← A Treatise on Cosmic Fire All

Divine

Divine

1st Cosmic ether

Primordial Fire

Mental Plane

Fire.

Monadic

2nd Cosmic ether

Akasha

AstralPlane

Astral light.

Spiritual or Atmic

3rd Cosmic ether

Aether

Physical Plane

Ether

The particular type of differentiated force which they embody, when brought into union with each other is that which causes concretion, or the appearance, in space and time, of the dense physical body. This should be carefully considered, along with the very interesting fact that on the fourth plane of our system (the fourth cosmic ether, or buddhic plane) we have the sphere of certain occult happenings which cannot be more than hinted at, because their true significance is one of the secrets of initiation. They are an aspect of the plan of the Logos which can be contacted direct by those who have expanded their consciousness adequately.

Loại mãnh lực biến phân đặc biệt mà họ hiện thân, khi được đưa vào hợp nhất với nhau, chính là cái gây ra sự kết tụ, hay sự xuất hiện, trong không gian và thời gian, của thể xác hồng trần đậm đặc. Điều này cần được suy xét cẩn thận, cùng với sự kiện rất thú vị rằng trên cõi thứ tư của hệ thống chúng ta (dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay cõi Bồ đề) chúng ta có khối cầu của một số biến cố huyền bí nào đó mà không thể nói hơn là gợi ý, vì ý nghĩa chân thực của chúng là một trong những bí mật của điểm đạo. Chúng là một phương diện của Thiên Cơ của Thượng đế mà có thể được tiếp xúc trực tiếp bởi những ai đã mở rộng tâm thức của mình một cách đầy đủ.

[Page 627] The buddhic plane, or fourth cosmic ether, is the plane whereon:

[Page 627] Cõi Bồ đề, hay dĩ thái vũ trụ thứ tư, là cõi nơi:

a. The sacred planets function.

a. Các hành tinh thiêng liêng hoạt động.

b. Man will eventually function freed from the triple lower man.

b. Con người cuối cùng sẽ hoạt động, được giải thoát khỏi phàm ngã tam phân.

c. The true meaning of the words “Divine Hermaphrodite” is there to be comprehended.

c. Ý nghĩa chân thực của các từ “Lưỡng tính thiêng liêng” được thấu hiểu tại đó.

d. It is predominantly the plane of life-force, and one of the planes of generation.

d. Đây chủ yếu là cõi của sinh lực, và là một trong các cõi của sự sinh thành.

e. Here man will for the first time understand and utilize his relationship with the devas.

e. Ở đây con người lần đầu tiên sẽ thấu hiểu và sử dụng mối liên hệ của mình với các thiên thần.

f. It will see the fruition of the combined evolutionary process of the two solar systems.

f. Nó sẽ chứng kiến kết quả viên mãn của tiến trình tiến hoá kết hợp của hai hệ mặt trời.

g. It is the plane from whence all planetary avatars emanate.

g. Đây là cõi từ đó mọi Đấng Hoá Thân hành tinh phát xuất.

h. The Heavenly Men take the first Initiation on this plane.

h. Các Đấng Thiên Nhân nhận lần điểm đạo thứ nhất trên cõi này.

i. On this plane the true inner significance of the “Sun” is apprehended.

i. Trên cõi này, thâm nghĩa nội tại chân thực của “Mặt Trời” được lĩnh hội.

More I cannot say, but careful study of that which is here given may open up much that is of significance in the study of the macrocosm and the microcosm.

Tôi không thể nói thêm nữa, nhưng việc nghiên cứu cẩn thận điều được trao ra ở đây có thể mở ra nhiều điều có thâm nghĩa trong việc nghiên cứu đại thiên địa và tiểu thiên địa.

c. The Devas and the Planes.

c. Các Thiên thần và các Cõi.

Preliminary Remarks. We have considered in broad and general terms the various types of force which animate deva substance, and its origin. Now we can study more specifically the deva entities in their various groups, having laid down the fundamentals in connection with them.

Nhận xét sơ bộ. Chúng ta đã xem xét theo những nét rộng và tổng quát các loại mãnh lực khác nhau làm sinh động chất liệu thiên thần, và nguồn gốc của nó. Giờ đây chúng ta có thể nghiên cứu chuyên biệt hơn các thực thể thiên thần trong những nhóm khác nhau của họ, sau khi đã đặt ra các nền tảng căn bản liên hệ đến họ.

In this particular section students must remember that we are not considering those builders of involutionary development which are spoken of in theosophical and occult literature as the elemental essences. We are discussing those who are on the evolutionary arc, and who are the agents of cosmic force, whilst the lesser builders are the agents specifically of solar and of lunar force. Solar force implies the various differentiations of the threefold cosmic force as it manifests within the solar [Page 628] system. Solar force can also (as far as the creative or building faculty of man is concerned) be termed planetary force, for every human being (be he Adept or ordinary man) builds and creates his thought forms—consciously or unconsciously—within the planetary spheres in the three worlds.

Trong phần đặc biệt này, đạo sinh phải nhớ rằng chúng ta không xét đến những đấng kiến tạo của sự phát triển giáng hạ tiến hoá vốn được nói đến trong văn liệu Thông Thiên Học và huyền bí học như các tinh chất hành khí. Chúng ta đang bàn đến những vị ở trên cung tiến hoá, và là các tác nhân của mãnh lực vũ trụ, trong khi các vị tiểu kiến tạo là các tác nhân đặc biệt của mãnh lực thái dương và thái âm. Mãnh lực thái dương hàm ý các sự biến phân khác nhau của mãnh lực vũ trụ tam phân khi nó biểu lộ trong hệ mặt trời. Mãnh lực thái dương cũng có thể (xét theo khả năng sáng tạo hay kiến tạo của con người) được gọi là mãnh lực hành tinh, vì mỗi con người (dù là chân sư hay người thường) đều xây dựng và sáng tạo các hình tư tưởng của mình—một cách hữu thức hay vô thức—trong các khối cầu hành tinh ở ba cõi giới.[Page 628]

We shall now come to a considerable amount of tabulation, for all that it is wise and possible to give at this time are certain facts, names and outlines which can only be demonstrated through the law of correspondence. The key to comprehension is always this law. The basic differentiation in the solar system is as follows:

Giờ đây chúng ta sẽ đi vào một lượng đáng kể các bảng biểu, vì tất cả những gì khôn ngoan và có thể trao ra vào lúc này chỉ là một số sự kiện, danh xưng và đại cương mà chỉ có thể được chứng minh qua định luật tương ứng. Chìa khóa của sự thấu hiểu luôn luôn là định luật này. Sự biến phân căn bản trong hệ mặt trời như sau:

Agni

Electric fire

Spirit

Central Spiritual Sun

Energy

Surya

Solar fire

Vishnu

Heart of the Sun

Light

Brahma

Fire by friction

Physical visible Sun

Fohat

As electric fire the Logos manifests as the seven aspects of Will, spiritual impulse or purpose.

Như Lửa Điện, Thượng đế biểu lộ như bảy phương diện của Ý chí, xung lực tinh thần hay mục đích.

As solar fire He manifests as the seven Rays, or as the Light of Wisdom, the Consciousness, radiating through the form.

Như Lửa Thái dương, Ngài biểu lộ như bảy cung, hay như Ánh sáng của Minh triết, Tâm thức, đang bức xạ qua hình tướng.

As fire by friction He manifests as the seven Sons of Fohat, the seven great fires, or the active heat of intelligent substance.

Như Lửa ma sát, Ngài biểu lộ như bảy Con của Fohat, bảy ngọn lửa lớn, hay nhiệt hoạt động của chất liệu thông tuệ.

These three aspects of the God of Fire, and of the fire of God, are the three Entities of the logoic Trinity, and each in turn manifests through seven other Entities Who form their total manifestation.

Ba phương diện này của Thượng đế của Lửa, và của lửa của Thượng đế, là ba Thực Thể của Tam Vị Thượng đế, và mỗi vị lần lượt biểu lộ qua bảy Thực Thể khác tạo thành tổng thể biểu lộ của các vị ấy.

Sevenfold electric fire. The seven types of spiritual existences, or the seven Spirits before the Throne in Their essential essence; the dynamic force or will lying back of all manifestation. They form on their own plane in a peculiar sense the logoic “Jewel in the Lotus,” and [Page 629] hence are inconceivable to our intelligence in this solar system, as They are not revealed until the “Son be made perfect,” or the logoic consciousness is fully awakened. They are esoterically the “Spirits of Darkness.”

Lửa Điện thất phân. Bảy loại hiện hữu tinh thần, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai trong tinh chất cốt yếu của Các Ngài; mãnh lực động hay ý chí nằm phía sau mọi biểu lộ. Các Ngài tạo thành trên cõi của mình, theo một ý nghĩa đặc biệt, “Ngọc trong Hoa Sen” của Thượng đế, và [Page 629] do đó không thể được trí tuệ của chúng ta trong hệ mặt trời này quan niệm nổi, vì Các Ngài không được mặc khải cho đến khi “Người Con được làm cho hoàn hảo,” hay tâm thức của Thượng đế được thức tỉnh trọn vẹn. Một cách huyền bí, Các Ngài là “Các Thánh Linh của Bóng Tối.”

Sevenfold solar fire. The seven Heavenly Men, the sumtotal of Light, the seven Rays of manifestation of the Spiritual Sun. In time and space these seven Rays of Light become the nine (the major three, with the third demonstrating as seven) and are thus esoterically the nine petals of the logoic Ego as He manifests in His physical vehicle. They are esoterically the “Sons of Light.”

Lửa Thái dương thất phân. Bảy Đấng Thiên Nhân, tổng thể của Ánh sáng, bảy cung biểu lộ của Mặt Trời Tinh thần. Trong thời gian và không gian, bảy Cung Ánh sáng này trở thành chín (ba cung chính, với cung thứ ba biểu lộ thành bảy) và do đó một cách huyền bí là chín cánh hoa của chân ngã Thượng đế khi Ngài biểu lộ trong vận cụ hồng trần của Ngài. Một cách huyền bí, các vị ấy là “Các Con của Ánh sáng.”

Sevenfold fire by friction. The seven brothers of Fohat. The seven manifestations of electricity, or of electrical phenomena. These are the seven Raja-Lords or Devas of the seven planes; they are the seven Fires, or those seven states of activity through which consciousness is expressing itself. They are the vehicles of consciousness and the seven vibrations. They are esoterically the “Brothers of energy.”

Lửa ma sát thất phân. Bảy huynh đệ của Fohat. Bảy biểu lộ của điện, hay của các hiện tượng điện. Đây là bảy Raja-Lords hay các thiên thần của bảy cõi; họ là bảy Ngọn Lửa, hay bảy trạng thái hoạt động qua đó tâm thức đang biểu lộ chính nó. Họ là các vận cụ của tâm thức và là bảy rung động. Một cách huyền bí, họ là “Các Huynh Đệ của năng lượng.”

Therefore it will be apparent that the sumtotal of logoic manifestation as it can be seen in existence in time and space is:

Do đó, sẽ rõ ràng rằng tổng thể biểu lộ của Thượng đế như có thể được thấy đang hiện hữu trong thời gian và không gian là:

Seven Spirits

sevenfold will.

Seven Rays

sevenfold quality or psyche.

Seven Deva Lords

sevenfold form.

The latter are literally the seven spirillae, or force vibrations within the logoic physical permanent atom. This needs to be carefully borne in mind and pondered upon. The seven Rays are the sumtotal of the psychic nature of the Logos, as it radiates through His physical form—His seven qualities, the aggregate of the expression of His desire, or love nature. The seven Spirits are the sumtotal of His Will-to-be aspect, the synthetic Life of His total manifestation, that which causes the persistence [Page 630] of the form, and its evolution for as long as the logoic Ego seeks physical existence.

Những vị sau theo nghĩa đen là bảy loa tuyến, hay các rung động mãnh lực bên trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận và suy ngẫm. Bảy cung là tổng thể bản chất thông linh của Thượng đế, khi nó bức xạ qua hình tướng hồng trần của Ngài—bảy phẩm tính của Ngài, tổng hợp của sự biểu lộ dục vọng, hay bản chất bác ái của Ngài. Bảy Thánh Linh là tổng thể phương diện Ý chí-hướng-tồn-tại của Ngài, Sự sống tổng hợp của toàn bộ biểu lộ của Ngài, cái gây ra sự bền vững [Page 630] của hình tướng, và sự tiến hoá của nó chừng nào chân ngã Thượng đế còn tìm kiếm sự hiện hữu hồng trần.

To carry the simile, or analogy, even further back and thus bear in mind the resemblance between microcosmic and macrocosmic development we have:

Để tiếp tục phép so sánh, hay phép loại suy, lùi xa hơn nữa và nhờ đó ghi nhớ sự tương tự giữa sự phát triển của tiểu thiên địa và đại thiên địa, chúng ta có:

1. The seven Spirits who find Their originating incentive on:

1. Bảy Thánh Linh tìm thấy động lực khởi nguyên của Các Ngài trên:

a. The cosmic lower mental levels.

a. Các cấp độ hạ trí vũ trụ.

b. The logoic “Jewel in the Lotus.”

b. “Ngọc trong Hoa Sen” của Thượng đế.

c. The cosmic atmic plane.

c. Cõi atma vũ trụ.

2. The seven Heavenly Men are in the line of force from:

2. Bảy Đấng Thiên Nhân nằm trên tuyến mãnh lực từ:

a. The cosmic astral plane.

a. Cõi cảm dục vũ trụ.

b. The logoic nine-petalled lotus.

b. Hoa sen chín cánh của Thượng đế.

c. The cosmic buddhic plane (the seven Rishis of the Great Bear).

c. Cõi Bồ đề vũ trụ (bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh).

3. The seven Sons of Fohat find their vital force emanating from:

3. Bảy Con của Fohat tìm thấy mãnh lực sinh động của mình phát ra từ:

a. The cosmic physical plane.

a. Cõi hồng trần vũ trụ.

b. The logoic permanent atoms (within the causal body).

b. Các nguyên tử trường tồn của Thượng đế (bên trong thể nguyên nhân).

c. The cosmic higher mental levels.

c. Các cấp độ thượng trí vũ trụ.

Yet these three are but the expressions of One Existence, for behind the Logos in physical incarnation is to be found the logoic Monad, expressing Itself through the logoic Ego, and its reflection, the logoic Personality.

Tuy nhiên, ba điều này chỉ là những biểu hiện của Một Hiện Hữu, vì đằng sau Thượng đế đang lâm phàm trong thể xác là chân thần của Thượng đế, tự biểu lộ qua chân ngã của Thượng đế, và sự phản chiếu của nó là phàm ngã của Thượng đế.

All these spiritual Essences are individualised self-conscious Identities, and the “Fiery Lives” are real, and conscious, vital Existences. Thus we see the Logos manifesting as One Unity yet Three in One; we see the threefold Unity differentiating into the seven great Lives, containing within Themselves all lesser lives.

Tất cả các Tinh Chất tinh thần này đều là những Bản Sắc hữu thức đã được biệt ngã hóa, và các “Sự Sống Rực Lửa” là những Hiện Hữu sống động, hữu thức, đầy sinh lực có thực. Vì vậy chúng ta thấy Thượng đế biểu lộ như Một Hợp Nhất nhưng Ba trong Một; chúng ta thấy Hợp Nhất tam phân phân hóa thành bảy Sự sống vĩ đại, chứa trong Chính Các Ngài mọi sự sống nhỏ hơn.

Another broad differentiation must next be touched upon: [Page 631]

Tiếp theo cần đề cập đến một sự phân biệt rộng lớn khác: [Page 631]

a. The seven Fires form the forty-nine Fires.

a. Bảy Lửa tạo thành bốn mươi chín Lửa.

b. The seven Heavenly Men manifest through forty-nine lesser Rays.

b. Bảy Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua bốn mươi chín cung nhỏ hơn.

c. The seven Spirits shew forth as forty-nine Existences.

c. Bảy Thánh Linh hiển lộ thành bốn mươi chín Hiện Hữu.

In connection with the Spirit aspect it will prove unprofitable to carry the thought any further. Of Spirit per se we can know nothing, and beyond predicating the forty-nine (205) solar Manus (each of the Heavenly Men is expressing Himself on the physical plane through seven Manus) it is impossible to go.

Liên quan đến phương diện tinh thần, sẽ không ích lợi gì nếu đẩy tư tưởng đi xa hơn nữa. Về chính tinh thần, chúng ta không thể biết gì cả, và ngoài việc khẳng định bốn mươi chín (205) Đức Manu thái dương (mỗi Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ Chính Ngài trên cõi hồng trần qua bảy Đức Manu) thì không thể đi xa hơn.

(205) The forty nine Manus. They are the patrons or guardians of the race cycles in a manvantara, or Day of Brahma. There are seven races in a world period, and there are seven world periods. (back)

(205) Bốn mươi chín Đức Manu. Các Ngài là những vị bảo trợ hay hộ trì cho các chu kỳ nhân loại trong một giai kỳ sinh hóa, hay một Ngày của Brahma. Có bảy nhân loại trong một thời kỳ thế giới, và có bảy thời kỳ thế giới. (back)

Therefore, in discussing these abstract questions, we will concern ourselves only with the seven Rays of Light, or Heavenly Men, and the seven Fires.

Do đó, khi bàn về những vấn đề trừu tượng này, chúng ta sẽ chỉ quan tâm đến bảy Cung Ánh Sáng, hay bảy Đấng Thiên Nhân, và bảy Lửa.

Each of the seven Rays of Light differentiates into seven making the forty-nine aspects of the logoic psychic nature, as it shews itself on the cosmic physical plane, and each of the seven Fires manifests as seven lesser Fires, making the forty-nine Fires referred to by H. P. B. in the Secret Doctrine. (S. D., I, 567.) The seven Heavenly Men manifest each through seven lesser Entities, Who form the psychic centres in Their body in the same manner as They—in Their turn—form the psychic centres in the logoic vahan or vehicle. Each of the seven Fires, or Deva Lords, of a plane manifest through seven lesser devas, who form the central fire, and consciousness of the substance of a subplane. It is with their mutual interplay and work that we are now concerned, or with the study of matter as it is affected and built into form through the medium of Divine Thought or Will.

Mỗi một trong bảy Cung Ánh Sáng phân hóa thành bảy, tạo nên bốn mươi chín phương diện của bản chất thông linh của Thượng đế, như nó hiển lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, và mỗi một trong bảy Lửa biểu lộ thành bảy Lửa nhỏ hơn, tạo nên bốn mươi chín Lửa được H. P. B. nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (S. D., I, 567.) Bảy Đấng Thiên Nhân mỗi vị biểu lộ qua bảy Thực Thể nhỏ hơn, các Đấng này tạo thành những trung tâm thông linh trong thể của Các Ngài cũng theo cùng cách mà Chính Các Ngài—đến lượt mình—tạo thành những trung tâm thông linh trong vahan hay vận cụ của Thượng đế. Mỗi một trong bảy Lửa, hay các Chúa Tể thiên thần, của một cõi biểu lộ qua bảy thiên thần nhỏ hơn, những vị này tạo thành lửa trung tâm, và tâm thức của chất liệu của một cõi phụ. Điều hiện nay chúng ta quan tâm là sự tương tác và công việc hỗ tương của họ, hay là việc nghiên cứu vật chất khi nó bị tác động và được xây dựng thành hình tướng qua trung gian của Tư Tưởng hay Ý Chí thiêng liêng.

Of the higher Fires (the Lords of the four higher planes) I do not seek to deal, for it only profits us to [Page 632] study the construction of thought-forms in the three worlds through the medium of deva essences; these are vitalised and manipulated by the Builders, the Dhyan Chohans, the Heavenly Men through the force of Their Life, through Their knowledge of the logoic Will or purpose, and through the power of Their psychic nature. Thus They are occupied in building the logoic physical body, and in carrying out His plans in that body, in this way fulfilling the purpose for which He incarnated. Their work is infinitely greater than this, for it lies primarily on cosmic levels, but this is what concerns us, and all that we can, in any way grasp. Man in the three worlds of human endeavour works at two things:

Tôi không tìm cách bàn đến các Lửa cao hơn (các Đấng Chúa Tể của bốn cõi cao), vì điều ích lợi cho chúng ta chỉ là [Page 632] nghiên cứu việc kiến tạo các hình tư tưởng trong ba cõi giới qua trung gian của các tinh chất thiên thần; chúng được các Đấng Kiến Tạo, các Dhyan Chohan, các Đấng Thiên Nhân tiếp sinh lực và điều khiển bằng mãnh lực Sự sống của Các Ngài, bằng tri thức của Các Ngài về Ý Chí hay mục đích của Thượng đế, và bằng quyền năng của bản chất thông linh của Các Ngài. Vì vậy Các Ngài bận rộn xây dựng thể xác hồng trần của Thượng đế, và thực hiện các kế hoạch của Ngài trong thể đó, nhờ đó hoàn thành mục đích mà Ngài đã lâm phàm. Công việc của Các Ngài còn lớn lao hơn vô hạn điều này, vì nó chủ yếu nằm trên các cấp độ vũ trụ, nhưng đây là điều liên quan đến chúng ta, và là tất cả những gì chúng ta có thể nắm bắt được phần nào. Con người trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại làm hai việc:

First. The building of his body of manifestation, a threefold body.

Thứ nhất. Xây dựng thể biểu lộ của y, một thể tam phân.

Second. The construction of thought-forms, which he builds of mental matter and vitalises by desire, and which he holds within his aura, thus constructing a tiny system of his own.

Thứ hai. Kiến tạo các hình tư tưởng, mà y xây dựng bằng chất liệu trí tuệ và tiếp sinh lực bằng dục vọng, rồi giữ chúng trong hào quang của y, nhờ đó kiến tạo một hệ thống nhỏ bé của riêng mình.

Both man, and the Heavenly Men, work in deva substance; both co-operate with the devas; both manifest will, psychic quality and intelligent activity as they pursue their work but a difference lies, not only in degree, but in consciousness. Man works usually unconsciously. The Heavenly Men, on cosmic levels, work for the most part consciously. Herein lies a hint as to the stage of evolution of our Logos.

Cả con người lẫn các Đấng Thiên Nhân đều làm việc trong chất liệu thiên thần; cả hai đều hợp tác với các thiên thần; cả hai đều biểu lộ ý chí, phẩm tính thông linh và hoạt động thông tuệ khi theo đuổi công việc của mình, nhưng có một khác biệt không chỉ về mức độ mà còn về tâm thức. Con người thường làm việc một cách vô thức. Các Đấng Thiên Nhân, trên các cấp độ vũ trụ, phần lớn làm việc một cách hữu thức. Chính trong đây có một gợi ý về giai đoạn tiến hoá của Thượng đế của chúng ta.

This matter is of real difficulty, for the subject is abstruse and profound. We will now leave these basic ideas, and deal more specifically with the devas with whom we are immediately concerned, or with the three groups I have outlined—the Agnichaitans, the Agnisuryans, and the Agnishvattas. They are concerned primarily with the evolution of the dense body of the Logos, the liquid, gaseous and dense subplanes of the [Page 633] cosmic physical, or the three worlds of human endeavour; with the magnetic radiation of the Logos through His physical vehicle, and with the radiatory emanations of the particular Heavenly Man Who is expressing Himself through our planet. Finally they are concerned with the evolution of consciousness (207) in the three worlds, and particularly with the individualisation of the human unit of consciousness, and with the vitalisation of the centres in the body of the Heavenly Man with Whom we are peculiarly connected.

Vấn đề này thực sự khó khăn, vì chủ đề thì trừu tượng và sâu xa. Giờ đây chúng ta sẽ rời những ý tưởng căn bản này, và bàn cụ thể hơn về các thiên thần mà chúng ta trực tiếp quan tâm, hay ba nhóm mà tôi đã phác họa—các Agnichaitan, các Agnisuryan, và các Agnishvatta. Họ chủ yếu liên quan đến sự tiến hoá của thể đậm đặc của Thượng đế, các cõi phụ lỏng, khí và đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ, hay ba cõi giới của nỗ lực nhân loại; đến bức xạ từ tính của Thượng đế qua vận cụ hồng trần của Ngài, và đến các phát xạ bức xạ của Đấng Thiên Nhân đặc biệt đang biểu lộ Chính Ngài qua hành tinh của chúng ta. Sau cùng họ liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức (207) trong ba cõi giới, và đặc biệt là với sự biệt ngã hóa của đơn vị tâm thức nhân loại, và với việc tiếp sinh lực cho các trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân mà chúng ta có liên hệ đặc biệt.

(207) The Lunar Angels have to reach the plane of the Solar Angels.—S. D., I, 203.

(207) Các Thiên Thần Thái Âm phải đạt đến cõi của các Thái dương Thiên Thần.—S. D., I, 203.

They have to win immortality.—S. D., III, 518, 519.

Họ phải giành được sự bất tử.—S. D., III, 518, 519.

Self-consciousness is their goal.—S. D., I, 205; II, 622. (back)

Ngã thức là mục tiêu của họ.—S. D., I, 205; II, 622. (back)

The subject of our consideration now is the fire devas of the physical plane, those great building devas who are working out the purposes of the Logos in his dense, physical body. Let us get our ideas as clear as possible on this matter; in the following tabulation, the status of these devas will be apparent at a glance:

Chủ đề chúng ta đang xem xét bây giờ là các thiên thần lửa của cõi hồng trần, những thiên thần kiến tạo vĩ đại đang thực hiện các mục đích của Thượng đế trong thể xác hồng trần đậm đặc của ngài. Chúng ta hãy làm cho các ý tưởng của mình rõ ràng nhất có thể về vấn đề này; trong bảng liệt kê sau đây, địa vị của các thiên thần này sẽ hiện rõ chỉ trong một cái nhìn:

Systemic

Hệ thống

Name

Cosmic Plane

Plane

Nature

Ruler

Agnichaitan

7th subplane - cosmic physical

Physical

Densest concretion

Kshiti

Agnisuryan

6th subplane - cosmic physical

Astral

Liquid

Varuna

Agnishvatta

5th subplane - cosmic physical

Mental

Gaseous

Agni

The Agnichaitans. These are the devas who construct, and build in matter of the densest kind in connection with logoic manifestation. They function on the seventh subplane of the cosmic physical plane, and are the producers of the greatest concretion. In the planetary body of our planetary Logos they are the builders of the Earth, His densest form, and throughout the entire solar system they are the sum-total of that activity and vibration [Page 634] which demonstrates through what we call “solid substance.”

Các Agnichaitan. Đây là những thiên thần kiến tạo và xây dựng trong loại vật chất đậm đặc nhất liên quan đến sự biểu lộ của Thượng đế. Họ hoạt động trên cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ, và là những tác nhân tạo ra sự kết tụ lớn nhất. Trong thể hành tinh của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, họ là những đấng kiến tạo Trái Đất, hình tướng đậm đặc nhất của Ngài, và trong toàn thể hệ mặt trời họ là tổng thể của hoạt động và rung động [Page 634] biểu lộ qua điều mà chúng ta gọi là “chất liệu rắn.”

Therefore, it will be apparent that under the law they will have a peculiarly powerful effect on the lowest subplane of the systemic physical plane; hence their esoteric appellation of the “Agnichaitans of the inner or central heat.” They are the totality of the lowest vibration in the cosmic physical vehicle.

Do đó, hiển nhiên là dưới định luật, họ sẽ có một tác động đặc biệt mạnh mẽ trên cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần hệ thống; vì thế mới có danh xưng huyền bí của họ là “các Agnichaitan của nhiệt bên trong hay trung tâm.” Họ là tổng thể của rung động thấp nhất trong vận cụ hồng trần vũ trụ.

The Agnisuryans are the builders on the sixth subplane of the cosmic physical plane, our systemic astral plane. They represent, as I have before hinted, the sympathetic nervous system in the logoic physical body, just as their brothers of the seventh vibration represent the sumtotal of the circulatory or blood system. A hint to the student who is interested in the physiological key lies in the relationship between the two great groups of devas who build and construct the most objective portion of logoic manifestation, and the two groups of corpuscles which in their mutual interaction hold the body in health; there is an analogy also in the relationship between the devas of the astral plane, and the motor and sensory nerves of the physical body. I will not enlarge upon this angle of vision.

Các Agnisuryan là những đấng kiến tạo trên cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, tức cõi cảm dục hệ thống của chúng ta. Như tôi đã gợi ý trước đây, họ tượng trưng cho hệ thần kinh giao cảm trong thể xác hồng trần của Thượng đế, cũng như các huynh đệ của họ thuộc rung động thứ bảy tượng trưng cho tổng thể của hệ tuần hoàn hay hệ máu. Một gợi ý cho đạo sinh quan tâm đến chìa khóa sinh lý học nằm trong mối liên hệ giữa hai nhóm thiên thần lớn kiến tạo và xây dựng phần khách quan nhất của sự biểu lộ của Thượng đế, và hai nhóm huyết cầu mà trong sự tương tác hỗ tương của chúng giữ cho cơ thể được khỏe mạnh; cũng có một sự tương tự trong mối liên hệ giữa các thiên thần của cõi cảm dục và các dây thần kinh vận động cùng cảm giác của thể xác. Tôi sẽ không khai triển thêm góc nhìn này.

These devas have to do, in a very esoteric sense, with the nerve plexus in the:

Các thiên thần này, theo một ý nghĩa rất huyền bí, có liên quan đến các đám rối thần kinh trong:

a. Solar system. (Physical Sun)

a. Hệ mặt trời. (Mặt Trời hồng trần)

b. Planetary scheme. (Dense Planet)

b. Hệ hành tinh. (Hành tinh đậm đặc)

c. Human physical body. (Dense Body)

c. Thể xác hồng trần của con người. (Thể đậm đặc)

and are therefore a powerful factor in the eventual vitalisation of the centres in man. The etheric centres, or the focal points of force of a Heavenly Man are on the fourth cosmic ether, the buddhic plane. The astral plane is closely allied to the buddhic, and as the etheric centres of our Heavenly Man, for instance, come into full activity, the force is transmitted through the astral correspondence [Page 635] to the fourth physical ether, in which the centres of man exist.

và vì vậy là một yếu tố mạnh mẽ trong việc tiếp sinh lực sau cùng cho các trung tâm trong con người. Các trung tâm dĩ thái, hay các tiêu điểm mãnh lực của một Đấng Thiên Nhân, nằm trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề. Cõi cảm dục liên hệ chặt chẽ với cõi Bồ đề, và chẳng hạn khi các trung tâm dĩ thái của Đấng Thiên Nhân của chúng ta đi vào hoạt động đầy đủ, mãnh lực được truyền qua sự tương ứng cảm dục [Page 635] đến dĩ thái hồng trần thứ tư, nơi các trung tâm của con người hiện hữu.

The Agnishvattas are the builders on the fifth or gaseous subplane of the cosmic physical, and—from the human standpoint—are the most profoundly important, for they are the builders of the body of consciousness per se. From the psychic standpoint of occult physiology, they have a close connection with the physical brain, the seat or empire of the Thinker, and as at this stage all that we can know must be viewed kama-manasically, it will be apparent that between the sympathetic nervous system and the brain is such a close interaction as to make one organised whole. This microcosmic correspondence is of interest, but in studying these groups of devas at present we will view them principally in their work as systemic and planetary builders, leaving the student to trace out for himself the human analogy. He will learn thereby. Having indicated certain lines of thought, we will now take up these groups one at a time and consider them.

Các Agnishvatta là những đấng kiến tạo trên cõi phụ thứ năm hay cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ, và—xét từ quan điểm con người—là quan trọng sâu xa nhất, vì họ là những đấng kiến tạo của thể tâm thức chính nó. Từ quan điểm thông linh của sinh lý học huyền bí, họ có liên hệ mật thiết với bộ não hồng trần, chỗ ngự hay đế quốc của Đấng Tư Tưởng, và vì ở giai đoạn này mọi điều chúng ta có thể biết đều phải được nhìn theo cách trí-cảm, nên hiển nhiên là giữa hệ thần kinh giao cảm và bộ não có một sự tương tác mật thiết đến mức tạo thành một toàn thể có tổ chức. Sự tương ứng vi mô này thật đáng quan tâm, nhưng khi nghiên cứu các nhóm thiên thần này hiện nay chúng ta sẽ chủ yếu xem xét họ trong công việc của họ như những đấng kiến tạo hệ thống và hành tinh, để đạo sinh tự mình truy ra sự tương tự nơi con người. Nhờ đó y sẽ học được. Sau khi đã chỉ ra một số tuyến tư tưởng, giờ đây chúng ta sẽ lần lượt xét từng nhóm này và khảo sát họ.

S6S7

The Agnichaitans—Physical Plane Devas.

Các Agnichaitan—Thiên thần cõi hồng trần.

These devas are the sumtotal of physical plane substance. This plane is, as we know, divided into two parts:

Các thiên thần này là tổng thể của chất liệu cõi hồng trần. Cõi này, như chúng ta biết, được chia thành hai phần:

The four ethers, four subplanes.

Bốn dĩ thái, bốn cõi phụ.

The demonstrably concrete or dense three subplanes.

Ba cõi phụ cụ thể hay đậm đặc có thể chứng minh được.

We have here a subdivision of the seventh subplane of the cosmic physical plane making the lowest manifestation one that is divided into forty-nine subplanes or states of activity. For purposes of active work, the devas of the system are divided into forty-nine groups—the forty-nine fires. The Agnichaitans in turn are also divided into forty-nine groups, thus reflecting the whole. [Page 636]

Ở đây chúng ta có một sự phân chia của cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ, khiến cho biểu lộ thấp nhất trở thành một biểu lộ được chia thành bốn mươi chín cõi phụ hay trạng thái hoạt động. Vì mục đích công việc tích cực, các thiên thần của hệ thống được chia thành bốn mươi chín nhóm—bốn mươi chín lửa. Đến lượt mình, các Agnichaitan cũng được chia thành bốn mươi chín nhóm, nhờ đó phản chiếu toàn thể. [Page 636]

1. The Raja-Lord. Kshiti. The life of the physical plane.

1. Raja-Lord. Kshiti. Sự sống của cõi hồng trần.

2. Three groups of Agnichaitans concerned with:

2. Ba nhóm Agnichaitan liên quan đến:

A. The force or energy of physical substance. That electrical aspect which produces activity.

A. Mãnh lực hay năng lượng của chất liệu hồng trần. Phương diện điện tạo ra hoạt động đó.

B. The construction of forms. They produce the union of negative and positive substance, and thus bring into being all that can be seen, and touched in the exoteric and ordinary connotation.

B. Việc kiến tạo các hình tướng. Họ tạo ra sự kết hợp của chất liệu âm và dương, và nhờ đó làm phát sinh mọi điều có thể được nhìn thấy và chạm đến theo nghĩa ngoại môn và thông thường.

C. The internal heat of substance which nourishes and causes reproduction. They form the purely mother aspect.

C. Nhiệt bên trong của chất liệu, thứ nuôi dưỡng và gây ra sự sinh sản. Họ tạo thành phương diện mẫu thân thuần túy.

These three groups are subdivided again into seven groups which form the matter of each subplane, viewing that matter as the body of manifestation of one of the seven devas through whom the Raja-Lord of the plane is manifesting.

Ba nhóm này lại được chia nhỏ thành bảy nhóm, tạo thành vật chất của mỗi cõi phụ, nếu xem vật chất đó như thể biểu lộ của một trong bảy thiên thần mà qua đó Raja-Lord của cõi đang biểu lộ.

These seven groups are again divided into seven, making forty-nine.

Bảy nhóm này lại được chia thành bảy, thành ra bốn mươi chín.

The three groups function as follows:

Ba nhóm hoạt động như sau:

Group A. on the first subplane. They are the sumtotal of the atomic matter of the physical plane.

Nhóm A. trên cõi phụ thứ nhất. Họ là tổng thể của vật chất nguyên tử của cõi hồng trần.

Group B. on the second, third and fourth etheric subplanes. They are the substance of those planes, the transmitters of prana, through which prana flows to the most concrete aspects of the logoic dense vahan, or vehicle.

Nhóm B. trên các cõi phụ dĩ thái thứ hai, thứ ba và thứ tư. Họ là chất liệu của các cõi đó, là những tác nhân truyền prana, qua đó prana chảy đến các phương diện cụ thể nhất của vahan hay vận cụ đậm đặc của Thượng đế.

Group C. the lowest three subplanes; they are the devas who are the essences of all that is tangible, visible and objective.

Nhóm C. ba cõi phụ thấp nhất; họ là những thiên thần là tinh chất của mọi điều hữu hình, khả kiến và khách quan.

A very real distinction must be made by students between the centres and the remainder of the body, as they investigate the construction of the body of the solar Logos or of a planetary Logos.

Đạo sinh phải tạo ra một sự phân biệt rất thực giữa các trung tâm và phần còn lại của thể, khi nghiên cứu việc kiến tạo thể của Thái dương Thượng đế hay của một Hành Tinh Thượng đế.

[Page 637] The centres are allied or connected with consciousness, and are composed of self-conscious units—the human Monads. The remainder of the body is composed of deva substance, yet the two together form a unity. The deva units therefore far outnumber the human, and deva substance is also feminine and negative, the human Hierarchy being masculine. Through the positive activity of the centres, the negative deva substance is influenced, built and energized. This is true of a solar Logos, a planetary Logos and a human being.

[Page 637] Các trung tâm liên kết hay gắn với tâm thức, và được cấu thành bởi các đơn vị hữu thức—các Chân thần nhân loại. Phần còn lại của thể được cấu thành bởi chất liệu thiên thần, tuy nhiên cả hai cùng nhau tạo thành một hợp nhất. Vì vậy các đơn vị thiên thần đông hơn rất nhiều so với các đơn vị nhân loại, và chất liệu thiên thần cũng là nữ tính và âm, còn Huyền Giai nhân loại là nam tính. Qua hoạt động dương của các trung tâm, chất liệu thiên thần âm bị tác động, được xây dựng và được tiếp năng lượng. Điều này đúng với một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế và một con người.

Three types of force, therefore, play upon or through these devas:

Vì vậy, ba loại mãnh lực tác động lên hay xuyên qua các thiên thần này:

a. That energizing the devas of the first subplane, the atomic. This emanates directly from the first aspect of Brahma, or Agni, considering Him as a self-conscious Identity, the third Person of the logoic Trinity, and therefore Spirit, Soul and Body Himself in His separated essential nature.

a. Mãnh lực tiếp năng lượng cho các thiên thần của cõi phụ thứ nhất, tức cõi nguyên tử. Mãnh lực này phát ra trực tiếp từ phương diện thứ nhất của Brahma, hay Agni, khi xem Ngài như một Bản Sắc hữu thức, Ngôi thứ ba của Tam Vị Thượng đế, và do đó chính Ngài là Tinh thần, Linh hồn và Thể trong bản chất cốt yếu biệt lập của Ngài.

b. That energizing the devas of construction, or the form building groups; this comes from the second aspect of Brahma, and is prana, issuing from the physical Sun, and working under the Law of Attraction.

b. Mãnh lực tiếp năng lượng cho các thiên thần kiến tạo, hay các nhóm xây dựng hình tướng; mãnh lực này đến từ phương diện thứ hai của Brahma, và là prana, phát ra từ Mặt Trời hồng trần, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn.

c. That energizing the devas of the lowest three orders, emanating from Brahma in His third aspect. Thus in the dual force, or the aspects of matter itself, interacting the one upon the other, densest forms of all are produced. Yet these three function as one.

c. Mãnh lực tiếp năng lượng cho các thiên thần của ba cấp thấp nhất, phát ra từ Brahma trong phương diện thứ ba của Ngài. Như vậy trong mãnh lực kép, hay các phương diện của chính vật chất, tương tác lẫn nhau, các hình tướng đậm đặc nhất được tạo ra. Tuy nhiên ba nhóm này hoạt động như một.

Group C. Agnichaitans. In considering these groups of Agnichaitans, we must remember that we are dealing with that manifestation of the Logos with which exoteric science is dealing, and that as regards Group C, science is already making fair progress in the accumulation of knowledge; it remains yet for science to [Page 638] acknowledge the “entified” nature of substance, (208, 209) and thus account for the life that energizes the substance of the three lower subplanes.

Nhóm C. Các Agnichaitan. Khi xem xét các nhóm Agnichaitan này, chúng ta phải nhớ rằng mình đang bàn đến biểu lộ của Thượng đế mà khoa học ngoại môn đang nghiên cứu, và xét về Nhóm C, khoa học đã đạt được tiến bộ khá tốt trong việc tích lũy tri thức; điều còn lại là khoa học phải [Page 638] thừa nhận bản chất “thực thể hóa” của chất liệu, (208, 209) và nhờ đó giải thích sự sống tiếp năng lượng cho chất liệu của ba cõi phụ thấp.

(208) The “entified” nature of all substance is technically known as Hylozoism. H. P. B. says: “Hylozoism, when philosophically understood, is the highest aspect of Pantheism. It is the only possible escape from idiotic Atheism based on lethal materiality, and the still more idiotic anthropomorphic conceptions of the Monotheists; between which it stands on its own entirely neutral ground. Hylozoism demands absolute Divine Thought, which would pervade the numberless active creating Forces, or “Creators,” which Entities are moved by, and have their being in, from and through that Divine Thought.... Such active “Creators” are known to exist and are believed in because perceived and sensed by the Inner Man in the Occultist.”—S. D., II, 167, 168. (back)

(208) Bản chất “thực thể hóa” của mọi chất liệu về mặt kỹ thuật được gọi là Hylozoism. H. P. B. nói: “Hylozoism, khi được hiểu theo triết học, là phương diện cao nhất của Phiếm thần luận. Đó là lối thoát khả hữu duy nhất khỏi thuyết Vô thần ngu xuẩn dựa trên tính vật chất chết chóc, và khỏi những quan niệm nhân hình còn ngu xuẩn hơn của những người Nhất thần luận; giữa hai điều đó, nó đứng trên nền tảng hoàn toàn trung lập của riêng nó. Hylozoism đòi hỏi Tư Tưởng thiêng liêng tuyệt đối, tư tưởng này sẽ thấm nhuần vô số Mãnh Lực sáng tạo tích cực, hay các “Đấng Sáng Tạo,” những Thực Thể này được vận động bởi, và có sự hiện hữu của mình trong, từ và qua Tư Tưởng thiêng liêng đó....Những “Đấng Sáng Tạo” tích cực như thế được biết là hiện hữu và được tin là có thật vì được Nội Nhân nơi nhà huyền bí học tri giác và cảm nhận.”—S. D., II, 167, 168. (back)

FOOTNOTE 9:

CHÚ THÍCH 9:

An atom is an entified abstraction.—S. D., I, 559-560.

Một nguyên tử là một trừu tượng được thể hoá.—S. D., I, 559-560.

a. The informing entity of the system is the Logos.´

a. Thực thể thấm nhuần của hệ thống là Logos.´

b. The informing entity of a plane is its raja-Lord.

b. Thực thể thấm nhuần của một cõi là vị Chúa Tể raja của nó.

Such as Indra, Agni, Varuna, Kshiti.

Chẳng hạn như Indra, Agni, Varuna, Kshiti.

c. The informing entity of a planet is its planetary Logos.

c. Thực thể thấm nhuần của một hành tinh là Hành Tinh Thượng đế của nó.

d. The informing entity in the Microcosm is a Dhyan Chohan.

d. Thực thể thấm nhuần trong Tiểu thiên địa là một Dhyan Chohan.

e. The informing entity in the causal body is the Divine Thinker.

e. Thực thể thấm nhuần trong thể nguyên nhân là Đấng Tư Tưởng thiêng liêng.

f. The informing entity in a physical atom is an elemental life.

f. Thực thể thấm nhuần trong một nguyên tử hồng trần là một sự sống hành khí.

Fire is in all things.—S. D., I, 146; II, 258.

Lửa ở trong mọi sự vật.—S. D., I, 146; II, 258.

a. The informing entity is Fire.—S. D., I, 145, 146.

a. Thực thể thấm nhuần là Lửa.—S. D., I, 145, 146.

b. The matter of the form is permeated with fire.—S. D., I, 112.

b. Vật chất của hình tướng được lửa thấm khắp.—S. D., I, 112.

c. The developing mind is cosmic fire.—S. D., I, 114.

c. Trí tuệ đang phát triển là lửa vũ trụ.—S. D., I, 114.

This recognition by science that all forms are built of intelligent lives will come about when the science of magic begins again to come to the fore, and when the laws of being are better understood. Magic concerns itself with the manipulation of the lesser lives by a greater life; when the scientist begins to work with the consciousness that animates substance (atomic or electronic), and when he brings under his conscious control the forms built of this substance, he will gradually become cognizant of the fact that all entities of all grades and of varying constitutions go to the construction of that which is seen. This will not be until science has definitely admitted the existence of etheric matter as understood by the occultist, and until it has developed the hypothesis that this ether is in differing vibrations. When the etheric counterpart of all that exists is allocated to its rightful place, and known to be of more importance in the scale of being than the dense vehicle, being essentially the body of the [Page 639] life, or vitality, then the role of the scientist and the occultist will merge.

Sự thừa nhận này của khoa học rằng mọi hình tướng đều được xây dựng bằng những sự sống thông tuệ sẽ đến khi khoa học huyền thuật lại bắt đầu nổi lên, và khi các định luật của hiện hữu được thấu hiểu tốt hơn. Huyền thuật liên quan đến việc điều khiển các sự sống nhỏ hơn bởi một sự sống lớn hơn; khi nhà khoa học bắt đầu làm việc với tâm thức làm sinh động chất liệu (nguyên tử hay điện tử), và khi ông đặt dưới sự kiểm soát hữu thức của mình các hình tướng được xây dựng bằng chất liệu này, ông sẽ dần dần nhận biết được sự kiện rằng mọi thực thể thuộc mọi cấp bậc và có các cấu tạo khác nhau đều góp phần vào việc kiến tạo cái được nhìn thấy. Điều này sẽ chưa xảy ra cho đến khi khoa học dứt khoát thừa nhận sự hiện hữu của vật chất dĩ thái như nhà huyền bí học hiểu, và cho đến khi nó phát triển giả thuyết rằng dĩ thái này có những rung động khác nhau. Khi đối phần dĩ thái của mọi cái hiện hữu được đặt vào đúng vị trí của nó, và được biết là quan trọng hơn trong thang bậc hiện hữu so với vận cụ đậm đặc, vì về bản chất nó là thể của [Page 639] sự sống, hay sinh lực, thì vai trò của nhà khoa học và nhà huyền bí học sẽ hòa nhập.

H. P. B. has said (S.D., II. 621) that the dense physical is not a principle, and this point is frequently overlooked in connection with man and the Logos. Its importance cannot be too strongly realised for it has the effect of transferring the point of centralisation, or of polarisation in the case of man into his etheric body, composed of matter of the four higher subplanes of the systemic physical plane, and in the case of the Logos, of the four higher subplanes of the cosmic physical plane. The point is one of a very real complexity, for it involves the realisation that, from the standpoint of the occultist, the lowest vibration with which he may concern himself is that of the systemic etheric in its four lesser allied vibrations; similarly macrocosmically the lowest logoic vibration with which the greater Adepts are concerned is the cosmic etheric. The three lowest systemic and cosmic vibrations are the result of:

H. P. B. đã nói (S.D., II. 621) rằng cõi hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí, và điểm này thường bị bỏ qua khi liên hệ với con người và Thượng đế. Tầm quan trọng của nó không thể được chứng nghiệm quá mạnh, vì nó có tác dụng chuyển điểm tập trung, hay điểm phân cực trong trường hợp con người, vào thể dĩ thái của y, được cấu thành bằng vật chất của bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần hệ thống, và trong trường hợp của Thượng đế, vào bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ. Điểm này thực sự rất phức tạp, vì nó bao hàm sự chứng nghiệm rằng, từ quan điểm của nhà huyền bí học, rung động thấp nhất mà ông có thể quan tâm là rung động của cõi dĩ thái hệ thống trong bốn rung động liên hệ thấp hơn của nó; tương tự như vậy về mặt đại thiên địa, rung động thấp nhất của Thượng đế mà các chân sư cao cả hơn quan tâm là cõi dĩ thái vũ trụ. Ba rung động thấp nhất của hệ thống và của vũ trụ là kết quả của:

Reflex action on the part of negative substance for the lower three are negative to the higher four.

Phản ứng phản xạ từ phía chất liệu âm vì ba cõi thấp là âm đối với bốn cõi cao hơn.

Synchronous vibration, inherent in negative substance, the residue of an earlier system, and embodying therefore past karma for the Logos and for man.

Rung động đồng bộ, vốn có trong chất liệu âm, là tàn dư của một hệ thống trước, và do đó hiện thân cho nghiệp quả quá khứ của Thượng đế và của con người.

Vibrations that are gradually being superseded by the imposition of a higher note; therefore for both man and the Logos, they occultly form the “body of death.”

Những rung động đang dần bị thay thế bởi sự áp đặt của một âm điệu cao hơn; vì vậy đối với cả con người lẫn Thượng đế, về mặt huyền bí chúng tạo thành “thể chết.”

This brings us to the point which we are seeking to make anent this third group of the lowest devas. They are very destructive where man is concerned, for they embody the final and therefore powerful vibration of the past system, the conscious activity of dense matter. Hence there is consequently a profound truth in the [Page 640] statement that man is at the “mercy of the elements.” Man can physically be burned and destroyed by fire; he is helpless before volcanic action, and cannot protect himself from the ravages of fire, unless in the initial stages of such deva endeavour. The occult importance of the war man wages on the fire devas for instance is very real in connection with the fire department in any city. The time lies far ahead as yet, but it will surely come, when the personnel of these departments will be chosen for their ability to control the agnichaitans when manifesting destructively, and their methods will no longer be that of water (or the calling in of the water devas to neutralise the fire devas), but that of incantation, and a knowledge of the sounds that will swing into action forces which will control the fiery destructive elements.

Điều này đưa chúng ta đến điểm mà chúng ta đang tìm cách nêu ra liên quan đến nhóm thứ ba này của các thiên thần thấp nhất. Họ rất có tính hủy diệt đối với con người, vì họ hiện thân cho rung động cuối cùng và do đó mạnh mẽ của hệ thống quá khứ, tức hoạt động hữu thức của vật chất đậm đặc. Vì thế có một chân lý sâu xa trong [Page 640] lời phát biểu rằng con người ở dưới “sự chi phối của các nguyên tố.” Con người có thể bị lửa thiêu đốt và hủy diệt về mặt thể xác; y bất lực trước hoạt động núi lửa, và không thể tự bảo vệ mình khỏi sự tàn phá của lửa, trừ trong những giai đoạn đầu của nỗ lực thiên thần như thế. Tầm quan trọng huyền bí của cuộc chiến mà con người tiến hành chống lại các thiên thần lửa, chẳng hạn, là rất thực trong mối liên hệ với sở cứu hỏa ở bất kỳ thành phố nào. Thời điểm đó còn ở rất xa, nhưng chắc chắn sẽ đến, khi nhân sự của các sở này sẽ được chọn vì khả năng kiểm soát các agnichaitan khi chúng biểu lộ một cách hủy diệt, và phương pháp của họ sẽ không còn là dùng nước (hay kêu gọi các thiên thần nước để hóa giải các thiên thần lửa), mà là dùng thần chú, và tri thức về các âm thanh sẽ đưa vào hoạt động những mãnh lực có thể kiểm soát các nguyên tố lửa hủy diệt.

The third group of these devas is very definitely connected with the control of the Manu’s department, and of the great devas associated with that department on this planet. Through their activity during certain cycles the entire surface of the Earth is changed through the medium of volcanic action; continents are raised and submerged; volcanoes are active or quiescent, and thus the world is purified by fire. In their own department these Agnichaitans are kept busy building the mineral forms through the agency of fire; they are the alchemists of the lower regions, and through contact with them, and through the knowledge of “the words” by which they are controlled, the future scientific alchemists (I use this expression in contradistinction to the idealistic alchemists of the past) will work with minerals and with the lives embodied in all mineral forms.

Nhóm thứ ba của các thiên thần này có liên hệ rất rõ rệt với sự kiểm soát của bộ phận của Đức Manu, và của các thiên thần vĩ đại liên kết với bộ phận đó trên hành tinh này. Qua hoạt động của họ trong một số chu kỳ nhất định, toàn bộ bề mặt Trái Đất được thay đổi qua trung gian của hoạt động núi lửa; các lục địa được nâng lên và chìm xuống; các núi lửa hoạt động hay yên lặng, và nhờ đó thế giới được thanh lọc bằng lửa. Trong bộ phận riêng của mình, các Agnichaitan này luôn bận rộn xây dựng các hình tướng khoáng vật qua tác nhân của lửa; họ là các nhà luyện kim của những vùng thấp, và qua sự tiếp xúc với họ, cùng qua tri thức về “các lời” mà nhờ đó họ được kiểm soát, các nhà luyện kim khoa học tương lai (tôi dùng cách diễn đạt này để phân biệt với các nhà luyện kim duy tâm của quá khứ) sẽ làm việc với khoáng vật và với các sự sống hiện thân trong mọi hình tướng khoáng vật.

The secret of the transmutation of the baser metals into gold will be revealed when world conditions are such that gold is no longer the standard and hence the free manufacture of gold will not lead to disaster, and [Page 641] when scientists work with the life aspect, or with positive electrical life, and not with the substance or form aspect.

Bí mật của sự chuyển hoá các kim loại hèn thành vàng sẽ được tiết lộ khi các điều kiện thế giới trở nên sao cho vàng không còn là tiêu chuẩn nữa và vì thế việc chế tạo vàng tự do sẽ không dẫn đến tai họa, và [Page 641] khi các nhà khoa học làm việc với phương diện sự sống hay với sự sống điện dương, chứ không phải với phương diện chất liệu hay hình tướng.

We have seen that the work of the lowest group of Agnichaitans is to build continents by fire, to purify by fire during alternate cycles, and to construct the metals and the minerals. It is also concerned with the tending of the fires of the hearth, or those fires which warm, cheer and produce livable conditions in a planet, and incidentally in a home. This is of very vital import, for it means that they are connected with the central basic fires in the bowels of the Earth, with the central basic fire that nourishes and warms the physical forms of all the kingdoms of nature, and consequently with the kundalini fire at the base of the spine in individual man.

Chúng ta đã thấy rằng công việc của nhóm Agnichaitan thấp nhất là xây dựng các lục địa bằng lửa, thanh lọc bằng lửa trong các chu kỳ xen kẽ, và kiến tạo các kim loại cùng khoáng vật. Nó cũng liên quan đến việc chăm nom các ngọn lửa nơi lò sưởi, hay những ngọn lửa sưởi ấm, làm vui tươi và tạo ra các điều kiện có thể sinh sống được trên một hành tinh, và ngẫu nhiên là trong một ngôi nhà. Điều này có tầm quan trọng rất thiết yếu, vì nó có nghĩa là họ liên kết với các ngọn lửa căn bản trung tâm trong lòng Trái Đất, với ngọn lửa căn bản trung tâm nuôi dưỡng và sưởi ấm các hình tướng hồng trần của mọi giới trong thiên nhiên, và do đó với lửa kundalini ở đáy cột sống nơi từng con người.

It is not advisable for us further to enlarge upon their functions. It should be noted that in connection with the matter aspect there is less to be said than on consciousness, and on the hylozoistic aspect of manifestation. The reason lies in the fact that exoteric science is slowly, yet steadily, finding out the nature of phenomena, and discovering for itself the character of electrical manifestation. In their slowness of discovery lies safety. It is not wise nor right yet for the true nature of these different forces and powers to be fully known; therefore, it is not possible for us to do more than indicate certain broad general lines. In due course of time, as the human family becomes centred in the higher, and not in the lower nature, and as the force from the higher planes can more easily impose itself on the lower, the facts concerning these Lives and Builders, their methods of work, and the laws of their being will be known. Knowledge at this time would be productive of two results. It would first of all bring the human family into the power (as yet blind and destructive) of [Page 642] certain elementals, who are of a nature analogous to that of the physical body. Hence destruction of the form would ensue, or paralysis and insanity on a large scale would eventuate. Secondly, it would put power into the hands of certain of the Brothers of the Left Hand Path (211) and of a number of unconscious magicians (of whom there are quite a number) who would use it only for selfish, evil and material ends. Hence no more can be said anent dense physical substance and its embodiers.

Chúng ta không nên khai triển thêm về các chức năng của họ. Cần lưu ý rằng liên quan đến phương diện vật chất thì có ít điều để nói hơn là về tâm thức, và về phương diện hylozoistic của sự biểu lộ. Lý do nằm ở chỗ khoa học ngoại môn đang chậm rãi nhưng vững chắc khám phá ra bản chất của các hiện tượng, và tự mình phát hiện đặc tính của sự biểu lộ điện. Trong sự chậm chạp khám phá của nó có sự an toàn. Hiện nay việc bản chất chân thực của các mãnh lực và quyền năng khác nhau này được biết đầy đủ vẫn chưa khôn ngoan cũng chưa đúng đắn; vì vậy, chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một số đường nét tổng quát rộng lớn. Đến đúng thời, khi gia đình nhân loại trở nên tập trung trong bản chất cao hơn chứ không phải bản chất thấp hơn, và khi mãnh lực từ các cõi cao hơn có thể dễ dàng áp đặt chính nó lên cõi thấp hơn hơn, thì các sự kiện liên quan đến các Sự Sống và các Đấng Kiến Tạo này, các phương pháp làm việc của họ, và các định luật hiện hữu của họ sẽ được biết đến. Tri thức vào lúc này sẽ tạo ra hai kết quả. Trước hết, nó sẽ đưa gia đình nhân loại vào quyền lực (hiện còn mù quáng và hủy diệt) của [Page 642] một số hành khí, có bản chất tương tự với bản chất của thể xác. Vì thế sự hủy diệt hình tướng sẽ xảy ra, hoặc sự tê liệt và điên loạn trên quy mô lớn sẽ phát sinh. Thứ hai, nó sẽ đặt quyền năng vào tay một số huynh đệ của tả đạo (211) và một số nhà huyền thuật vô thức (mà có khá nhiều) là những kẻ sẽ chỉ dùng nó cho các mục đích ích kỷ, xấu ác và vật chất. Vì vậy không thể nói thêm gì nữa liên quan đến chất liệu hồng trần đậm đặc và các thực thể hiện thân của nó.

(211) The left-hand Path is that followed by the Black Magician, and by the Brothers of the Shadows. It originates in the use of the forces of nature for selfish ends; it is characterised by intense selfishness and separativeness, and ends in Avitchi, the 8th sphere, the home of lost souls, or those shells of the lower man which have become separated from their egoic or individual life principle. (back)

(211) Con Đường tả đạo là con đường được nhà hắc thuật và các Huynh Đệ của Bóng Tối đi theo. Nó bắt nguồn từ việc sử dụng các mãnh lực của thiên nhiên cho những mục đích ích kỷ; nó được đặc trưng bởi tính ích kỷ mãnh liệt và tính phân ly, và kết thúc trong Avitchi, khối cầu thứ 8, nơi cư ngụ của các linh hồn lạc mất, hay những vỏ của phàm nhân đã bị tách rời khỏi nguyên khí sự sống chân ngã hay cá nhân của chúng. (back)

The Agnichaitans of the third group are as yet a menace to man, and are only handled in group formation, and on a large scale by the head of the Manu’s department through their own rulers-certain devas of a development equal to that of the sixth Initiation.

Các Agnichaitan của nhóm thứ ba hiện vẫn là một mối đe dọa đối với con người, và cho đến nay chỉ được xử lý trong đội hình nhóm, và trên quy mô lớn bởi vị đứng đầu bộ phận của Đức Manu thông qua các vị cai quản riêng của họ—một số thiên thần có mức phát triển ngang với lần điểm đạo thứ sáu.

The occult Hierarchy of our planet is primarily concerned with the development of self-consciousness in man, and with the intelligent interpretation of the happenings of Nature; it is concerned with a wise co-operation with the building Forces of nature; and the object of its main endeavour is the vitalisation and activity of the centres in the Heavenly Man of our planet, and in the individual units of the human family.

Thánh Đoàn huyền bí của hành tinh chúng ta chủ yếu quan tâm đến sự phát triển ngã thức nơi con người, và đến sự diễn giải thông tuệ các biến cố của Thiên Nhiên; Thánh Đoàn quan tâm đến sự hợp tác khôn ngoan với các Mãnh Lực kiến tạo của thiên nhiên; và mục tiêu của nỗ lực chính yếu của Thánh Đoàn là việc tiếp sinh lực và hoạt động của các trung tâm trong Đấng Thiên Nhân của hành tinh chúng ta, và trong các đơn vị cá thể của gia đình nhân loại.

The occult Hierarchy is a great force centre, the heart, head, and throat of the Heavenly Man as these three centres function in a triple co-ordination. Paralleling their activities along the line of consciousness (and primarily consciousness or intelligence as it demonstrates through the third and fourth kingdoms) is to be found a great hierarchy of devas who concern themselves with the development of that portion of the body of a Heavenly Man which is not included in the active centres. Perhaps some idea of what I seek to convey [Page 643] may be gathered from an illustration. The occult Hierarchy is concerned with the unfoldment of the nine-petalled Lotus in the Heavenly Man, and in man (the former through reflex action between the cosmic physical and the cosmic mental), while the great deva Hierarchy is concerned with the permanent atoms, with the egoic body, and with the development of the spirillae. Thus the function of the Agnichaitans of the lowest furnaces—macrocosmically and microcosmically—will be seen and comprehended by the wise student.

Thánh Đoàn huyền bí là một trung tâm mãnh lực vĩ đại, là tim, đầu và cổ họng của Đấng Thiên Nhân khi ba trung tâm này hoạt động trong một sự phối hợp tam phân. Song song với các hoạt động của chúng theo tuyến tâm thức (và chủ yếu là tâm thức hay trí tuệ như nó biểu lộ qua giới thứ ba và giới thứ tư) là một huyền giai thiên thần vĩ đại quan tâm đến sự phát triển của phần thể của một Đấng Thiên Nhân không được bao gồm trong các trung tâm hoạt động. Có lẽ một vài ý niệm về điều tôi tìm cách truyền đạt [Page 643] có thể được nắm bắt qua một minh họa. Thánh Đoàn huyền bí quan tâm đến sự khai mở của Hoa sen chín cánh trong Đấng Thiên Nhân, và trong con người (điều trước qua phản ứng phản xạ giữa cõi hồng trần vũ trụ và cõi trí vũ trụ), trong khi huyền giai thiên thần vĩ đại quan tâm đến các nguyên tử trường tồn, đến thể chân ngã, và đến sự phát triển của các loa tuyến. Nhờ đó chức năng của các Agnichaitan của những lò lửa thấp nhất—về mặt đại thiên địa và tiểu thiên địa—sẽ được đạo sinh minh triết nhìn thấy và thấu hiểu.

Group B. Agnichaitans. In taking up the matter of the second group of Agnichaitans—Group B—we are dealing with that important group of devas who are designated in some works as the “devas of the shadows.” Their function is primarily a fourfold one, and they are the basis of motion or of activity on all planes, which activity is produced by the interplay of the negative and positive aspects of Brahma, the manifested God.

Nhóm B. Các Agnichaitan. Khi đề cập đến vấn đề của nhóm Agnichaitan thứ hai—Nhóm B—chúng ta đang bàn đến nhóm thiên thần quan trọng được gọi trong một số tác phẩm là “các thiên thần của bóng tối.” Chức năng của họ chủ yếu có bốn mặt, và họ là nền tảng của chuyển động hay hoạt động trên mọi cõi, hoạt động này được tạo ra bởi sự tương tác giữa các phương diện âm và dương của Brahma, Thượng đế biểu lộ.

First, they are the builders of the etheric bodies of all sentient existences, and primarily of all the etheric bodies of men.

Thứ nhất, họ là những đấng kiến tạo các thể dĩ thái của mọi hiện hữu có tri giác, và chủ yếu là của mọi thể dĩ thái của con người.

Second, they are the transmitters of prana.

Thứ hai, họ là những tác nhân truyền prana.

Third, they perform a very definite function in the evolutionary process of linking up the four kingdoms of nature, being essentially the transmuters and transmitters of the lower into the higher. They build between each kingdom—mineral, vegetable, animal and human—that which in each case corresponds to the antaskarana, or the bridge linking higher and lower manas, and which therefore is the channel for the transmission of the life from out of the lower human kingdom into the higher spiritual one. It will be found that between each of the different stages of consciousness (from the subconscious through the self-conscious to the superconscious) there is a period of linking, of building, and of bridging, and this is carried out by the agency of [Page 644] certain groups of devas on all the planes. These three groups on the physical plane find their counterparts and their work paralleled on higher levels. The point to be remembered is that this work of bridging from one stage or from one kingdom to another has to be performed under the following conditions:

Thứ ba, họ thực hiện một chức năng rất xác định trong tiến trình tiến hoá là nối kết bốn giới trong thiên nhiên, vì về bản chất họ là những tác nhân chuyển hoá và truyền dẫn từ thấp lên cao. Họ xây dựng giữa mỗi giới—kim thạch, thực vật, động vật và nhân loại—điều mà trong mỗi trường hợp tương ứng với antaskarana, hay cây cầu nối manas cao và thấp, và do đó là kênh để truyền sự sống từ giới nhân loại thấp lên giới tinh thần cao hơn. Sẽ thấy rằng giữa mỗi giai đoạn tâm thức khác nhau (từ tiềm thức qua ngã thức đến siêu thức) có một thời kỳ nối kết, xây dựng và bắt cầu, và điều này được thực hiện nhờ tác nhân của [Page 644] một số nhóm thiên thần trên mọi cõi. Ba nhóm này trên cõi hồng trần có các đối phần của chúng và công việc của chúng được song hành trên các cấp độ cao hơn. Điểm cần ghi nhớ là công việc bắt cầu từ giai đoạn này sang giai đoạn khác hay từ giới này sang giới khác phải được thực hiện dưới các điều kiện sau:

a. As the result of an impulse emanating from the lower, or originating in the active desire of the lower to embrace or contact the higher. This is of paramount importance, for all progress must be self-induced, self-initiated, and be the result of an inner activity.

a. Là kết quả của một xung lực phát ra từ phía thấp hơn, hay khởi nguồn trong dục vọng tích cực của phía thấp hơn muốn ôm lấy hay tiếp xúc với phía cao hơn. Điều này có tầm quan trọng tối cao, vì mọi tiến bộ đều phải do chính mình khởi phát, do chính mình khởi xướng, và là kết quả của một hoạt động bên trong.

b. As the result of reflex action from the higher stage or kingdom; it is brought about by the activity of the lower which calls forth a response from the higher. All vibration, it must be remembered, travels along waves of living substance.

b. Là kết quả của phản ứng phản xạ từ giai đoạn hay giới cao hơn; nó được tạo ra bởi hoạt động của phía thấp hơn, hoạt động này gọi ra một đáp ứng từ phía cao hơn. Cần nhớ rằng mọi rung động đều truyền đi trên những làn sóng của chất liệu sống.

c. As the result of extraneous stimulation produced by the activity of certain conscious powers, interested in the process of evolutionary development.

c. Là kết quả của sự kích thích từ bên ngoài do hoạt động của một số quyền năng hữu thức tạo ra, những quyền năng này quan tâm đến tiến trình phát triển tiến hoá.

All these conditions can be seen in the process of the initiation of man, and of his transference from the fourth kingdom into the spiritual. His efforts must be self-induced, or the effect of his own self-conscious endeavour; they will meet with a response from his superconsciousness, the atmic aspect or Spirit and this dual interplay will be further aided by the Guardians of the Rites of Initiation. Yet all three effects are felt in spirit-matter; all proceed under the law of vibration, and this law is literally the response of deva substance to force emanating from some conscious or unconscious source.

Tất cả các điều kiện này có thể được thấy trong tiến trình điểm đạo của con người, và trong sự chuyển dịch của y từ giới thứ tư sang giới tinh thần. Các nỗ lực của y phải do chính y khởi phát, hay là kết quả của nỗ lực hữu thức của chính y; chúng sẽ gặp được một đáp ứng từ siêu thức của y, phương diện atma hay tinh thần, và sự tương tác kép này sẽ còn được các Đấng Hộ Trì các Nghi Lễ Điểm Đạo trợ giúp thêm. Tuy nhiên cả ba hiệu quả đều được cảm nhận trong tinh thần-vật chất; tất cả đều tiến hành dưới định luật rung động, và định luật này theo nghĩa đen là sự đáp ứng của chất liệu thiên thần đối với mãnh lực phát ra từ một nguồn hữu thức hay vô thức nào đó.

Fourth, these “devas of the shadows,” perform certain activities of an interesting and varied kind, but [Page 645] of such diversity as to make enumeration wellnigh impossible. We might attempt with brevity to state a few of these functions, remembering ever that what can be predicated of them on the physical plane can also be predicated of their correspondences on all the planes. This we can leave to the student to work out for himself, begging him again to bear in mind that we are dealing with the devas on the evolutionary arc, which may be divided into the following classes, amongst many others.

Thứ tư, các “thiên thần của bóng tối” này thực hiện một số hoạt động thú vị và đa dạng, nhưng [Page 645] đa dạng đến mức gần như không thể liệt kê. Chúng ta có thể thử nêu ngắn gọn một vài chức năng trong số đó, luôn ghi nhớ rằng điều gì có thể được khẳng định về họ trên cõi hồng trần thì cũng có thể được khẳng định về các đối phần của họ trên mọi cõi. Điều này chúng ta có thể để cho đạo sinh tự mình tìm ra, đồng thời lại xin y ghi nhớ rằng chúng ta đang bàn đến các thiên thần trên cung tiến hoá, những vị có thể được chia thành các loại sau đây, trong số nhiều loại khác.

Class 1. The special agents of magic. They are peculiarly susceptible to the building vibrations of the seven rays.

Loại 1. Các tác nhân đặc biệt của huyền thuật. Họ đặc biệt nhạy cảm với các rung động kiến tạo của bảy cung.

Class 2. A group of Agnichaitans who manifest as physical plane electricity. They are a group who are coming somewhat under the control of man, and will be more and more dominated by him.

Loại 2. Một nhóm Agnichaitan biểu lộ thành điện của cõi hồng trần. Họ là một nhóm đang phần nào đi vào dưới sự kiểm soát của con người, và sẽ ngày càng bị con người chi phối hơn.

Class 3. A group who form the health auras of all the three middle kingdoms of nature (vegetable, animal and human) either collectively or individually. Man is coming into contact with them along medical lines and beginning somewhat to recognise them. One of the great errors into which the human family has fallen has been the endeavour to administer mineral drugs to man for medicinal purposes. It has resulted in a combination of deva substances which was never intended. The relation of man to the lower kingdoms, and particularly to the animal and mineral, has brought about a peculiar condition in the deva world and has tended to complicate deva evolution. The use of animal food (and the use of minerals as medicine in a lesser degree) has produced a commingling of deva substance, and of vibrations which are not attuned to each other. The vegetable kingdom is in a totally different situation, and part of its karma has lain in the providing of food for man; this has resulted in a needed transmutation of the life [Page 646] of that kingdom into the higher stage (the animal) which is its goal. The transmutation of vegetable life takes place necessarily on the physical plane. Hence its availability as food. The transmutation of the life of the animal into the human kingdom takes place on kamamanasic levels. Hence the non-availability, esoterically understood, of the animal as food for man. This is an argument for vegetarian living which needs due consideration.

Loại 3. Một nhóm tạo thành các hào quang sức khỏe của cả ba giới giữa trong thiên nhiên (thực vật, động vật và nhân loại), hoặc tập thể hoặc cá thể. Con người đang tiếp xúc với họ theo hướng y học và bắt đầu phần nào nhận ra họ. Một trong những sai lầm lớn mà gia đình nhân loại đã sa vào là nỗ lực dùng dược chất khoáng vật cho con người vì mục đích chữa bệnh. Điều đó đã dẫn đến một sự kết hợp các chất liệu thiên thần vốn không bao giờ được dự định. Mối liên hệ của con người với các giới thấp hơn, và đặc biệt với động vật và khoáng vật, đã tạo ra một tình trạng đặc biệt trong thế giới thiên thần và có xu hướng làm phức tạp sự tiến hoá thiên thần. Việc dùng thức ăn động vật (và việc dùng khoáng vật làm thuốc ở mức độ thấp hơn) đã tạo ra một sự pha trộn của chất liệu thiên thần, và của những rung động không hòa điệu với nhau. Giới thực vật ở trong một tình thế hoàn toàn khác, và một phần nghiệp quả của nó là cung cấp thức ăn cho con người; điều này đã dẫn đến một sự chuyển hoá cần thiết của sự sống [Page 646] của giới đó sang giai đoạn cao hơn (động vật), vốn là mục tiêu của nó. Sự chuyển hoá của sự sống thực vật tất yếu diễn ra trên cõi hồng trần. Vì thế nó có thể dùng làm thức ăn. Sự chuyển hoá của sự sống động vật vào giới nhân loại diễn ra trên các cấp độ trí-cảm. Vì thế, theo cách hiểu huyền bí, động vật không thích hợp làm thức ăn cho con người. Đây là một luận cứ ủng hộ đời sống ăn chay cần được cân nhắc thích đáng.

Class 4. A very important class of etheric devas (as far as man is concerned) who are definitely the constituent substance of his centres. They occupy this position for karmic reasons, and are, from many angles, some of the most highly evolved of the devas of the shadows. They are distinguished by their ability to respond to a particular set of planetary vibrations in a peculiar manner, and in their essential essence, and in their own peculiar sphere enable man to react to Ray stimulation. Each centre is under the influence of one or other of the planets. In this fact lies the ability of man eventually—through the agency of his centres—to put himself en rapport with the sevenfold soul of the world.

Loại 4. Một loại thiên thần dĩ thái rất quan trọng (xét theo phương diện con người), vốn rõ ràng là chất liệu cấu thành nên các trung tâm của y. Họ chiếm giữ vị trí này vì những lý do nghiệp quả, và xét từ nhiều góc độ, là một số trong những thiên thần của bóng tối tiến hoá cao nhất. Họ được phân biệt bởi khả năng đáp ứng với một tập hợp rung động hành tinh đặc thù theo một cách riêng biệt, và trong tinh chất cốt yếu của mình, cũng như trong khối cầu đặc thù của mình, giúp con người phản ứng với sự kích thích của cung. Mỗi trung tâm đều ở dưới ảnh hưởng của một hành tinh này hay hành tinh khác. Chính trong sự kiện này có khả năng để con người cuối cùng—thông qua tác động của các trung tâm của y—đặt mình vào sự tương thông với linh hồn thất phân của thế giới.

Class 5. We have here a very important group of devas, who are peculiarly active and esoterically dominant during this round; they are the Agnichaitans who form the centre which vibrates to the measure of kundalini in its many forms and demonstrations; this is the centre at the base of the spine. In this centre we have a very effective display of the two polarities, for the petals of the centre which is the seat of kundalini, and the fire or vitality which animates them are negative and positive to each other. This centre is to be found in some form or other in all sentient beings and upon it largely depends: [Page 647]

Loại 5. Ở đây chúng ta có một nhóm thiên thần rất quan trọng, đặc biệt hoạt động và chiếm ưu thế một cách huyền bí trong cuộc tuần hoàn này; họ là các Agnichaitan tạo thành trung tâm rung động theo mức độ của kundalini trong nhiều hình thức và biểu hiện của nó; đây là trung tâm ở đáy cột sống. Trong trung tâm này chúng ta có một sự biểu lộ rất hữu hiệu của hai cực tính, vì các cánh hoa của trung tâm là nơi ngự của kundalini, và lửa hay sinh lực làm linh hoạt chúng, là âm và dương đối với nhau. Trung tâm này được tìm thấy dưới hình thức này hay hình thức khác trong mọi hữu thể có tri giác và phần lớn tùy thuộc vào nó: [Page 647]

a. Consciousness at one of its seven stages.

a. Tâm thức ở một trong bảy giai đoạn của nó.

b. Continuity of existence.

b. Sự liên tục của tồn tại.

c. Perpetuation of species or reproduction on some or other of the planes.

c. Sự duy trì giống loài hay sự sinh sản trên một cõi nào đó.

It might be of interest here to note that this centre is literally a fourfold radiation, and the “Cross of the Holy Spirit,” the equal armed Cross, is its symbol. This four-petalled lotus is the result of evolution. In the first kingdom of nature, the mineral, through which a specific Entity is manifesting, this centre is a unity on etheric levels, for only one petal is to be seen. In the vegetable kingdom, viewing it as the expression of a great Existence, two petals are becoming active. In the third kingdom, the animal, the centre at the base of the spine will be found to have three petals, whereas in man, the lotus is vibrating in a fourfold manner. At each initiation of the great Being Who is manifesting through our planet, one of these petals becomes unfolded on etheric levels, so that at individualisation, the four became active, and His selfconscious activity was brought right down on to the physical plane. The analogy can be seen typified at His great Initiation which took place in the fourth round and the third rootrace; the correspondence between the third kingdom and the fourth, and their production of the esoteric seven is one of the lines of study for the occultist.

Ở đây, có thể đáng quan tâm khi lưu ý rằng trung tâm này theo nghĩa đen là một bức xạ tứ phân, và “Thập Giá của Chúa Thánh Thần”, Thập Giá có bốn cánh bằng nhau, là biểu tượng của nó. Hoa sen bốn cánh này là kết quả của tiến hoá. Trong giới thứ nhất của tự nhiên, giới kim thạch, qua đó một Thực Thể đặc thù đang biểu hiện, trung tâm này là một hợp nhất trên các cõi dĩ thái, vì chỉ có thể thấy một cánh hoa. Trong giới thực vật, khi xem nó như biểu hiện của một Sự Tồn Tại vĩ đại, hai cánh hoa đang trở nên hoạt động. Trong giới thứ ba, giới động vật, trung tâm ở đáy cột sống sẽ được thấy có ba cánh hoa, trong khi ở con người, hoa sen rung động theo cách tứ phân. Ở mỗi lần điểm đạo của Đấng Vĩ Đại đang biểu hiện qua hành tinh của chúng ta, một trong các cánh hoa này được khai mở trên các cõi dĩ thái, đến nỗi vào lúc biệt ngã hóa, cả bốn đều trở nên hoạt động, và hoạt động ngã thức của Ngài được đưa thẳng xuống cõi hồng trần. Sự tương đồng có thể được thấy được tiêu biểu trong Cuộc Điểm đạo vĩ đại của Ngài diễn ra trong cuộc tuần hoàn thứ tư và giống dân gốc thứ ba; sự tương ứng giữa giới thứ ba và giới thứ tư, và việc chúng tạo ra số bảy huyền bí, là một trong những đường nghiên cứu dành cho nhà huyền bí học.

As each of the petals of the etheric centres becomes vibrant, or an at-one-ment is brought about in deva substance, a quickening takes place on allied levels in the cosmic etheric body of the planetary Logos, and of the solar Logos. Certain correspondences in the petals of the egoic lotus of the different units of the human family, and (on cosmic levels) in the solar and planetary egoic bodies become apparent. It should also be borne in mind that these basic centres, wherein the [Page 648] kundalini fire lies hidden, are found in the following Existences, as They function in physical bodies:

Khi mỗi cánh hoa của các trung tâm dĩ thái trở nên rung động, hay một sự hợp nhất được tạo ra trong chất liệu thiên thần, thì một sự tăng tốc diễn ra trên các cấp độ tương ứng trong thể dĩ thái vũ trụ của Hành Tinh Thượng đế và của Thái dương Thượng đế. Những sự tương ứng nhất định trong các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã của các đơn vị khác nhau trong gia đình nhân loại, và (trên các cấp độ vũ trụ) trong các thể chân ngã thái dương và hành tinh trở nên hiển nhiên. Cũng nên ghi nhớ rằng các trung tâm căn bản này, nơi [Page 648] lửa kundalini ẩn tàng, được tìm thấy trong các Sự Tồn Tại sau đây, khi Các Ngài hoạt động trong các thể xác:

1. A solar Logos.

1. Một Thái dương Thượng đế.

2. A planetary Logos.

2. Một Hành Tinh Thượng đế.

3. Those Entities Who are the sumtotal of consciousness as it expresses itself through the different kingdoms of nature—manifesting through them as a man manifests through his body.

3. Những Thực Thể là tổng thể của tâm thức khi nó biểu lộ qua các giới khác nhau của tự nhiên—biểu hiện qua chúng như con người biểu hiện qua thể của y.

4. The Lord of a chain.

4. Chúa Tể của một Dãy.

5. The Lord of a globe.

5. Chúa Tể của một bầu hành tinh.

6. Certain Beings Who form the life of specific groups. They are esoteric, and Their function is one of the secrets of initiation.

6. Một số Đấng tạo thành sự sống của các nhóm đặc thù. Các Ngài có tính huyền bí, và chức năng của Các Ngài là một trong những bí mật của điểm đạo.

7. Man.

7. Con người.

8. Animals.

8. Động vật.

It should be here also remarked that in the logoic manifestation one of the planetary schemes forms the centre in the logoic body which harbours kundalini. This scheme, whose name must not as yet be revealed, is largely given over to deva control—the two groups of devas meeting there, and performing their function of animating the dense physical body of the Logos in the same way as the kundalini in man at this stage animates his dense physical vehicle. Later, as the third major scheme assimilates the life-activity of the lower four, this kundalini fire will be withdrawn, and will be transmuted into the activity of the logoic Throat centre.

Ở đây cũng nên nhận xét rằng trong sự biểu hiện logoi, một trong các hệ hành tinh tạo thành trung tâm trong thể logoi chứa đựng kundalini. Hệ hành tinh này, mà tên của nó hiện chưa được phép tiết lộ, phần lớn được giao cho sự kiểm soát của thiên thần—hai nhóm thiên thần gặp nhau ở đó, và thực hiện chức năng làm linh hoạt thể xác đậm đặc của Logos theo cùng cách như kundalini trong con người ở giai đoạn này làm linh hoạt vận cụ hồng trần đậm đặc của y. Về sau, khi hệ hành tinh lớn thứ ba đồng hoá hoạt động sự sống của bốn hệ thấp, lửa kundalini này sẽ được rút đi, và sẽ được chuyển hoá thành hoạt động của trung tâm cổ họng logoi.

In planetary manifestation, one of the chains performs a similar work in the evolutionary process of the planetary Logos. Again the same can be predicated of one of the globes in a chain. In this fourth round, therefore, it can be seen why the fire at the base of the spine (viewing it in its esoteric significance, and in connection with the Logos, and the Logoi, and not only in connection with man) plays so dominant a part in the stimulation of [Page 649] the logoic Quaternary, or of His Lower Self. Herein is found the mystery of present evil, the source of present distress, and the basis of planetary experience. The kundalini fire in the logoic body is at the height of its activity in stimulating His physical body—our lower three systemic planes—and the four petals of that particular centre are coming into full activity in this fourth round. It must be remembered that He is the sum-total of all the centres in manifestation, and the aggregate of all the fires of kundalini in every department of nature. The trouble in our planet, and likewise the hope for our planet, lies in this very fact. The etheric centre of our planetary Logos being in matter of the fourth cosmic ether (the buddhic plane) stimulates at present His lower quaternary, our three worlds of human endeavour. The direction of the force lies here, and not until the next round (when three-fifths of the human kingdom will be developing the buddhic vehicle), will the point of equilibrium for Him be reached, and the direction of the serpent fire be directed higher.

Trong sự biểu hiện hành tinh, một trong các dãy thực hiện một công việc tương tự trong tiến trình tiến hoá của Hành Tinh Thượng đế. Một lần nữa, điều tương tự có thể được khẳng định về một trong các bầu hành tinh trong một dãy. Vì vậy, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, có thể thấy vì sao lửa ở đáy cột sống (khi xem nó trong thâm nghĩa huyền bí của nó, và trong liên hệ với Logos, và các Logoi, chứ không chỉ trong liên hệ với con người) lại đóng một vai trò chi phối đến thế trong việc kích thích [Page 649] Bộ Tứ logoi, hay phàm ngã của Ngài. Chính trong đây tìm thấy bí ẩn của điều ác hiện nay, nguồn gốc của nỗi khốn khổ hiện nay, và nền tảng của kinh nghiệm hành tinh. Lửa kundalini trong thể logoi đang ở đỉnh cao hoạt động của nó trong việc kích thích thể xác của Ngài—ba cõi giới hệ thống thấp của chúng ta—và bốn cánh hoa của trung tâm đặc thù ấy đang đi vào hoạt động trọn vẹn trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. Phải nhớ rằng Ngài là tổng thể của mọi trung tâm đang biểu hiện, và là tổng hợp của mọi lửa kundalini trong mọi bộ phận của tự nhiên. Sự rắc rối trên hành tinh chúng ta, và cũng vậy niềm hy vọng cho hành tinh chúng ta, nằm chính trong sự kiện này. Trung tâm dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, ở trong vật chất của dĩ thái vũ trụ thứ tư (cõi Bồ đề), hiện đang kích thích bộ tứ thấp của Ngài, ba cõi giới của nỗ lực nhân loại của chúng ta. Hướng của mãnh lực nằm ở đây, và mãi cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp (khi ba phần năm của giới nhân loại sẽ phát triển vận cụ Bồ đề), điểm quân bình đối với Ngài mới đạt tới, và hướng của hỏa xà mới được hướng lên cao hơn.

This holds the clue to much. A further clue to the sad condition to be seen in the world (especially along sex lines) lies in the fact that those units of the human family who contribute to the constitution of this particular centre out of the seven, are frequently at this stage over-vitalised, the physical vehicle vitality indicating to them the line of least resistance. To word it otherwise: The deva forces who form the centre, and are likewise the activity of the centre, are as yet over-dominant, and the power they acquired in the earlier solar system has not yet been transmuted into spiritual power.

Điều này nắm giữ chìa khóa cho nhiều điều. Một chìa khóa khác đối với tình trạng đáng buồn đang thấy trong thế giới (đặc biệt theo các đường lối tính dục) nằm trong sự kiện rằng những đơn vị của gia đình nhân loại góp phần vào cấu tạo của trung tâm đặc thù này trong số bảy trung tâm, ở giai đoạn này thường bị tiếp sinh lực quá mức, sinh lực của vận cụ hồng trần chỉ cho họ con đường ít trở ngại nhất. Nói cách khác: các mãnh lực thiên thần tạo thành trung tâm, và cũng chính là hoạt động của trung tâm, vẫn còn chiếm ưu thế quá mức, và quyền năng mà họ đạt được trong hệ mặt trời trước vẫn chưa được chuyển hoá thành quyền năng tinh thần.

We have above considered a few of the devas of the ethers but have of necessity left many untouched. The vastness of our subject will be apparent when it is remembered that in dealing with the devas we are dealing [Page 650] with that which is the basic substance of manifestation, or Spirit-matter; with the negative or the mother aspect, in the divine duality, and with the sum total of all that is. We are concerned with the tangible form, using the word “tangible” as that which can be apprehended by consciousness in one or other of its many states. The utter impossibility of cataloguing the forms and aspects of deva substance, or of tabulating the myriad groups and classes will be borne in on our comprehension. On all the planes these three groups will be found, and all are recipients of force. An analogy likewise exists between these three groups of devas on the systemic physical plane, and their correspondences on the cosmic physical plane. Briefly it might be pointed out that we have:

Ở trên, chúng ta đã khảo sát một vài thiên thần của các dĩ thái nhưng tất yếu đã để lại nhiều vị chưa được đề cập đến. Tính bao la của đề tài chúng ta sẽ trở nên hiển nhiên khi nhớ rằng khi bàn đến các thiên thần, chúng ta đang bàn [Page 650] đến cái là chất liệu căn bản của biểu hiện, hay Tinh thần-vật chất; đến phương diện âm hay phương diện mẫu thân trong nhị nguyên tính thiêng liêng, và đến tổng thể của tất cả những gì hiện hữu. Chúng ta quan tâm đến hình tướng khả xúc, dùng từ “khả xúc” theo nghĩa là cái có thể được tâm thức nắm bắt trong một trạng thái nào đó của nhiều trạng thái của nó. Sự bất khả hoàn toàn trong việc liệt kê các hình tướng và phương diện của chất liệu thiên thần, hay lập bảng vô số nhóm và loại, sẽ dần dần in sâu vào sự thấu hiểu của chúng ta. Trên mọi cõi, ba nhóm này sẽ được tìm thấy, và tất cả đều là những kẻ tiếp nhận mãnh lực. Một sự tương đồng cũng tồn tại giữa ba nhóm thiên thần này trên cõi hồng trần hệ thống và các tương ứng của chúng trên cõi hồng trần vũ trụ. Vắn tắt, có thể chỉ ra rằng chúng ta có:

Group A

The plane Adi

Divine evolution.

Systemic atomic

Group B

The three worlds of the Triad

Spiritual evolution.

Logoic etheric.

Group C

The three worlds

Human evolution.

Logoic dense physical.

In this lies much of interest for the student as it makes clear the correspondence between the evolution of substance and the evolution of spirit.

Chính trong đây có nhiều điều đáng quan tâm đối với đạo sinh vì nó làm sáng tỏ sự tương ứng giữa sự tiến hoá của chất liệu và sự tiến hoá của tinh thần.

As regards the devas of Group B, little more can be said. Only a few more generalities are advisable.

Về các thiên thần của Nhóm B, không thể nói thêm được bao nhiêu. Chỉ nên nêu thêm một vài nhận định tổng quát.

These devas, especially those of the fourth ether, are so closely connected with man that one of the immediate developments ahead will be his awakening to a realisation of their existence, and his consequent gradual domination of them. This domination will be the result of several things but will only be complete when he can function on the fourth cosmic ether, the buddhic plane. One of the things the Hierarchy at this stage is seeking to do, is to retard this awakening of the mass of mankind to this realisation, for that event will necessitate [Page 651] many adjustments, and, at the beginning, may produce many apparently evil effects. The development of the physical eye is a thing which is proceeding under the Law, and inevitably the whole race of men will at length attain that dual focus which will enable man to see both the dense and the etheric forms. At this stage his inability to do so is largely due to a lack of pranic vitality. This is mainly the result of wrong conditions of living, and the misuse of food. The present general trend towards juster and purer conditions of life, the return of man to simpler and saner ways, the widespread feeling for bathing, fresh air, and sunlight, and the greater desire for vegetable, and nut foods, will result inevitably in a more ready assimilation of the pranic fluids. This will produce certain changes, and improvements, in the physical organs, and in the vitality of the etheric body.

Các thiên thần này, đặc biệt là những vị của dĩ thái thứ tư, liên hệ chặt chẽ với con người đến nỗi một trong những phát triển trước mắt sẽ là sự thức tỉnh của y để chứng nghiệm sự hiện hữu của họ, và do đó dần dần thống ngự họ. Sự thống ngự này sẽ là kết quả của nhiều điều nhưng chỉ hoàn toàn khi y có thể hoạt động trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. Một trong những điều mà Thánh đoàn hiện đang tìm cách thực hiện là làm chậm lại sự thức tỉnh này của đại đa số nhân loại đối với sự chứng nghiệm ấy, vì biến cố đó sẽ đòi hỏi [Page 651] nhiều sự điều chỉnh, và lúc ban đầu có thể tạo ra nhiều hiệu quả có vẻ là xấu ác. Sự phát triển của mắt hồng trần là một điều đang tiến hành theo Định luật, và tất yếu toàn thể nhân loại cuối cùng sẽ đạt đến tiêu điểm kép ấy, khiến con người có thể thấy cả các hình tướng đậm đặc lẫn dĩ thái. Ở giai đoạn này, sự bất lực của y trong việc làm điều đó phần lớn là do thiếu sinh lực prana. Điều này chủ yếu là kết quả của những điều kiện sống sai lầm, và sự lạm dụng thực phẩm. Khuynh hướng chung hiện nay hướng đến những điều kiện sống công bằng hơn và thanh khiết hơn, sự trở về của con người với những lối sống đơn giản hơn và lành mạnh hơn, cảm nhận lan rộng về việc tắm rửa, không khí trong lành và ánh nắng mặt trời, cùng khát vọng lớn hơn đối với thức ăn thực vật và các loại hạt, sẽ tất yếu dẫn đến sự đồng hoá dễ dàng hơn các lưu chất prana. Điều này sẽ tạo ra một số thay đổi và cải thiện trong các cơ quan hồng trần, và trong sinh lực của thể dĩ thái.

Therefore, those of us who see somewhat of the Plan are urged to spread the knowledge of the Wisdom Religion, and above all to break loose from the preconceived dogmas of pre-war days. It should be pointed out here that the war was a great occult event, and caused a vital change in many of the plans and arrangements of the Hierarchy. Modifications have been necessitated, and some events will have to be delayed whilst others will be hastened. One of the profoundest effects of the war was felt among the devas of the shadows, and primarily among those of the fourth order. The etheric web which protected certain groups in the human and animal kingdoms was rent in various places, and the results of that disaster have to be offset. Another effect upon the devas resulting from the war, as it worked, can be seen among the devas of Group A, or those devas who are (in an occult sense) the physical permanent atoms of all self-conscious beings. The fourth spirilla was tremendously stimulated, and its evolution hastened [Page 652] to an extraordinary degree, so that some of the lesser evolved men, through the stress of danger and experience, had this fourth spirilla brought up to, and beyond, that of normal humanity. Through this stimulation of the fourth spirilla of the units of the fourth Creative Hierarchy in this fourth round on the fourth globe in this fourth scheme, a tremendous push onward along the evolutionary path has been effected, and hence one of the great objects of the war has been achieved. A still more terrific stimulation was given in the fourth rootrace during the war of that period, and the result was the passing on to the Path of Initiation of many who normally would not even now be treading it. A similar effect can be looked for at this time, and the Hierarchy is preparing itself for the taking over of much of an extra-planetary nature owing to the almost immediate availability of comparatively large numbers of the sons of man. We must not forget that this stimulation of the spirillae affects the matter aspect, or deva substance. Man is literally deva substance, and a God, thus being a true reflection of the solar Logos. (212) (213)

Vì vậy, những ai trong chúng ta thấy được phần nào Thiên Cơ được thúc giục truyền bá tri thức về Minh Triết Ngàn Đời, và trên hết là thoát khỏi các giáo điều định sẵn của những ngày trước chiến tranh. Ở đây cần chỉ ra rằng chiến tranh là một biến cố huyền bí lớn, và đã gây ra một thay đổi thiết yếu trong nhiều kế hoạch và sắp đặt của Thánh đoàn. Những sửa đổi đã trở nên cần thiết, và một số biến cố sẽ phải trì hoãn trong khi những biến cố khác sẽ được thúc đẩy nhanh hơn. Một trong những ảnh hưởng sâu xa nhất của chiến tranh được cảm nhận giữa các thiên thần của bóng tối, và trước hết là giữa những vị thuộc loại thứ tư. Mạng lưới dĩ thái bảo vệ một số nhóm trong giới nhân loại và giới động vật đã bị xé rách ở nhiều chỗ, và các kết quả của tai họa đó phải được hóa giải. Một ảnh hưởng khác lên các thiên thần do chiến tranh gây ra, khi nó diễn tiến, có thể thấy nơi các thiên thần của Nhóm A, hay những thiên thần là (theo nghĩa huyền bí) các nguyên tử trường tồn hồng trần của mọi hữu thể ngã thức. Loa tuyến thứ tư đã được kích thích mạnh mẽ, và sự tiến hoá của nó được thúc đẩy đến một mức độ phi thường, [Page 652] đến nỗi một số người ít tiến hoá hơn, qua áp lực của hiểm nguy và kinh nghiệm, đã có loa tuyến thứ tư này được nâng lên ngang bằng, và vượt quá, mức của nhân loại bình thường. Qua sự kích thích loa tuyến thứ tư của các đơn vị thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư trong cuộc tuần hoàn thứ tư này trên bầu hành tinh thứ tư trong hệ hành tinh thứ tư này, một sự thúc đẩy tiến lên mãnh liệt dọc theo con đường tiến hoá đã được thực hiện, và do đó một trong những mục tiêu lớn của chiến tranh đã đạt được. Một sự kích thích còn dữ dội hơn nữa đã được ban ra trong giống dân gốc thứ tư trong cuộc chiến của thời kỳ đó, và kết quả là nhiều người đã bước lên Con Đường Điểm Đạo mà bình thường ngay cả bây giờ họ cũng chưa đi trên đó. Một hiệu quả tương tự có thể được mong đợi vào lúc này, và Thánh đoàn đang chuẩn bị để tiếp nhận nhiều điều có tính ngoài hành tinh do sự sẵn sàng gần như tức thời của những số lượng khá lớn những người con của nhân loại. Chúng ta không được quên rằng sự kích thích các loa tuyến này ảnh hưởng đến phương diện vật chất, hay chất liệu thiên thần. Con người theo nghĩa đen là chất liệu thiên thần, và là một Thượng đế, do đó là một phản ánh chân thực của Thái dương Thượng đế. (212) (213)

FOOTNOTE: 12

CHÚ THÍCH: 12

“Thus God dwells in all,

“Như thế Thượng đế ngự trong muôn loài,

From life’s minute beginnings, up at last

Từ những khởi đầu nhỏ bé của sự sống, rồi cuối cùng vươn lên

To man—the consummation of this scheme

Đến con người—sự viên mãn của hệ hành tinh này

Of being, the completion of this sphere

Của hiện hữu, sự hoàn tất của khối cầu này

Of life: whose attributes had here and there

Của sự sống: mà các thuộc tính của y ở đây và kia

Been scattered o’er the visible world before,

Đã từng được rải khắp thế giới hữu hình từ trước,

Asking to be combined, dim fragments meant

Đòi hỏi được kết hợp, những mảnh vụn mờ nhạt được định

To be united in some wondrous whole,

Để hợp nhất trong một toàn thể kỳ diệu nào đó,

Imperfect qualities throughout creation,

Những phẩm tính bất toàn xuyên suốt toàn thể tạo vật,

Suggesting some one creature yet to make,

Gợi ý về một tạo vật nào đó còn phải được tạo nên,

Some point where all those scattered rays should meet

Một điểm nào đó nơi mọi cung tia tản mác kia phải hội tụ

Convergent in the faculties of man….

Đồng quy trong các năng lực của con người….

When all the race is perfected alike

Khi toàn thể nhân loại đều được hoàn thiện như nhau

As man, that is; all tended to mankind

Như con người, nghĩa là vậy; mọi sự đều hướng đến nhân loại

And, man produced, all has its end thus far:

Và khi con người được tạo ra, mọi sự đến đó là kết thúc:

But in completed man begins anew

Nhưng trong con người đã hoàn tất lại bắt đầu anew

A tendency to God. Prognostics told

Một khuynh hướng hướng về Thượng đế. Những điềm báo đã nói lên

Man’s near approach; so in man’s self arise

Sự tiếp cận gần kề của con người; vì thế trong chính con người nảy sinh

August anticipations, symbols, types

Những dự cảm uy nghi, những biểu tượng, những nguyên mẫu

Of a dim splendour ever on before

Về một vẻ huy hoàng mờ ẩn luôn ở phía trước

In that eternal circle life pursues.

Trong vòng tròn vĩnh cửu mà sự sống theo đuổi.

For men begin to pass their nature’s bound

Vì con người bắt đầu vượt qua giới hạn của bản chất mình

And find new hopes and cares which fast supplant

Và tìm thấy những hy vọng và ưu tư mới nhanh chóng thay thế

Their proper joys and griefs; they grow too great

Những niềm vui và nỗi buồn riêng của họ; họ trở nên quá lớn

For narrow creeds of right and wrong, which fade

Đối với những tín điều chật hẹp về đúng và sai, những điều phai mờ

Before the unmeasured thirst for good; while peace

Trước cơn khát điều thiện vô lượng; trong khi sự bình an

Rises within them ever more and more.

Dâng lên trong họ ngày càng nhiều hơn.

Such men are even now upon the earth,

Những con người như thế ngay cả lúc này cũng đang ở trên Trái Đất,

Serene amid the half formed creatures round

Tĩnh lặng giữa những tạo vật nửa thành hình chung quanh

—Paracelsus by Robert Browning.

—Paracelsus của Robert Browning.

(213) 1. Man is an animal, plus a living God, within his physical Shell.—S. D., II, 85. S. D., II, 284.

(213) 1. Con người là một động vật, cộng với một Thượng đế sống động, bên trong vỏ bọc hồng trần của y.—S. D., II, 85. S. D., II, 284.

a. Man is the Macrocosm for the animal, therefore he contains all that is meant by the term animal.—S. D., II, 179, 187.

a. Con người là Đại thiên địa đối với động vật, vì vậy y chứa đựng tất cả những gì được hàm ý bởi thuật ngữ động vật.—S. D., II, 179, 187.

b. Divine consciousness is received from the living God.—S. D., II, 103.

b. Tâm thức thiêng liêng được tiếp nhận từ Thượng đế sống động.—S. D., II, 103.

c. The animal forms the basis and the contrast for the divine.—S. D., II, 100.

c. Động vật tạo thành nền tảng và sự tương phản cho cái thiêng liêng.—S. D., II, 100.

d. The light of the Logos is awakened in animal man.—S. D., II, 45.

d. Ánh sáng của Logos được đánh thức trong người thú.—S. D., II, 45.

2. Man is the Tabernacle, the vehicle only, of his God.—S. D., I, 233, 281; II, 316; III, 66.

2. Con người là Nhà Tạm, chỉ là vận cụ của Thượng đế của y.—S. D., I, 233, 281; II, 316; III, 66.

Compare S. D., II, 174. Read Proverbs VIII.

So sánh S. D., II, 174. Đọc Châm Ngôn VIII.

Study Biblical description of Tabernacle:—

Nghiên cứu mô tả trong Kinh Thánh về Nhà Tạm:—

a. Outer court, the place of animal sacrifice and purification.

a. Tiền đình bên ngoài, nơi hiến tế động vật và thanh tẩy.

b. The Holy place, the place of consecration and service.

b. Nơi Thánh, nơi thánh hiến và phụng sự.

c. The Holy of Holies.

c. Nơi Chí Thánh.

The first corresponds to the life of the personality.

Điều thứ nhất tương ứng với đời sống của phàm ngã.

The second to that of the Ego, or Higher Self.

Điều thứ hai tương ứng với đời sống của Chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu.

The last to that of the Monad, or Divine Self.

Điều cuối cùng tương ứng với đời sống của chân thần, hay Bản Ngã Thiêng liêng.

3. Man contains in himself every element found in the universe.—S. D., I, 619; III, 584.

3. Con người chứa trong chính mình mọi nguyên tố được tìm thấy trong vũ trụ.—S. D., I, 619; III, 584.

a. All in nature tends to become Man.—S. D., II, 179.

a. Mọi sự trong tự nhiên đều có xu hướng trở thành Con người.—S. D., II, 179.

b. All the impulses of the dual, centripetal and centrifugal force are directed towards one point—Man.—S. D., II, 179.

b. Mọi xung lực của mãnh lực kép, hướng tâm và ly tâm, đều được hướng về một điểm—Con người.—S. D., II, 179.

c. Man is the storehouse...he unites in himself all forms.—S. D. II, 303.

c. Con người là kho tàng... y hợp nhất trong chính mình mọi hình tướng.—S. D. II, 303.

d. The potentiality of every organ useful to animal life is locked up in Man.—S. D., II, 723.

d. Tiềm năng của mọi cơ quan hữu ích cho đời sống động vật đều được khóa kín trong Con người.—S. D., II, 723.

4. Man tends to become a God and then God, like every other atom in the universe.—S. D., I, 183.

4. Con người có xu hướng trở thành một Thượng đế rồi thành Thượng đế, giống như mọi nguyên tử khác trong vũ trụ.—S. D., I, 183.

Compare the atom and the Microcosm, man. Illustration:—S. D., I, 174. Every atom has seven planes of being.—S. D., I, 205. Read S. D., I, 201.

So sánh nguyên tử và Tiểu thiên địa, con người. Minh họa:—S. D., I, 174. Mọi nguyên tử đều có bảy cõi hiện hữu.—S. D., I, 205. Đọc S. D., I, 201.

a. Every atom contains the germ from which he may raise the tree of knowledge. (Of good and evil, therefore conscious discrimination).—S. D., II, 622.

a. Mọi nguyên tử đều chứa mầm giống từ đó y có thể nâng lên cây tri thức. (Về thiện và ác, do đó là sự phân biện có ý thức).—S. D., II, 622.

b. It is the spiritual evolution of the inner immortal man that forms the fundamental tenet of the occult sciences.—S. D., I, 694.

b. Chính sự tiến hoá tinh thần của con người bất tử bên trong tạo thành giáo điều căn bản của các khoa học huyền bí.—S. D., I, 694.

c. Atoms and souls are synonymous terms in the language of the initiates.—S. D., I, 620-621.

c. Nguyên tử và linh hồn là những thuật ngữ đồng nghĩa trong ngôn ngữ của các điểm đạo đồ.—S. D., I, 620-621.

5. Human beings...those Intelligences who have reached the appropriate equilibrium between Spirit and Matter.—S. D., I, 132.

5. Các hữu thể nhân loại... những Trí Tuệ đã đạt đến sự quân bình thích hợp giữa Tinh thần và Vật chất.—S. D., I, 132.

Read also carefully:—S. D., I, 267, 449; S. D., II, 190.

Cũng hãy đọc cẩn thận:—S. D., I, 267, 449; S. D., II, 190.

a. On the descending arc Spirit becomes material.—S. D., I, 693.

a. Trên cung đi xuống, Tinh thần trở nên vật chất.—S. D., I, 693.

b. On the middle turn of the base both meet in man.—S. D., I, 214, 271.

b. Ở khúc quanh giữa của đáy, cả hai gặp nhau trong con người.—S. D., I, 214, 271.

c. On the ascending arc Spirit asserts itself at the expense of the material.

c. Trên cung đi lên, Tinh thần tự khẳng định mình với cái giá của vật chất.

d. This is true of Gods and of men. See S. D., II, 88.

d. Điều này đúng với các Thượng đế và với con người. Xem S. D., II, 88.

e. Man is therefore a compound of Spirit and matter.—S. D., II, 45.

e. Vì vậy, con người là một hợp thể của Tinh thần và vật chất.—S. D., II, 45.

f. In man the intelligence links the two.—S. D., II, 102, 103.

f. Trong con người, trí tuệ nối kết hai điều ấy.—S. D., II, 102, 103.

See note to S. D., II, 130. Compare S. D., II, 394. (back)

Xem chú thích ở S. D., II, 130. So sánh S. D., II, 394. (back)

[Page 653] Group A. Agnichaitans. We have seen that on all planes the groups of devas can be divided into three [Page 654] main groups, even though usually studied in their dual capacity of involutionary and evolutionary force units. Broadly speaking, these groups can be viewed as:

[Page 653] Nhóm A. Agnichaitan. Chúng ta đã thấy rằng trên mọi cõi, các nhóm thiên thần có thể được chia thành ba [Page 654] nhóm chính, dù thường được nghiên cứu trong năng lực kép của chúng như các đơn vị mãnh lực giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá. Nói rộng ra, các nhóm này có thể được xem như:

a. Those which embody the positive aspect, or positive electrical phenomena.

a. Những nhóm thể hiện phương diện dương, hay các hiện tượng điện dương.

b. Those which embody the negative aspect.

b. Những nhóm thể hiện phương diện âm.

c. That group which—in time and space—is the union of the two aspects and which—during evolution—demonstrates the third type of electrical phenomena.

c. Nhóm mà—trong thời gian và không gian—là sự hợp nhất của hai phương diện và mà—trong tiến hoá—biểu lộ loại hiện tượng điện thứ ba.

Another grouping of this triplicity can be made which brings them into line with the order of manifestation as laid down in the ancient cosmogony, and this we followed when we enumerated the groups of Agnichaitans.

Một cách phân nhóm khác của bộ ba này có thể được thực hiện, đưa chúng phù hợp với trật tự biểu hiện như đã được nêu trong vũ trụ luận cổ xưa, và đây là cách chúng ta đã theo khi liệt kê các nhóm Agnichaitan.

Group A—Corresponds to the manifestations of existence as seen on the highest plane, or that aspect which is understood by the term Agni.

Nhóm A—Tương ứng với các biểu hiện của tồn tại như được thấy trên cõi cao nhất, hay phương diện được hiểu bằng thuật ngữ Agni.

Group B—Corresponds to the Vishnu-Surya aspect.

Nhóm B—Tương ứng với phương diện Vishnu-Surya.

Group C—Corresponds to the Brahma or the creative Logos aspect.

Nhóm C—Tương ứng với phương diện Brahma hay Logos sáng tạo.

We have recapitulated thus, as it is desirable to have the thought clearly defined.

Chúng ta đã tóm lược như vậy vì điều mong muốn là tư tưởng được xác định rõ ràng.

We have touched upon the two lower groups of devas. Now, we might take up the consideration of Group A, the most important group on the physical plane from the standpoint of creation, and of objectivity, for they are the life of matter itself and the intelligence animating the forms of all that exists on the systemic physical [Page 655] plane; they are not self-conscious intelligence, but consciousness as understood by the occultist.

Chúng ta đã chạm đến hai nhóm thiên thần thấp hơn. Giờ đây, chúng ta có thể bắt đầu xem xét Nhóm A, nhóm quan trọng nhất trên cõi hồng trần theo quan điểm sáng tạo và khách quan tính, vì họ là chính sự sống của vật chất và là trí tuệ làm linh hoạt các hình tướng của mọi điều hiện hữu trên cõi hồng trần hệ thống [Page 655]; họ không phải là trí tuệ ngã thức, mà là tâm thức theo cách nhà huyền bí học hiểu.

Each of the atomic subplanes in the solar system is closely interrelated with the others, and the seven atomic subplanes of all the planes form a unity, and are essentially the cosmic physical plane as the term is occultly understood. The subplanes of which they are the originating source bear the same relationship to them as the six principles do to the seventh. Therefore, the devas of Group A are the concentrated creative force of the subplanes, the origin of the objective side of physical manifestation, and the source of the seven Breaths of the creative Logos on the physical plane. But it must be remembered that in each scheme the creative impulse or will is the planetary Logos of the scheme, Who as truly creates His body of Manifestation under the Law (His dense physical planet) as man—under the same Law—creates his physical body, or as the solar Logos (at the other end of the scale) creates His body, a solar system.

Mỗi cõi phụ nguyên tử trong hệ mặt trời đều liên hệ rất chặt chẽ với các cõi khác, và bảy cõi phụ nguyên tử của mọi cõi tạo thành một hợp nhất, và về bản chất là cõi hồng trần vũ trụ theo cách thuật ngữ này được hiểu một cách huyền bí. Các cõi phụ mà chúng là nguồn gốc phát sinh mang cùng mối liên hệ với chúng như sáu nguyên khí đối với nguyên khí thứ bảy. Vì vậy, các thiên thần của Nhóm A là mãnh lực sáng tạo tập trung của các cõi phụ, là nguồn gốc của mặt khách quan của biểu hiện hồng trần, và là nguồn của bảy Hơi Thở của Logos sáng tạo trên cõi hồng trần. Nhưng phải nhớ rằng trong mỗi hệ hành tinh, xung lực sáng tạo hay ý chí là Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh ấy, Đấng tạo ra thể Biểu Hiện của Ngài dưới Định luật (hành tinh hồng trần đậm đặc của Ngài) cũng chân thực như con người—dưới cùng Định luật ấy—tạo ra thể xác của mình, hay như Thái dương Thượng đế (ở đầu kia của thang bậc) tạo ra thể của Ngài, một hệ mặt trời.

This has a definite and esoteric bearing upon the subject under discussion, and the essential differences between the Heavenly Men seeking manifestation will be seen in Their schemes, and therefore in the types of devas through whom They function, and out of whose essence Their form is made.

Điều này có một liên hệ xác định và huyền bí với chủ đề đang được bàn đến, và những khác biệt cốt yếu giữa các Đấng Thiên Nhân đang tìm cách biểu hiện sẽ được thấy trong các hệ hành tinh của Các Ngài, và do đó trong các loại thiên thần qua đó Các Ngài hoạt động, và từ tinh chất của họ mà hình tướng của Các Ngài được tạo thành.

It might be expressed thus: Just as each man has a body which, in its main characteristics and form, resembles other bodies, yet in its quality and personal distinctive features is unique, so each of the Heavenly Men builds for Himself a body out of deva substance or spirit-matter which is of the same nature as that of His brothers, and yet which is distinctive, coloured by His own peculiar colouring, vibrant to His own particular key, and able to demonstrate His own unique quality. This is produced through the peculiar type of deva [Page 656] essence He chooses, or (to word it perhaps more occultly) it has involved the response of certain peculiar groups of devas to His note. They embody in themselves just those constituents which He requires to build His body or scheme. It will, therefore, be recognised that the devas of Group A, being what we might call the key-devas, are of prime importance, and, from our present standpoint, must remain abstract and esoteric. If we consider this under the Law of Analogy, and study the essentially esoteric nature of the plane of the Logos (the first plane, called Adi) the reason for this will be apparent. If the devas of Group A could be recognised, or even contacted by advanced men, the study of their nature, colouring and tone would reveal to unprepared humanity the colouring and tone of our particular planetary Logos. For this knowledge the race is not ready. It would reveal also, through the study of the Law of Action and Reaction, which of the incarnating Egos were on the ray of this Logos; the deductions from this would lead men into dangerous realms, and put power into hands as yet unprepared to wield it wisely.

Có thể diễn đạt như sau: Cũng như mỗi người có một thể mà, trong các đặc điểm chính và hình thức, giống các thể khác, nhưng trong phẩm tính và các nét riêng biệt cá nhân lại là độc nhất, thì mỗi Đấng Thiên Nhân cũng kiến tạo cho Chính Ngài một thể từ chất liệu thiên thần hay tinh thần-vật chất, có cùng bản chất như của các huynh đệ của Ngài, nhưng vẫn đặc thù, được nhuốm màu bởi màu sắc riêng của Ngài, rung động theo chủ âm riêng của Ngài, và có khả năng biểu lộ phẩm tính độc nhất của chính Ngài. Điều này được tạo ra qua loại tinh chất thiên thần đặc thù [Page 656]mà Ngài chọn, hay (có lẽ nói theo cách huyền bí hơn) nó đã bao hàm sự đáp ứng của một số nhóm thiên thần đặc thù đối với âm điệu của Ngài. Họ tự thân thể hiện đúng những thành phần mà Ngài cần để kiến tạo thể hay hệ hành tinh của Ngài. Vì vậy, sẽ được nhận ra rằng các thiên thần của Nhóm A, là những gì chúng ta có thể gọi là các thiên thần chủ âm, có tầm quan trọng hàng đầu, và theo quan điểm hiện nay của chúng ta, phải vẫn còn trừu tượng và huyền bí. Nếu chúng ta xem xét điều này dưới định luật tương đồng, và nghiên cứu bản chất huyền bí cốt yếu của cõi của Logos (cõi thứ nhất, gọi là Adi) thì lý do của điều này sẽ hiển nhiên. Nếu các thiên thần của Nhóm A có thể được nhận biết, hay thậm chí được tiếp xúc bởi những người tiến bộ, thì việc nghiên cứu bản chất, màu sắc và âm điệu của họ sẽ tiết lộ cho nhân loại chưa chuẩn bị màu sắc và âm điệu của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta. Nhân loại chưa sẵn sàng cho tri thức này. Nó cũng sẽ tiết lộ, qua việc nghiên cứu Định luật Tác Động và Phản Ứng, những Chân ngã nhập thể nào thuộc cung của Logos này; những suy diễn từ đó sẽ dẫn con người vào những lĩnh vực nguy hiểm, và đặt quyền năng vào những bàn tay chưa sẵn sàng để sử dụng nó một cách minh triết.

Therefore, Group A of Agnichaitans must remain profoundly esoteric, and their true nature can only be revealed to the Adept of the great Law.

Vì vậy, Nhóm A của các Agnichaitan phải vẫn còn hết sức huyền bí, và bản chất chân thực của họ chỉ có thể được tiết lộ cho chân sư của Đại Định luật.

Thus only a few hints are permissible, and these deal simply with the relationship of man to these entities. He is related to them primarily because his physical permanent atom is directly energised by them, being a part of their essential nature, and having a place in their form. It will be apparent to any student that if the permanent atoms of the lower man are within the causal periphery the devas of the three worlds on the atomic subplanes must work in the closest co-operation; there must be unity of purpose and of plan.

Do đó, chỉ một vài gợi ý là được phép, và những gợi ý này chỉ bàn đến mối liên hệ của con người với các thực thể này. Y liên hệ với họ trước hết vì nguyên tử trường tồn hồng trần của y được họ trực tiếp tiếp năng lượng, vì nó là một phần của bản chất cốt yếu của họ, và có một vị trí trong hình tướng của họ. Sẽ hiển nhiên đối với bất kỳ đạo sinh nào rằng nếu các nguyên tử trường tồn của phàm nhân ở trong chu vi nhân thể thì các thiên thần của ba cõi giới trên các cõi phụ nguyên tử phải hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ nhất; phải có sự hợp nhất về mục đích và về Thiên Cơ.

The devas of the atomic levels of all the planes in our scheme work in close affiliation: [Page 657]

Các thiên thần của các cấp độ nguyên tử của mọi cõi trong hệ hành tinh chúng ta hoạt động trong sự liên kết chặt chẽ: [Page 657]

a. With each other, thus making seven groups who are the sumtotal of the Brahma aspect of our planetary Logos.

a. Với nhau, do đó tạo thành bảy nhóm là tổng thể của phương diện Brahma của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

b. With the seven groups who constitute the atomic matter of that scheme which is the polar opposite of ours.

b. Với bảy nhóm cấu thành vật chất nguyên tử của hệ hành tinh là cực đối nghịch của hệ chúng ta.

c. With that particular group in that scheme which is one of the points in a systemic triangle of which our scheme and our opposite scheme are the other two.

c. Với nhóm đặc thù trong hệ hành tinh ấy là một trong các điểm trong một tam giác hệ thống mà hệ hành tinh chúng ta và hệ đối nghịch của chúng ta là hai điểm kia.

d. With corresponding groups in lesser degree in all the systemic schemes.

d. Với các nhóm tương ứng ở mức độ thấp hơn trong mọi hệ hành tinh của hệ thống.

e. With the scheme which corresponds to the first aspect, or the plane of Adi.

e. Với hệ hành tinh tương ứng với phương diện thứ nhất, hay cõi Adi.

f. With those devas who form the spirit-substance of the manifestation of that particular Rishi of the Great Bear Who is the prototype of our particular planetary Logos.

f. Với những thiên thần tạo thành tinh thần-chất liệu của sự biểu hiện của vị Rishi đặc thù của Đại Hùng Tinh là nguyên mẫu của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta.

g. With those devas who form the substance of that one of those esoteric existences who are spoken of in the Secret Doctrine (II, 579-582) as “The wives of the seven Rishis,” or the seven sisters, the Pleiades. One of these seven sisters has a close connection with our Heavenly Man, and therefore we have an interesting cosmic interplay as follows:

g. Với những thiên thần tạo thành chất liệu của một trong những sự tồn tại huyền bí được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm (II, 579-582) như “Những người vợ của bảy vị Rishi,” hay bảy chị em, chòm Pleiades. Một trong bảy chị em này có liên hệ chặt chẽ với Đấng Thiên Nhân của chúng ta, và vì vậy chúng ta có một sự tương tác vũ trụ thú vị như sau:

1. One of the seven Rishis of the Great Bear.

1. Một trong bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh.

2. One of the seven Sisters, or a Pleiad.

2. Một trong bảy Chị Em, hay một Pleiad.

3. The Heavenly Man of our scheme.

3. Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta.

This interplay will be threefold and as far as we are concerned just now will involve a transmission of life force through the atomic matter of our planes, circulating in deva substance. This will materially affect certain types of humanity more than others, according to their ray and nature, and this effect will demonstrate in [Page 658] a vivification of the spirillae of the permanent atoms and of the centres.

Sự tương tác này sẽ là tam phân và, theo điều hiện nay liên quan đến chúng ta, sẽ bao hàm một sự truyền dẫn sinh lực qua vật chất nguyên tử của các cõi chúng ta, lưu chuyển trong chất liệu thiên thần. Điều này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến một số loại nhân loại hơn những loại khác, tùy theo cung và bản chất của họ, và hiệu quả này sẽ biểu lộ trong [Page 658] sự làm sống động các loa tuyến của các nguyên tử trường tồn và của các trung tâm.

S6S8 PART I

Agnisuryans—Astral Plane Devas.

Agnisuryan—Các thiên thần cõi cảm dục.

We start here upon a consideration of those groups of devas who are the substance of the astral plane, the Agnisuryans. They may be considered in the following manner, and by the employment of synonymous terms, some general idea of their function may be arrived at before we begin to differentiate them into groups and study their relation to:

Ở đây chúng ta bắt đầu xem xét những nhóm thiên thần là chất liệu của cõi cảm dục, các Agnisuryan. Họ có thể được xem xét theo cách sau, và bằng việc dùng các thuật ngữ đồng nghĩa, có thể đạt được một ý niệm tổng quát nào đó về chức năng của họ trước khi chúng ta bắt đầu phân biệt họ thành các nhóm và nghiên cứu mối liên hệ của họ với:

1. The various entities who are the soul of the differing kingdoms, or groups, such as the animal kingdom, the human kingdom, and higher in the scale of consciousness than men—the planetary Logos.

1. Các thực thể khác nhau là linh hồn của các giới hay các nhóm khác nhau, như giới động vật, giới nhân loại, và cao hơn trên thang tâm thức so với con người—Hành Tinh Thượng đế.

2. Man himself.

2. Chính con người.

3. The plane as a totality.

3. Cõi như một tổng thể.

We might consider these devas:

Chúng ta có thể xem xét các thiên thần này:

First, as the substance of the astral plane in its seven grades.

Thứ nhất, như chất liệu của cõi cảm dục trong bảy cấp độ của nó.

Second, as that aspect of logoic manifestation which corresponds to the liquid subplane in the systemic physical plane.

Thứ hai, như phương diện của sự biểu hiện logoi tương ứng với cõi phụ lỏng trong cõi hồng trần hệ thống.

Third, as the vehicle of the deva lord Varuna.

Thứ ba, như vận cụ của thiên thần chúa Varuna.

Fourth, as the animating lives of that involutionary matter of the astral plane which we call the elemental essence, and as the vitality energising the desire elementals of all that is sentient. Viewed in this aspect in connection especially with man, they are the correspondence on the astral plane to the “devas of the shadows,” for the desire bodies of all human beings are composed of matter of the second, third and fourth subplanes of the astral plane. This is a point which should be closely considered, and the analogy between the etheric body, the vehicle of prana vitalising the dense physical, and [Page 659] man’s astral body, and the method of its vitalisation will be found illuminating.

Thứ tư, như các sự sống làm linh hoạt chất liệu giáng hạ tiến hoá của cõi cảm dục mà chúng ta gọi là Tinh chất hành khí, và như sinh lực tiếp năng lượng cho các hành khí dục vọng của mọi điều có tri giác. Khi được xem trong phương diện này, đặc biệt trong liên hệ với con người, họ là sự tương ứng trên cõi cảm dục với “các thiên thần của bóng tối”, vì các thể dục vọng của mọi con người đều được cấu tạo từ vật chất của các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư của cõi cảm dục. Đây là một điểm cần được xem xét kỹ lưỡng, và sự tương đồng giữa thể dĩ thái, vận cụ của prana làm tiếp sinh lực cho thể xác đậm đặc, và [Page 659] thể cảm dục của con người, cùng phương pháp tiếp sinh lực cho nó, sẽ được thấy là soi sáng.

Fifth, from the standpoint of the physical plane, as the sumtotal of material activity (even though subjective) which produces that which is tangible and objective. Just as the solar system is a “Son of Necessity,” or of desire, so the physical bodies of all that exist are the product of the desire of some greater or lesser entity within the system.

Thứ năm, theo quan điểm của cõi hồng trần, như tổng thể của hoạt động vật chất (dù là chủ quan) tạo ra cái hữu hình và khách quan. Cũng như hệ mặt trời là một “Con của Tất Yếu”, hay của dục vọng, thì các thể xác của mọi điều hiện hữu là sản phẩm của dục vọng của một thực thể lớn hơn hay nhỏ hơn nào đó trong hệ thống.

It might be apposite here to point out the lines along which energy—whether manasic, pranic, or astral—enters the system and reaches a particular plane, thus finding its way to all units of consciousness, from an atom to a solar Logos.

Ở đây, có lẽ thích hợp để chỉ ra các đường mà theo đó năng lượng—dù là manas, prana, hay cảm dục—đi vào hệ thống và đạt đến một cõi đặc thù, do đó tìm đường đến mọi đơn vị tâm thức, từ một nguyên tử đến một Thái dương Thượng đế.

The dense physical plane itself is energised via:

Chính cõi hồng trần đậm đặc được tiếp năng lượng qua:

a. The planetary etheric body.

a. Thể dĩ thái hành tinh.

b. The mental plane, or the cosmic gaseous subplane.

b. Cõi trí, hay cõi phụ khí vũ trụ.

c. The atmic plane, or the third cosmic ether.

c. Cõi atma, hay dĩ thái vũ trụ thứ ba.

d. The plane of adi, or the first cosmic ether.

d. Cõi adi, hay dĩ thái vũ trụ thứ nhất.

and inferentially (by means of the logoic permanent atom) a similar flow of force enters from cosmic levels.

và theo suy luận (bằng nguyên tử trường tồn logoi) một dòng mãnh lực tương tự đi vào từ các cấp độ vũ trụ.

The astral plane is energised via:

Cõi cảm dục được tiếp năng lượng qua:

a. The buddhic plane, the fourth cosmic ether.

a. Cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư.

b. The monadic plane, the second cosmic ether.

b. Cõi chân thần, dĩ thái vũ trụ thứ hai.

c. The cosmic astral plane, and thus to the Heart of all Being.

c. Cõi cảm dục vũ trụ, và do đó đến Trái Tim của mọi Hữu Thể.

The mental plane is energised via:

Cõi trí được tiếp năng lượng qua:

a. The atmic plane, the third cosmic ether.

a. Cõi atma, dĩ thái vũ trụ thứ ba.

b. The plane adi, the first cosmic ether.

b. Cõi adi, dĩ thái vũ trụ thứ nhất.

c. The cosmic mental plane, beyond which it is unnecessary for us to go.

c. Cõi trí vũ trụ, vượt quá đó thì chúng ta không cần đi xa hơn.

It will be noted by the careful student that these planes might be looked at in connection with the three worlds [Page 660] as demonstrating two types of force,—first, a force which tends to differentiation such as on the mental plane (the plane of inherent separation) and on the physical plane (the plane of actual separation); secondly, a force which tends to unity, such as on the astral plane, and on the plane of essential harmony, the buddhic plane. It must be remembered that we are considering force as it flows through, or permeates, deva substance. A hint as to the truth lies in the fact that at present the astral body of man is positive to the physical plane, negative to the mental, and positive to the buddhic plane. As evolution proceeds, the astral body should become positive to the mental, and thus prove incapable of being swayed by thought currents, and the separative processes of that plane, and negative to the buddhic plane, or receptive to the forces from that plane. When it has attained equilibrium, and the forces are evenly balanced, the astral body should become the transmitter from the buddhic plane, the fourth cosmic ether, via the gaseous, to the dense physical plane. This thought should be studied in connection with the burning of the etheric web of the planet, thus illumination may come. Literally, there is no such division on the astral plane as we find on the mental or on the physical planes. On both those planes, we have a division into two: the mental plane being divided into higher and lower, rupa and arupa, concrete and abstract, and the physical plane into the etheric levels and the dense subplanes.

Cần lưu ý rằng đối với đạo sinh cẩn trọng, các cõi này có thể được nhìn trong liên hệ với ba cõi giới [Page 660] như biểu lộ hai loại mãnh lực,—thứ nhất, một mãnh lực có xu hướng dẫn đến biến phân như trên cõi trí (cõi của sự phân ly cố hữu) và trên cõi hồng trần (cõi của sự phân ly thực sự); thứ hai, một mãnh lực có xu hướng dẫn đến hợp nhất, như trên cõi cảm dục, và trên cõi của sự hài hòa cốt yếu, cõi Bồ đề. Phải nhớ rằng chúng ta đang xem xét mãnh lực khi nó chảy qua, hay thấm nhuần, chất liệu thiên thần. Một gợi ý về chân lý nằm trong sự kiện rằng hiện nay thể cảm dục của con người là dương đối với cõi hồng trần, âm đối với cõi trí, và dương đối với cõi Bồ đề. Khi tiến hoá tiếp diễn, thể cảm dục phải trở nên dương đối với cõi trí, và do đó chứng tỏ không thể bị các dòng tư tưởng và các tiến trình phân ly của cõi ấy làm dao động, và âm đối với cõi Bồ đề, hay tiếp nhận các mãnh lực từ cõi ấy. Khi nó đã đạt đến quân bình, và các mãnh lực được cân bằng đồng đều, thể cảm dục phải trở thành kẻ truyền dẫn từ cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư, qua cõi phụ khí, đến cõi hồng trần đậm đặc. Tư tưởng này nên được nghiên cứu trong liên hệ với việc đốt cháy mạng lưới dĩ thái của hành tinh, nhờ đó sự soi sáng có thể đến. Theo nghĩa đen, không có sự phân chia như vậy trên cõi cảm dục như chúng ta thấy trên cõi trí hay trên cõi hồng trần. Trên cả hai cõi ấy, chúng ta có một sự phân chia thành hai: cõi trí được chia thành thượng và hạ, rupa và arupa, cụ thể và trừu tượng, còn cõi hồng trần thì chia thành các cấp độ dĩ thái và các cõi phụ đậm đặc.

There is, therefore, a correspondence between these two. The reason for this apparent division (considering the question apart from the states of consciousness of a human being) is due to the stage of development of the great devas who embody the plane, who ensoul it, and who manifest through it as a man manifests through his body. Varuna, the Lord of the astral plane, has achieved a more unified conscious control than His brothers of [Page 661] the mental and physical planes. He comes into manifestation in connection with one of the Heavenly Men, Who is the Lord of a major Ray. The other two are linked up with the Lords of a minor Ray. There is a suggestive hint for students in this information. We may justly ask why, if this is so, it should apparently manifest so disastrously in connection with man? There are several reasons for this, one being that the force flowing through the vehicle of the great deva, the plane, is consequently stronger than in the other two cases, and this is owing to His more advanced stage of development and also to the fact that the Logos Himself is polarised in His astral body. Another reason is that he has a peculiar link with the Ruler of the animal kingdom, and as the human being has not yet dissociated himself from, nor learnt to control, his animal nature, he too comes under the influence of this tremendous force. There are other reasons hidden in the karma of our Heavenly Man, but the above reasons suffice.

Do đó, có một sự tương ứng giữa hai điều này. Lý do của sự phân chia biểu kiến này (nếu xét vấn đề tách biệt khỏi các trạng thái tâm thức của một con người) là do giai đoạn phát triển của các thiên thần lớn đang thể hiện cõi ấy, đang phú linh cho nó, và đang biểu hiện qua nó cũng như con người biểu hiện qua thể của mình. Varuna, Chúa Tể của cõi cảm dục, đã đạt được một sự kiểm soát tâm thức hợp nhất hơn các huynh đệ của Ngài trên [Page 661] cõi trí và cõi hồng trần. Ngài đi vào biểu hiện có liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân, là Chúa Tể của một cung chính. Hai vị kia được nối kết với các Chúa Tể của một cung phụ. Trong thông tin này có một gợi ý đầy ám chỉ cho các đạo sinh. Chúng ta có thể chính đáng hỏi rằng tại sao, nếu đúng là như vậy, nó lại dường như biểu hiện tai hại đến thế trong liên hệ với con người? Có vài lý do cho điều này, một trong số đó là mãnh lực tuôn chảy qua vận cụ của vị thiên thần lớn, tức cõi ấy, vì thế mạnh hơn trong hai trường hợp kia, và điều này là do giai đoạn phát triển cao hơn của Ngài, đồng thời cũng do sự kiện chính Thượng đế đang phân cực trong thể cảm dục của Ngài. Một lý do khác là vị ấy có một mối liên kết đặc biệt với Chúa Tể của giới động vật, và vì con người vẫn chưa tự tách mình ra khỏi, cũng chưa học được cách kiểm soát, bản chất động vật của mình, nên y cũng chịu ảnh hưởng của mãnh lực to lớn này. Còn có những lý do khác ẩn giấu trong nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân của chúng ta, nhưng các lý do trên là đủ.

1. The Function of the Agnisuryans. The devas of the astral plane are those with whom man is very specially connected at this time owing to his astral polarisation, and to the place desire and feeling play in his development. Consciousness expands through contact, through intelligent appreciation of that which is contacted, and through realisation of that which is to be gained through a specific contact. That which is contacted depends upon reciprocal vibration, and the place therefore of desire (which is the going out after sensation) and of feeling (which is the reflex of that desire) is of real importance; they put man constantly in touch—even though he realises it not—with deva substance of some kind or another. Even when man has reached a relatively high stage of evolution, the demonstration of that point of attainment is seen in the type of not-self which he contacts; it is only when he is an initiate that [Page 662] he begins to approximate, and to know the meaning of the essential unity which lies at the heart of Being, and to comprehend the oneness of the Universal Soul, and the Unity of that subjective Life which secretes itself behind form of every kind. It should never be forgotten that the matter aspect is found on all planes; also that forms are ever to be found, until the solar ring-pass-not is transcended and the Logos escapes from His present limitation. Owing to this the devas of the astral plane assume a very important place in the three worlds.

1. Chức năng của các Agnisuryan. Các thiên thần của cõi cảm dục là những vị mà con người hiện nay có liên hệ đặc biệt mật thiết do sự phân cực cảm xúc của mình, và do vị trí mà dục vọng cùng cảm xúc giữ trong sự phát triển của y. Tâm thức mở rộng qua tiếp xúc, qua sự đánh giá thông minh về điều được tiếp xúc, và qua sự chứng nghiệm điều sẽ đạt được nhờ một tiếp xúc đặc thù. Điều được tiếp xúc tùy thuộc vào rung động tương hỗ, và vì vậy vị trí của dục vọng (là sự vươn ra tìm cảm giác) và của cảm xúc (là phản xạ của dục vọng ấy) có tầm quan trọng thực sự; chúng khiến con người thường xuyên tiếp xúc—dù y không nhận ra điều đó—với chất liệu thiên thần thuộc loại này hay loại khác. Ngay cả khi con người đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá tương đối cao, sự biểu lộ của điểm thành tựu ấy vẫn được thấy trong loại không-phải-ngã mà y tiếp xúc; chỉ khi y là một điểm đạo đồ thì [Page 662] y mới bắt đầu tiến gần đến, và biết được ý nghĩa của sự hợp nhất cốt yếu nằm ở trung tâm của Bản Thể, và thấu hiểu tính nhất như của Đại Hồn, và Sự Hợp Nhất của Sự sống chủ quan ấy, vốn tự ẩn mình đằng sau mọi loại hình tướng. Không bao giờ nên quên rằng phương diện vật chất được tìm thấy trên mọi cõi; và rằng các hình tướng luôn luôn hiện hữu, cho đến khi vòng-giới-hạn thái dương được vượt qua và Thượng đế thoát khỏi sự giới hạn hiện tại của Ngài. Vì điều này, các thiên thần của cõi cảm dục giữ một vị trí rất quan trọng trong ba cõi thấp.

Previously, we considered them in a fivefold aspect, dividing them into five groups. At this point we will limit our consideration to the relationship of self-conscious units such as Man and the planetary Logos to this deva substance. A great distinction exists between man and his prototype, a Heavenly Man.

Trước đây, chúng ta đã xem xét họ dưới phương diện ngũ phân, chia họ thành năm nhóm. Tại điểm này, chúng ta sẽ giới hạn sự xem xét của mình vào mối liên hệ của các đơn vị ngã thức như Con Người và Hành Tinh Thượng đế với chất liệu thiên thần này. Có một sự khác biệt lớn giữa con người và nguyên mẫu của y, một Đấng Thiên Nhân.

The astral plane plays a very real part in the evolution of man, having a close connection with one of his principles. Astral matter and vibration is one of the controlling factors in the lives of the great majority of people. To the Heavenly Man, astral matter corresponds to the liquid portion in the physical body of man, and is for Him therefore no principle.

Cõi cảm dục đóng một vai trò rất thực trong sự tiến hoá của con người, vì có liên hệ mật thiết với một trong các nguyên khí của y. Vật chất và rung động cảm dục là một trong những yếu tố kiểm soát đời sống của đại đa số nhân loại. Đối với Đấng Thiên Nhân, vật chất cảm dục tương ứng với phần lỏng trong thể xác của con người, và vì vậy đối với Ngài nó không phải là một nguyên khí.

The astral plane is man’s principal battle-ground and the area of his most intense field of sensation,—mental sensation (esoterically understood) is for him as yet only a possibility. The astral body is the seat of man’s most violent vibration, and these vibrations are a potent cause of his physical plane activities. If man only realised it, the devas of the astral plane at present very largely control what he does and says, and his goal of evolution (his immediate goal) is to liberate himself from their control in order that he, the real Ego or thinker, may be the dominating influence. To be explicit, and thus to illustrate this point: the little elemental lives which form the body of the emotions, and the positive [Page 663] life of any evolutionary deva who (through similarity of vibration) is linked to any particular man and who gives to him an astral body of a coherent and positive power, are as yet practically in control of the majority. Man usually does as his desires and instincts prompt him. If this evolutionary deva is of a high order (as will be the case in a highly developed man) the vibration will be high, and the desires and instincts will be good and exoterically right. Nevertheless, if the man is controlled by them, he is as yet under deva influence, and must free himself. If the deva life is of a low order, the man will demonstrate low and vicious instincts, and desires of a vile calibre.

Cõi cảm dục là chiến trường chính của con người và là khu vực của trường cảm giác mãnh liệt nhất của y,—cảm giác trí tuệ (được hiểu theo nghĩa huyền bí) đối với y hiện vẫn chỉ là một khả năng. Thể cảm dục là chỗ ngự của những rung động dữ dội nhất nơi con người, và các rung động này là một nguyên nhân mạnh mẽ của các hoạt động trên cõi hồng trần của y. Nếu con người chỉ cần nhận ra điều đó, thì hiện nay các thiên thần của cõi cảm dục phần lớn kiểm soát điều y làm và nói, và mục tiêu tiến hoá của y (mục tiêu trước mắt của y) là giải thoát mình khỏi sự kiểm soát của họ để y, chân ngã hay thức giả thực sự, có thể là ảnh hưởng chi phối. Nói rõ hơn, và như thế để minh họa điểm này: các sự sống hành khí nhỏ bé tạo thành thể cảm xúc, và sự sống tích cực [Page 663] của bất kỳ thiên thần thăng thượng tiến hoá nào mà (do sự tương đồng rung động) được nối kết với một con người cụ thể nào đó và ban cho y một thể cảm dục có năng lực kết hợp và tích cực, hiện nay trên thực tế vẫn đang kiểm soát đa số. Con người thường làm theo điều mà dục vọng và bản năng thúc đẩy y. Nếu thiên thần thăng thượng tiến hoá này thuộc một cấp cao (như sẽ là trường hợp nơi một người phát triển cao) thì rung động sẽ cao, và các dục vọng cùng bản năng sẽ tốt đẹp và đúng đắn theo ngoại môn. Tuy nhiên, nếu con người bị chúng kiểm soát, thì y vẫn còn ở dưới ảnh hưởng thiên thần, và phải tự giải thoát. Nếu sự sống thiên thần thuộc một cấp thấp, con người sẽ biểu lộ các bản năng thấp kém và xấu xa, cùng những dục vọng có phẩm cấp đê tiện.

If these remarks are rightly apprehended, some understanding will come of what is meant when the deva evolution is spoken of as being a “parallel evolution” to that of man. In the three worlds the two lines of evolution parallel each other, and must not be consciously one. In the planes of the Triad they are known as a unity, producing the Divine Hermaphrodite, or the Heavenly Man,—the self-conscious human units embodying the three aspects of divinity, while the conscious deva units embody the divine attributes. The two, blended together, form the body of manifestation, the centres and substance of the Heavenly Man. Great is the mystery, and until man knows his place within the conscious whole, he should reserve his opinion as to the meaning thereof. It will be apparent, therefore, in view of the connection between the astral plane with its unified work, and the buddhic plane with the conscious harmony there experienced, that the astral body of man calls for the closest study and understanding. A link will be found through its medium with the buddhic plane and harmonious activity on the physical plane will be produced. The student of occultism should study carefully in this connection: [Page 664]

Nếu những nhận xét này được lĩnh hội đúng đắn, thì sẽ có được một phần thấu hiểu về điều được hàm ý khi nói rằng sự tiến hoá thiên thần là một “sự tiến hoá song song” với sự tiến hoá của con người. Trong ba cõi giới, hai đường tiến hoá song song với nhau, và không được hữu thức là một. Trên các cõi của Tam nguyên tinh thần, chúng được biết như một hợp nhất, tạo ra Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng, hay Đấng Thiên Nhân,—các đơn vị nhân loại ngã thức thể hiện ba phương diện của thiên tính, trong khi các đơn vị thiên thần hữu thức thể hiện các thuộc tính thiêng liêng. Hai bên, khi hòa trộn với nhau, tạo thành thể biểu hiện, các trung tâm và chất liệu của Đấng Thiên Nhân. Mầu nhiệm này thật lớn lao, và cho đến khi con người biết được vị trí của mình trong toàn thể hữu thức, y nên dè dặt trong ý kiến của mình về ý nghĩa của điều đó. Do đó, sẽ thấy rõ, xét theo mối liên hệ giữa cõi cảm dục với công việc hợp nhất của nó, và cõi Bồ đề với sự hài hòa hữu thức được kinh nghiệm ở đó, rằng thể cảm dục của con người đòi hỏi sự nghiên cứu và thấu hiểu sát sao nhất. Qua trung gian của nó, sẽ tìm thấy một mối nối kết với cõi Bồ đề và hoạt động hài hòa trên cõi hồng trần sẽ được tạo ra. Đạo sinh huyền bí học nên nghiên cứu cẩn thận trong mối liên hệ này: [Page 664]

a. The physical sun, and its relation to prana and the etheric body.

a. Mặt trời vật lý, và mối liên hệ của nó với prana và thể dĩ thái.

b. The subjective sun, and its connection with the astral plane, with the kama-manasic principle, and the astral body.

b. Mặt trời chủ quan, và mối liên hệ của nó với cõi cảm dục, với nguyên khí trí-cảm, và thể cảm dục.

c. The central spiritual sun, and its relation to the Spirit or atma in man. (S. D., II, 250, 251.)

c. Mặt trời Tinh thần Trung Ương, và mối liên hệ của nó với Tinh thần hay atma trong con người. (S. D., II, 250, 251.)

d. The heart of the sun, and its relation to the lower and higher mental bodies, producing that peculiar manifestation we call the causal body. In this connection it must be remembered that the force which flows from the heart of the sun, works through a triangle formed by the Venusian scheme, the Earth and the sun.

d. Trái tim của mặt trời, và mối liên hệ của nó với thể trí thấp và cao, tạo ra biểu hiện đặc thù mà chúng ta gọi là thể nguyên nhân. Trong mối liên hệ này cần nhớ rằng mãnh lực tuôn chảy từ trái tim của mặt trời hoạt động qua một tam giác được tạo thành bởi hệ hành tinh Kim Tinh, Trái Đất và mặt trời.

That another triangle was also formed involving two planets was to be expected under the law, and the triangles vary according to the scheme involved.

Rằng một tam giác khác cũng được hình thành, bao gồm hai hành tinh, là điều có thể chờ đợi theo định luật, và các tam giác thay đổi tùy theo hệ hành tinh liên hệ.

Cosmically there is a very interesting series of triangles which will be found by the student of esoteric astronomy and of occult cycles. They originate in the central sun of our particular group of solar systems. This series involves the Pleiades. The fact that this is so will not be known until the last decade of the present century, and will not be recognised by science till that time when certain lines of knowledge and discovery will bring scientists to a realisation that there is a third type of electricity, which ever balances and forms the apex of the triangle. But the time is not yet.

Về mặt vũ trụ, có một chuỗi tam giác rất lý thú mà đạo sinh thiên văn học huyền bí và các chu kỳ huyền bí sẽ tìm thấy. Chúng phát sinh trong mặt trời trung tâm của nhóm hệ mặt trời đặc thù của chúng ta. Chuỗi này bao gồm chòm Pleiades. Sự kiện này sẽ không được biết đến cho đến thập niên cuối của thế kỷ hiện tại, và sẽ không được khoa học công nhận cho đến thời điểm mà một số đường hướng tri thức và khám phá nhất định sẽ đưa các nhà khoa học đến chỗ nhận ra rằng có một loại điện thứ ba, luôn luôn quân bình và tạo thành đỉnh của tam giác. Nhưng thời điểm ấy vẫn chưa đến.

All that is here said is expressed in terms of deva groups and deva forces, which form (in their aggregate) substance responsive to analogous vibration. This is occultly expressed under certain definite names. It is possible, therefore, to transmit safely information of a character incomprehensible to the profane in such a phrase, for instance, as: “The triangle of...of...and of Group...of the Agnisuryans formed itself, and in the turning of the Wheel produced the third.” This conveys to the mind of the occultist the knowledge [Page 665] that in the flow of force from a particular constellation, outside our system altogether, through a particular planetary scheme, and thus through the astral body of a planetary Logos, a condition was brought about which produced the appearance of the third kingdom in nature, the sentient conscious animal kingdom. Some such similar phrase embodies also the deva connection with man’s individualisation, but it profits not to pass it on; the above is only quoted in order to do three things:

Mọi điều được nói ở đây đều được diễn đạt bằng các thuật ngữ của những nhóm thiên thần và các mãnh lực thiên thần, vốn tạo thành (trong tổng thể của chúng) chất liệu đáp ứng với rung động tương đồng. Điều này được diễn đạt một cách huyền bí dưới những danh xưng xác định nào đó. Vì vậy, có thể truyền đạt một cách an toàn thông tin có tính chất không thể hiểu nổi đối với người phàm tục trong một cụm từ chẳng hạn như: “Tam giác của... của... và của Nhóm... của các Agnisuryan đã tự hình thành, và trong sự quay của Bánh Xe đã tạo ra cái thứ ba.” Điều này truyền đạt cho trí của nhà huyền bí học tri thức [Page 665] rằng trong dòng chảy của mãnh lực từ một chòm sao đặc thù, hoàn toàn ở ngoài hệ của chúng ta, qua một hệ hành tinh đặc thù, và như thế qua thể cảm dục của một Hành Tinh Thượng đế, một điều kiện đã được tạo ra khiến xuất hiện giới thứ ba trong thiên nhiên, tức giới động vật hữu cảm hữu thức. Một cụm từ tương tự nào đó cũng bao hàm mối liên hệ thiên thần với sự biệt ngã hóa của con người, nhưng không ích gì khi truyền lại nó; điều trên chỉ được trích dẫn nhằm làm ba việc:

1. Demonstrate somewhat the nature and extent of the forces flowing through our system.

1. Minh họa phần nào bản chất và phạm vi của các mãnh lực tuôn chảy qua hệ của chúng ta.

2. Show the close connection we have with the deva evolution.

2. Cho thấy mối liên hệ mật thiết của chúng ta với sự tiến hoá thiên thần.

3. Emphasise the triangular nature and interrelation of all that eventuates.

3. Nhấn mạnh bản chất tam giác và sự tương liên của mọi điều xảy ra.

It might be advisable here to bring out a point in connection with the devas of the lower planes (those with whom man is peculiarly connected). They can be divided into certain groups, indicating their place in the scale of consciousness. Perhaps the question may here be asked why we are dealing only with those deva groups which are to be found in the three worlds. Occultly understood, these devas (of the type we are considering) are only found in the dense physical body of the Logos,—being the substance of the lower three subplanes of the cosmic physical. The old Commentary says as follows:

Có lẽ ở đây nên nêu ra một điểm liên quan đến các thiên thần của các cõi thấp (những vị mà con người có liên hệ đặc biệt). Họ có thể được chia thành những nhóm nhất định, cho thấy vị trí của họ trên thang tâm thức. Có lẽ ở đây có thể đặt câu hỏi tại sao chúng ta chỉ bàn đến những nhóm thiên thần được tìm thấy trong ba cõi giới. Theo cách hiểu huyền bí, các thiên thần này (thuộc loại chúng ta đang xem xét) chỉ được tìm thấy trong thể xác đậm đặc của Thượng đế,—vì họ là chất liệu của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ. Cổ Luận nói như sau:

“The spheres of fire seek location upon the lower three. They originate by medium of the fifth, yet merge upon the planes of yoga. When the fiery essences permeate all, then there is no more the fifth nor sixth, nor seventh, but only the three shining by medium of the fourth.”

“Các khối cầu lửa tìm chỗ định vị trên ba cõi thấp. Chúng phát sinh qua trung gian của cõi thứ năm, nhưng hòa nhập trên các cõi yoga. Khi các tinh chất lửa thấm khắp mọi sự, thì không còn cõi thứ năm, thứ sáu, hay thứ bảy nữa, mà chỉ còn ba cõi tỏa sáng qua trung gian của cõi thứ tư.”

Therefore, for the purposes of our present study, the devas are only to be found in the three worlds. Beyond those three planes we have the three aspects of [Page 666] the major three manifesting through the fourth; we have consequently the spheres of the planetary Logoi upon the plane of buddhi. They synthesise all that has been developing through the denser manifestation. From the standpoint of the esoteric philosophy, the cosmic physical plane on which our entire solar system has its place must be studied in a dual manner:

Vì vậy, cho mục đích của sự nghiên cứu hiện tại của chúng ta, các thiên thần chỉ được tìm thấy trong ba cõi giới. Vượt lên trên ba cõi ấy, chúng ta có ba phương diện của [Page 666] bộ ba chính biểu hiện qua phương diện thứ tư; do đó chúng ta có các khối cầu của các Hành Tinh Thượng đế trên cõi Bồ đề. Chúng tổng hợp mọi điều đã phát triển qua biểu hiện đậm đặc hơn. Từ quan điểm của triết học huyền bí, cõi hồng trần vũ trụ mà trên đó toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta có vị trí của nó phải được nghiên cứu theo hai cách:

1. From the point of view of the Heavenly Men, covering the evolutions of the four higher planes, or the etheric levels. Of these we can know practically nothing until after initiation, at which time the consciousness of the human being is transferred gradually on to the cosmic etheric planes.

1. Từ quan điểm của các Đấng Thiên Nhân, bao quát các sự tiến hoá của bốn cõi cao hơn, hay các cấp dĩ thái. Về những điều này, trên thực tế chúng ta không thể biết gì cho đến sau điểm đạo, khi tâm thức của con người được chuyển dịch dần dần lên các cõi dĩ thái vũ trụ.

2. From the standpoint of the human being in the three worlds. Man is the consummating evolution in the three worlds, just as the Heavenly Men are in the higher four.

2. Từ quan điểm của con người trong ba cõi giới. Con người là sự tiến hoá hoàn tất trong ba cõi giới, cũng như các Đấng Thiên Nhân là như vậy trong bốn cõi cao hơn.

In the three worlds, we have the parallel evolutions—deva and human in their many varying grades—the human naturally concerning us the most intimately, though the two evolve through interaction with each other. In the higher four worlds, we have this duality viewed as a unity, and the aspect of the synthetic evolution of the Heavenly Men is the one considered. It would interest us much could we but understand a little of the point of view of those great devas Who co-operate intelligently in the plan of evolution. They have Their own method of expressing these ideas, the medium being colour which can be heard, and sound which can be seen. Man reverses the process and sees colors and hears sounds. A hint lies here as to the necessity for symbols, for they are signs which convey cosmic truths, and instruction, and can be comprehended alike by the evolved of both evolutions. It should be borne in mind, as earlier pointed out, that: [Page 667]

Trong ba cõi giới, chúng ta có các sự tiến hoá song song—thiên thần và nhân loại trong nhiều cấp độ khác nhau của chúng—mà dĩ nhiên sự tiến hoá nhân loại liên hệ đến chúng ta mật thiết nhất, dù cả hai tiến hoá qua sự tương tác với nhau. Trong bốn cõi cao hơn, chúng ta có nhị nguyên tính này được nhìn như một hợp nhất, và phương diện của sự tiến hoá tổng hợp của các Đấng Thiên Nhân là điều được xem xét. Sẽ rất đáng quan tâm đối với chúng ta nếu chúng ta có thể hiểu được đôi chút quan điểm của những thiên thần lớn đang hợp tác một cách thông minh trong Thiên Cơ tiến hoá. Các Ngài có phương pháp riêng để diễn đạt những ý tưởng này, với phương tiện là màu sắc có thể được nghe thấy, và âm thanh có thể được nhìn thấy. Con người đảo ngược tiến trình và nhìn thấy màu sắc, nghe thấy âm thanh. Ở đây có một gợi ý về sự cần thiết của các biểu tượng, vì chúng là những dấu hiệu truyền đạt các chân lý vũ trụ và giáo huấn, và có thể được cả những thực thể tiến hoá của hai dòng tiến hoá cùng thấu hiểu như nhau. Cần ghi nhớ, như đã chỉ ra trước đây, rằng: [Page 667]

a. Man is demonstrating the aspects of divinity. The devas are demonstrating the attributes of divinity.

a. Con người đang biểu lộ các phương diện của thiên tính. Các thiên thần đang biểu lộ các thuộc tính của thiên tính.

b. Man is evolving the inner vision and must learn to see.

b. Con người đang phát triển linh thị bên trong và phải học cách nhìn.

The devas are evolving the inner hearing and must learn to hear.

Các thiên thần đang phát triển sự nghe bên trong và phải học cách nghe.

c. Both are as yet imperfect, and an imperfect world is the result.

c. Cả hai hiện vẫn chưa hoàn hảo, và một thế giới bất toàn là kết quả.

d. Man is evolving by means of contact and experience. He expands.

d. Con người tiến hoá bằng tiếp xúc và kinh nghiệm. Y mở rộng.

The devas evolve by means of the lessening of contact. Limitation is the law for them.

Các thiên thần tiến hoá bằng sự giảm bớt tiếp xúc. Sự giới hạn là định luật đối với họ.

e. Man aims at self-control.

e. Con người nhắm đến sự tự kiểm soát.

Devas must develop by being controlled.

Các thiên thần phải phát triển bằng cách được kiểm soát.

f. Man is innately Love,—the Force which produces coherency. The devas are innately intelligence,—the force which produces activity.

f. Con người bẩm sinh là Tình thương,—Mãnh lực tạo ra sự kết hợp. Các thiên thần bẩm sinh là trí tuệ,—mãnh lực tạo ra hoạt động.

g. The third type of force, that of Will, the balancing equilibrium of electrical phenomena, has to play equally upon and through both evolutions, but in the one it demonstrates as self-consciousness, and in the other as constructive vibration.

g. Loại mãnh lực thứ ba, tức Ý Chí, sự quân bình cân xứng của các hiện tượng điện, phải tác động như nhau lên và qua cả hai dòng tiến hoá, nhưng trong một bên nó biểu lộ như ngã thức, còn trong bên kia như rung động kiến tạo.

In the Heavenly Man these two great aspects of divinity are equally blended, and in the course of the mahamanvantara the imperfect Gods become perfect. These broad and general distinctions are pointed out as they throw light upon the relationship of Man to the devas.

Trong Đấng Thiên Nhân, hai phương diện lớn này của thiên tính được hòa trộn đồng đều, và trong tiến trình của Đại giai kỳ sinh hóa, các vị Thượng đế bất toàn trở nên hoàn hảo. Những phân biệt rộng lớn và tổng quát này được nêu ra vì chúng soi sáng mối liên hệ của Con Người với các thiên thần.