← A Treatise on Cosmic Fire All

System

System

I.

Physical, mental, and atmic.

The atmic was the highest point of achievement in that system.

II.

Astral, buddhic and monadic.

III.

Mental, atmic and logoic

Note the correspondence therefore to be seen between the fourth kingdom and the working of this, the fourth law. It is of vital moment in this fourth chain.

Vì vậy, hãy lưu ý sự tương ứng có thể thấy giữa giới thứ tư và sự vận hành của định luật thứ tư này. Nó có tầm quan trọng thiết yếu trong dãy thứ tư này.

As regards human evolution, this fourth law is of prime importance at this time. The aim of human endeavour [Page 585] is both to be controlled by this law, and likewise to wield it in service. It is the law whereby sex expression, as we know it, is transmuted and elevated; sex is only the physical plane demonstration of the Law of Attraction; it is the working out of that law in the human kingdom, and in all the lower kingdoms, too. The love of all that breathes, and the attraction that works out in service, is the same thing as demonstrated in the Triad. Sex expression, the coming together of two, becomes transmuted into the coming together of many for acts of service, which will give birth to new ideals, and to a new race—the spiritual.

Xét về tiến hoá nhân loại, định luật thứ tư này hiện nay có tầm quan trọng hàng đầu. Mục tiêu của nỗ lực nhân loại [Page 585] vừa là được định luật này kiểm soát, vừa là vận dụng nó trong phụng sự. Đây là định luật nhờ đó sự biểu lộ tính dục như chúng ta biết được chuyển hoá và nâng cao; tính dục chỉ là sự biểu lộ trên cõi hồng trần của Định luật Hấp dẫn; đó là sự triển khai của định luật ấy trong giới nhân loại, và cả trong mọi giới thấp nữa. Tình thương đối với mọi sự sống đang hô hấp, và sức hút được biểu lộ trong phụng sự, cũng chính là điều ấy như được biểu lộ trong Tam nguyên tinh thần. Sự biểu lộ tính dục, sự đến với nhau của hai, được chuyển hoá thành sự đến với nhau của nhiều người trong các hành vi phụng sự, những hành vi sẽ sinh ra các lý tưởng mới, và một nhân loại mới—nhân loại tinh thần.

Here I might point out a numerical fact that may be of interest in connection with the fourth hierarchy. This human hierarchy is the fourth, as we know, yet if we count the five hierarchies that have passed on, it is in reality the ninth. Nine is the number of initiation, the number of the adept, and of the man who functions in his buddhic vehicle.

Ở đây tôi có thể chỉ ra một sự kiện số học có thể đáng quan tâm liên quan đến Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Huyền giai nhân loại này là thứ tư, như chúng ta biết, nhưng nếu tính cả năm huyền giai đã đi qua, thì trên thực tế nó là thứ chín. Chín là con số của điểm đạo, con số của chân sư, và của con người hoạt động trong vận cụ Bồ đề của mình.

The fourth Ray also operates in close connection with the fourth Law. It is the Ray of Harmony or Beauty—Harmony through control, that control entailing the knowledge of wisdom. It is the harmony of similarity; it is the equilibrising of all through the realisation of the laws of magnetism that produce the co-ordination of the many diverse into the one homogeneous; magnetism governs the synthesis of the many aspects into a form of unity. This harmony is reached through the fifth plane, and the fifth Ray of Concrete Knowledge acts as a step to the fourth, for many who work on the fifth Ray pass eventually to the fourth. In this system the fifth Ray is of paramount importance in the development of all egos. Each must pass some time on it before definitely remaining on his monadic Ray. In many incarnations much time is spent on the fifth subplane of each plane, which is governed principally by the fifth Ray. All pass [Page 586] then on the fourth subplane governed by the fourth Ray, and in this particular period of the fourth round in the fourth chain, more time is spent on the fourth subplane by evolving Egos than on any other. Many come into incarnation directly on to this plane, and it is here that they begin to think harmoniously.

Cung bốn cũng vận hành trong liên hệ mật thiết với Định luật thứ tư. Đó là Cung của Hài Hoà hay Mỹ Đẹp—Hài Hoà thông qua kiểm soát, mà sự kiểm soát ấy bao hàm tri thức về minh triết. Đó là sự hài hoà của tính tương đồng; là sự quân bình hoá mọi sự thông qua sự chứng nghiệm các định luật từ điện vốn tạo ra sự phối hợp của nhiều yếu tố dị biệt thành một thể đồng nhất; từ điện chi phối sự tổng hợp của nhiều phương diện thành một hình thức hợp nhất. Sự hài hoà này đạt được qua cõi thứ năm, và cung năm của Tri Thức Cụ Thể hoạt động như một nấc thang dẫn đến cung bốn, vì nhiều người hoạt động trên cung năm cuối cùng chuyển sang cung bốn. Trong hệ này, cung năm có tầm quan trọng tối cao trong sự phát triển của mọi chân ngã. Mỗi chân ngã đều phải trải qua một thời gian trên cung ấy trước khi dứt khoát an trụ trên cung chân thần của mình. Trong nhiều kiếp lâm phàm, nhiều thời gian được trải qua trên cõi phụ thứ năm của mỗi cõi, vốn chủ yếu do cung năm chi phối. Tất cả rồi đều đi qua [Page 586]cõi phụ thứ tư do cung bốn chi phối, và trong giai đoạn đặc biệt này của cuộc tuần hoàn thứ tư trong dãy thứ tư, các chân ngã đang tiến hoá dành nhiều thời gian trên cõi phụ thứ tư hơn bất kỳ cõi nào khác. Nhiều chân ngã đi vào lâm phàm trực tiếp trên cõi này, và chính tại đây họ bắt đầu suy nghĩ một cách hài hoà.

S6S3

The Laws in the Three Worlds.—We will now take up and briefly study the three most important laws affecting the evolving human being, as he lives his life in the three worlds. These laws are:

Các Định luật trong Ba Cõi Giới.—Giờ đây chúng ta sẽ đề cập đến và nghiên cứu ngắn gọn ba định luật quan trọng nhất ảnh hưởng đến con người đang tiến hoá, khi y sống đời mình trong ba cõi giới. Các định luật ấy là:

1. The Law of Fixation.

1. Định luật Cố Định.

2. The Law of Love.

2. Định luật Bác ái.

3. The Law of Sacrifice and Death.

3. Định luật Hi sinh và Tử vong.

These laws are all dominated and controlled eventually by the three higher laws in the system—the Laws of Magnetic Control, of Disintegration, and of Cohesion. There is a direct connection between these seven laws and the seven Rays or Vibrations, and if we study the correspondence we shall recognise the fact that the first law, that of Vibration, is the controlling law of the six, demonstrating through the second law, that of Cohesion, just as the solar Logos is at this time manifesting Himself through His second aspect in this the second solar system.

Rốt cuộc, các định luật này đều bị chi phối và kiểm soát bởi ba định luật cao hơn trong hệ—các Định luật Kiểm Soát Từ Tính, Tan Rã, và Cố Kết. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa bảy định luật này và bảy cung hay rung động, và nếu chúng ta nghiên cứu sự tương ứng, chúng ta sẽ nhận ra sự kiện rằng định luật thứ nhất, tức Định luật Rung động, là định luật kiểm soát của sáu định luật kia, biểu lộ qua định luật thứ hai, tức Định luật Cố Kết, cũng như Thái dương Thượng đế hiện nay đang biểu lộ chính Ngài qua phương diện thứ hai của Ngài trong hệ mặt trời thứ hai này.

The first Ray of Will or Power is the first aspect of the All-self, and in the third outpouring, (183) came [Page 587] down to the fifth plane, along with the other monads.

Cung một của Ý Chí hay Quyền năng là phương diện thứ nhất của Đại Ngã, và trong lần tuôn đổ thứ ba, (183) đã đi xuống [Page 587]đến cõi thứ năm, cùng với các chân thần khác.

(183) The Three Outpourings. “In the diagram the symbols of the three Aspects (of the Logos) are placed outside of time and space, and only the streams of influence from them descend into our system of planes....They represent in due order what are commonly called the three Persons of the Trinity....It will be seen that from each of them an outpouring of life or force is projected into the planes below. The first of these in order is the straight line which descends from the third Aspect; the second is that part of the large oval which lies on our left hand—the stream which descends from the second Aspect until it has touched the lowest point in matter, and then rises again up the side on our right hand until it reaches the lower mental level. It will be noted that in both of these outpourings the divine life becomes darker and more veiled as it descends into matter, until at the lowest point we might almost fail to recognise it as divine life at all; but as it rises again when it has passed its nadir it shows itself somewhat more clearly. The third outpouring which descends from the highest aspect of the Logos differs from the others in that it is in no way clouded by the matter through which it passes, but retains its virgin purity and splendour untarnished. It will be noted that this outpouring descends only to the level of the buddhic plane (the fourth plane) and that the link between the two is formed by a triangle in a circle, representing the individual soul of man—the reincarnating ego. Here the triangle is contributed by the third outpouring and the circle by the second....”—The Christian Creed, by C. W. Leadbeater, pp. 39, 40. (back)

(183) Ba Lần Tuôn Đổ. “Trong biểu đồ, các biểu tượng của ba Phương diện (của Thượng đế) được đặt ra ngoài thời gian và không gian, và chỉ các dòng ảnh hưởng từ các Ngài mới đi xuống vào hệ cõi của chúng ta.... Chúng lần lượt biểu thị điều thường được gọi là ba Ngôi của Tam Vị.... Sẽ thấy rằng từ mỗi Ngài, một lần tuôn đổ sự sống hay mãnh lực được phóng chiếu vào các cõi bên dưới. Lần tuôn đổ đầu tiên theo thứ tự là đường thẳng đi xuống từ Phương diện thứ ba; lần thứ hai là phần của hình bầu dục lớn nằm bên tay trái chúng ta—dòng đi xuống từ Phương diện thứ hai cho đến khi chạm tới điểm thấp nhất trong vật chất, rồi lại đi lên phía bên tay phải chúng ta cho đến khi đạt tới cấp độ hạ trí. Cần lưu ý rằng trong cả hai lần tuôn đổ này, sự sống thiêng liêng trở nên tối hơn và bị che phủ nhiều hơn khi đi xuống vào vật chất, cho đến tại điểm thấp nhất chúng ta hầu như không còn nhận ra đó là sự sống thiêng liêng nữa; nhưng khi nó đi lên trở lại sau khi đã qua điểm thấp nhất của mình, nó biểu lộ phần nào rõ ràng hơn. Lần tuôn đổ thứ ba đi xuống từ phương diện cao nhất của Thượng đế khác với hai lần kia ở chỗ nó hoàn toàn không bị chất liệu mà nó đi qua làm mờ đục, mà giữ nguyên sự tinh khiết trinh nguyên và vẻ huy hoàng không tì vết của nó. Cần lưu ý rằng lần tuôn đổ này chỉ đi xuống đến cấp độ của cõi Bồ đề (cõi thứ tư) và mối liên kết giữa hai bên được tạo thành bởi một tam giác trong một vòng tròn, tượng trưng cho linh hồn cá nhân của con người—chân ngã tái sinh. Ở đây tam giác do lần tuôn đổ thứ ba đóng góp và vòng tròn do lần tuôn đổ thứ hai....”—The Christian Creed, của C. W. Leadbeater, tr. 39, 40. (back)

A subtle correspondence exists between the monads of Will on the fifth plane, the fifth law, and the fifth Ray.

Có một sự tương ứng vi tế giữa các chân thần của Ý Chí trên cõi thứ năm, định luật thứ năm, và cung năm.

The second Ray or the Love-Wisdom aspect wields a control on the fourth and sixth planes, and dominates the Laws of Cohesion and Magnetic Control, and the astral Law of Love. There is a direct interlinking between the abstract Rays and the laws of the planes where they specially control.

Cung hai hay phương diện Bác Ái – Minh Triết thực thi sự kiểm soát trên các cõi thứ tư và thứ sáu, và chi phối các Định luật Cố Kết và Kiểm Soát Từ Tính, cùng Định luật Bác ái trên cõi cảm dục. Có một sự liên kết trực tiếp giữa các cung trừu tượng và các định luật của những cõi mà chúng đặc biệt kiểm soát.

The third Ray which is the Activity aspect, controls the Laws of Disintegration and of Death, on the third and seventh planes.

Cung ba, tức phương diện Hoạt động, kiểm soát các Định luật Tan Rã và Tử vong, trên các cõi thứ ba và thứ bảy.

Therefore, it will be apparent to the careful student of the wisdom that:

Do đó, điều sẽ hiển nhiên đối với đạo sinh cẩn trọng của minh triết là:

1. The Power Aspect—Ray 1, Planes 1 and 5, and the Laws of Fixation and Vibration, form one interlocking whole.

1. Phương diện Quyền năng—cung một, các cõi 1 và 5, và các Định luật Cố Định và Rung động, tạo thành một toàn thể móc nối với nhau.

2. The Love Aspect—Ray 2, Planes 2, 4, 6, and the Laws of Cohesion, Magnetic Control, and of Love, form another unit.

2. Phương diện Bác ái—cung hai, các cõi 2, 4, 6, và các Định luật Cố Kết, Kiểm Soát Từ Tính, và Bác ái, tạo thành một đơn vị khác.

3. The Activity Aspect—Ray 3, Planes 3 and 7, and the Laws of Disintegration, Sacrifice and Death, make still another group.

3. Phương diện Hoạt động—cung ba, các cõi 3 và 7, và các Định luật Tan Rã, Hi sinh và Tử vong, tạo thành một nhóm khác nữa.

It is logical for the first Ray only to have control, as yet, on two planes, for the Power Aspect waits for another system in order to demonstrate in full development. Ray two, the synthetic Ray for our system, controls [Page 588] on three planes; it has the preponderance, for paramountly we are the Monads of Love, and Love is our synthesis. Ray three, the dominant Ray of the system which is past, its synthetic Ray, controls on two planes, and on one that is little understood, for, just as the physical body is not considered a principle, so there is a sphere of activity that is not included in our enumeration, it is past and gone. Some explanation of this lies hid in the occult words, “The Eighth Sphere.”

Việc cung một hiện nay chỉ kiểm soát trên hai cõi là điều hợp lý, vì Phương diện Quyền năng chờ một hệ khác để biểu lộ trong sự phát triển trọn vẹn. Cung hai, cung tổng hợp của hệ chúng ta, kiểm soát [Page 588]trên ba cõi; nó chiếm ưu thế, vì về căn bản chúng ta là các chân thần của Bác ái, và Bác ái là sự tổng hợp của chúng ta. Cung ba, cung chi phối của hệ đã qua, tức cung tổng hợp của hệ ấy, kiểm soát trên hai cõi, và trên một cõi ít được thấu hiểu, vì cũng như thể xác không được xem là một nguyên khí, nên có một khối cầu hoạt động không được kể vào sự liệt kê của chúng ta, nó đã qua và đã mất. Một phần giải thích cho điều này ẩn giấu trong những lời huyền bí: “Khối Cầu Thứ Tám.”

In regard to the four minor Rays of Harmony, Concrete Science, Devotion and Ceremonial Order, their control exists in degrees on all the planes, but they have their particular emphasis in the evolution of the reincarnating ego in the three worlds at this time. These four Rays control, in a subtle and peculiar manner, the four kingdoms of nature—mineral, vegetable, animal and human—and at their merging into the three Rays of Aspect (the Activity Ray of the Mahachohan being the synthesiser of the lower four in our planetary scheme) have a correspondence with the merging of man (the product of the three kingdoms and the fourth) into the superman kingdom, the spiritual. The fourth Ray and the fourth Kingdom form a point of harmony for the lower three, and all four then pass into the major or upper three. This is worthy of our serious thought, and the analogy of the fourth plane will also be apparent. For this system, the buddhic plane, the human kingdom, and the fourth Ray of Harmony or Beauty or Synthesis, have a point of correspondence, just as the fourth rootrace is the one in which the synthesis is first observed—the door into the fifth kingdom of Spirit being then opened; the fourth rootrace also developed the astral capacity that made contact with the fourth or buddhic level possible.

Đối với bốn cung phụ là Hài Hoà, Khoa Học Cụ Thể, Sùng tín và Trật Tự Nghi Lễ, sự kiểm soát của chúng tồn tại ở những mức độ khác nhau trên mọi cõi, nhưng chúng có điểm nhấn đặc biệt trong sự tiến hoá của chân ngã tái sinh trong ba cõi giới vào thời điểm này. Bốn cung này kiểm soát, theo một cách vi tế và đặc thù, bốn giới trong thiên nhiên—giới kim thạch, giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại—và khi chúng hợp nhất vào ba Các Cung Trạng Thái (cung Hoạt động của Đức Mahachohan là cung tổng hợp của bốn cung thấp trong hệ hành tinh của chúng ta), chúng có một sự tương ứng với sự hợp nhất của con người (sản phẩm của ba giới và giới thứ tư) vào giới siêu nhân, tức giới tinh thần. Cung bốn và giới thứ tư tạo thành một điểm hài hoà cho ba giới thấp, và rồi cả bốn cùng đi vào ba giới lớn hay ba giới cao. Điều này đáng để chúng ta suy nghĩ nghiêm túc, và phép tương đồng của cõi thứ tư cũng sẽ hiển nhiên. Đối với hệ này, cõi Bồ đề, giới nhân loại, và cung bốn của Hài Hoà hay Mỹ Đẹp hay Tổng Hợp, có một điểm tương ứng, cũng như giống dân gốc thứ tư là giống dân trong đó sự tổng hợp lần đầu tiên được quan sát—cánh cửa vào giới thứ năm của tinh thần khi ấy được mở ra; giống dân gốc thứ tư cũng phát triển năng lực cảm dục khiến cho việc tiếp xúc với cấp độ thứ tư hay Bồ đề trở nên khả hữu.

In a subtle way too (I use the word subtle for lack of a better, meaning a statement of actuality that seems an [Page 589] illusion), the three minor Rays, Concrete Science, Devotion and Ceremonial Law, have each a connection with the three kingdoms of nature below the human, and with the three laws of the three lower worlds.

Cũng theo một cách vi tế (tôi dùng từ vi tế vì thiếu một từ tốt hơn, muốn nói đến một phát biểu về thực tại mà dường như là một [Page 589] ảo tưởng), ba cung phụ là Khoa Học Cụ Thể, Sùng tín và Định luật Nghi Lễ, mỗi cung đều có một liên hệ với ba giới thiên nhiên bên dưới giới nhân loại, và với ba định luật của ba cõi thấp.

The Ray of Ceremonial Order has special significance at this time; it controls life in the mineral world, and in the final stages of involutionary life at the point where the upward turn of evolution is made. Through Ceremonial Order comes the control of the lesser builders, the elemental forces, the point of synthesis in the lowest plane of all, the period of transition. In all such periods the seventh Ray comes in (as now) the Ray of Law and Order, of accurate arrangement and formation. It is the reflection on the physical plane of the Power and Activity Aspects working in synthesis. Rays 1, 3, 7, have an interplay, as we know. Ray seven is the appearance in combination of the forces of evolution. It is the manifestation of Power and Activity on the lowest plane of all. It is allied to the laws of the third and seventh planes, Disintegration and Death, for all periods of transition are periods of the destruction and building of forms, and the shattering of the old in order that newer and better chalices of life may be constructed.

Cung của Trật Tự Nghi Lễ hiện nay có ý nghĩa đặc biệt; nó kiểm soát sự sống trong giới kim thạch, và trong các giai đoạn cuối của sự sống giáng hạ tiến hoá tại điểm mà bước ngoặt đi lên của tiến hoá được thực hiện. Qua Trật Tự Nghi Lễ mà có sự kiểm soát các vị tiểu kiến tạo, các mãnh lực hành khí, điểm tổng hợp trên cõi thấp nhất trong tất cả, giai đoạn chuyển tiếp. Trong mọi giai đoạn như thế, cung bảy đều đi vào (như hiện nay), cung của Định luật và Trật tự, của sự sắp xếp và hình thành chính xác. Nó là sự phản chiếu trên cõi hồng trần của các phương diện Quyền năng và Hoạt động đang vận hành trong tổng hợp. Các cung 1, 3, 7 có sự tương tác, như chúng ta biết. Cung bảy là sắc tướng kết hợp của các mãnh lực tiến hoá. Nó là sự biểu lộ của Quyền năng và Hoạt động trên cõi thấp nhất trong tất cả. Nó liên hệ với các định luật của cõi thứ ba và thứ bảy, Tan Rã và Tử vong, vì mọi giai đoạn chuyển tiếp đều là những giai đoạn huỷ diệt và xây dựng hình tướng, và đập tan cái cũ để những chén thánh mới hơn và tốt hơn của sự sống có thể được kiến tạo.

The Ray of Devotion has a definite though little known connection with the vegetable kingdom. We must remember that it is linked to a subsidiary law of the cosmic Law of Attraction. It is in the vegetable kingdom that we find one of the first and temporary approximations between the evolving human Monad, and the evolving deva Monad. The two parallel evolutions touch in that kingdom, and then again follow their own paths, finding their next point of contact on the fourth or buddhic level, and a final merging on the second.

Cung của Sùng tín có một liên hệ xác định tuy ít được biết đến với giới thực vật. Chúng ta phải nhớ rằng nó gắn với một định luật phụ của Định luật Hấp dẫn vũ trụ. Chính trong giới thực vật mà chúng ta tìm thấy một trong những sự tiếp cận đầu tiên và tạm thời giữa chân thần nhân loại đang tiến hoá và chân thần thiên thần đang tiến hoá. Hai đường tiến hoá song song chạm nhau trong giới ấy, rồi lại đi theo con đường riêng của mình, tìm thấy điểm tiếp xúc kế tiếp trên cấp độ thứ tư hay Bồ đề, và sự hợp nhất cuối cùng trên cấp độ thứ hai.

The concrete Rays have an especial effect on the negative evolution of the devas, who form the feminine aspect of the divine hermaphroditic Man, working along [Page 590] the lines of more positive development. The abstract Rays do a similar work on the positive human hierarchy, tending towards a more receptive attitude. This hierarchy forms the masculine aspect of the divine Hermaphrodite. But at three points on the path of evolution the Monads of Love, working on the abstract qualities, touch the devas of activity working on concrete faculty. The perfection of the two evolutions marks the point of attainment of the divine Heavenly Man; it is the perfecting of the two major centres, creative activity and love, of the Logos. In their lower aspect these centres are known as the centres of generation and the solar plexus, but are transmuted, as evolution proceeds, into the throat and heart centres. Then, in a dual synthesis, they will pass on into the third system, that in which the Power aspect is developed, and the head centres will be complete. This achieved, our Logos has triumphed, and measured up to the sixth cosmic Initiation, just as He should measure up in this system to the fourth.

Các cung cụ thể có một ảnh hưởng đặc biệt lên sự tiến hoá âm của các thiên thần, những vị tạo thành phương diện nữ của Con Người lưỡng tính thiêng liêng, đang hoạt động theo [Page 590] các đường phát triển tích cực hơn. Các cung trừu tượng làm một công việc tương tự trên huyền giai nhân loại dương, khiến nó có xu hướng tiến đến một thái độ tiếp nhận hơn. Huyền giai này tạo thành phương diện nam của Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng. Nhưng tại ba điểm trên con đường tiến hoá, các chân thần của Bác ái, hoạt động trên các phẩm tính trừu tượng, chạm đến các thiên thần của hoạt động đang làm việc trên năng lực cụ thể. Sự hoàn thiện của hai đường tiến hoá đánh dấu điểm thành tựu của Đấng Thiên Nhân thiêng liêng; đó là sự hoàn thiện của hai trung tâm lớn, hoạt động sáng tạo và bác ái, của Thượng đế. Trong phương diện thấp của chúng, các trung tâm này được biết là các trung tâm sinh sản và tùng thái dương, nhưng được chuyển hoá, khi tiến hoá tiến triển, thành trung tâm cổ họng và trung tâm tim. Rồi, trong một tổng hợp kép, chúng sẽ chuyển sang hệ thứ ba, hệ trong đó phương diện Quyền năng được phát triển, và các trung tâm đầu sẽ hoàn tất. Khi điều này đạt được, Thượng đế của chúng ta đã chiến thắng, và đạt đến lần điểm đạo vũ trụ thứ sáu, cũng như trong hệ này Ngài phải đạt đến lần điểm đạo thứ tư.

The Ray of Concrete Science has a peculiar relationship to the animal kingdom, in that it is the Ray that governs the merging of that kingdom into the human. The planet, Venus, in her fifth round, gave the impetus which produced the spark of mind in animal man—a fact well known. It is also the fifth Ray, and has an interesting connection with the fifth Law of Fixation. We might study, too, with profit, the analogy that can be seen between these factors and the fifth root-race, the race of peculiarly strong development of the concrete mind. The Law of Analogy always holds good.

Cung của Khoa Học Cụ Thể có một mối liên hệ đặc biệt với giới động vật, ở chỗ đó là cung chi phối sự hợp nhất của giới ấy vào giới nhân loại. Hành tinh Sao Kim, trong cuộc tuần hoàn thứ năm của nó, đã tạo ra xung lực sản sinh tia lửa trí tuệ trong người thú—một sự kiện ai cũng biết. Nó cũng là cung năm, và có một liên hệ thú vị với Định luật Cố Định thứ năm. Chúng ta cũng có thể nghiên cứu, một cách hữu ích, phép tương đồng có thể thấy giữa các yếu tố này và giống dân gốc thứ năm, giống dân có sự phát triển đặc biệt mạnh mẽ của trí cụ thể. Định luật Tương đồng luôn luôn đúng.

With this as a basis, the three laws of the personality become replete with life, and can be summed up in the well-known term, “The Law of Rebirth and Death in the three worlds.” The fifth law governs a fixed point in the personality, that of the fifth principle.

Lấy điều này làm nền tảng, ba định luật của phàm ngã trở nên tràn đầy sự sống, và có thể được tóm lược trong thuật ngữ quen thuộc, “Định luật Tái sinh và Tử vong trong ba cõi giới.” Định luật thứ năm chi phối một điểm cố định trong phàm ngã, tức nguyên khí thứ năm.

[Page 591] The Law of Love in the astral body also has its points for consideration. There is a direct link between the astral body (love in the personality), the buddhic vehicle (love in the Triad), and the Monads of Love. Later on, this will be understood more fully, but it is the main channel for the basic law of the system, Love. These three points mark periods of completion, and likewise starting-points for fresh endeavour in the life of the evolving Monad—from the personality to the Triad, from the Triad to the Monad, from the Monad back again to its source.

[Page 591] Định luật Bác ái trong thể cảm dục cũng có những điểm cần được xem xét. Có một mối liên kết trực tiếp giữa thể cảm dục (bác ái trong phàm ngã), vận cụ Bồ đề (bác ái trong Tam nguyên tinh thần), và các chân thần của Bác ái. Về sau, điều này sẽ được thấu hiểu đầy đủ hơn, nhưng đó là kênh chính cho định luật căn bản của hệ, tức Bác ái. Ba điểm này đánh dấu các giai đoạn hoàn tất, và đồng thời cũng là các điểm khởi đầu cho nỗ lực mới trong đời sống của chân thần đang tiến hoá—từ phàm ngã đến Tam nguyên tinh thần, từ Tam nguyên tinh thần đến chân thần, từ chân thần trở lại nguồn cội của nó.

5. The Law of Fixation.—This is the governing law of the mental plane, finding its greater correspondence in the Law of Karma on cosmic mental levels. “As a man thinks, so is he;” according to his thoughts are his desires and acts, and so results the future. He fixes for himself the resultant karma. The word “Fixation” is chosen for two purposes: First, because the word implies the capacity of the thinker to shape his own destiny, and secondly because the word implies a stabilising idea, for as evolution progresses, the Ego evolves the faculty of forming definite concrete thought-forms, and, through these stable products, of subduing the fluctuations of the astral body.

5. Định luật Cố Định.—Đây là định luật chi phối cõi trí, tìm thấy sự tương ứng lớn hơn của nó trong Định luật Nghiệp quả trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ. “Con người nghĩ sao, y là vậy;” theo tư tưởng của y mà có các ham muốn và hành động của y, và như thế tương lai được tạo thành. Y tự cố định cho mình nghiệp quả kết thành. Từ “Cố Định” được chọn vì hai mục đích: thứ nhất, vì từ này hàm ý năng lực của thức giả trong việc định hình số phận của chính mình, và thứ hai, vì từ này hàm ý một ý tưởng ổn định, bởi lẽ khi tiến hoá tiến triển, chân ngã phát triển năng lực tạo thành những hình tư tưởng cụ thể xác định, và qua các sản phẩm ổn định ấy, chế ngự những dao động của thể cảm dục.

This law of the fifth, or mental plane is one of the most important laws with which we have to do at any time, and it will find its most complete demonstration in the next, or fifth round. In relation to this fourth round the following facts may be gathered about its working:

Định luật của cõi thứ năm, hay cõi trí, là một trong những định luật quan trọng nhất mà chúng ta phải đề cập đến vào bất kỳ lúc nào, và nó sẽ tìm thấy sự biểu lộ đầy đủ nhất của mình trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, hay cuộc tuần hoàn thứ năm. Liên hệ với cuộc tuần hoàn thứ tư này, có thể rút ra các sự kiện sau đây về sự vận hành của nó:

It is the law under which the evolving personality builds up, during the course of many lives, the causal body; it fixes the matter inhering in that body, placed there by the man as the ages slip away, and crystallises it. Before the fourth Initiation the crystallisation is complete, and the inevitable shattering that is the result of crystallisation in all forms, takes place, setting the [Page 592] indwelling life free for further progress. All forms are but hindrances and limitations, and ultimately must go, but they have their needed place in the development of the race. Eventually the causal body of the entire race itself disintegrates.

Đây là định luật mà dưới đó phàm ngã đang tiến hoá xây dựng thể nguyên nhân trong tiến trình của nhiều kiếp sống; nó cố định chất liệu vốn có trong thể ấy, được con người đặt vào đó khi các thời đại trôi qua, và kết tinh nó. Trước lần điểm đạo thứ tư, sự kết tinh hoàn tất, và sự đập vỡ tất yếu vốn là kết quả của sự kết tinh trong mọi hình tướng sẽ xảy ra, giải thoát sự sống [Page 592]nội tại để tiến bộ thêm. Mọi hình tướng chỉ là những chướng ngại và giới hạn, và rốt cuộc đều phải ra đi, nhưng chúng có vị trí cần thiết của mình trong sự phát triển của nhân loại. Cuối cùng, chính thể nguyên nhân của toàn thể nhân loại cũng tan rã.

This law governs the crystallisation of all forms prior to their shattering in the process of evolution.

Định luật này chi phối sự kết tinh của mọi hình tướng trước khi chúng bị đập vỡ trong tiến trình tiến hoá.

It governs the time of rebirth, being one of the subsidiary branches of the Law of Karma. Each of the seven subsidiary laws is linked to one of the cosmic laws, or with the Sirian Law of Karma. We need always to remember that the consciousness of the cosmic mental plane is the logoic goal of attainment, and that the Sirian Logos is to our solar Logos what the human Ego is to the personality. The Law of Karma, or cosmic Fixation, is the law of the cosmic mental plane, and controls the corresponding law in our system.

Nó chi phối thời điểm tái sinh, là một trong những nhánh phụ của Định luật Nghiệp quả. Mỗi một trong bảy định luật phụ đều gắn với một trong các định luật vũ trụ, hoặc với Định luật Nghiệp quả của Sirius. Chúng ta luôn cần nhớ rằng tâm thức của cõi trí tuệ vũ trụ là mục tiêu thành tựu của Thượng đế, và rằng Thượng đế Sirius đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như chân ngã nhân loại đối với phàm ngã. Định luật Nghiệp quả, hay sự Cố Định vũ trụ, là định luật của cõi trí tuệ vũ trụ, và kiểm soát định luật tương ứng trong hệ của chúng ta.

In the fifth round this law will act as the divider, temporarily crystallising and fixing into two great classes the human Monads, as they evolve. One group then (containing those who will reach the goal), will pass gradually out from under the domination of this law, and will come under the Law of Magnetic Control. The other will remain under the law in a static condition, until in a later period a fresh opportunity will come; old forms will break, and in another mahamanvantara, and in its fifth period, will come the chance for which they will have waited, when they can again swing into the current of evolution and the imprisoned spirits may mount again towards their source.

Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, định luật này sẽ hoạt động như yếu tố phân chia, tạm thời kết tinh và cố định các chân thần nhân loại đang tiến hoá thành hai nhóm lớn. Khi ấy, một nhóm (gồm những vị sẽ đạt mục tiêu) sẽ dần dần thoát khỏi sự chi phối của định luật này, và sẽ đi vào dưới Định luật Kiểm Soát Từ Tính. Nhóm kia sẽ vẫn ở dưới định luật ấy trong một trạng thái tĩnh, cho đến khi trong một thời kỳ sau một cơ hội mới xuất hiện; các hình tướng cũ sẽ vỡ tan, và trong một Đại giai kỳ sinh hóa khác, và trong thời kỳ thứ năm của nó, sẽ đến cơ hội mà họ đã chờ đợi, khi họ có thể lại hòa vào dòng tiến hoá và các tinh thần bị giam hãm có thể lại vươn lên về nguồn cội của mình.

In an occult sense this law is for us the one with which we are the most intimately concerned. It plays an important part in the hands of the Lords of Flame, and is one of Their main factors in controlling the three worlds. Note here an interesting fact, that Venus is the sixth planet (esoterically the second), and is in her [Page 593] fifth round, and hence is ahead of us along every line.

Theo nghĩa huyền bí, đối với chúng ta đây là định luật mà chúng ta liên hệ mật thiết nhất. Nó đóng một vai trò quan trọng trong tay các Đấng Chúa Tể của Lửa, và là một trong những yếu tố chính của Các Ngài trong việc kiểm soát ba cõi giới. Hãy lưu ý ở đây một sự kiện thú vị, rằng Sao Kim là hành tinh thứ sáu (một cách huyền bí là thứ hai), và đang ở trong [Page 593] cuộc tuần hoàn thứ năm của nó, và do đó đi trước chúng ta trên mọi phương diện.

This law demonstrates the static quality of love, static temporarily, but necessarily so when viewed from the standpoint of time, the great deluder. On the path of involution this law again works with the permanent atoms in the three worlds, with the building in of material around those atoms, in connection with the building devas and the reincarnating Egos. The devas are the mother aspect, the builders of the body, and the reincarnating Jivas are the son aspect; yet the two are but one, and the result is the divine hermaphroditic man. (See page 512)

Định luật này biểu lộ phẩm tính tĩnh của bác ái, tạm thời là tĩnh, nhưng tất yếu là như vậy khi được nhìn từ quan điểm của thời gian, kẻ đại mê hoặc. Trên con đường giáng hạ tiến hoá, định luật này lại tác động với các nguyên tử trường tồn trong ba cõi giới, với việc xây dựng chất liệu quanh các nguyên tử ấy, liên hệ với các thiên thần kiến tạo và các chân ngã tái sinh. Các thiên thần là phương diện mẹ, những đấng kiến tạo thể, còn các jiva tái sinh là phương diện con; tuy nhiên cả hai chỉ là một, và kết quả là con người lưỡng tính thiêng liêng. (Xem trang 512)

6. The Law of Love.—It is not easy, in this brief digest, to approach the tremendous problem of the place love plays in the evolving scheme of things as understood by three-dimensional man. A treatise could be written on the subject, and yet leave it unexhausted. Much light comes if we can ponder deeply on the three expressions of Love: Love in the Personality, Love in the Ego, and Love in the Monad. Love in the Personality gradually develops through the stages of love of self, pure and simple and entirely selfish, to love of family and friends, to love of men and women, until it arrives at the stage of love of humanity or group love consciousness which is the predominant characteristic of the Ego. A Master of Compassion loves, suffers with, and remains with His kind and with His kin. Love in the Ego gradually develops from love of humanity into love universal—a love that expresses not only love of humanity, but also love of the deva evolutions in their totality, and of all forms of divine manifestation. Love in the Personality is love in the three worlds; love in the Ego is love in the solar system, and all that it contains; whilst love in the Monad demonstrates a measure of cosmic love, and embraces much that is outside the solar system altogether.

6. Định luật Bác ái.—Trong bản tóm lược ngắn này, không dễ để tiếp cận vấn đề to lớn về vị trí mà bác ái giữ trong sơ đồ tiến hoá của vạn vật như được con người ba chiều thấu hiểu. Có thể viết cả một chuyên luận về đề tài này mà vẫn chưa cạn. Nhiều ánh sáng sẽ đến nếu chúng ta có thể suy gẫm sâu xa về ba biểu lộ của Bác ái: Bác ái trong phàm ngã, Bác ái trong chân ngã, và Bác ái trong chân thần. Bác ái trong phàm ngã dần dần phát triển qua các giai đoạn từ tình yêu bản thân, thuần tuý và hoàn toàn ích kỷ, đến tình yêu gia đình và bạn hữu, đến tình yêu đối với những người nam và nữ, cho đến khi đạt tới giai đoạn yêu thương nhân loại hay tâm thức bác ái nhóm vốn là đặc tính nổi trội của chân ngã. Một Chân sư của Lòng Từ Bi yêu thương, cùng chịu khổ với, và ở lại với đồng loại và thân tộc của Ngài. Bác ái trong chân ngã dần dần phát triển từ tình yêu nhân loại thành tình yêu phổ quát—một tình yêu biểu lộ không chỉ tình yêu đối với nhân loại, mà còn cả tình yêu đối với các đường tiến hoá thiên thần trong toàn thể của chúng, và đối với mọi hình thức biểu lộ thiêng liêng. Bác ái trong phàm ngã là bác ái trong ba cõi giới; bác ái trong chân ngã là bác ái trong hệ mặt trời, và mọi điều nó chứa đựng; còn bác ái trong chân thần biểu lộ một mức độ bác ái vũ trụ, và bao trùm nhiều điều hoàn toàn ở ngoài hệ mặt trời.

[Page 594] This term “The Law of Love,” is after all too generic a term to apply to one law governing one plane, but will have to suffice for the present, as it conveys the type of idea that is needed, to our minds. The Law of Love is in reality but the law of the system in demonstration on all the planes. Love was the impelling motive for manifestation, and love it is that keeps all in ordered sequence; love bears all on the path of return to the Father’s bosom, and love eventually perfects all that is. It is love that builds the forms that cradle temporarily the inner hidden life, and love is the cause of the disruption of those forms, and their utter shattering, so that the life may further progress. Love manifests on each plane as the urge that drives the evolving Monad onwards to its goal, and love is the key to the deva kingdom, and the reason of the blending of the two kingdoms eventually into the divine Hermaphrodite. Love works through the concrete rays in the building of the system, and in the rearing of the structure that shelters the Spirit, and love works through the abstract rays for the full and potent development of that inherent divinity. Love demonstrates, through the concrete rays, the aspects of divinity, forming the persona that hides the one Self; love demonstrates through the abstract rays in developing the attributes of divinity, in evolving to fullest measure the kingdom of God within. Love in the concrete rays leads to the path of occultism; love in the abstract rays leads to that of the mystic. Love forms the sheath and inspires the life; love causes the logoic vibration to surge forward, carrying all on its way, and bringing all to perfected manifestation.

[Page 594] Thuật ngữ này, “Định luật Bác ái,” rốt cuộc vẫn là một thuật ngữ quá khái quát để áp dụng cho một định luật chi phối một cõi, nhưng hiện thời sẽ phải tạm dùng như vậy, vì nó chuyển tải loại ý tưởng mà trí tuệ chúng ta cần. Trên thực tế, Định luật Bác ái chỉ là định luật của hệ đang biểu lộ trên mọi cõi. Bác ái là động cơ thúc đẩy sự biểu hiện, và chính bác ái giữ cho mọi sự ở trong trình tự điều hoà; bác ái mang mọi sự trên Con Đường Trở Về về với lòng Cha, và bác ái cuối cùng hoàn thiện mọi cái đang hiện hữu. Chính bác ái xây dựng các hình tướng tạm thời ấp ủ sự sống ẩn kín bên trong, và bác ái là nguyên nhân của sự tan vỡ các hình tướng ấy, và sự đập tan hoàn toàn của chúng, để sự sống có thể tiến bộ thêm. Bác ái biểu lộ trên mỗi cõi như sự thôi thúc đẩy chân thần đang tiến hoá tiến về mục tiêu của nó, và bác ái là chìa khóa của giới thiên thần, và là lý do của sự dung hợp của hai giới cuối cùng thành Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng. Bác ái hoạt động qua các cung cụ thể trong việc xây dựng hệ, và trong việc dựng nên cấu trúc che chở Tinh thần, còn bác ái hoạt động qua các cung trừu tượng để phát triển đầy đủ và mạnh mẽ thiên tính nội tại ấy. Bác ái biểu lộ, qua các cung cụ thể, các phương diện của thiên tính, tạo thành persona che giấu cái Ngã duy nhất; bác ái biểu lộ qua các cung trừu tượng trong việc phát triển các thuộc tính của thiên tính, trong việc tiến hoá đến mức trọn vẹn nhất Thiên Giới bên trong. Bác ái trong các cung cụ thể dẫn đến con đường huyền bí học; bác ái trong các cung trừu tượng dẫn đến con đường của nhà thần bí. Bác ái tạo thành vỏ bọc và truyền cảm hứng cho sự sống; bác ái khiến rung động của Thượng đế dâng trào tiến tới, mang mọi sự theo đường đi của nó, và đưa mọi sự đến sự biểu lộ hoàn hảo.

In System I, Activity, Desire for Expression, and the Impulse to Move was the basic note. That activity produced certain results, certain permanent effects, and thus formed the nucleus for the present system. Ordered Activity is the foundation of this system of ordered [Page 595] Love, and leads to system three, wherein ordered Activity, with ordered Love for its impulse, results in ordered loving Power.

Trong Hệ I, Hoạt động, Khát vọng Biểu lộ, và Xung lực Vận động là chủ âm căn bản. Hoạt động ấy tạo ra những kết quả nhất định, những hiệu quả trường tồn nhất định, và như thế hình thành hạt nhân cho hệ hiện tại. Hoạt động Có Trật Tự là nền tảng của hệ Bác ái Có Trật Tự này, và dẫn đến hệ ba, trong đó Hoạt động Có Trật Tự, với Bác ái Có Trật Tự làm xung lực của nó, sẽ tạo ra Quyền năng yêu thương Có Trật Tự.[Page 595]

The sixth Ray of devotion and the sixth law of love have a close alliance, and on the sixth plane comes the powerful working out in the lower Triad, the Personality, of the Law of Love. On the astral plane, the home of the desires, originate those feelings which we call personal love; in the lowest type of human being this shows itself as animal passion; as evolution proceeds it shows itself as a gradual expansion of the love faculty, passing through the stages of love of mate, love of family, love of surrounding associates, to love of one’s entire environment; patriotism gives place later to love of humanity, often humanity as exemplified in one of the Great Ones. The astral plane is, at the present time, the most important for us, for in desire—not corrected or transmuted—lies the difference between the personal consciousness and that of the Ego. (185)

Cung sáu của sùng tín và định luật bác ái thứ sáu có một sự liên minh mật thiết, và trên cõi thứ sáu diễn ra sự triển khai mạnh mẽ trong Tam nguyên tinh thần thấp, tức phàm ngã, của Định luật Bác ái. Trên cõi cảm dục, nơi cư ngụ của các ham muốn, phát sinh những cảm xúc mà chúng ta gọi là tình yêu cá nhân; nơi loại người thấp nhất, điều này biểu lộ thành dục vọng thú tính; khi tiến hoá tiến triển, nó biểu lộ thành sự mở rộng dần dần của năng lực yêu thương, đi qua các giai đoạn yêu bạn đời, yêu gia đình, yêu những người chung quanh, đến yêu toàn bộ môi trường của mình; về sau lòng yêu nước nhường chỗ cho tình yêu nhân loại, thường là nhân loại được tiêu biểu nơi một trong Các Đấng Cao Cả. Cõi cảm dục hiện nay là cõi quan trọng nhất đối với chúng ta, vì trong dục vọng—khi không được điều chỉnh hay chuyển hoá—nằm sự khác biệt giữa tâm thức cá nhân và tâm thức của chân ngã. (185)

(185) Why do we consider this matter of the devas of the middle system (as we might call those connected with this system and with buddhi and kamamanas) in our consideration of thought forms? For two reasons: One is that all that is in the solar system is but substance energised from the cosmic mental and astral planes, and built into form through the power of electrical law; all that can be known is but forms ensouled by ideas. Secondly, that in the knowledge of the creative processes of the system, man learns for himself how in time to become a creator. We might illustrate this by remarking that one of the main functions of the Theosophical movement in all its many branches is to build a form which can be ensouled, in due time, by the idea of Brotherhood. (back)

(185) Tại sao chúng ta lại xem xét vấn đề các thiên thần của hệ trung gian (như chúng ta có thể gọi những vị liên hệ với hệ này và với Bồ đề cùng trí-cảm) trong khi khảo cứu các hình tư tưởng? Vì hai lý do: Một là vì mọi thứ trong hệ mặt trời chỉ là chất liệu được tiếp sinh lực từ các cõi trí tuệ và cảm dục vũ trụ, và được xây dựng thành hình tướng nhờ quyền năng của định luật điện; mọi điều có thể được biết chỉ là những hình tướng được phú linh bởi các ý tưởng. Thứ hai, vì trong tri thức về các tiến trình sáng tạo của hệ, con người tự học cho mình cách để theo thời gian trở thành một đấng sáng tạo. Chúng ta có thể minh hoạ điều này bằng cách nhận xét rằng một trong những chức năng chính của phong trào Thông Thiên Học trong mọi ngành nhánh của nó là xây dựng một hình tướng mà đến đúng lúc có thể được phú linh bởi ý tưởng về Tình Huynh Đệ. (back)

In the sixth Scheme, that of Venus, this can be seen clearly; it is the scheme of love. Viewed from one angle, the Venusian Scheme is the second, and from another it is the sixth. It depends upon whether we reason from the circumference to the centre or the reverse.

Trong hệ hành tinh thứ sáu, tức hệ của Sao Kim, điều này có thể được thấy rõ; đó là hệ của bác ái. Nhìn từ một góc độ, hệ Sao Kim là thứ hai, và từ góc độ khác nó là thứ sáu. Điều đó phụ thuộc vào việc chúng ta suy luận từ chu vi vào trung tâm hay theo chiều ngược lại.

It is the home of the planetary Logos of the sixth Ray. This may sound like a contradiction, but it is not so really; we must remember the interlocking, the gradual shifting and changing, that takes place in time on all [Page 596] the Rays. In the same way the Earth chain is the third if viewed from one aspect and the fifth viewed from another.

Đó là nơi cư ngụ của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung sáu. Điều này có thể nghe như một mâu thuẫn, nhưng thực ra không phải vậy; chúng ta phải nhớ đến sự móc nối, sự chuyển dịch và biến đổi dần dần, vốn diễn ra theo thời gian trên mọi [Page 596] cung. Cũng theo cách ấy, Dãy Địa Cầu là thứ ba nếu nhìn từ một phương diện và là thứ năm nếu nhìn từ một phương diện khác.

In the sixth chain of each scheme, this sixth law and the sixth Ray have a very important significance, whilst the seventh chain of each scheme is always synthetic—Love and Activity in a perfect balance. The same effect can be demonstrated in the sixth Round. In the sixth Round of the present chain of the Earth scheme, the sixth law will demonstrate with great clarity and force, as love shown in brotherhood, love translated or transmuted from the astral to the buddhic. So in the sixth rootrace and the sixth subrace a similar analogy will be seen. Out of the shattered form of the fifth subrace of the fifth root race, built up under the fifth Ray of Concrete Knowledge, with the aid of the fifth Law of Fixation, will emerge the sixth subrace of brotherly love—love shown in the realisation of the one life latent in each Son of God.

Trong dãy thứ sáu của mỗi hệ hành tinh, định luật thứ sáu này và cung sáu có một ý nghĩa rất quan trọng, trong khi dãy thứ bảy của mỗi hệ hành tinh luôn luôn là tổng hợp—Bác ái và Hoạt động trong thế quân bình hoàn hảo. Hiệu quả tương tự có thể được chứng minh trong cuộc tuần hoàn thứ sáu. Trong cuộc tuần hoàn thứ sáu của dãy hiện tại thuộc hệ Địa Cầu, định luật thứ sáu sẽ biểu lộ với sự rõ ràng và mãnh liệt lớn lao, như bác ái được biểu lộ trong tình huynh đệ, bác ái được chuyển dịch hay chuyển hoá từ cảm dục sang Bồ đề. Vì vậy, trong giống dân gốc thứ sáu và giống dân phụ thứ sáu cũng sẽ thấy một phép tương đồng tương tự. Từ hình tướng tan vỡ của giống dân phụ thứ năm của giống dân gốc thứ năm, được xây dựng dưới cung năm của Tri Thức Cụ Thể, với sự trợ giúp của Định luật Cố Định thứ năm, sẽ xuất hiện giống dân phụ thứ sáu của tình thương huynh đệ—bác ái được biểu lộ trong sự chứng nghiệm một sự sống duy nhất tiềm ẩn trong mỗi Con của Thượng đế.

7. The Law of Sacrifice and Death. This law links itself to the third law, that of Disintegration following the connection that always exists between the atmic and the physical plane. The Law of Disintegration controls the fivefold destruction of forms in the five lower worlds, and the Law of Death controls similarly in the three worlds. It is subsidiary to the third law. The Law of Sacrifice is the Law of Death in the subtle bodies, whilst what we call death is the analogous thing in the physical body. This law governs the gradual disintegration of concrete forms and their sacrifice to the evolving life, and is closely linked in its manifestation with the seventh Ray. This Ray is the one that largely controls, that manipulates, that geometrises and that holds sway over the form side, governing the elemental forces of nature. The physical plane is the most concrete exemplification of the form side; it holds the divine life imprisoned or [Page 597] enmeshed at its densest point, and it works at this time in line with the seventh law. In a mysterious way this law is the reverse side of the first, or the Law of Vibration. It is Vulcan and Neptune in opposition, which is as yet an almost incomprehensible thing for us. The densest form of expression on the physical plane is after all but a form of synthesis; just as the rarest form of expression on the highest plane is but unity or synthesis of a finer kind. One is the synthesis of matter, and the other the synthesis of life.

7. Định luật Hi sinh và Tử vong. Định luật này tự nối kết với định luật thứ ba, tức Định luật Tan Rã, theo mối liên hệ luôn tồn tại giữa cõi atma và cõi hồng trần. Định luật Tan Rã kiểm soát sự huỷ diệt ngũ phân của các hình tướng trong năm thế giới thấp, và Định luật Tử vong cũng kiểm soát tương tự trong ba cõi giới. Nó là định luật phụ thuộc của định luật thứ ba. Định luật Hi sinh là Định luật Tử vong trong các thể vi tế, trong khi điều chúng ta gọi là cái chết là điều tương tự trong thể xác. Định luật này chi phối sự tan rã dần dần của các hình tướng cụ thể và sự hi sinh của chúng cho sự sống đang tiến hoá, và trong sự biểu lộ của nó, nó liên hệ mật thiết với cung bảy. Đây là cung phần lớn kiểm soát, thao tác, hình học hoá và nắm quyền trên phương diện hình tướng, chi phối các mãnh lực hành khí của thiên nhiên. Cõi hồng trần là sự minh hoạ cụ thể nhất của phương diện hình tướng; nó giữ sự sống thiêng liêng bị giam cầm hay [Page 597] mắc kẹt tại điểm đậm đặc nhất của nó, và hiện nay nó hoạt động phù hợp với định luật thứ bảy. Theo một cách huyền nhiệm, định luật này là mặt trái của định luật thứ nhất, hay Định luật Rung động. Đó là Vulcan và Sao Hải Vương ở thế đối vị, điều mà hiện nay đối với chúng ta hầu như không thể hiểu nổi. Hình thức biểu lộ đậm đặc nhất trên cõi hồng trần rốt cuộc cũng chỉ là một dạng tổng hợp; cũng như hình thức biểu lộ tinh tế nhất trên cõi cao nhất cũng chỉ là sự hợp nhất hay tổng hợp của một loại tinh tế hơn. Một bên là sự tổng hợp của vật chất, và bên kia là sự tổng hợp của sự sống.

This law governs the seventh chain in each scheme; each chain having achieved the fullest expression possible in the scheme, comes under the Law of Death, and obscuration and disintegration supervenes. In a cosmic sense and analogy, it is the law that governs the coming in of pralaya at the end of a system. It is the law that shatters the cross of the cosmic Christ, and places the form of the Christ within the tomb for a period of time.

Định luật này chi phối dãy thứ bảy trong mỗi hệ hành tinh; mỗi dãy, sau khi đã đạt đến sự biểu lộ đầy đủ nhất có thể trong hệ hành tinh, sẽ đi vào dưới Định luật Tử vong, và sự che mờ cùng tan rã sẽ tiếp diễn. Theo nghĩa vũ trụ và phép tương đồng, đó là định luật chi phối sự xuất hiện của giai kỳ qui nguyên vào cuối một hệ. Đó là định luật đập tan thập giá của Đức Christ vũ trụ, và đặt hình tướng của Đức Christ vào trong mộ phần trong một thời kỳ.

The Principle of Mutation. In concluding the above information about the laws, it is needful that we all recognise the extreme danger of dogmatising about these matters, and the risk of laying down hard and fast rules. Much must remain unexplained and untouched, and much also will serve to raise only questions in our minds. Comprehension is as yet impossible. Until fourth-dimensional sight is ours, it will scarcely be possible for us to do more than hint at, and get a passing vision of, the complexity and the interweaving in the system. It is not easy for us to do more than grip as a mental concept the fact that the rays, schemes, planets, chains, rounds, races and laws form a unit; seen from the angle of human vision the confusion seems unimaginable, and the key of its solution to be so hidden as to be useless; yet, seen from the angle of logoic sight, [Page 598] the whole moves in unison, and is geometrically accurate. In order to give some idea of the complexity of the arrangement, I would like here to point out that the Rays themselves circulate, the Law of Karma controlling the interweaving. For instance, Ray I may pass around a scheme (if it is the paramount Ray of the scheme) with its first subray manifesting in a chain, its second in a round, its third in a world period, its fourth in a root race, its fifth in a subrace, and its sixth in a branch race. I give this in illustration, and not as the statement of a fact in present manifestation. This gives us some idea of the vastness of the process, and of its wonderful beauty. It is impossible for us, sweeping through on some one Ray, to visualise or in any way to apprehend this beauty; yet, to those on higher levels and with a wider range of vision, the gorgeousness of the design is apparent.

Nguyên lý Biến Dịch. Khi kết thúc phần thông tin trên về các định luật, điều cần thiết là tất cả chúng ta phải nhận ra mối nguy cực lớn của việc giáo điều hoá về những vấn đề này, và rủi ro của việc đặt ra những quy luật cứng nhắc. Nhiều điều phải còn lại chưa được giải thích và chưa được chạm đến, và nhiều điều cũng sẽ chỉ làm nảy sinh những câu hỏi trong trí chúng ta. Sự thấu hiểu hiện vẫn là bất khả. Chừng nào linh thị bốn chiều chưa là của chúng ta, chừng đó chúng ta hầu như không thể làm gì hơn ngoài việc gợi ý, và có được một linh ảnh thoáng qua về tính phức tạp và sự đan xen trong hệ. Đối với chúng ta, không dễ làm gì hơn ngoài việc nắm bắt như một khái niệm trí tuệ sự kiện rằng các cung, hệ hành tinh, hành tinh, dãy, cuộc tuần hoàn, giống dân và định luật tạo thành một đơn vị; nhìn từ góc độ tầm nhìn nhân loại, sự rối rắm dường như không thể tưởng tượng nổi, và chìa khóa giải đáp của nó dường như ẩn kín đến mức vô dụng; tuy nhiên, nhìn từ góc độ linh thị của Thượng đế, [Page 598]toàn thể vận động trong sự đồng nhất, và chính xác về mặt hình học. Để đưa ra một vài ý niệm về tính phức tạp của sự sắp xếp này, ở đây tôi muốn chỉ ra rằng chính các cung cũng tuần hoàn, với Định luật Nghiệp quả kiểm soát sự đan xen. Chẳng hạn, cung I có thể đi vòng quanh một hệ hành tinh (nếu đó là cung tối quan trọng của hệ hành tinh ấy) với cung phụ thứ nhất của nó biểu lộ trong một dãy, cung phụ thứ hai trong một cuộc tuần hoàn, cung phụ thứ ba trong một thời kỳ thế giới, cung phụ thứ tư trong một giống dân gốc, cung phụ thứ năm trong một giống dân phụ, và cung phụ thứ sáu trong một giống dân nhánh. Tôi nêu điều này như một minh hoạ, chứ không phải như một phát biểu về một sự kiện đang biểu lộ hiện nay. Điều này cho chúng ta một vài ý niệm về sự bao la của tiến trình, và về vẻ đẹp kỳ diệu của nó. Đối với chúng ta, khi đang đi xuyên qua trên một cung nào đó, không thể hình dung hay bằng bất kỳ cách nào lĩnh hội vẻ đẹp này; tuy nhiên, đối với những vị ở các cấp độ cao hơn và có tầm nhìn rộng lớn hơn, vẻ huy hoàng của mô hình ấy là điều hiển nhiên.

This complexity is for us very much increased because we do not yet understand the principle governing this mutation. Nor is it possible for even the highest human mind in the three worlds to do more than sense and approximate that principle. By mutation I mean the fact that there is a constant changing and shifting, an endless interweaving and interlocking, and a ceaseless ebb and flow, in the dramatic interplay of the forces that stand for the dual synthesis of Spirit and matter. There is constant rotation in the Rays and planes, in their relative importance from the standpoint of time which is the standpoint most closely associated with us. But we can rest assured that there is some fundamental principle directing all the activities of the Logos in His system, and by wrestling to discover the basic principle on which our microcosmic lives rest, we may discover aspects of this inherent logoic principle. This opens to our consideration a wide range of vision, and [Page 599] though it emphasises the complexity of the subject, it also demonstrates the divine magnitude of the scheme, with its magnificent intricacies. The reason the fourth is a major round is because in this round two things happened—the spark of mind was implanted and the door was opened from the animal kingdom into the human; and later, another door opened, on to the Path leading from the human kingdom into the spiritual—again a dual reason. The fifth round is a major round because it marks a point in evolution where those who will achieve the goal, and those who will not, are sharply differentiated into two groups; the seventh is a major round because it will mark the merging of the two evolutions, the human and the deva.

Sự phức tạp này đối với chúng ta càng tăng lên rất nhiều vì chúng ta chưa hiểu nguyên khí chi phối sự biến đổi này. Ngay cả trí tuệ nhân loại cao nhất trong ba cõi giới cũng không thể làm gì hơn ngoài việc cảm nhận và xấp xỉ nguyên khí đó. Bởi sự biến đổi, tôi muốn nói đến sự kiện rằng có một sự thay đổi và chuyển dịch liên tục, một sự đan xen và móc nối vô tận, cùng một sự lên xuống không ngừng, trong sự tương tác đầy kịch tính của các mãnh lực tượng trưng cho sự tổng hợp nhị nguyên của tinh thần và vật chất. Có sự luân chuyển liên tục trong các cung và các cõi, trong tầm quan trọng tương đối của chúng theo quan điểm thời gian, vốn là quan điểm gắn bó mật thiết nhất với chúng ta. Nhưng chúng ta có thể yên tâm rằng có một nguyên khí căn bản nào đó đang chỉ đạo mọi hoạt động của Thượng đế trong hệ của Ngài, và bằng cách vật lộn để khám phá nguyên khí nền tảng trên đó các sự sống vi mô của chúng ta đặt nền, chúng ta có thể khám phá các phương diện của nguyên khí logoic cố hữu này. Điều này mở ra cho sự xem xét của chúng ta một phạm vi tầm nhìn rộng lớn, và [Page 599] tuy nó nhấn mạnh tính phức tạp của đề tài, nó cũng chứng minh tầm vóc thiêng liêng của hệ hành tinh, với những sự tinh vi tráng lệ của nó. Lý do cuộc tuần hoàn thứ tư là một cuộc tuần hoàn chính yếu là vì trong cuộc tuần hoàn này đã xảy ra hai điều—tia lửa trí tuệ được cấy vào và cánh cửa được mở từ giới động vật sang giới nhân loại; và về sau, một cánh cửa khác được mở ra, dẫn vào Con Đường đưa từ giới nhân loại sang giới tinh thần—một lần nữa lại là một lý do nhị nguyên. Cuộc tuần hoàn thứ năm là một cuộc tuần hoàn chính yếu vì nó đánh dấu một điểm tiến hoá nơi những ai sẽ đạt mục tiêu, và những ai sẽ không đạt, được phân biệt rõ rệt thành hai nhóm; cuộc tuần hoàn thứ bảy là một cuộc tuần hoàn chính yếu vì nó sẽ đánh dấu sự hợp nhất của hai tiến hoá, nhân loại và thiên thần.

The major root races are chosen under the Law of Correspondence. In the third root race came the third Outpouring, the merging and the point of contact between the Spiritual Triad and the Lower Quaternary. The fifth root race marks a point where higher and lower manas approximate, and where the concrete mind, meeting its highest development of this round, gives place to the intuition from above. Here again we have a twofold reason. The seventh root race again demonstrates dual attainment, love in activity, the basis of the third system of Will or Power.

Các giống dân gốc chính yếu được chọn theo định luật tương ứng. Trong giống dân gốc thứ ba đã đến lần tuôn đổ thứ ba, sự hợp nhất và điểm tiếp xúc giữa Tam Nguyên Tinh Thần và Bộ Tứ Hạ. Giống dân gốc thứ năm đánh dấu một điểm mà manas cao và thấp xích lại gần nhau, và nơi trí cụ thể, đạt đến sự phát triển cao nhất của nó trong cuộc tuần hoàn này, nhường chỗ cho trực giác từ bên trên. Ở đây một lần nữa chúng ta có một lý do nhị phân. Giống dân gốc thứ bảy lại chứng minh sự thành tựu kép, bác ái trong hoạt động, nền tảng của hệ thứ ba của Ý Chí hay Quyền Năng.

The three major Rays, being dual, are their own sufficient explanation. They are at present the mode of expression of the three aspects, and demonstrate under their appropriate Logoi, Who manipulate world affairs through the three departments, of which the rulers on our planet are the Lord Maitreya, the Manu, and the Mahachohan. The three major planes demonstrate easily their unique position—on plane two we have the home of the Monads of Love, on plane five we find the habitat of their reflections, the reincarnating Egos, and [Page 600] on the physical plane we find the working out at its densest point of the life of the Spirit.

Ba cung chính yếu, vì là nhị nguyên, tự chúng đã là lời giải thích đầy đủ. Hiện nay chúng là phương thức biểu lộ của ba phương diện, và biểu hiện dưới các Thượng đế thích hợp của Các Ngài, Đấng vận dụng các công việc thế gian qua ba ban, mà những vị cai quản trên hành tinh chúng ta là Đức Maitreya, Đức Manu, và Đức Mahachohan. Ba cõi chính yếu dễ dàng chứng minh vị trí độc đáo của chúng—trên cõi thứ hai chúng ta có nơi cư ngụ của các chân thần Bác Ái, trên cõi thứ năm chúng ta thấy nơi ở của các phản chiếu của các ngài, các chân ngã tái sinh, và [Page 600] trên cõi hồng trần chúng ta thấy sự triển khai ở điểm đậm đặc nhất của đời sống tinh thần.

This principle of mutation governs every department in the Law of Correspondences, and certain things can be stated as regards the system, and its component parts which will be found illuminating if we remember that they are facts for the present. Let me again illustrate: we have been told that the three major Rays at this time are the first, the second, and the seventh. But later, the Rays now major may become subsidiary, and others take their place, though for this solar system the second Ray, being the synthetic Ray, will always be a major Ray. Perhaps we can here get a hint on this great principle, though we must be careful not to draw it out to too fine a conclusion. For this system the major Rays will always be the dual Rays—the negative-positive Rays, the masculine-feminine Rays—this being the dual system. The major Rays for system three will be those in triple manifestation.

Nguyên khí biến đổi này chi phối mọi bộ môn trong định luật tương ứng, và có thể nêu ra một số điều liên quan đến hệ và các thành phần cấu tạo của nó, những điều sẽ được thấy là soi sáng nếu chúng ta nhớ rằng chúng là các sự kiện ở hiện tại. Hãy để tôi lại minh hoạ: chúng ta đã được bảo rằng ba cung chính yếu là vào lúc này cung một, cung hai, và cung bảy. Nhưng về sau, các cung hiện nay là chính yếu có thể trở thành thứ yếu, và các cung khác thay thế vị trí của chúng, mặc dù đối với hệ mặt trời này, cung hai, vì là cung tổng hợp, sẽ luôn luôn là một cung chính yếu. Có lẽ ở đây chúng ta có thể nhận được một gợi ý về nguyên khí vĩ đại này, dù chúng ta phải cẩn thận không rút nó ra thành một kết luận quá tinh vi. Đối với hệ này, các cung chính yếu sẽ luôn luôn là các cung nhị nguyên—các cung âm-dương, các cung nam-nữ—vì đây là hệ nhị nguyên. Các cung chính yếu của hệ thứ ba sẽ là những cung trong biểu hiện tam phân.

The following table may be found of interest, if regarded as relative, and as holding information for the present time, but also as being subject to change and circulation:

Bảng sau đây có thể được thấy là đáng quan tâm, nếu được xem là tương đối, và như chứa đựng thông tin cho thời điểm hiện tại, nhưng cũng là điều có thể thay đổi và luân chuyển:

7 Rays

Major 1-2-7

Four subsidiary converging on the fifth.

7 Principles

3 Major

Monad, Ego and Personality, synthesising at various stages the four subsidiary.

7 Chains

Major 1-4-7

7 Planes

Major 2-5-7

7 Manvantaras

Major 3-4-7

7 Rounds

Major 4-5-7

7 Root races

Major 3-5-7

7 Sub races

Major 1-5-6

7 Initiations

Major 1 4 5

if viewed from the angle of human attainment, and 1-5-7 if viewed from a higher.

S6S4

[Page 601]

[Page 601]

II. THOUGHT ELEMENTALS AND DEVAS. — II. HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ THIÊN THẦN.

1. THE RULER OF FIRE—AGNI. — 1. CHÚA TỂ CỦA LỬA—AGNI.

a. Agni and the Solar Logos.

a. Agni và Thái dương Thượng đế.

Thus far in this treatise we have considered the first section of the book which has dealt somewhat with the internal fires of the system, both macrocosmic and microcosmic. In this the second section we are dealing with the fire of mind. This section, together with the nine introductory questions, constitutes the main part of the treatise. In it we have dealt with the nature and function of mind and with the egoic ray. We have dealt also, somewhat, with the form side of thought, with its material manifestation and with its substance.

Cho đến nay trong bộ luận này chúng ta đã xem xét phần thứ nhất của quyển sách, phần đã bàn phần nào về các nội hỏa của hệ, cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Trong phần thứ hai này chúng ta đang bàn đến lửa của trí tuệ. Phần này, cùng với chín câu hỏi nhập đề, cấu thành phần chính của bộ luận. Trong đó chúng ta đã bàn đến bản chất và chức năng của trí tuệ và đến cung chân ngã. Chúng ta cũng đã bàn, phần nào, đến phương diện hình tướng của tư tưởng, đến biểu hiện vật chất của nó và đến chất liệu của nó.

We proceed now to take up the consideration of the Ruler of Fire, AGNI, and are brought to the study of the vitality that energises and the Life that animates; to the contemplation of the Fire that drives, propels, and produces the activity and organisation of all forms. The realisation of this will reveal the fact that what we are dealing with is the “Life and the lives,” (186, 187) as it is called [Page 602] in the Secret Doctrine; with Agni, the Lord of Fire, the Creator, the Preserver, and the Destroyer; and with the forty-nine fires through which He manifests.

Giờ đây chúng ta tiếp tục xem xét Chúa Tể của Lửa, AGNI, và được đưa đến việc nghiên cứu sinh lực tiếp sinh lực và Sự sống làm sinh động; đến sự chiêm ngưỡng Lửa thúc đẩy, đẩy tới, và tạo ra hoạt động cùng tổ chức của mọi hình tướng. Sự chứng nghiệm điều này sẽ tiết lộ sự kiện rằng điều chúng ta đang bàn đến là “Sự sống và các sự sống,” (186, 187) như được gọi [Page 602] trong Giáo Lý Bí Nhiệm; với Agni, Chúa Tể của Lửa, Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn, và Đấng Hủy Diệt; và với bốn mươi chín ngọn lửa qua đó Ngài biểu lộ.

(186) The Life and the Lives. H. P. B. says in the Secret Doctrine.

(186) Sự sống và các sự sống. H. P. B. nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm.

“Occultism does not accept anything inorganic in the Kosmos. The expression employed by Science ‘inorganic substance’ means simply that the latent life, slumbering in the molecules of so-called ‘inert matter’ is incognisable. All is Life, and every atom of even mineral dust is a Life, though beyond our comprehension and perception....Life therefore is everywhere in the Universe...wherever there is an atom of matter, a particle or a molecule, even in its most gaseous condition, there is life in it however latent and unconscious.”—S. D., I, 269, 281, 282.` (back)

“Huyền bí học không chấp nhận bất cứ điều gì là vô cơ trong Vũ trụ. Cách diễn đạt mà Khoa Học dùng là ‘chất liệu vô cơ’ chỉ đơn giản có nghĩa rằng sự sống tiềm ẩn, đang ngủ trong các phân tử của cái gọi là ‘vật chất trơ’, là điều không thể nhận biết. Tất cả đều là Sự sống, và mỗi nguyên tử ngay cả của bụi khoáng vật cũng là một sự sống, dù vượt ngoài sự thấu hiểu và tri giác của chúng ta....Vì vậy Sự sống ở khắp nơi trong Vũ trụ...ở bất cứ nơi nào có một nguyên tử vật chất, một hạt hay một phân tử, ngay cả trong trạng thái khí thể nhất của nó, đều có sự sống trong đó dù tiềm ẩn và vô thức đến đâu.”—S. D., I, 269, 281, 282.` (back)

FOOTNOTE 87: The Life and the Lives.

CHÚ THÍCH 87: Sự sống và các sự sống.

1. Everything lives and is conscious, but all life and consciousness is not similar to the human.—S. D., I, 79.

1. Mọi thứ đều sống và đều có tâm thức, nhưng không phải mọi sự sống và tâm thức đều giống như nơi con người.—S. D., I, 79.

a. Life is the one form of existence manifesting in matter.

a. Sự sống là một hình thức tồn tại duy nhất đang biểu hiện trong vật chất.

b. Matter is the vehicle for the manifesting of soul.

b. Vật chất là vận cụ cho sự biểu hiện của linh hồn.

c. Soul is the vehicle for the manifesting of Spirit.

c. Linh hồn là vận cụ cho sự biểu hiện của tinh thần.

Therefore: 1st Logos, 2nd Logos, 3rd Logos co-operate.

Vì vậy: Logos thứ nhất, Logos thứ hai, Logos thứ ba cùng hợp tác.

Illustration:

Minh họa:

Life of the 3rd Logos—animating atoms of matter.

Sự sống của Logos thứ ba—tiếp sinh lực cho các nguyên tử vật chất.

Life of the 2nd Logos—animating the forms, or aggregate of atoms.

Sự sống của Logos thứ hai—tiếp sinh lực cho các hình tướng, hay tập hợp các nguyên tử.

Life of the 1st Logos—animating the composite forms.

Sự sống của Logos thứ nhất—tiếp sinh lực cho các hình tướng tổng hợp.

2. The one Life synthesises this triplicity.

2. Sự sống duy nhất tổng hợp bộ ba này.

Let us work this out in the Macrocosm and Microcosm.

Chúng ta hãy triển khai điều này trong Đại thiên địa và Tiểu thiên địa.

Fohat, Prana, Electricity, Magnetic Fluid, are all terms used for this one vitalising life.

Fohat, Prana, Điện, Lưu chất từ tính, đều là những thuật ngữ được dùng cho sự sống tiếp sinh lực duy nhất này.

The Microcosm is animated and vitalised by prana, and its actions controlled by the indwelling Thinker.

Tiểu thiên địa được prana tiếp sinh lực và làm cho sống động, còn các hoạt động của nó được kiểm soát bởi Đấng Tư Tưởng nội tại.

The Macrocosm is animated and vitalised by Fohat; its actions are controlled by the informing Intelligence we call the Logos.

Đại thiên địa được Fohat làm cho sống động và tiếp sinh lực; các hoạt động của nó được kiểm soát bởi Trí Tuệ thấm nhuần mà chúng ta gọi là Logos.

We are dealing with solar fire per se, with the essence of thought, with the coherent life of all forms, with the consciousness in its evolving aspect, or with Agni, the sumtotal of the Gods. He is Vishnu and the Sun in His glory; He is the fire of matter and the fire of mind blended and fused; He is the intelligence which throbs in every atom; He is the Mind that actuates the system; He is the fire of substance and the substance of the fire; He is the Flame and that which the Flame destroys.

Chúng ta đang bàn đến chính lửa thái dương, đến tinh chất của tư tưởng, đến sự sống cố kết của mọi hình tướng, đến tâm thức trong phương diện tiến hoá của nó, hay đến Agni, tổng thể của các Thượng đế. Ngài là Vishnu và Mặt Trời trong vinh quang của Ngài; Ngài là lửa của vật chất và lửa của trí tuệ được hoà trộn và dung hợp; Ngài là trí tuệ rung động trong mọi nguyên tử; Ngài là Trí thúc đẩy hệ; Ngài là lửa của chất liệu và chất liệu của lửa; Ngài là Ngọn Lửa và là điều mà Ngọn Lửa hủy diệt.

Students of the Secret Doctrine when they read carelessly are apt to consider Him only as the fire of matter and omit to note that He is Himself the sumtotal—and this is especially the case when they find that Agni is the Lord of the mental plane. (188)

Các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm khi đọc một cách cẩu thả thường có khuynh hướng chỉ xem Ngài như lửa của vật chất và không lưu ý rằng chính Ngài là tổng thể—và điều này đặc biệt đúng khi họ thấy rằng Agni là Chúa Tể của cõi trí. (188)

(188) “...Agni, who is the source of all that gives light and heat. So that there are different species of Agni (fire); but “whatever other fires there may be, they are but the ramifications of Agni, the immortal” (Rig Veda, L, 59 I). The primary division of Agni is threefold. “Agni,” says the Vishnu Parana, “has three sons, Suchi, Pavamana, and Pavaka” (I, x). Suchi means the Saura, or Solar fire; Pavamana means Nirmathana, fire produced by friction, as the friction of two pieces of wood; and Pavaka means the vaidyuta or fire of the firmament, i.e. the fire of the lightning, or electric fire.

(188) “...Agni, Đấng là nguồn gốc của mọi điều ban ánh sáng và nhiệt. Vì vậy có nhiều loại Agni (lửa) khác nhau; nhưng ‘dù có bất kỳ loại lửa nào khác, chúng chỉ là những phân nhánh của Agni, Đấng bất tử’ (Rig Veda, L, 59 I). Sự phân chia sơ khởi của Agni là tam phân. ‘Agni,’ Vishnu Parana nói, ‘có ba con trai, Suchi, Pavamana, và Pavaka’ (I, x). Suchi có nghĩa là Saura, hay lửa Thái dương; Pavamana có nghĩa là Nirmathana, lửa được tạo ra bởi ma sát, như ma sát của hai mảnh gỗ; và Pavaka có nghĩa là vaidyuta hay lửa của bầu trời, tức lửa của sấm chớp, hay Lửa Điện.

The sources of these three fires I may observe in passing, constitute the three principal deities spoken of in the Veda, namely, Surya, the sun, representing the solar fire; Indra (and sometimes, Vayu) the rain-producing deity, representing the fire of the firmament; and Agni, representing the terrestrial fire, the fire produced by friction (Nirukta, VII, 4); and all these three, be it remembered, are merely the ramifications of one Agni; which in its turn is an emanation from the Supreme One, as the reader will find from the allegorical description given of Agni as being the mouth-born son of Brahma, in the Vishnu purana.

Nhân tiện tôi có thể nhận xét rằng nguồn gốc của ba loại lửa này cấu thành ba thần tính chính được nói đến trong Veda, tức là Surya, mặt trời, tượng trưng cho lửa thái dương; Indra (và đôi khi là Vayu), thần tạo mưa, tượng trưng cho lửa của bầu trời; và Agni, tượng trưng cho lửa trần thế, lửa được tạo ra bởi ma sát (Nirukta, VII, 4); và xin nhớ rằng cả ba vị này chỉ là những phân nhánh của một Agni; mà đến lượt mình, Agni là một phát xạ từ Đấng Tối Cao, như độc giả sẽ thấy từ mô tả ngụ ngôn về Agni như người con sinh từ miệng của Brahma, trong Vishnu purana.

Now, each of the triple forms of Agni has numerous subdivisions. The solar fire is distinguished by several divisions according to the nature of the rays emitted by the great luminary.”—The Theosophist, Vol VII, p. 196. (back)

Giờ đây, mỗi hình thức tam phân của Agni đều có nhiều phân bộ. Lửa thái dương được phân biệt thành nhiều loại theo bản chất của các tia phát ra từ thiên thể lớn.”—The Theosophist, Tập VII, tr. 196. (back)

He is the animating life of the solar system, and that life is the life of [Page 603] God, the energy of the Logos, and the manifestation of the radiance which veils the Central Sun. Only as He is recognised as Fohat, the energy of matter, as Wisdom, the nature of the Ego and its motivation, and as essential unity, can any due conception be arrived at as to His nature or being. He is not the solar Logos on the cosmic mental plane, for the egoic consciousness of the Logos is more than His physical manifestation, but Agni is the sumtotal of that portion of the logoic Ego which is reflected down into His physical vehicle; He is the life of the logoic Personality, with all that is included in that expression. He is to the solar Logos on His own plane what the coherent personality of a human being is to his Ego in the causal body. This is a very important point to be grasped, and if meditated upon will bring to the student much enlightenment. His is the life that fuses and blends the threefold nature of the Logos when in physical incarnation; His is the coherent force that makes a unity of the triple logoic Personality, but man can only arrive at His essential nature by the study of the logoic physical vehicle—hence the difficulty; he can only understand by a consideration of His psychic emanation as it can be sensed and viewed by passing the history of the races in retrospect. Man’s personality reveals his nature as his life progresses; his psychic quality unfolds as the years slip away, and when he passes out of incarnation he is spoken of in terms of quality, good or bad, selfish or unselfish; the effect of his “emanation” during life is that which remains in men’s minds. Thus only can the logoic personality express itself, and our knowledge of His nature is consequently limited by our close perspective, and handicapped by the fact that we are participants in His life, and integral parts of His manifestation.

Ngài là sự sống làm sinh động của hệ mặt trời, và sự sống đó là sự sống của [Page 603] Thượng đế, năng lượng của Thượng đế, và biểu hiện của sự rạng ngời che phủ Mặt Trời Trung Tâm. Chỉ khi Ngài được nhận biết như Fohat, năng lượng của vật chất, như minh triết, bản chất của chân ngã và động lực của nó, và như sự hợp nhất cốt yếu, thì mới có thể đạt được một quan niệm đúng đắn nào đó về bản chất hay hữu thể của Ngài. Ngài không phải là Thái dương Thượng đế trên cõi trí vũ trụ, vì tâm thức chân ngã của Thượng đế còn hơn cả biểu hiện hồng trần của Ngài, nhưng Agni là tổng thể của phần chân ngã logoic được phản chiếu xuống vận cụ hồng trần của Ngài; Ngài là sự sống của phàm ngã logoic, với tất cả những gì bao hàm trong cách diễn đạt đó. Đối với Thái dương Thượng đế trên cõi riêng của Ngài, Ngài cũng như phàm ngã cố kết của một con người đối với chân ngã của y trong thể nguyên nhân. Đây là một điểm rất quan trọng cần nắm bắt, và nếu được tham thiền về nó sẽ đem lại cho đạo sinh nhiều sự soi sáng. Sự sống của Ngài là sự sống dung hợp và hoà trộn bản chất tam phân của Thượng đế khi đang lâm phàm hồng trần; mãnh lực cố kết của Ngài là điều tạo nên sự hợp nhất của phàm ngã logoic tam phân, nhưng con người chỉ có thể đạt đến bản chất cốt yếu của Ngài bằng việc nghiên cứu vận cụ hồng trần logoic—do đó mới có khó khăn; y chỉ có thể thấu hiểu bằng cách xem xét sự phát xạ thông linh của Ngài như có thể được cảm nhận và quan sát bằng cách nhìn lại lịch sử các nhân loại. Phàm ngã của con người tiết lộ bản chất của y khi đời sống của y tiến triển; phẩm tính thông linh của y khai mở khi năm tháng trôi qua, và khi y rời khỏi lâm phàm, người ta nói về y theo phẩm tính, tốt hay xấu, ích kỷ hay vị tha; hiệu quả của “sự phát xạ” của y trong đời sống là điều còn lại trong tâm trí con người. Chỉ bằng cách đó phàm ngã logoic mới có thể biểu lộ chính nó, và vì thế tri thức của chúng ta về bản chất của Ngài bị giới hạn bởi góc nhìn quá gần của chúng ta, và bị cản trở bởi sự kiện rằng chúng ta là những người tham dự vào đời sống của Ngài, và là những phần toàn vẹn trong biểu hiện của Ngài.

It is only as we begin to function upon the buddhic plane that we can in any way “live in the subjective” [Page 604] side of nature, and it is only as our knowledge of the spiritual life increases, and as we pass definitely through the portal of initiation into the fifth kingdom that we can appreciate the distinction between the dense physical, and the vital body. Only as we become polarised in the cosmic etheric body and are no longer held prisoner by a dense material sheath (for the three lower planes are but the dense body of the Logos) do we come to a fuller understanding of the psychic nature of the Logos, for we stand then in the body which bridges the gulf between the dense physical, and the astral body of the Logos. Only when this is the case do we understand the function of the Lord Agni as the vital life of the cosmic etheric, as the vitality of the Heavenly Men and the activity of Their sheaths.

Chỉ khi chúng ta bắt đầu hoạt động trên cõi Bồ đề thì chúng ta mới có thể theo bất kỳ cách nào “sống trong phương diện chủ quan” [Page 604] của bản chất, và chỉ khi tri thức của chúng ta về đời sống tinh thần gia tăng, và khi chúng ta dứt khoát đi qua cánh cổng điểm đạo vào giới thứ năm thì chúng ta mới có thể đánh giá được sự phân biệt giữa thể xác đậm đặc và thể sinh lực. Chỉ khi chúng ta trở nên phân cực trong thể dĩ thái vũ trụ và không còn bị giam giữ bởi một vỏ bọc vật chất đậm đặc nữa (vì ba cõi thấp chỉ là thể đậm đặc của Thượng đế) thì chúng ta mới đi đến một sự thấu hiểu đầy đủ hơn về bản chất thông linh của Thượng đế, vì khi ấy chúng ta đứng trong thể bắt cầu qua vực ngăn cách giữa thể xác đậm đặc và thể cảm dục của Thượng đế. Chỉ khi điều này xảy ra chúng ta mới hiểu được chức năng của Chúa Agni như sự sống sinh lực của dĩ thái vũ trụ, như sinh lực của các Đấng Thiên Nhân và hoạt động của các vỏ bọc của Các Ngài.

b. Agni and the Mental Plane.

b. Agni và cõi trí.

I seek to deal with a very important point here, emphasising the close connection between Agni, the sumtotal of the life force of the logoic threefold personality, as He is seen at work on the mental plane (which closely concerns man), and that manifesting driving force or intelligent will which emanates from the cosmic mental plane. There is a very interesting series of correspondences to be worked out here and we might briefly indicate the lines to be followed in this connection by the ensuing tabulation:

Ở đây tôi muốn bàn đến một điểm rất quan trọng, nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa Agni, tổng thể của sinh lực của phàm ngã logoic tam phân, như Ngài được thấy đang hoạt động trên cõi trí (điều liên hệ mật thiết với con người), và mãnh lực thúc đẩy biểu lộ hay ý chí thông tuệ phát ra từ cõi trí vũ trụ. Ở đây có một chuỗi tương ứng rất thú vị cần được triển khai và chúng ta có thể ngắn gọn chỉ ra các đường hướng cần theo trong mối liên hệ này bằng bảng sau:

The 5th cosmic plane

The cosmic mental.

The 5th systemic plane

The mental plane.

The 5th subplane of the physical

The gaseous.

The 5th principle

Manas.

The 5th Law

Fixation, the Law of Concretion.

The 5th Ray

Concrete knowledge.

The 5th round

The round of manasic attainment.

The 5th root-race

The Aryan. Mental development.

The 5th sub-race

The Teutonic and Anglo-Saxon. Concrete mind.

The 5th group of Devas

Fire Devas of the mental plane.

The 5th Manvantara

Three-fifths of the manasaputras achieve.

The 5th scheme

The Lord of concrete science.

The 5th Mahamanvantara (or solar system)

The solar Logos achieves His fifth major Initiation.

The 5th chain

Principal evolution—fire devas.

The 5th Hierarchy

The greater Builders.

Vibrations of fifth order

Manasic.

[Page 605] It will, therefore, be apparent that when the system is viewed in reverse order and the physical plane is counted as the first (as it often is when considering it as the field of strictly human evolution), that the third plane—the mental plane—comes under the same group of correspondences and Agni, as the energising factor of the dense physical body of the Logos, or as the fire of His most concrete manifestation, vitalising, warming and holding all together, has to be considered.

[Page 605] Do đó, sẽ rõ ràng rằng khi hệ được nhìn theo thứ tự đảo ngược và cõi hồng trần được tính là cõi thứ nhất (như thường được làm khi xem nó là trường tiến hoá thuần túy của con người), thì cõi thứ ba—cõi trí—thuộc cùng một nhóm tương ứng và Agni, như yếu tố tiếp sinh lực cho thể xác đậm đặc của Thượng đế, hay như lửa của biểu hiện cụ thể nhất của Ngài, tiếp sinh lực, sưởi ấm và giữ mọi sự lại với nhau, phải được xem xét.

Three hierarchies are, in this mahamanvantara, of profound significance, the fourth or human Creative Hierarchy, and the two deva hierarchies, the fifth and sixth.

Ba Huyền Giai, trong đại giai kỳ sinh hóa này, có ý nghĩa sâu xa, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư hay nhân loại, và hai Huyền Giai thiên thần, thứ năm và thứ sáu.

The fourth Hierarchy in the larger scheme is literally the ninth, for five hierarchies have earlier passed on and are considered as pure abstractions. In this system concretion concerns us, and the blending of form and of energy into one coherent whole. In the ninth, tenth and eleventh Hierarchies lie the clue to the nature of Agni, the Lord of fire, the sumtotal of systemic vitality. He who understands the significance of these figures, and their relation to each other as the triple division of a Unity in time and space will have discovered [Page 606] one of the keys which will unlock a door hitherto fast closed. They are the numbers of achievement, of potentiality brought into full activity and of innate capacity demonstrating in perfect fruition. All potentiality lies in the vitalising, energising power of Agni, and in His ability to stimulate. He is life itself, and the driving force of evolution, of psychic development and of consciousness. This fact is hidden in these figures, and not the evolution of substance, which is but a result, emanating from psychic causes. These three numbers are the basis of the cyclic calculations which concern the egoic cycles, and the cycles of Vishnu, as distinguished from the cycles dealing with the third aspect. Occult students have not sufficiently grasped the fact that objectivity is an inevitable result of an inner conscious subjective life. When this is better apprehended, bodies on the physical plane, for instance, will be purified, developed and beautified through a scientific attention paid to the development of the psyche, to the unfoldment of the Ego, and to the stimulation of the egoic vibration. The cause will be dealt with and not the effect, and hence the growing appreciation by the human family of the study of psychology, even though as yet they are but studying the kama-manasic body, and have not reached back to the egoic consciousness. The lunar Lords have had their day; now Agni, as the solar Lord of life and energy, will assume due importance in human life.

Huyền Giai thứ tư trong hệ lớn hơn theo nghĩa đen là thứ chín, vì năm Huyền Giai đã đi qua trước đó và được xem là những trừu tượng thuần túy. Trong hệ này, sự kết tinh cụ thể là điều liên quan đến chúng ta, và sự hoà trộn hình tướng với năng lượng thành một toàn thể cố kết. Trong Huyền Giai thứ chín, thứ mười và thứ mười một có manh mối về bản chất của Agni, Chúa Tể của lửa, tổng thể của sinh lực hệ thống. Ai hiểu được ý nghĩa của các con số này, và mối liên hệ của chúng với nhau như sự phân chia tam phân của một Hợp Nhất trong thời gian và không gian sẽ khám phá ra [Page 606] một trong những chìa khóa sẽ mở một cánh cửa từ trước đến nay vẫn đóng chặt. Chúng là những con số của thành tựu, của tiềm năng được đưa vào hoạt động trọn vẹn và của năng lực bẩm sinh biểu lộ trong sự viên mãn hoàn hảo. Mọi tiềm năng đều nằm trong quyền năng tiếp sinh lực và tiếp năng lượng của Agni, và trong khả năng kích thích của Ngài. Ngài là chính sự sống, và là mãnh lực thúc đẩy của tiến hoá, của sự phát triển thông linh và của tâm thức. Sự kiện này được ẩn giấu trong các con số này, chứ không phải sự tiến hoá của chất liệu, vốn chỉ là một kết quả, phát ra từ các nguyên nhân thông linh. Ba con số này là nền tảng của các tính toán chu kỳ liên quan đến các chu kỳ chân ngã, và các chu kỳ của Vishnu, phân biệt với các chu kỳ liên quan đến phương diện thứ ba. Các đạo sinh huyền bí học chưa nắm đủ sự kiện rằng tính khách quan là kết quả tất yếu của một đời sống chủ quan hữu thức bên trong. Khi điều này được lĩnh hội tốt hơn, chẳng hạn các thể trên cõi hồng trần sẽ được thanh lọc, phát triển và làm đẹp thông qua sự chú ý có tính khoa học dành cho sự phát triển của psyche, cho sự khai mở của chân ngã, và cho sự kích thích rung động chân ngã. Nguyên nhân sẽ được đề cập đến chứ không phải kết quả, và do đó gia đình nhân loại ngày càng đánh giá cao việc nghiên cứu tâm lý học, dù hiện nay họ mới chỉ nghiên cứu thể trí cảm, và chưa vươn ngược lên đến tâm thức chân ngã. Các thái âm tổ phụ đã có thời của họ; giờ đây Agni, như nhật tinh quân của sự sống và năng lượng, sẽ đảm nhận tầm quan trọng thích đáng trong đời sống con người.

c. Agni and the Three Fires.

c. Agni và Ba Lửa.

In studying the manifestation of Agni in the solar system it should be remembered that we are considering here His essential nature as actuating fire. We have seen that He is the threefold logoic personality, but He is the threefold Logos in a subjective sense, and the form aspect is only subsidiary. Perhaps a tabulation may make this point clearer.[Page 607]

Khi nghiên cứu biểu hiện của Agni trong hệ mặt trời, cần nhớ rằng ở đây chúng ta đang xem xét bản chất cốt yếu của Ngài như lửa thúc đẩy. Chúng ta đã thấy rằng Ngài là phàm ngã logoic tam phân, nhưng Ngài là Logos tam phân theo nghĩa chủ quan, và phương diện hình tướng chỉ là thứ yếu. Có lẽ một bảng biểu sẽ làm điểm này rõ hơn.[Page 607]

TABULATION V

BẢNG V

AGNI—LORD OF FIRE

AGNI—CHÚA TỂ CỦA LỬA

Aspect

Fire

Result

Subjective Manifestation

Origin of Energy

Objective Manifestation

First, Will

Electric Fire

Activity of Spirit

The One Life. Unity. Spiritual. Dynamic. Coherence. Synthesis.

Central Spiritual Sun

The solar system (etheric and dense)

Second, Love-Wisdom

Solar Fire

Activity of Consciousness. Egoism. Vitality. Magnetism.

The seven Heavenly Men. The seven Rays The seven types of Mind.

The Heart of the Sun

The seven Rays.manifesting through the seven planetary schemes

Third, Activity

Fire by Friction

Activity in Matter. Atomic vitality. Energy.

The seven fires. The akasha.

The physical Sun

The seven planes

[Page 608] Each of these three aspects of the One Fire, showing as the Creative Fire, Preserving Fire, and Destroying Fire, must be studied as electrical phenomena, and this under the aspects of light, flame, and heat, of electricity, radiance and motion, of will, desire and action. Only thus will the true nature of Agni be apprehended. As the logoic personality He is demonstrating through a triplicity of sheaths forming a unity, and only thus will it become apparent why at this stage in evolution the material aspect is the most considered.

[Page 608] Mỗi một trong ba phương diện này của Một Lửa, biểu lộ như Lửa Sáng Tạo, Lửa Bảo Tồn, và Lửa Hủy Diệt, phải được nghiên cứu như các hiện tượng điện, và điều này dưới các phương diện ánh sáng, ngọn lửa, và nhiệt; của điện, sự rạng ngời và chuyển động; của ý chí, dục vọng và hành động. Chỉ như thế bản chất chân thực của Agni mới được lĩnh hội. Là phàm ngã logoic, Ngài đang biểu lộ qua một bộ ba vỏ bọc tạo thành một hợp nhất, và chỉ như thế mới trở nên rõ ràng vì sao ở giai đoạn tiến hoá này phương diện vật chất lại được xem xét nhiều nhất.

The entire system is the physical sheath of the Logos and consequently the most easily cognised, for the Logos is as yet centred in His cosmic sheaths and can only reveal Himself through their medium.

Toàn bộ hệ là vỏ bọc hồng trần của Thượng đế và do đó là điều dễ nhận biết nhất, vì Thượng đế hiện vẫn còn tập trung trong các vỏ bọc vũ trụ của Ngài và chỉ có thể tự biểu lộ qua trung gian của chúng.

Man’s just apprehension of this mystery of electricity will only come about as he studies himself, and knows himself to be a triple fire, manifesting in many aspects.

Sự lĩnh hội đúng đắn của con người về huyền nhiệm điện này sẽ chỉ đến khi y nghiên cứu chính mình, và biết mình là một lửa tam phân, biểu lộ trong nhiều phương diện.

MAN, A FIRE

CON NGƯỜI, MỘT NGỌN LỬA

Monadic fire

Electric fire

Spirit Will

The Central Spiritual Sun.

Egoic fire

Solar fire

Consciousness Love-Wisdom

The Heart of the Sun.

Personality fire

Fire by friction

Physical man

Physical Sun.

Each of these fires can also be studied in a threefold manner and under three aspects.

Mỗi ngọn lửa này cũng có thể được nghiên cứu theo cách tam phân và dưới ba phương diện.

THE MONAD

CHÂN THẦN

Will aspect

Electric fire

Flame

Spiritual Will.

Love-wisdom

Solar fire

Light

Spiritual Love.

Active Intelligence

Fire by friction

Heat

Spiritual Intelligence.

[Page 609]

[Page 609]

THE EGO

CHÂN NGÃ

Will

Atma

Electric fire

The spark The Jewel in the Lotus

Conscious Will.

Love-Wisdom

Buddhi

Solar fire

The rays The twelve-petalled lotus.

Conscious Love.

Active Intelligence

Manas

Fire by friction

Substance The permanent atoms.

Conscious Activity

THE PERSONALITY

PHÀM NGÃ

Will

Mental body

Electric fire

Lower mind

Thought

Love

Astral body

Solar fire

Kama

Desire

Activity

Physical body

Fire by friction

Prana

Activity

I seek to emphasise here the fact that in this threefold manifestation there is a ninefold unfoldment. It should ever be borne in mind that seven is the number which governs the evolution of substance and of form building in the solar system, but that nine is the number governing the development of the consciousness within that form of the psyche. This is seen in the sevenfold display of logoic life through the planetary scheme, and the ninefold nature of egoic unfoldment.

Ở đây tôi muốn nhấn mạnh sự kiện rằng trong biểu hiện tam phân này có một sự khai mở cửu phân. Cần luôn ghi nhớ rằng bảy là con số chi phối sự tiến hoá của chất liệu và của việc kiến tạo hình tướng trong hệ mặt trời, nhưng chín là con số chi phối sự phát triển của tâm thức bên trong hình tướng đó của psyche. Điều này được thấy trong sự biểu lộ thất phân của đời sống logoic qua hệ hành tinh, và bản chất cửu phân của sự khai mở chân ngã.

If the student here substitutes for the words, Monad, Ego and personality, the three aspects of the Logos, and will bear in mind that as yet all that he can ascertain or cognise is the lowest of the logoic manifestations—the personality—it will be apparent why so much must remain mysterious to even the higher grades of initiates, and why even the perfected Dhyan Chohan cannot penetrate the secrets of the Logos outside His system. (189) They [Page 610] can cognise much concerning Agni, the Lord of Fire, but until They can contact that of which He is an emanation, a reflection or a ray, there is a limit to what may be known..

Nếu ở đây đạo sinh thay thế các từ chân thần, chân ngã và phàm ngã bằng ba phương diện của Thượng đế, và ghi nhớ rằng hiện nay tất cả những gì y có thể xác định hay nhận biết chỉ là phương diện thấp nhất của các biểu hiện logoic—phàm ngã—thì sẽ rõ vì sao quá nhiều điều vẫn phải còn huyền nhiệm ngay cả đối với các cấp điểm đạo đồ cao hơn, và vì sao ngay cả Dhyan Chohan hoàn hảo cũng không thể xuyên thấu các bí mật của Thượng đế bên ngoài hệ của Ngài. (189) Các Ngài [Page 610] có thể nhận biết nhiều điều về Agni, Chúa Tể của Lửa, nhưng cho đến khi Các Ngài có thể tiếp xúc với điều mà Ngài là một phát xạ, một phản chiếu hay một tia của nó, thì vẫn có một giới hạn đối với điều có thể được biết.

(189) H. P. B. in the Secret Doctrine refers to “...the solution of the riddle...before which even the highest Dhyan Chohan must bow in silence and ignorance—the Unspeakable Mystery of that which is called by the Vedantins, Parabrahman.”—S. D., I, 352. (back)

(189) H. P. B. trong Giáo Lý Bí Nhiệm nhắc đến “...lời giải của câu đố...trước đó ngay cả Dhyan Chohan cao nhất cũng phải cúi đầu trong im lặng và vô minh—Huyền Nhiệm Bất Khả Ngôn Thuyết của điều mà các nhà Vedanta gọi là Parabrahman.”—S. D., I, 352. (back)

Agni is Fohat, the threefold Energy (emanating from the logoic Ego) which produces the solar system, the physical vehicle of the Logos, and animates the atoms of substance. He is the basis of the evolutionary process, or the cause of the psychic unfoldment of the Logos, and He is that vitality which ultimately brings about a divine synthesis in which the form approximates subjective demand, and after being consciously directed, and manipulated, is finally discarded. This is the goal for the Logos as it is for man; this marks the final liberation of a human being, of a Heavenly Man and of a solar Logos.

Agni là Fohat, Năng Lượng tam phân (phát ra từ chân ngã logoic) tạo ra hệ mặt trời, vận cụ hồng trần của Thượng đế, và làm sinh động các nguyên tử của chất liệu. Ngài là nền tảng của tiến trình tiến hoá, hay nguyên nhân của sự khai mở thông linh của Thượng đế, và Ngài là sinh lực cuối cùng đem lại một sự tổng hợp thiêng liêng trong đó hình tướng xích lại gần đòi hỏi chủ quan, và sau khi được chỉ đạo và vận dụng một cách hữu thức, cuối cùng bị loại bỏ. Đây là mục tiêu đối với Thượng đế cũng như đối với con người; điều này đánh dấu sự giải thoát cuối cùng của một con người, của một Đấng Thiên Nhân và của một Thái dương Thượng đế.

We could divide the process into three periods:

Chúng ta có thể chia tiến trình thành ba thời kỳ:

First. The period wherein the fire of matter (the heat of mother) hides, nourishes and brings to birth the infant Ego. This is the period of purely personality life, when the third aspect dominates, and man is in the veil of illusion.

Thứ nhất. Thời kỳ trong đó lửa của vật chất (nhiệt của mẹ) che giấu, nuôi dưỡng và sinh ra chân ngã sơ sinh. Đây là thời kỳ của đời sống thuần túy phàm ngã, khi phương diện thứ ba chi phối, và con người ở trong màn ảo tưởng.

Second. The period wherein the Ego, or subjective life within the form, passes through certain stages of unfoldment, and comes to an ever fuller consciousness. This is the period of egoic development, and is produced by the gradual merging and blending of the two fires. It is the life of service and of the Path.

Thứ hai. Thời kỳ trong đó chân ngã, hay sự sống chủ quan bên trong hình tướng, đi qua một số giai đoạn khai mở, và đi đến một tâm thức ngày càng đầy đủ hơn. Đây là thời kỳ phát triển chân ngã, và được tạo ra bởi sự hợp nhất và hoà trộn dần dần của hai ngọn lửa. Đây là đời sống phụng sự và của Con Đường.

Third. The period wherein the egoic consciousness itself is superseded by spiritual realisation, and the fire of Spirit blends with the other two.

Thứ ba. Thời kỳ trong đó chính tâm thức chân ngã bị vượt qua bởi sự chứng nghiệm tinh thần, và lửa của tinh thần hoà trộn với hai ngọn lửa kia.

At first the personality acts the part of mother, or of material aspect, to the germ of the inner life. Then [Page 611] the Ego manifests its life within the personal life, and produces a shining forth which “groweth ever more and more until the perfect day.” (Bible. Proverbs IV, 18.) At that perfect day of revelation it is seen what man in essence is, and the Spirit within is revealed. This can be studied from the Christian angle, and Paul was but voicing an occult truth when he enunciated the facts concerning the birth of the Christ within the heart, and the growth of the higher life at the expense of the lower. Thus also can it be taught along occult, and not mystic, lines in the recognition (by science) of the vitalisation of the permanent atoms (the force centres of the sheaths or substance), of the unfoldment of the egoic lotus, and the awakening of its petals, and in the final revelation of the jewel in the lotus.

Thoạt đầu phàm ngã đóng vai người mẹ, hay phương diện vật chất, đối với mầm sống bên trong. Rồi [Page 611] chân ngã biểu lộ sự sống của nó bên trong đời sống cá nhân, và tạo ra một sự toả sáng “càng lúc càng tăng cho đến ngày trọn lành.” (Kinh Thánh. Châm Ngôn IV, 18.) Vào ngày trọn lành của sự mặc khải đó, người ta thấy con người trong bản chất cốt yếu là gì, và tinh thần bên trong được tiết lộ. Điều này có thể được nghiên cứu từ góc độ Cơ Đốc giáo, và Paul chỉ đang phát biểu một chân lý huyền bí khi ông nêu ra các sự kiện liên quan đến sự sinh ra của Đức Christ trong tim và sự tăng trưởng của đời sống cao hơn bằng cái giá của đời sống thấp hơn. Cũng vậy, điều này có thể được giảng dạy theo các đường lối huyền bí học, chứ không phải thần bí học, trong việc khoa học thừa nhận sự tiếp sinh lực cho các nguyên tử trường tồn (các trung tâm lực của các vỏ bọc hay chất liệu), sự khai mở của Hoa Sen Chân Ngã, và sự thức tỉnh của các cánh hoa của nó, và trong sự mặc khải cuối cùng của ngọc châu trong hoa sen.

All that can be said of man can be predicated of the Logos on an inconceivably greater scale. As man discovers the laws of his own material sheaths—the laws of substance—he is ascertaining the nature of the fires of the outer man or Fohat, as he vitalises the logoic vehicle; the fires of his own sheaths are aspects of Agni as the fire of matter. As he ascertains the nature of consciousness, and the laws of psychical unfoldment he is studying the nature of the vitality of the subjective man, and the laws of conscious being, thus studying Agni as He manifests as Light and Cool Radiance, shining through the vehicle. Later (for the time is not yet) as he comes to comprehend the nature of his Monad, the spiritual or essential life which is developing consciousness by means of the sheaths, he will discover the nature of Agni as He shews forth as pure electricity. Even though this is not yet possible, nevertheless the statement as to the lines of investigation which can be pursued, and the realisation of that which may eventually [Page 612] be achieved, may cause men’s minds to turn to the study of the real and of the true.

Tất cả những gì có thể nói về con người đều có thể được khẳng định về Thượng đế trên một quy mô lớn hơn không thể tưởng tượng nổi. Khi con người khám phá các định luật của các vỏ bọc vật chất của chính mình—các định luật của chất liệu—y đang xác định bản chất của các ngọn lửa của con người bên ngoài hay Fohat, khi y tiếp sinh lực cho vận cụ logoic; các ngọn lửa của chính các vỏ bọc của y là các phương diện của Agni như lửa của vật chất. Khi y xác định bản chất của tâm thức, và các định luật của sự khai mở thông linh, y đang nghiên cứu bản chất của sinh lực của con người chủ quan, và các định luật của hữu thể hữu thức, nhờ đó nghiên cứu Agni như Ngài biểu lộ như Ánh Sáng và Sự Rạng Ngời Mát Dịu, chiếu xuyên qua vận cụ. Về sau (vì thời điểm ấy chưa đến) khi y đi đến chỗ hiểu được bản chất của chân thần của mình, sự sống tinh thần hay cốt yếu đang phát triển tâm thức bằng phương tiện các vỏ bọc, y sẽ khám phá bản chất của Agni như Ngài biểu lộ như điện thuần túy. Dù cho điều này hiện chưa thể có, tuy nhiên việc nêu ra các đường hướng nghiên cứu có thể được theo đuổi, và sự chứng nghiệm về điều cuối cùng có thể [Page 612] đạt được, có thể khiến tâm trí con người hướng đến việc nghiên cứu cái thực và cái chân.

S6S5

2.The fire devas, the Greater Builders — 2. Các thiên thần lửa, các đấng đại kiến tạo

I have divided the groups of devas and elementals into evolutionary and involutionary Builders—those who are in themselves positive force, and those which are negative force, the conscious and the blind workers. It is absolutely essential that students bear in mind here that we are studying the mystery of electricity and therefore must remember the following facts:—

Tôi đã chia các nhóm thiên thần và hành khí thành các đấng kiến tạo thăng thượng tiến hoá và giáng hạ tiến hoá—những vị tự thân là mãnh lực dương, và những vị là mãnh lực âm, những người hoạt động hữu thức và những người hoạt động mù quáng. Điều tuyệt đối thiết yếu là các đạo sinh ở đây phải ghi nhớ rằng chúng ta đang nghiên cứu huyền nhiệm điện và do đó phải nhớ các sự kiện sau đây:—

a. Introductory Remarks.

a. Nhận xét nhập đề.

The Mystery of Electricity. The greater Builders are the positive aspect of substance or of electrical phenomena whilst the lesser Builders are the negative aspect.

Huyền nhiệm Điện. Các đấng đại kiến tạo là phương diện dương của chất liệu hay của các hiện tượng điện trong khi các vị tiểu kiến tạo là phương diện âm.

Two types of force are represented in the activities of these two groups and it is their interaction and interplay which produces Light, or the manifested solar system.

Hai loại mãnh lực được biểu hiện trong các hoạt động của hai nhóm này và chính sự tương tác cùng giao động qua lại của chúng tạo ra Ánh Sáng, hay hệ mặt trời biểu lộ.

Their sumtotal is substance in its totality, the intelligent active form, built for the purpose of providing a habitation for a central subjective life.

Tổng thể của chúng là chất liệu trong toàn bộ của nó, hình tướng thông tuệ hoạt động, được xây dựng nhằm cung cấp một nơi cư ngụ cho một sự sống chủ quan trung tâm.

They are also the sumtotal of the Pitris, (191) or Fathers of mankind, viewing mankind as the race itself, the fourth kingdom in nature, the Heavenly Men in physical manifestation. This is a most important point to emphasise. These deva activities in relation to Self-Consciousness (which is the distinctive characteristic of humanity) can best be studied in the large, or through [Page 613] the consideration of groups, of races, and of the life of the scheme, the manifestation of one of the Heavenly Men.

Chúng cũng là tổng thể của các Pitris, (191) hay các Cha của nhân loại, nếu xem nhân loại như chính chủng tộc, giới thứ tư trong thiên nhiên, các Đấng Thiên Nhân trong biểu hiện hồng trần. Đây là một điểm cực kỳ quan trọng cần nhấn mạnh. Các hoạt động thiên thần này trong liên hệ với Ngã thức (vốn là đặc tính phân biệt của nhân loại) có thể được nghiên cứu tốt nhất trên quy mô lớn, hay qua [Page 613] việc xem xét các nhóm, các nhân loại, và đời sống của hệ hành tinh, biểu hiện của một trong các Đấng Thiên Nhân.

(191) The Lunar Pitris.

(191) Các thái âm tổ phụ.

“The great Chohans called the Lords of the Moon, of the airy bodies: “Bring forth Men,” they were told, “men of your nature. Give them their forms within. She (Mother Earth) will build coverings without (for external bodies). Males—females will they be. Lords of the Flame also....They went each on his allotted lands: Seven of them each on his lot. The Lords of the Flame remained behind. They would not go. They would not create.”—Stanza III, 12, 13, S. D., II, 79, 81. (back)

“Các Chohan vĩ đại được gọi là Chúa Tể của Mặt Trăng, của các thể khí: ‘Hãy sinh ra Con Người,’ họ được bảo, ‘những con người theo bản chất của các ngươi. Hãy cho họ các hình tướng bên trong của họ. Bà (Mẹ Đất) sẽ xây các lớp bao bọc bên ngoài (cho các thể bên ngoài). Họ sẽ là nam—nữ. Các Chúa Tể của Ngọn Lửa cũng vậy....Mỗi vị đi đến vùng đất được phân cho mình: bảy vị, mỗi vị trên phần của mình. Các Chúa Tể của Ngọn Lửa ở lại phía sau. Họ không muốn đi. Họ không muốn sáng tạo.’—Bài kệ III, 12, 13, S. D., II, 79, 81. (back)

When the student brings his study of deva work down to the terms of his own individual life he is apt to become confused through too close a juxtaposition.

Khi đạo sinh đưa việc nghiên cứu công việc thiên thần xuống các thuật ngữ của chính đời sống cá nhân của mình, y thường trở nên rối rắm vì sự đặt cạnh quá gần.

The greater Builders are the solar Pitris, whilst the lesser Builders are the lunar ancestors. I would here explain the occult meaning of the word “ancestor,” as used in esotericism. It means literally initiatory life impulse. It is that subjective activity which produces objectivity, and concerns those emanatory impulses which come from any positive centre of force, and which sweep the negative aspect into the line of that force, and thus produce a form of some kind. The word “ancestor” is used in connection with both aspects.

Các đấng đại kiến tạo là các thái dương tổ phụ, trong khi các vị tiểu kiến tạo là các tổ tiên thái âm. Ở đây tôi muốn giải thích ý nghĩa huyền bí của từ “tổ tiên,” như được dùng trong huyền bí học. Nó có nghĩa đen là xung lực sự sống khởi phát. Đó là hoạt động chủ quan tạo ra tính khách quan, và liên quan đến những xung lực phát xạ đến từ bất kỳ trung tâm mãnh lực dương nào, và cuốn phương diện âm vào đường của mãnh lực đó, nhờ đó tạo ra một hình tướng nào đó. Từ “tổ tiên” được dùng liên hệ với cả hai phương diện.

The solar Logos is the initiatory impulse or Father of the Son in His physical incarnation, a solar system. He is the sumtotal of the Pitris, in the process of providing form. The union of Father (positive force) and Mother (negative force) produces that central blaze which we call the form, the body of manifestation of the Son. A Heavenly Man holds an analogous position in relation to a planetary scheme. He is the central germ of positive life or force, which, in due course of time, demonstrates as a planetary scheme, or an incarnation of the planetary Logos. A man similarly is the positive life or energy which, through action on negative force, creates bodies of manifestation through which he can shine or radiate. (192) (193) (194)

Thái dương Thượng đế là xung lực khởi phát hay Cha của Con trong lần lâm phàm hồng trần của Ngài, một hệ mặt trời. Ngài là tổng thể của các Pitris, trong tiến trình cung cấp hình tướng. Sự kết hợp của Cha (mãnh lực dương) và Mẹ (mãnh lực âm) tạo ra ngọn lửa trung tâm mà chúng ta gọi là hình tướng, thể biểu lộ của Con. Một Đấng Thiên Nhân giữ một vị trí tương tự trong liên hệ với một hệ hành tinh. Ngài là mầm trung tâm của sự sống hay mãnh lực dương, điều theo tiến trình thời gian thích hợp biểu lộ thành một hệ hành tinh, hay một lần lâm phàm của Hành Tinh Thượng đế. Một con người cũng tương tự là sự sống hay năng lượng dương, qua tác động lên mãnh lực âm, tạo ra các thể biểu lộ qua đó y có thể chiếu sáng hay phát xạ. (192) (193) (194)

(192) The Lunar Pitris created the physical man.—S. D., I, 114, 197.

(192) Các thái âm tổ phụ đã tạo ra con người hồng trần.—S. D., I, 114, 197.

They exist in three great classes.

Các ngài tồn tại trong ba loại lớn.

1. The most developed. They form, in Round one, the sumtotal of the three kingdoms, and achieve a human form.—S. D., I, 203.

1. Loại phát triển nhất. Trong cuộc tuần hoàn một, các ngài tạo thành tổng thể của ba giới, và đạt được hình tướng con người.—S. D., I, 203.

In Rounds two and three they are the sumtotal of that which will eventually be human.

Trong các cuộc tuần hoàn hai và ba, các ngài là tổng thể của điều cuối cùng sẽ trở thành con người.

In Round four at the beginning they form the etheric bodies of our Earth humanity.

Trong cuộc tuần hoàn bốn lúc khởi đầu, các ngài tạo thành các thể dĩ thái của nhân loại Trái Đất chúng ta.

2. Those whose bodies are taken by the Solar Angels.—S. D., I, 203.

2. Những vị có các thể được các Thái dương Thiên Thần tiếp nhận.—S. D., I, 203.

3. The sum total of the three kingdoms at present known. (back)

3. Tổng thể của ba giới hiện nay đã được biết. (back)

(193) The Earth gives man his body; the Gods give him his five inner principles...Spirit is one.—S. D., I, 248.

(193) Trái Đất cho con người thể của y; các Thượng đế cho y năm nguyên khí bên trong...Tinh thần là một.—S. D., I, 248.

1. The Earth gives the dense physical.

1. Trái Đất cho thể xác đậm đặc.

2. The Lunar Gods give him three lower principles—

2. Các Thượng đế Thái Âm cho y ba nguyên khí thấp—

a. Etheric body

a. thể dĩ thái

b. Prana

b. prana

c. Kama—manas

c. trí-cảm

3. The Solar Gods give him two principles—

3. Các Thượng đế Thái Dương cho y hai nguyên khí—

d. Lower mind

d. Hạ trí

e. Higher mind

e. Thượng trí

4. The Monad is the unified two highest principles—

4. Chân thần là hai nguyên khí cao nhất được hợp nhất—

f. Buddhi

f. Bồ đề

g. Atma

g. atma

—S. D., I, 248. D., I, 352. (back)

—S. D., I, 248. D., I, 352. (back)

(194) The totality of form. God is “One, notwithstanding the innumerable forms which are in Him,” so is man, on earth the microcosm of the macrocosm.—S. D., II, 197; II, 303; III, 584.

(194) Tính toàn thể của hình tướng. Thượng đế là “Một, bất chấp vô số hình tướng ở trong Ngài,” con người cũng vậy, trên trái đất là tiểu thiên địa của đại thiên địa.—S. D., II, 197; II, 303; III, 584.

Everything is comprised in man.

Mọi sự đều được bao hàm trong con người.

He unites in himself all forms.

Y hợp nhất trong chính mình mọi hình tướng.

The mystery of the earthly man is the mystery of the Heavenly Man.

Huyền nhiệm của con người trần thế là huyền nhiệm của Đấng Thiên Nhân.

The potentiality of every organ useful to animal life is locked up in man, the Microcosm of the Macrocosm.—S. D., II, 723. (back)

Tiềm năng của mọi cơ quan hữu ích cho đời sống động vật đều được khóa kín trong con người, Tiểu thiên địa của Đại thiên địa.—S. D., II, 723. (back)

The lesser Builders (195) are the negative aspect and are swept into action in group formation through the play [Page 614] of positive force upon them, or through the action of the conscious Minds of the system.

Các vị tiểu kiến tạo (195) là phương diện âm và bị cuốn vào hoạt động trong sự hình thành nhóm qua tác động [Page 614] của mãnh lực dương lên chúng, hay qua tác động của các Trí Tuệ hữu thức của hệ.

(195) Pitris—The ancestors or creators of mankind. They are of seven classes, three of which are incorporeal and four corporeal. These are usually called the Lunar Pitris or Ancestors and must not be confounded with the Solar Pitris or Angels, who give mind to man, and create the relatively permanent body of the ego, or Higher Self. of every organ useful to animal life is locked up in man, the Microcosm of the Macrocosm.—S. D., II, 723. (back)

(195) Pitris—Các tổ tiên hay các đấng sáng tạo của nhân loại. Các ngài thuộc bảy loại, ba loại là vô thể và bốn loại là hữu thể. Các ngài thường được gọi là các thái âm tổ phụ hay Tổ Tiên và không được nhầm lẫn với các thái dương tổ phụ hay các Thiên Thần, những vị ban trí tuệ cho con người, và tạo ra thể tương đối trường tồn của chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu. của mọi cơ quan hữu ích cho đời sống động vật đều được khóa kín trong con người, Tiểu thiên địa của Đại thiên địa.—S. D., II, 723. (back)

At the present stage of evolution—during the period of Light—it is difficult for the human being (until he has attained the consciousness of the Ego) to differentiate between the types of force, and to work consciously with these dual aspects. An Adept of the Light works with force in substance, viewing substance as that which is negative, and therefore occultly to be moved, and He can do this because He has (in the three worlds of His endeavour) achieved unity, or the point of balance and equilibrium, and can therefore balance forces and deal with positive and negative energies as appears best in the interests of the plan of evolution. The Brother of Darkness, knowing himself to be positive force in essence, works with negative substance, or with the lesser Builders to bring about ends [Page 615] of his own, incited thereto by selfish motive. The Brothers of Light co-operate with the positive aspect in, and of, all forms—the building devas of evolutionary intent—in order to bring about the purposes of the Heavenly Man Who is the sumtotal of planetary physical manifestation.

Ở giai đoạn tiến hoá hiện nay—trong thời kỳ Ánh Sáng—con người rất khó (cho đến khi y đạt được tâm thức chân ngã) phân biệt giữa các loại mãnh lực, và hoạt động một cách hữu thức với các phương diện nhị nguyên này. Một chân sư của Ánh Sáng làm việc với mãnh lực trong chất liệu, xem chất liệu là điều âm, và do đó một cách huyền bí là để được vận động, và Ngài có thể làm điều này vì Ngài đã (trong ba cõi giới của nỗ lực của Ngài) đạt được sự hợp nhất, hay điểm quân bình và cân bằng, và do đó có thể cân bằng các mãnh lực và xử lý các năng lượng dương và âm theo cách tốt nhất cho lợi ích của Thiên Cơ tiến hoá. Huynh Đệ của Bóng Tối, biết mình về bản chất là mãnh lực dương, làm việc với chất liệu âm, hay với các vị tiểu kiến tạo để đạt đến các mục đích [Page 615] riêng của y, bị thúc đẩy bởi động cơ ích kỷ. Các Huynh Đệ của Ánh Sáng hợp tác với phương diện dương trong, và của, mọi hình tướng—các thiên thần kiến tạo có ý hướng tiến hoá—để thực hiện các mục đích của Đấng Thiên Nhân là tổng thể của biểu hiện hồng trần hành tinh.

It can be seen, therefore, how necessary it is that the functions of the devas of all grades be comprehended. It is however equally important that man should refrain from the manipulation of these forces of nature until such time as he “knows” himself, and his own powers, and until he has fully unfolded the consciousness of the ego; then, and only then, can he safely, wisely, and intelligently co-operate in the plan. As yet, for the average man or even the advanced man this is dangerous to attempt and impossible to accomplish.

Do đó, có thể thấy việc thấu hiểu các chức năng của các thiên thần thuộc mọi cấp bậc là cần thiết biết bao. Tuy nhiên, điều cũng quan trọng không kém là con người phải tránh thao túng các mãnh lực thiên nhiên này cho đến khi y “biết” chính mình, và các quyền năng của chính y, và cho đến khi y đã khai mở trọn vẹn tâm thức của chân ngã; khi ấy, và chỉ khi ấy, y mới có thể hợp tác một cách an toàn, minh triết và thông tuệ vào Thiên Cơ. Hiện nay, đối với người trung bình hay ngay cả người tiến bộ, việc thử làm điều này là nguy hiểm và không thể thực hiện được.

Now, let us add a few more statements upon which the student can ponder before we pass on to study specifically the three main groups of building devas on the three planes in the three worlds which most intimately concern man.

Giờ đây, chúng ta hãy thêm một vài phát biểu nữa để đạo sinh có thể suy ngẫm trước khi chúng ta chuyển sang nghiên cứu một cách chuyên biệt ba nhóm chính của các thiên thần kiến tạo trên ba cõi trong ba cõi giới có liên hệ mật thiết nhất với con người.

The building devas (196) are the Ah-hi, or Universal Mind. They contain within their consciousness the plan logoic, [Page 616] and inherently possess the power to work it out in time and space, being the conscious forces of evolution.

Các thiên thần kiến tạo (196) là các Ah-hi, hay Vũ Trụ Trí. Các vị này chứa đựng trong tâm thức của mình Thiên Cơ của Thượng đế, [Page 616] và vốn sẵn có quyền năng triển khai Thiên Cơ ấy trong thời gian và không gian, vì là các mãnh lực hữu thức của tiến hoá.

(196) Devas. “...he would have (1) divided the Devas into two classes—and called them the “Rupa-devas” and the “Arupa-devas” (the “form” or objective, and the “formless” or subjective Dhyan Chohans; and (2) would have done the same for his class of “men” since there are Shells and “Mara-rupas”—i.e. bodies doomed to annihilation. All these are:

(196) Các thiên thần. “...ông ấy hẳn đã (1) chia các thiên thần thành hai loại—và gọi họ là các “Rupa-devas” và các “Arupa-devas” (các Dhyan Chohans “có hình tướng” hay khách quan, và “vô tướng” hay chủ quan; và (2) cũng sẽ làm như vậy đối với loại “người” của ông ấy vì có các Vỏ và các “Mara-rupas”—tức là các thể bị định phải tiêu diệt. Tất cả những điều này là:

They not only embody the Divine Thought but are that through which it manifests, and its actuating activity. They are essentially motion. The lesser builders are more particularly the material form which is actuated, and in their cohorts are the substance of matter (considering substance as that which lies back of matter).

Các vị ấy không những hiện thân cho Tư Tưởng thiêng liêng mà còn là cái qua đó Tư Tưởng ấy biểu lộ, và là hoạt động thúc đẩy của nó. Về bản chất, các vị ấy là chuyển động. Các vị tiểu kiến tạo đặc biệt là hình tướng vật chất được tác động, và trong các đoàn ngũ của họ có chất liệu của vật chất (xét chất liệu như cái nằm phía sau vật chất).

They are that which produces concretion and which gives form to the abstract. The terms “ rupa” and “arupa” devas are relative, (197) for the formless levels and the formless lives are only so from the standpoint of man in the three worlds; the formless lives are those which are functioning in and through the etheric body of the Logos, formed of the matter of the four higher planes of the system.

Các vị ấy là cái tạo ra sự kết tụ và cái ban hình tướng cho điều trừu tượng. Các thuật ngữ “rupa” và “arupa” thiên thần là tương đối, (197) vì các cấp độ vô tướng và các sự sống vô tướng chỉ là như vậy theo quan điểm của con người trong ba cõi giới; các sự sống vô tướng là những sự sống đang hoạt động trong và qua thể dĩ thái của Thượng đế, được tạo thành từ vật chất của bốn cõi cao của hệ thống.

(197) Rupa......with form or body.

(197) Rupa...... có hình tướng hay thể.

Arupa...... formless or bodiless.

Arupa...... vô tướng hay vô thể.

Generally speaking, the term rupa is applied to all forms in the three worlds whilst the term arupa is applied to all forms through which existences manifest on the four higher levels of the solar system and the abstract levels of the mental plane. (back)

Nói chung, thuật ngữ rupa được áp dụng cho mọi hình tướng trong ba cõi giới trong khi thuật ngữ arupa được áp dụng cho mọi hình tướng qua đó các hiện hữu biểu lộ trên bốn cấp độ cao của hệ mặt trời và các cấp độ trừu tượng của cõi trí. (back)

From this point of view the mental plane provides an interesting consideration:—its three higher subplanes are positive, and centralise the positive force of the plane. This focussing of the positive affects the negative substance of the four lower planes and brings about likewise:

Từ quan điểm này, cõi trí đem lại một điều đáng suy xét thú vị:—ba cõi phụ cao của nó là dương, và tập trung mãnh lực dương của cõi. Sự hội tụ của yếu tố dương này tác động đến chất liệu âm của bốn cõi thấp và cũng đưa đến:

a. The formation of force centres on the causal levels, those force centres being egoic groups in their various divisions.

a. Sự hình thành các trung tâm lực trên các cấp độ nguyên nhân, các trung tâm lực ấy là các nhóm chân ngã trong những phân bộ khác nhau của chúng.

b. The concretion of substance, or the building of the dense physical body of the Logos.

b. Sự kết tụ của chất liệu, hay sự kiến tạo thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế.

On the physical plane of the solar system an analogous process can be seen taking place as regards the physical [Page 617] body of man, or his concrete manifestation. In his case, the fourth subplane is the focal point of positive force. On that plane are located the etheric centres of man, which have, in the evolutionary process and in the work of force direction, a relationship to his physical body similar to the relationship which groups of Egos on the mental plane have to the dense physical body of the Logos. This is a profound occult hint.

Trên cõi hồng trần của hệ mặt trời, có thể thấy một tiến trình tương tự đang diễn ra liên quan đến thể xác hồng trần của con người, hay sự biểu lộ cụ thể của y. Trong trường hợp của y, cõi phụ thứ tư là tiêu điểm của mãnh lực dương. Trên cõi ấy tọa lạc [Page 617] các trung tâm dĩ thái của con người, những trung tâm này, trong tiến trình tiến hoá và trong công việc định hướng mãnh lực, có một mối liên hệ với thể xác hồng trần của y tương tự như mối liên hệ mà các nhóm chân ngã trên cõi trí có với thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế. Đây là một gợi ý huyền bí sâu xa.

In the words “prana and the etheric body” (or life force and form) we have the key to the mystery of the solar and lunar pitris, and a hint as to the place of the physical body in the scheme of things.

Trong các từ “prana và thể dĩ thái” (hay sinh lực và hình tướng), chúng ta có chiếc chìa khóa mở ra huyền nhiệm của các thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ, cùng một gợi ý về vị trí của thể xác hồng trần trong hệ thống sự vật.

The solar Pitris and devas find their force expression most adequately through man, with all that is included in that term. They are the source of his self-consciousness, and it is their action upon the negative aspect which produces the human Ego (on a large scale, viewing them in their totality as cosmic force); it is their action upon the negative or mother aspect which, on cosmic levels, produces that Self-conscious Unity, a solar Logos, functioning through His physical vehicle. From the Christian standpoint, the greater Builders are the Holy Spirit, or force overshadowing and fecundating matter, whilst the negative or lesser Builders correspond to the Virgin Mary.

Các thái dương tổ phụ và các thiên thần tìm thấy sự biểu lộ mãnh lực của mình đầy đủ nhất qua con người, với tất cả những gì được bao hàm trong thuật ngữ đó. Các vị ấy là nguồn gốc của ngã thức của con người, và chính tác động của các vị ấy lên phương diện âm tạo ra chân ngã con người (trên quy mô lớn, khi xem các vị ấy trong tính tổng thể như mãnh lực vũ trụ); chính tác động của các vị ấy lên phương diện âm hay phương diện Mẹ, trên các cấp độ vũ trụ, tạo ra Hợp Nhất hữu ngã thức ấy, một Thái dương Thượng đế, đang hoạt động qua vận cụ hồng trần của Ngài. Theo quan điểm Cơ Đốc giáo, các đấng đại kiến tạo là Chúa Thánh Thần, hay mãnh lực phủ bóng và làm thụ thai vật chất, trong khi các đấng kiến tạo âm hay tiểu kiến tạo tương ứng với Đức Trinh Nữ Maria.

The lunar Pitris, and lesser builders from the systemic point of view find their fullest expression in the animal kingdom. When they, as the initiatory impulse, had produced animal man they had performed their prime function, and just as (on a smaller scale and in connection with only one of the Heavenly Men) the moon is a dying and decadent world, so on a systemic scale and therefore covering a vast period of time, the work of the lunar Pitris is slowly coming to a conclusion as the power of the third kingdom, the animal, over the human is being [Page 618] superseded by spiritual power; the systemic correspondence to lunar pitric activity will occultly die out.

Các thái âm tổ phụ, và các vị tiểu kiến tạo theo quan điểm hệ thống, tìm thấy sự biểu lộ đầy đủ nhất của mình trong giới động vật. Khi các vị ấy, như xung lực khai nguyên, đã tạo ra người thú thì các vị ấy đã hoàn thành chức năng chính yếu của mình, và cũng như (trên quy mô nhỏ hơn và chỉ liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân) mặt trăng là một thế giới đang chết và suy tàn, thì trên quy mô hệ thống và do đó bao trùm một thời kỳ vô cùng dài, công việc của các thái âm tổ phụ đang chậm rãi đi đến kết thúc khi quyền lực của giới thứ ba, giới động vật, trên giới nhân loại đang bị [Page 618] quyền năng tinh thần thay thế; sự tương ứng hệ thống với hoạt động của thái âm tổ phụ sẽ huyền bí mà tàn lụi.

The lunar Pitris, (198,199) the builders of man’s lunar body and their correspondence in the other kingdoms of nature, are the sumtotal of the dense physical body of the Logos, or the substance of the mental, astral and physical planes (the gaseous, liquid and dense bodies which form a unity, His physical vehicle, viewing it apart from the etheric). They are the product of an earlier solar system; their activities date from there.

Các thái âm tổ phụ, (198,199) những đấng kiến tạo thể thái âm của con người và các tương ứng của họ trong những giới khác của thiên nhiên, là tổng thể của thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, hay là chất liệu của các cõi trí, cảm dục và hồng trần (các thể khí, lỏng và đậm đặc tạo thành một hợp nhất, vận cụ hồng trần của Ngài, khi xét riêng khỏi thể dĩ thái). Các vị ấy là sản phẩm của một hệ mặt trời trước; các hoạt động của họ bắt đầu từ đó.

(198) The Lunar, or Barhishad Pitris have the following function:—S. D., II, 99.

(198) Các thái âm tổ phụ, hay Barhishad Pitris, có chức năng sau đây:—S. D., II, 99.

1. They are the Ancestors of Man.—S. D., II, 107.

1. Các vị ấy là Tổ tiên của Con người.—S. D., II, 107.

2. They are the Fashioners of his form.

2. Các vị ấy là những đấng tạo hình cho thể của y.

3. They possessed the physical creative fire.

3. Các vị ấy sở hữu lửa sáng tạo hồng trần.

4. They could only clothe the human monads.

4. Các vị ấy chỉ có thể khoác áo cho các chân thần con người.

5. They could not make man in their likeness.

5. Các vị ấy không thể tạo ra con người theo hình ảnh của mình.

6. They could not give him mind.—S. D., II, 82.

6. Các vị ấy không thể ban cho y trí tuệ.—S. D., II, 82.

7. They build his external form.

7. Các vị ấy xây dựng hình tướng bên ngoài của y.

8. They give the lower principle.—S. D., II, 92. (back)

8. Các vị ấy ban nguyên khí thấp.—S. D., II, 92. (back)

FOOTNOTE 99:

CHÚ THÍCH 99:

Temporarily they are the Conquerors of Spirit.—S. D., II, 66.

Tạm thời họ là những kẻ chinh phục tinh thần.—S. D., II, 66.

a. Spirit becomes immersed in material forms.

a. Tinh thần trở nên chìm đắm trong các hình tướng vật chất.

b. Forms are the battle ground.

b. Các hình tướng là chiến trường.

c. Eventually Spirit will slay the forms.—S. D., II, 67.

c. Cuối cùng tinh thần sẽ sát diệt các hình tướng.—S. D., II, 67.

d. Note the esoteric order.

d. Hãy lưu ý trật tự huyền bí.

—S. D., II, 88, 92, 100; II, 116.

—S. D., II, 88, 92, 100; II, 116.

That system stands to the present one as the lunar chain to ours. That is why the physical body is considered no principle (either for man or the solar Logos); that is why the lower nature is considered evil, and why man must “slay his lunar body.” (201) Evil is that which can be controlled and subdued but which is permitted to govern. The positive can always manipulate the negative. When the negative line is followed and the line of least resistance to that which is no principle, is pursued, then we have evil.

Hệ thống ấy đứng đối với hệ thống hiện nay như Dãy Mặt Trăng đối với dãy của chúng ta. Đó là lý do vì sao thể xác hồng trần được xem là không phải nguyên khí nào cả (đối với con người cũng như đối với Thái dương Thượng đế); đó là lý do vì sao bản chất thấp được xem là ác, và vì sao con người phải “giết thể thái âm của mình.” (201) Điều ác là cái có thể bị kiểm soát và chế ngự nhưng lại được phép cai quản. Yếu tố dương luôn có thể thao túng yếu tố âm. Khi đường lối âm được theo đuổi và con đường ít trở ngại nhất hướng về cái không phải là nguyên khí được đi theo, thì khi ấy chúng ta có điều ác.

(201) In the Voice of the Silence the words occur:

(201) Trong Tiếng Nói của Im Lặng có những lời như sau:

“Before that Path is entered, thou must destroy thy lunar body, cIeanse thy mind body, and make clean thy heart.” (back)

“Trước khi bước vào Con Đường ấy, ngươi phải hủy diệt thể thái âm của mình, thanh tẩy thể trí của mình, và làm cho trái tim mình thanh sạch.” (back)

In the first solar system the negative substance aspect, the Mother aspect or matter, was perfected. The lower Pitris dominated. In this system force activity lies in the hands of the solar Pitris or greater devas. At the close of the mahamanvantara they will have built according [Page 619] to the plan a perfect sheath or vehicle of expression for the Divine Thought, and this through the manipulation of negative substance; they utilise the heat of the Mother to nourish the germ of the Divine Thought, and to bring it to fruition. When the germ has developed to maturity the Mother aspect no longer has a place, and the Man occultly is freed or liberated. This idea runs through all manifestations, and the kingdoms of nature or the form (no matter what form it may be) nourish the germ of that which is the next step on in the evolutionary process, and are considered the Mother aspect. This aspect is eventually discarded and superseded. For example, the third kingdom, the animal, in the early stages nourishes and preserves the germ of that which will some day be a man; the personality is the preserver of that which will some day unfold into spiritual man.

Trong hệ mặt trời thứ nhất, phương diện chất liệu âm, phương diện Mẹ hay vật chất, đã được hoàn thiện. Các thái âm tổ phụ thấp chi phối. Trong hệ thống này, hoạt động mãnh lực nằm trong tay các thái dương tổ phụ hay các đại thiên thần. Vào lúc kết thúc Đại giai kỳ sinh hóa, các vị ấy sẽ kiến tạo theo [Page 619] Thiên Cơ một vỏ bọc hay vận cụ biểu lộ hoàn hảo cho Tư Tưởng thiêng liêng, và điều này thông qua sự thao túng chất liệu âm; các vị ấy sử dụng nhiệt của Mẹ để nuôi dưỡng mầm của Tư Tưởng thiêng liêng, và đưa nó đến kết quả viên mãn. Khi mầm ấy đã phát triển đến chín muồi thì phương diện Mẹ không còn chỗ đứng nữa, và Con Người được giải thoát hay giải phóng một cách huyền bí. Ý tưởng này xuyên suốt mọi biểu lộ, và các giới trong thiên nhiên hay hình tướng (dù là hình tướng nào) nuôi dưỡng mầm của cái là bước kế tiếp trong tiến trình tiến hoá, và được xem là phương diện Mẹ. Phương diện này rốt cuộc bị loại bỏ và được thay thế. Thí dụ, giới thứ ba, giới động vật, trong các giai đoạn đầu nuôi dưỡng và bảo tồn mầm của cái mà một ngày kia sẽ là con người; phàm ngã là kẻ bảo tồn cái mà một ngày kia sẽ khai mở thành con người tinh thần.

It will thus become apparent to students how the Heavenly Man, viewing Him as a solar Deity, a self-conscious Entity, works with His negative aspect through positive force, from logoic etheric levels upon the three aspects of the logoic dense physical, thus bringing to maturity the atoms and cells of His Body, fostering the germ of self-consciousness, fanning the flame until each unit becomes fully group conscious and aware of his place within the body corporate. Each human being likewise, functioning in the three worlds, works in a corresponding way upon the conscious cells of his bodies, until each atom eventually achieves its goal. The Heavenly Man works necessarily through egoic groups, pouring positive force upon them until they emerge from passivity and negativity into potency and activity. Man works correspondingly through his centres upon his sheaths, and has a responsibility to the lesser lives which under the karmic law must be worked out. This is the basis of the evolutionary process.

Như vậy, đạo sinh sẽ thấy rõ cách Đấng Thiên Nhân, khi xem Ngài như một Thượng đế Thái dương, một Thực Thể hữu ngã thức, hoạt động với phương diện âm của Ngài bằng mãnh lực dương, từ các cấp độ dĩ thái của Thượng đế lên ba phương diện của thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, nhờ đó đưa các nguyên tử và tế bào trong Thể của Ngài đến chín muồi, nuôi dưỡng mầm ngã thức, quạt bùng ngọn lửa cho đến khi mỗi đơn vị trở nên hoàn toàn có tâm thức nhóm và ý thức được vị trí của mình trong toàn thể cơ cấu. Tương tự như vậy, mỗi con người, hoạt động trong ba cõi giới, cũng làm việc theo cách tương ứng trên các tế bào hữu thức của các thể của mình, cho đến khi mỗi nguyên tử cuối cùng đạt được mục tiêu của nó. Đấng Thiên Nhân tất yếu hoạt động qua các nhóm chân ngã, tuôn mãnh lực dương lên họ cho đến khi họ thoát khỏi tính thụ động và âm tính để đi vào năng lực và hoạt động. Con người tương ứng hoạt động qua các trung tâm của mình trên các vỏ bọc của mình, và có một trách nhiệm đối với các sự sống nhỏ hơn mà theo định luật nghiệp quả phải được giải quyết. Đây là nền tảng của tiến trình tiến hoá.

S6S6

[Page 620] b. The Functions of the Devas.

[Page 620] b. Các Chức Năng của các Thiên thần.

Having predicated certain basic facts about the devas, viewing them as the sum total of the energy of substance and of substance itself, we come down to more technical details and to the more detailed consideration of these building forces as they construct the thought-form of the Logos, the solar System. From this consideration of them certain practical knowledge will eventuate:

Sau khi đã xác định một số sự kiện căn bản về các thiên thần, xem họ như tổng thể của năng lượng của chất liệu và của chính chất liệu, chúng ta đi xuống các chi tiết kỹ thuật hơn và xem xét chi tiết hơn các mãnh lực kiến tạo này khi chúng xây dựng Hình tư tưởng của Thượng đế, tức hệ mặt trời. Từ việc xem xét này, một số tri thức thực tiễn sẽ phát sinh:

First. Knowledge of how to build in mental matter in the three worlds, and how to employ the devas of the gaseous plane of the cosmic physical.

Thứ nhất. Tri thức về cách xây dựng trong vật chất trí tuệ trong ba cõi giới, và cách sử dụng các thiên thần của cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ.

Second. Realisation of how to combine the pairs of opposites, and thus give body and form to concept.

Thứ hai. Chứng nghiệm cách kết hợp các cặp đối cực, và nhờ đó ban thể và hình tướng cho ý niệm.

Third. Materialisation upon the physical plane of the embodied idea.

Thứ ba. Sự hiện hình trên cõi hồng trần của ý tưởng đã nhập thể.

1. Manifestation of the Logoic Aspects. This is achieved through the close consideration of the laws of being, and of the method pursued by the Logos in giving His conception form, thus working out His purpose, or will, through that form. In the three planes of man’s endeavour we have reflected the three aspects of the Logos as they produce manifestation:

1. Sự Biểu lộ của các Phương diện Thượng đế. Điều này đạt được qua việc xem xét kỹ lưỡng các định luật của bản thể, và phương pháp mà Thượng đế theo đuổi khi ban hình tướng cho quan niệm của Ngài, nhờ đó triển khai mục đích, hay ý chí, của Ngài qua hình tướng ấy. Trong ba cõi của nỗ lực con người, chúng ta có sự phản chiếu của ba phương diện của Thượng đế khi chúng tạo ra biểu lộ:

The Mental Plane... reflection of the first aspect. The plane of concept, of the union of Father-Spirit-Will and Mother-Matter-Energy. This is the work of the Logos, and this union produces the Son, for Divine Thought takes form. The body of the Ego is there found.

Cõi Trí... phản chiếu của phương diện thứ nhất. Cõi của ý niệm, của sự hợp nhất giữa Cha-Tinh thần-Ý chí và Mẹ-Vật chất-Năng lượng. Đây là công việc của Thượng đế, và sự hợp nhất này sinh ra Người Con, vì Tư Tưởng thiêng liêng mang lấy hình tướng. Thể của chân ngã được tìm thấy ở đó.

Astral Plane... reflection of the second aspect, the Son. Materialisation proceeds through desire, and the form grows and evolves, becoming more adequate.

Cõi Cảm Dục... phản chiếu của phương diện thứ hai, Người Con. Sự hiện hình tiến hành qua dục vọng, và hình tướng tăng trưởng và tiến hoá, trở nên thích hợp hơn.

Physical Plane... Manifestation. The thought-form (of man or the Logos) appears in activity. The Son is born on the physical plane, the thought of the Thinker (divine or human) becomes an entity, separated [Page 621] from its originating source, yet energised by the vitality emanating from him.

Cõi Hồng Trần... Biểu lộ. Hình tư tưởng (của con người hay của Thượng đế) xuất hiện trong hoạt động. Người Con được sinh ra trên cõi hồng trần, tư tưởng của Đấng Tư Tưởng (thiêng liêng hay nhân loại) trở thành một thực thể, tách biệt [Page 621] khỏi nguồn gốc phát sinh của nó, tuy vậy vẫn được tiếp năng lượng bởi sinh lực phát xạ từ ông.

All this becomes possible—speaking now from the human standpoint—through the action of the devas who are that which embodies thought, and that which give it its separated energy, as distinct from the purpose which will work out to fruition as the form becomes adequate as a medium of expression.

Tất cả điều này trở nên khả hữu—nay nói từ quan điểm con người—nhờ hoạt động của các thiên thần là cái hiện thân cho tư tưởng, và là cái ban cho nó năng lượng biệt lập của nó, khác với mục đích sẽ được triển khai đến viên mãn khi hình tướng trở nên thích hợp như một môi trường biểu lộ.

2. Deva force substance. As we consider the devas of the seven planes of the solar system, and especially as we consider those who work in the three worlds, we must bear in mind the following statements:

2. Chất liệu mãnh lực thiên thần. Khi chúng ta xem xét các thiên thần của bảy cõi của hệ mặt trời, và đặc biệt khi xem xét những vị hoạt động trong ba cõi giới, chúng ta phải ghi nhớ các phát biểu sau đây:

The First Statement. They are the devas who are the dual force-substance of the lowest cosmic plane, the cosmic physical. As regards the three worlds, they are the deva force and substance (202) which compose the dense physical body of the Logos, hence man is limited, as he works on these planes, to those devas who are primarily regarded (from the higher levels) as having no part in the seven principles of the Logos; to those devas who form the gaseous, liquid, and concrete form of the Logos, the devas of concrete fire, of water and of earth in its densest aspect; to those devas who are the automatic, subconscious builders, carrying on the work of the dense physical vehicle of the Logos in the same sense as the builders in man’s body work automatically and unconsciously, producing the cells and energising the bodily functions.

Phát biểu thứ nhất. Họ là các thiên thần là chất liệu-mãnh lực nhị nguyên của cõi vũ trụ thấp nhất, cõi hồng trần vũ trụ. Xét về ba cõi giới, họ là mãnh lực thiên thần và chất liệu (202) cấu thành thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, do đó con người bị giới hạn, khi y hoạt động trên các cõi này, vào những thiên thần mà chủ yếu được xem (từ các cấp độ cao hơn) là không có phần nào trong bảy nguyên khí của Thượng đế; vào những thiên thần tạo thành hình tướng khí, lỏng và cụ thể của Thượng đế, các thiên thần của lửa cụ thể, của nước và của đất trong phương diện đậm đặc nhất của nó; vào những thiên thần là các đấng kiến tạo tự động, tiềm thức, tiếp tục công việc của vận cụ hồng trần đậm đặc của Thượng đế theo cùng ý nghĩa như các đấng kiến tạo trong thể con người hoạt động tự động và vô thức, tạo ra các tế bào và tiếp năng lượng cho các chức năng của thể.

(202) The Solar Angels are dual in Nature.

(202) Các Thái dương Thiên Thần có bản chất nhị nguyên.

“Manas is dual—Lunar in the lower, Solar in its upper portion.”—S. D., II, 520, 675.

“Manas là nhị nguyên—thái âm ở phần thấp, thái dương ở phần cao của nó.”—S. D., II, 520, 675.

a. The solar aspect is attracted towards Buddhi.

a. Phương diện thái dương bị thu hút về phía Bồ đề.

b. The other descends into, or is attracted by the lower animal.

b. Phương diện kia đi xuống vào, hay bị thu hút bởi, con thú thấp.

c. The Solar Angels form the “Soul” or Second Aspect.

c. Các Thái dương Thiên Thần tạo thành “Linh hồn” hay Phương diện thứ hai.

d. The chief “Soul” is Manas, or mind.”—S. D., II, 521. (back)

d. “Linh hồn” chủ yếu là Manas, hay trí tuệ.”—S. D., II, 521. (back)

This is the basis of the danger to man in tampering with these forces. He is too close to them in many ways; he identifies himself with them and until [Page 622] he has attained the consciousness of the Ego, and has with full knowledge established his identity with the Spirit aspect and not with substance, he is liable to be swept into the line of blind force, and become a lost soul should he trespass ignorantly, and curiously, into their domain.

Đây là cơ sở của sự nguy hiểm đối với con người khi can thiệp vào các mãnh lực này. Y quá gần gũi với chúng theo nhiều cách; y đồng hoá mình với chúng và cho đến khi [Page 622] y đã đạt được tâm thức của chân ngã, và với tri thức trọn vẹn đã xác lập bản sắc của mình với phương diện Tinh thần chứ không phải với chất liệu, y có thể bị cuốn vào đường lối của mãnh lực mù quáng, và trở thành một linh hồn lạc mất nếu y xâm phạm một cách ngu dốt và tò mò vào lĩnh vực của chúng.

He is concerned also with those devas who are as yet animated by the life and purpose which distinguished the evolution of the first solar system. That life is the life of God, and that purpose is the working out of His will, but it is evil from our present standpoint, for it is superseded as far as man is concerned by a different purpose and goal. Therefore, identification with that which is past, retrogression and the methods of the old are for a man a return along the path of self-conscious evolution, and lead eventually to a loss of the egoic principle, or of ego-ism, which distinguishes a man (human or heavenly) from the rest of evolution.

Y cũng liên hệ với những thiên thần mà hiện vẫn được làm sinh động bởi sự sống và mục đích vốn đặc trưng cho tiến hoá của hệ mặt trời thứ nhất. Sự sống ấy là sự sống của Thượng đế, và mục đích ấy là sự triển khai ý chí của Ngài, nhưng từ quan điểm hiện nay của chúng ta thì đó là điều ác, vì đối với con người nó đã bị thay thế bởi một mục đích và cứu cánh khác. Do đó, sự đồng hoá với cái đã qua, sự thoái bộ và các phương pháp cũ, đối với con người là một sự quay trở lại trên con đường tiến hoá hữu ngã thức, và cuối cùng dẫn đến sự mất đi nguyên khí chân ngã, hay tính chân ngã, vốn phân biệt con người (nhân loại hay thiên giới) với phần còn lại của tiến hoá.

The Second Statement. The hope for the devas and for the form aspect lies in the fact that each of the subplanes of the cosmic physical plane comes under the direct influence of cosmic forces, originating on the six other cosmic planes. Of these forces everything is unknown and inconceivable, except the vague and general indications of these currents and forces as they may be felt as emanating from the cosmic planes.

Phát biểu thứ hai. Niềm hy vọng cho các thiên thần và cho phương diện hình tướng nằm ở sự kiện rằng mỗi cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của các mãnh lực vũ trụ, phát sinh trên sáu cõi vũ trụ khác. Về các mãnh lực này, mọi sự đều chưa được biết đến và không thể quan niệm được, ngoại trừ những chỉ dẫn mơ hồ và tổng quát về các dòng và mãnh lực này như chúng có thể được cảm nhận như phát ra từ các cõi vũ trụ.

The cosmic mental plane. This manifests for us in the three types of force to be seen on the systemic mental plane. These three types have not been sufficiently studied, and are:

Cõi trí vũ trụ. Điều này biểu lộ đối với chúng ta trong ba loại mãnh lực có thể thấy trên cõi trí của hệ thống. Ba loại này chưa được nghiên cứu đầy đủ, và là:

a. The force which plays through all the manasic permanent atoms, and which produces basically that manifestation which we call the three worlds.

a. Mãnh lực vận hành qua tất cả các nguyên tử trường tồn manas, và về căn bản tạo ra biểu lộ mà chúng ta gọi là ba cõi giới.

b. The force which animates those groups of “lotuses” [Page 623] which we call egoic groups or centres-aggregations of causal bodies.

b. Mãnh lực làm sinh động những nhóm “hoa sen” mà chúng ta gọi là các nhóm chân ngã hay các trung tâm—những tập hợp của các thể nguyên nhân.[Page 623]

c. The force which vitalises all the mental units and which is distributed thence to all the other permanent atoms.

c. Mãnh lực tiếp sinh lực cho tất cả các đơn vị hạ trí và từ đó được phân phối đến mọi nguyên tử trường tồn khác.

These three types of force deal with the substance aspect—permanent atoms, causal vehicle, and mental units, and are therefore directly impressing themselves upon the devas who build these forms out of their own substance, and thus develop the divine plan. These three types of force affect substance, but with a psychic intent, being themselves swayed and actuated according to divine purpose, and from high levels. They emanate from the concrete levels of the cosmic mental plane (being therefore the force flowing through the mental unit of the Logos), and are concerned with the force centre which focalises the logoic mental body. They are the force of Agni in His first aspect. He is that fire which is distinctive of the cosmic mental plane, reflected in the cosmic gaseous subplane of the cosmic physical plane—our systemic mental plane.

Ba loại mãnh lực này đề cập đến phương diện chất liệu—các nguyên tử trường tồn, vận cụ nguyên nhân, và các đơn vị hạ trí, và do đó trực tiếp in dấu chính mình lên các thiên thần xây dựng các hình tướng này từ chính chất liệu của họ, và nhờ đó phát triển Thiên Cơ thiêng liêng. Ba loại mãnh lực này tác động lên chất liệu, nhưng với một ý hướng thông linh, vì bản thân chúng bị chi phối và thúc đẩy theo mục đích thiêng liêng, và từ các cấp độ cao. Chúng phát ra từ các cấp độ cụ thể của cõi trí vũ trụ (do đó là mãnh lực chảy qua đơn vị hạ trí của Thượng đế), và liên hệ với trung tâm lực tập trung thể trí của Thượng đế. Chúng là mãnh lực của Agni trong phương diện thứ nhất của Ngài. Ngài là ngọn lửa đặc trưng cho cõi trí vũ trụ, được phản chiếu trong cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ—cõi trí của hệ thống chúng ta.

The Cosmic Astral Plane. The force from this plane plays through our systemic astral plane, the cosmic liquid physical sub-plane, and it is practically subject only to two differentiations, each of them occultly embodied in two great groups of devas:

Cõi cảm dục vũ trụ. Mãnh lực từ cõi này vận hành qua cõi cảm dục của hệ thống chúng ta, cõi phụ lỏng của cõi hồng trần vũ trụ, và trên thực tế chỉ chịu hai sự biến phân, mỗi sự được hiện thân một cách huyền bí trong hai nhóm lớn các thiên thần:

First. The devas who are the substance or force of the astral plane, viewing it as the sumtotal of desire, of feeling and of sensation. They are, therefore, the nerve centers, or nerve plexi, of the logoic physical body, for the systemic astral plane provides the nervous system of the logoic physical body. It is the body of intensest vibration from the physical standpoint, and the vehicle through which all is transmitted to that portion of the logoic physical body which corresponds to the brain [Page 624] in man. I can elucidate this no further, but the few words here imparted open up a tremendous range of thought, and give the key to much which transpires and which is distressing in solar evolution as well as human.

Thứ nhất. Các thiên thần là chất liệu hay mãnh lực của cõi cảm dục, khi xem nó như tổng thể của dục vọng, cảm xúc và cảm giác. Do đó, họ là các trung tâm thần kinh, hay các đám rối thần kinh, của thể hồng trần của Thượng đế, vì cõi cảm dục của hệ thống cung cấp hệ thần kinh cho thể hồng trần của Thượng đế. Đây là thể có rung động mãnh liệt nhất từ quan điểm hồng trần, và là vận cụ qua đó mọi sự được truyền đến phần của thể hồng trần của Thượng đế tương ứng với bộ não ở con người. Tôi không thể làm sáng tỏ điều này thêm nữa, nhưng vài lời được truyền đạt ở đây mở ra một phạm vi tư tưởng vô cùng rộng lớn, và trao chìa khóa cho nhiều điều xảy ra và gây đau khổ trong tiến hoá thái dương cũng như nhân loại.[Page 624]

Second. Those devas who are the sumtotal of the astral light. They are the agents of the karmic lords, who are in themselves deva entities of an inconceivably advanced evolution and who, in their own substance,

Thứ hai. Những thiên thần là tổng thể của ánh sáng cảm dục. Họ là các tác nhân của các Chúa Tể nghiệp quả, mà bản thân các Ngài là các thực thể thiên thần có một tiến hoá cao siêu đến mức không thể quan niệm được và là những vị, trong chính chất liệu của mình,

1. Record.

1. Ghi nhận.

2. Produce effects from cause.

2. Tạo ra kết quả từ nguyên nhân.

3. Direct force.

3. Định hướng mãnh lực.

This particular group of devas emanate from a great force centre which we generalise by calling it by the name of the sun Sirius. Sirius-kama-manas—the cosmic astral plane—and the systemic astral plane—make a close interlocking chain, and form the line of least resistance for a particular type of negative force to pour through.

Nhóm thiên thần đặc biệt này phát ra từ một trung tâm lực lớn mà chúng ta khái quát gọi bằng tên mặt trời Sirius. Sirius-kama-manas—cõi cảm dục vũ trụ—và cõi cảm dục của hệ thống—tạo thành một chuỗi móc nối chặt chẽ, và hình thành con đường ít trở ngại nhất để một loại mãnh lực âm đặc biệt tuôn qua.

The Cosmic Physical Plane. This is the force (external and internal) of the solar system itself, and of its environing space. It might be regarded as the pranic forces, pouring through the logoic etheric body (our four higher subplanes) which are positive to the lower three, impregnating these lower three planes (a reflection in substance, or in the Brahma aspect, of the union of Father-Mother) and producing the purely concrete manifestation. This is why the physical vehicle has such control during long stages of man’s evolution, for the force of this type of energy is necessarily felt more strongly than any other. It is deva force, and substance, which is so close to us as powerfully to delude us. Here lies the mystery of maya, and here is to be found the secret of illusion. Here exists for man the first great stage of the battle for full Self-consciousness, and for identification with the God-aspect, and not with the [Page 625] matter-aspect. Here lies the occult reason why man is called by his father’s name and not his mother’s. When man has dominated the deva essences of the physical plane, he controls next those of the astral and dominates the mental essences. Having achieved this in his own nature he can then safely become a magician and contact, control and work with, the devas in connection with the plans of the Heavenly Man. In the realisation of the three types of force, will be found for man the key to the mystery of his centres.

Cõi hồng trần vũ trụ. Đây là mãnh lực (bên ngoài và bên trong) của chính hệ mặt trời, và của không gian bao quanh nó. Nó có thể được xem như các mãnh lực prana, tuôn qua thể dĩ thái của Thượng đế (bốn cõi phụ cao của chúng ta), vốn là dương đối với ba cõi thấp, thấm nhuần ba cõi thấp này (một phản chiếu trong chất liệu, hay trong phương diện Brahma, của sự hợp nhất Cha-Mẹ) và tạo ra biểu lộ thuần túy cụ thể. Đây là lý do vì sao vận cụ hồng trần có quyền kiểm soát mạnh mẽ trong những giai đoạn dài của tiến hoá con người, vì mãnh lực của loại năng lượng này tất yếu được cảm nhận mạnh hơn bất kỳ loại nào khác. Chính mãnh lực thiên thần, và chất liệu, quá gần gũi với chúng ta đến nỗi đánh lừa chúng ta một cách mạnh mẽ. Chính trong đây có huyền nhiệm của ảo lực, và ở đây có thể tìm thấy bí mật của ảo tưởng. Ở đây tồn tại đối với con người giai đoạn lớn đầu tiên của cuộc chiến giành trọn vẹn ngã thức, và để đồng hoá với phương diện Thượng đế, chứ không phải với phương diện vật chất. Chính trong đây có lý do huyền bí vì sao con người được gọi bằng tên cha mình chứ không phải tên mẹ mình. Khi con người đã chế ngự các tinh chất hành khí của cõi hồng trần, kế đó y kiểm soát các tinh chất của cõi cảm dục và chế ngự các tinh chất trí tuệ. Khi đã đạt được điều này[Page 625] trong chính bản chất của mình, khi ấy y mới có thể an toàn trở thành một nhà huyền thuật và tiếp xúc, kiểm soát và làm việc với các thiên thần liên hệ đến các Thiên Cơ của Đấng Thiên Nhân. Trong sự chứng nghiệm ba loại mãnh lực này, con người sẽ tìm thấy chìa khóa mở ra huyền nhiệm của các trung tâm của mình.

The secret of the note of the head, the heart, and the throat centre is found here and their blending with the lower centres so that the note of the higher sounds out, and the lower produces only harmony. Upon the note of nature the Logos has to superimpose a higher note. To the natural note of the centre (which is found through the development of the lower centre, which is its reflection or correspondence) must be added the dominant note of the higher centre, and, in the dual harmony the centre vibrates as desired. The note is the result of correct activity. That is why the lower centres of man are (in the early stages of his career) the controlling factor. He has to learn their note, and from it to attain the key of the higher. Then the higher takes the prominent place, and the lower only serves the purpose of providing that which is understood as occult “depth.” Why is this? Because in these notes those groups of devas who are the force and energy of the centres (which are centres in substance) are contacted and controlled. Through their activity, directed through the centres, the material sheaths—physical, astral and mental—are built.

Bí mật của âm điệu của trung tâm đầu, tim và cổ họng được tìm thấy ở đây cùng với sự hòa trộn của chúng với các trung tâm thấp để âm điệu của trung tâm cao vang lên, còn trung tâm thấp chỉ tạo ra hòa âm. Trên âm điệu của bản chất, Thượng đế phải chồng lên một âm điệu cao hơn. Vào âm điệu tự nhiên của trung tâm (được tìm thấy qua sự phát triển của trung tâm thấp, là phản chiếu hay tương ứng của nó) phải được thêm vào âm điệu chủ đạo của trung tâm cao, và trong sự hòa âm nhị nguyên ấy trung tâm rung động như mong muốn. Âm điệu là kết quả của hoạt động đúng đắn. Đó là lý do vì sao các trung tâm thấp của con người là (trong các giai đoạn đầu của cuộc đời y) yếu tố kiểm soát. Y phải học âm điệu của chúng, và từ đó đạt đến khóa của trung tâm cao. Khi ấy trung tâm cao chiếm vị trí nổi bật, và trung tâm thấp chỉ phục vụ mục đích cung cấp cái được hiểu trong huyền bí học là “chiều sâu.” Vì sao vậy? Bởi vì trong các âm điệu này, những nhóm thiên thần là mãnh lực và năng lượng của các trung tâm (vốn là các trung tâm trong chất liệu) được tiếp xúc và kiểm soát. Qua hoạt động của họ, được định hướng qua các trung tâm, các vỏ bọc vật chất—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—được xây dựng.

These ideas of force and the sheaths are the basis of the astrological teaching that is one of the keys to the Secret Doctrine.(203) We should therefore bear in mind that [Page 626] the Deva Lords, Agni, Varuna, Kshiti, (204) represent in the exoteric teaching the substance aspect of the dense body of the Logos whilst the force aspect as flowing through the etheric body of the Logos is considered under various names, such as Shiva, Surya, Brahma. Yet the two aspects are but one.

Những ý tưởng này về mãnh lực và các vỏ bọc là nền tảng của giáo huấn chiêm tinh học, vốn là một trong những chìa khóa của Giáo Lý Bí Nhiệm.(203) Do đó, chúng ta nên ghi nhớ rằng [Page 626] các Chúa Tể Thiên thần, Agni, Varuna, Kshiti, (204) trong giáo huấn ngoại môn tượng trưng cho phương diện chất liệu của thể đậm đặc của Thượng đế trong khi phương diện mãnh lực khi chảy qua thể dĩ thái của Thượng đế được xét dưới nhiều danh xưng khác nhau, như Shiva, Surya, Brahma. Tuy nhiên, hai phương diện ấy chỉ là một.

(203) The Astrological Key is referred to in the S. D., Vol. II, 26. (back)

(203) Chìa khóa Chiêm tinh được nhắc đến trong S. D., Quyển II, 26. (back)

(204) Agni, the God of Fire in the Veda; the oldest and the most revered of the Gods in India. He is the triple aspect of Fire and therefore the sum total of manifestation. He is regarded also as the Lord of the mental plane (the 5th plane) whose symbol is Fire.

(204) Agni, Thượng đế của Lửa trong Veda; cổ xưa nhất và được tôn kính nhất trong các Thượng đế ở Ấn Độ. Ngài là phương diện tam phân của Lửa và do đó là tổng thể của biểu lộ. Ngài cũng được xem là Chúa Tể của cõi trí (cõi thứ 5) mà biểu tượng là Lửa.

Varuna, the God of Water, in the sense of the waters of space, or the waters of matter. He is regarded also as the Ruler of the astral plane (the 6th plane) whose symbol is water.

Varuna, Thượng đế của Nước, theo nghĩa là các nước của không gian, hay các nước của vật chất. Ngài cũng được xem là chủ tinh của cõi cảm dục (cõi thứ 6) mà biểu tượng là nước.

Kshiti, the God of the Earth in the sense of dense substance, and not a planetary body; he is the God of the physical plane, the seventh plane. (back)

Kshiti, Thượng đế của Đất theo nghĩa là chất liệu đậm đặc, chứ không phải một thiên thể hành tinh; ông là Thượng đế của cõi hồng trần, cõi thứ bảy. (back)

The Third Statement. The final point I seek to make here is that in connection with these three lower planes and their many groups of devas it must be remembered that their polar opposites are to be found in the great devas of the highest three planes.

Phát biểu thứ ba. Điểm cuối cùng tôi muốn nêu ra ở đây là rằng liên hệ đến ba cõi thấp này và nhiều nhóm thiên thần của chúng, cần nhớ rằng các cực đối lập của chúng được tìm thấy trong các đại thiên thần của ba cõi cao nhất.