, business efficiency, and the place of the human unit in any trade or enterprise. Men are being spoken of and considered in terms of potential force factors, and this is a step in the right direction.

Toàn bộ vấn đề này đang từ từ, rất từ từ, nổi lên trong tư tưởng nhân loại (dù điều này ít được nhận ra) qua việc nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp, hiệu quả kinh doanh, và vị trí của đơn vị nhân loại trong bất kỳ ngành nghề hay công việc nào. Con người đang được nói đến và được xem xét theo các thuật ngữ của những yếu tố mãnh lực tiềm năng, và đây là một bước đi đúng hướng.

Approaching the same question from the personality standpoint and not the egoic, the time is fast approaching when the emphasis will be laid in education upon [Page 549] how best the young can be taught to contact their own ego or higher energy; how best they can be led to appropriate the knowledge and ability of their higher self for use on the physical plane; how best they can ascertain their group formation, and thus work along with their group, and in unison with the total energy of that group; how best their threefold lower self—physical, astral, and mental—can be brought into direct alignment with their higher centre of force, and thus draw down a continuous supply of energy for the strengthening of their three vehicles, and their wise manipulation; how best the various spirillae can be awakened and the energy within their own cells released for action. All this will be a thing of gradual evolution, but I have here outlined the trend of the future study, as in the formulation of possibility lies its eventual realisation. Such a process must necessarily be slow. The powers of the ego are stupendous and if released now through the agency of an unready personality would lead to dire disaster. But the time will come, and in the meantime a due apprehension of inherent capacity will profit all who have the intuition to recognise the goal.

Tiếp cận cùng một vấn đề này từ quan điểm phàm ngã chứ không phải chân ngã, thời điểm đang nhanh chóng đến khi trọng tâm trong giáo dục sẽ được đặt vào [Page 549] cách tốt nhất để người trẻ được dạy tiếp xúc với chân ngã hay năng lượng cao hơn của chính mình; cách tốt nhất để họ được dẫn dắt chiếm hữu tri thức và khả năng của chân ngã của mình để sử dụng trên cõi hồng trần; cách tốt nhất để họ có thể xác định sự hình thành nhóm của mình, và nhờ đó làm việc cùng với nhóm của mình, và trong sự hợp nhất với tổng năng lượng của nhóm đó; cách tốt nhất để phàm ngã tam phân của họ—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—có thể được chỉnh hợp trực tiếp với trung tâm mãnh lực cao hơn của họ, và nhờ đó kéo xuống một nguồn cung năng lượng liên tục để tăng cường ba vận cụ của họ, và điều khiển chúng một cách khôn ngoan; cách tốt nhất để các loa tuyến khác nhau có thể được đánh thức và năng lượng bên trong chính các tế bào của họ được giải phóng cho hoạt động. Tất cả điều này sẽ là một việc của sự tiến hoá dần dần, nhưng ở đây tôi đã phác họa xu hướng của việc nghiên cứu trong tương lai, vì chính trong sự hình thành khả năng mà có sự chứng nghiệm cuối cùng của nó. Một tiến trình như thế tất yếu phải chậm. Các quyền năng của chân ngã là vô cùng to lớn và nếu được giải phóng ngay bây giờ qua tác nhân của một phàm ngã chưa sẵn sàng sẽ dẫn đến tai họa nghiêm trọng. Nhưng thời điểm ấy sẽ đến, và trong khi chờ đợi, sự lĩnh hội thích đáng về năng lực cố hữu sẽ mang lại lợi ích cho tất cả những ai có trực giác để nhận ra mục tiêu.

S5S11

DIVISION D - THOUGHT ELEMENTALS AND FIRE ELEMENTALS — PHÂN KHU D - CÁC HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ CÁC HÀNH KHÍ CỦA LỬA

I. THOUGHT FORMS

I. CÁC HÌNH TƯ TƯỞNG

[Page 550] 1. Their function.

[Page 550] 1. Chức năng của chúng.

a. To respond to vibration.

a. Đáp ứng với rung động.

b. To provide the vehicle for an idea.

b. Cung cấp vận cụ cho một ý tưởng.

c. To carry out specific purpose.

c. Thực hiện mục đích xác định.

2: The Laws of Thought.

2: Các Định luật của Tư tưởng.

a. Three cosmic laws.

a. Ba định luật vũ trụ.

b. Seven systemic laws.

b. Bảy định luật hệ thống.

II. THOUGHT ELEMENTALS AND DEVAS

II. CÁC HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ THIÊN THẦN

1. The Ruler of Fire... Agni.

1. Đấng cai quản Lửa... Agni.

a. Agni and the solar Logos.

a. Agni và Thái dương Thượng đế.

b. Agni and the mental plane.

b. Agni và cõi trí.

c. Agni and the three Fires.

c. Agni và ba ngọn Lửa.

2. The Fire Devas... the Greater Builders.

2. Các thiên thần của Lửa... các đấng đại kiến tạo.

a. Introductory statements.

a. Những phát biểu nhập đề.

b. The functions of the devas.

b. Các chức năng của các thiên thần.

c. The devas and the planes.

c. Các thiên thần và các cõi.

3. The Solar Angels... the Agnishvattas.

3. Các Thái dương Thiên Thần... các Agnishvattas.

Introductory remarks.

Những nhận xét mở đầu.

a. On the fifth Principle.

a. Về nguyên khí thứ năm.

b. On Individualisation.

b. Về biệt ngã hóa.

c. On Incarnation.

c. Về sự nhập thể.

d. On the Building of the Causal Body.

d. Về việc xây dựng thể nguyên nhân.

4. The Fire Elementals... the Lesser Builders.

4. Các hành khí của lửa... các vị tiểu kiến tạo.

a. Introductory.

a. Mở đầu.

b. Physical plane elementals.

b. Các hành khí cõi hồng trần.

c. Elementals of the ethers.

c. Các hành khí của các cõi dĩ thái.

d. Elementals and the Microcosm. [Page 551]

d. Hành khí và Tiểu thiên địa. [Page 551]

III. MAN, AS A CREATOR IN MENTAL MATTER

III. CON NGƯỜI, NHƯ MỘT ĐẤNG SÁNG TẠO TRONG CHẤT LIỆU TRÍ TUỆ

1. The creation of thought forms.

1. Sự tạo ra các Hình tư tưởng.

2. The process of thought form building.

2. Tiến trình xây dựng Hình tư tưởng.

IV. MAN AND THE FIRE SPIRITS

IV. CON NGƯỜI VÀ CÁC TINH LINH CỦA LỬA

1. The Will aspect and creation.

1. Phương diện Ý chí và sự sáng tạo.

a. The condition of the magician.

a. Tình trạng của nhà huyền thuật.

b. Construction of thought forms.

b. Sự kiến tạo các Hình tư tưởng.

c. The occult significance of speech.

c. Ý nghĩa huyền bí của lời nói.

2. The nature of Magic.

2. Bản chất của huyền thuật.

a. Black magicians and white.

a. Các nhà hắc thuật và nhà huyền thuật chánh đạo.

b. The source of black magic.

b. Nguồn gốc của Hắc thuật.

c. Conditions for white magic.

c. Các điều kiện cho Chánh Thuật.

3. Fifteen rules for Magic.

3. Mười lăm quy luật cho huyền thuật.

a. Six rules for the mental plane.

a. Sáu quy luật cho cõi trí.

b. Five rules for the astral plane.

b. Năm quy luật cho cõi cảm dục.

c. Four rules for the physical plane.

c. Bốn quy luật cho cõi hồng trần.

Under this division we shall briefly give an outline of the study which we will undertake upon this vast and stupendous subject, for, as it definitely concerns the evolution of man and his power eventually to create, it will be wise for us to take up the matter in some detail.

Dưới phân विभाग này, chúng ta sẽ vắn tắt phác ra đề cương của công trình nghiên cứu mà chúng ta sẽ đảm nhận về chủ đề rộng lớn và kỳ vĩ này, vì, do nó liên hệ rõ rệt đến sự tiến hoá của con người và quyền năng sáng tạo sau cùng của y, nên chúng ta nên khảo cứu vấn đề này với một mức độ chi tiết nào đó.

This section is not intended to give interesting bits of information anent the devas; I only seek to deal with the matter in its practical application to man, and to give as much of the necessary knowledge as will enable a man to control and build his own system, to understand the method of creation and to comprehend somewhat the lesser lives and the paralleling deva evolution with which he may be concerned.

Phần này không nhằm cung cấp những mẩu thông tin lý thú về các thiên thần; tôi chỉ tìm cách bàn đến vấn đề này trong sự ứng dụng thực tiễn của nó đối với con người, và đưa ra càng nhiều tri thức cần thiết càng tốt để giúp con người kiểm soát và xây dựng hệ thống riêng của mình, hiểu được phương pháp sáng tạo và phần nào lĩnh hội các sự sống nhỏ hơn cùng sự tiến hoá thiên thần song hành mà y có thể liên hệ.

I. THOUGHT FORMS — I. HÌNH TƯ TƯỞNG

1. Their Function. — 1. Chức năng của chúng.

It will be noted that in studying this matter we have not started with that which is most apparent, the exoteric form in mental matter, but with the inner life or Idea within the form and with the Laws that govern the creative [Page 552] aspect. This function of every thought form is threefold:

Cần lưu ý rằng khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta đã không bắt đầu với điều hiển nhiên nhất, tức hình tướng ngoại môn trong chất liệu trí tuệ, mà với sự sống bên trong hay Ý tưởng ở trong hình tướng và với các Định luật chi phối phương diện sáng tạo [Page 552]. Chức năng này của mọi Hình tư tưởng có tính tam phân:

To respond to vibration

Đáp ứng với rung động

To provide a body for an idea

Cung cấp một thể cho một ý tưởng

To carry out specific purpose.

Thực hiện một mục đích đặc thù.

Let us first study the logoic thought form and then turn our attention to the thought forms fabricated by the Thinker from the systemic mental planes and in mental matter. We have to note that, in the case of the Logos, all upon which we have to base our conclusions are His physical manifestation, and His quality, psychic nature, aroma, emanation or magnetism, as we see it working out through the form. Hence we are very much handicapped.

Trước hết, chúng ta hãy nghiên cứu Hình tư tưởng của Thượng đế, rồi sau đó chuyển sự chú ý sang các Hình tư tưởng do Đấng Tư Tưởng tạo tác từ các cõi trí của hệ thống và trong chất liệu trí tuệ. Chúng ta phải lưu ý rằng, trong trường hợp của Thượng đế, tất cả những gì chúng ta có để làm nền tảng cho các kết luận của mình là biểu hiện hồng trần của Ngài, và phẩm tính, bản chất thông linh, hương khí, phát xạ hay từ điện của Ngài, như chúng ta thấy nó vận hành qua hình tướng. Do đó, chúng ta bị hạn chế rất nhiều.

a. Response to Vibration. It is always recognised in occult circles that the whole object of human evolution is to enable the Thinker to respond to every contact fully and consciously, and thus to utilise his material sheath, or sheaths, as adequate transmitter of such contact. The most easily studied human thought-form is the one the Ego creates through which to function. He builds his sheaths by the power of thought, and the dense physical body is the best sheath that—at any particular stage of evolution—he can at the time manufacture. The same can be predicated of the solar Logos. He builds by the power of thought a body which can respond to that group of vibrations which are concerned with the cosmic physical plane (the only one we can study). It is not yet adequate, and does not fully express the logoic Thinker.

a. Đáp ứng với rung động. Trong các giới huyền bí học, người ta luôn thừa nhận rằng toàn bộ mục tiêu của sự tiến hoá nhân loại là giúp Đấng Tư Tưởng đáp ứng đầy đủ và hữu thức với mọi tiếp xúc, và nhờ đó sử dụng vỏ bọc vật chất của y, hay các vỏ bọc của y, như những bộ truyền đạt thích hợp cho sự tiếp xúc ấy. Hình tư tưởng nhân loại dễ nghiên cứu nhất là hình mà chân ngã tạo ra để hoạt động qua đó. Y xây dựng các vỏ bọc của mình bằng quyền năng tư tưởng, và thể xác đậm đặc là vỏ bọc tốt nhất mà—ở bất kỳ giai đoạn tiến hoá riêng biệt nào—vào lúc đó y có thể tạo ra. Điều tương tự cũng có thể được khẳng định về Thái dương Thượng đế. Ngài xây dựng bằng quyền năng tư tưởng một thể có thể đáp ứng với nhóm rung động liên hệ đến cõi hồng trần vũ trụ (cõi duy nhất mà chúng ta có thể nghiên cứu). Nó vẫn chưa thích hợp, và chưa biểu lộ đầy đủ Đấng Tư Tưởng Thượng đế.

The vibrations to which the systemic thought-form must respond are many in number, but for our purposes might be enumerated as mainly seven:

Các rung động mà Hình tư tưởng hệ thống phải đáp ứng thì rất nhiều, nhưng vì mục đích của chúng ta có thể liệt kê chủ yếu thành bảy loại:

1. The vibrations of the cosmic physical plane, viewing it as all the matter of that plane which exists [Page 553] outside the logoic ring-pass-not. It concerns the pranic and akashic fluids and currents.

1. Các rung động của cõi hồng trần vũ trụ, xét nó như toàn bộ vật chất của cõi ấy hiện hữu [Page 553] bên ngoài vòng-giới-hạn của Thượng đế. Nó liên quan đến các lưu chất và dòng prana cùng akasha.

2. The vibrations of the cosmic astral plane as they affect the physical form of divine manifestation. This involves cosmically the action upon our solar Logos of the emotional quality of other cosmic entities, and concerns the magnetic effect upon Him of their psychic emanation. This, in view of the fact that His dense physical body is not a principle, is of a more potent nature than the first set of vibrations, as is the case also in man’s evolution.

2. Các rung động của cõi cảm dục vũ trụ khi chúng tác động đến hình tướng hồng trần của biểu hiện thiêng liêng. Điều này, về mặt vũ trụ, bao hàm tác động lên Thái dương Thượng đế của chúng ta bởi phẩm tính cảm xúc của các thực thể vũ trụ khác, và liên quan đến hiệu quả từ tính nơi Ngài do phát xạ thông linh của họ. Xét theo sự kiện rằng thể xác đậm đặc của Ngài không phải là một nguyên khí, điều này có bản chất mạnh hơn nhóm rung động thứ nhất, cũng như trong sự tiến hoá của con người.

3. Vibrations from that which, within the logoic consciousness, is recognised as the logoic Higher Self, or His emanating source. This brings the solar system within the vibratory radius of certain constellations which have a position of profound importance in the general evolution of the system.

3. Các rung động từ điều mà, trong tâm thức Thượng đế, được nhận biết là Bản Ngã Cao Siêu của Thượng đế, hay nguồn phát xạ của Ngài. Điều này đưa hệ mặt trời vào trong bán kính rung động của một số chòm sao có vị trí vô cùng quan trọng trong sự tiến hoá tổng quát của hệ thống.

4. Vibrations from Sirius via the cosmic mental plane.

4. Các rung động từ Sirius qua cõi trí vũ trụ.

5. Vibrations from the seven Rishis of the Great Bear, and primarily from those two Who are the Prototypes of the Lords of the seventh and fifth Rays. This is a most important point, and finds its microcosmic correspondence in the place which the seventh Ray has in the building of a thoughtform, and the use of the fifth Ray in the work of concretion. All magicians who work with matter and who are occupied with form-building (either consciously or unconsciously) call in these two types of force or energy.

5. Các rung động từ bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh, và chủ yếu từ hai Đấng là Nguyên mẫu của các Đấng Chúa Tể của cung bảy và cung năm. Đây là một điểm hết sức quan trọng, và tìm thấy sự tương ứng vi mô của nó trong vị trí mà cung bảy giữ trong việc xây dựng một Hình tư tưởng, và việc sử dụng cung năm trong công việc làm cho cụ thể. Mọi nhà huyền thuật làm việc với vật chất và bận tâm đến việc xây dựng hình tướng (dù hữu thức hay vô thức) đều gọi vào hai loại mãnh lực hay năng lượng này.

6. Certain very remote vibrations, as yet no more appreciable in the logoic Body than is monadic influence in that of average man, from the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, that cosmic [Page 554] Existence Who is expressing Himself through seven centres of force, of which our solar system is one.

6. Một số rung động rất xa xôi, hiện nay trong Thể của Thượng đế còn khó nhận thấy hơn cả ảnh hưởng chân thần trong thể của người trung bình, từ ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, Đấng Hiện Hữu vũ trụ ấy [Page 554] đang biểu lộ chính Ngài qua bảy trung tâm mãnh lực, trong đó hệ mặt trời của chúng ta là một.

7. A series of vibrations which will become more potent as our Logos nears that period which is occultly called “Divine Maturity,” which emanate from that constellation in the Heavens which embodies His polar opposite. This is a deep mystery and concerns the cosmic marriage of the Logos.

7. Một chuỗi rung động sẽ trở nên mạnh hơn khi Thượng đế của chúng ta tiến gần đến giai đoạn được gọi một cách huyền bí là “Sự Trưởng Thành Thiêng Liêng”, phát ra từ chòm sao trên Trời hiện thân cho cực đối nghịch của Ngài. Đây là một huyền nhiệm sâu xa và liên quan đến cuộc hôn phối vũ trụ của Thượng đế.

It will be apparent, therefore, how little can as yet be predicated anent the future of the solar system until the vibrations of the sixth and seventh order become more powerful, and their effects can consequently be studied more easily. It is not possible here to do more than indicate the seven types of vibrations to which our solar Logos (functioning in a material body) will in due course of time consciously, and fully, respond. He responds to vibrations of the first, second, third and fourth order quite fully at this time, but as yet (though responding) cannot fully, and consciously, utilise these types of energy. The vibration of the fifth order is recognised by Him, particularly in three of His centres, but is not as yet fully under His control. The other two are sensed, and felt, but so remotely as to be almost outside the range of His consciousness.

Do đó, sẽ thấy rõ rằng hiện nay chúng ta còn có thể nói rất ít về tương lai của hệ mặt trời cho đến khi các rung động thuộc loại thứ sáu và thứ bảy trở nên mạnh hơn, và vì thế các hiệu quả của chúng có thể được nghiên cứu dễ dàng hơn. Ở đây không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra bảy loại rung động mà Thái dương Thượng đế của chúng ta (đang hoạt động trong một thể vật chất) theo thời gian sẽ đáp ứng một cách hữu thức và trọn vẹn. Hiện nay Ngài đáp ứng khá đầy đủ với các rung động thuộc loại thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư, nhưng cho đến nay (dù có đáp ứng) vẫn chưa thể sử dụng đầy đủ và hữu thức các loại năng lượng này. Rung động thuộc loại thứ năm được Ngài nhận biết, đặc biệt trong ba trung tâm của Ngài, nhưng vẫn chưa hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Ngài. Hai loại còn lại được cảm nhận và cảm thấy, nhưng xa xôi đến mức gần như nằm ngoài phạm vi tâm thức của Ngài.

In carrying out these ideas in connection with man and the thought forms which he fabricates (such as his material sheaths), the correspondence can be worked out within the system, and from the point of view of the planetary schemes in which man has his place. The work of man as he builds in mental thought matter and constructs forms extraneous to himself, we shall deal with later.

Khi triển khai các ý tưởng này liên hệ đến con người và các Hình tư tưởng mà y tạo tác (chẳng hạn như các vỏ bọc vật chất của y), sự tương ứng có thể được khảo sát trong nội bộ hệ thống, và từ quan điểm của các hệ hành tinh nơi con người có vị trí của mình. Công việc của con người khi y xây dựng trong chất liệu tư tưởng trí tuệ và kiến tạo các hình tướng ở ngoài chính mình, chúng ta sẽ bàn đến sau.

The methods whereby vibratory response is brought about might be enumerated as follows: [Page 555]

Các phương pháp nhờ đó sự đáp ứng rung động được tạo ra có thể được liệt kê như sau: [Page 555]

Through the factor of time in evolution.

Qua yếu tố thời gian trong tiến hoá.

Through extra-systemic stimulation and intensive training, whether for a Logos or a man.

Qua sự kích thích ngoài hệ thống và sự huấn luyện chuyên sâu, dù là cho một Thượng đế hay một con người.

Through the process of Initiation, and the application of the Rods of Initiation.

Qua tiến trình Điểm đạo, và việc áp dụng các Thần Trượng Điểm đạo.

The factor of evolution is recognised and studied by many schools of thought, esoteric or exoteric. The extrasystemic stimulation involves a large number of factors, but the main two to be remembered are that this stimulation will be applied:

Yếu tố tiến hoá được nhiều trường phái tư tưởng, huyền bí hay ngoại môn, thừa nhận và nghiên cứu. Sự kích thích ngoài hệ thống bao hàm một số lượng lớn các yếu tố, nhưng hai yếu tố chính cần ghi nhớ là sự kích thích này sẽ được áp dụng:

Through the group to the unit.

Qua nhóm đến đơn vị.

Through a more evolved “Kingdom of Nature” to a less evolved.

Qua một “Giới của Tự Nhiên” tiến hoá hơn đến một giới kém tiến hoá hơn.

As regards the third factor of Initiation, it must be borne in mind that we are here considering only the great initiations, and not the numerous expansions of consciousness which can be traced through all kingdoms and all manifestations.

Về yếu tố thứ ba là Điểm đạo, cần ghi nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ xét các cuộc điểm đạo lớn, chứ không phải vô số sự mở rộng tâm thức có thể được truy ra trong mọi giới và mọi biểu hiện.

In connection with what we have considered above, anent the primary function of a thought-form (the power to respond to vibration) I would emphasise the necessity of remembering that that response must be made by the inner embodied Idea, and that it will then through a complex reflex action, bring about response from the material sheath which veils it. Vibration is the result of subjective impulse, and makes its appeal to the subjective consciousness through impact upon whatever may be understood as substance; this impact is transmitted direct to the inner life, and in due turn is retransmitted to substance in the form of recognition or realisation. An analogous process may be studied in the nerve reactions of the physical frame, and their alliance with the brain consciousness.

Liên hệ đến điều chúng ta đã xét ở trên, về chức năng sơ khởi của một Hình tư tưởng (quyền năng đáp ứng với rung động), tôi muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải nhớ rằng sự đáp ứng ấy phải được thực hiện bởi Ý tưởng nhập thể bên trong, và rồi qua một tác động phản xạ phức tạp, sẽ tạo ra sự đáp ứng từ vỏ bọc vật chất che phủ nó. Rung động là kết quả của xung lực chủ quan, và hướng lời kêu gọi của nó đến tâm thức chủ quan qua sự va chạm lên bất cứ điều gì có thể được hiểu là chất liệu; sự va chạm này được truyền trực tiếp đến sự sống bên trong, và đến lượt nó lại được truyền trở lại chất liệu dưới hình thức sự nhận biết hay chứng nghiệm. Một tiến trình tương tự có thể được nghiên cứu trong các phản ứng thần kinh của khung thể xác, và sự liên hệ của chúng với tâm thức bộ não.

As will be seen in the three worlds of man’s emprise, man will work as a Creator and will follow a similar procedure. [Page 556] His thought forms will be constructed of mental matter, chosen specifically because it vibrates to the same type of vibration as the Idea seeking embodiment, and these forms will persist—as does the logoic thought form, the solar system—for just as long as the factor of Will, or dynamic vitality, continues to hold it together.

Như sẽ thấy trong ba cõi giới thuộc phạm vi hoạt động của con người, con người sẽ làm việc như một Đấng sáng tạo và sẽ theo một thủ tục tương tự. [Page 556] Các Hình tư tưởng của y sẽ được kiến tạo bằng chất liệu trí tuệ, được chọn riêng vì nó rung động cùng loại rung động với Ý tưởng đang tìm cách nhập thể, và các hình này sẽ tồn tại—cũng như Hình tư tưởng của Thượng đế, tức hệ mặt trời—chừng nào yếu tố Ý chí, hay sinh lực năng động, còn tiếp tục giữ chúng lại với nhau.

This brings us to our next point:

Điều này đưa chúng ta đến điểm kế tiếp:

b. To Provide a Body for an Idea. In this statement we have latent the basic principle of incarnation, and of activity, even of existence itself. It involves the expansion of our idea to include the cosmic mental plane as we consider the Logos, and as the creative faculty of man is studied we are taken to the mental plane of the solar system. One fundamental thought must here be given and. pondered upon: This creative impulse, this tendency towards the concretion of the abstract, this inherent ability to “take form” has its fullest expression as yet in physical matter. The “raison d’être” is that—for man—all substances with which he creates, all forms which he builds, and all processes of concretion which he carries on, are created, built and carried on within the physical body of the Logos. Herein can be found the reason for the emphasis laid in nature on the sex aspect, and on that of physical reproduction; it can be seen in all the kingdoms of nature, with the exception of the first and fifth. This is a most significant point and the exceptions should be studied in their widest connotation, for they contain the basic mystery of sex on the involutionary path, and on the evolutionary. In them we have the two extremes. It will have been noted that as the idea that the solar system is the physical vehicle of the Logos and His body of manifestation is grasped, many problems become elucidated, and two points especially will gradually be apprehended by the student, if he meditates and studies:

b. Cung cấp một thể cho một ý tưởng. Trong phát biểu này tiềm ẩn nguyên lý căn bản của sự nhập thể, của hoạt động, và ngay cả của chính sự hiện hữu. Nó đòi hỏi chúng ta mở rộng ý niệm của mình để bao gồm cõi trí vũ trụ khi xét về Thượng đế, và khi nghiên cứu năng lực sáng tạo của con người, chúng ta được dẫn đến cõi trí của hệ mặt trời. Ở đây phải nêu ra và suy gẫm một tư tưởng căn bản: Xung lực sáng tạo này, khuynh hướng hướng đến việc làm cho cái trừu tượng trở nên cụ thể này, khả năng cố hữu để “mang lấy hình tướng” này, cho đến nay đạt biểu hiện đầy đủ nhất trong vật chất hồng trần. “Lý do tồn tại” là ở chỗ—đối với con người—mọi chất liệu mà y dùng để sáng tạo, mọi hình tướng mà y xây dựng, và mọi tiến trình làm cho cụ thể mà y tiến hành, đều được tạo ra, xây dựng và tiến hành bên trong thể xác của Thượng đế. Chính trong đó có thể tìm thấy lý do cho sự nhấn mạnh mà thiên nhiên đặt lên phương diện tính dục, và lên sự sinh sản hồng trần; điều này có thể thấy trong mọi giới tự nhiên, ngoại trừ giới thứ nhất và giới thứ năm. Đây là một điểm hết sức quan trọng và các ngoại lệ ấy cần được nghiên cứu trong ý nghĩa rộng nhất của chúng, vì chúng chứa đựng huyền nhiệm căn bản của tính dục trên con đường giáng hạ tiến hoá và trên con đường thăng thượng tiến hoá. Trong chúng, chúng ta có hai cực đoan. Cần lưu ý rằng khi ý tưởng cho rằng hệ mặt trời là vận cụ hồng trần của Thượng đế và là thể biểu hiện của Ngài được nắm bắt, nhiều vấn đề trở nên sáng tỏ, và đặc biệt có hai điểm sẽ dần dần được đạo sinh lĩnh hội, nếu y tham thiền và nghiên cứu:

First. That in due course of time, as the Logos [Page 557] achieves liberation from the trammels of physical matter, the whole objective system will come to be regarded as an idea or concept, clothed in a veil or sheath of subtler matter than the physical, and the logoic body will be viewed as the product of will and desire, and physical matter in any of its grades will not enter into its composition; it will simply be a desire body. This will bring about a condition of affairs inconceivable to us, and only to be somewhat apprehended by the man who can function upon the systemic buddhic plane the fourth cosmic ether. Bear in mind here that our astral plane is but the sixth subplane of the cosmic physical plane and that this provides us with no real grounds from which to reason concerning the cosmic astral plane. Only when the astral plane is a calm receiver of buddhic impulse, or a liquid reflector of that plane (which will not be till the close of the mahamanvantara) shall we be able to formulate any ideas anent the cosmic astral plane.

Thứ nhất. Rằng theo thời gian, khi Thượng đế [Page 557] đạt được sự giải thoát khỏi những ràng buộc của vật chất hồng trần, toàn bộ hệ thống khách quan sẽ được xem như một ý tưởng hay khái niệm, khoác trong một màn che hay vỏ bọc bằng chất liệu vi tế hơn hồng trần, và thể của Thượng đế sẽ được nhìn như sản phẩm của ý chí và dục vọng, còn vật chất hồng trần ở bất kỳ cấp độ nào cũng sẽ không tham dự vào thành phần cấu tạo của nó; nó đơn giản sẽ là một thể dục vọng. Điều này sẽ tạo ra một tình trạng không thể hình dung đối với chúng ta, và chỉ phần nào được lĩnh hội bởi người có thể hoạt động trên cõi Bồ đề của hệ thống, tức dĩ thái vũ trụ thứ tư. Ở đây hãy ghi nhớ rằng cõi cảm dục của chúng ta chỉ là cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ và điều đó không cho chúng ta nền tảng thực sự nào để suy luận về cõi cảm dục vũ trụ. Chỉ khi nào cõi cảm dục là một bộ tiếp nhận tĩnh lặng của xung lực Bồ đề, hay một tấm phản chiếu lưu động của cõi ấy (điều này sẽ không xảy ra cho đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa) thì chúng ta mới có thể hình thành bất kỳ ý tưởng nào về cõi cảm dục vũ trụ.

Second. That the entire sex aspect of manifestation, as we understand it in the different kingdoms of nature, is an expression of the energy of the Logos, as it flows through and stimulates that centre in His body which corresponds to the generative organs. All the creative functions of the vegetable, animal, and human family, viewing them as a whole, are as yet purely physical, and based on lower desire. The desire of the Logos for physical incarnation is as yet the dominant note. Later His desire for that will be less and will become transmuted into desire for creation on mental levels only. This is what brings the Destroyer aspect into activity, leading to eventual obscuration, and the physical “death” of the solar system. Indication that this aspect is coming into power will be seen when two great events transpire: [Page 558]

Thứ hai. Rằng toàn bộ phương diện tính dục của biểu hiện, như chúng ta hiểu nó trong các giới khác nhau của tự nhiên, là một biểu hiện của năng lượng của Thượng đế, khi nó tuôn chảy qua và kích thích trung tâm trong thể của Ngài tương ứng với các cơ quan sinh sản. Mọi chức năng sáng tạo của giới thực vật, giới động vật và gia đình nhân loại, xét như một toàn thể, cho đến nay vẫn thuần túy là hồng trần, và dựa trên dục vọng thấp. Dục vọng của Thượng đế đối với sự nhập thể hồng trần cho đến nay vẫn là chủ âm chi phối. Về sau dục vọng ấy của Ngài sẽ giảm đi và sẽ được chuyển hoá thành dục vọng chỉ sáng tạo trên các cấp độ trí tuệ. Chính điều này đưa phương diện Hủy Diệt vào hoạt động, dẫn đến sự lu mờ sau cùng, và “cái chết” hồng trần của hệ mặt trời. Dấu hiệu cho thấy phương diện này đang đi vào quyền lực sẽ được thấy khi hai biến cố lớn xảy ra: [Page 558]

a. The ability of man consciously to create on mental levels, and the consequent transmutation of his lower sex impulses into higher.

a. Khả năng của con người trong việc sáng tạo một cách hữu thức trên các cấp độ trí tuệ, và sự chuyển hoá tương ứng các xung lực tính dục thấp của y thành cao hơn.

b. The mental vitalisation of another large section of the animal kingdom.

b. Sự tiếp sinh lực trí tuệ cho một bộ phận lớn khác của giới động vật.

When these two things can be seen working out in any round, it will be indicative of a decided mental polarisation of the Logos; we can only become cognisant of this by studying His body of manifestation in its component parts.

Khi có thể thấy hai điều này đang diễn ra trong bất kỳ cuộc tuần hoàn nào, đó sẽ là dấu hiệu cho thấy sự phân cực trí tuệ rõ rệt của Thượng đế; chúng ta chỉ có thể nhận biết điều này bằng cách nghiên cứu thể biểu hiện của Ngài trong các thành phần cấu tạo của nó.

What is here predicated anent the logoic thought form can be equally well stated about that of a Heavenly Man, and a planetary scheme. As His cosmic polarisation becomes more mental, and as His cosmic desire nature becomes transmuted, the force that plays through His centres will correspondingly be seen to vary in direction; He will withdraw force from certain of His lower centres and globes; He will cease to be interested in physical incarnation, and He will eventually withdraw within Himself. His thought-form will show a gradual diminution of vitality; the dense physical globe will die and pass out of objectivity, and other globes will temporarily hold His life, though not for long. In due course of time the entire scheme will be obscured, and He will function only in His cosmic astral body.

Điều được khẳng định ở đây về Hình tư tưởng của Thượng đế cũng có thể được phát biểu tương tự về Hình tư tưởng của một Đấng Thiên Nhân, và của một hệ hành tinh. Khi sự phân cực vũ trụ của Ngài trở nên trí tuệ hơn, và khi bản chất dục vọng vũ trụ của Ngài được chuyển hoá, mãnh lực vận hành qua các trung tâm của Ngài cũng sẽ tương ứng mà thay đổi phương hướng; Ngài sẽ rút mãnh lực khỏi một số trung tâm và các bầu hành tinh thấp của Ngài; Ngài sẽ không còn quan tâm đến sự nhập thể hồng trần, và cuối cùng Ngài sẽ rút vào bên trong chính mình. Hình tư tưởng của Ngài sẽ cho thấy sự suy giảm sinh lực dần dần; bầu hành tinh hồng trần đậm đặc sẽ chết và ra khỏi tính khách quan, và các bầu hành tinh khác sẽ tạm thời giữ sự sống của Ngài, dù không lâu. Theo thời gian, toàn bộ hệ hành tinh sẽ bị lu mờ, và Ngài sẽ chỉ hoạt động trong thể cảm dục vũ trụ của Ngài.

Such is the case too with a chain and its informing Life, viewing a chain as simply a centre in the body of the planetary Logos, yet having its own central factor. This can be seen in the Moon in a most interesting way. The desire of its Occupant was no longer for physical manifestation; He therefore withdrew His life. All that is left is the devitalised shell; the two other aspects have gone and only the third aspect, the inherent life of matter itself, remains gradually to dissipate also as the centuries elapse. In connection with man, a similar condition [Page 559] is seen in the gradual disintegration of the physical body after death; the two other aspects are removed, and the form decays.

Trường hợp của một Dãy và Sự sống phú linh cho nó cũng vậy, nếu xem một Dãy chỉ đơn giản là một trung tâm trong thể của Hành Tinh Thượng đế, nhưng vẫn có yếu tố trung tâm riêng của nó. Điều này có thể thấy nơi Mặt Trăng theo một cách rất lý thú. Dục vọng của Đấng Cư Ngụ trong đó không còn hướng đến biểu hiện hồng trần nữa; vì vậy Ngài đã rút sự sống của mình. Tất cả những gì còn lại là cái vỏ bị rút sinh lực; hai phương diện kia đã ra đi và chỉ còn phương diện thứ ba, tức sự sống cố hữu của chính vật chất, cũng đang dần dần tiêu tan theo dòng thế kỷ. Liên hệ đến con người, một tình trạng tương tự [Page 559] được thấy trong sự tan rã dần dần của thể xác sau khi chết; hai phương diện kia bị rút đi, và hình tướng phân huỷ.

As these fundamental facts are grasped, and man begins to appreciate his position as Creator, the entire aspect of the sex question will also change; and emphasis will be laid upon the laws of mental creation, on the formulation of thought-forms in a scientific manner, and the dense physical aspect of creation will be in abeyance. When this is so, then will man be coming into his divine right, and the human kingdom be fulfilling its legitimate function. The sex aspect—as at present expressing itself—and the whole process of reproduction is one which man shares with the animal kingdom, and is based upon his animal instincts, and his dense physical nature, which is not a principle. When he is totally emancipated from the animal kingdom, and the third and fourth kingdoms stand distinct from each other, then the sex nature, and the organs of reproduction will be viewed by the average man in a very different manner than at present. Creation will eventually be the result of thought impulses and not desire impulses; the process will be then (once the initial impulse on the mental plane has been given), as normal, as safe, and as unconscious as the act of breathing is now. When this is so (and the time is a long way ahead), physical reproduction will still continue, but the physical form will be spoken of in terms of concretion and of energy, and the emphasis will be laid upon that which is to be embodied. This stage will be entered upon when the functions of the etheric body are scientifically grasped and understood and the laws of creative thought are a matter of public knowledge and discussion; it will coincide with a period wherein the animal kingdom will again be under manasic impression, and individualisation will again be permitted.

Khi các sự kiện căn bản này được nắm bắt, và con người bắt đầu đánh giá vị trí của mình như một Đấng sáng tạo, toàn bộ phương diện của vấn đề tính dục cũng sẽ thay đổi; và sự nhấn mạnh sẽ được đặt lên các định luật của sự sáng tạo trí tuệ, lên việc hình thành các Hình tư tưởng theo cách khoa học, còn phương diện hồng trần đậm đặc của sự sáng tạo sẽ ở trong trạng thái đình chỉ. Khi điều này xảy ra, con người sẽ đi vào quyền thiêng liêng của mình, và giới nhân loại sẽ hoàn thành chức năng chính đáng của nó. Phương diện tính dục—như hiện nay đang biểu lộ—và toàn bộ tiến trình sinh sản là điều mà con người chia sẻ với giới động vật, và dựa trên các bản năng động vật của y, cùng bản chất hồng trần đậm đặc của y, vốn không phải là một nguyên khí. Khi y hoàn toàn được giải phóng khỏi giới động vật, và giới thứ ba cùng giới thứ tư đứng tách biệt rõ ràng với nhau, thì bản chất tính dục và các cơ quan sinh sản sẽ được con người trung bình nhìn theo một cách rất khác với hiện nay. Sự sáng tạo cuối cùng sẽ là kết quả của các xung lực tư tưởng chứ không phải các xung lực dục vọng; khi đó tiến trình sẽ (một khi xung lực ban đầu trên cõi trí đã được đưa ra) bình thường, an toàn và vô thức như hành động hô hấp hiện nay. Khi điều này xảy ra (và thời điểm ấy còn rất xa), sự sinh sản hồng trần vẫn sẽ tiếp tục, nhưng hình tướng hồng trần sẽ được nói đến theo các thuật ngữ của sự làm cho cụ thể và của năng lượng, và sự nhấn mạnh sẽ được đặt lên điều sẽ được nhập thể. Giai đoạn này sẽ được bước vào khi các chức năng của thể dĩ thái được nắm bắt và thấu hiểu một cách khoa học, và các định luật của tư tưởng sáng tạo trở thành vấn đề tri thức và thảo luận công khai; nó sẽ trùng hợp với một thời kỳ trong đó giới động vật lại chịu ấn tượng manas, và sự biệt ngã hóa lại được cho phép.

[Page 560] It will be generally recognised at that time that Spirit-matter are two aspects of the one Unity, and the present terminology of Spirit, and material substance, will have given place to the broader concept of negative and positive energy as the two aspects of the One Energy. All phenomena will then be expressed in force terms, and the sex question—or the union of the male and female, the negative and the positive, on the physical plane—will be redeemed and purified.

[Page 560] Khi ấy, người ta sẽ nhìn nhận một cách phổ biến rằng tinh thần-vật chất là hai phương diện của một Hợp Nhất duy nhất, và thuật ngữ hiện nay về tinh thần và chất liệu vật chất sẽ nhường chỗ cho khái niệm rộng hơn về năng lượng âm và dương như hai phương diện của Một Năng Lượng. Khi đó mọi hiện tượng sẽ được diễn tả bằng các thuật ngữ của mãnh lực, và vấn đề tính dục—hay sự kết hợp của nam và nữ, âm và dương, trên cõi hồng trần—sẽ được cứu chuộc và thanh lọc.

An embodied idea, therefore, is literally a positive impulse, emanating from mental levels, and clothing itself in a veil of negative substance. These two factors in turn will be regarded as emanations from a still greater force centre, which is expressing purpose through them both.

Do đó, một ý tưởng nhập thể theo nghĩa đen là một xung lực dương, phát ra từ các cấp độ trí tuệ, và tự khoác lấy một màn che bằng chất liệu âm. Đến lượt mình, hai yếu tố này sẽ được xem như các phát xạ từ một trung tâm mãnh lực còn lớn hơn nữa, đang biểu lộ mục đích qua cả hai.

A thought form, as constructed by man, is the union of a positive emanation and a negative. These two are the emanations of a Unity, the coherent Thinker.

Một Hình tư tưởng, như được con người kiến tạo, là sự kết hợp của một phát xạ dương và một phát xạ âm. Hai điều này là các phát xạ của một Hợp Nhất, tức Đấng Tư Tưởng cố kết.

c. To Carry Out Specific Purpose. We touch here upon the most vital element in the building of thoughtforms. In our first point we touched upon the aspect of consciousness, or “response to sensation, or feeling,” and thus brought into our study of the building process the second aspect logoic, that of the Ego, or the realisation of essential duality. In our second point the more objective aspect was somewhat elaborated, and the tangible form dealt with, thus bringing in the third logoic aspect, that of intelligent substance, or that through which consciousness seeks expression. Now the will or purpose aspect is to be considered, bringing therefore the first aspect logoic, or the “will-to-be” to the fore. When this third point is meditated upon with care, it will be noted (as might be expected) that it includes the other two, and synthesises them.

c. Thực hiện một mục đích đặc thù. Ở đây chúng ta chạm đến yếu tố sinh tử nhất trong việc xây dựng các Hình tư tưởng. Ở điểm thứ nhất, chúng ta đã chạm đến phương diện tâm thức, hay “đáp ứng với cảm giác, hay cảm thọ,” và như vậy đã đưa vào công trình nghiên cứu về tiến trình xây dựng phương diện Thượng đế thứ hai, tức chân ngã, hay sự chứng nghiệm về tính nhị nguyên căn yếu. Ở điểm thứ hai, phương diện khách quan hơn đã được khai triển phần nào, và hình tướng hữu hình đã được bàn đến, do đó đưa vào phương diện Thượng đế thứ ba, tức chất liệu thông tuệ, hay điều mà qua đó tâm thức tìm cách biểu lộ. Giờ đây phương diện ý chí hay mục đích cần được xem xét, do đó đưa phương diện Thượng đế thứ nhất, hay “ý chí hiện hữu”, ra tiền cảnh. Khi điểm thứ ba này được tham thiền cẩn trọng, sẽ thấy (như có thể chờ đợi) rằng nó bao gồm hai điểm kia và tổng hợp chúng.

Certain factors must be borne in mind as we consider these words “specific purpose.” By their tabulation [Page 561] we shall endeavour to make as clear as may be, this very complex matter. The ideas involved are:

Một số yếu tố phải được ghi nhớ khi chúng ta xem xét các từ “mục đích đặc thù” này. Bằng cách liệt kê chúng [Page 561] chúng ta sẽ cố gắng làm cho vấn đề rất phức tạp này sáng tỏ hết mức có thể. Các ý tưởng liên hệ là:

The Factor of Identity. Specific purpose is the practical application of the will, or intent, of a conscious intelligent Existence as it shows itself in:

Yếu tố Bản sắc. Mục đích đặc thù là sự ứng dụng thực tiễn của ý chí, hay chủ ý, của một Hiện Hữu hữu thức và thông tuệ như nó biểu lộ trong:

a. Its source

a. Nguồn gốc của nó

b. Its mission

b. Sứ mệnh của nó

c. Its method

c. Phương pháp của nó

d. Its objective.

d. Mục tiêu của nó.

All these will vary according to the nature of the emanating Identity. All thought forms—logoic, planetary, and human—(for no other entities of lesser grade work as mental creators), emanate from a mind, are built for the purpose of carrying out some active work, demonstrate under set rules and laws, and have a definite goal, or expected consummation.

Tất cả những điều này sẽ thay đổi tùy theo bản chất của Bản Sắc phát xạ. Mọi Hình tư tưởng—của Thượng đế, hành tinh và con người—(vì không có thực thể nào khác ở cấp thấp hơn làm việc như những đấng sáng tạo trí tuệ), đều phát ra từ một trí tuệ, được xây dựng nhằm thực hiện một công việc hoạt động nào đó, biểu lộ dưới các quy luật và định luật nhất định, và có một mục tiêu xác định, hay một sự hoàn tất được mong đợi.

The Factor of Time. Specific purpose in the solar system is the gradual evolution of a definite plan originating in the Mind of the Logos, and slowly, and cyclically, achieving consummation. Three vast periods of time are consumed in the process:

Yếu tố Thời gian. Mục đích đặc thù trong hệ mặt trời là sự tiến hoá dần dần của một thiên cơ xác định bắt nguồn trong Trí của Thượng đế, và chậm rãi, theo chu kỳ, đạt đến sự hoàn tất. Ba thời kỳ thời gian rộng lớn được dùng trong tiến trình này:

The period of construction, wherein the form is built.

Thời kỳ kiến tạo, trong đó hình tướng được xây dựng.

The period of utilisation, wherein the form is occupied, vitalised by a central Life, and employed.

Thời kỳ sử dụng, trong đó hình tướng được cư ngụ, được một Sự sống trung tâm tiếp sinh lực, và được sử dụng.

The period of dissolution, wherein the form is devitalised, destroyed and dissipated.

Thời kỳ tan rã, trong đó hình tướng bị rút sinh lực, bị phá huỷ và bị làm tiêu tan.

In the first stage, that which concerns the tangible, that which deals with objectivity, is the more emphasised, and of supreme importance. In the second stage, the life within the form, or the subjective consciousness, comes gradually to the fore, and the quality, or the psyche of the thought-form, becomes apparent. In the final stage, the thought form (having performed its mission), separates into its basic duality, and will or energy (which lies, as a unity, back of duality), ceases in intent. [Page 562] The objective life (spiritual life where cosmic thought-forms are concerned; manasic life when solar thought-forms are constructed; and elemental life where human thought-forms are built) withdraws and the form dissipates.

Trong giai đoạn thứ nhất, điều liên hệ đến cái hữu hình, điều liên hệ đến tính khách quan, được nhấn mạnh hơn và có tầm quan trọng tối thượng. Trong giai đoạn thứ hai, sự sống bên trong hình tướng, hay tâm thức chủ quan, dần dần đi ra tiền cảnh, và phẩm tính, hay linh hồn của Hình tư tưởng, trở nên hiển lộ. Trong giai đoạn cuối cùng, Hình tư tưởng (sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của nó), tách ra thành tính nhị nguyên căn bản của nó, và ý chí hay năng lượng (vốn, như một hợp nhất, nằm phía sau nhị nguyên tính), chấm dứt chủ ý. [Page 562] Sự sống khách quan (tinh thần khi liên hệ đến các Hình tư tưởng vũ trụ; manas khi các Hình tư tưởng thái dương được kiến tạo; và hành khí khi các Hình tư tưởng của con người được xây dựng) rút đi và hình tướng tiêu tan.

In all these cases it will be apparent that only in the study of the development of the quality of the thought-form will its inherent purpose be revealed; only as its emanative processes are comprehended will the nature of its mission become recognisable. This is true fundamentally of all forms. Where the relatively unimportant forms—such as those constructed by man at this time—are concerned, this can easily be discovered, and to the trained clairvoyant each form reveals:

Trong mọi trường hợp này, sẽ rõ rằng chỉ trong việc nghiên cứu sự phát triển của phẩm tính của Hình tư tưởng thì mục đích cố hữu của nó mới được mặc khải; chỉ khi các tiến trình phát xạ của nó được thấu hiểu thì bản chất sứ mệnh của nó mới có thể được nhận ra. Điều này về căn bản là đúng với mọi hình tướng. Khi liên hệ đến các hình tướng tương đối không quan trọng—chẳng hạn như những hình do con người hiện nay kiến tạo—điều này có thể được khám phá dễ dàng, và đối với nhà thông nhãn lão luyện, mỗi hình tướng đều bộc lộ:

By its colour,

Qua màu sắc của nó,

By its vibration,

Qua rung động của nó,

By its direction,

Qua phương hướng của nó,

By its keynote,

Qua chủ âm của nó,

the nature of the inner life, the quality of its vibration and the nature of its goal. In the summation of all these points will the purpose reveal itself.

bản chất của sự sống bên trong, phẩm tính của rung động của nó và bản chất của mục tiêu của nó. Trong sự tổng hợp của tất cả các điểm này, mục đích sẽ tự bộc lộ.

The Factor of Karma. Every thought-form comes under the law of Karma through the effect it produces. At this stage in the history of the system—that vast transitional stage between dense physical life and existence in the logoic etheric body—it is not easy for us to differentiate between those thought forms which are effects and those which are causes. It should be remembered here that only cosmic and solar lords formulate thoughts. The lunar Lords and all lesser intelligences do not do so. Therefore, the two above mentioned groups come under karmic law. They only are self-conscious, and therefore responsible. Where self-consciousness is not, there is no responsibility. Hence animals are not held to be responsible, and though they [Page 563] suffer on the physical plane and in their physical vehicles, on the subtler planes they are freed from karma, for they have neither memory nor anticipation; they lack the correlating faculty and as the spark of mind is missing, they are held free from the law of retribution, except where the physical body is concerned. The reason for the suffering in the animal kingdom is hidden in the mystery of the sin of the mindless, (180) and in that terrible period spoken of in the Secret Doctrine, which resulted in abortions and distortions of all kinds. Had this period not occurred, and this particular type of “miscarriage of purpose” not taken place, we should not have had the fearful karmic relationship which now exists between the third and the fourth kingdom.

Yếu tố Nghiệp quả. Mọi Hình tư tưởng đều nằm dưới định luật Nghiệp quả qua hiệu quả mà nó tạo ra. Ở giai đoạn này trong lịch sử của hệ thống—giai đoạn chuyển tiếp rộng lớn giữa sự sống hồng trần đậm đặc và sự hiện hữu trong thể dĩ thái của Thượng đế—chúng ta không dễ phân biệt giữa những Hình tư tưởng là kết quả và những Hình tư tưởng là nguyên nhân. Ở đây cần nhớ rằng chỉ các chúa tể vũ trụ và thái dương mới hình thành tư tưởng. Các nguyệt tinh quân và mọi trí tuệ thấp hơn thì không. Do đó, hai nhóm vừa nêu ở trên nằm dưới định luật nghiệp quả. Chỉ các Ngài là có ngã thức, và vì vậy có trách nhiệm. Nơi nào không có ngã thức, nơi đó không có trách nhiệm. Vì thế động vật không bị xem là có trách nhiệm, và dù chúng [Page 563] chịu đau khổ trên cõi hồng trần và trong các vận cụ hồng trần của chúng, trên các cõi vi tế hơn chúng được giải thoát khỏi nghiệp quả, vì chúng không có ký ức cũng không có sự dự liệu; chúng thiếu năng lực tương liên và vì tia lửa trí tuệ còn thiếu, chúng được xem là không bị định luật báo ứng chi phối, ngoại trừ nơi thể xác. Lý do của đau khổ trong giới động vật được che giấu trong huyền nhiệm về tội lỗi của những kẻ vô trí, (180) và trong thời kỳ khủng khiếp được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm, thời kỳ đã dẫn đến các sự sẩy thai và biến dạng đủ loại. Nếu thời kỳ ấy đã không xảy ra, và loại “sẩy thai của mục đích” đặc biệt này đã không diễn ra, thì chúng ta đã không có mối liên hệ nghiệp quả đáng sợ hiện đang tồn tại giữa giới thứ ba và giới thứ tư.

(180) The sin of the Mindless. See S. D., II, 195, 201. This sin has to do with the period of the Separation of the Sexes in the early third rootrace, the Lemurian. The same historical fact is hinted at also in the Bible in Genesis VI, 2:4.

(180) Tội lỗi của những kẻ vô trí. Xem S. D., II, 195, 201. Tội lỗi này liên hệ đến thời kỳ Phân Ly Giới Tính trong giống dân gốc thứ ba thời kỳ đầu, tức Lemuria. Sự kiện lịch sử này cũng được ám chỉ trong Kinh Thánh, Sáng Thế Ký VI, 2:4.

“They (the sexes) had already separated before the ray of divine reason had enlightened the dark region of their hitherto slumbering minds, and had sinned. That is to say, they had committed evil unconsciously by producing an effect which was unnatural.”

“Họ (hai giới tính) đã phân ly trước khi tia lý trí thiêng liêng soi sáng miền tối tăm của các trí tuệ bấy lâu còn ngủ yên của họ, và họ đã phạm tội. Nghĩa là, họ đã vô thức làm điều ác bằng cách tạo ra một hiệu quả trái tự nhiên.”

See also S. D., II, 721, 728. (back)

Xem thêm S. D., II, 721, 728. (back)

The effect of the life and persistence of a thought-form, if maleficent and destructive, works out as “evil karma” if beneficent it works as “good karma” in the group in which the emanator has a place. This is what is meant by there being no karma attached to the working out of a good and altruistic deed.

Hiệu quả của sự sống và sự tồn tại dai dẳng của một Hình tư tưởng, nếu ác hại và phá hoại, sẽ biểu lộ thành “nghiệp xấu”; nếu thiện lành, nó sẽ biểu lộ thành “nghiệp tốt” trong nhóm mà đấng phát xạ có vị trí. Đây là điều được hàm ý khi nói rằng không có nghiệp quả gắn với việc thực hiện một hành động tốt lành và vị tha.

S5S12

The Factor of the Lesser Builders. Here a most interesting factor comes in upon which we shall enlarge later, when considering the elementals. The specific purpose of a thought-form is connected very closely with the type of deva essence of which it is constructed, and (in connection with man on the mental plane), with the type of elemental which he can control, and send forth as the occupier, or vitalising agency of the thoughtform. Roughly speaking, a solar Logos works only through the greater Builders, the Manasaputras in Their [Page 564] various grades on the two higher planes of the solar system. He works through Them, and sends Them forth upon the mission of constructing, and vitalising the systemic thought-form, with a specific purpose in view. The planetary Logoi work primarily through the Builders of the next three planes (atma-buddhi-manas), who construct and control the work of the planetary schemes. Men work through the builders of the lower mental planes, and the astral plane, for the human thought-forms are kama-manasic; the physical plane builders are swept automatically into action by the force of the currents, and energies set up in subtler matter, by the great Builders.

Yếu tố của các vị tiểu kiến tạo. Ở đây xuất hiện một yếu tố rất lý thú mà chúng ta sẽ khai triển thêm về sau khi xét đến các hành khí. Mục đích đặc thù của một Hình tư tưởng liên hệ rất chặt chẽ với loại tinh chất thiên thần mà nó được cấu tạo từ đó, và (liên hệ đến con người trên cõi trí), với loại hành khí mà y có thể kiểm soát, và phóng ra như kẻ cư ngụ, hay tác nhân tiếp sinh lực của Hình tư tưởng. Nói một cách khái quát, một Thái dương Thượng đế chỉ làm việc qua các đấng đại kiến tạo, các Manasaputra ở các cấp bậc khác nhau của Các Ngài trên hai cõi cao hơn của hệ mặt trời. Ngài làm việc qua Các Ngài, và phóng Các Ngài ra với sứ mệnh kiến tạo và tiếp sinh lực cho Hình tư tưởng hệ thống, với một mục đích đặc thù trong tầm nhìn. Các Hành Tinh Thượng đế làm việc chủ yếu qua các đấng kiến tạo của ba cõi kế tiếp (atma-buddhi-manas), những vị kiến tạo và kiểm soát công việc của các hệ hành tinh. Con người làm việc qua các đấng kiến tạo của các cõi hạ trí và cõi cảm dục, vì các Hình tư tưởng của con người là trí-cảm; các đấng kiến tạo cõi hồng trần tự động bị cuốn vào hoạt động bởi sức mạnh của các dòng và năng lượng được thiết lập trong chất liệu vi tế hơn bởi các đấng đại kiến tạo.

The inserted tabulation [below] may make this clear.

Bảng liệt kê được chèn vào [bên dưới] có thể làm sáng tỏ điều này.

If the table is carefully studied, it will be seen that the fivefold earlier enumeration concerns the most important kingdoms in nature, whilst the final two are peculiarly interesting in that the mineral kingdom can in no sense be considered a principle, but simply the densest point of concretion of the abstract, and that the vegetable kingdom has a peculiar place in the economy of the system as the transmitter of the vital pranic fluid; the vegetable kingdom is definitely a bridge between the conscious and the unconscious. Here I am using these words in their broadest and most general sense. Though it is known that the mineral kingdom has a consciousness of its own, yet sensation is more distinctly recognisable in the second kingdom, and the distinction between the consciousness of the mineral and that of the animal is so vast that their respective consciousnesses are basically unlike. Between these stands the vegetable kingdom, approximating more generally the animal consciousness than the mineral, and having a most esoteric relationship to the deva evolution. [Page 565]

Nếu bảng được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy rằng sự liệt kê ngũ phân trước đó liên hệ đến các giới quan trọng nhất trong tự nhiên, trong khi hai giới cuối cùng đặc biệt lý thú ở chỗ giới kim thạch không thể theo bất kỳ nghĩa nào được xem là một nguyên khí, mà chỉ đơn giản là điểm làm cho cụ thể đậm đặc nhất của cái trừu tượng, và giới thực vật có một vị trí đặc biệt trong sự tiết kiệm của hệ thống như là bộ truyền dẫn lưu chất prana sinh lực; giới thực vật rõ ràng là một cây cầu giữa cái hữu thức và cái vô thức. Ở đây tôi đang dùng các từ này theo nghĩa rộng nhất và tổng quát nhất của chúng. Dù известно rằng giới kim thạch có một tâm thức riêng của nó, tuy nhiên cảm giác được nhận ra rõ rệt hơn trong giới thứ hai, và sự khác biệt giữa tâm thức của giới kim thạch và của giới động vật lớn đến mức các tâm thức tương ứng của chúng về căn bản là không giống nhau. Giữa hai giới ấy là giới thực vật, nhìn chung gần với tâm thức động vật hơn là tâm thức khoáng vật, và có một mối liên hệ hết sức huyền bí với sự tiến hoá thiên thần. [Page 565]

TABULATION IV

BẢNG IV

THE BUILDING ENTITIES

CÁC THỰC THỂ KIẾN TẠO

Quality

Entity

Centre

Personality

Kingdom

1.

Atma

Logos

Head (Brain)

Grand Heavenly Man

Seventh

Unity

2-3

Buddhi manas

Planetary Logos

Heart and Throat

Heavenly Men

Sixth and Fifth

Duality

4.

Mental

Man

Solar Plexus Base of the Spine

Man

Fourth

Triplicity

5.

Astral

Animal

Generative Organs

Third

Duality

6.

Etheric

Vegetable

Spleen

Second

Transitional

7.

Dense

Mineral

None

First

Unity

All these kingdoms of nature are “forms of thought”; all have body, vitality, quality and purpose, and all are [Page 566] sent out by a greater life than their own upon a specific mission; they are sent forth by those who are self-conscious and are a blend of mind, spirit and objective form. Only the self-conscious can create, and only they are capable of purpose, of co-ordination, of direction and control.

Tất cả các giới tự nhiên này đều là “các hình tướng tư tưởng”; tất cả đều có thể, sinh lực, phẩm tính và mục đích, và tất cả đều [Page 566] được một sự sống lớn hơn chính chúng phóng ra với một sứ mệnh đặc thù; chúng được phóng ra bởi những đấng có ngã thức và là sự pha trộn của trí tuệ, tinh thần và hình tướng khách quan. Chỉ những đấng có ngã thức mới có thể sáng tạo, và chỉ họ mới có khả năng về mục đích, về sự phối hợp, về sự chỉ đạo và kiểm soát.

Even though it may seem that much has been left unsaid, yet in due consideration of the above four points in connection with “purpose” in a thought-form, much can be worked out by the student himself.

Dù có vẻ như còn nhiều điều chưa được nói ra, nhưng nếu suy xét đúng mức bốn điểm trên liên hệ đến “mục đích” trong một Hình tư tưởng, đạo sinh có thể tự mình khảo sát ra nhiều điều.

In extending these ideas to a solar Logos, many questions of interest arise which are profitable only in so far as they expand the concept, and widen the horizon of the Thinker. The logoic purpose is not yet comprehensible to man; it does not profit him to meditate thereon, yet in the formulation of ideas, and their apprehension by thinkers may come the gradual dawning of a day of recognition, and a subsequent co-operation with that divine purpose. Let us, therefore, formulate some of these questions, leaving the future to reveal the answer:

Khi mở rộng các ý tưởng này đến một Thái dương Thượng đế, nhiều câu hỏi lý thú nảy sinh, chỉ hữu ích trong chừng mực chúng mở rộng khái niệm và nới rộng chân trời của Đấng Tư Tưởng. Mục đích của Thượng đế hiện chưa thể hiểu được đối với con người; việc tham thiền về nó không mang lại lợi ích cho y, tuy nhiên trong việc hình thành các ý tưởng, và sự lĩnh hội chúng bởi các nhà tư tưởng, có thể sẽ đến sự ló rạng dần dần của một ngày nhận biết, và sau đó là sự hợp tác với mục đích thiêng liêng ấy. Do đó, chúng ta hãy nêu ra một số câu hỏi này, để tương lai mặc khải câu trả lời:

1. What may be the purpose of the present incarnation of the solar Logos?

1. Mục đích của sự nhập thể hiện nay của Thái dương Thượng đế có thể là gì?

2. What is the purpose which may perhaps be working out in our own planetary scheme and what is the basic plan of our planetary Logos?

2. Mục đích nào có lẽ đang được triển khai trong hệ hành tinh riêng của chúng ta và thiên cơ căn bản của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là gì?

3. Wherein does it differ from other planetary schemes?

3. Nó khác với các hệ hành tinh khác ở điểm nào?

4. What is the purpose lying back of the relation existing between our Earth and Venus?

4. Mục đích ẩn sau mối liên hệ hiện tồn giữa Trái Đất của chúng ta và Sao Kim là gì?

5. Is the purpose of the animal kingdom, as a whole, in any way to be ascertained?

5. Mục đích của giới động vật, xét như một toàn thể, có thể được xác định theo cách nào đó chăng?

6. What is the purpose back of the present root-race evolution? Can we realise it?

6. Mục đích ẩn sau sự tiến hoá của giống dân gốc hiện nay là gì? Chúng ta có thể chứng nghiệm được nó chăng?

7. What is the purpose behind the differing national forms?

7. Mục đích ẩn sau các hình tướng quốc gia khác nhau là gì?

[Page 567] Let us next bring the whole idea down to a more practical basis, and formulate questions along the following lines:

[Page 567] Tiếp theo, chúng ta hãy đưa toàn bộ ý tưởng này xuống một nền tảng thực tiễn hơn, và nêu thành câu hỏi theo các đường hướng sau:

1. In what type of matter do I usually formulate thoughts?

1. Tôi thường tạo lập các tư tưởng trong loại vật chất nào?

2. What is the psychic quality of my thought-forms?

2. Phẩm tính thông linh của các hình tư tưởng của tôi là gì?

3. With what specific purpose do I use mental matter?

3. Tôi dùng vật chất trí tuệ với mục đích đặc thù nào?

4. Do I work in mental matter consciously or unconsciously?

4. Tôi hoạt động trong vật chất trí tuệ một cách hữu thức hay vô thức?

5. Do I vitalise my thought-forms with a high or a low order of entity?

5. Tôi có tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng của mình bằng một thực thể thuộc trật tự cao hay thấp không?

6. Do I study the laws of construction?

6. Tôi có nghiên cứu các định luật của sự kiến tạo không?

7. Do I realise the power of the will to vitalise?

7. Tôi có chứng nghiệm được quyền năng của ý chí để tiếp sinh lực không?

8. Do I destroy thought-forms when they have accomplished their purpose by a conscious act of the will?

8. Tôi có hủy diệt các hình tư tưởng khi chúng đã hoàn thành mục đích của chúng bằng một hành vi hữu thức của ý chí không?

9. Do I make forms which bring karmic effects, or do I build those which go to the good of the group?

9. Tôi có tạo ra những hình tướng đem lại các hậu quả nghiệp quả, hay tôi xây dựng những hình tướng mang lại lợi ích cho nhóm?

Many such thoughts will arise, and in the study of thought man learns the laws of being.

Nhiều tư tưởng như thế sẽ nảy sinh, và trong việc nghiên cứu tư tưởng, con người học được các định luật của bản thể.

Cosmic Fire S6

S6S1

2. The Laws of Thought. — 2. Các Định luật của Tư tưởng.

There are three great laws, that we might term the fundamental laws of the cosmos, of that greater system (recognised by all astronomers), of which we form a part, and seven laws inherent in the solar system. These seven we might consider secondary laws, though, from the standpoint of humanity, they appear as major ones.

Có ba định luật lớn mà chúng ta có thể gọi là các định luật nền tảng của vũ trụ, của hệ thống lớn hơn ấy (được mọi nhà thiên văn học công nhận) mà chúng ta là một phần trong đó, và có bảy định luật vốn có trong hệ mặt trời. Bảy định luật này chúng ta có thể xem là các định luật thứ yếu, mặc dù, từ quan điểm của nhân loại, chúng xuất hiện như những định luật chính yếu.

a. Three Cosmic Laws. The first of the cosmic laws is the Law of Synthesis. It is almost impossible for those of us who have not the buddhic faculty in any way developed, to comprehend the scope of this law. It is the law that demonstrates the fact that all things—abstract and concrete—exist as one; it is the law governing the thought form of that One of the cosmic Logoi [Page 568] in Whose consciousness both our system, and our greater centre, have a part. It is a unit of His thought, a thought form in its entirety, a concrete whole, and not the differentiated process that we feel our evolving system to be. It is the sumtotal, the centre and the periphery, and the circle of manifestation regarded as a unit.

a. Ba Định luật Vũ trụ. Định luật vũ trụ thứ nhất là Định luật Tổng Hợp. Hầu như không thể để những người trong chúng ta, là những người chưa phát triển năng lực Bồ đề theo bất kỳ cách nào, có thể hiểu được phạm vi của định luật này. Đây là định luật biểu thị sự kiện rằng mọi sự—trừu tượng và cụ thể—đều hiện hữu như một; đây là định luật chi phối hình tư tưởng của một trong các Thượng đế vũ trụ ấy [Page 568] trong tâm thức của Ngài, cả hệ thống của chúng ta lẫn trung tâm lớn hơn của chúng ta đều có một phần. Nó là một đơn vị trong tư tưởng của Ngài, một hình tư tưởng trong tính toàn vẹn của nó, một toàn thể cụ thể, chứ không phải tiến trình phân biệt mà chúng ta cảm thấy hệ thống đang tiến hoá của mình là như vậy. Nó là tổng thể, là trung tâm và chu vi, và là vòng tròn biểu hiện được xem như một đơn vị.

The second law is the Law of Attraction and Repulsion. Fundamentally, the law describes the compelling force of attraction that holds our solar system to the Sirian; that holds our planets revolving around our central unit, the sun; that holds the lesser systems of atomic and molecular matter circulating around a centre in the planet; and that holds the matter of all physical plane bodies, and that of the subtle bodies co-ordinated around their microcosmic centre.

Định luật thứ hai là Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Về căn bản, định luật này mô tả mãnh lực hấp dẫn cưỡng bách giữ hệ mặt trời của chúng ta với hệ Sirian; giữ các hành tinh của chúng ta quay quanh đơn vị trung tâm của chúng ta là mặt trời; giữ các hệ thống nhỏ hơn của vật chất nguyên tử và phân tử lưu chuyển quanh một trung tâm trong hành tinh; và giữ vật chất của mọi thể cõi hồng trần, cũng như của các thể vi tế, được phối hợp quanh trung tâm tiểu thiên địa của chúng.

The third law is the Law of Economy, and is the law which adjusts all that concerns the material and spiritual evolution of the cosmos to the best possible advantage and with the least expenditure of force. It makes perfect each atom of time, and each eternal period, and carries all onward, and upward, and through, with the least possible effort, with the proper adjustment of equilibrium, and with the necessary rate of rhythm. Unevenness of rhythm is really an illusion of time, and does not exist in the cosmic centre. We need to ponder on this, for it holds the secret of peace, and we need to grasp the significance of that word through, for it describes the next racial expansion of consciousness, and has an occult meaning.

Định luật thứ ba là Định luật Tiết Kiệm, và là định luật điều chỉnh mọi điều liên quan đến sự tiến hoá vật chất và tinh thần của vũ trụ sao cho đạt lợi ích tốt nhất có thể với sự tiêu hao mãnh lực ít nhất. Nó làm cho mỗi nguyên tử thời gian và mỗi chu kỳ vĩnh cửu trở nên hoàn hảo, và mang mọi sự tiến lên, đi lên, và xuyên qua, với nỗ lực ít nhất có thể, với sự điều chỉnh quân bình thích đáng, và với nhịp điệu cần thiết. Sự không đều của nhịp điệu thật ra là một ảo tưởng của thời gian, và không tồn tại trong trung tâm vũ trụ. Chúng ta cần suy ngẫm về điều này, vì nó nắm giữ bí mật của bình an, và chúng ta cần nắm được thâm nghĩa của từ xuyên qua, vì nó mô tả sự mở rộng tâm thức kế tiếp của nhân loại, và có một ý nghĩa huyền bí.

In the nomenclature of these laws much is lost, for it is well nigh impossible to resolve abstractions into the terms of speech, and not lose the inner sense in the process. In these laws we again have the threefold idea demonstrated, and the correspondence, as might be expected, holds good. [Page 569]

Trong danh xưng của các định luật này, nhiều điều bị mất đi, vì gần như không thể chuyển các điều trừu tượng thành ngôn từ mà không làm mất ý nghĩa bên trong trong tiến trình ấy. Trong các định luật này, chúng ta lại thấy ý tưởng tam phân được biểu lộ, và sự tương ứng, như có thể mong đợi, vẫn đúng. [Page 569]

The Law of Synthesis

The Will Aspect

1st Aspect.

The Law of Attraction

The Love Aspect

2nd Aspect.

The Law of Economy

The Activity Aspect

3rd Aspect.

b. Seven Systemic Laws.—Subsidiary to the three major laws, we find the seven laws of our solar system. Again we find the law of analogy elucidating, and the three becoming the seven as elsewhere in the logoic scheme. In each of these seven laws we find an interesting correlation with the seven planes. They are:

b. Bảy Định luật của Hệ thống.—Phụ thuộc vào ba định luật chính yếu, chúng ta thấy có bảy định luật của hệ mặt trời chúng ta. Một lần nữa, chúng ta thấy định luật tương đồng làm sáng tỏ, và ba trở thành bảy như ở nơi khác trong hệ thống của Thượng đế. Trong mỗi định luật trong bảy định luật này, chúng ta thấy một sự tương quan thú vị với bảy cõi. Chúng là:

1. The Law of Vibration, the basis of manifestation, starting on the first plane. This is the atomic law of the system, in the same sense that on each of our planes the first subplane is the atomic plane.

1. Định luật Rung động, nền tảng của biểu hiện, khởi đầu trên cõi thứ nhất. Đây là định luật nguyên tử của hệ thống, theo cùng ý nghĩa như trên mỗi cõi của chúng ta, cõi phụ thứ nhất là cõi nguyên tử.

2. The law of Cohesion. On the second plane cohesion is first apparent. It is the first molecular plane of the system, and is the home of the Monad. Divine coherency is demonstrated.

2. Định luật Kết dính. Trên cõi thứ hai, sự kết dính lần đầu tiên trở nên hiển nhiên. Đây là cõi phân tử thứ nhất của hệ thống, và là nơi cư ngụ của chân thần. Sự kết dính thiêng liêng được biểu lộ.

3. The Law of Disintegration. On the third plane comes the final casting-off, the ultimate shedding of the sheaths, of the fivefold superman. A Chohan of the sixth Initiation discards all the sheaths beneath the monadic vehicle, from the atmic to the physical.

3. Định luật Phân giải. Trên cõi thứ ba diễn ra sự từ bỏ sau cùng, sự cởi bỏ tối hậu các lớp vỏ của siêu nhân ngũ phân. Một Chohan của lần điểm đạo thứ sáu loại bỏ tất cả các lớp vỏ bên dưới vận cụ chân thần, từ atma xuống đến hồng trần.

4. The Law of Magnetic Control holds sway paramountly on the buddhic plane, and in the development of the control of this law lies hid the control of the personality by the Monad via the egoic body.

4. Định luật Kiểm soát Từ tính ngự trị tối cao trên cõi Bồ đề, và trong sự phát triển của việc kiểm soát định luật này ẩn giấu sự kiểm soát phàm ngã của chân thần thông qua thể chân ngã.

5. The Law of Fixation demonstrates principally on the mental plane and has a close connection with manas, the fifth principle. The mind controls and stabilises, and cohereney is the result.

5. Định luật Cố định biểu lộ chủ yếu trên cõi trí và có liên hệ mật thiết với manas, nguyên khí thứ năm. Trí tuệ kiểm soát và ổn định, và kết quả là sự kết dính.

6. The Law of Love is the law of the astral plane. It aims at the transmutation of the desire nature, and links it up with the greater magnetism of the love aspect on the buddhic plane.

6. Định luật Bác ái là định luật của cõi cảm dục. Nó nhắm đến sự chuyển hoá bản chất dục vọng, và nối kết nó với từ điện lớn hơn của phương diện bác ái trên cõi Bồ đề.

7. The Law of Sacrifice and Death is the controlling factor on the physical plane. The destruction of the form, in order that the evolving life may progress, is one of the fundamental methods in evolution.

7. Định luật Hi sinh và Tử vong là yếu tố kiểm soát trên cõi hồng trần. Sự hủy diệt hình tướng, để sự sống đang tiến hoá có thể tiến bộ, là một trong những phương pháp nền tảng trong tiến hoá.

The Intermediate Law of Karma.—There is also an intermediate law, which is the synthetic law of the system [Page 570] of Sirius. This law is called by the generic term, the Law of Karma, and really predicates the effect the Sirian system has on our solar system. Each of the two systems, as regards its internal economy, is independent in time and space, or (in other words), in manifestation. We have practically no effect on our parent system, the reflex action is so slight as to be negligible, but very definite effects are felt in our system through causes arising in Sirius. These causes, when experienced as effects, are called by us the Law of Karma, and at the beginning they started systemic Karma which, once in effect, constitutes that which is called Karma in our occult and oriental literature.

Định luật Trung gian của Nghiệp quả.—Cũng có một định luật trung gian, là định luật tổng hợp của hệ thống [Page 570] của Sirius. Định luật này được gọi bằng thuật ngữ tổng quát là Định luật Nghiệp quả, và thực sự xác định ảnh hưởng mà hệ thống Sirian có trên hệ mặt trời của chúng ta. Mỗi hệ thống trong hai hệ thống này, xét về sự vận hành nội tại của nó, đều độc lập trong thời gian và không gian, hay nói cách khác, trong biểu hiện. Chúng ta hầu như không có ảnh hưởng nào trên hệ thống mẹ của mình; phản tác động quá nhỏ đến mức có thể bỏ qua, nhưng những ảnh hưởng rất xác định được cảm nhận trong hệ thống chúng ta qua các nguyên nhân phát sinh trong Sirius. Các nguyên nhân này, khi được trải nghiệm như các kết quả, được chúng ta gọi là Định luật Nghiệp quả, và lúc khởi đầu chúng đã tạo ra nghiệp quả của hệ thống, một khi đã có hiệu lực thì cấu thành điều được gọi là Nghiệp quả trong văn liệu huyền bí và Đông phương của chúng ta.

The Lipika Lords of our system, the systemic Lords of Karma, are under the rule of a greater corresponding Lord on Sirius.

Các Đấng Lipika của hệ thống chúng ta, các Đấng Chúa Tể Nghiệp quả của hệ thống, ở dưới quyền cai quản của một Đấng Chúa Tể tương ứng lớn hơn trên Sirius.

We have therefore:

Do đó, chúng ta có:

1. The three cosmic laws of Synthesis, Attraction and Economy.

1. Ba định luật vũ trụ là Tổng Hợp, Hấp Dẫn và Tiết Kiệm.

2. The Sirian law of Karma.

2. Định luật Nghiệp quả của Sirius.

3. The seven laws of the solar system.

3. Bảy định luật của hệ mặt trời.

As we have been told, our seven major vibrations are the vibrations of the lowest cosmic plane; there is our habitat. Our Logos Himself, the heart of His system, is on the cosmic astral plane; he is polarised there. Just as the units of the fourth Creative Hierarchy, the human, are evolving through the use of physical bodies, but are polarised at this time in their astral vehicles, so we have seen that the objective solar system forms the physical body of the Logos, though His polarity is in His astral body. It is significant that in this greater manvantara, the Logos is to take the fourth cosmic Initiation. A hint which may enlighten lies in the correspondence which exists between this statement and the [Page 571] fourth root-race development, and this, the fourth or astral round. (181)

Như chúng ta đã được cho biết, bảy rung động chính yếu của chúng ta là các rung động của cõi vũ trụ thấp nhất; đó là nơi cư ngụ của chúng ta. Chính Thượng đế của chúng ta, trái tim của hệ thống của Ngài, ở trên cõi cảm dục vũ trụ; Ngài phân cực ở đó. Cũng như các đơn vị của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức nhân loại, đang tiến hoá qua việc sử dụng các thể xác, nhưng hiện nay lại phân cực trong các vận cụ cảm dục của họ, thì chúng ta đã thấy rằng hệ mặt trời khách quan tạo thành thể xác của Thượng đế, mặc dù sự phân cực của Ngài ở trong thể cảm dục của Ngài. Điều đáng lưu ý là trong đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn này, Thượng đế sẽ tiếp nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư. Một gợi ý có thể soi sáng nằm trong sự tương ứng hiện tồn giữa phát biểu này và sự phát triển của giống dân gốc thứ tư, [Page 571] và cuộc tuần hoàn thứ tư này, tức cuộc tuần hoàn cảm dục. (181)

(181) The present Round, which is the fourth, is the one in which desire, or response to contact and sensation is being brought to its fullest expression. In the next round, the fifth, the fifth principle of mind, or manas, will reach fruition. (back)

(181) Cuộc tuần hoàn hiện nay, là cuộc tuần hoàn thứ tư, là cuộc tuần hoàn trong đó dục vọng, hay sự đáp ứng với tiếp xúc và cảm giác, đang được đưa đến biểu hiện đầy đủ nhất. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, cuộc tuần hoàn thứ năm, nguyên khí thứ năm là trí tuệ, hay manas, sẽ đạt đến kết quả viên mãn. (trở lại)

The system of the Sirian Logos is on the cosmic mental plane, and in a subtle way, incomprehensible to us, our Logos, with His system, forms a part of a still greater Logos. This does not involve loss of identity, though the matter is too abstruse to express more adequately. It is in this analogy that the basic idea can be found of all teaching given out about the Grand Heavenly Man. The whole conception of these laws is bound up in this idea. We have the three laws of the cosmic higher planes, holding in a synthesis of beauty the greater and the lesser system. Next we have the great law of Sirius, the Law of Karma, on the third subplane of the cosmic mental plane, which law really controls our Logos, and His actions, in the same way as the ego—in due course of evolution—controls the human personality.

Hệ thống của Thượng đế Sirian ở trên cõi trí vũ trụ, và theo một cách vi tế, không thể hiểu được đối với chúng ta, Thượng đế của chúng ta, cùng với hệ thống của Ngài, tạo thành một phần của một Thượng đế còn lớn hơn nữa. Điều này không bao hàm sự mất đi bản sắc, mặc dù vấn đề này quá thâm áo để có thể diễn đạt đầy đủ hơn. Chính trong sự tương đồng này mà có thể tìm thấy ý tưởng nền tảng của mọi giáo huấn được ban ra về Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại. Toàn bộ quan niệm về các định luật này gắn liền với ý tưởng ấy. Chúng ta có ba định luật của các cõi cao vũ trụ, giữ trong một tổng hợp mỹ lệ hệ thống lớn hơn và hệ thống nhỏ hơn. Tiếp theo, chúng ta có định luật lớn của Sirius, Định luật Nghiệp quả, trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ; định luật này thực sự kiểm soát Thượng đế của chúng ta và các hành động của Ngài, theo cùng cách như chân ngã—đến đúng giai đoạn tiến hoá—kiểm soát phàm ngã của con người.

We need to remember that, under the Law of Correspondences, we shall have a relationship in the Cosmos, similar to that existing in the microcosm between the ego and the personality. The suggestion holds much that we might consider with benefit. We must not, however, carry the analogy too far; as we have not yet evolved to where we have planetary consciousness, still less systemic, how can we really expect even to conceive of the A B C of cosmic truth? Just broad hints, wide conceptions, and generalities, are as yet possible. Of one thing we can be sure, and that is that identity ever remains.

Chúng ta cần nhớ rằng, theo định luật tương ứng, chúng ta sẽ có một mối liên hệ trong Vũ trụ tương tự như mối liên hệ hiện tồn trong tiểu thiên địa giữa chân ngã và phàm ngã. Gợi ý này chứa đựng nhiều điều mà chúng ta có thể suy xét một cách hữu ích. Tuy nhiên, chúng ta không được đẩy sự tương đồng đi quá xa; vì chúng ta chưa tiến hoá đến mức có tâm thức hành tinh, lại càng chưa nói đến tâm thức hệ thống, làm sao chúng ta thực sự có thể mong đợi ngay cả việc quan niệm được ABC của chân lý vũ trụ? Hiện nay chỉ có thể có những gợi ý rộng, những quan niệm bao quát, và những khái quát mà thôi. Nhưng có một điều chúng ta có thể chắc chắn, và đó là rằng bản sắc luôn luôn còn nguyên.

Let me explain by illustration:

Hãy để tôi giải thích bằng một minh họa:

Each one of us, in due process of evolution, forms part of one of the Heavenly Men, Who Themselves form the [Page 572] seven centres in that greater Heavenly Man, the Logos. Yet, though we are merged with the whole, we do not lose our identity, but forever remain separated units of consciousness, though one with all that lives or is. In like manner our Logos loses not His identity, even though He forms part of the Consciousness of the Logos of Sirius. In His turn, the Sirian Logos forms one of the seven Grand Heavenly Men, who are the centres in the body of ONE OF WHOM NOUGHT MAY BE SAID.

Mỗi người trong chúng ta, trong tiến trình tiến hoá thích đáng, tạo thành một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân, mà chính Các Ngài lại tạo thành [Page 572] bảy trung tâm trong Đấng Thiên Nhân lớn hơn ấy, tức Thượng đế. Tuy nhiên, dù chúng ta được hòa nhập vào toàn thể, chúng ta không mất đi bản sắc của mình, mà mãi mãi vẫn là những đơn vị tâm thức biệt lập, dù là một với tất cả những gì sống hay hiện hữu. Cũng vậy, Thượng đế của chúng ta không mất đi bản sắc của Ngài, dù Ngài tạo thành một phần của Tâm thức của Thượng đế Sirius. Đến lượt mình, Thượng đế Sirian tạo thành một trong bảy Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, là các trung tâm trong thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.

The Laws and the Planes.—We might, while studying the seven laws of the solar system, take them plane by plane, showing certain things—three in all:

Các Định luật và Các Cõi.—Trong khi nghiên cứu bảy định luật của hệ mặt trời, chúng ta có thể xét chúng từng cõi một, chỉ ra một số điều—tổng cộng là ba:

1. We might study their effect as they demonstrate on the path of involution.

1. Chúng ta có thể nghiên cứu tác động của chúng khi chúng biểu lộ trên con đường giáng hạ tiến hoá.

2. As they manifest on the path of evolution, or return.

2. Khi chúng biểu hiện trên con đường tiến hoá, hay trở về.

3. We might also touch on the laws as they affect the human and deva organisms that evolve by means of them.

3. Chúng ta cũng có thể đề cập đến các định luật này khi chúng ảnh hưởng đến các cơ thể người và thiên thần tiến hoá nhờ chúng.

As we do this, we shall gradually get a broad general idea of how this system of ours (the thought-form of the Logos), was gradually built up, how it is controlled and held together, and how numerous and intricate are the interrelations. Certain fundamental hypotheses are assumed, which must form the background for all we would say. We must assume first that a Builder, or some Creative Mind, is working to bring about an ordered production, and is seeking to manifest through a demonstrable objective. The objective universe is but the product of some subjective mind. Next we must posit that the material for the building of this universe lay ready to the hand of the Builder, and that this material itself is the fruit of some previous system, all that is left of some past consummated product. Given, therefore, the Builder and the material, we must next accede [Page 573] to the proposition that this Builder proceeds with His building under some definite laws that guide His choice of material, that control the form that He erects, and that indicate to Him the process to be followed in the consummating of His idea. We must not forget that three great symbols stand, in the mind of the Logos, for each of His three systems, that the whole exists for Him as a concrete thought-form, for He is learning to manipulate the matter of the cosmic mental plane on concrete levels, in the same way that man is working on the laws of thought, and on the building of thought-forms.

Khi làm điều này, chúng ta sẽ dần dần có được một ý niệm khái quát rộng lớn về cách hệ thống của chúng ta (hình tư tưởng của Thượng đế) đã được xây dựng dần dần ra sao, nó được kiểm soát và giữ vững ra sao, và các mối tương liên thì nhiều và phức tạp đến mức nào. Có một số giả thuyết nền tảng được giả định, và chúng phải tạo thành hậu cảnh cho mọi điều chúng ta muốn nói. Trước hết, chúng ta phải giả định rằng một Đấng kiến tạo, hay một Trí Tuệ Sáng Tạo nào đó, đang hoạt động để đem lại một sự sản sinh có trật tự, và đang tìm cách biểu hiện qua một mục tiêu khách quan có thể chứng minh được. Vũ trụ khách quan chỉ là sản phẩm của một trí tuệ chủ quan nào đó. Kế đến, chúng ta phải xác định rằng vật liệu để xây dựng vũ trụ này đã sẵn trong tay của Đấng kiến tạo, và chính vật liệu này là kết quả của một hệ thống trước đó, là tất cả những gì còn lại của một sản phẩm quá khứ đã hoàn tất. Do đó, khi đã có Đấng kiến tạo và vật liệu, tiếp theo chúng ta phải chấp nhận [Page 573] mệnh đề rằng Đấng kiến tạo này tiến hành công việc xây dựng của Ngài dưới những định luật xác định nào đó, là những định luật hướng dẫn sự lựa chọn vật liệu của Ngài, kiểm soát hình tướng mà Ngài dựng nên, và chỉ cho Ngài tiến trình phải theo trong việc hoàn tất ý tưởng của Ngài. Chúng ta không được quên rằng trong trí của Thượng đế có ba biểu tượng lớn tượng trưng cho mỗi một trong ba hệ thống của Ngài, rằng toàn thể hiện hữu đối với Ngài như một hình tư tưởng cụ thể, vì Ngài đang học cách vận dụng vật chất của cõi trí vũ trụ trên các cấp độ cụ thể, cũng như con người đang làm việc với các định luật của tư tưởng và với việc xây dựng các hình tư tưởng.

It is impossible to do more than sense the symbols of the systems past and present. Perhaps if we could visualise a swastika of ten arms revolving at right angles, of a radiant green colour, all the ten arms emanating from a central blazing sun, we might have some idea of the thought-form that formed the basis of System I, the activity system. The basic thought-form for the second system embodies the green swastika of the first manifestation, and adds to it concentric and interlaced circles in blue, in groups of three, linked by one large circle. Both symbols are, of course, in the higher dimensions. The symbol for the next system is unknown. After grasping and conceding these three basic ideas, we can now proceed to the working out of the laws of the system on the seven planes, remembering always that these seven laws hold good on the numerically corresponding subplane on each plane. Let me briefly illustrate:

Không thể làm gì hơn ngoài việc cảm nhận các biểu tượng của các hệ thống quá khứ và hiện tại. Có lẽ nếu chúng ta có thể hình dung một chữ vạn có mười cánh tay quay vuông góc, màu lục rực sáng, cả mười cánh tay phát ra từ một mặt trời trung tâm chói lòa, thì chúng ta có thể có được một ý niệm nào đó về hình tư tưởng làm nền tảng cho Hệ thống I, hệ thống hoạt động. Hình tư tưởng nền tảng cho hệ thống thứ hai bao hàm chữ vạn màu lục của biểu hiện thứ nhất, và thêm vào đó các vòng tròn đồng tâm và đan xen màu lam, theo từng nhóm ba, được nối với nhau bằng một vòng tròn lớn. Dĩ nhiên, cả hai biểu tượng đều ở trong các chiều kích cao hơn. Biểu tượng cho hệ thống kế tiếp thì chưa được biết. Sau khi nắm được và chấp nhận ba ý tưởng nền tảng này, giờ đây chúng ta có thể tiến tới việc triển khai các định luật của hệ thống trên bảy cõi, luôn luôn nhớ rằng bảy định luật này có hiệu lực trên cõi phụ tương ứng về số của mỗi cõi. Hãy để tôi minh họa ngắn gọn:

The fourth law, Magnetic Control, for instance, holds sway on the fourth subplane of each plane, in the fourth round, and in the fourth root-race specially. We shall then have the correspondence as follows: [Page 574]

Chẳng hạn, định luật thứ tư, Kiểm soát Từ tính, ngự trị trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi, trong cuộc tuần hoàn thứ tư, và đặc biệt trong giống dân gốc thứ tư. Khi đó chúng ta sẽ có sự tương ứng như sau: [Page 574]

4th Law

Magnetic Control.

4th Ray

Harmony or beauty.

4th Plane

The buddhic.

4th Subplane

Buddhic Magnetic Control.

4th Round

Dense Physical Magnetism, controlling sex manifestation on the physical plane, and inspired by astral desire, the reflection of the buddhic.

4th Root-Race

The Atlantean, in which the above qualities specially demonstrated.

S6S2

1. The Law of Vibration.—This is the law of the first plane, and it governs all the atomic subplanes of each plane. It marks the beginning of the work of the Logos, the first setting in motion of mulaprakriti. On each plane the vibration of the atomic subplane sets in motion the matter of that plane. It is the key measure. We might sum up the significance of this law in the words, “light” or “fire.” It is the law of fire; it governs the transmutation of differentiated colours back to their synthesis. It controls the breaking up of the One into the seven, and then the reabsorption back into the One. It is really the basic law of evolution, which necessitates involution. It is analogous to the first movement the Logos made to express Himself through this solar system. He uttered the Sound, a threefold Sound, one sound for each of His three systems, and started a ripple on the ocean of space. The Sound grows in volume as time progresses, and when it has reached its full volume, when it is fully completed, it forms one of the notes in the major cosmic chord. Each note has six subtones, which, with the first, make the seven; the Law of Vibration, therefore, comprises eighteen lesser vibrations and three major, making the twenty-one of our three systems. Two multiplied by nine (2x9), makes the necessary eighteen, which is the key number of our love system. Twenty-seven holds hid the mystery of the third system.

1. Định luật Rung động.—Đây là định luật của cõi thứ nhất, và nó chi phối mọi cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi. Nó đánh dấu sự khởi đầu công việc của Thượng đế, sự khởi động đầu tiên của mulaprakriti. Trên mỗi cõi, rung động của cõi phụ nguyên tử làm cho vật chất của cõi ấy chuyển động. Đó là nhịp điệu chủ chốt. Chúng ta có thể tóm lược ý nghĩa của định luật này trong các từ “ánh sáng” hay “lửa”. Đây là định luật của lửa; nó chi phối sự chuyển hoá các màu sắc đã biến phân trở lại tổng hợp của chúng. Nó kiểm soát sự phân tách Đấng Duy Nhất thành bảy, rồi sự tái hấp thu trở lại vào Đấng Duy Nhất. Thật ra, đây là định luật nền tảng của tiến hoá, định luật khiến cho giáng hạ tiến hoá trở nên cần thiết. Nó tương tự với chuyển động đầu tiên mà Thượng đế đã thực hiện để biểu lộ chính Ngài qua hệ mặt trời này. Ngài đã phát ra Âm Thanh, một Âm Thanh tam phân, một âm cho mỗi một trong ba hệ thống của Ngài, và khởi lên một gợn sóng trên đại dương không gian. Âm Thanh tăng dần về cường độ theo thời gian, và khi nó đạt đến âm lượng trọn vẹn, khi hoàn toàn viên mãn, nó tạo thành một trong các âm trong hợp âm vũ trụ lớn. Mỗi âm có sáu âm phụ, cùng với âm đầu tiên tạo thành bảy; do đó, Định luật Rung động bao gồm mười tám rung động nhỏ hơn và ba rung động lớn, tạo thành hai mươi mốt của ba hệ thống chúng ta. Hai nhân chín (2x9) tạo thành mười tám cần thiết, là con số chủ chốt của hệ thống bác ái của chúng ta. Hai mươi bảy che giấu huyền nhiệm của hệ thống thứ ba.

On the path of involution, the seven great Breaths or Sounds drove to the atomic subplane of each plane, and [Page 575] there the basic vibration repeated in its own little world the method of logoic vibration, giving rise itself to six subsidiary breaths. We get the same correspondence here as we did in the matter of the Rays, for we shall find that the lines of vibration are 1-2-4-6. Logically this would be so, for involution is negative, receptive, and corresponds to the feminine pole, just as the abstract rays were 2-4-6. This truth requires meditation, and an attempt to think abstractly; it is linked to the fact that the whole second system is receptive and feminine; it concerns the evolution of consciousness of the psyche.

Trên con đường giáng hạ tiến hoá, bảy Hơi Thở hay Âm Thanh lớn đã thúc đẩy đến cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi, và [Page 575] ở đó rung động nền tảng đã lặp lại trong thế giới nhỏ bé riêng của nó phương pháp rung động của Thượng đế, tự nó phát sinh sáu hơi thở phụ. Ở đây chúng ta có cùng sự tương ứng như đã có trong vấn đề các cung, vì chúng ta sẽ thấy rằng các đường rung động là 1-2-4-6. Về mặt luận lý, điều này phải là như vậy, vì giáng hạ tiến hoá là âm, tiếp nhận, và tương ứng với cực nữ, cũng như các cung trừu tượng là 2-4-6. Chân lý này đòi hỏi tham thiền và một nỗ lực suy nghĩ một cách trừu tượng; nó gắn liền với sự kiện rằng toàn bộ hệ thống thứ hai là tiếp nhận và nữ tính; nó liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức của tâm hồn.

On the path of evolution this law controls the positive aspect of the process. All is rhythm and movement, and when all that evolves on each plane attains the vibration of the atomic subplane, then the goal is reached. When, therefore, we have achieved the first main vibrations, and have perfected vehicles for all evolutions (not merely the human), of fivefold atomic subplane matter, then we have completed the round of evolution for this system. In the coming system we shall add the next two vibrations that complete the scale, and our Logos will then have completed His building.

Trên con đường tiến hoá, định luật này kiểm soát phương diện dương của tiến trình. Mọi sự đều là nhịp điệu và chuyển động, và khi mọi thứ tiến hoá trên mỗi cõi đạt đến rung động của cõi phụ nguyên tử, thì mục tiêu được đạt tới. Do đó, khi chúng ta đã đạt được các rung động chính yếu đầu tiên, và đã hoàn thiện các vận cụ cho mọi sự tiến hoá (không chỉ riêng nhân loại) bằng vật chất cõi phụ nguyên tử ngũ phân, thì chúng ta đã hoàn tất vòng tiến hoá cho hệ thống này. Trong hệ thống sắp tới, chúng ta sẽ thêm hai rung động kế tiếp để hoàn tất âm giai, và khi đó Thượng đế của chúng ta sẽ hoàn tất công trình xây dựng của Ngài.

The fourth Creative Hierarchy, that of the human Monads, has to learn to vibrate positively, but the devas proceed along the line of least resistance; they remain negative, taking the line of acquiescence, of falling in with the law. Only the human Monads, and only in the three worlds, follow the positive line, and by resistance, struggle, battle and strife learn the lesson of divine acquiescence. Yet, owing to the increase of friction through that very struggle, they progress with a relatively greater rapidity than the devas. They have need to do this, for they have lost ground to make up.

Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức các chân thần nhân loại, phải học cách rung động một cách dương; nhưng các thiên thần tiến hành theo con đường ít trở ngại nhất; họ vẫn âm, đi theo đường thuận phục, đường thuận theo định luật. Chỉ các chân thần nhân loại, và chỉ trong ba cõi thấp, mới đi theo đường dương, và nhờ sự kháng cự, đấu tranh, chiến đấu và xung đột mà học được bài học về sự thuận phục thiêng liêng. Tuy nhiên, do sự gia tăng ma sát qua chính cuộc đấu tranh ấy, họ tiến bộ với một tốc độ tương đối nhanh hơn các thiên thần. Họ cần phải làm như vậy, vì họ có phần bị tụt lại cần phải bù đắp.

The Law of Vibration is the law of progress, of movement and of rotation. On the seventh or lowest plane, the vibration is slow, clogged and lethargic from the [Page 576] standpoint of the first, and it is in learning to vibrate or to rotate more rapidly, that we mount the path of return. It involves, therefore necessarily, the building in of finer matter into the vehicles, both deva and human. In this second system, on the five planes of human evolution, we have the five vehicles—physical, astral, mental, buddhic and atmic—which have all to be purified, rarefied, intensified and refined. In the two lowest, the physical and the astral, only matter of the five higher subplanes, of their respective planes, is to be found, for the two lowest subplanes are too low for deva or human bodies; they were dominated in the first system. The mental body is the first in which we find matter of all the subplanes. The aim of evolution for us is love dominated by intelligence—or intelligence dominated by love, for the interaction will be complete. The human race came into the chain at a point where it naturally took bodies of the fifth astral and physical subplanes, and we can see here an analogy to the coming into the fourth root-race of the more advanced Egos.

Định luật Rung động là định luật của sự tiến bộ, của chuyển động và của sự quay. Trên cõi thứ bảy hay thấp nhất, rung động thì chậm, trì trệ và lờ đờ theo [Page 576] quan điểm của cõi thứ nhất, và chính trong việc học cách rung động hay quay nhanh hơn mà chúng ta leo lên Con Đường Trở Về. Do đó, điều này tất yếu bao hàm việc xây dựng vật chất tinh tế hơn vào trong các vận cụ, cả thiên thần lẫn con người. Trong hệ thống thứ hai này, trên năm cõi của sự tiến hoá nhân loại, chúng ta có năm vận cụ—hồng trần, cảm dục, trí tuệ, Bồ đề và atma—tất cả đều phải được thanh lọc, làm tinh vi, tăng cường và tinh luyện. Trong hai cõi thấp nhất, hồng trần và cảm dục, chỉ có thể tìm thấy vật chất của năm cõi phụ cao hơn thuộc các cõi tương ứng của chúng, vì hai cõi phụ thấp nhất quá thấp đối với các thể thiên thần hay con người; chúng đã bị chi phối trong hệ thống thứ nhất. Thể trí là thể đầu tiên trong đó chúng ta thấy vật chất của mọi cõi phụ. Mục tiêu tiến hoá đối với chúng ta là bác ái được trí tuệ chi phối—hay trí tuệ được bác ái chi phối, vì sự tương tác sẽ hoàn toàn. Nhân loại đã đi vào Dãy ở một điểm mà theo tự nhiên họ nhận các thể của cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục và cõi hồng trần, và ở đây chúng ta có thể thấy một sự tương đồng với việc các chân ngã tiến bộ hơn đi vào giống dân gốc thứ tư.

2. The Law of Cohesion.—This is one of the branch laws of the cosmic Law of Attraction. It is interesting to notice how this law demonstrates in this Love-System in a threefold manner:

2. Định luật Kết dính.—Đây là một trong các định luật nhánh của Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Thật thú vị khi lưu ý cách định luật này biểu lộ trong Hệ thống Bác ái này theo một cách tam phân:

On the plane of the Monad, as the law of cohesion, the law of birth, if we might use that term, resulting in the appearance of the Monads in their seven groups. Love the source, and the Monad of love, the result.

Trên cõi của chân thần, như định luật kết dính, định luật sinh ra, nếu chúng ta có thể dùng thuật ngữ đó, đưa đến sự xuất hiện của các chân thần trong bảy nhóm của chúng. Bác ái là nguồn, và chân thần của bác ái là kết quả.

On the plane of buddhi, as the law of magnetic control. It shows itself as the love-wisdom aspect, irradiating the ego, and eventually gathering to itself the essence of all experience, garnered, via the Ego, through the personality lives, and controlled throughout from the plane of buddhi. Magnetism, and the capacity to show love, are occultly synonymous.

Trên cõi Bồ đề, như định luật kiểm soát từ tính. Nó biểu lộ như phương diện bác ái-minh triết, chiếu rọi chân ngã, và cuối cùng thu hút về cho chính nó tinh chất của mọi kinh nghiệm, được tích lũy, thông qua chân ngã, qua các kiếp sống phàm ngã, và được kiểm soát xuyên suốt từ cõi Bồ đề. Từ điện và năng lực biểu lộ bác ái, về mặt huyền bí, là đồng nghĩa.

On the astral plane, as love demonstrating through the [Page 577] personality. All branches of the law of attraction, demonstrating in this system, show themselves as a force that ingathers, that tends to coherence, that results in adhesion, and leads to absorption. All these terms are needed to give a general idea of the basic quality of this law.

Trên cõi cảm dục, như bác ái biểu lộ qua [Page 577] phàm ngã. Mọi nhánh của định luật hấp dẫn biểu lộ trong hệ thống này đều cho thấy chính chúng như một mãnh lực thu hút vào, có khuynh hướng kết dính, đưa đến sự bám dính, và dẫn đến sự hấp thu. Tất cả các thuật ngữ này đều cần thiết để đem lại một ý niệm tổng quát về phẩm tính nền tảng của định luật này.

This law is one of the most important of the systemic laws, if it is permissible to differentiate at all; we might term it the law of coalescence.

Định luật này là một trong những định luật quan trọng nhất của hệ thống, nếu quả thực được phép phân biệt như vậy; chúng ta có thể gọi nó là định luật hợp nhất.

On the path of involution it controls the primal gathering together of molecular matter, beneath the atomic subplane. It is the basis of the attractive quality that sets in motion the molecules and draws them into the needed aggregations. It is the measure of the subplanes. The atomic subplane sets the rate of vibration; the Law of Cohesion might be said to fix the colouring of each plane. It is the same thing in other words. We need always to remember in discussing these abstract fundamentals that words but dim the meaning, and serve but as suggestions and not as elucidations.

Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nó kiểm soát sự tụ họp nguyên sơ của vật chất phân tử bên dưới cõi phụ nguyên tử. Nó là nền tảng của phẩm tính hấp dẫn làm cho các phân tử chuyển động và kéo chúng vào các tập hợp cần thiết. Nó là thước đo của các cõi phụ. Cõi phụ nguyên tử đặt ra nhịp độ rung động; có thể nói Định luật Kết dính cố định sắc thái của mỗi cõi. Nói cách khác cũng là cùng một điều. Chúng ta luôn cần nhớ khi bàn về các nền tảng trừu tượng này rằng ngôn từ chỉ làm mờ ý nghĩa, và chỉ đóng vai trò gợi ý chứ không phải giải minh.

In manifestation the cosmic Law of Attraction controls all these subsidiary laws, just as the Law of Synthesis governs pralaya and obscuration, and the law of Economy deals with the general working out, along the line of least resistance, of the logoic scheme. During manifestation we have most to do with the Law of Attraction, and it will be found, on study, that each subsidiary law is but a differentiation of that law.

Trong biểu hiện, Định luật Hấp Dẫn vũ trụ kiểm soát tất cả các định luật phụ này, cũng như Định luật Tổng Hợp chi phối giai kỳ qui nguyên và sự che khuất, còn Định luật Tiết Kiệm xử lý sự triển khai tổng quát, theo con đường ít trở ngại nhất, của hệ thống của Thượng đế. Trong thời kỳ biểu hiện, chúng ta liên hệ nhiều nhất với Định luật Hấp Dẫn, và khi nghiên cứu sẽ thấy rằng mỗi định luật phụ chỉ là một sự biến phân của định luật ấy.

This second law of the system governs specially the second plane, and the second subplane on each plane. It might be interesting to work this out and trace the underlying correspondence, bearing in mind always that all that can be done is to point out certain things, and indicate lines of thought that may lead, if pursued, to illumination.

Định luật thứ hai này của hệ thống đặc biệt chi phối cõi thứ hai, và cõi phụ thứ hai trên mỗi cõi. Sẽ là điều thú vị nếu triển khai điều này và truy tìm sự tương ứng nền tảng, luôn luôn ghi nhớ rằng tất cả những gì có thể làm được chỉ là chỉ ra một số điều và nêu lên những đường hướng tư tưởng mà nếu được theo đuổi có thể dẫn đến sự soi sáng.

Ray Two and Law Two are closely allied, and it is [Page 578] interesting to realise that it is on the second subplane of the monadic plane that the majority of the Monads have their habitat; there are a few Monads of power or will on the atomic subplane, but their numbers are not many, and they simply form a nucleus in evolutionary preparation for System III, the power system. The majority of the Monads are on the second subplane and they are the Monads of love; on the third subplane can be found quite a number of the Monads of activity, but numerically not as many as the Monads of love. They are the failures of System I.

Cung hai và Định luật hai có liên hệ mật thiết, và thật [Page 578] thú vị khi chứng nghiệm rằng chính trên cõi phụ thứ hai của cõi chân thần mà đa số các chân thần cư ngụ; có một ít chân thần quyền lực hay ý chí ở trên cõi phụ nguyên tử, nhưng số lượng của họ không nhiều, và họ chỉ đơn giản tạo thành một hạt nhân trong sự chuẩn bị tiến hoá cho Hệ thống III, hệ thống quyền lực. Đa số các chân thần ở trên cõi phụ thứ hai và họ là các chân thần bác ái; trên cõi phụ thứ ba có thể tìm thấy khá nhiều chân thần hoạt động, nhưng về số lượng không nhiều bằng các chân thần bác ái. Họ là những kẻ thất bại của Hệ thống I.

There is a direct channel, as we know, between the atomic subplane on each plane. This is more or less true of each subplane and its corresponding higher subplane numerically, and there is, therefore, a direct and quite expansive channel between the second subplane on all planes, enabling the Monads of love to link up with peculiar facility with all their vehicles when composed of second subplane matter. After initiation, the causal body is found on the second subplane of the mental plane, and monadic control then commences.

Như chúng ta biết, có một kênh trực tiếp giữa cõi phụ nguyên tử trên mỗi cõi. Điều này ít nhiều cũng đúng đối với mỗi cõi phụ và cõi phụ cao hơn tương ứng về số của nó, và do đó có một kênh trực tiếp và khá rộng mở giữa cõi phụ thứ hai trên mọi cõi, cho phép các chân thần bác ái nối kết với các vận cụ của mình một cách đặc biệt dễ dàng khi các vận cụ ấy được cấu tạo bằng vật chất cõi phụ thứ hai. Sau điểm đạo, thể nguyên nhân được thấy ở trên cõi phụ thứ hai của cõi trí, và khi đó sự kiểm soát của chân thần bắt đầu.

The Monads of love return (after life in the three worlds and the attainment of the goal) to their originating second subplane, that being also the goal for the monads of activity who have to develop the love aspect. In the five worlds of human evolution both groups of Monads have to control atomic and molecular matter as well and this is done by the utilisation to the full (as full as may be possible in this second system), of the will or power aspect.

Các chân thần bác ái trở về (sau đời sống trong ba cõi thấp và sự đạt đến mục tiêu) với cõi phụ thứ hai nguyên thủy của mình; đó cũng là mục tiêu cho các chân thần hoạt động, là những chân thần phải phát triển phương diện bác ái. Trong năm thế giới của sự tiến hoá nhân loại, cả hai nhóm chân thần đều phải kiểm soát cả vật chất nguyên tử lẫn phân tử, và điều này được thực hiện bằng việc sử dụng đến mức tối đa (tối đa như có thể trong hệ thống thứ hai này) phương diện ý chí hay quyền lực.

The “Kingdom of God suffereth violence and the violent take it by force,” or by Will or power. It is not Will, as we shall know it in the final system but it is Will as known in this system, and it has to be utilised to the uttermost by the evolving Monad in his struggle to control each atomic subplane. The Monads of power have [Page 579] a much greater struggle, and hence the fact so often apparent that people on what we term the power Ray, have so often a hard time, and are so frequently unlovable. They have to build in on all the six planes the love aspect, which is not prominent in their development.

“Thiên Giới phải chịu sức mạnh cưỡng chiếm và những kẻ mạnh bạo đoạt lấy nó bằng sức mạnh,” hay bằng ý chí hoặc quyền lực. Đó không phải là Ý Chí như chúng ta sẽ biết nó trong hệ thống cuối cùng, nhưng là Ý Chí như được biết trong hệ thống này, và nó phải được chân thần đang tiến hoá sử dụng đến mức tận cùng trong cuộc đấu tranh của y để kiểm soát mỗi cõi phụ nguyên tử. Các chân thần quyền lực có [Page 579] một cuộc đấu tranh lớn hơn nhiều, và do đó mới có sự kiện thường thấy rằng những người thuộc điều chúng ta gọi là cung quyền lực thường có cuộc đời khó khăn, và thường không đáng mến. Họ phải xây dựng vào trong cả sáu cõi phương diện bác ái, là phương diện không nổi trội trong sự phát triển của họ.

A hint has been given us as to the approximate figures governing the Monads:

Một gợi ý đã được ban cho chúng ta về các con số gần đúng chi phối các chân thần:

35 Thousand million Monads of love

35 ngàn triệu chân thần bác ái

20 Thousand million Monads of activity

20 ngàn triệu chân thần hoạt động

5 Thousand million Monads of power

5 ngàn triệu chân thần quyền lực

making a total of sixty thousand million human Monads. The Monads of power, though in manifestation, are as yet very rare in incarnation. They came in, in large numbers, at the close of the moon chain, and will come in again in full numerical strength in the last two rounds of the present chain.

tạo thành tổng cộng sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại. Các chân thần quyền lực, dù đang trong biểu hiện, cho đến nay vẫn rất hiếm khi lâm phàm. Họ đã đi vào với số lượng lớn vào lúc kết thúc Dãy Mặt Trăng, và sẽ lại đi vào với đầy đủ sức mạnh số lượng trong hai cuộc tuần hoàn cuối của Dãy hiện nay.

We might now briefly trace the correspondence in the second round and the second root-race, showing how the Law of Cohesion was specially active at these periods. A condition of nebulosity of a pronouncedly volatile condition, marked the first round and race. Movement, and the accompaniment of heat, is their distinguishing quality, much as in System I, but in the second round, and also in the second race, a definite cohesion is noticeable, and form is more clearly recognisable in outline. Cohesion is also plainly to be seen as the distinguishing feature of our present system, the second. It is the aim of all things to unite; approximation, unification, a simultaneous attraction between two or more is ever to be seen as a governing principle, whether we look at the sex problem, or whether it demonstrates in business organisation, in scientific development, in manufacture, or in politics. Well might we say that the At-one-ment of the many separated is the keynote of our system.

Giờ đây, chúng ta có thể ngắn gọn truy tìm sự tương ứng trong cuộc tuần hoàn thứ hai và giống dân gốc thứ hai, cho thấy Định luật Kết dính đã hoạt động đặc biệt ra sao trong các thời kỳ ấy. Một trạng thái tinh vân có tính chất đặc biệt dễ bay hơi đã đánh dấu cuộc tuần hoàn và nhân loại thứ nhất. Chuyển động, cùng với nhiệt đi kèm, là phẩm tính phân biệt của chúng, cũng như trong Hệ thống I; nhưng trong cuộc tuần hoàn thứ hai, và cả trong nhân loại thứ hai, một sự kết dính xác định trở nên đáng chú ý, và hình tướng được nhận ra rõ ràng hơn về đường nét. Sự kết dính cũng được thấy rõ như đặc điểm phân biệt của hệ thống hiện nay của chúng ta, hệ thống thứ hai. Mục tiêu của mọi sự là hợp nhất; sự xích lại gần, sự hợp nhất, một lực hút đồng thời giữa hai hay nhiều hơn luôn luôn được thấy như một nguyên lý chi phối, dù chúng ta nhìn vào vấn đề giới tính, hay dù nó biểu lộ trong tổ chức kinh doanh, trong sự phát triển khoa học, trong sản xuất, hay trong chính trị. Quả thật, chúng ta có thể nói rằng sự Nhất Thể hóa của nhiều cái bị tách rời là chủ âm của hệ thống chúng ta.

One more suggestion may be given: On the path of [Page 580] involution this law governs the gathering together and the segregation of matter; on the evolutionary path it controls the building of forms. It has been stated that the matter of the lowest subplane forms the basis of a new plane; therefore we have on the atomic subplane a point where merging takes place, which makes it a plane of synthesis, just as in the same way the first or logoic plane is the plane of synthesis for this system. There takes place the merging of evolution into an inconceivably higher state.

Có thể nêu thêm một gợi ý nữa: Trên con đường [Page 580] giáng hạ tiến hoá, định luật này chi phối sự tụ họp và sự phân tách của vật chất; trên con đường tiến hoá, nó kiểm soát việc xây dựng các hình tướng. Đã có lời nói rằng vật chất của cõi phụ thấp nhất tạo thành nền tảng của một cõi mới; do đó, trên cõi phụ nguyên tử chúng ta có một điểm nơi sự hòa nhập diễn ra, khiến nó trở thành một cõi tổng hợp, cũng như theo cùng cách đó cõi thứ nhất hay cõi của Thượng đế là cõi tổng hợp cho hệ thống này. Tại đó diễn ra sự hòa nhập của tiến hoá vào một trạng thái cao hơn không thể nghĩ bàn.

3. The Law of Disintegration.—This is the law that governs the destruction of the form in order that the indwelling life may shine forth in fullness. It is another aspect of the Law of Cohesion—the reverse side (if one might so express it), and is just as much a part of the divine plan as that of attraction. It is one of the laws that ends with the solar system, for the great laws of attraction, cohesion and love last on into that which is to come. The Law of Disintegration has its correspondence in cosmic law, but it is almost incomprehensible to us. The Law of Economy holds the key to this law. When the Monad has circled through all disintegrating forms, and has achieved the sixth Initiation, it is resolved into its primal monadic source, and the five lesser sheaths are destroyed. Later on the Monads themselves are synthesised, not disintegrated. This law controls only from the third plane, and ceases action in this particular fashion when the third plane is transcended.

3. Định luật Phân giải.—Đây là định luật chi phối sự hủy diệt hình tướng để sự sống nội tại có thể chiếu tỏa trọn vẹn. Nó là một phương diện khác của Định luật Kết dính—mặt trái của nó (nếu có thể diễn đạt như vậy), và cũng là một phần của Thiên Cơ chẳng kém gì hấp dẫn. Đây là một trong những định luật chấm dứt cùng với hệ mặt trời, vì các định luật lớn của hấp dẫn, kết dính và bác ái còn kéo dài sang điều sẽ đến. Định luật Phân giải có sự tương ứng của nó trong định luật vũ trụ, nhưng điều đó hầu như không thể hiểu được đối với chúng ta. Định luật Tiết Kiệm nắm giữ chìa khóa của định luật này. Khi chân thần đã đi vòng qua mọi hình tướng đang phân giải, và đã đạt lần điểm đạo thứ sáu, nó được phân giải vào nguồn chân thần nguyên thủy của nó, và năm lớp vỏ nhỏ hơn bị hủy diệt. Về sau, chính các chân thần được tổng hợp lại, chứ không bị phân giải. Định luật này chỉ kiểm soát từ cõi thứ ba, và chấm dứt hoạt động theo cách đặc thù này khi cõi thứ ba được vượt qua.

This law is one of the most difficult for the race to understand. Some of its workings (those on the path of evolution), can be seen and somewhat comprehended, but on the path of involution, or of construction, the working out of the law is not so apparent to the superficial observer.

Đây là một trong những định luật khó hiểu nhất đối với nhân loại. Một số hoạt động của nó (những hoạt động trên con đường tiến hoá) có thể được thấy và phần nào được hiểu, nhưng trên con đường giáng hạ tiến hoá, hay con đường kiến tạo, sự triển khai của định luật này không hiển nhiên đối với người quan sát hời hợt.

On the path of involution it controls the process of the [Page 581] breaking up of group souls; it governs the periods when the permanent triads are transferred from one form to another; it works through the great world cataclysms, and we need to remember that it governs, not only the physical plane catastrophes (as we erroneously term them), but the corresponding cataclysms on the astral plane, and the lower levels of the mental plane. It governs physical plane disruptions, especially those affecting the mineral world; it controls the disintegration, on the astral plane, of thought-forms; it dissolves the astral vehicle when left behind, and the mental likewise. The dissipation of the etheric double is the result of its working.

Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nó kiểm soát tiến trình của sự [Page 581] phân tách các hồn nhóm; nó chi phối các thời kỳ khi các tam nguyên trường tồn được chuyển dịch từ hình tướng này sang hình tướng khác; nó hoạt động qua các đại biến động thế giới, và chúng ta cần nhớ rằng nó không chỉ chi phối các tai biến cõi hồng trần (như chúng ta gọi một cách sai lầm), mà còn cả các biến động tương ứng trên cõi cảm dục và các cấp thấp của cõi trí. Nó chi phối các sự đổ vỡ trên cõi hồng trần, đặc biệt là những gì ảnh hưởng đến giới kim thạch; nó kiểm soát sự phân giải, trên cõi cảm dục, của các hình tư tưởng; nó làm tan rã vận cụ cảm dục khi bị bỏ lại phía sau, và thể trí cũng vậy. Sự tiêu tan của bản sao dĩ thái là kết quả của hoạt động của nó.

Again we can correlate this law with that of Attraction, for the two interact upon each other. This law breaks up the forms, and the Law of Attraction draws back to primal sources the material of those forms, prior to rebuilding them anew.

Một lần nữa, chúng ta có thể liên hệ định luật này với Định luật Hấp Dẫn, vì cả hai tương tác với nhau. Định luật này phá vỡ các hình tướng, còn Định luật Hấp Dẫn kéo vật liệu của các hình tướng ấy trở về các nguồn nguyên thủy trước khi xây dựng chúng lại mới mẻ.

On the path of evolution the effects of this law are well known, not only in the destruction of the discarded vehicles touched upon above, but in the breaking up of the forms in which great ideals are embodied,—the forms of political control, the forms in which nature itself evolves, apart from those in which individual consciousness manifests, the great religious thought-forms, the philanthropic concepts and all the forms which science, art, and religion take at any one particular time. All eventually break under the working of this law.

Trên con đường tiến hoá, các hiệu quả của định luật này được biết rõ, không chỉ trong sự hủy diệt các vận cụ bị loại bỏ đã được đề cập ở trên, mà còn trong sự phá vỡ các hình tướng mà trong đó các lý tưởng lớn được thể hiện,—các hình tướng của sự kiểm soát chính trị, các hình tướng mà trong đó chính bản chất tiến hoá, tách biệt với những hình tướng mà tâm thức cá nhân biểu hiện, các hình tư tưởng tôn giáo lớn, các quan niệm từ thiện và mọi hình tướng mà khoa học, nghệ thuật và tôn giáo mang lấy vào bất kỳ thời điểm đặc thù nào. Tất cả cuối cùng đều tan vỡ dưới tác động của định luật này.

Its workings are more apparent to the average human mind in its manifestations at this time on the physical plane. We can trace the connection between the atmic and the physical plane (demonstrating on the lower plane as the law of sacrifice and death), but its effect can be seen on all the five planes as well. It is the law that destroys the final sheath that separates the perfected Jiva. It has not yet been fully brought out [Page 582] (for the law of correspondences has been little studied, nor is it readily apparent) that on the third subplane of each plane this law works in a special manner, causing a very definite breaking-up of something that is tending to separation. Like all that works in the system, the process is slow; the work of disintegration begins on the third subplane, and is finished on the second, when the Law of Disintegration comes under the influence of the Law of Cohesion, the disintegration having effected that which makes cohesion possible. We can see an illustration of this on the mental plane. The causal body of the average man is on the third subplane, and as a man becomes fit for the merging into the Triad, that causal body has to be discarded and done away with. Under the Law of Sacrifice and Death, the disintegration is begun on the third level and is consummated on the second, when the man merges with the Triad, preparatory to the final merging with the Monad.

Hoạt động của nó hiển nhiên hơn đối với trí tuệ con người trung bình trong các biểu hiện của nó hiện nay trên cõi hồng trần. Chúng ta có thể truy ra mối liên hệ giữa cõi atma và cõi hồng trần (biểu lộ trên cõi thấp như định luật hi sinh và tử vong), nhưng hiệu quả của nó cũng có thể được thấy trên cả năm cõi. Đây là định luật hủy diệt lớp vỏ cuối cùng ngăn cách Jiva đã hoàn thiện. Điều này vẫn chưa được trình bày đầy đủ [Page 582] (vì định luật tương ứng ít được nghiên cứu, và cũng không dễ thấy) rằng trên cõi phụ thứ ba của mỗi cõi, định luật này hoạt động theo một cách đặc biệt, gây ra một sự tan vỡ rất xác định của một cái gì đó đang có khuynh hướng tách biệt. Giống như mọi điều hoạt động trong hệ thống, tiến trình này chậm; công việc phân giải bắt đầu trên cõi phụ thứ ba, và hoàn tất trên cõi phụ thứ hai, khi Định luật Phân giải đi vào dưới ảnh hưởng của Định luật Kết dính, sự phân giải đã tạo ra điều khiến cho sự kết dính trở nên khả hữu. Chúng ta có thể thấy một minh họa về điều này trên cõi trí. Thể nguyên nhân của người trung bình ở trên cõi phụ thứ ba, và khi một người trở nên thích hợp cho sự hòa nhập vào Tam nguyên tinh thần, thể nguyên nhân ấy phải bị loại bỏ và xóa đi. Dưới Định luật Hi sinh và Tử vong, sự phân giải được bắt đầu trên cấp thứ ba và được hoàn tất trên cấp thứ hai, khi con người hòa nhập với Tam nguyên tinh thần, để chuẩn bị cho sự hòa nhập cuối cùng với chân thần.

Another illustration of the same thing can be found on the physical plane. When a man has reached the point where he can sense and see the fourth ether, he is ready for the burning away of the etheric web, which has its location midway between the third and second subplane matter which composes his physical body. When this disintegration is effected, the man merges with his astral vehicle, establishing a consequent continuity of consciousness. This correspondence, and this disintegration, can be traced on each plane, till finally on the atmic level on its third subplane comes the final disintegration, which results in a merging with the monadic consciousness.

Một minh họa khác của cùng điều ấy có thể được tìm thấy trên cõi hồng trần. Khi một người đã đạt đến điểm mà y có thể cảm nhận và thấy được dĩ thái thứ tư, y đã sẵn sàng cho việc đốt cháy màng lưới dĩ thái, mà vị trí của nó ở khoảng giữa vật chất cõi phụ thứ ba và thứ hai cấu thành thể hồng trần của y. Khi sự phân giải này được thực hiện, con người hòa nhập với vận cụ cảm dục của mình, nhờ đó thiết lập sự liên tục của tâm thức. Sự tương ứng này, và sự phân giải này, có thể được truy ra trên mỗi cõi, cho đến cuối cùng trên cấp atma ở cõi phụ thứ ba của nó diễn ra sự phân giải cuối cùng, đưa đến sự hòa nhập với tâm thức chân thần.

The third Ray, that of adaptability or activity, has a close connection with this law. It is through activity (or the adaptation of matter to need), that the form comes into being; through activity it is employed, and through that very adaptation it becomes a perfect form, [Page 583] and at the moment of perfection loses its usefulness; it crystallises, breaks, and the evolving life escapes to find for itself new forms of greater capacity and adequacy. It is so in the life of the reincarnating Ego; it is so in the rounds and races of humanity; it is so in the solar system; it is so in all cosmic processes.

Cung ba, tức cung của khả năng thích ứng hay hoạt động, có liên hệ mật thiết với định luật này. Chính nhờ hoạt động (hay sự thích ứng của vật chất với nhu cầu) mà hình tướng đi vào hiện hữu; nhờ hoạt động mà nó được sử dụng, và cũng nhờ chính sự thích ứng ấy mà nó trở thành một hình tướng hoàn hảo, nhờ hoạt động mà nó được sử dụng, và cũng nhờ chính sự thích ứng ấy mà nó trở thành một hình tướng hoàn hảo, [Page 583] và vào lúc đạt đến hoàn hảo thì nó mất đi tính hữu dụng; nó kết tinh, vỡ tan, và sự sống đang tiến hoá thoát ra để tự tìm cho mình những hình tướng mới có năng lực và sự thích đáng lớn hơn. Điều này đúng trong đời sống của chân ngã tái sinh; đúng trong các cuộc tuần hoàn và các giống dân của nhân loại; đúng trong hệ mặt trời; đúng trong mọi tiến trình vũ trụ.

In the third chain, the moon chain, we have an interesting related fact. On the moon chain the point of attainment for the individual was the arhat or fourth Initiation,—the initiation which marks the final breaking with the three worlds, and the disintegration of the egoic body.

Trong dãy thứ ba, tức Dãy Mặt Trăng, chúng ta có một sự kiện liên hệ thú vị. Trên Dãy Mặt Trăng, điểm thành tựu của cá nhân là arhat hay lần điểm đạo thứ tư,—cuộc điểm đạo đánh dấu sự đoạn tuyệt cuối cùng với ba cõi giới, và sự tan rã của thể chân ngã.

At the end of the third root-race came the first of the great cataclysms that broke the race form, and inaugurated a new one, for it was the first definitely human race as we now know it. The analogy will be found to hold good no matter from what angle the subject may be studied. In the third subrace a correspondence can be traced, though it is not yet apparent to the circumscribed vision which characterises most of us. Close proximity to an effect often veils a cause.

Vào cuối giống dân gốc thứ ba đã xảy ra trận đại biến động đầu tiên làm tan vỡ hình tướng của giống dân ấy, và khai mở một giống dân mới, vì đó là giống dân đầu tiên rõ rệt mang tính nhân loại như chúng ta hiện biết. Sự tương đồng sẽ được thấy là hoàn toàn đúng bất kể đề tài được nghiên cứu từ góc độ nào. Trong giống dân phụ thứ ba, cũng có thể truy ra một sự tương ứng, dù điều đó chưa hiện rõ đối với tầm nhìn hạn hẹp vốn đặc trưng cho phần lớn chúng ta. Sự gần kề quá mức với một hiệu quả thường che khuất nguyên nhân.

4. The law of Magnetic Control (182)

4. Định luật Kiểm Soát Từ Tính (182)

(182) Note the correspondence that can be traced here. On the second plane we have the Law of Cohesion—love. On the second plane of the manifesting Triad, the Law of Magnetic Control—love. Again lower down on the second plane of the Personality, the Law of Love. The accuracy of the analogy is quite interesting, and provides room for speculation. (back)

(182) Hãy lưu ý sự tương ứng có thể được truy ra ở đây. Trên cõi thứ hai, chúng ta có Định luật Cố kết—bác ái. Trên cõi thứ hai của Tam nguyên tinh thần biểu hiện, có Định luật Kiểm Soát Từ Tính—bác ái. Lại thấp hơn nữa, trên cõi thứ hai của phàm ngã, có Định luật Bác ái. Sự chính xác của phép tương đồng này thật khá thú vị, và mở ra chỗ cho sự suy đoán. (back)

This law is the basic law controlling the Spiritual Triad. Through this law, the force of evolution drives the Ego to progress through the cycle of reincarnation back to union with his kind. Through separation he finds himself, and then—driven by the indwelling buddhic or Christ principle—transcends himself, and finds himself again in all selves. This law holds the evolving lower self in a coherent form. It controls the Ego in the causal body, in the same way that the Logos controls the Monad on the second plane. It is the law of the buddhic plane; the [Page 584] Master is one Who can function on the buddhic levels, and Who has magnetic control in the three worlds. The lower is always controlled from above, and the effect the buddhic levels have on the three lower is paramount, though that is scarcely yet conceded by our thinkers. It is the Law of Love, in the three worlds, that holds all together, and that draws all upward. It is the demonstration, in the Triad, of the Law of Attraction.

Đây là định luật căn bản kiểm soát Tam Nguyên Tinh Thần. Qua định luật này, mãnh lực tiến hoá thúc đẩy chân ngã tiến bộ qua chu kỳ tái sinh để trở về hợp nhất với đồng loại của y. Qua sự phân ly, y tìm thấy chính mình, rồi—được nguyên khí Bồ đề hay Christ nội tại thúc đẩy—y vượt lên chính mình, và lại tìm thấy mình trong mọi bản ngã. Định luật này giữ phàm ngã đang tiến hoá trong một hình tướng kết hợp chặt chẽ. Nó kiểm soát chân ngã trong thể nguyên nhân, cũng như Thượng đế kiểm soát chân thần trên cõi thứ hai. Đây là định luật của cõi Bồ đề; [Page 584] Chân sư là Đấng có thể hoạt động trên các cấp độ Bồ đề, và có sự kiểm soát từ tính trong ba cõi giới. Cái thấp luôn luôn được kiểm soát từ trên cao, và ảnh hưởng mà các cấp độ Bồ đề tác động lên ba cõi thấp là tối quan trọng, dù điều đó hầu như chưa được các nhà tư tưởng của chúng ta thừa nhận. Chính Định luật Bác ái, trong ba cõi giới, giữ cho mọi sự gắn kết với nhau, và kéo mọi sự đi lên. Đó là sự biểu lộ, trong Tam nguyên tinh thần, của Định luật Hấp dẫn.

On the path of involution this law works with the permanent atoms in the causal body. It is the buddhic principle, and its relation with the lower permanent atom of the Triad is the mainspring of the life of the Ego. On the path of descent it has much to do with the placing of the permanent atoms, but this matter is very abstruse, and the time has not yet come for further elucidation. At the third outpouring, (in which the fourth kingdom, the human, was formed), it was this Law of Magnetic Control that effected the juncture of astro-animal man, and the descending Monad, using the spark of mind as the method of at-one-ment. Again we can see how it works. The monadic plane, the buddhic plane, and the astral plane are all three closely allied, and we find there the line of least resistance. Hence the facility with which the mystic contacts the buddhic and even higher planes. The lines of least resistance in the three systems are:

Trên con đường giáng hạ tiến hoá, định luật này tác động với các nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân. Nó là nguyên khí Bồ đề, và mối liên hệ của nó với nguyên tử trường tồn thấp của Tam nguyên tinh thần là động lực chính của đời sống chân ngã. Trên con đường đi xuống, nó có liên quan rất nhiều đến việc định vị các nguyên tử trường tồn, nhưng vấn đề này rất thâm áo, và thời điểm để làm sáng tỏ thêm vẫn chưa đến. Vào lần tuôn đổ thứ ba, (trong đó giới thứ tư, tức giới nhân loại, được hình thành), chính Định luật Kiểm Soát Từ Tính này đã tạo nên sự kết hợp giữa người thú tinh tú và chân thần giáng hạ, dùng tia lửa trí tuệ như phương pháp hợp nhất. Một lần nữa chúng ta có thể thấy nó vận hành như thế nào. Cõi chân thần, cõi Bồ đề, và cõi cảm dục cả ba đều liên hệ mật thiết với nhau, và ở đó chúng ta thấy con đường ít trở ngại nhất. Do đó mới có sự dễ dàng mà nhà thần bí tiếp xúc được với cõi Bồ đề và thậm chí các cõi cao hơn. Các đường ít trở ngại nhất trong ba hệ là: